PROJECT

CHU GIAI 2022_ TU CHUONG 16 DEN CHUONG 22

CHU GIAI 2022_ TU CHUONG 16 DEN CHUONG 22

PHẦN IV 
TH'THỰC PHẨM ĐÃ CHẾ BIẾN; ĐỒ UỐNG, RƯỢU MẠNH VÀ 
GIẤM; THUỐC LÁ VÀ NGUYÊN LIỆU THAY THẾ LÁ THUỐC 
LÁ ĐÃ CHẾ BIẾN; CÁC SẢN PHẨM CHỨA HOẶC KHÔNG 
CHỨA  NICOTIN, DÙNG ĐỂ HÚT MÀ KHÔNG CẦN ĐỐT 
CHÁY; CÁC SẢN PHẨM CHỨA NICOTIN KHÁC DÙNG ĐỂ 
NẠP NICOTIN VÀO CƠ THỂ CON NGƯỜI    
Chú giải. 
1. Trong Phần này khái niệm "viên" chỉ các sản phẩm được liên kết bằng 
phương pháp ép trực tiếp hoặc bằng cách pha thêm chất kết dính theo 
tỷ lệ không quá 3% tính theo khối lượng.. 
Chương 16 
Các chế phẩm từ thịt, cá, động vật giáp xác, động vật thân mềm 
hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống khác, hoặc từ côn trùng 
Chú giải. 
Chương này không bao gồm các loại thịt, các phụ phẩm dạng thịt 
sau giết mổ, cá, động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động 
vật thuỷ sinh không xương sống khác, cũng như côn trùng, đã chế 
biến hoặc bảo quản theo các quy trình đã ghi trong Chương 2 hoặc 
Chương 3, Chú giải 6 Chương 4 hoặc nhóm 05.04 
Chế phẩm thực phẩm được xếp vào Chương này với điều kiện các 
chế phẩm này chứa trên 20% tính theo khối lượng là xúc xích, thịt, 
các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, cá hoặc động 
vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không 
xương sống khác, hoặc hỗn hợp bất kỳ của các loại trên. Nếu chế 
phẩm có chứa hai hoặc nhiều thành phần trên, thì xếp vào nhóm 
tương ứng với thành phần hoặc những thành phần chiếm trọng 
lượng lớn hơn trong chế phẩm đó thuộc Chương 16. Những quy 

định này không áp dụng với các sản phẩm nhồi thuộc nhóm 19.02 
hoặc các chế phẩm thuộc nhóm 21.03 hoặc 21.04.  
Chú giải phân nhóm. 
1. Theo mục đích của phân nhóm 1602.10, khái niệm "chế phẩm đồng 
nhất" được hiểu là chế phẩm từ thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết 
mổ, tiết hoặc côn trùng, được làm đồng nhất mịn, phù hợp làm thực 
phẩm cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc để ăn kiêng, đóng gói để bán 
lẻ với khối lượng tịnh không quá 250g. Khi áp dụng định nghĩa này 
không cần quan tâm đến những thành phần có hàm lượng nhỏ thêm 
vào làm gia vị, để bảo quản hoặc các mục đích khác. Các chế phẩm 
này có thể chứa một  lượng nhỏ mảnh vụn thịt hoặc phụ phẩm dạng 
thịt sau giết mổ hoặc côn trùng có thể nhìn thấy được. Phân nhóm 
này được ưu tiên xem xét trước trong các phân nhóm của nhóm 
2. Cá, động vật giáp xác, động vật thân mềm và động vật thủy sinh 
không xương sống khác được ghi theo tên thông thường trong các 
phân nhóm của nhóm 16.04 hoặc 16.05, là các loài cùng tên tương 
ứng được chi tiết ở Chương 3. 

TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm các thực phẩm đã chế biến thu được bằng cách chế 
biến thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ (ví dụ, chân, da, tim, lưỡi, gan, 
lòng, dạ dày), tiết, côn trùng, cá (kể cả da của chúng), động vật giáp xác, 
động vật thân mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống khác. 
Chương này bao gồm các sản phẩm trên đã được chế biến và bảo quản 
bằng các qui trình khác với các qui trình đã nêu trong Chương 2 hoặc 
Chương 3, Chú giải 6 Chương 4 hoặc nhóm 05.04, ví dụ, các sản phẩm 
đã được: 
(1) Chế biến thành xúc xích hoặc sản phẩm tương tự. 
(2) Luộc, hấp, nướng, chiên, quay hoặc bằng các cách nấu chín khác, trừ 
cá, động vật giáp xác và động vật thân mềm hoặc động vật thủy sinh 
không xương sống khác hun khói, có thể đã được làm chín trước 
hoặc trong khi hun khói (nhóm 03.05, 03.06, 03.07 và 03.08), động 
vật giáp xác, có vỏ, đã nấu chín bằng cách hấp hoặc luộc trong nước 
(nhóm 03.06), động vật thân mềm chỉ được chần/trụng nước sôi 
(scalding) hoặc các loại sốc nhiệt khác (không cần phải nấu chín), 
cần thiết để mở vỏ hoặc cố định động vật thân mềm trước khi vận 
chuyển hoặc đông lạnh (nhóm 03.07) và bột thô, bột mịn, viên, chế 
biến từ cá, động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thủy 
sinh không xương sống khác đã chín (nhóm 03.09). 
 (3) Đã được chế biến hoặc bảo quản dưới dạng chiết xuất, nước ép hoặc 
nước xốt (marinade), chế biến từ trứng cá như trứng cá tầm muối hoặc 
các sản phẩm thay thế trứng cá tầm muối, chỉ mới được bao bột hoặc 
bao vụn bánh mì, trộn nấm, gia vị (ví dụ, với cả tiêu và muối), v.v.... 
(4) Được làm đồng nhất mịn và chỉ dùng các sản phẩm trong Chương 
này (là thịt, phụ phẩm dạng thịt, tiết, côn trùng, cá hoặc động vật giáp 
xác, động vật thân mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống 
khác, đã chế biến hoặc bảo quản). Các chế phẩm đồng nhất này có 
thể chứa một lượng nhỏ vụn thịt, cá... cũng như một lượng nhỏ thành 
phần làm gia vị, chất bảo quản hoặc mục đích khác. Tuy nhiên, chế 
phẩm đồng nhất hóa, tự nó, không đủ tiêu chuẩn là một sản phẩm để 
phân loại như một chế phẩm trong Chương 16. 

