PROJECT

CHU GIAI 2022_ TƯ CHUONG 30 DEN NHOM 3214

CHU GIAI 2022_  TƯ CHUONG 30 DEN NHOM 3214

Chương 30
Dược phẩm
Chú giải.
1.-  Chương này không bao gồm:
(a)  Đồ ăn hoặc đồ uống (như đồ ăn theo chế độ ăn kiêng, tiểu đường
hoặc đồ ăn để bồi dưỡng sức khoẻ, thực phẩm bảo vệ sức khỏe
(food supplements), đồ uống tăng lực và nước khoáng), trừ các
chế phẩm dinh dưỡng để truyền tĩnh mạch (Phần IV);
(b) Các sản phẩm, như ở dạng viên (tablet), kẹo cao su hoặc dạng
miếng (thẩm thấu qua da), chứa nicotin và nhằm hỗ trợ cai
nghiện thuốc lá (nhóm 24.04);  
(c)  Thạch cao đã nung hoặc nghiền mịn dùng trong nha khoa (nhóm
(d)  Nước cất hoặc dung dịch nước của các loại tinh dầu, dùng cho y
tế (nhóm 33.01);
(e)  Các chế phẩm thuộc các nhóm từ 33.03 đến 33.07, ngay cả khi
các chế phẩm đó có tính năng phòng bệnh hoặc chữa bệnh;
(f)  Xà phòng hoặc các sản phẩm khác thuộc nhóm 34.01 có chứa
thêm dược phẩm;
(g)  Các chế phẩm dùng trong nha khoa với thành phần cơ bản là
thạch cao (nhóm 34.07);
(h)  Albumin máu không được điều chế cho mục đích phòng bệnh
hoặc chữa bệnh (nhóm 35.02); hoặc
(ij) Các chất thử chẩn đoán của nhóm 38.22.
2.- Theo mục đích của nhóm 30.02, cụm từ "các sản phẩm miễn dịch" áp
dụng cho peptit và protein (trừ hàng hóa của nhóm 29.37) mà liên
quan trực tiếp đến sự điều chỉnh các quá trình miễn dịch, như kháng
thể đơn dòng (MAB), mảng kháng thể, tiếp hợp kháng thể và tiếp
hợp mảng kháng thể, interleukins, interferons (IFN), chemokines và
các nhân tố tiêu diệt u bướu (TNF), nhân tố phát triển (GF),
hematopoietins và các nhân tố kích thích khuẩn lạc (CSF).
3.- Theo mục đích của nhóm 30.03 và 30.04 và Chú giải 4(d) của Chương
này, những mục dưới đây cần hiểu như sau:
(a)  Những sản phẩm không pha trộn gồm:
(1) Sản phẩm không pha trộn đã hoà tan trong nước;
(2) Toàn bộ các mặt hàng thuộc Chương 28 hoặc 29; và
(3) Các chiết xuất thực vật bằng phương pháp đơn giản thuộc
nhóm 13.02, mới chỉ được chuẩn hoá hoặc hoà tan trong
dung môi bất kỳ;
(b)  Những sản phẩm đã pha trộn:  
(1) Các dung dịch keo và huyền phù (trừ lưu huỳnh dạng keo);
(2) Các chiết xuất thực vật thu được từ việc xử lý hỗn hợp các
nguyên liệu thực vật; và
(3) Muối và chất cô đặc thu được từ việc làm bay hơi nước
khoáng tự nhiên.
4.- Nhóm 30.06 chỉ áp dụng cho các chất sau đây, những chất này phải
xếp vào nhóm này và không thể đưa vào nhóm nào khác của Danh
mục:
(a) Chỉ catgut phẫu thuật vô trùng, các vật liệu khâu (suture) vô
trùng tương tự (kể cả chỉ tự tiêu vô trùng dùng cho nha khoa
hoặc phẫu thuật) và keo tạo màng vô trùng dùng khép miệng vết
thương trong phẫu thuật;
(b) Tảo nong và nút tảo nong vô trùng;
(c) Các sản phẩm cầm máu tự tiêu vô trùng dùng cho phẫu thuật
hoặc nha khoa; các miếng chắn dính vô trùng dùng trong phẫu
thuật hoặc nha khoa, có hoặc không tự tiêu;
(d) Chế phẩm cản quang dùng trong việc kiểm tra bằng tia X và các
thuốc thử chẩn đoán bệnh cho bệnh nhân, là các sản phẩm không
pha trộn đóng gói theo liều lượng hoặc các sản phẩm gồm hai
thành phần trở lên đã pha trộn dùng cho mục đích trên;
(e)  Giả dược (placebos) và bộ dụng cụ thử nghiệm lâm sàng mù
(hoặc mù đôi) để sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng đã
công nhận, được đóng gói theo liều lượng, ngay cả khi chúng có
thể chứa dược tính;
(f) Xi măng hàn răng và các chất hàn răng khác; xi măng gắn
xương;
(g) Hộp và bộ dụng cụ cấp cứu;
(h) Chế phẩm hoá học tránh thai dựa trên hormon, trên các sản
phẩm khác thuộc nhóm 29.37 hoặc trên các chất diệt tinh trùng;
(ij) Các chế phẩm gel được sản xuất để sử dụng cho người hoặc thú
y như chất bôi trơn cho các bộ phận của cơ thể khi tiến hành
phẫu thuật hoặc khám bệnh hoặc như một chất gắn kết giữa cơ
thể và các thiết bị y tế;
(k) Phế thải dược phẩm, đó là, các loại dược phẩm không thích hợp
đối với mục đích dự kiến ban đầu của nó, ví dụ, hết hạn sử dụng;

(l) Dụng cụ chuyên dụng cho mổ tạo hậu môn giả, đã được cắt
thành hình dạng nhất định và gắn với các viên nhện hoặc tấm
mặt của chúng dùng cho thông ruột, hồi tràng và mở niệu đạo.
Chú giải phân nhóm.
Theo mục đích của phân nhóm 3002.13 và 3002.14, các mục dưới
đây được xem xét:
Như các sản phẩm chưa được pha trộn, các sản phẩm tinh
khiết, có hoặc không chứa tạp chất;
Như các sản phẩm đã được pha trộn:
(1) Các sản phẩm được đề cập ở mục (a) nêu trên hòa tan
trong nước hoặc trong dung môi khác;
(2) Các sản phẩm được đề cập ở mục (a) và (b) (1) nêu trên
với một chất ổn định được thêm vào cần thiết cho việc
bảo quản hoặc vận chuyển; và
(3) Các sản phẩm được đề cập ở mục (a), (b) (1) và (b) (2)
nêu trên với phụ gia bất kỳ khác.
Các phân nhóm   3003.60 và 3004.60  bao gồm thuốc chứa
artemisinin  (INN) để uống được kết hợp với các thành phần có
hoạt tính dược khác, hoặc chứa bất kỳ hoạt chất chính nào dưới
đây, có hoặc không kết hợp với các thành phần hoạt tính dược
khác: amodiaquine (INN); artelinic axit hoặc các muối của nó;
pyrimethamine (INN) hoặc sulfadoxine (INN).
TỔNG QUÁT  
Chương này bao gồm các sản phẩm pegylat hóa là những sản phẩm chứa
polyme polyetylen glycol (hoặc PEGs) gắn với dược phẩm của Chương
30 (như là, protein chức năng và peptit chức năng, phân đoạn kháng thể)
nhằm cải thiện hiệu quả của chúng khi sử dụng như thuốc. Các sản phẩm
pegylat hóa của các nhóm thuộc Chương này vẫn được phân loại cùng
nhóm  như dạng các sản phẩm không được pegylat hóa (ví dụ,
Peginterferon (INN) thuộc nhóm 30.02).
30.01- Các tuyến và các bộ phận cơ thể khác dùng để chữa bệnh, ở
dạng khô, đã hoặc chưa làm thành dạng bột; chiết xuất từ các
tuyến hoặc các bộ phận cơ thể khác hoặc từ các dịch tiết của
chúng dùng để chữa bệnh; heparin và các muối của nó; các
chất khác từ người hoặc động vật được điều chế dùng cho
phòng bệnh hoặc chữa bệnh, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi
khác.
3001.20 - Chiết xuất từ các tuyến hoặc các bộ phận cơ thể khác
hoặc từ các dịch tiết của chúng
3001.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(A)  Các tuyến và các bộ phận khác có nguồn gốc động vật dùng để
chữa bệnh (ví dụ, não, tủy sống, gan, thận, lá lách, tuyến tụy, tuyến
vú, tinh hoàn, buồng trứng), khô, đã hoặc chưa làm thành dạng bột.  
(B)  Chất chiết xuất từ các tuyến hoặc các bộ phận khác hoặc từ các
chất tiết của chúng dùng để chữa bệnh, thu được bằng cách chiết
dung môi, đông tụ hoặc bằng quá trình bất kỳ khác. Các chất chiết
xuất này có thể ở dạng rắn, bán rắn hoặc dạng lỏng, hoặc trong dạng
dung dịch hoặc dạng huyền phù trong bất kỳ môi trường nào cần
thiết để bảo quản chúng.
Các chất chiết xuất để chữa bệnh từ các dịch tiết của các tuyến hoặc
các bộ phận bao gồm cả chiết xuất mật.
(C) Heparin và muối của nó. Heparin gồm một hỗn hợp các axít hữu cơ
có cấu trúc phức tạp (muco- polysaccharides) thu được từ mô của
động vật có vú. Thành phần của nó thay đổi tùy theo nguồn gốc của
các mô này. Heparin và muối của nó được dùng chủ yếu trong y học,
đặc biệt là làm chất chống đông máu. Chúng vẫn được phân loại
trong phân nhóm này mà không phụ thuộc vào mức độ hoạt tính của
chúng.
(D)  Các chất khác của người hoặc động vật đã được điều chế để
phòng bệnh hay chữa bệnh và chưa được cụ thể hóa hoặc ghi ở
nơi khác trong Danh mục, gồm có :
(1) Chất tủy đỏ (sinh hồng cầu) được bảo quản trong glycerol.
(2) Nọc độc của rắn hoặc ong ở dạng vảy mỏng được làm khô và
những chất độc tàng ẩn không có vi sinh (non-microbial crypto-
toxins) tạo thành từ các nọc độc này.
Những sản phẩm được ghi trong điểm (1) và điểm (2) ở trên, khi
để làm thuốc được đóng gói theo liều lượng hoặc làm thành
dạng nhất định hoặc đóng gói để bán lẻ, được phân loại vào
nhóm 30.04.
(3) Xương, các bộ phận hữu cơ và các mô khác của người hoặc
động vật, còn sống hoặc được bảo quản, phù hợp cho việc ghép
hay cấy mô lâu dài, được đóng gói vô trùng có thể kèm theo cả
những chỉ định như cách sử dụng, v.v...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các tuyến và các bộ phận khác của động vật ở dạng tươi, ướp lạnh,
đông lạnh hoặc được bảo quản tạm thời bằng một phương pháp khác
(Chương 2 hoặc 5).
(b) Mật, đã hoặc chưa sấy khô (nhóm 05.10).
(c) Các hợp chất được xác định về mặt hóa học riêng biệt và các sản
phẩm khác của  Chương 29 thu được bằng cách xử lý các chiết xuất
của các tuyến hoặc bộ phận khác, như là, các amino axít (nhóm
29.22), các loại vitamin (nhóm 29.36), các loại hormon (nhóm
(d) Máu người, máu động vật đã điều chế dùng cho phòng bệnh, chữa
bệnh hoặc chẩn đoán, và các kháng huyết thanh (kể cả các globulin
miễn dịch đặc biệt) và các phần của máu khác (như là, các huyết
thanh thông thường, chất globulin miễn dịch, huyết tương,
fibrinogen, fibrin thông thường của người) (nhóm 30.02).
(e) Tế bào nuôi cấy (nhóm 30.02).
(f) Các sản phẩm có đặc tính của thuốc thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04
(xem các Chú giải Chi tiết tương ứng).
(g) Các chất globulin và các phân đoạn globulin (trừ loại của máu hoặc
huyết thanh của chúng) không được điều chế để chữa bệnh hoặc
phòng bệnh (nhóm 35.04).
(h) Các enzym (nhóm 35.07).
30.02- Máu người; máu động vật đã điều chế dùng cho chữa bệnh,
phòng bệnh hoặc chẩn đoán bệnh; kháng huyết thanh, các
phần phân đoạn khác của máu và các sản phẩm miễn dịch, có
hoặc không được cải biến hoặc thu được từ quy trình công
nghệ sinh học; vắc xin, độc tố, vi sinh nuôi cấy (trừ các loại
men) và các sản phẩm tương tự; tế bào nuôi cấy, có hoặc
không cải biến (+).
⦁    Kháng huyết thanh, các phần phân đoạn khác của máu
và các sản phẩm miễn dịch, có hoặc không cải biến
hoặc thu được từ qui trình công nghệ sinh học:
3002.12 - - Kháng huyết thanh và các phần phân đoạn khác của
máu
3002.13  - - Các sản phẩm miễn dịch, chưa được pha trộn, chưa
đóng gói theo liều lượng hoặc làm thành dạng nhất định
hoặc đóng gói để bán lẻ
3002.14  - - Các sản phẩm miễn dịch, được pha trộn, chưa đóng
gói theo liều lượng hoặc làm thành dạng nhất định hoặc
đóng gói để bán lẻ
3002.15 - - Các sản phẩm miễn dịch, đóng gói theo liều lượng
hoặc làm thành dạng nhất định hoặc đóng gói để bán lẻ
⦁    Vắc xin, độc tố, vi sinh nuôi cấy (trừ các loại men) và
các sản phẩm tương tự:
3002.41   - - Vắc xin cho người
3002.42   - - Vắc xin thú y
3002.49   - - Loại khác
⦁    Tế bào nuôi cấy, có hoặc không cải biến:  
3002.51 - - Các sản phẩm liệu pháp tế bào
3002.59 - - Loại khác
3002.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm :
(A) Máu người (ví dụ, máu người đựng trong ống thuốc gắn kín).
(B) Máu động vật đã được điều chế dùng cho phòng bệnh, chữa bệnh
hoặc chẩn đoán bệnh.
Máu động vật chưa được điều chế để sử dụng được phân loại vào
nhóm 05.11.
(C) Các kháng huyết thanh, các phần khác của máu và các sản phẩm
miễn dịch, có hoặc không cải biến hoặc thu được bằng quy trình
công nghệ sinh học.
Các sản phẩm này bao gồm:
(1) Các kháng huyết thanh và các phần khác của máu, có hoặc
không cải biến hoặc thu được bằng quy trình công nghệ sinh
học.
Huyết thanh là phần phân đoạn lỏng được tách ra từ máu sau khi
máu đông tụ.
Ngoài những đề cập khác, nhóm này bao gồm các sản phẩm được
làm từ máu (kể cả tế bào nội mô mạch máu): Các loại huyết thanh
"thông thường", các globulin miễn dịch thông thường của người,
các phần phân đoạn của máu và các biến thể cắt ngắn (bộ phận) của
chúng có tính chất/ hoạt tính enzym, huyết tương, thrombin,
fibrinogen, fibrinvà các nhân tố đông máu khác, huyết khối,
globulin máu, globulin huyết thanh, và haemoglobin. Nhóm này
cũng bao gồm các huyết khối cải biến và haemoglobin cải biến thu
được từ quy trình công nghệ sinh học, ví dụ, sothrombomodulin
alfa (INN) và thrombomodulin alfa (INN), cũng như
haemoglobin đã được liên kết như hemoglobin crosfumaril (INN),
hemoglobin glutamer (INN) và hemoglobin raffimer (INN).
Nhóm này cũng bao gồm các albumin máu (ví dụ, albumin của
người thu được nhờ sự phân tách huyết tương từ máu người),
được điều chế dùng cho phòng bệnh hoặc chữa bệnh.
Các kháng huyết thanh thu từ máu người hoặc động vật có tính
miễn dịch hoặc đã miễn dịch đối với các bệnh ở động vật hay
người, cho dù chúng được gây ra bởi các vi khuẩn gây bệnh và vi
rút, chất độc hoặc các hiện tượng dị ứng,…. Kháng huyết thanh
được dùng để trị bệnh bạch hầu, bệnh lỵ, hoại tử, viêm màng não,
viêm phổi, uốn ván, nhiễm tụ cầu khuẩn hoặc liên cầu, rắn cắn, ngộ
độc thực vật, các bệnh dị ứng,….  Các kháng huyết thanh cũng
thường được sử dụng cho mục đích chẩn đoán bệnh, bao gồm cả
các thử nghiệm nuôi cấy. Các globulin miễn dịch đặc biệt là những
chế phẩm đã được tinh chế của các kháng huyết thanh.
Nhóm này không bao gồm albumin máu chưa điều chế dùng
cho phòng bệnh hoặc chữa bệnh (nhóm 35.02) hoặc các globulin
(trừ globulin máu và globulin huyết thanh) (nhóm 35.04). Nhóm
này cũng không bao gồm các thuốc không được tách ra từ máu
nhưng được một số quốc gia mô tả như “huyết thanh” hoặc
“huyết thanh nhân tạo”; chúng bao gồm  những dung dịch đẳng
trương trên nền clorua natri hoặc hóa chất khác và các dịch
huyền phù của phấn hoa  được sử dụng để trị các bệnh dị ứng.
(2) Những sản phẩm miễn dịch, có hoặc không cải biến hoặc thu
được bởi quy trình công nghệ sinh học.
Sản phẩm sử dụng cho mục đích chẩn đoán hoặc điều trị và xét
nghiệm miễn dịch phải được coi là thuộc nhóm sản phẩm này.
Chúng có thể được định rõ như sau:
(a) Các loại kháng thể đơn dòng (MAB) - các globulin miễn
dịch đặc biệt có nguồn gốc từ tế bào lai đã chọn lọc và vô
tính trong môi trường nuôi cấy hoặc cổ trướng (ascites).
(b) Các đoạn kháng thể- các phần hoạt động của một loại
protein kháng thể thu được, ví dụ, bằng phương pháp tách
các enzyme đặc biệt. Nhóm này bao gồm, không kể những đề
cập khác, kháng thể chuỗi đơn (scFv).
(c) Kết hợp kháng thể và kết hợp đoạn kháng thể - các kết
hợp có chứa ít nhất một kháng thể hoặc một đoạn kháng thể.
Loại đơn giản nhất là kết hợp sau đây:
(i)   kháng thể - kháng thể;
(ii)  đoạn kháng thể  - đoạn kháng thể;
(iii)  kháng thể - đoạn kháng thể;
(iv)  kháng thể - chất khác;
(v)  đoạn kháng thể - chất khác.
Kết hợp của các loại (iv) và (v) bao gồm, ví dụ, các enzym
(như là, phosphatase, peroxydase hoặc betagalactosidase của
kiềm) hoặc thuốc nhuộm (fluorescin) liên kết hóa trị với cấu
trúc protein, được sử dụng cho các phản ứng thăm dò đơn
giản.
Nhóm này cũng bao gồm interleukin, interferon(IFN),
chemokine và một số nhân tố hoại tử khối u(TNF), nhân tố
tăng trưởng(GF), hematopoietins và các nhân tố kích thích
cụm(CSF).
(D) Các loại vacxin, chất độc, các vi sinh nuôi cấy (trừ các loại men)
và các sản phẩm tương tự.
Nhóm này bao gồm :
Các loại vacxin tiêu biểu nhất là chế phẩm dự phòng có nguồn
gốc vi sinh vật có chứa hoặc virus hoặc vi khuẩn dạng nhũ tương  
trong dung dịch muối, dầu (lipovaccines) hoặc các môi trường
khác. Các chế phẩm này thường được xử lý để làm giảm độc
tính của chúng mà không huỷ hoại đặc tính miễn dịch của
chúng.
Các vắc xin khác bao gồm loại vắc xin tái tổ hợp, vắc xin peptit
và vắc xin carbohydrat. Các loại vắc xin này thường chứa một
kháng nguyên, một phần được nhận biết của một kháng nguyên
hay một gen mã hóa cho một phần được nhận biết  của một
kháng nguyên (peptit, tái tổ hợp hoặc liên hợp  của protein và
những thành phần khác). "Phần được nhận biết của một kháng
nguyên" là  phần của một kháng nguyên mà gây nên các phản
ứng miễn dịch trong cơ thể. Mục tiêu của nhiều vắc xin loại này
là virus hoặc vi khuẩn đặc biệt. Các loại vắc xin này được sử
dụng cho mục đích phòng hoặc điều trị bệnh.
Ngoài ra, nhóm này còn bao gồm các vắc xin axit nucleic. Một
số ví dụ bao gồm vắc xin DNA plasmid và vắc xin RNA thông
tin (mRNA). Vắc xin DNA plasmid mang gen mã hóa protein từ
mầm bệnh trong khi mRNA mã hóa cho một loại protein cụ thể
của mầm bệnh. Cả DNA plasmid và mRNA đều sao chép trong
cơ thể hoặc báo hiệu cho cơ thể sao chép các kháng nguyên
mong muốn dẫn đến phản ứng miễn dịch.
Nhóm này cũng bao gồm các hỗn hợp chứa các vắc xin hoặc
biến độc tố (như vắc xin  chủng ngừa bệnh bạch hầu, uốn ván và
ho gà (DPT)).
Nhóm này không bao gồm các loại vắc xin được đóng gói trong
các bộ dụng cụ dành cho các thử nghiệm lâm sàng được công
nhận (nhóm 30.06), dù là vắc xin được thử nghiệm hay như dưới
dạng chất đối chứng (đôi khi được gọi là “giả dược”) mà một
loại vắc xin khác đang được kiểm tra trong thử nghiệm.
(2) Các độc tố (các loại thuốc độc), biến độc tố, độc tố tàng ẩn, tiền
độc tố (ví dụ, topsalysin (INN)) và kháng độc tố. Các chất độc
thuộc nhóm này là các peptit hoặc protein. Những chất độc này
không bao gồm các alkaloid (nhóm 29.39).
(3) Các vi sinh nuôi cấy (trừ các loại men). Các vi sinh nuôi cấy
này bao gồm các chất lên men như lên men lactic được dùng để
điều chế ra các dẫn xuất từ sữa (kephir, sữa chua, axít lactic) và
các chất lên men axetic để làm dấm; mốc để sản xuất penicillin
và các kháng sinh khác; và các vi sinh nuôi cấy dùng cho mục
đích kỹ thuật (như là, để hỗ trợ sự tăng trưởng của cây).
Sữa hoặc whey có chứa một lượng nhỏ men lactic được phân
loại trong Chương 4.
(4)  Virus, con người, động vật và thực vật và kháng vi rút
(5)  Các thể thực khuẩn.
Nhóm này cũng gồm các chất thử dùng trong chẩn đoán bệnh có
nguồn gốc vi sinh, trừ các chất đã được ghi trong Chú giải 4(d) của
Chương này - xem nhóm 30.06. Nhóm này không bao gồm các
enzym (rennet, amylase, v.v...) ngay cả khi chúng có nguồn gốc vi
sinh (streptokinase, streptodonase, v.v.) (nhóm 35.07) hoặc các vi
sinh đơn bào đã chết (trừ các vắc xin) (nhóm 21.02).
(E) Tế bào nuôi cấy, có hoặc không cải biến
Tế bào nuôi cấy là các tế bào được nuôi cấy trong điều kiện được
kiểm soát, thường là bên ngoài môi trường tự nhiên của chúng.
Trong bối cảnh này, nuôi cấy tế bào đề cập đến tế bào nuôi cấy có
nguồn gốc từ các sinh vật đa bào, đặc biệt là tế bào người hoặc động
vật. Các vi sinh vật nuôi cấy (trừ các loại nấm men) được phân loại
tại phân nhóm 3002.49.
