PROJECT

CHU GIAI 2022_ TU NHOM 3215 DEN CHUONG 37

CHU GIAI 2022_ TU NHOM 3215 DEN CHUONG 37


 32.15- Mực in, mực viết hoặc mực vẽ và các loại mực khác, đã hoặc 
chưa cô đặc hoặc làm thành thể rắn. 
- Mực in: 
3215.11 - - Màu đen  
3215.19 - - Loại khác 
3215.90 - Loại khác 
(A)  Mực in (hoặc màu) ở dạng nhão có độ đặc khác nhau, thu được 
bằng cách trộn thuốc màu đen hay mầu đã nghiền mịn với một thành 
phần nhựa. Thuốc màu thường có carbon đen đối với mực đen và có 
thể là chất hữu cơ hay vô cơ đối với mực mầu. Thành phần nhựa bao 
gồm nhựa tự nhiên hay polyme tổng hợp, phân tán trong dầu hay 
hòa tan trong dung môi, và có chứa một lượng nhỏ chất phụ gia cho 
phép chúng đạt được các đặc tính mong muốn. 
(B)  Mực viết hoặc mực vẽ thông thường là dạng hòa tan hoặc huyền phù 
của nguyên liệu màu đen hoặc nguyên liệu màu trong nước, thường được 
trộn thêm gôm và các sản phẩm khác (ví dụ, chất bảo quản). Chúng bao 

gồm các loại mực từ muối sắt, từ chất chiết xuất từ gỗ huyết mộc hoặc 
màu hữu cơ tổng hợp. Mực Ấn, chủ yếu được dùng để vẽ, thường chứa 
carbon đen ở dạng huyền phù trong nước (với việc trộn thêm gôm 
Arabic, shellac,...) hoặc trong một số keo động vật. 
(C)  Các loại mực khác trong nhóm này bao gồm: 
(1)  Mực cho máy photocopy hoặc mực cho máy in sao (các loại 
mực thường được làm đặc với glycerol, đường, ...)  
(2)  Mực cho bút bi. 
(3)  Mực dùng cho máy sao chụp hoặc cho hộp mực hoặc băng mực 
của máy chữ. 
(4)  Mực đóng dấu (ví dụ, mực dựa trên nitrat bạc). 
(5)  Mực có chứa kim loại (kim loại hoặc hợp kim đã được nghiền 
mịn ở dạng huyền phù trong dung dịch gôm, ví dụ, mực có chứa 
vàng, bạc hoặc đồng). 
(6) Mực sympathetic hoặc mực không nhìn thấy đã điều chế (ví dụ, 
dựa trên clorua coban). 
Các sản phẩm này thường ở dạng lỏng hay dạng nhão, nhưng chúng 
cũng được xếp trong nhóm này khi đã được dạng cô đặc hoặc dạng rắn 
(nghĩa là, dạng bột, viên, que,...) chúng có thể được sử dụng sau khi pha 
loãng hoặc phân tán. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Thuốc tráng phim chứa bột màu (một hỗn hợp của carbon đen và 
nhựa nhiệt dẻo), được trộn với một chất mang (các hạt cát được bao 
phủ với ethylcellulose), được dùng cho máy photocopy (nhóm 
(b)  Ống mực thay thế cho bút bi bao gồm đầu bi và ống mực (nhóm 
96.08). Ngược lại, nhóm này gồm các loại ống mực đơn giản dùng 
cho bút bi thông thường. 
(c) Băng mực dùng cho máy chữ hoặc hộp mực (nhóm 96.12). 

CHƯƠNG 33 
TINH DẦU VÀ CÁC CHẤT TỰA NHỰA; NƯỚC HOA, MỸ 
PHẨM HOẶC CÁC CHẾ PHẨM DÙNG CHO VỆ SINH 
Chú giải. 
1.-  Chương này không bao gồm: 
(a)  Nhựa dầu tự nhiên hoặc chiết xuất thực vật thuộc nhóm 13.01 
hoặc 13.02; 
(b)  Xà phòng hoặc các sản phẩm khác thuộc nhóm 34.01; hoặc 
(c)  Dầu turpentine gôm, dầu turpentine gỗ hoặc dầu sunphat 
turpentine hoặc các sản phẩm khác thuộc nhóm 38.05. 
2.- Khái niệm "chất thơm" trong nhóm 33.02 chỉ liên quan tới các chất 
thuộc nhóm 33.01, các thành phần thơm tách từ các chất đó hoặc 
chất thơm tổng hợp. 
3. - Các nhóm từ 33.03 đến 33.07 áp dụng, không kể những đề cập khác, 
cho các sản phẩm, đã hoặc chưa pha trộn (trừ nước cất tinh dầu và 
dung dịch nước của tinh dầu), phù hợp dùng cho các hàng hoá đã 
ghi trong các nhóm này và được đóng gói để bán lẻ. 
4.- Khái niệm “nước hoa, mỹ phẩm hoặc các chế phẩm dùng cho vệ 
sinh” của nhóm 33.07 áp dụng, không kể những đề cập khác, cho 
các sản phẩm sau đây: các túi nhỏ đựng chất thơm; các chế phẩm có 
hương thơm khi đốt; giấy thơm và các loại giấy đã thấm tẩm hoặc 
tráng phủ mỹ phẩm; dung dịch dùng cho kính áp tròng hoặc mắt 
nhân tạo; mền xơ, phớt và các sản phẩm không dệt, đã thấm tẩm, 
tráng hoặc phủ nước hoa hoặc mỹ phẩm; các chế phẩm vệ sinh dùng 
cho động vật. 
KHÁI QUÁT CHUNG 
Tinh dầu vàcác chiết xuất từ nhựa dầu  thuộc nhóm 33.01  thu được 
bằng cách chiết xuất từ thực vật. Phương pháp chiết xuất được dùng để 
xác định loại sản phẩm thu được. Ví dụ tùy theo cách chưng cất bằng hơi 
nước hoặc bằng quá trình xử lý với các dung môi hữu cơ được thực hiện, 
một số cây nhất định (như quế chẳng hạn) có thể cho tinh dầu hoặc nhựa 
dầu chiết xuất. 

Các nhóm từ 33.03đến 33.07 bao gồm các sản phẩm, đã hoặc chưa pha 
trộn (trừ nước cất tinh dầu và dung dịch nước của tinh dầu), phù hợp để 
sử dụng như những sản phẩm thuộc các nhóm này và được đóng gói để 
bán lẻ (xem Chú giải 3 của Chương này). 
Các sản phẩm thuộc các nhóm từ 33.03 đến 33.07 vẫn được xếp trong 
các nhóm này kể cả khi chúng có hoặc không chứa dược phẩm phụ trợ 
hoặc các chất khử trùng, hoặc các chế phẩm đó có thêm giá trị về 
phòng bệnh hoặc chữa bệnh (xem Chú giải 1(e) của Chương 30). Tuy 
nhiên, các chất khử mùi phòng đã điều chế vẫn được phân loại vào 
nhóm 33.07 ngay cả khi chúng có những tính năng khử trùng nhiều hơn 
tính chất phụ trợ. 
Các chế phẩm (như là, vécni) và các sản phẩm không pha trộn (ví dụ, 
bột talc không thơm, đất tẩy màu, acetone, phèn) phù hợp cho các công 
dụng khác ngoài những công dụng ở trên, chỉ được phân loại vào các 
nhóm này khi: 
(a)  Chúng được đóng gói để bán cho người tiêu dùng và dán nhãn, tài 
liệu hướng dẫn hay chỉ định cho thấy chúng được sử dụng như các 
chế phẩm nước hoa, mỹ phẩm hoặc chế phẩm vệ sinh; hoặc như 
chất khử mùi phòngs; hoặc là 
(b)  Khi chúng được đóng gói dưới các hình thức đặc biệt cho mục đích 
sử dụng đó (ví dụ, sơn móng tay đựng trong lọ nhỏ gắn sẵn kèm một 
cái chổi để sử dụng loại sơn đó). 
Chương này không bao gồm: 
(a)  Mỡ, trừ loại dùng để chăm sócda được đóng gói để bán lẻ cho mục 
đích này (nhóm 27.12). 
(b)  Các chế phẩm dược phẩm có tác dụng phụ trợ sử dụng như nước 
hoa, mỹ phẩm hoặc các chế phẩm vệ sinh (nhóm 30.03 hoặc 30.04). 
(c) Chế phẩm dạng Gel được thiết kế dùng cho người hoặc thuốc thú y 
như một chất bôi trơn dùng cho các bộ phận của cơ thể khi phẫu 
thuật hoặc xét nghiệm thể chất hoặc như một tác nhân liên kết giữa 
cơ thể và các thiết bị y khoa (nhóm 30.06). 
(d) Xà phòng và giấy, mền xơ, phớt và các sản phẩm không dệt, được 

thấm tẩm, tráng hoặc phủ với xà phòng hoặc chất tẩy (nhóm 34.01). 
33.01- Tinh dầu (đã hoặc chưa khử terpen), kể cả tinh dầu sáp và 
tinh dầu nguyên chất; chất tựa nhựa; nhựa dầu đã chiết; tinh dầu cô 
đặc trong chất béo, trong các loại dầu không bay hơi, trong các loại 
sáp hoặc các chất tương tự, thu được bằng phương pháp tách hương 
liệu hoặc ngâm tẩm; sản phẩm phụ terpen từ quá trình khử terpen 
các loại tinh dầu;  nước cất tinh dầu và dung dịch nước của các loại 
tinh dầu. 
 - Tinh dầu của các loại quả cam quít: 
3301.12 - - Của quả cam 
3301.13 - - Của quả chanh  
3301.19 - - Loại khác 
            - Tinh dầu khác trừ tinh dầu của các loại quả chi cam 
quýt: 
3301.24 - - Của cây bạc hà cay (mantha piperita) 
3301.25 - - Của các cây bạc hà khác 
3301.29 - - Loại khác 
3301.30 - Chất tựa nhựa 
3301.90 - Loại khác 
(A) Tinh dầu, kể cả tinh dầu sáp và tinh dầu nguyên chất; chất tựa 
nhựa;  nhựa dầu đã chiết. 
Tinh dầu, loại được dùng như những nguyên liệu thô trong ngành 
công nghiệp nước hoa, thực phẩm và các ngành công nghiệp khác, 
có nguồn gốc từ thực vật. Nói chung, thành phần của chúng rất phức 
tạp và thường có chứa cồn, aldehyt, xêtôn, phenol, este, ete và 
terpen với tỷ lệ khác nhau. Tinh dầu được xếp vào đây kể cả khi mùi 
hương của chúng đã hoặc chưa bị biến đổi bằng cách tách thành 
phần terpen. Phần lớn các tinh dầu đó dễ bay hơi, và dấu vết của nó 
lưu trên giấy thường biến mất rất nhanh. 
Tinh dầu thu được bằng các phương pháp khác nhau, như là: 

(1) Ép (như là, tinh dầu chanh từ vỏ chanh).  
(2)  Chưng cất hơi nước. 
(3)  Chiết xuất từ các nguyên liệu tươi có nguồn gốc thực vật với 
các dung môi hữu cơ (như ete từ dầu mỏ, benzen, acetone hoặc 
toluen) hoặc chất lỏng siêu tới hạn (như khí dioxit carbon nén). 
(4)  Chiết xuất các nguyên liệu cô đặc thu được bằng phương pháp 
tách hương liệu của hoa hoặc phương pháp ngâm (xem phần 
(B) dưới đây). 
Nhóm này cũng bao gồm chất cô đặc thu được bằng quá trình được đề 
cập tại đoạn thứ (3) ở trên. Chất cô đặc ở dạng rắn hoặc nửa rắn vì có 
mặt của phần sáp thực vật. Khi loại bỏ những sáp này, ta thu được tinh 
dầu nguyên chất; chúng cũng được xếp vào nhóm này. 
Chất tựa nhựa là những sản phẩm chủ yếu được dùng như chất cố định 
trong công nghiệp sản xuất nước hoa, mỹ phẩm, xà phòng hay các chất 
hoạt động bề mặt. Chúng  chủ yếu bao gồm các thành phần không bay 
hơi và thu được bằng cách chiết xuất các dung môi hữu cơ hoặc chất 
lỏng siêu tới hạn từ các chất sau: 
(i)  nguyên liệu nhựa có nguồn gốc thực vật tự nhiên không  cellular ở 
dạng khô (như là, nhựa dầu tự nhiên hoặc nhựa gôm dầu tự nhiên); 
(ii)  các nguyên liệu nhựa có nguồn gốc động vật tự nhiên ở dạng khô 
(như là, hương hải ly, chất xạ hương hoặc xạ hương). 
Nhựa dầu đã được chiết xuất, trong thương mại có tên gọi là "nhựa 
dầu đã điều chế" hoặc "nhựa dầu spice", thu được từ các nguyên liệu 
thực vật thô cellular tự nhiên (thông thường là các cây gia vị hoặc các 
loại thực vật có chất thơm), hoặc được chiết xuất bằng dung môi hữu cơ 
hoặc được chiết xuất bằng chất lỏng siêu tới hạn. Các chất chiết xuất này 
có chứa các chất bay hơi tỏa mùi hương (như là, các loại tinh dầu) và các 
chất thơm không bay hơi (như là, nhựa, dầu béo, các cấu tử có mùi hắc), 
chúng được xác định qua mùi thơm đặc trưng hoặc mùi trong gia vị hoặc 
các loại thực vật có chất thơm. Hàm lượng tinh dầu của các chất chiết 

xuất từ nhựa dầu này khác nhau đáng kể tùy thuộc vào loại cây gia vị 
hoặc các loại thực vật có chất thơm. Những sản phẩm này chủ yếu được 
sử dụng như các chất thơm trong công nghiệp thực phẩm. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các loại nhựa dầu tự nhiên (nhóm 13.01). 
(b)  Các chất chiết xuất từ thực vật, chưa nêu hoặc chưa chi tiết ở nơi 
khác (như là, nhựa dầu đã được chiết xuất bằng nước),có chứa các 
thành phần dễ bay hơi và thông thường (không kể đến các chất tỏa 
mùi hương)có tỷ lệ cao hơn của các chất có nguồn gốc thực vật khác 
(nhóm 13.02). 
(c)  Chất màu có nguồn gốc từ động vật hoặc thực vật (nhóm 32.03). 
Đôi khi các loại tinh dầu, chất tựa nhựa và nhựa dầu đã được chiết xuất 
chứa hàm lượng nhỏ dung môi từ việc chiết xuất chúng (như là, cồn 
etyl), nhưng điều đó không loại bỏ chúng khỏi phạm vi nhóm này. 
Các loại tinh dầu, chất tựa nhựa và nhựa dầu đã được chiết xuất được 
chuẩn hóa đơn thuần bằng cách bớt đi hoặc thêm vào tỷ lệ của một số 
thành phần chủ yếu vẫn được phân loại trong nhóm này nhưng với điều 
kiện là sự cấu thành của sản phẩm đã chuẩn hóa vẫn nằm trong giới hạn 
thông thường dựa trên loại sản phẩm đó ở dạng tự nhiên. Tuy nhiên, một 
loại tinh dầu, chất tựa nhựa hoặc nhựa dầu đã được chiết xuất được cắt 
phân đoạn hoặc biến đổi khác (trừ quá trình khử terpenic hydrocarbon), 
đến mức thành phần của sản phẩm được tạo ra cho thấy rõ sự khác biệt 
so với sản phẩm gốc, thì bị loại trừ (thường thuộc nhóm 32.02). Nhóm 
này cũng loại trừ các chế phẩm được đóng gói với chất pha loãng hoặc 
các chất mang như là dầu thực vật, dextroza hoặc tinh bột (thường thuộc 
nhóm 33.02). 
Các loại tinh dầu, các chất tựa nhựa và các nhựa dầu đã được chiết xuất 
chủ yếu được liệt kê trong Phụ lục Chú giải Chi tiết của chương này. 
(B) Tinh dầu đậm đặc trong chất béo, trong các loại dầu không bay 
hơi, hoặc trong các loại sáp hoặc các loại tương tự. 
Các sản phẩm cô đặc này thu được khi tinh dầu được chiết xuất từ 

cây hoặc hoa bằng chất béo, dầu không bay hơi,mỡ, sáp parafin,..., 
áp dụng cả trong quy trình lạnh hoặc nóng (bằng phương pháp tách 
hương liệu của hoa, ngâm hoặc hầm). Chúng được làm thành dạng 
tinh dầu cô đặc trong chất béo, dầu không bay hơi, v.v.... Các sản 
phẩm cô đặc trong chất béo có tên thương mại là “sáp thơm bôi tóc 
từ hoa”. Những chế phẩm dùng cho tóc cũng được biết đến với tên 
gọi là “sáp thơm bôi tóc” bị loại trừ (nhóm 33.05). 
(C) Sản phẩm phụ của terpen. 
Nhóm này áp dụng cho các sản phẩm phụ của terpen được tách từ các 
loại tinh dầu bằng quá trình cất phân đoạn hoặc quá trình khác. Các 
sản phẩm phụ này thường được dùng để tạo hương cho một số loại xà 
phòng vệ sinh hoặc hương liệu cho một số loại thực phẩm. 
(D) Các phần cất có nước và dung dịch nước của tinh dầu. 
Các phần cất nước có tinh dầu thu được như là các  phân đoạn có 
nước của phần cất, nó được tạo ra khi chiết tinh dầu từ thực vật bằng 
phương pháp cất hơi nước. Sau khi tinh dầu được chắt lọc, phần  cất 
có nước vẫn giữ lại được mùi thơm vì sự có mặt của một lượng nhỏ 
tinh dầu. Một số phần cất thu được trong quá trình chưng cất các sản 
phẩm thực vật đã được bảo quản trong cồn vẫn còn chứa một lượng 
nhỏ cồn; các phần cất khác có thể chứa một lượng cồn cần thiết để 
bảo đảm việc bảo quản chúng (như là, phần cất của cây kim mai). 
       Nhóm này cũng bao gồm các dung dịch của tinh dầu trong nước. 
Các sản phẩm này vẫn thuộc nhóm này khi chúng đã được pha trộn vào 
nhau nhưng không thêm nguyên liệu nào khác, hoặc trong trường hợp 
chúng được đóng gói như nước hoa hoặc như dược phẩm. 
Phổ biến hơn là các phần cất có nước và các dung dịch của tinh dầu 
từ hoa cam, hoa hồng, cây xả, cây bạc hà, cây thì là, cây nguyệt quế 
màu đỏ anh đào, hoa chanh, cây kim mai…  
Ngoài những điều đã đề cập ở trên, nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Nhựa dầu vani (đôi khi bị nhầm lẫn là “chất tựa nhựa vani” hoặc 
“chất chiết  vani”) (nhóm 13.02). 

(b)  Các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học  riêng biệt được tách 
từ tinh dầu (như là, terpen phân lập) hoặc từ các chất tựa nhựa (phân 
lập tự nhiên), hoặc điều chế tổng hợp (Chương 29). 
(c)  Các hỗn hợp tinh dầu, hỗn hợp chất tựa nhựa, hỗn hợp các nhựa dầu 
đã được chiết xuất, hỗn hợp tinh dầu với chất tựa nhựa hoặc nhựa 
dầu được chiết xuất hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của chúng, và hỗn 
hợp chủ yếu làm từ tinh dầu, chất tựa nhựa hoặc nhựa dầu đã được 
chiết xuất (xem Chú giải Chi tiết nhóm 33.02) 
(d)  Gôm, dầu gỗ thông hoặc sulphat turpentine và dầu terpen khác được 
điều chế bằng cách chưng cất hoặc xử lý các loại gỗ tùng bách  
(nhóm 38.05). 
Chú giải  phân nhóm. 
Phân nhóm 3301.12 
Theo mục đích của phân nhóm 3301.12 thuật ngữ "quả cam" không áp 
dụng đối với các loại quả quít (kể cả các loại quít và các loại satsuma) 
loại cam nhỏ, wilking hoặc các quả lai cam quít tương tự. 
33.02- Hỗn hợp các chất thơm và các hỗn hợp (kể cả dung dịch có 
cồn) với thành phần chủ yếu gồm một hoặc nhiều các chất 
thơm này, dùng làm nguyên liệu thô trong công nghiệp; các 
chế phẩm khác làm từ các chất thơm, dùng cho sản xuất đồ 
uống. 
3302.10  - Loại dùng trong công nghiệp thực phẩm hoặc đồ uống 
3302.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các hỗn hợp dưới đây với điều kiện chúng được 
dùng như nguyên liệu thô trong ngành công nghiệp sản xuất nước hoa, 
thực phẩm hoặc đồ uống (như là, trong sản xuất mứt kẹo, thực phẩm 
hoặc các chất tạo hương cho đồ uống) hoặc trong các ngành công nghiệp 
khác (như là, sản xuất xà phòng): 