Để phân biệt giữa các sản phẩm của Chương 2 và Chương 3 với sản 
phẩm của Chương 16, hãy xem phần Chú giải tổng quát của Chương 2 
và 3.  
Chương này còn gồm các chế phẩm thực phẩm (kể cả các món đã chế 
biến) gồm, ví dụ, xúc xích, thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn 
trùng, cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thủy 
sinh không xương sống khác cùng với rau, spaghetti, nước xốt... với 
điều kiện các chế phẩm này chứa trên 20% trọng lượng là xúc xích, thịt, 
phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, cá hoặc động vật giáp 
xác, động vật thân mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống 
khác, hoặc hỗn hợp các sản phẩm này. Trong các trường hợp mà các chế 
phẩm này chứa 2 hoặc nhiều sản phẩm kể trên (ví dụ, cả thịt và cá), thì 
được phân loại vào Chương 16 thuộc nhóm tương ứng có một thành 
phần hay nhiều thành phần chiếm đa số trọng lượng trong chế phẩm. 
Trong mọi trường hợp, chỉ xem xét đến trọng lượng thịt, cá... trong chế 
phẩm dưới dạng nó đã được chế biến chứ không phải trọng lượng của 
sản phẩm tương tự trước khi tạo thành chế phẩm. (Tuy nhiên, cần lưu ý 
rằng các sản phẩm được nhồi thuộc nhóm 19.02, nước xốt và các chế 
phẩm làm nước sốt, các đồ gia vị và bột canh thuộc nhóm 21.03, súp và 
nước xuýt và các chế phẩm làm súp và nước xuýt và các loại chế phẩm 
thực phẩm đồng nhất thuộc nhóm 21.04, luôn được phân loại trong các 
nhóm đó). 
Chương này cũng không bao gồm:   
(a)  Bột mịn và bột thô, thích hợp dùng làm thức ăn cho người, được chế biến 
từ thịt hoặc các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ (kể cả các sản phẩm từ 
các động vật biển có vú) (nhóm 02.10) hoặc từ cá (nhóm 03.09) hoặc từ 
côn trùng (nhóm 04.10). 
(b)  Bột mịn, bột thô và viên, không thích hợp dùng làm thức ăn cho người, 
được chế biến từ côn trùng (nhóm 05.11), từ thịt (kể cả các sản phẩm 
từ động vật biển có vú), từ cá hoặc từ động vật giáp xác, động vật thân 
mềm hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống khác (nhóm 23.01). 
(c)  Các chế phẩm từ thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, cá vv... 
dùng làm thức ăn chăn nuôi (nhóm 23.09). 

Dược phẩm thuộc Chương 30. 
16.01 - Xúc xích và các sản phẩm tương tự làm từ thịt, từ phụ phẩm 
dạng thịt sau giết mổ, tiết hoặc côn trùng; các chế phẩm 
thực phẩm từ các sản phẩm đó. 
Nhóm này bao gồm xúc xích và các sản phẩm tương tự, tức là, các chế 
phẩm gồm thịt, phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ (kể cả lòng và 
dạ dày) hoặc côn trùng, đã được băm hoặc xay nhỏ, hoặc tiết, được nhồi 
vào lòng, dạ dày, bong bóng, da hoặc vỏ bọc tương tự (tự nhiên hoặc 
nhân tạo). Tuy nhiên, một số sản phẩm này có thể không có vỏ ngoài, 
chỉ được ép lại theo hình đặc trưng của xúc xích như hình trụ hoặc hình 
tương tự, có mặt cắt là hình tròn, bầu dục hoặc chữ nhật (có các góc hơi 
tròn). 
Xúc xích và các sản phẩm tương tự có thể sống hoặc chín, hun khói hoặc 
không, và chúng có thể được bổ sung chất béo, tinh bột, gia vị, ớt cay.... 
Ngoài ra, các chế phẩm này có thể còn có nhiều miếng thịt (ví dụ: cỡ 
một miếng) hoặc các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ. Xúc xích và sản 
phẩm tương tự vẫn được phân loại trong nhóm này cho dù chúng có hay 
không được cắt thành lát hoặc đóng bao bì kín khí. 
Sản phẩm thuộc nhóm này có thể kể đến: 
(1)  Xúc xích và sản phẩm tương tự có nguyên liệu cơ bản là thịt (ví dụ, 
xúc xích  Frankfurt, Salami). 
(2)  Xúc xích gan (kể cả làm từ gan gia cầm). 
(3)  Dồi đen và dồi trắng. 
(4)  “Andouillettes ” (xúc xích nhỏ làm từ ruột non), xúc xích nhiều gia 
vị (saveloy), xúc xích hun khói từ thịt bò, bê, lợn (bologna) và các 
chế phẩm khác tương tự. 
(5)  Pate, thịt xay nhuyễn, giò đông và thịt xay đóng hộp (rillettes), nếu 
có vỏ bọc xúc xích hoặc nén theo hình đặc trưng của xúc xích. 
Nhóm này còn gồm một số chế phẩm thực phẩm nhất định (kể cả “thức 
ăn chế biến sẵn”) từ xúc xích hoặc các sản phẩm tương tự (xem đoạn 3, 
Chú giải Tổng quát của Chương này). 
(5)  Pâtés, meat pastes, galantines and rillettes (potted mince), if put up 

Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm: 
(a)  Thịt được nhồi trong bong bóng, lòng hoặc có vỏ ngoài tương tự 
(tự nhiên hoặc nhân tạo), nhưng không xay hoặc không băm trước, 
ví dụ, thịt mông đùi (ham) và vai cuốn tròn (thường thuộc nhóm 
02.10 hoặc 16.02). 
(b)  Thịt sống, băm hoặc xay nhưng không chứa các thành phần khác, 
mặc dù có vỏ bao ngoài (Chương 2). 
(c)  Các chế phẩm có vỏ bao ngoài nhưng không phải là loại thường 
làm vỏ xúc xích, trừ khi các chế phẩm này không có vỏ bao ngoài 
như vậy có thể được phân loại trong nhóm này (nhóm 16.02). 
(d)    Thịt gia cầm chín đã rút xương như thịt gà tây cuốn (nhóm 16.02). 
16.02 - Thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết hoặc côn 
trùng, đã chế biến hoặc bảo quản khác. 
- Chế phẩm đồng nhất 
- Từ gan động vật 
- Từ gia cầm thuộc nhóm 01.05: 
- - Từ gà tây 
- - Từ gà thuộc loài Gallus domesticus 
- - Loại khác 
- Từ lợn: 
- - Thịt mông đùi (ham) và các mảnh của chúng 
- - Thịt vai nguyên miếng và các mảnh của chúng 
- - Loại khác, kể cả các hỗn hợp 
- Từ động vật họ trâu bò 
- Loại khác, kể cả sản phẩm chế biến từ tiết  
động vật  
Nhóm này bao gồm tất cả thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết 
hoặc côn trùng đã chế biến và bảo quản thuộc Chương này, trừ xúc xích 

và sản phẩm tương tự (nhóm 16.01), các sản phẩm chiết xuất từ thịt và 
nước thịt ép (nhóm 16.03). 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Thịt hoặc các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ đã luộc chín (không 
bằng biện pháp trụng/chần nước sôi hoặc xử lý tương tự - xem 
phần Chú giải tổng quát của Chương 2), hấp, nướng, rán, quay 
hoặc phương pháp làm chín khác. 
(2)  Patê, thịt xay nhuyễn, giò đông và thịt xay đóng hộp miễn là chúng 
không đáp ứng các yêu cầu để được  phân loại trong nhóm 16.01 
như xúc xích hoặc các sản phẩm tương tự. 
(3)  Thịt và phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ đã chế biến hoặc bảo quản 
bằng các phương pháp khác không nêu trong Chương 2 hoặc nhóm 
05.04, kể cả các sản phẩm này chỉ được bao bột hoặc vụn bánh mì, 
trộn nấm củ hoặc thêm gia vị (ví dụ, với cả tiêu và muối) hoặc 
được làm đồng nhất mịn (xem Mục (4), phần Chú giải tổng quát 
của Chương này). 
(4)  Các chế phẩm từ tiết, trừ dồi đen (dồi tiết) và sản phẩm tương tự 
thuộc nhóm 16.01. 
(5)  Chế phẩm thực phẩm (kể cả “ thức ăn chế biến sẵn”) chứa trên 
20% trọng lượng là thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết 
hoặc côn trùng (xem phần Chú giải tổng quát của Chương này). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Sản phẩm từ bột nhào (pasta) ( ví dụ: bánh bao ý…) nhồi thịt 
hoặc phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ (nhóm 19.02). 
(b)  Nước xốt và các chế phẩm làm nước xốt, các loại gia vị hỗn 
hợp và bột canh hỗn hợp (nhóm 21.03). 
(c)  Súp và nước xuýt và các chế phẩm làm súp và nước xuýt và các 
chế phẩm thực phẩm tổng hợp đồng nhất (nhóm 21.04). 
(2)  Pâtés, meat pastes, galantines and rillettes (potted mince), 
16.03 - Sản phẩm chiết xuất và nước ép từ thịt, cá hoặc từ động vật 
giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không 
xương sống khác. 