Các sản phẩm liệu pháp tế bào là vật liệu tế bào đã được cải biến
bằng thao tác trên tế bào và được dùng để tiêm, ghép hoặc cấy vào
bệnh nhân.
Liệu pháp tế bào ứng dụng trong rất nhiều các bệnh về rối loạn. Quan
trọng nhất là các bệnh về hệ thần kinh và ung thư. Các ứng dụng
khác bao gồm, không kể những đề cập khác: rối loạn tim (nhồi máu
cơ tim và suy tim), đái tháo đường, các bệnh về xương và khớp, rối
loạn di truyền và vết thương ở da và mô mềm.
Các sản phẩm liệu pháp tế bào bao gồm tế bào gốc và các sản phẩm
có nguồn gốc từ tế bào gốc, chẳng hạn như các sản phẩm từ máu dây
rốn, phôi, trung mô và chất sinh huyết, vắc-xin ung thư và liệu pháp
miễn dịch, như vắc-xin tế bào đuôi gai, tế bào lympho T hoặc B hoạt
hóa, bạch cầu đơn nhân, và các tế bào ung thư đã cải biến hoặc chưa
cải biến, tế bào đảo tụy dị sinh, tế bào sụn để sửa chữa sụn, tế bào
sừng, nguyên bào sợi và tế bào gan.
Các sản phẩm của nhóm này vẫn được phân loại ở đây dù đã hoặc
không theo liều lượng hoặc đóng gói để bán lẻ và ở dạng khối hoặc
đóng gói nhỏ.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 3002.13
Các sản phẩm miễn dịch không pha trộn của phân nhóm 3002.13 có thể
chứa các tạp chất.  Khái niệm tạp chất chỉ áp dụng cho các chất mà sự có
mặt của chúng là kết quả duy nhất và trực tiếp từ quá trình sản xuất (kể cả
quá trình tinh chế). Các chất này có thể là kết quả từ bất kỳ yếu tố nào
liên quan đến quá trình sản xuất và chủ yếu ở các dạng sau:
Các nguyên liệu ban đầu không chuyển hóa.
Các tạp chất có trong nguyên liệu ban đầu.
Các thuốc thử được sử dụng trong quá trình sản xuất (kể cả quá
trình tinh chế).
(d)      Các sản phẩm phụ.
Phân nhóm 3002.51
Theo mục đích của phân nhóm 3002.51, “các sản phẩm liệu pháp tế bào”
là các tế bào sống có các đặc tính sinh học bị thay đổi đáng kể thông qua
thao tác (trong (các) quy trình “ex vivo” nhằm loại bỏ có chọn lọc, làm
phong phú, mở rộng hoặc thay đổi chức năng của tế bào) và nhằm mục
đích để sử dụng trong cơ thể để đạt được kết quả điều trị hoặc phòng
bệnh cho người nhận. Các sản phẩm liệu pháp tế bào có thể bao gồm các
tế bào có nguồn gốc từ người hoặc động vật.
Phân nhóm 3002.51 không bao gồm các tế bào chưa được xử lý hoặc đã
trải qua thao tác tối thiểu mà không làm thay đổi các đặc tính sinh học
liên quan của tế bào.
30.03- Thuốc (trừ các mặt hàng thuộc nhóm 30.02, 30.05 hoặc 30.06)
gồm từ hai hoặc nhiều thành phần trở lên đã pha trộn với
nhau dùng cho phòng bệnh hoặc chữa bệnh, chưa được đóng
gói theo liều lượng hoặc làm thành hình dạng nhất định hoặc
đóng gói để bán lẻ.
3003.10 - Chứa penicillins hoặc dẫn xuất của chúng, có cấu trúc axit
penicillanic, hoặc streptomycins hoặc các dẫn xuất của
chúng
3003.20 - Loại khác, chứa kháng sinh
⦁    Loại khác, chứa hormon hoặc các sản phẩm khác thuộc
nhóm 29.37 :
3003.31 - - Chứa insulin
3003.39 - - Loại khác
⦁    Loại khác, chứa alkaloit hoặc các dẫn xuất của chúng:
3003.41 - - Chứa ephedrine hoặc muối của nó
3003.42 - - Chứa pseudoephedrine (INN) hoặc muối của nó
3003.43 - - Chứa norephedrine hoặc muối của nó
3003.49 - - Loại khác
3003.60 - Loại khác, chứa hoạt chất chống sốt rét mô tả ở Chú giải
Phân nhóm 2 của Chương này
3003.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại chế phẩm thuốc dùng xử lý bên trong hoặc
bên ngoài hoặc để phòng cho người hoặc động vật. Các chế phẩm này đã
được điều chế bằng cách pha trộn hai hoặc nhiều thành phần với nhau.
Tuy nhiên, nếu các chế phẩm này đã được đóng gói theo liều lượng, hoặc
làm thành dạng nhất định hoặc đóng gói để bán lẻ thì tất cả những chế
phẩm đó phải thuộc nhóm 30.04.
Nhóm này  bao gồm:
(1) Các loại chế phẩm thuốc đã pha trộn như là những loại được ghi
trong các dược điển chính thức, các biệt dược, v.v..., kể cả thuốc xúc
miệng, thuốc tra mắt, thuốc mỡ, thuốc xoa, các thuốc tiêm, thuốc
chống dị ứng và các chế phẩm hỗn hợp khác không phân loại trong
nhóm 30.02, 30.05 hoặc 30.06.
Tuy nhiên, không nên hiểu là những chế phẩm có trong dược điển,
các loại thuốc biệt dược, v.v.... thì luôn được phân loại vào nhóm
30.03. Ví dụ, các chế phẩm dùng để trị mụn trứng cá được dùng chủ
yếu để tẩy sạch da và không chứa đủ mức hoạt chất để được coi như
có tác dụng cơ bản để phòng hoặc chữa mụn trứng cá thì được phân
loại vào nhóm 33.04.
(2) Các chế phẩm chứa một dược chất đi kèm với một tá dược, chất làm
ngọt, chất kết tụ, hỗ trợ, v.v...
(3) Các chế phẩm dinh dưỡng chỉ dùng đường tiêm truyền, nghĩa là bằng
đường tiêm hoặc truyền vào tĩnh mạch.
(4) Các loại dung dịch keo và huyền phù (ví dụ, keo selen) được dùng
làm thuốc, nhưng không bao gồm keo lưu huỳnh hoặc keo kim loại
quý dạng đơn. Keo lưu huỳnh được phân loại vào nhóm 30.04 nếu
như đã được đóng gói theo liều lượng hoặc đóng gói để bán lẻ với
mục đích sử dụng để phòng bệnh hoặc chữa bệnh, còn trong tất cả
các trường hợp khác nó sẽ được phân vào nhóm 28.02. Keo kim loại
quý dạng đơn được phân loại vào nhóm 28.43 cho dù có dùng làm  
thuốc hay không. Tuy nhiên, hỗn hợp keo các kim loại quý hoặc hỗn
hợp keo kim loại quý với các chất khác, với mục đích dùng để phòng
bệnh hay chữa bệnh vẫn được phân vào nhóm này.
(5) Các chất chiết xuất thực vật phức hợp dùng làm thuốc, bao gồm cả
những chất đã thu được bằng việc xử lý một hỗn hợp các cây.
(6) Hỗn hợp dùng làm thuốc của các cây hoặc các bộ phận của cây thuộc
nhóm 12.11.
(7) Các loại muối y học thu được nhờ làm bay hơi các loại nước khoáng
tự nhiên và những sản phẩm tương tự được điều chế bằng phương
pháp nhân tạo.
(8) Các nước cô đặc từ các nguồn muối (như nước Kreuznach) được sử
dụng để chữa bệnh; những hỗn hợp của muối được điều chế để làm
các loại nước tắm y học (nước tắm có sulfua, iốt, v.v..), có hoặc
không được tạo hương.
(9) Muối y tế (ví dụ, hỗn hợp của natri hydrocarbonat, axit tartaric,
sulphat magie và đường) và các hỗn hợp muối sủi bọt tương tự dùng
cho mục đích y học.
(10) Dầu long não, dầu phenolat,..
(11) Các sản phẩm trị hen suyễn, như giấy và bột chữa hen.
(12) “Các thuốc có tác dụng chậm” như các thuốc có chứa một thành
phần dược chất được gắn với một nhân tố trao đổi ion polyme.
(13) Các loại thuốc gây mê, thuốc gây tê được dùng trong y tế và phẫu
thuật đối với người và thú y.
Các điều khoản của phần mô tả nội dung nhóm không áp dụng đối với
các loại thực phẩm hoặc các loại đồ uống như là các loại thực phẩm dùng
cho ăn kiêng, dùng cho người mắc tiểu đường hoặc các loại thức ăn giàu
chất đạm, hoặc đồ uống bổ hoặc các loại nước khoáng (tự nhiên hay nhân
tạo), được phân vào nhóm thích hợp riêng của chúng. Điều này chủ
yếu là trường hợp các loại chế phẩm thực phẩm chỉ chứa các loại chất
dinh dưỡng. Các chất dinh dưỡng chủ yếu nhất trong thực phẩm là các
protein, carbohydrat và chất béo. Các loại vitamin và các loại muối
khoáng cũng đóng vai trò là một thành phần dinh dưỡng.
Tương tự như vậy các thực phẩm và đồ uống có thành phần thuốc không
nằm trong nhóm này nếu chúng được cho vào thực phẩm hay đồ uống chỉ
với mục đích tạo ra sự cân bằng dinh dưỡng tốt hơn, để làm tăng giá trị
dinh dưỡng hoặc năng lượng của sản phẩm hay cải thiện vị của chúng,
với điều kiện là sản phẩm vẫn giữ được đặc tính của thực phẩm hay đồ
uống.
Hơn nữa, các sản phẩm gồm hỗn hợp của các loại cây hoặc các phần của
cây hoặc gồm các loại cây hoặc các phần của cây đã pha trộn với các chất
khác, dùng để tạo nước thảo dược hoặc chè thảo dược (ví dụ, các chế
phẩm có đặc tính nhuận tràng, xổ, lợi tiểu hay giảm đầy hơi chướng
bụng...) và được ghi nhãn là giúp giảm bệnh tật hoặc góp phần tăng
cường sức khỏe của con người thì cũng bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm
Hơn nữa, nhóm này không bao gồm gồm các chế phẩm thường được đề
cập đến như là các thực phẩm bảo vệ sức khỏe có chứa các vitamin hoặc
các loại khoáng, thường được dùng để duy trì sức khỏe hoặc tinh thần
thoải mái, hoặc để cải thiện thành tích thể thao, hoặc để ngăn ngừa sự
thiếu hụt dinh dưỡng có thể xảy ra hoặc điều chỉnh mức độ dưới mức tối
ưu của dinh dưỡng. Các sản phẩm này có thể dưới dạng lỏng, bột hoặc
các dạng tương tự, thường được phân vào nhóm 21.06 hoặc Chương 22.
Mặt khác, nhóm này bao gồm các chế phẩm trong đó thực phẩm hoặc đồ
uống chỉ đóng vai trò như là tác nhân bổ trợ, làm chất vận chuyển hoặc
chất tạo ngọt hoặc hỗ trợ kỹ thuật hoặc chế biến cho dược chất (ví dụ, để
hỗ trợ sự tiêu hóa).
Ngoài các loại thực phẩm và đồ uống, nhóm này không bao gồm:
(a) Các sản phẩm thuộc nhóm 30.02, 30.05 hoặc 30.06.
(b) Nước cất tinh dầu hoặc dung dịch nước của tinh dầu và các chế phẩm
thuộc các nhóm 33.03 đến 33.07 ngay cả khi chúng có đặc tính
phòng bệnh hay chữa bệnh (Chương 33).
(c) Các loại xà phòng dược phẩm (nhóm 34.01).
(d) Thuốc diệt côn trùng, thuốc tẩy uế, v.v..., thuộc nhóm 38.08.
30.04- Thuốc (trừ các mặt hàng thuộc nhóm 30.02, 30.05 hoặc 30.06)
gồm các sản phẩm đã hoặc chưa pha trộn dùng cho phòng
bệnh hoặc chữa bệnh, đã được đóng gói theo liều lượng (kể cả
các sản phẩm thuộc loại dùng để hấp thụ qua da) hoặc làm
thành dạng nhất định hoặc đóng gói để bán lẻ.
3004.10 - Chứa penicillins hoặc dẫn xuất của chúng, có cấu trúc axit
penicillanic, hoặc streptomycins hoặc các dẫn xuất của
chúng
3004.20 - Loại khác, chứa kháng sinh
⦁    Loại khác, chứa hormon hoặc các sản phẩm khác thuộc
nhóm 29.37:
3004.31 - - Chứa insulin
3004.32  - - Chứa hormon tuyến thượng thận, các dẫn xuất hoặc cấu
trúc tương tự của chúng
3004.39  - - Loại khác
⦁    Loại khác, chứa alkaloit hoặc các dẫn xuất của chúng:
3004.41 - - Chứa ephedrine hoặc muối của nó
3004.42 - - Chứa pseudoephedrine (INN) hoặc muối của nó
3004.43 - - Chứa norephedrine hoặc muối của nó
3004.49 - - Loại khác
3004.50 - Loại khác, chứa các vitamin hoặc các sản phẩm khác của
nhóm 29.36
3004.60 - Loại khác, chứa hoạt chất chống sốt rét được mô tả ở Chú
giải Phân nhóm 2 của Chương này
3004.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại thuốc có chứa các sản phẩm đã pha trộn hoặc
chưa pha trộn, với điều kiện chúng là :
(a)  Được đóng gói theo liều lượng hay ở dạng thuốc viên, ống (ví dụ,
nước cất đóng trong ống 1,25 đến 10 cm3, để sử dụng trực tiếp cho
việc điều trị một số chứng bệnh nhất định, ví dụ, các chứng nghiện
rượu, hôn mê tiểu đường hoặc được dùng như  dung môi để pha
thuốc tiêm), viên nang, gói bột, thuốc nhỏ giọt hay viên ngậm, thuốc
ở dạng hệ sản phẩm thẩm thấu qua da (transdermal administration
systems), hay lượng nhỏ thuốc bột đóng sẵn, sẵn sàng để dùng như  
liều đơn để phòng hay chữa bệnh.
Nhóm này cũng bao gồm các liều đóng sẵn dưới dạng hệ sản phẩm
thẩm thấu qua da, thường dưới dạng các miếng dán (thường hình tròn
hoặc tam giác) và được dùng trực tiếp lên da bệnh nhân. Hoạt chất
được chứa trong một bộ phận chứa được đóng kín bằng một màng có
lỗ ở mặt tiếp xúc với da. Hoạt chất được giải phóng khỏi bộ phận
chứa sẽ được hấp thu bằng cơ chế khuyếch tán phân tử thụ động và
đi trực tiếp vào các mao mạch. Hệ sản phẩm này không được lẫn với
các miếng cao dán y khoa ở nhóm 30.05
Nhóm này áp dụng cho các dạng liều đơn dù chúng với số lượng lớn,
đóng gói bán lẻ,...; hoặc
(b)  Được đóng gói để bán lẻ dùng để phòng bệnh hoặc chữa bệnh.
Để được coi như vậy phải là những sản phẩm (ví dụ,  natri bicarbonat
và bột quả me), do kiểu đóng gói và, đặc biệt là do có những chỉ định
điều trị (nêu rõ các chứng bệnh hay thể trạng được chỉ định sử dụng
sản phẩm đó, cách dùng, liều lượng,v.v..) cho thấy rõ ràng là để bán
lẻ trực tiếp cho người sử dụng (cá nhân, bệnh viện, v.v.) mà không
phải đóng gói lại, để sử dụng cho những mục đích nói ở trên.
Những chỉ định này (bằng bất kỳ thứ ngôn ngữ nào) có thể được ghi
trên nhãn sản phẩm, trong các hướng dẫn sử dụng hay bằng cách
khác. Tuy nhiên, chỉ các chỉ định dược phẩm hoặc tiêu chuẩn về độ
tinh khiết thôi thì không đủ để thuyết phục việc phân loại sản phẩm
vào nhóm này.
Mặt khác, kể cả khi không có các chỉ định thì các sản phẩm không pha
trộn phải được coi là được đóng gói bán lẻ cho mục đích phòng bệnh
hoặc chữa bệnh nếu chúng được đóng gói ở dạng rõ ràng cho thấy là để
phục vụ cho mục đích đó.
Các loại thuốc gồm các sản phẩm hỗn hợp dùng cho mục đích phòng
bệnh hoặc chữa bệnh, nhưng không được đóng gói theo liều lượng hoặc
được làm thành dạng nhất định hoặc đóng gói để bán lẻ được phân loại
vào nhóm 30.03 (xem Chú giải Chi tiết tương ứng).
Căn cứ các điều khoản tại Chú giải 3 của Chương này, những sản phẩm
sau đây được coi là sản phẩm không pha trộn:
(1) Các sản phẩm không pha trộn hòa tan trong nước.  
(2) Toàn bộ các sản phẩm thuộc Chương 28 hoặc 29. Trong số những sản
phẩm này có cả keo lưu huỳnh và các loại dung dịch bền vững của
(3) Các chiết xuất thực vật đơn chất thuộc nhóm 13.02, chỉ đơn thuần
được tiêu chuẩn hóa hoặc hòa tan trong dung môi bất kỳ (xem Chú
giải Chi tiết nhóm 13.02).
Tuy nhiên cần lưu ý rằng, các sản phẩm không pha trộn thuộc các nhóm
từ 28.43 đến 28.46 và 28.52 luôn luôn bị loại trừ khỏi nhóm 30.04, ngay
cả khi chúng đáp ứng đầy đủ những điều kiện nêu ở phần (a) hoặc (b)
trên đây. Ví dụ, keo bạc vẫn được phân loại trong nhóm 28.43 ngay cả
khi đóng gói theo liều lượng hoặc đã được đóng gói và trình bày như
thuốc.
Nhóm này bao gồm các dạng viên ngậm, viên nén, thuốc nhỏ giọt,.. loại
chỉ phù hợp sử dụng cho mục đích làm thuốc, như là những thuốc dựa
trên lưu hùynh, than củi, natri tetraborat, natri benzoat, clorat kali hoặc
magiê.
Tuy nhiên, các chế phẩm được đóng gói dưới dạng viên ngậm hoặc dưới
dạng thuốc nhỏ để trị ho, chứa thành phần chủ yếu là đuờng (có hoặc
không có các thực phẩm khác như gelatin, tinh bột hoặc bột) và các chất
tạo mùi (kể cả các chất có đặc tính thuốc như các loại cồn benzyl, tinh
dầu bạc hà, dầu bạch đàn và nhựa thơm tolu) được phân loại vào nhóm
17.04. Các loại viên ngậm hoặc thuốc nhỏ giọt trị ho có chứa các chất
mang đặc tính thuốc, trừ các chất tạo mùi, vẫn được phân loại vào trong
nhóm này khi chúng được đóng gói theo liều lượng hoặc làm thành dạng
nhất định, hoặc đóng gói để bán lẻ, với điều kiện là tỷ lệ của các chất này
trong mỗi viên ngậm hoặc giọt thuốc nhỏ đủ để chúng cho tác dụng
phòng bệnh hoặc chữa bệnh.
Nhóm này cũng gồm có các sản phẩm dưới đây, với điều kiện chúng
được đóng gói dưới các dạng đã mô tả ở các phần (a) hoặc (b) trên đây:
(1)  Các sản phẩm và các chế phẩm hữu cơ hoạt động bề mặt, có chứa
cation hoạt tính (ví dụ, các loại muối amoni bậc bốn), mang các đặc
tính sát khuẩn, khử trùng, diệt vi khuẩn hoặc diệt vi sinh.
(2) Poly(vinyl pyrrolidone) - iodine, là sản phẩm phản ứng của iốt và
(3) Chất thay thế ghép xương, chẳng hạn như sự thay thế từ sulphat
canxi loại dùng trong phẫu thuật, được tiêm vào một khoang của
xương bị gãy và được hấp thụ và thay thế một cách tự nhiên bằng các
mô xương; các sản phẩm này cung cấp một khối tinh thể mà xương
mới có thể phát triển khi khối này được hấp thụ.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm xi măng gắn xương, thường
chứa chất làm cứng (tác nhân đóng rắn) và một chất kích hoạt và sử
dụng, ví dụ, để cấy ghép bộ phận giả cho xương hiện có (nhóm
Các điều khoản của phần mô tả nội dung nhóm không áp dụng đối với
các loại thực phẩm, các loại đồ uống như là các loại thực phẩm dùng cho
ăn kiêng, dùng cho người mắc tiểu đường, các loại thức ăn giàu chất đạm,
đồ uống bổ hoặc các loại nước khoáng (tự nhiên hay nhân tạo) đã được
phân loại vào nhóm thích hợp riêng của chúng. Điều này chủ yếu là
trường hợp các loại chế phẩm thực phẩm chỉ chứa các loại chất dinh
dưỡng. Những chất dinh dưỡng chủ yếu nhất trong thực phẩm là các
protein, carbonhydrat và chất béo. Các loại vitamin và các loại muối
khoáng cũng đóng vai trò là một thành phần dinh dưỡng.
Tương tự như vậy những thực phẩm và đồ uống có thành phần thuốc
không nằm trong nhóm này nếu chúng được cho vào thành phần thực
phẩm hay đồ uống chỉ với mục đích tạo ra sự cân bằng dinh dưỡng tốt
hơn, để làm tăng giá trị dinh dưỡng hoặc năng lượng của sản phẩm hay
cải thiện các mùi của chúng với điều kiện là sản phẩm vẫn giữ được đặc
tính của thực phẩm hay đồ uống.
Hơn nữa, các sản phẩm bao gồm hỗn hợp của các loại cây hoặc các phần
của cây hoặc gồm các loại cây hoặc các phần của cây đã pha trộn với các
chất khác, dùng để tạo nước thảo dược hoặc “trà” thảo dược (ví dụ,
những chế phẩm có đặc tính nhuận tràng, xổ, lợi tiểu hay giảm đầy hơi
chướng bụng),  và được ghi nhãn là giúp giảm bệnh tật hoặc góp phần
tăng cường sức khỏe của con người chung chung, thì cũng bị loại trừ
khỏi vào nhóm này (nhóm 21.06).
Hơn nữa, nhóm này không bao gồm gồm các chế phẩm thường được đề
cập đến như là các thực phẩm bảo vệ sức khỏe có chứa các vitamin hoặc
các loại khoáng, thường được dùng để duy trì sức khỏe hoặc tinh thần
thoải mái, hoặc để cải thiện thành tích thể thao, hoặc để ngăn ngừa sự
thiếu hụt dinh dưỡng có thể xảy ra hoặc điều chỉnh mức độ dưới mức tối
ưu của chất dinh dưỡng. Các sản phẩm này có thể dưới dạng lỏng, bột,
viên nang, viên nén, hoặc các dạng tương tự, thường được phân vào
nhóm 21.06 hoặc Chương 22.
Mặt khác, nhóm này bao gồm các chế phẩm trong đó thực phẩm hoặc đồ
uống chỉ đóng vai trò như là tác nhân bổ trợ, làm chất vận chuyển hoặc
chất tạo ngọt hoặc hỗ trợ kỹ thuật hoặc chế biến cho dược chất (ví dụ, để
hỗ trợ sự tiêu hóa).
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Các loại nọc độc của rắn hoặc của ong, chưa được đóng gói như thuốc
(nhóm 30.01).