(1)  Các hỗn hợp của các tinh dầu 
(2)  Các hỗn hợp của các chất tựa nhựa. 
(3)  Các hỗn hợp của các nhựa dầu đã được chiết xuất. 
(4)  Các hỗn hợp của các chất thơm tổng hợp. 
(5)  Các hỗn hợp của hai hoặc nhiều chất thơm (tinh dầu, chất tựa nhựa, 
nhựa dầu đã được chiết xuất hoặc các chất thơm tổng hợp). 
(6)  Các hỗn hợp của hai hoặc nhiều chất thơm (tinh dầu, chất tựa nhựa, 
nhựa dầu đã được chiết xuất hoặc các chất thơm tổng hợp) kết hợp 
với chất pha loãng hoặc chất mang như là dầu thực vật, dextroza 
hoặc tinh bột.  
(7) Các hỗn hợp có hoặc không kết hợp với một chất pha loãng hoặc một 
chất mang  hoặc chất có chứa cồn, của các sản phẩm của các 
Chương khác (như là, gia vị) với một hoặc nhiều chất thơm (tinh 
dầu, chất tựa nhựa, nhựa dầu đã được chiết xuất hoặc các chất thơm 
tổng hợp) với điều kiện các chất này tạo nên thành phần cơ bản của 
các hỗn hợp này. 
Các sản phẩm thu được nhờ loại bỏ đi một hoặc nhiều thành phần của 
tinh dầu, chất tựa nhựa hoặc nhựa dầu đã được chiết xuất làm sao để sản 
phẩm thu được có sự khác biệt rõ rệt so với sản phẩm gốc, cũng thuộc 
nhóm này. Ví dụ như là dầu bạc hà (thu được từ việc làm đông dầu của 
cây bạc hà cay, rồi xử lý bằng axít boric, loại bỏ phần lớn menthol và 
chứa trong đó menthone chiếm 63% và menthol chiếm 16%), dầu long 
não trắng (thu được từ dầu long não được làm đông lại và được chưng 
cất để loại bỏ long não và safrole, trong đó còn lại 30% đến 40% cineole 
thêm dipentene, pinene, camphene, v.v...) và geraniol (thu được bằng 
cách cất phân đoạn dầu sả và trong đó còn lại 50% đến 77% geraniol với 
một lượng thay đổi của dầu sả và nerol). 
Đặc biệt, nhóm này còn bao gồm các thành phần cơ bản của nước 
hoatạo thành từ các hỗn hợp giữa tinh dầu và các chất hãm mùi, chưa 
sẵn sàng để sử dụng cho đến khi đã pha thêm cồn. Nhóm này còn bao 
gồm các dung dịch trong cồn (như là, cồn etyl, cồn isopropyl) của một 

hoặc nhiều chất thơm với điều kiệncác dung dịch này là loại được dùng 
như nguyên liệu thô trong công nghiệp sản xuất nước hoa, thực phẩm, đồ 
uống hoặc các ngành công nghiệp khác. 
Nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm khác có thành phần cơ bản là 
các chất thơm, loại dùng trong sản xuất đồ uống. Các chế phẩm này 
có thể có hoặc không có cồn và có thể được dùng để sản xuất đồ uống có 
hoặc không có cồn. Chúng phải có thành phần chủ yếu là một hoặc nhiều 
các chất thơm, như mô tả trong phần Chú giải 2 của Chương này, được 
sử dụng trước hết mang lại mùi thơm và thứ hai là mang lại mùi vị ngon 
cho đồ uống. Thông thường các chế phẩm này chứa một lượng nhỏ các 
chất thơm mà đem lại đặc tính cho từng đồ uống riêng biệt; chúng cũng 
có thể chứa nước ép, chất màu, chất làm chua, chất làm ngọt, ... với điều 
kiện chúng lưu giữ được đặc tính của các chất thơm. Như hiện nay, các 
chế phẩm này không nhằm mục đích sử dụng như đồ uống và vì thế 
chúng có thể được phân biệt với đồ uống của Chương 22.    
Nhóm này không bao gồm các chế phẩm có hoặc không có cồn được 
dùng trong sản xuất đồ uống, với thành phần cơ bản là các chất trừ các 
chất thơm đã được mô tả trong Chú giải 2 của Chương này (nhóm 
21.06, trừ khi chúng chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác trong Danh 
mục). 
33.03- Nước hoa và nước thơm. 
Nhóm này bao gồm các loại nước hoa ở dạng lỏng, dạng kem hoặc dạng 
rắn (kể cả dạng que), và các loại nước thơm, trước hết được thiết kế để 
mang đến mùi thơm cho cơ thể người. 
Các loại nước hoa và dầu thơm thường chứa tinh dầu, tinh chất của các 
loại hoa, các chất thơm tổng hợp dạng nguyên chất hoặc dạng hỗn hợp, 
đã được hòa tan trong cồn có nồng độ cao. Chúng thường được phối hợp 
với các chất phụ gia có mùi nhẹ và các chất hãm mùi hoặc các chất ổn 
định. 
Các loại nước thơm, như là, nước cây oải hương, nước thơm Cologne 
(không được nhầm lẫn với các phần cất có nước của tinh dầu và các dung 

dịch của tinh dầu của nhóm 33.01) có chứa nồng độ tinh dầu thấp hơn, 
v.v.. thông thường có nồng độ cồn thấp hơn loại nước hoa đã được mô tả 
ở trên. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các loại giấm thơm (nhóm 33.04). 
(b)  Các loại lotion dưỡng da sau khi cạo râu và các chất khử mùi cá 
nhân (nhóm 33.07). 
33.04- Mỹ phẩm hoặc các chế phẩm để trang điểm và các chế phẩm 
dưỡng da (trừ dược phẩm), kể cả các chế phẩm chống nắng 
hoặc bắt nắng; các chế phẩm dùng cho móng tay hoặc móng 
chân. 
3304.10 - Chế phẩm trang điểm môi 
3304.20 - Chế phẩm trang điểm mắt 
3304.30 - Chế phẩm dùng cho móng tay hoặc móng chân 
- Loại khác : 
3304.91 - - Phấn, đã hoặc chưa nén 
3304.99 - - Loại khác 
(A) CHẾ PHẨM LÀM ĐẸP HOẶC ĐỂ TRANG ĐIỂM VÀ CÁC 
CHẾ PHẨM DƯỠNG DA, KỂ CẢ CÁC CHẾ PHẨM CHỐNG 
NẮNG HOẶC RÁM NẮNG 
Phần này bao gồm : 
(1)  Các loại son môi và các chế phẩm khác dùng để trang điểm môi. 
(2)  Nhũ để bôi mí mắt, mascara, các loại bút chì để tô lông mày và các 
loại chế phẩm khác dùng để trang điểm mắt. 
(3)  Các loại chế phẩm làm đẹp hoặc để trang điểm khác và các chế 
phẩm dưỡng da (trừ dược phẩm), như là: các loại phấn đánh mặt (đã 
hoặc chưa được nén), các loại phấn dùng cho trẻ em (kể cả bột talc, 
không pha trộn, không có mùi thơm, được đóng gói để bán lẻ), các 
loại phấn khác và phấn mỡ; kem làm đẹp, kem lạnh, kem trang 
điểm, kem làm sạch, chất dưỡng da (kể cả các loại kem có chứa sữa 

ong chúa) và nước dưỡng da hoặc sữa dưỡng thể;  petroleum jelly, 
được đóng gói để bán lẻ dùng cho chăm sóc da; kem ngăn ngừa và 
bảo vệ chống mẩn ngứa da; các loại gel tiêm dưới da để loại bỏ lớp 
da nhăn và làm đầy môi (kể cả loại có  chứa axit hyaluronic); các 
chế phẩm ngăn ngừa mụn trứng cá (trừ các loại xà phòng thuộc 
nhóm 34.01) mà công dụng chủ yếu là để làm sạch da và không 
chứa nhiều các thành phần hoạt tính cao như có tác dụng để phòng 
hoặc chữa mụn trứng cá; các loại giấm thơm là các hỗn hợp của 
giấm hoặc của axít axetic và cồn thơm. 
Nhóm này cũng gồm các chế phẩm chống nắng hoặc rám nắng. 
(B)- CÁC CHẾ PHẨM DÙNG CHO MÓNG TAY  
HOẶC MÓNG CHÂN 
Phần này bao gồm nước đánh bóng móng, sơn bóng móng, các loại 
thuốc tẩy rửa sơn bóng móng, các loại thuốc tẩy rửa biểu bì và các chế 
phẩm khác dùng để chăm sóc móng tay hoặc móng chân. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các chế phẩm dược phẩm dùng để chữa trị một số bệnh của da, như 
là, kem dùng để chữa bệnh eczema (nhóm 30.03 hoặc 30.04). 
(b)  Các chất khử mùi ở chân và chế phẩm dùng để xử lý các loại móng 
hoặc vuốt động vật (nhóm 33.07). 
(c) Móng tay nhân tạo (bằng plastic, nhóm 39.26; bằng vật liệu khác, 
phân loại theo vật liệu cấu thành). 
33.05-  Chế phẩm dùng cho tóc. 
3305.10 - Dầu gội đầu  
3305.20 - Chế phẩm uốn tóc hoặc làm duỗi tóc 
3305.30 - Keo xịt tóc (hair lacquers) 
3305.90 - Loại khác 

Nhóm này gồm có: 
(1)  Các loại dầu gội đầu, chứa xà phòng hoặc các chất hữu cơ hoạt động 
bề mặt khác (xem Chú giải 1(c) của Chương 34), và các loại dầu để gội 
đầu khác. Toàn bộ các loại dầu gội đầu này có thể chứa dược phẩm phụ 
trợ hoặc thành phần khử mùi, ngay cả chúng có chức năng phòng bệnh 
hoặc chữa bệnh (xem Chú giải 1(e) của Chương 30). 
Dầu gội có chứa xà phòng hoặc các chất hữu cơ hoạt động bề mặt 
khác mà có thêm công dụng như xà phòng lỏng, chế phẩm làm sạch 
da hoặc chế phẩm tạo bọt tắm cũng được xếp vào nhóm này. 
(2)  Các chế phẩm uốn tóc hoặc duỗi tóc. 
(3)  Keo xịt tóc (đôi khi gọi là “keo vuốt tóc”). 
(4)  Các chế phẩm dùng cho tóc khác, như là các sáp chải tóc; các loại 
dầu, các loại kem (pomades) và các chất định hình; các loại thuốc 
nhuộm tóc và các chế phẩm tẩy màu tóc; kem nhuộm tóc. 
Các chế phẩm được dùng cho lông trên các phần khác của cơ thể người, 
trừ loại dùng cho tóc bị loại trừ (nhóm 33.07). 
33.06- Chế phẩm dùng cho vệ sinh răng hoặc miệng, kể cả bột và 
bột nhão làm chặt chân răng; chỉ tơ nha khoa làm sạch kẽ 
răng (dental floss), đã đóng gói để bán lẻ. 
3306.10 - Sản phẩm đánh răng 
3306.20 - Chỉ tơ nha khoa làm sạch kẽ răng (dental floss) 
3306.90 - Loại khác 
Nhóm này gồm các chế phẩm dùng vệ sinh răng hoặc miệng như: 
(I) Thuốc đánh răng ở tất cả các dạng: 
(1)  Các loại kem đánh răng và các chế phẩm dùng cho răng khác. 
Đó là các chất hoặc các chế phẩm được sử dụng với một bàn 
chải răng, được dùng để làm sạch hoặc đánh bóng bề mặt răng 
hoặc cho mục đích khác như là phòng bệnh sâu răng. 
Các loại kem đánh răng và các chế phẩm khác dùng cho răng 

vẫn được phân loại vào nhóm này, dù chúng có hoặc không 
chứa các chất nhám và có hoặc không được sử dụng bởi nha sĩ. 
(2)  Chất làm sạch răng giả, tức là các chế phẩm làm sạch hoặc đánh 
bóng cho răng giả, có hoặc không chứa các thành phần mang 
đặc tính nhám. 
(II)  Các chế phẩm dùng để xúc miệng và làm thơm miệng. 
(III) Các loại kem, bột và viên nén làm chặt hàm răng giả. 
Nhóm này cũng bao gồm chỉ tơ nha khoa dùng làm sạch kẽ răng, đã 
được đóng gói riêng để bán lẻ (sợi cọ răng). 
33.07-Các chế phẩm dùng trước, trong hoặc sau khi cạo, các chất 
khử mùi cơ thể, các chế phẩm dùng để tắm, chế phẩm làm 
rụng lông và các chế phẩm nước hoa, mỹ phẩm hoặc vệ sinh 
khác, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác; các chất khử 
mùi phòng đã được pha chế, có hoặc không có mùi thơm hoặc 
có đặc tính khử trùng. 
3307.10 - Các chế phẩm dùng trước, trong hoặc sau khi cạo 
3307.20 - Chất khử mùi cá nhân và chất chống ra nhiều mồ hôi 
3307.30 - Muối thơm dùng để tắm và các chế phẩm dùng để tắm khác 
- Các chế phẩm dùng để làm thơm hoặc khử mùi phòng, 
kể cả các chế phẩm có mùi thơm dùng trong nghi lễ 
tôn giáo: 
3307.41 - - "Nhang, hương" và các chế phẩm có mùi thơm khi 
đốt cháy 
3307.49 - - Loại khác 
3307.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(I) Các chế phẩm dùng trước, trong hoặc sau khi cạo mặt, như là các 
loại kem và bọt bôi để cạo có chứa xà phòng hoặc các chất hữu cơ 
hoạt động bề mặt khác (xem Chú giải 1(c) của Chương 34); các loại 
lotiondưỡngda “sau khi cạo”, các khối và thỏi dùng để cầm máu. 

Xà phòng dùng để cạo ở dạng khối bị loại trừ ở nhóm này (nhóm 
(II)  Các chất khử mùi hôi cơ thể và chất chống ra mồ hôi. 
(III) Các chế phẩm dùng để tắm, như là các loại muối thơm dùng để 
tắm và các chế phẩm dùng để tắm có bọt, có hoặc không chứa xà 
phòng hoặc các chất hữu cơ hoạt động bề mặt  khác (xem Chú giải 1 
(c) của Chương 34). 
Các chế phẩm dùng làm sạch da, trong đó thành phần hoạt hóa chứa 
toàn bộ hoặc một phần các chất hữu cơ hoạt động bề mặt tổng hợp 
(có thể chứa xà phòng với bất kỳ tỷ lệ nào), ở dạng lỏng hoặc kem 
và được đóng gói để bán lẻ, được phân loại trong nhóm 34.01. Các 
chế phẩm như vậy nhưng không được đóng gói để bán lẻ thì phân 
loại vào nhóm 34.02.  
(IV) Các chế phẩm dùng để làm thơm hoặc khử mùi trong phòng, kể cả 
các chế phẩm có mùi thơm dùng trong nghi lễ tôn giáo. 
(1) Các chế phẩm dùng để làm thơm phòng và các chế phẩm có 
mùi thơm dùng trong nghi lễ tôn giáo. Chúng thường được sử 
dụng bằng cách cho bay hơi hoặc đốt cháy, như là, “Hương, 
nhang”, và có thể được để dưới dạng lỏng, dạng bột, dạng nón, 
dạng giấy đã thấm tẩm, v.v… Một số chế phẩm loại này có thể 
được sử dụng để át mùi. 
Nến thơm bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm 34.06).  
(2)  Các chế phẩm dùng khử mùi phòng đã được điều chế, có 
hoặc không có mùi thơm hoặc có đặc tính tẩy uế. 
       Các chế phẩm dùng khử mùi phòngđã được điều chế có 
chứa chủ yếu là các chất (như là lauryl methacrylate) tác động 
bằng phản ứng hóa học đối với các loại mùi để khắc phục hoặc 
tạo ra các chất khác dùng để hấp thụ mùi theo phương pháp vật 
lý, ví dụ như liên kết kiểu Van der Waal. Khi đóng gói để bán 
lẻchúng thường được đựng trong các bình xịt. 

Các sản phẩm, như là than hoạt tính, được đóng gói để bán lẻ 
dùng để khử mùi cho tủ lạnh, ô tô, v.v.... cũng được phân loại 
vào nhóm này. 
(V) Các sản phẩm khác, như: 
(1)  Các loại thuốc làm rụng lông. 
(2)  Các loại túi thơm chứa  hương liệu thơm từ thực vật được sử 
dụng làm thơm tủ đựng quần áo. 
(3)  Các loại giấy thơm và giấy đã thấm tẩm hoặc được phủ mỹ 
phẩm. 
(4)  Các loại dung dịch dùng cho mắt nhân tạo hoặc kính áp 
tròng. Chúng có thể dùng để làm sạch, khử trùng, ngâm hoặc 
gia tăng sự dễ chịu khi đeo kính. 
(5)  Mền xơ, nỉ và các sản phẩm không dệt đã thấm thấm, tráng 
hoặc phủ nước hoa hoặc mỹ phẩm. 
(6)  Các chế phẩm vệ sinh dùng cho động vật, như dầu gội cho 
chó, và nước để làm mượt lông chim. 
(7)  Dung dịch natri clorua dùng cho mục đích vệ sinh được đóng 
gói để bán lẻ, trừ loại dùng trong y tế hoặc dược phẩm, có hoặc 
không vô trùng. 

 Chương 34 
Xà phòng, các chất hữu cơ hoạt động bề mặt, các chế phẩm dùng để 
giặt, rửa, các chế phẩm bôi trơn, các loại sáp nhân tạo, sáp đã được 
chế biến, các chế phẩm dùng để đánh bóng hoặc tẩy sạch, nến và các 
sản phẩm tương tự, bột nhão dùng làm hình mẫu, "sáp dùng trong 
nha khoa" và các chế phẩm dùng trong nha khoa có thành phần cơ 
bản là thạch cao 
Chú giải. 
1. Chương này không bao gồm: 
(a) Hỗn hợp hoặc chế phẩm ăn được từ chất béo hoặc dầu của động vật, 
thực vật hoặc vi sinh vật được dùng như chế phẩm tách khuôn (nhóm 
(b) Các hợp chất đã xác định về mặt hoá học riêng biệt; hoặc 
(c) Dầu gội đầu, sản phẩm đánh răng, kem cạo và bọt cạo, hoặc các chế 
phẩm dùng để tắm, chứa xà phòng hoặc chất hữu cơ hoạt động bề 
mặt khác (nhóm 33.05, 33.06 hoặc 33.07). 
2. Theo mục đích của nhóm 34.01, khái niệm "xà phòng" chỉ áp dụng 
cho loại xà phòng hoà tan trong nước. Xà phòng và các sản phẩm 
khác thuộc nhóm 34.01 có thể chứa các chất phụ trợ (ví dụ chất khử 
trùng, bột mài mòn, chất độn hoặc dược phẩm). Các sản phẩm có 
chứa bột mài mòn phải xếp vào nhóm 34.01 nếu ở dạng thanh, bánh 
hoặc được nén thành miếng hoặc hình dạng nhất định. Các dạng khác 
sẽ được xếp vào nhóm 34.05 như "bột cọ rửa và các chế phẩm tương 
tự". 
3. Theo mục đích của nhóm 34.02, "các chất hữu cơ hoạt động bề mặt" 
là các sản phẩm khi trộn với nước với nồng độ 0,5% ở nhiệt độ 20oC, 
để trong một giờ ở nhiệt độ như trên: 
(a) Cho một chất lỏng trong suốt hoặc trắng mờ hoặc thể sữa mà 
không bị phân tách các chất không hoà tan; và 
(b) Giảm sức căng bề mặt nước xuống 4,5 x 10-2 N/m (45 dyne/cm) 
hoặc thấp hơn. 
4. Trong nhóm 34.03 khái niệm "dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ và dầu thu 
được từ khoáng bi-tum" áp dụng với các sản phẩm như đã định nghĩa 

tại Chú giải 2 Chương 27. 
5.  Trong nhóm 34.04, căn cứ vào giới hạn quy định dưới đây, khái niệm 
“sáp nhân tạo và sáp chế biến" chỉ áp dụng cho: 
(a) Các sản phẩm hữu cơ có tính chất sáp được sản xuất bằng phương 
pháp hoá học, có hoặc không hoà tan trong nước; 
(b) Các sản phẩm thu được bằng phương pháp pha trộn các loại sáp 
khác nhau; 
(c) Các sản phẩm có tính chất sáp với thành phần cơ bản là một hoặc 
nhiều loại sáp và chứa chất béo, nhựa, khoáng chất hoặc nguyên 
liệu khác.  
Nhóm này không áp dụng với: 
(a) Các sản phẩm thuộc nhóm 15.16, 34.02 hoặc 38.23 ngay cả khi các 
sản phẩm đó có tính chất sáp; 
(b) Sáp động vật hoặc thực vật không pha trộn, đã hoặc chưa tinh chế 
hoặc pha màu của nhóm 15.21; 
(c) Sáp khoáng chất hoặc sản phẩm tương tự thuộc nhóm 27.12, đã hoặc 
chưa trộn lẫn hoặc mới chỉ pha màu; hoặc 
(d) Sáp pha trộn, phân tán hoặc hoà tan trong dung môi lỏng (nhóm 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm các sản phẩm thu được chủ yếu từ quá trình xử lý 
công nghiệp các chất béo, dầu hoặc sáp (ví dụ, xà phòng, một số các chế 
phẩm bôi trơn, các loại sáp đã chế biến, một số các chế phẩm đánh bóng 
hoặc tẩy rửa, nến). Chương này cũng bao gồm một số các sản phẩm 
nhân tạo, ví dụ, các chất hoạt động bề mặt, các chế phẩm hoạt động bề 
mặt và sáp nhân tạo. 
Chương này không bao gồm các hợp chất đã xác định về mặt hoá học 
riêng biệt, hoặc các sản phẩm tự nhiên không pha trộn hoặc chế biến. 