Mặc dù thu được từ các sản phẩm khác nhau, nhưng các sản phẩm chiết 
xuất của nhóm này có đặc tính vật lý (hình dạng, mùi, vị vv...) và thành 
phần hoá học tương tự nhau. 
Nhóm này gồm: 
(1)  Sản phẩm chiết xuất từ thịt. Các sản phẩm này là các chất cô đặc 
thường được chiết ra bằng cách luộc hay hấp thịt dưới áp suất và 
cô đặc lượng chất lỏng thu được sau khi đã loại bỏ chất béo bằng 
cách lọc hoặc li tâm. Các sản phẩm chiết xuất có thể ở dạng lỏng 
hay đặc tuỳ theo mức độ cô đặc.  
(2)  Nước thịt ép thu được bằng cách ép thịt sống. 
(3)  Chiết xuất từ cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm 
hoặc động vật thủy sinh không xương sống khác. Chiết xuất từ 
cá thu được, ví dụ, bằng cách cô đặc nước tinh chiết từ thịt của cá 
trích nước lạnh hoặc các loại cá khác hoặc từ bột thô của cá (đã 
hoặc không khử chất béo); trong quá trình sản xuất, tất cả hoặc một 
phần của các chất có mùi tanh cá (ví dụ, vị trimethilamine trong 
trường hợp cá biển) có thể bị khử và vì vậy các sản phẩm chiết 
xuất này có các đặc tính giống với đặc tính của thịt chiết xuất. 
(4)  Nước ép thu được từ việc ép cá, động vật giáp xác, động vật thân 
mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống khác còn ở dạng 
thịt sống. 
Tất cả các sản phẩm này có thể chứa muối hoặc các chất khác được bổ 
sung một lượng vừa đủ để đảm bảo cho việc bảo quản.  
Các chiết xuất này được dùng để chế biến một số chế phẩm thực phẩm 
như súp (cô đặc hay không cô đặc) và nước xốt. Nước ép chủ yếu dùng 
làm thức ăn kiêng. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Súp và nước xuýt và các chế phẩm làm súp và nước xuýt và các 
chế phẩm thực phẩm tổng hợp đồng nhất chứa chiết xuất của thịt, 
cá vv… (kể cả súp và nước xuýt ở dạng viên hoặc hạt lựu) mà các 

sản phẩm này còn chứa các chất khác như chất béo, chất kết dính 
(gelatin) và thường có tỉ lệ muối lớn (nhóm 21.04). 
(b)  Viên cô đặc làm từ cá hoặc động vật biển có vú thuộc nhóm 23.09. 
(c)  Dược phẩm có chứa bất cứ sản phẩm nào thuộc nhóm này được 
dùng đơn thuần như một phương tiện hỗ trợ cho các chất dược 
phẩm (Chương 30). 
(d)    Chất peptone và peptonnate (nhóm 35.04). 
16.04 - Cá đã được chế biến hoặc bảo quản; trứng cá tầm muối và 
sản phẩm thay thế trứng cá tầm muối chế biến từ trứng cá. 
 - Cá, nguyên con hoặc dạng miếng, nhưng chưa cắt nhỏ: 
1604.11 - - Từ cá hồi 
1604.12 - - Từ cá trích nước lạnh 
1604.13 - - Từ cá trích dầu, cá trích xương và cá trích kê hoặc cá 
trích cơm 
1604.14 - - Từ cá ngừ đại dương, cá ngừ vằn và cá ngừ ba chấm 
1604.15 - - Từ cá nục hoa 
1604.16 - - Từ cá cơm (cá trỏng) 
1604.17 - - Cá chình 
1604.18  - - Vây cá mập 
1604.19 - - Loại khác 
1604.20 - Cá đã được chế biến hoặc bảo quản cách khác 
- Trứng cá tầm muối và sản phẩm thay thế trứng cá tầm 
muối: 
1604.31 - - Trứng cá tầm muối 
1604.32 - - Sản phẩm thay thế trứng cá tầm muối 
Nhóm này gồm: 

