PROJECT

CHU GIAI 2022_ TU CHUONG 41 DEN CHUONG 47

CHU GIAI 2022_ TU CHUONG 41 DEN CHUONG 47

Chương 41
Da sống (trừ da lông) và da thuộc
Chú giải.
1.-  Chương này không bao gồm:
(a) Da vụn hoặc phế liệu tương tự từ da sống (nhóm 05.11);
(b) Da chim hoặc các phần da chim, còn lông vũ hoặc lông tơ, thuộc
nhóm 05.05 hoặc nhóm 67.01; hoặc
(c) Da sống, còn lông, đã thuộc hoặc chuội (Chương 43); tuy nhiên,
những sản phẩm sau vẫn được xếp vào Chương 41, cụ thể, các
loại da sống còn lông, của động vật họ trâu bò (kể cả trâu), động
vật họ ngựa, cừu hoặc cừu non (trừ các loại cừu Astrakhan, cừu
Broadtail, Caracul, cừu Ba Tư hoặc loại tương tự, cừu Ấn Độ,
cừu Trung Quốc, cừu Mông cổ hoặc cừu Tây Tạng) hoặc thuộc
loài dê hoặc dê non (trừ dê và dê non Yemen, Mông Cổ hoặc
Tây Tạng), lợn (kể cả lợn lòi Pecari), sơn dương, linh dương
gazen, lạc đà (kể cả lạc đà một bướu), tuần lộc, nai Anxet,
hươu, hoẵng hoặc chó.
2.-   (A)  Các nhóm từ 41.04 đến 41.06 không bao gồm da sống đã qua
quy trình thuộc (kể cả chuẩn bị thuộc da) có thể lộn được (các
nhóm từ 41.01 đến 41.03, trong trường hợp có thể).
(B) Theo mục đích của các nhóm từ 41.04 đến 41.06, thuật ngữ “da
mộc” kể cả da sống đã được thuộc lại, tạo màu hoặc được thấm
nhũ tương dầu (thêm chất béo) trước khi làm khô.
3.- Trong toàn bộ Danh mục khái niệm “da tổng hợp” chỉ các chất liệu
quy định trong nhóm 41.15.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm:
(I)  Da sống (da của thú 4 chân lớn) và da (trừ da của chim còn lông
vũ hoặc lông tơ và da lông) (các nhóm từ 41.01 đến 41.03). Các
nhóm này cũng bao gồm da sống và da còn lông của động vật đã đề
cập trong Chú giải 1 (c) và đề cập trong Chú giải chi tiết của các
nhóm từ 41.01 đến 41.03.
Trước khi thuộc da, đầu tiên da sống và da còn lông được đưa vào
một loạt quy trình chuẩn bị, trong đó bao gồm việc ngâm chúng
trong dung dịch kiềm (để làm mềm chúng và loại bỏ toàn bộ muối
đã dùng để bảo quản), khử lông và lọc thịt khỏi da ("lọc thịt"), sau
đó loại bỏ vôi và các chất khác được sử dụng trong lúc khử lông, và
cuối cùng rửa.  
Các nhóm từ 41.01 đến 41.03 cũng bao gồm da thô và da, bì không
có lông hoặc lông tơ, chúng phải trải qua quá trình thuộc có thể lộn
được (kể cả tiền thuộc). Quá trình như thế làm ổn định một cách tạm
thời da thô và da, bì cho các công đoạn lạng xẻ và ngăn cản sự thối
rữa một cách tạm thời. Da sống được xử lý sau đó cần thêm quá
trình thuộc trước khi hoàn tất và không được xem như các sản phẩm
thuộc các nhóm từ 41.04 đến 41.06.  
Da sống có lông hoặc lông tơ đã tiền thuộc hoặc đã được gia công
thêm bị loại trừ khỏi Chương này bởi Chú giải 1(c) của Chương
này.
(II) Da sống đã được thuộc hoặc làm cứng nhưng không xử lý kỹ
hơn (các nhóm từ 41.04 đến 41.06). Việc thuộc mang lại khả năng
chống lại sự thối rữa cho da sống, và tăng khả năng không thấm
nước. Ta nanh thâm nhập vào cấu trúc da sống và hình thành các
liên kết ngang với collagen. Đây là một phản ứng hóa học không thể
đảo ngược, giúp cho sản phẩm bền vững trước sức nóng, ánh sáng
hoặc mồ hôi và làm cho da sống có thể tạo hình được và có thể sử
dụng được.  
Sau đó chúng hoặc được "thuộc bằng thực vật" (trong các bể chứa
một số loại gỗ, vỏ cây, lá cây... hoặc các chiết xuất của các loại
trên), "thuộc bằng các chất khoáng" (với các loại muối khoáng, ví
dụ, muối crôm, muối sắt hoặc phèn) hoặc được "thuộc bằng phương
pháp hoá học" (với formaldehyde hoặc một số hoá chất tổng hợp).
Đôi khi sự kết hợp giữa các quá trình này cũng được sử dụng. Việc
thuộc da dày bởi một hỗn hợp phèn và muối được biết như sự thuộc
da Hungari (Hungarian dressing), trong khi việc thuộc bằng
phèn sử dụng một hỗn hợp muối, phèn, lòng đỏ trứng và bột. Da
sống được thuộc phèn được sử dụng chủ yếu cho việc sản xuất găng
tay, quần áo và giày, dép.
Da sống đã được thuộc hoặc gia công thêm sau khi thuộc, trong thương
mại được gọi là "da thuộc". Da thuộc đã được làm khô sau khi thuộc
được gọi là "da mộc" hoặc "da thuộc mộc". Trong quá trình làm cứng,
có thể thêm chất béo hoặc dầu để da mộc có tính trơn và mềm dẻo, và
da sống có thể được thuộc lại hoặc được tạo màu bằng phương pháp
nhúng (ví dụ, trong thùng) trước khi làm khô.  
Da cừu và da cừu non đã được thuộc bằng dầu và đã được chuội để
chế tạo da thuộc dầu ((kể cả da thuộc dầu kết hợp) thuộc nhóm
(III) Da thuộc được gia công thêm sau khi thuộc hoặc làm mộc (các
nhóm 41.07, 41.12 và 41.13). Sau khi thuộc hoặc làm mộc, da
thuộc thường đòi hỏi phải được xử lý thêm ("cọ sạch") để loại bỏ
những chất bất thường của bề mặt và làm cho da thuộc sẵn sàng để
sử dụng bằng cách làm cho nó mềm hơn, chống thấm nước,... Các
quá trình này bao gồm việc gia công thêm như làm mềm, căng da,
làm mỏng, đập hoặc làm cứng bề mặt, và ướp ("sự ướp") với dầu.
Da thuộc sau đó có thể được chuội thêm hoặc được hoàn thiện bằng
cách sử dụng màu bề mặt hoặc thuốc màu, tạo vân hoặc rập nổi để
làm giả da của các loại khác, hồ, đánh bóng, nghiền (hoặc tạo màu
da bò) của mặt trong (hoặc đôi khi là mặt có vân) để tạo ra một loại
da lộn (suède) hoặc một sản phẩm nhung, bôi sáp, nhuộm đen, làm
nhẵn (làm bóng), việc hoàn thiện bằng việc tráng mặt bóng, in...
Da giấy được chế tạo từ da sống, không bằng quá trình thuộc,
nhưng bằng cách xử lý da sống để bảo quản. Chúng được làm mềm,
of the flesh side (or occasionally the grain side) to give a suède or
khử lông, loại bỏ thịt, rửa sạch và sau đó được kéo căng trên một cái
khung, được phủ bằng bột nhão có chứa chất làm trắng và sôđa hoặc
vôi đã tôi, được cạo để làm mỏng chúng tới độ dày như mong muốn
và được mài bóng bằng đá bọt. Cuối cùng, da có thể được xử lý với
gelatin và tinh bột.
Những loại da có chất lượng tốt hơn, được gọi là "giấy da bê", được
chế tạo từ da của những con bê mới đẻ. Chất liệu này được sử dụng
cho việc đóng sách, cho các tài liệu quan trọng, cho da trống... Đôi
khi da sống dày hơn (tức là, thường từ da động vật họ trâu bò to
hơn) được xử lý một cách tương tự (các sản phẩm thô hơn sẽ được
biết dưới cái tên "da thô") và được sử dụng cho việc sản xuất các bộ
phận máy, các dụng cụ, các mặt hàng du lịch...
(IV) Da thuộc dầu; da láng và da láng bằng màng mỏng được tạo
trước; da nhũ kim loại (nhóm 41.14). Nhóm 41.14 bao gồm những
loại da thuộc đặc biệt có tên trong tên nhóm và được sản xuất bởi
những công đoạn hoàn thiện đặc thù. Do đó, nhóm bao gồm da cừu
và da cừu non đã được thuộc bằng dầu và đã được chuội để sản xuất
da thuộc dầu (bao gồm cả da thuộc dầu kết hợp); da thuộc được
tráng hoặc phủ bằng một loại vecni hoặc sơn màu hoặc bằng một
tấm plastic đã tạo hình trước (da láng hoặc da láng bằng màng
mỏng được tạo trước); và da thuộc đã được phủ một lớp bột kim
loại hoặc lá kim loại (da nhũ kim loại).
(V) Da thuộc tổng hợp (“liên kết”) với thành phần cơ bản là da
thuộc hoặc sợi da thuộc (nhóm 41.15).  
(VI) Da vụn và phế liệu khác từ da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp
(nhóm 41.15). Nhóm này không bao gồm da vụn và phế liệu tương
tự từ da sống hoặc từ da lông.  
Da sống và da thuộc được xếp trong Chương này dù là toàn bộ da (tức
là, hình dạng của da sống và da thuộc có các đường nét của động vật,
nhưng có thể có da của phần đầu và chân đã bị loại bỏ) hoặc từng phần
(ví dụ, lườn, vai, mông, khuỷu, phần bụng, má), dạng dải hoặc dạng tấm;
tuy nhiên, các miếng da thuộc được cắt thành các hình dạng đặc biệt,
được coi như các sản phẩm thuộc các Chương khác, cụ thể là Chương
42 hoặc Chương 64.
Da sống đã lạng xẻ và da thuộc đã lạng xẻ được phân loại trong cùng các
nhóm tương ứng với toàn bộ da sống và da thuộc. Việc lạng xẻ là quá
trình phân chia da sống và da, bì theo chiều ngang thành nhiều hơn một
lớp và có thể được thực hiện trước hoặc sau khi thuộc. Mục tiêu trong
việc lạng xẻ là để đạt được nhiều độ dày hơn để xử lý và để da thuộc
cuối cùng được đều hơn. Lớp ngoài cùng hoặc lớp cật (grain layer) của
da sống, được gọi là “da váng có mặt cật (da lộn)”, được làm bằng nhau
bằng cách cắt ngang qua da bằng một con dao băng tải liên tục với độ
chính xác đến vài milimet; lớp dưới, gọi là “ da tách thịt”, có hình dạng
và độ dày không đều. Một số lớp có thể được làm từ da dày một khác
thường, như da trâu. Tuy nhiên, trong các trường hợp này, các lớp giữa
có cấu trúc yếu hơn các lớp ngoài.
41.01- Da sống của động vật họ trâu bò (kể cả trâu) hoặc động vật
họ ngựa (tươi, hoặc muối, khô, ngâm vôi, axit hoá hoặc được
bảo quản cách khác, nhưng chưa thuộc, chưa làm thành da
giấy hoặc gia công thêm), đã hoặc chưa khử lông hoặc  
lạng xẻ.
4101.20 - Da sống nguyên con, trọng lượng da một con không
quá 8 kg khi làm khô đơn giản, 10 kg khi muối khô,
hoặc 16 kg ở dạng tươi, dạng muối ướt hoặc được bảo
quản cách khác
4101.50 - Da sống nguyên con, trọng lượng trên 16 kg
4101.90 - Loại khác, kể cả da mông, khuỷu và bụng
Nhóm này bao gồm da sống (đã hoặc chưa loại bỏ lông) của động vật họ
trâu bò (kể cả trâu) (tức là, các loại động vật thuộc nhóm 01.02, xem
Chú giải chi tiết của nhóm đó) hoặc của động vật họ ngựa (ngựa, la, lừa,
ngựa vằn...).
Các da sống này có thể tươi (xanh) hoặc được bảo quản tạm thời tránh
sự thối rữa trong thời gian ngắn bằng ướp muối, làm khô, ngâm vôi,
ngâm axit hoặc các phương pháp khác. Chúng cũng có thể được làm
sạch, lạng xẻ hoặc cạo, hoặc có thể trải qua quá trình thuộc (kể cả tiền
thuộc), có thể lộn được, nhưng không dùng bất kỳ quá trình thuộc hoặc
các quá trình tương đương nào khác (như sự làm thành da giấy) hoặc
không được gia công thêm.
Da sống có thể được muối khô, hoặc muối ướt bằng cách sử dụng nước
muối. Trong quá trình muối khô, có tỷ lệ nhỏ các chất khác đôi khi được
thêm vào để ngăn ngừa sự đổi màu. Ở Ấn Độ, đất chứa sét có chứa natri
sulphate đôi khi được thêm vào.
Da sống có thể được làm khô trực tiếp hoặc xử lý thêm sau khi muối.
Trong quá trình làm khô, da sống thường được xử lý với chế phẩm trừ
côn trùng, sát trùng hoặc các chế phẩm tương tự.
Da sống được ngâm vôi bằng cách nhúng chúng vào trong nước vôi hoặc
bởi việc quét lên chúng một lớp bột nhão có chứa vôi đã được tôi. Việc vôi
hoá tạo thuận lợi cho việc khử lông và cũng giúp để bảo quản da sống.
Da sống được ngâm axit bằng cách ngâm trong dung dịch axit
hydrochloric hoặc sulphuric yếu, hoặc dung dịch yếu của một vài chất
hoá học khác, cùng với muối thông thường. Quá trình này sẽ bảo quản
da sống và da, bì.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Da có thể ăn được của động vật nhưng chưa được nấu chín (nhóm
02.06 hoặc 02.10). (Khi đã nấu, những loại da như vậy được phân
loại vào nhóm 16.02).
(b) Da vụn và phế liệu tương tự từ da sống (nhóm 05.11).
41.02- Da sống của cừu hoặc cừu non (tươi, hoặc muối, khô, ngâm
vôi, axit hóa hoặc được bảo quản cách khác, nhưng chưa
thuộc, chưa làm thành da giấy hoặc gia công thêm), có hoặc
không còn lông hoặc lạng xẻ, trừ các loại đã ghi ở Chú giải
1(c) của Chương này.
4102.10 - Loại còn lông
⦁    Loại không còn lông:  
4102.21 - - Đã được axit hóa  
4102.29 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm da sống của cừu hoặc cừu non có hoặc không còn
lông. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm da còn lông của loài cừu
Astrakhan, Broadtail, Caracul, cừu Ba Tư hoặc các loài cừu tương tự
(tức là, cừu thuộc loại tương tự như Caracul hoặc Ba Tư nhưng được biết
bởi những tên khác nhau ở các nơi khác nhau trên thế giới), cừu Ấn Độ,
Trung Quốc, Mông Cổ hoặc Tây Tạng.
Các da sống này có thể tươi (xanh) hoặc được bảo quản tạm thời tránh
sự thối rữa trong thời gian ngắn bằng ướp muối, làm khô, ngâm vôi,
ngâm axit hoặc các phương pháp khác (xem Chú giải chi tiết nhóm
41.01). Chúng cũng có thể được làm sạch, lạng xẻ hoặc cạo, hoặc có thể
trải qua quá trình thuộc (kể cả tiền thuộc), có thể lộn được, nhưng không
dùng bất kỳ quá trình thuộc hoặc các quá trình tương đương nào khác
(như sự làm thành da giấy) hoặc gia công thêm.
Nhóm này không bao gồm:
a) Da có thể ăn được của động vật nhưng chưa được nấu chín (nhóm
02.06 hoặc 02.10). (Khi đã nấu, những loại da như vậy được phân
loại vào nhóm 16.02).
(b) Da vụn và phế liệu tương tự từ da sống (nhóm 05.11).
41.03- Da sống của loài động vật khác (tươi, hoặc muối, khô, ngâm
vôi, axit hoá hoặc được bảo quản cách khác, nhưng chưa
thuộc, chưa làm thành da giấy hoặc gia công thêm), đã hoặc
chưa khử lông hoặc lạng xẻ, trừ các loại đã loại trừ trong
Chú giải 1(b) hoặc 1(c) của Chương này.
4103.20 - Của loài bò sát
4103.30 - Của lợn
4103.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(A) Tất cả các loại da sống không có lông hoặc đã khử lông, trừ loại
thuộc nhóm 41.01 hoặc 41.02. Nhóm này bao gồm da chim, gia
cầm mà lông vũ và lông tơ của nó đã bị loại bỏ, và các loại da cá, da
của loài bò sát và da dê hoặc da dê non đã được khử lông (kể cả dê
và dê non Yemen, Mông Cổ hoặc Tây Tạng).
(B) Da sống, chưa loại bỏ lông, chỉ của những động vật sau:
(1) Dê và dê non (trừ dê và dê non thuộc loại Yemen, Mông Cổ
hoặc Tây Tạng).
(2) Lợn, kể cả lợn lòi Pecari.
(3) Sơn dương, linh dương và lạc đà (kể cả lạc đà một bướu).
(4) Giống nai sừng tấm ở Bắc Âu và Bắc Mỹ, tuần lộc, hoẵng đực
và các loại hươu nai khác.
(5) Chó.
Các da sống này có thể tươi (xanh) hoặc được bảo quản tạm thời tránh
sự thối rữa trong thời gian ngắn bằng ướp muối, làm khô, ngâm vôi,
ngâm axit hoặc các phương pháp khác (xem Chú giải chi tiết nhóm
41.01). Chúng cũng có thể được làm sạch, lạng xẻ hoặc cạo, hoặc có thể
trải qua quá trình thuộc (kể cả tiền thuộc), có thể lộn được, nhưng không
dùng bất kỳ quá trình thuộc hoặc các quá trình tương đương nào khác
(như sự làm thành da giấy) hoặc không được xử lý thêm.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Da có thể ăn được nhưng chưa nấu của động vật (Chương 2) hoặc
của cá (Chương 3). (Khi đã được nấu, da như vậy được phân loại
trong Chương  16).
(b) Da vụn và phế liệu tương tự từ da sống (nhóm 05.11).
(c) Da chim, gia cầm và các phần của da chim, gia cầm còn lông vũ hoặc
lông tơ, thuộc nhóm 05.05 hoặc 67.01.
41.04- Da thuộc hoặc da mộc của động vật họ trâu bò (kể cả trâu)
hoặc động vật họ ngựa, không có lông, đã hoặc chưa lạng xẻ,
nhưng chưa được gia công thêm.
⦁    Ở dạng ướt (kể cả phèn xanh):
4104.11 - - Da cật, chưa xẻ; da váng có mặt cật (da lộn)
4104.19 - - Loại khác
⦁    Ở dạng khô (mộc):
4104.41 - - Da cật, chưa xẻ; da váng có mặt cật (da lộn)
4104.49 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm da sống đã khử lông, của động vật họ trâu bò (kể cả
trâu) hoặc động vật họ ngựa, đã thuộc hoặc đã được làm mộc nhưng
chưa được gia công thêm (xem Chú giải Tổng quát của Chương này).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Da thuộc dầu (kể cả da thuộc dầu kết hợp) (nhóm
 41.14). 
(b) Da vụn và phế liệu khác của da thuộc hoặc da mộc (nhóm 41.15). 
(c) Da sống của động vật họ trâu bò (kể cả trâu) hoặc của động vật họ 
ngựa, đã thuộc hoặc đã làm mộc, còn lông (Chương 43). 
41.05- Da thuộc hoặc da mộc của cừu hoặc cừu non, không có lông, 
đã hoặc chưa lạng xẻ, nhưng chưa được gia công thêm. 
4105.10 - Ở dạng ướt (kể cả phèn xanh) 
4105.30 - Ở dạng khô (mộc)   
Nhóm này bao gồm da của cừu hoặc cừu non (kể cả da cừu và da dê giao 
nhau), đã thuộc hoặc làm mộc, không còn lông, nhưng chưa được xử lý 
thêm (xem Chú giải Tổng quát của Chương này). 
Da thuộc của cừu hoặc cừu non ở một mức độ nào đó tương tự như da 
thuộc của dê hoặc dê non nhưng có cấu tạo bề mặt không chặt hơn và có 
vân không đều hơn. 
Da cừu thường được "thuộc bằng phèn" (xem Chú giải Tổng quát của 
Chương này). 
Những da váng có mặt cật (da lộn) của da cừu, khi đã thuộc, được gọi là 
"da đã lạng mỏng" (skiver); "basils" là da cừu đã thuộc bằng các chất 
thuộc thực vật. 
Nhóm này không bao gồm: 

(a) Da thuộc dầu (kể cả da thuộc dầu kết hợp) (nhóm 41.14). 
(b) Da vụn và phế liệu khác từ da thuộc hoặc da mộc (nhóm 41.15) 
(c) Da cừu hoặc da cừu non, đã thuộc hoặc đã làm mộc, còn lông 
(Chương 43). 
41.06 - Da thuộc hoặc da mộc của các loài động vật khác, không có 
lông, đã hoặc chưa xẻ, nhưng chưa được gia công thêm. 
-  Của dê hoặc dê non: 
4106.21 - - Ở dạng ướt (kể cả phèn xanh) 
4106.22 - - Ở dạng khô (mộc) 
-  Của lợn: 
4106.31 - - Ở dạng ướt (kể cả phèn xanh) 
4106.32 - - Ở dạng khô (mộc) 
4106.40 - Của loài bò sát 
-  Loại khác: 
4106.91 - - Ở dạng ướt (kể cả phèn xanh) 
4106.92 - - Ở dạng khô (mộc) 
Nhóm này bao gồm da dê hoặc dê non, không còn lông, đã được thuộc 
hoặc đã làm mộc, nhưng chưa được gia công thêm (xem Chú giải Tổng 
quát của Chương này). 
Những đặc điểm để phân biệt da thuộc của cừu với da thuộc của dê được 
đề cập tới trong Chú giải nhóm 41.05. 
Da dê hoặc dê non cũng có thể được "thuộc bằng phèn " (xem Chú giải 
Tổng quát của Chương này). 
Nhóm này cũng bao gồm da sống không có lông hoặc đã khử lông của 
tất cả các loại động vật chưa đề cập đến trong các nhóm 41.04 và 
41.05, chúng được gia công cùng cách như da sống và da, bì của những 
nhóm đó (xem Chú giải Tổng quát của Chương này).  
Do đó, nhóm này bao gồm, ví dụ, da thuộc của lợn, của các loài bò sát 

(thằn lằn, rắn, cá sấu....), loài linh dương, loài kangaroo, hươu, nai, sơn 
dương, tuần lộc, nai sừng tấm, voi, lạc đà (kể cả lạc đà một bướu), hà 
mã, chó và của cá hoặc động vật có vú ở biển.   
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Da thuộc dầu (kể cả da thuộc dầu kết hợp) (nhóm 41.14). 
(b) Da vụn và phế liệu khác từ da thuộc hoặc da mộc (nhóm 41.15). 
(c) Da sống, đã thuộc hoặc đã làm mộc, còn lông (Chương 43). 
41.07- Da thuộc đã được gia công thêm sau khi thuộc hoặc làm mộc, 
kể cả da giấy, của động vật họ trâu bò (kể cả trâu) hoặc của 
động vật họ ngựa, không có lông, đã hoặc chưa xẻ, trừ da 
thuộc nhóm 41.14. 
-  Da nguyên con: 
4107.11 - - Da cật, chưa xẻ 
4107.12 - - Da váng có mặt cật (da lộn) 
4107.19 - - Loại khác 
-  Loại khác, kể cả nửa con: 
4107.91 - - Da cật, chưa xẻ 
4107.92 - - Da váng có mặt cật (da lộn) 
4107.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm da sống đã khử lông, của động vật họ trâu bò (kể cả 
trâu) hoặc của động vật họ ngựa, đã được xử lý để làm da giấy, và da 
thuộc đã được xử lý sau khi thuộc hoặc làm mộc (xem Chú giải Tổng 
quát của Chương này). 
Da thuộc của động vật họ trâu bò hoặc động vật họ ngựa đặc biệt nổi 
tiếng về độ chắc và độ bền; da thuộc làm đế giày và da thuộc cho dây đai 
máy móc, do đó, thường từ các loại này. 
Da thuộc làm đế giày là loại da thuộc đã được đập hoặc cán cứng. Nó 
thường được thuộc bằng các chất gốc thực vật hoặc thuộc bằng một quá 
trình kết hợp và có màu nâu, nhưng một vài loại (có màu xanh lục) được 
thuộc bằng crôm. 

Da thuộc cho dây đai máy móc được làm từ da lưng của bò, nói chung 
được thuộc bằng các chất gốc thực vật, và được bôi trơn và được xử lý 
để cho da thuộc trở nên bền, mềm dẻo và hầu như không thể dãn ra.  
Da thuộc của động vật họ trâu bò (kể cả trâu) hoặc động vật họ ngựa 
thường cũng được sử dụng để sản xuất ủng hoặc mũ giày, ví dụ, các loại 
như da "box-calf" hoặc "willow-calf“ (da bê thuộc đã thuộc bằng crôm 
đã nhuộm màu và đánh bóng mà đã được thuộc bằng crôm hoặc đôi khi 
bằng một quy trình kết hợp). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Da thuộc dầu (kể cả da thuộc dầu kết hợp), và da láng, da láng bằng 
màng mỏng được tạo trước và da nhũ kim loại (nhóm 41.14). 
(b) Da vụn và phế liệu khác từ da thuộc (nhóm 41.15). 
(c) Da sống của động vật họ trâu bò (kể cả trâu) hoặc động vật họ ngựa, 
đã chuội và còn lông (Chương 43). 
41.12- Da thuộc đã được gia công thêm sau khi thuộc hoặc làm mộc, 
kể cả da giấy, của cừu hoặc cừu non, không có lông, đã hoặc 
chưa xẻ, trừ da thuộc nhóm 41.14. 
Nhóm này bao gồm da của cừu hoặc cừu non (kể cả da cừu và da dê giao 
nhau), không còn lông, đã được xử lý làm thành da giấy, và da thuộc của 
cừu hoặc cừu non đã được gia công thêm sau khi thuộc hoặc sau khi làm 
mộc (xem Chú giải Tổng quát của Chương này). 
Da thuộc của cừu hoặc cừu non ở một mức độ nào đó tương tự da dê 
hoặc dê non nhưng có cấu tạo bề mặt không chặt hơn hoặc có vân không 
đều hơn. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Da thuộc dầu (kể cả da thuộc dầu kết hợp) và da láng, da láng bằng 
màng mỏng được tạo trước và da nhũ kim loại (nhóm 41.14). 
(b) Da vụn và phế liệu khác từ da thuộc (nhóm 41.15). 
(c) Da cừu hoặc da cừu non, đã chuội còn lông (Chương 43). 

41.13- Da thuộc đã được gia công thêm sau khi thuộc hoặc làm mộc, 
kể cả da giấy, của các loài động vật khác, không có lông, đã 
hoặc chưa xẻ, trừ da thuộc nhóm 41.14. 
4113.10 – Của dê hoặc dê non 
4113.20 – Của lợn 
4113.30 – Của loài bò sát 
4113.90 – Loại khác 
Nhóm này bao gồm da của dê hoặc của dê non không còn lông, đã được 
xử lý làm thành da giấy, và da thuộc từ dê đã được gia công thêm sau 
khi thuộc hoặc sau khi làm mộc (xem Chú giải Tổng quát của Chương 
này). 
Đặc điểm để phân biệt giữa da cừu và da dê đã được đề cập đến tại Chú 
giải chi tiết nhóm 41.12. 
Da của dê hoặc của dê non cũng có thể được "thuộc bằng phèn" (xem 
Chú giải Tổng quát của Chương này). 
Nhóm này cũng bao gồm sản phẩm da thuộc từ da sống không có lông 
hoặc đã khử lông của tất cả các loại động vật chưa đề cập đến trong các 
nhóm 41.07 và 41.12, chúng được gia công cùng cách với da sống của 
những nhóm đó (xem Chú giải Tổng quát của Chương này).  
Do đó, nhóm này bao gồm, ví dụ, da thuộc (trừ loại da thuộc của nhóm 
41.14) của lợn, của các loài bò sát (thằn lằn, rắn, cá sấu...), loài linh 
dương, loài kangaroo, hươu, nai, sơn dương, tuần lộc, nai sừng tấm, voi, 
lạc đà (kể cả lạc đà một bướu), hà mã, chó và của cá hoặc hoặc động vật 
có vú ở biển.   
Da thuộc được biết đến với mục đích thương mại như là "da hoẵng" 
(doeskin) là da có thể giặt được, được làm từ da cừu đã lạng xẻ, đã được 
thuộc với formaldehyde hoặc thuộc dầu, và bị loại trừ (nhóm 41.12 
hoặc 41.14). 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Da thuộc dầu (kể cả da thuộc dầu kết hợp), và da láng, da láng bằng 

màng mỏng được tạo trước và da nhũ kim loại (nhóm 41.14). 
(b) Da vụn và phế liệu khác từ da thuộc (nhóm 41.15) 
(c) Da sống, đã chuội, còn lông (Chương 43). 
41.14- Da thuộc dầu (kể cả da thuộc dầu kết hợp); da láng và da 
láng bằng màng mỏng được tạo trước; da nhũ kim loại. 
4114.10 - Da thuộc dầu (kể cả da thuộc dầu kết hợp) 
4114.20 - Da láng và da láng bằng màng mỏng được tạo trước; 
da nhũ kim loại 
(I) Da thuộc dầu (kể cả da thuộc dầu kết hợp) 
Da thuộc dầu được thuộc và chuội bằng cách gia công nhiều lần da với 
dầu cá hoặc dầu động vật, sau đó chúng được làm khô bằng cách làm ấm 
và để ngoài không khí, và được rửa trong kiềm để loại dầu thừa. Sau đó 
bề mặt da có thể được làm sạch và chuội bằng nùi bông với đá bọt hoặc 
bằng chất mài mòn khác. Da thuộc thường được xử lý theo cách này 
được làm từ da cừu hoặc da cừu non lọc thịt bằng cách cạo để loại bỏ 
vân.  
Da thuộc dầu có đặc tính mềm, màu vàng (trừ khi được nhuộm) và có 
thể giặt. Chúng thường dùng để làm găng tay, da dùng để lau,... và da 
của động vật lớn hơn (hươu, nai,...) được xử lý tương tự được sử dụng 
cho quần áo, yên cương hoặc mục đích công nghiệp nào đó. 
Da thuộc dầu thu được bằng cách chỉ sử dụng dầu, như đã mô tả ở trên, 
đôi khi được gọi là da cừu no dầu. 
Da thuộc có thể giặt màu trắng, có tính chất tương tự như da thuộc dầu 
màu vàng, thu được bằng cách thuộc da một phần với formaldehyde sau 
đó thuộc dầu như đã mô tả ở trên và được biết như da thuộc dầu hỗn 
hợp. Nhóm này cũng bao gồm cả loại da thuộc này, nhưng không bao 
gồm các loại da thuộc có thể giặt được khác (ví dụ, như thuộc phèn và 
thuộc formaldehyde), và không bao gồm da chỉ “bôi” dầu sau khi thuộc 
hoàn toàn bởi các quy trình khác. 