34.01- Xà phòng; các sản phẩm và các chế phẩm hữu cơ hoạt động 
bề mặt dùng như xà phòng, ở dạng thanh, bánh, được nén 
thành miếng hoặc hình dạng nhất định, có hoặc không chứa 
xà phòng; các sản phẩm và các chế phẩm hữu cơ hoạt động 
bề mặt dùng để làm sạch da, ở dạng lỏng hoặc ở dạng kem và 
đã được đóng gói để bán lẻ, có hoặc không chứa xà phòng; 
giấy, mền xơ, nỉ và sản phẩm không dệt, đã thấm tẩm, tráng 
hoặc phủ xà phòng hoặc chất tẩy. 
-  Xà phòng và các sản phẩm và các chế phẩm hữu cơ 
hoạt động bề mặt, ở dạng thanh, bánh, được nén thành 
miếng hoặc hình dạng nhất định, và giấy, mền xơ, nỉ 
và sản phẩm không dệt, đã thấm tẩm, tráng hoặc phủ 
xà phòng hoặc chất tẩy: 
3401.11 - - Dùng cho vệ sinh (kể cả các sản phẩm đã tẩm thuốc): 
3401.19 - - Loại khác 
3401.20 - Xà phòng ở dạng khác 
3401.30 - Các sản phẩm và chế phẩm hữu cơ hoạt động bề mặt 
dùng để làm sạch da, dạng lỏng hoặc dạng kem và đã 
được đóng gói để bán lẻ, có hoặc không chứa xà phòng 
(I) XÀ PHÒNG 
Xà phòng là một loại muối kiềm (vô cơ hoặc hữu cơ) được làm từ axít 
béo hoặc hỗn hợp của axít béo chứa ít nhất 8 nguyên tử cacbon. Trong 
thực tế, một phần của axít béo có thể được thay thế bằng axít rosin. 
Nhóm này chỉ bao gồm xà phòng hoà tan trong nước, có thể nói đó chính 
là xà phòng. Xà phòng tạo ra một loại chất hoạt động bề mặt anion, với 
phản ứng kiềm, phản ứng này tạo nhiều bọt trong dung dịch nước. 
Xà phòng có 3 loại: 
Xà phòng cứng, thường được làm từ hydroxit natri hoặc cacbonat natri 
và bao gồm phần lớn là xà phòng thông thường. Loại xà phòng này có 
thể có màu trắng, được tạo màu hoặc có vằn. 
Xà phòng kem, được làm từ hydroxit kali hoặc cacbonat kali. Loại xà 

phòng này thường sền sệt và thường có màu xanh, nâu hoặc vàng nhạt. 
Chúng có thể chứa một lượng nhỏ (thường không quá 5%) chất hoạt 
động bề mặt tổng hợp hữu cơ. 
Xà phòng dạng lỏng, là loại dung dịch xà phòng trong nước, trong một 
vài trường hợp có một lượng nhỏ (thường là không quá 5%) cồn hoặc 
glyxêrin được thêm vào, nhưng không chứa chất hoạt động bề mặt tổng 
hợp hữu cơ. 
Phần này đặc biệt bao gồm: 
(1) Xà phòng dùng cho vệ sinh: thường được tạo màu và tạo hương, loại 
này bao gồm: xà phòng bọt và xà phòng khử mùi, cũng như xà phòng 
glyxêrin, xà phòng dùng để cạo mặt, xà phòng đã tẩm thuốc và một vài 
loại xà phòng tẩy uế hoặc xà phòng nhám, như được mô tả dưới đây. 
(a) Xà phòng bọt và xà phòng khử mùi. 
(b) Xà phòng glyxêrin, là loại có mầu trong mờ và được làm bằng 
cách xử lý xà phòng trắng cùng với cồn, glycerol hoặc đường. 
(c) Xà phòng dùng để cạo (các loại kem cạo thuộc nhóm 33.07). 
(d) Xà phòng đã được tẩm thuốc có chứa axít boric, axít salicylic, 
lưu huỳnh, sulphonamit hoặc các chất thuốc khác. 
(e) Xà phòng dùng để tẩy uế, có chứa một lượng nhỏ phenol, cresol, 
naphthol, formaldehyt hoặc các chất diệt khuẩn khác, chất kìm 
hãm vi khuẩn (bacteriostatic), v.v. Những loại xà phòng này 
không được nhầm lẫn với các chế phẩm tẩy trùng thuộc nhóm 
38.08 có chứa cùng thành phần, khác nhau về tỷ lệ của các thành 
phần (một phần là xà phòng, một phần là phênol, cresol, vv...). 
Các chế phẩm tẩy trùng của nhóm 38.08 có chứa một tỷ lệ đáng 
kể phenol, cresol, v.v., và ở thể lỏng trong khi xà phòng dùng để 
tẩy uế luôn luôn ở thể rắn. 
(f) Xà phòng nhám, bao gồm xà phòng đã được cho thêm vào cát, 
dioxit silíc, bột đá bọt, bột đá phiến, mùn cưa hoặc bất kỳ sản 
phẩm tương tự nào. Nhóm này chỉ bao gồm xà phòng nhám ở 
dạng thanh, miếng, bánh hoặc các hình dạng khác. Bột và bột 
nhão nhám dùng để cọ rửa, có hoặc không chứa xà phòng, sẽ 
thuộc nhóm 34.05. 

(2)  Xà phòng dùng trong gia đình, là loại có thể được tạo màu hoặc 
được tạo hương, nhám hoặc tẩy uế. 
(3) Rosin, dầu tall hoặc xà phòngnaphthenate không chỉ chứa muối 
kiềm của axit béo mà còn chứa resinat kiềm của nhóm 38.06 hoặc 
naphthenat kiềm của nhóm 34.02. 
(4)  Xà phòng dùng trong công nghiệp, được sản xuất cho mục đích 
đặc biệt, như dùng để kéo dây điện, dùng để polyme hoá cao su 
tổng hợp, hoặc dùng để giặt là. 
Theo như trường hợp ngoại lệ trong phần 1(f) ở trên, xà phòng thuộc 
nhóm này thường ở các dạng sau đây: thanh, miếng, bánh hoặc các hình 
dạng khác, phiến, bột, nhão hoặc dạng dung dịch nước. 
(II) CÁC SẢN PHẨM VÀ CÁC CHẾ PHẨM HỮU CƠ HOẠT 
ĐỘNG BỀ MẶT DÙNG NHƯ XÀ PHÒNG, Ở DẠNG THỎI, DẠNG 
BÁNH, DẠNG VIÊN HOẶC DẠNG KHUÔN ÉP, CÓ HOẶC 
KHÔNG CHỨA XÀ PHÒNG 
Phần này bao gồm các sản phẩm và chế phẩm dùng để giặt hoặc dùng 
cho vệ sinh, trong đó thành phần hoạt tính bao gồm toàn bộ hay một 
phần chất hoạt động bề mặt tổng hợp (nó có thể chứa xà phòng theo một 
tỷ lệ bất kỳ), với điều kiện là chúng phải ở dạng thỏi, miếng, bánh hoặc 
hoặc hình dạng khác, điều đó có nghĩa là, các dạng thông thường của xà 
phòng được chủ định cho mục đích sử dụng như nhau. 
Phần này cũng bao gồm các sản phẩm và các chế phẩm có đặc tính nhám 
tương tự bằng cách thêm cát, dioxit silíc, bột đá bọt, vv.., với điều kiện 
các chất này phải ở những dạng được mô tả ở trên. 
(III) CÁC SẢN PHẨM VÀ CÁC CHẾ PHẨM HỮU CƠ HOẠT 
ĐỘNG BỀ MẶT DÙNG ĐỂ LÀM SẠCH DA, Ở DẠNG LỎNG 
HOẶC DẠNG KEM VÀ ĐƯỢC ĐÓNG GÓI ĐỂ BÁN LẺ, CÓ HAY 
KHÔNG CHỨA XÀ PHÒNG. 
Phần này bao gồm các chế phẩm dùng để làm sạch da, trong đó thành 
phần hoạt tính bao gồm toàn bộ hay một phần chất hữu cơ tổng hợp hoạt 

động bề mặt (mà có thể chứa xà phòng với một tỷ lệ bất kỳ), với điều 
kiện chúng ở dạng lỏng hoặc dạng kem và đóng gói để bán lẻ. Những 
chế phẩm như vậy chưa được đóng gói để bán lẻ được phân loại vào 
nhóm 34.02. 
(IV) GIẤY, MỀN XƠ, NỈ VÀ SẢN PHẨM KHÔNG DỆT, Đà
THẤM TẨM, TRÁNG  HOẶC PHỦ XÀ PHÒNG HOẶC  
CHẤT TẨY. 
Phần này bao gồm giấy, mền xơ, nỉ và sản phẩm không dệt, đã thấm 
tẩm, tráng hoặc phủ xà phòng hoặc chất làm sạch, có hoặc không tạo 
hương hoặc đóng gói để bán lẻ. Những sản phẩm này thường dùng để 
rửa tay hoặc mặt. 
Ngoài những chất loại trừ ở trên, nhóm này không bao gồm: 
(a) Cặn xà phòng (nhóm 15.22). 
(b) Các sản phẩm và chế phẩm không tan trong nước, đó là “xà phòng” 
chỉ dùng trong mục đích hoá học, như "xà phòng" canxi hoặc “xà 
phòng” kim loại khác (Như là các trường hợp có thể thuộc Chương 
(c)  Giấy, mền xơ, nỉ và sản phẩm không dệt, tạo hương đơn giản 
(Chương 33). 
(d)  Dầu gội đầu và kem đánh răng (nhóm 33.05 và 33.06 tương ứng). 
(e)  Chất hữu cơ hoạt động bề mặt (trừ xà phòng), các chế phẩm hoạt 
động bề mặt và các chế phẩm dùng để giặt (có hoặc không chứa xà 
phòng) và xà phòng hoà tan hoặc phân tán trong dung môi hữu cơ, 
thuộc nhóm 34.02. 
(f)  Plastic bọt xốp, cao su bọt xốp, nguyên liệu dệt (trừ bông, nỉ và sản 
phẩm không dệt) và miếng đệm kim loại, đã thấm, tẩm hoặc tráng 
phủ xà phòng hoặc chất làm sạch (những mặt hàng này thường được 
phân loại trong các nhóm phù hợp với chất liệu nền). 

34.02- Chất hữu cơ hoạt động bề mặt (trừ xà phòng); các chế phẩm 
hoạt động bề mặt, các chế phẩm dùng để giặt, rửa (kể cả các 
chế phẩm dùng để giặt, rửa phụ trợ) và các chế phẩm làm 
sạch, có hoặc không chứa xà phòng, trừ các loại thuộc nhóm 
 - Các chất hữu cơ hoạt động bề mặt dạng anion, đã 
hoặc chưa đóng gói để bán lẻ: 
3402.31 - - Các axit alkylbenzen sulphonic cấu trúc thẳng và 
muối của chúng 
3402.39 - - Loại khác 
- Các chất hữu cơ hoạt động bề mặt khác, đã hoặc chưa 
đóng gói để bán lẻ: 
3402.41 - - Dạng cation  
3402.42 - - Dạng không phân ly (non - ionic) 
3402.49 - - Loại khác 
3402.50 - Chế phẩm đã đóng gói để bán lẻ 
3402.90 - Loại khác 
(I) CHẤT HỮU CƠ HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT 
(TRỪ XÀ PHÒNG) 
Chất hữu cơ hoạt động bề mặt của nhóm này là các hợp chất hoá học, 
chưa xác định về mặt hoá học, các chất này chứa một hay nhiều nhóm 
chức ưa nước hoặc kỵ nước với tỷ lệ là, khi trộn với nước ở nồng độ 
0.5% ở nhiệt độ 20 ºC và để một giờ đồng hồ với cùng nhiệt độ, chúng 
tạo ra một chất lỏng trong hoặc sáng mờ hoặc nhũ tương bền vững 
không có sự phân chia của chất không tan (xem Chú giải 3 (a) của 
Chương này). Theo mục đích của nhóm này, nhũ tương không được coi 
như có tính chất bền vững nếu như sau khi để một giờ đồng hồ ở nhiệt 
độ 20 ºC, (1) những phần tử rắn có thể nhìn được bằng mắt thường, (2) 
nó phân tách thành các giai đoạn tách biệt có thể nhìn thấy được hoặc (3) 
nó phân tách thành một phần trong suốt và một phần sáng mờ, có thể 

nhìn thấy được bằng mắt thường. 
Chất hữu cơ hoạt động bề mặt có thể hấp thụ ở bề mặt tiếp xúc; ở trạng 
thái này chúng thể hiện một số đặc tính vật lý - hoá học, đặc biệt là tính 
chất hoạt động bề mặt (ví dụ, giảm sức căng bề mặt, tạo bọt, nhũ hoá, 
thấm ướt), đó chính là lý do tại sao các chất đó thường được coi là "chất 
hoạt động bề mặt".  
Tuy nhiên, các sản phẩm không có khả năng làm giảm sức căng bề mặt 
của nước cất xuống 4.5 x 10-2N/m (45dyne/cm) hoặc thấp hơn ở nồng độ 
0.5% ở nhiệt độ 20 °C không được coi là chất hoạt động bề mặt và vì 
vậy không thuộc nhóm này. 
Chất hữu cơ hoạt động bề mặt có thể là: 
(1) Anion, trong trường hợp chúng ion hoá trong dung dịch nước để tạo 
ra ion hữu cơ tích điện âm hoạt động bề mặt. Ví dụ như: sunphat và 
sulphonat của mỡ, dầu thực vật (triglyceride) hoặc axit resin; 
sunphat và sunphonat thu được từ cồn béo; sulphonat dầu mỏ, ví dụ, 
của kim loại kiềm (kể cả các chất có chứa một phần dầu khoáng), 
của amoni hoặc của ethanolamines; alkylpolyethersulphates; 
alkylsulphonates hoặc alkylphenylethersulphonates; alkylsulphates, 
alkyllarylsulphonates (ví dụ, dodecylbenzenesulphonates kỹ thuật). 
Các chất hoạt động bề mặt này có thể chứa tạp chất từ quá trình sản 
xuất, số lượng nhỏ của cồn béo, alkylate hoặc các nguyên liệu thô 
kỵ nước khác được thoát ra từ quá trình sulphat và sulphonat. Các 
chất này cũng chứa sulphat natri hoặc muối vô cơ dư khác với tỷ lệ 
thường không quá 15%, khi là muối khan. 
(2)  Cation, trong trường hợp chúng ion hoá trong dung dịch nước để 
tạo ra ion mang điện tích dương (+) hoạt động bề mặt. Ví dụ: muối 
của các amin béo và bazơ amoni bậc 4. 
(3)  Non-ion, trong trường hợp chúng không tạo ra ion trong dung dịch 
nước. Khả năng hoà tan trong nước là do sự có mặt của các phân tử 
của nhóm chức có sức hút nước lớn. Ví dụ như: các sản phẩm 
ngưng tụ của cồn béo, axit béo hoặc alkylphenol với ethylen oxit; 

ethoxylate của axit amin béo. 
(4)  Chất lưỡng tính, trong trường hợp phụ thuộc vào điều kiện của 
môi trường, chúng có thể được ion hoá trong dung dịch nước và tạo 
ra các hợp chất đặc trưng của chất hoạt động bề mặt anion hoặc 
Tính chất của ion này giống như tính chẩt của các hợp chất lưỡng 
tính với ý nghĩa khái quát nhất. Ví dụ, những chất như protein 
alkylbetaine hoặc protein sulphobetaine, các sản phẩm phân ly của 
nó và các hợp chất thay thế của amino-cacboxylic, amino-sulphuric 
và amino- photphoric axit. 
(II) CÁC CHẾ PHẨM HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT, CÁC CHẾ PHẨM 
DÙNG ĐỂ GIẶT, RỬA (KỂ CẢ CÁC CHẾ PHẨM PHỤ TRỢ 
DÙNG ĐỂ GIẶT RỬA) VÀ CÁC CHẾ PHẨM LÀM SẠCH, CÓ 
HOẶC KHÔNG CHỨA XÀ PHÒNG, TRỪ CÁC LOẠI THUỘC 
NHÓM 34.01. 
Nhóm này bao gồm 3 loại chế phẩm: 
(A)  Các chế phẩm hoạt động bề mặt. 
Bao gồm: 
(1) Sự trộn lẫn của các chất hoạt động bề mặt thuộc Phần (I) ở trên (ví 
dụ, sulphoricinoleates trộn lẫn với alkylnaphthalenes đã được 
sulphonat hóa hoặc cồn béo đã được sulphat hóa). 
(2) Chất hoạt động bề mặt dạng dung dịch hoặc dạng phân tán thuộc 
Phần (I) ở trên trong một dung môi hữu cơ (ví dụ, một dung dịch 
của cồn béo được sunphat hóa trong cyclohexanol hoặc trong 
(3) Các hỗn hợp khác từ chất hoạt động bề mặt thuộc Phần (I) ở trên (ví 
dụ, các chế phẩm hoạt động bề mặt có chứa một tỷ lệ xà phòng, như 
alkylbenzenesulphonate với stearate natri). 
(4)  Xà phòng dạng dung dịch hoặc dạng phân tán trong một dung môi 
hữu cơ như cyclohexanol. (Dung dịch của xà phòng trong nước, có 
thể có một lượng nhỏ thêm vào là rượu hoặc glycerol (thường không 
quá 5%), là xà phòng dạng lỏng thuộc nhóm 34.01). 

Các chế phẩm hoạt động bề mặt được dùng trong nhiều ứng dụng công 
nghiệp vì tính chất làm sạch, thấm ướt, nhũ hoá hoặc phân táncủa chúng, 
ví dụ như: 
(i)  Chất làm sạch dùng cho ngành dệt, để loại chất béo và chất bẩn trên 
vải dệt trong suốt quá trình sản xuất và hoàn thiện. 
(ii)  Chất thấm ướt, chất nhũ hoá, chất làm sáng và chất trợ tẩy màu, 
dùng cho công nghiệp dệt. 
(iii)  Chất dùng để ngâm (dùng cho da sống), chất làm giảm mỡ, chất làm 
ướt (dùng để nhuộm), chất làm phẳng hoặc dưỡng da, dùng cho 
công nghiệp da thuộc hoặc công nghiệp lông. 
(iv)  Những nguyên liệu chính dùng để sản xuất các chế phẩm dùng giặt 
rửa của Phần B dưới đây (ví dụ, các chế phẩm hoạt động bề mặt 
anion có thể chứa một lượng đáng kể sulphat natri hoặc muối vô cơ 
khác phát sinh trong quá trình sản xuất chất hoạt động bề mặt, hoặc 
như một chất lắng hoặc như là một chất thêm vào có chủ ý). 
(v)  Chất phân tán dùng cho công nghiệp giấy và công nghiệp cao su 
tổng hợp. 
(vi)  Chất tuyển nổi dùng cho công nghiệp mỏ. 
(vii) Chất nhũ hoá dùng trong sản xuất các sản phẩm dược phẩm hoặc 
mỹ phẩm. 
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm hoặc chế phẩm hữu cơ hoạt 
động bề mặt để làm sạch da, trong đó thành phần hoạt tính bao gồm 1 
phần hoặc toàn bộ chất hoạt động bề mặt hữu cơ tổng hợp (trong đó có 
thể chứa xà phòng theo tỷ lệ bất kỳ), ở dạng lỏng hoặc kem và được 
đóng gói để bán lẻ (nhóm 34.01). 
(B) Các chế phẩm giặt, rửa (kể cả các chế phẩm phụ trợ dùng để 
giặt rửa) và các chế phẩm làm sạch, có thành phần cơ bản là xà 
phòng hoặc các chất hữu cơ hoạt động bề mặt khác. 
Loại này bao gồm các chế phẩm giặt rửa, chế phẩm phụ trợ dùng để giặt 
rửa và một số chế phẩm làm sạch. Các chế phẩm đa dạng này thường 
chứa các thành phần thiết yếu và một hoặc nhiều thành phần phụ trợ. 
Đặc biệt, sự có mặt của các thành sau này chỉ ra sự khác biệt của các chế 
phẩm này so với các chế phẩm được mô tả trong phần A ở trên. 
Các thành phần chủ yếu là các chất hữu cơ hoạt động bề mặt tổng hợp  The essential constituents are synthetic organic surface-active agents or 

hoặc xà phòng hoặc hỗn hợp của chúng. 
Các thành phần phụ trợ là: 
(1)  Các chất nền (ví dụ, polyphosphat natri, cacbonat, silicat hoặc borat, 
muối của axit nitrilotriacetic (NTA)). 
(2) Các chất tăng tốc (ví dụ, alkanolamides, amin axit béo, oxit amin 
béo). 
(3) Chất độn (ví dụ, sulphat natri hoặc clorua). 
(4) Chất phụ trợ (ví dụ, chất tẩy hoá học hoặc quang học, chất chống 
lắng đọng, chất chống ăn mòn, chất chống tĩnh điện, chất tạo mầu, 
chất tạo hương, chất diệt vi khuẩn, enzim). 
Các chế phẩm này hoạt động trên bề mặt bằng việc chuyển chất bẩn trên 
bề mặt thành dạng hòa tan hoặc dạng phân tán. 
Các chế phẩm giặt rửa từ các chất hoạt động bề mặt cũng được biết 
như là chất làm sạch.Loại chế phẩm này được dùng để giặt quần áo và 
cũng dùng để rửa bát đĩa hoặc các dụng cụ nhà bếp. 
Các chất này có thể ở dạng lỏng, bột hoặc dạng nhão và được sử dụng 
trong gia đình và trong công nghiệp. Các sản phẩm vệ sinh và giặt rửa ở 
dạng thỏi, miếng, bánh hoặc các hình dạng khác xếp ở nhóm 34.01. 
Các chế phẩm phụ trợ dùng để giặt rửa được dùng để ngâm (trước khi 
giặt), giũ hoặc tẩy quần áo, đồ lanh nội trợ, vv... 
Các chế phẩm làm sạch dùng để làm sạch nền nhà, cửa sổ hoặc các bề 
mặt khác. Chúng cũng có thể chứa một lượng nhỏ chất có mùi thơm. 
(C)  Các chế phẩm làm sạch hoặc tẩy mỡ, có thành phần cơ bản 
không phải là xà phòng hoặc các chất hữu cơ hoạt động bề mặt 
khác. 
Các chế phẩm này gồm:  
(i)  Chất làm sạch axit hoặc kiềm có công thức đặc biệt dùng để 
làm sạch các đồ vệ sinh, chảo rán, ..., ví dụ, những chất có chứa 
sulphat hydro natri hoặc hỗn hợp của hypochlorite natri và 
(ii) Các chế phẩm dùng để tẩy mỡ hoặc làm sạch, ví dụ, sử dụng 
trong việc sản xuất bơ sữa hoặc làm bia, và một thành phần cơ 

bản của: 
-    chất kiềm như là cacbonat natri hoặc hydroxit natri, hoặc 
            -  các dung môi và các chất nhũ hóa. 
Sản phẩm của nhóm này có thể bao gồm một lượng nhỏ xà phòng hoặc 
các chất hoạt động bề mặt khác. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Dầu gội hoặc các chế phẩm dùng để tắm, có hoặc không chứa xà 
phòng hoặc các chất hoạt động bề mặt khác (Chương 33). 
(b)  Giấy, mền xơ, nỉ và sản phẩm không dệt, đã thấm tẩm, tráng hoặc 
phủ chất làm sạch (nhóm 34.01). 
(c) Các chế phẩm, có chứa chất hoạt động bề mặt mà chức năng hoạt 
động bề mặt hoặc không được yêu cầu hoặc chỉ là phần phụ đối với 
chức năng chính của chế phẩm (có thể ở các nhóm 34.03, 34.05, 
(d)  Các chế phẩm có tính chất mài mòn có chứa các chất hoạt động bề 
mặt (dạng nhão và bột tẩy rửa) (nhóm 34.05). 
(e)  Các naphthenates không tan trong nước, sulphonat dầu mỏ và các 
sản phẩm và chế phẩm hoạt động bề mặt không tan trong nước 
khác. Các chất này thuộc nhóm 38.24, với điều kiện là các chất này 
không nằm trong nhóm cụ thể hơn. 
34.03-  Các chế phẩm bôi trơn (kể cả các chế phẩm dầu cắt, các chế 
phẩm dùng cho việc tháo bu lông hoặc đai ốc, các chế phẩm 
chống gỉ hoặc chống mài mòn và các chế phẩm dùng cho việc 
tách khuôn đúc, có thành phần cơ bản là dầu bôi trơn) và các 
chế phẩm dùng để xử lý bằng dầu hoặc mỡ cho các vật liệu 
dệt, da thuộc, da lông hoặc các vật liệu khác, nhưng trừ các 
chế phẩm có thành phần cơ bản chứa từ 70% trở lên tính 
theo trọng lượng là dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc các loại 
dầu thu được từ khoáng bi-tum. 
- Có chứa các loại dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc  