(b) Các sản phẩm thuộc các nhóm 30.02, 30.05 hoặc 30.06, ở bất cứ dạng
đóng gói nào.
(c) Nước cất tinh dầu và dung dịch nước của tinh dầu và các chế phẩm
thuộc các nhóm từ 33.03 đến  33.07, ngay cả khi chúng có những đặc
tính để phòng bệnh hoặc chữa bệnh (Chương 33).
(d) Các loại xà phòng dược phẩm, ở bất cứ dạng đóng gói nào (nhóm
(e) Thuốc trừ sâu, thuốc khử trùng, vv, thuộc nhóm 38.08, chưa đóng gói
để sử dụng bên trong hoặc bên ngoài như  thuốc
(f) Các sản phẩm, như là dạng viên, kẹo cao su (chewing gum) hoặc các
miếng dán (thẩm thấu qua da), chứa nicotin và nhằm hỗ trợ cai thuốc
lá (nhóm 24.04).
30.05- Bông, gạc, băng và các sản phẩm tương tự (ví dụ, băng để
băng bó, cao dán, thuốc đắp), đã thấm tẩm hoặc tráng phủ
dược chất hoặc làm thành dạng nhất định hoặc đóng gói để
bán lẻ dùng cho y tế, phẫu thuật, nha khoa hoặc thú y.
3005.10 - Băng dán và các sản phẩm khác có một lớp dính
3005.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại sản phẩm như bông, gạc, băng và các loại
sản phẩm tương tự bằng vải, giấy, plastic... , đã được thấm hoặc tráng
bằng dược chất (chống kích ứng, thuốc sát trùng, ...) với mục đích sử
dụng cho y tế, phẫu thuật, nha khoa hoặc thú y.
Những mặt hàng này bao gồm các loại bông đã thấm tẩm iốt hoặc metyl
salicylat, v.v.. các loại băng gạc khác nhau dùng để băng bó đã qua xử lý,
các loại thuốc đắp đã qua điều chế (ví dụ, thuốc đắp hạt lanh hoặc mù
tạt), các loại cao dán y tế, v.v.... Chúng có thể ở dạng mảnh, từng khoanh
nhỏ hoặc các dạng khác.
Bông và gạc dùng để băng bó (thường được làm bằng bông hút nước) và
các loại băng chưa được thấm tẩm hoặc tráng với dược chất, vẫn được
phân loại vào nhóm này, với điều kiện là chúng được làm thành dạng
nhất định hoặc đóng gói để bán lẻ trực tiếp cho cá nhân, phòng khám,
bệnh viện..., mà không cần đóng gói lại và chúng có thể được nhận biết
nhờ đặc điểm của chúng (được trình bày ở dạng cuộn hoặc gấp lại, bao bì
bảo vệ, dán nhãn,...) dành riêng cho mục đích sử dụng y tế, phẫu thuật,
nha khoa hoặc thú y.
Nhóm này cũng bao gồm các loại băng sau đây :
(1) Băng bằng da gồm các dải mô da động vật đã qua xử lý đông lạnh
hoặc đông khô (đã khô), thường là da lợn, được sử dụng như các loại
băng sinh học tạm thời để sử dụng trực tiếp trên các vùng bị mất da,
trên các vết thương hở miệng, những vết nhiễm trùng sau khi mổ
v.v... Các loại băng này có các kích thước khác nhau và được đóng
gói trong những đồ chứa vô trùng (đóng gói bán lẻ) có dán nhãn
mang các thông tin về cách dùng của chúng.
(2)  Băng dạng lỏng được đóng ở dạng bình xịt và được sử dụng để phủ
lên miệng vết thương bằng một lớp màng bảo vệ trong suốt. Chúng
có thể chứa một dung dịch vô trùng của một plastic (ví dụ, vinyl
copolyme đã biến đổi hoặc nhựa methacrylic) trong dung môi hữu cơ
bay hơi (ví dụ, axetat etyl) và một tác nhân dẫn tiến, có hoặc không
có thêm các dược chất (đặc biệt là chất khử trùng).
Nhóm này không bao gồm các loại băng, băng dính thạch cao,... có chứa
ôxít kẽm, cũng như các loại băng bó bột bằng thạch cao, không tạo thành
dạng nhất định hoặc ở dạng đóng gói để bán lẻ, dùng cho mục đích y học,
phẫu thuật, nha khoa hay thú y.
Nhóm này cũng không  bao gồm :
(a) Thạch cao đã nung đặc biệt hoặc được nghiền mịn để dùng trong nha
khoa và các chế phẩm có nền là thạch cao dùng trong nha khoa
(nhóm 25.20 và 34.07 tương ứng).
(b) Thuốc dưới dạng hệ sản phẩm thẩm thấu qua da (nhóm 30.04)
(c) Các mặt hàng nêu ở Chú giải 4 của Chương này (nhóm 30.06).
(d) Băng (miếng) và nút bông vệ sinh, khăn và tã lót cho trẻ sơ sinh và
các vật phẩm tương tự của nhóm 96.19.
30.06- Các mặt hàng dược phẩm ghi trong Chú giải 4 của Chương
này (+).
3006.10 - Chỉ catgut phẫu thuật vô trùng, các vật liệu khâu
(suture) vô trùng tương tự (kể cả chỉ tự tiêu vô trùng
dùng cho nha khoa hoặc phẫu thuật) và keo tạo màng
vô trùng dùng để khép miệng vết thương trong phẫu
thuật; tảo nong vô trùng và nút tảo nong vô trùng; sản
phẩm cầm máu tự tiêu vô trùng trong phẫu thuật hoặc
nha khoa; miếng chắn dính vô trùng dùng trong nha
khoa hoặc phẫu thuật, có hoặc không tự tiêu
3006.30 - Chế phẩm cản quang dùng trong việc kiểm tra bằng tia
X; các chất thử chẩn đoán bệnh được chỉ định dùng cho
bệnh nhân
3006.40 - Xi măng hàn răng và các chất hàn răng khác; xi măng
gắn xương
3006.50 - Hộp và bộ dụng cụ sơ cứu
3006.60 - Các chế phẩm hóa học dùng để tránh thai dựa trên
hormon, dựa trên các sản phẩm khác thuộc nhóm 29.37
hoặc dựa trên các chất diệt tinh trùng
3006.70 - Các chế phẩm gel được sản xuất để dùng cho người
hoặc thú y như chất bôi trơn cho các bộ phận của cơ thể
khi tiến hành phẫu thuật hoặc khám bệnh hoặc như một
chất gắn kết giữa cơ thể và thiết bị y tế
⦁    Loại khác:
3006.91 - - Dụng cụ chuyên dụng cho mổ tạo hậu môn giả
3006.92 - - Phế thải dược phẩm
3006.93 - - Giả dược (placebo) và bộ dụng cụ thử nghiệm lâm
sàng mù (hoặc mù đôi) để sử dụng trong các thử
nghiệm lâm sàng được công nhận, được đóng gói theo
liều lượng
Nhóm này chỉ bao gồm các mặt hàng sau đây:
(1) Chỉ catgut phẫu thuật vô trùng, các vật liệu khâu vô trùng tương
tự và keo tạo màng vô trùng dùng để khép miệng vết thương
trong phẫu thuật.
Mục này bao gồm tất cả các loại dùng cho khâu vết thương khi phẫu
thuật, với điều kiện chúng phải vô trùng. Chúng thường nằm trong
dung dịch chất sát trùng hoặc trong các hộp vô trùng gắn kín.
Các chất liệu được sử dụng để chế tạo loại này  gồm :
(a)  chỉ catgut (là loại collagen từ ruột các loại gia súc, cừu và các
loại động vật khác);
(b)  các loại sợi tự nhiên (bông, tơ, lanh);
(c) các loại sợi polyme tổng hợp, như sợi polyamit (nylon),  polyeste;
(d)  kim loại (thép không gỉ, tantali, bạc, đồng).
Mục này cũng bao gồm các loại băng dính như các loại có chứa butyl

một thuốc
nhuộm;
dùng,
các
monomerpolymerises và sản phẩm được sử dụng thay cho các vật
liệu khâu thông thường để đóng vết thương bên trong hoặc bên ngoài
của cơ thể con người
Nhóm này không bao gồm các vật liệu khâu không vô trùng. Chúng
được phân loại tùy theo bản chất của chúng, ví dụ, catgut (nhóm
42.06), ruột con tằm, sợi dệt, v.v. (Phần XI), sợi  kim loại (Chương
71 hoặc Phần XV).
(2)  Tảo nong vô trùng và nút tảo nong vô trùng.
Mục này chỉ hạn chế đối với tảo nong vô trùng và nút tảo nong vô
trùng (đoạn tảo dài, nhỏ đôi khi có mầu nâu và có bề mặt xù xì). Khi
tiếp xúc với chất ẩm ướt chúng phồng lên trở nên nhẵn, trơn và co
giãn.
Với đặc tính này, chúng được sử dụng như dụng cụ để nong khi phẫu
thuật.
Các loại sản phẩm không vô trùng bị loại trừ  (nhóm 12.12).
(3) Sản phẩm cầm máu vô trùng tự tiêu sử dụng trong phẫu thuật
Mục này bao gồm các sản phẩm vô trùng sử dụng trong phẫu thuật
hoặc nha khoa để cầm máu, chúng được các dịch trong cơ thể hấp
thụ. Nhóm này bao gồm cellullose oxi hóa, thường ở dưới dạng gạc
hay sợi (“len”), miếng hay lá mỏng hoặc dạng dải; gelatin xốp hoặc
bọt, gạc alginat canxi, “len” hay “film”.
(4)  Miếng chắn dính vô trùng dùng trong nha khoa hoặc phẫu thuật,
có hoặc không tự tiêu.
(5)  Các chế phẩm cản quang dùng trong xét nghiệm bằng tia X và
các chất thử chuẩn đoán bệnh đã điều chế dùng cho bệnh nhân
là các sản phẩm không pha trộn đóng gói theo liều lượng, hoặc
các sản phẩm gồm từ hai thành phần trở lên đã được trộn lẫn
với nhau, dùng cho cùng mục đích như vậy.
Các chế phẩm cản quang dùng trong chụp X quang các cơ quan nội
tạng, động mạch, tĩnh mạch, đường tiết niệu, ống mật, v.v. Chúng là
các chế phẩm dựa trên nền sulphat bari hay các chất cản quang khác
với tia X và có thể được đóng gói để tiêm hay uống (ví dụ, bột bari).
Các thuốc thử chẩn đoán (bao gồm cả thuốc thử chẩn đoán dạng vi
sinh) thuộc nhóm này là các loại dùng bằng cách uống, tiêm, vv.
Những chất thử chuẩn đoán không được điều chế để dùng cho bệnh
nhân (ví dụ, những chất dùng để tiến hành các xét nghiệm máu, nước
tiểu v.v... hay các mẫu lấy từ bệnh nhân, hay dùng như một chất thử
trong phòng thí nghiệm) thì bị loại trừ; chúng được phân loại vào
nhóm phù hợp với các vật liệu tạo ra chúng (ví dụ, Chương 28,
Chương 29 hoặc nhóm 30.02 hoặc 38.22).
(6) Xi măng nha khoa và các chất hàn răng khác và xi măng dùng để
gắn xương.
Xi măng nha khoa và các chất hàn răng khác thường được tạo từ các
muối kim loại (phosphat kẽm, clorua kẽm,...), ô xít kim loại, nhựa két
hoặc từ vật liệu plastic. Chúng cũng có thể gồm các hợp kim (kể cả hợp
kim kim loại quí) được điều chế theo phương thức đặc biệt để hàn răng.
Các hợp kim đó đôi khi được gọi là “hỗn hống” mặc dù chúng không
chứa thủy ngân. Nhóm này bao gồm cả các chất dùng để hàn răng tạm
thời hay hàn vĩnh cữu và bao gồm cả các loại xi măng và các chất hàn
răng có chứa dược chất và có đặc tính phòng bệnh.
Các chất này thường ở dạng bột hay viên nén, đôi khi có thể đi kèm
với các dung dịch cần thiết để pha chế khi sử dụng, và trên bao gói
của chúng thường chỉ rõ dùng cho nha khoa.
Nhóm này cũng gồm các loại dùng để hàn chân răng (root canals) (ví
dụ, bằng bạc, bằng nhựa két, bằng giấy).
Nhóm này cũng bao gồm xi măng gắn xương, thường chứa chất làm
cứng (tác nhân đóng rắn) và kích hoạt và sử dụng, ví dụ, để gắn cấy
ghép bộ phận giả từ xương hiện tại; xi măng này thường được bảo
quản ở nhiệt độ cơ thể.
Các loại thạch cao đã được nung hoặc nghiền mịn và các chế phẩm
dựa trên thạch cao dùng trong nha khoa bị loại trừ (nhóm 25.20 và
34.07 tương ứng).
Chất thay thế ghép xương, như những sự thay thế từ sulphat canxi
loại dùng cho phẫu thuật, cung cấp một khối tinh thể mà xương mới
có thể phát triển khi khối này được hấp thụ cũng bị loại trừ (nhóm
(7) Hộp và bộ dụng cụ cấp cứu.
Chỉ được coi là hộp và bộ dụng cụ cấp cứu khi là các loại có chứa
một lượng nhỏ của một vài loại thuốc chữa bệnh thông thường (nước
ôxy già, cồn iốt, thuốc đỏ, cồn, kim sa..), một số đồ băng bó (gạc,
bông...) và một vài dụng cụ như kẹp, kéo...
Nhóm này không bao gồm các loại hộp dụng cụ y tế phức tạp hơn
như loại của các bác sĩ sử dụng.
(8) Chế phẩm hoá học tránh thai dựa trên hormon, trên các sản
phẩm khác thuộc nhóm 29.37 hoặc trên chất diệt tinh trùng, đã
hoặc chưa đóng gói để bán lẻ.
(9) Các chế phẩm gel được thiết kế để dùng trong thuốc thú y hoặc
dùng cho người như là chất bôi trơn cho các bộ phận của cơ thể
dùng cho phẫu thuật hoặc các trường hợp khám cơ thể hoặc như
một chất kết nối giữa cơ thể và thiết bị y tế.
Các chế phẩm này thường chứa rượu đa chức (polyhydric alcohols)
(glycerol, propylene glycol, v.v), nước và chất làm đặc. Chúng
thường được sử dụng như một chất bôi trơn giữa các bộ phận của cơ
thể trong quá trình kiểm tra sức khỏe (ví dụ, dầu bôi trơn âm đạo)
hoặc giữa các bộ phận của cơ thể và bàn tay của bác sĩ phẫu thuật,
găng tay hoặc dụng cụ y tế, cho các mục đích y tế hoặc thú y. Chúng
cũng được sử dụng như một chất kết nối giữa cơ thể và dụng cụ y tế
(như là, máy điện tim, máy siêu âm).
(10) Dụng cụ chuyên dụng cho mổ tạo hậu môn giả, đã được cắt thành
hình dạng nhất định và gắn với các viên nhện hoặc tấm mặt dùng cho
thông ruột, hồi tràng hoặc mổ niệu đạo.
(11) Các phế thải dược phẩm.
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm dược phẩm không phù hợp
với mục đích ban đầu tạo ra chúng, ví dụ các dược phẩm quá hạn.
(12) Giả dược.
Giả dược thuộc nhóm này được thiết kế để mô phỏng hình thức bên
ngoài của một loại thuốc và được sử dụng trong các thử nghiệm lâm
sàng đã công nhận. Giả dược nói chung là một sản phẩm trơ về mặt
dược phẩm, thường bao gồm các thành phần được sử dụng trong sản
phẩm thuốc đang nghiên cứu trừ thành phần hoạt chất. Giả dược
thuộc nhóm này cũng bao gồm các loại vắc xin được sử dụng làm
chất đối chứng và đã được cấp phép sử dụng trong các thử nghiệm
lâm sàng đã công nhận. Giả dược sẽ có nhiều dạng bao gồm, nhưng
không giới hạn, ở dạng viên, lỏng, thuốc tiêm và miếng dán. Các
thành phần (tá dược) được sử dụng trong thành phẩm thuốc nói
chung phải được coi là an toàn khi sử dụng ở người, nếu không
chúng sẽ không thể được sử dụng.
(13) Bộ dụng cụ thử nghiệm lâm sàng mù (hoặc mù đôi).
Bộ dụng cụ thử nghiệm lâm sàng mù (hoặc mù đôi) chỉ nhằm mục
đích thử nghiệm y tế mù (blinded medical trial) và chứa thuốc thử,
giả dược tương ứng hoặc cả hai và được thiết kế để ẩn danh thuốc.
Đối với các thử nghiệm dược phẩm mới, thiết kế mù đôi ngẫu nhiên
thường được sử dụng. Thông tin liên quan đến thành phần chính xác
của bất kỳ bộ dụng cụ mù đôi cụ thể nào, tức là, liệu nó có chứa sản
phẩm thuốc hoạt hóa hay giả dược hay cả hai, không đi kèm với bộ
dụng cụ, và không có sẵn cho mục đích Hải quan.
Bộ dụng cụ có thể chứa bất kỳ vật phẩm hoặc bao bì nào chỉ cần thiết
cho việc vận chuyển hoặc lưu trữ hàng hóa một cách an toàn, ví dụ,
máy ghi nhiệt độ, máy phát hiện giả mạo hoặc miếng làm mát cũng
như mọi tài liệu và biểu mẫu liên quan và cần thiết dù ở dạng bản
cứng hay dạng điện tử.
Giả dược hoặc bộ thử nghiệm lâm sàng mù (hoặc mù đôi) thuộc nhóm
này được đóng gói theo liều lượng để sử dụng trong các thử nghiệm lâm
sàng được công nhận.
Thử nghiệm lâm sàng nhằm mục đích thử nghiệm thuốc trên người hoặc
động vật, trong đó sản phẩm nghiên cứu là dạng dược phẩm của một hoạt
chất đang được thử nghiệm hoặc giả dược được sử dụng để tham chiếu
trong thử nghiệm lâm sàng. Các hoạt chất được thử nghiệm có thể bao
gồm các sản phẩm thuốc thảo dược dùng để chữa bệnh hoặc phòng bệnh.
Bộ dụng cụ thử nghiệm lâm sàng được coi là được công nhận khi chúng
đáp ứng tất cả các yêu cầu quy định liên quan tại quốc gia nhập khẩu để
nhập khẩu hợp pháp các sản phẩm nghiên cứu đó để sử dụng trong thử
nghiệm lâm sàng.
Những sản phẩm “giả dược” và “bộ dụng cụ thử nghiệm lâm sàng mù
(hoặc mù đôi)” không dành cho thử nghiệm lâm sàng đã đáp ứng các yêu
cầu quy định liên quan đối với việc nhập khẩu các chất, phải được phân
loại tương ứng vào các nhóm khác (ví dụ, nhóm 17.04, 21.06,...) dựa trên
các thành phần và dạng khác nhau của chúng.
Chương 31
Phân bón
Chú giải.
1.- Chương này không bao gồm:  
(a) Máu động vật thuộc nhóm 05.11;
(b) Các hợp chất đã được xác định về mặt hoá học riêng biệt (trừ
những mặt hàng đã ghi trong các Chú giải 2(a), 3(a), 4(a) hoặc 5
dưới đây); hoặc
(c) Các tinh thể kali clorua nuôi cấy (trừ các bộ phận quang học) mỗi
tinh thể nặng từ 2,5g trở lên, thuộc nhóm 38.24; các bộ phận quang
học bằng kali clorua (nhóm 90.01).
2. Nhóm 31.02 chỉ áp dụng cho các mặt hàng sau đây, với điều kiện
không được tạo thành các hình dạng hoặc đóng gói theo cách thức đã
được mô tả trong nhóm 31.05:  
(a) Mặt hàng đáp ứng một trong các mô tả sau:
(i)  Natri nitrat, tinh khiết hoặc không tinh khiết;
(ii)  Amoni nitrat, tinh khiết hoặc không tinh khiết;
(iii)  Muối kép, tinh khiết hoặc không tinh khiết, của amoni
sulphat và amoni nitrat;
(iv) Amoni sulphat, tinh khiết hoặc không tinh khiết;
(v) Muối kép (tinh khiết hoặc không tinh khiết) hoặc hỗn hợp
canxi nitrat và amoni nitrat;
(vi) Muối kép (tinh khiết hoặc không tinh khiết) hoặc hỗn hợp
canxi nitrat và magie nitrat;
(vii) Canxi xyanamit, tinh khiết hoặc không tinh khiết hoặc được
xử lý với dầu;
(viii) Urê, tinh khiết hoặc không tinh khiết.
(b) Phân bón gồm bất kỳ các loại nào đã mô tả trong mục (a) trên
được pha trộn với nhau.
(c) Phân bón chứa amoni clorua hoặc các loại bất kỳ đã mô tả trong
mục (a) hoặc (b) trên đây được pha trộn với đá phấn, thạch cao
hoặc các chất vô cơ không phải là phân bón.
(d) Phân bón dạng lỏng gồm những mặt hàng ghi trong mục (a)(ii)
hoặc (viii) kể trên, hoặc hỗn hợp của những mặt hàng này, ở
dạng dung dịch nước hoặc dạng dung dịch amoniac.
3.- Nhóm 31.03 chỉ áp dụng cho các mặt hàng dưới đây, với điều kiện
không được tạo thành các hình dạng hoặc đóng gói theo cách thức đã
được mô tả trong nhóm 31.05:
(a) Mặt hàng đáp ứng một trong các mô tả sau:
(i) Xỉ bazơ;
(ii) Phosphat tự nhiên thuộc nhóm 25.10, đã nung hoặc xử lý thêm
bằng nhiệt để loại bỏ tạp chất;
(iii) Supephosphat (đơn, kép hoặc ba);  
(iv) Canxi hydro orthophosphat có hàm lượng flo từ 0,2% trở lên
tính trên trọng lượng sản phẩm khô khan nước.
(b) Phân bón gồm bất kỳ các loại được mô tả ở mục (a) trên đây đã
pha trộn với nhau, nhưng không xem xét đến giới hạn về hàm
lượng flo.
(c) Phân bón chứa bất kỳ các loại được mô tả trong mục (a) hoặc (b)
trên đây, nhưng không xem xét đến giới hạn về hàm lượng flo,
được trộn với đá phấn, thạch cao hoặc các chất vô cơ khác không
phải là phân bón.
4.- Nhóm 31.04 chỉ áp dụng cho các loại mặt hàng dưới đây, với điều
kiện là chúng không được tạo thành các hình dạng hoặc đóng gói
theo cách thức được mô tả ở nhóm 31.05:
(a) Mặt hàng đáp ứng một trong các mô tả sau:
(i) Muối kali tự nhiên dạng thô (ví dụ, carnallite,  kainite và
(ii) Kali clorua, tinh khiết hoặc không tinh khiết, trừ loại ghi trong
Chú giải 1(c) ở trên;
(iii) Kali sulphat, tinh khiết hoặc không tinh khiết;
(iv) Magiê kali sulphat, tinh khiết hoặc không tinh khiết.  
(b) Phân bón gồm bất kỳ các loại nào đã mô tả trong mục (a) trên
được pha trộn với nhau.
5. Amoni dihydroorthophosphat (monoamoni phosphat) và diamoni
hydroorthophosphat (diamoni phosphat), tinh khiết hoặc không tinh
khiết, và hỗn hợp của 2 loại đó, được xếp vào nhóm 31.05.
6. Theo mục đích của nhóm 31.05, khái niệm "phân bón khác" chỉ áp
dụng cho các sản phẩm được sử dụng như phân bón và chứa ít nhất
một trong các nguyên tố cấu thành cơ bản của phân bón như nitơ,
phospho hoặc kali.