(II) Da láng và da láng bằng màng mỏng được tạo trước; da nhũ 
kim loại. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Da láng, là da được tráng hoặc phủ vecni hoặc dầu bóng hoặc bằng 
một lớp plastic được tạo hình trước, và có bề mặt bóng như gương. 
Vecni hoặc dầu bóng được dùng có thể được nhuộm màu hoặc 
không nhuộm màu và có thể có thành phần cơ bản từ: 
(a)  dầu khô thực vật (thường là dầu hạt lanh); 
(b) dẫn xuất của xenlulo (ví dụ, nitrocellulose); 
(c) sản phẩm tổng hợp (có hoặc không có plastic dẻo nhiệt), chủ yếu 
là nhựa polyurethane. 
Lớp plastic được tạo hình trước này phủ lên da thuộc thường được 
chế tạo từ nhựa polyurethane hoặc poly(vinyl chloride). 
Bề mặt sản phẩm của các sản phẩm thuộc nhóm này không nhất 
thiết phải nhẵn. Nó có thể được rập nổi để bắt chước một số loại da 
(cá sấu, thằn lằn,...) hoặc được làm nhàu, làm nhăn hoặc tạo vân 
nhân tạo. Tuy nhiên, nó cần phải giữ được bề ngoài bóng láng như 
gương. 
Chiều dày của lớp phủ hoặc lớp plastic này không quá 0,15 mm. 
Nhóm này cũng bao gồm loại da thuộc được tráng hoặc phủ một lớp 
sơn hoặc dầu bóng có chứa thuốc màu (kể cả mica, silica hoặc loại 
tương tự) để tạo cho da ánh rực rỡ của kim loại, bằng chất gắn, ví 
dụ, plastic hoặc dầu khô thực vật (“da thuộc giả nhũ kim loại”). 
(2) Da láng bằng màng mỏng được tạo trước cũng được biết trong 
thương mại là da láng được phủ (patent coated leather), là da 
thuộc được phủ bằng một tấm plastic được tạo hình trước có chiều 
dày trên 0,15 mm nhưng nhỏ hơn một nửa tổng chiều dày và có bề 
mặt sáng bóng như gương của da láng. (Da được phủ một tấm 
plastic được tạo hình trước mà lớp plastic này có chiều dày trên 0,15 

mm nhưng không nhỏ hơn một nửa tổng chiều dày thì thuộc 
Chương 39). 
(3) Da nhũ kim loại, là da thuộc được tráng phủ một lớp bột kim loại 
hoặc lá kim loại (ví dụ, bạc, vàng, đồng hoặc nhôm). 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm da thuộc tổng hợp, đã được phủ 
vecni hoặc kim loại (nhóm 41.15). 
41.15- Da thuộc tổng hợp với thành phần cơ bản là da thuộc hoặc sợi 
da thuộc, dạng tấm, tấm mỏng hoặc dạng dải, có hoặc không 
ở dạng cuộn; da vụn và phế liệu khác từ da thuộc hoặc da 
tổng hợp, không phù hợp dùng cho sản xuất hàng da; bụi da 
và các loại bột da. 
4115.10 - Da thuộc tổng hợp với thành phần cơ bản là da thuộc 
hoặc sợi da thuộc, dạng tấm, tấm mỏng hoặc dạng dải, 
có hoặc không ở dạng cuộn 
4115.20 - Da vụn và phế liệu khác từ da thuộc hoặc da tổng hợp, 
không phù hợp dùng cho sản xuất hàng da; bụi da, các 
loại bột da 
(I) Da thuộc tổng hợp  
Nhóm này chỉ bao gồm da thuộc tổng hợp có thành phần cơ bản là da 
thuộc tự nhiên hoặc sợi da thuộc. Cần chú ý rằng nhóm này không áp 
dụng đối với da thuộc giả không dựa trên da thuộc tự nhiên, như plastic 
(Chương 39), cao su (Chương 40), giấy hoặc bìa (Chương 48) hoặc vải 
dệt được tráng phủ (Chương 59). 
Da thuộc tổng hợp, còn được gọi là “da liên kết”, có thể được làm bởi 
các quá trình khác nhau như: 
(1) Liên kết vụn da thuộc và các mẩu phế liệu nhỏ từ da thuộc bằng keo 
hoặc những chất liên kết khác. 
(2) Liên kết vụn da thuộc và các mẩu phế liệu nhỏ từ da thuộc bằng cách 
nén mạnh mà không cần chất kết dính. 

(3) Phân nhỏ những mẩu vụn và mẩu thừa thành sợi mỏng bằng cách 
đun trong nước nóng (không cần chất kết dính, như giấy); do đó, bột 
thu được tạo thành tấm bằng cách sàng, cuộn và cán láng. 
Da thuộc tổng hợp có thể được nhuộm, rập nổi, đánh bóng, tạo vân hoặc 
đóng dấu, lộn da bằng cách mài với carborundum hoặc bột mài, phủ 
vecni hoặc phủ kim loại. 
Da thuộc tổng hợp như trên được phân loại vào nhóm này khi ở dạng 
miếng, tấm hoặc dải, ở dạng cuộn hay không; nếu được cắt thành hình 
trừ hình vuông hoặc chữ nhật thì nó sẽ được phân loại vào các Chương 
khác, đặc biệt là Chương 42. 
(II) Da vụn và phế liệu khác 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Da vụn và các phế liệu khác từ da (kể cả da thuộc tổng hợp hoặc da 
giấy) sinh ra từ việc sản xuất các sản phẩm da thuộc, phù hợp để sản 
xuất da thuộc tổng hợp hoặc keo dán,... hoặc sử dụng làm phân bón. 
(2)  Đồ da hỏng, không thể sử dụng tiếp với mục đích ban đầu, và không 
sử dụng như da thuộc để sản xuất các sản phẩm khác. 
(3)  Bụi và bột da thuộc (phế liệu của cạo da thuộc và mài da thuộc) 
dùng làm phân bón hoặc để làm da lộn nhân tạo, vật liệu làm sàn 
tổng hợp... 
(4)  Bột da, tạo ra bởi quá trình nghiền da phế liệu và được dùng làm sợi 
da lộn hoặc chất độn trong plastic,...  
Những mẩu da thuộc vụn hoặc đồ da thuộc hỏng (ví dụ, dây đai cho máy 
cũ) có thể được dùng để sản xuất sản phẩm da thuộc thì được phân loại 
như da thuộc ở nhóm tương ứng (các nhóm 41.07 hoặc từ 41.12 đến 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Vụn da và chất thải tương tự từ da sống (nhóm 05.11). 
(b) Giày dép cũ thuộc nhóm 63.09. 
used as a fertiliser or for making artificial suèdes, composition 
making suèded fabrics or as a filler in plastics, etc. 

Chương 42 
Các sản phẩm bằng da thuộc; yên cương và bộ yên cương; các mặt 
hàng du lịch, túi xách và các loại đồ chứa tương tự; các sản phẩm 
làm từ ruột động vật (trừ ruột con tằm) 
Chú giải. 
1.- Theo mục đích của chương này, thuật ngữ "da thuộc" gồm cả da 
thuộc dầu (bao gồm cả da thuộc dầu kết hợp), da láng, da láng bằng 
màng mỏng được tạo trước và da nhũ kim loại. 
2.- Chương này không bao gồm: 
(a) Chỉ catgut vô trùng dùng trong phẫu thuật hoặc các vật liệu khâu 
vô trùng tương tự dùng trong phẫu thuật (nhóm 30.06); 
(b) Hàng may mặc hoặc đồ phụ trợ quần áo (trừ găng tay, găng hở 
ngón và găng bao tay), được lót bằng da lông hoặc da lông nhân 
tạo hoặc gắn da lông hoặc da lông nhân tạo ở mặt ngoài trừ đồ 
trang trí thuần túy (nhóm 43.03 hoặc 43.04); 
(c) Các loại lưới hoàn chỉnh (nhóm 56.08); 
(d) Các mặt hàng thuộc Chương 64; 
(e) Mũ và các vật đội đầu khác hoặc các bộ phận của chúng thuộc 
Chương 65; 
(f) Roi da, roi điều khiển súc vật hoặc các mặt hàng khác thuộc 
nhóm 66.02; 
(g) Khuy măng sét, vòng tay hoặc các đồ trang sức làm bằng chất 
liệu khác (nhóm 71.17); 
(h) Các đồ gắn trang trí cho bộ đồ yên cương, như bàn đạp ở yên 
cương ngựa, hàm thiếc ngựa, yếm ngựa và khóa yên ngựa, được 
trình bày riêng (thường thuộc Phần XV); 
 (ij) Dây da, da để làm trống hoặc loại tương tự, hoặc các bộ phận 
khác của nhạc cụ (nhóm 92.09); 
(k) Các sản phẩm thuộc Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, đèn 
(luminaires) và bộ đèn); 

(l) Các sản phẩm thuộc Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi, 
dụng cụ, thiết bị thể thao); hoặc 
(m) Khuy các loại, khuy bấm, khóa bấm, khuy tán bấm, lõi khuy 
(loại khuy bọc) hoặc bộ phận khác của các mặt hàng này, khuy 
chưa hoàn chỉnh, thuộc nhóm 96.06. 
3. (A) Ngoài các quy định của Chú giải 2 nói trên, nhóm 42.02 không 
bao gồm: 
(a) Túi làm bằng các tấm plastic, đã hoặc chưa in, có tay cầm, 
không được thiết kế để sử dụng lâu dài (nhóm 39.23); 
(b) Sản phẩm bằng vật liệu tết bện (nhóm 46.02). 
(B) Các sản phẩm của nhóm 42.02 và 42.03 có các bộ phận làm bằng 
kim loại quý hoặc kim loại mạ kim loại quý, ngọc trai tự nhiên 
hoặc nuôi cấy, đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc 
tái tạo) cũng được phân loại vào nhóm này ngay cả khi các bộ 
phận như vậy không chỉ ghép nối hoặc trang trí đơn giản, miễn là 
chúng không làm cho sản phẩm có thêm đặc tính khác. Trong 
trường hợp, các bộ phận đó tạo ra đặc tính cho sản phẩm thì sản 
phẩm đó được xếp vào Chương 71. 
4. - Theo mục đích của nhóm 42.03, không kể những đề cập khác, thuật 
ngữ “hàng may mặc và đồ phụ trợ quần áo” áp dụng đối với các loại 
găng tay, găng hở ngón và găng bao tay (kể cả các loại găng dùng 
trong thể thao và bảo hộ), tạp dề và các loại quần áo bảo hộ khác, 
thắt lưng, dây đeo quần, dây đeo súng và đai da cổ tay, nhưng trừ 
dây đeo đồng hồ (nhóm 91.13). 
TỔNG QUÁT  
Chương này chủ yếu bao gồm các mặt hàng bằng da thuộc hoặc da thuộc 
tổng hợp; tuy nhiên, các nhóm 42.01 và 42.02 cũng bao gồm một số mặt 
hàng có đặc tính của ngành da nhưng làm từ các chất liệu khác. Ngoài 

ra, Chương này bao gồm một số mặt hàng làm bằng ruột động vật, màng 
ruột già (dùng trong kĩ thuật dát vàng), bong bóng hoặc gân. 
Da thuộc 
Theo mục đích của Chương này, thuật ngữ "da thuộc" được định nghĩa 
tại Chú giải 1 của Chương này. Thuật ngữ “da thuộc” gồm cả da thuộc 
dầu (bao gồm cả da thuộc dầu kết hợp), da láng, da láng bằng màng 
mỏng được tạo trước và da nhũ kim loại, tức là, các sản phẩm được mô 
tả trong nhóm 41.14. 
Tuy nhiên, một số mặt hàng bằng da thuộc được phân loại trong các 
Chương khác và được đề cập đến trong Chú giải Chi tiết của các nhóm 
khác nhau dưới đây. 
42.01 - Yên cương và bộ yên cương dùng cho các loại động vật (kể cả 
dây kéo, dây dắt, miếng đệm đầu gối, đai hoặc rọ bịt mõm, 
vải lót yên, túi yên, áo chó và các loại tương tự), làm bằng vật 
liệu bất kỳ. 
Nhóm này bao gồm đồ dùng cho tất cả các loại động vật, bằng da thuộc, 
da thuộc tổng hợp, da lông, các mặt hàng dệt hoặc các chất liệu khác. 
Ngoài các loại khác, các mặt hàng này bao gồm yên cương và bộ yên 
cương (kể cả dây cương, dây và dây kéo) dùng cho yên ngựa, động vật 
kéo vật nặng, miếng đệm đầu gối, miếng da che mắt ngựa và giày cho 
ngựa, những đồ bên ngoài được trang trí dùng cho động vật xiếc, đai bịt 
mõm cho động vật, đai cổ, dây dắt chó và đồ bên ngoài cho chó hoặc 
mèo, vải lót yên, đệm lót yên và túi lót yên, chăn được tạo hình đặc biệt 
để dùng cho ngựa, áo ngoài cho chó. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các đồ gắn trang trí cho bộ đồ yên cương, như bàn đạp ở yên cương 
ngựa, hàm thiếc ngựa, yếm ngựa và khóa yên ngựa, được trình bày 
riêng (thường thuộc Phần XV) và các đồ trang trí như lông vũ dùng 
cho động vật xiếc (được phân loại trong các nhóm phù hợp của 
chúng). 

(b)  Bộ yên cương dùng cho trẻ em hoặc người lớn (các nhóm 39.26, 
(c)  Roi da, roi điều khiển súc vật hoặc các mặt hàng khác thuộc 
nhóm 66.02. 
42.02 - Hòm, vali, xắc đựng đồ nữ trang, cặp tài liệu, cặp sách, túi, 
cặp đeo vai cho học sinh, bao kính, bao ống nhòm, hộp 
camera, hộp nhạc cụ, bao súng, bao súng ngắn và các loại đồ 
chứa tương tự; túi du lịch, túi đựng đồ ăn hoặc đồ uống có 
phủ lớp cách, túi đựng đồ vệ sinh cá nhân, ba lô, túi xách tay, 
túi đi chợ, xắc cốt, ví, túi đựng bản đồ, hộp đựng thuốc lá 
điếu, hộp đựng thuốc lá sợi, túi đựng dụng cụ, túi thể thao, 
túi đựng chai rượu, hộp đựng đồ trang sức, hộp đựng phấn, 
hộp đựng dao kéo và các loại đồ chứa tương tự bằng da thuộc 
hoặc da thuộc tổng hợp, bằng tấm plastic, bằng vật liệu dệt, 
bằng sợi lưu hóa hoặc bằng bìa, hoặc được phủ toàn bộ hay 
chủ yếu bằng các vật liệu trên hoặc bằng giấy. 
- Hòm, vali, xắc đựng đồ nữ trang, cặp tài liệu, cặp sách, 
túi, cặp đeo vai cho học sinh và các loại đồ chứa tương 
tự: 
4202.11 - - Mặt ngoài bằng da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp 
4202.12 - - Mặt ngoài bằng plastic hoặc vật liệu dệt 
4202.19 - - Loại khác 
- Túi xách tay, có hoặc không có quai đeo vai, kể cả loại 
không có tay cầm: 
4202.21 - - Mặt ngoài bằng da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp 
4202.22 - - Mặt ngoài bằng plastic hoặc vật liệu dệt 
4202.29 - - Loại khác 
-  Các đồ vật thuộc loại thường mang theo trong túi hoặc 
trong túi xách tay: 

4202.31 - - Mặt ngoài bằng da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp 
4202.32 - - Mặt ngoài bằng tấm plastic hoặc vật liệu dệt 
4202.39 - - Loại khác 
- Loại khác: 
4202.91 - - Mặt ngoài bằng da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp 
4202.92 - - Mặt ngoài bằng plastic hoặc vật liệu dệt 
4202.99 - - Loại khác  
Nhóm này chỉ bao gồm các mặt hàng đã được nêu tên cụ thể trong đó và 
các loại đồ chứa tương tự. 
Các loại đồ chứa này có thể thuộc loại cứng hoặc có lớp nền cứng, hoặc 
mềm và không có lớp nền. 
Theo các Chú giải 2 và 3 của Chương này, các mặt hàng trong phần thứ 
nhất của nhóm có thể làm bằng bất kỳ vật liệu nào. Khái niệm "các loại 
đồ chứa tương tự" trong phần thứ nhất bao gồm các loại hộp có nắp, bao 
phụ kiện của camera, túi đựng lựu đạn, bao đựng dao đi săn bắn hoặc 
cắm trại, hộp hoặc thùng dụng cụ có thể xách được, đã được tạo hình đặc 
biệt hoặc làm phù hợp bên trong để chứa các dụng cụ đặc biệt có hoặc 
không có các phụ kiện của chúng... 
Tuy nhiên, các mặt hàng nằm trong phần thứ hai của nhóm này chỉ bằng 
những vật liệu được quy định rõ trong đó hoặc toàn bộ hoặc chủ yếu 
được bao phủ bằng những vật liệu như vậy hoặc bằng giấy (lớp nền có 
thể bằng gỗ, kim loại...). Khái niệm “da thuộc” gồm da thuộc dầu (kể cả 
da thuộc dầu kết hợp), da láng, da láng bằng màng mỏng được tạo trước 
và da nhũ kim loại (xem Chú giải 1 của Chương này). Khái niệm "các 
loại đồ chứa tương tự" trong phần thứ hai này bao gồm ví đựng tiền, hộp 
đựng giấy bút, hộp đựng bút, hộp vé, hộp đựng kim, hộp khoá, hộp đựng 
xì gà, hộp đựng tẩu, hộp dụng cụ và hộp đồ kim hoàn, hộp đựng giày, 
hộp đựng bàn chải... 

Các mặt hàng thuộc nhóm này có thể có các bộ phận bằng kim loại quý 
hoặc kim loại dát phủ kim loại quý, bằng ngọc trai tự nhiên hoặc ngọc 
trai nuôi, bằng các loại đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc 
được tái tạo), thậm chí nếu các bộ phận đó có thể cấu thành hơn mức là 
các đồ gắn nhỏ hoặc đồ trang trí nhỏ với điều kiện các bộ phận này 
không tạo cho mặt hàng đó những đặc tính cơ bản. Bởi vậy một chiếc túi 
xách tay bằng da thuộc với một khung bằng bạc và một chiếc cài bằng 
mã não vẫn thuộc nhóm này (xem Chú giải 3 (B) của Chương này). 
Khái niệm "túi thể thao" bao gồm các mặt hàng như túi đựng đồ chơi 
golf, túi đựng dụng cụ thể dục dụng cụ, túi đựng vợt tennis, túi đựng 
dụng cụ trượt tuyết và túi đựng cần câu cá. 
Khái niệm "hộp trang sức" không chỉ bao gồm các loại hộp được thiết kế 
đặc biệt dùng chứa đồ kim hoàn, mà còn bao gồm các đồ chứa đựng có 
nắp tương tự với kích cỡ đa dạng (có hoặc không có bản lề hoặc móc 
cài) được tạo hình đặc biệt hoặc được làm phù hợp để chứa một hoặc 
nhiều miếng kim hoàn và thường được lót bằng vật liệu dệt, loại mà để 
trưng bày và bán các mặt hàng kim hoàn và phù hợp cho việc sử dụng 
lâu dài. 
Khái niệm "túi đựng đồ ăn hoặc đồ uống có phủ lớp cách" bao gồm các 
túi chứa đựng có lớp cách có thể tái sử dụng nhằm duy trì nhiệt độ thức 
ăn và đồ uống trong quá trình vận chuyển hoặc bảo quản tạm thời. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Túi dùng để mua hàng, kể cả túi có hai lớp bên ngoài bằng plastics 
kẹp giữa lớp bên trong bằng plastic xốp, không được thiết kế để sử 
dụng lâu dài, như mô tả tại Chú giải 3 (A) (a) của Chương này 
(nhóm 39.23). 
(b) Các mặt hàng bằng vật liệu tết bện (nhóm 46.02) 
(c) Các mặt hàng, cho dù có đặc tính của vật chứa đựng, không giống 
với các mặt hàng đã được liệt kê trong nhóm này, ví dụ, bìa sách và 
bìa báo, bìa hồ sơ (file-covers), bìa tài liệu (document-jackets), tập 
giấy thấm, khung ảnh, hộp kẹo, lọ đựng thuốc lá sợi (tobacco jars), 
gạt tàn, bình thót cổ làm bằng gốm, thuỷ tinh... và toàn bộ hoặc chủ 

yếu bọc bằng da thuộc, tấm plastic... Những mặt hàng như vậy thuộc 
nhóm 42.05 nếu làm bằng (hoặc được bọc với) da thuộc hoặc da 
thuộc tổng hợp, và thuộc các Chương khác nếu làm bằng (hoặc 
được bọc với) các vật liệu khác. 
(d) Các mặt hàng bằng lưới (nhóm 56.08). 
(e) Đồ trang sức làm bằng chất liệu khác (nhóm 71.17). 
(f) Hộp hoặc thùng dụng cụ, chưa được định dạng đặc biệt hoặc phần 
bên trong chưa phù hợp để chứa dụng cụ đặc biệt có hoặc không có 
các phụ kiện của chúng (thường thuộc nhóm 39.26 hoặc 73.26). 
(g) Bao hoặc vỏ kiếm, lưỡi lê, dao găm hoặc vũ khí tương tự (nhóm 
(h) Các mặt hàng thuộc Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, trò chơi, dụng cụ, 
thiết bị thể thao). 
Các chú giải phân nhóm. 
Các phân nhóm 4202.11, 4202.21, 4202.31 và 4202.91 
Theo mục đích của các phân nhóm này, khái niệm "với mặt ngoài bằng 
da thuộc" gồm da thuộc được phủ một lớp mỏng bằng plastic hoặc cao 
su tổng hợp không nhìn được bằng mắt thường (thường có độ dày dưới 
0,15mm), để bảo vệ bề mặt da thuộc, không tính đến sự thay đổi về màu 
sắc hay độ bóng. 
Các  phân nhóm 4202.31, 4202.32 và 4202.39 
Các phân nhóm này bao gồm những mặt hàng thuộc loại thường được 
đóng trong bao hoặc trong túi và bao gồm hộp đựng kính, ví, bóp, bóp 
đựng khoá, hộp đựng thuốc lá điếu, hộp đựng xì gà, hộp đựng tẩu thuốc 
và túi đựng thuốc lá. 
42.03 - Hàng may mặc và đồ phụ trợ quần áo, bằng da thuộc hoặc 
bằng da tổng hợp (+). 
4203.10 - Hàng may mặc 

- Găng tay thường, găng tay hở ngón và găng tay bao: 
4203.21 - - Loại thiết kế đặc biệt dùng cho thể thao 
4203.29 - - Loại khác 
4203.30 - Thắt lưng và dây đeo súng 
4203.40 - Đồ phụ trợ quần áo khác  
Nhóm này bao gồm tất cả hàng may mặc và đồ phụ trợ quần áo (trừ các 
loại được quy định dưới đây), bằng da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp. 
Bởi vậy nó bao gồm áo ngoài, áo khoác, găng tay thường, găng tay hở 
ngón và găng tay bao (kể cả cả găng tay thể thao hoặc bảo hộ), tạp dề, 
tay áo và các loại quần áo bảo hộ khác, dây đeo quần, thắt lưng, dây đeo 
súng, vòng đai, cà vạt và dây đai tay. 
Nhóm này cũng bao gồm các dải da thuộc bằng cách cắt, được vuốt thon 
ở phần cuối cùng, và có thể nhận biết được khi định dùng làm thắt lưng. 
Găng tay thường, găng tay hở ngón và găng tay bao làm bằng cả da 
thuộc và da lông hoặc bằng cả da thuộc và lông nhân tạo đều được phân 
loại vào nhóm này. 
Ngoại trừ trường hợp của găng tay thường, găng tay hở ngón và găng tay 
bao, các mặt hàng may mặc và đồ phụ trợ quần áo bằng da thuộc hoặc bằng 
da tổng hợp mà chúng được lót bằng da lông hoặc lông nhân tạo, hoặc da 
lông hoặc lông nhân tạo được gắn lên mặt ngoài trừ khi chúng đóng vai trò 
là đồ trang trí đơn thuần, thuộc nhóm 43.03 hoặc 43.04. 
Những hàng hoá vẫn được phân loại trong nhóm này dù chúng chứa 
hoặc không chứa các bộ phận làm nóng bằng điện. 
Những hàng hoá thuộc nhóm này có thể có các bộ phận bằng kim loại 
quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý, bằng ngọc trai tự nhiên hoặc 
ngọc trai nuôi cấy, bằng đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp 
hoặc tái tạo), thậm chí nếu các bộ phận đó có thể cấu thành hơn mức là 
các đồ gắn nhỏ hoặc đồ trang trí nhỏ với điều kiện các bộ phận này 
không tạo cho mặt hàng đó những đặc tính cơ bản. Bởi vậy, thắt lưng 
bằng da thuộc với một chiếc khoá bằng vàng vẫn thuộc nhóm này (xem 
Chú giải 3 (B) của Chương này). 

Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Những mặt hàng may mặc và đồ phụ trợ quần áo bằng da đã được 
thuộc còn lông, cụ thể là da cừu hoặc cừu non (Chương 43). 
(b) Quần áo bằng vật liệu dệt được gia cố bằng da thuộc (Chương 61 
hoặc 62). 
(c) Các mặt hàng thuộc Chương 64 (ví dụ, giày dép và các bộ phận của 
giày dép). 
(d) Đồ đội đầu hoặc các bộ phận của nó, thuộc Chương 65. 
(e) Khuy măng sét, vòng đeo tay hoặc các đồ trang sức bằng các vật liệu 
khác (nhóm 71.17). 
(f) Dây đeo đồng hồ (nhóm 91.13). 
(g) Các mặt hàng thuộc Chương 95 (ví dụ, các dụng cụ, thiết bị thể thao 
như bộ phận bảo vệ ống chân trong cricket, hockey... hoặc các thiết 
bị bảo hộ cho thể thao, ví dụ, mặt nạ đấu kiếm và tấm che ngực). 
(Tuy nhiên, quần áo thể thao và găng tay thường, găng tay hở ngón 
và găng tay bao thể thao bằng da thuộc, đều được phân loại trong 
nhóm này). 
(h) Khuy, khuy bấm, khoá bấm và khuy tán bấm, lõi khuy và các bộ 
phận khác của các mặt hàng này, khuy chưa hoàn chỉnh (nhóm 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 4203.21 
Khái niệm "găng tay thường, găng hở ngón và găng tay bao, được thiết 
kế đặc biệt dùng cho thể thao" bao gồm găng tay thường, găng hở ngón 
và găng tay bao, được bán riêng lẻ hoặc ở dạng cặp, có thiết kế đặc biệt 
phù hợp dùng trong thể thao (ví dụ, găng tay hockey trên băng mà bảo 
vệ tay và giúp cho việc cầm chặt cây gậy, và găng tay đấm bốc). 