dầu thu được từ khoáng bi-tum: 
3403.11 - - Chế phẩm dùng để xử lý các vật liệu dệt, da thuộc, da 
lông hoặc các vật liệu khác: 
3403.19 - - Loại khác 
 - Loại khác: 
3403.91 - - Chế phẩm dùng để xử lý các vật liệu dệt, da thuộc, da 
lông hoặc các vật liệu khác: 
            3403.99 - - Loại khác 
Với điều kiện là các chất này không chứa từ 70% dầu có nguồn gốc từ 
dầu mỏ hoặc dầu từ khoáng chất bitum như thành phần cơ bản (xem 
nhóm 27.10), ngoài những đề cập khác, nhóm này bao gồm hỗn hợp đã 
điều chế của các loại dưới đây: 
(A) Các chế phẩm bôi trơn được chế tạo để giảm ma sát giữa các bộ 
phận chuyển động trong máy móc, xe cộ, máy bay hoặc các thiết bị, 
dụng cụ hoặc công cụ. Các loại dầu nhờn này thường bao gồm, hoặc 
thành phần cơ bản là hỗn hợp của dầu, chất béo hoặc mỡ động vật, 
thực vật hoặcdầu khoáng,cùng với các chất phụ gia (ví dụ, than chì, 
disulphit molipden, talc, mồ hóng cacbon, xà phòng canxi hoặc xà 
phòng kim loại khác, hắc ín, hoặc gỉ sắt, chất oxi hoá, ..., chất ức 
chế). Tuy nhiên, nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm bôi trơn 
tổng hợp với thành phần cơ bản, ví dụ như dioctyl hoặc dinonyl 
(polyethylene glycol) hoặc poly(oxypropylene) (polypropylene 
glycols). Dầu bôi trơn tổng hợp này bao gồm "mỡ" với thành phần 
cơ bản là silicon hoặc dầu máy bay (hoặc dầu bôi trơn este tổng 
hợp), được chế tạo để hoạt động trong những điều kiện đặc biệt 
chính xác (ví dụ, dầu bôi trơn chống lửa, dầu bôi trơn dùng cho các 
công cụ chính xác hoặc động cơ phản lực). 
(B)  Chế phẩm bôi trơn dùng cho việc kéo dây để đảm bảo cho dây 
chuyển động dễ dàng qua khuôn. Các chế phẩm này bao gồm: một 
vài nhũ tương nước của mỡ động vật và axit sulphuric; hỗn hợp của 
xà phòng natri, stearat nhôm, nước và dầu khoáng; hỗn hợp của dầu, 

chất béo và sulpho - oleates; hỗn hợp của xà phòng canxi và vôi, ở 
dạng bột. 
(C)  Các chế phẩm dầu cắt: Các chế phẩm này thường có thành phần cơ 
bản là dầu động vật, dầu thực vật hoặc dầu khoáng, thường pha trộn 
thêm chất hoạt động bề mặt. 
Các chế phẩm (ví dụ, các chế phẩm với thành phần cơ bản là sulphonat 
dầu mỏ hoặc các sản phẩm hoạt động bề mặt khác) dùng để làm dầu cắt, 
nhưng thường không thích hợp với việc sử dụng trực tiếp như dầu 
cắt thì không bao gồm trong phần này (nhóm 34.02). 
(D) Các chế phẩm dùng để tháo bulông hoặc đai ốc. Đây là các chế 
phẩm dùng để tháo bulông, ốc hoặc các bộ phận khác. Các chất này 
thường bao gồm chủ yếu là dầu bôi trơn và cũng có thể chứa dầu 
nhờn dạng rắn, dung môi, chất hoạt động bề mặt, chất đánh gỉ, vv... 
(E)  Chế phẩm chống gỉ hoặc chống mài mòn bao gồm thành phần chủ 
yếu là dầu nhờn. 
(F)  Chế phẩm tách khuôn đúc có thành phần cơ bản là dầu nhờn, 
được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau (ví dụ, 
plastic, cao su, xây dựng, khuôn đúc), như: 
(1)  Dầu khoáng, dầu thực vật hoặc dầu động vật hoặc các chất béo 
khác (kể cả các chất đó đã sulphonat hoá, ôxi hoá hoặc hyđro 
hoá) được trộn lẫn hoặc nhũ hoá với sáp, lecithin hoặc chất 
chống ôxy hóa. 
(2)  Hỗn hợp có chứa mỡ hoặc dầu silicon. 
(3)  Hỗn hợp bột graphite, talc, mica, bentonite hoặc nhôm với dầu, 
chất béo, sáp, vv... 
Tuy nhiên, nhóm này loại trừ các hỗn hợp hoặc chế phẩm ăn được của 
mỡ hoặc dầu động vật hoặc thực vật thuộc loại dùng như các chế phẩm 
dùng để tách khuôn (ví dụ, dầu tách khuôn dùng trong hiệu bánh mỳ) 
(nhóm 15.17). 
(G)  Các chế phẩm dùng để bôi trơn, bôi dầu hoặc bôi mỡ của cho 
nguyên liệu dệt, da thuộc, da sống, da lông, vv.... Các chất này có 
thể dùng để bôi trơn hoặc làm mềm sợi dệt trong quá trình xe sợi, 

dùng để nhồi da thuộc, vv.... Các chất này bao gồm, ví dụ như: hỗn 
hợp của dầu khoáng hoặc chất béo với chất hoạt động bề mặt (ví dụ, 
sulphoricinoleates); các chế phẩm bôi trơn nguyên liệu dệt phân tán 
trong nước có chứa tỷ lệ cao các chất hoạt động bề mặt cùng với dầu 
khoáng chất và các hoá chất khác. 
Nhóm này cũng bao gồm: 
(1)  Chất nhũ hóa ổn định disulphide molypden trong dầu khoáng, 
có chứa dầu khoáng từ 70% trở lên tính theo trọng lượng, có cho 
thêm một lượng nhỏ disulphide molypden sẽ trở thành thành phần 
cơ bản, chỉ vì đặc tính bôi trơn đặc biệt của chúng, để làm dầu bôi 
trơn cho động cơ, v.v,... 
(2)  Các chế phẩm chống gỉ với thành phần cơ bản là mỡ lông cừu và 
hoà tan trong xăng trắng, thậm chí với tỷ lệ thành phần xăng trắng là 
70% trở lên tính theo trọng lượng. 
(3)  Chế phẩm dạng nhão không đóng rắn bao gồm petroleum jelly và 
xà phòng canxi, và được dùng để bôi trơn và đấu nối làm kín các 
khớp nối và mạch khi lắp ráp các bộ phận phanh lực chân không. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Chất nhờn nhân tạo (nhóm 15.22). 
(b)  Chế phẩm gel dùng làm dược phẩm cho người hoặc thú y như là 
chất bôi trơn cho các bộ phận cơ thể khi phẫu thuật hoặc khám bệnh 
hoặc tác nhân kết hợp giữa người bệnh với dụng cụ y tế (nhóm 
(c)  Than chì dạng keo hoặc dạng bán keo hoặc than chì dạng nhão, 
thuộc nhóm 38.01. 
(d)  Các chế phẩm chống trượt dây curoa truyền động (nhóm 38.24) và 
chế phẩm chống rỉ của nhóm 38.24. 
34.04- Sáp nhân tạo và sáp đã được chế biến 
3404.20- Từ poly(oxyetylen) (polyetylen glycol) 
3404.90 - Loại khác 

Nhóm này bao gồm sáp nhân tạo (đôi khi trong công nghiệp gọi là "sáp 
tổng hợp") và sáp đã được chế biến, như được định nghĩa ở Chú giải 5 
của Chương này, chứa hoặc bao gồm chất hữu cơ với trọng lượng phân 
tử tương đối cao và không phải là các hợp chất được xác định về mặt hoá 
học riêng biệt. Những sáp này là: 
(A)  Các sản phẩm hữu cơ thu được bằng phương pháp hóa học có đặc 
tính như sáp, có hoặc không tan trong nước. Tuy nhiên, sáp thuộc 
nhóm 27.12, được tạo ra bằng cách tổng hợp hoặc cách khác (ví dụ, 
sáp Fischer - Tropsch chứa phần lớn là hydrocacbon) thì bị loại trừ. 
Các sản phẩm sáp tan trong nước có đặc tính hoạt động bề mặt cũng 
bị loại trừ (nhóm 34.02). 
(B)  Các sản phẩm thu được bằng cách trộn lẫn hai hay nhiều sáp động 
vật khác nhau, sáp thực vật khác nhau hoặc các sáp khác nhau của 
các loại sáp khác hoặc thu được từ quá trình trộn lẫn sáp của các loại 
khác (động vật, thực vật hoặc loại khác) (ví dụ, hỗn hợp của các loại 
sáp thực vật khác nhau và hỗn hợp của một loại sáp khoáng với một 
loại sáp thực vật). Tuy nhiên, hỗn hợp của sáp khoáng bị loại trừ 
(nhóm 27.12). 
(C)  Các sản phẩm có đặc tính sáp với thành phần là một hoặc nhiều 
loại sáp và có chứa chất béo, nhựa, chất khoáng hoặc chất khác. Tuy 
nhiên, sáp thực vật hoặc động vật không pha trộn, đã hoặc chưa tinh 
chế hoặc tạo màu thì bị loại trừ (nhóm 15.21). Sáp khoáng không 
pha trộn hoặc hỗn hợp của sáp khoáng, đã hoặc chưa tạo mầu, cũng 
bị loại trừ (nhóm 27.12). 
Tuy nhiên, các chất được mô tả ở phần (A), (B) và (C) ở trên, khi trộn 
lẫn với nhau, phân tán (lơ lửng hoặc nhũ tương) hoặc hoà tan trong môi 
trường lỏng, không thuộc nhóm này (nhóm 34.05, 38.09, vv...). 
Các loại sáp thuộc phần (A) và (C) ở trên phải có: 
(1)  điểmnhỏ giọt trên 40°C; và 
(2)  độ nhớt, khi đo bằng phương pháp roto quay, không quá 10 Pa.s 
(hoặc 10,000 cP) tại nhiệt độ trên điểm nhỏ giọt của chúng 10 °C. 

Thêm vào đó, các sản phẩm này thường biểu hiện các đặc tính sau: 
(a)  chúng có tác dụng đánh bóng khi lau chùi nhẹ nhàng; 
(b)  Tính bền vững và khả năng hoà tan của chúng phụ thuộc chủ yếu 
vào nhiệt độ; 
(c)  ở nhiệt độ 20 °C: 
(i)  một số loại ở mềm và có thể nhào trộn được (nhưng không dính 
hoặc lỏng) (sáp mềm), những loại khác giòn, dễ gẫy (sáp cứng); 
(ii)  chúng không trong suốt nhưng có thể trong mờ; 
(d)  ở nhiệt độ trên 40 °C, chúng tan chảy nhưng không phân hủy; 
(e)  ngay trên điểm nóng chảy chúng không thể dễ dàng kéo thành 
sợi; 
(f)  chúng là chất dẫn điện và nhiệt kém. 
Sáp của nhóm này rất đa dạng về thành phần hoá học. Sáp này bao gồm: 
(1)  Các loại sáp polyalkylene (ví dụ, sáp polyetylene). Các loại sáp này 
được sử dụng trong đóng gói nguyên liệu, bôi trơn và đánh bóng sợi 
dệt, vv... 
(2) Sáp thu được từ quá trình ô xi hoá từng phần của sáp hydrocacbon 
(như sáp parafin tổng hợp hoặc tự nhiên). Chúng được sử dụng rộng 
rãi trong việc đánh bóng, phủ, bôi trơn, vv.... 
(3)  Các 
loại 
sáp 
có 
chứa 
hỗn 
hợp 
của 
polychlorobiphenyls hoặc polychloronaphthalenes. Các chất này 
được dùng trong việc chống lửa, như chất cách điện, chất chống 
thấm cho tụ điện, bôi trơn, bảo quản gỗ, vv... 
4)  Các loại sáp glycol polyethylene (Poly(oxyethylene)). Các loại sáp 
này có thể tan trong nước và được sử dụng trong mỹ phẩm hoặc 
dược phẩm, như chất kết dính, chất làm mềm, chất bảo quản và keo 
dính cho vật liệu dệt hoặc giấy, trong thành phần của mực hoặc cao 
(5)  Các loại sáp bao gồm hỗn hợp của keton béo, este béo (như là 
monostearate glycol propylene đã biến tính với một lượng nhỏ xà 
phòng, và được trộn với mono glycerol và distearate đã được este 

hoá bằng axit tartaric và axit acetic), amin béo hoặc amid béo. Các 
loại sáp này được dùng trong mỹ phẩm, đánh bóng, sơn, vv... 
(6)  Sáp thu được từ quá trình biến tính hóa học một phần hoặc toàn bộ 
của sáp tự nhiên như là sáp than nâu. 
(7)  Các loại sáp có chứa hai hoặc nhiều loại sáp khác (trừ hỗn hợp của 
sáp khoáng nằm trong nhóm 27.12) hoặc một hoặc nhiều sáp với 
vật liệu khác, ví dụ, sáp có chứa sáp paraffin và polyethylene, được 
dùng như vật liệu phủ, sáp chứa sáp paraffin và axít stearic, được 
dùng như nguyên liệu thô để làm nến, sáp có chứa sáp hydrocacbon 
đã được oxi hoá và nhũ hoá; sáp gắn và các loại sáp có thành phần 
tương tự, tuy nhiên các loại sáp này được đóng gói, trừ các sản 
phẩm thuộc nhóm 32.14. 
Các loại sáp trên, nếu được tạo màu cũng được phân loại ở đây. 
Ngoài những trường hợp loại trừ đề cập ở trên, nhóm này không bao 
gồm: 
(a)  Cồn mỡ lông cừu, thậm chí nếu có đặc tính của sáp (nhóm 15.05). 
(b)  Dầu đã được hydro hoá, thậm chí nếu có đặc tính của sáp (nhóm 
(c)  Các hợp chất hữu cơ đã xác định về mặt hoá học riêng biệt 
(Chương 29). 
(d)  "Sáp dùng trong nha khoa" và "các hợp chất làm mẫu răng", đã đóng 
gói thành bộ, thành gói để bán lẻ hoặc ở dạng phiến, dạng móng 
ngựa, dạng thanh hoặc các dạng tương tự (nhóm 34.07). 
(e)  Axít béo monocarboxylic công nghiệp và cồn béo công nghiệp, 
thậm chí nếu có đặc tính của sáp (nhóm 38.23). 
(f)  Hỗn hợp của mono-, di- và tri-, este axit béo của glycerol, không có 
đặc tính của các loại sáp (nhóm 38.24). 
(g)  Polychlorobiphenyls đã pha trộn và chloroparaffin đã pha trộn, 
không có đặc tính của sáp (nhóm 38.24). 

(h)  Glycol polyethylene (Poly(oxyethylene)), không có đặc tính của sáp 
(ví dụ, nhóm 38.24 hoặc 39.07). 
(ij)  Polyethylene không có đặc tính của sáp (ví dụ, nhóm 39.01). 
34.05 - Chất đánh bóng và các loại kem, dùng cho giày dép, đồ nội 
thất, sàn nhà, thân xe (coachwork), kính hoặc kim loại, các 
loại bột nhão và bột khô để cọ rửa và chế phẩm tương tự (có 
hoặc không ở dạng giấy, mền xơ, nỉ, tấm không dệt, plastic 
xốp hoặc cao su xốp, đã được thấm tẩm, tráng hoặc phủ bằng 
các chế phẩm trên), trừ các loại sáp thuộc nhóm 34.04. 
3405.10- Chất đánh bóng, kem và các chế phẩm tương tự dùng 
cho giày dép hoặc da thuộc 
3405.20 - Chất đánh bóng, kem và các chế phẩm tương tự dùng 
để bảo quản đồ nội thất bằng gỗ, sàn gỗ hoặc các hàng 
hoá khác bằng gỗ 
3405.30 - Chất đánh bóng và các chế phẩm tương tự dùng để 
đánh bóng thân xe (coachwork), trừ các chất đánh 
bóng kim loại 
3405.40 - Bột nhão và bột khô để cọ rửa và các chế phẩm cọ rửa 
khác 
3405.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm chất đánh bóng và kem dùng cho giầy dép, đồ nội 
thất, sàn nhà, thùng xe, kính hoặc kim loại (đồ làm bằng bạc, đồng, vv...) 
và dạng bột hoặc dạng nhão đã chế biến dùng để cọ rửa đồ nấu bếp, bồn 
rửa bát, đá lát, bếp lò, vv..., và các chế phẩm tương tự như chất đánh 
bóng và kem dùng cho da thuộc. Nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm 
đánh bóng với đặc tính bảo quản. 
Những chế phẩm này có thể có thành phần cơ bản gồm sáp, chất mài 
mòn và các chất khác. Ví dụ các chế phẩm đó là: 
(1)  Sáp và các chất đánh bóng có chứa sáp đã tẩm dầu nhựa thông hoặc 

đã nhũ hoá trong dung dịch nước và thường chứa thêm chất mầu. 
(2)  Chất đánh bóng kim loại và chất đánh bóng dùng cho thuỷ tinh có 
chứa nguyên liệu đánh bóng mềm như đá phấn hoặc kieselguhr ở 
dạng huyền phù trong nhũ tương của xăng trắng và xà phòng lỏng. 
(3) Kim loại, vv..., các chất đánh bóng, chất hoàn thiện hoặc các sản 
phẩm nghiền có chứa bột hoặc bụi kim cương. 
(4) Bột làm sạch có chứa hỗn hợp của cát nghiền rất mịn với cacbonat 
natri và xà phòng. Loại nhão làm sạch thu được từ quá trình kết dính 
những loại bột này với, ví dụ một dung dịch của sáp trong dầu 
khoáng bôi trơn. 
Những chế phẩm này thường được đóng gói để bán lẻ và thường ở thể 
lỏng, nhão, bột, viên, thanh, vv..., có thể được sử dụng trong gia đình 
hoặc cho mục đích công nghiệp. 
Nhóm này cũng bao gồm giấy, mền xơ, nỉ, sản phẩm không dệt, plastic 
xốp hoặc cao su xốp, đã thấm tẩm, tráng hoặc phủ với các chế phẩm 
trên, nhưng khăn lau bằng vải dệt và miếng cọ kim loại đã được thấm 
tẩm, tráng hoặc phủ tương tự bị loại trừ (Phần XI và XV tương ứng). 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Các loại bột mài, khi chưa pha trộn (thường thuộc Chương 25 hoặc 
(b)  Chất làm trắng cho giầy dép, dạng viên và thuốc nhuộm lỏng đã 
điều chế dùng cho giầy dép da thuộc loại mềm (nhóm 32.10). 
(c)  Chất nhờn và chất nhờn nhân tạo (nhóm 15.22); các loại dầu và mỡ 
khác dùng để thuộc da (Chương 15, nhóm 27.10, 34.03, 38.24, 
(d)  Nước giặt khô và chất tẩy vết bẩn, dùng để giặt quần áo, được phân 
loại theo thành phần của chúng (thường là xăng dầu, nhóm 27.10, 
hoặc các sản phẩm thuộc nhóm 38.14 hoặc 38.24). 
34.06- Nến, nến cây và các loại tương tự 
Nến, nến cây (kể cả nến tròn và nến cuộn), vv..., thường được làm từ mỡ 

động vật, stearin, sáp paraffin hoặc sáp khác. 
Nhóm này bao gồm những hàng hóa này đã hoặc chưa tạo mầu, tạo 
hương, trang trí, vv... 
Nhóm này cũng bao gồm nến dùng ban đêm có gắn phao. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Nến chống bệnh hen (nhóm 30.04). 
(b)  Diêm sáp hoặc vestas (nhóm 36.05). 
(c)  Băng, bấc và nến đã xử lý lưu huỳnh (nhóm 38.08). 
34.07- Bột nhão dùng để làm hình mẫu, kể cả đất nặn dùng cho trẻ 
em; các chế phẩm được coi như "sáp dùng trong nha khoa" 
hoặc như "các hợp chất tạo khuôn răng", đã đóng gói thành 
bộ để bán lẻ hoặc ở dạng phiến, dạng móng ngựa, dạng thanh 
hoặc các dạng tương tự; các chế phẩm khác dùng trong nha 
khoa, với thành phần cơ bản là thạch cao plaster (thạch cao 
nung hoặc canxi sulphat nung). 
(A) Bột nhão dùng làm khuôn mẫu. 
Đây là các chế phẩm plastic thường được các hoạ sĩ hoặc thợ kim 
hoàn dùng để làm mẫu và dùng cho mục đích giải trí của trẻ em. 
Loại phổ biến nhất là các chế phẩm này với thành phần cơ bản của 
kẽm oleate. Các chất này cũng chứa sáp, dầu trắng và cao lanh và là 
chất hơi trơn khi cầm. 
Các chất khác là hỗn hợp của bột giấy cellulo và cao lanh với chất dính. 
Những chất nhão này thường được pha màu và ở dạng khối hoặc 
bánh, thanh, tấm, vv...  
Những chất bột nhão dùng làm hình mẫu đủ loại, kể cả được đóng 
thành bộ dùng cho mục đích giải trí của trẻ em, cũng được phân loại 
vào nhóm này. 
(B) Các chế phẩm được biết như "sáp dùng trong nha khoa " hay 
"các chất làm khuôn răng". 
Đây là các chế phẩm có thành phần khác nhau được sử dụng trong 

nha khoa để làm khuôn răng. Các chất này thường bao gồm sáp, 
nhựa hoặc nhựa két, được trộn lẫn những chất như nhựa thông, nhựa 
cánh kiến và chất độn (ví dụ, mica nghiền thành bột) và thường 
được tạo màu. Các chất này có thể cứng hoặc hơi mềm. 
Các chế phẩm này được phân loại ở nhóm này chỉ khi chúng được 
đóng thành bộ, đóng gói để bán lẻ hoặc là ở dạng phiến, dạng móng 
ngựa (rắn hoặc được đục lỗ), dạng thanh hoặc các dạng tương tự. 
Mặt khác, khi chúng được đóng ở dạng khác (ví dụ, dạng khối) 
chúng được phân loại theo thành phần cấu tạo của chúng (các nhóm 
(C) Các chế phẩm khác dùng trong nha khoa, với thành phần cơ bản 
là thạch cao (thạch cao nung hoặc sunphat canxi). 
Nhóm này bao gồm những chế phẩm được dùng trong nha khoa có 
thành phần cơ bản là thạch cao, thường chứa hơn 2% chất phụ gia 
tính theo trọng lượng. Chất phụ gia có thể là dioxit titan, là thuốc 
màu trắng, tác nhân tạo màu, kieselguhr, dextrin và nhựa melamin. 
Chúng cũng chứa chất tăng tốc hoặc ức chế.   
Các sản phẩm như vậy dùng trong nha khoa thường chứa 25% trở 
lên tính theo trọng lượng α-canxi sulphat hemihydrat hoặc gần như 
toàn bộ α-canxi sulphat hemihydrat, là dạng không tồn tại trong tự 
nhiên và thu được từ sản xuất, ví dụ, bằng cách dehydrat hóa thạch 
cao trầm tích với hàm lượng cao dihydrat sulphat canxi. 
Các sản phẩm này được sử dụng làm khuôn răng, làm mẫu răng, làm 
khuôn hoặc dùng cho việc khác trong nha khoa và được phân loại 
trong nhóm này không tính đến dạng đã đưa ra. 
Cần lưu ý rằng không nhầm lẫn các chế phẩm này với thạch cao mà chỉ 
có chứa một lượng nhỏ chất tăng tốc hoặc chất ức chế (nhóm 25.20). 
Nhóm này không bao gồm xi măng hàn răng và các chất hàn răng 
khác (nhóm 30.06). 