TỔNG QUÁT
Nhìn chung, chương nàybao gồm hầu hếtcác sản phẩmsử dụngnhưphân
bón tự nhiênhoặc phân bón nhân tạo.
Mặt khác, Chương nàykhông bao gồmcác sản phẩmnhằm cải thiệnđất
hơn là làm màu mỡ cho đất, như là:
(a)  Vôi (nhóm 25.22).
(b)  Đất maccơ (một loại đất sét và vôi) và đất mùn (có hoặc không có
chứa một lượng nhỏcác nguyên tốlàm màu mỡ là nitơ, phốt pho
hoặc kali tự nhiên) (nhóm 25.30).
(c)  Than bùn (nhóm 27.03).
Chương này cũng không bao gồm các chế phẩm vi chất dinh dưỡng
được áp dụng cho hạt giống, cho tán lá hoặc đất để hỗ trợ cho sự nảy
mầm và phát triển của cây. Chúng có thể chứa lượng nhỏ các nguyên tố
của phân bón là nitơ, phốt pho và kali, nhưng không phải là thành phần
cần thiết (ví dụ, nhóm 38.24).
Nó cũng không bao gồm môi trường phát triển của thực vật như bầu đất,
dựa trên than bùn, hoặc hỗn hợp than bùn và cát hoặc than bùn và đất sét
(nhóm 27.03) và hỗn hợp của đất, cát, đất sét, v.v. (nhóm 38.24). Tất cả
các sản phẩm này có thể chứamột lượng nhỏ các nguyên tố của phân bón
là nitơ, phốt pho hoặc kali.
31.01- Phân bón gốc thực vật hoặc động vật, đã hoặc chưa pha trộn
với nhau hoặc qua xử lý hóa học; phân bón sản xuất bằng
cách pha trộn hoặc xử lý hóa học các sản phẩm động vật hoặc
thực vật.
Nhóm này gồm có:
(a)  Các loại phân bón có nguồn gốc từ động vật hoặc thực vật, đã hoặc
chưa pha trộn với nhau hoặc qua xử lý hóa học;
(b)  Các loại phân bón sản xuất bằng cách pha trộn hoặc xử lý hóa học
các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoặc thực vật (trừ các loại
superphotphat từ các loại xương thuộc nhóm 31.03).
Tuy nhiên, các sản phẩm này được phân loại vào nhóm 31.05 khi là các
sản phẩm đã được tạo dạng nhất định hoặc đóng gói như mô tả tại nhóm
đó.
Ngoài những đề cập khác, nhóm này bao gồm:
(1)  Phân chim, đó là sự tích tụ các loại phân và xác của các loại chim
biển, được tìm thấy với số lượng lớn trên một số đảo và bờ biển. Nó
là một loại phân đồng thời có cả nitơ và phốt pho và thường là dạng
bột có màu vàng nhạt, có mùi amoniac mạnh.
(2)  Chất thải, phân động vật, phế thải lông cừu, và phân hữu cơ chỉ phù
hợp cho sử dụng làm phân bón.
(3)  Những sản phẩm thực vật bị mục thối, chỉ phù hợp cho sử dụng làm
phân bón.
(4)  Phân chim đã phân huỷ.
(5)  Các sản phẩm thu được từ việc xử lý da thuộc với axit sulphuric.
(6)  Phân trộn thu được từ phế thải thực vật mục thối và các vật liệu khác
mà sự phân huỷ đã được đẩy nhanh hoặc được kiểm soát bằng việc
xử lý với vôi,....
(7)  Các loại cặn của quá trình tẩy sạch len.
(8)  Các hỗn hợp của máu khô và bột xương.
(9)  Bùn cống đã ổn định từ những nhà máy xử lý nước đô thị. Bùn cống
đã ổn định thu được bằng cách cho dòng nước cứng qua chấn song
để tách các vật liệu lớn và để lắng sạn và những cắn vô cơ nặng.
Bùn còn lại sau đó được phơi khô ngoài không khí hoặc được lọc.
Bùn đã ổn định bằng cách như vậy có chứa một tỷ lệ cao các chất
hữu cơ cũng như một số nguyên tố dùng làm phân bón (ví dụ, phôt
pho và ni tơ). Tuy nhiên, loại bùn chứa những vật liệu khác (ví dụ,
kim loại nặng) ở nồng độ cao, điều này làm cho bùn đã ổn định
không phù hợp đối với việc sử dụng làm phân bón, bị loại trừ
(nhóm 38.25).
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a)  Máu của động vật, ở dạng lỏng hoặc khô (nhóm 05.11).
(b)  Bột xương, sừng hoặc móng, hoặc phế thải của cá (Chương 5).
(c)  Các loại bột mịn, bột thô và các viên từ thịt hoặc của các cơ quan
nội tạng dạng thịt, của cá hoặc của động vật giáp xác, động vật thân
mềm hoặc của động vật không xương sống khác sống dưới nước,
không thích hợp để làm thức ăn cho người (nhóm 23.01), và các
loại sản phẩm khác thuộc Chương 23 (như là bánh khô dầu, bã rượu
d)  Tro của xương, gỗ, than bùn hoặc than đá (nhóm 26.21).
(e)  Hỗn hợp của phân bón tự nhiên của nhóm này với các chất hóa học
làm phân bón (nhóm 31.05).
(f)  Hỗn hợp của bùn cống đã ổn định với nitrat kali hoặc amoni nitrat
(nhóm 31.05).
(g) Da vụn và các phế liệu khác của da; bụi da, bột mịn và bột thô của da
(nhóm 41.15).
31.02 - Phân khoáng hoặc phân hóa học, có chứa nitơ.
3102.10 - Urê, có hoặc không ở trong dung dịch nước
⦁    Amoni sulphat; muối kép và hỗn hợp của amoni
sulphat và amoni nitrat:
3102.29 - - Loại khác
3102.30- Amoni nitrat, có hoặc không ở trong dung dịch nước
3102.40 - Hỗn hợp của amoni nitrat với canxi carbonat hoặc các
chất vô cơ khác không phải phân bón  
3102.60 - Muối kép và hỗn hợp của canxi nitrat và amoni nitrat
3102.80 - Hỗn hợp urê và amoni nitrat ở trong dung dịch nước
hoặc dung dịch amoniac
3102.90 - Loại khác, kể cả hỗn hợp chưa được chi tiết trong các
phân nhóm trước
Nhóm này chỉ áp dụng cho các mặt hàng sau, với điều kiện chúng
không tạo thành dạng nhất định hoặc đóng gói sẵn như đã mô tả trong
nhóm 31.05:
(A)  Các mặt hàng phải đáp ứng được một trong các mô tả sau đây:
(1)  Nitrat natri, tinh khiết hoặc không tinh khiết.
(2)  Amoni nitrat, tinh khiết hoặc không tinh khiết.
(3)  Muối kép, (tinh khiết hoặc không tinh khiết) của amoni
sulphat và amoni nitrat.
(4)  Amoni sulphat, tinh khiết hoặc không tinh khiết.
(5)  Muối kép, (tinh khiết không tinh khiết) hoặc hỗn hợp canxi
nitrat và amoni nitrat. Một số hỗn hợp canxi nitrat và amoni
nitrat có thể được bán dưới tên gọi “phân bón canxi nitrat”.
(6)  Muối kép, (tinh khiết hoặc không tinh khiết) hoặc hỗn hợp
canxi nitrat và magie nitrat. Sản phẩm này thu được bằng việc
xử lý khoáng dolomit với axít nitric.
(7)  Canxi xianamit, tinh khiết hoặc không tinh khiết hoặc đã
được xử lý với dầu.
(8)  Ure (diamit của axít carbonic), tinh khiết hoặc không tinh
khiết. Chúng được dùng chủ yếu như là một loại phân bón
nhưng cũng như làm thức ăn cho động vật, để sản xuất các loại
nhựa ure - fomaldehyt, trong tổng hợp hữu cơ, v.v.
Cần phải lưu ý rằng các chất khoáng hoặc các sản phẩm hóa học
được miêu tả trong danh sách hạn chế ở trên được phân loại trong
nhóm này ngay cả khi chúng rõ ràng là không được sử dụng như
phân bón.
Mặt khác, nhóm này không bao gồm các sản phẩm chứa nitơ, đã
hoặc chưa xác định về mặt hóa học (như là amoni clorua, nhóm
28.27), các sản phẩm này không được mô tả ở trên, ngay cả khi
chúng được sử dụng làm phân bón.
(B)  Phân bón gồm bất kỳ mặt hàng nào đã ghi trong phần (A) trên
đây được pha trộn với nhau (ví dụ, các loại phân bón chứa hỗn
hợp amoni sulphat và amoni nitrat).
(C)  Phân bón chứa amoni clorua hoặc bất kỳ sản phẩm nào đã ghi
trong phần (A) hoặc (B) trên đây trộn với đá phấn, thạch cao hoặc
các chất vô cơ khác không phải chất phân bón (ví dụ, phân bón thu
được bằng cách thêm amoni nitrat, bằng cách trộn những chất vô
cơ không phải là chất phân bón đã nhắc đến ở trên).
(D)  Các loại phân bón dạng lỏng chứaamoni nitrat (tinh khiết hoặc
không), hoặc của ure (tinh khiết hoặc không), hoặc hỗn hợp của các
loại này, trong nước hoặc trong dung dịch amoniac.
Cần phải ghi nhớ rằng, ngược với trường hợp nêu trong phần (A) ở
trên, các hỗn hợp nằm trong phần (B), (C) hoặc (D) được phân loại
vào nhóm này chỉ khi được sử dụng như phân bón.
31.03-  Phân khoáng hoặc phân hóa học, có chứa phosphat (phân
lân).
3103.11 - - Chứa diphosphorus pentaoxide (P2O5) từ 35% trở
lên tính theo trọng lượng
3103.19  - - Loại khác
3103.90  - Loại khác
Nhóm này chỉ áp dụng cho các mặt hàng sau, với điều kiện chúng
không tạo thành dạng hoặc đóng gói như mô tả trong nhóm 31.05:
(A) Các mặt hàng phải đáp ứng một hoặc nhiều hơn trong các mô tả sau
đây:
(1)  Các loại supephosphat (đơn, kép hoặc ba) (phosphat tan
được). Supephosphat đơn thu được từ phản ứng của axit
sulphuric với các phosphat tự nhiên hoặc bột xương. Các loại
superphosphat kép và ba thu được từ phản ứng của axít
phosphoric với các nguyên liệu này.
(2)  Xỉ kiềm (cũng gọi là “xỉ Thomas”, “phosphat Thomas”, “xỉ
phosphat” hoặc “phosphat luyện kim”). Nó là sản phẩm phụ của
sản xuất thép từ quặng sắt chứa phosphat trong lò luyện kim cơ
bảnhoặc lò chuyển.
(3)  Các loại phosphat tự nhiên thuộc nhóm 25.10, đã nung hoặc
xử lý bằng nhiệt để loại bỏ các tạp chất.
(4)  Canxi hydrogenorthophosphat có hàm lượng flo từ 0,2%
trở lên tính theo trọng lượng trên sản phẩm khô, khan.
Canxi hydrogenorthophosphat chứa dưới 0,2% trọng lượng flo
tính theo trọng lượng trên sản phẩm khô, khan, thuộc nhóm
Cần phải lưu ý rằng các chất khoáng hoặc chất hóa học được miêu tả
trong danh mục hạn chế ở trên được phân loại vào nhóm này ngay
cả khi chúng rõ ràng là không được sử dụng như phân bón.
Mặt khác, nhóm này không bao gồm các sản phẩm chứa phosphat
cho dù đã hoặc chưa xác định về mặt hóa học (như phosphat natri,
nhóm 28.35), chúng không được mô tả ở trên, cho dù chúng được
sử dụng như phân bón.  
(B) Phân bón chứa bất kỳ sản phẩm nào ghi trong phần (A) ở trên,
nhưng không hạn chế lượng flo như đã ghi trong mục (A) (4) ở trên,
được trộn với nhau (ví dụ, phân bón gồm có supephosphat trộn với
(C) Những loại phân bón chứa bất kỳ những sản phẩm nào đã mô tả
trong mục (A) và (B) ở trên, nhưng không tính đến việcgiới hạn
hàm lượng flo như đã ghi trong mục (A) (4) ở trên, đã được pha trộn
với đá phấn, thạch cao hoặc các chất vô cơ khác không phải phân
bón (ví dụ, các loại phân bón chứa supephosphattrộn với dolomit,
hoặcsupephosphat trộn với borac).
Lưu ý rằng, trái ngược với trường hợp nêu trong phần (A) ở trên, các
hỗn hợp đã được mô tả trong phần (B) hoặc (C) được phân loại vào
nhóm này chỉ khi là loại được sử dụng như phân bón. Theo điều kiện
này, các hỗn hợp có thể pha trộn theo bất cứ tỷ lệ nào và không hạn chế
hàm lượng flo  đã miêu tả trong phần (A) (4) ở trên.
31.04-  Phân khoáng hoặc phân hóa học, có chứa kali .
3104.90 - Loại khác
Nhóm này chỉ áp dụng cho các loại hàng hóa, với điều kiện chúng không
được tạo thành dạng hoặc được đóng gói như mô tả ở nhóm 31.05:
(A) Các sản phẩm phải đáp ứng một trong những điều mô tả sau đây:
(1)  Kali clorua, tinh khiết hoặc không,nhưng không bao gồm
các tinh thể nuôi cấy (trừ các tinh thể quang học) mỗi tinh thể
nặng từ 2,5g trở lên thuộc nhóm 38.24, và cũng không bao gồm
các tinh thể quang học của kali clorua (nhóm 90.01).
(2)  Kali sulphat, tinh khiết hoặc không.
(3)  Các loại muối kali tự nhiên dạng thô (carnalit, kainit, sylvit,…).
(4)  Magie kali sufat, tinh khiết hoặc không tinh khiết.  
Cần phải lưu ý rằng các chất khoáng hoặc chất hóa học được miêu tả
trong danh mục giới hạn ở trên được phân loại trong nhóm này ngay
cả khi chúng rõ ràng không được sử dụng như phân bón.
Mặt khác, nhóm này không bao gồm các sản phẩm chứa kali, đã
hoặc chưa xác định về mặt hoá học (như carbonat kali thuộc nhóm
28.36), loại không được mô tả ở trên ngay cả khi được sử dụng làm
phân bón.
(B)  Các loại phân bón của bất kỳ mặt hàng nào ghi trong phần (A) ở
trên được trộn với nhau (như là, phân bón chứa hỗn hợp kali
clorua và kali sulphat).
Cần phải lưu ý rằng, trái ngược với trường hợp nêu trong phần (A) ở
trên, các hỗn hợp đã được mô tả trong phần (B) được phân loại vào
nhóm này chỉ khi là loại được sử dụng như phân bón.
31.05-  Phân khoáng hoặc phân hóa học chứa hai hoặc ba nguyên tố
cấu thành phân bón là nitơ, phospho và ka li; phân bón khác;
các mặt hàng của Chương này ở dạng viên (tablet) hoặc các
dạng tương tự hoặc đóng gói với trọng lượng cả bì không quá
3105.10 - Các mặt hàng của Chương này ở dạng viên (tablet)
hoặc các dạng tương tự hoặc đóng gói với trọng lượng
cả bì không quá 10 kg
3105.20 -  Phân khoáng hoặc phân hóa học có chứa ba nguyên tố
cấu thành phân bón là nitơ, phospho và kali
và hỗn hợp của nó với diamoni hydro orthophosphat
⦁    Phân khoáng hoặc phân hóa học khác có chứa hai
nguyên tố cấu thành phân bón là nitơ và phospho:
3105.51 - - Chứa nitrat và phosphat
3105.59 - - Loại khác
3105.60 - Phân khoáng hoặc phân hóa học có chứa hai nguyên tố
cấu thành phân bón là phospho và kali
3105.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:

(diammonium phosphate), tinh khiết hoặc không, và các hỗn
hợp của chúng, có hoặc không sử dụng như phân bón.
Cần lưu ý rằng, nhóm này không bao gồm những hợp chất hoá học
đã được xác định về mặt hoá học không được ghi trong nhóm từ
31.02 đến 31.04 ngay cả khi chúng được sử dụng như là phân
bón (ví dụ, nitrat kali (nhóm 28.34), kali phosphat (nhóm 28.35)).
(B)  Các loại phân bón tổ hợp và phức hợp (trừ các hợp chất đã xác
định về mặt hóa học riêng biệt), đó là phân khoáng hoặc phân hóa
học có chứa hai hoặc ba nguyên tố làm màu mỡ như nitơ, photpho
và kali. Chúng thu được bằng các cách sau:
(1)  Pha trộn hai hoặc nhiều sản phẩm phân bón (thậm chí chi
chúng riêng rẽ cũng không được phân loại vào các nhóm từ
31.02 đến 31.04). Những hỗn hợp như thế bao gồm:
(a)  Photphat tự nhiên đã nung và clorua kali.
(b)  Supephosphat và sulphat kali.
(c)  Canxi xyanamit và xỉ bazơ.
(d)  Amoni sulphat, các loại superphosphat và kali phosphat
(e)  Amoni nitrat, các loại supephosphat và sulphat kali  hoặc
(2)  Bằngcác quá trình hóa học, ví dụ, các loại phân bón thu được
bằng cách xử lý phosphat canxi tự nhiên với axít nitric, tách để thu
nitrat canxi bằng cách làm lạnh và ly tâm và sau khi tách chiết, thì
trung hòa dung dịch với amoniac, thêm muối kali và cuối cùng
làm bay hơi đến khô. (Phân bón này đôi khi được gọi không sát
nghĩa là kali nitrophotphat, nhưng thực chất không phải là một hợp
chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt).
(3) Cả hai quá trình trộn và xử lý hóa học.
Cần phải lưu ý rằng các nhóm 31.02, 31.03 và 31.04 bao gồm các
loại phân bón có chứa một lượng tạp chất rất nhỏ của một nguyên
tố phân bón trừ những chất được quy định trong nhóm tương ứng
(nitơ, photpho hoặc kali); những mặt hàng như vậy không được coi
là phân bón tổ hợp hoặc phân bón phức hợp được phân loại trong
nhóm này.
(C)  Các loại phân bón khác (trừ các hợp chất đã được xác định về
mặt hóa học riêng biệt) ví dụ:
(1)  Các hỗn hợp của các chất phân bón (các chất đócó chứa nitơ,
phospho hoặc kali) với các chất không phải là chất phân bón, ví
dụ như lưu huỳnh. Đa số chúng có chứa nitơ hoặc phospho
được phân loại trong nhóm 31.02 hoặc 31.03 (xem Chú giải
Chi tiết của các nhóm đó) nhưng các chất khác lại thuộc nhóm
này.
(2)  Phân bón nitrat natri kali tự nhiên, hỗn hợp tự nhiên của nitrat
natri và của nitrat kali.
(3)  Hỗn hợp phân bón từ động vật và thực vật với phân hóa học hay
phân khoáng.
Nhóm này không bao gồm:
(a)  Các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt không
được nêu trong các Chú giải từ 2 đến 5 của Chương này nhưng
chúng cũng có thể được sử dụng như phân bón, như amoni clorua
thuộc nhóm 28.27.
(b)  Các oxít thải (nhóm 38.25).
Nhóm này cũng gồm các mặt hàng của Chương này nếu ở dạng viên
hay ở các dạng tương tự, hoặc được đóng gói với trọng lượng cả bì
không quá 10 kg.
Chương 32
Các chất chiết xuất làm thuốc nhuộm hoặc thuộc da; ta nanh và các
chất dẫn xuất của chúng; thuốc nhuộm, thuốc màu và các chất màu
khác; sơn và véc ni; chất gắn và các loại ma tít khác; các loại mực
Chú giải.
1.- Chương này không bao gồm:
(a)  Các nguyên tố hoặc hợp chất đã được xác định về mặt hoá học
riêng biệt, (trừ loại thuộc nhóm 32.03 hoặc 32.04, các sản phẩm
vô cơ của loại được sử dụng như chất phát quang (nhóm 32.06),
thuỷ tinh thu được từ thạch anh nấu chảy hoặc silica nấu chảy
khác ở các dạng đã nêu trong nhóm 32.07, và kể cả thuốc nhuộm
và các loại chất màu khác đã làm thành dạng nhất định hoặc đóng
gói để bán lẻ, thuộc nhóm 32.12);
(b)  Tanat hoặc các dẫn xuất ta nanh khác của các sản phẩm thuộc các
nhóm từ 29.36 đến 29.39, 29.41 hoặc 35.01 đến 35.04; hoặc
(c) Matit của asphalt hoặc matit có chứa bi-tum khác (nhóm 27.15)
2.-  Nhóm 32.04 kể cả các hỗn hợp của muối diazoni ổn định và các chất
tiếp hợp để sản xuất các thuốc nhuộm azo.
3.-  Các nhóm 32.03, 32.04, 32.05 và 32.06 cũng áp dụng cho các chế
phẩm dựa trên các chất màu (kể cả trường hợp thuộc nhóm 32.06,
các chất màu thuộc nhóm 25.30 hoặc Chương 28, vảy kim loại và
bột kim loại), loại sử dụng để tạo màu mọi chất liệu hoặc dùng như
là nguyên liệu trong việc sản xuất các chế phẩm màu. Tuy nhiên các
nhóm này không áp dụng cho các thuốc màu phân tán trong môi
trường không chứa nước, ở dạng lỏng hoặc dạng nhão, loại dùng để
sản xuất sơn, kể cả men tráng (nhóm 32.12), hoặc cho các chế phẩm
khác thuộc nhóm 32.07, 32.08, 32.09, 32.10, 32.12, 32.13 hoặc
4.-  Nhóm 32.08 kể cả các dung dịch (trừ collodions) gồm có sản phẩm
bất kỳ đã mô tả trong các nhóm từ 39.01 đến 39.13 trong các dung
môi hữu cơ dễ bay hơi khi trọng lượng dung môi trên 50% tính theo
trọng lượng dung dịch.
5.-  Khái niệm "chất màu" trong Chương này không bao gồm các sản
phẩm dùng như chất phụ trợ (extenders) trong các loại sơn dầu, mặc
dù có hoặc không phù hợp cho các chất keo màu.
6.-  Khái niệm "lá phôi dập" trong nhóm 32.12 chỉ áp dụng cho các tấm
mỏng thuộc loại dùng để in, ví dụ, bìa sách hoặc dải băng mũ, và làm
bằng:  
(a)  Bột kim loại (kể cả bột của các kim loại quý) hoặc thuốc màu,
đông kết bằng keo, gelatin hoặc chất kết dính khác; hoặc
(b)  Kim loại (kể cả kim loại quý) hoặc thuốc màu, kết tủa trên một
tấm làm nền bằng vật liệu bất kỳ.
TỔNG QUÁT  
Chương này bao gồm các chế phẩm sử dụng trong thuộc da và ngâm
mềm da (các chiết xuất để thuộc da có nguồn gốc thực vật, các chất
thuộc da tổng hợp, đã hoặc chưa pha trộn với các vật liệu thuộc da tự
nhiên, và nước ngâm mềm da nhân tạo).
Chương này cũng bao gồm chất  màu có nguồn gốc từ thực vật, động vật
hoặc có nguồn gốc từ khoáng và chất màu hữu cơ tổng hợp và hầu hết
các chế phẩm thu được từ những chất màu này (sơn, màu gốm, mực các
loại,...). Các chế phẩm khác như vecni, chất làm khô và chất gắn kết
cũng được bao gồm.