(1)  Cá được luộc, hấp, nướng, chiên, quay hoặc làm chín bằng các 
cách khác; tuy nhiên phải lưu ý là cá hun khói đã được làm chín 
trước hoặc trong quá trình hun khói vẫn được phân loại trong 
nhóm 03.05 miễn là nó chưa được chế biến bằng bất cứ một cách 
nào khác. 
(2)  Cá được chế biến hoặc bảo quản trong dầu, dấm .v.v; cá dầm nước 
xốt (cá dầm trong rượu, dấm vv… có bổ sung gia vị hoặc các thành 
phần khác); xúc xích cá; cá xay nhuyễn; sản phẩm có tên “cá trỏng 
xay nhuyễn” và “cá hồi xay nhuyễn” (cá xay nhuyễn được làm từ 
các loại cá này có bổ sung chất béo)... 
(3)  Cá, và các bộ phận của cá, đã chế biến hoặc bảo quản bằng các 
phương pháp khác miễn là nó không thuộc các nhóm từ 03.02 đến 
03.05, ví dụ, phi-lê cá chỉ bao bột hoặc vụn bánh mì, bọc trứng cá 
và gan cá đã chế biến, cá đồng nhất mịn (xem Mục (4) phần Chú 
giải tổng quát của Chương này) và cá đã khử trùng hoặc tiệt trùng. 
(4)  Một số chế phẩm thực phẩm có chứa cá (kể cả “ món ăn chế biến 
sẵn”) (xem phần Chú giải tổng quát của Chương này). 
(5)  Trứng cá tầm muối. Sản phẩm này được chế biến từ bọc trứng cá 
tầm, loại cá sống ở sông của một số vùng (Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Italia, 
Alaska và Nga); chủ yếu là các loại cá tầm có tên Beluga, Schip, 
Ossiotr và Sewruga. Trứng cá tầm muối thường ở dạng khối các 
hạt trứng nhỏ, mềm có đường kính từ 2 đến 4 mm và có màu từ 
xám bạc đến đen ngả xanh lục; nó có mùi đặc trưng và vị hơi mặn. 
Trứng cá tầm muối có thể còn được làm dưới dạng nén, tức là cô 
lại thành dạng nhuyễn, cũng có khi thành bánh nhỏ hình trụ hoặc 
đựng trong các hộp nhỏ. 
(6)  Các sản phẩm thay thế trứng cá tầm muối. Các sản phẩm này được 
dùng như trứng cá tầm muối, nhưng được chế biến từ trứng các 
loại cá khác không phải là cá tầm (như cá hồi, cá chép, cá chó, cá 
ngừ đại dương, cá đối, cá tuyết, cá vây tròn), trứng cá được rửa 
sạch, tẩy các màng dính, sau đó ướp muối và cũng có khi ép hoặc 
làm khô. Các loại trứng cá này có thể cho thêm gia vị hoặc chất 
màu. 

Tất cả các sản phẩm này vẫn được phân loại vào nhóm này bất kể được 
đóng hay không đóng trong bao bì kín khí. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Bọc trứng cá, tức là, trứng cá và sẹ, chưa được chế biến hoặc 
bảo quản hoặc đã được chế biến hoặc bảo quản chỉ theo các 
phương pháp ghi trong Chương 3 (Chương 3) trừ loại thích 
hợp dùng ngay như trứng cá tầm muối và sản phẩm thay thế 
trứng cá tầm muối. 
(b)  Sản phẩm chiết xuất và nước ép từ cá (nhóm 16.03). 
(c)  Cá được nhồi trong sản phẩm từ bột nhào (pasta) (nhóm 
(d)  Nước xốt và các chế phẩm làm nước xốt, đồ gia vị hỗn hợp và 
bột canh hỗn hợp (nhóm 21.03). 
(e)  Súp và nước xuýt và chế phẩm để làm súp và nước xuýt và các chế 
phẩm thực phẩm tổng hợp đồng nhất (nhóm 21.04). 
16.05 - Động vật giáp xác, động vật thân mềm và động vật thuỷ sinh 
không xương sống khác, đã được chế biến hoặc bảo quản. 
- Cua, ghẹ 
- Tôm shrimp và tôm prawn: 
- - Không đóng bao bì kín khí 
- - Loại khác 
- Tôm hùm 
- Động vật giáp xác khác 
- Động vật thân mềm: 
- -  Hàu 
- - Điệp, kể cả điệp nữ hoàng 
- - Vẹm (Mussels) 
- - Mực nang và mực ống 

- - Bạch tuộc 
- - Nghêu (ngao), sò 
- - Bào ngư 
- - Ốc, trừ ốc biển 
- - Loại khác 
- Động vật thủy sinh không xương sống khác: 
- - Hải sâm 
- - Cầu gai 
- - Sứa 
- - Loại khác 
Chú giải của nhóm 16.04 liên quan đến các cách thức khác nhau mà các 
sản phẩm thuộc nhóm này có thể được chế biến hoặc bảo quản, với 
những sửa đổi chi tiết thích hợp, được áp dụng cho động vật giáp xác, 
động vật thân mềm hoặc các động vật thuỷ sinh không xương sống. 
Động vật giáp xác và động vật thân mềm được chế biến và bảo quản 
thông dụng nhất gồm cua, ghẹ, tôm prawn, tôm hùm, tôm (crawfish), 
tôm sông, vẹm, bạch tuộc, mực ống và ốc. Động vật thuỷ sinh không 
xương sống chủ yếu khác, được chế biến và bảo quản, thuộc nhóm này 
là cầu gai, hải sâm và sứa. 
Tuy nhiên, nhóm này loại trừ các loài giáp xác, còn nguyên vỏ, đã được 
hấp chín hoặc luộc chín trong nước (có hoặc không thêm một lượng nhỏ 
chất bảo quản hóa học tạm thời) (nhóm 03.06) và động vật thân mềm 
chỉ được trụng/chần nước sôi (scalding) hoặc các kiểu sốc nhiệt khác 
(không cần phải nấu chín), cần thiết để mở vỏ hoặc cố định động vật 
thân mềm trước khi vận chuyển hoặc đông lạnh (nhóm 03.07). 
(bêches-de-mer) and jellyfish. 