Chương 35 
Các chất chứa albumin; các dạng tinh bột biến tính; keo hồ; enzym 
Chú giải. 
1.-  Chương này không bao gồm: 
(a) Men (nhóm 21.02); 
(b) Các phần phân đoạn của máu (trừ albumin máu chưa điều chế 
dùng cho phòng bệnh hoặc chữa bệnh), thuốc hoặc các sản phẩm 
khác thuộc Chương 30; 
(c) Các chế phẩm chứa enzym dùng trong quá trình tiền thuộc da 
(nhóm 32.02); 
(d) Các chế phẩm dùng để ngâm hoặc rửa có chứa enzym hoặc các 
sản phẩm khác thuộc Chương 34; 
(e) Các loại protein đã làm cứng (nhóm 39.13); hoặc 
(f) Các sản phẩm gelatin thuộc ngành công nghiệp in (Chương 49). 
2.-  Theo mục đích của nhóm 35.05, khái niệm "dextrin" chỉ các sản 
phẩm tinh bột đã phân giải với hàm lượng đường khử, tính theo hàm 
lượng chất khô dextroza, không quá 10%. 
    Các sản phẩm như vậy có hàm lượng đường khử trên 10% sẽ thuộc 
nhóm 17.02. 
35.01-  Casein, các muối của casein và các dẫn xuất casein khác; keo 
3501.90 - Loại khác 
(A)  Casein và các dẫn xuất casein. 
(1)  Casein là thành phần protein chính có trong sữa. Chất này lấy 
từ sữa gầy bằng sự kết tủa (đóng cục), thường cùng với axit 
hoặc men dịch vị (rennet). Nhóm này bao gồm nhiều loại casein 
khác nhau mà khác nhau theo phương pháp đóng cục, như axit 
casein, caseinogen và casein rennet (paracasein). 
Casein thường là bột thô màu trắng vàng nhạt, tan trong kiềm 

nhưng không tan trong nước. Chất này thường được dùng chủ 
yếu trong việc chế biến keo hồ, sơn hoặc màu keo, dùng để tráng 
giấy, và trong việc sản xuất plastic casein (casein được làm 
cứng), sợi nhân tạo, các sản phẩm dược phẩm hoặc ăn kiêng. 
(2)  Caseinate (muối của casein) bao gồm natri và muối amoni 
được coi như "casein hoà tan"; các loại muối này thường được 
sử dụng để tạo ra các sản phẩm thực phẩm cô đặc và dược 
phẩm. Canxi caseinateđược dùng trong việc chế biến thực phẩm 
hoặc như là chất keo hồ, theo như đặc tính của nó 
(3)  Các dẫn xuất khác của casein bao gồm, đặc biệt là casein 
được clo hóa, casein đã được brôm hoá, casein được iôt hoá và 
casein tannate. Chúng được dùng trong ngành dược. 
(B) Keo hồ casein. 
Những loại keo này bao gồm calcium caseinate (xem Chú giải về 
caseinate ở trên), hoặc bao gồm hỗn hợp casein và đá phấn thêm 
vào, ví dụ, một lượng nhỏ borac hoặc amoni clorua. Các chất này 
thường ở dạng bột. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Muối casein của kim loại quý (nhóm 28.43) hoặc muối casein của 
các nhóm 28.44 đến 28.46 và 28.52. 
(b)  Các chất mô tả không chính xác như "casein thực vật" (nhóm 
(c)  Keo hồ casein đóng gói để bán lẻ, có trọng lượng tịnh không quá 1 
kg (nhóm 35.06). 
(d)  Casein đã làm cứng (nhóm 39.13). 
35.02-  Albumin (kể cả các chất cô đặc của hai hoặc nhiều whey 
protein, chứa trên 80% whey protein tính theo trọng lượng 
khô), các muối của albumin và các dẫn xuất albumin khác. 
- Albumin trứng: 
3502.11 - - Đã làm khô  

3502.19 - - Loại khác 
3502.20 - Albumin sữa, kể cả các chất cô đặc của hai hoặc nhiều 
3502.90 - Loại khác 
(1) Albumin là protein động vật hoặc thực vật. Protein động vật thì quan 
trọng hơn và bao gồm lòng trắng trứng (ovalbumin), albumin máu 
(albumin huyết thanh), albumin sữa (lactalbumin) và albumin cá. Không 
giống như casein, chúng có thể tan trong nước cũng như tantrong kiềm 
và các dung dịch này đông lại dưới sự tác động của nhiệt độ. 
Nhóm này cũng bao gồm whey protein cô đặc có chứa hai hay 
nhiều whey protein và có thành phần whey protein trên 80% 
tínhtheo trọng lượng ở thể khô. Thành phần whey protein được tính 
bằng cách nhân hàm lượng nitơ với hệ số chuyển đổi 6,38. Những 
whey protein cô đặc chứa whey protein từ 80% trở xuống tính theo 
trọng lượng ở thể khô, được phân loại vào nhóm 04.04. 
Albumin thường ở dạng dung dịch sánh, vảy màu vàng trong suốt 
hoặc bột vô định hình màu trắng, hơi đỏ hoặc hơi vàng. 
Chúng thường được dùng để làm các sản phẩm keo hồ, thực phẩm, 
dược phẩm, để hoàn thiện da thuộc, để xử lý vải dệt hoặc giấy (đặc 
biệt là giấy ảnh), để lọc trong rượu hoặc các đồ uống khác, vv... 
(2)  Albuminate (muối của albumin) và các dẫn xuất albumin khác, 
đặc biệt albuminat sắt, albumin đã brôm hoá, albumin đã iốt hoá và 
Nhóm này cũng loại trừ: 
(a)  Máu khô, đôi khi mô tả không chính xác như "albumin máu" (nhóm 
(b)  Các muối albumin kim loại quý (nhóm 28.43) hoặc các muối 
albumin của các nhóm từ 28.44 đến 28.46 và 28.52. 
(c)  Albumin máu đã điều chế dùng cho việc phòng bệnh và chữa bệnh 
và huyết thanh cho người (Chương 30). 

35.03-  Gelatin (kể cả gelatin ở dạng tấm hình chữ nhật (kể cả hình 
vuông), đã hoặc chưa gia công bề mặt hoặc tạo màu) và các dẫn 
xuất gelatin; keo điều chế từ bong bóng cá; các loại keo khác có 
nguồn gốc động vật, trừ keo casein thuộc nhóm 35.01. 
Gelatin và các keo của nhóm này là các chất protein hòa tan trong nước 
thu được từ quá trình xử lý da sống, xương sụn, xương, gân hoặc các 
nguyên liệu tương tự từ động vật, thường với nước ấm có hoặc không có 
thêm a xít. 
(A)  Gelatin kém dính hơn và được lọc kỹ hơn keo, tạo ra một nước 
thạch trong với nước. Chất này được dùng để chế biến các sản phẩm 
thực phẩm, dược phẩm và chất bắt sáng trên giấy ảnh, dùng để nuôi 
vi khuẩn và để lọc bia hoặc rượu. Chất này cũng được dùnghồ giấy 
hoặc vải dệt, dùng trong công nghiệp in, dùng để chế tạo plastic 
(gelatin được làm cứng) và dùng để sản xuất ra hàng hóa. 
Gelatin thường ở dạng tấm mỏng, trong suốt, hầu như không màu và 
không mùi, nhìn có cảm giác có dạng của lưới đã được làm khô, 
nhưng trong thương mại nó cũng ở dạng tấm, phiến, màng, mảnh, 
bột, vv... 
Tấm gelatin được phân vào nhóm này với điều kiện chúng ở dạng 
hình chữ nhật (kể cả hình vuông), và đã hoặc chưa gia công bề mặt 
hoặc nhuộm màu (ví dụ, được rập nổi, tráng kim loại, được in - loại 
trừ bưu thiếp có gelatin và các sản phẩm được in khác được mô tả 
trong Chương 49). Nếu được cắt ngoài hình chữ nhật hoặc hình 
vuông (ví dụ, hình tròn đĩa) chúng được phân loại vào nhóm 96.02. 
Gelatin không được làm cứng, đã được tạc hoặc đúc khuôn cũng 
được phân loại vào nhóm 96.02. 
(B) Các dẫn xuất gelatin bao gồm tannat gelatin và bromotannat 
(C) Keo bong bóng cá thu được từ quá trình xử lý cơ học của bong bóng 
của một số loại cá, đặc biệt là cá tầm. Loại này tồn tại ở thể rắn, 
thường ở dạng màng mỏng nửa trong suốt. Phần lớn chất này được 

dùng như chất lọc bia, rượu hoặc đồ uống có cồn khác, và dùng 
trong ngành dược. 
(D) Các keo khác có nguồn gốc từ động vật bao gồm trong nhóm này 
là các dạng gelatin không tinh khiết được dùng như keo. Chúng có 
thể chứa những chất phụ gia như chất bảo quản, thuốc mầu hoặc 
chất điều chỉnh độ nhớt. 
Các loại keo chủ yếu là: 
(1)  Keo xương, keo da sống, keo dây thần kinh, keo gân. Những 
loại keo này có màu từ vàng tới nâu nặng mùi và thường là các 
tấm dầy hơn, cứng hơn, giòn hơn gelatin thô. Chúng cũng có ở 
dạng chuỗi hạt, mảnh, vv.... 
(2) Các loại keo cá (trừ keo bong bóng cá). Các loại keo này thu 
được từ tác độngcủa nước nóng lên phế liệu của cá (da, xương 
sụn, xương, vây cá, vv...), và thường ở thể lỏng của gelatin. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Keo casein (nhóm 35.01). 
(b)  Keo đóng gói để bán lẻ, với trọng lượng tịnh không quá 1 kg
(nhóm 35.06). 
(c)  Bột nhão để sao in (thạch sao in) với thành phần cơ bản là gelatin 
(nhóm 38.24). 
(d)  Gelatin đã làm cứng (nhóm 39.13). 
35.04- Pepton và các dẫn xuất của chúng; protein khác và các dẫn 
xuất của chúng, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác; bột da 
sống, đã hoặc chưa crom hóa. 
Nhóm này bao gồm: 
(A)  Peptones và các dẫn xuất của chúng. 
(1)  Peptones là các chất hoà tan thu được khi các protein được 
hyđro hoá hoặc chịu phản ứng của một số loại enzyme nhất 
định (pepsin, papain, pancreatin, vv...). Chúng thường ở dạng 
bột trắng hoặc vàng nhạt và, hút ẩm tốt, chúng thường được 

đóng trong bao bì kín khí. Các Peptone cũng có thể ở dạng hòa 
tan. Những loại chính là peptones thịt, peptones men, peptones 
máu và peptones casein. 
Chúng được sử dụng trong dược phẩm, trong chế phẩm thực 
phẩm, dùng để nuôi cấy vi khuẩn, vv... 
(2)  Peptonate là các dẫn xuất của peptones. Chúng được sử dụng 
chủ yếu trong dược phẩm; quan trọng nhất là peptonate sắt và 
peptonate măng gan. 
(B)  Các chất protein khác và các dẫn xuất của chúng, không được 
chi tiết ở nhóm cụ thể hơn trong Danh mục hàng hoá, bao gồm đặc 
biệt là: 
(1)  Glutelin và prolamin (ví dụ, gliadin được chiết xuất từ lúa mỳ 
hoặc lúa mạch đen, và zein chiết xuất từ ngô), bản chất là 
protein ngũ cốc. 
(2)  Globulin, ví dụ như lactoglobulin và ovoglobulin (nhưng phải 
xem lại phần loại trừ (d) ở phần cuối của Chú giải Chi tiết). 
(3)  Glycinin, protein từ đậu tương. 
(4)  Keratin thu được từ tóc, móng, sừng, móng guốc, lông vũ, vv.... 
(5) Nucleoproteid, bản chất là protein kết hợp với axit nucleic, và 
các chất dẫn xuất của chúng. Các nucleoproteid được tách ra, ví 
dụ, từ men ủ rượu, bia, và các muối của chúng (của sắt, đồng, 
vv...) được dùng chủ yếu trong ngành dược. 
Tuy nhiên, các nucleoproteid của thủy ngân đúng như mô tả 
trong nhóm 28.52 thì bị loại trừ. 
(6)  Protein tách biệt thu được từ quá trình chiết xuất các chất thực 
vật (ví dụ, bột đậu nành đã rút chất béo) và bao gồm hỗn hợp 
protein chứa trong đó. Hàm lượng protein của những chất tách 
biệt này thường từ 90% trở lên. 
(C)  Bột da sống, đã hoặc chưa crôm hoá. Bột da sống được sử dụng 
để xác định tanin trong nguyên liệu tanin tự nhiên và trong chiết 
xuất tanin thực vật. Nó gần như là collagen nguyên chất và thu được 
từ quá trình chế biến cẩn thận từ da sống. Chất bột có thể chứa một 
lượng nhỏ thêm vào là phèn crôm (bột da sống được crôm hoá), 

hoặc nó có thể được thể hiện dưới dạng chưa được chrom hoácần bổ 
sung phèn crôm ngay trước khi sử dụng. Bột da sống đã được xử lý 
không được nhầm lẫn với bụi, bột da thuộc crôm thuộc nhóm 41.15 
không thích hợp để xác định tanin và ít giá trị hơn. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Protein hydrolysate chủ yếu bao gồm hỗn hợp của axit amino và 
natri clorua, và chất cô đặc thu được từ quá trình loại bỏ một số 
thành phần nào đó của bột đậu nành đã rút chất béo, được dùng như 
các phụ gia trong chế biến thực phẩm (nhóm 21.06). 
(b)  Các muối protein của kim loại quý (nhóm 28.43) hoặc các muối 
protein của các nhóm từ 28.44 đến 28.46 và 28.52. 
(c)  Axit nucleic và các muối của nó (muối nucleate) (nhóm 29.34). 
(d)  Fibrinogen, fibrin, globulin máu và globulin huyết thanh, 
immunoglobulin và antisera thường của người (immunoglobulin đặc 
trưng) và các phân đoạnkhác của máu (nhóm 30.02). 
(e)  Các sản phẩm được mô tả trong nhóm này khi đóng gói như thuốc 
(nhóm 30.03 hoặc 30.04). 
(f)  Enzyme (nhóm 35.07). 
(g)  Protein đã được làm cứng (nhóm 39.13). 
35.05-  Dextrin và các dạng tinh bột biến tính khác (ví dụ, tinh bột 
đã tiền gelatin hóa hoặc este hóa); các loại keo dựa trên tinh 
bột, hoặc dextrin hoặc các dạng tinh bột biến tính khác. 
3505.10 - Dextrin và các dạng tinh bột biến tính khác 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Dextrin và các dạng tinh bột biến tính khác, như các sản phẩm 
thu được từ quá trình chuyển đổi của tinh bột qua phản ứng nhiệt, 
hoá học (ví dụ, axit, kiềm) hoặc diastasa, và tinh bột đã được biến 
tính, ví dụ, bằng quá trình oxy hoá, este hoá hoặc ete hoá. Tinh bột 
có liên kết ngang (ví dụ, distarch photphat) là một nhóm quan 

trọng của tinh bột biến tính. 
Dextrin, thu được: 
hoặc từ quá trình làm thoái hoá tinh bột bằng cách thuỷ 
phân với axit hoặc enzyme, sản phẩm thu được thực chất là 
maltodextrin. Tuy nhiên các sản phẩm thuộc loại này được 
phân loại vào đây như dextrin chỉ khi hàm lượng đường 
khử của chúng, thể hiện ở dextrose ở dạng chất khô, không 
quá 10%; 
hoặc từ quá trình rang tinh bột, có hoặc không có một 
lượng nhỏ thuốc thử hoá học. Nếu không sử dụng thuốc thử 
hoá học thì sản phẩm thu được được coi là tinh bột đã rang.  
Dextrin là loại bột trắng, hơi vàng hoặc mầu nâu, phụ thuộc vào 
quá trình sản xuất và loại tinh bột được sử dụng. Chúng tan 
trong nước (được làm nóng một cách thích hợp, nếu cần thiết) 
nhưng không tan trong cồn. 
(2)  Tinh bột tan (amylogen): là một sản phẩm trung gian thu được 
trong quá trình chuyển hóa của tinh bột thành dextrin, được chế 
biến bằng cách đun sôi tinh bột trong nước, hoặc giữ tinh bột 
lâu trong khi kết hợp với axit loãng lạnh. Nhóm này cũng bao 
gồm tinh bột hoà tan có chứa một lượng rất nhỏ cao lanh, dùng 
chủ yếu thêm vào bột giấy xenlulô trong quá trình sản xuất 
giấy. 
(3) Tinh bột đã được tiền gelatin hoá hoặc "nở ra", thu được 
bằng cách nhào tinh bột với nước và xử lý nhiệt để thu được 
một khối giống như gelatin, sau đó chúng được làm khô và 
được nghiền thành bột. Sản phẩm này cũng có thể thu được 
bằng cách ép, sau đó nghiền thành bột. Nó được sử dụng trong 
việc sản xuất giấy, trong công nghiệp dệt, trong luyện kim 
(dùng để sản xuất khuôn đúc lõi cáp điện), trong công nghiệp 
thực phẩm và thức ăn gia súc, vv... 
(4)  Tinh bột đã được ete hoá hoặc este hoá (tinh bột đã biến tính 
bằng quá trình ete hoá hoặc este hoá). Tinh bột đã được ete hoá 
bao gồm tinh bột có chứa các nhóm hydroxyethyl, 

hydroxypropyl hoặc carboxymethyl. Tinh bột đã được este hoá 
bao gồm tinh bột axetat được sử dụng chủ yếu trong công 
nghiệp giấy hoặc công nghiệp dệt, và tinh bột nitrat 
(nitrostarch) được sử dụng trong việc sản xuất chất nổ. 
(5)  Các tinh bột biến tính khác, ví dụ: 
(i)  Tinh bột dialdehyde, và 
(ii)  Tinh bột được xử lý bằng formaldehyde hoặc 
epichlorohydrin, ví dụ, được dùng làm bột bao tay phẫu 
thuật. 
Nói chung, tinh bột biến tính của nhóm này có thể được phân biệt với 
tinh bột chưa biến tính thuộc Chương 11 trên cơ sở những thay đổi đặc 
tính của chúng, ví dụ, độ trong của dung dịch và gel, xu hướng thành gel 
hoặc tinh thể, khả năng kết hợp với nước, sự ổn định kết đông-xả đông, 
nhiệt độ gelatin hóa hoặc độ nhớt tối đa. 
(B)  Các loại keo với thành phần chính là tinh bột, hoặc dextrin hoặc 
các tinh bột biến tính khác. 
(1)  Keo dextrin bao gồm dextrin trong dung dịch có chứa nước 
hoặc trộn với các chất khác (ví dụ, magiê clorua). 
(2)  Keo tinh bột, thu được bằng việc xử lý tinh bột với kiềm (ví 
dụ, natri hydroxit). 
(3)  Keo bao gồm tinh bột chưa xử lý, borax và các dẫn xuất xellulô 
tan trong nước hoặc bao gồm tinh bột chưa xử lý, borax và ete 
tinh bột. 
Các sản phẩm đề cập ở trên thường ở dạng bột vô định hình màu trắng, 
vàng hoặc hơi nâu hoặc dạng khối như gôm, vì thế gọi tên các sản phẩm 
đó là "gôm British" và "gôm tinh bột". Chúng được sử dụng chủ yếu như 
keo, trong công nghiệp màu, trong công nghiệp giấy hoặc dệt, và trong 
luyện kim. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Tinh bột, chưa chế biến (nhóm 11.08). 
(b)  Sản phẩm tinh bột biến chất với hàm lượng đường khử, thể hiện như 
dextrose ở dạng chất khô, trên 10% (nhóm 17.02). 