Ngoại trừ các sản phẩm trong các nhóm 32.03 hay 32.04, các sản phẩm
vô cơ sử dụng như chất phát quang (nhóm 32.06), thuỷ tinh thu từ thạch
anh nung chảy hoặc silic nung chảy ở dạng đã ghi trong nhóm 32.07 và
cả thuốc nhuộm hoặc chất màu khác đã làm thành dạng nhất định hoặc
đóng gói để bán lẻ (nhóm 32.12), các sản phẩm có chứa các nguyên tố
hoặc hợp chất đã được xác định về mặt hoá học bị  loại trừ khỏi Chương
này, và thông thường chúng nằm trong các Chương 28 hoặc  
Chương 29.
Trong trường hợp sơn và vecni nào đó thuộc các nhóm từ 32.08 đến
32.10 hoặc matít thuộc nhóm 32.14, hỗn hợp được trộn lẫn của nhiều
thành phần khác nhau, hoặc bổ sung một vài thành phần nhất định (ví dụ
chất đóng rắn) phải được thực hiện tại thời điểm sử dụng. Những sản
phẩm đó vẫn được xếp trong nhóm này với điều kiện các thành phần là:
(i)  liên quan đến cách thức mà chúng được sắp xếp,  xác định rõ ràng
có mục đích sử dụng cùng nhau mà không cần phải đóng gói lại.
(ii)  đi kèm cùng nhau; và
(iii)  xác định được, thông qua bản chất  hoặc  tỷ lệ tương đối của từng
chất, như là chất bổ sung cho nhau.
Tuy nhiên, trong trường hợp các sản phẩm có chất đóng rắn được thêm
vào tại thời điểm sử dụng, các sản phẩm này vẫn thuộc nhóm này nếu
không có chất đóng rắn, với điều kiện thành phần hoặc cách thức đóng
gói của chúng, có thể xác định rõ ràng là có mục đích được sử dụng
trong điều chế sơn, vecni, hoặc  matít.
32.01- Chất chiết xuất để thuộc da có nguồn gốc từ thực vật; ta nanh
và các muối, ete, este và các dẫn xuất khác của chúng.  
3201.10 - Chất chiết xuất từ cây mẻ rìu (Quebracho)
3201.20 - Chất chiết xuất từ cây keo (Wattle)
3201.90 - Loại khác
(A) Các chiết xuất để thuộc da có nguồn gốc thực vật.
Đây là các chất chiết xuất thực vật chủ yếu được sử dụng để thuộc
da. Chúng thường được điều chế bằng cách chiết với nước ấm (đôi
khi được axit hoá) từ nguyên liệu thực vật (gỗ, vỏ cây, lá cây, quả,
rễ,...) trước đó có thể được nghiền nát hoặc băm nhỏ. Chất lỏng thu
được được lọc hoặc ly tâm và sau đó được cô đặc và đôi khi được xử
lý với sulphite,.... Do đó, các chất chiết xuất  thu được là chất lỏng
nhưng chúng có thể được cô đặc thêm để tạo thành dạng nhão hoặc
dạng rắn. Tất cả các chiết xuất này chứa ta nanh ở tỷ lệ thay đổi
cũng như các chất khác như đường, muối khoáng, axit hữu cơ,....
Chúng thường có màu vàng, nâu hay đỏ nhạt.
Các chất chiết dùng thuộc da chủ yếu được lấy từ gỗ sồi, hạt dẻ, cây
mẻ rìu, cây thông, cây keo (trinh nữ), cây sơn, quả chiêu liêu, cây
vallonia, cây câu đằng (Uncaria gambir), cây đước hoặc cây thuộc
Nhóm này không bao gồm:
(a)  Các nguyên liệu thực vật thô, dù được làm khô, thái nhỏ, nghiền
thành bột hoặc không, thuộc loại sử dụng chính trong sản xuất
các chất chiết để thuộc da (nhóm 14.04).
(b)  Các chất chiết xuất để thuộc da pha trộn với các chất thuộc da
tổng hợp (nhóm 32.02).
(c)  Các dung dịch kiềm thải ra từ quá trình sản xuất bột giấy, đã
hoặc chưa được cô đặc (nhóm 38.04).
(B) Ta nanh và muối của chúng, ete, este và các dẫn xuất khác.
Ta nanh (axit tannic) là thành phần chủ yếu của các nguyên liệu
thuộc da có nguồn gốc từ thực vật. Chất này thu được bằng cách
chiết với ete hay cồn từ các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật thuộc
nhóm 14.04 hoặc của các chất chiết xuất dùng để thuộc da trong
Phần (A) ở trên. Nhóm này cũng bao gồm chiết xuất từ quả hạch
(nước chiết ta nanh từ quả hạch) ít đậm đặc mà kém đậm đặc hơn so
với chiết xuất với dung môi hữu cơ.
Nhóm này bao gồm tất cả các loại ta nanh (pyrogallol và catechol
tannins), dù chúng có chứa tạp chất hay không từ quá trình chiết xuất.
Loại phổ biến nhất là ta nanh từ quả hạch (axit gallotanic).
Ta nanh khác bao gồm các loại ta nanh lấy từ vỏ cây sồi (axit
quercitannic),  từ gỗ của cây hạt dẻ (axit castaneotannic), từ cây mẻ
rìu, từ cây keo trinh nữ,.…
Tất cả các ta nanh này thường ở dưới dạng bột vô định hình màu
trắng hay vàng nhạt, nhưng chúng sẽ chuyển sang màu nâu khi tiếp
xúc với không khí. Đôi khi các chất này có thể ở dạng vảy hoặc
dạng tinh thể hình kim,..... Chúng chủ yếu được sử dụng như chất
cẩn màu trong nhuộm, trong sản xuất mực, tinh chế rượu hoặc bia,
trong dược phẩm và trong ngành ảnh.
Các hợp chất tannat được phân loại trong nhóm này bao gồm các
loại  tannat của nhôm, bismut, canxi, sắt, mangan, kẽm,  
hexamethylenetetramine,  phenazone  hay orexin. Các dẫn xuất khác
của ta nanh bao gồm  acetyltannin và  methyleneditannin. Các dẫn
xuất này thường được sử dụng trong y học.
Nhóm này không bao gồm:
(a)  Các muối tannat của kim loại quý hoặc các hợp chất kim loại
quý khác (nhóm 28.43) hoặc các dẫn xuất ta nanh của các
nhóm từ 28.44 đến 28.46 và 28.52.
(b)  Axít galic (nhóm 29.18).
(c)  Các tannat và các dẫn xuất ta nanh khác của sản phẩm thuộc các
nhóm từ 29.36 đến 29.39 hoặc 29.41.
(d)  Các chất thuộc da tổng hợp, đã hoặc chưa pha trộn với các
nguyên liệu thuộc da tự nhiên (nhóm 32.02).
(e)  Các tannat và các dẫn xuất ta nanh khác của protein thuộc các
nhóm từ 35.01 đến 35.04, ví dụ, tannat dựa trên casein (nhóm
35.01), tannat dựa trên albumin (nhóm 35.02) tannat dựa trên
gelatin (nhóm 35.03).
32.02-  Chất thuộc da hữu cơ tổng hợp; chất thuộc da vô cơ; các chế
phẩm thuộc da, có hoặc không chứa chất thuộc da tự nhiên;
các chế phẩm chứa enzym dùng cho tiền thuộc da.
3202.10 - Chất thuộc da hữu cơ tổng hợp
3202.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(I) Các sản phẩm thuộc da.
Với điều kiện các chất này không tạo nên các hợp chất đã được xác
định về mặt hoá học riêng biệt thuộc Chương 28 hoặc 29, các sản
phẩm thuộc da trong nhóm này bao gồm:
(A) Các chất thuộc da hữu cơ tổng hợp (đôi khi được biết với tên gọi
Đây là các sản phẩm, mặc dù có thể được sử dụng riêng để thuộc da
làm nhạt màu da, chúng thường được trộn lẫn hoặc được sử dụng kết
hợp với nguyên liệu thuộc da tự nhiên để thấm vào da một cách dễ
dàng. Chúng bao gồm:
(1)  Các chất thuộc da có vòng thơm như là sản phẩm ngưng tụ của
với
các
hoặc
naphthalensulphonic; các sản phẩm sulphonat hoá của
hydrocacbon thơm có trọng lượng phân tử lượng cao; các
polysulphonamide và các polyhydroxy-polyaryl sulphone-
(2)  Các alkylsulphonylclorua (có khi được gọi dưới tên “chất thuộc
da hữu cơ tổng hợp từ dầu”).
(3)  Các sản phẩm thuộc da ở dạng nhựa, hoàn toàn hoặc gần như
hoàn toàn hòa tan được trong nước. Các sản phẩm này bao gồm
một vài các sản phẩm thu được từ việc ngưng tụ formaldehyde
với dicyandiamide, với urê hoặc với melamin.
(B)  Các sản phẩm thuộc da vô cơ hay "chất thuộc da dạng khoáng"
(ví dụ dựa trên muối crôm, nhôm, sắt, hoặc zircon).
Các sản phẩm thuộc da miêu tả trong các phần (A) và (B) ở trên vẫn
được xếp trong nhóm này dù chúng có được trộn với nhau hay
không (ví dụ chất thuộc da hữu cơ (syntan) được trộn với muối  
nhôm hay crôm...) hoặc được trộn với các chất thuộc da tự nhiên.
Ngoài ra, nhóm này còn bao gồm các sản phẩm, ngoài công dụng
chính được sử dụng như các chất thuộc da tổng hợp, còn được sử
dụng cho công dụng khác (như là hoà vào thuốc nhuộm hay chất tẩy
trắng...).
(II) Nước ngâm mềm da nhân tạo:
Đây là các chế phẩm phức, dùng để làm tăng quá trình loại bỏ sợi
protein và chất vôi trong lớp da cạo, làm mềm chúng và làm cho
chúng mềm hơn trong các bước tiếp theo của chất thuộc da. Chúng
thường dựa trên các enzym đã chọn lọc, pancreatin,..., và có thể
được trộn với một số các sản phẩm khử vôi, hoặc với một chất độn
như bột cám hoặc bột gỗ.
Nhóm này không bao gồm:
(a)  Dung dịch kiềm thải ra từ quá trình sản xuất bột giấy từ gỗ, đã hoặc
chưa cô đặc (nhóm 38.04).
(b)  Các tác nhân hoàn thiện, các thuốc nhuộm thúc đẩy quá trình nhuộm
hoặc cố định thuốc nhuộm và các chế phẩm, các sản phẩm khác (ví
dụ, chế phẩm hồ vải và cẩn màu), được sử dụng trong công nghiệp
da, với điều kiện chúng không được dùng chủ yếu như là nguyên
liệu thuộc da (nhóm 38.09).  
32.03 - Các chất màu có nguồn  gốc từ thực vật hoặc động vật (kể cả
các chất chiết xuất nhuộm nhưng trừ muội than động vật), đã
hoặc chưa xác định về mặt hóa học; các chế phẩm đã được
ghi trong Chú giải 3 của Chương này dựa trên chất màu có
nguồn gốc từ thực vật hoặc động vật.
Nhóm này phần lớn gồm các sản phẩm có nguồn gốc thực vật hay nguồn
gốc động vật được sử dụng chủ yếu như chất màu. Các sản phẩm này nói
chung được chiết xuất từ nguyên liệu nguồn gốc thực vật (gỗ, vỏ cây, rễ
cây, hạt, hoa, địa y,...) hoặc nguồn gốc động vật, bằng cách ngâm chúng
trong nước hoặc trong axít yếu hoặc dung dịch amoniac hoặc, trong
trường hợp của một số nguyên liệu thực vật, bằng cách làm lên men.
Chúng là các vật liệu tương đối phức tạp và thông thường chúng chứa một
hoặc nhiều chất màu chủ yếu kết hợp với một lượng nhỏ các chất khác
(đường, ta nanh,...), thu được từ các nguyên liệu thô hay từ quá trình chiết
xuất. Các chất màu vẫn được xếp trong nhóm này, ngay cả khi chúng phải
hoặc không phải là các hợp chất đã được xác định về mặt hoá học.
Nhóm này bao gồm:
(1)  Các chất màu và chiết xuất thuốc nhuộm có nguồn gốc thực vật  
thu được từ gỗ huyết mộc (haematein, haematoxylin,…), gỗ vàng
(gỗ hoàng mộc, gỗ của Cuba và Tampico,..), gỗ đỏ (gỗ Pernambouc,
Lima, Braxin,…), gỗ đàn hương, gỗ sồi nhuộm, cây keo cao (acacia
catechu), màu điều nhuộm ( từ cây điều màu), cây thiến thảo (rubia),
cây rễ đỏ, cây lá mỏng, cây nghệ, cây quả mọng Ba Tư, cây hồng
hoa, cây nghệ tây,... Nhóm này cũng bao gồm chất màu ocxen
(orchil) và màu quỳ tím (litmus) được chiết xuất từ một số loại địa y;
oenin từ vỏ của một số loài nho; diệp lục được chiết xuất từ cây tầm
ma và từ các thực vật khác, cũng như muối natri clorophyl, đồng
clorophyl và xanthophyll; chất làm giả mầu nâu Van Dyck được
điều chế bằng sự phân hủy một phần từ nguyên liệu thực vật  như vỏ
cây sồi rừng hoặc cây bần; và mầu chàm tự nhiên chiết xuất từ một
số loài thực vật thuộc Chi Chàm (chủ yếu là Indigofera tinctoria).
Nó thường ở dạng bột, bột nhão, bánh, cục,... mầu xanh tối.
(2)  Các chất màu có nguồn gốc động vật, ví dụ, dụ, chiết xuất rệp son
đỏ thu được bằng cách chiết xuất chung với nước có tính axit hay
amoniac, từ loài rệp son; kermes, một chiết xuất màu đỏ từ  sâu
kemes;  sepia, một màu nâu đỏ thu được từ túi mực của một số loài
mực nang; các chiết xuất màu được điều chế từ nhựa cánh kiến, chủ
yếu được biết đến như mầu đỏ tía (lac-dye); thuốc màu có ánh xà cừ
tự nhiên (ngọc trai) thu được từ vây cá và chủ yếu chứa các chất
guanine và hypoxanthine dạng tinh thể.
Nhóm cũng bao gồm các chế phẩm dựa trên các chất màu có nguồn gốc
thực vật hoặc động vật, loại được sử dụng để nhuộm màu cho mọi vật
liệu hoặc sử dụng như nguyên liệu trong sản xuất các chế phẩm mầu.
Bao gồm:
(i)  Dung dịch màu điều nhuộm (annato) trong dầu thực vật được sử
dụng ở một số nước để tạo màu cho bơ.
(ii)  Thuốc màu có ánh xà cừ tự nhiên (ngọc trai) phân tán trong môi
trường nước hay một hỗn hợp gồm nước và dung môi hoà tan trong
nước. Sản phẩm này đôi khi được gọi "tinh chất ngọc trai" và được
sử dụng trong sản xuất chất phủ gốc nước hoặc chế phẩm mỹ phẩm.
Tuy nhiên, các chế phẩm được đề cập trong câu cuối của Chú giải 3
Chương này bị loại trừ.
Nhóm cũng không bao gồm:
(a)  Muội carbon (nhóm 28.03).
(b)  Các chất trong thực tế không còn được sử dụng để nhuộm như
morin, haematin, và haemin (Chương 29).
(c)  Chất màu hữu cơ tổng hợp (nhóm 32.04).
(d)  Các loại chất màu nền thu được bằng cách định hình trên một chất
màu tự nhiên có gốc thực vật hoặc động vật (ví dụ chất màu
carmine, chất màu cây gỗ huyết mộc, gỗ vàng, gỗ đỏ,...) (nhóm
(e)  Thuốc nhuộm và chất màu khác được làm thành dạng nhất định hoặc
đóng gói để bán lẻ (nhóm 32.12).
(f) Muội từ ngà và muội động vật khác (nhóm 38.02).
32.04- Chất màu hữu cơ tổng hợp, đã hoặc chưa xác định về mặt hóa
học; các chế phẩm đã được ghi trong Chú giải 3 của Chương
này dựa trên chất màu hữu cơ tổng hợp; các sản phẩm hữu
cơ tổng hợp được dùng như tác nhân tăng sáng huỳnh quang
hoặc như các chất phát quang, đã hoặc chưa xác định về mặt
hóa học.
⦁    Chất màu hữu cơ tổng hợp và các chế phẩm từ chúng
như đã ghi trong Chú giải 3 của Chương này:
3204.11 - - Thuốc nhuộm phân tán và các chế phẩm từ chúng
3204.12 - - Thuốc nhuộm axit, có hoặc không tạo phức kim loại,
và các chế phẩm từ chúng; thuốc nhuộm cầm màu và
các chế phẩm từ chúng
3204.13 - - Thuốc nhuộm bazơ và các chế phẩm từ chúng
3204.14 - - Thuốc nhuộm trực tiếp và các chế phẩm từ chúng
3204.15 - - Thuốc nhuộm chàm (kể cả loại có thể dùng như thuốc
màu) và các chế phẩm từ chúng
3204.16 - - Thuốc nhuộm hoạt tính và các chế phẩm từ chúng  
3204.17 - - Thuốc màu và các chế phẩm từ chúng
3204.18 - - Các chất màu carotenoit và các chế phẩm từ chúng
3204.19 - - Loại khác, kể cả hỗn hợp chất màu từ hai phân nhóm
trở lên của các phân nhóm từ 3204.11 đến 3204.19
3204.20 - Các sản phẩm hữu cơ tổng hợp được dùng như tác
nhân tăng sáng huỳnh quang  
3204.90 - Loại khác
(I) CHẤT MÀU HỮU CƠ TỔNG HỢP, ĐÃ HOẶC CHƯA
XÁC ĐỊNH VỀ MẶT HOÁ HỌC; CÁC CHẾ PHẨM  NHƯ ĐÃ
ĐƯỢC GHI TRONG CHÚ GIẢI 3 CỦA CHƯƠNG NÀY DỰA
TRÊN CHẤT MÀU HỮU CƠ TỔNG HỢP
Chất màu hữu cơ tổng hợp thường thu được từ dầu hoặc các sản phẩm
khác từ việc chưng cất hắc ín than đá.
Ngoài những đề cập khác, nhóm này áp dụng cho:
(A)  Chất màu hữu cơ tổng hợp ở trạng thái chưa trộn lẫn (các hợp chất
đã hoặc chưa xác định về mặt hóa học) và chất màu hữu cơ tổng hợp
đã được pha loãng với các chất không có đặc tính  nhuộm (ví dụ,
sulphate natri khan, clorua natri, dextrin, tinh bột) chúng có tác dụng
làm giảm hoặc chuẩn hóa mầu sắc. Việc bổ sung thêm một lượng
nhỏ các sản phẩm hoạt động bề mặt nhằm tạo thuận lợi cho quá trình
thấm và ngưng kết của thuốc nhuộm, điều đó không làm ảnh hưởng
đến việc phân loại chất màu. Chất màu của những mô tả này thường
ở dạng bột, dạng tinh thể, dạng nhão,...
Chất màu hữu cơ tổng hợp đã được làm thành dạng nhất định hoặc
đóng gói để bán lẻ được phân loại trong nhóm 32.12 (xem phần (C)
của Chú giải Chi tiết của nhóm đó).
(B)  Loại khác của chất màu hữu cơ tổng hợp được trộn lẫn với nhau.
(C)  Các hệ phân tán nồng độ cao của chất màu hữu cơ tổng hợp trong
nhựa, cao su tự nhiên, cao su tổng hợp, chất dẻo hoặc các môi
trường khác. Nói chung, các chất phân tán thường dưới dạng miếng
nhỏ hoặc cục nhỏ và được sử dụng như các nguyên liệu thô để tạo
màu cho cao su, plastics,...  
(D)  Các hỗn hợp của chất màu hữu cơ tổng hợp với tỷ lệ tương đối cao
của các sản phẩm hoạt động bề mặt, hoặc với chất kết dính hữu cơ,
mà được sử dụng để tạo màu cho plastics nói chung,..., hay như
thành phần để pha chế các chế phẩm dùng để in vải dệt. Các chất
này thường dạng nhão.
(E) Các chế phẩm khác dựa trên chất mầu hữu cơ tổng hợp được sử dụng
để tạo màu cho vật liệu bất kỳ hoặc dùng như thành phần trong sản
xuất các chế phẩm màu. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các
chế phẩm được nêu trong Chú giải 3 của Chương này.  
Các loại chất màu hữu cơ tổng hợp khác nhau được phân loại ở đây (như
thuốc nhuộm hoặc thuốc màu) bao gồm:
(1)  Các hợp chất nitroso hoặc nitro.
(2)  Các hợp chất Mono- hoặc polyazo.
(3)  Các stillbene.
(4)  Các thiazole (ví dụ, thioflavine).  
(5)  Các carbazole.
(6)  Các quinoneimine, ví dụ, các azine (indulines, nigrosines,
eurhodines, safranines,...), các oxazine (gallocyanines,...) và các
thiazine (xanh metylen,...); indophenols hoặc indaminies.
(7)  Các xanthene (pyronine, rhodanines, eosins, fluorescein,...).
(8)  Các
(ví
dụ,
(9)  Các di- hoặc triphenylmethane, ví dụ, auramine và fuchsine.
(10) Các hydroxyquinone và anthraquinone, ví dụ, alizarin.  
(12) Thuốc nhuộm chàm khác hoặc các thuốc màu chàm khác (ví dụ màu
chàm tổng hợp), thuốc nhuộm lưu huỳnh hoặc thuốc màu  lưu huỳnh
khác, indigosols, v.v….
(13)  Phosphotungstic greens,... (xem đoạn 3 trong Chú giải Chi tiết
nhóm 32.05).
(14)  Các phthalocyanine (kể cả ở dạng thô) và các hợp chất kim loại của
chúng, kể cả các dẫn xuất sulphonat hoá.
(15)  Các carotenoid thu được bằng cách tổng hợp (ví dụ,  β-carotene, 8’-
methyl 8’-apo-β-carotenate và canthaxanthin).
Một số loại chất màu azo, thường được làm thành dạng hỗn hợp muối
diazoni ổn định và chất kết nối, từ đó cho thu được thuốc nhuộm azo
không tan ngay cả ở trên sợi. Những hỗn hợp này cũng được phân loại
trong nhóm này.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các muối diazoni riêng biệt (có
hoặc chưa được ổn định hoặc pha loãng tới nồng độ tiêu chuẩn) loại có
thể được dùng riêng cho các sợi từ các chất kết nối trong quá trình
nhuộm để sản xuất các chất màu tương tự (Chương 29).
Nhóm này cũng không bao gồm các sản phẩm trung gian, nhưng bản
thân chúng  không phải là thuốc nhuộm, thu được ở các giai đoạn khác
nhau trong  quá trình sản xuất  chất màu. Các sản phẩm trung gian này
(ví dụ  axit monochloroacetic, axit benzenesulphonic hoặc  axit
naphthol- sulphonic, resorcinol, chloronitrobenzenes, nitro- hoặc
nitrosophenols, nitrosoamines, aniline, dẫn xuất amin đã được nitrat hóa
hoặc  sulphonat hóa, benzidine, axit aminonaphtholsulphonic,
anthraquinone, methylanilines)  được phân loại trong Chương 29. Các
chất này khác một vài sản phẩm ở dạng thô được phân loại trong nhóm
này, như phthalocyanine, chất này đã xác định về mặt hoá học và chỉ cần
một quá trình vật lý đơn giản là có thể cho cường độ màu tối ưu.
Chất mầu hữu cơ tổng hợp có thể hoà tan hay không hoà tan trong nước.