Chương 17 
Đường và các loại kẹo đường 
Chú giải. 
Chương này không bao gồm: 
(a)  Các loại kẹo đường chứa ca cao (nhóm 18.06); 
(b)  Các loại đường tinh khiết về mặt hoá học (trừ sucroza, 
lactoza, maltoza, glucoza và fructoza) hoặc các sản phẩm 
khác của nhóm 29.40; hoặc 
         (c)   Thuốc hoặc các sản phẩm khác của Chương 30. 
Chú giải phân nhóm. 
1.- Theo mục đích của các phân nhóm 1701.12, 1701.13 và 1701.14, 
khái niệm "đường thô" có nghĩa là các loại đường có hàm lượng 
sucroza tính theo khối lượng, ở thể khô, tương ứng với kết quả dưới 
99,5o trên phân cực kế. 
2.-   Phân nhóm 1701.13 chỉ bao gồm đường mía, thu được không qua 
quá trình ly tâm, trong đó hàm lượng đường sucroza tính theo khối 
lượng, ở thể khô, tương ứng với kết quả trên phân cực kế từ 69o đến 
dưới 93o. Sản phẩm này chỉ chứa các vi tinh thể anhedral tự nhiên, có 
hình dạng không đều, không thể quan sát được bằng mắt thường, 
được bao phủ bằng phế liệu từ mật mía và các thành phần khác của 
cây mía đường. 
TỔNG QUÁT 
Chương này không chỉ gồm các loại đường (ví dụ, sucroza, lactoza, 
maltose, glucoza và fructoza), mà còn gồm xirô đường, mật ong nhân 
tạo, đường caramen, mật đường từ quá trình chiết xuất hoặc tinh chế 
đường và kẹo đường. Đường và mật đường ở dạng rắn thuộc Chương 
này có thể pha thêm hương liệu hoặc chất màu (ví dụ, axit citric hoặc 
vani) hoặc chất làm ngọt nhân tạo (ví dụ, aspartame hoặc stevia), miễn là 
chúng giữ được đặc tính nguyên bản là đường hoặc mật đường. 
Chương này không bao gồm: 

(a)  Kẹo đường có pha cacao hoặc sôcôla (trừ sôcôla trắng) ở bất kỳ tỷ 
lệ nào và bột cacao được làm ngọt (nhóm 18.06). 
(b)  Chế phẩm thực phẩm được làm ngọt của các Chương 19, Chương 
20, Chương 21 hoặc Chương 22. 
(c)  Thức ăn gia súc được làm ngọt (nhóm 23.09). 
(d)  Đường tinh khiết về mặt hoá học (trừ đường sucroza, lactoza, 
maltose, glucoza và fructoza), và dạng dung dịch có nước của 
chúng (nhóm 29.40). 
(e)    Dược phẩm có đường (Chương 30). 
17.01 - Đường mía hoặc đường củ cải và đường sucroza tinh khiết về 
mặt hoá học, ở thể rắn (+). 
  - Đường thô chưa pha thêm hương liệu hoặc chất màu: 
1701.12   - - Đường củ cải 
1701.13    - - Đường mía đã nêu trong Chú giải phân nhóm 2 của 
Chương này 
1701.14   - -  Các loại đường mía khác 
 -  Loại khác: 
1701.91   - - Đã pha thêm hương liệu hoặc chất màu 
1701.99   - -  Loại khác 
Đường mía thu được từ nước ép của thân cây mía. Đường củ cải thu 
được từ nước ép được chiết xuất từ củ cây củ cải đường. 
Đường mía hoặc đường củ cải thô hoặc chưa tinh luyện có dạng kết tinh 
hoặc ở thể rắn khác màu nâu, màu sắc thay đổi do hàm lượng của tạp 
chất. Hàm lượng đường sucroza tính theo trọng lượng, ở thể khô dưới 
99,50 đọc kết quả tương ứng trên phân cực kế (xem Chú giải phân nhóm 
1). Các loại đường này thường được dùng để tinh chế thành các sản 
phẩm đường tinh luyện. Tuy nhiên, đường thô cũng có thể có độ tinh 

