CHU GIAI 2022_ TU CHUONG 23 DEN CHUONG 27
Chương 23
Phế liệu và phế thải từ ngành công nghiệp thực phẩm; thức ăn gia
súc đã chế biến
Chú giải.
1. Nhóm 23.09 kể cả các sản phẩm dùng trong chăn nuôi động vật,
chưa được ghi hoặc chi tiết ở nơi khác, thu được từ quá trình chế
biến nguyên liệu gốc thực vật hoặc động vật đến mức các nguyên
liệu đó mất hết tính chất cơ bản của nguyên liệu ban đầu, trừ các
phế liệu thực vật, phế thải thực vật và các sản phẩm phụ từ quá
trình chế biến đó.
Chú giải phân nhóm.
1.- Theo mục đích của phân nhóm 2306.41, khái niệm “hạt cải dầu (rape
seeds hoặc colza seeds) có hàm lượng axit eruxic thấp” có nghĩa là các
loại hạt đã được định nghĩa trong Chú giải phân nhóm 1 của Chương 12.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm rất nhiều loại phế liệu và phế thải từ quá trình chế
biến nguyên liệu thực vật được sử dụng trong công nghiệp thực phẩm và
cả một số sản phẩm phế liệu có nguồn gốc động vật. Phần lớn các loại
sản phẩm này đều được sử dụng như nhau và có thể nói là riêng biệt, làm
thức ăn chăn nuôi, hoặc dưới dạng đơn lẻ hoặc hỗn hợp với một số chất
khác, cho dù là một số có thể sử dụng được làm thức ăn cho người. Một
số sản phẩm (ví dụ, cặn rượu vang, cáu rượu, khô dầu) cũng được sử
dụng trong công nghiệp.
Thuật ngữ trong Chương này "viên" để chỉ tất cả các loại sản phẩm được
nén có dạng trụ, miếng tròn... hoặc bằng áp lực hoặc bằng việc cho thêm
một chất kết dính (mật rỉ đường, chất có tinh bột,...) với hàm lượng
không quá 3% tính theo trọng lượng.
23.01 - Bột mịn, bột thô và viên, từ thịt hoặc phụ phẩm dạng thịt sau
giết mổ, từ cá hoặc từ động vật giáp xác, động vật thân mềm
hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống khác, không thích
hợp dùng làm thức ăn cho người; tóp mỡ.
2301.10 - Bột mịn, bột thô và viên, từ thịt hoặc phụ phẩm dạng thịt
sau giết mổ; tóp mỡ
2301.20 - Bột mịn, bột thô và viên, từ cá hoặc từ động vật giáp xác,
động vật thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không xương
sống khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Bột mịn và bột thô, không sử dụng làm thức ăn cho người, thu được
từ quá trình chế biến, hoặc các loại động vật còn nguyên con (kể cả
gia cầm, động vật có vú ở biển, cá hoặc động vật giáp xác, động vật
thân mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống khác) hoặc
các sản phẩm động vật (như thịt hoặc phụ phẩm dạng thịt sau giết
mổ) trừ xương, móng guốc, sừng, mai, vỏ,... Các sản phẩm này (chủ
yếu thu được từ các lò mổ, các xí nghiệp nổi trên biển chế biến ngay
tại chỗ các sản phẩm đánh bắt, ngành công nghiệp đồ hộp hoặc đóng
gói,...) thường được xử lý bằng hơi nước nóng và được ép hoặc được
xử lý với một dung môi để rút dầu và mỡ. Phế liệu sau đó được làm
khô và tiệt trùng rất lâu ở nhiệt độ cao, và cuối cùng được nghiền.
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm trên ở dạng viên (xem Chú
giải Tổng quát của Chương này).
Bột, bột mịn và viên của nhóm này thường được dùng chủ yếu làm
thức ăn chăn nuôi, nhưng cũng có thể được sử dụng cho các mục đích
khác (ví dụ, làm phân bón).
Nhóm này loại trừ bột mịn và bột thô từ côn trùng, không thích hợp
dùng làm thức ăn cho người (nhóm 05.11).
(2) Tóp mỡ, là sản phẩm tạo thành bằng các mô màng còn lại sau quá
trình rán mỡ lợn hoặc mỡ một số động vật khác. Tóp mỡ chủ yếu
được dùng để chế biến thức ăn chăn nuôi (ví dụ, bánh bích quy cho
chó), tuy nhiên, tóp mỡ vẫn được phân loại ở đây ngay cả khi chúng
có thể được sử dụng làm thức ăn cho người.
23.02 - Cám, tấm và phế liệu khác, ở dạng viên hoặc không ở dạng
viên, thu được từ quá trình giần, sàng, rây, xay xát hoặc chế
biến cách khác từ các loại ngũ cốc hoặc các loại cây họ đậu.
- Từ ngô
- Từ lúa mì
- Từ ngũ cốc khác
- Từ cây họ đậu
Nhóm này bao gồm:
(A) Cám, tấm và phế liệu khác của qui trình xay xát hạt ngũ cốc.
Mục này chủ yếu bao gồm các sản phẩm phụ thu được từ các quá
trình xay xát lúa mì, mạch đen, đại mạch, yến mạch, ngô, lúa, gạo,
hạt cao lương hoặc kiều mạch, mà các loại này không đáp ứng
được những điều kiện về hàm lượng tinh bột và hàm lượng tro
được quy định tại Chú giải 2 (A) của Chương 11.
Các sản phẩm này chủ yếu là:
(1) Cám gồm có phần vỏ ngoài của hạt ngũ cốc dính một phần
nội nhũ và một ít bột.
(2) Tấm (hoặc hạt tấm), thu được từ ngũ cốc nghiền như là một
sản phẩm phụ trong chế biến bột mịn và chứa chủ yếu các
phần rất mịn của vỏ hạt còn sót lại sau khi rây, sàng và một ít
bột.
(B) Phế liệu thu được từ việc sàng, sảy hoặc từ các công đoạn xử lý
khác của hạt ngũ cốc. Phế liệu chọn lọc thu được từ quá trình
sàng sảy trước khi xay xát, chủ yếu gồm có:
hạt ngũ cốc cơ bản nhưng nhỏ hơn, biến dạng, vỡ mảnh hoặc
vụn.
hạt của một số cây khác lẫn vào với hạt ngũ cốc cơ bản;
mảnh vụn của lá, cành, chất khoáng,...
Mục này cũng bao gồm:
(1) Các phế liệu từ quá trình làm sạch thùng chứa, hầm chứa của tàu,
thuyền..., có thành phần tương tự với các thành phần nêu trên.
(2) Vỏ lụa của gạo trong công đoạn tẩy trắng gạo.
(3) Các phế liệu thu được từ quá trình tách vỏ hạt, nghiền mảnh,
nghiền vụn, đánh bóng, sắt lát hoặc nghiền sơ hạt ngũ cốc.
(C) Các phế liệu và phế thải của loại tương tự thu được từ quá
trình nghiền hoặc từ các công đoạn chế biến khác của các loại
cây họ đậu.
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm trên dưới dạng viên (xem Chú
giải Tổng quát của Chương này).
Nhóm này cũng bao gồm phần thu được từ việc nghiền ngô còn nguyên
bắp đã hoặc chưa được bóc lá bao, không thỏa mãn tiêu chí về hàm
lượng tinh bột và hàm lượng tro yêu cầu đối với các sản phẩm xay xát
của ngô tại Chú giải 2 (A) của Chương 11.
Vỏ, trấu ngũ cốc thu được trong quá trình đập ngũ cốc, được phân loại
vào nhóm 12.13.
Nhóm này không bao gồm khô dầu hoặc các loại phế liệu rắn khác thu
được từ công đoạn chiết xuất chất béo hoặc dầu thực vật hoặc vi sinh vật
(các nhóm từ 23.04 đến 23.06).
23.03 - Phế liệu từ quá trình sản xuất tinh bột và phế liệu tương tự,
bã ép củ cải đường, bã mía và phế liệu khác từ quá trình sản
xuất đường, bã và phế liệu từ quá trình ủ hoặc chưng cất, ở
dạng viên hoặc không ở dạng viên.
2303.10 - Phế liệu từ quá trình sản xuất tinh bột và phế liệu
tương tự
2303.20 - Bã ép củ cải đường, bã mía và phế liệu khác từ quá
trình sản xuất đường
2303.30 - Bã và phế liệu từ quá trình ủ hoặc chưng cất
Nhóm này có thể kể đến:
(A) Phế liệu từ quá trình sản xuất tinh bột và các phế liệu tương tự
(từ ngô, gạo, khoai tây,...) có chứa chủ yếu là các chất xơ và
protein thường ở dạng viên hoặc bột thô, đôi khi có dạng bánh.
Chúng được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi hoặc làm phân bón;
một số trong các phế liệu này (ví dụ, nước ngâm ngô) được sử
dụng làm môi trường cấy để sản xuất thuốc kháng sinh.
(B) Bã ép củ cải đường là phế liệu còn lại sau khi đường đã được
chiết xuất từ củ cải đường. Bã này được phân loại trong nhóm này
có thể ở dạng ẩm hoặc khô nhưng nếu thêm mật vào bã hoặc chế
biến cách khác thành thức ăn chăn nuôi thì bã ép củ cải đường lại
thuộc nhóm 23.09.
(C) Bã mía là loại phế liệu bao gồm các phần xơ, thớ của mía đường
thu được sau công đoạn ép nước. Bã mía được sử dụng trong công
nghiệp giấy hoặc trong chế biến thức ăn chăn nuôi.
(D) Các phế liệu khác từ sản xuất đường thuộc nhóm này gồm bọt
hớt ở dung dịch để lắng trong, các phế liệu đọng lại trong các dụng
cụ lọc ép...
(E) Bã và phế liệu của quá trình ủ hoặc chưng cất, bao gồm chủ
yếu:
(1) Bã ngũ cốc (đại mạch, mạch đen...), thu được trong quá trình
sản xuất bia và bao gồm phần hạt đã được ép kiệt đọng lại
trong các thùng ủ sau khi chắt nước hèm.
(2) Mầm của malt tách ra từ hạt malt trong quá trình sấy trong lò.
(3) Phế thải của hoa bia (houblon) đã hoàn toàn được ép kiệt.
(4) Bã phế liệu của một số công đoạn chưng cất rượu từ các loại
hạt, khoai tây...
(5) Bã làm từ củ cải đường (phế thải thu được sau quá trình
chưng cất mật của củ cải đường).
(Tất cả các sản phẩm này vẫn được phân loại trong nhóm này khi ở trạng
thái khô hoặc ẩm.)
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm kể trên ở dạng viên (xem phần
Chú giải Tổng quát của Chương này).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Mật thu được từ quá trình chiết xuất hoặc tinh chế đường (nhóm
(b) Men ỳ hoặc men đã qua sử dụng (nhóm 21.02).
(c) Các loại muối kali thô thu được khi đốt hoặc rửa phế liệu của
mật củ cải đường (nhóm 26.21).
(d) Bột giấy từ bã mía đường (nhóm 47.06).
23.04 - Khô dầu và phế liệu rắn khác, đã hoặc chưa xay hoặc ở dạng
viên, thu được từ quá trình chiết xuất dầu đậu tương.
Nhóm này bao gồm các loại khô dầu và các phế liệu rắn khác còn lại
sau khi chiết xuất dầu từ hạt đậu tương bằng dung môi hoặc bằng ép
hoặc ép quay. Các phế liệu này là loại thức ăn chăn nuôi có giá trị.
Các phế liệu được phân loại trong nhóm này có thể có dạng bánh dẹt
(bánh tròn mỏng), dạng bột thô hoặc dạng viên (xem phần Chú giải
Tổng quát của Chương này).
Nhóm này cũng bao gồm bột mịn của hạt đậu tương đã khử chất béo
không có kết cấu thích hợp dùng làm thức ăn cho người.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Cáu, cặn dầu (nhóm 15.22).
(b) Protein cô đặc thu được bằng cách loại bỏ bớt một số thành phần
của bột đậu tương đã khử chất béo (sử dụng như là phụ gia trong các chế
phẩm thực phẩm) và bột đậu tương đã được tạo kết cấu (nhóm 21.06).
23.05 - Khô dầu và phế liệu rắn khác, đã hoặc chưa xay hoặc ở dạng
viên, thu được từ quá trình chiết xuất dầu lạc.
Chú giải Chi tiết nhóm 23.04 được áp dụng, với những sửa đổi chi tiết
phù hợp, với nhóm này.
23.06 - Khô dầu và phế liệu rắn khác, đã hoặc chưa xay hoặc ở dạng
viên, thu được từ quá trình chiết xuất chất béo hoặc dầu
thực vật hoặc vi sinh vật, trừ các loại thuộc nhóm 23.04 hoặc
- Từ hạt bông
- Từ hạt lanh
- Từ hạt hướng dương
- Từ hạt cải dầu (Rape seeds hoặc colza seeds):
- - Từ hạt cải dầu (Rape seeds hoặc colza seeds)
có hàm lượng axit eruxic thấp
- - Loại khác
- Từ dừa hoặc cùi dừa
- Từ hạt hoặc nhân hạt cọ
- Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại khô dầu và các phế liệu rắn khác, trừ các
loại thuộc nhóm 23.04 hoặc 23.05, còn lại sau khi chiết xuất dầu từ hạt
có dầu hoặc dầu vi sinh vật, quả có dầu và mầm ngũ cốc bằng dung môi
hoặc bằng ép hoặc ép quay.
Nhóm này cũng bao gồm cám gạo đã được khử dầu là loại phế liệu thu
được sau khi chiết xuất dầu từ cám gạo.
Một số khô dầu và các phế liệu rắn khác (khô dầu hạt lanh, hạt bông,
vừng, cùi dừa,...) là một loại thức ăn chăn nuôi có giá trị; một số khác (ví
dụ, khô dầu thầu dầu) không thích hợp làm thức ăn chăn nuôi và được sử
dụng làm phân bón; một số khác (ví dụ, khô dầu hạnh nhân đắng và khô
dầu mù tạt) được sử dụng để chiết xuất tinh dầu.
Phế liệu được phân loại trong nhóm này có thể có dạng phiến dẹt (bánh),
dạng bột thô hoặc viên (xem phần Chú giải Tổng quát của Chương này).
Nhóm này cũng bao gồm loại bột đã khử dầu chưa được tạo liên kết,
thích hợp dùng làm thức ăn cho người.
Nhóm này không bao gồm cặn dầu (nhóm 15.22).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 2306.41
Liên quan đến “hạt cải dầu (rape seeds hoặc colza seeds) có hàm lượng
axit erucic thấp”, xem Chú giải phân nhóm 1 của Chương 12 và Chú giải
nhóm 12.05.
23.07 - Bã rượu vang; cặn rượu.
Bã rượu vang là phế liệu nhầy đọng dưới đáy thùng chứa trong quá
trình lên men và chín của rượu vang. Bằng phương pháp ép lọc thu được
bã rượu vang ở dạng rắn. Bã rượu vang được làm khô có thể ở dạng bột
hoặc dạng hạt, hoặc ở dạng mảnh vỡ không đều.
Cặn rượu là phần đọng lại hình thành trong các thùng rượu vang trong
quá trình lên men của hèm nho, hoặc trong các thùng chứa rượu vang.
Cặn rượu thường có dạng bột hoặc vẩy hoặc các mảnh tinh thể với hình
những dạng không đều; nó thay đổi về màu sắc từ xám đến đỏ đậm. Sau
lần rửa thứ nhất, cặn rượu có dạng các hạt tinh thể mầu vàng xám nhạt
hoặc mầu nâu đỏ nhạt, mầu sắc phụ thuộc vào mầu rượu vang. Cặn rượu
đã được rửa này cũng được phân loại trong nhóm này.
Cả bã rượu vang và cặn rượu vang (kể cả cặn rượu đã rửa) là các tartrate
hydro kali thô có chứa một tỉ lệ khá cao tartrate canxi. Chúng được dùng
như nguồn bitatrate kali (kem tartar) ở dạng tinh thể trắng hay bột tinh
thể, không mùi, có vị chua và không biến chất ngoài không khí. Bã rượu
vang được dùng trong chế biến thức ăn chăn nuôi, trong khi cặn rượu
được sử dụng làm thuốc cẩn màu trong công nghiệp nhuộm.
Nhóm này không bao gồm kem tartar (nhóm 29.18) và tartrate canxi
(nhóm 29.18 hoặc 38.24, tuỳ theo từng trường hợp).
23.08 - Nguyên liệu thực vật và phế liệu thực vật, phế liệu và sản 23.08 - Vegetable materials and vegetable waste, vegetable residues
phẩm phụ từ thực vật, ở dạng viên hoặc không ở dạng viên,
loại dùng trong chăn nuôi động vật, chưa được chi tiết hoặc
ghi ở nơi khác.
Miễn là chúng chưa được chi tiết ở bất kỳ nhóm nào khác trong Danh
mục và là loại được sử dụng cho chăn nuôi động vật, nhóm này bao gồm
các sản phẩm thực vật, phế thải thực vật, và phế liệu và sản phẩm phụ từ
quá trình chế biến công nghiệp các vật liệu thực vật để chiết xuất một số
thành phần của chúng.
Nhóm này có thể kể đến:
(1) Sồi và hạt dẻ ngựa.
(2) Lõi bắp ngô sau khi tách hạt; thân và lá ngô.
(3) Cọng, lá của cà rốt hoặc của củ cải đường.
(4) Phần vỏ ngoài của rau (vỏ quả đậu hoặc vỏ đậu Hà Lan,...).
(5) Các phế thải từ quả (như vỏ và lõi táo, lê...) và bã quả (từ việc ép
nho, táo, lê, quả chi cam quýt,...), ngay cả khi chúng cũng có thể
được sử dụng để chiết xuất lấy pectine.
(6) Cám thu được như là sản phẩm phụ từ việc nghiền hạt mù tạt.
(7) Các phế liệu còn lại sau khi chế biến các chất thay thế cà phê (hoặc
chiết xuất của chúng) từ hạt ngũ cốc hoặc từ nguyên liệu thực vật
khác.
(8) Các sản phẩm phụ thu được bằng cách chưng cô các loại nước phế
thải của quá trình chế biến nước ép quả chi cam quýt, đôi khi được
gọi là mật quả chi cam quýt.
(9) Phế liệu thu được từ quá trình thuỷ phân lõi ngô để thu chất
2-furaldehyde, được gọi là “bột lõi ngô đã thuỷ phân”.
Các sản phẩm của nhóm này cũng có thể ở dạng viên (xem Chú giải
Tổng quát của Chương này).
23.09 - Chế phẩm dùng trong chăn nuôi động vật.
2309.10 - Thức ăn cho chó hoặc mèo, đã đóng gói để bán lẻ
2309.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các thức ăn gia súc đã được làm ngọt và thức ăn
chăn nuôi đã được chế biến có thành phần gồm hỗn hợp của một số loại
chất dinh dưỡng được sử dụng:
(1) để cung cấp cho động vật một khẩu phần ăn trong ngày hợp lý và
cân bằng (thức ăn hoàn chỉnh);
(2) để đạt được một chế độ ăn hàng ngày phù hợp bằng cách bổ sung
vào thức ăn cơ bản được sản xuất ở trang trại bằng các chất hữu cơ
hoặc vô cơ (thức ăn bổ sung); hoặc
(3) để sử dụng trong sản xuất các loại thức ăn chăn nuôi hoàn chỉnh
hoặc thức ăn chăn nuôi bổ sung.
Nhóm này bao gồm các sản phẩm dùng trong chăn nuôi động vật, thu
được từ quá trình chế biến các nguyên liệu thực vật hoặc động vật đến
một mức độ mà chúng mất đi các đặc trưng cơ bản của các nguyên liệu
ban đầu, ví dụ, trong trường hợp các sản phẩm thu được từ các nguyên
liệu thực vật, các sản phầm này đã được xử lý đến mức mà cấu trúc tế
bào đặc trưng của nguyên liệu thực vật ban đầu không còn được nhận ra
dưới kính hiển vi.
(I) THỨC ĂN GIA SÚC ĐÃ ĐƯỢC LÀM NGỌT
Thức ăn gia súc đã được làm ngọt là một hỗn hợp của mật hoặc các chất
làm ngọt tương tự khác (thường trên 10% tính theo trọng lượng) với ít
nhất là một chất dinh dưỡng khác. Thức ăn này chủ yếu được dùng cho
gia súc, cừu, ngựa hoặc lợn.
Bên cạnh các chất có giá trị dinh dưỡng cao, mật làm tăng vị ngon của
thực phẩm và vì vậy mở rộng việc sử dụng các sản phẩm có giá trị dinh
dưỡng thấp như rơm, vỏ hay trấu ngũ cốc, vẩy hạt lanh và bã quả đã ép
nước mà động vật không thích ăn.
Theo đó, các chế phẩm được làm ngọt này thường được dùng trực tiếp
làm thức ăn cho động vật. Tuy nhiên, một số trong các chế phẩm này là
sự kết hợp của mật với các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao như
cám lúa mì, khô dầu hạt cọ hoặc khô dầu dừa, và được dùng để chế biến
các loại thức ăn chăn nuôi hoàn chỉnh hoặc thức ăn chăn nuôi bổ sung.
(II) CÁC CHẾ PHẨM KHÁC
(A) CÁC CHẾ PHẨM ĐƯỢC SẢN XUẤT ĐỂ CUNG CẤP CHO
ĐỘNG VẬT TOÀN BỘ CÁC YẾU TỐ DINH DƯỠNG CẦN
THIẾT ĐỂ BẢO ĐẢM MỘT KHẨU PHẦN ĂN HÀNG NGÀY
HỢP LÝ VÀ CÂN ĐỐI (THỨC ĂN CHĂN NUÔI
HOÀN CHỈNH)
Đặc trưng của các chế phẩm này là chúng có chứa các sản phẩm từ mỗi
trong số ba nhóm chất dinh dưỡng được mô tả sau đây:
(1) Các chất dinh dưỡng "năng lượng", bao gồm các chất carbohydrate
cao (calo cao) như tinh bột, đường, cellulose, và chất béo, được cơ
thể động vật “đốt cháy” và chuyển hoá thành năng lượng cần thiết
cho sự sống và đạt các mục tiêu của các nhà chăn nuôi. Thí dụ ta
có thể kể ra đây một số thức ăn thuộc loại này như ngũ cốc, cải có
ít đường, mỡ động vật, rơm.
(2) Các chất dinh dưỡng giầu protein hoặc muối khoáng được gọi là
“các chất để xây dựng cơ thể”. Khác với các chất dinh dưỡng năng
lượng ở mục trên, các chất dinh dưỡng này không bị “đốt cháy”
trong cơ thể động vật mà tham gia vào việc xây dựng các mô hoặc
vào các quá trình khác trong cơ thể vật (sản sinh sữa, trứng...).
Chúng chủ yếu bao gồm protein hoặc muối khoáng. Ta có thể kể ví
dụ ra đây một số chất giầu protein được sử dụng cho mục đích này
là các loại rau đậu, bã của quá trình ủ, khô dầu, các sản phẩm phụ
của sữa.
Muối khoáng chủ yếu tham gia vào quá trình phát triển xương và
đối với gia cầm là quá trình làm vỏ trứng. Loại thông dụng nhất
được sử dụng có chứa canxi, phosphor, chlorine, natri, kali, sắt,
iốt,...
(3) Các chất dinh dưỡng "chức năng". Các loại này là các chất thúc
đẩy việc hấp thụ carbohydrate, protein và muối khoáng. Chúng bao
gồm vitamin, các nguyên tố vi lượng và kháng sinh. Nếu thiếu
hoặc không có các chất dinh dưỡng này sẽ dẫn đến rối loạn về sức
khoẻ của động vật.
Ba nhóm chất dinh dưỡng này đáp ứng nhu cầu về thực phẩm đầy đủ của
động vật. Hỗn hợp và tỉ lệ các chất dinh dưỡng này phụ thuộc vào cách
sản xuất sản phẩm cho động vật.
(B) CÁC CHẾ PHẨM SỬ DỤNG ĐỂ BỔ SUNG (LÀM CÂN ĐỐI)
CÁC SẢN PHẨM THỨC ĂN CHĂN NUÔI ĐƯỢC CHẾ BIẾN Ở
TRANG TRẠI (THỨC ĂN CHĂN NUÔI BỔ SUNG)
Các loại thức ăn được chế biến ở trang trại thường là thấp về protein,
muối khoáng hoặc vitamin. Các chế phẩm được dùng để bù vào các phần
thiếu hụt trên, để đảm bảo một khẩu phần ăn cho động vật được cân
bằng, gồm protein, muối khoáng hoặc vitamin, có thêm các loại thức ăn
bổ sung năng lượng (carbohydrate) được coi là chất mang cho các thành
phần khác.
Tuy rằng, về mặt chất lượng, các chế phẩm này có các thành phần tương
tự như các thành phần của các chế phẩm được nêu ở mục (A) trên đây,
chúng khác các chế phẩm trên ở chỗ trong thành phần của chúng có chứa
hàm lượng tương đối lớn của một loại chất dinh dưỡng cụ thể.
Nhóm này bao gồm:
(1) Các sản phẩm hòa tan được chiết xuất từ cá hoặc động vật có vú ở
biển có dạng dung dịch lỏng hoặc nhầy hoặc dưới dạng bột nhão
hoặc dạng khô, nhờ quá trình cô đặc và ổn định lượng nước còn lại
(có chứa các thành phần hòa tan trong nước như protein, vitamin
B, muối,...), và được sản xuất từ dầu hoặc bột thô từ cá hoặc từ
động vật có vú ở biển.
(2) Các protein cô đặc của lá cây có màu xanh và phần phân đoạn xanh
của chất cô đặc protein từ lá cây, thu được từ xử lý bằng nhiệt nước
ép cỏ alfalfa (cỏ linh lăng).