(c) Keo đóng gói để bán lẻ, với trọng lượng tịnh không quá 1kg (nhóm 
(d)  Chất làm bóng và chất hoàn tất vải đã điều chế (thành phần cơ bản 
là tinh bột hoặc dextrin) loại dùng cho giấy, dệt, da thuộc hoặc các 
ngành công nghiệp tương tự (nhóm 38.09). 
35.06- Keo đã điều chế và các chất kết dính đã điều chế khác, chưa 
được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác; các sản phẩm phù hợp 
dùng như keo hoặc các chất kết dính, đã đóng gói để bán lẻ 
như keo hoặc như các chất kết dính, khối lượng tịnh không 
quá 1 kg. 
3506.10 - Các sản phẩm phù hợp dùng như keo hoặc như các 
chất kết dính, đã đóng gói để bán lẻ như keo hoặc như 
các chất kết dính, khối lượng tịnh không quá 1kg 
 - Loại khác: 
3506.91 - - Chất kết dính làm từ các polyme thuộc các nhóm từ 
39.01 đến 39.13 hoặc từ cao su 
3506.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(A)  Các sản phẩm phù hợp dùng như keo hoặc chất kết dính và đã 
đóng gói để bán lẻ như keo hoặc chất kết dính, trọng lượng tịnh 
không quá 1kg. 
Nhóm này bao gồm keo và chất kết dính đã điều chế của phần (B) 
dưới đây và các sản phẩm khác thích hợp dùng như keo hoặc chất 
kết dính, với điều kiện các sản phẩm này đã được đóng gói để bán 
lẻ như keo hoặc chất kết dính, với trọng lượng không quá 1 kg. 
Những bao bì để đóng gói để bán lẻ keo hoặc chất kết dính gồm chai 
hoặc lọ thuỷ tinh, hộp kim loại, ống kim loại gấp gọn, carton, túi 
giấy, ...; Đôi khi “việc đóng gói” chỉ đơn thuần là bọc giấy gói xung 
quanh, ví dụ, một thanh keo xương. Đôi khi một bàn chải nhỏ loại 
thích hợp được đóng gói với keo hoặc chất kết dính (ví dụ, những 
loại được đóng trong lọ hoặc hộp để dùng trực tiếp). Những bàn 

chải này được phân loại cùng với keo hoặc chất kết dính nếu được 
đóng gói cùng. 
Các sản phẩm có các công dụng khác ngoài công dụng là keo hoặc 
chất kết dính (ví dụ, dextrin, methyl cellulose ở dạng hạt nhỏ) được 
phân loại vào nhóm này chỉ khi có một vài chỉ dẫn trên bao bì là 
chúng được dùng để bán như keo hoặc chất kết dính. 
(B) Keo thành phẩm và chất kết dính thành phẩm khác, không nằm 
trong một nhóm cụ thể hơn trong Danh mục hàng hoá, ví dụ: 
(1)  Keo gluten ("keo Vienna") thường thu được từ gluten hoà tan 
bằng quá trình lên men từng phần. Những loại keo này thường ở 
dạng mảnh hoặc bột và đa dạng màu từ màu hơi vàng đến màu 
nâu. 
(2)  Keo hoặc chất kết dính khác thu được từ quá trình xử lý 
hoá học gôm tự nhiên. 
(3)  Chất kết dính có thành phần cơ bản là silicat, vv... 
(4)  Các chế phẩm được pha chế đặc biệt dùng như chất dính, 
bao gồm các polyme hoặc các hỗn hợp của chúng thuộc các 
nhóm từ 39.01 đến 39.13, ngoài các chất được cho phép thêm 
vào các sản phẩm thuộc Chương 39 (chất độn, chất hóa dẻo 
plastic, dung môi, thuốc mầu, vv...), có chứa chất phụ gia được 
thêm vào khác thì không thuộc Chương đó (ví dụ, các loại sáp, 
este nhựa thông, sơn cánh kiến (shellac) tự nhiên chưa biến 
tính). 
(5)  Chất kết dính bao gồm hỗn hợp của cao su, dung môi hữu cơ, 
chất độn, các chất lưu hoá và nhựa. 
Trừ khi chúng phù hợp với điều khoản của phần (A) ở trên, nhóm này 
loại trừ các sản phẩm thuộc một nhóm cụ thể hơn trong Danh mục hàng 
hoá, ví dụ: 
(a)  Keo casein (nhóm 35.01), keo có nguồn gốc động vật (nhóm 35.03) 
và các keo có thành phần cơ bản là tinh bột, hoặc dextrin hoặc các 
tinh bột biến tính khác (nhóm 35.05). 

(b)  Các sản phẩm khác, có thể được dùng như keo hoặc các chất kết 
dính khác hoặc trực tiếp hoặc sau khi xử lý, ví dụ, nhựa bẫy chim 
(nhóm 13.02), silicate, không trộn (nhóm 28.39), caseinat canxi 
(nhóm 35.01), dextrin (nhóm 35.05), chất phân tán hay hòa tan của 
polyme thuộc các nhóm từ 39.01 đến 39.13 (Chương 39 hoặc nhóm 
32.08) và chất phân tán hay hòa tan của cao su (Chương 40). 
Lưu ý rằng một số các sản phẩm thuộc nhóm này có thể được dùng như 
keo hoặc các chất kết dính ở dạng đem bán, trong khi các chất khác phải 
được hoà tan hoặc phân tán trong nước trước khi dùng. 
Nhóm này không bao gồm chất làm bóng và chất xử lý hoàn tất vải đã 
được điều chế dùng cho ngành dệt, vv...(nhóm 38.09) hoặc chất đúc lõi 
cáp điện (nhóm 38.24); ở một số nước, những chất này đôi lúc được gọi 
là "keo", nhưng chúng không được dùng để kết dính. 
Nhóm này cũng không bao gồm các sản phẩm có đặc tính của ma tít, 
chất bồi, vv... thuộc nhóm 32.14. 
35.07- Enzym; enzym đã chế biến chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi 
khác. 
3507.10 - Rennet và dạng cô đặc của nó 
3507.90 - Loại khác  
Enzyme là các chất hữu cơ được tạo ra bởi các tế bào sống; chúng có đặc 
tính gây ra và điều chỉnh các phản ứng hoá học cụ thể bên trong hoặc 
bên ngoài tế bào sống, mà không có bất cứ thay đổi nào trong cấu trúc 
hoá học của chúng. 
Enzyme có thể được coi như những chất sau đây: 
(I)  Theo thành phần hoá học của chúng, ví dụ: 
(a)  Enzyme trong đó phân tử chứa duy nhất một loại protein (ví dụ, 
(b)  Enzyme trong đó phân tử chứa một loại protein kết hợp với một hợp 
chất không phải protein có trọng lượng phân tử thấp, đóng vai trò 
như một nhân tố kết hợp. Nhân tố kết hợp này có thể hoặc là ion 
kim loại (ví dụ, đồng trong ascorbate oxidase, kẽm trong 

phosphatase kiềm ở nhau người) hoặc một phân tử hữu cơ phức hợp 
được gọi là coenzyme (ví dụ, diphosphate thiamine trong 
axit oxo-glutamine). Đôi khi yêu cầu cả hai loại này. 
(a) hoạt động hoá học của chúng như oxidoreductases (chất oxi 
hoá khử), transferases (chất chuyển hoá), hydrolases (chất thuỷ 
phân), lyases, isomerases, ligases; hoặc 
(b)  hoạt động sinh học của chúng như amylases, lipases, 
Nhóm này bao gồm: 
(A)  Các enzyme "tinh khiết" (biệt lập). 
Những chất này thường ở dạng kết tinh, và chủ yếu dùng trong y tế 
hoặc nghiên cứu khoa học. Chúng không quan trọng trong thương 
mại quốc tế như chất enzyme cô đặc và enzyme đã điều chế. 
(B)  Enzyme cô đặc. 
Các chất cô đặc này thường thu được hoặc từ nước hoặc chiết xuất 
dung môi của các bộ phận của động vật, của thực vật, của vi sinh vật 
hoặc của nước cấy (culture – broth)(nước cấy này thu được từ vi 
khuẩn, nấm mốc, vv..). Những sản phẩm này, có thể chứa một số 
enzyme với tỷ lệ khác nhau, có thể được chuẩn hoá hoặc ổn định. 
Lưu ý rằng các chất tiêu chuẩn hoặc ổn định có thể tồn tại ở dạng cô 
đặc với một lượng thay đổi, thu được hoặc từ quá trình lên men rượu 
hoặc từ quá trình gạn lọc hoặc kết tủa. 
Chất cô đặc có thể thu được, ví dụ ở dạng bột bằng sự kết tủa hoặc 
bằng quá trình đông lạnh sau đó sấy khô hoặc ở dạng hạt bằng việc 
dùng chất làm nổi hạt hoặc chất trợ trơ hoặc chất mang. 
(C) Enzyme đã điều chế chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác. 
Enzyme đã điều chế thu được bằng việc pha loãng các chất cô đặc 

đề cập ở Phần (B) ở trên hoặc bằng việc trộn lẫn các enzyme tách 
biệt hoặc enzyme cô đặc. Các chế phẩm được thêm vào các chất, 
nhằm làm cho chúng thích hợp với các mục đích cụ thể, cũng bao 
gồm trong nhóm này, với điều kiện là chúng chưa được chi tiết ở 
một nhóm cụ thể hơn trong Danh mục hàng hoá. 
Ngoài những đề cập khác, nhóm này bao gồm: 
(i)  Các chế phẩm enzyme dùng để làm mềm thịt, như các chất 
chứa enzyme proteolytic (ví dụ, papain) với dextrose hoặc các 
thực phẩm khác được thêm vào. 
(ii)  Các chế phẩm enzyme dùng để lọc bia, rượu hoặc nước hoa quả 
(ví dụ, enzyme pectic có chứa gelatin, bentonite, vv..). 
(iii)  Các chế phẩm enzyme dùng để tẩy lớp hồ vải như những chế 
phẩm enzyme với thành phần cơ bản là vi khuẩnα-amylases 
hoặc proteases. 
Nhóm này không bao gồm, ngoài các trường hợp khác, những chế 
phẩm sau: 
(a)  Dược phẩm (nhóm 30.03 hoặc 30.04). 
(b)  Các chế phẩm enzyme dùng quá trình tiền thuộc da (nhóm 32.02). 
(c)  Các chế phẩm enzyme dùng để ngâm hoặc giặt và các sản phẩm 
khác thuộc Chương 34. 
Các chất sau đây là quan trọng nhất trong số các loại enzyme xuất hiện 
trong thương mại: 
(1)  Rennet (chất lên men trong phòng thí nghiệm, chymosin, 
enzyme đông sữa - rennin). 
Rennet thu được hoặc từ dạ dày tươi hoặc khô của bê con hoặc bằng 
cách nuôi cấy vi sinh vật nào đó. Đó là enzyme proteolytic làm đóng 
cục sữa bằng cách làm đông casein của nó. Nó thường ở dạng lỏng, 
bột hoặc viên. Nó có thể chứa muối (ví dụ, clorua natri, clorua 
canxi, sulphate natri), các chất còn lại từ quá trình sản xuất hoặc 

chất được thêm vào cho chuẩn hoá, và chất bảo quản (ví dụ, 
Rennet dùng chủ yếu cho công nghiệp làm pho mát. 
(2)  Enzyme tuỵ (enzyme pancreatic). 
Các enzyme quan trọng nhất được tạo ra từ tuyến tuỵ là trypsin và 
chymotrypsin (chất phân tách protein), α-amylase(chất phân tách 
tinh bột) và lipase (chất phân tách chất béo). Các chất này được 
dùng chủ yếu trong y tế và ngành dược để chữa rối loạn tiêu hoá. 
Enzyme cô đặc của tuyến tuỵ thường thu được từ tuyến tụy tươi 
hoặc khô. Những chất này có thể chứa muối có độ hút nước cao 
(được bổ sung để hút một phần nước của quá trình kết tinh) và một 
ít các chất keo bảo quản (để làm dễ dàng việc bảo quản hoặc vận 
chuyển). Các chất này được sử dụng trong quá trình sản xuất các 
chế phẩm để tẩy lớp hồ vải, giặt, loại bỏ lông hoặc thuộc da. 
Các chế phẩm enzymecủa tuyến tuỵ được phân loại vào nhóm này 
kể cả các chất đóđược dùng để tẩy lớp hồ vải. 
Pepsin thu được từ niêm mạc dạ dầy của lợn thịt và gia cầm. Để 
nhằm mục đích ổn định, đôi khi nó được bảo quản trong dung dịch 
sulphate magiê bão hoà hoặc được trộn với sucrose hoặc lactose 
(pepsin được nghiền thành bột). 
Pepsin được dùng chủ yếu cho mục đích y tế, kết hợp với axit 
hydrocloric hoặc betain hydrocloride, hoặc như rượu pepsin. 
(4)  Enzyme mạch nha.  
Nhóm này chỉ bao gồm các amilaza mạch nha. 
Chiết xuất từ malt được phân loại vào nhóm 19.01. 
Thuật ngữ papain được dùng để miêu tả cả nhựa đã được làm khô 
của cây đu đủ (Carica papaya) và 2 loại phân đoạn thu được từ sản 
phẩm này, đó là papain (trong ngữ cảnh hạn chế của thuật ngữ này) 

và chymopapain. 
Ví dụ, papain được dùng để sản xuất bia lạnh (chillproof beer), 
trong chế biến chế phẩm làm mềm thịt (xem phần (C) (i) ở trên) và 
trong y tế. 
Papain là nhựa đã được làm khô chỉ hoà tan một phần trong nước, 
được xếpvào nhóm 13.02. 
Bromelains thu được từ cây dứa  
Ficin thu được từ nhựa của một số loại cây vả. 
(6)  Amylases và proteases thu được từ vi sinh vật. 
Một vài vi sinh vật, khi lớn lên trong môi trường nuôi cấy thích hợp, 
tiết ra một lượng amylases và proteases đáng kể. 
Sau khi loại bỏ các tế bàovà các tạp chất khác, các dung dịch này 
hoặc là được cô đặc bằng quá trình bốc hơi chân không ở nhiệt độ 
thấp hoặc các enzyme được kết tủa bằng việc thêm muối vô cơ (ví 
dụ, sulphate natri) hoặc các dung môi hữu cơ, có thể trộn lẫn với 
nước (ví dụ, aceton). 
Một số ví dụ về amylases và proteases vi khuẩn là: 
(a)  Vi khuẩn α-amylases. 
Vi khuẩn α-amylases (ví dụ, thu được bằng việc dùng Bacillus 
subtilis) là enzyme tinh bột hoá lỏng, dùng để sản xuất chất kết dính 
và lớp phủ giấy có thành phần cơ bản là tinh bột, trong lò bánh mỳ 
và công nghiệp thực phẩm khác và dùng để khử hồ vải dệt. 
(b)  Nấm amylases. 
Nấm amylaseslà α-amylases thu được chủ yếu từ việc nuôi cấy 
mốc, phần lớn thuộc giống Rhizopus hoặc giống Aspergillus. 
Mặc dù khả năng hoá lỏng của chúng rất rõ ràng, nó nhỏ hơn 
nhiều so với khả năng hóa lỏng của vi khuẩn amylases. 
Nấm amylases có nhiều công dụng trong công nghiệp thực 
phẩm. 
Lưu ý rằng nấm amylases đôi khi có chứa proteases, glucose 

oxidase và invertase. 
Những loại enzyme này thu được, ví dụ, từ mốc (moulds) thuộc 
giống Rhizopus hoặc giống Aspergillus là những chất đường 
hóa mạnh nhưng không có đặc tính hoá lỏng. Chúng được dùng 
để lấy được một lượng lớn dextrose từ nguyên liệu có chứa tinh 
bột. 
Những ứng dụngchính của chúng làsản xuấtxi-rôglucose 
vàdextrose,vànhưcác tác nhân đường hóa choquá trình lên men 
hạt ngũ cốc. 
Proteases vi khuẩn (thu được từ việc dùng, ví dụ, Bacillus 
subtilis) là enzyme proteolytic dùng để chế biến chất khử hồ vải 
dệt, như những thành phần trong một số chế phẩm giặt rửa và 
trong làm bia. Proteases, sản xuất từ nấm mốc được dùng cho 
mục đích y tế và dược phẩm. 
Những loại enzyme này lấy từ các nguyên liệu thực vật, như lúa 
mạch đã malt hóa, lúa mỳ và đậu tương. Chúng tạo ra maltose từ 
tinh bột và các dextrin. 
Những loại enzyme này được sản xuất bằng cách nuôi cấy nhiều 
loại mốc khác nhau, chủ yếu là giống Rhizopus hoặc giống 
Aspergillus. Chúng được dùng trong việc sản xuất (để tăng cường 
quá trình ép và tăng lượng nước quả) và chế biến nước ép quả và 
nước thực vật. 
Invertase thường có nguồn gốc từ quá trình lên men chậm của  
Enzyme này tách sucrose thành glucose và fructose. Loại này được 
dùng trong sản xuất siro golden, sôcôla và bột hạnh nhân. 

Loại enzyme này được sản xuất bằng việc nuôi cấy một vài vi sinh 
vật, chủ yếu là giống Streptomyces hoặc giống Bacillus. Chúng 
được dùng để chuyển đổi một phần glucose thành fructose trong 
việc tạo ra siro với độ ngọt cao. 
Ngoài các loại trừ khác được đề cập ở trên, nhóm này không bao gồm: 
(a)  Men (nhóm 21.02). 
(b)  Coenzymes như cocarboxylase (aneurine pyrophosphate) và 
cozymase (nicotinamide - adenine dinucleotide) (Chương 29). 
(c) Các tuyến ở dạng khô và các sản phẩm khác thuộc nhóm 30.01. 
(d)  Các chất nuôi cấy vi sinh vật, enzyme máu (ví dụ, thrombin), các 
phân đoạn của máu và các biến thể bị cắt ngắn (các bộ phận) của 
chúng với thuộc tính/hoạt động enzyme và các sản phẩm khác thuộc 
nhóm 30.02. 

Chương 36 
Chất nổ; các sản phẩm pháo; diêm; các hợp kim tự cháy; các chế 
phẩm dễ cháy khác 
Chú giải. 
1. Chương này không bao gồm các hợp chất đã được xác định về mặt 
hoá học riêng biệt trừ những loại được mô tả ở Chú giải 2(a) hoặc 
2(b) dưới đây. 
2. Khái niệm “các sản phẩm làm từ vật liệu dễ cháy” thuộc nhóm 36.06 
chỉ áp dụng cho: 
(a) Metaldehyt, hexamethylenetetramine và các chất tương tự, đã làm 
thành dạng nhất định (ví dụ, viên, que hoặc các dạng tương tự) 
dùng làm nhiên liệu; nhiên liệu có thành phần chủ yếu là cồn, và 
nhiên liệu đã điều chế tương tự, ở dạng rắn hoặc bán rắn; 
(b) Nhiên liệu lỏng hoặc nhiên liệu khí hoá lỏng đựng trong các vật 
chứa loại sử dụng để nạp hoặc nạp lại ga bật lửa châm thuốc 
hoặc các bật lửa tương tự và có dung tích không quá 300 cm3; và 
(c) Đuốc nhựa cây, các vật tạo sáng bằng lửa và loại tương tự.  
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm bột nổ đẩy và các chất nổ đã điều chế, như hỗn 
hợp được đặc trưng bởi việc chúng chứa lượng oxy cần thiết để tạo ra sự 
cháy và trong quá trình cháy các hỗn hợp này tạo ra một lượng lớn khí ở 
nhiệt độ cao. 
Chương này cũng bao gồm các chất phụ trợ cần thiết cho sự bắt cháy của 
chúng (nụ xòe hoặc mồi nổ, kíp nổ...). 
Các vật phẩm được điều chế từ các chất nổ, chất dẫn lửa, chất dễ cháy 
hoặc chất dễ bắt lửa để tạo ra ánh sáng, âm thanh, khói, lửa hoặc tia lửa 
(ví dụ, sản phẩm pháo, diêm, xeri sắt và một vài chế phẩm dễ cháy) cũng 
được phân loại ở Chương này. 
Chương này không bao gồm các hợp chất đã được xác định riêng về 
mặt hoá học (thường được phân loại ở Chương 28 hoặc 29), trừ một vài 
nhiên liệu được mô tả trong Phần (II) (A), (II) (B) (1) và (II) (B) (2) của 

Chú giải Chi tiết nhóm 36.06. Chương này cũng không bao gồm đạn 
dược của Chương 93. 
36.01- Bột nổ đẩy. 
Những bột này là các hỗn hợp, khi bị đốt cháy sẽ tạo ra một lượng lớn 
khí nóng. Những khí này tạo ra tác động đẩy. 
Trong trường hợp bột nổ đẩy dùng trong các loại súng cầm tay, sự đốt 
cháy xảy ra trong một không gian hạn chế của dung tích và sức nén gần 
như là không đổi trong nòng súng tạo ra vận tốc cho viên đạn. 
Trong trường hợp bột nổ đẩy dùng trong các loại tên lửa, sự đốt cháy tạo 
áp lực liên tiếp và việc thoát khí qua miệng vòi đã tạo ra lực đẩy. 
Bột nổ đẩy trong nhóm này bao gồm các thành phần dễ cháy và thành 
phần hỗ trợ cho sự đốt cháy. Chúng cũng có thể chứa các thành phần 
dùng cho để điều chỉnh mức độ cháy. 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Bột đen (thuốc súng) 
Thuốc súng bao gồm hỗn hợp được trộn nhuyễn của nitrat kali hoặc 
natri nitrate, lưu huỳnh và than (củi). 
Bột này, màu của loại bột này có thể thay đổi từ màu đen sang màu 
nâu, ít hút ẩm và được sử dụng như một loại bột phụ trợ và như là 
một loại bột nổ. Ở trường hợp thứ nhất, là bột phụ trợ, nó được thấy ở 
dạng hạt tròn và hạt đã được định sẵn kích cỡ; ở trường hợp thứ hai, 
là bột nổ, các hạt nhỏ có kích cỡ đa dạng hoặc có thể được nghiền 
nhỏ (bột nổ dùng trong khai mỏ). 
(2)  Bột nổ đẩy dùng cho súng cầm tay (trừ thuốc súng) 
(a)  Bột không khói 
Những loại bột này có thành phần cơ bản là nitrocellulose 
(cellulose nitrat), thường là bông thuốc súng hoặc thuốc nổ 
nitrocellulose, kết hợp với các chất khác và, đặc biệt cùng với 
các chất ổn định như diphenylamine. Những loại bột này có thể 
được điều chế hoặc từ nitrocellulose và dung môi, hoặc từ 

nitrocellulose với nitrat bari hoặc nitrat kali, dichromates kiềm, 
vv..., và dung môi được thêm vào, hoặc bằng sự liên kết của 
nitroglycerol (trinitrate glycerol) với nitrocellulose (ballistites, 
Bột không khói thường ở dạng thanh, ống, hình đĩa, mảnh hoặc 
hạt. 
(b)  Bột hỗn hợp 
Trong bột hỗn hợp, chất phụ gia như nitroguanidine, hexogen 
(1,3,5 - trinitro - 1,3,5- triazinane), hoặc octogene (1,3,5,7- 
tetranitro- 1,3,5,7- tetrazocane) có thể được cho thêm vào các 
chất cơ bản (nitrocellulose, nitroglycerol) để tăng cường đặc 
tính nổ . 
Các chất kết dính polymer kết hợp với các chất tương tự (không 
chứa bất kỳ một nitrocellulose nào) cũng có thể được dùng để 
tạo ra bột nổ đẩy. 
(3)  Bột nổ đẩy dùng cho tên lửa 
(a)  Bột nổ đẩy đồng nhất 
Những bột này được tạo ra chủ yếu từ nitrocellulose và các 
nitrate hữu cơ với một số chất khác (chất ổn định, chất xúc tác 
đạn đạo, vv..). Chúng thường được xuất hiện như thuốc nạp, 
thường là hình trụ, được nhồi trong khoang đốt theo hình vỏ 
đạn.  
(b)  Bột nổ đẩy hỗn hợp 
Những bột này được hình thành từ một chất hỗ trợ cho quá trình 
đốt cháy (perchlorate ammoniac, nitrat ammoniac, vv..) và một 
tác nhân khử (reducing agents) (thường là cao su tổng hợp), và 
có thể là một tác nhân khử  kim loại (nhôm, vv...). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các hợp chất đã được xác định về mặt hoá học riêng biệt (thường là 
Chương 28 hoặc 29). 
(b)  Thuốc nổ đã điều chế của nhóm 36.02. 
(c)  Nitrocellulose (các nitrate cellulose) ví dụ, bông thuốc súng (nhóm 