42.05 - Sản phẩm khác bằng da thuộc hoặc da tổng hợp. 
Nhóm này bao gồm các mặt hàng bằng da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp 
mà không nằm trong các nhóm trước của Chương này hoặc trong các 
Chương khác của Danh mục. 
Nhóm này bao gồm các mặt hàng sau đây loại được sử dụng trong máy 
móc hoặc thiết bị cơ khí hoặc cho mục đích kỹ thuật khác: 
(1) Đai truyền và đai tải dùng cho bất cứ bộ phận nào của máy (kể cả 
dây đai tết bện), được làm thành dây đai hoàn chỉnh hoặc theo chiều 
dài. Dây đai dẹt bằng da thuộc được cấu tạo bởi những dải da thuộc 
đã được lựa chọn, được ghép và gắn kết các đầu với nhau. Nhìn 
chung dây đai tròn được cấu thành bởi những dải, được cuộn và gắn 
kết để tạo ra một đoạn tròn. Gàu chuyển tải cũng thuộc nhóm này. 
Đai truyền hoặc đai tải đi kèm với máy móc hoặc thiết bị mà chúng 
được thiết kế cho, đã hoặc chưa được lắp ráp với nhau, được phân 
loại với máy hoặc thiết bị đó (ví dụ, Phần XVI). 
(2) Đai treo, miếng đệm, lược chải bằng da thuộc dùng cho máy cuộn 
bông, vải nền kim chải bằng da thuộc (vải nền kim chải có gắn kim 
thuộc nhóm 84.48), dây đai go và các mặt hàng bằng da thuộc khác 
dùng cho máy dệt vải; bánh, vòng bịt, vòng đệm, van bằng da thuộc, 
da thuộc bọc phần bơm hoặc nén, ống ngoài của xi lanh dùng cho 
máy in, và da thuộc đã được đục lỗ dùng cho máy phân loại; búa có 
đầu bằng da sống; màng đo khí và các bộ phận bằng da thuộc khác 
của thiết bị hoặc dụng cụ cơ khí thuộc Chương 90; ống và hệ thống 
ống vòi bằng da thuộc. 
Nhóm này cũng bao gồm các mặt hàng sau: 
Nhãn mác của hành lý; dây liếc dao cạo râu; dây buộc ủng; đồ xách tay 
dùng cho bưu kiện; vật chèn góc (dùng cho hòm, va li...); vỏ nệm chưa 
nhồi (đệm đã nhồi được phân loại trong nhóm 94.04); dây đai có công 
dụng chung (trừ loại thuộc nhóm 42.01); bộ yên cương cho trẻ em hoặc 
người lớn; viền bằng da thuộc theo chiều dọc; thảm bằng da thuộc (trừ 
tấm phủ yên ngựa được phân loại trong nhóm 42.01); tấm bọc sách; tập 
giấy thấm; chai nước bằng da thuộc hoặc da dê và các vật chứa đựng 

khác (kể cả những mặt hàng mà toàn bộ hoặc chủ yếu được bọc bằng da 
thuộc hoặc da thuộc tổng hợp) không giống các mặt hàng được chi tiết 
trong nhóm 42.02; bộ phận dây đeo quần; khoá dây thắt lưng, các loại 
móc bọc bằng da thuộc và những thứ tương tự; hòm, quả tua và những 
vật tương tự cho ô dù, dù che nắng hoặc gậy đi bộ; dây đeo kiếm; da 
thuộc đã được xử lý bề mặt bằng dầu với mép có răng cưa hoặc được ráp 
lại (tuy nhiên, da thuộc đã xử lý bề mặt bằng dầu không bị cắt thành hình 
dạng đặc biệt hoặc với mép có răng cưa, ví dụ, cho việc sử dụng như vật 
lau bụi, được phân loại vào nhóm 41.14); dụng cụ đánh bóng móng tay 
được bọc với da hoẵng; các miếng được cắt thành hình dạng cho các mặt 
hàng bằng da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp (ví dụ, hàng may mặc), chưa 
được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Các bộ phận của giày, dép thuộc Chương 64. 
(b) Roi da, roi ngựa hoặc các mặt hàng khác thuộc nhóm 66.02. 
(c) Hoa, lá hoặc quả nhân tạo hoặc các phần của chúng (nhóm 67.02). 
(d) Khuy măng sét, vòng tay hoặc đồ trang sức bằng các vật liệu khác 
(nhóm 71.17). 
(e) Các mặt hàng thuộc Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, các bộ phận của 
đồ nội thất, đèn (luminaires) và bộ đèn). 
(f) Các mặt hàng thuộc Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi, các 
dụng cụ, thiết bị thể thao). 
(g) Khuy, khuy bấm,... thuộc nhóm 96.06. 
42.06- Sản phẩm làm bằng ruột động vật (trừ ruột con tằm), bằng 
màng ruột già (dùng trong kỹ thuật dát vàng), bằng bong 
bóng hoặc bằng gân. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Chỉ catgut, được sản xuất bằng cách xoắn các dải ruột đã làm sạch và 
khô, đặc biệt là ruột cừu. Chỉ catgut được sử dụng chủ yếu trong 

việc sản xuất các loại vợt, dây câu cá và các bộ phận máy móc. 
Tuy nhiên, nhóm này loại trừ chỉ khâu phẫu thuật đã tiệt trùng hoặc 
các vật liệu khâu tiệt trùng tương tự (nhóm 30.06) hoặc ruột được 
làm thành dây đàn trong dụng cụ âm nhạc (nhóm 92.09). 
(2) Màng ruột già (dùng trong kỹ thuật dát vàng) ở dạng miếng hình chữ 
nhật (kể cả hình vuông) hoặc cắt thành dạng hình khác, và các mặt 
hàng khác bằng màng ruột già. (Màng ruột già là ruột tịt đã được 
chế biến của cừu hoặc các động vật nhai lại khác).  
(3) Các mặt hàng làm từ bong bóng, như bao thuốc lá dạng sợi; gân làm 
thành dây đai của máy móc, dải buộc cho dây đai của máy... Ruột động 
vật "nhân tạo" được làm bằng cách gắn các khúc ruột tự nhiên với nhau 
cũng thuộc nhóm này 

 Chương 43 
Da lông và da lông nhân tạo;  
các sản phẩm làm từ da lông và da lông nhân tạo 
Chú giải. 
1.- Trong toàn bộ Danh mục những nội dung liên quan đến “da lông”, 
trừ da lông sống thuộc nhóm 43.01, áp dụng cho da sống còn lông 
của các loài động vật, đã thuộc hoặc chuội. 
2.- Chương này không bao gồm: 
(a)  Da chim hoặc các phần của da chim, có lông vũ hoặc lông tơ 
(nhóm 05.05 hay 67.01); 
(b)  Da sống, còn lông, thuộc Chương 41 (xem Chú giải 1(c) Chương 
đó); 
(c)  Găng tay, găng hở ngón và găng tay bao, bằng da thuộc và da 
lông hoặc bằng da thuộc và da lông nhân tạo (nhóm 42.03); 
(d)  Các vật phẩm thuộc Chương 64; 
(e)   Mũ và các vật đội đầu khác hoặc các bộ phận của chúng thuộc 
Chương 65; hoặc 
(f)   Các mặt hàng thuộc Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi, 
dụng cụ, thiết bị thể thao). 
3.- Nhóm 43.03 kể cả da lông và các phần da lông, được ghép cùng với 
vật liệu khác, và da lông và các phần da lông, được may lại với nhau 
tạo thành quần áo hoặc các chi tiết hoặc phụ trợ quần áo hoặc dưới 
dạng sản phẩm khác. 
4.- Hàng may mặc và phụ trợ quần áo (trừ các sản phẩm mà phần Chú giải 
2 đã loại trừ) được lót bằng da lông hoặc da lông nhân tạo hoặc ở mặt 
ngoài được đính da lông hoặc da lông nhân tạo trừ đồ trang trí thuần túy 
được xếp vào nhóm 43.03 hay 43.04 tùy theo từng trường hợp. 
5.- Trong toàn bộ Danh mục cụm từ “da lông nhân tạo” là loại giả da 
lông gồm lông cừu, lông động vật hay các loại sợi khác được gắn 
hoặc may lên da thuộc, lên vải dệt hoặc lên các loại vật liệu khác, 
nhưng không bao gồm giả da lông làm bằng cách dệt thoi hay dệt 
kim (thông thường, thuộc nhóm 58.01 hay 60.01). 

TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm: 
(1) Da lông trừ da sống thuộc nhóm 41.01, 41.02 hoặc 41.03.  
(2) Da đã thuộc hoặc chuội còn lông, đã hoặc chưa ghép nối. 
(3) Hàng may mặc, đồ phụ trợ quần áo và các mặt hàng khác bằng da 
lông (tuân theo những loại trừ được chỉ rõ trong Chú giải chi tiết 
nhóm 43.03). 
(4) Da lông nhân tạo và các vật phẩm của nó. 
Cần chú ý rằng da chim, gia cầm và các phần da chim, gia cầm, có lông 
vũ hoặc lông tơ, không được coi như da lông; chúng thuộc nhóm 05.05 
hoặc 67.01. 
Cần chú ý rằng các nhóm 43.01 đến 43.03 bao gồm da lông và các sản 
phẩm bằng da lông của một số loài động vật hoang dã mà hiện nay bị đe 
dọa bởi nạn diệt chủng hoặc có thể sẽ bị như vậy trừ khi việc mua bán 
các mẫu vật của các loài như vậy được quy định nghiêm ngặt. Những 
loài như vậy được liệt kê trong bảng Phụ lục của Công ước 1973 về 
Thương mại quốc tế đối với các giống, loài có nguy cơ tuyệt chủng 
thuộc hệ động vật và thực vật hoang dã (Công ước Washington). 
43.01 - Da lông sống (kể cả đầu, đuôi, bàn chân và các mẩu hoặc các 
mảnh cắt khác, thích hợp cho việc thuộc da lông), trừ da sống 
trong nhóm 41.01, 41.02 hoặc 41.03.  
4301.10 - Của loài chồn vizôn, da nguyên con, có hoặc không có 
đầu, đuôi hoặc bàn chân 
4301.30 - Của các giống cừu như: Astrakhan, Broadtail, Caracul, 
Ba Tư và các giống cừu tương tự, cừu Ấn Độ, Trung 
Quốc, Mông Cổ hoặc Tây Tạng, da nguyên con, có 
hoặc không có đầu, đuôi hoặc bàn chân 
4301.60 - Của loài cáo, da nguyên con, có hoặc không có đầu, 

đuôi hoặc bàn chân 
4301.80 - Của loài động vật khác, da nguyên con, có hoặc không 
có đầu, đuôi hoặc bàn chân 
4301.90 - Đầu, đuôi, bàn chân và các mẩu hoặc mảnh cắt khác, 
thích hợp cho việc thuộc da lông 
Nhóm này bao gồm da sống (tức là, chưa thuộc hoặc chuội) còn lông, 
của tất cả động vật trừ những loại dưới đây, thuộc nhóm 41.01, 41.02 
hoặc 41.03: 
(a) Động vật họ trâu bò (kể cả trâu) (tức là, động vật thuộc nhóm 01.02, 
xem Chú giải chi tiết của nhóm đó). 
(b) Động vật họ ngựa (ngựa, la, lừa, ngựa vằn...). 
(c) Cừu và cừu non (trừ cừu non Astrakhan, Broadtail, Caracul, Ba Tư 
hoặc các loại cừu non tương tự, và cừu non Ấn Độ, Trung Quốc, 
Mông Cổ hoặc Tây Tạng). 
Những cái tên Astrakhan, Broadtail, Caracul và Ba Tư được dùng 
linh động cho các loại cừu non tương tự. Tuy nhiên, các thuật ngữ 
này, khi được sử dụng trong mối liên hệ với lông, biểu thị chất 
lượng khác nhau của lông, phụ thuộc, ví dụ, tuổi của cừu non. 
(d) Dê và dê non (trừ dê và dê non Yemen, Mông Cổ hoặc Tây Tạng). 
(e) Lợn, gồm cả lợn lòi Pecari. 
(f) Sơn dương, linh dương gazen và lạc đà (kể cả lạc đà một bướu). 
(g) Nai sừng tấm, tuần lộc, hoẵng đực và các loại hươu nai khác. 
(h) Chó. 
Da lông được coi như là loại thô và thuộc nhóm này không chỉ khi ở 
trạng thái tự nhiên, mà còn khi ở dạng được làm sạch và được bảo quản 
tránh trạng thái hư hỏng, ví dụ, bằng cách làm khô hoặc ngâm muối (ướt 
hoặc khô). Lông này có thể được "kéo" hoặc "xén", tức là, lông dạng thô 
được nhổ ra hoặc cắt đi, hoặc bề mặt da có thể được “lọc thịt” hoặc cạo. 
Những miếng da lông và các phần như đầu, đuôi và chân, ở dạng thô, 
cũng được phân loại trong nhóm này trừ khi vật liệu ở dạng phế liệu rõ 

ràng không phù hợp cho nhu cầu sử dụng của người buôn bán da hoặc 
người thuộc da, trong trường hợp này chúng bị loại trừ (nhóm 05.11). 
43.02 - Da lông đã thuộc hoặc chuội (kể cả đầu, đuôi, bàn chân và 
các mẩu hoặc các mảnh cắt khác), đã hoặc chưa ghép nối 
(không có thêm các vật liệu phụ trợ khác) trừ loại thuộc 
nhóm 43.03. 
- Loại da nguyên con, có hoặc không có đầu, đuôi hoặc 
bàn chân, chưa ghép nối:  
4302.11 - - Của loài chồn vizon 
4302.19 - - Loại khác 
4302.20 - Đầu, đuôi, bàn chân và các mẩu hoặc các mảnh cắt, 
chưa ghép nối 
4302.30 - Loại da nguyên con và các mẩu hoặc các mảnh cắt của 
chúng, đã ghép nối 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Da chưa được ghép nối (kể cả đầu, đuôi, chân và các miếng khác 
hoặc những miếng cắt) đã thuộc hoặc chuội còn lông với điều kiện 
là chúng không bị cắt thành hình dạng cho mục đích sử dụng đặc 
biệt. Da lông nguyên con đã thuộc hoặc chuội, chưa được ghép nối 
và không bị cắt thành hình dạng hoặc được chế biến cách khác cho 
mục đích sử dụng đặc biệt, vẫn thuộc nhóm này, thậm chí nếu chúng 
có thể được đưa vào sử dụng ngay lập tức (ví dụ, thảm). 
(2) Các vật phẩm ghép nối bằng da lông đã thuộc hoặc chuội hoặc các 
phần của nó (kể cả da "dropped"), được khâu với nhau mà không 
cần thêm vào các vật liệu khác thường ở dạng hình chữ nhật (kể cả 
hình vuông), hình thang hoặc hình chữ thập.  
"Dropped furskins" (da lông “dropped”) là loại da lông đã được cắt 
thành những dải có dạng hình chữ V hoặc W, và được ghép nối lại 
theo trật tự ban đầu của chúng để thu được loại da lông dài hơn 
nhưng hẹp hơn. 

Việc thuộc bao gồm việc xử lý mặt có thịt bằng các phương pháp tương 
tự các phương pháp được sử dụng trong sản xuất da thuộc (xem Chú giải 
Tổng quát Chương 41). Da đã được xử lý như vậy thường có thể phân 
biệt được với da dạng thô bởi tính dễ uốn dẻo và mềm của nó. Lông 
cũng có thể được xử lý để tăng thẩm mỹ cho hình thức bên ngoài hoặc 
để làm giả lông loại mịn hơn bởi các quá trình như tẩy trắng, pha trộn 
hoặc "topping" (việc nhuộm bề mặt bằng cách dùng bàn chải), nhuộm, 
chải, trang trí và làm bóng, kể cả việc xử lý với nhựa nhân tạo. 
Cần chú ý rằng da còn lông các loại, bị loại trừ khỏi nhóm 43.01 (như 
da ngựa loại nhỏ, da bê và da cừu), thuộc nhóm này nếu đã thuộc hoặc 
chuội. 
Các vật phẩm ghép nối bằng da lông đã thuộc hoặc chuội hoặc các 
phần của chúng thuộc nhóm này là các bán thành phẩm bao gồm hai 
hoặc nhiều loại da hoặc các miếng da đã được khâu với nhau, thường ở 
dạng hình chữ nhật (kể cả hình vuông), hình thang hoặc hình chữ thập 
không cần thêm các vật liệu khác. Các bán thành phẩm này sẽ được gia 
công thêm. 
Những dạng như vậy được biết như: 
(1) Các loại vật phẩm ghép nối ở dạng tấm, tấm lót và dải - hình chữ 
nhật (kể cả hình vuông). 
(2) Các loại vật phẩm ghép nối có hình dạng chữ thập. 
(3) Các vật phẩm bao (lớp lót hoặc phần phủ ngoài)- ở dạng hình 
thang, đôi khi được khâu thành dạng hình ống. 
Những phần thân dùng để làm áo khoác hoặc áo jacket lông cũng thuộc 
nhóm này. Chúng thường bao gồm ba bộ phận ráp nối riêng rẽ bằng da 
lông, một trong ba bộ phận có dạng hình thang cân với một nền cong dài 
(thân sau sẽ được cắt từ chúng) và hai bộ phận còn lại có dạng hình chữ 
nhật (thân trước và ống tay sẽ được cắt từ chúng). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Da lông và các vật phẩm ghép nối bằng da lông (kể cả đầu, bàn chân, 
đuôi và các mẩu vụn hoặc các miếng cắt khác) ở dạng thô của quần 
áo hoặc các bộ phận hoặc các đồ phụ trợ hoặc của các mặt hàng 
khác, và đồ trang trí đã hoàn thiện để sử dụng ngay hoặc chỉ được 

cắt theo chiều dài để làm đồ trang trí (nhóm 43.03). 
(b) Các vật phẩm ghép nối (ví dụ, dải trang trí (galloonage)) bao gồm da 
lông và các chất liệu khác (ví dụ, đuôi kết hợp với da thuộc hoặc vải 
dệt) (nhóm 43.03). 
43.03 - Hàng may mặc, đồ phụ trợ quần áo và các vật phẩm khác 
bằng da lông. 
4303.10 - Hàng may mặc và đồ phụ trợ quần áo 
4303.90 - Loại khác 
Ngoại trừ những loại được đề cập bên dưới, nhóm này bao gồm tất cả 
các mặt hàng may mặc, kể cả bộ phận và đồ phụ trợ quần áo (bao tay, 
khăn choàng, cavat, cổ áo...) làm bằng: 
(A) Da lông. 
(B) Chất liệu khác được lót bằng da lông. 
(C) Chất liệu khác có da lông ở mặt ngoài (trừ những đồ trang trí đơn 
thuần). 
Lông trong may mặc sẽ được coi như đồ trang trí đơn thuần nếu cấu 
thành, ví dụ, cổ áo và ve áo (với điều kiện là cổ áo và ve áo không được 
làm quá lên tới mức gần giống áo choàng không tay hoặc áo khoác ngắn 
của phụ nữ), cổ tay áo hoặc đường viền túi, váy ngắn, áo khoác... 
Nhóm này cũng bao gồm da đã thuộc hoặc chuội còn lông, được ráp nối 
bằng cách thêm chất liệu khác (ví dụ, dải trang trí (galloonage)) với điều 
kiện là việc thêm vào những chất liệu này không làm thay đổi đặc tính 
cơ bản như là da lông của bộ phận ráp nối đó. 
Thêm vào đó, nhóm này bao gồm tất cả các mặt hàng khác, kể cả các bộ 
phận, làm bằng da lông, hoặc trong đó da lông đã tạo ra đặc tính cơ bản. 
Các ví dụ là thảm, khăn phủ giường, ghế đệm chưa nhồi, thùng, túi sách tay, 
túi trò chơi và túi dết, và các mặt hàng và phụ kiện sử dụng trong máy móc 
hoặc thiết bị cơ khí hoặc sử dụng cho mục đích công nghiệp (ví dụ, đầu 
đánh bóng, bọc ngoài cho con lăn được sử dụng cho sơn hoặc trang trí). 

Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các mặt hàng thuộc phần đầu của nhóm 42.02. 
(b) Găng tay thường, găng tay hở ngón và găng tay bao, bằng da thuộc và da 
lông (nhóm 42.03) (găng tay toàn bộ bằng da lông vẫn thuộc nhóm này). 
(c) Các mặt hàng thuộc Chương 64. 
(d) Đồ đội đầu và các phần của nó thuộc Chương 65. 
(e) Các mặt hàng thuộc Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi và 
các dụng cụ, thiết bị thể thao). 
43.04 - Da lông nhân tạo và các sản phẩm làm bằng da lông nhân tạo. 
Khái niệm "da lông nhân tạo" có nghĩa là một vật liệu bao gồm lông 
hoặc sợi khác (kể cả sợi ở dạng sợi dây viền) được gắn hoặc may lên da 
thuộc, vải dệt thoi hoặc vật liệu khác theo cách làm giả da lông; tuy 
nhiên, khái niệm này không bao gồm vải nhung dài dệt thoi hoặc dệt 
kim đôi khi được gọi là "vải lông" (thường thuộc nhóm 58.01 hoặc 
60.01), hay lông "điểm"(“pointed”), tức là, các loại lông thật mà các sợi 
lông khác được thêm vào. 
Nhóm này áp dụng đối với vật liệu như vậy ở dạng miếng và đối với các 
mặt hàng (kể cả hàng may mặc và các phụ kiện quần áo) làm từ vật liệu đó, 
tuân theo cùng một chất lượng như đã được đề cập tới trong Chú giải chi 
tiết nhóm 43.03 liên quan đến những mặt hàng tương tự bằng da lông thật. 
Nhóm này cũng áp dụng đối với đuôi nhân tạo được làm bằng cách gắn 
các sợi bằng lông hoặc sợi tóc trên một cái lõi bằng da thuộc hoặc dây 
thừng nhỏ. Tuy nhiên, đuôi làm giả bao gồm một số đuôi thật hoặc mảnh 
vụn của lông lắp trên một cái lõi thì bị loại trừ (nhóm 43.03). 

Phần IX 
GỖ VÀ CÁC MẶT HÀNG BẰNG GỖ; THAN TỪ GỖ; LIE VÀ 
CÁC SẢN PHẨM BẰNG LIE; CÁC SẢN PHẨM TỪ RƠM, CỎ 
GIẤY HOẶC CÁC VẬT LIỆU TẾT BỆN KHÁC; CÁC SẢN 
PHẨM BẰNG LIỄU GAI VÀ SONG MÂY 
Chương 44 
Gỗ và các mặt hàng bằng gỗ; than từ gỗ 
Chú giải. 
1.- Chương này không bao gồm: 
(a) Gỗ, dưới dạng mảnh, mẩu vụn, vỏ bào, được nghiền hoặc tán 
nhỏ thành bột, dùng chủ yếu trong công nghệ làm nước hoa, 
dược phẩm, hoặc thuốc diệt côn trùng, diệt nấm hoặc các mục 
đích tương tự (nhóm 12.11);  
(b) Tre hoặc các vật liệu khác có tính chất như gỗ loại chủ yếu dùng 
để tết bện, dạng thô, đã hoặc chưa chẻ, xẻ theo chiều dài hoặc 
cắt thành từng đoạn (nhóm 14.01); 
(c) Gỗ, dưới dạng mảnh, mẩu vụn, vỏ bào, đã được nghiền hoặc tán 
nhỏ thành bột, dùng chủ yếu cho công nghệ nhuộm hoặc thuộc 
da (nhóm 14.04); 
(d) Than hoạt tính (nhóm 38.02); 
(e) Các sản phẩm thuộc nhóm 42.02; 
(f) Các mặt hàng thuộc Chương 46; 
(g) Giầy dép hoặc các bộ phận của chúng thuộc Chương 64; 
(h) Các mặt hàng thuộc Chương 66 (ví dụ, ô dù và batoong và các 
bộ phận của chúng); 
(ij) Các mặt hàng thuộc nhóm 68.08; 

(k) Đồ trang sức làm bằng chất liệu khác thuộc nhóm 71.17; 
(l) Các mặt hàng thuộc Phần XVI hoặc Phần XVII (ví dụ, các bộ 
phận của máy móc, hòm, vỏ, hộp dùng cho máy móc và thiết bị 
và đồ dùng của thợ đóng xe); 
(m) Các mặt hàng thuộc Phần XVIII (ví dụ, vỏ đồng hồ thời gian và 
nhạc cụ và các bộ phận của chúng); 
(n) Các bộ phận của súng (nhóm 93.05); 
(o) Các mặt hàng thuộc Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, đèn 
(luminaires) và bộ đèn, nhà lắp ghép); 
(p) Các mặt hàng thuộc Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi, 
dụng cụ thể thao); 
(q) Các mặt hàng thuộc Chương 96 (ví dụ, tẩu hút thuốc và bộ phận 
của chúng, khuy, bút chì, và chân đế loại một chân (monopod), 
hai chân (bipod), ba chân (tripod) và các sản phẩm tương tự) trừ 
thân và tay cầm, bằng gỗ, dùng cho các sản phẩm thuộc nhóm 
96.03; hoặc  
(r) Các mặt hàng thuộc Chương 97 (ví dụ, các tác phẩm nghệ thuật). 
2.- Trong Chương này, khái niệm "gỗ đã được làm tăng độ rắn" chỉ loại 
gỗ đã qua xử lý về mặt hoá học hoặc lý học (trong trường hợp loại 
gỗ này, được cấu tạo bằng các lớp được liên kết với nhau, việc xử lý 
thêm chỉ để đảm bảo sự liên kết tốt giữa các lớp), và do đó đã tăng 
tỷ trọng (mật độ) hoặc độ cứng cũng như tăng sức bền cơ học hoặc 
độ bền khi có tác động hoá học hoặc điện. 
3.- Các nhóm từ 44.14 đến 44.21 áp dụng đối với các sản phẩm có mô tả 
tương ứng từ các loại ván dăm hoặc ván tương tự, ván sợi ép, ván 
ghép hoặc gỗ đã được làm tăng độ rắn, áp dụng tương tự đối với các 
sản phẩm này từ gỗ. 
4. Các mặt hàng thuộc nhóm 44.10, 44.11 hoặc 44.12 có thể được gia 
công tạo hình như đã đưa ra trong nhóm 44.09, đã được uốn cong, 
làm sóng, đục lỗ, được cắt hoặc tạo dáng thành các hình dạng khác 
nhau trừ hình chữ nhật hoặc hình vuông hoặc trải qua bất kỳ thao tác 
nào khác với điều kiện là không tạo cho chúng những đặc trưng của 

các mặt hàng thuộc các nhóm khác. 
5. Nhóm 44.17 không áp dụng đối với các dụng cụ có lưỡi, gờ, bề mặt 
hoặc bộ phận làm việc khác được tạo ra từ vật liệu bất kỳ được chi 
tiết ở Chú giải 1 của Chương 82. 
6. Theo Chú giải 1 ở trên và trừ khi có yêu cầu khác, khái niệm "gỗ" 
trong một nhóm của Chương này cũng áp dụng đối với các loại tre và 
các vật liệu khác có tính chất gỗ. 
  Chú giải phân nhóm. 
1. Theo mục đích của phân nhóm 4401.31, thuật ngữ "viên gỗ" có 
nghĩa là các sản phẩm phụ như vỏ bào, mùn cưa, của công nghiệp 
chế biến gỗ cơ học, công nghiệp làm đồ nội thất hoặc các quá trình 
chế biến gỗ khác, đã được đóng thành khối bằng cách ép trực tiếp 
hoặc thêm chất kết dính với hàm lượng không quá 3% tính theo 
trọng lượng. Những viên gỗ như vậy có hình trụ, với đường kính 
không vượt quá 25 mm và chiều dài không quá 100 mm. 
2. Theo mục đích của phân nhóm 4401.32, thuật ngữ “gỗ đóng bánh” 
(wood briquettes) có nghĩa là các sản phẩm phụ như vỏ bào, mùn 
cưa (cutter shavings, sawdust hoặc chips) của công nghiệp chế biến 
gỗ cơ học, sản xuất đồ nội thất hoặc các quá trình chế biến gỗ khác, 
đã được đóng thành khối bằng cách ép trực tiếp hoặc thêm chất kết 
dính với hàm lượng không quá 3% tính theo khối lượng. Những 
bánh gỗ này (wood briquettes) có dạng khối lập phương, khối đa 
diện hoặc hình trụ với kích thước mặt cắt ngang tối thiểu lớn hơn 25 
3.  Theo mục đích của phân nhóm 4407.13, “S-P-F” dùng để chỉ gỗ có 
nguồn gốc hỗn hợp từ vân sam, thông và linh sam, trong đó tỷ lệ của 
mỗi loài khác nhau và chưa được xác định. 
4.  Theo mục đích của phân nhóm 4407.14, “Hem-fir” dùng để chỉ gỗ 
có nguồn gốc từ  hỗn hợp của  Western hemlock và linh sam (fir), 
nơi tỷ lệ của mỗi loài khác nhau và chưa được xác định. 

TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm gỗ chưa chế biến, các bán thành phẩm từ gỗ và các 
mặt hàng bằng gỗ nói chung. 
Các sản phẩm này có thể được nhóm lại nói chung như sau: 
(1) Gỗ cây dạng thô (như đã đốn, chẻ, đẽo vuông thô, đã bóc vỏ...) và gỗ 
nhiên liệu, phế liệu và mẩu thừa gỗ, mùn cưa, vỏ tiện hoặc vỏ bào; 
gỗ đai thùng, sào, cọc, trụ chống...; gỗ than củi; sợi gỗ và bột gỗ; tà 
vẹt đường sắt hoặc đường xe điện (nói chung trong các nhóm từ 
44.01 đến 44.06). Tuy nhiên, Chương này loại trừ các loại gỗ, dưới 
dạng mảnh vụn, dạng vỏ bào, được nghiền hoặc tán nhỏ thành bột, 
loại dùng chủ yếu trong công nghệ làm nước hoa, dược phẩm hay 
thuốc trừ côn trùng, trừ nấm hay các mục đích tương tự (nhóm 
12.11) và gỗ dưới dạng bào, tiện, nghiền hoặc tán thành bột, loại 
dùng chủ yếu trong công nghệ nhuộm hay thuộc (nhóm 14.04). 
(2) Gỗ đã được cưa, bào, lạng, tách lớp, chà nhám, nối đầu, ví dụ, ghép 
mộng (tức là, được nối bằng quá trình mà các mẩu gỗ ngắn hơn 
được dán keo với nhau, với các đầu nối tương tự như các ngón tay 
đan vào nhau để làm cho gỗ có chiều dài lớn hơn) và gỗ được tạo 
hình liên tục (từ nhóm 44.07 đến 44.09). 
(3) Ván dăm và các loại ván tương tự, ván sợi, gỗ ghép và gỗ đã được 
làm tăng độ rắn (các nhóm 44.10 đến 44.13). 
(4) Các mặt hàng bằng gỗ (trừ một số loại đã được nêu tại Chú giải 1 
Chương này, nó cùng với các mặt hàng khác còn được đề cập đến 
trong các Chú giải chi tiết cho từng nhóm riêng ở dưới) (các nhóm 
44.14 đến 44.21).  
Theo nguyên tắc chung, các panel xây dựng được tạo bởi các lớp gỗ và 
các lớp plastic cũng được phân loại vào Chương này. Việc phân loại các 
panel này phụ thuộc vào bề mặt ngoài hoặc các bề mặt mà thường tạo 
cho panel những đặc trưng cơ bản theo công dụng dự kiến của chúng. 
Do đó, ví dụ, một panel xây dựng, dùng làm mái nhà, tường hay sàn và 
gồm một lớp mặt ngoài là ván dăm và một lớp lớp cách bằng plastic sẽ 
được phân loại vào nhóm 44.10, bất kể độ dày của lớp plastic đó, bởi vì 

đó là phần gỗ rắn, chắc cho phép panel được sử dụng như yếu tố cấu trúc 
và phần plastic có chức năng cách (insulating) là phụ. Mặt khác, tấm 
panel có phần gỗ bồi chỉ đóng vai trò bổ trợ cho mặt ngoài của plastic 
thì, trong hầu hết các trường hợp, được phân loại vào Chương 39. 
Các mặt hàng gỗ chưa lắp ráp hay bị tháo rời được phân loại với các mặt 
hàng hoàn chỉnh tương ứng, với điều kiện là các phần đó đi cùng nhau. 
Tương tự, các phụ kiện hoặc các phần bằng thuỷ tinh, đá hoa (marble), 
kim loại và các chất liệu khác đi cùng với các sản phẩm gỗ mà chúng 
thuộc về vẫn được phân loại theo các sản phẩm này dù được lắp ráp với 
sản phẩm đó hay chưa. 
Các nhóm 44.14 đến 44.21 gồm những mặt hàng gỗ đã chế biến, áp dụng 
đối với các sản phẩm này dù được làm từ gỗ thường hay từ ván dăm 
hoặc ván tương tự, ván sợi, gỗ ghép hoặc gỗ đã được làm tăng độ rắn 
(xem Chú giải 3 trong Chương này). 
Nói chung, trong toàn bộ Danh mục, việc phân loại gỗ không bị ảnh 
hưởng bởi cách xử lý cần thiết để bảo quản chúng, như phơi nắng, đốt bề 
ngoài, quét sơn lót, trám hoặc tẩm creosote hoặc các chất bảo quản gỗ 
khác (ví dụ, hắc ín than, pentachlophenol (ISO), chromated copper 
arsenate hoặc ammoniacal copper arsenate); cũng không bị phụ thuộc 
vào nguyên nhân được sơn, nhuộm hay đánh vecni. Tuy nhiên, cách xem 
xét chung này không áp dụng cho các trường hợp của các phân nhóm 
trong các nhóm 44.03 và 44.06, trường hợp mà quy định phân loại cụ thể 
đối với các loại gỗ được sơn, nhuộm hoặc xử lý bảo quản. 
Một số vật liệu có tính chất gỗ, ví dụ, tre và liễu, được dùng chủ yếu 
trong sản xuất các mặt hàng từ song mây. Ở trạng thái chưa chế biến 
những vật liệu như vậy được phân loại vào nhóm 14.01, và ở dạng các 
sản phẩm từ song mây thì thuộc Chương 46. Tuy nhiên, các sản phẩm 
như tre dưới dạng vỏ bào hay dăm (dùng để chế tạo ván dăm, ván sợi 
hay bột giấy xenlulo) và các mặt hàng bằng tre hay các vật liệu có tính 
chất gỗ khác, trừ giỏ tết bện, đồ nội thất hoặc các mặt hàng khác được 

chi tiết cụ thể ở những Chương khác, thì được phân loại vào Chương này 
cùng với các sản phẩm hay các mặt hàng bằng gỗ thật tương ứng, trừ 
trường hợp có yêu cầu khác (ví dụ, trong các trường hợp của nhóm 44.10 
và 44.11) (xem Chú giải 6 Chương này). 
Chú giải chi tiết phân nhóm. 
Tên của một vài loại gỗ nhiệt đới 
Theo mục đích của những phân nhóm liên quan của các nhóm 44.03, 
44.07, 44.08, 44.09 và 44.12 thì tên gọi của gỗ nhiệt đới được định rõ 
theo “pilot name” khuyến nghị bởi Hội công nghệ gỗ nhiệt đới quốc tế 
(ATIBT),  Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế Nông nghiệp Pháp 
(CIRAD) và Tổ chức Gỗ Nhiệt đới Quốc tế (ITTO). “Pilot name” được 
dựa trên cơ sở của tên phổ biến được dùng trong những nước sản xuất 
hoặc tiêu thụ gỗ chủ yếu. 
Các “Pilot name” có liên quan, cùng với những tên khoa học và tên địa 
phương tương ứng, được liệt kê trong Phụ lục của Chú giải chi tiết thuộc 
Chương này. 
Research Centre for International Development (Centre de Coopération 
Internationale en Recherche Agronomique pour le Développement) 
44.01- Gỗ nhiên liệu, dạng khúc, thanh nhỏ, cành, bó hoặc các dạng 
tương tự; vỏ bào hoặc dăm gỗ; mùn cưa và phế liệu gỗ, đã 
hoặc chưa đóng thành khối, bánh (briquettes), viên hoặc các 
dạng tương tự. 
-  Gỗ nhiên liệu, dạng khúc, thanh nhỏ, cành, bó hoặc 
các dạng tương tự: 
4401.11 - - Từ cây lá kim  
4401.12 - - Từ cây không thuộc loài lá kim 
- Vỏ bào hoặc dăm gỗ: 
4401.21 - - Từ cây lá kim 

4401.22 - - Từ cây không thuộc loài lá kim 
  - Mùn cưa, phế liệu và mảnh vụn gỗ, đã đóng thành 
dạng khúc, bánh (briquettes), viên hoặc các dạng tương 
tự: 
4401.31 - - Viên gỗ 
4401.32 - - Đóng thành bánh (briquettes) 
4401.39 - - Loại khác 
- Mùn cưa, phế liệu và mảnh vụn gỗ, chưa đóng thành 
khối: 
4401.41 - - Mùn cưa 
4401.49 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Gỗ nhiên liệu, thường ở dạng: 
(1) Các khúc ngắn, thường còn vỏ. 
(2) Gỗ chẻ hay thanh củi. 
(3) Cành con, bó, que thô, thân dây leo, gốc và rễ cây. 
(B) Gỗ dưới dạng vỏ bào hay dăm gỗ, tức là, gỗ được làm nhỏ cơ 
học thành vỏ bào nhỏ (dẹt, cứng và hình vuông thô) hay dăm gỗ 
(mỏng và mềm) dùng để sản xuất bột giấy xenlulo bằng các 
phương pháp cơ học, hóa học hay kết hợp cả hai phương pháp cơ 
học và hoá học hoặc để sản xuất ván sợi hay ván dăm. Theo Chú 
giải 6 của Chương này, nhóm này cũng gồm các sản phẩm tương 
tự thu được, ví dụ, từ tre. 
Gỗ làm bột giấy dưới dạng tròn hay chẻ làm tư bị loại trừ (nhóm 
(C) Mùn cưa, đã hoặc chưa đóng thành khối, bánh (briquettes), viên hay 
các dạng tương tương tự. 
(D) Phế liệu và mảnh vụn gỗ, không thể sử dụng như gỗ. Những vật 
liệu này được sử dụng đặc biệt để làm bột giấy (để chế tạo giấy) và 
để sản xuất ván dăm và ván sợi hay làm nhiên liệu. Các phế liệu và 

mảnh vụn như vậy bao gồm, đồ thải ra của xưởng cưa hoặc xưởng 
bào; sản phẩm hỏng; ván gẫy; thùng gỗ không thể tiếp tục sử dụng; 
vỏ cây và dăm bào (đã hoặc chưa đóng thành khối, bánh, viên hay 
các dạng tương tự); phế liệu và mảnh vụn khác trong quá trình làm 
đồ mộc; gỗ hoặc vỏ cây dùng để nhuộm và để thuộc đã qua sử dụng. 
Nhóm này cũng bao gồm phế liệu và mảnh vụn gỗ thải ra của công 
trình xây dựng và phế thải bị hỏng và không thể sử dụng như gỗ. 
Tuy nhiên, các mặt hàng gỗ bị tách riêng như vậy và phù hợp cho 
việc sử dụng lại (ví dụ, xà, dầm, tấm ván, cửa ra vào) thì được phân 
loại trong các nhóm thích hợp của chúng. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Gỗ và gỗ phế liệu phủ nhựa cây hoặc làm cách khác cho gỗ trở thành 
vật mồi lửa (nhóm 36.06). 
(b)  Khúc gỗ loại được dùng làm bột giấy hay chế tạo que diêm (nhóm 
44.03); không giống gỗ nhiên liệu, chúng được xếp hạng một cách 
kỹ lưỡng, có thể được lột vỏ hoặc tách lớp và thường không bị gãy, 
chẻ, uốn cong, chia nhánh hay không có mắt gỗ. 
(c)  Nan gỗ loại dùng để tết bện hay làm sàng, hộp làm bằng vỏ tiện, hộp 
thuốc..., và dăm bào dùng trong việc chế tạo dấm hay gạn lọc chất 
lỏng (nhóm 44.04). 
(d)  Sợi gỗ và bột gỗ (nhóm 44.05). 
44.02- Than củi (kể cả than đốt từ vỏ quả hoặc hạt), đã hoặc chưa 
đóng thành khối. 
4402.10 - Của tre 
4402.20 - Của vỏ quả hoặc hạt 
4402.90  - Loại khác 
Than củi thu được khi gỗ bị carbon hoá và không có tiếp xúc với không 
khí. Nó được phân loại vào nhóm này dù ở dạng khối, que hay ở dạng 
hạt hay bột, hoặc được đóng thành khối cùng với nhựa đường hay các 
chất liệu khác ở dạng bánh, viên hay khối cầu...  

Than củi, không giống carbon động vật hoặc carbon khoáng, nó nhẹ hơn 
nước và trong mẩu than nhìn thấy thớ gỗ.  
Các sản phẩm tương tự thu được bởi sự carbon hoá vỏ dừa hay các loại 
vỏ khác cũng được phân loại vào nhóm này. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Than củi ở dạng dược phẩm được định nghĩa trong Chương 30. 
(b) Than củi trộn với hương trầm, dưới dạng viên hoặc các dạng khác 
(nhóm 33.07). 
(c) Than hoạt tính (nhóm 38.02). 
(d) Than vẽ (bút chì than) (nhóm 96.09). 
44.03- Gỗ cây dạng thô, đã hoặc chưa bóc vỏ hoặc dác gỗ hoặc đẽo 
vuông thô. 
 - Đã xử lý bằng sơn, chất màu, chất creozot hoặc các 
chất bảo quản khác: 
 4403.11 - - Từ cây lá kim 
 4403.12 - - Từ cây không thuộc loài lá kim 
- Loại khác, từ cây lá kim:  
 4403.21 - - Từ cây thông (Pinus spp.), có kích thước mặt cắt 
ngang  nhỏ nhất từ 15 cm trở lên 
 4403.22 - - Từ cây thông (Pinus spp.), loại khác 
 4403.23 - - Cây linh sam (Abies spp.) và cây vân sam (Picea spp.), 
có kích thước mặt cắt ngang  nhỏ nhất từ 15 cm trở 
lên 
 4403.24 - - Từ cây linh sam (Abies spp.) và cây vân sam 
(Picea spp.), loại khác 
 4403.25 - - Loại khác, có kích thước mặt cắt ngang  nhỏ nhất 
từ 15 cm trở lên 
 4403.26 - - Loại khác 

    - Loại khác, từ gỗ nhiệt đới: 
     4403.41 - - Meranti đỏ sẫm, gỗ Meranti đỏ nhạt và gỗ Meranti 
4403.42 - - Gỗ Tếch (Teak) 
4403.49 - - Loại khác 
    - Loại khác: 
4403.91 - - Gỗ sồi (Quercus spp.) 
4403.93 - - Từ cây dẻ gai (Fagus spp.), có kích thước mặt cắt  
ngang  nhỏ nhất từ 15 cm trở lên 
4403.94 - - Từ cây dẻ gai (Fagus spp.), loại khác 
4403.95 - - Từ cây bạch dương (Betula spp.), có kích thước 
mặt cắt ngang  nhỏ nhất từ 15 cm trở lên 
4403.96 - - Từ cây bạch dương (Betula spp.), loại khác 
4403.97 - - Từ cây dương (poplar and aspen) (Populus spp.): 
4403.98 - - Từ bạch đàn (Eucalyptus spp.) 
4403.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm vật liệu gỗ trong trạng thái tự nhiên như khi bị đốn, 
thường đã được tỉa hết cành và gỗ này cũng được tước vỏ ngoài hay cả 
vỏ ngoài và vỏ trong hoặc từ đó chỉ các chỗ lồi xù xì bị loại bỏ. Nhóm 
này cũng bao gồm gỗ mà từ đó lớp ngoài không giá trị, gồm phần gỗ non 
(dác gỗ (sapwood)), bị loại bỏ để tiết kiệm cho vận chuyển và chống hư 
hỏng gỗ. 
Các sản phẩm chủ yếu được phân loại vào đây, theo sự mô tả ở trên, bao 
gồm: cột gỗ để cưa; cột điện thoại, điện tín hoặc cột điện; gỗ tù đầu và 
không chẻ, như cọc nhọn, cọc sào và cột chống; cột tròn trong hầm mỏ; 
thân gỗ, đã hoặc chưa chẻ vuông, để nghiền; thân gỗ tròn để chế tạo tấm 
gỗ làm lớp mặt,...; thân gỗ cho việc sản xuất que diêm, đồ gỗ... 
Cột điện thoại, điện tín hoặc cột điện cũng được phân loại trong nhóm 
này khi được tỉa thêm bằng dao kéo hay lột vỏ bằng máy lột vỏ cơ học 

để có được một bề mặt nhẵn tiện cho sử dụng. Những cột này thường 
được sơn, nhuộm, đánh véc ni hoặc tẩm dầu creosote hay các chất khác. 
Rễ và gốc của loài gỗ đặc biệt, và một số lớp gỗ non như loại dùng để 
làm lớp mặt hay tẩu hút thuốc, cũng thuộc nhóm này. 
Nhóm này cũng gồm gỗ đẽo vuông thô gồm có thân cây hay các phần 
của thân cây, bề mặt tròn đã được làm phẳng bởi rìu hay rìu lưỡi vòm, 
hoặc cưa thô, để tạo thành một mặt cắt ngang chữ nhật (kể cả hình 
vuông); gỗ đẽo vuông thô được đặc trưng bởi bề ngoài thô hay còn dấu 
vết của vỏ cây. Gỗ nửa vuông, là gỗ được chế biến theo cách này chỉ 
trên hai mặt đối diện, cũng được phân loại vào đây. Gỗ được chế biến ở 
các dạng này dùng cho nhà máy cưa hoặc được sử dụng theo cách, ví dụ, 
gỗ làm vật liệu lợp mái. 
Một vài loại gỗ (ví dụ, gỗ tếch) được tách bằng cách nêm hoặc đẽo dọc 
theo thớ gỗ thành xà; những xà như vậy cũng được xem như thuộc nhóm 
này. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Gỗ đã được cắt, tỉa thô để làm ba-toong, ô, cán dụng cụ hoặc loại 
tương tự (nhóm 44.04). 
(b) Gỗ được xẻ thành tà vẹt đường sắt hay đường xe điện (thanh ngang) 
(nhóm 44.06). 
(c) Gỗ được xẻ thành ván lát, rầm... (nhóm 44.07 hay 44.18). 
Chú giải chi tiết phân nhóm. 
Các phân nhóm 4403.11 và 4403.12 
Các phân nhóm 4403.11 và 4403.12 bao gồm những sản phẩm được xử 
lý bằng sơn, nhuộm, tẩm creosote hay chất bảo quản khác như hắc ín 
than, pentachlorophenol (ISO), chromated copper arsenate hoặc 
ammoniacal copper arsenate, để bảo quản lâu dài.  

Các phân nhóm này không bao gồm những sản phẩm được xử lý bằng 
các chất liệu chỉ để bảo quản chúng trong khi vận chuyển hay lưu trữ. 
Các phân nhóm 4403.21, 4403.23, 4403.25, 4403.93 và 4403.95 
Theo mục đích của các phân nhóm này, kích thước mặt cắt ngang nhỏ 
nhất được đo ở đầu trên của thân cây (trên cùng). 
44.04- Gỗ đai thùng; cọc chẻ; sào, cột và cọc bằng gỗ, vót nhọn, 
nhưng không xẻ dọc; gậy gỗ, đã cắt thô nhưng chưa tiện, uốn 
cong hoặc gia công cách khác, phù hợp cho sản xuất ba 
toong, cán ô, chuôi, tay cầm dụng cụ hoặc tương tự; nan gỗ 
(chipwood) và các dạng tương tự. 
4404.10 - Từ cây lá kim 
4404.20 - Từ cây không thuộc loài lá kim 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Gỗ đai thùng, gồm gỗ chẻ cây liễu, phỉ, bạch dương... Có thể có vỏ 
hoặc bào thô, và được sử dụng để sản xuất đai thùng tròn, rào chắn... 
Gỗ đai thùng thường được cuộn hoặc bó lại. 
Gỗ đai thùng được cắt thành từng đoạn và khía thành hình chữ V ở 
các đầu để gài nối vào nhau khi ghép thành thùng thuộc nhóm 
(2)  Cọc chẻ, bao gồm thân hay cành cây của gỗ chẻ dọc. Chúng phần lớn 
được sử dụng làm vật đỡ trong làm vườn và nông nghiêp, làm hàng rào 
hoặc trong một số trường hợp làm làm trần nhà hay làm  nền. 
(3)  Sào nhọn, cột và cọc (kể cả cột rào), gồm cọc tròn hay chẻ, vót 
nhọn ở các đầu, đã hay chưa lột vỏ hay tẩm chất bảo quản, nhưng 
chưa cưa dọc. 
(4) Gậy gỗ, đã cắt nhưng chưa tiện, uốn cong hay gia công cách 
khác, với chiều dài và độ dày thích hợp rõ ràng để làm ba toong, 

roi, cán gậy gôn, ô, tay cầm của dụng cụ, tay cầm của chổi sể..., gỗ 
dạng thanh đã nhuộm và các loại tương tự. 
Gỗ tương tự đã được bào, tiện (trên máy tiện thông thường hoặc 
máy tiện cọc), đã uốn cong, hoặc gia công cách khác và có thể nhận 
biết được như cán ô, ba toong, tay cầm của dụng cụ,... được phân 
loại vào những nhóm đối với các mặt hàng tương ứng. 
(5) Nan gỗ (chipwood), tức là, gỗ được xẻ lát, tước hay đôi khi được 
cưa thành các dải dễ uốn, hẹp, mỏng và phẳng loại sử dụng để tết 
bện và làm sàng, hộp gỗ đan, rổ, hộp thuốc, bao diêm... Nó cũng 
gồm những dải gỗ tương tự để làm diêm và móc giày hoặc ủng. 
Nhóm này cũng bao gồm vỏ bào, thường là của gỗ dẻ gai hay gỗ 
phỉ, tương tự nan gỗ (chipwood) cuộn dùng trong kỹ nghệ làm dấm 
hay gạn lọc chất lỏng; chúng cũng có thể được phân biệt với vỏ bào 
phế liệu trong nhóm 44.01 bởi vì chúng có độ dày, rộng và dài đồng 
nhất và thậm chí được cuộn tròn lại. 
Phôi thô để làm thân bàn chải hay làm cốt giày hoặc ủng thuộc nhóm 
44.05 - Sợi gỗ; bột gỗ. 
Sợi gỗ gồm sợi gỗ tốt, được làm xoăn hoặc xoắn để tạo thành một đám 
rối. Sợi gỗ có kích thước và độ dày đều và và có độ dài đáng kể (do đó 
khác với vỏ bào thông thường ở nhóm 44.01). Chúng được chế từ các 
khúc gỗ (từ gỗ cây dương, gỗ cây lá kim...) bằng một máy bào chuyên 
dụng. Sợi gỗ thường được đóng thành bành được ép. 
Sợi gỗ vẫn thuộc nhóm này nếu được nhuộm, phết keo,... hay nếu bị 
xoắn thô với nhau hoặc đóng dưới dạng tấm giữa các lớp giấy. Nó được 
sử dụng chủ yếu trong việc đóng gói hay nhồi. Nó cũng được dùng để 
sản xuất panel kết khối (ví dụ, một số loại ván thuộc nhóm 44.10 hay 

Bột gỗ là bột thu được khi ta nghiền mùn cưa, vỏ bào hay các phế liệu 
gỗ khác hoặc bằng cách sàng mùn cưa. Nó được sử dụng rộng rãi làm 
chất độn trong công nghiệp plastic, để sản xuất ván dăm và trong sản 
xuất vải sơn lót nền. Bột gỗ có thể được phân biệt với mùn cưa trong 
nhóm 44.01 trên cơ sở hạt có kích thước nhỏ hơn và đều hơn. 
Các bột tương tự từ vỏ dừa hoặc loại tương tự bị loại trừ (nhóm 14.04). 
44.06- Tà vẹt đường sắt hoặc đường xe điện (thanh ngang) bằng gỗ. 
-  Loại chưa được ngâm tẩm: 
 4406.11 - - Từ cây lá kim  
 4406.12 - - Từ cây không thuộc loài lá kim  
- Loại khác: 
 4406.91 - - Từ cây lá kim 
 4406.92 - - Từ cây không thuộc loài lá kim 
Nhóm này bao gồm gỗ chưa bào ở dạng miếng có mặt cắt gần giống 
hình chữ nhật loại thường dùng để đỡ đường ray, đường sắt hay xe điện. 
Nhóm này cũng gồm tà vẹt ghi, dài hơn tà vẹt thường, và tà vẹt cầu, dày 
và rộng hơn và thường dài hơn tà vẹt thường. 
Rìa của những sản phẩm này thường được vạt cạnh thô và chúng có thể 
được tạo lỗ hay hõm để cố định đường ray hay gối đường ray. Đôi khi 
chúng cũng được tăng cường ở đầu bằng đóng đinh kẹp, đinh, bu lông 
hoặc cuốn đai sắt để phòng bị toác. 
Những sản phẩm trong nhóm này có thể được xử lý bề mặt bằng thuốc 
trừ côn trùng hay trừ nấm để bảo vệ. Để bảo quản lâu dài, chúng thường 
được tẩm creosote hay các chất khác. 
Chú giải chi tiết phân nhóm. 
Các phân nhóm 4406.11 và 4406.92 
Theo mục đích phân loại trong các phân nhóm này, khái niệm "được 

ngâm tẩm" nghĩa là gỗ được tẩm creosote hay các chất bảo quản khác để 
bảo quản lâu dài. Nó không bao gồm tà vẹt được xử lý bằng chất diệt 
nấm hay diệt côn trùng cho mục đích bảo vệ chúng một cách đơn giản 
khỏi nấm hoặc ký sinh trùng trong thời gian vận chuyển hay lưu kho, là 
loại được phân loại như là "không ngâm tẩm". 
44.07- Gỗ đã cưa hoặc xẻ theo chiều dọc, lạng hoặc bóc, đã hoặc 
chưa bào, chà nhám hoặc ghép nối đầu, có độ dày trên 6 mm. 
- Từ cây lá kim: 
 4407.11 - - Từ cây thông (Pinus spp.) 
 4407.12 - - Từ cây linh sam (Abies spp.) và cây vân sam (Picea spp.) 
 4407.13 - - Từ cây thuộc nhóm S-P-F (cây vân sam (Picea spp.), 
cây thông (Pinus spp.) và cây linh sam (Abies spp.)) 
 4407.14 - - Từ cây Độc cần (Western hemlock (Tsuga 
heterophylla) và linh sam (Abies spp.)) 
4407.19 - - Loại khác  
- Từ gỗ nhiệt đới: 
4407.21 - - Gỗ Mahogany (Swietenia spp.)  
4407.22  - - Gỗ Virola, Imbuia và Balsa 
4407.23 - - Gỗ Tếch (Teak) 
4407.25 - - Gỗ Meranti đỏ sẫm, gỗ Meranti đỏ nhạt và gỗ 
4407.26 - - Gỗ Lauan trắng, gỗ Meranti trắng, gỗ Seraya trắng, 
gỗ Meranti vàng và gỗ Alan 
4407.27 - - Gỗ Sapelli 
4407.28 - - Gỗ Iroko 
4407.29 - - Loại khác 
- Loại khác: 
4407.91 - - Gỗ sồi (Quercus spp.) 
4407.92 - - Gỗ dẻ gai (Fagus spp.)  