(C) CÁC CHẾ PHẨM SỬ DỤNG TRONG CHẾ BIẾN THỨC ĂN
CHĂN NUÔI HOÀN CHỈNH HOẶC THỨC ĂN CHĂN NUÔI BỔ
SUNG ĐƯỢC MÔ TẢ Ở MỤC (A) VÀ (B) Ở TRÊN
Các chế phẩm này, được biết đến với tên thương mại là theo sản phẩm
"hỗn hợp vi lượng", nói chung, là hỗn hợp các thành phần gồm một số
chất (đôi khi được gọi là chất phụ gia) mà bản chất và tỉ lệ thay đổi theo
yêu cầu về sản phẩm cho động vật. Các chất này được chia thành ba loại:
(1) Các chất này giúp cho tiêu hoá dễ dàng thức ăn và nói chung, bảo
đảm rằng động vật tiêu thụ thức ăn chăn nuôi được dễ dàng và bảo
vệ sức khoẻ của chúng: vitamin hoặc tiền vitamin, amino axit,
kháng sinh, kháng trùng cầu, chất vi lượng, chất tạo nhũ, hương
liệu và chất kích thích ngon miệng...
(2) Các chất này được dùng để bảo quản thức ăn chăn nuôi (nhất là các
chất béo) cho đến khi được đưa ra cho động vật ăn: chất ổn định
tính, chất chống oxy hoá,...
(3) Các chất giữ vai trò là chất mang và có thể gồm một hoặc nhiều
chất dinh dưỡng hữu cơ (bột mịn hoặc bột thô của sắn hoặc đậu
tương, bột xay mót, nấm men, các phế liệu khác của công nghiệp
thực phẩm,...) hoặc các chất vô cơ (ví dụ, magiê, đá phấn, cao lanh,
muối, phosphat).
Các chất cô đặc của các chất được mô tả tại điểm (1) nêu trên và bản
chất của các chất mang được quy định để đảm bảo, đặc biệt, các chất
được trộn vào thức ăn chăn nuôi được phân tán và trộn một cách đồng
đều.
Miễn là chúng là loại sử dụng trong chăn nuôi động vật, nhóm này bao gồm:
(a) Các chế phẩm bao gồm các chất khoáng.
(b) Các chế phẩm gồm một chất có công hiệu thuộc loại được nêu
trong điểm (1) trên đây với một chất mang, ví dụ các sản phẩm từ
quá trình sản xuất chất kháng sinh thu được bằng cách đơn giản là
làm khô toàn bộ khối lượng các chất được sử dụng, có nghĩa là
toàn bộ khối lượng chứa trong thùng ủ men (chủ yếu đó là sợi nấm
(mycelium), môi trường cấy men và kháng sinh). Sản phẩm khô
thu được, dù được chuẩn hóa hay không được chuẩn hóa bằng việc
cho thêm các chất hữu cơ hoặc vô cơ, có hàm lượng chất kháng
sinh thường là từ 8% đến 16% và được sử dụng làm vật liệu cơ bản
trong sản xuất, đặc biệt là "hỗn hợp vi lượng".
Tuy nhiên, các chế phẩm được xếp vào mục này không thể lẫn với một
số chế phẩm dùng trong thú y. Các chế phẩm dùng trong thú y nói chung
khác với các chế phẩm này ở chỗ bản chất dược liệu và nồng độ của chất
hoạt tính lớn hơn nhiều, và thường được đóng gói theo cách khác.
Thuộc nhóm này còn có:
(1) Các chế phẩm dùng cho chó, mèo,..., gồm hỗn hợp giữa thịt, phụ
phẩm thịt sau giết mổ và các thành phần khác, được đóng bao bì
kín khí và có chứa một lượng tương đương với lượng cần thiết cho
một bữa ăn.
(2) Bánh quy cho chó hoặc cho vật nuôi khác, thường được chế biến từ
bột, tinh bột hoặc các sản phẩm ngũ cốc trộn lẫn với tóp mỡ hoặc
với bột thô của thịt.
(3) Các chế phẩm ngọt, chứa hoặc không chứa cacao, được chế biến
chỉ để làm thức ăn cho chó hoặc vật nuôi khác.
(4) Các chế phẩm thức ăn cho chim (ví dụ, chế phẩm bao gồm kê, hạt
canari, yến mạch đã bóc vỏ và hạt lanh, được sử dụng làm thức ăn
chính hoặc thức ăn hoàn chỉnh cho vẹt) hoặc cho cá.
Các chế phẩm dùng làm thức ăn chăn nuôi của nhóm này thường được
đóng gói dưới dạng viên (xem Chú giải Tổng quát của Chương này).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Viên được sản xuất từ một loại nguyên liệu, hoặc từ hỗn hợp của
các nguyên liệu được phân loại vào một nhóm cụ thể, thậm chí
được trộn thêm chất kết dính (mật, chất có tinh bột,...) với hàm
lượng không quá 3% tính theo trọng lượng (các nhóm 07.14,
(b) Các hỗn hợp đơn giản của hạt ngũ cốc (Chương 10), của bột ngũ
cốc hoặc của bột rau đậu (Chương 11).
(c) Các chế phẩm có thể được dùng để làm thức ăn chăn nuôi hoặc
thức ăn cho người tuỳ theo bản chất, độ tinh khiết và tỉ lệ tương
ứng của các thành phần, tuỳ theo điều kiện vệ sinh trong quá trình
chế biến và nếu cần, tuỳ theo những chỉ dẫn được ghi trên bao bì
hoặc tất cả các hướng dẫn sử dụng khác (chủ yếu phân loại vào các
nhóm 19.01 và 21.06).
(d) Phế thải, phế liệu và sản phẩm phụ thực vật thuộc nhóm 23.08.
(e) Vitamin, xác định hoặc không xác định về mặt hóa học hoặc pha
trộn hóa học, trong dung môi hoặc không trong dung môi hoặc
được làm ổn định bằng việc bổ sung các chất chống oxy hóa hoặc
các chất chống vón, hoặc bằng cách hút bám trên một chất nền
hoặc bằng cách phủ bảo vệ bằng, ví dụ, galetin, sáp, chất béo,...,
với điều kiện số lượng các chất bổ sung, chất nền hoặc chất phủ
không vượt quá yêu cầu bảo quản hoặc vận chuyển và với điều
kiện các chất bổ sung, chất nền hoặc chất phủ không làm thay đổi
đặc tính của vitamin và không biến chúng đặc biệt phục vụ cho
một nhu cầu một nhu cầu cụ thể mà không dùng cho việc sử dụng
chung (nhóm 29.36).
(f) Các sản phẩm của Chương 29.
(g) Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 và 30.04.
(h) Các chất protein thuộc Chương 35.
(ij) Các chế phẩm có bản chất là các chất tẩy uế chống vi trùng được
sử dụng trong việc chế biến thức ăn chăn nuôi nhằm kiểm soát các
loại vi sinh vật không mong muốn (nhóm 38.08).
(k) Các sản phẩm trung gian của quá trình sản xuất thuốc kháng sinh
thu được bằng việc lọc và chiết xuất lần đầu và phế liệu từ quá
trình sản xuất này, với hàm lượng chất kháng sinh thường không
quá 70% (nhóm 38.24).
Chương 24
Thuốc lá và nguyên liệu thay thế lá thuốc lá đã chế biến; các sản
phẩm, chứa hoặc không chứa nicotin, dùng để hút mà không cần đốt
cháy; các sản phẩm chứa nicotin khác dùng để nạp nicotin vào cơ
thể con người
Chú giải.
1.- Chương này không bao gồm các loại thuốc lá dược phẩm (Chương 30).
2.- Bất kì sản phẩm nào có thể phân loại được vào nhóm 24.04 và bất kì
nhóm nào khác thuộc Chương này, thì được phân loại vào nhóm 24.04.
3.- Theo mục đích của nhóm 24.04, thuật ngữ "hút mà không cần đốt
cháy" có nghĩa việc hút thông qua thiết bị làm nóng hoặc thiết bị khác,
không cần đốt cháy.
Chú giải phân nhóm.
1.- Theo mục đích của phân nhóm 2403.11, thuật ngữ "thuốc lá để sử
dụng với tẩu nước" có nghĩa là thuốc lá hút sử dụng bằng tẩu nước
và thuốc lá này bao gồm hỗn hợp thuốc lá và glyxerin, có hoặc
không chứa dầu thơm và tinh dầu, mật mía hoặc đường, và có hoặc
không có hương thơm từ quả. Tuy nhiên, những sản phẩm không
chứa thuốc lá dùng để hút sử dụng tẩu nước thì bị loại trừ ra khỏi
phân nhóm này.
TỔNG QUÁT
Lá thuốc lá thu được từ nhiều loại cây được trồng thuộc giống Nicotiana
thuộc họ Solanaceae. Kích thước và hình dạng lá mỗi loại một khác.
Phương pháp thu hoạch và công đoạn sấy tùy thuộc vào loại thuốc lá
khác nhau. Cây có thể được cắt toàn bộ, đến độ trưởng thành ở mức
trung bình (cắt thân cây), hoặc có thể hái riêng lá, tùy theo mức độ
trưởng thành (trưởng thành nhất). Vì vậy, lá thuốc lá có thể được sấy
toàn bộ cây (trên thân cây) hoặc sấy lá riêng.
Các phương pháp sấy lá thuốc lá có thể là sấy mặt trời (để dưới ánh mặt
trời), sấy tự nhiên (đặt trong buồng thông gió để làm khô tự nhiên), sấy
bằng lò (sấy khí nóng) hoặc sấy lửa (sấy nhiệt).
Trước khi đóng gói để vận chuyển, lá thuốc lá khô được xử lý để bảo
đảm quá trình bảo quản. Cách xử lý này có thể là cho lên men tự nhiên
có kiểm soát (java, sumatra, havane, braxin, phương đông,...) hoặc tái
làm khô nhân tạo. Cách thức xử lý và sấy khô này ảnh hưởng đến mùi
thơm và hương vị của lá thuốc lá khi trải qua giai đoạn biến chất tự
nhiên sau khi đóng gói.
Lá thuốc lá được xử lý như vậy được đóng gói thành bó, kiện (hình thù
khác nhau), đóng vào thùng hoặc vào hòm. Khi được đóng gói như vậy,
lá thuốc lá hoặc được xếp thành hàng (lá thuốc lá phương đông) hoặc
được bó lại thành bó sẵn (bằng dây hoặc bằng một lá thuốc lá khác),
hoặc để rời. Lá thuốc lá luôn được ép chặt để bảo quản được tốt.
Trong một số trường hợp, ngoài (hoặc thay vì) lên men, người ta cũng
cho thêm một số hương liệu hoặc các chất tạo ẩm nhằm tăng hương
thơmhoặc giữ chất lượng.
Chương này không chỉ bao gồm lá thuốc lá chưa được chế biến và đã
được chế biến mà còn bao gồm các sản phẩm thay thế lá thuốc lá lá đã
chế biến mà không chứa thuốc lá.
24.01 - Lá thuốc lá chưa chế biến; phế liệu lá thuốc lá.
- Lá thuốc lá chưa tước cọng
- Lá thuốc lá, đã tước cọng một phần hoặc toàn bộ
- Phế liệu lá thuốc lá
Nhóm này bao gồm:
(1) Lá thuốc lá chưa chế biến dưới dạng cả cây hay dạng lá ở dạng tự
nhiên hoặc lá thuốc lá đã sấy hoặc đã ủ men, còn nguyên hoặc
được tước cọng, lá này có thể còn nguyên dạng hay đã được tước
cọng, đã hoặc chưa được xén, đã được nghiền hoặc thái (kể cả thái
miếng theo hình dạng, nhưng với điều kiện là thuốc lá chưa thể
dùng để hút ngay được).
Các lá thuốc lá được trộn lẫn, được tước cọng và được "sao tẩm"
("tẩm nước xốt" hoặc "tẩm rượu mùi") bằng một chất lỏng có thành
phần phù hợp nhằm chủ yếu là ngăn ẩm mốc và khô và cũng để
bảo quản hương vị, cũng thuộc nhóm này.
(2) Phế liệu lá thuốc lá, ví dụ, phế thải thu được từ việc hái tay lá
thuốc lá hoặc từ việc sản xuất các sản phẩm thuốc lá (thân lá,
cuống lá, gân lá, rẻo lá xén ra, bụi,...).
24.02 - Xì gà, xì gà xén hai đầu, xì gà nhỏ và thuốc lá điếu, từ lá
thuốc lá hoặc từ các nguyên liệu thay thế lá thuốc lá.
- Xì gà, xì gà xén hai đầu và xì gà nhỏ, có chứa lá
thuốc lá
- Thuốc lá điếu có chứa lá thuốc lá
- Loại khác
Nhóm này chỉ bao gồm xì gà (đã được cuộn hoặc chưa), xì gà xén hai
đầu, xì gà nhỏ và thuốc lá điếu, được làm từ lá thuốc lá hoặc từ các chất
thay thế lá thuốc lá. Các loại thuốc lá để hút khác, có hoặc không chứa
các chất thay thế lá thuốc lá với mọi tỉ lệ, bị loại trừ (nhóm 24.03).
Nhóm này bao gồm:
(1) Xì gà, xì gà xén hai đầu, xì gà nhỏ, có chứa lá thuốc lá.
Các sản phẩm này có thể được chế biến hoàn toàn từ lá thuốc lá lá
hoặc từ hỗn hợp giữa lá thuốc lá và các chất thay thế lá thuốc lá,
không tính đến tỉ lệ của lá thuốc lá và của chất thay thế lá thuốc lá
có trong hỗn hợp.
(2) Thuốc lá điếu có chứa lá thuốc lá
Ngoài loại thuốc lá điếu có chứa hoàn toàn lá thuốc lá ra, nhóm này
cũng bao gồm các loại thuốc lá điếu được chế biến từ hỗn hợp giữa
lá thuốc lá và các chất thay thế lá thuốc lá không tính đến tỉ lệ lá
thuốc lá và tỉ lệ chất thay thế lá thuốc lá có trong hỗn hợp.
(3) Xì gà, xì gà xén hai đầu, xì gà nhỏ và thuốc lá điếu làm từ các
chất thay thế lá thuốc lá, thí dụ, các loại "thuốc lá điếu" ("có
khói") được làm từ lá của một loài rau diếp đã được chế biến một
cách đặc biệt, không chứa lá thuốc lá lá cũng không chứa nicotin.
Nhóm này không bao gồm các loại thuốc lá điếu dược phẩm (Chương
30). Tuy nhiên một số thuốc lá điếu có chứa một số loại sản phẩm được
chế biến đặc biệt để làm giảm thói quen hút thuốc nhưng không có đặc
tính dược liệu, vẫn được phân loại trong nhóm này.
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm có chứa lá thuốc lá, thuốc lá
hoàn nguyên hoặc các sản phẩm thay thế lá thuốc lá, ở dạng tương tự
như các sản phẩm mô tả ở trên nhưng được dùng để hút mà không cần
đốt cháy (nhóm 24.04).
24.03 - Lá thuốc lá đã chế biến khác và các nguyên liệu thay thế lá
thuốc lá đã chế biến; thuốc lá "thuần nhất" hoặc thuốc lá
"hoàn nguyên"; chiết xuất và tinh chất lá thuốc lá. (+).
- Lá thuốc lá để hút (smoking), có hoặc không chứa
chất thay thế lá thuốc lá với tỷ lệ bất kỳ:
- - Thuốc lá sử dụng tẩu nước đã được chi tiết ở Chú
giải phân nhóm 1 Chương này
- - Loại khác
- Loại khác:
- - Thuốc lá "thuần nhất" hoặc "hoàn nguyên"
- - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Lá thuốc lá để hút, không hoặc có chứa chất thay thế lá thuốc
lá với tỉ lệ bất kỳ, thí dụ như lá thuốc lá đã chế biến dùng để hút
tẩu hoặc dùng để sản xuất thuốc lá điếu.
(2) Lá thuốc lá để nhai, thường được ủ men và tẩm rượu nhiều.
(3) Lá thuốc lá để hít được ướp hương ít hoặc nhiều.
(4) Lá thuốc lá nén hoặc tẩm rượu, để sản xuất lá thuốc lá để hít.
(5) Các chất thay thế lá thuốc lá lá đã chế biến, ví dụ các hỗn hợp
dùng để hút không chứa lá thuốc lá. Tuy nhiên các sản phẩm như
cannabis(cây gai dầu)bị loại trừ (nhóm 12.11).
(6) Thuốc lá "thuần nhất" hoặc "hoàn nguyên" được sản xuất từ
công đoạn ép các mẩu vụn lá, vụn phế thải hoặc bụi lá thuốc lá, có
hoặc không có trên một chất liệu nền (ví dụ trên một tấm làm bằng
cellulose lấy từ cọng lá thuốc lá), các loại thuốc lá này thường
đóng gói ở dạng tấm hình chữ nhật hoặc dạng dải. Chúng có thể
được sử dụng ở dạng tấm (để làm vỏ cuốn) hoặc được thái chỉ/băm
nhỏ (để làm chất độn).
(7) Chiết xuất và tinh chất thuốc lá có dạng lỏng thu được từ công
đoạn chiết lá thuốc lá đã được tẩm ướt, hoặc đun sôi các phế thải lá
thuốc lá trong nước. Các sản phẩm này chủ yếu được dùng để sản
xuất thuốc trừ sâu và thuốc diệt ký sinh.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Chất nicotin (alkaloid độc hại được chiết xuất từ cây thuốc lá)
(nhóm 29.39).
(b) Thuốc trừ sâu thuộc nhóm 38.08.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 2403.11
Ngoài các loại khác, phân nhóm này bao gồm các sản phẩm hỗn hợp lá
thuốc lá, mật hoặc đường, được tạo hương bằng trái cây, glyxerin, dầu
thơm và các chiết xuất thơm (ví dụ, "Meassel" hoặc "Massel"). Phân
nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm không chứa mật hoặc đường (ví
dụ "Tumbak" or "Ajami"). Tuy nhiên, phân nhóm này loại trừ những
sản phẩm không chứa lá thuốc lá sử dụng cho tẩu nước (ví dụ "Jurak")
(phân nhóm 2403.99).
Tẩu nước cũng có thể biết đến với các tên khác như "narguile", "argila",
"boury", "gouza", "hookah", "shisha" hoặc "hubble-bubble".
24.04 - Sản phẩm chứa lá thuốc lá, thuốc lá hoàn nguyên, nicotin,
hoặc các nguyên liệu thay thế lá thuốc lá hoặc các nguyên liệu
thay thế nicotin, dùng để hút mà không cần đốt cháy; các sản
phẩm chứa nicotin khác dùng để nạp nicotin vào cơ thể con
người.
- Các sản phẩm dùng để hút mà không cần đốt cháy:
2404.11 - - Chứa lá thuốc lá hoặc thuốc lá hoàn nguyên
2404.12 - - Loại khác, chứa nicotin
2404.19 - - Loại khác
- Loại khác :
2404.91 - - Loại dùng qua đường miệng
2404.92 - - Loại thẩm thấu qua da
2404.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(A) Các sản phẩm có chứa lá thuốc lá, thuốc lá hoàn nguyên, các
nguyên liệu thay thế lá thuốc lá hoặc các nguyên liệu thay thế
nicotin, dùng để hút mà không cần đốt cháy như định nghĩa trong
Chú giải 3 của Chương này.
Những sản phẩm này bao gồm, không kể những đề cập khác:
(1) Dung dịch chứa nicotin dùng cho thiết bị thuốc lá điện tử hoặc
các thiết bị điện hóa hơi cá nhân tương tự;
(2) Các sản phẩm có chứa lá thuốc lá hoặc thuốc lá hoàn nguyên, ở
các dạng khác nhau (ví dụ, dạng dải hoặc dạng hạt), dùng cho
hệ thống làm nóng thuốc lá trong đó việc làm nóng được thực
hiện bằng thiết bị điện (thuốc lá nung nóng điện tử (EHTS)),
bằng phản ứng hóa học, bằng cách sử dụng nguồn nhiệt cacbon
(sản phẩm thuốc lá làm nóng bằng cacbon (CHTP)), hoặc bằng
các cách thức khác;
(3) Các sản phẩm có chứa nguyên liệu thay thế lá thuốc lá hoặc
nicotin, nhưng không chứa lá thuốc lá, thuốc lá hoàn nguyên
hoặc nicotin, dùng cho thiết bị thuốc lá điện tử hoặc các thiết bị
tạo hơi điện cá nhân tương tự;
(4) Các sản phẩm tương tự dùng cho các thiết bị dạng xịt để hít vào
không phải bằng cách đốt nóng, ví dụ, bằng quá trình hóa học
hoặc bằng bay hơi siêu âm.
(5) Thuốc lá điện tử dùng một lần (disposable e-cigarettes) và các
thiết bị điện hóa hơi cá nhân dùng một lần tương tự là sản
phẩm kết hợp cả sản phẩm dùng để hút mà không cần đốt cháy
(ví dụ, chất lỏng dùng cho thuốc lá điện tử, các loại gel) và cơ
chế làm nóng trong một bộ phận tích hợp, được thiết kế để bỏ
đi sau khi sản phẩm kết hợp đó cạn kiệt hoặc hết pin (không
được thiết kế để nạp lại hoặc sạc lại).
(B) Các sản phẩm khác có chứa nicotin, nhưng không chứa lá thuốc lá
hoặc thuốc lá hoàn nguyên, nhằm mục đích nạp nicotin vào cơ thể
con người bằng cách nhai, hòa tan, ngửi, thẩm thấu qua da hoặc
bằng bất kỳ cách nào khác ngoại trừ hút.
Nhóm này bao gồm các sản phẩm có chứa nicotin dùng để giải trí,
cũng như các sản phẩm trị liệu thay thế nicotin (NRT) nhằm hỗ trợ
cai thuốc lá, được coi là một phần của chương trình giảm lượng
hấp thụ nicotin nhằm giảm bớt sự phụ thuộc của cơ thể con người
vào chất này.
Nhóm này loại trừ:
(a) Các sản phẩm có chứa lá thuốc lá, thuốc lá hoàn nguyên hoặc các
sản phẩm thay thế lá thuốc lá, dùng để hút sau khi đốt (nhóm
24.02 và 24.03), cũng như thuốc lá nhai và thuốc hít (nhóm
(b) Nicotine, (alkaloid độc hại được chiết xuất từ lá thuốc lá cũng như
alkaloid thu được bằng các quá trình tổng hợp) (nhóm 29.39).
PHẦN V
KHOÁNG SẢN
Chương 25
Muối; lưu huỳnh; đất và đá; thạch cao, vôi và xi măng
Chú giải.
1.- Trừ một số trường hợp hoặc Chú giải 4 của Chương này có những
yêu cầu khác, các nhóm của Chương này chỉ bao gồm các sản phẩm
ở dạng thô hoặc mới chỉ được làm sạch (thậm chí có thể dùng hoá
chất để loại bỏ tạp chất nhưng không làm thay đổi cấu trúc sản
phẩm), đã nghiền, ép, nghiền thành bột, bột mịn, đã rây, sàng, tuyển
bằng phương pháp tuyển nổi, tách bằng từ hoặc các qui trình cơ hoặc
lý khác (trừ sự kết tinh), nhưng không phải là các sản phẩm đã nung,
tôi, thu được từ việc trộn lẫn hoặc từ qui trình khác với qui trình đã
ghi trong từng nhóm hàng.
Các sản phẩm của Chương này có thể chứa chất chống bụi với điều
kiện các phụ gia đó không làm cho sản phẩm đặc biệt phù hợp cho
công dụng riêng hơn là công dụng chung.
2. - Chương này không bao gồm:
(a) Lưu huỳnh thăng hoa, lưu huỳnh kết tủa hoặc lưu huỳnh dạng keo
(nhóm 28.02);
(b) Chất màu từ đất có hàm lượng sắt hóa hợp Fe2O3 chiếm từ 70%
trở lên tính theo khối lượng (nhóm 28.21);
(c) Dược phẩm hoặc các sản phẩm khác thuộc Chương 30;
(d) Nước hoa, mỹ phẩm hoặc các chế phẩm vệ sinh (Chương 33);
(e) Hỗn hợp dolomite ramming (nhóm 38.16);
(f) Đá lát, đá lát lề đường hoặc phiến đá lát đường (nhóm 68.01); đá
khối dùng để khảm hoặc các loại tương tự (nhóm 68.02); đá lợp
mái, đá ốp mặt hoặc đá kè đập (nhóm 68.03);
(g) Đá quý hoặc đá bán quý (nhóm 71.02 hoặc 71.03);
(h) Tinh thể nuôi cấy (trừ các bộ phận quang học), mỗi tinh thể nặng
từ 2,5g trở lên bằng natri clorua hoặc oxit magiê, thuộc nhóm
38.24; các bộ phận quang học làm từ natri clorua hoặc oxit magiê
(nhóm 90.01);
(i) Phấn chơi bi-a (nhóm 95.04); hoặc
(k) Phấn vẽ hoặc phấn viết hoặc phấn dùng cho thợ may (nhóm
3. - Bất kỳ sản phẩm nào có thể xếp vào nhóm 25.17 và vào bất kỳ nhóm
nào khác của Chương này thì phải được xếp vào nhóm 25.17.
4.- Không kể những đề cập khác, nhóm 25.30 bao gồm: đá vermiculite,
đá trân châu và clorit, chưa giãn nở; đất màu đã hoặc chưa nung, hoặc
pha trộn với nhau; các loại oxit sắt mica tự nhiên; đá bọt biển (đã
hoặc chưa ở dạng miếng được đánh bóng); hổ phách; đá bọt biển kết
tụ và hổ phách kết tụ, ở dạng phiến, thanh, que hoặc các dạng tương
tự, chưa gia công sau khi đúc; hạt huyền; strontianit (đã hoặc chưa
nung), trừ oxit stronti; mảnh vỡ của đồ gốm, gạch hoặc bê tông.