Chúng gần như có thể được thay thế hoàn toàn bằng chất màu hữu cơ tự
nhiên, đặc biệt khi nhuộm hay in vải dệt, nhuộm da thuộc, giấy hay gỗ.
Chúng cũng được sử dụng trong điều chế các chất màu nền (nhóm
32.05), các màu của các nhóm từ 32.08 đến 32.10, 32.12 và 32.13, mực
của nhóm 32.15, và để tạo màu cho plastics, cao su, sáp, dầu, nhũ tương
ảnh,...
Một vài loại trong số đó cũng được sử dụng như chất phản ứng màu sử
dụng trong thí nghiệm hoặc cho mục đích y học.
Các chất trong thực tế không sử dụng đặc tính nhuộm của chúng thì bị
loại trừ, ví dụ azulene (nhóm 29.02); trinitrophenol (axit picric) và
dinitro-ortho-cresol (nhóm 29.08); hexanitrodiphenylamine (nhóm
29.21);  metyl  da cam (nhóm 29.27); bilirubin, biliverdin và các chất
porphyrin (nhóm 29.33); và acriflvine (nhóm 38.24).
(II) CÁC SẢN PHẨM HỮU CƠ TỔNG HỢP LOẠI ĐƯỢC
DÙNG NHƯ TÁC NHÂN TĂNG SÁNG HUỲNH QUANG HOẶC
NHƯ CÁC CHẤT PHÁT QUANG, ĐÃ HOẶC CHƯA  XÁC ĐỊNH
VỀ MẶT HOÁ HỌC
(1)  Các sản phẩm hữu cơ  của loại được dùng như  các tác nhân
tăng sáng huỳnh quang trong nhóm này là các sản phẩm hữu cơ
tổng hợp hấp thụ các tia cực tím và tạo ra các bức xạ màu xanh có
thể nhìn thấy, do vậy nó làm tăng mầu trắng bao phủ bên ngoài các
sản phẩm có mầu trắng. Chúng thường gồm các dẫn xuất của
(2)  Các sản phẩm hữu cơ của loại được sử dụng như chất  phát
quang là các chất tổng hợp, dưới tác dụng của các tia sáng, tạo ra
chất phát quang hoặc hiệu ứng huỳnh quang.  
Một số trong những sản phẩm này cũng có đặc tính của chất màu.
Một ví dụ của các chất phát quang này là rhodamine B trong plastic,
loại để tạo ra huỳnh quang đỏ. Nó thường ở dạng bột.
Hầu hết các sản phẩm hữu cơ được sử dụng như  chất phát quang  
(ví dụ diethyl dihydroxyterephthalate và salicylaldazine) không phải
là chất mầu. Chúng được thêm vào các chất màu  làm tăng độ sáng.
Các sản phẩm này vẫn được xếp trong nhóm này, ngay cả khi  chúng
được xác định về mặt hoá học, nhưng các chất hóa học tương tự ở
dạng không phát quang (ví dụ kém tinh khiết,  có cấu trúc tinh thể
khác biệt) bị loại trừ (Chương 29). Do vậy mà chất salicylaldazine
được sử dụng như là tác nhân làm trương nở cao su và được xếp vào
nhóm 29.28.
Các sản phẩm hữu cơ của loại được dùng như chất phát quang trộn
lẫn với nhau hoặc với chất màu hữu cơ tổng hợp vẫn được xếp vào
nhóm này. Khi trộn lẫn với các thuốc màu vô cơ chúng bị loại trừ
(nhóm 32.06).
Nhóm này bao gồm các chất được biến đổi về mặt hóa học bằng một
số thuốc nhuộm nhất định thuộc nhóm này (ví dụ, fluoresceine,
cyanine,...) để tạo thành chất phát quang, thường được sử dụng làm
thuốc thử trong phòng thí nghiệm hoặc cho mục đích chụp ảnh trong
y tế.
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm miễn dịch gồm các kháng
thể liên hợp hoặc các mảnh kháng thể được biến đổi bằng sản phẩm
thuộc nhóm này (nhóm 30.02). Nhóm này cũng không bao gồm  
các thuốc thử chẩn đoán bệnh cho bệnh nhân, là các sản phẩm không
pha trộn đóng gói theo liều lượng hoặc các sản phẩm gồm hai thành
phần trở lên đã pha trộn dùng cho mục đích trên (nhóm 30.06).
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm từ 3204.11 đến 3204.19
Chất màu hữu cơ tổng hợp và các chế phẩm dựa trên các chất được ghi
trong Chú giải 3 của Chương này đều được phân thành từng nhóm trên
cơ sở khả năng ứng dụng hoặc sử dụng của chúng. Các sản phẩm của các
phân nhóm này được miêu tả ở phần dưới đây:
Thuốc nhuộm phân tán chủ yếu là loại không hoà tan trong nước,
thuốc nhuộm không ion là loại dùng cho loại sợi kỵ nước từ hệ phân tán
trong môi trường nước. Chúng được sử dụng cho các loại sợi polyeste;
nylon hoặc các loại sợi polyamide, axetat cellulose hoặc sợi acrylic và để
nhuộm bề mặt một số nhựa nhiệt dẻo.
Thuốc nhuộm axit là loại thuốc nhuộm anion hoà tan trong nước được
sử dụng để nhuộm màu sợi nylon, len, vải lụa, các loại sợi modacrylic
hay da thuộc.
Thuốc nhuộm cẩn mầu là các thuốc nhuộm tan trong nước và cần phải
sử dụng với một chất cẩn màu (như muối crôm), để có thể nhuộm được
các loại sợi dệt.
Các loại thuốc nhuộm bazơ là các thuốc nhuộm cation tan trong nước,
chúng được sử dụng cho các loại sợi modacrylic, các loại sợi nylon đã
biến đổi hoặc sợi  polyeste đã biến đổi hoặc giấy chưa tẩy trắng. Trước
hết, chúng được dùng để nhuộm lụa; len hay chất liệu cotton đã được cẩn
màu bằng ta nanh, khi  mà độ sáng của màu quan trọng hơn độ bền màu
của chúng. Một số thuốc nhuộm  bazơ có đặc tính  sinh học và được sử
dụng trong lĩnh vực y học như chất khử trùng.
Các loại thuốc nhuộm trực tiếp là các thuốc nhuộm anion tan trong
nước, trong dung dịch nước hiện diện của các chất điện ly, chúng có khả
năng nhuộm trực tiếp sợi cellullose. Chúng được sử dụng để nhuộm
cotton, cellulose tái sinh, giấy, da và, trong khuôn khổ hẹp hơn là nylon.
Để tăng tính bền màu của chúng, sợi đã được nhuộm trực tiếp được đưa
vào xử lý tiếp theo, như là diazo hóa và tiếp hợp tại chỗ, tạo phức với
muối kim loại hoặc được xử lý với formaldehyt.
Thuốc nhuộm chàm là các thuốc nhuộm không tan trong nước, bị khử
trong môi trường kiềm, sau đó chuyển thành dạng leuco tan trong nước
và ở dạng đó chúng chủ yếu được dùng để nhuộm các loại sợi cellulose;
tiếp theo chúng được tái oxi hóa để trở về dạng keto màu không tan.
Thuốc nhuộm hoạt tính là các thuốc nhuộm được gắn trên chất liệu sợi,
thông thường là sợi cotton, len hay nylon, bằng cách  tác dụng với các
nhóm chức của phân tử sợi để tạo nên liên kết cộng hoá trị.
Thuốc màu là các chất màu hữu cơ tổng hợp ở dạng tinh thể hay ở các
dạng hạt trong suốt quá trình sử dụng (hoàn toàn khác với các thuốc
nhuộm đã mất cấu trúc tinh thể do hoà tan hoặc bay hơi, mặc dù ở trong
giai đoạn tiếp theo của quá trình nhuộm chúng lấy lại được cấu trúc).
Các chất này bao gồm các loại muối kim loại không hoà tan của một số
thuốc nhuộm nói trên.
Ngoài những đề cập khác, phân nhóm 3204.19 bao gồm:
các hỗn hợp đã ghi trong Chú giải 2 của Chương này;
các thuốc nhuộm dung môi, được hoà tan trong các dung môi hữu
cơ và được dùng cho sợi tổng hợp, ví dụ, sợi nylon, polyeste hoặc
acrylic, hoặc được sử dụng trong xăng, vecni, chất nhuộm màu,
mực, sáp,...
Một số chất màu hữu cơ tổng hợp tùy theo hai hoặc nhiều chức năng sử
dụng của chúng mà rơi vào các phân nhóm khác nhau. Chúng được phân
loại như sau:
Các chất, ở các dạng khác nhau của chúng, có thể được sử dụng
đồng thời như thuốc nhuộm chàm và như thuốc màu, được phân loại
như thuốc nhuộm chàm trong phân nhóm 3204.15.
Các chất khác có thể được xếp trong hai hoặc nhiều phân nhóm cụ
thể từ nhóm 3204.11 đến 3204.18, được xếp trong phân nhóm có số
thứ tự sau cùng.
Các chất có thể được xếp trong một phân nhóm cụ thể từ phân nhóm
3204.11 đến 3204.18 và trong  phân nhóm còn lại 3204.19 thì được
xếp vào phân nhóm cụ thể.
Hỗn hợp của các chất màu hữu cơ tổng hợp và các chế phẩm dựa trên
các hỗn hợp  này được phân loại như sau:
Hỗn hợp của hai hay nhiều sản phẩm của cùng một phân nhóm được
phân loại vào cùng phân nhóm đó.
Hỗn hợp của hai hoặc nhiều các sản phẩm của các phân nhóm khác
nhau (3204.11 đến 3204.19) được phân loại vào nhóm còn lại 3204.19.
Các tác nhân tăng sáng huỳnh quang, đôi khi được gọi là “thuốc nhuộm
trắng” không được ghi trong các phân nhóm từ 3204.11 đến 3204.19,
được xếp trong phân nhóm 3204.20.
32.05 - Các chất màu nền (colour lakes); các chế phẩm dựa trên các
chất màu nền như đã ghi trong Chú giải 3 của Chương này.
Các chất màu nền là các chế phẩm không tan trong nước, thu được bằng
cách cố định các chất màu tự nhiên (động vật hoặc thực vật) hoặc chất
màu hữu cơ tổng hợp (có hoặc không tan trong nước), trên một nền,
thường là khoáng (sulphat bari, sulphat canxi, nhôm oxit, đất sứ, talc,
silic dioxit, đất có chứa silic hoá thạch, cacbonat canxi,..).
Quá trình cố định của chất màu trên nền thường thu được bằng cách sau:
(1)  Quá trình kết tủa của chất màu trên chất nền với tác nhân kết tủa
(như ta nanh, chlorua bari,...), hay thông qua sự kết tủa đồng thời
giữa chất màu và chất nền.
(2)  Quá trình nhuộm chất nền với một dung dịch của chất màu.
(3) Quá trình trộn lẫn bằng hoá học các chất màu không tan với chất  
nền trơ
Không nhầm các chất màu nền với một vài các sản phẩm khác như là các
chất màu hữu cơ tổng hợp, không hòa tan trong nước, trong đó các
nguyên tố khoáng là một phần không thể tách rời của phân tử, đây là
trường hợp của các chất màu hữu cơ tổng hợp không  hoà tan được ở
dạng muối kim loại (ví dụ muối canxi của thuốc nhuộm đã sunphonat
hóa, và  muối của các thuốc nhuộm bazơ với các axit phức của
phosphorus, molybden và  tungsten) (nhóm 32.04).
Các chất màu nền được  điều chế chủ yếu từ các chất màu hữu cơ tổng
hợp (nhóm 32.04) có tính chống ôxy hoá cao, như là các thuốc nhuộm
azo, các thuốc nhuộm chàm được đi từ anthraquinone, hoặc các thuốc
nhuộm alizarin. Các chất màu này được dùng chủ yếu trong sản xuất
mực in, giấy dán tường hoặc sơn dầu.
Các chất màu nền cũng có thể được điều chế từ chất màu hữu cơ có
nguồn gốc thực vật hoặc động vật (tức là các chất màu của nhóm 32.03).
Ngoài những đề cập khác chúng bao gồm, chất màu nền carmine từ rệp
son, thường thu được từ quá trình xử lý dung dịch nước của chiết xuất
cochineal với phèn, và chủ yếu được dùng cho sản xuất các loại màu
nước, và cho màu sirô, mứt hoặc rượu mùi; chất màu nền gỗ huyết mộc,
chất màu nền gỗ vàng và chất màu nền gỗ đỏ,...
Các sản phẩm này thường ở dạng bột.
Nhóm này bao gồm các hệ phân tán nồng độ cao của phức màu kim loại
trong plastics, cao su, chất hóa dẻo hoặc trong môi trường khác. Nói
chung,  chất phân tán này thường ở dạng miếng nhỏ hoặc mảnh vụn và
được dùng như nguyên liệu thô cho nhuộm cao su, plastics,...
Nhóm cũng bao gồm một số chế phẩm khác dựa trên chất màu loại được
dùng để tạo màu cho vật liệu bất kỳ hoặc được dùng như các thành phần
trong sản xuất các chế phẩm màu. Tuy nhiên, các chế phẩm được nêu
trong câu cuối của Chú giải 3 của Chương này bị loại trừ.
Nhóm này không bao gồm dầu bóng xuất xứ từ Trung quốc hay của
Nhật bản (nhóm 13.02).
32.06- Chất màu khác; các chế phẩm như đã ghi trong Chú giải 3
của Chương này, trừ các loại thuộc nhóm 32.03, 32.04 hoặc
32.05; các sản phẩm vô cơ được dùng như chất phát quang,
đã hoặc chưa xác định về mặt hóa học (+).
⦁    Thuốc màu và các chế phẩm từ dioxit titan:  
3206.11 - - Chứa hàm lượng dioxit titan từ 80% trở lên tính theo
trọng lượng khô
3206.19 - - Loại khác
3206.20 - Thuốc màu và các chế phẩm từ hợp chất crom
⦁    Chất màu khác và các chế phẩm khác:
3206.41 - - Chất màu xanh nước biển và các chế phẩm từ chúng
3206.42 - - Litopon và các thuốc màu khác và các chế phẩm từ
kẽm sulphua
3206.49 - - Loại khác
3206.50 - Các sản phẩm vô cơ được dùng như chất phát quang  
(A) CHẤT MÀU KHÁC; CÁC CHẾ PHẨM NHƯ ĐÃ GHI
TRONG CHÚ GIẢI 3 CỦA CHƯƠNG NÀY, TRỪ LOẠI THUỘC
NHÓM 32.03, 32.04 HOẶC 32.05
Nhóm này gồm chất màu vô cơ hoặc chất màu có nguồn gốc  khoáng.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm:
(a)  Oxit sắt dạng mica tự nhiên; đất màu, đã hoặc chưa bị nung hay trộn
lẫn với nhau (xem Chú giải Chi tiết nhóm 25.30).
(b)  Các chất màu vô cơ đã được xác định về mặt hoá học  riêng biệt (ví
dụ dựa trên carbonat chì bazơ, ôxit của kẽm, sắt, chì hoặc crôm;
sulphua của kẽm hoặc thuỷ ngân; chì cromat (Chương 28);
acetoarsenite đồng (mầu xanh Schweinfurt) (nhóm 29.42).
(c) Bột và vảy kim loại (Phần XIV hoặc XV).
Chất màu thuộc nhóm này bao gồm:
(1) Các thuốc màu dựa trên dioxit titan. Nhóm này bao gồm dioxit
titan đã qua xử lý bề mặt hoặc  dioxit titan trộn với canxi hoặc bari
sulphat hoặc các chất khác. Nhóm này cũng bao gồm dioxit titan đã
được thêm vào một số hợp chất có chủ ý trongquá trình sản xuấtđể
có đượcmột vài đặc tính vật lýlàm cho nóthích hợpđể sử dụngnhư
một thuốc màu. Dioxit titan đã được điều chế đặc biệt khác mà
không phù hợp cho việc sử dụng như thuốc màu bởi vì đặc tính đặc
biệt của nó được xếp vào nhóm khác (ví dụ, nhóm 38.15, 38.24).
Dioxit titan không được xử lý bề mặt và không được trộn lẫn được
phân loại vào nhóm 28.23.
(2)  Thuốc màu dựa trên hợp chất crôm. Nhóm này bao gồm chất màu
vàng chứa hỗn hợp của chì crômat và các sản phẩm vô cơ khác như
sunphat chì, và các thuốc mầu xanh lá cây bao gồm ôxit crôm trộn
lẫn với các chất khác.
(3)  Ultramarine. Ultramarine xanh dương trước đây là hợp chất phức
được điều chế từ đá da trời lazuli, nhưng hiện nay được điều chế
theo phương pháp nhân tạo bằng cách xử lý hỗn hợp của silicat,
aluminat, lưu huỳnh, cacbonat natri,...  Ultramarine màu xanh lá cây,
màu hồng và màu tím của cũng được xếp ở nhóm này, nhưng một số
cromat không trộn lẫn, đôi khi được biết như là màu vàng
ultramarine, thì bị loại trừ (nhóm 28.41).
(4)  Lithopone và các thuốc màu khác dựa trên  sunphua kẽm, như  
thuốc màu trắng bao gồm hỗn hợp của sunphua kẽm và sulphat bari
theo tỷ lệ khác nhau.
(5)  Các thuốc màu dựa trên hợp chất cadimi, ví dụ thuốc màu vàng
bao gồm  hỗn hợp sunphua cadimi và sunphat bari, và màu đỏ
cadimi bao gồm hỗn hợp của sunphua cadimi và  selenua cadimi.
(6)  Màu xanh Phổ (màu xanh Berlin) và các thuốc màu khác dựa
trên hexacyanoferrate (feroxianua và ferixianua). Màu xanh
Phổ bao gồm feroxianua sắt, chưa được xác định về mặt hoá học.
Nó thu được bằng cách làm kết tủa một chất feroxianua kiềm với
muối sắt và sau đó ôxi hoá chúng với hypoclorit. Đây là một chất
rắn vô định hình mầu xanh dương, được sử dụng trong điều chế
nhiều loại thuốc màu cũng được phân loại trong nhóm này. Nhóm
này bao gồm màu xanh khoáng (với bari sulphat và cao lanh), màu
xanh milori hoặc màu xanh English (với màu vàng crôm và đôi khi
cũng là sunphat bari) và màu xanh lá cây kẽm (với kẽm cromat), và
các hợp chất cho mực màu (với axit oxalic). Màu xanh dương
Turnbull được làm từ feroxianua sắt, chưa được xác định về mặt hóa
học, ở dạng đơn chất hay hỗn hợp.
(7) Muội khoáng (trừ các loại muội trong  nhóm 25.30 hay 28.03),  
ví dụ:
(a)  Muội đá phiến, một hỗn hợp của silicat và carbon thu được sau
khi nung một phần đá phiến bitum.
(b)  Muội silic dioxit thu được bằng cách nung hỗn hợp than đá và
(c)  Các sản phẩm được biết như “muội nhôm”, một hỗn hợp của
nhôm oxit và cacbon thu được bằng cách nung một hỗn hợp của
bôxit và nhựa chưng hắc ín than đá hoặc mỡ.
(8)  Các loại đất màu đã được tăng sắc với một lượng rất nhỏ các chất
nhuộm hữu cơ tổng hợp (đất màu, đã hoặc chưa được trộn lẫn,
nhưng chưa được tăng sắc, thường được xếp trong nhóm 25.30 -
xem phần Chú giải Chi tiết tương đương).
(9)  Màu nâu Vandykehòa tan và các sản phẩm tương tự, nhìn chung
thu được bằng cách xử lý đất mầu thuộc nhóm 25.30 (màu nâu
Vandyke, đất Cassel, đất Cologne...) với dung dịch ammoniac hoặc
dung dịch kali hydroxide.
(10)  Thuốc màu dựa trên các hợp chất coban, ví dụ màu xanh dương
(11)  Các thuốc màu có chứa quặng đã được nghiền mịn, ví dụ
(12)  Màu xám của kẽm (ôxy kẽm không tinh khiết).
(13)  Các thuốc màu tổng hợp có ánh xà cừ (ngọc trai) các chất mầu
có ánh xà cừ vô cơ như:
(a)  bismut chloride oxide, có kèm theo một lượng nhỏ của chất hoạt
động bề mặt hữu cơ;
(b)  mica được phủ bởi bismut chloride oxide, titan dioxide hoặc
titan dioxide và sắt oxide;
Các sản phẩm này được sử dụng để sản xuất các chế phẩm mỹ
phẩm.
Các thuốc mầu vô cơ có trộn thêm các chất mầu hữu cơ cũng được
nêu trong nhóm này.
Các sản phẩm này là nguyên liệu chính được sử dụng để sản xuất các
chất màu dùng trong công nghiệp gốm sứ (xem chú giải chi tiết nhóm
32.07), các chất màu, sơn, men tráng và dầu bóng của nhóm từ 32.08 đến
32.10 và nhóm 32.12, các chất màu dùng trong nghệ thuật hội họa, học
đường hoặc trang trí của nhóm 32.13 và các loại mực in (phân loại trong
nhóm 32.15)  
Nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm dựa trên các chất mầu được ghi ở
trên, và cả các chất mầu của nhóm 25.30 hoặc của chương 28 và các loại
bột và vảy mầu kim loại được sử dụng để tạo mầu cho các vật liệu bất kỳ
hoặc dùng làm nguyên liệu để sản xuất các chế phẩm mầu dưới dạng:
Hệ phân tán nồng độ cao trong plastics, cao su tự nhiên, cao su
tổng hợp, chất dẻo hoặc trong môi trường khác. Nhìn chung,
những chất phân tán này được sử dụng như nguyên liệu tạo màu
hoặc (II) Hỗn hợp có chứa một lượng lớn các chất hoạt động bề mặt hoặc
với các chất kết dính hữu cơ. Nhìn chung, chúng được dùng để
tạo màu cho plastics,... hoặc được dùng như nguyên liệu trong
các chế phẩm để in vải. Chúng thường ở dưới dạng nhão.
Tuy nhiên, các chế phẩm đã ghi trong câu cuối của Chú giải 3 của
Chương này thì bị loại trừ.
Nhóm này cũng không bao gồm:  
Các sản phẩm được dùng như chất độn trong sơn dầu, có hoặc không phù
hợp để tạo màu cho sơn keo, ví dụ:
(a)  Cao lanh (nhóm 25.07).
(b)  Carbonat canxi (nhóm 25.09 hoặc 28.36).
(c)  Sulphat bari (nhóm 25.11 hoặc 28.33).
(d)  Đất Diatomaceous (nhóm 25.12).
(e)  Đá phiến (nhóm 25.14).
(f)   Dolomit (nhóm 25.18).
(g)  Carbonate magiê (nhóm 25.19 hoặc 28.36).
(h)  Thạch cao (nhóm 25.20).
(ij)  Amiăng (nhóm 25.24).
(k)  Mica (nhóm 25.25).
(l)  Talc (nhóm 25.26).
(m)  Calcite (Iceland spar) (nhóm 25.30).
(n)  Hydroxit nhôm (nhóm 28.18).
(o)  Các hỗn hợp của hai hay nhiều các sản phẩm được đề cập từ điểm
(a) đến điểm (n) ở trên (thường ở nhóm 38.24).
(B) CÁC SẢN PHẨM VÔ CƠ ĐƯỢC DÙNG NHƯ CHẤT PHÁT
QUANG, ĐÃ HOẶC CHƯA XÁC ĐỊNH VỀ MẶT HOÁ HỌC
Các sản phẩm vô cơ được dùng như chất phát quang bao gồm các sản
phẩm dưới tác dụng của các bức xạ mà mắt thường có thể nhìn thấy hay
không nhìn thấy (ánh sáng mặt trời, tia cực tím, tia catot, tia X,...), tạo ra
hiện tượng phát quang (huỳnh quang hoặc lân quang).