4407.93 - - Gỗ thích (Acer spp.) 
4407.94 - - Gỗ anh đào (Prunus spp.) 
4407.95 - - Gỗ tần bì (Fraxinus spp.) 
4407.96  - - Gỗ bạch dương (Betula spp.) : 
4407.97  - -  Gỗ cây dương (poplar and aspen) (Populus spp.) 
4407.99 - - Loại khác 
Với một vài ngoại lệ, nhóm này gồm tất cả các loại gỗ và vật liệu gỗ, có 
chiều dài bất kỳ nhưng có độ dày trên 6mm, được cưa hoặc xẻ dọc theo 
thớ hay được cắt bằng cách lạng hoặc tách lớp. Gỗ và vật liệu gỗ này bao 
gồm rầm, ván, ván bìa, ván ép, thanh gỗ mỏng lát trần nhà... đã được cưa 
và các sản phẩm được xem là tương đương với gỗ hoặc vật liệu gỗ đã 
cưa, thu được bởi việc sử dụng máy bào và được bào theo kích cỡ rất 
chính xác, một quá trình làm cho bề mặt nhẵn hơn hẳn loại được cưa và 
do đó làm cho việc bào sau đó là không cần thiết. Nó cũng bao gồm tấm 
gỗ được lạng hay tách lớp (cắt luân phiên), và khối, dải và viền gỗ cho 
ván sàn, trừ loại được tạo dáng liên tục dọc theo bất cứ cạnh, đầu hay 
mặt gỗ (nhóm 44.09). 
Cần chú ý là gỗ ở nhóm này không cần phải có mặt cắt hình chữ nhật (kể 
cả hình vuông) hay có mặt cắt thống nhất theo chiều dọc.  
Các sản phẩm ở nhóm này có thể được bào (đã hoặc chưa tạo góc bởi hai 
mặt kề nhau được làm tròn không đáng kể trong quá trình bào), chà 
nhám hay nối dầu, ví dụ, ghép mộng. Gỗ thuộc nhóm này không được 
làm nhọn hoặc gia công ở đầu, trừ khi được ghi ở Chú giải tổng quát 
trong Chương này. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Gỗ được đẽo vuông thô, ví dụ, bằng cách cưa thô (nhóm 44.03). 
(b) Nan gỗ (chipwood) và loại tương tự (nhóm 44.04). 
(c) Các tấm gỗ để làm lớp mặt và các tấm gỗ dán (và loại gỗ khác chưa 
được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác) với độ dày không quá 6mm 

(nhóm 44.08). 
(d) Gỗ được tạo dáng liên tục theo chiều dọc của bất cứ cạnh, đầu hay 
mặt gỗ, thuộc nhóm 44.09. 
(e) Gỗ thanh và viền dải gỗ trang trí (friezes) của nhóm 44.12. 
(f) Đồ mộc dùng trong xây dựng (nhóm 44.18). 
44.08- Tấm gỗ để làm lớp mặt (kể cả những tấm thu được bằng cách 
lạng gỗ ghép), để làm gỗ dán hoặc để làm gỗ ghép tương tự 
khác và gỗ khác, đã được xẻ dọc, lạng hoặc bóc tách, đã hoặc 
chưa bào, chà nhám, ghép hoặc nối đầu, có độ dày không quá 
4408.10 - Từ cây lá kim 
- Từ gỗ nhiệt đới: 
4408.31 - - Gỗ Meranti đỏ sẫm, gỗ Meranti đỏ nhạt và gỗ 
4408.39 - - Loại khác 
4408.90 - Loại khác 
Nhóm này áp dụng với gỗ, dù thực sự để làm lớp gỗ mặt hay gỗ dán 
hoặc cho các mục đích khác (cho đàn vĩ cầm, hộp cigar...), ở dạng tấm 
với độ dày không quá 6mm (loại trừ bất cứ vật liệu gia cố nào), thu được 
bằng cách cưa, lạng hay tách lớp (cắt quay), đã hoặc chưa làm nhẵn, 
nhuộm, sơn phủ hoặc thấm tẩm, hoặc được gia cố bằng lớp bồi giấy hoặc 
vải, hoặc trang trí giả hoa văn của gỗ. 
Gỗ để chế tạo gỗ dán thường được cắt bởi quá trình tách lớp trong đó gỗ 
khúc, thường được hấp bằng hơi nước trước, hay nhúng trong nước 
nóng, nó được đưa vào máy tách lớp để sau đó được tiếp tục cắt thành 
tấm liên tục. 
Trong quá trình lạng, gỗ khúc, đầu tiên thường được hấp hay ngâm nước 
nóng, được cắt xén bằng dao hướng theo chiều ngang hoặc dọc, gỗ khúc 
được đẩy về phía dao hay ngược lại sau từng công đoạn. Trong một biến 
thể của quá trình này, gỗ khúc được đẩy về phía lưỡi dao tĩnh. Gỗ được 
lạng ra các tấm rất mỏng cũng theo cách này. 
Những tấm gỗ để làm lớp mặt cũng được sản xuất bằng cách lạng các 

khối gỗ ghép và được coi là sự thay thế cho lớp gỗ mặt sản xuất bằng 
phương pháp truyền thống.  
Gỗ tấm trong nhóm này có thể được nối ghép (tức là, viền, đính hoặc 
dán keo các viền với nhau để tạo ra tấm gỗ lớn hơn dùng trong gỗ dán 
hay gỗ ghép tương tự). Thêm vào đó, chúng có thể được bào, chà nhám 
hay nối đầu, ví dụ, ghép mộng (xem Chú giải tổng quát Chương này). 
Thêm nữa, trong thực tế việc một tấm để làm gỗ dán thường được dán 
thêm giấy, plastic hay gỗ để phủ hay củng cố cho các chỗ khuyết (ví dụ, 
các hố mắt gỗ) không làm ảnh hưởng tới sự phân loại của tấm đó trong 
nhóm này. 
Tấm gỗ để làm lớp mặt của gỗ vân đẹp được dùng làm lớp mặt tủ gỗ nội 
thất thường thu được bằng cách cưa hay lạng. 
Nhóm này cũng bao gồm loại có chiều dài ngắn có mặt cắt ngang gần 
vuông và độ dày khoảng 3mm dùng trong pháo hoa, va li, đồ chơi, mô 
hình v.v... 
Nhóm này loại trừ gỗ được lạng hoặc bóc tách dưới dạng dải hẹp dùng 
để tết bện hoặc để làm rổ đan, hộp thuốc... (nhóm 44.04). 
44.09 - Gỗ (kể cả gỗ thanh và viền dải gỗ trang trí (friezes) để làm 
sàn packê (parquet flooring), chưa lắp ghép) được tạo dáng liên tục 
(làm mộng, soi rãnh, bào rãnh, vát cạnh, ghép chữ V, tạo gân, gờ 
dạng chuỗi hạt, tạo khuôn hình, tiện tròn hoặc gia công tương tự) 
dọc theo các cạnh, đầu hoặc bề mặt, đã hoặc chưa bào, chà nhám 
hoặc nối đầu. 
4409.10 - Từ cây lá kim 
- Từ cây không thuộc loài lá kim: 
4409.21  - - Từ tre 
4409.22 - - Từ gỗ nhiệt đới 
4409.29  - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm vật liệu gỗ, đặc biệt dưới dạng ván, tấm..., mà sau 

khi được cưa và đẽo vuông, sẽ được tạo dáng liên tục dọc theo bất kỳ 
cạnh nào, đầu hoặc bề mặt hoặc để thuận tiện cho sự lắp ráp sau này 
hoặc để tạo khuôn hay tạo chuỗi được mô tả trong Mục (4) ở dưới, đã 
hoặc chưa bào, chà nhám hay nối đầu, ví dụ, ghép mộng (xem Chú giải 
tổng quát trong Chương này). Gỗ được tạo dáng liên tục gồm cả sản 
phẩm có mặt cắt giống nhau theo chiều dọc hay chiều ngang và sản 
phẩm có thiết kế lặp lại ở dạng nổi. 
Gỗ được làm mộng và soi rãnh gồm tấm có một cạnh hoặc đầu được 
soi rãnh và cạnh hoặc đầu kia được làm mộng, việc làm mộng của một 
tấm gỗ khớp với rãnh của một tấm khác khi được lắp ráp với nhau. 
Ván bào rãnh là loại ván có một hoặc nhiều rìa hoặc đầu được cắt để 
tạo thành bậc. 
Ván vát cạnh là loại có một hoặc nhiều góc bị vạt tại một góc tới mặt và 
cạnh hoặc đầu. 
Nhóm này cũng bao gồm vật liệu gỗ có hình dáng phổ biến sau: 
(1) Ván có rìa hoặc đầu tròn. 
(2) Gỗ ghép chữ V (tức là, gỗ được làm mộng và soi rãnh cùng với vạt 
cạnh hoặc đầu), kể cả gỗ ghép chữ V trung tâm (tức tạo rãnh chữ 
V ở giữa tấm gỗ và cũng thường được làm mộng và soi rãnh và đôi 
khi có vát cạnh ở rìa hoặc đầu). 
(3) Gỗ được tạo chuỗi (tức là, gỗ được làm mộng và soi rãnh với đường 
gân đơn giản giữa cạnh hoặc đầu và mộng), kể cả gỗ tạo chuỗi trung 
tâm (tức là, gỗ được làm mộng và soi rãnh với đường gân đơn giản 
dọc theo trung tâm của bề mặt). 
(4) Gỗ được tạo khuôn (cũng được hiểu là để tạo khuôn hay tạo gân), 
tức là, dải gỗ được tạo dáng thành nhiều đường nét khác nhau (thu 
được bằng máy hoặc bằng tay), như dùng làm khung tranh, đồ trang 
trí trên tường, đồ nội thất, cánh cửa và đồ mộc khác. 
(5) Gỗ tiện tròn như là gỗ kéo với hình dạng que rất mỏng, thường có 
mặt cắt tròn, là loại sử dụng làm que diêm, móc giày dép, một vài 
loại mành gỗ (mành pinoleum), tăm, tấm chắn trong sản xuất pho 
mát... Loại chốt dọc là que hoặc cọc gỗ tròn có tiết diện giống nhau, 

nói chung có đường kính từ 2mm tới 75mm và chiều dài từ 45cm tới 
250cm, là loại hay được sử dụng, ví dụ, để ráp các bộ phận của đồ 
nội thất gỗ, cũng được phân loại vào nhóm này. 
Nhóm này cũng gồm dải gỗ và đường viền gỗ trang trí để làm nền nhà 
gồm các tấm gỗ hẹp, với điều kiện là chúng được tạo dáng liên tục, ví 
dụ, được làm mộng và soi rãnh. Nếu chúng không được gia công hơn 
mức bào, chà nhám hoặc nối đầu, ví dụ, ráp mộng, chúng được phân loại 
vào nhóm 44.07. 
Những dải gỗ dán hay gỗ mặt của ván sàn packê  cũng bị loại trừ (nhóm 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Tấm ván đã bào và tấm ván đã được gia công cách khác được trình 
bày ở dạng bộ như ván hộp (nhóm 44.15) 
(b)  Gỗ đã được làm mộng hoặc ghép mộng, mộng đuôi én hay gia công 
tương tự ở đầu và gỗ lắp ráp thành panel là đồ mộc xây dựng (ví dụ, 
tấm panel ván sàn packê được lắp ghép, kể cả panel lát sàn, làm từ 
các khối, dải, viền gỗ... có hay không trên một lớp bổ trợ bằng một 
hay nhiều lớp gỗ) (nhóm 44.18). 
(c)  Panel gồm có các thanh gỗ xẻ thô, được dán với nhau bằng keo để dễ 
dàng vận chuyển hoặc gia công tiếp (nhóm 44.21). 
(d)  Gỗ được tạo khuôn bằng cách chồng lên vật đúc trên một miếng gỗ khác 
đã được tạo khuôn hoặc chưa tạo khuôn (nhóm 44.18 hay 44.21). 
(e)  Gỗ được gia công bề mặt hơn mức bào hoặc chà nhám, trừ việc sơn, 
nhuộm hay đánh véc ni (ví dụ, được làm lớp mặt, đánh bóng, mạ 
đồng, hay phủ lá kim loại) (nói chung ở nhóm 44.21). 
(f)   Những dải bằng gỗ thuộc loại có thể nhận biết rõ ràng để được ghép 
vào mặt hàng nội thất, như là những dải được khắc hình chữ V cho 
tủ bát và kệ sách,... (nhóm 94.03). 

44.10- Ván dăm, ván dăm định hướng (OSB) và các loại ván tương 
tự (ví dụ, ván xốp) bằng gỗ hoặc bằng các loại vật liệu có chất 
gỗ khác, đã hoặc chưa liên kết bằng keo hoặc bằng chất kết 
dính hữu cơ khác. 
- Bằng gỗ: 
4410.11 - - Ván dăm 
4410.12 - - Ván dăm định hướng (OSB) 
4410.19 - - Loại khác 
4410.90 - Loại khác 
Ván dăm là một sản phẩm phẳng được chế tạo với nhiều độ dài, độ rộng 
và độ dày khác nhau bằng cách ép hay đùn. Nó thường được làm từ 
mảnh vụn hay dăm gỗ có được sau quá trình dát cơ học gỗ tròn hoặc 
phần dư gỗ. Nó cũng được sản xuất từ các vật liệu gỗ khác như mảnh 
vụn từ bã mía, tre, rơm hay từ lanh hoặc gai dầu. Ván dăm thường được 
kết khối bằng các chất kết dính hữu cơ được thêm vào, thường là nhựa 
phản ứng nhiệt, thường không vượt quá 15% trọng lượng của ván. 
Mảnh vụn, dăm gỗ hoặc các mảnh vỡ khác cấu thành ván dăm thuộc 
nhóm này thường có thể nhận biết qua rìa mép ván bằng mắt thường. 
Tuy nhiên, trong vài trường hợp, cũng cần soi kính hiển vi để phân biệt 
những dăm gỗ và mảnh vỡ từ sợi ligno-xenlulo tạo đặc trưng ván sợi 
thuộc nhóm 44.11. 
Nhóm này cũng bao gồm: 
(1) Ván dăm định hướng, được chế tạo từ các lớp của sợi gỗ mỏng có 
chiều dài tối thiểu hai lần chiều rộng. Những sợi gỗ này được trộn 
với các chất liên kết (thường là không thấm nước) như là nhựa 
isocyanate hay nhựa phenolic, xen kẽ nhau và được đặt trong các 
lớp để tạo ra một thảm dày trong đó các sợi gỗ thường được hướng 
theo chiều dài ở các lớp bề mặt và thường được đặt theo hướng cắt 
ngang hoặc được đặt một cách ngẫu nhiên vào các lớp bên trong 

nhằm cải thiện các tính chất đàn hồi cơ học của tấm ván. Tấm thảm 
này được xử lý nhiệt và áp suất trở nên có cấu trúc cứng, rắn, đồng 
nhất. 
(2) Ván xốp, được sản xuất từ sợi gỗ mỏng có chiều dài ít hơn hai lần 
chiều rộng. Những sợi gỗ mỏng được trộn với các chất liên kết 
(thường là không thấm nước) như là nhựa isocyanate hoặc nhựa 
phenolic, xen kẽ nhau và được đặt một cách ngẫu nhiên, do đó tạo ra 
một thảm dày. Thảm này được xử lý nhiệt và áp suất trở nên có cấu 
trúc, rắn, đồng nhất có độ bền cao và không thấm nước. 
Các tấm ván dăm của nhóm này thường được chà nhám. Hơn nữa, chúng 
có thể được thấm tẩm bởi một hoặc một vài chất không cần thiết cho quá 
trình kết khối của các vật liệu cấu thành của chúng nhưng tạo trên tấm 
ván một tính chất bổ sung, ví dụ, tính không thấm nước, tính chống mục 
thối, chống côn trùng, lửa hoặc chống sự lây lan của lửa, hóa chất hoặc 
điện, độ chặt lớn hơn. Trong ví dụ sau cùng, các chất thấm tẩm đạt tỷ lệ 
quan trọng. 
Những tấm ván dăm được ép đùn có thể có những lỗ bên trong từ đầu 
đến cuối. 
Được phân loại trong nhóm này cũng là các tấm panel ghép gồm có: 
(1) ván dăm được phủ một hay hai mặt bằng ván sợi; 
(2) một vài loại ván dăm đã hoặc chưa bọc một hoặc cả hai mặt bằng ván 
sợi; 
(3) một vài loại ván dăm và vài loại ván sợi được lắp ghép theo bất cứ 
trật tự nào. 
Các sản phẩm thuộc nhóm này vẫn được phân loại ở đây dù chúng đã hay 
chưa được gia công để tạo thành các hình dạng được quy định đối với các 
mặt hàng của nhóm 44.09, được uốn cong, tạo sóng, đục lỗ, được cắt hoặc tạo 
thành các hình dáng trừ hình vuông hay hình chữ nhật và dù chúng đã hoặc 
chưa bị gia công ở bề mặt, ở rìa hoặc ở đầu, hoặc được tráng hoặc phủ (ví dụ, 
bằng vải dệt, plastic, sơn, giấy hoặc kim loại) hoặc trải qua bất kỳ một công 
đoạn nào khác, với điều kiện những công đoạn này không làm cho chúng có 
đặc trưng của các mặt hàng ở các nhóm khác. 

Nhóm này không bao gồm: 
(a) Tấm hoặc dải bằng plastic chứa bột gỗ như là chất độn (Chương 39). 
(b) Ván dăm và ván tương tự làm lớp mặt (ví dụ, ván dăm định hướng và 
ván xốp), có hoặc không có lỗ bên trong từ đầu đến cuối (nhóm 
(c) Panel gỗ xốp có cả hai mặt là ván dăm (nhóm 44.18). 
(d) Ván bằng chất liệu gỗ được liên kết bằng xi măng, thạch cao hay các 
chất liên kết khoáng vật khác (nhóm 68.08). 
Nhóm này cũng loại trừ những mặt hàng có những đặc tính của mặt 
hàng hay các bộ phận của hàng hóa được chi tiết hơn ở nơi khác, dù nó 
thu được trực tiếp bởi quá trình nén, ép đùn hay tạo khuôn hay bởi các 
quá trình khác. 
44.11- Ván sợi bằng gỗ hoặc bằng các loại vật liệu có chất gỗ khác, 
đã hoặc chưa ghép lại bằng keo hoặc bằng các chất kết dính 
hữu cơ khác. 
- Ván sợi có tỷ trọng trung bình (MDF): 
4411.12 - - Loại có chiều dày không quá 5 mm 
4411.13 - - Loại có chiều dày trên 5mm nhưng không quá 9 mm 
4411.14 - - Loại có chiều dày trên 9 mm 
- Loại khác: 
4411.92 - - Có tỷ trọng trên 0,8 g/cm³ 
4411.93 - - Có tỷ trọng trên 0,5 g/cm³ nhưng không quá 0,8 
4411.94 - - Có tỷ trọng không quá 0,5 g/cm³ 
Hầu hết các ván sợi được chế tạo từ dăm mảnh, được gỡ xơ theo cách cơ 
học (khử xơ) hoặc hấp cho xơ rời ra hoặc được chế từ các chất liệu 
ligno-cellulosic đã được gỡ sợi khác (thu được, ví dụ, từ bã mía hay tre). 
Những sợi xơ trong ván được nhận biết bằng kính hiển vi. Chúng ràng 
buộc với nhau trong ván bằng cách kết lại thành nỉ bởi thuộc tính kết 

dính của chúng, thường xuất phát là từ hàm lượng lignin của chúng. 
Chất nhựa bổ sung hoặc và các chất liên kết hữu cơ khác có thể được 
dùng để liên kết xơ sợi. Tác nhân thấm tẩm hay các tác nhân khác cũng 
có thể được thêm vào trong hay sau khi chế tạo ván để chúng có thêm 
những thuộc tính, ví dụ, không thấm nước hoặc chống thối rữa, côn 
trùng, lửa hoặc sự lây lan của lửa. Ván sợi có thể gồm tấm đơn hoặc một 
vài tấm liên kết với nhau. 
Các loại ván sợi của nhóm này có thể được phân biệt tùy theo quy trình 
sản xuất và bao gồm: 
(A) Ván sợi được sản xuất theo “quy trình sản xuất khô” 
Nhóm này, nói riêng, bao gồm ván sợi có tỷ trọng trung bình (MDF), 
được sản xuất theo quy trình trong đó nguyên liệu phụ là nhựa phản ứng 
nhiệt được thêm vào cùng các sợi gỗ đã được làm khô nhằm tăng cường 
sự gắn kết trong quá trình nén. Tỷ trọng nói chung ở mức từ 0,45g/cm3 
đến 1g/cm3. Trong tình trạng chưa được gia công, loại ván này có hai 
mặt nhẵn. Loại này được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như 
làm đồ nội thất, trang trí nội thất và trong xây dựng. 
Ván sợi có tỷ trọng trung bình với tỷ trọng trên 0,8g/cm3 trong thương 
mại đôi khi cũng được hiểu là “ván sợi có tỷ trọng cao (HDF)”. 
 (B) Ván sợi được sản xuất theo “quy trình sản xuất ướt” 
Nhóm này bao gồm những loại ván sợi sau: 
(1) Ván cứng (Hardboard), được sản xuất theo quy trình sản xuất ướt 
trong đó các sợi gỗ dưới dạng thể huyền phù trong nước được nén thành 
dạng tấm dưới nhiệt độ và áp suất cao trên một tấm lưới kim loại. Trong 
tình trạng chưa được gia công loại ván sợi này có một mặt nhẵn và một 
mặt thô ráp theo hình tấm lưới. Tuy nhiên, đôi khi chúng cũng có thể có 
được hai mặt nhẵn nhờ quá trình xử lý bề mặt đặc biệt hoặc quy trình sản 
xuất đặc biệt. Tỷ trọng của loại ván này thường trên 0,8g/cm3. Ván cứng 
chủ yếu được sử dụng trong sản xuất đồ nội thất, công nghiệp chế tạo ô 
tô, dùng làm bề mặt của cửa và để làm bao gói, đặc biệt các loại bao gói 
rau quả. 
(2) Ván cứng vừa (Mediumboard), được sản xuất theo cách giống như 
ván cứng nhưng ở áp suất thấp hơn. Thông thường, loại ván này có tỷ 

trọng trên 0,35g/cm3 nhưng không quá 0,8 g/cm3. Ứng dụng chính của 
loại ván này là làm sản phẩm nội thất và tường trong hoặc tường ngoài 
nhà. 
(3) Ván mềm (Softboard). Loại ván sợi này không được ép như các loại 
ván sợi khác làm từ quy trình sản xuất ướt. Nó thường có tỷ trọng 0,35 
g/cm3 hoặc thấp hơn. Loại ván này chủ yếu được dùng vào việc cách 
nhiệt hoặc cách âm trong xây dựng. Các loại tấm cách nhiệt cách âm đặc 
biệt được dùng làm vật liệu bao ngoài hoặc vật liệu lót. 
Các sản phẩm thuộc nhóm này vẫn được phân loại ở đây dù chúng đã 
hay chưa được gia công để tạo thành các hình dạng được quy định đối 
với các mặt hàng của nhóm 44.09, được uốn cong, tạo sóng, đục lỗ, được 
cắt hoặc tạo thành các hình dáng trừ hình vuông hay hình chữ nhật và dù 
chúng đã hoặc chưa bị gia công ở bề mặt, ở rìa hoặc ở đầu, hoặc được 
tráng hoặc phủ (ví dụ, bằng vải dệt, plastic, sơn, giấy hoặc kim loại) 
hoặc trải qua bất kỳ một công đoạn nào khác, với điều kiện những công 
đoạn này không làm cho chúng có đặc trưng của các mặt hàng ở các 
nhóm khác. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Ván dăm dù có hoặc không ghép với một hoặc một vài ván sợi 
(nhóm 44.10). 
(b) Gỗ ghép với lõi gồm ván sợi (nhóm 44.12). 
(c) Panel gỗ xốp thường có cả hai mặt là ván sợi (nhóm 44.18). 
(d) Bìa, như bìa phức hợp, "chảo ép" ("presspan") và các ván rơm, 
thường có thể phân biệt với ván sợi bởi cấu trúc lớp của chúng được 
làm phân tách rõ ràng (Chương 48). 
(e) Panel ván sợi rõ ràng có thể nhận biết như các bộ phận của đồ nội 
thất (thường thuộc Chương 94). 
44.12- Gỗ dán, tấm gỗ dán veneer và các loại gỗ ghép tương tự (+). 
4412.10 - Của tre 

- Gỗ dán khác, chỉ bao gồm những lớp gỗ (trừ tre), mỗi 
lớp có chiều dày không quá 6 mm: 
4412.31  - - Với ít nhất một lớp ngoài(1) bằng gỗ nhiệt đới 
4412.33 - - Loại khác, với ít nhất một lớp mặt ngoài bằng gỗ 
không thuộc loài cây lá kim thuộc các loài cây trăn 
(Alnus spp.), cây tần bì (Fraxinus spp.), cây dẻ gai 
(Fagus spp.), cây bạch dương (Betula spp.), cây anh 
đào (Prunus spp.), cây hạt dẻ (Castanea spp.), cây du 
(Ulmus spp.), cây bạch đàn (Eucalyptus spp.), cây mại 
châu (Carya spp.), cây hạt dẻ ngựa (Aesculus spp.), 
cây đoạn (Tilia spp.), cây thích (Acer spp.), cây sồi 
(Quercus spp.), cây tiêu huyền (Platanus spp.), cây 
dương (poplar và aspen) (Populus spp.), cây dương 
hòe (Robinia spp.), cây hoàng dương (Liriodendron 
                spp.) hoặc cây óc chó (Juglans spp.) 
Loại khác, với ít nhất một lớp mặt ngoài từ gỗ 
không thuộc loài cây lá kim chưa được chi tiết tại phân 
nhóm 4412.33 
4412.39  - - Loại khác, với cả hai lớp mặt ngoài từ gỗ thuộc loài 
cây lá kim 
- - Gỗ veneer nhiều lớp (LVL): 
4412.41  - - Với ít nhất một lớp ngoài bằng gỗ nhiệt đới 
4412.42  - - Loại khác, với ít nhất một lớp mặt ngoài từ gỗ không 
thuộc loài cây lá kim 
4412.49  - - Loại khác, với cả hai lớp mặt ngoài từ gỗ thuộc loài 
cây lá kim 
- - Tấm khối, tấm mỏng và tấm lót: 
4412.51  - - Với ít nhất một lớp ngoài bằng gỗ nhiệt đới 
4412.52  - -  Loại khác, với ít nhất một lớp mặt ngoài từ gỗ không 
thuộc loài cây lá kim 
4412.59  - - Loại khác, với cả hai lớp mặt ngoài từ gỗ thuộc loài 
cây lá kim 

                - Loại khác: 
4412.91  - - Với ít nhất một lớp ngoài bằng gỗ nhiệt đới 
4412.92  - - Loại khác, với ít nhất một lớp mặt ngoài từ gỗ không 
thuộc loài cây lá kim 
4412.99  - - Loại khác, với cả hai lớp mặt ngoài từ gỗ thuộc loài 
cây lá kim 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Gỗ dán bao gồm ít nhất ba tấm gỗ được dán và ép với nhau và 
thường được xếp để các vân của các lớp kế tiếp nhau ở một góc; 
điều này làm cho panel khoẻ hơn và, cân bằng được độ co, giảm độ 
vênh. Từng tấm gỗ cấu thành được gọi là "lớp" và gỗ dán thường 
được tạo thành từ một số lớp lẻ, lớp ở giữa được gọi là "lõi". 
(2) Tấm gỗ dán veneer, là panel gồm một lớp gỗ mặt mỏng được gắn 
với một lớp nền, thường làm bằng loại gỗ chất lượng thấp, bằng 
cách dán keo dưới áp lực.  
Gỗ được lát mặt trên một nền không phải gỗ (ví dụ, panel bằng 
plastic) cũng được phân loại ở đây với điều kiện nó là lớp mặt tạo 
cho panel đặc trưng cơ bản của nó. 
(3) Gỗ ghép tương tự. Nhóm này có thể phân thành 2 loại: 
Tấm khối, tấm mỏng và tấm lót, trong đó có lớp lõi dày và bao 
gồm các khối, thanh lát hoặc ván lát bằng gỗ được dán với nhau 
và được bọc bề mặt bằng những lớp ngoài. Panel loại này rất 
cứng và khoẻ và có thể được sử dụng mà không cần khung hay 
bồi. 
Panel có lớp lõi gỗ được thay thế bằng các chất liệu khác như 
một lớp hay các lớp bằng ván dăm, ván sợi, phế liệu gỗ được 
dán với nhau, amiăng hoặc lie. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm những sản phẩm như thanh xà và 
vòm trần ghép (được gọi là sản phẩm "gỗ dán") (thường thuộc nhóm 

Các sản phẩm thuộc nhóm này vẫn được phân loại ở đây dù chúng đã hay 
chưa được gia công để tạo thành các hình dạng được quy định đối với các 
mặt hàng của nhóm 44.09, được uốn cong, tạo sóng, đục lỗ, được cắt hoặc tạo 
thành các hình dáng trừ hình vuông hay hình chữ nhật và dù chúng đã hoặc 
chưa bị gia công ở bề mặt, ở rìa hoặc ở đầu, hoặc được tráng hoặc phủ (ví dụ, 
bằng vải dệt, plastic, sơn, giấy hoặc kim loại) hoặc trải qua bất kỳ một công 
đoạn nào khác, với điều kiện những công đoạn này không làm cho chúng có 
đặc trưng của các mặt hàng ở các nhóm khác. 
Nhóm này cũng bao gồm các panel gỗ dán, panel dán veneer và panel 
được tạo thành từ các gỗ ghép tương tự, được sử dụng như là panel lát 
sàn, một vài trong số này được biết đến như “sàn packê”. Những panel 
này có lớp mặt mỏng bằng gỗ được gắn trên bề mặt, với ý định bắt 
chước một panel lát sàn đã lắp ráp. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Tấm gỗ mỏng để làm lớp mặt thu được bằng cách lạng gỗ ghép 
(nhóm 44.08). 
(b) Panel bằng gỗ ghép đã được làm tăng độ rắn (nhóm 44.13). 
(c) Panel gỗ xốp và panel lát sàn đã lắp ghép, kể cả panel nguyên liệu lát 
sàn, hoặc những tấm rời để ghép, kể cả các loại bao gồm khối gỗ, 
dải gỗ, viền gỗ,... được lắp ghép trên một nền làm từ một hay nhiều 
lớp gỗ và được biết đến như panel nguyên liệu lát sàn “nhiều lớp" 
(nhóm 44.18). 
(d) Gỗ khảm và gỗ dát (nhóm 44.20). 
(e) Panel có thể nhận biết một cách rõ ràng như là bộ phận của đồ nội 
thất (thường thuộc Chương 94). 
Chú giải chi tiết phân nhóm. 
Các phân nhóm 4412.10, 4412.31, 4412.33, 4412.34 và 4412.39 