KHÁI QUÁT CHUNG
Như đã quy định trong Chú giải 1, trừ khi có những yêu cầu khác,
Chương này chỉ gồm các sản phẩm khoáng ở trạng thái thô, hoặc đã
được làm sạch) (bao gồm cả việc làm sạch bằng các chất hoá học để loại
trừ tạp chất, với điều kiện là cấu trúc của chính sản phẩm không bị thay
đổi) đã được tán, nghiền, nghiền thành bột, nghiền mịn, sàng hoặc tuyển
bằng các quy trình tuyển nổi, tách bằng từ tính hoặc bằng các quy trình
cơ học và lý học khác (không bao gồm sự kết tinh). Các sản phẩm của
Chương này cũng có thể được nung để loại bỏ độ ẩm hoặc các tạp chất
hoặc cho các mục đích khác, miễn là việc xử lý nhiệt này không làm
thay đổi các cấu trúc tinh thể hoặc hoá học của chúng. Tuy nhiên, các xử
lý nhiệt khác (như nung nấu chảy hoặc thiêu chín) không được phép, trừ
phi được cho phép cụ thể nêu tại phần lời của nhóm. Do vậy, chẳng hạn,
việc xử lý nhiệt mà có thể làm thay đổi về hoá học hoặc cấu trúc tinh thể
là được cho phép đối với các sản phẩm của nhóm 25.13 và 25.17, bởi vì
phần lời của những nhóm này đã đề cập rõ rằng đến việc xử lý nhiệt
Các sản phẩm của Chương này có thể được bổ sung chất chống bụi, với
điều kiện là việc bổ sung thêm này không làm cho sản phẩm trở nên
phù hợp với công dụng cụ thể hơn là công dụng chung. Các khoáng
chất mà đã được xử lý theo cách khác (ví dụ, được tinh chế bằng sự tái
kết tinh, thu được bằng cách trộn các khoáng chất trong cùng hoặc
khác nhóm của Chương này, tạo thành các sản phẩm bằng cách tạo
hình, khắc trạm,...) nhìn chung sẽ xếp vào các Chương sau (ví dụ,
Chương 28 hoặc Chương 68).
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các nhóm:
(1) Liên quan đến những hàng hoá mà bản chất của chúng phải qua một
qui trình xử lý không được qui định tại Chú giải 1 của Chương này.
Các ví dụ bao gồm natri clorua tinh khiết (nhóm 25.01), một số dạng
của lưu huỳnh đã tinh chế (nhóm 25.03), đất chịu lửa (chamotte)
(nhóm 25.08), thạch cao (nhóm 25.20), vôi sống (nhóm 25.22) và xi
măng thuỷ lực (xi măng cứng trong nước) (nhóm 25.23).
(2) Ngoài những trường hợp cho phép của Chú giải 1 của Chương này,
các quy trình hoặc các điều kiện đặc biệt có thể chấp nhận. Ví dụ,
witherite (nhóm 25.11), bột hoá thạch có chứa silic và các dạng đất
silic tương tự (nhóm 25.12) và dolomite (nhóm 25.18) có thể được
nung; magnesite và magie oxit (nhóm 25.19) có thể được nấu chảy
hoặc nung (được nung chín (thiêu kết) hoặc đốt kiềm). Trong trường
hợp magie oxit được nung chín (thiêu kết) các oxit khác (ví dụ: sắt
oxit, crom oxit) có thể được thêm vào để làm thuận tiện cho việc
thiêu. Tương tự, các nguyên vật liệu của các nhóm 25.06, 24.14,
25.15, 25.16, 25.18 và 25.26 mới chỉ được đẽo thô hoặc mới chỉ cắt
bằng cách cưa hay bằng cách khác thành dạng khối, tấm hình chữ
nhật (kể cả hình vuông).
Khi các sản phẩm được phân loại ở nhóm 25.17 và bất kỳ nhóm khác
của Chương này, chúng sẽ được xếp vào nhóm 25.17. Chương này loại
trừ đá quý hoặc bán quý của Chương 71.
25.01- Muối (kể cả muối thực phẩm và muối đã bị làm biến tính) và
natri clorua tinh khiết, có hoặc không ở trong dung dịch nước hoặc
có chứa chất chống đóng bánh hoặc chất làm tăng độ chẩy; nước
biển.
Nhóm này liên quan đến natri clorua mà được hiểu chung là muối. Muối
được sử dụng cho mục đích nấu nướng (muối nấu, muối ăn), nhưng nó
cũng còn có nhiều mục đích sử dụng khác và, nếu cần, có thể được làm
biến chất để nó không thích hợp cho sử dụng trong đời sống sinh hoạt.
Nhóm này bao gồm:
(A) Muối được tách chiết từ lòng đất:
- hoặc bằng sự khai thác mỏ thông thường (muối mỏ,
- hoặc bằng sự khai thác mỏ dung dịch (nước được phun với áp
suất vào lớp muối và quay trở lại bề mặt như nước muối bão
hoà).
(B) Muối được tạo bằng phương pháp bay hơi:
- muối phơi (muối biển) thu được bằng cách bay hơi nước biển
dưới ánh nắng mặt trời;
- muối tinh chế thu được bằng cách bốc hơi nước muối bão hoà.
(C) Nước biển, nước muối và các loại dung dịch muối khác.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Muối (ví dụ, muối ăn) đã được iốt hóa hoặc phosphat hóa nhẹ, v.v,
hoặc đã được xử lý thành dạng khô.
(2) Muối có thêm chất chống đóng bánh hoặc chất chảy tự do
(3) Muối đã được làm biến chất bằng một quá trình nào đó
(4) Natri clorua phế thải, đặc biệt là natri clorua để lại sau quá trình xử lý
hoá học (ví dụ, điện phân) hoặc thu được như là sản phẩm phụ của
quá trình xử lý một số quặng nhất định.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các đồ gia vị có muối như gia vị cần tây (nhóm 21.03).
(b) Dung dịch natri clorua, bao gồm cả nước biển, được đóng trong các
ống thuốc tiêm và natri clorua được đóng theo cách khác được sử
dụng làm thuốc (Chương 30), và dung dịch natri clorua dùng cho
mục đích vệ sinh được đóng gói để bán lẻ, trừ loại dùng trong y tế
hoặc dược phẩm, có hoặc không vô trùng (nhóm 33.07).
(c) Các dạng tinh thển natri clorua nuôi cấy mà trọng lượng mỗi tinh thể
không ít hơn 2,5g (trừ các phần tử quang học, nhóm 38.24).
(d) Các bộ phận quang học bằng Natri clorua (nhóm 90.01)
25.02 - Pirít sắt chưa nung.
Nhóm này liên quan tới tất cả các dạng pirít sắt chưa nung, bao gồm cả
quặng pirít sắt có chứa đồng hoá trị 1 chưa nung.
Các pirít chủ yếu bao gồm sulphua sắt. Chúng thường có màu xám hoặc
vàng nhạt, có ánh kim khi được tách khỏi tạp chất của chúng. Ở dạng bột
thường có màu xám nhạt.
Các pirít chưa nung chủ yếu được sử dụng để tách chiết lưu huỳnh, mặc
dù loại pirít chứa đồng có thể cũng thích hợp cho việc thu hồi đồng, như
là sản phẩm phụ.
Nhóm này không bao gồm tất cả các loại pirít đã nung (nhóm 26.01),
Đồng thời cũng không bao gồm:
(a) Chalcopyrite (các sulphua hỗn hợp của đồng và sắt) nhóm 26.03
(b) Marcasite (đá bán quý nhóm 71.03).
25.03 -Lưu huỳnh các loại, trừ lưu huỳnh thăng hoa, lưu huỳnh kết
tủa và lưu huỳnh dạng keo.
Nhóm này bao gồm:
(1) Khoáng lưu huỳnh dạng thô tồn tại dạng tự do, đã hoặc chưa được
làm giàu bằng các quá trình cơ học để loại một phần đá.
(2) Lưu huỳnh chưa tinh chế tách chiết từ khoáng lưu huỳnh bằng cách
nấu chảy. Quá trình này có thể được tiến hành trong lò nung lưu
huỳnh (calcaroni), lò nung (lò Gill..),..., hoặc có thể tiến hành ngay
tại mỏ bằng cách thúc hơi quá nhiệt qua các ống dẫn được đặt chìm
dưới lỗ khoan (phương pháp Frasch).
(3) Lưu huỳnh chưa tinh chế thu được bằng cách nung quặng pirít hoặc
bằng cách xử lý các loại khoáng lưu huỳnh khác.
(4) Lưu huỳnh chưa tinh chế được thu hồi như những sản phẩm phụ
trong quá trình tinh chế khí hoá than, bằng cách lọc khí lò lưu huỳnh
từ khí tự nhiên có chứa nhiều H2S và bằng cách tinh chế các dầu
khoáng thô có chứa nhiều H2S v.v. Các loại lưu huỳnh được thu hồi
này, đôi khi được gọi là "lưu huỳnh tinh chế" hoặc "lưu huỳnh kết
tủa”, không được nhầm lẫn với lưu huỳnh kết tủa được định nghĩa
trong Chú giải Chi tiết nhóm 28.02.
Các loại lưu huỳnh chưa được tinh chế trong ba phần cuối, đôi khi
khá tinh khiết. Điều này đặc biệt đúng đối với lưu huỳnh được sản
xuất bằng phương pháp Frasch, có chứa tỉ lệ rất nhỏ các tạp chất mà
thực tế nó không bao giờ tinh chế được. Nó thường ở dạng cục thô
hoặc dạng bụi.
(5) Lưu huỳnh tinh chế, thu được bằng phương pháp cất nhanh lưu
huỳnh thô và làm ngưng tụ nó ở trạng thái lỏng. Do vậy lưu huỳnh
thu được theo cách này có thể được tạo khuôn thành dạng que hoặc
dạng bánh, hoặc được nghiền sau khi đã đông đặc.
(6) Lưu huỳnh đã nghiền là lưu huỳnh (có lẫn tạp chất hoặc đã tinh chế)
ở dạng bột mịn, thu được bằng cách nghiền và sau đó sàng, bằng cơ
học hoặc bằng sự hút khí. Các sản phẩm này được biết đến như là "
lưu huỳnh đã sàng", "lưu huỳnh được tuyển chọn", "lưu huỳnh được
phun bụi",.. phù hợp với qui trình được sử dụng và độ mịn của chúng.
(7) Lưu huỳnh thu được bằng cách làm lạnh đột ngột lưu huỳnh bay hơi
mà không qua giai đoạn lỏng, đây là dạng lưu huỳnh không hòa tan,
đặc biệt trong carbon disulphua (lưu huỳnh μ).
Các dạng khác nhau của lưu huỳnh được phân loại trong nhóm này được
sử dụng trong ngành công nghiệp hoá chất (các chế phẩm của nhiều hợp
chất lưu huỳnh, thuốc nhuộm lưu huỳnh, ...) để lưu hoá cao su, như
thuốc diệt nấm trong nghề trồng nho, trong sản xuất diêm và bấc đèn lưu
huỳnh cũng như trong điều chế lưu huỳnh dioxyt trong các ngành công
nghiệp tẩy trắng...
Nhóm này không bao gồm lưu huỳnh thăng hoa, lưu huỳnh kết tủa và
lưu huỳnh keo (nhóm 28.02). Lưu huỳnh được tạo thành các dạng hoặc
lưu huỳnh đóng gói cho bán lẻ như là chất diệt nấm,.., được xếp vào
nhóm 38.08.
25.04 - Graphit tự nhiên.
2504.10 - Ở dạng bột hay dạng mảnh
2504.90 - Dạng khác
Graphit tự nhiên (còn được biết như than chì hoặc chì đen) là một loại
carbon được phân biệt bởi ánh của nó và đặc tính riêng khi viết lên giấy
(vì lý do này nó được dùng làm bút chì). Trọng lượng riêng của chúng
thay đổi, tùy theo độ tinh khiết, thường từ 1,9 đến 2,26; hàm lượng
carbon của các loại tinh khiết nhất từ 90-96%, trong khi loại có chất
lượng thấp hơn chỉ chứa từ 40-80%
Graphit tự nhiên vẫn thuộc nhóm này khi nó được xử lý nhiệt chỉ để loại
tạp chất.
Ngoài công dụng làm bút chì, graphit tự nhiên còn được dùng để đánh
bóng, sản xuất nồi luyện kim và các sản phẩm chịu lửa, điện cực lò nung
hoặc các linh kiện điện khác.
Nhóm này loại trừ graphit nhân tạo (nó giống hệt graphit tự nhiên
nhưng có độ tinh khiết cao hơn và trọng lượng riêng thấp hơn), graphit
keo hoặc bán keo và các chế phẩm dựa trên graphit nhưng ở dạng bột
nhão, khối, tấm hoặc các dạng bán thành phẩm khác (nhóm 38.01). Nó
cũng không bao gồm các sản phẩm bằng graphit tự nhiên thuộc nhóm
68.15, 69.02, 69.03 hoặc 85.45).
25.05 - Các loại cát tự nhiên, đã hoặc chưa nhuộm màu, trừ cát chứa
kim loại thuộc Chương 26.
2505.10 - Cát oxit silic và cát thạch anh
2505.90 - Loại khác
Loại trừ cát chứa kim loại mà từ chúng các kim loại có thể tách chiết
thương mại (Chương 26). Nhóm này bao gồm tất cả các loại cát tự
nhiên ở biển, hồ, sông hoặc mỏ (tức là cát ở dạng các hạt mịn ít hoặc
mịn nhiều thu được từ quá trình phân huỷ tự nhiên các khoáng chất),
nhưng loại trừ các loại cát và bột thu được bằng nhân tạo, ví dụ bằng
cách nghiền (được phân loại ở nhóm 25.17 hoặc ở nhóm cho loại đá có
liên quan).
Nhóm này có thể kể đến:
(1) Cát oxit silic và cát thạch anh, được dùng trong xây dựng, trong
ngành công nghiệp kính, để làm sạch kim loại...
(2) Cát có chứa đất sét bao gồm cát cao lanh, được dùng chủ yếu để làm
khuôn đúc và các sản phẩm chịu lửa.
(3) Các loại cát feldspathic, được dùng trong ngành công nghiệp gốm sứ
Các loại cát tự nhiên cũng thuộc nhóm này khi chúng đã được xử lý
nhiệt chỉ để loại tạp chất.
Mặt khác, nhóm này không bao gồm các loại cát có chứa vàng hoặc
platinum, cát zircon, cát rutile và cát ilmenite, cũng không bao gồm cát
monazite, được phân loại như quặng thorium; toàn bộ chúng được xếp
vào Chương 26. Nhóm này cũng không bao gồm cát hắc ín hoặc "cát
nhựa đường" (nhóm 27.14).
25.06 - Thạch anh (trừ cát tự nhiên); quartzite, đã hoặc chưa đẽo
thô hoặc mới chỉ được cắt, bằng cưa hoặc cách khác, thành khối
hoặc tấm hình chữ nhật (kể cả hình vuông).
2506.10 - Thạch anh
Thạch anh là dạng tinh thể xuất hiện tự nhiên từ oxit silic.
Nó chỉ được xếp trong nhóm này nếu tuân theo cả hai điều kiện sau:
(a) Nó phải ở trạng thái thô hoặc chưa trải qua một quá trình nào vượt
quá giới hạn cho phép ở Chú giải 1 của Chương này; theo mục đích
này, việc xử lý nhiệt được thiết kế chỉ nhằm tạo thuận lợi cho việc
nghiền như một quá trình được cho phép bởi Chú giải 1 của Chương.
(b) Nó không được ở dạng và chất lượng phù hợp cho việc sản xuất đá
quý (ví dụ, thạch anh dạng thuỷ tinh và thạch anh vân khói, thạch anh
tím, thạch anh hồng). Những loại thạch anh này bị loại trừ (nhóm
71.03), thậm chí ngay cả trong trường hợp định sử dụng cho mục
đích kỹ thuật, ví dụ như thạch anh áp điện hoặc chế tạo các bộ phận
của dụng cụ.
Quartzite là tên gọi của đá đặc rất cứng bao gồm các hạt thạch anh kết
tụ bởi chất kết dính có chứa silic.
Quartzite được xếp trong nhóm này khi ở dạng thô hoặc khi nó chưa qua
quá trình xử lý nào vượt quá qui định cho phép của Chú giải 1 của
Chương này hoặc khi nó đã được đẽo thô hoặc chỉ được cắt bằng cách
cưa hay bằng cách khác, thành dạng khối hoặc tấm hình chữ nhật (kể cả
hình vuông). Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng quartzite ở hình dạng cụ thể
như gạch lát đường hay vỉa hè, đá phiến hoặc phiến đá lát đường thì bị
loại trừ (nhóm 68.01), thậm chí cả trong trường hợp mới chỉ được tạo
hình hay xử lý như mô tả trong nhóm.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Cát thạch anh tự nhiên (nhóm 25.05)
(b) Đá lửa hoặc các sản phẩm khác của nhóm 25.17
(c) Các bộ phận quang học bằng thạch anh (nhóm 90.01)
25.07 - Cao lanh và đất sét cao lanh khác, đã hoặc chưa nung.
Nhóm này bao gồm cao lanh và đất sét cao lanh khác mà phần chính của
chúng là các khoáng cao lanh như: kaolinite, dickite và nacrite, anauxite
và halloysite. Các dạng đất sét như vậy vẫn được xếp vào nhóm này
thậm chí khi đã nung.
Cao lanh còn được hiểu như là dạng đất sét trắng, là một loại đất sét thứ
hạng cao, có màu trắng hoặc gần như trắng, được dùng trong ngành công
nghiệp sứ và công nghiệp sản xuất giấy. Cát có chứa cao lanh bị loại trừ
(nhóm 25.05).
25.08 - Đất sét khác (không kể đất sét trương nở thuộc nhóm 68.06),
andalusite, kyanite và sillimanite, đã hoặc chưa nung; mullite;
đất chịu lửa (chamotte) hoặc đất dinas.
2508.30 - Đất sét chịu lửa
2508.40 - Đất sét khác
2508.50 - Andalusite, kyanite và sillimanite
2508.70 - Đất chịu lửa hoặc đất dinas
Nhóm này bao gồm toàn bộ các chất chứa sét tự nhiên (trừ kaolin và các
loại đất sét kaolin khác của nhóm 25.07) như các loại đất hoặc đá có
nguồn gốc trầm tích với với thành phần chủ yếu là nhôm silicat. Tinh
chất đặc trưng của các sản phẩm này là tính dẻo, có khả năng đông cứng
khi bị nung và tính chịu nhiệt. Do các đặc tính này mà các loại đất sét
được dùng làm nguyên liệu thô trong ngành công nghiệp gốm sứ (gạch,
tấm lát xây dựng, đồ sành sứ, đồ gốm, gạch chịu lửa và các sản phẩm
chịu lửa khác...). Đất sét thường cũng được dùng để tăng độ cứng
của đất.
Các sản phẩm này vẫn được xếp vào nhóm này ngay cả khi chúng đã
được nung để loại một phần hoặc hầu hết nước liên kết (để sản xuất đất
sét hấp thụ) hoặc được nung hoàn toàn.
Ngoài các loại đất sét thông thường, các sản phẩm đặc biệt sau đây cũng
được xếp vào nhóm này:
(1) Bentonite là loại đất sét có nguồn gốc từ tro núi lửa, được sử dụng
rộng rãi như một thành phần của cát làm khuôn đúc, như một tác
nhân lọc và khử màu trong quá trình lọc dầu và tẩy dầu mỡ cho
vải sợi.
(2) Đất tẩy màu, là một loại vật liệu đất tự nhiên có cường độ hấp thụ
cao, có cấu tạo chủ yếu là attapulgite. Nó được dùng để khử màu
dầu, khử dầu mỡ cho vải sợi, v.v.
(3) Andalusite, kyanite (hoặc disthene) và silimanite, dạng nhôm
silicate khan tự nhiên được dùng làm vật liệu chịu lửa.
(4) Mullite, thu được bằng cách xử lý nhiệt silimanite, kyanite hoặc
andalusite hoặc bằng cách nung chảy hỗn hợp của Sio2 hoặc đất sét
và oxit nhôm trong lò điện. Được dùng trong điều chế các sản phẩm
chịu lửa với tính chịu nhiệt cao.
(5) Đất chịu lửa (Chamotte), còn được gọi là "sét chịu lửa", thu được
bằng cách nghiền gạch đất sét chịu lửa hoặc bằng cách nghiền hỗn
hợp đã nung của đất sét với các vật liệu chịu lửa khác.
(6) Đất dinas, là dạng vật liệu chịu lửa bao gồm đất thạch anh có chứa
đất sét hoặc có thể thu được bằng cách trộn đất sét với thạch anh đã
nghiền hoặc cát thạch anh.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Đất sét mà là chất màu đất trong phạm vi của nhóm 25.30
(b) Các loại đất sét hoạt tính (nhóm 38.02)
(c) Các chế phẩm đặc biệt để sản xuất một số loại đồ gốm nhất định
(nhóm 38.24)
(d) Các loại đất sét trương nở (được dùng làm cốt bê tông nhẹ hoặc cho
cách nhiệt) thậm chí nếu thu được bằng cách duy nhất là nung đất sét
tự nhiên (nhóm 68.06).
Chú giải phân nhóm
Phân nhóm 2508.10
Phân nhóm 2508.10 bao gồm natri bentonite (bentonite trương nở) và
canxi bentonite (bentonite không trương nở)
Phân nhóm 2508.30
Phân nhóm 2508.30 không bao gồm các đất sét có thành phần chính là
cao lanh, một vài loại khác là “đất sét chịu lửa”. Các loại đất sét này sẽ
được phân loại ở nhóm 25.07.
25.09 - Đá phấn.
Đá phấn là một loại canxi carbonate xuất hiện tự nhiên, bao gồm phần
lớn các vỏ của các vi sinh vật thuỷ sinh.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Đá phấn Phosphate (nhóm 25.10)
(b) Steatite hoặc talc (đôi khi được gọi là "đá phấn pháp" hoặc "đá phấn
venice" (nhóm 25.26).
(c) Đá phấn nghiền thành bột được điều chế như sản phẩm đánh răng
(nhóm 33.06)
(d) Chất đánh bóng kim loại và các chế phẩm tương tự thuộc nhóm
(e) Canxi carbonate dạng bột mà các hạt của nó được phủ một màng mỏng
không thấm nước bằng các axit béo (ví dụ, axit stearic) (nhóm 38.24).
(f) Phấn xoa đầu gậy bi-a (nhóm 95.04)
(g) Phấn viết hoặc vẽ và phấn cho thợ may (nhóm 96.09)
25.10 - Canxi phosphat tự nhiên, canxi phosphat nhôm tự nhiên và
đá phấn có chứa phosphat.
2510.10 - Chưa nghiền
2510.20 - Đã nghiền
Nhóm này chỉ bao gồm apatite và các canxi phosphate tự nhiên khác
(tricalcium phosphate hay phosphorite), nhôm canxi phosphate tự nhiên
và đá phấn chứa phosphate (đá phấn thiên nhiên được trộn với canxi
Các sản phẩm trên vẫn thuộc nhóm này cả khi đã được nghiền để sử
dụng làm phân bón hoặc nếu đã được xử lý nhiệt chỉ để loại bỏ tạp
chất). Tuy vậy nhóm này không bao gồm các sản phẩm được nung hoặc
xử lý nhiệt ngoài mục đích loại bỏ tạp chất (nhóm 31.03 hoặc 31.05).
25.11- Bari sulphat tự nhiên (barytes); bari carbonat tự nhiên
(witherite), đã hoặc chưa nung, trừ bari oxit thuộc nhóm
2511.10 - Bari sulphate tự nhiên (barytes)
2511.20 - Bari carbonate tự nhiên (witherite)
Nhóm này chỉ bao gồm bari sulphate ở dạng tự nhiên (barytes đôi khi
được biết như là khoáng spar nặng) và barium carbonate (witherrite).
Barium Sulphate và Barium carbonate đã tinh chế hoặc được sản xuất
bằng phương pháp hoá học bị loại trừ (nhóm 28.33 và 28.36 tương
ứng).
Witherrite (BaCO3) đã nung, chứa lượng lớn tạp chất barium oxide, vẫn
được xếp trong nhóm này.
Nhóm này loại trừ bari oxit tinh chế (nhóm 28.16)
25.12- Bột hóa thạch silic (ví dụ, đất tảo cát, tripolite và diatomite)
và đất silic tương tự, đã hoặc chưa nung, có trọng lượng riêng
biểu kiến không quá 1.
Các nguyên liệu này là các dạng đất Silic được hình thành từ các sinh vật
hoá thạch nhỏ (diatom, ...) và rất nhẹ, “trọng lượng riêng biểu kiến”
không quá 1, được tính như trọng lượng có thật của chúng tính bằng
kg/1000cm3, chưa được nén, ở dạng chúng tồn tại
Các loại đất chứa silic chủ yếu là: đất tảo cát, tripolite, diatomite và đất
moler. Mặc dù các loại đất được phân loại ở đây đôi khi được coi là
"tripoli", chúng không được nhầm lẫn với tripoli thực thụ được gọi là
"đá nghiền", do được tạo thành từ sự phân huỷ tự nhiên của một số loại
đá, thì không phải là diatomaceous. Loại tripoli thực thụ này được sử
dụng làm chất mài mềm cho đánh bóng, được xếp vào nhóm 25.13.