khiết ở mức độ cao phù hợp cho người sử dụng mà không cần tinh chế. 
Đường tinh luyện của mía hoặc của củ cải đường được sản xuất bằng 
cách tinh chế đường thô. Chúng được sản xuất dưới dạng tinh thể màu 
trắng và được đưa ra thị trường ở nhiều mức độ tinh khiết khác nhau 
hoặc dưới dạng viên, bánh, miếng hoặc thanh hoặc các mảnh được đúc, 
cưa hoặc cắt. 
Ngoài các loại đường thô hoặc tinh luyện nêu trên, nhóm này cũng bao 
gồm đường nâu có chứa đường trắng trộn với một lượng nhỏ, ví dụ, 
đường caramel hay nước mật, và các viên đường gồm các tinh thể đông 
kết lớn được sản xuất bằng quá trình đông kết chậm của dung dịch 
đường cô đặc. 
Lưu ý rằng đường của mía và của củ cải đường thuộc nhóm này chỉ khi 
ở thể rắn (kể cả bột); các loại đường này có thể đã được thêm hương liệu 
hoặc chất màu. 
Xirô đường mía và đường củ cải, bao gồm các dung dịch có nước của 
đường, được phân loại vào nhóm 17.02 khi không được thêm chất 
hương liệu hoặc chất màu và ngược lại thì thuộc nhóm 21.06. 
Ngoài ra, nhóm này không bao gồm các chế phẩm ở thể rắn (kể cả hạt 
nhỏ hoặc bột) mà đã mất đặc tính của đường, loại sử dụng để làm đồ 
uống (nhóm 21.06). 
Nhóm này cũng bao gồm đường sucroza tinh khiết về mặt hóa học ở thể 
rắn, bất kể nguồn gốc của chúng. Đường sucroza (không kể đường 
sucroza tinh khiết về mặt hoá học) thu được từ các nguồn gốc khác 
không phải là mía hoặc củ cải đường bị loại trừ (nhóm 17.02). 
Chú giải phân nhóm. 
Các phân nhóm 1701.12, 1701.13 và 1701.14 
Đường mía thô trong thương mại thường chứa hơn 0.1% đường nghịch 
chuyển trong khi đó hàm lượng đường nghịch chuyển của đường củ cải 
thô thường thấp hơn 0.1%. Hai loại đường thô này cũng có thể phân biệt 
với nhau bằng sự khác biệt về mùi sinh ra sau khi để qua đêm các mẫu 
dưới dạng dung dịch có nước đóng trong vật chứa có nút. 

17.02 - Đường khác, kể cả đường lactoza, mantoza, glucoza và 
fructoza, tinh khiết về mặt hoá học, ở thể rắn; xirô đường 
chưa pha thêm hương liệu hoặc chất màu; mật ong nhân 
tạo, đã hoặc chưa pha trộn với mật ong tự nhiên; đường 
 - Lactoza và xirô lactoza: 
- - Có hàm lượng lactoza khan từ 99% trở lên, tính 
theo khối lượng chất khô 
- - Loại khác 
- Đường từ cây thích (maple) và xirô từ cây thích 
- Glucoza và xirô glucoza, không chứa hoặc có chứa 
hàm lượng fructoza dưới 20% tính theo khối lượng ở 
thể khô 
- Glucoza và xirô glucoza, chứa hàm lượng fructoza ít 
nhất là 20% nhưng dưới 50% tính theo khối lượng ở 
thể khô, trừ đường nghịch chuyển 
- Fructoza tinh khiết về mặt hoá học 
- Fructoza và xirô fructoza khác, chứa hàm lượng 
fructoza trên 50% tính theo khối lượng ở thể khô, trừ 
đường nghịch chuyển 
- Loại khác, kể cả đường nghịch chuyển và đường 
khác và hỗn hợp xirô đường có chứa hàm lượng  
fructoza là 50% tính theo khối lượng ở thể khô 
Nhóm này bao gồm các loại đường khác ở thể rắn, xirô đường cũng như 
mật ong nhân tạo và đường caramen. 
(A)  CÁC LOẠI ĐƯỜNG KHÁC 
Phần này bao gồm đường, trừ đường thuộc nhóm 17.01 hoặc đường 
tinh khiết về mặt hoá học thuộc nhóm 29.40, ở thể rắn (kể cả dạng bột), 
đã hoặc chưa được thêm hương liệu hoặc chất màu. Các loại đường chủ 

yếu thuộc nhóm này là: 
(1)  Đường lactoza (còn gọi là đường sữa) (C12H22O11), đường này có 
trong sữa và được sản xuất ở quy mô thương mại từ nước sữa 
(whey). Nhóm này gồm cả đường lactoza mang tính chất thương 
mại cũng như lactoza tinh khiết về mặt hoá học. Các sản phẩm này 
phải chứa hàm lượng lactoza, được ép thành đường lactoza khan, 
trên 95% tính theo trọng lượng chất khô. Với mục đích tính toán tỉ 
trọng đường lactoza trong một sản phẩm, khái niệm "chất khô" 
được hiểu là không bao gồm cả nước ở trạng thái tự do và nước kết 
tinh. Sản phẩm thu được từ whey và chứa hàm lượng lactoza, được 
ép thành đường lactoza khan, từ 95% trở xuống, tính theo trọng 
lượng ở thể khô, bị loại trừ (thường thuộc nhóm 04.04). 
Khi được tinh chế, thì đường lactoza thương phẩm ở dạng đường cát 
kết tinh màu trắng và hơi ngọt. Đường lactoza tinh khiết về mặt hoá 
học, khan hoặc ướt, ở dạng tinh thể rắn, không màu, hấp thụ mùi. 
Đường lactoza được dùng rộng rãi, cùng với sữa, trong chế phẩm 
làm thức ăn cho trẻ em; đường lactoza còn dùng làm bánh kẹo, mứt 
hoặc dược phẩm. 
(2)  Đường nghịch chuyển, thành phần chính của mật ong tự nhiên. 
Được chế biến ở quy mô thương mại bằng sự thủy phân đường 
sucroza tinh chế hoà tan và bao gồm tỷ lệ đường glucoza và fructoza 
bằng nhau tính theo trọng lượng. Đường này có thể ở thể rắn hoặc ở 
dạng xirô đặc (xem phần B). Người ta sử dụng đường nghịch chuyển 
để bào chế dược phẩm, làm bánh mì, sản xuất trái cây đóng hộp và 
mật ong nhân tạo và trong ngành công nghiệp sản xuất bia. 
(3)  Đường glucoza, thường có tự nhiên trong trái cây và trong mật 
ong. Đường glucoza cùng với tỉ lệ bằng đường fructoza thì tạo 
thành đường nghịch chuyển. 
Nhóm này bao gồm đường dextrose (đường glucoza tinh khiết về 
mặt hoá học) và đường glucoza thương mại. 
Đường dextroza (C6H12O6) là đường dạng bột kết tinh trắng. 
Đường này dùng trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm. 
Đường glucoza thương phẩm được thu được từ quá trình thuỷ phân 