Phần lớn các sản phẩm này gồm có các muối kim loại đã được hoạt hoá
bởi một lượng rất nhỏ các chất “hoạt hoá” như bạc, đồng hay mangan. Ví
dụ, sulphua kẽm đã được hoạt hoá bởi đồng hoặc bạc, sulphat kẽm đã
được hoạt hoá bởi đồng, và silicat kẽm - berili đã được hoạt hoá bởi
Các loại khác là muối kim loại có tính phát quang không có chất hoạt
hoá, nhưng qua quá trình xử lý mang lại cho chúng một cấu trúc tinh thể
rất đặc biệt. Những sản phẩm này là các hợp chất đã được xác định về
mặt hóa học và không chứa các chất khác, bao gồm canxi  tungstate  và
magiê  tungstate. Các chất hoá học tương tự dưới dạng không phát quang
(ví dụ loại kém tinh khiết, loại cấu trúc tinh thể khác nhau) thì bị loại trừ
(Chương 28). Do đó canxi  tungstate vô định hình, được dùng như chất
phản ứng được xếp vào nhóm 28.41.
Các sản phẩm vô cơ được dùng như chất phát quang đôi khi chứa vết của
muối phóng xạ được thêm vào có tác dụng làm cho chúng tự phát quang.
Khi mức phóng xạ vượt quá 74 Bq/g (0,002 µCi/g), chúng phải được coi
như hỗn hợp có chứa các chất phóng xạ và được phân loại vào nhóm
Các sản phẩm vô cơ được dùng như các chất phát quang được trộn lẫn
với nhau (ví dụ sulphua kẽm đã được hoạt hoá bởi đồng trộn với kẽm
cadimi sulphua đã được hoạt hóa bởi đồng) hoặc với các chất màu vô cơ
(thuộc Chương 28 hoặc Phần A ở trên) cũng được phân loại trong nhóm
này.
Các chất phát quang được dùng cho sơn phát quang và để làm chất phủ
màn hình cho ti vi, máy ghi dao động, máy chụp X- quang, máy soi X-
quang hoặc các thiết bị ra đa hoặc ống phát huỳnh quang.  
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm phù hợp với mô tả của các
nhóm từ 28.43 đến 28.46 và 28.52 (ví dụ, hỗn hợp của oxit ytri và oxit
europi), cho dù được đóng gói và sử dụng như thế nào.  
Chú giải phân nhóm
Phân nhóm 3206.19
Các chế phẩm chứa dioxit titan không quá 80% bao gồm các chất phân
tán nồng độ cao trong plastics, cao su tự nhiên, cao su tổng hợp hoặc
chất dẻo, chúng thường được biết đến như master-batches (hạt màu),
được dùng để tạo màu cho plastics, cao su,....
32.07- Thuốc màu đã pha chế, các chất cản quang đã pha chế và các
loại màu đã pha chế, các chất men kính và men sứ, men sành
(slips), các chất láng bóng dạng lỏng và các chế phẩm tương
tự, loại dùng trong công nghiệp gốm sứ, tráng men hoặc thủy
tinh; frit thủy tinh và thủy tinh khác, ở dạng bột, hạt hoặc
vẩy.
3207.10 - Thuốc màu đã pha chế, chất cản quang đã pha chế, các
loại màu đã pha chế và các chế phẩm tương tự
3207.20 - Men kính và men sứ, men sành (slips) và các chế phẩm
tương tự
3207.30 - Các chất láng bóng dạng lỏng và các chế phẩm tương tự
3207.40 - Frit thủy tinh và thuỷ tinh khác, ở dạng bột, hạt hoặc
vẩy
Nhóm này bao gồm một dãy các chế phẩm được sử dụng trong công
nghiệp gốm sứ (đồ sứ, đồ sành,...) trong công nghiệp sản xuất thuỷ tinh
hoặc để tạo màu hoặc hoàn thiện sản phẩm kim loại.
(1)  Các thuốc màu đã pha chế, các chất cản quang đã pha chế và
các loại màu đã pha chế là hỗn hợp khô đã được định hình bởi quá
trình xử lý nhiệt các oxit (của antimon, bạc, asen, đồng, crom,
coban,...) hoặc muối (florua, photphat,...) có hay không có chất trợ
dung hoặc các chất khác, và được nung ở nhiệt độ cao, thường trên
300 °C. Các mặt hàng này được sử dụng để sản xuất các bề mặt màu
hoặc mờ trong quá trình nung gốm sứ. Chúng có thể được kết hợp
trong men sứ hoặc men tráng, hoặc được sử dụng như chất phủ trước
khi tráng men.  
(2)  Các hợp chất men kính và men sứ, là hỗn hợp của dioxit silic với
các sản phẩm khác (feldspar, cao lanh, kiềm, carbonate natri, các
hợp chất kim loại kiềm thổ, ôxit chì, axit boric,...), làm cho bề mặt
nhẵn, mờ hoặc bóng, bởi quá trình nấu thủy tinh dưới tác dụng của
nhiệt. Trong hầu hết các trường hợp, một số các chất được nung
chảy với nhau trong quá trình sơ chế và hiện diện trong hỗn hợp
dưới dạng bột thủy tinh (xem ở dưới).
Chúng có thể ở dạng trong suốt (có màu hoặc không màu) hoặc có
thể ở dạng mờ đục khi thêm thuốc màu hay chất làm mờ; đôi khi các
chất (ví dụ, titan oxit hoặc kẽm oxit) được thêm vào để tạo ra hiệu
ứng pha lê trang trí trong quá trình làm lạnh sau khi nung. Các hợp
chất men kính và men sứ này thường ở dạng bột hay hạt.
(3)  Men sành (slips) là dạng nhão sền sệt có thành phần chính là đất
sét, có màu hoặc không có màu, được dùng để phủ hoàn toàn đồ sứ
hay một phần có hoạ tiết. Chúng được dùng trước khi nung hoặc sau
khi nung sơ bộ lần đầu.
(4)  Các chất láng bóng dạng lỏng là các dung dịch hoặc huyền phù
trong dầu nhựa thông hoặc các dung môi hữu cơ khác, được dùng để
trang trí đồ sứ hoặc đồ thuỷ tinh. Sử dụng rộng rãi nhất là các loại
nước láng bóng vàng, bạc, nhôm hay crôm.
(5)   Thủy tinh Frit và các loại thủy tinh khác (kể cả vitrite và thuỷ tinh
thu được từ thạch anh nung chảy hoặc từ dioxit silic nung chảy) ở
dạng bột, hạt hoặc mảnh, đã và chưa được tạo màu hoặc mạ bạc.
Các sản phẩm này được sử dụng trong điều chế các chất phủ cho đồ
gốm sứ, thủy tinh hoặc đồ vật kim loại cũng như cho các mục đích
khác. Ví dụ, frit được sử dụng trong sản xuất các sản phẩm thủy tinh
đã được ghi ở đoạn (2) ở trên. Bột và hạt thủy tinh đôi khi được
nung kết để tạo ra đĩa, ống... dùng cho phòng thí nghiệm.
Vitrite thường được sử dụng chủ yếu để sản xuất các bộ phận cách
điện (ví dụ đui bóng đèn).  
Các loại bột thuỷ tinh khác được sử dụng như bột mài nhũ, để trang
trí các tấm thiệp bưu điện, cây thông Noen, để thu được các đồ thuỷ
tinh màu,...
Khi các sản phẩm đã được mô tả ở đoạn (5) ở trên là ở dạng khác trừ
các dạng bột, hạt hoặc mảnh, chúng bị loại trừ, và thường được xếp
vào Chương 70.  Việc này được áp dụng trong trường hợp đặc biệt
đối với “ vitrite ” và men thủy tinh nói chung (nhóm 70.01), đối với
men thuỷ tinh ở các dạng thanh, que hoặc ống (nhóm 70.02) và các
hạt nhỏ hình cầu (microsphesres) được dùng để phủ màn hình máy
chiếu phim, các biển báo,...(nhóm 70.18).
32.08.- Sơn và vecni (kể cả men tráng (enamels) và dầu bóng) làm từ
các loại polyme tổng hợp hoặc các polyme tự nhiên đã biến
đổi về mặt hóa học, đã phân tán hoặc hòa tan trong môi
trường không chứa nước; các dung dịch như đã ghi trong
Chú giải 4 của Chương này.
3208.10 - Từ polyeste
3208.20 - Từ polyme acrylic hoặc polyme vinyl
3208.90 - Loại khác
(A) SƠN (BAO GỒM CẢ MEN TRÁNG)
Sơn của nhóm này là các hệ phân tán của chất màu không tan (chủ yếu là
thuốc màu hữu cơ hoặc khoáng, hoặc chất màu nền), hoặc bột hay vẩy
kim loại, trong đó có chứa chất kết dính đã phân tán hay hoà tan trong
dung dịch không chứa nước. Chất kết dính tạo là tác nhân tạo màng, gồm
các polyme tổng hợp (như nhựa phenol, nhựa amino, polyme acrylic
nhiệt rắn hay loại khác, nhựa alkyd và các loại polyeste khác, các polyme
vinyl, silicon, nhựa epoxy, và cao su tổng hợp) hoặc các polyme tự nhiên
đã biến tính về mặt hoá học (như các dẫn xuất hóa học của cellulose hoặc
cao su tự nhiên).  
Lượng khác nhau của các chất khác như các chất làm khô (chủ yếu dựa
trên các hợp chất coban, mangan, chì hoặc kẽm), các tác nhân làm đặc
(muối xà phòng hóa của nhôm và kẽm), các chất hoạt động bề mặt, chất
pha loãng hoặc chất độn (sulphat bari, cacbonat canxi, talc,...) và các tác
nhân chống tạo màng (ví dụ, oxime butanone) có thể được thêm vào vì
những mục đích đặc biệt.
Trong các loại sơn pha loãng trong dung môi. Dung môi và chất pha
loãng là các chất lỏng bay hơi (như xăng trắng, toluene, chất gôm, gỗ
hoặc sunphat nhựa thông, hỗn hợp của dung môi tổng hợp,...) được thêm
vào để hoà tan chất kết dính dạng rắn và để cho sơn có tính chất chảy
phù hợp để thuận tiện trong việc sử dụng.
Khi loại có chứa vecni, sơn được biết đến như là men tráng; chất này sau
khi được làm khô, tạo nên một màng đặc biệt nhẵn cứng, có thể bóng
hoặc mờ.
Công thức pha chế của sơn và sơn men pha loãng trong dung môi tuỳ
thuộc mục đích sử dụng cụ thể của nó mà chúng được tạo ra và những
sản phẩm như vậy thường chứa một vài thuốc màu và một số chất kết
dính.  Sau khi thi công trên bề mặt, sau khi khô, chúng tạo nên một màng
có màu, phủ, không dính, bóng hoặc mờ.
(B) VECNI (KỂ CẢ DẦU BÓNG - LACQUERS)
Vecni và dầu bóng của nhóm này là các chế phẩm dạng lỏng dùng để
bảo vệ hoặc trang trí bề mặt. Chúng dựa trên polyme tổng hợp (kể cả cao
su tổng hợp), hoặc  chất polyme tự nhiên đã biến tính về mặt hoá học
(như nitrat cellulose hoặc các dẫn xuất của cellulose khác, nhựa novolac
hay nhựa phenolic khác, nhựa amino, silicone,...) được trộn thêm dung
môi và chất pha loãng. Chúng tạo nên một màng liên tục khô, không tan
trong nước, tương đối cứng, có thể ít nhiều trong suốt hoặc không, nhẵn,
có thể bóng, mờ hoặc bóng mờ.
Chúng có thể được tạo màu bằng cách trộn thêm các chất màu của loại
hoà tan trong thành phần (Trong sơn hay sơn men, chất màu được gọi là
“thuốc màu” và không tan trong môi trường - xem Phần (A) ở trên).  
Các phương pháp phổ biến dùng cho sơn, vecni và dầu bóng là sử dụng
một chổi quét hay một cái ống lăn. Các phương pháp chính sử dụng
trong công nghiệp gồm phun, nhúng và máy phủ.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1)  Loại vecni được pha loãng tại thời điểm sử dụng. Chúng được tạo
từ nhựa hoà tan trong một lượng nhỏ dung môi và từ các thành phần
như các tác nhân chống tạo màng, một số phụ gia tạo đặc cấp ba
hoặc chất làm khô mà có thể làm cho chúng thích hợp hơn khi được
sử dụng riêng như là vecni. Những vecni của mô tả này, mà trong đó
các thành phần phụ cũng có trong dung dịch, có thể được phân biệt
với các dung dịch được xác định ở Chú giải 4 Chương này, dựa trên
sự khác biệt về bản chất hoá học tự nhiên của các thành phần phụ
tương ứng và sự khác biệt về chức năng của các thành phần đó trong
2 loại dung dịch.
(2)  Loại vecni có thể đóng rắn bằng bức xạ, bao gồm nhiều loại
oligomer (tức là những polyme bao gồm 2,3 hoặc 4 loại monome) và
các monome tạo liên kết mạng, trong các dung môi bay hơi, có hay
không có chất khơi mào phản ứng. Các loại vecni này được đóng rắn
dưới tác dụng bức xạ của tia cực tím, tia hồng ngoại, tia X, chùm
electron hoặc các bức xạ khác, tạo nên cấu trúc mạng, không tan
trong các dung môi (màng cứng, khô). Các sản phẩm của loại này
chỉ nằm trong nhóm này nếu như chúng rõ ràng được sử dụng như
vecni. Các sản phẩm  tương tự  được sử dụng như nhũ tương ảnh
thuộc nhóm 37.07.
(3)  Vecni được tạo bởi các dung dịch polyme được miêu tả trong
phần (C) ở dưới, tức là của loại thuộc các nhóm từ 39.01 đến 39.13,
không kể trọng lượng của dung môi, chứa các chất được thêm vào
trừ các loại cẩn thiết để sản xuất các sản phẩm được mô tả trong các
nhóm từ 39.01 đến 39.13, như là các tác nhân chống tạo màng và
một số tác nhân tạo đặc hoặc tác nhân làm khô, làm cho chúng phù
hợp sử dụng riêng như vecni.  
Trong phần này không bao gồm các dung dịch được nêu trong Chú giải
4 Chương này (xem Phần (C) dưới đây.
(C) CÁC DUNG DỊCH ĐƯỢC NÊU TẠI CHÚ GIẢI 4  
CỦA CHƯƠNG 32
Theo Chú giải 4 của Chương này, các dung dịch (trừ collodion) có các
thành phần sau đây được phân loại trong nhóm này:
một hay nhiều các sản phẩm được mô tả trong các nhóm từ 39.01
đến 39.13 và bất kỳ thành  phần đã hoà tan cần cho việc tạo ra các
sản phẩm này, như các chất tăng tốc, chất hãm, chất liên kết mạng
(do đó, loại trừ các thành phần tan như các chất màu và các thành
phần không tan như các chất độn hoặc thuốc màu, cũng như tất cả
các sản phẩm mà có thể phân loại trong các nhóm này theo quy định
trong các điều khoản khác của Danh mục hàng hoá) trong các dung
môi hữu cơ bay hơi, nếu trọng lượng dung môi vượt quá 50 % trọng
lượng dung dịch.
một hoặc nhiều các sản phẩm đã nêu ở trên và một chất hóa dẻo
trong dung môi hữu cơ bay hơi nếu trọng lượng dung môi vượt quá
50 % trọng lượng dung dịch.
Các dung dịch như vậy được xếp vào Chương 39 nếu trọng lượng dung
môi hữu cơ bay hơi không quá 50 % trọng lượng dung dịch.
Khái niệm "dung môi hữu cơ bay hơi" cũng bao gồm các dung môi có
điểm sôi tương đối cao, ví dụ, dầu thông.
Nhóm cũng không gồm các loại keo kết dính có các thành phần tương tự
với các chế phẩm được miêu tả trong đoạn cuối của Phần B ở trên đây,
hoặc các chất kết dính đã đóng gói bán lẻ có trọng lượng tịnh không vượt
quá 1 kg (nhóm 35.06).
Nhóm này cũng loại trừ:
(a)  Các chế phẩm để xử lý bề mặt dùng cho tường, nền nhà..., dựa trên
plastics được trộn thêm một tỷ lệ lớn các chất độn và những chất
giống như mattit thông thường, được dùng với dao phết,
bay,...(nhóm 32.14).
(b)  Mực in, có thành phần định tính tương tự sơn, nhưng không phù hợp
sử dụng như sơn (nhóm 32.15).
(c)  Vecni, loại vecni dùng cho móng chân móng tay, được làm thành
dạng như mô tả trong Chú giải chi tiết của nhóm 33.04.
(d) Các chất lỏng dùng để hiệu chỉnh chủ yếu bao gồm các thuốc màu,
chất kết dính và các dung môi, được đóng gói để bán lẻ được dùng
để chữa các lỗi không mong muốn hoặc các lỗi không mong muốn
khác trên các bản đánh máy, các bản thảo viết tay, bản photocopy,
bản gốc in offset hoặc tương tự và vecni cellulose được đóng gói
bán lẻ như các chế phẩm sửa bản in (nhóm 38.24).  
(e)  Các collodion, không phụ thuộc tỷ lệ dung môi (nhóm 39.12).
32.09-  Sơn và vecni (kể cả các loại men tráng (enamels) và dầu
bóng) làm từ các loại polyme tổng hợp hoặc các polyme tự
nhiên đã biến đổi về mặt hóa học, đã phân tán hoặc hòa tan
trong môi trường nước.
3209.10 - Từ polyme acrylic hoặc polyme vinyl
3209.90 - Loại khác
Sơn ghi trong nhóm này là dạng phân tán hoặc dung dịch của một chất
kết dính dựa trên polyme tổng hợp hoặc polyme tự nhiên đã biến đổi về
mặt hóa học, trong môi trường nước, được trộn lẫn với các chất phân tán
của các chất màu không tan (chủ yếu là thuốc màu khoáng hoặc hữu cơ,
hoặc chất màu nền) và chất độn. Chúng được trộn thêm các chất hoạt
động bề mặt hay chất tạo nhữ hóa để làm ổn định các sản phẩm. Vecni
của nhóm này tương tự như với các loại sơn nhưng không chứa thuốc
màu; tuy nhiên, chúng có thể chứa chất màu tan trong chất kết dính.
Chất kết dính, là tác nhân tạo màng, chứa polyme, như este polyacrylic,
poly(vinyl acetate) và poly(vinyl clorua), hoặc là các sản phẩm đồng
trùng hợp của butadien và styren.
Khái niệm “môi trường gốc nước” nghĩa là bất kỳ môi trường có chứa
nước hoặc hỗn hợp của nước và dung môi tan trong nước.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các chế phẩm xử lý bề mặt dùng cho tường, sàn..., dựa trên plastics
được trộn thêm một tỷ lệ lớn các chất độn và các chất giống như matit,
được sử dụng với dao phết, bay,...(nhóm 32.14).
(b) Mực in, có thành phần định tính tương tự với sơn, nhưng không phù
hợp để sử dụng  như sơn (nhóm 32.15).
32.10-  Sơn và vecni khác (kể cả các loại men tráng (enamels), dầu
bóng và màu keo); các loại thuốc màu nước đã pha chế dùng
để hoàn thiện da.
(A) SƠN (KỂ CẢ MEN TRÁNG)
Các loại sơn (kể cả sơn men) của nhóm này bao gồm:
(1)  Dầu làm khô (ví dụ, dầu lanh), đã hay chưa biến tính hoặc các loại
nhựa tự nhiên, phân tán hoặc hòa tan trong môi trường có nước hay
không có nước, được trộn thêm các thuốc màu.  
(2)  Tất cả các chất kết dính dạng lỏng (kể cả polyme tổng hợp hoặc
polyme tự nhiên đã biến tính về mặt hoá học) có chứa chất đóng rắn
và các thuốc mầu nhưng không chứa bất kỳ dung môi hoăc các môi
chất khác.
(3) Sơn từ cao su (trừ cao su tổng hợp) đã phân tán hoặc hòa tan trong
môi trường không có nước, hoặc phân tán trong môi trường nước, và
được trộn thêm thuốc màu. Sơn loại này phải được dùng ở dạng các
lớp màng mỏng có lớp phủ mềm dẻo.
(B) VECNI (KEERCAR DẦU BÓNG)
Trong nhóm này gồm các loại vecni sau:
(1)  Các loại vecni dầu mà trong đó tác nhân tạo màng là dầu khô (ví
dụ: dầu lanh) hoặc hỗn hợp của dầu khô với nhựa cánh kiến đỏ, gôm
tự nhiên hoặc nhựa tự nhiên.  
(2)  Các loại vecni và dầu bóng dựa trên nhựa cánh kiến đỏ, gôm tự
nhiên hoặc nhựa tự nhiên, chủ yếu chứa nhựa cánh kiến, gôm tự
nhiên hoặc nhựa tự nhiên (shellac, copal, rosin, damar,...) trong cồn
(vecni sprit), gôm, gỗ hoặc sulphat turpentine,  white spirit,
(3)  Các loại vecni dựa trên bitum, nhựa hắc ín hoặc các sản phẩm
tương tự (đôi khi được hiểu như sơn mài Nhật, vecni đen,...). (Sự
phân biệt giữa các loại vecni dựa trên bitum,..., và một số hỗn hợp
của nhóm 27.15, xem Chú giải loại trừ (e) của nhóm đó).
(4)  Các loại vecni lỏng không chứa dung môi, mà có thể bao gồm:
(a)   các loại plastic lỏng (thường là nhựa epoxy hoặc polyurethan)
và một tác nhân tạo màng được gọi trong trường hợp này là
“chất đóng rắn”. Đối với một số loại vecni, chất đóng rắn phải
được thêm vào trong lúc sử dụng, trong trường hợp hai thành
phần đó được đóng gói riêng biệt. Những gói này phải được
đóng cùng nhau trong một kiện;
(b) nhựa đơn chất, sự tạo thành lớp màng tại thời điểm sử dụng
không phụ thuộc vào việc bổ sung chất đóng rắn nhưng phụ
thuộc vào sự tác động của nhiệt hoặc độ ẩm của không khí; hoặc
(c)  oligomers (tức là các polyme chứa 2, 3 hoặc 4 loại monome) và
monome liên kết mạng, có hay không có chất khơi mào phản
ứng. Các loại vecni này được đóng rắn bởi tác dụng của tia cực
tím, tia hồng ngoại, tia X, các chùm electron hoặc các bức xạ
khác để tạo thành các cấu trúc mạng liên kế, không tan trong
dung môi (màng cứng, khô).
Các sản phẩm của loại được miêu tả ở đây không thuộc nhóm này
trừ khi chúng được nhận dạng rõ ràng để sử dụng hoàn toàn như
vecni. Khi điều kiện này không được đáp ứng, loại được mô tả trong
phần (a) và (b) được phân loại vào Chương 39. Các sản phẩm tương
tự loại được mô tả trong phần (c) và loại được dùng như nhũ tương
ảnh được phân loại vào nhóm 37.07.
(5)  Các loại vecni và dầu bóng từ cao su (trừ cao su tổng hợp) phân
tán hoặc tan trong môi trường không chứa nước hoặc phân tán trong
môi trường chứa nước, có thể được trộn thêm chất màu hòa tan
trong chất kết dính. Các loại vecni của mô tả này phải chứa các
thành phần khác mà làm cho chúng thích hợp để sử dụng riêng như
vecni. Khi điều kiện này không được đáp ứng, thì các sản phẩm này
thường được xếp vào Chương 40.