Nhiều loại đất khác của nhóm này đôi khi được gọi một cách không
chính xác là "đất mao trùng".
Hầu hết các loại đất này được dùng để sản xuất các sản phẩm chịu nhiệt
hoặc cách âm, cách nhiệt thuộc nhóm 68.06 hoặc 69.01. Do vậy, những
khối đá diatomite đã được cưa được xếp vào nhóm 68.06, nếu như
chúng chưa được nung; nếu theo cách khác thì chúng được xếp vào
nhóm 69.01.
Một số sản phẩm của nhóm này dùng làm bột mài hoặc bột đánh bóng.
Nhóm này không bao gồm diatomite hoạt hoá., ví dụ diatomite được
nung với các tác nhân thiêu kết như Natri chlorua hoặc Natri carbonate
(nhóm 38.02). Mặt khác diatomite đã được nung (mà không bổ sung
thêm các sản phẩm khác) nhằm mục đích loại bỏ các tạp chất hoặc được
rửa trong axit để loại bỏ tạp chất mà không làm thay đổi cấu trúc của
sản phẩm, vẫn được xếp vào nhóm này).
25.13 - Đá bọt; đá nhám; corundum tự nhiên, đá garnet tự nhiên và
đá mài tự nhiên khác, đã hoặc chưa qua xử lý nhiệt.
2513.10 - Đá bọt
2513.20 - Đá nhám, corundum tự nhiên, đá garnet tự nhiên và đá
mài tự nhiên khác
Đá bọt là một loại nham thạch núi lửa rất xốp, ráp xù xì khi sờ và rất
nhẹ, thường có màu hơi trắng hoặc xám nhưng đôi khi có màu nâu hoặc
đỏ. Nhóm này cũng bao gồm đá bọt nghiền (bimskie).
Đá nhám là dạng đá đặc được tạo từ các tinh thể oxit nhôm cứng nhỏ
được trộn với oxit sắt và các hạt mica. Nó thường ở dạng đá được sử
dụng làm bột mài sau khi nghiền sơ qua. Đá nhám nghiền là dạng bột
màu nâu có lẫn tạp chất được rắc các hạt đôi khi lấp lánh; nam châm hút
các hạt oxit sắt.
Corundum tự nhiên cũng có thành phần chủ yếu là oxit nhôm, nhưng
không giống đá nhám, nó thường được đựng trong các túi ở dạng các hạt ít
nhiều đều mịn. Corundum mài hoặc nghiền chủ yếu bao gồm các hạt nhỏ
màu trắng với một số hạt màu vàng hoặc đen. Các dạng corundum tự nhiên
vẫn được xếp vào nhóm này thậm chí nếu nó đã được xử lý nhiệt.
Các đá mài tự nhiên khác bao gồm tripoli được gọi là "đá nghiền",
một sản phẩm màu xám tro được dùng làm vật liệu mài mềm hoặc để
mài bóng và garnet (bao gồm cả bụi và bột) trừ các loại sản phẩm của
Chương 71. Các đá mài tự nhiên của phần này vẫn được xếp vào nhóm
này ngay cả khi chúng đã được xử lý nhiệt. Ví dụ ngọc thạch lưu
(Garnet) tự nhiên, sau khi được tuyển chọn, xử lý nhiệt để tăng tính mao
dẫn và độ cứng của nó.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Vật liệu mài được đề cập tới trong các nhóm khác của Chương này.
(b) Đá quý và đá bán quý, (ví dụ, rubi, sapphire) của nhóm 71.03.
(c) Đá mài nhân tạo như corundum nhân tạo (nhóm 28.18), silicon
carbide (nhóm 28.49), đá quý hoặc đá bán quý tổng hợp (nhóm
(d) Bụi và bột của đá quý hoặc đá bán quý tự nhiên hay tổng hợp (nhóm
25.14 - Đá phiến, đã hoặc chưa đẽo thô hoặc mới chỉ cắt, bằng cưa
hoặc cách khác, thành khối hoặc tấm hình chữ nhật (kể cả
hình vuông).
Đá phiến, được xẻ sẵn thành các tấm mỏng, thường có màu xám hơi
xanh nhưng đôi khi có màu đen hoặc nghiêng về màu đỏ tía.
Nhóm này bao gồm đá phiến ở dạng khối hoặc đã đẽo thô hoặc mới chỉ
được cắt bằng cách cưa hoặc các cách khác (ví dụ bằng hình sợi bó dây)
thành dạng khối hoặc tấm hình chữ nhật (kể cả hình vuông). Bột đá
phiến và phế thải cũng được đưa vào trong nhóm này.
Mặt khác nhóm này không bao gồm các đá khối dùng để khảm của nhóm
68.02 hoặc các sản phẩm sau đây mà sẽ được xếp vào nhóm 68.03.
(a) Các khối, phiến và tấm đã gia công quá mức so với miêu tả ở trên,
như cắt hoặc cưa thành các dạng trừ hình chữ nhật (cả hình vuông),
nghiền, đánh bóng, vát cạnh hoặc các gia công khác.
(b) Vật liệu lợp mái, ốp tường và các đá phiến không thấm nước, thậm
chí đã được tạo hình hoặc gia công như đã được định rõ trong nội
dung của nhóm này.
(c) Các sản phẩm của đá phiến thiêu kết.
Nhóm này cũng loại trừ các loại đá phiến và các bảng bằng đá phiến
được sản xuất để viết hoặc vẽ, có hoặc không có khung (nhóm 96.10) và
phiến bút chì (nhóm 96.09).
25.15 - Đá hoa (marble), đá travertine, ecaussine và đá vôi khác để
làm tượng đài hoặc đá xây dựng có trọng lượng riêng biểu
kiến từ 2,5 trở lên, và thạch cao tuyết hoa, đã hoặc chưa đẽo
thô hoặc mới chỉ cắt, bằng cưa hoặc bằng cách khác, thành các
khối hoặc tấm hình chữ nhật (kể cả hình vuông).
- Đá hoa (marble) và đá travertine:
2515.11 - - Thô hoặc đã đẽo thô
2515.12 - - Mới chỉ cắt, bằng cưa hoặc cách khác, thành các khối
hoặc tấm hình chữ nhật (kể cả hình vuông):
2515.20 - Ecaussine và đá vôi khác để làm tượng đài hoặc đá
xây dựng; thạch cao tuyết hoa
Đá hoa (marble) là dạng đá vôi cứng, hạt mịn và đồng nhất, thường kết
tinh và hoặc mờ đục hoặc trong mờ. Đá hoa thường có màu sắc khác
nhau do có các loại oxit khoáng (đá hoa có vân đỏ, đá hoa mã não....)
nhưng cũng có các loại màu trắng tinh khiết.
Travertine là những dạng khác nhau của đá vôi có chứa các lớp lỗ.
Ecaussine được khai thác từ nhiều mỏ khác nhau ở Bỉ và đặc biệt là ở
Ecaussine. Đây là loại đá màu xám xanh nhạt với cấu trúc tinh thể không
đều và có chứa nhiều lớp hoá thạch. Trên mặt nứt gãy ecaussine là một
bề mặt dạng hạt tương tự như đá granite và vì vậy đôi khi nó được biết
với tên " Belgian granite " , "flander granite" hoặc "granite petit"...
Nhóm này bao gồm các loại đá vôi cứng tương tự khác làm tượng đài
hoặc đá xây dựng, với điều kiện trọng lượng riêng biểu kiến từ 2,5
trở lên (nghĩa là đơn vị tính là kg/1000m3). Các loại đá vôi để làm tượng
đài hoặc đá xây dựng có trọng lượng riêng biểu kiến ít hơn 2,5 thì được
phân loại ở nhóm 25.16.
Nhóm này cũng bao gồm cả hai loại thạch cao tuyết hoa có chứa thạch
cao, là loại thường có màu trắng và trong mờ đều và các loại thạch cao
tuyết hoá có chứa vôi thường có màu hơi vàng và có vân.
Nhóm này hạn chế các loại đá đã được định rõ, ở dạng khối hoặc đã đẽo
thô hoặc chỉ được cắt bằng cách cưa, hoặc cách khác thành các khối
hoặc các tấm hình chữ nhật (kể cả hình vuông). Ở dạng hạt, mảnh vỡ
hoặc bột chúng được xếp vào nhóm 25.17.
Những dạng khối... đã gia công hơn, ví dụ như đã được xử lý qua công
đoạn đập bằng búa, đẽo bằng búa chim, búa răng hoặc đục v.v, mài
bằng cát, nghiền, đánh bóng, vát cạnh ..., được phân loại vào nhóm
68.02. Việc phân loại tương tự được áp dụng cho các loại phôi sản phẩm.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Serpentine hoặc ophite (một loại Magiê Silicate đôi khi gọi là đá hoa)
(nhóm 25.16).
(b) Đá vôi (được biết đến như "đá in" và được dùng trong ngành công
nghiệp in (nhóm 25.30 khi ở dạng thô).
(c) Các loại đá có thể nhận biết như đá khối dùng để khảm hoặc như
phiến đá lát vỉa hè, thậm chí nếu chúng chỉ được tạo hình hoặc gia
công như đã định rõ trong nội dung của nhóm này (nhóm 68.02 hoặc
68.01 tương ứng).
Chú giải phân nhóm
Phân nhóm 2515.11
Với mục đích của phân nhóm này thì "dạng thô" được coi là các khối
hoặc phiến được xẻ dọc theo mặt phẳng thớ tự nhiên của đá. Bề mặt của
chúng thường không phẳng hoặc nhấp nhô và thường có dấu của dụng
cụ dùng để phân tách (xà beng, nêm, búa chim v.v)
Phân nhóm này cũng bao gồm đá chưa tạo hình (đá hộc, sa khoáng vụn)
thu được bằng cách phá vỡ đá từ thềm khai thác (có sử dụng búa chim,
chất nổ ...). Chúng có bề mặt ghồ ghề, vỡ và các rìa không đều. Loại đá
này thường có dấu vết của việc khai thác đá (lỗ khoan nổ mìn, dấu đục
v.v,). Loại đá chưa được tạo hình được dùng để đắp đê, làm đập nước và
làm nền đường v.v.
Phân nhóm này cũng bao gồm phế liệu của các loại đá không theo hình
dạng thông thường thu được từ khai thác thực tế hoặc sau gia công (đá
hộc, đá phế liệu sau khi cưa...), nhưng chỉ khi chúng đủ lớn để cắt hoặc
dùng cho xây dựng. Theo cách khác thì chúng được xếp vào nhóm
Đá “đẽo thô” là loại đá mới chỉ được gia công thô sau khi khai thác, để
tạo thành các khối hoặc phiến, các bề mặt còn rất thô và ghồ ghề. Việc
gia công này bao hàm việc cắt bỏ các chỗ lồi không cần thiết bằng búa
hoặc bằng dụng cụ đục đẽo.
Phân nhóm này không bao gồm đá khối hoặc phiến đã được cắt thành
hình chữ nhật (kể cả hình vuông).
Phân nhóm 2515.12
Thuộc phân nhóm này là các khối và phiến chỉ mới được cắt bằng việc
cưa, phải có rõ dấu vết của quá trình cưa (hình sợi dây hoặc vết cưa
khác) trên bề mặt của chúng. Trường hợp việc cưa được thực hiện cẩn
thận thì vết cưa có thể rất mờ. Trong trường hợp này, nên đặt một tấm
giấy mỏng vào mặt đá và dùng bút chì trà nhẹ và đều với bút chì đặt nằm
ngang tối đa. Cách này sẽ giúp thấy các vệt cưa đều trên những bề mặt
được cưa cẩn thận hoặc bề mặt có dạng hạt.
Phân nhóm này cũng bao gồm các khối và phiến hình chữ nhật (kể cả
hình vuông) được gia công bằng cách khác không phải dùng cưa, như
bằng búa đục hoặc búa chim.
25.16 - Đá granit, đá pocfia, bazan, đá cát kết (sa thạch) và đá khác
để làm tượng đài hoặc đá xây dựng, đã hoặc chưa đẽo thô
hoặc mới chỉ cắt bằng cưa hoặc cách khác, thành khối hoặc
tấm hình chữ nhật (kể cả hình vuông) (+).
2516.11 - - Thô hoặc đã đẽo thô
2516.12 - - Mới chỉ cắt, bằng cưa hoặc cách khác, thành các khối
hoặc tấm hình chữ nhật (kể cả hình vuông)
2516.20 - Đá cát kết
2516.90 - Đá khác để làm tượng đài hoặc làm đá xây dựng
Granite là đá lửa dạng hạt rất cứng được hình thành bởi sự thiêu kết của
các tinh thể thạch anh với feldspar và mica. Chúng có nhiều màu khác
nhau (xám, xanh, hồng, đỏ ...) do tỉ lệ tương quan của 3 chất trên và sự
có mặt của oxit sắt hoặc oxit mangan.
Porphyry là một loại granite có hạt mịn, hơi trong mờ.
Đá cát kết (sa thạch) là đá nguồn trầm tích gồm các hạt chứa thạch anh
hoặc hạt chứa silic nhỏ, được nung kết tự nhiên từ các nguyên vật liệu
chứa vôi hoặc silic.
Đá Basalt cũng là một loại đá hỏa sinh, có màu hơi đen, chắc và rất
cứng.
Nhóm này cũng bao gồm các loại đá hỏa sinh cứng khác (như : syenite,
đá gneiss, trachyte, lava, diabase, diorite, phonolite), cũng như các loại
đá vôi hoặc đá xây dựng không xếp vào nhóm 25.15 (bao gồm đá vôi
xây dựng hoặc đá Poóc lăng) và cẩm thạch serpenite (hoặc ophite), là
dạng tự nhiên của magiê silicate, không thể được xếp vào nhóm 25.15.
Các loại đá trong nhóm này có thể được tạo hình hoặc gia công bằng các
cách tương tự như với loại đá thuộc nhóm 25.15 (xem chú giải của nhóm
này). Cần lưu ý rằng, khi vỡ thành dạng của đá dăm thì chúng được xếp
vào nhóm 25.17, và loại đá này ở các dạng có thể nhận biết như là đá lát
đường, đá lát lề đường, phiến đá lát đường sẽ được xếp vào nhóm 68.01
thậm chí mới chỉ được tạo hình hay gia công như đã qui định rõ nội dung
của nhóm này.
Ecaussine đôi khi được biết đến như là "đá granite petit", “Belgian
granite” hoặc “Flanders granite” được xếp vào nhóm 25.15. Basalt nung
chảy được xếp vào nhóm 68.15.
Khi ở dạng hạt, mảnh vụn hoặc bột thì các loại đá này được xếp vào
nhóm 25.17.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 2516.11
Xem chú giải cho phân nhóm 2515.11.
Phân nhóm 2516.12
Xem Chú giải Chi tiết của Phân nhóm 2515.12.
25.17 - Đá cuội, sỏi, đá đã vỡ hoặc nghiền, chủ yếu để làm cốt bê tông,
để rải đường bộ hoặc đường sắt hoặc đá ballast, đá cuội nhỏ
và đá lửa tự nhiên (flint) khác, đã hoặc chưa qua xử lý nhiệt;
đá dăm từ xỉ, từ xỉ luyện kim hoặc từ phế thải công nghiệp
tương tự, có hoặc không kết hợp với các vật liệu trong phần
đầu của nhóm này; đá dăm trộn nhựa đường, đá ở dạng viên,
mảnh và bột, làm từ các loại đá thuộc nhóm 25.15 hoặc 25.16,
đã hoặc chưa qua xử lý nhiệt.
2517.10 - Đá cuội, sỏi, đá đã vỡ hoặc nghiền, chủ yếu để làm cốt
bê tông, để rải đường bộ hoặc đường sắt hoặc đá
ballast khác, đá cuội nhỏ và đá lửa tự nhiên (flint)
khác, đã hoặc chưa qua xử lý nhiệt
2517.20 - Đá dăm từ xỉ, từ xỉ luyện kim hoặc từ phế thải công
nghiệp tương tự, có hoặc không kết hợp với các vật
liệu của phân nhóm 2517.10
2517.30 - Đá dăm trộn nhựa đường
- Đá ở dạng viên, mảnh và bột, làm từ các loại đá thuộc
nhóm 25.15 hoặc 25.16, đã hoặc chưa qua xử lý nhiệt:
2517.41 - - Từ đá hoa (marble)
2517.49 - - Từ đá khác
Nhóm này bao gồm đá cuội, sỏi và đá đã vỡ hoặc đã nghiền (bao gồm
hỗn hợp của nhiều loại đá khác nhau), chủ yếu được sử dụng làm cốt bê
tông, trải đường bộ hoặc đường sắt hoặc các loại ballast khác. Các vật
liệu thu được từ phế liệu xây dựng và phá dỡ công trình bao gồm chủ
yếu là các mảnh vỡ của đá được sử dụng cho mục đích tương tự, ngay cả
khi nguyên trạng hoặc sau khi nghiền cũng được xếp vào nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm cả đá cuội và đá lửa. Các cấu kiện hình tròn
của đá lửa được dùng trong máy nghiền bi để nghiền đá vôi, xi măng...
Tuy nhiên, đá lửa sau khi nghiền thô, phần lớn được sử dụng trong
ngành công nghiệp gốm hoặc dùng như vật liệu mài. Loại đá cuội khác
được dùng trong các máy nghiền bi (ví dụ để nghiền xi măng, đá vôi...)
hoặc để rải đường.
Cũng cần lưu ý rằng nhóm này không bao gồm đá lửa (flint) dạng khối
đã cắt hoặc các loại đá được gia công để tạo thành đá cuội nhân tạo dùng
trong máy nghiền bi. Chúng được xếp vào nhóm 68.02.
Nhóm này cũng bao gồm đá dăm và đá dăm trộn nhựa đường.
Đá dăm là loại đá đã nghiền, đá cuội, vảy, xỉ hoặc phế liệu công nghiệp
tương tự hoặc các hỗn hợp của các vật liệu này. Khi trộn với hắc ín,
bitum v.v… được hiểu là đá dăm trộn với nhựa đường.
Những sản phẩm được điều chế đặc biệt (ví dụ: nấu chảy hỗn hợp các
khoáng chất), ví dụ để trộn thêm với các nguyên liệu bề mặt rải đường
nhằm làm tăng độ cứng, tăng đặc tính chống trơn, mức độ hữu hình ...
đều không được đưa vào nhóm này (nhóm 38.24).
Nhóm này cũng bao gồm các hạt, mảnh vụn và bột của các loại đá thuộc
nhóm 25.15 hoặc 25.16. Tuy nhiên, khi được nhuộm màu nhân tạo (ví
dụ: để trang trí các ô cửa cửa hàng) các mảnh vụn và hạt này được xếp
vào nhóm 68.02.
Các sản phẩm sau đây vẫn được xếp vào nhóm này kể cả khi chúng đã
được xử lý nhiệt:
(1) Đá cuội, sỏi, và đá vỡ hoặc nghiền
(2) Đá cuội và đá lửa
(3) Hạt, mảnh vụn và bột của các đá của nhóm 25.15 hoặc 25.16
Theo chú giải 3 của chương này, bất kỳ sản phẩm nào có thể phân loại
vào nhóm này và vào bất kỳ nhóm nào khác của chương này đều được
phân loại ở nhóm này.
25.18 - Dolomite, đã hoặc chưa nung hoặc thiêu kết, kể cả dolomite
đã đẽo thô hoặc mới chỉ cắt bằng cưa hoặc các cách khác,
thành các khối hoặc tấm hình chữ nhật (kể cả hình vuông).
2518.10 - Dolomite, chưa nung hoặc thiêu kết
2518.20 - Dolomite đã nung hoặc thiêu kết
Dolomite là dạng muối carbonate kép tự nhiên của canxi và magiê.
Nhóm này cũng bao gồm dolomite thô và dolomite đã nung và thiêu kết.
Dolomite được nung ở mức nhiệt độ 700 - 1000 oC để chuyển nó thành
các magiê oxit và canxi oxit bằng cách giải phóng dioxide carbon. Mặt
khác, dolomite thiêu kết thu được bằng cách nung dolomite tới mức
nhiệt độ 1700 - 1900 oC khi nó trở thành vật liệu chịu lửa. Nhóm này
cũng bao gồm cả dạng dolomite đã đẽo thô hoặc chỉ cắt, bằng cách cưa
hoặc bằng phương pháp khác thành các khối hoặc tấm hình chữ nhật (kể
cả hình vuông).
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm dolomite nghiền để làm cốt bê
tông, lớp đá dăm trải đường hoặc đá rải đường tàu (nhóm 25.17) hoặc
hỗn hợp dolomite ramming (nhóm 38.16).
25.19 - Magiê carbonat tự nhiên (magiesite); magiê ôxít nấu chảy;
magiê ôxít nung trơ (thiêu kết), có hoặc không thêm một
lượng nhỏ ôxít khác trước khi thiêu kết; magiê ôxít khác,
tinh khiết hoặc không tinh khiết.
2519.10 - Magiê carbonat tự nhiên (magnesite)
2519.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm magiê (hoặc giobertite) ở dạng magiê carbonate xuất
hiện tự nhiên với các tỉ lệ tạp chất khác nhau.
Nhóm này cũng bao gồm các loại magiê (magiê oxit) thu được từ magiê
carbonate tự nhiên, Bazơ magiê carbonate, magiê hydroxide được kết tủa
từ nước biể... Các loại chính là:
(1) Magiê oxit nung chảy, thu được bằng cách nung chảy. Nó thường
không màu nhưng cũng có thể có màu hơi vàng hoặc hơi xanh. Nó ít
hoà tan hơn so với các loại magiê khác và được sử dụng như trong
sản xuất nồi nấu kim loại hoặc các phần tử gia nhiệt cho lò điện.
(2) Magiê nung trơ (thiêu kết), thu được bằng cách nung ở nhiệt độ cao
(khoảng 1400-1800oC). Magiê thiêu kết có thể chứa lượng nhỏ các
oxit khác (ví dụ oxit sắt hoặc oxit crom) được thêm trước khi thiêu
kết nhằm mục đích hạ thấp nhiệt độ thiêu kết. Nó được dùng trong
sản xuất gạch chịu lửa.
(3) Magiê nung kiềm, thường thu được từ magnesite bằng cách nung ở
nhiệt độ tương đối thấp (thấp hơn 900oc). Nó dễ tạo phản ứng hoá
học hơn dạng magiê thiêu kết hoặc nung chảy và được sử dụng như
trong sản xuất các hợp chất magiê, tác nhân khử màu hoặc xi măng
Oxit magiê nhẹ và nặng thường thu được bằng cách nung magiê
hydroxide kết tủa tinh khiết hoặc magiê carbonate bazơ tinh khiết ở nhiệt
độ từ 600-900oC. Các oxit magiê này thực tế không hoà tan trong nước
nhưng lại hoà tan nhanh trong axit loãng và dễ tạo phản ứng hoá học hơn
so với các dạng khác của magiê (như là magiê thiêu kết và magiê nung
chẩy). Chúng được sử dụng trong sản xuất dược phẩm, mỹ phẩm v.v.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Magiê carbonate bazơ đã hydrate hóa, đôi khi được hiểu là " magiê
oxit trắng dược phẩm" nhóm 28.36.
(b) Các dạng tinh thể nuôi cấy (trừ các phần tử quang học) của magiê
oxit, trọng lượng không ít hơn 2,5g mỗi tinh thể (nhóm 38.24); các
phần tử quang học bằng magiê oxit (nhóm 90.01).
25.20 - Thạch cao; thạch cao khan; thạch cao plaster (bao gồm thạch
cao nung hoặc canxi sulphat đã nung), đã hoặc chưa nhuộm
màu, có hoặc không thêm một lượng nhỏ chất xúc tác hoặc
chất ức chế.
2520.10 - Thạch cao; thạch cao khan
2520.20 - Thạch cao plaster
Thạch cao (gypsum) là dạng canxi sulphate tự nhiên đã được hydrate
hoá, thường màu trắng và dễ vụn.
Thạch cao khan là dạng canxi sulphate khan tự nhiên, được dùng trong
sản xuất axit sulphuric hoặc một số dạng thạch cao plaster.
Thạch cao plaster bao gồm thạch cao (gypsum) được tách nước một
phần hoặc toàn bộ bằng cách nung.
Đặc tính của thạch cao là: khi nung nó sẽ mất một phần nước tạo thành
thạch cao plaster mà, khi trộn với nước sẽ đông cứng. Để thạch cao
plaster không đông cứng quá nhanh thì thường cho thêm lượng nhỏ các
chất ức chế vào thạch cao nung. Đối với các mục đích đặc biệt thì thạch
cao được nung tới khi toàn bộ lượng nước của nó bị mất đi và một lượng
nhỏ của chất tăng tốc đóng rắn như phèn được thêm vào (xi măng
keenne hoặc xi măng của Anh). Các loại thạch cao plaster tương tự
được tạo ra bằng cách bổ sung phèn vào anhydrite tự nhiên. Tất cả các
loại thạch cao plaster được điều chế này vẫn được xếp vào nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Thạch cao plaster nghiền thành bột đặc quánh dùng trong công nghệ
hồ vải hoặc phủ bề mặt giấy.
(2) Thạch cao plaster có thêm các chất tạo màu.
(3) Thạch cao plaster được nung đặc biệt hoặc nghiền mịn dùng trong
nha khoa, có hoặc không thêm một lượng nhỏ chất xúc tác hay chất
ức chế. Nhóm này không bao gồm các chế phẩm dùng trong nha khoa
có thành phần cơ bản là thạch cao plaster (nhóm 34.07).
25.21 - Chất gây chảy gốc đá vôi; đá vôi và đá có chứa canxi khác,
dùng để sản xuất vôi hoặc xi măng.