36.02- Thuốc nổ đã điều chế, trừ bột nổ đẩy. 
Nhóm này bao gồm hỗn hợp của chất hóa học mà khi đốt cháy sự đốt 
cháy của các hợp chất này tạo ra một phản ứng mạnh hơn các phản ứng 
được tạo ra bằng bột nổ đẩy. Sự đốt cháy tạo ra một lượng cực lớn khí ở 
nhiệt độ cao, áp lực lớn trong một khoảng thời gian rất ngắn. Chất 
phlegmatising thường được thêm vào những sản phẩm này để làm giảm 
độ nhạy của chúng với sự va chạm hoặc ma sát. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Thuốc nổ bao gồm các hỗn hợp có thành phần cơ bản là các 
của 
và 
(nitroglycol). Các sản phẩm này gọi chung là dinamit và thường 
chứa một số chất khác như nitrocellulose (bông thuốc súng), nitrat 
ammoniac, than bùn, mùn cưa, clorua natri hoặc hạt nhôm. 
(2) Thuốc nổ bao gồm các hỗn hợp có thành phần cơ bản là nitrate 
hữu cơ khác hoặc các hợp chất nitro, như các hợp chất có thành 
phần cơ bản là TNT (2,4,6 - trinitrotoluene), hexogen, octogene, 
hoặc 
Các hỗn hợp có thành phần cơ bản TNT bao gồm hexolites (TNT + 
hexogen) và pentolites (TNT+PETN) được giảm độ nhạy 
(phlegmatised) bằng sáp hoặc bằng chất kết dính polymeric.  
(3) Thuốc nổ bao gồm các hỗn hợp có thành phần cơ bản là nitrat 
amoni nhạy với các sản phẩm trừ nitrat của glycerol hoặc nitrat của 
glycol. Cùng với các thuốc nổ đề cập ở Điểm (1) trên, các chất này 
được sử dụng rộng rãi trong các hầm mỏ, mỏ đá và trong các khu 
công trường xây dựng dân dụng. 
Nhóm này bao gồm: 
(a)  Ammonal, amatol và dầu nhiên liệu nitrat ammoniac (ANFO); 

(b)  Thuốc nổ được nitrate hóa, cho vào vỏ đạn riêng biệt;  
(c)  Thuốc nổ dạng sệt, gồm hỗn hợp kiềm nitrat và nước, được tăng 
độ nhạy bằng nitrat amino hoặc bột mịn nhôm; 
(d) Thuốc nổ "nhũ tương", bao gồm một dung dịch có chứa nước 
của kiềm nitrat, được nhũ hoá trong dầu khoáng. 
(4) Thuốc nổ bao gồm các hỗn hợp có thành phần cơ bản là clorat 
hoặc perclorat, ví dụ cheddite được dùng trong các hầm mỏ và mỏ 
đá.  
(5)  Chất kích nổ và chất mồi, khi ở dạng khô, nhạy với sự va chạm 
và ma sát hơn nhiều các loại thuốc nổ được nêu ở 4 nhóm trên. 
Chúng là các hỗn hợp có thành phần chủ yếu là azide chì hoặc 
trinitroresorcinate (hoặc styphnate) của chì, và tetrazene. Những loại 
thuốc nổ này thường được dùng trong sản xuất ngòi nổ, thành phần 
tạo ma sát hoặc ngòi lửa để phóng và sản xuất kíp nổ cho thuốc nổ. 
Tất cả các loại chất nổ này có thể ở dạng bột, hạt, bột nhão, chất sệt, nhũ 
tương hoặc chất ít nhiều quánh khô, hoặc ở dạng khối hoặc ở dạng thuốc 
nạp hoặc cát tút (cartridge). 
Nhóm này không bao gồm các hợp chất đã được xác định riêng về mặt 
hóa học ngay cả khi các hợp chất này có thể là thuốc nổ. Những hợp chất 
hóa học này thường có trong Chương 28 hoặc 29, ví dụ, nitrat vô cơ 
(nhóm 28.34), thuỷ ngân fulminat (nhóm 28.52), trinitrotoluene (nhóm 
29.04) và trinitrophenol (nhóm 29.08). 
36.03- Dây cháy chậm; dây nổ; nụ xòe hoặc kíp nổ; bộ phận đánh 
lửa; kíp nổ điện. 
3603.10 - Dây cháy chậm 
3603.20 - Dây nổ 
3603.30 - Nụ xòe 
3603.40 - Kíp nổ 
3603.50 - Bộ phận đánh lửa 
3603.60 - Kíp nổ điện 

Các sản phẩm này, được gọi chung là các chất phá nổ, cần thiết để đốt 
cháy bột và thuốc nổ. 
Nhóm này bao gồm: 
(A)  Dây cháy chậm.  
Dây cháy chậm (ngòi cháy chậm hoặc ngòi Bickford) là những 
thiết bị được thiết kế để truyền ngọn lửa về phía bộ phận đánh lửa 
hoặc kíp nổ thông thường. Chúng thường được bọc trong lớp vải 
mỏng, được quét hoặc thấm với cao su hoặc plastic, có chứa một 
lượng thuốc nổ cần thiết để gây nổ. 
(B) Dây nổ. 
       Dây nổ (còn gọi là cầu chì kích nổ, dây nổ hoặc dây mồi) dùng để 
chuyển một hoặc nhiều bộ phận nổ, và thường bao gồm lõi PETN 
hoặc pentrite (pentaerythritol tetranitrate) hoặc thuốc nổ khác bọc 
trong tấm vải không thấm nuớc hoặc nhựa (ngòi co giãn). PETN nổ 
tại tốc độ xấp xỉ 6.5km (4 dặm)/giây. Dây nổ dùng để mồi cho hầu 
hết các loại thuốc nổ thương mại có sức công phá mạnh (dynamit, 
gêlinhit, gel nhạy nổ) nhưng không để mồi các thuốc nổ kém nhạy 
hơn như ANFO (dầu nhiên liệu nitrat amoni). Chúng thường được 
dùng trong các hầm mỏ và mỏ đá và tại các khu công trường xây 
dựng dân dụng. 
(C)  Nụ xoè. 
(1)  Nụ xoè (percussion primers) gồm một vật chứa đựng nhỏ, 
thường là bằng kim loại, thường chứa một hỗn hợp có thành 
phần cơ bản là trinitroresorcinate chì (styphnate) kết hợp với 
tetrazene và nhiều chất oxy hoá khác và chất khử; lượng hỗn 
hợp chất nổ này thường có trọng lượng từ 10 đến 200mg. Các 
loại kíp này thường được gắn vào hộp thuốc nổ và dùng để đánh 
lửa bột nổ đẩy. Nụ xòe được chế tạo ở các kích thước nhỏ cho 
súng lục hoặc kích thước lớn hơn cho súng trường và súng nòng 
dài. 
(2) Ống đốt hoặc ống phóng lửa ma sát thường bao gồm hai ống 
các tông hoặc kim loại đồng tâm có chứa hai loại thuốc nạp 

khác nhau. Thuốc nổ ở ống bên trong được đánh lửa bằng cách 
giật một dây hình răng cưa và từ đó đốt cháy lượng bột giữa hai 
ống và chuyển thành sự đánh lửa. Giống như kíp được nêu ở 
điểm (1) trên đây, ống đốt được dùng để đốt bột nổ đẩy. 
(D)  Kíp nổ (loại trừ kíp nổ điện và kíp nổ điện tử). 
         Kíp nổ (dây mồi nổ, ngòi nổ) bao gồm một lượng nhỏ thuốc nổ mồi 
và thêm một thuốc nạp, ví dụ, PETN hoặc penthrite, hexogen hoặc 
tetryl, trong một ống kim loại hoặc plastic dưới nắp bảo vệ. Những 
kíp nổ này được dùng để đánh lửa thuốc nổ đã pha chế trừ bột nổ 
đẩy và thường được đốt cháy bằng ngọn lửa từ ngòi an toàn dẫn tới 
chúng. 
(E)  Bộ phận đánh lửa: 
 (1)  Bộ phận đánh lửa điện gồm một đầu ngòi nổ phát điện và một 
lượng nhỏ bột đánh lửa, thường là bột đen (thuốc súng). 
Một đầu ngòi nổ phát điện bao gồm hai dây dẫn cách điện nằm 
ở hai đầu của một dây tóc kim loại được hàn lại để tạo thành 
một cầu cách điện; Dây tóc kim loại này được gắn trong một 
chuỗi hạt đánh lửa. Nó được dùng để đánh lửa thuốc nạp bột 
hoặc mồi nổ thuốc nổ mồi. 
(2)  Bộ phận đánh lửa hoá học là những bộ phận hình trụ gồm có 
một ống thuỷ tinh chứa một chất hoá học (ví dụ, axit sulphuric) 
và một lượng clorat kali, hai chất này tách biệt nhau thông qua 
một màng kim loại. Khi ống thuỷ tinh này vỡ axit sẽ ăn màng 
kim loại (nó hoạt động như một yếu tố cản trở) và phản ứng với 
clorat kali, tạo ra sức nóng mạnh có khả năng làm cháy thuốc 
nổ hoặc ngòi nổ an toàn. 
(F)  Kíp nổ điện (bao gồm kíp nổ điện tử): 
(1) Kíp nổ điện bao gồm một đầu ngòi nổ phát điện, được mô tả 
trong Điểm (E) (1) ở trên, trong một ống kim loại (hoặc có thể là 
nhựa), với một lượng nhỏ chất nổ mồi (từ 50 đến 500mg hợp chất 

có thành phần cơ bản là azide chì) và một lượng lớn chất nổ khác 
(như PETN hoặc penthrite, hexogen hoặc tetryl). 
Nhóm này cũng bao gồm một vài kíp nổ điện được gọi là ngòi nổ 
điện. Những kíp nổ này thường được làm nhỏ lại, và đầu ngòi có thể 
được thay thế bằng cách kết hợp, trong thuốc nổ mồi, của các phụ 
chất để làm cho thuốc nổ dẫn điện và kích hoạt cháy bằng cảm ứng. 
       (2) Kíp nổ điện tử, không giống như các loại kíp nổ điện thông 
thường được mô tả tại mục (F) (1) nêu trên, kíp nổ điện tử chứa bộ 
hẹn giờ mạch tích hợp (IC) như một công cụ trì hoãn, cho phép thời 
gian trễ có độ chính xác cao. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Dải hoặc cuộn amorce paraffin được dùng trong đèn mỏ, hoặc đạn 
súng đồ chơi (nhóm 36.04). 
(b)  Những hàng hoá không chứa bất kỳ một lượng chất nổ hoặc dễ cháy 
nào (những nắp nhỏ, ống, thiết bị điện, vv..) chúng được phân loại 
theo bản chất của chúng vào các nhóm tương ứng. 
(c)  Vỏ ngòi và vỏ đạn có hoặc không có đầu đạn (nhóm 93.06). 
36.04-  Pháo hoa, pháo hiệu, pháo mưa, pháo hiệu sương mù và các 
sản phẩm pháo khác. 
3604.10 - Pháo hoa 
3604.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm pháo có thể tạo ra dạ quang, âm 
thanh, khí, khói hoặc gây cháy, bao gồm: 
(1)  Các sản phẩm pháo dùng để giải trí: 
(a)  Pháo hoa (bom, ngòi nổ, pháo hiệu, phản lực, nến, đuốc sáng, 
diêm và đèn Bengal, vv...) mục đích của chúng là tạo ra sự giải 
trí qua âm thanh, ánh sáng hoặc hiệu ứng tạo khói trong quá 
trình đốt cháy chúng. Quá trình đốt cháy được tạo ra bằng bột 
gây cháy, như thuốc súng, chúng được trộn thành một vật phẩm 

và được đốt cháy bằng đầu ngòi nổ phát điện hoặc kíp nổ. 
(b)  Đồ chơi pháo, như đạn của súng đồ chơi (được làm ở dạng 
băng, mảnh, cuộn hoặc vòng nhựa), nến ảo thuật, và van pháo 
ống (snaps for Christmas crackers). Quá trình đốt cháy đồ chơi 
pháo kiểu này chỉ có hiệu ứng giới hạn. 
(2)  Thiết bị kỹ thuật: 
(a)  Thiết bị âm thanh hoặc đèn hiệu, như pháo báo nạn dùng ở biển, 
đèn nháy cartridges dùng cho thiết bị của máy bay, súng bắn pháo 
sáng tín hiệu, đèn sương mù và đèn hiệu đường ray, pháo báo nạn 
nguy riêng lẻ, đèn chiếu sáng dùng để chiếu sáng dùng trong rạp 
chiếu phim hoặc truyền hình, vv..., dụng cụ chiếu sáng, dụng cụ 
hướng dẫn, vật mồi pháo sáng, và những thiết bị tạo khói (có thể 
có màu). Đặc tính chung của chúng là tạo ra một hiệu ứng kéo dài 
tương đối bằng ánh sáng, âm thanh hoặc khói. 
(b)  Những dụng cụ dùng trong nông nghiệp hoặc công nghiệp, 
như pháo chống mưa đá (anti - hail rocket), cát tút chống mưa 
đá (anti - hail cartridges), thiết bị tạo khói dùng trong nông 
nghiệp, đèn chớp dùng để đuổi động vật, và thiết bị tạo khói để 
kiểm tra lỗ rò trong đường ống. 
Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị phát sáng khác không được miêu 
tả cụ thể ở các nhóm trước (ví dụ, pháo cứu đắm, dây nổ phủ chì dùng để 
cắt không dùng để truyền nổ). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Nguyên liệu đèn nháy dùng trong nhiếp ảnh (nhóm 37.07). 
(b)  Các thiết bị tạo ra ánh sáng bởi các hiện tượng phản ứng phát quang 
hoá học (nhóm 38.24). 
(c)  Đạn không nạp chì (Blank cartridge), có chứa một chất nổ, dùng cho 
dụng cụ tán đinh hoặc dùng để khởi động bộ phận đánh lửa của 
động cơ pít tông đốt trong (nhóm 93.06). 
36.05- Diêm, trừ các sản phẩm pháo thuộc nhóm 36.04.  
Nhóm này bao gồm diêm tạo ra lửa khi được cọ sát vào bề mặt ráp 

(đôi khi được chế tạo riêng cho mục đích đó). Chúng thường bao 
gồm thân gỗ, bìa các tông, sợi dệt được tẩm sáp stearin, sáp paraffin, 
vv.... (diêm sáp hoặc diêm), và một  đầu là các chất hoá học có thể 
cháy được. 
Nhóm này không bao gồm diêm Bengal và các sản phẩm pháo hoa 
khác, mặc dù chúng được đốt cháy bằng việc cọ sát và có hình dạng 
giống như que diêm (nhóm 36.04). 
36.06-  Hợp kim xeri-sắt và các hợp kim tự cháy khác ở tất cả các 
dạng; các sản phẩm làm từ vật liệu dễ cháy như đã nêu trong 
Chú giải 2 của Chương này. 
3606.10 - Nhiên liệu lỏng hoặc nhiên liệu khí hóa lỏng trong các 
vật chứa loại sử dụng để nạp hoặc nạp lại ga bật lửa và 
có dung tích không quá 300 cm3 
3606.90 - Loại khác 
(I) XERI -  SẮT VÀ CÁC HỢP KIM TỰ CHÁY KHÁC  
Ở TẤT CẢ CÁC DẠNG 
Hợp kim tự cháy là những hợp kim mà khi cọ sát vào những bề mặt ráp 
sẽ tạo ra tia lửa đủ để đốt cháy ga, xăng, chất khô dễ bắt lửa hoặc các 
nguyên liệu dễ cháy khác. Chúng thường là các chất tổng hợp của xeri 
và kim loại khác, phổ biến nhất là xeri sắt. 
Những hợp kim được bao gồm trong nhóm này ở dạng đống hoặc ở dạng 
thanh hoặc thỏi nhỏ dùng trong bật lửa cơ (bật lửa dùng đá lửa), và có 
hoặc không đóng gói trong hộp nhỏ để bán lẻ. 
(II) CÁC SẢN PHẨM LÀM TỪ VẬT LIỆU DỄ CHÁY 
Nhóm này chỉ bao gồm: 
(A) Nhiên liệu lỏng hoặc nhiên liệu khí hoá lỏng (ví dụ, xăng, butan 
lỏng) đựng trong hộp chứa (ống, chai, can, vv...) được dùng để nạp 
hoặc nạp lại bật lửa châm thuốc lá hoặc các loại bật lửa tương tự, có 

dung tích không quá 300 cm3. 
Hộp hoặc ống đựng khác có thể nạp lại (đã được nạp hoặc chưa 
được nạp) tạo thành những bộ phận của bật lửa dùng để châm thuốc 
lá hoặc các loại bật lửa tương tự không bao gồm trong nhóm này 
(nhóm 96.13). 
(B)  Nhiên liệu rắn bao gồm: 
(1)  Metaldehyde (nhiên liệu meta) và hexamethylenetetramine 
(hexamine) ở dạng viên, thanh hoặc các dạng tương tự được 
dùng như nhiên liệu. Khi ở các dạng khác (ví dụ, bột hoặc tinh 
thể) những chất này không thuộc nhóm này, mà lần lượt thuộc 
nhóm 29.12 hoặc 29.33. 
(2)  Các chất hoá học tương tự (đã hoặc chưa được xác định về mặt 
hoá học) ở dạng viên, thanh hoặc các dạng tương tự được dùng 
như nhiên liệu. 
(C)  Nhiên liệu rắn và nửa rắn sau đây: 
Nhiên liệu với thành phần cơ bản là cồn và chứa các chất như xà 
phòng, chất gelatin, dẫn xuất cellulose (các nhiên liệu này thường 
được bán ở dạng "cồn dạng rắn"), và các nhiên liệu đã được điều 
chế tương tự khác, ở dạng rắn hoặc nửa rắn. 
Một ví dụ của nhiên liệu đã được điều chế ở dạng rắn như là một 
thanh than củi được nghiền thành bột với một tỷ lệ nitrat natri rất ít, 
được xem là chất hỗ trợ cho quá trình đốt cháy, và 
carboxymethylcellulose như một chất dính, để cháy từ từ trong một 
hộp đựng kín, có thể được đặt sau lớp vải quần áo để tạo nguồn 
nhiệt giữ ấm cơ thể. 
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm dụng cụ sưởi ấm tay hoặc 
chân dùng một lần mà chúng tạo nhiệt bằng phản ứng toả nhiệt 
không tạo ra tia lửa hoặc ngọn lửa (ví dụ: ôxy hoá của bột sắt thông 
qua chất xúc tác là ôxy) (nhóm 38.24). 
(D)  Đuốc nhựa cây, chất nhóm lửa và các loại tương tự. 
Nhóm này bao gồm: 

(i)  Đuốc nhựa cây, tạo ra ánh sáng trong một khoảng thời gian 
tương đối dài, bao gồm nguyên liệu dễ cháy được tẩm nhựa 
thông, nhựa đường, dầu hắc ín, vv..., và thường được dán vào 
thanh gậy, hoặc vật có tay cầm, hoặc được dán vào giấy, vải 
hoặc nguyên liệu khác. 
(ii)  Chất nhóm lửa, cháy khá mạnh trong một khoảng thời gian 
ngắn vì thế nhiên liệu (ví dụ, gỗ, than, than cốc, dầu nhiên liệu) 
bị đốt cháy. Những chất này có thể bao gồm, nhựa thông 
formaldehyde urê với chất kerosene và nước, hoặc giấy được 
tẩm dầu khoáng hoặc sáp paraffin. 
Tuy nhiên, việc mô tả này không bao gồm nhiên liệu như mùn 
cưa đã đóng thành bánh (nhóm 44.01). 