Gỗ dán vẫn được phân loại vào những phân nhóm này thậm chí nếu nó 
được phủ bề mặt hay được gia công thêm như đã được miêu tả trong 
đoạn thứ ba kể từ dưới lên của Chú giải chi tiết nhóm 44.12. 
Phân nhóm 4412.41, 4412.42 và 4412.49 
Gỗ dán nhiều lớp (LVL) là gỗ kỹ thuật composite được sử dụng để xây 
dựng các kết cấu và có tỷ số giữa độ bền và trọng lượng cao, tuy nhiên, 
các sản phẩm này không được thiết kế để hỗ trợ tải trọng kết cấu của một 
tòa nhà. Nó bao gồm các lớp ván lạng gỗ, thớ của các ván lạng bên ngoài 
và hầu hết hoặc tất cả các ván lạng khác chạy song song với trục dọc (ví 
dụ, các ván lạng liên tiếp). Các khúc gỗ được bóc thành các lớp mỏng và 
dán lại với nhau dưới nhiệt độ và áp suất. Các tấm gỗ lạng được sử dụng 
trong sản xuất LVL thường được ghép nối, ghép đối đầu hoặc ghép 
chồng để mang lại đặc tính độ bền liên tục. 
44.13- Gỗ đã được làm tăng độ rắn, ở dạng khối, tấm, thanh hoặc 
các dạng hình. 
Gỗ đã được làm tăng độ rắn được chi tiết ở nhóm này đã được xử lý về 
mặt vật lý hay hoá học nhằm tăng tỷ trọng hoặc độ cứng của nó và tăng 
độ chịu lực hay kháng hoá chất hay cách điện. Gỗ như vậy có thể đặc 
hay gồm nhiều lớp liên kết với nhau, trong trường hợp sau thì cách xử lý 
được áp dụng là trên mức cần thiết để làm cho các lớp có độ liên kết tốt. 
Hai quá trình chủ yếu, thấm tẩm và tăng độ rắn, được sử dụng để làm ra 
những sản phẩm ở nhóm này. Các quá trình này có thể được thực hiện 
riêng hay cùng nhau. 
Trong quá trình thấm tẩm, gỗ phải được thấm tẩm kỹ, thường bằng 
plastic phản ứng nhiệt hay bằng kim loại nóng chảy. 
Việc thấm tẩm bằng plastic phản ứng nhiệt (ví dụ, nhựa amino hoặc nhựa 
phenolic) thường được áp dụng cho các lớp gỗ mặt rất mỏng để làm gỗ ghép 
hơn là cho gỗ đặc, bởi vì quá trình thấm vào bằng cách đó dễ dàng. 
Gỗ phủ kim loại thu được bằng cách nhúng mảnh của gỗ khối, đã được 

làm nóng trước đó, vào bồn kim loại nóng chảy (ví dụ, thiếc, antimon, 
chì, bismut hoặc các hợp kim của chúng) dưới  áp suất  trong bể kín. Mật 
độ của gỗ phủ kim loại thông thường là trên 3,5g/cm3. 
Sự làm tăng độ rắn có tác động đến độ co của các tế bào gỗ; điều này 
có thể được thực hiện bằng việc ép theo hướng ngang bằng máy ép thuỷ 
lực hay cho gỗ đi qua các trục lăn, hoặc bằng cách ép trên mọi hướng ở 
nhiệt độ cao trong nồi hơi. Gỗ đã được làm tăng độ rắn có thể có mật độ 
lớn đến 1,4g/cm3. 
Việc thấm tẩm và làm tăng độ rắn có thể được thực hiện đồng thời 
bằng cách dán các tấm gỗ rất mỏng (thường là gỗ dẻ gai) với plastic 
phản ứng nhiệt dưới áp suất lớn và ở nhiệt độ cao để làm cho gỗ được 
thấm tẩm sâu và nén kỹ cũng như được liên kết tốt. 
Gỗ đã được làm tăng độ rắn được sử dụng phổ biến làm bánh răng, con 
thoi, trục và các chi tiết máy khác, chân vịt, vật cách, và các mặt hàng 
điện khác, bình trong công nghiệp hoá học... 
44.14- Khung tranh, khung ảnh, khung gương bằng gỗ hoặc các sản 
phẩm bằng gỗ tương tự. 
4414.10 - Từ gỗ nhiệt đới 
4414.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm khung gỗ với mọi hình dáng và kích thước, dù được 
cắt thành miếng từ gỗ khối đặc hay được ghép từ quá trình tạo chuỗi hay 
tạo khuôn. Khung gỗ trong nhóm này cũng có thể là gỗ khảm hay gỗ dát. 
Các mặt hàng thuộc nhóm này có thể được làm bằng gỗ thông thường 
hoặc bằng ván dăm hoặc ván tương tự, ván sợi, gỗ ghép hoặc gỗ được 
làm tăng độ rắn (xem Chú giải 3 của Chương này). 
Các loại khung vẫn thuộc nhóm này nếu được gắn phần lưng, có giá đỡ 
và kính thông thường (plain glass).  
Các tranh và ảnh in sẵn được trình bày trong khung gỗ cũng được xếp 
vào nhóm này khi khung đó tạo ra đặc tính cơ bản của toàn bộ sản phẩm; 
trong các trường hợp khác, những mặt hàng như vậy được phân loại vào 

nhóm 49.11. 
Gương đã đóng khung cũng bị loại trừ (nhóm 70.09). 
Trong trường hợp tranh, các bức tranh vẽ, tranh phác hoạ, tranh bột màu, 
hình ghép nghệ thuật và phù điêu trang trí tương tự và nguyên bản các 
bản khắc, bản in và bản in lytô đã được đóng khung, để quyết định các 
mặt hàng đã được đóng khung này sẽ được phân loại như toàn bộ sản 
phẩm hay khung được phân loại riêng, xem Chú giải 6 Chương 97 và 
Chú giải của các nhóm 97.01 và 97.02. 
44.15- Hòm, hộp, thùng thưa, thùng hình trống và các loại bao bì 
tương tự, bằng gỗ; tang cuốn cáp bằng gỗ; giá kệ để kê hàng, 
giá để hàng kiểu thùng và các loại giá để hàng khác, bằng gỗ; 
kệ có thể tháo lắp linh hoạt (pallet collars) bằng gỗ. 
4415.10 - Hòm, hộp, thùng thưa, thùng hình trống và các loại bao 
bì tương tự; tang cuốn cáp 
4415.20 - Giá kệ để kê hàng, giá kệ để hàng kiểu thùng và các 
loại giá để hàng khác; kệ có thể tháo lắp linh hoạt 
Các mặt hàng thuộc nhóm này có thể được làm bằng gỗ thông thường 
hoặc bằng ván dăm hoặc ván tương tự, ván sợi, gỗ ghép hoặc gỗ được 
làm tăng độ rắn (xem Chú giải 3 của Chương này). 
(I) HÒM, HỘP, THÙNG THƯA, THÙNG HÌNH TRỐNG VÀ  
CÁC LOẠI BAO BÌ TƯƠNG TỰ 
Phần này của nhóm bao gồm: 
(1) Hòm và hộp có thành, đáy và nắp cứng, được sử dụng phổ biến để 
đóng gói và vận chuyển.  
(2) Thùng thưa, hộp để đựng rau hoặc trái cây, khay trứng và các đồ 
chứa khác có các cạnh thưa và không có nắp (kể cả những loại 
thùng chuyên chở đồ thuỷ tinh, sản phẩm sứ, máy móc...) 

(3) Hộp làm bằng gỗ lạng hay tách lớp (nhưng không phải là loại gỗ 
được bện tết) là loại dùng để đóng gói pho-mat, dược phẩm...; hộp 
diêm (kể cả loại có bề mặt để đánh diêm) và vật chứa hình nón mở 
nắp thuận tiện cho việc đi tiếp thị bơ, trái cây,... 
(4) Thùng hình trống và vật chứa hình tròn, không phải loại thùng có 
đai, như được dùng để vận chuyển chất màu khô, hoá chất... 
Những đồ chứa này có thể không có nắp (đồ chứa "mở" như hòm, thùng 
thưa...). Chúng có thể chưa ráp hay ráp một phần, với điều kiện là gỗ phải ở 
dạng bộ gồm các phần cần thiết để làm một đồ chứa hoàn chỉnh hay một đồ 
chứa chưa hoàn chỉnh nhưng có những đặc trưng cơ bản của một đồ chứa 
hoàn chỉnh. Trường hợp gỗ không ở dạng bộ như vậy, nó sẽ phải phân loại 
thành gỗ đã được cưa hoặc bào, gỗ dán... tuỳ theo từng trường hợp cụ thể. 
Các loại hòm đóng gói,..., thuộc nhóm này có thể được đóng đinh sơ qua 
hay ráp mộng đuôi én hoặc ghép nối cách khác. Chúng có thể được gắn 
bản lề, tay nắm, chốt, bệ hay nẹp góc, hoặc lót bằng kim loại, giấy... 
Hộp, thùng thưa... đã qua sử dụng, có thể dùng tiếp được, vẫn được phân 
loại vào nhóm này, nhưng những loại đó không thể sử dụng được trừ 
việc sử dụng như nhiên liệu thì bị loại trừ (nhóm 44.01). 
Nhóm này cũng không bao gồm:  
(a) Các mặt hàng thuộc nhóm 42.02. 
(b) Tráp, các loại hộp đựng, và các mặt hàng tương tự thuộc nhóm 
(c) Công-ten-nơ (container) được thiết kế và trang bị đặc biệt để vận 
chuyển theo một hoặc nhiều phương thức (nhóm 86.09). 
(II) TANG CUỐN CÁP 
Tang cuốn cáp là các tang lớn, thường có đường kính trên 1m, dùng để 
giữ và vận chuyển cáp điện, cáp điện thoại và các loại cáp tương tự. 
Chúng được nhằm để cuốn dây cáp. 

(III) GIÁ KỆ ĐỂ KÊ HÀNG, GIÁ ĐỂ HÀNG KIỂU THÙNG VÀ 
CÁC LOẠI GIÁ ĐỂ HÀNG KHÁC 
Các giá để hàng là các bệ có thể di chuyển để tập hợp một lượng hàng 
hóa để tạo thành một khối để bốc xếp, vận chuyển và lưu trữ bằng các 
thiết bị cơ học. 
Giá kệ để kê hàng (pallet) là một loại giá để hàng hai ngăn được cách 
biệt bởi các bệ đỡ hoặc một ngăn đơn có chân và được thiết kế chủ yếu 
cho việc bốc xếp bằng xe tải có chạc nâng hàng hoặc xe nâng giá. Giá kệ 
để hàng kiểu thùng có phần ở trên gồm ít nhất có ba mặt cố định, có thể 
dịch chuyển hoặc có thể gập theo phương thẳng đứng và được thiết kế 
cho việc xếp chồng giá nâng hàng hai tầng hoặc một giá nâng hàng kiểu 
hộp khác. 
Các ví dụ khác của giá để hàng khác là tấm nâng hàng, tấm nâng hàng có 
trụ, tấm nâng hàng có đai vòng, tấm nâng hàng có đường ray ở bên và 
tấm nâng hàng có đường ray ở cuối. 
(IV) KỆ CÓ THỂ THÁO LẮP LINH HOẠT (PALLET 
Kệ có thể tháo lắp linh hoạt (pallet collars) được làm từ bốn miếng gỗ, 
thường có các bản lề ở cuối để tạo nên một chiếc khung được đặt phía 
trên giá nâng hàng. 
44.16- Thùng tô nô, thùng tròn, thùng hình trống, hình trụ, có đai, 
các loại thùng có đai khác và các bộ phận của chúng, bằng 
gỗ, kể cả các loại tấm ván cong. 
Nhóm này bị giới hạn đối với các vật chứa là các sản phẩm của ngành 
đóng thùng, là những thùng mà có phần thân được ghép bằng những tấm 
ván cong có các rãnh mà nắp và đáy được ráp khít vào các rãnh đó, hình 
dáng thùng được giữ bởi đai bằng gỗ hoặc kim loại. 
Các loại thùng có đai bao gồm thùng tô-nô các loại (thùng rượu cỡ lớn, 
thùng tròn, thùng bia lớn…) có thành kín (dùng để đựng hàng chất lỏng) 
hay hở (để đựng hàng khô), cũng như chum, chậu... 
Những loại thùng này có thể được tháo rời hay lắp ráp một phần, đôi khi 

chúng được lót hay tráng bên trong. 
Nhóm này cũng bao gồm ván cong và tất cả các sản phẩm gỗ khác, đã 
hoặc chưa hoàn thiện, có thể nhận ra chúng là bộ phận của các loại thùng 
có đai (ví dụ, phần trên thùng tròn, đai gỗ cắt dọc và được khía chữ V ở 
cuối thuận tiện cho lắp ráp). 
Nhóm này cũng bao gồm các thanh ván cong đóng thùng chưa hoàn 
thiện (gỗ ván cong), tức là, các dải gỗ để tạo thành những mặt bên, nắp 
hay đáy của thùng tròn và các loại thùng có đai khác. Các ván gỗ cong 
như vậy có thể dưới dạng: 
(1) Các dải gỗ được tách ra từ một phần thân cây dọc theo hướng đường tia 
tâm. Các ván cong như vậy cũng có thể được cưa phẳng thêm trên một 
trong các mặt chính, mặt kia chỉ cần chỉnh thêm bằng rìu hay dao. 
(2) Ván cong được cưa, với điều kiện là ít nhất có một trong hai mặt 
chính phải lồi hay lõm, các bề mặt được uốn cong như vậy được tạo 
ra bằng cách cưa với một loại cưa vòng. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Gỗ được cưa phẳng trên cả hai mặt chính (nhóm 44.07 hoặc 44.08). 
(b) Đồ chứa làm bằng ván cong có nắp và đáy bằng được cố định bằng 
đinh (nhóm 44.15) 
(c) Thùng tô-nô... được cắt tạo dáng dùng làm đồ nội thất (ví dụ, bàn và 
ghế) (Chương 94). 
44.17- Dụng cụ các loại, thân dụng cụ, tay cầm dụng cụ, thân và cán 
chổi hoặc bàn chải, bằng gỗ; cốt và khuôn giày hoặc ủng, 
bằng gỗ. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Dụng cụ bằng gỗ, trừ dụng cụ gỗ có bản lưỡi, rìa thao tác, bề mặt 
thao tác hay các bộ phận thao tác khác bằng vật liệu được chi tiết tại 
Chú giải 1 Chương 82. 
Dụng cụ thuộc nhóm này bao gồm dao trộn (trừ bộ đồ làm bếp 
thuộc nhóm 44.19), dao tạo mẫu, vồ hoặc vồ lớn, cào, dĩa, xẻng, 

44.18- Đồ mộc dùng trong xây dựng, kể cả tấm gỗ có lõi xốp, tấm lát  44.18- Builders’ joinery and carpentry of wood, including cellular 
dụng cụ chốt của đồ mộc, bàn kẹp, khối gỗ được đánh giấy ráp v.v... 
(2) Thân dụng cụ bằng gỗ (ví dụ, thân chiếc bào, cái bào khung, cưa 
hình khung hoặc các dụng cụ tương tự) chưa được gắn với các bộ 
phận thao tác bằng kim loại của chúng (lưỡi và các chi tiết sắt khác). 
(3) Tay cầm bằng gỗ, đã hoặc chưa được tiện, dùng cho các dụng cụ 
hoặc phương tiện các loại (ví dụ, cán cho mai, xẻng, cào, búa, tuốc-
nơ-vít, cưa, giũa, dao, công cụ đánh nhẵn kim loại, tay con dấu ngày 
tháng hoặc các loại con dấu tương tự). 
(4) Thân chổi hoặc thân bàn chải bằng gỗ. Chúng là những miếng gỗ, 
đã hoặc chưa hoàn thiện, được tạo dáng để có thể thành đầu chổi 
hay bàn chải. Đôi khi chúng có thể gồm hơn một miếng gỗ.  
(5) Cán chổi hoặc bàn chải bằng gỗ, đã hoặc chưa được tiện, và là loại 
để gắn sợi hoặc lông cứng tại một đầu (ví dụ, chổi vẽ) hoặc để gắn 
với thân (ví dụ, cán chổi). 
(6) Khuôn giày hoặc ủng bằng gỗ (tức là, vật tạo dáng dùng trong công 
nghệ chế tạo giày dép) và cốt giày hoặc ủng, đã hoặc chưa hoàn 
thiện, dùng để giữ dáng hay làm căng giày, dép. 
Các mặt hàng thuộc nhóm này có thể được làm bằng gỗ thông thường 
hoặc ván dăm hoặc ván tương tự, ván sợi, gỗ ghép hoặc gỗ được làm 
tăng độ rắn (xem Chú giải 3 của Chương này). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Gỗ chỉ được tỉa thô hay tiện tròn để chế tạo tay cầm dụng cụ (nhóm 
(b) Gỗ chỉ mới được cưa (ví dụ, thành khối) để chế tạo các mặt hàng 
trong nhóm này, nhưng chưa được tạo dáng thành phôi thô (nhóm 
(c) Cán bằng gỗ dùng cho dao ăn, thìa và dĩa (nhóm 44.21). 
(d) Cốt làm mũ (nhóm 84.49). 
(e) Khuôn đúc... bằng gỗ, của nhóm 84.80. 
(f) Máy móc hoặc bộ phận của máy móc (Chương 84). 

sàn đã lắp ghép và ván lợp (shingles and shakes) (+). 
 - Cửa sổ, cửa sổ kiểu Pháp và khung cửa sổ: 
4418.11 - - Từ gỗ nhiệt đới 
4418.19 - - Loại khác 
 - Cửa ra vào và khung cửa ra vào và ngưỡng cửa của 
chúng: 
4418.21 - - Từ gỗ nhiệt đới 
4418.29 - - Loại khác 
4418.30 - Trụ và dầm ngoài các sản phẩm thuộc phân nhóm 
4418.81 đến 4418.89 
4418.40 - Ván cốp pha xây dựng 
4418.50 - Ván lợp (shingles and shakes) 
 - Tấm lát sàn đã lắp ghép: 
 4418.73 - - Từ tre hoặc có ít nhất lớp trên cùng (lớp phủ) từ tre 
 4418.74 - - Loại khác, cho sàn khảm (mosaic floors) 
 4418.75 - - Loại khác, nhiều lớp 
 4418.79 - - Loại khác 
             - Sản phẩm gỗ kết cấu kỹ thuật: 
4418.81 - - Gỗ ghép nhiều lớp bằng keo (glulam) 
4418.82 - -  Gỗ ghép nhiều lớp xếp vuông góc (CLT hoặc X-lam) 
4418.83 - - Dầm chữ I 
4418.89 - - Loại khác 
                - Loại khác : 
4418.91  - - Của tre 
4418.92  - - Tấm gỗ có lõi xốp 
4418.99 - - Loại khác  
Nhóm này áp dụng đối với các cấu kiện gỗ, kể cả gỗ khảm hay gỗ dát, 
được sử dụng trong việc xây dựng bất cứ loại nhà nào... dưới dạng hàng 

hoá đã lắp ráp hay có thể nhận ra các phần chưa lắp ráp (ví dụ, đã được 
xử lý với mộng, lỗ mộng, mộng đuôi én hay các dạng mộng tương tự để 
lắp ráp), đã hoặc chưa gắn với các chi tiết kim loại của chúng như bản lề, 
khoá... 
Các mặt hàng thuộc nhóm này có thể được làm bằng gỗ thông thường 
hoặc ván dăm hoặc ván tương tự, ván sợi, gỗ ghép hoặc gỗ được làm 
tăng độ rắn (xem Chú giải 3 của Chương này). 
Thuật ngữ “joinery” áp dụng cụ thể hơn cho các đồ lắp ráp trong xây 
dựng (như cửa, cửa sổ, cửa chớp, cầu thang, khung cửa hoặc khung cửa 
sổ), trong khi thuật ngữ "carpentry" liên quan tới cấu kiện gỗ (như xà 
rầm, rui và thanh chống) dùng làm vật liệu tạo cấu trúc hay dàn giáo, 
vòm chống... và bao gồm cả ván cốp pha cho việc cấu trúc bê tông. Tuy 
nhiên, panel gỗ dán, thậm chí nếu bề mặt được xử lý để làm ván cốp pha 
bê tông, thì được phân loại vào nhóm 44.12. 
Đồ mộc (carpentry) xây dựng bao gồm cả vật liệu gỗ ghép- dán 
(glulam), là sản phẩm gỗ có cấu trúc thu được bằng cách dán một số gỗ 
ghép có các thớ gỗ chạy song song với nhau. Việc ghép các phần gỗ 
được uốn cong được sắp đặt sao cho mặt phẳng của phần được dán 
vuông góc với mặt phẳng của phần lực dán; do đó, việc ghép xà cột 
glulam thẳng được đặt phẳng. 
Nhóm này cũng bao gồm các panel gỗ xốp mà hình dáng hơi giống các 
ván dạng khối và ván lót được mô tả trong Chú giải nhóm 44.12, nhưng 
ván lót hay những thanh gỗ mỏng làm thành phần lõi được đặt cách 
nhau, hoặc theo hình dáng song song hoặc đan vào nhau. Trong một số 
trường hợp nào đó, những tấm panel này có thể gồm những tấm bọc mặt 
được tách biệt bằng một khung phía trong chỉ ở các cạnh. Khe hở có thể 
được bọc bằng vật liệu cách âm hay kháng nhiệt (ví dụ, lie, sợi thuỷ tinh, 
bột, gỗ, amiăng). Các tấm mặt có thể từ gỗ đặc, ván dăm hay các loại 
ván tương tự, ván sợi hay gỗ dán và các tấm panel (như các mặt hàng 
trong nhóm 44.12) có thể được phủ mặt bằng kim loại cơ bản. Các tấm 
thuộc loại này tương đối nhẹ nhưng khoẻ và được sử dụng làm vách 
ngăn, cửa ra vào và đôi khi để chế tạo đồ nội thất. 
Nhóm này cũng bao gồm các khối, dải, viền gỗ… đặc được lắp ghép 

thành panel lát sàn (kể cả panel lát sàn packê) hoặc dạng tấm rời để 
ghép, có hoặc không có đường viền. Nó cũng bao gồm panel lát sàn hay 
tấm rời để ghép gồm các khối, dải, viền gỗ,…, được lắp ghép trên một 
lớp nền làm từ một hay nhiều lớp gỗ, được biết đến như panel lát sàn 
packê “nhiều lớp”. Lớp trên cùng (lớp bao ngoài) thông thường được 
làm từ hai hay nhiều hàng của các dải gỗ tạo thành panel. Các panel hay 
tấm rời để ghép này có thể được làm mộng hoặc soi rãnh ở rìa để lắp ráp 
thuận tiện. 
Ván lợp (shingle) là gỗ được xẻ theo chiều dọc thường dày hơn 5mm ở 
một đầu (gốc) nhưng mỏng hơn 5mm ở đầu còn lại (đầu). Nó có thể có 
rìa được cưa lại cho song song, phần gốc của nó có thể cưa lại cho vuông 
góc với rìa hay để uốn cong hoặc tạo các hình dáng khác. Một trong các 
mặt của nó có thể được chà nhám từ gốc đến đầu hay được soi rãnh dọc 
chiều dài. 
Ván lợp (shake) là gỗ được chẻ bằng tay hoặc bằng máy từ thanh hay từ 
khối. Bề mặt của nó biểu lộ cấu trúc tự nhiên của gỗ kết quả của quá 
trình chẻ. Đôi khi nó được cưa dọc qua chiều dày của nó để thu được hai 
tấm ván, mỗi tấm ván sau đó có một mặt được chẻ và một mặt phía sau 
được cưa. 
 Nhóm này không bao gồm: 
(a) Những tấm panel gỗ dán, những tấm làm lớp mặt hoặc các panel từ 
gỗ ghép tương tự, được dùng làm panel lát sàn, có một lớp mặt 
mỏng bằng gỗ gắn cố định vào bề mặt để bắt chước panel lát sàn 
được lắp ghép thuộc nhóm 44.18 (nhóm 44.12). 
(b) Tủ (cupboard), có hay không có mặt lưng, thậm chí nếu nó được thiết 
kế để đóng đinh hoặc gắn chặt bằng cách khác vào trần hoặc tường 
nhà (nhóm 94.03). 
(c) Nhà lắp ghép (nhóm 94.06). 
Chú giải chi tiết phân nhóm. 
Phân nhóm 4418.71 

Panel lát sàn đã lắp ghép dùng cho sàn khảm là loại panel lắp ghép sẵn 
gồm một số bộ phận riêng biệt có hình vuông hoặc hình chữ nhật và có 
thể còn gồm cả các “vật làm kín” (“cabochon”) (hình vuông, hình chữ 
nhật, hình tam giác, hình thoi nhỏ hoặc những miếng gỗ nhỏ được tạo 
hình cách khác được sử dụng làm kín chỗ hở nhằm đạt được mô hình như 
mong muốn). Những dải gỗ được xếp đặt theo một mô hình nhất định, ví 
dụ, kẻ ô vuông, “hình nan rổ rá” và hình chữ chi (hình xương cá) (xem 
hình minh họa dưới đây). 
Phân nhóm 4418.81, 4418.82, 4418.83 và 4418.89 
Theo mục đích của các phân nhóm này, thuật ngữ “Sản phẩm gỗ kết cấu 
kỹ thuật” áp dụng cho các sản phẩm bao gồm gỗ ghép hoặc kết hợp các 
sản phẩm gỗ, chẳng hạn như gỗ timber, gỗ veneer nhiều lớp (LVL), gỗ 
dán hoặc ván dăm định hướng (OSB), để mang lại độ bền cao hơn gỗ xẻ 
(nhóm 44.07). Những sản phẩm được sản xuất này được thiết kế để hỗ trợ 
tải trọng kết cấu của tòa nhà. 
Gỗ ghép nhiều lớp bằng keo (Glulam) là một vật liệu kết cấu gỗ lớn cấu 
tạo từ nhiều lớp gỗ được dán lại với nhau theo thớ gỗ của mỗi lớp được 
định hướng song song với thớ gỗ của các lớp kế tiếp. 
Gỗ ghép nhiều lớp xếp vuông góc (CLT, còn gọi là X-lam hoặc gỗ ghép 
vuông góc) là một loại tấm xây dựng kết cấu lớn được cấu tạo từ ít nhất ba 
lớp gỗ ghép với nhau. Mỗi lớp được làm từ nhiều tấm gỗ nguyên khối (gỗ 

xẻ hoặc xẻ dọc, lạng hoặc bóc, có độ dày trên 6 mm) được đặt cạnh nhau, 
có hoặc không dán keo lại với nhau. Thớ gỗ của mỗi lớp thường được 
định hướng vuông góc với thớ gỗ của các lớp liền kề. 
CLT khác với gỗ dán (plywood) vì nó được làm từ nhiều miếng gỗ xẻ 
nguyên khối được định hướng thành từng lớp thay vì các tấm veneer (có 
độ dày không quá 6 mm). Cấu trúc thớ gỗ xen kẽ mang lại độ cứng kết 
cấu cao hơn theo cả hướng dọc và ngang và hỗ trợ kết cấu trong các ứng 
dụng chịu tải. 
Dầm chữ I (còn gọi là I-joists) là các vật liệu kết cấu gỗ kỹ thuật chữ “I” 
và bao gồm các mặt bích trên và dưới (các bộ phận ngang), liên kết với 
các bụng dầm (các bộ phận dọc). Vật liệu mặt bích thường là gỗ ghép 
nhiều lớp bằng keo (LVL) hoặc gỗ xẻ nguyên khối, và bụng dầm được 
làm bằng gỗ dán (plywood) hoặc ván dăm định hướng (OSB). 
Phân nhóm 4418.92 
Phân nhóm 4418.92 không bao gồm các tấm gỗ có lõi xốp làm bằng tre 
(phân nhóm 4418.91). 
44.19- Bộ đồ ăn và bộ đồ làm bếp, bằng gỗ. 
- Từ tre: 
4419.11 - - Thớt cắt bánh mì, thớt chặt và các loại thớt tương tự 
4419.12 - - Đũa 
4419.19 - - Loại khác 
4419.20 - Từ gỗ nhiệt đới 
4419.90 -  Loại khác 
Nhóm này chỉ bao gồm các mặt hàng gia dụng bằng gỗ, đã hoặc chưa 
tiện, hoặc bằng gỗ khảm hay dát mà có tính chất của bộ đồ ăn hay bộ đồ 
làm bếp. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm những hàng hoá có đặc 
tính chủ yếu là trang trí, và đồ nội thất.  

Các mặt hàng thuộc nhóm này có thể được làm bằng gỗ thông thường 
hoặc ván dăm hoặc ván tương tự, ván sợi, gỗ ghép  hoặc gỗ được làm 
tăng độ rắn (xem Chú giải 3 của Chương này). 
Nhóm này bao gồm: thìa, dĩa, đồ trộn xa- lát; đĩa bằng và đĩa tiếp thức 
ăn; bình, chén và đĩa; đồ đựng các loại gia vị và các đồ chứa nhà bếp 
khác; đồ xúc vụn bánh (crumb-scoops), không kèm chổi; vòng khăn ăn; 
đồ cán bột nhào; khuôn bột nhào; chày; đồ đập hạt; khay; bát; thớt cắt 
bánh; thớt chặt; giá đựng đĩa; các đồ đo sức chứa sử dụng trong bếp. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các loại thùng có đai (nhóm 44.16). 
(b) Các bộ phận làm bằng gỗ của bộ bàn ăn và đồ làm bếp (nhóm 
(c) Chổi và bàn chải (nhóm 96.03). 
(d) Sàng tay (nhóm 96.04). 
44.20- Gỗ khảm và dát; tráp và các loại hộp đựng đồ trang sức hoặc 
đựng dao kéo, và các sản phẩm tương tự, bằng gỗ; tượng nhỏ 
và đồ trang trí khác, bằng gỗ; các loại đồ nội thất bằng gỗ 
không thuộc Chương 94. 
- Tượng nhỏ và các đồ trang trí khác: 
4420.11 - - Từ gỗ nhiệt đới 
4420.19 - -  Loại khác 
  4420.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm panel từ gỗ khảm và gỗ dát, kể cả những loại có một 
phần bằng chất liệu khác khác gỗ. 
Các mặt hàng thuộc nhóm này có thể được làm bằng gỗ thông thường 
hoặc ván dăm hoặc ván tương tự, ván sợi, gỗ ghép hoặc gỗ được làm 
tăng độ rắn (xem Chú giải 3 của Chương này). 
Nhóm này cũng bao gồm nhiều loại mặt hàng bằng gỗ (kể cả các mặt 

hàng bằng gỗ khảm hay gỗ dát), thường được chế tạo công phu và tinh 
xảo, như: các mặt hàng hộp nhỏ (ví dụ, tráp và hộp đựng đồ kim hoàn); 
đồ đạc nhỏ; các mặt hàng trang trí. Các mặt hàng như vậy được phân 
loại vào nhóm này, thậm chí nếu được gắn với gương, với điều kiện là 
chúng vẫn giữ được các đặc trưng cơ bản của hàng hóa thuộc loại được 
mô tả trong nhóm này. Tương tự, nhóm này cũng bao gồm các mặt hàng 
được lót một phần hay toàn bộ bằng da thuộc tự nhiên hoặc da thuộc 
tổng hợp, bìa, plastic, sợi dệt... với điều kiện là chúng là những mặt 
hàng về bản chất từ gỗ. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Các hộp bằng gỗ sơn mài (theo kiểu Trung quốc hay Nhật Bản); hòm 
và hộp bằng gỗ, để đựng dao, kéo, thiết bị khoa học...; hộp đựng 
thuốc lá hít và các loại hộp nhỏ khác để bỏ túi, túi xách hoặc mang 
theo bên người; hộp đựng văn phòng phẩm...; hộp đựng đồ khâu vá; 
lọ đựng thuốc lá hay hộp kẹo. Tuy nhiên, nhóm này loại trừ các hộp 
đựng gia vị nhà bếp thông thường,… (nhóm  44.19). 
(2) Mặt hàng của đồ nội thất bằng gỗ, trừ những mặt hàng trong 
Chương 94 (xem Chú giải tổng quát của Chương đó). Bởi vậy 
nhóm này gồm các hàng hóa như giá treo mũ hoặc áo khoác, giá 
treo bàn chải quần áo, khay để giấy tờ cho mục đích văn phòng, gạt 
tàn, khay bút và giá mực. 
(3) Tượng nhỏ, tượng thú, tượng người và các đồ trang trí khác. 
Những chi tiết gỗ của các mặt hàng trong nhóm này bị loại trừ (nhóm 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Hộp đựng nhạc cụ hay đựng súng, bằng gỗ, và bao, hòm, hộp và các 
đồ chứa tương tự được bọc da thuộc hay da thuộc tổng hợp, giấy 
hay bìa, sợi lưu hoá, tấm plastic, hay các vật liệu dệt (nhóm 42.02). 
(b) Đồ trang sức làm bằng chất liệu khác (nhóm 71.17). 
(c) Hộp đồng hồ và các bộ phận của chúng trong Chương 91. 