Nhóm này bao gồm chất gây chảy gốc đá vôi, đá vôi và đá có chứa canxi
khác thường dùng để sản xuất đá vôi hoặc xi măng, không phải là đá
cho xây dựng hoặc làm tượng đài (nhóm 25.15 hoặc 25.16). Dolomite
xếp vào nhóm 25.18 và đá phấn xếp vào nhóm 25.09.
Chất gây chảy gốc đá vôi chủ yếu được dùng như chất gây chảy trong
công nghiệp sắt và thép.
Nhóm này cũng bao gồm các vật liệu này ở dạng bột để cải tạo đất. Tuy
nhiên, nhóm này không bao gồm đá đã vỡ hoặc nghiền làm cốt bê tông,
rải đường bộ hay đường sắt hoặc đá ballast (nhóm 25.17).
25.22 - Vôi sống, vôi tôi và vôi thủy lực, trừ oxit canxi và hydroxit
canxi thuộc nhóm 28.25.
2522.10 - Vôi sống
2522.20 - Vôi tôi
2522.30 - Vôi thủy lực
Vôi sống (là một oxit canxi có lẫn tạp chất) thu được bằng cách nung đá
vôi có chứa rất ít hoặc không chứa đất sét. Nó kết hợp với nước rất
nhanh, phản ứng tỏa nhiều nhiệt và tạo ra vôi tôi (canxi hydroxide). Vôi
tôi thường được sử dụng trong cải tạo đất hoặc trong công nghiệp chế
biến đường.
Vôi thủy lực thu được bằng cách nung đá vôi có chứa đất sét (dù tỉ lệ
thường nhỏ hơn 20%) ở nhiệt độ thấp rồi tôi với nước. Vôi chịu nước
khác với xi măng tự nhiên ở chỗ nó vẫn còn chứa một lượng xác định
vôi sống không kết hợp mà có thể được tôi bằng nước.
Nhóm này không bao gồm canxi oxit và canxi hydroxide đã tinh chế
(nhóm 28.25).
25.23 - Xi măng poóc lăng, xi măng nhôm, xi măng xỉ (xốp), xi măng
super sulphat và xi măng thủy lực tương tự, đã hoặc chưa pha
màu hoặc ở dạng clanhke (+).
2523.10 - Clanhke xi măng
- Xi măng poóc lăng:
2523.21 - - Xi măng trắng, đã hoặc chưa pha màu nhân tạo
2523.29 - - Loại khác
2523.30 - Xi măng nhôm
2523.90 - Xi măng thủy lực khác
Xi măng poóc lăng thu được bằng cách nung đá vôi ở trạng thái tự
nhiên, hoặc được trộn nhân tạo với một tỉ lệ đất sét thích hợp. Những
nguyên liệu khác như oxit silic, oxit nhôm hoặc các chất có chứa sắt
cũng có thể được thêm vào. Kết quả của quá trình nung này là: tạo ra các
bán thành phẩm gọi là clinker. Các clinker này sau đó được nghiền để
trở thành xi măng poóc lăng, loại xi măng có thể kết hợp với các chất
phụ gia và các chất tăng tốc đông cứng để làm thay đổi các đặc tính đông
cứng trong nước. Các loại xi măng poóc lăng cơ bản gồm xi măng poóc
lăng thông thường, xi măng poóc lăng trung tính và xi măng poóc lăng
trắng.
Nhóm này cũng bao gồm xi măng nhôm ôxit, xi măng xỉ, xi măng super
sulphat (xỉ lò cao đã nghiền trộn với chất tăng tốc đông cứng và thạch
cao nung), xi măng puzolan, xi măng Roman, ... và các hỗn hợp của các
loại xi măng đã nêu ở trên.
Xi măng của nhóm này có thể được pha màu.
Nhóm này không bao gồm một số sản phẩm nhất định đôi khi được biết
đến dưới tên của xi măng như: xi măng keene hoặc xi măng Anh (thạch cao
plaster chứa phèn) (nhóm 25.20) và đất puzolan, đất santorine và các loại
tương tự, đôi khi còn được gọi là xi măng tự nhiên (nhóm 25.30).
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Xỉ lò cao đã nghiền mịn cần bổ sung thêm một lượng nhỏ chất tăng
tốc đông cứng ở thời điểm chế tạo (nhóm 26.19); Tuy nhiên, xỉ đã
nghiền trộn với chất tăng tốc đông cứng sẵn sàng cho việc sử dụng,
lại được xếp vào nhóm này.
(b) Xi măng hàn răng và xi măng gắn xương (nhóm 30.06)
(c) Xi măng của nhóm 32.14
(d) Xi măng chịu lửa và vữa chịu lửa trên nền đất chịu lửa (chamotte),
… (nhóm 38.16).
(e) Vữa không chịu lửa và bê tông không chịu lửa (nhóm 38.24).
Chú giải phân nhóm
Phân nhóm 2523.21 và 2523.29
Đối với các mục đích của phân nhóm 2523.21 và 2523.29: “xi măng
poóc lăng” có nghĩa là xi măng thu được từ việc nghiền clinker poóc
lăng với một lượng nhỏ phụ gia thích hợp canxi sulphate. Cần lưu ý
rằng:
- clinker - poóc lăng là sản phẩm của nhóm 2523.10 có chứa hầu hết là
canxi silicate thu được bằng cách nung cho đến nóng chảy một phần
hỗn hợp các nguyên liệu đồng nhất và được xác định trước có chứa
chủ yếu (CaO) và oxit silic với một tỉ lệ nhỏ hơn oxit nhôm và oxit sắt
và;
- thuật ngữ canxi sulphate bao gồm: thạch cao và dẫn chất của nó cả
dạng khan hoặc các dạng canxi sulphate khác thích hợp cho sản xuất xi
măng.
25.24 - Amiăng.
2524.90 - Loại khác
Amiăng là một loại khoáng vật tự nhiên tạo bởi sự phân huỷ một số loại
đá nhất định. Nó có kết cấu dạng sợi rất đặc trưng; đôi khi ở dạng tơ và
màu sắc thay đổi rất rõ rệt, thường có màu trắng, nhưng đôi khi có màu
xám, xanh lá cây nhạt, xanh nước biển hoặc nâu đậm. Đặc tính chính của
nó là chịu nhiệt và axit.
Crocidolite là dạng amiăng từ riebeckite. Nó được thấy ở dạng bó sợi
khi là đá magma, là dạng axit có chứa hàm lượng kiềm cao và cũng ở
dạng đá biến chất. Nó có màu từ xanh nước biển đậm đến xanh xanh lá
đậm hoặc đen và ở dạng từ trong mờ đến mờ đục một phần. Amiăng
crocidolite hay còn gọi là amiăng xanh, nó có độ bền kéo hơn, độ chịu
nhiệt thấp hơn và sợi đàn hồi kém so với các dạng khác của amiăng và
có tính chịu axit nhưng không chịu kiềm. Nó được xem là loại amiăng
nguy hiểm nhất.
Nhóm này áp dụng cho amiăng thô ở dạng đá, cho các sợi thô, sợi đã
được đập nhỏ hoặc đã rửa, đã hoặc chưa được phân loại theo chiều dài
sợi, cũng áp dụng cho amiăng ở dạng vẩy hoặc bột kể cả dạng amiăng
phế liệu. Nhóm này loại trừ sợi đã được gia công nhiều hơn (ví dụ
nhuộm, chải...) và các sản phẩm hoàn thiện của amiăng (nhóm 68.12)
25.25 - Mi ca, kể cả mi ca tách lớp; phế liệu mi ca.
2525.10 - Mi ca thô và mi ca đã tách thành tấm hoặc lớp
2525.20 - Bột mi ca
2525.30 - Phế liệu mi ca
Mica (mucovite, phlogopite, biotite...) là một nhóm các silicat nhôm
phức hợp tự nhiên với yếu tố đặctrưng là được chia tách hoàn toàn thành
những tấm mỏng lóng lánh, trong suốt, đàn hồi, với màu sắc khác nhau.
Nhóm này bao gồm:
(A) Mi ca thô: bao gồm các tinh thể mi ca có hình dạng, kích cỡ và độ
dày không đồng nhất, được bao phủ bởi đất (tập)
(B) Tấm mi ca: thu được bằng cách tách các tập đã đẽo và gọt. Những
tấm này có hình đa giác không đều, giống như các tinh thể mà từ đó
chúng thu được, và các cạnh của chúng được vát cạnh và sửa bavia
thô. Độ dày của chúng thường dao động từ 200 đến 750 micromet.
(C) Mi ca tách lớp: thu được bằng cách tách riêng tấm mi ca. Giống như
các tấm mà từ đó chúng được tách, chúng có hình đa giác không đều.
Các cạnh của chúng được sửa bavia thô.
Chúng được bán dưới dạng:
(1) màng mỏng cho thiết bị ngưng tụ, thường có độ dày từ 25 đến
200 micromet (microns) hoặc
(2) Dạng tách lớp, thường có độ dày từ 12 đến 30 micromet
(microns), duy nhất được sử dụng cho sản xuất mi ca nhân tạo
(ví dụ micanite).
Nhóm này cũng bao gồm phế liệu mi ca và mi ca bột.
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm thu được bằng cách cắt dời
hoặc dập nổi từ các tấm mi ca hoặc mi ca tách lớp (nhóm 68.14 hoặc
chương 85), và các sản phẩm được làm từ cách liên kết (ghép) các mi ca
tách lớp (ví dụ: micanite, micafolium) hoặc từ mi ca đã được nghiền
nhão (đã được tái chế) (nhóm 68.14).
Vermiculite, một khoáng chất liên kết với mica được xếp vào nhóm
25.30 như đối với perlite và chlorite (các khoáng chất có liên quan về
mặt hoá học với Vermiculite).
25.26 - Quặng steatit tự nhiên, đã hoặc chưa đẽo thô hoặc mới chỉ
cắt, bằng cưa hoặc các cách khác, thành các khối hoặc tấm hình
chữ nhật (kể cả hình vuông); talc.
2526.10 - Chưa nghiền, chưa làm thành bột
2526.20 - Đã nghiền hoặc làm thành bột
Steatite tự nhiên và talc tự nhiên đều là các chất khoáng giàu magiê
silicate chứa nước. Steatite rắn chắc hơn nhiều so với talc. Talc thường
có hình lá mỏng, mềm và trơn khi tiếp xúc.
Steatite tự nhiên thuộc nhóm này có thể được tạo hình hoặc được xử lý
bằng cách tương tự như các đá của nhóm 25.15 (xem chú giải của nhóm
này) và có thể phải trải qua các quá trình cho phép tại chú giải 1 của
chương này. Đá xà phòng là dạng khác của steatite tự nhiên.
Talc trong nhóm này có thể phải trải qua các quá trình cho phép tại chú
giải 1 của chương này. Các dạng thường gặp của talc là dạng đã nghiền
thành bột hoặc thô.
Thuật ngữ "đá phấn Pháp" thường để chỉ một số dạng nhất định của
steatit hoặc talc ở dạng bột.
Nhóm này không bao gồm "phấn thợ may" có thành phần là steatit
(nhóm 96.09).
25.28 - Quặng borat tự nhiên và tinh quặng borat (đã hoặc chưa
nung), nhưng không kể borat tách từ nước biển tự nhiên;
axit boric tự nhiên chứa không quá 85% H3BO3 tính theo
trọng lượng khô.
Nhóm này chỉ bao gồm các khoáng chất borat tự nhiên do khai thác,
dạng cô đặc (đã hoặc chưa nung) của các nguyên liệu này, và axit boric
tự nhiên thu được bằng cách làm bay hơi nước còn lại sau khi ngưng tụ
hơi nước tự nhiên thoát ra từ lòng đất ở một số vùng nhất định (soffioni
của Ý), hoặc bằng cách làm bay hơi nước được hút từ các nguồn nước
ngầm ở các vùng này. Tuy vậy, nhóm này không bao gồm axit boric có
chứa nhiều hơn 85% H3BO3 tính theo trọng lượng khô (nhóm 28.10).
Các borate tự nhiên được phân loại ở đây bao gồm:
(1) Kernite hoặc tincal, natri borate cũng được biết đến như là "borax tự
nhiên)
(2) Pandermite và priceite, borate canxi
(3) Boracite, magiê chloroborat.
Nhóm này không bao gồm Natri borat (borat đã tinh chế) thu được bằng
cách xử lý hoá học kernite hoặc tincal và natri borat thu được bằng cách
làm bay hơi nước muối phức hợp từ một số hồ nước mặn (nhóm 28.40).
25.29 - Tràng thạch (đá bồ tát); lơxit (leucite), nephelin và nephelin
xienit; khoáng fluorite.
2529.10 - Tràng thạch (đá bồ tát)
- Khoáng fluorite:
2529.21 - - Có chứa canxi florua không quá 97% tính theo khối
lượng
2529.22 - - Có chứa canxi florua trên 97% tính theo khối lượng
2529.30 - Lơxit; nephelin và nephelin xienit
Tràng thạch (đá bồ tát), Lơxit, nephelin và nephelin xienit bao gồm
các silicate phức hợp của nhôm và kim loại kiềm hay kim loại kiềm thổ.
Chúng được dùng làm các chất gây chảy trong ngành công nghiệp gốm.
Nhóm này không bao gồm cát chứa feldspathic (nhóm 25.05).
Khoáng Flourit (hoặc florite) là dạng florua canxi tự nhiên, tồn tại ở
dạng vỉa khối rắn, có nhiều màu sắc khác nhau hoặc ở dạng tinh thể kết
tụ với màu sắc khác nhau. Nó được dùng chủ yếu trong sản xuất axit
hydrofluoric và làm chất gây chảy cho luyện kim.
Nhóm này cũng bao gồm flourit thu được từ khoáng chất qua xử lý
nhiệt làm cho sản phẩm chia tách thành các hạt cấu thành của nó; vì các
hạt khác nhau về kích thước nên việc sàng lọc đơn giản sau đó sẽ cho
phép lấy đi phần hàm lượng oxit Silic.
Nhóm này không bao gồm flourit hoặc flourit ở dạng đá quý hoặc bán
quý (Chương 71).
25.30 - Các chất khoáng chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác.
2530.10 - Vermiculite, đá trân châu và clorit, chưa giãn nở
2530.20 - Kiezerit, epsomit (magiê sulphat tự nhiên)
2530.90 - Loại khác
(A) CHẤT MÀU TỪ ĐẤT, ĐÃ HOẶC CHƯA ĐƯỢC NUNG
HOẶC TRỘN VỚI NHAU; CÁC OXIT SẮT TỰ NHIÊN CÓ
CHỨA MI CA.
Các chất màu được phân loại ở đây thường là đất sét xuất hiện tự nhiên
được trộn với các chất khoáng màu trắng hoặc khoáng có màu, đặc biệt
là oxit sắt; do các đặc tính tạo màu của chúng mà chúng thường được sử
dụng làm chất màu
Bao gồm:
(1) Ochres (màu vàng, nâu, đỏ, đỏ Tây Ban Nha)
(2) Đất sienas (đất sienna Italia, màu nâu vàng và đất sienna nung, nâu
(3) Umbers (bao gồm umber nung), có màu nâu hoặc nâu tối
(4) Đất đen và đất màu nâu vandyke tự nhiên (đất cassel và cologne).
Dạng đất nâu vandyke dễ tan là một chất màu được điều chế, được
xếp vào nhóm 32.06.
(5) Đất verona và đất Cyprus (màu xanh)
Việc nung hoặc trộn lẫn các chất màu từ đất với nhau không làm ảnh
hưởng đến việc phân loại chúng. Tuy nhiên, khi trộn với các chất khác
hoặc ở trạng thái phân tán trong nước, dầu v.v chúng lại được xếp vào
Chương 32.
Nhóm này không bao gồm quặng sắt (nhóm 26.01) và các chất màu từ
đất có chứa 70% trở lên hợp chất của sắt tính theo trọng lượng Fe2O3
(nhóm 28.21)
Tuy nhiên oxit sắt có chứa mica được dùng chủ yếu làm chất màu
chống gỉ, được phân loại trong nhóm này mặc dù chúng có chứa hơn
70% hợp chất của sắt tính theo trọng lượng.
(B) ĐÁ BỌT BIỂN (ĐÃ HOẶC KHÔNG Ở DẠNG VIÊN ĐƯỢC
MÀI BÓNG ) VÀ HỔ PHÁCH; ĐÁ BỌT BIỂN NUNG KẾT VÀ
HỔ PHÁCH NUNG KẾT DẠNG TẤM, GẬY, QUE HOẶC CÁC
DẠNG TƯƠNG TỰ CHƯA ĐƯỢC GIA CÔNG SAU KHI ĐỔ
KHUÔN, ĐÁ JET.
(1) Đá bọt biển tự nhiên là dạng silicate magiê đã được hydrate hoá
rất nhẹ và xốp, màu trắng, hơi vàng, xám hoặc hồng hầu như chỉ
được tìm thấy độc nhất ở đảo Asia Minor Châu Á. Loại này thu
được ở dạng viên nhỏ (kích thước hiếm khi vượt quá 30cm). Những
viên đá này phải trải qua quá trình làm sạch sơ bộ, cạo, đánh bóng
bằng len và làm khô (bằng ánh nắng mặt mặt trời hoặc lò sấy), sau
đó đánh bóng bằng vải flannel và bằng sáp nhằm cải thiện bề ngoài
của chúng và làm tăng chất lượng và phẩm cấp của chúng.
Đá bọt nung kết thu được bằng cách nung kết các phôi và các phế
liệu khác của bọt biển tự nhiên khác với các tác nhân kết dính (dầu,
phèn v.v) dưới tác động của nhiệt. Nó chỉ được xếp vào nhóm này
khi ở dạng tấm, que... Hoặc các dạng tương tự, không được gia
công sau khi đổ khuôn.
(2) Hổ phách là loại nhựa hoá thạch (còn được biết với tên "succinite"
hoặc "Karabé"). Nhìn chung nó có các màu từ vàng đến da cam
thẫm. Cần tránh nhầm lẫn hổ phách hoặc succunite với ambergris
(2) Amber is a fossilised resin (also known as “succinite” or “Karabé ”).
(hổ phách xám), chất được tiết ra từ cá voi được xếp vào nhóm
Hổ phách nung kết (hoặc ambroid), một khoáng chất đục mờ, hình
thành bằng cách nung kết phế thải của hổ phách. Nó chỉ xếp vào
nhóm này khi ở dạng tấm, thanh, que hoặc các dạng tương tự, không
được gia công sau khi tạo khuôn.
(3) Đá jet là một loại than non đặc. Nó có màu đen nhánh, rất dễ chạm
đục và có độ bóng cao. Mặc dù được ứng dụng trong sản xuất kim
hoàn, nhưng nó không được coi như là một loại đá quý theo mục
đích của chương này
(C) STRONTIANITE (ĐÃ HOẶC CHƯA NUNG) TRỪ OXIT
Nhóm này bao gồm strontianite (strontium carbonate tự nhiên) và
strontianite nung, mà thành phần chính là oxit strontium không tinh khiết.
Nhóm này không bao gồm oxit strontium tinh khiết (nhóm 28.16).
(D) CÁC KHOÁNG CHẤT CHƯA ĐƯỢC NÊU CHI TIẾT HOẶC
GHI Ở NƠI KHÁC, ĐỒ GỐM VỠ.
Ngoài những mặt hàng khác, nhóm này bao gồm:
(1) Arsenic sulphide tự nhiên. Gồm hai dạng chính là:
(i) Realgar, là arsenic sulphide có màu đỏ sáng được sử dụng trong
kỹ nghệ pháo hoa.
(ii) Orpiment, là arsenic trisulphide, có màu vàng sáng, được sử dụng
trong chế tạo sơn.
Mispickel (arsenical pyrite) hoặc sắt thioarsenide), cũng được xếp
trong nhóm này.
(2) Alunite, còn được gọi là đá phèn bởi vì nó được dùng trong sản xuất
phèn. Đó là dạng giống đá, màu xám đỏ, hoặc màu hơi vàng, và
dính màu lên ngón tay.
(3) Vermiculite, là khoáng chất gắn liền với mica và có màu tương tự,
nhưng thường ở dạng vảy nhỏ hơn; cũng như chlorite và perlite, các
khoáng này về mặt hoá học có quan hệ với vermiculite. Các loại
khoáng này bị trương nở khi nung và sau đó tạo thành các vật liệu
cách nhiệt. Tuy nhiên, ở dạng trương nở (hoặc tróc vảy) chúng được
xếp vào nhóm 68.06.
4) Lydite, là loại đá màu sẫm, có cấu trúc tế vi và nổi hạt phẳng, xù xì
và rất cứng không bị ăn mòn bởi axit. Các đá thử được làm bằng
lydite (ví dụ để thử kim loại quý) sẽ được xếp vào nhóm 68.15.
(5) Celestite (strontium sulphate tự nhiên) spar Iceland (hoặc calcite) và
aragonite, là dạng canxi carbonate kết tinh, lepidolite (lithium mica)
và
(nhôm
(6) Đất vườn, đất hoang, đất đầm lầy, đất bồi, đất mùn lá cây, đất đào và đất
tầng cái mà, mặc dù được sử dụng trong kỹ thuật làm vườn tạo phong
cảnh hoặc trong nông nghiệp, nhưng không được xếp vào Chương 31
(phân bón) dù chúng có chứa hoặc không chứa hàm lượng nhỏ trạng thái
tự nhiên của Nitơ, phosphorus hay kali. Tuy nhiên, nhóm này không bao
gồm các loại cát được đào tự nhiên (nhóm 25.05).
(7) Pozzolana, santorin, trass và các loại đất tương tự đôi khi được gọi
là xi măng tự nhiên vì chúng được dùng trong sản xuất xi măng.
(8) Đá vôi (được hiểu là “đá in” và được dùng trong ngành công nghiệp
in), ở dạng thô.
(9) Đồ gốm vỡ, các mảnh gạch vỡ và các miếng bê tông vỡ.
(10) Quặng của các kim loại đất hiếm (ví dụ: bastnasite, xenotime, gadolinite)
nhưng không bao gồm manazite và các quặng khác được sử dụng duy
nhất hoặc chủ yếu để tách uranium hoặc thorium (nhóm 26.12)
(11) Các chất làm mờ (opacifier) dùng trong tráng men, thu được bằng
cách xử lý cát zircon (làm sạch bằng axit hydrochloric và đưa về
kích thước micro).
(12) Tinh quặng molybdenite thu được từ quặng molybdenum bằng một
số các phương pháp vật lý nhất định như: rửa, nghiền, tuyển nổi và
bằng phương pháp xử lý nhiệt (trừ nung) nhằm loại bỏ các dấu vết
của nước, dầu để dùng cho mục đích phi luyện kim (dầu nhờn).
(13) Nsutite là quặng manganese có chứa không ít hơn 79% oxit
manganese tính theo trọng lượng, không sử dụng trong công nghiệp
luyện kim để tách manganese mà để dùng trong pin điện.
(14) Cryolite tự nhiên, chủ yếu thu được từ Greenland, màu trắng tuyết,
đôi khi nhuốm màu, sáng bóng và hầu như trong suốt, được dùng
như chất gây chảy đặc biệt trong việc sản xuất nhôm bằng điện
phân; chiolite tự nhiên, mà, giống như criolite, có thể được xem như
là natri fluoroaluminate. Nhóm này không bao gồm các fluoride
được sản xuất bằng hoá chất có thành phần tương tự đối với cryolite
và chiolite (nhóm 28.26).
Nhóm này không bao gồm đá quý và đá bán quý thuộc Chương 71.
Chương 26
Quặng, xỉ và tro
Chú giải
1. Chương này không bao gồm:
(a) Xỉ hoặc các phế liệu công nghiệp tương tự đã được gia công như
đá dăm (nhóm 25.17);
(b) Magiê carbonat tự nhiên (magnesite) đã hoặc chưa nung (nhóm
(c) Cặn từ thùng chứa dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ, chứa chủ yếu là
các loại dầu này (nhóm 27.10);
(d) Xỉ bazơ thuộc Chương 31;
(e) Sợi xỉ, bông len đá (rock wool) hoặc các loại sợi khoáng tương tự
(nhóm 68.06);
(f) Phế liệu hoặc mảnh vụn của kim loại quý hoặc kim loại dát phủ
bằng kim loại quý; phế liệu hoặc phế thải khác chứa kim loại quý
hoặc hỗn hợp kim loại quý, thuộc loại sử dụng chủ yếu cho việc
thu hồi kim loại quý (nhóm 71.12 hoặc 85.49); hoặc
(g) Đồng, niken hoặc coban sten sản xuất bằng quy trình nấu chảy
(Phần XV).
2. Theo mục đích của các nhóm từ 26.01 đến 26.17, thuật ngữ "quặng" là
khoáng sản của nhiều thực thể khoáng chất thường được dùng trong
công nghiệp luyện kim để tách thuỷ ngân, kim loại thuộc nhóm 28.44
hoặc các kim loại thuộc Phần XIV hoặc XV, ngay cả khi các quặng
này không dùng để luyện kim. Tuy nhiên, các nhóm từ 26.01 đến
26.17 không bao gồm các loại khoáng đã qua các quy trình không
thông thường đối với ngành công nghiệp luyện kim.
3. Nhóm 26.20 chỉ áp dụng đối với:
(a) Xỉ, tro và cặn dùng trong công nghiệp tách kim loại hoặc dùng
để sản xuất các hợp kim hoá học, trừ tro và cặn từ quá trình đốt
rác thải đô thị (nhóm 26.21); và
(b) Xỉ, tro và cặn chứa arsen, có chứa hoặc không chứa kim loại, là
loại dùng để tách arsen hoặc kim loại hoặc dùng để sản xuất các
hợp chất hoá học của chúng.
Chú giải phân nhóm.