Chương 37 
Vật liệu ảnh hoặc điện ảnh 
Chú giải. 
1. - Chương này không bao gồm các phế liệu hoặc phế thải. 
2. - Trong Chương này từ “tạo ảnh” liên quan đến quá trình tạo các ảnh 
có thể nhìn thấy được, bằng cách chiếu tia sáng hoặc các dạng tia 
phát xạ khác lên bề mặt nhạy sáng, kể cả bề mặt cảm ứng nhiệt, trực 
tiếp hoặc gián tiếp. 
TỔNG QUÁT 
Các tấm, phim, giấy, bìa và vật liệu dệt để tạo ảnh thuộc Chương 37 là 
những thứ có một hay nhiều lớp nhũ nhạy đối với ánh sáng hoặc các 
dạng phóng xạ khác có đủ năng lượng để gây ra phản ứng cần thiết  đối 
với nguyên liệu nhạy sóng photon (hoặc photo), như phóng xạ của bước 
sóng dài tối đa là khoảng 1.300 nanometer trong quang phổ điện từ (kể 
cả tia gamma, tia X quang, tia cực tím và bức xạ hồng ngoại gần), cũng 
như phóng xạ từng phần (hay hạt nhân), được dùng cho phiên bản đơn 
sắc hoặc cho phiên bản mầu. Tuy nhiên, một số loại tấm kính ảnh/tấm 
kẽm chụp ảnh chưa được tráng lớp nhũ nhưng chúng lại bao gồm toàn 
bộ hay về cơ bản là chất nhựa cảm quang có thể được thêm vào để làm 
tăng hiệu quả hỗ trợ. Các tấm nhạy với tia laser hồng ngoại thường được 
gọi là tấm cảm ứng nhiệt/tấm nhiệt hoặc tấm nhạy nhiệt. 
Lớp nhũ cơ bản nhất có thành phần chủ yếu là bạc halogen (như bạc 
brômua, bạc iôt - brômua, vv..) hoặc muối của các kim loại quý khác, 
nhưng các nguyên liệu khác có thể được sử dụng, như kali ferricyanide 
hoặc hợp chất sắt dùng cho bản in phơi, kali hoặc amoni dicromat dùng 
cho bản khắc ảnh, muối diazonium dùng cho nhũ diazo vv.... 
(A)  Các tấm kính ảnh và phim ảnh xếp vào Chương này khi: 
(1)  Chưa phơi sáng, như chưa chịu sự tác động ánh sáng hoặc các 
dạng phóng xạ khác; hoặc 
(2)  Đã phơi sáng, đã hoặc chưa được tráng (như là xử lý hoá học để 
tạo ra hình ảnh rõ nét). 

Các tấm kính ảnh và phim vẫn được phân loại trong Chương này 
hoặc âm bản (có nghĩa là với ánh sáng và bóng ánh sáng chiếu trở 
lại), dương bản (bao gồm cả dương bản tía dùng cho việc sao chép 
nhiều dương bản hơn), hoặc ngược lại (có nghĩa là với lớp nhũ đặc 
biệt cho phép tạo ra dương bản trực tiếp). 
(B)  Giấy, bìa và vật liệu dệt ảnh bao gồm trong Chương này chỉ khi 
chúng chưa được phơi sáng hoặc đã phơi sáng (âm bản hoặc dương 
bản) nhưng chưa được tráng; sau khi tráng, chúng được xếp vào 
Chương 49 hoặc Phần XI.  
Theo các điều kiện đặc biệt được giải thích trong Chú giải nhóm 37.07, 
Chương này cũng bao gồm sản phẩm hoá chất và vật liệu đèn nháy dùng 
trong nhiếp ảnh.  
Chương này không bao gồm phế liệu hoặc phế thải. Phế liệu và phế thải 
của tạo ảnh hoặc điện ảnh chứa kim loại quý hoặc hợp chất kim loại quý, 
được dùng chủ yếu trong thu hồi lại kim loại quý, được phân loại vào 
nhóm 71.12. Các phế liệu hoặc phế thải của tạo ảnh hoặc điện ảnh khác 
được phân loại dựa trên  nguyên liệu cấu thành (ví dụ, nếu bằng plastics, 
thì xếp vào nhóm 39.15, nếu bằng giấy thì xếp vào nhóm 47.07).  
37.01-  Các tấm và phim để tạo ảnh ở dạng phẳng, có phủ lớp chất 
nhạy, chưa phơi sáng, bằng vật liệu bất kỳ trừ giấy, bìa hoặc 
vật liệu dệt; phim in ngay dạng phẳng, có phủ lớp chất nhạy, 
chưa phơi sáng, đã hoặc chưa đóng gói. 
3701.10 - Dùng cho chụp X quang 
3701.30 - Tấm và phim loại khác, có từ một chiều bất kỳ trên 
- Loại khác: 
3701.91 - - Dùng cho ảnh màu (đa màu) 
3701.99 -- Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(A)  Các tấm và phim để tạo ảnh ở dạng phẳng, bằng vật liệu bất kỳ 

trừ giấy, bìa hoặc vật liệu dệt.  
Các tấm và phim ảnh ở dạng phẳng (nghĩa là, không ở dạng cuộn), 
bao gồm cả phim được cuộn dạng hình đĩa, chưa phơi sáng và 
thường được phủ một lớp chất nhũ nhạy tạo ảnh. Chúng có thể 
được làm từ một nguyên liệu bất kỳ trừ giấy (ví dụ, giấy "tấm” 
được dùng để tạo ra âm bản), bìa hoặc vật liệu dệt (nhóm 37.03). 
Những vật liệu thường được sử dụng là thuỷ tinh và axetat cellulose, 
poly(ethylene terephthlate) hoặc plastics khác (dùng cho phim 
nguyên gói hoặc phim đã cắt), và kim loại hoặc đá (cho các quá 
trình quang cơ). Một số tấm kính ảnh, khi được phơi sáng hoặc xử 
lý sẽ được dùng để in, không được phủ lớp nhũ nhưng được làm từ 
toàn bộ hoặc cơ bản từ nhựa nhạy ảnh. Chúng có thể được thêm vào 
như là chất hỗ trợ kim loại hoặc vật liệu khác. Một số kính ảnh này 
phải được tăng độ nhạy sáng trước khi phơi sáng và các tấm khác 
phải có độ cứng của các phần được chiếu xạ (về mặt nhiệt) được 
tăng cường sau khi chiếu xạ. 
Những mặt hàng này được dùng cho các mục đích sau: 
(1)  Các tấm, phim cắt và phim nguyên gói dùng cho chuyên nghiệp 
và nghiệp dư.  
 (2)  Các tấm dùng chụp X quang và phim ở dạng phẳng kể cả loại 
dùng cho X quang nha khoa. Những mặt hàng này thường được 
phủ lớp chất nhạy cả hai mặt. 
(3)  Các tấm xử lý máy ảnh dùng để in bản khắc ảnh, in ảnh lithô, 
(4)  Các tấm và phim đặc biệt dùng cho vi ảnh, ảnh siêu nhỏ (chụp 
ảnh hiển vi), thiên văn, chụp tia vũ trụ, chụp ảnh từ trên không, 
(B)  Phim in ngay dạng phẳng. 
Loại này cũng được phủ chất nhạy, chưa được phơi sáng và ở 
dạng phẳng. Phim in ngay gồm có một mặt nhạy sáng của vật liệu 
bất kỳ (âm bản), một mặt là giấy được xử lý đặc biệt (dương bản), 
và một lớp thuốc tráng phim, dùng để tạo ra ngay một tấm ảnh 
dương bản hoàn thiện. Phim in ngay có thể được đóng trong gói 
(một cartridge hoặc hộp đựng một số tấm phim in ngay) được thiết 

kế để lắp trực tiếp vào máy chụp ảnh, hoặc hộp có chứa nhiều tấm 
có thể sử dụng riêng biệt.  
Tuy nhiên, phim in ngay dạng cuộn, đã phủ chất nhạy, chưa phơi 
sáng, thì bị loại trừ (nhóm 37.02). 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Các tấm và phim ở dạng phẳng chưa được phủ lớp chất nhạy (được 
phân loại theo vật liệu cấu tạo  chúng). 
(b)  Phim ở dạng cuộn chưa được phơi sáng (nhóm 37.02). 
37.02-  Phim để tạo ảnh ở dạng cuộn, có phủ lớp chất nhạy, chưa 
phơi sáng, bằng vật liệu bất kỳ trừ giấy, bìa hoặc vật liệu dệt; 
phim in ngay ở dạng cuộn, có phủ lớp chất nhạy, chưa phơi 
sáng. 
3702.10 - Dùng cho chụp X quang 
- Phim loại khác, không có dãy lỗ kéo phim, có chiều 
rộng không quá 105 mm: 
3702.31 - - Dùng cho ảnh màu (đa màu) 
3702.32 - - Loại khác, có tráng nhũ tương bạc halogenua 
3702.39 - - Loại khác 
 -  Phim loại khác, không có dãy lỗ kéo phim, có chiều 
rộng trên 105 mm: 
3702.41 - -  Loại chiều rộng trên 610 mm và chiều dài trên 200 
m, dùng cho ảnh màu (đa màu)                
3702.42 - - Loại chiều rộng trên 610 mm và chiều dài trên 200 m, 
trừ loại dùng cho ảnh màu 
3702.43 - - Loại chiều rộng trên 610 mm và chiều dài không quá 
3702.44 - - Loại chiều rộng trên 105 mm nhưng không quá 610 
 - Phim loại khác, dùng cho ảnh màu (đa màu):   

3702.52 - - Loại chiều rộng không quá 16 mm 
3702.53 - - Loại chiều rộng trên 16 mm nhưng không quá 35 mm 
và chiều dài không quá 30 m, dùng làm phim chiếu 
3702.54 - - Loại chiều rộng trên 16 mm nhưng không quá 35 mm 
và chiều dài không quá 30 m, trừ loại dùng làm phim 
chiếu 
3702.55 - - Loại chiều rộng trên 16 mm nhưng không quá 35 mm 
và chiều dài trên 30 m 
3702.56 - - Loại chiều rộng trên 35 mm 
 - Loại khác:  
3702.96 - -  Loại chiều rộng không quá 35 mm và chiều dài 
không quá 30 m 
3702.97 - - Loại chiều rộng không quá 35 mm và chiều dài trên 
3702.98 - - Loại chiều rộng trên 35 mm  
Nhóm này bao gồm: 
(A) Phim tạo ảnh ở dạng cuộn, bằng loại vật liệu bất kỳ trừ giấy, bìa 
hoặc vật liệu dệt. 
Phim chụp ảnh ở dạng cuộn (nghĩa là trừ dạng phẳng), đã phủ chất 
nhạy, chưa phơi sáng thường là poly(ethylene terephthalate), 
axetat cellulose hoặc những vật liệu mềm tương tự và thường cho sự 
phơi sáng lớn. Nhóm này không bao gồm những phim như vậy 
bằng giấy (ví dụ, giấy "phim" dùng để làm âm bản), bìa hoặc vật 
liệu dệt (nhóm 37.03).  
Phim ở dạng cuộn thuộc nhóm này có hoặc không có dãy lỗ để kéo 
phim; nó cần phải được tránh ánh sáng bằng bìa giấy hoặc bao bì 
thích hợp khác. 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Phim dùng trong điện ảnh, với chiều rộng thông thường là 35, 
16, 9.5 hoặc 8 mm.  
(2)  Phim camera "tĩnh" dạng cuộn. 
Những loại phim tạo ảnh chưa cắt thành các cỡ để sử dụng vẫn được 

xếp vào nhóm này. 
Giống các tấm tạo ảnh thuộc nhóm 37.01, loại phim này có thể dùng 
cho máy ảnh chuyên nghiệp, nghiệp dư, khoa học, X quang, vv... 
Phim dùng để chụp X quang ở dạng cuộn thường được phủ chất 
nhạy cả hai mặt.  
Phim có phủ chất nhạy dùng cho ghi âm quang điện cũng được phân 
loại vào nhóm này.  
(B)  Phim in ngay ở dạng cuộn. 
Phim in ngay ở dạng cuộn cho phép in ngay ảnh dương bản hoàn 
thiện. Cuộn phim như vậy bao gồm phim đã được phủ lớp nhạy sáng 
bằng vật liệu bất kỳ, như xenlulô axetat, poly(etylen terephtalat) 
hoặc plastic khác, giấy, bìa hoặc vật liệu dệt (âm bản), một dải giấy 
được xử lý đặc biệt (dương bản) và thuốc tráng phim. 
Tuy nhiên, phim in ngay dạng phẳng, đã được phủ chất nhạy, chưa 
phơi sáng, thì bị loại trừ  (nhóm 37.01). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các tấm và phim tạo ảnh chưa phơi sáng ở dạng phẳng (nhóm 
(b)  Phim plastics chưa được phủ lớp chất nhạy (Chương 39). 
(c)  Phim trắng chưa ghi dùng để ghi âm cơ học (nhóm 85.23). 
37.03-  Giấy, bìa và vật liệu dệt để tạo ảnh, có phủ lớp chất nhạy, 
chưa phơi sáng. 
3703.10 - Ở dạng cuộn, có chiều rộng trên 610 mm 
3703.20 - Loại khác, dùng cho ảnh màu (đa màu) 
3703.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm tất cả phim tạo ảnh bằng giấy, bìa và vật liệu dệt ở 
dạng phẳng hoặc cuộn, có phủ chất nhạy, chưa phơi sáng.  
Do vậy nhóm này bao gồm: 
(1)  Giấy và vật liệu dệt để tạo ra ảnh dương bản. Những loại này có thể 
được dùng trong công việc nghiệp dư, chuyên nghiệp, chụp X 
quang, điện tâm đồ, ghi âm, photocopy, vv...  

(2)  Giấy kiểu "tấm " và "phim" được dùng để tạo ra âm bản bằng cách 
phơi sáng trong camera.  
(3)  Giấy ferricyanide, fero-gallate, vv.., dùng để tạo ra phơi bản in, vv.. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Phim in ngay ở dạng phẳng hoặc dạng cuộn, có phủ chất nhạy, chưa 
phơi sáng (nhóm 37.01 hoặc 37.02). 
(b)  Phim chụp ảnh bằng giấy, bìa hoặc vật liệu dệt đã phơi sáng nhưng 
chưa tráng (nhóm 37.04).  
(c)  Giấy, bìa hoặc vật liệu dệt đã xử lý nhưng chưa được phủ lớp chất 
nhạy, ví dụ, giấy được phủ lớp albumin, gelatin, sunphat bari, ôxit 
kẽm, vv... (Chương 48 hoặc Phần XI). 
(d) Phim chụp ảnh bằng giấy, bìa hoặc vật liệu dệt đã tráng (Chương 49 
hoặc Phần XI). 
37.04-  Tấm, phim, giấy, bìa và vật liệu dệt để tạo ảnh, đã phơi sáng 
nhưng chưa tráng. 
Nhóm này bao gồm tấm, phim, giấy, bìa và vật liệu dệt để tạo ảnh được 
đề cập trong nhóm 37.01, 37.02 hoặc 37.03, với điều kiện những loại 
này đã phơi sáng nhưng chưa tráng. Những loại này có thể là âm bản 
hoặc dương bản (có thể đảo ngược hoặc không). 
Các tấm, phim, giấy, bìa và vật liệu dệt đã tráng bị loại trừ (nhóm 
37.05, 37.06, Chương 49 hoặc Phần XI). 
37.05 - Tấm và phim để tạo ảnh, đã phơi sáng và đã tráng, trừ phim 
dùng trong điện ảnh. 
Nhóm này bao gồm tấm để tạo ảnh và phim tạo ảnh thuộc nhóm 37.01 
hoặc 37.02 sau khi phơi sáng và đã tráng, với điều kiện là, nếu có các 
dãy lỗ kéo phim, chúng thuộc loại dùng để sao lại hoặc chiếu những hình 
ảnh tĩnh. Nhóm này bao gồm cả âm bản và dương bản; dương bản đôi 
khi được gọi là kính dương bởi vì chúng trong suốt.  

Nhóm này cũng bao gồm các vi phim trên nền trong suốt (micro phim). 
Nhóm này bao gồm graduated (or “ shade-off ”) contact halftone film 
screens, gồm có nhiều chấm, thường trong mô hình bàn cờ hoặc màn 
khác có được từ chụp ảnh, dùng trong nghệ thuật đồ hoạ. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Phim đã tráng dùng cho máy chiếu điện ảnh để tạo ra ảnh động 
(nhóm 37.06). 
(b)  Phim chụp ảnh bằng giấy, bìa hoặc vật liệu dệt đã tráng (Chương 49 
hoặc Phần XI). 
(c)  Các tấm kính ảnh đã tráng dùng cho mục đích in ấn (ví dụ, offset), 
dùng ngay (nhóm 84.42). 
37.06-  Phim dùng trong điện ảnh, đã phơi sáng và đã tráng, đã hoặc 
chưa có rãnh tiếng hoặc chỉ có duy nhất rãnh tiếng. 
3706.10 - Loại chiều rộng từ 35 mm trở lên 
3706.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm phim dùng trong điện ảnh với chiều rộng tiêu chuẩn 
hoặc tiêu chuẩn phụ đã tráng dùng để chiếu ảnh động, âm bản hoặc 
dương bản, chỉ chứa hình ảnh nhìn tương quan, hoặc cả hình ảnh nhìn 
tương quan và âm thanh (có hoặc không được thực hiện bằng phương 
pháp nhiếp ảnh, ví dụ, có từ tính, đã ghi).  
Nhóm này cũng bao gồm phim dùng trong điện ảnh có chiều rộng theo 
tiêu chuẩn hoặc chiều rộng theo tiêu chuẩn phụ đã tráng, âm bản hoặc 
dương bản, không chứa hình ảnh trực quan, nhưng chỉ gồm một hoặc 
nhiều rãnh tiếng. Rãnh trên phim chứa duy nhất một bản âm thanh phải 
được ghi bằng quang điện. Phim chứa nhiều hơn một bản âm thanh có 
thể có bản được ghi bằng từ tính nhưng ít nhất phải có một bản phải ghi 
bằng quang điện. Những rãnh tiếng được ghi bằng quang điện xuất hiện 
giống dải băng hẹp đã in tạo độ rung âm thanh. 
Phim có rãnh tiếng được tạo ra đơn lẻ thông qua xử lý trừ quang điện (ví 
dụ, bằng cách khắc máy hoặc ghi băng từ) không thuộc nhóm này 
(nhóm 85.23). 

37.07-   Chế phẩm hóa chất để tạo ảnh (trừ vecni, keo, chất kết dính 
và các chế phẩm tương tự); các sản phẩm chưa pha trộn 
dùng để tạo ảnh, đã đóng gói theo định lượng hoặc đóng gói 
để bán lẻ ở dạng sử dụng được ngay. (+) 
3707.10 - Dạng nhũ tương nhạy 
3707.90 - Loại khác 
Theo những điều kiện được ghi tại mục (A) và (B) dưới đây, nhóm này 
bao gồm các chất được dùng trực tiếp trong việc tạo ra hình ảnh. Các sản 
phẩm đó bao gồm: 
(1)  Nhũ tương (xem phần Chú giải tổng quát của Chương này). 
(2)  Thuốc tráng phim giúp nhìn thấy những hình ảnh ẩn (ví dụ, 
methylaminophenolsulphate và các dẫn xuất của chúng). Nhóm này 
cũng bao gồm thuốc tráng phim dùng cho sao chụp tài liệu tĩnh điện.  
(3)  Chất hãm ảnh để tạo ra những hình ảnh cố định đã được tráng (ví 
dụ, natri thiosulphat (hypo), natri metabisulphit, amoni thiosulphat, 
amoni hoặc natri hoặc kali thiocyanat).  
(4)  Chất tăng cường và chất làm giảm để làm tăng hoặc giảm cường độ 
của hình ảnh ( ví dụ, kali dicromat, amoni persulphat). 
Tuy nhiên, cần chú ý rằng thủy ngân (II) clorua vẫn được phân loại vào 
nhóm 28.52, thậm chí chúng được sử dụng trong nhiếp ảnh và đã được 
đóng gói theo tỷ lệ hoặc ở dạng đóng gói bán lẻ để sử dụng ngay. 
(5) Toner dùng để thay đổi màu sắc của hình ảnh (ví dụ, sulphide natri). 
(6)  Chất tẩy dùng để tẩy những vết ố tạo ra trong quá trình tráng, hãm 
ảnh... (ví dụ, potash alum).  
Theo như mục (A) và (B) dưới đây, nhóm này cũng bao gồm vật liệu 
chiếu sáng, thường bao gồm nhôm hoặc magiê, ở dạng bột, viên, lá, 
vv..., và đôi khi được trộn với các chất khác nhằm thúc đẩy quá trình đốt 
cháy. 
Tất cả những sản phẩm nói trên được xếp vào nhóm này chỉ khi  
chúng là: 

(A)  Những chất đơn lẻ: 
(i)  Được đóng gói theo một tỷ lệ xác định, nghĩa là được phân chia 
đồng nhất về khối lượng mà chúng sẽ được sử dụng, ví dụ, viên, 
gói nhỏ có chứa một lượng bột được đo vừa cho một chậu rửa 
ảnh; hoặc 
(ii)  Trong các gói dùng để bán lẻ và có kèm với chỉ dẫn rằng chúng 
có thể được dùng khi chụp ảnh, bằng nhãn hiệu, tài liệu hoặc 
cách khác (ví dụ, chỉ dẫn sử dụng, vv..). 
Các chất đơn lẻ được đóng gói trừ những chất ở trên, được 
phân theo bản chất của chúng (ví dụ, như các chất hoá học 
thuộc Chương 28 hoặc 29, như bột kim loại ở Phần XV, vv..).  
hoặc (B)  Các chế phẩm dùng trong nhiếp ảnh thu được thông qua quá trình 
trộn lẫn hoặc pha lẫn với hai hoặc nhiều chất khác. Các chất như 
vậy vẫn thuộc nhóm này hoặc được đóng gói số lượng lớn hoặc với 
số lượng nhỏ, và có hoặc không được bày để bán lẻ.  
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các sản phẩm phụ trợ không được dùng trực tiếp trong việc tạo ra 
hình ảnh, bản in phơi, vv..(ví dụ hồ dùng để dán ảnh, vecni để bảo 
vệ và làm bóng âm bản hoặc dương bản, sơn chấm sửa tranh ảnh, 
bút chì, vv.. ). 
(b)  Bóng đèn nháy dùng để chụp ảnh thuộc nhóm 90.06. 
(c) Các các sản phẩm theo mô tả trong các nhóm từ 28.43 đến 28.46 và 
28.52 (ví dụ, muối và các sản phẩm khác của kim loại quý), mặc dù 
được đóng gói và có mục đích sử dụng đã định. 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 3707.90 
Phân nhóm 3707.90 bao gồm các dung dịch nhựa thông nhạy sáng (“chất 
cản quang”) được sử dụng trong sản xuất quang khắc của vật liệu bán 
dẫn. Chúng bao gồm các polyme, chất cảm quang, một dung môi không 
chứa nước, và nhiều chất hóa học khác. Chất cản quang được sử dụng 
cho màng silicon tráng oxit kim loại để chuyển thành vật liệu bán dẫn 
hoàn chỉnh.