(d) Nhạc cụ và các bộ phận của chúng trong Chương 92. 
(e) Vỏ gươm và bao súng (nhóm 93.07) 
(f) Các mặt hàng trong Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, đèn (luminaires) 
và bộ đèn). 
(g) Tẩu thuốc và các phần của nó, nút bấm, bút chì và các mặt hàng khác 
thuộc Chương 96. 
(h) Tác phẩm nghệ thuật hoặc đồ cổ thuộc Chương 97. 
44.21- Các sản phẩm bằng gỗ khác. 
4421.10 - Mắc treo quần áo 
4421.20 - Quan tài 
- Loại khác : 
 4421.91 - - Từ tre 
 4421.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm tất cả các mặt hàng bằng gỗ được sản xuất bằng 
cách tiện hay bất cứ các cách khác, hoặc được làm bằng gỗ khảm hay 
dát, trừ những mặt hàng được chi tiết hoặc ghi ở các nhóm trước và trừ 
những mặt hàng được phân loại nơi khác không tính đến chất liệu cấu 
tạo của chúng (xem, ví dụ, Chú giải 1 của Chương này). 
Nhóm này cũng bao gồm các bộ phận bằng gỗ của các mặt hàng được 
chi tiết hoặc ghi ở các nhóm trước, trừ các mặt hàng thuộc nhóm 44.16. 
Các mặt hàng thuộc nhóm này có thể được làm bằng gỗ thông thường 
hoặc bằng ván dăm hoặc ván tương tự, ván sợi, gỗ ghép hoặc gỗ được 
làm tăng độ rắn (xem Chú giải 3 của Chương này). 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Lõi cuộn chỉ, ống sợi, suốt sợi, guồng cuốn chỉ may... Những mặt 
hàng này thường có thân (hoặc lõi) bằng gỗ đã tiện trên đó các sợi 
hoặc dây mịn có thể được cuốn; thân ống có thể hình trụ hay hình 
nón, thường có lỗ  rãnh trung tâm, và có thể có gờ ở một hay cả hai 
đầu. Nhóm cũng bao gồm ống chỉ được làm từ một thân ống trung 

tâm bằng gỗ đã tiện có các đầu bằng gỗ hoặc vật liệu khác được lắp 
và được sử dụng, ví dụ, cho dây cách điện. 
(2) Chuồng thỏ, chuồng gà, tổ ong, chuồng nói chung, cũi chó, máng ăn; 
ách cho gia súc. 
(3) Vật dụng để trang trí sân khấu; bàn thợ mộc; các bàn có các dụng cụ 
căng bằng vít để giữ chỉ ngang, được sử dụng trong khâu sách bằng 
tay; thang và bậc thang; giàn, ký tự, dấu hiệu chỉ đường, con số; ký 
hiệu; nhãn hiệu trong nghề làm vườn...; tăm; lưới mắt cáo và các 
tấm chắn; cổng chắn đường ngang; màn cuốn, màn kiểu Venetian và 
các kiểu khác; nút thùng rượu; khuôn gỗ; trục của mành trúc; mắc 
áo; tấm gỗ trải áo để giặt; bàn gỗ để ủi; kẹp quần áo; chốt; mái chèo, 
mái chèo nhỏ, bánh lái; quan tài. 
(4) Khối gỗ lát nền, thường thống nhất về kích cỡ và thường có các mặt 
hình chữ nhật. Chúng được chế tạo bởi các máy cưa vòng phức hợp.  
Các dải gỗ cách nhau đôi khi có thể được đóng đinh vào các cạnh để 
cho phép độ phồng của gỗ sau khi đặt. 
(5) Que diêm được chế tạo bằng cách cắt kéo, hoặc phổ biến hơn, là lạng 
hoặc tách gỗ, theo kích thước của diêm. Chúng cũng có thể được 
đục ra từ một khối gỗ đơn với số lượng lớn. Chúng cũng có thể được 
tẩm, thấm các chất hoá học (ví dụ, các ammonium phosphate) 
nhưng không được phân loại vào Chương này nếu có chất cháy vào 
phần đầu. Nhóm này cũng bao gồm các dải gỗ được tạo răng hoặc 
được tạo rãnh trên một cạnh để sản xuất diêm (book matches). 
(6) Chốt hoặc móc gỗ của giày dép được làm theo cùng cách làm que 
diêm, nhưng một mặt được vót nhọn và có thể có mặt cắt tròn, 
vuông hay tam giác. Chúng có thể được dùng thay đinh trong việc 
sửa đế và gót của giày và ủng. 
(7) Các dụng cụ đo sức chứa loại trừ đồ làm bếp của nhóm 44.19. 
(8) Tay cầm bằng gỗ cho dao ăn, thìa và dĩa. 
(9) Các panel bao gồm các thanh gỗ mỏng bằng gỗ xẻ thô, được lắp ráp 
bằng keo để thuận tiện trong vận chuyển hoặc gia công tiếp theo. 

(10) Gỗ được tạo khuôn bằng cách chồng lên vật đúc trên một miếng gỗ 
khác đã được tạo khuôn hoặc chưa tạo khuôn (trừ các loại thuộc 
nhóm 44.18). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các dải gỗ dùng làm que diêm (nhóm 44.04). 
(b) Móc giày chưa hoàn thiện dưới dạng dải gỗ, có một rìa được gọt xiên 
trên cả hai mặt, sẵn sàng cho việc cắt tạo thành chốt (nhóm 44.09). 
(c) Cán gỗ, cho dao (trừ dao ăn) và các công cụ hoặc dụng cụ khác, 
thuộc nhóm 44.17. 
(d) Các mặt hàng trong Chương 46. 
(e) Giày dép và các bộ phận của chúng trong Chương 64. 
(f) Ba toong và các bộ phận của chúng, ô hoặc tay cầm roi ngựa 
(riding-crops) (Chương 66). 
(g) Máy móc, chi tiết máy và đồ điện trong Phần XVI (ví dụ, các mô 
hình khuôn bằng gỗ thuộc nhóm 84.80). 
(h) Các hàng hoá thuộc Phần XVII (ví dụ, thuyền, xe cút kít, xe đẩy và 
phụ tùng cho các loại xe này). 
(ij) Thiết bị toán học hoặc thiết bị vẽ, thiết bị đo lường (trừ dụng cụ đo 
sức chứa) và hàng hoá khác trong Chương 90. 
(k) Súng và các bộ phận của súng (nhóm 93.05). 
(l) Đồ chơi, thiết bị trò chơi và dụng cụ thể thao (Chương 95). 

Côte d’Ivoire  

Côte d’Ivoire  
            Caoba del Galón 
Côte d’Ivoire  
Côte d’Ivoire  
Acajou à grandes 
Acajou à grandes 

Côte d’Ivoire                          Pie 
Côte d’Ivoire  
Côte d’Ivoire  

Aningré 
Côte d’Ivoire  
Aningré- 
Avodiré 
Côte d’Ivoire  
Avodiré 
Azobé 
Bonkolé 
Côte d’Ivoire  
Azobé 

Bossé 
Côte d’Ivoire  
Bossé 
Bossé 
Bossé 
foncé 
Côte d’Ivoire  
Côte d’Ivoire  

Dibétou 
Côte d’Ivoire  
Dibétou 

Doussié 
Doussié 
Côte d’Ivoire  
Framiré 
Côte d’Ivoire  
Framiré 

Côte d’Ivoire  
Côte d’Ivoire  
Walélé 
Otié 
Kpoyéi 

Côte d’Ivoire  
Côte d’Ivoire Kosipo 
Kotibé 

Côte d’Ivoire Kotibé 
Côte d’Ivoire Koto 
Côte d’Ivoire Fraké 
Fraké, 

Mayombé 
Makoré 
Côte d’Ivoire Makoré 
Côte d’Ivoire Bété 
France Bété 
Côte d’Ivoire Niangon 

Côte d’Ivoire Samba 
Okoumé 
Equatorial Guinea Okumé, 
Gabon Okoumé, 
Côte d’Ivoire Akoua 
Guibourtia ehie J. Léonard 
Côte d’Ivoire Amazakoue 

Cameroon Assié-Sapelli 
Côte d’Ivoire Aboudikro 
Cameroon Asseng-Assié 
Côte d’Ivoire Sipo 

Angola Livuité, 
Côte d’Ivoire Tiama 
Gabon Abeubêgne 
Nigeria Gêdu-Nohor 
U.K. Gêdu-Nohor 

Ipé 
Bolivia Ipé, 
Brazil Ipé, 
Cortés 

d’Amérique 

Ghi chú: 
Cột thứ 3 ghi các tên được sử dụng tại nước xuất khẩu. Các tên thương 
mại sử dụng tại nước nhập khẩu, khi chúng khác với pilot name, thì 
được in nghiêng. 

Chương 45 
Lie và các sản phẩm bằng lie 
Chú giải. 
1.- Chương này không bao gồm: 
(a) Giày dép hoặc các bộ phận của giày dép thuộc Chương 64; 
(b) Mũ và các vật đội đầu khác hay các bộ phận của chúng thuộc 
Chương 65; hoặc 
(c) Các mặt hàng thuộc Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi, 
dụng cụ, thiết bị thể thao). 
TỔNG QUÁT  
Lie thu được hầu như chỉ từ vỏ ngoài của cây sồi- lie (sồi bần) (Quercus 
suber), là loại mọc ở Nam Âu và Bắc Phi. 
Lần bóc vỏ đầu tiên được gọi là lie “nguyên thủy” (virgin) và nó rắn, dễ vỡ 
gẫy, ít đàn hồi, chất lượng thấp và giá trị thấp. Nó có mặt ngoài phồng rộp và 
nứt rạn, trong khi mặt trong có màu vàng nhạt điểm các chấm đỏ. 
 Các lần thu hoạch tiếp theo quan trọng hơn về phương diện thương mại. 
Chúng rắn chắc và đồng nhất, và bề mặt ngoài, mặc dù trong chừng mực 
nào đó nứt rạn, nhưng ít xù xì hơn bề mặt ngoài của lie nguyên thủy. 
Lie nhẹ, đàn hồi, có thể nén được, mềm, không thấm nước, không mục 
rữa, và là chất kém dẫn nhiệt và kém dẫn truyền âm. 
Chương này bao gồm lie tự nhiên và lie kết dính ở mọi dạng (kể cả các 
mặt hàng từ lie và lie kết dính), trừ các loại đã bị loại trừ ở phần cuối 
Chú giải chi tiết nhóm 45.03. 
45.01- Lie tự nhiên, thô hoặc đã sơ chế; lie phế liệu; lie đã ép, nghiền 
thành hạt hoặc thành bột. 
4501.10- Lie tự nhiên, thô hoặc đã sơ chế 
4501.90- Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 

(1) Lie tự nhiên, thô hoặc đã sơ chế. Lie thô có trong vỏ bóc hình vòng 
cung khi được bóc từ cây lie. Lie tự nhiên, sơ chế, gồm lie được bỏ 
bề mặt hoặc làm sạch cách khác (ví dụ, bằng việc đốt bề mặt ngoài), 
lớp ngoài bị gẫy nứt vẫn còn lại, hoặc các bờ rìa được làm sạch để 
loại bỏ những phần không thích hợp sử dụng (lie đã tỉa). Lie đã 
được xử lý bằng thuốc diệt nấm hoặc được làm phẳng bằng cách ép 
sau khi xử lý trong nước sôi hoặc hơi nước nóng cũng vẫn ở nhóm 
này; tuy nhiên, lie được bóc vỏ (lấy đi lớp vỏ ngoài cùng), hoặc đẽo 
thô thành hình vuông bị loại trừ  (nhóm 45.02). 
(2) Các phế liệu của lie tự nhiên hoặc lie kết dính (ví dụ, vỏ bào, 
mảnh phế liệu và các mảnh vụn) thường được dùng trong sản xuất 
lie đã ép, nghiền thành hạt hoặc thành bột. Nó bao gồm phôi tiện 
phế liệu,.., từ lie ở dạng “sợi lie” (“cork wool”), đôi khi được dùng 
như vật liệu chèn hoặc lót. 
(3) Lie đã ép, nghiền thành hạt hoặc thành bột, thông thường là sản 
phẩm được làm từ lie nguyên thủy hoặc lie phế liệu, và được sử dụng 
chủ yếu cho việc sản xuất lie kết dính, vải sơn lót sàn hoặc sản xuất 
lincrusta. Lie dạng hạt cũng được sử dụng như vật liệu cách nhiệt hoặc 
cách âm và trong mức cho phép dùng để đóng gói trái cây. Lie đã ép, 
nghiền thành hạt hoặc thành bột cũng được phân loại nhóm này nếu 
được tạo màu, ngâm tẩm, hun nóng hoặc làm giãn nở bằng cách xử lý 
nhiệt; tuy vậy, lie kết kính bị loại trừ (nhóm 45.04). 
45.02- Lie tự nhiên, đã bóc vỏ hoặc đã đẽo thô thành hình vuông, 
hoặc ở dạng khối, tấm, lá, hình chữ nhật (kể cả hình vuông) 
hoặc dải (kể cả dạng phôi lie đã cắt cạnh dùng làm nút hoặc 
nắp đậy). 
Nhóm này bao gồm vỏ bóc của lie tự nhiên: 
(1) Với toàn bộ vỏ ngoài được cưa hoặc được lấy ra theo cách khác từ bề 
mặt bên ngoài (lie bị bóc vỏ); hoặc 
(2) Với các bề mặt bên ngoài (vỏ) và bên trong (cây) đã cưa hoặc cắt 
theo cách khác để tạo thành các cạnh tương đối song song (lie đã 

đẽo thô thành hình vuông). 
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm đã được gia công thêm thành 
khối, tấm, phiến hình chữ nhật (kể cả hình vuông) hoặc dải lie thu được 
từ các loại lie của nhóm 45.01, bằng cách lạng cả hai mặt và cắt các cạnh 
vuông góc. Các sản phẩm này vẫn được xếp vào nhóm này dù chúng có 
hay không gồm các lớp lie được xếp chồng lên nhau và dán dính vào 
Các khối, phiến, tấm và các dải được cắt thành hình trừ hình chữ nhật 
(kể cả hình vuông) được coi như các mặt hàng lie (nhóm 45.03). 
Những tấm lie được gia cố bằng giấy hoặc vải, kể cả những dải lie rất 
mỏng dạng cuộn để làm đầu thuốc lá, cũng phân loại ở nhóm này. (Thuật 
ngữ “giấy lie” đôi khi được áp dụng đối với tấm và dải lie rất mỏng thậm 
chí không được bồi giấy). 
Nhóm này cũng bao gồm phôi để làm nút bần hoặc nắp đậy, ở dạng khối 
hoặc miếng vuông đã cắt cạnh, kể cả những sản phẩm được cắt từ các 
miếng có từ hai hoặc nhiều lớp dán dính vào nhau. Tuy nhiên, những sản 
phẩm tương tự có các cạnh đã cắt gọt tròn bị loại trừ (nhóm 45.03). 
45.03- Các sản phẩm bằng lie tự nhiên (+). 
4503.10 -  Nút và nắp đậy 
4503.90 - Loại khác 
Ngoài các loại khác, nhóm này bao gồm: 
(1) Nút và nắp đậy các loại, bằng lie tự nhiên, kể cả phôi có các cạnh đã cắt 
gọt tròn. Các nút đậy bằng lie đôi khi có thể được lắp với nắp mũ bằng 
kim loại, bằng plastic,... Tuy nhiên, các nút kiêm chức năng rót, nút 
kiêm chức năng đo liều lượng và các sản phẩm khác trong đó nút chai 
lie chỉ là một thành phần thứ yếu thì được phân loại ở nơi khác tùy 
theo loại mặt hàng hoặc vật liệu cho nó đặc trưng cơ bản.  
(2) Các đĩa, miếng đệm và vòng đệm bằng lie tự nhiên, dùng để lót nút 
lie hình vương miện và các nắp khác cho chai, lọ...; lớp lót hoặc vỏ 
lie cho phần bên trong của cổ chai. 

(3) Các  khối, phiến, tấm và dải bằng lie tự nhiên, được cắt thành hình 
trừ hình chữ nhật (kể cả hình vuông); phao cấp cứu, phao cho lưới 
đánh cá, thảm lót nhà tắm, tấm lót cho đồ để bàn ăn, tấm lót máy 
chữ hoặc tấm lót các vật khác. 
(4) Cán cầm tay các loại (chuôi dao,...), vòng đệm và miếng đệm (trừ 
các sản phẩm nằm trong một bộ hỗn hợp thuộc nhóm 84.84). 
Tuy nhiên, các mặt hàng sau bị loại trừ khỏi nhóm này: 
(a) Giày dép và các bộ phận của chúng, kể cả miếng lót bên trong có thể 
tháo rời ra (vớ), thuộc Chương 64. 
(b) Đồ đội đầu và các bộ phận của chúng thuộc Chương 65. 
(c) Nút đậy hình vương miện bằng kim loại cơ bản có vòng đệm bằng lie 
ở bên trong (nhóm 83.09) 
(d) Nùi đạn cát tút (cartridge) bằng lie (nhóm 93.06). 
(e) Đồ chơi, thiết bị trò chơi và dụng cụ, thiết bị thể thao, kể cả phao nổi 
cho dây câu cá, và các bộ phận của chúng (Chương 95). 
Chú giải chi tiết phân nhóm. 
Phân nhóm 4503.10 
Các nút và nắp đậy của phân nhóm 4503.10 là các miếng lie tự nhiên 
được tạo hình như hình trụ hoặc hình hộp chữ nhật được vót thon hoặc 
làm cạnh thẳng với các gờ bên đã được làm tròn. Chúng có thể được 
nhuộm màu, đánh bóng, tẩm paraffine, đục lỗ, có dấu hiệu qua lửa hoặc 
quét màu. Một số nút lie cứng có phần đầu được làm rộng ra hoặc được 
bịt kim loại, plastic... Các nút và nắp được dùng như nút đậy cho các đồ 
chứa đựng kín. Các nút rỗng (hay lie vỏ (shell corks)) được dùng để phủ, 
ví dụ, các nút bằng thuỷ tinh cho các chai, lọ bằng thuỷ tinh hoặc gốm. 
Phân nhóm này cũng bao gồm các phôi có thể nhận dạng được cho các 
nút và nắp đậy, với điều kiện là các gờ của chúng được gọt tròn. 
Phân nhóm này không bao gồm các đệm tròn bằng lie mỏng được sử 
dụng như đệm kín trong nắp hình vương miện (phân nhóm 4503.90). 

45.04- Lie kết dính (có hoặc không có chất gắn) và các sản phẩm 
bằng lie kết dính. 
4504.10 - Dạng khối, tấm, lá và dải; tấm lát ở mọi hình dạng; 
dạng hình trụ đặc, kể cả dạng đĩa 
4504.90 - Loại khác 
Lie kết dính được sản xuất bằng cách kết dính lie đã ép, nghiền thành hạt 
hoặc thành bột thường dưới nhiệt độ và áp suất:  
(1) Với một chất kết dính được thêm vào (ví dụ, cao su không lưu hoá, 
keo, plastic, hắc ín, gelatin), hoặc 
(2) Không có chất dính được thêm vào ở nhiệt độ khoảng 300oC. Trong trường 
hợp này, chất gôm tự nhiên chứa trong lie đóng vai trò như chất dính. 
Lie kết dính của nhóm này có thể được ngâm tẩm (ví dụ, trong dầu), 
hoặc được gia cố bằng cách bồi thêm giấy hoặc vải với điều kiện nó 
không mang tính chất của vải sơn lót nhà hoặc vật liệu tương tự được 
phân loại trong nhóm 59.04. 
Lie kết dính giữ lại phần lớn các tính chất của lie tự nhiên, và đặc biệt là 
một vật liệu cách nhiệt hoặc chất cách âm tốt. Nhưng trong nhiều trường 
hợp, việc thêm các chất kết dính cần thiết sẽ làm biến đổi một số đặc 
điểm đặc trưng của lie, đặc biệt là tỷ trọng riêng và sức căng hoặc độ bền 
nén. Hơn nữa, lie kết dính có ưu thế là thích hợp để rập khuôn trực tiếp 
thành bất cứ kích thước hoặc hình dạng nào. 
Lie kết dính được sử dụng để làm ra các sản phẩm cùng loại như các sản 
phẩm đã nêu trong nhóm 45.03 nhưng, trong khi nó hiếm khi được sử 
dụng để làm nút, nắp đậy, nó được dùng thường xuyên hơn lie tự nhiên 
để làm đệm tròn lót dưới các nắp chai hình vương miện. 
Lie kết dính cũng được sử dụng rộng rãi, và hơn so với lie tự nhiên, để 
sản xuất các vật liệu xây dựng như các panel, khối và gạch, tấm lát và 
các hình dạng được đúc (hình trụ, vỏ...), để cách ly hoặc bảo vệ các ống 
dẫn nước nóng hoặc ống dẫn hơi nước nóng, để lót bên trong các ống 

dẫn xăng dầu, như ống gioăng nối dãn nở trong công nghiệp xây dựng và 
để sản xuất bộ lọc. 
Về các sản phẩm bị loại trừ khỏi nhóm này, xem Chú giải chi tiết của 
nhóm 45.03. 

Chương 46 
Sản phẩm làm từ rơm, cỏ giấy hoặc từ các loại vật liệu tết bện khác; 
các sản phẩm bằng liễu gai và song mây 
Chú giải. 
1.- Trong Chương này khái niệm "vật liệu tết bện" dùng để chỉ các loại 
vật liệu ở trạng thái hoặc hình dạng thích hợp cho việc tết bện hoặc 
gia công tương tự; kể cả rơm, liễu gai hoặc liễu, tre, song, mây, bấc, 
sậy, dải gỗ mỏng, dải từ vật liệu gốc thực vật khác (ví dụ, dải vỏ 
cây, các lá dài hẹp chiều ngang và cây cọ sợi hoặc các dải khác thu 
được từ các lá to), sợi dệt tự nhiên chưa xe, sợi monofilamen và dải 
và dạng tương tự bằng plastic và dải giấy, nhưng không bao gồm dải 
bằng da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp hoặc dải bằng nỉ hay sản 
phẩm không dệt, tóc người, lông đuôi hoặc bờm ngựa, sợi dệt thô 
hoặc sợi dệt, hoặc sợi monofilament và dải và dạng tương tự thuộc 
Chương 54. 
2.- Chương này không bao gồm: 
(a) Tấm phủ tường thuộc nhóm 48.14; 
(b) Dây xe, chão bện (cordage), thừng hoặc cáp, đã hoặc chưa tết 
bện (nhóm 56.07); 
(c) Giầy, dép hoặc mũ và các vật đội đầu khác hoặc các bộ phận của 
chúng thuộc Chương 64 hoặc 65; 
(d) Xe hoặc thân xe bằng song mây (thuộc Chương 87); hoặc 
(e) Các mặt hàng thuộc Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, các loại đèn 
(luminaires) và bộ đèn).  
3.- Theo mục đích của nhóm 46.01, khái niệm "vật liệu tết bện, dây bện 
và các sản phẩm tương tự bằng vật liệu tết bện, đã kết lại với nhau 
thành các tao dây song song" dùng để chỉ các vật liệu tết bện, các 
dây bện và các sản phẩm tương tự bằng vật liệu tết bện, đã được xếp 
kề cạnh và liên kết với nhau, thành dạng tấm, có hoặc không có vật 
liệu kết nối là vật liệu dệt đã xe. 

TỔNG QUÁT 
 Ngoài các sản phẩm từ cây mướp (loofah), Chương này bao gồm các 
mặt hàng bán thành phẩm (nhóm 46.01) và một số mặt hàng (các nhóm 
46.01 và 46.02) thu được từ việc bện, dệt hoặc bằng các phương pháp 
lắp ghép các vật liệu không se tương tự, cụ thể là: 
 (1) Rơm, liễu gai, tre, sậy, song mây, bấc, nan gỗ (tức là, gỗ ở dạng dải 
mỏng), sợi dây gỗ, các dải bằng vật liệu thực vật khác (ví dụ, dải vỏ 
gỗ, lá hẹp và cọ sợi hoặc các dải khác từ lá to chẳng hạn như của lá 
cây chuối hoặc của cây cọ), với điều kiện chúng ở trạng thái hoặc 
hình thức phù hợp để tết, bện, hoặc quá trình tương tự. 
(2) Các sợi dệt tự nhiên không se. 
(3) Sợi monofilament và dải và các dạng tương tự bằng plastic thuộc 
Chương 39 (nhưng không phải sợi monofilament mà có kích thước 
mặt cắt ngang nhỏ hơn hoặc bằng 1mm và cũng không phải là dải 
hoặc các dạng tương tự có độ rộng biểu kiến nhỏ hơn hoặc bằng 
5mm, bằng vật liệu dệt nhân tạo, thuộc Chương 54). 
(4) Các dải giấy (kể cả giấy được bọc bằng plastic). 
(5) Một số vật liệu bao gồm một lõi bằng chất liệu dệt (sợi không se, dải 
bện...) được bọc hoặc phủ bằng dải plastic, hoặc được tráng dày 
bằng plastic để sản phẩm không còn mang đặc tính của sợi, của dải 
bện... tạo thành lõi. 
Một số các sản phẩm từ các nguyên liệu này, đặc biệt là các sản phẩm từ 
thực vật, có thể được chế biến (ví dụ, bằng cách chẻ, kéo dài ra, bóc vỏ 
v.v... hoặc đã được ngâm tẩm bằng sáp, glycerol v.v...) để phù hợp hơn 
cho việc tết, bện hoặc quá trình tương tự. 
Theo mục đích của Chương này, các vật liệu sau đây không được xem 
như các chất liệu để tết bện và các mặt hàng hoặc sản phẩm được làm từ 
các vật liệu này bị loại trừ khỏi Chương này: 
 (i) Lông bờm ngựa, lông đuôi ngựa (nhóm 05.11 hoặc phần XI). 
 (ii) Sợi monofilament mà không có kích thước mặt cắt ngang trên 1mm, 
hoặc dải hoặc ống dẹt (kể cả dải và ống dẹt được gấp dọc theo chiều 

dài), đã hoặc chưa được ép, nén hoặc xoắn (rơm nhân tạo và các loại 
tương tự), bằng vật liệu dệt nhân tạo, với điều kiện là chiều rộng 
biểu kiến (tức là, ở dạng gấp nếp, làm dẹt, ép hoặc xoắn) không 
vượt quá 5mm (phần XI). 
(iii) Sợi dệt thô (ngoại trừ khi được bao bọc hoàn toàn bằng plastic như 
được mô tả ở đoạn (5) nêu trên) (Phần XI). 
(iv)  Sợi dệt được ngâm tẩm, tráng, bao phủ hoặc viền quanh bằng 
plastic (Phần XI). 
 (v) Dải bằng da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp (thường thuộc Chương 
41 hoặc 42) hoặc bằng nỉ hoặc vải không dệt (Phần XI) hoặc tóc 
người (Chương 5, 59, 65 hoặc 67). 
Ngoài ra, Chương này không bao gồm: 
(a) Yên cương và bộ yên cương (nhóm 42.01). 
(b) Các sản phẩm hoặc mặt hàng bằng tre, thuộc Chương 44. 
(c) Giấy dán tường thuộc nhóm 48.14. 
(d) Dây xe, chão bện (cordage), thừng hoặc cáp, ngay cả khi đã tết bện 
hoặc bằng sợi chưa se (nhóm 56.07). 
(e) Vải khổ hẹp chỉ có sợi dọc không có sợi ngang liên kết với nhau bằng 
chất kết dính (bolduc) (nhóm 58.06). 
(f) Giày dép và các bộ phận của chúng thuộc Chương 64. 
(g) Đồ đội đầu và các bộ phận của chúng, kể cả các dạng hình mũ, thuộc 
Chương 65. 
(h) Roi (nhóm 66.02) 
(ij) Hoa nhân tạo (nhóm 67.02) 
(k) Xe hoặc thân xe bằng song mây (Chương 87) 
(l) Các mặt hàng của Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, đèn (luminaires) và 
bộ đèn). 
(m) Các mặt hàng của Chương 95 (chẳng hạn đồ chơi, thiết bị trò chơi, 
dụng cụ, thiết bị thể thao). 
(n) Chổi quét và bàn chải (nhóm 96.03) hoặc manacanh dùng trong 
ngành may, ...(nhóm 96.18). 