1. Theo mục đích của phân nhóm 2620.21, "cặn của xăng pha chì và cặn
của hợp chất chì chống kích nổ" nghĩa là cặn thu được từ các thùng
chứa xăng pha chì và các hợp chất chì chống kích nổ (ví dụ, chì
tetraethyl), và bao gồm chủ yếu là chì, hợp chất chì và ôxit sắt.
2. Xỉ, tro và cặn chứa arsen, thuỷ ngân, tali hoặc các hỗn hợp của chúng,
thuộc loại dùng để tách arsen hoặc những kim loại trên hoặc dùng để
sản xuất các hợp chất hoá học của chúng, được phân loại vào phân
nhóm 2620.60.
KHÁI QUÁT CHUNG
Các nhóm 26.01 đến 26.17 được giới hạn cho những quặng kim loại và
những tinh quặng mà chúng: (A) Là các mẫu khoáng vật thực thể sử
dụng trong công nghiệp luyện kim để tách các kim loại thuộc phần
XIV hoặc XV, thuỷ ngân hoặc các kim loại thuộc nhóm 28.44, ngay
cả khi chúng không dùng để luyện kim, và.
(B) Không phải chịu các quá trình không thông thường đối với ngành
công nghiệp luyện kim.
Khái niệm "quặng" áp dụng cho các khoáng sản chứa kim loại liên kết
với các chất và được khai thác từ mỏ. Nó cũng áp dụng cho các kim loại
tự nhiên dưới dạng quặng nghèo (ví dụ các loại cát có chứa kim loại).
Quặng cho các quy trình luyện kim đôi khi được đưa ra thị trường trước
khi chế biến. Các quá trình chế biến quan trọng nhất là làm giàu quặng.
Đối với các nhóm 26.01 đến 26.17, thì thuật ngữ "tinh quặng" được áp
dụng cho quặng mà một phần hoặc toàn bộ các tạp chất được loại bỏ
bằng cách xử lý đặc biệt hoặc là vì các tạp chất đó có thể làm trở ngại
cho các quy trình luyện kim hoặc loại bỏ với mục đích tiết kiệm trong
vận chuyển.
Những quy trình mà các sản phẩm nhóm 26.01 đến 26.17 có thể trải qua,
bao gồm cả các quy trình vật lý, hoá lý hoặc hoá học với điều kiện là các
biện pháp này là thông thường đối với sự làm giàu quặng để tách kim
loại. Loại trừ các thay đổi do kết quả nung, thiêu, hoặc đốt cháy (có hoặc
không có sự thiêu kết những quy trình này không được làm biến đổi
thành phần hoá học của hợp chất cơ bản mà cho ra loại kim loại mong
muốn.
Các quy trình vật lý hoặc hoá-lý này bào gồm nghiền, nghiền nhỏ, tách
bằng từ tính, tách bằng trọng lực, tuyển nổi, sàng lọc, phân loại, thiêu kết
bột (ví dụ bằng cách nung kết hoặc vê viên) thành các hạt, viên bi, viên
gạch… (có hoặc không thêm lượng nhỏ các chất kết dính) làm khô,
nung, thiêu để oxit hoá, khử hoặc từ hoá quặng… (nhưng không được
nung cho các mục đích sulphate hoá, clorua hoá)
Các quá trình hoá học nhằm mục đích loại các chất không mong muốn
(ví dụ sự hoà tan).
Các tinh quặng thu được bằng quy trình xử lý, trừ các biện pháp nung
hoặc thiêu, mà các biện pháp này làm thay đổi thành phần hoá học hoặc
cấu trúc tinh thể của quặng cơ bản thì sẽ bị loại trừ (phần chung chương
28). Cũng loại trừ các sản phẩm ít nhiều tinh khiết thu được bằng cách
lặp lại biến đổi vật lý (kết tinh phân đoạn, thăng hoa, v.v.), kể cả khi
không có thay đổi trong thành phần hoá học cơ bản của quặng.
Quặng thuộc các nhóm 26.01 đến 26.17 được dùng vì mục đích thương
mại gồm:
(1) Kim loại quý đã định nghĩa trong chương 71 (nghĩa là vàng, bạc,
platin, iridium, osmium, palladium, rhodium và ruthenium)
(2) Các kim loại cơ bản trong luyện kim được đề cập trong phần XV (có
nghĩa là sắt, đồng, niken, nhôm, chì, kèm, thiếc, wolfram, molipden,
(3) Thuỷ ngân thuộc nhóm 28.05
(4) Các kim loại thuộc nhóm 28.44
Trong một số trường hợp, các quặng được sử dụng để điều chế hợp kim
như hợp kim ferro-manganese hoặc ferro-chromium.
Trừ trường hợp có các yêu cầu khác, các quặng và tinh quặng bao gồm
từ hai loại khoáng vật trở lên sẽ được phân loại ở các nhóm 26.01 đến
26.17 một cách phù hợp bằng việc áp dụng qui tắc giải thích chung 3(b)
hoặc không đủ sẽ theo sự áp dụng qui tắc 3(c).
Các nhóm 26.01 đến 26.17 không bao gồm:
(a) Các khoáng sản có chứa các kim loại trên nếu:
(i) Chúng đã được phân loại ở nhóm khác. Ví dụ quặng pyrite sắt
không nung (nhóm 25.02) cryolite và chiolite tự nhiên (nhóm
(ii) Các kim loại không được tách cho mục đích thương mại. Ví dụ
các chất màu từ đất màu, alunite hoặc alumstone (nhóm 25.30),
các loại đá quý và đá bán quý (Chương 71).
(b) Các loại khoáng sản mà hiện đang được sử dụng để chiết tách
magiê, như dolomite (nhóm 25.18), magnesite hoặc giobertite
(nhóm 25.19) và carnallite (nhóm 31.04).
(c) Các khoáng của các kim loại kiềm hoặc kim loại kiềm thổ nhóm
28.05 (ví dụ như lithium, natri, potassium, rubidium, caesium, canxi,
strontium và barium), những khoáng này bao gồm muối (nhóm
25.01) baryte và witherite (nhóm 25.11) strontianite, celestite, spar
Iceland và aragonite (nhóm 25.30).
(d) Kim loại tự nhiên (ví dụ các cục hoặc các hạt) và các hợp kim
được tách từ quặng nghèo hoặc quặng giàu, các kim loại tự sinh
(sửa lại: tự nhiên) và hợp kim tự nhiên này đã được phân loại ở
Phần XIV hoặc XV.
(e) Các quặng của các kim loại đất hiếm thuộc nhóm 25.30.
26.01 - Quặng sắt và tinh quặng sắt, kể cả pirit sắt đã nung.
- Quặng sắt và tinh quặng sắt, trừ pirit sắt đã nung:
2601.11 - - Chưa nung kết
2601.12 - - Đã nung kết
2601.20 - Pyrite sắt đã nung
Các quặng chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(a) Hematitte đỏ, bao gồm quặng sắt có ánh kim và martite - sắt oxit - và
hematite nâu (minette) - oxit sắt đã hydrate hoá có chứa sắt và canxi
(b) Limonite, sắt oxit đã hydrate hóa
(c) Magnetite, oxit sắt từ
(d) Siderite hoặc chalybite, sắt carbonate.
(e) Sắt pyrite đã nung hoặc xỉ pirit đã hoặc chưa thiêu kết.
Nhóm này cũng bao gồm quặng sắt và tinh quặng sắt với hàm lượng
mangan ít hơn 20% tính theo trọng lượng khô (quặng và tinh quặng làm
giàu đã gia nhiệt tới nhiệt độ 105 đến 110o C (xem chú giải nhóm 26.02).
Tùy thuộc vào hàm lượng mangan mà các quặng được biết đến như một
trong hai quặng sắt chứa mangan hoặc quặng mangan chứa sắt.
Nhóm này loại trừ magnetite đã nghiền mịn và các quặng sắt nghiền
mịn để sử dụng làm các chất màu (Chương 32).
26.02 - Quặng mangan và tinh quặng mangan, kể cả quặng mangan
chứa sắt và tinh quặng mangan chứa sắt với hàm lượng
mangan từ 20% trở lên, tính theo trọng lượng khô.
Các quặng chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(b) Rhodochrosite (hoặc dialogite) mangan carbonate
(d) Manganite, mangan oxit đã hydrat hoá
(e) Psilomelane, mangan dioxit đã hydrate hoá
(f) Pyrolusite (hoặc polianite), mangan dioxit
Nhóm này cũng bao gồm quặng và tinh quặng mangan chứa sắt, với hàm
lượng mangan từ 20% trở lên tính theo trọng lượng khô (quặng và tinh
quặng đã gia nhiệt tới nhiệt độ từ 105 đến 1100C); những loại với hàm
lượng mangan nhỏ hơn 20% tính theo trọng lượng khô bị loại trừ
(nhóm 26.01).
Nhóm này cũng loại trừ pyrolusite được chế biến cho sử dụng trong pin
khô (nhóm 25.30).
26.03 - Quặng đồng và tinh quặng đồng.
Các quặng chính được phân loại trong nhóm này là:
(a) Atacamite, đồng hydroxychloride tự nhiên
(b) Azurite, đồng carbonat bazơ
(c) Bornite (hoặc erubescite) sulphua của đồng và sắt
(d) Bournonite, sulphua của đồng, chì và antimony
(e) Brochantite, sulphate đồng bazơ .
(f) Chalcocite, đồng sulphua
(g) Chalcopyrite (đồng pyrite), sulphua của đồng và sắt
(h) Chrysocolla, đồng silicate đã hydrat hoá
(ij) Covellite, đồng sulphua
(l) Dioptase, đồng silicate
(m) Quặng đồng xám (thường có chứa bạc) là sulphua đồng và sulphua
antimon (tetrahedrite hoặc fahlerz) hoặc sulphua đồng và sulphua arsenic
(n) Malachite, đồng carbonat bazơ
26.04 - Quặng niken và tinh quặng niken.
Các quặng chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(a) Garnierite, silicat kép của niken và magnesium
(c) Pentlandite, sulphide niken và sulphide sắt
(d) Pyrrhotite có chứa niken, sắt sulphide có chứa niken
26.05 - Quặng coban và tinh quặng coban.
Các quặng chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(a) Cobaltite, sulphide cobalt và arsenide cobalt.
(b) Heterogenite, oxit coban đã hydrate hoá
(c) Linnaeite, sulphide cobalt và sulphide niken
26.06 - Quặng nhôm và tinh quặng nhôm.
Nhóm này bao gồm boxit (oxit nhôm đã hydrate hoá có chứa oxit sắt và
oxit silic vv… với các tỷ lệ khác nhau.)
Nhóm này cũng bao gồm boxit, đã xử lý nhiệt (12000C đến 14000C)
thích hợp để sử dụng trong luyện kim để sản xuất nhôm ( phương pháp
khử hoàn nguyên nhiệt carbon trong lò nung điện, phương pháp Gross...)
hoặc cho mục đích khác (đặc biệt cho sản xuất vật liệu mài).
26.07 - Quặng chì và tinh quặng chì.
Các quặng chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(a) Anglesite, chì sulphate
(b) Cerussite, chì carbonate
(c) Galena, chì sulphide, thường có chứa bạc
(d) Pyromorrphite, phosphate chì và chloride chì
26.08 - Quặng kẽm và tinh quặng kẽm.
Các quặng chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(a) Blende (sphalerite), kẽm sulphide
(b) Hemimorphite (hoặc calamine), kẽm hydrosilicate
(c) Smithsonite, kẽm carbonate
(d) Zincite, kẽm oxit.
26.09 - Quặng thiếc và tinh quặng thiếc.
Các quặng chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(a) Cassiterite (hoặc tin-stone), thiếc oxit
(b) Stannite (hoặc thiếc pyrite), muối sulphide của thiếc, đồng và sắt
26.10 - Quặng crom và tinh quặng crom.
Nhóm này bao gồm chromite (hoặc quặng sắt crom) có nghĩa là dạng
oxit của crom và sắt.
26.11 - Quặng vonfram và tinh quặng vonfram.
Các quặng chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(a) Ferberite, tungstate sắt
(d) Wolframite, tungstate của sắt và mangan.
26.12 - Quặng urani hoặc quặng thori và tinh quặng urani hoặc tinh
quặng thori.
2612.10 - Quặng urani và tinh quặng urani
2612.20 - Quặng thori và tinh quặng thori
Các quặng chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(a) Autunite, muối phosphate của uranium và canxi đã hydrate hoá
(c) Cacnotite, muối vanadate của uranium và kali đã hydrate hoá
(e) Davidite, uranium sắt titanate
(f) Parsonsite, muối phosphate của uranium và chì đã hydrate hoá
(g) Pitchblende và uraninite, muối oxit uranium
(h) Torbernite (hoặc chalcolite) muối phosphate uranium và đồng đã
hydrate hoá
(ij) Tyuyamunite, muối vanadate của uranium và canxi đã hydrate hoá
(l) Uranothorianite, uranium oxit và thorium oxit
Các loại quặng thorium chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(a) Monazite, muối phosphate của thorium và các đất hiếm
(b) Thorite, silicate thorium đã hydrate hoá
Nhóm này loại trừ các sản phẩm được biết trong thương mại như "các
tinh quặng" của uranium mà chúng được điều chế từ những quá trình
không thông thường đối với công nghiệp luyện kim (nhóm 28.44).
26.13 - Quặng molipden và tinh quặng molipden.
2613.10 - Đã nung
2613.90 - Loại khác
Các loại quặng molipden chính thường được phân loại trong nhóm
này là:
(b) Wulfenite, chì molybdate
Nhóm này cũng bao gồm tinh quặng molybdenite đã nung (“molybdic
oxit kỹ thuật”) thu được bằng cách chỉ nung các tinh quặng molybdenite.
Nhóm này không bao gồm molybdenite được chế biến làm chất bôi
trơn (nhóm 25.30).
26.14 - Quặng titan và tinh quặng titan.
Các quặng chính được phân loại trong nhóm này là:
(a) Inmenit (hoặc quặng sắt chứa titan), sắt titanate
(b) Rutile, anatase và brookite, titan oxit
Nhóm này loại trừ các quặng titan đã nghiền mịn để sử dụng làm chất
màu (Chương 32).
26.15 - Quặng niobi, tantali, vanadi hoặc zircon và tinh quặng của
các loại quặng đó.
2615.10 - Quặng zircon và tinh quặng zircon
2615.90 - Loại khác
Các loại quặng zirconium chính được phân loại trong nhóm này là:
(b) Zircon và cát zircon, zirconium silicate zirconium (khi ở dạng đá
quý, zircon được xếp vào nhóm 71.03).
Các quặng tantalum và niobium (columbium) chính thường được phân
loại trong nhóm này là: tantalite và niobite (columbite) (có nghĩa là
tantalo-niobate của sắt và mangan)
Các quặng vanadium chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(a) Descloizite, vanadat bazơ của chì và kẽm
(c) Roscoelite (vanadium mica) phức chất vanado-silicate của nhôm
và magiê
(d) Vanadinite, muối vanadate chì và chloride chì
Vanadium oxit nóng chảy thu được bằng các quá trình xử lý, trừ nung
hoặc thiêu, mà làm biến đổi thành phần hoá học hoặc cấu trúc tinh thể
của quặng cơ bản thì được loại trừ (thường thuộc Chương 28)
Nhóm này cũng loại trừ cát zircon cỡ hạt micro để sử dụng như một
chất làm đục trong sản xuất men (nhóm 25.30).
26.16 - Quặng kim loại quý và tinh quặng kim loại quý.
2616.10 - Quặng bạc và tinh quặng bạc
2616.90 - Loại khác
Các quặng chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(a) Argentile, bạc sulphide
(b) Calaverite (telluride của vàng và bạc)
(c) Cerargyrite (hoặc horn silver) các bạc chloride, bạc iodide
(d) Polybasite, sulphide của bạc và antimony
(e) Proustite, sulp hide của bạc và arsenic
(f) Pyrargyrite, sulphide của bạc và antimony
(g) Stephanite, sulphide của bạc và antimony
(h) Cát có chứa vàng và platinum, loại sau thường chứa các kim loại
khác thuộc nhóm platinum (ví dụ: iridium, osmium, palladium,
rhodium và ruthenium).
26.17 - Các quặng khác và tinh quặng của các quặng đó.
2617.10 - Quặng antimon và tinh quặng antimon
2617.90 - Loại khác
Các quặng chính thường được phân loại trong nhóm này là:
(1) Quặng antimony
(d) Stibnite (hoặc antimonite), antimony sulphide)
(e) Valentinite hoặc antimon trắng, antimon oxit
(2) Quặng Beryllium:
(a) Beryl, silicate kép của beryllium và nhôm (nếu ở dạng đá quý thì
beryl hoặc emerald thường được xếp trong nhóm 71.03)
(3) Quặng bismuth:
(a) Bismuthinite (hoặc quặng bóng), bismuth sulphide
(b) Bismutite, bismuth carbonate đã hydrate hoá
(c) Ochre bismuth (hoặc bismite) bismuth oxit đã hydrate hoá
(4) Quặng Germanium.
Germanite, Germano- sulphide đồng
Nhóm này loại trừ các sản phẩm được biết trong thương mại như là
"những tinh quặng" của germanium mà chúng thu được từ quá trình
không thông thường trong công nghiệp luyện kim (thường thuộc
nhóm 28.25)
(5) Quặng thuỷ ngân:
Cinnabar, thuỷ ngân sulphide.
Indium, gallium, rhenium, hafnium, thallium và cadmium không được
tách trực tiếp từ một quặng đặc biệt, nhưng thu được dưới dạng sản
phẩm phụ khi luyện các kim loại khác (ví dụ: kẽm, chì, đồng, nhôm,
26.18 - Xỉ hạt (xỉ cát) từ công nghiệp luyện sắt hoặc thép.
Nhóm này bao gồm các dạng xỉ hạt nhỏ (xỉ cát) thu được, ví dụ bằng
việc rót cặn xỉ lỏng vào nước khi ra khỏi lò cao.
Mặt khác, nó không bao gồm sợi xỉ thu được bằng cách thổi hơi nước
hoặc không khí nén qua xỉ nóng chảy và cũng không bao gồm xỉ sủi bọt
được tạo ra bằng cách thêm một lượng nhỏ nước vào xỉ nóng chảy
(nhóm 68.06). Nhóm này cũng không bao gồm xỉ xi măng (nhóm
26.19 - Xỉ, xỉ luyện kim (trừ xỉ hạt), vụn xỉ và các phế thải khác từ
công nghiệp luyện sắt hoặc thép.
Các loại xỉ thuộc nhóm này là các silicate của nhôm, silicate canxi hoặc
sắt thu được trong quá trình luyện quặng sắt (xỉ lò cao), sự tinh luyện
gang thỏi hoặc sản xuất thép (xỉ lò thổi). Nhóm này bao gồm các loại xỉ
mà chúng có hoặc không chứa hàm lượng sắt thích hợp cho phép thu hồi
kim loại. Nhưng nhóm này không bao gồm xỉ phosphatic (xỉ thông
thường hoặc xỉ Thomas). Đây là loại phân bón quan trọng, được xếp
trong Chương 31.
Xỉ và xỉ luyện kim và xỉ phế liệu được dùng trong sản xuất xi măng, cho
đắp nền và làm đường. Xỉ nghiền và mức độ thô như đá dăm được xếp
vào nhóm 25.17. Nhóm này cũng loại trừ xỉ hạt (xỉ cát) của nhóm 26.18
Xỉ vụn là các mảnh vụn của sắt oxit mà chúng tạo thành từ quá trình rèn,
cán nóng ... sắt hoặc thép.
Nhóm này cũng bao gồm bụi từ lò cao và các loại phế thải khác tạo ra từ
sản xuất sắt và thép nhưng không bao gồm phế liệu kim loại tạo ra trong
quá trình cắt, tạo hình hoặc các quá trình gia công kim loại khác, thuộc
nhóm 72.04.
26.20 - Xỉ, tro và cặn (trừ loại thu được từ quá trình sản xuất sắt
hoặc thép), có chứa kim loại, arsen hoặc các hợp chất của
chúng.
- Chứa chủ yếu là kẽm:
2620.11 - - Kẽm tạp chất cứng (sten tráng kẽm)
2620.19 - - Loại khác
- Chứa chủ yếu là chì:
2620.21 - - Cặn của xăng pha chì và cặn của hợp chất chì chống
kích nổ
2620.29 - - Loại khác
2620.30 - Chứa chủ yếu là đồng
2620.40 - Chứa chủ yếu là nhôm
2620.60 - Chứa arsen, thuỷ ngân, tali hoặc hỗn hợp của chúng, là
loại dùng để tách arsen hoặc những kim loại trên hoặc
dùng để sản xuất các hợp chất hoá học của chúng
- Loại khác:
2620.91 - - Chứa antimon, berily, cađimi, crom hoặc các hỗn
hợp của chúng
2620.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm xỉ, tro và các cặn (trừ các loại cặn của nhóm 26.18,
26.19 hoặc 71.12 ) có chứa kim loại, arsenic (có hoặc không kim loại)
hoặc hợp chất của chúng, và chúng thuộc loại được sử dụng dùng trong
công nghiệp để tách arsenic hoặc kim loại, hoặc nguyên liệu cơ bản để
sản xuất các hợp chất hoá học. Chúng tạo thành từ quá trình xử lý quặng
hoặc các sản phẩm luyện kim trung gian hoặc từ điện phân, hoá học hoặc
các quá trình khác là những quá trình không bao hàm quá trình gia công
cơ khí kim loại. Phế thải thu được từ quá trình gia công cơ khí kim loại
hoặc phế liệu bao gồm các mặt hàng kim loại vụn hoặc kim loại đã hư
hỏng sẽ được loại trừ (Phần XIV, XV hoặc XVI). Mặt khác, các cặn gỉ,
mà chủ yếu là các oxit mặc dù thu được từ quá trình gia công cơ khí kim
loại màu cũng được xếp vào nhóm này.
Nhóm này bao gồm:
(1) Các chất (khác với các chất đồng, niken hoặc cobalt (Phần XV) và
xỉ hoặc xỉ phế liệu, ví dụ các loại xỉ giàu đồng, kẽm, thiếc, chì ...
(2) Xỉ kẽm (thu được trong quá trình mạ kẽm), cặn của quá trình mạ
điện bằng cách nhúng chìm trong kẽm nóng chảy.
(3) Cặn thu từ bể điện phân sau khi tuyển hoặc tinh chế kim loại và cặn
mạ điện.
(4) Các cặn ắc quy
(5) Cặn từ quá trình tinh chế kim loại bằng phương pháp điện phân,
được làm khô hoặc cô đặc thành dạng khối
(6) Cặn từ sản xuất đồng sunfat
(7) Coban oxit không tinh khiết thu được từ quá trình xử lý quặng có
chứa bạc.
(8) Chất xúc tác thải có thể sử dụng chỉ để tách kim loại hoặc để sản
xuất hóa chất.
(9) Cặn từ dung dịch kiềm thải, chủ yếu được sử dụng để điều chế magiê
(10) Cặn của xăng pha chì và cặn của hợp chất chì chống kích nổ từ các
thùng chứa xăng pha chì và các hợp chất chì chống kích nổ bao gồm
chủ yếu là chì, hợp chất chì (bao gồm tetraethyllead và
tetramethyllead) và oxit sắt (do gỉ của bể chứa). Nói chung, cặn đó
được sử dụng cho việc thu hồi chì và các hợp chất chì hoặc không
chì, và thực tế nó không chứa dầu mỏ.
(11) Khói bụi từ kẽm, chì hoặc đồng luyện. Nói chung, arsenic có trong
bụi khói từ luyện đồng và luyện chì, và thallium có trong bụi khói từ
luyện chì và kẽm.
(12) Xỉ, tro và cặn từ kẽm, chì hoặc đồng luyện và giàu thủy ngân
thường như oxit, sulphide hoặc như một hỗn hống với các kim loại
khác.
(13) Xỉ, tro và cặn chứa antimony, beryllium, cadmium, crom hoặc các
hỗn hợp của chúng. Nó thường ở dạng chất thải phát sinh từ chế
biến (ví dụ như xử lý nhiệt) hàng hóa có chứa các kim loại này.
(14) Xỉ, tro và cặn từ chất thải từ việc sản xuất, điều chế và sử dụng mực
in, thuốc nhuộm, bột màu, sơn, dầu bóng và vecni, thuộc loại sử
dụng cho việc thu hồi kim loại hoặc hợp chất của chúng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Tro và cặn từ quá trình đốt rác thải đô thị (nhóm 26.21)
(b) Cặn từ thùng chứa dầu mỏ bao gồm chủ yếu là các loại dầu này
(nhóm 27.10)
(c) Các hợp chất xác định về mặt hoá học của Chương 28.
(d) Chất thải và mảnh vụn của kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim
loại quý (bao gồm các chất xúc tác đã sử dụng hết hoặc bị hỏng ở
dạng hợp kim nghèo platinum) và các chất thải và phế liệu khác có
chứa kim loại quý hoặc hỗn hợp kim loại quý, thuộc loại sử dụng chủ
yếu cho việc thu hồi kim loại quý (nhóm 71.12 hoặc 85.49).
(e) Phế liệu kim loại từ gia công cơ khí các kim loại thuộc Phần XV.
(f) Bụi kẽm (nhóm 79.03)
26.21 - Xỉ và tro khác, kể cả tro tảo biển (tảo bẹ); tro và cặn từ quá
trình đốt rác thải đô thị.
2621.10 - Tro và cặn từ quá trình đốt rác thải đô thị
2621.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm xỉ và tro không xếp trong nhóm 26.18, 26.19 hoặc
26.20, thu được từ quá trình chế biến các quặng hoặc từ quá trình luyện
kim, cũng như những xỉ và tro thu được từ vật liệu hoặc quá trình khác.