(C) MÀU KEO (KỂ CẢ CHẤT LÀM TRẮNG ĐỂ LÀM SẠCH
GIÀY DÉP), VÀ CÁC LOẠI THUỐC MÀU NƯỚC ĐÃ PHA CHẾ
DÙNG ĐỂ HOÀN THIỆN DA THUỘC
(1)  Màu keo chủ yếu gồm các thuốc màu hoặc các chất khoáng (ví dụ
chất làm trắng) với một lượng chất kết dính nhất định, thường rất
nhỏ như keo da hoặc casein. Các chất độn, chất khử trùng hoặc
thuốc diệt côn trùng được trộn lẫn với nhau trong một vài loại.
Màu keo bao gồm gelatin trắng, sơn keo casein và sơn keo silicat.
Chúng thường ở dạng bột, nhưng có thể là dạng nhão hoặc dạng nhũ
tương.
(2)  Chất làm trắng để làm sạch giày dép bao gồm chất làm trắng đã
được kết khối ở dạng viên nhờ chất kết dính (ví dụ dextrin hoặc keo
da). Chúng là các loại màu keo. Chúng cũng có thể ở dạng nhão hay
dạng phân tán.
(3)  Thuốc màu nước đã pha chế của loại được dùng để hoàn thiện
da thuộc là các chế phẩm tương tự màu keo thông thường, có chứa
hỗn hợp thuốc màu khoáng hoặc thuốc màu hữu cơ và một lượng
nhất định chất kết dính (ví dụ cazeinate). Chúng thường ở dạng bột
hoặc dạng nhão hoặc dạng phân tán trong nước, và đôi khi được kết
hợp với các sản phẩm để làm tăng độ bóng sáng của da thuộc.
Nhóm cũng không bao gồm:
(a)  Các chế phẩm xử lý bề mặt dùng cho tường, sàn nhà,..., từ plastic
hoặc cao su với việc thêm một tỷ lệ lớn các chất độn, và các chất
giống như matit, được dùng với dao phết, bay,....(nhóm 32.14).
(b)  Mực in, có thành phần định lượng tương tự như sơn, nhưng không
phù hợp sử dụng như sơn (nhóm 32.15).
(c)  Sơn bột chủ yếu gồm có plastics và chứa các phụ gia và thuốc màu,
thường được thi công trên các bề mặt dưới tác dụng nhiệt, có hoặc
không thi công bằng phương pháp tĩnh điện (chương 39).
32.11 - Chất làm khô đã điều chế.  
Các chất làm khô đã được điều chế là hỗn hợp dùng để tăng tốc quá trình
làm khô sơn hoặc vecni bằng cách thúc đẩy quá trình oxy hóa dầu khô.
Các sản phẩm này thường chứa chất làm khô hóa học (chì borate, kẽm
naphthenat, kẽm oleat, mangan dioxit, coban resinat...) với chất độn, ví
dụ thạch cao (chất làm khô dạng rắn), hoặc chứa dung dịch cô đặc của
các chất này trong gôm, gỗ hoặc sulphate turpentine, xăng trắng,...,(ví dụ
canxi naphthenat hoặc coban naphthenat trong white sprit) có hoặc
không có dầu làm khô (chất làm khô dạng lỏng hoặc nhão).  
Nhóm này không bao gồm:
(a)  Dầu đã đun sôi hoặc đã được biến tính về mặt hoá học khác của
nhóm 15.18.
(b)  Các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt (thông
thường Chương 28 hoặc 29).
(c)  Các resinate (nhóm 38.06).
32.12- Thuốc màu (pigments) (kể cả bột và vẩy kim loại) được phân
tán trong môi trường không có nước, ở dạng lỏng hoặc dạng
nhão, dùng để sản xuất sơn (kể cả men tráng); lá phôi dập;
thuốc nhuộm và các chất màu khác đã làm thành dạng nhất
định hoặc đã đóng gói để bán lẻ.  
3212.10 - Lá phôi dập  
3212.90 - Loại khác
(A)THUỐC MẦU (KỂ CẢ BỘT VÀ VẨY KIM LOẠI) PHÂN TÁN
TRONG MÔI TRƯỜNG KHÔNG CÓ NƯỚC, Ở DẠNG LỎNG
HAY DẠNG NHÃO, DÙNG ĐỂ SẢN XUẤT SƠN  
(KỂ CẢ MEN TRÁNG)
Phần này gồm hệ phân tán nồng độ cao của các thuốc màu (bao gồm bột
và vảy nhôm hoặc của các kim loại khác) phân tán trong môi trường
không có nước (ví dụ dầu làm khô, xăng trắng, gôm, gỗ hoặc sulphate
turpentine hoặc vecni), ở dạng lỏng hoặc nhão, được sử dụng để sản xuất
sơn hoặc men tráng.  
Nhóm này cũng gồm các các hệ phân tán nồng độ cao, đôi khi được gọi
là "tinh chất ngọc trai", của:
(a)  thuốc màu có ánh xà cừ tự nhiên (ngọc trai) chứa guanine và
hypoxanthine và thu được từ vẩy của một số loại cá, hoặc
(b)  thuốc màu có ánh xà cừ tổng hợp (ngọc trai) (ví dụ mica được phủ
bởi oxit clorua bismut hoặc dioxit titan), trong một loại vecni hoặc
dầu bóng (ví dụ dầu bóng nitrocellulose) hoặc trong một dung dịch
polyme tổng hợp.  
Các sản phẩm này được dùng trong sản xuất ngọc trai nhân tạo, sơn
móng tay hoặc sơn khác và men tráng.
(B) LÁ PHÔI DẬP
Các sản phẩm này (cũng được gọi là blocking foils) chứa các tấm mỏng
của:
(1)  Bột kim loại (kể cả bột của kim loại quý), hoặc thuốc màu, được kết
tụ với keo, gelatine hoặc thuốc màu được kết khối với keo, gelatin
hoặc chất kết dính khác, hoặc
(2)  Kim loại (kể cả kim loại quý) hoặc thuốc màu, được lắng bằng cách
bay hơi, bằng cách phóng catot,..., trên nền của vật liệu bất kỳ (ví dụ
giấy, plastics).
Chúng được sử dụng để in bìa sách, vành mũ,... bằng tay hoặc bằng máy
với sự trợ giúp của áp suất (và thường là bằng nhiệt).
Lá phôi kim loại được làm bằng cách cán hoặc đập được phân loại theo
thành phần kim loại (ví dụ, lá phôi vàng thuộc nhóm 71.08, lá phôi đồng
thuộc nhóm 74.10, lá phôi nhôm thuộc nhóm 76.07).
(C) THUỐC NHUỘM VÀ CHẤT MÀU KHÁC ĐÃ LÀM THÀNH
DẠNG NHẤT ĐỊNH HOẶC ĐÃ ĐƯỢC ĐÓNG GÓI BÁN LẺ
Đó là các sản phẩm không tạo màng, mà thông thường chứa hỗn hợp
chất màu và các chất khác (ví dụ chất pha loãng trơ, các chất hoạt động
bề mặt cho phép đẩy nhanh quá trình thẩm thấu và cố định chất màu).
Đôi khi chất cẩn màu cũng được thêm vào.  
Chúng chỉ được phân loại ở đây nếu:
(1)  Được đóng gói để bán lẻ (ví dụ, túi bột, các lọ chất lỏng) nhằm mục
đích sử dụng như thuốc nhuộm, hoặc
(2)  Ở dạng (ví dụ, viên, viên nhỏ, viên nén hoặc các hình dạng tương tự)
được thiết kế rõ ràng để bán lẻ.  
Các thuốc nhuộm bao gồm trong nhóm này chủ yếu được sử dụng cho
mục đích nội địa và thường được bán như “thuộc nhuộm gia dụng” (ví
dụ, thuốc nhuộm cho quần áo, giầy dép, nội thất). Nhóm này cũng bao
gồm các thuốc nhuộm đặc biệt được sử dụng trong các phòng thí
nghiệm, ví dụ để tạo màu mẫu phẩm cho kính hiển vi.
Nhóm này không bao gồm:  
(a)  Các loại chất màu được dùng nghệ thuật hội họa, học đường hoặc
sơn bảng hiệu, chất màu pha (modifying tints), màu trang trí và các
loại màu tương tự, ở dạng viên, tuýp, hộp, lọ, khay hay các dạng
hoặc đóng gói tương tự (nhóm 32.13).
(b)  Mực in (nhóm 32.15).
(c)  Sơn dầu dùng trang trí sân khấu hoặc để trang điểm khác (nhóm
(d)  Các loại thuốc nhuộm tóc thuộc nhóm 33.05.
(e)  Phấn màu và bút chì màu (nhóm 96.09).
32.13- Chất màu dùng cho nghệ thuật hội họa, học đường hoặc sơn
bảng hiệu, chất màu pha (modifying tints), màu trang trí và
các loại màu tương tự, ở dạng viên, tuýp, hộp, lọ, khay hoặc
các dạng hoặc đóng gói tương tự.
3213.10- Bộ màu vẽ
3213.90- Loại khác
Nhóm này gồm các loại màu và các loại sơn đã được điều chế loại được
sử dụng cho nghệ thuật hội họa, học đường hoặc sơn bảng hiệu, chất
màu pha (modifying tints), màu trang trí và các loại màu tương tự, ở
dạng viên, tuýp, hộp, lọ, khay hay các dạng hoặc đóng gói tương tự (màu
nước, màu bột, sơn dầu,...), với điều kiện chúng ở dạng viên hoặc tuýp,
bình nhỏ hoặc lọ nhỏ, khay hoặc các dạng hoặc đóng gói tương tự.
Nhóm này cũng bao gồm các chất màu bán dưới dạng bộ hoặc bộ đồ
nghề, có hoặc không có bút lông, bảng palettes, dao trộn thuốc màu, bút
đánh bóng, khay,....
Nhóm này không bao gồm các loại mực in (hoặc các loại mầu), mực ấn,
kể cả ở dạng lỏng hoặc rắn, hoặc các sản phẩm khác được phân loại vào
nhóm 32.15, phấn màu, bút chì màu và các đồ tương tự (nhóm 96.09).
32.14 - Ma tít để gắn kính, để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin
cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít
khác; các chất bả bề mặt trước khi sơn; các vật liệu phủ bề
mặt không chịu nhiệt, dùng để phủ bề mặt chính nhà, tường
trong nhà, sàn, trần nhà hoặc tương tự.
3214.10 - Ma tít để gắn kính, ma tít để ghép nối, các chất gắn
nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và
các loại ma tít khác; chất bả bề mặt trước khi sơn
3214.90 - Loại khác
Các sản phẩm của nhóm này là các chế phẩm có thành phần đa dạng mà
các thành phần này được đặc trưng cơ bản thông qua công dụng của
chúng.
Các chế phẩm này thường ở dạng nhão và chúng thường đóng rắn sau
khi sử dụng. Tuy nhiên, một số loại ở dạng rắn hoặc dạng bột mà được
làm thành dạng nhão tại thời điểm sử dụng dưới tác dụng của nhiệt (ví
dụ, làm nóng chảy) hoặc bằng cách thêm một chất lỏng (ví dụ, nước).
Các sản phẩm của nhóm này thường được thi công bằng súng phun, dao
phết, bay, bàn xoa hoặc một dụng cụ tương tự.
(I) MATÍT ĐỂ GẮN KÍNH, ĐỂ GHÉP NỐI, CÁC CHẤT
GẮN NHỰA, CÁC HỢP CHẤT DÙNG ĐỂ TRÁT, GẮN VÀ CÁC
LOẠI MATÍT KHÁC
Các chế phẩm này thường dùng để làm kín hoặc trát các vết nứt và, trong
một vài trường hợp, để bảo đảm sự kết dính giữa các mảnh. Chúng phân
biệt với keo dán và các chất dính khác bằng cách được sử dụng trong các
lớp phủ dày hoặc lớp dày. Tuy nhiên cũng cần nhớ rằng nhóm các sản
phẩm này cũng gồm các matít được sử dụng  trên da của bệnh nhân,
xung quanh vùng viêm dạ dày và chỗ rò.
Nhóm này gồm:
(1)  Matít từ dầu. Chúng chủ yếu gồm dầu khô, chất độn (dù chúng
tương tác với dầu hay là chất trơ) và các chất làm cứng. Sản phẩm
được biết đến nhiều nhất của loại này là chất gắn kết cho kính.
(2)  Matít từ sáp (sáp lutting). Chúng chứa sáp (tất cả các loại sáp)
thường được trộn thêm nhựa, shellac, cao su, nhựa este,.... nhằm làm
tăng độ kết dính. Các loại matít trong đó sáp được thay thế hoàn
toàn hay một phần bởi các sản phẩm như cồn cetyl hay cồn stearyl
cũng được coi như là matít từ sáp. Các loại matit của đoạn này bao
gồm chất gắn kết để ghép nối và chất làm kín để trám trét các
thùng,...
(3)  Matit nhựa và các chất trét nhựa xi măng. Chúng bao gồm các
loại  nhựa tự nhiên (shellac, damar, colophan) hoặc plastics (nhựa
alkyd, polyeste, nhựa coumaron-indene,...), được trộn lẫn với nhau
và thường được thêm các chất liệu khác (ví dụ, sáp, dầu, bitum, cao
su, bột gạch, vôi, xi măng hoặc các chất độn khoáng khác). Cần chú
ý rằng một số loại matit này cũng bao gồm các loại được mô tả dưới
đây (ví dụ, các loại từ nhựa hoặc cao su).  Các loại matít và chất gắn
nhựa xi măng của nhóm này được sử dụng cho nhiều mục đích, như
chất độn trong công nghiệp kỹ thuật điện hoặc cho gắn kính, kim
loại hoặc đồ sứ. Chúng thường được dùng sau khi được nấu chảy
bằng các nung nóng.
(4)  Matít từ thủy tinh lỏng. Chúng thường được điều chế tại thời điểm
sử dụng bằng cách trộn lẫn hai thành phần. Một thành phần chứa
dung dịch nước của natri silicat và kali-natri silicat và thành phần
còn lại là chất độn (bột thạch anh, cát, sợi amiang,...). Chúng thường
được sử dụng để gắn các bugi đánh lửa, để gắn kín các khối hay
carte của động cơ, ống khói, bộ tản nhiệt,...., và để làm kín hoặc bịt
lại các khớp nối.  
(5)  Matít từ oxy clorua kẽm. Chúng thu được từ oxit kẽm và clorua
kẽm, thường được trộn thêm các chất hãm và, trong một số trường
hợp, được thêm các chất độn. Chúng được sử dụng để làm kín các lỗ
hoặc các vết nứt của gỗ, gốm sứ,....
(6)  Matít từ oxyclorua magiê. Chúng thu được từ clorua magiê và oxit
magiê và được trộn thêm các chất độn (ví dụ, bột gỗ). Chúng chủ
yếu được dùng để bịt lại các vết nứt trên các đồ vật gỗ.
(7)  Matít từ lưu huỳnh. Chúng gồm lưu huỳnh được trộn với các chất
độn trơ. Loại này thường ở dạng rắn, và được sử dụng để làm cứng,
chống thấm, chống trám có tính chống ăn mòn axit, và cũng làm liên
kết hoặc cố định các mảnh một chỗ.
(8)  Matít từ vữa (plaster). Chúng ở dạng bột sợi và bột vón, được tạo
bởi hỗn hợp với tỷ lệ khoảng 50 % vữa và các chất khác như sợi
amiang, cellulose gỗ, sợi thuỷ tinh hoặc cát. Chúng được làm thành
dạng nhão bằng cách cho thêm nước, và được sử dụng để bắt vít,
chốt, hay móc,...
(9) Matít từ plastics (ví dụ, polyeste, polyurethan, silicon và nhựa
epoxy) có hoặc không chứa một tỷ lệ cao (đến 80%) các chất độn
khác nhau được thêm vào (ví dụ, đất sét, cát và các silicat khác, titan
dioxit, bột kim loại). Một số loại của các matít này được sử dụng sau
khi bổ sung thêm chất làm cứng. Một số mattit khác không đóng rắn
và vẫn dính sau khi sử dụng (ví dụ, chất bịt kín cách âm). Một số
khác đóng rắn do sự bay hơi dung môi, sự đông đặc (matit nóng
chảy bởi nhiệt), bằng cách xử lý sau khi để ngoài không khí hoặc
bằng phản ứng của các thành phần trộn với nhau (matit nhiều thành
phần).
Các sản phẩm có bản chất này thì được phân loại trong nhóm này chỉ khi
chúng được sử dụng hoàn toàn như matit. Matit có thể sử dụng để gắn
một số khớp nối trong xây dựng hoặc sửa chữa nhà, để gắn hoặc sửa
chữa các đồ bằng thủy tinh, gốm sứ hoặc kim loại, như chất độn và chất
làm dùng làm kín thùng xe hoặc, trong một số trường hợp làm chất kết
dính để liên kết các bề mặt khác nhau cùng với nhau.
(10) Matít từ oxit kẽm và glycerol. Chúng được sử dụng làm các chất
trám trét chịu axit, để gắn các mảnh sắt vào đồ gốm sứ và để nối các
ống.
(11) Matít từ cao su. Những chất này có thể gồm một chất làm đặc cao
su thêm các chất độn (graphit, silicat, carbonat,...) và trong một vài
trường hợp thì thêm một dung môi hữu cơ. Sau khi trộn thêm một
chất đóng rắn, đôi khi chúng được sử dụng để tạo các lớp trám bảo
vệ mền dẻo (bền với các tác nhân hoá học và dung môi), và cũng
dùng để trát. Các loại matit này cũng có thể bao gồm cao su phân tán
trong môi trường nước, có chứa thêm chất màu, chất hóa dẻo, chất
độn, chất kết dính hoặc chất chống oxi hóa, được sử dụng để gắn kín
các lon kim loại.
(12) Các loại matít dùng cho da. Loại này có thể được tạo bởi, ví dụ
carboxymethylcellulose natri, pectin, gelatin, và polyisobutylen
trong một dung môi hữu cơ như cồn isopropyl. Chúng được sử dụng
trên da người bệnh xung quanh chỗ viêm dạ dày và chỗ rò như là
chất làm kín để chống rò giữa da và túi đựng chất thải. Chúng không
có tác dụng phòng bệnh hay chữa bệnh.  
(13) Các loại sáp gắn. Chúng chủ yếu gồm một hỗn hợp các vật liệu
nhựa (ví dụ shellac, rosin), cùng với tỷ lệ (thường là cao) các chất
độn khoáng và các chất màu. Chúng được sử dụng làm kín lỗ, để
gắn các dụng cụ, để gắn các tài liệu...
(II)  CÁC CHẤT BẢ BỀ MẶT TRƯỚC KHI SƠN; CÁC CHẾ
PHẨM PHỦ BỀ MẶT KHÔNG CHỊU NHIỆT DÙNG ĐỂ PHỦ BỀ
MẶT CHÍNH NHÀ, TƯỜNG TRONG NHÀ, SÀN, TRẦN NHÀ
HOẶC TƯƠNG TỰ
Các sản phẩm này được phân biệt với matít ở trên, nhìn chung chúng
được dùng cho các bề mặt lớn hơn. Mặt khác, chúng khác với sơn, vecni
và các sản phẩm tương tự do chúng chứa một lượng lớn chất độn và
thuốc màu nếu có; lượng này thường cao hơn nhiều so với lượng chất kết
dính và dung môi hoặc chất lỏng phân tán.  
(A) CÁC CHẤT BẢ BỀ MẶT TRƯỚC KHI SƠN.
Các chất trám trét của thợ sơn được dùng để xử lý các bề mặt (ví dụ, mặt
tường bên trong nhà)  trước khi sơn bằng cách làm phẳng các khiếm
khuyết, và nếu cần thì trám trét các vết nứt, lỗ hoặc những chỗ gồ ghề
trên bề mặt tường. Sơn được quét lên bề mặt sau khi đông cứng và được
xả nhám.
Nhóm này cũng bao gồm các chất trám trét từ dầu, cao su, keo,... Các
chất trám trét từ plastics với thành phần tương tự như thành phần của
một số loại matít cùng loại cũng được sử dụng để gắn thùng xe,....
(B)  CÁC CHẤT BẢ BỀ MẶT KHÔNG CHỊU NHIỆT.
Các chất bả bề mặt không chịu nhiệt được dùng cho các bề mặt ngoài,

tường bên trong nhà, sàn và trần nhà, trên thành và dưới nền của bể
bơi,...để chống thấm và làm cho bề mặt đẹp hơn. Nhìn chung chúng vẫn
được nhìn thấy như là bề mặt cuối cùng.
Nhóm này bao gồm:
(1) Các chế phẩm bột chứa tỷ lệ bằng nhau của vữa và cát với các chất
hóa dẻo.
(2) Các chế phẩm dạng bột từ thạch anh và ximăng, với một lượng nhỏ
chất hóa dẻo được thêm vào, được dùng để ốp tường hoặc lát nền
sau khi thêm nước.
(3) Các chế phẩm dạng nhão tạo bởi cách phủ các chất độn khoáng (hạt
đá cẩm thạch, thạch anh, hoặc hỗn hợp của thạch anh và silicat) với
một chất kết dính (plastic hoặc resin), và được thêm thuốc mầu, và
một lượng nước hoặc dung môi thích hợp.
(4) Các chế phẩm lỏng chứa các chất như: cao su tổng hợp hoặc polyme
acrylic, sợi amiang được trộn với một thuốc màu, và nước. Loại này
được dùng trên bề mặt tường ngoài nhà với cọ sơn hoặc súng phun
và tạo nên một lớp dày hơn so với lớp sơn.
Trong trường hợp các sản phẩm được miêu tả ở trên, việc pha trộn các
thành phần khác nhau, hoặc việc thêm một số thành phần, phải được
thực hiện tại thời điểm sử dụng. Những sản phẩm như vậy vẫn được
phân loại trong nhóm này với điều kiện các thành phần là:
(i)  có sự liên quan đến cách chúng được sắp xếp, dễ dàng để nhận biết
chúng như là được sử dụng cùng nhau mà không cần đóng gói lại;
(ii)  được xuất hiện cùng với nhau; và
(iii)  Có thể nhận biết, bằng đặc tính chúng hoặc bằng tỷ lệ cân đối trong
sản phẩm mà chúng hiện diện, coi như chất bổ trợ cho nhau.
Tuy nhiên, trong trường hợp các sản phẩm mà được trộn thêm một chất
đóng rắn tại thời điểm sử dụng, nếu như không có chất đóng rắn này thì
các sản phẩm này vẫn thuộc nhóm này, với điều kiện thành phần của

chúng hoặc cách đóng gói chúng được nhận biết một cách rõ ràng là để
sử dụng trong điều chế chất gắn kết, matít, chất trám trét hoặc chế phẩm
xử lý bề mặt.
Nhóm này không bao gồm:
(a)  Nhựa tự nhiên, ở một số nước còn được gọi là “matít” (nhóm
(b)  Vữa, vôi và xi măng trong các nhóm 25.20, 25.22 hoặc 25.23.
(c)  Matit asphalt và các loại matít bitum khác (nhóm 27.15).
(d)  Xi măng nha khoa và các chất hàn nha khoa khác (nhóm 30.06).
(e)  Hắc ín cho quá trình ủ bia, và các sản phẩm khác thuộc nhóm 38.07.
(f)  Ximăng và vữa chịu lửa (nhóm 38.16).
(g) Các chất kết dính đã điều chế dùng cho khuôn hay lõi khuôn đúc
(nhóm 38.24).