46.01- Dây tết bện và các sản phẩm tương tự làm bằng vật liệu tết 
bện, đã hoặc chưa ghép thành dải; các vật liệu tết bện, các 
dây bện và các sản phẩm tương tự bằng vật liệu tết bện, đã 
kết lại với nhau trong các tao dây song song hoặc đã được 
dệt, ở dạng tấm, có hay không ở dạng thành phẩm (ví dụ, 
chiếu, thảm, mành). 
- Chiếu, thảm và mành bằng vật liệu thực vật: 
4601.21 - - Của tre 
4601.22 - - Từ song mây 
4601.29 - - Loại khác 
- Loại khác: 
4601.92 - - Từ tre 
4601.93 - - Từ song mây 
4601.94 - - Từ vật liệu thực vật khác 
4601.99 - - Loại khác 
(A) Dây tết bện và các sản phẩm tương tự làm bằng các vật liệu tết 
bện, đã hoặc chưa kết lại thành dải. 
 Nhóm này bao gồm: 
(1) Dây tết bện. Loại này bao gồm các tao dây bằng vật liệu tết bện, 
không có sợi dọc hoặc sợi ngang, được kết lại hoặc bằng tay 
hoặc bằng máy theo chiều dài chung. Bằng cách thay đổi tính 
chất, màu sắc, độ dày và số lượng tao dây, và cách tết bện, 
người ta có thể thu được các hiệu quả trang trí khác nhau. 
Các dây tết bện thuộc loại này có thể được nối sát bên nhau và 
được kết lại thành các dải rộng hơn bằng cách khâu may... 
(2) Các sản phẩm tương tự dây tết bện tức là chúng có cùng cách 
sử dụng hoặc cách sử dụng tương tự như dây tết bện, và mặc dù 
chúng thu được từ cách khác với cách tết bện, chúng cũng được 
tạo ra ở dạng giống dây da theo chiều dài, dạng dải... từ vật liệu 
tết bện. Chúng bao gồm: 

(a) Các sản phẩm được làm từ hai hoặc nhiều tao dây bằng cách 
xoắn lại với nhau, nối với nhau hoặc kết lại cách khác (trừ 
các họa tiết trang trí thuộc nhóm 46.02). 
(b) Các sản phẩm (ví dụ, chúng được biết với tên thương mại là 
“thừng Trung Hoa”) bao gồm một loại thừng làm từ nguyên 
liệu thực vật không tước xơ, được kết lại đơn giản bằng cách 
xoắn. 
Các sản phẩm ở trên được sử dụng chủ yếu vào việc sản xuất trang 
phục nữ, nhưng cũng được sử dụng trong sản xuất đồ nội thất, giày 
dép, thảm, giỏ hoặc các đồ đựng khác. 
Các sản phẩm của nhóm này có thể chứa các sợi dệt se phục vụ chủ 
yếu để kết nối hoặc để tăng cường, dù có hoặc không có tác dụng 
trang trí bổ sung. 
 (B) Các vật liệu tết bện, dây tết bện và các sản phẩm tương tự bằng 
vật liệu tết bện, đã kết lại với nhau thành các tao dây song song 
hoặc đã được dệt, thành tấm, ở dạng thành phẩm hoặc chưa (ví 
dụ, chiếu, thảm, mành). 
Các sản phẩm của nhóm này thu được hoặc trực tiếp từ các vật liệu 
tết bện đã được xác định trong Chú giải tổng quát của Chương này 
hoặc từ các dây tết bện hoặc các sản phẩm tương tự bằng vật liệu tết 
bện được mô tả ở Phần (A) trên đây. 
Những sản phẩm thu được trực tiếp từ các vật liệu tết bện, hoặc 
được hình thành từ các tao dây được dệt với nhau, thường theo cách 
sử dụng sợi ngang và sợi dọc, hoặc được sản xuất từ các tao dây 
song song đặt sát nhau và được giữ ở vị trí thành tấm nhờ các sợi 
dây vắt ngang qua hoặc chúng được cố định nhờ các tao dây song 
song liên tiếp. 
Các mặt hàng dệt có thể chứa toàn bộ vật liệu tết bện, hoặc có thể 
gồm một sợi dọc của vật liệu tết bện và một sợi ngang của sợi dệt, 
hoặc ngược lại, với điều kiện là chức năng duy nhất của sợi dệt 
(ngoài việc tạo màu sắc một cách ngẫu nhiên) là để gắn kết các vật 
tết bện.  
Tương tự, trong trường hợp các mặt hàng được sản xuất bởi sự gắn 

kết các tao dây song song của vật liệu dệt, thì chất gắn kết có thể là 
vật liệu tết bện, chỉ dệt hoặc một vài vật liệu khác.  
Các quá trình tương tự của việc gắn kết hoặc của việc dệt cũng được sử 
dụng để sản xuất các mặt hàng ở dạng tấm từ những dây tết, bện hoặc 
các sản phẩm tương tự từ vật liệu tết bện như đã mô tả ở Phần (A) ở trên. 
Các sản phẩm của nhóm này, có thể được gia cố hoặc được bồi hoặc 
được lót bằng vải dệt hoặc bằng giấy, gồm có: 
(1) Các mặt hàng bán thành phẩm như là vải sợi cọ, hàng mây và 
các loại vải tương tự; và các sản phẩm mịn hơn được làm thành 
miếng nhỏ ở dạng ghép chồng hoặc dải dùng cho đồ trang phục 
nữ, vải bọc ghế... 
 (2) Một số sản phẩm hoàn chỉnh, ví dụ: 
(a) Chiếu và thảm (phủ sàn,...), bao gồm cụ thể cả chiếu và 
thảm kiểu Trung Quốc (hoặc Ấn Độ) (có hình chữ nhật hoặc 
hình khác), làm bằng cách dệt hoặc bằng cách ghép lại các 
tao dây song song bằng vật liệu tết bện (hoặc các sợi tết bện 
hoặc các sản phẩm tương tự bằng vật liệu tết bện) với các 
vật liệu tết bện khác, sợi xe, dây thừng... 
(b) Thảm thô chẳng hạn như thảm rơm được dùng cho trồng 
trọt. 
(c) Mành hoặc panel như là loại bằng liễu gai; panel xây dựng 
bằng vật liệu tết bện hoặc bằng các dây bện hoặc các sản phẩm 
tương tự bằng vật liệu tết bện (rơm rạ, sậy...) đặt song song, ép 
lại hoặc kết nối với nhau theo một khoảng đều nhau bằng dây 
kim loại cơ bản. Các panel hoặc tấm xây dựng này có thể được 
phủ toàn bộ bề mặt hoặc các cạnh bằng bìa kraft. 
Nhóm này loại trừ thảm và chiếu bằng xơ dừa hoặc bằng sợi sisal hoặc 
các loại thảm tương tự có thành phần cơ bản là chão bện (cordage) hoặc 
vải dệt thoi (Chương 57). 
46.02- Hàng mây tre, liễu gai và các mặt hàng khác, làm trực tiếp từ 
vật liệu tết bện hoặc làm từ các mặt hàng thuộc nhóm 46.01; 

các sản phẩm từ cây họ mướp. 
- Bằng vật liệu thực vật: 
4602.11 - - Từ tre 
4602.12 - - Từ song mây 
4602.19 - - Loại khác 
4602.90 - Loại khác 
Căn cứ vào giới hạn quy định được nêu trong Chú giải tổng quát của 
Chương này, nhóm này bao gồm: 
(i) các sản phẩm được làm trực tiếp thành hình dạng từ vật liệu tết bện; 
(ii) các mặt hàng được làm từ các sản phẩm đã được ráp lại của nhóm 
46.01, tức là, từ các sợi tết bện hoặc các mặt hàng tương tự, hoặc từ 
các sản phẩm được liên kết với nhau bởi các tao dây song song hoặc 
được dệt thành dạng tấm. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các sản phẩm hoàn chỉnh của 
nhóm 46.01, tức là, các vật liệu tết bện, các sợi tết bện và các mặt 
hàng tương tự bằng vật liệu tết bện, chúng có đặc tính của các mặt 
hàng hoàn chỉnh bởi vì chúng được kết lại với nhau thành các tao 
dây song song hoặc được dệt, ở dạng tấm (ví dụ, chiếu, thảm hoặc 
mành): xem Chú giải chi tiết nhóm 46.01, đoạn (B) (2); và 
(iii) Các mặt hàng từ cây mướp (găng tay, tấm lót...) được lót hoặc 
không. 
Những mặt hàng như vậy bao gồm:  
(1) Rổ, thúng, sọt, giỏ, hòm mây và các đồ chứa đựng bằng liễu gai của 
tất cả các loại, có hoặc không lắp con lăn hoặc bánh xe, kể cả rổ cá, 
giỏ đựng cá và rổ đựng trái cây. 
(2) Rổ hoặc hộp tương tự bằng nan gỗ đã được bện lại. Nhưng rổ, thúng 
từ nan gỗ chưa được bện thì bị loại trừ ( nhóm 44.15). 
(3) Va-li và hòm, túi du lịch. 

(4) Túi xách tay, túi mua hàng và các sản phẩm tương tự. 
(5) Giỏ bắt tôm hùm và các sản phẩm tương tự; lồng chim và tổ ong. 
(6) Khay, giá để rượu, cái đập thảm, bộ đồ ăn, bộ đồ bếp và các mặt 
hàng gia dụng khác. 
(7) Một số họa tiết cho trang phục nữ và các mặt hàng thị hiếu khác, trừ 
các mặt hàng của nhóm 67.02. 
(8) Bọc ngoài bằng rơm dùng cho chai. Các sản phẩm này hầu hết ở 
dạng hình nón rỗng bằng rơm thô hoặc bằng các vật liệu tương tự 
xếp song song không bằng phẳng và được buộc với nhau bằng dây 
sợi hoặc dây thừng. 
(9) Thảm được sản xuất bằng cách tập hợp các sợi bện dài kết thành hình 
vuông, hình tròn... và nối lại với nhau bằng sợi xe. 

PHẦN X 
BỘT GIẤY TỪ GỖ HOẶC TỪ NGUYÊN LIỆU XƠ SỢI 
XENLULO KHÁC; GIẤY LOẠI  HOẶC BÌA LOẠI THU HỒI 
(PHẾ LIỆU VÀ VỤN THỪA); GIẤY VÀ BÌA VÀ CÁC SẢN 
PHẨM CỦA CHÚNG 
Chương 47 
Bột giấy từ gỗ hoặc từ nguyên liệu xơ xenlulo khác; giấy loại hoặc 
bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn thừa) 
Chú giải. 
1.-  Theo mục đích của nhóm 47.02, khái niệm "bột giấy hoá học từ gỗ, 
loại hoà tan" có nghĩa là bột giấy hoá học từ gỗ có hàm lượng phần 
không hoà tan từ 92% trở lên đối với bột giấy sản xuất bằng phương 
pháp sulphat hoặc kiềm hoặc 88% trở lên đối với bột giấy sản xuất 
bằng phương pháp sulphit sau khi ngâm một giờ trong dung dịch 
natri hydroxit (NaOH) nồng độ 18% ở nhiệt độ 20°C, và đối với bột 
giấy sản xuất bằng phương pháp sulphit hàm lượng tro không được 
lớn hơn 0,15% tính theo khối lượng. 
TỔNG QUÁT 
Bột giấy thuộc Chương này chứa chủ yếu xơ sợi xenlulo thu được từ các 
vật liệu thực vật khác nhau, hoặc từ phế liệu dệt có nguồn gốc thực vật. 
Loại bột giấy quan trọng nhất trong thương mại quốc tế là bột giấy gỗ, 
được gọi là “bột giấy cơ học từ gỗ”, “bột giấy hóa học từ gỗ”, “bột giấy 
bán hóa từ gỗ” hoặc “bột giấy hóa cơ từ gỗ”, tuỳ theo phương pháp chế 
biến. Loại gỗ dùng nhiều nhất là gỗ thông, vân sam, cây dương và cây 
dương lá rung, nhưng người ta còn sử dụng gỗ rắn hơn chẳng hạn như 
cây dẻ gai, cây hạt dẻ, cây bạch đàn và một số gỗ nhiệt đới. 
Các nguyên liệu khác được sử dụng để sản xuất bột giấy bao gồm: 
(1) Xơ bông. 
(2) Giấy loại và bìa loại (phế liệu và vụn thừa). 

(3) Giẻ lau (chủ yếu bằng bông, lanh hoặc bằng gai dầu) và các phế liệu 
dệt khác như dây thừng cũ. 
(4) Rơm rạ, cỏ giấy, lanh, gai, đay, gai dầu, cây xidan, bã mía, tre và cỏ 
sậy khác. 
Bột giấy từ gỗ có thể màu nâu hoặc trắng. Nó có thể bán tẩy trắng hoặc 
tẩy trắng nhờ các hóa chất hoặc có thể chưa tẩy trắng. Một loại bột giấy 
được xem như bán tẩy trắng hoặc tẩy trắng nếu, sau khi sản xuất, nó 
được xử lý nhằm tăng thêm độ trắng (độ sáng). 
Ngoài việc sử dụng trong công nghiệp giấy, một số loại bột giấy (nhất là 
bột giấy tẩy trắng) là nguồn xenlulo để sản xuất các sản phẩm khác nhau 
như vật liệu dệt nhân tạo, plastic, vec-ni và thuốc nổ; chúng cũng được 
sử dụng trong cỏ khô cho gia súc. 
Bột giấy thường được trình bày ở dạng tờ đóng thành bành (có đục lỗ 
hay không), khô hoặc ướt, song đôi khi chúng có thể được trình bày dưới 
dạng tấm, cuộn tròn, dạng bột hay dạng mảnh. 
Chương này không bao gồm: 
(a)  Xơ bông (nhóm 14.04) 
(b) Bột giấy tổng hợp gồm những tấm từ sợi (sợi nhỏ-fibril) polyetylen 
hoặc polypropylen không dính với nhau (nhóm 39.20). 
(c) Ván sợi (nhóm 44.11). 
(d) Các khối, tấm hoặc miếng lọc, bằng bột giấy (nhóm 48.12). 
(e) Các sản phẩm khác bằng bột giấy (Chương 48). 
47.01 – Bột giấy cơ học từ gỗ. 
Bột giấy cơ học từ gỗ thu được duy nhất bằng quá trình cơ học, tức là, 
bằng cách nghiền hoặc mài gỗ, được tước vỏ và đôi khi bỏ mắt gỗ, thành 
xơ sợi bằng máy nghiền cơ khí dưới dòng chảy của nước. 
Việc nghiền mà không cần xử lý trước bằng hơi nước sản xuất ra bột 
giấy được gọi là bột giấy cơ học từ gỗ “màu sáng” trong đó các xơ sợi bị 
gãy hoặc bị làm yếu. Gỗ có thể được xử lý bằng hơi nước trước khi mài, 
sản xuất ra xơ sợi dai hơn có màu nâu (bột giấy cơ học từ gỗ màu nâu). 
Phương pháp tiến bộ hơn so với các phương pháp nghiền truyền thống là 
bột giấy gọi là bột giấy cơ học tinh chế ở phương pháp này các dăm 

mảnh bị xé thành miếng nhỏ trong một máy tinh chế dạng đĩa bằng cách 
đẩy các dăm mảnh qua giữa hai đĩa có rãnh răng được đặt sát nhau, một 
trong hai đĩa hoặc cả hai đĩa này có thể quay. Một trong những loại cao 
cấp của bột giấy này được sản xuất bằng cách tinh chế các dăm gỗ sau 
khi chúng được xử lý nhiệt sơ bộ để làm mềm và cho phép tách các sợi 
gỗ dễ dàng hơn với hao hụt sợi ít hơn. Chất lượng bột giấy thu được là 
cao cấp hơn bột giấy cơ học từ gỗ theo phương pháp truyền thống.  
Do đó, các loại chính của bột giấy cơ học từ gỗ là: 
Bột gỗ mài đá (SGW) thu được từ gỗ tròn hoặc các khối gỗ trong máy 
nghiền đá (đĩa mài bằng đá) ở áp suất khí quyển.  
Bột gỗ mài đá áp lực (PGW) thu được từ gỗ tròn hoặc khối gỗ trong các 
máy nghiền đá có bánh mài áp lực. 
Bột giấy cơ học tinh chế (RMP) thu được từ các dăm mảnh hoặc miếng 
vụn trong máy tinh chế thoát ra ở áp suất khí quyển. 
Bột giấy cơ học nhiệt (TMP) thu được từ dăm mảnh hoặc miếng vụn 
trong các máy tinh chế sau khi xử lý gỗ bằng hơi nước dưới áp suất cao. 
Cần lưu ý rằng một số bột giấy thu được trong các máy tinh chế có thể 
đã qua xử lý hoá học. Các bột giấy này được xếp vào nhóm 47.05. 
Nhìn chung, bột giấy cơ học từ gỗ thường không được dùng riêng bởi vì 
sợi của chúng tương đối ngắn và sẽ tạo ra các sản phẩm có độ bền thấp. 
Trong sản xuất giấy, nó thường được trộn với bột giấy hóa học. Giấy in 
báo thường được làm từ một hỗn hợp như vậy (xem Chú giải 4 của 
Chương 48). 
47.02 – Bột giấy hóa học từ gỗ, loại hòa tan 
Nhóm này chỉ bao gồm bột giấy hóa học từ gỗ, loại hoà tan, như đã 
được định nghĩa trong Chú giải 1 của Chương này. Bột giấy này được 
tinh chế hoặc thanh lọc đặc biệt, để đáp ứng các yêu cầu sử dụng đã 
định. Nó được sử dụng để sản xuất xenlulo tái sinh, các ete và este của 
xenlulo và các sản phẩm bằng các vật liệu này, như tấm, phiến, màng, lá 
và dải, xơ sợi dệt và một số loại giấy (ví dụ, giấy thuộc loại sử dụng làm 
nền cho giấy cảm quang, giấy lọc và giấy giả da gốc thực vật). Theo mục 

đích sử dụng cuối cùng hoặc theo sản phẩm cuối cùng, nó cũng được gọi 
là bột giấy viscose, bột giấy acetate,… 
Bột giấy hóa học từ gỗ thu được bằng cách đầu tiên làm nhỏ gỗ thành 
dăm hoặc các mảnh nhỏ mà sau đó được xử lý bằng hóa chất. Kết quả 
của việc xử lý này là phần lớn hơn của ligin và các vật liệu không phải 
xenlulo khác được loại bỏ. 
Các hoá chất thường dùng là natri hydroxide (quá trình “kiềm”), một 
hỗn hợp của natri hydroxide và natri sulphate, mà một phần bị chuyển 
thành natri sulphite (quá trình “sulphate”), canxi bisulphite hoặc magiê 
bisulphite, cũng được biết lần lượt dưới tên gọi canxi hydrogen sulphite 
hoặc magiê hydrogen bisulphite (quá trình “sulphite”).  
Sản phẩm thu được có chất lượng cao hơn về chiều dài của sợi và nhiều 
xenlulo hơn so với bột giấy cơ học được làm từ cùng một loại nguyên liệu thô. 
Việc sản xuất bột giấy hóa học từ gỗ, loại hoà tan, được thực hiện thông 
qua các phản ứng hoá học và hóa lý mở rộng. Ngoài việc làm trắng, việc 
sản xuất có thể cần các bước lọc hoá học, loại bỏ nhựa, khử polyme hoá, 
giảm hàm lượng tro hoặc điều chỉnh khả năng phản ứng, hầu hết các 
thao tác này được kết hợp trong một quá trình lọc và tẩy trắng phức hợp. 
47.03 - Bột giấy hoá học từ gỗ, sản xuất bằng phương pháp sulphat 
hoặc kiềm, trừ loại hòa tan. 
- Chưa tẩy trắng: 
4703.11 - - Từ gỗ cây lá kim 
4703.19 - - Từ gỗ cây không thuộc loài cây lá kim 
- Đã qua bán tẩy trắng hoặc tẩy trắng: 
4703.21 - - Từ gỗ cây lá kim 
4703.29 - - Từ gỗ cây không thuộc loài cây lá kim 
Bột giấy sản xuất bằng phương pháp kiềm hoặc sulphate được sản xuất 
bằng cách nấu sôi gỗ, thông thường ở dạng dăm mảnh, trong các dung 
dịch kiềm mạnh. Đối với bột giấy sản xuất bằng phương pháp kiềm thì 
chất lỏng để nấu là một dung dịch từ natri hydroxide; đối với bột giấy 

sản xuất bằng phương pháp sulphate thì sử dụng dung dịch natri 
hydroxide đã được cải biến. Thuật ngữ "sulphate" được áp dụng xuất 
phát từ natri sulphate, mà một phần của nó được chuyển thành natri 
sulphide, được dùng ở giai đoạn điều chế chất lỏng để nấu. Bột giấy sản 
xuất bằng phương pháp sulphate là loại quan trọng hơn rất nhiều. 
Các loại bột giấy thu được nhờ các quá trình này được dùng trong việc 
sản xuất các sản phẩm hút nước (như khăn ăn và tã lót (bỉm)) cũng như 
trong sản xuất giấy và bìa cần độ bền xé và độ bền kéo và độ bền bục 
47.04- Bột giấy hoá học từ gỗ, sản xuất bằng phương pháp sulphite, 
trừ loại hòa tan. 
- Chưa tẩy trắng: 
4704.11 - - Từ gỗ cây lá kim 
4704.19 - - Từ gỗ cây không thuộc loài cây lá kim 
- Đã qua bán tẩy trắng hoặc tẩy trắng: 
4704.21 - - Từ gỗ cây lá kim 
4704.29 - - Từ gỗ cây không thuộc loài cây lá kim 
Quy trình sulphite thông thường sử dụng một dung dịch axit và có tên từ 
các chất hóa học "sulphite " khác nhau, như canxi bisulphite (canxi 
hydrogen sulphite), magiê bisulphite (magiê hydrogen sulphite), natri 
sulphite), chúng có thể được dùng trong suốt quá trình điều chế chất lỏng 
để nấu (xem Chú giải chi tiết của nhóm 47.02). Dung dịch này cũng có 
thể chứa lưu huỳnh dioxide gốc tự do. Quy trình này thường được sử 
dụng rộng rãi để xử lý sợi của gỗ vân sam. 
Bột giấy sản xuất bằng phương pháp sunphite được sử dụng, một mình 
hoặc trộn lẫn với các bột giấy khác, cho giấy viết hoặc giấy in khác 
nhau... Nó cũng được dùng, không kể những cái khác, để sản xuất giấy 
không thấm mỡ hoặc giấy bóng trong suốt. 

47.05 - Bột giấy từ gỗ thu được bằng việc kết hợp các phương pháp 
nghiền cơ học và hoá học. 
Nhóm này bao gồm các loại bột giấy từ gỗ thu được bằng cách phối hợp 
phương pháp cơ học và phương pháp hoá học. Các loại bột giấy này 
được mô tả khác nhau như là bột giấy bán hoá học, bột giấy hoá cơ... 
Bột giấy bán hoá học, thu được bởi một quy trình gồm hai phần trong đó 
gỗ, nói chung dưới dạng dăm, lúc đầu được làm mềm nhờ các hoá chất 
chứa trong nồi nấu và sau đó được tinh chế bằng phương pháp cơ học. Nó 
chứa một lượng lớn tạp chất và lignin và được dùng chủ yếu cho giấy chất 
lượng trung bình. Nó được gọi thông thường là bột giấy bán hoá học 
sulphite trung tính (NSSC), bán hoá học bisulphite hoặc bán hoá học kraft. 
Bột giấy hoá cơ được sản xuất trong các máy tinh chế từ gỗ ở dạng dăm 
mảnh, vỏ bào, mạt cưa hoặc các dạng tương tự. Gỗ này được làm nhỏ 
thành dạng sợi nhờ sự mài mòn được tạo ra bởi hai bản hoặc đĩa có rãnh 
răng đặt sát nhau, một hoặc cả hai đều quay. Các lượng hóa chất nhỏ 
được đưa vào như quá trình tiền xử lý hoặc trong suốt quá trình tinh chế 
để dễ dàng tách sợi. Gỗ có thể được xông hơi trong các khoảng thời gian 
khác nhau ở  áp suất và nhiệt độ khác nhau. Tuỳ thuộc vào sự kết hợp 
của những quá trình được dùng trong sản xuất bột giấy, và trình tự các 
quá trình được thực hiện, bột giấy hoá- cơ cũng được gọi là bột giấy 
hoá- nhiệt cơ (CTMP), bột giấy hoá -cơ tinh chế (CRMP) hoặc bột giấy 
nhiệt hoá-cơ (TCMP). 
Bột giấy sản xuất bằng phương pháp hoá cơ được dùng, không kể những 
cái khác, trong việc sản xuất giấy in báo (xem Chú giải 4 của Chương 
48). Chúng cũng được dùng để sản xuất giấy lụa và giấy đồ bản. 
Nhóm này cũng bao gồm các bột giấy gọi là bột lọt sàng (“screenings”). 
47.06 - Bột giấy từ xơ, sợi thu được từ việc tái chế giấy loại hoặc bìa loại 
(phế liệu và vụn thừa) hoặc từ vật liệu xơ sợi xenlulo khác. 
4706.10 - Bột giấy từ xơ bông vụn 
4706.20 - Bột giấy từ xơ, sợi thu được từ việc tái chế giấy loại 

hoặc bìa loại (phế liệu và vụn thừa) 
4706.30 - - Loại khác, từ tre 
- Loại khác: 
4706.91 - - Thu được từ quá trình cơ học 
4706.92 - - Thu được từ quá trình hoá học 
4706.93 - - Thu được từ quá trình kết hợp cơ học và hóa học. 
Các loại vật liệu xơ sợi xenlulo quan trọng, trừ gỗ, dùng cho sản xuất các 
bột giấy được nêu trong Chú giải Tổng quát. 
Các loại bột giấy từ xơ sợi thu được từ giấy loại hoặc bìa loại (phế liệu 
và vụn thừa) được trình bày thông thường dưới dạng tấm giấy khô, đóng 
thành bành và bao gồm các hỗn hợp xơ sợi xenlulo không đồng nhất. 
Chúng có thể được tẩy trắng hoặc không tẩy trắng. Các bột giấy này thu 
được nhờ một loạt các quá trình làm sạch bằng cơ và hóa chất, sàng và 
khử mực. Tuỳ thuộc vào vật liệu đầu vào và phạm vi của quá trình, 
chúng có thể chứa một lượng nhỏ các chất tồn dư như mực, đất sét, tinh 
bột, các chất phủ polyme hoặc keo. 
Các bột giấy của nhóm này trừ loại thu được từ giấy loại hoặc bìa loại 
thu hồi (phế liệu và vụn thừa) có thể thu được bằng một quá trình cơ 
học, một quá trình hoá học hoặc kết hợp các quá trình cơ học và hoá học. 
47.07 - Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn thừa) (+). 
4707.10 - Giấy kraft hoặc bìa kraft hoặc giấy hoặc bìa sóng,  
chưa tẩy trắng 
4707.20 - Giấy hoặc bìa khác được làm chủ yếu bằng bột giấy 
thu được từ quá trình hóa học đã tẩy trắng, chưa 
nhuộm màu toàn bộ 
4707.30 - Giấy hoặc bìa được làm chủ yếu bằng bột giấy thu 
được từ quá trình cơ học (ví dụ, giấy in báo, tạp chí  và 
các ấn phẩm tương tự) 
4707.90 - Loại khác, kể cả phế liệu và vụn thừa chưa phân loại 

Các phế liệu của giấy hoặc của bìa thuộc nhóm này bao gồm mảnh vụn, 
phoi cắt, mẩu xén, mẩu xé, báo và tạp chí cũ, bản in thử, giấy in hỏng và 
các vật liệu tương tự. 
Nhóm này cũng bao gồm các vật phẩm bằng giấy hoặc bằng bìa bỏ đi. 
Những phế liệu và vụn thừa như vậy được sử dụng để tạo ra bột giấy và 
thường ở dạng bành được ép lại, nhưng cần lưu ý rằng có thể sử dụng 
chúng cho các mục đích khác (ví dụ, bao gói) không ảnh hưởng đến việc 
phân loại của chúng trong nhóm này. 
 Tuy nhiên, len giấy, dù được sản xuất từ giấy phế liệu, bị loại trừ 
(nhóm 48.23). 
Nhóm này cũng loại trừ các phế liệu và vụn thừa của giấy hoặc bìa, có 
chứa kim loại quý hoặc hợp chất kim loại quý, loại được sử dụng chủ 
yếu để thu hồi kim loại quý, ví dụ, phế liệu và vụn thừa của giấy hoặc 
bìa ảnh chứa bạc hoặc các hợp chất của bạc (nhóm 71.12). 
Chú giải chi tiết phân nhóm. 
Các phân nhóm 4707.10, 4707.20 và 4707.30 
Mặc dù, về nguyên tắc, các phân nhóm 4707.10, 4707.20 và  4707.30 
gồm các phế liệu và vụn thừa được sắp xếp, việc phân loại vào một trong 
các phân nhóm này không bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện của lượng nhỏ 
giấy hoặc bìa thuộc bất kỳ một phân nhóm khác của nhóm 47.07.