Mặc dù rất nhiều các sản phẩm được sử dụng làm phân bón, chúng vẫn
được phân loại ở đây và không phải ở chương 31 (trừ trường hợp xỉ bazơ).
Các sản phẩm này bao gồm:
(1) Tro và clinker có nguồn gốc khoáng sản xuất chủ yếu từ việc đốt
than đá, than non, than bùn hoặc dầu trong nồi hơi tiện ích. Nó được
sử dụng chủ yếu để làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng, như là
một chất bổ sung cho xi măng trong bê tông, trong lấp mỏ, hay như
một chất độn trong sản xuất nhựa và sơn, như một vật liệu nhẹ trong
sản xuất khối xây dựng và trong cấu trúc xây dựng dân dụng như kè,
dốc đường cao tốc và mố cầu.
Nó bao gồm:
(a) Tro bay - hạt mịn bị cuốn theo trong khí thải lò và bị tách khỏi
dòng khí bằng túi hoặc các bộ lọc tĩnh điện;
(b) Tro đáy - tro thô hơn loại bỏ bằng cách lắng đọng từ dòng khí
ngay sau khi rời khỏi lò;
(c) Xỉ nồi hơi- cặn thô tách ra từ đáy lò;
(d) Tro buồng đốt tầng sôi (FBC-tro) – Lượng cặn vô cơ được tạo ra
từ việc đốt than hoặc dầu trong tầng sôi với đá vôi hoặc
(2) Tro tảo bẹ hoặc tro thực vật khác. Trong nhóm này Tro Tảo bẹ là vật
liệu được tạo ra bằng cách đốt ra tro một số loại rong biển. Ở trạng
thái nguyên liệu thô, nó thường nặng, thô ráp hoặc hơi đen nhưng khi
tinh chế, nó là dạng bột trắng đục mờ. Nó được sử dụng chính cho
chiết iốt hoặc trong công nghiệp thuỷ tinh.
Nhóm này cũng bao gồm tro vỏ trấu, thành phần chủ yếu là silica, và
được sử dụng chủ yếu cho sản xuất gạch cách âm hoặc các sản phẩm
cách âm khác.
(3) Tro xương thu được từ việc nung xương trong không gian thoáng
khí. Ngoài công dụng để cải tạo đất, sản phẩm này cũng được sử
dụng để bọc khuôn đúc thép thỏi trong việc luyện đồng. Nhóm này
loại trừ muội động vật, thu được từ việc nung xương trong các thùng
kín (nhóm 38.02)
(4) Muối kali thô thu được trong công nghiệp đường từ cặn của mật củ
cải đường bằng cách đốt thành tro, rửa ...
(5) Tro và cặn thu được từ quá trình đốt rác thải đô thị (xem chú giải 4
của chương 38). Tro và cặn này thường là hỗn hợp của clinker và một
số kim loại độc (như chì) và thường thích hợp để dùng làm vật liệu vá
các lỗ hổng trên đường tạm. Hàm lượng kim loại có trong loại tro và
cặn này không đảm bảo cho việc thu hồi kim loại hoặc các hợp chất
kim loại.
Nhóm này không bao gồm silica fume được xác định về mặt hóa học
riêng biệt thu được dưới dạng sản phẩm phụ từ quá trình sản xuất silicon,
ferrosilicon và zirconia, thường được sử dụng làm chất phụ gia
pozzolanic trong bê tông, xi măng sợi hoặc vật liệu đúc chịu lửa, và làm
chất phụ gia trong polyme (nhóm 28.11).
Chương 27
Nhiên liệu khoáng, dầu khoáng và các sản phẩm chưng cất từ
chúng; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất
Chú giải.
1. Chương này không bao gồm:
(a) Các hợp chất hữu cơ đã được xác định về mặt hoá học riêng biệt,
trừ metan và propan tinh khiết đã được phân loại ở nhóm 27.11;
(b) Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04; hoặc
(c) Hỗn hợp hydrocarbon chưa no thuộc nhóm 33.01, 33.02 hoặc
2. Trong nhóm 27.10, khái niệm "dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ và các
loại dầu thu được từ khoáng bi-tum" không chỉ bao gồm dầu có
nguồn gốc từ dầu mỏ và dầu thu được từ khoáng bi-tum mà còn bao
gồm các loại dầu tương tự, cũng như loại dầu khác chủ yếu chứa
hỗn hợp hydrocarbon chưa no, thu được bằng quá trình bất kỳ, với
điều kiện trọng lượng cấu tử không thơm cao hơn cấu tử thơm.
Tuy nhiên, khái niệm này không bao gồm các polyolefin tổng hợp
lỏng, loại dưới 60% thể tích chưng cất ở 300°C, sau khi sử dụng
phương pháp chưng cất giảm áp suất sẽ chuyển đổi sang 1.013
millibar (Chương 39).
3. Theo mục đích của nhóm 27.10, "dầu thải" có nghĩa là các chất thải
chứa chủ yếu là dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ và các loại dầu thu từ
khoáng bi-tum (theo mô tả Chú giải 2 của Chương này), có hoặc
không có nước. Bao gồm:
(a) Các loại dầu không còn dùng được như là sản phẩm ban đầu (ví dụ,
dầu bôi trơn đã sử dụng, dầu thuỷ lực đã sử dụng và dầu dùng cho
máy biến điện đã sử dụng);
(b) Dầu cặn từ bể chứa dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ, chứa chủ yếu là
dầu này và nồng độ chất phụ gia cao (ví dụ, hoá chất) dùng để sản
xuất các sản phẩm gốc; và
(c) Các loại dầu này ở dạng nhũ tương trong nước hoặc hoà lẫn với
nước, như dầu thu hồi từ dầu tràn, từ rửa bể chứa dầu, hoặc từ dầu
cắt để chạy máy.
Chú giải phân nhóm.
1. Theo mục đích của phân nhóm 2701.11 "anthracite" có nghĩa là loại
than có giới hạn chất bốc (trong điều kiện khô, không có khoáng
chất) không quá 14%.
2. Theo mục đích của phân nhóm 2701.12, "than bi-tum" là loại than
có giới hạn chất bốc (trong điều kiện khô, không có khoáng chất)
trên 14% và giới hạn nhiệt lượng từ 5.833 kcal/kg trở lên (trong
điều kiện ẩm, không có khoáng chất).
3. Theo mục đích của các phân nhóm 2707.10, 2707.20, 2707.30 và
2707.40 khái niệm “benzol (benzen)”, “toluol (toluen)”, “xylol
(xylen)” và "naphthalen" áp dụng cho các sản phẩm chứa hơn 50%
tính theo trọng lượng tương ứng là benzen, toluen, xylen hoặc
4. Theo mục đích của phân nhóm 2710.12, "dầu nhẹ và các chế phẩm"
là các loại dầu có thể tích thành phần cất từ 90% trở lên (kể cả hao
hụt) ở nhiệt độ 210oC theo phương pháp ISO 3405 (tương đương
với phương pháp ASTM D 86).
5. Theo mục đích của các phân nhóm thuộc nhóm 27.10, thuật ngữ
"diesel sinh học" có nghĩa là mono-alkyl este của các axit béo, loại
sử dụng làm nhiên liệu, được làm từ chất béo và dầu động vật, thực
vật hoặc vi sinh vật đã hoặc chưa qua sử dụng.
KHÁI QUÁT CHUNG
Chương này bao gồm các loại than và các nhiên liệu khoáng thiên nhiên
khác, dầu mỏ và các loại dầu thu được từ các loại khoáng có chứa
bitum, các sản phẩm chưng cất của chúng và các sản phẩm thuộc loại
tương tự thu được bằng phương pháp khác. Nó cũng bao gồm các sáp
khoáng và các chất có chứa bitum tự nhiên. Các sản phẩm trong chương
này có thể ở dạng thô hoặc tinh chế; Tuy nhiên, loại trừ methane và
propane, khi chúng là các hợp chất hữu cơ đã được xác định về mặt hóa
học riêng biệt ở trạng thái tinh khiết hay tinh khiết cho mục đích thương
mại, chúng được xếp vào Chương 29. Đối với một số hợp chất nhất
định (ví dụ: ethane, benzene, phenol, pyridine) các tiêu chí về độ tinh
khiết đặc trưng được chỉ dẫn ở phần chú giải 29.01, 29.07 và 29.33.
Methane và propane được phân loại ở nhóm 27.11, kể cả dạng tinh
khiết.
Khái niệm “các cấu tử thơm” được dùng trong chú giải 2 của chương
này và trong nhóm 27.07 cần được hiểu là chú giải cho toàn bộ phân tử
với phần thơm, bất kể số lượng và chiều dài mạch nhánh và không là
chú giải cho các phần thơm của các phân tử này.
Chương này không bao gồm
(a) Các dược phẩm của nhóm 30.03 hoặc 30.04
(b) Nước hoa, mỹ phẩm và các chế phẩm vệ sinh (nhóm 33.03 đến
(c) Các nhiên liệu lỏng hoặc các nhiên liệu khí hóa lỏng trong các hộp
chứa sử dụng để nạp đầy hoặc nạp lại bật lửa hút thuốc và các bật
lửa tương tự và có dung tích không quá 300 cm3 (nhóm 36.06).
27.01 - Than đá; than bánh, than quả bàng và nhiên liệu rắn tương tự
sản xuất từ than đá.
- Than đá, đã hoặc chưa nghiền thành bột, nhưng chưa
đóng bánh:
2701.19 - - Than đá loại khác
2701.20 - Than bánh, than quả bàng và nhiên liệu rắn tương tự
sản xuất từ than đá
Nhóm này bao gồm các loại than đá và anthracite khác nhau đã hoặc
chưa nghiền thành bột hoặc kết khối (than đóng bánh, than quả
bàng,…). Nó cũng bao gồm than đóng bánh và các nhiên liệu sản xuất
tương tự, mà đã được carbon hóa nhằm làm cho chúng không có khói.
Nhóm này cũng bao gồm than đá đã nghiền thành bột được phân tán
trong nước (than bùn) và có chứa lượng nhỏ các tác nhân phân tán, đặc
biệt là các tác nhân hoạt động bề mặt.
Nhóm này không bao gồm than huyền (than jet) (nhóm 25.30) than
nâu (lignite) (nhóm 27.02), cũng không bao gồm than cốc và than bán
cốc (nhóm 27.04).
27.02 - Than non, đã hoặc chưa đóng bánh, trừ than huyền.
2702.10 - Than non, đã hoặc chưa nghiền thành bột, nhưng chưa
đóng bánh
2702. 20 - Than non đã đóng bánh
Nhóm này bao gồm cả than non (than nâu) dạng trung gian giữa than đá
và than bùn, đã hoặc chưa được khử nước, nghiền hoặc đóng bánh.
Nhóm này loại trừ than huyền, một dạng khác của than non (nhóm 25.30)
27.03 - Than bùn (kể cả bùn rác), đã hoặc chưa đóng bánh.
Than bùn, được hình thành từ quá trình cacbon hoá một phần các
nguyên liệu thực vật, thường có ánh kim và dạng sợi.
Nhóm này bao gồm tất cả các dạng than bùn, kể cả dạng than bùn đã để
khô hoặc đã đóng bánh được sử dụng làm nhiên liệu, than bùn đã
nghiền, than bùn rác v.v, được dùng để ổn định và để cải tạo đất hoặc
cho mục đích khác.
Hỗn hợp than bùn và cát hoặc đất sét, có đặc tính chủ yếu của than bùn,
cũng nằm trong nhóm này, có hoặc không chứa những lượng nhỏ các
nguyên tố phân bón như nitơ, phospho hoặc kali. Các sản phẩm như vậy
thường sử dụng cho đất làm gốm.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm:
(a) Sợi than bùn (được biết như là "berandine") được chế biến để sử
dụng cho ngành dệt (Phần XI))
Các bình hoa hoặc các sản phẩm loại khác của than bùn, bao gồm
các tấm vật liệu cách điện cho xây dựng, thu được bằng cách cắt
hoặc đổ khuôn (Chương 68)
27.04 - Than cốc và than nửa cốc luyện từ than đá, than non hoặc
than bùn, đã hoặc chưa đóng bánh; muội bình chưng than đá.
Than cốc là cặn rắn thu được từ chưng cất trong môi trường chân không
(carbon hoá hoặc khí hoá) của than đá, than non hoặc than bùn. Nó thu
được trong lò luyện cốc từ các loại than bitum có chất lượng khác nhau
từ than bituminous.
Than nửa cốc, thu được từ chưng cất than đá hoặc than non ở nhiệt độ
thấp.
Than Cốc và than bán cốc của nhóm này có thể ở dạng hạt nhỏ hoặc
được gắn kết.
Muội bình chưng than đá (carbon khí) là dạng carbon đen, cứng, dễ vỡ
cho tiếng leng keng kim loại khi đập. Nó thu được như sản phẩm phụ
trong các thiết bị tạo khí hoặc trong lò luyện cốc, nơi nó được lắng đọng
trên thành của lò luyện hoặc nồi chưng. Carbon này thường bao gồm
dạng cục không đều, bề mặt của nó có thể phẳng hoặc cong thoải tùy
thuộc vào hình dạng của nồi chưng.
Ở một số nước, muội bình chưng than đá được gọi "graphite nhân tạo"
nhưng tên gọi này chính xác hơn khi áp dụng cho graphite được sản
xuất nhân tạo ở nhóm 38.01.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Than cốc nhựa chưng và cốc dầu mỏ (tương ứng trong các nhóm
27.08 và 27.13).
(b) Các sản phẩm từ carbon nhiệt phân được sử dụng cho mục đích
điện (nhóm 85.45).
27.05 - Khí than đá, khí than ướt, khí than và các loại khí tương tự,
trừ các loại khí dầu mỏ và khí hydrocarbon khác.
Khí than đá thu được bằng cách chưng cất than trong môi trường chân
không, thường ở các thiết bị sản xuất khí hoặc lò luyện cốc. Nó là hỗn
hợp phức tạp của các loại khí hydro, methane, carbon monoxide v.v, và
được sử dụng cho các mục đích thắp sáng hoặc đốt nóng.
Nhóm này bao gồm khí được sản xuất bởi khí hoá ngầm và cũng bao
gồm khí than ướt, khí than nung và các loại khí tương tự, ví dụ khí lò
nung. Nhóm này cũng bao gồm các hỗn hợp khí được hình thành do quá
trình cracking hoặc reforming các loại dầu khoáng, khí dầu mỏ, các khí
tự nhiên, thường có hơi nước. Những hỗn hợp khí này có thành phần
tương tự như khí than và được sử dụng cho thắp sáng và đốt cháy hoặc
trong quá trình tổng hợp hóa học. Ví dụ: methanol, ammonia. Trong
trường hợp sau, đôi khi chúng được gọi là "khí tổng hợp". Tuy nhiên,
nhóm này cũng loại trừ các loại khí đã chi tiết hóa ở nhóm 27.11.
27.06 - Hắc ín chưng cất từ than đá, than non hoặc than bùn, và các
loại hắc ín khoáng chất khác, đã hoặc chưa khử nước hoặc
chưng cất từng phần, kể cả hắc ín tái chế.
Các loại hắc ín này là hỗn hợp rất phức tạp với các tỷ lệ khác nhau của
các thành phần thơm và thành phần béo. Chúng thường được tạo thành
từ việc chưng cất than đá, than non hoặc than bùn.
Nhóm này bao gồm các loại hắc ín:
Loại hắc ín được sản xuất bằng cách chưng cất than ở nhiệt độ cao, bao
gồm phần lớn các thành phần thơm như benzene, phenol, naphthalene,
anthracene, các đồng đẳng của phenol, các bazơ pyridine.
(2) Các loại hắc ín thu được bằng cách chưng cất than non hoặc than
bùn hoặc bằng phương pháp chưng cất than đá ở nhiệt độ thấp.
Các loại hắc ín tương tự như các loại đã xếp ở điểm (1) trên, nhưng
lại có một tỷ lệ lớn hơn các hợp chất béo, hợp chất naphthenic và
(3) Các loại hắc ín khoáng khác, bao gồm các loại thu được từ sản
xuất khí ướt trong quá trình khí hoá than đá.
Nhóm này cũng bao gồm các loại hắc in đã chưng cất từng phần hoặc đã
khử nước và hắc ín tái chế thu được bằng cách trộn nhựa hắc ín với dầu
creozot hoặc với các sản phẩm chưng cất hắc ín than đá khác.
Hắc ín thường được sử dụng chủ yếu trong quá trình chưng cất tiếp theo
để nhằm tạo ra một loạt các sản phẩm dầu và hắc ín than đá khác.
Chúng cũng được sử dụng làm vật liệu chống thấm nước và rải đường...
Nhóm này không bao gồm các loại hắc ín được tách chiết từ các nguồn
phi khoáng, như hắc ín từ gỗ (nhóm 38.07).
27.07 - Dầu và các sản phẩm khác từ chưng cất hắc ín than đá ở nhiệt
độ cao; các sản phẩm tương tự có khối lượng cấu tử thơm lớn
hơn cấu tử không thơm.
2707.50 - Các hỗn hợp hydrocarbon thơm khác có từ 65% thể
tích trở lên (kể cả lượng hao hụt) được chưng cất ở
nhiệt độ 250oC theo phương pháp ISO 3405 (tương
đương phương pháp ASTM D 86)
- Loại khác:
2707. 91 - - Dầu creosote
2707. 99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Dầu và các sản phẩm khác thu được bằng cách chưng cất hắc ín
than đá ở nhiệt độ cao với nhiều hoặc ít phân đoạn để tạo ra các
hỗn hợp bao gồm phần lớn là các hydrocarbon thơm và các hợp
chất thơm khác.
Các loại dầu này và các sản phẩm khác bao gồm:
- Benzene, - toluene, - xylenes và dung môi naphtha
- Dầu naphthalene và naphthalene thô
- Dầu anthracene và anthracene thô
- Dầu Phenolic (phenols, cresols, xylenols ...)
- Các bazơ của pyridine, quinoline và acridine
- Dầu creosote
(2) Dầu và các sản phẩm tương tự với phần lớn là cấu tử thơm thu
được bằng cách chưng cất hắc ín than đá ở nhiệt độ thấp hoặc hắc
ín khoáng chất khác, bằng "sự cất phần nhẹ" khí than đá, bằng quá
trình xử lý dầu mỏ hoặc bằng phương pháp bất kỳ.
Nhóm này bao gồm các loại dầu và các sản phẩm nêu trên, đã tinh chế
hoặc dạng thô. Nhưng nhóm này loại trừ các hợp chất đã xác định về
mặt hóa học riêng biệt ở trạng thái tinh khiết hoặc tinh khiết cho mục
đích thương mại, thu được bằng cách tiếp tục chưng cất phân đoạn hoặc
bằng các quá trình chế biến dầu hắc in khác (Chương 29). Đối với
xylenols, pyridine và một số dẫn xuất của pyridine, có các tiêu chuẩn độ
tinh khiết đặc trưng được chỉ dẫn trong các phần thích ứng của chú giải
nhóm 29.02 và 29.07 và 29.33.
Dầu hắc ín từ gỗ thuộc Chương 38.
Nhóm này không bao gồm các loại hỗn hợp alkylbenzenes hoặc hỗn
hợp alkylnaphthalenes thu được bằng cách alkyl hóa benzene hoặc
naphthalene và có các mạch nhánh dài thẳng, (nhóm 38.17).
27.08 - Nhựa chưng (hắc ín) và than cốc nhựa chưng, thu được từ hắc
ín than đá hoặc hắc ín khoáng chất khác.
2708.10 - Nhựa chưng (hắc ín)
2708.20 - Than cốc nhựa chưng
Hắc ín nhựa chưng trong nhóm này là cặn của quá trình chưng cất hắc
ín than đá ở nhiệt độ cao hoặc hắc ín khoáng chất khác. Nó chứa một
lượng nhỏ dầu hắc ín nặng. Có màu đen hoặc màu nâu và có thể mềm
hoặc dễ vỡ. Nó được sử dụng trong sản xuất điện cực, hắc ín rải đường,
các hỗn hợp chống thấm nước, để liên kết khối bụi than...
Hắc ín nhựa chưng đã được làm thay đổi chút ít bằng cách thổi không
khí tương tự như nhựa không thổi và vẫn được xếp trong nhóm này.
Than cốc nhựa chưng là sản phẩm cặn sót lại cuối cùng từ việc chưng
cất hắc ín than đá ở nhiệt độ thấp hoặc nhiệt độ cao hoặc chưng cất các
hắc ín khoáng hoặc hắc ín (nhựa chưng) của chúng. Nó được dùng cho
chế tạo điện cực hoặc làm nhiên liệu.
27.09 - Dầu mỏ và các loại dầu thu được từ các khoáng bi-tum, ở
dạng thô.
Nhóm này bao gồm dầu lửa thô, và dầu thô thu được từ các khoáng chất có
chứa bitum (ví dụ: từ đá phiến sét, đá vôi, cát) có nghĩa là các sản phẩm tự
nhiên, dù thành phần của chúng như thế nào, dù thu được từ dạng thông
thường hay dạng ngưng tụ cặn dầu hoặc bằng cách chưng cất phân huỷ
khoáng bitum. Như vậy các loại dầu thô thu được vẫn được phân loại trong
nhóm này, ngay cả khi chúng đã qua các quá trình sau:
(1) Lắng cặn
(2) Khử muối
(3) Loại nước
(4) Ổn định nhằm bình thường hóa áp suất hơi
(5) Loại các phân đoạn rất nhẹ với mục đích đưa chúng trở lại cặn
dầu nhằm cải tạo việc rút nước và duy trì áp suất.
(6) Chỉ bổ sung thêm những hydrocarbon được thu hồi trước đó
bằng các phương pháp vật lý trong suốt tiến trình của các quá
trình đã đề cập ở trên.
(7) Bất kỳ quá trình thứ yếu khác nào đó, với điều kiện là quá trình
này không làm thay đổi tính chất đặc trưng của sản phẩm.
Nhóm này cũng bao gồm khí ngưng tụ, nghĩa là dầu thô thu
được trong quá trình làm ổn định khí tự nhiên ngay khi khai
thác nó. Công đoạn này nhằm thu được các hydrocacbon ngưng
tụ (c4 đến xấp xỉ c20) từ khí than ướt tự nhiên chủ yếu bằng cách
làm lạnh và giảm áp suất.
27.10 - Dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ và các loại dầu thu được từ các
khoáng bi-tum, trừ dầu thô; các chế phẩm chưa được chi tiết
hoặc ghi ở nơi khác, có chứa hàm lượng từ 70% trở lên là dầu
có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc các loại dầu thu được từ các
khoáng bi-tum, những loại dầu này là thành phần cơ bản của
các chế phẩm đó; dầu thải.
- Dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ và các loại dầu thu được từ
các khoáng bi-tum (trừ dầu thô) và các chế phẩm chưa
được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác, có chứa hàm lượng từ
70% trở lên là dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc các loại
dầu thu được từ các khoáng bi-tum, những loại dầu này là
thành phần cơ bản của các chế phẩm đó, trừ loại chứa dầu
diesel sinh học và trừ dầu thải:
2710.12 - - Dầu nhẹ và các chế phẩm
2710.19 - - Loại khác
2710.20 - Dầu mỏ và các loại dầu thu được từ các khoáng bi-tum
(trừ dầu thô) và các chế phẩm chưa được chi tiết hoặc
ghi ở nơi khác, có chứa từ 70% trọng lượng trở lên là
dầu mỏ hoặc các loại dầu thu được từ các khoáng bi-
tum, những loại dầu này là thành phần cơ bản của các
chế phẩm đó, có chứa dầu diesel sinh học, trừ dầu thải
- Dầu thải:
Chứa
hoặc
2710.99 - - Loại khác
(I) NHỮNG SẢN PHẨM BAN ĐẦU
Các sản phẩm thuộc phần đầu của nhóm này là những loại đã trải qua
bất kỳ quá trình nào trừ các sản phẩm đã được chi tiết trong chú giải
cho nhóm 27.09.
Nhóm này bao gồm:
(A) “Dầu mỏ thô” (đã loại bỏ một số phân đoạn nhẹ hơn bằng phương
pháp cất), cũng như dầu nặng, dầu nhẹ, trung bình thu được theo
các phân đoạn rộng ít hoặc nhiều bằng việc chưng cất hoặc tinh chế
dầu mỏ thô hoặc dầu thô thu được từ khoáng có chứa bitum. Các
loại dầu này ở dạng lỏng hoặc bán rắn, bao gồm chủ yếu là các
hydrocarbon không thơm như: paraffinic, cyclanic (naphthenic)
Chúng bao gồm:
(1) Dầu mỏ trắng
(2) Dung môi trắng (White spirit)
(4) Dầu khí đốt (gas-oils)
(5) Dầu nhiên liệu (dầu mazut)
(6) Dầu tra trục quay và dầu bôi trơn
(7) Dầu trắng.
Nhóm này bao gồm các phân đoạn (phần cất) đã miêu tả ở trên, kể
cả nếu như chúng được xử lý tiếp để loại bỏ tạp chất (ví dụ: xử lý
với axit hoặc kiềm, với các dung môi chọn lọc, với kẽm chloride,
với đất hấp thụ, ... hoặc bằng phương pháp tái chưng cất) với điều
kiện là biện pháp xử lý này không tạo ra các hợp chất đã được xác
định về hóa học riêng biệt ở trạng thái tinh khiết hoặc tinh khiết vì
mục đích thương mại (Chương 29).
(B) Các loại dầu tương tự mà trong đó trọng lượng các thành phần
không thơm lớn hơn trọng lượng các thành phần thơm. Chúng có
thể thu được từ việc chưng cất than đá ở nhiệt độ thấp, bằng việc
hydro hóa hoặc bằng bất kỳ phương pháp khác (ví dụ: bằng quá
trình cracking, reforming v.v).
Nhóm này cũng bao gồm hỗn hợp alkylene, được gọi là:
Đây là những hỗn hợp của các hydrocarbon mạch thẳng chưa bão
hòa (octylenes, nonylenes, các đồng đẳng và đồng phân của
chúng...) và các hydrocarbon mạch thẳng bão hòa.
Chúng thu được hoặc bằng sự trùng hợp rất thấp của propylene,
isobutylene hoặc của các hydrocarbon ethylenic khác hoặc bằng
cách tách (ví dụ sự chưng cất phân đoạn) từ một số sản phẩm của
quá trình cracking dầu khoáng.
Các loại alkylene hỗn hợp chủ yếu được sử dụng trong tổng hợp
hóa như làm dung môi hoặc như chất pha loãng. Bởi vì chỉ số
octane của chúng cao, nên chúng cũng có thể được đưa vào dầu mỏ
trắng cùng các chất phụ gia thích hợp.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các dầu polyolefins tổng hợp
lỏng mà dưới 60% thể tích của chúng cất ở 300° C, sau khi chuyển
đổi thành 1.013 milibar (101,3 kPa) khi sử dụng một phương pháp
chưng cất giảm áp suất (Chương 39).
Hơn nữa, nhóm này không bao gồm các loại dầu mà trọng lượng
của các cấu tử thơm là trội hơn, thu được bằng cách xử lý dầu hoặc
bằng bất kỳ quá trình nào khác (nhóm 27.07).
(C) Các dầu đã kể ở phần (A) và (B) ở trên được thêm một số chất khác
nhau nhằm làm cho chúng phù hợp với các sử dụng cụ thể, với điều
kiện là các sản phẩm này có chứa từ 70% trở lên tính theo trọng
lượng là dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc các loại dầu thu được từ
khoáng chất chứa bitum và chúng không thuộc chương nhóm đặc
trưng hơn ở trong danh mục.
Ví dụ của các loại sản phẩm được đề cập đến là:
(1) Dầu mỏ trắng có chứa thêm những lượng nhỏ các sản phẩm
chống kích nổ (ví dụ: tetraethyl chì, dibromoethane) và chất
chống oxi hóa (ví dụ: para-butylaminophenol).
(2) Dầu bôi trơn (Lubricants): bao gồm các hỗn hợp của loại dầu
bôi trơn với lượng dao động đa dạng của các sản phẩm khác (ví
dụ các sản phẩm nhằm tăng đặc tính bôi trơn của chúng) (như
dầu, chất béo thực vật), chất chống oxi hóa, chất chống gỉ, chất
khử bọt như silicone. Những loại dầu bôi trơn này bao gồm các
loại dầu hỗn hợp, dầu cho công việc chịu tải nặng, dầu trộn với
graphite (dung dịch huyền phù graphite trong dầu mỏ hoặc trong
các loại dầu thu được từ khoáng chất có chứa bitum, dầu bôi
trơn cylinder, dầu cho công nghiệp dệt, và dầu bôi trơn dạng rắn
(mỡ) gồm dầu bôi trơn với khoảng 10 - 15% xà phòng nhôm,
(3) Dầu biến thế và dầu ngắt mạch điện (không sử dụng vì đặc
tính bôi trơn của chúng) chúng là loại dầu đã được ổn định và
tinh chế đặc biệt với các phụ gia chống oxy hóa như
(4) Dầu cắt được sử dụng để làm lạnh các dụng cụ cắt, ... và các vật
liệu được gia công. Chúng bao gồm dầu nặng với sự thêm vào
khoảng 10 - 15% tác nhân nhũ hóa (ví dụ: alkali
sulphoricinoleate) và được sử dụng làm chất nhũ tương trong
nước.
(5) Dầu làm sạch được sử dụng để làm sạch các mô tơ, động cơ và
các thiết bị khác. Đây là loại dầu nặng thường có chứa thêm
những lượng nhỏ các tác nhân pepti hoá để dễ dàng loại bỏ keo
dính, cặn carbon ... được tạo ra trong quá trình vận hành máy.
(6) Dầu tách khuôn đúc được sử dụng nhằm lấy dễ dàng các sản
phẩm gốm, cột bêtông... từ khuôn đúc. Chúng bao gồm dầu nặng
có chứa, ví dụ khoảng 10% chất béo thực vật.
(7) Dầu phanh thủy lực v.v, bao gồm các loại dầu nặng, có thêm
một số phụ gia để tăng tính bôi trơn của chúng, các chất chống
oxy hóa, chống gỉ và chống tạo bọt (chất khử bọt)...
(8) Hỗn hợp của dầu diesel sinh học có chứa từ 70% trọng lượng
của dầu mỏ trở lên hoặc các loại dầu thu được từ các khoáng bi-
tum. Tuy nhiên, dầu diesel sinh học và hỗn hợp của nó, chứa
dưới 70% trọng lượng của dầu mỏ hoặc dầu thu được từ các
khoáng bituminous, thuộc nhóm 38.26.
(II) DẦU THẢI
Dầu thải là chất thải chứa chủ yếu là dầu mỏ và các loại dầu thu được từ
các khoáng bitum (như đã mô tả trong chú thích 2 của chương này),
chứa hoặc không chứa nước. Chúng bao gồm:
Dầu mỏ thải và các loại dầu thải tương tự không được sử dụng
như sản phẩm ban đầu nữa (ví dụ như dầu bôi trơn đã sử dụng, dầu
thuỷ lực đã sử dụng, dầu biến thế đã sử dụng). Dầu thải chứa
(PCTs) polybrominated biphenyls (PBBs) sinh ra chủ yếu từ việc
thải loại những hoá chất này khỏi các thiết bị điện như là thiết bị
trao đổi nhiệt, máy biến thế hoặc thiết bị đóng ngắt điện.
(2) Dầu cặn từ các bể chứa dầu, chủ yếu chứa dầu và chất phụ gia
nồng độ cao (ví dụ các chất hoá học) được dùng trong sản xuất các
sản phẩm sơ cấp, và
(3) Dầu thải ở dạng nhũ tương trong nước hoặc hỗn hợp với nước như
dầu thải sinh ra từ sự tràn dầu hoặc rửa các bể chứa dầu hoặc sử
dụng dầu cất làm nguội cho các máy cắt gọt.
(4) Dầu thải từ việc sản xuất, trộn và sử dụng các loại mực, thuốc
nhuộm, chất màu, sơn, sơn mài và dầu bóng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Cặn của xăng pha chì và cặn của hợp chất chì chống kích nổ từ các
bể chứa xăng pha chì và những hợp chất chì chống kích nổ chứa
chủ yếu chì, hợp chất chì và oxit sắt và thực tế không có dầu mỏ,
nói chung được sử dụng để thu hồi chì hoặc các hợp chất chì
(nhóm 26.20).
(b) Chế phẩm có chứa ít hơn 70% trọng lượng là dầu mỏ hoặc dầu thu
được từ các khoáng có chứa bitum, ví dụ các chế phẩm tra dầu mỡ
hoặc bôi trơn trong ngành dệt và các chế phẩm bôi trơn khác thuộc
nhóm 34.03 và dầu phanh thủy lực nhóm 38.19.
Các chế phẩm có chứa dầu mỏ hoặc các loại dầu thu được từ các
khoáng bitum theo tỷ lệ bất kỳ (thậm chí vượt quá 70% trọng lượng)
được phân loại trong nhóm đặc trưng hơn trong danh mục hoặc dựa
trên các sản phẩm khác, trừ dầu mỏ hoặc các loại dầu thu được từ
khoáng chứa bitum. Đây là trường hợp của các chế phẩm chống gỉ
thuộc nhóm 34.03, gồm lanolin hòa tan trong dung dịch xăng trắng,
mà lanolin là nguyên liệu cơ bản và xăng trắng tác dụng đơn thuần
như là một dung môi và bốc hơi sau khi sử dụng. Nó cũng là trường
hợp với các chế phẩm khử trùng, chất diệt côn trùng, diệt nấm mốc
v.v, (nhóm 38.08), các phụ gia cho các dầu khoáng (nhóm 38.11),
dung môi hỗn hợp và chất pha loãng cho vecni (nhóm 38.14) và một
số phụ gia đã điều chế của nhóm 38.24, cũng như chất lỏng khởi
động cho động cơ xăng (gasoline), loại này có chứa diethyl ether 70%
trọng lượng trở lên là dầu mỏ và ngoài ra còn các thành phần khác mà
diethyl ether là thành phần chính.
27.11 - Khí dầu mỏ và các loại khí hydrocarbon khác.
- Dạng hóa lỏng:
2711.11 - - Khí tự nhiên
2711.14 - - Etylen, propylen, butylen và butadien
2711.19 - - Loại khác
- Dạng khí:
2711.21 - - Khí tự nhiên
2711.29 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các hydrocarbon dạng khí thô thu được như các khí
tự nhiên hoặc từ dầu mỏ hoặc sản xuất bằng phương pháp hóa học. Tuy
nhiên, Methane và propane, kể cả dạng tinh khiết cũng được xếp ở
nhóm này.
Các hydrocarbon này có dạng khí ở nhiệt độ 15°C và dưới áp suất 1.013
milibar (101,3 kPa). Chúng có thể được nén dưới áp suất thành dạng
lỏng trong các bình kim loại và thường được xử lý, như một biện pháp
an toàn, bằng cách thêm những lượng nhỏ các chất có mùi thơm mạnh
để chỉ báo sự rò rỉ.
Chúng bao gồm các dạng khí cụ thể sau, có thể hoặc không được hóa lỏng:
Methane và propane đã hoặc không tinh khiết.
Ethane và ethylene độ tinh khiết dưới 95% (Ethane và ethylene độ
tinh khiết không ít hơn 95% sẽ xếp vào nhóm 29.01)
Propene (propylene) có độ tinh khiết ít hơn 90%. (Propene có độ
tinh khiết không ít hơn 90% sẽ được xếp vào nhóm 29.01)
Butane có chứa ít hơn 95% n - butane và ít hơn 95% isobutane.
(Butane có chứa không ít hơn 95% n - butane hoặc isobutane được
xếp vào nhóm 29.01)
Butene (butylene) và butadiene có độ tinh khiết dưới 90%.
(Butene và butadiene mà độ tinh khiết không dưới 90% sẽ được
xếp vào nhóm 29.01).
Các hỗn hợp của propane và butane.
Các tỷ lệ phần trăm ở trên được tính theo thể tích đối với các sản phẩm
khí và theo khối lượng cho các chất dạng lỏng.
Nhóm này cũng bao gồm các loại khí khác như khí dầu mỏ hóa lỏng
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các hợp chất hydrocarbon đã được xác định rõ về mặt hóa học
(trừ methane và propane) ở dạng tinh khiết hoặc dạng tinh khiết vì
mục đích thương mại (nhóm 29.01) (liên quan đến các
hydrocarbon có cho thêm các chất tạo mùi, xem chú giải chung
Chương 29, phần a, mục 5. Đối với ethane, ethylene, propene,
butane, butenes và butadienes, có các tiêu chuẩn độ tinh khiết đặc
trưng như đã nêu ở mục II, III, IV và V ở trên).
Butane hóa lỏng đựng trong các hộp chứa thuộc loại sử dụng để
nạp đầy hoặc nạp lại cho bật lửa hút thuốc và các bật lửa tương tự
và dung tích không vượt quá 300 cm3 (trừ những phần cấu thành
của bật lửa hút thuốc hoặc dạng bật lửa tương tự) (nhóm 36.06).
(c) Các bộ phận của bật lửa hút thuốc hoặc bật lửa khác có chứa
butane hóa lỏng (thuộc nhóm 96.13).
27.12 - Vazơlin (petroleum jelly); sáp parafin, sáp dầu lửa vi tinh thể,
sáp than cám, ozokerite, sáp than non, sáp than bùn, sáp
khoáng khác, và sản phẩm tương tự thu được từ qui trình
tổng hợp hoặc qui trình khác, đã hoặc chưa nhuộm màu.
2712.10 - Vazơlin (petroleum jelly)
2712.20 - Sáp parafin có hàm lượng dầu dưới 0,75% tính theo
trọng lượng
2712.90 - Loại khác
(A) Vazơlin
Vazơlin nhờn khi sờ. Nó có màu trắng, hơi vàng hoặc nâu sẫm.
Nó thu được từ cặn của quá trình chưng cất một số dầu mỏ thô
hoặc bằng cách trộn các loại dầu mỏ có độ nhớt cao vừa phải với
các loại cặn bã này hoặc bằng cách trộn sáp paraffin hoặc xêrezin
với dầu khoáng đã tinh chế với lượng vừa đủ. Nhóm này cũng bao
gồm mỡ hoặc ở dạng thô (đôi khi gọi là mỡ (vaselin), đã khử màu
hoặc được tinh chế. Nó cũng bao gồm vaselin thu được từ qui trình
tổng hợp.
Để được xếp vào nhóm này, Vazơlin (Petroleum jelly) phải có điểm
đông đặc, được xác định theo phương pháp nhiệt kế quay (phương
pháp ISO 2207 tương đương với phương pháp ASTM D 938) không
thấp hơn 30°C, tỷ trọng ở 70°C ít hơn 0,942 g/cm³, độ thấm qua phễu
ở 25°C được xác định theo phương pháp ISO 2137 (tương đương với
phương pháp ASTM D 217) không ít hơn 350, độ thấm qua phễu ở
25°C được xác định theo phương pháp ISO 2137 (tương đương với
phương pháp ASTM D 937) không được ít hơn 80.
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm vaselin thích hợp cho sử dụng để
chăm sóc da, được đóng gói bán lẻ với công dụng như vậy (nhóm 33.04)
(B) Sáp paraffin, sáp dầu mỏ vi tinh thể, sáp mềm, ozokerite, sáp
than non, sáp than bùn, các loại sáp khoáng khác và các sản
phẩm tương tự thu được bằng qui trình tổng hợp hoặc qui
trình khác có hoặc chưa nhuộm màu.
Sáp paraffin là sáp hydrocacbon được chiết tách từ một số sản
phẩm chưng cất nhất định của dầu mỏ hoặc của các loại dầu thu
được từ đá phiến sét hoặc từ khoáng có chứa bitum khác. Dạng sáp
này đục mờ, trắng hoặc màu vàng nhạt và có một cấu trúc tinh thể
tương đối rõ rệt.
Sáp dầu mỏ vi tinh thể cũng là một dạng sáp hydrocarbon. Nó
được tách ra từ cặn dầu mỏ hoặc từ các phần cất dầu bôi trơn đã
được chưng cất trong chân không. Nó đục mờ hơn sáp paraffin và
có cấu trúc tinh thể mịn hơn và ít rõ ràng hơn. Thông thường có
điểm nóng chảy cao hơn sáp paraffin. Nó có thể biến đổi từ mềm
và dẻo đến cứng và dòn từ màu nâu tối đến màu trắng.
Ozokerite là dạng sáp khoáng tự nhiên. Khi đã được tinh chế nó
được biết với tên là ceresine.
Sáp than non (hoặc montan) và các sản phẩm được biết như là:
"hắc ín montan" là dạng sáp ester được chiết từ than non. Chúng ở
dạng rắn và tối màu khi thô, nhưng chúng có thể trở thành màu
trắng khi tinh chế.
Sáp than bùn về tính chất vật lý và hóa học tương tự như sáp than
non, nhưng mềm hơn một chút.
Các loại sáp khoáng chất khác của nhóm này (sáp mềm và sáp
vảy) tạo thành từ sự khử sáp các dầu bôi trơn. Chúng được tinh
chế ít hơn và hàm lượng dầu cao hơn sáp paraffin. Màu của chúng
thay đổi từ trắng đến nâu sáng.
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm tương tự các loại đã chỉ
dẫn ở nhóm này và thu được bằng qui trình tổng hợp hoặc bằng bất
kỳ qui trình nào khác (ví dụ: sáp paraffin tổng hợp và sáp vi tinh
thể tổng hợp). Tuy vậy, nhóm này không bao gồm các loại sáp
cao phân tử như sáp polyethylene, chúng được xếp vào nhóm
Tất cả các loại sáp được xếp trong nhóm này có thể ở dạng thô
hoặc ở dạng đã tinh chế hoặc trộn với nhau hoặc được nhuộm màu.
Chúng thường được sử dụng làm nến (đặc biệt là sáp paraffin)
đánh bóng, …, cho cách điện, hồ vải, tẩm diêm, làm lớp bảo vệ
chống gỉ...
Tuy vậy, các sản phẩm sau đây được phân loại ở nhóm 34.04:
(a) Sáp nhân tạo thu được từ sự biến đổi hóa học của sáp than non
hoặc từ các sáp khoáng khác.
(b) Hỗn hợp, không nhũ hoá hoặc chứa dung môi, bao gồm:
(i) Các loại sáp của nhóm này trộn với sáp động vật (kể cả mỡ
cá voi) sáp thực vật hoặc sáp nhân tạo.
(ii) các loại sáp của nhóm này trộn với chất béo, nhựa, các chất
khoáng hoặc các nguyên liệu khác với điều kiện là chúng
có đặc tính của sáp.
27.13 - Cốc dầu mỏ, bi-tum dầu mỏ và các cặn khác từ dầu có nguồn gốc
từ dầu mỏ hoặc từ các loại dầu thu được từ các khoáng bi-tum.
- Cốc dầu mỏ:
2713.11 - - Chưa nung
2713.12 - - Đã nung
2713.20 - Bi-tum dầu mỏ
2713.90 - Cặn khác từ dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ hoặc từ các
loại dầu thu được từ các khoáng bi-tum
(A) Cốc dầu mỏ (cốc xanh hoặc cốc đã nung) là chất cặn rắn, màu
đen, xốp, thu được từ quá trình craking hoặc chưng cất phân hủy
(biến đổi cấu trúc) của dầu mỏ hoặc thu được từ dầu của các
khoáng bitum. Nó được sử dụng chủ yếu làm nguyên liệu cho sản
xuất điện cực (cốc nung) hoặc làm nhiên liệu (cốc xanh).
(B) Bitum dầu mỏ (cũng được biết như là hắc ín dầu mỏ, hắc ín của
nhà máy lọc dầu mỏ, asphalt dầu mỏ) thường thu được từ cặn của
chưng cất dầu mỏ thô. Nó thường có màu nâu hoặc đen và có thể
mềm hoặc giòn. Nó được sử dụng trong rải đường, vật liệu chống
thấm. Bitum dầu mỏ được biến đổi chút ít bằng thổi không khí
cũng tương tự như bitum chưa thổi không khí vẫn được xếp vào
nhóm này.
(C) Chất cặn khác của dầu mỏ gồm:
(1) Các chất chiết thu được từ việc xử lý các dầu bôi trơn với các
dung môi chọn lọc.
(2) Gôm dầu mỏ và các loại chất nhựa khác thu được từ dầu mỏ.
(3) Cặn axit và các loại đất sử dụng tẩy trắng có chứa một phần dầu.
Bitum, than cốc và các cặn khác được xếp trong nhóm này nếu chúng
tạo thành từ việc xử lý dầu đá phiến hoặc từ các loại dầu khác thu được
từ các khoáng bitum.
Nhóm này không bao gồm:
Naphthenate hòa tan trong nước hoặc các loại sulphonate dầu mỏ
tan trong nước (bao gồm cả các loại có chứa một phần dầu
khoáng) như các loại muối kim loại kiềm, của ammonium hoặc
của ethanolamine (nhóm 34.02).
Naphthenate không hòa tan trong nước hoặc các dạng sulphonate
dầu mỏ không tan trong nước (nhóm 38.24, với điều kiện chúng
không được xếp vào nhóm đặc trưng hơn)
Naphthenic axit, dạng thô hoặc đã tinh chế (nhóm 38.24).
27.14- Bi-tum và nhựa đường (asphalt), ở dạng tự nhiên; đá phiến sét
dầu hoặc đá phiến sét bi-tum và cát hắc ín; asphaltit và đá
chứa asphaltic (+).
2714.10 - Đá phiến sét dầu hoặc đá phiến sét bi-tum và cát hắc ín
2714.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm bituminous tự nhiên và nhựa đường asphalt tự
nhiên (gồm asphalt Trinidad Lake và các vật liệu ở một số nước được
biết như là cát "asphaltic"). Chúng là các hỗn hợp màu nâu hoặc đen,
rắn hoặc nửa lỏng của hydrocarbon với các chất khoáng trơ, những chất
mà trong trường hợp của asphalt có thể có giá trị thực tế.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Đá sét phiến chứa dầu hoặc có chứa bitum và cát hắc ín
(3) Đá vôi asphaltic và các đá asphaltic khác.
Các vật liệu ở trên vẫn được phân loại ở nhóm này kể cả đã hoặc chưa
xử lý nhằm loại bỏ nước hoặc quặng nghèo và đã hoặc chưa được
nghiền thành bột hoặc trộn với nhau.
Việc chỉ thêm nước vào bitum tự nhiên không làm thay đổi việc phân
loại của sản phẩm theo mục đích của nhóm 27.14. Hơn nữa, nhóm này
cũng bao gồm bitumen tự nhiên đã khử nước và bitumen tự nhiên đã
nghiền phân tán trong nước và chứa một lượng nhỏ chất tạo nhũ tương
(có hoạt tính bề mặt), chỉ thêm vào để tăng sự an toàn, dễ sử dụng và
vận chuyển.
Chúng được sử dụng để phủ mặt đường, chống thấm, vecni, sản xuất
men ... Đá sét phiến có chứa bitum và cát hắc ín được sử dụng như một
nguồn của dầu khoáng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Đá dăm trộn hắc ín (nhóm 25.17)
(b) Than có chứa bitum (nhóm 27.01)
(c) Than non có chứa bitum (nhóm 27.02)
(d) Bitumen thu được từ dầu mỏ (nhóm 27.13)
(e) Những hỗn hợp bitum trên cơ sở bitum tự nhiên có thêm các chất bổ
sung, trừ nước và những chất nhũ hoá (chất hoạt động bề mặt) chỉ
cần để tăng sự an toàn, dễ sử dụng hoặc vận chuyển (nhóm 27.15).
(f) Các sản phẩm từ nhựa đường (asphalt) thuộc nhóm 68.07.
Chú giải phân nhóm
Phân nhóm 27.14.10
Phân nhóm này bao gồm đá trầm tích hoặc cát có chứa các hydrocarbon
có thể được phân tách ở dạng các sản phẩm của nhóm 27.09 (dầu mỏ và
các loại dầu thu được từ khoáng có chứa bituminous, dầu thô) hoặc ở
dạng mà từ đó các sản phẩm này có thể được chiết xuất.
Cũng có thể thu được khí và các sản phẩm khác. Việc tách chiết được
thực hiện bằng cách nung nóng hoặc các phương pháp chiết khác (ví dụ:
bằng việc chưng cất, sự tách hơi hỗn hống (sự chưng cất trong bình cổ
cong) hay quá trình cơ học...). Các hydro cacbon có chứa trong đá phiến
sét có thể ở dạng các chất hữu cơ, được gọi là kerogen.
27.15 - Hỗn hợp chứa bi-tum dựa trên asphalt tự nhiên, bi-tum tự
nhiên, bi-tum dầu mỏ, hắc ín khoáng chất hoặc nhựa hắc ín
khoáng chất (ví dụ, matít có chứa bi-tum, cut-backs).
Hỗn hợp bitum của nhóm này bao gồm:
(1) Cut-backs (nhựa đường pha) thường chứa 60% hoặc hơn bitum
hòa trong dung môi. Chúng được sử dụng cho rải mặt đường.
(2) Nhũ tương hoặc hỗn dịch huyền phù bền vững của atphalt, bitumen,
hắc ín, nhựa hắc ín trong nước là dạng đặc biệt sử dụng trong rải
đường.
(3) Mattic asphalt và mattic bitum khác, cũng như các hỗn hợp có
chứa bitum tương tự kết hợp các chất khoáng như cát và amiăng.
Những chất này được sử dụng để bít trét, hoặc các vật liệu làm
khuôn...
Nhóm này được mở rộng cho các sản phẩm khi kết lại ở dạng khối ...
loại tan chảy lại trước khi sử dụng, nhưng loại trừ các sản phẩm đã
hoàn chỉnh có hình dạng thông thường (như đá lát mặt đường, các tấm
và tấm lát ngói nhóm 68.07).
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Đá dăm trộn hắc ín (đá nghiền với hắc ín) (nhóm 25.17).
(b) Dolomite cục với hắc ín (nhóm 25.18).
(c) Dạng pha trộn của nhựa đường với dầu creosote hoặc các sản
phẩm chưng cất nhựa than đá khác (nhóm 27.06).
Bitum đã nghiền và đã khử nước phân tán trong nước và chứa một lượng
nhỏ chất nhũ hoá tạo nhũ tương (chất hoạt động bề mặt) được thêm vào
chỉ để tăng độ an toàn, dễ sử dụng hoặc vận chuyển (nhóm 27.14).
(e) Sơn có chứa bitum và vecni (nhóm 32.10) có sự khác với hỗn hợp
của nhóm này, ví dụ dạng mịn hơn của các chất phụ gia (nếu như
sử dụng) có thể có mặt một hoặc nhiều tác nhân tạo màng (trừ
asphalt, bitum, hắc ín hoặc nhựa đường), khả năng làm khô khi để
ngoài không khí đối với sơn, hoặc vecni và độ mỏng và độ cứng
của màng mỏng tạo thành.
Các chế phẩm dầu bôi trơn của nhóm 34.03.
27.16 - Năng lượng điện. (nhóm không bắt buộc)
Không chú giải.