tinh bột với axit và/hoặc enzyme. Ngoài dextrose ra, đường glucoza 
luôn chứa một tỉ lệ thay đổi 2-, 3- và nhiều chất polysaccharide 
khác (maltose, maltotriose...). Lượng đường khử, biểu thị như 
đường dextrose ở dạng chất khô, từ 20% trở lên. Đường này thường 
ở dạng sệt, không màu (xirô đường glucoza, xem phần (B)) hoặc 
thành miếng hoặc bánh (đường glucoza khối) hoặc bột vô định hình 
(amorphous powder), dùng chủ yếu trong công nghiệp thực phẩm, 
sản xuất bia, lên men thuốc lá và dược phẩm. 
(4)  Đường fructoza (C6H12O6) có nhiều, với glucoza, trong các loại 
quả ngọt và trong mật ong. Người ta sản xuất đường fructoza 
thương phẩm từ đường glucoza thương phẩm (ví dụ, xirô ngô), từ 
đường sucroza hoặc bằng thủy phân chất inulin, một chất chủ yếu 
được tìm thấy trong rễ cây hoa huệ và cây a-ti-sô Jerusalem. 
Đường fructoza ở dạng đường cát kết tinh,  hơi trắng hoặc ở dạng 
xirô sệt (xem phần (B)); đường fructoza ngọt hơn đường thường 
(sucroza) và đặc biệt thích hợp cho những người mắc bệnh đái tháo 
đường. Nhóm này bao gồm cả đường fructoza thương phẩm cũng 
như đường fructoza tinh khiết về mặt hoá học. 
(5)  Đường sucroza, thu được từ các nguồn không phải là củ cải 
đường và mía đường. Quan trọng nhất là đường từ cây thích, thu 
được từ nhựa của cây thích, chủ yếu là loại cây thích saccharum và 
Acer nigrum mọc chủ yếu ở Canada và vùng Đông Bắc nước Mỹ. 
Nhựa thường được cô đặc và kết tinh không qua tinh chế nhằm giữ 
lại một số chất không phải là đường tạo nên hương vị đặc biệt của 
nó. Nó cũng được bán ra thị trường ở dạng xirô (xem Phần (B)). 
Các loại xirô khác của đường sucroza (xem Phần (B)) thu được từ 
cây cao lương ngọt (sorghum vulgare var. sacchratum), hạt carob, 
một số loại cọ,... 
(6)  Đường malto- dextrin (hoặc dextri-maltoses), thu được theo quy 
trình sản xuất tương tự đường glucoza thương phẩm. Đường malto- 
dextrin chứa một tỉ lệ không cố định đường maltose và chất 
polysaccharide khác. Tuy nhiên, chúng bị thủy phân ít hơn và do đó 
có hàm lượng đường khử thấp hơn đường glucoza thương phẩm. 
Nhóm này chỉ bao gồm những sản phẩm có lượng đường khử, biểu 

thị như đường dextrose ở dạng chất khô, trên 10% ( nhưng dưới 
20%). Các sản phẩm có lượng đường khử không vượt quá 10% 
thuộc nhóm 35.05. Đường malto-dextrin ở dạng thông dụng nhất là 
bột có màu trắng, nhưng chúng cũng có trên thị trường ở dạng xirô 
(xem Phần (B)). Chúng dùng chủ yếu làm thức ăn cho trẻ em và 
thức ăn kiêng với hàm lượng calo thấp, làm chất thơm hoặc chất 
màu thực phẩm, làm chất mang dùng trong công nghiệp dược phẩm. 
(7)  Đường maltoza (C12H22O11) được sản xuất ở quy mô công nghiệp 
từ sự thủy phân tinh bột với chất diastase của malt và được sản 
xuất ở dạng bột kết tinh có màu trắng. Nó được dùng trong công 
nghiệp sản xuất rượu bia. Nhóm này gồm đường malto thương 
phẩm cũng như đường maltoza tinh khiết về mặt hoá học.  
XIRÔ ĐƯỜNG 
Phần này gồm các loại xirô của tất cả các loại đường (kể cả xirô lactoza 
cũng như các dung dịch chứa nước trừ dung dịch chứa nước của đường 
tinh khiết về mặt hoá học thuộc nhóm 29.40), với điều kiện chưa được 
thêm hương liệu hoặc chất màu (xem phần Chú giải của nhóm 21.06). 
Ngoài xirô được đề cập ở phần A trên đây (tức là xirô glucoza (tinh 
bột)), xirô fructoza, xirô malto-dextrin, xirô đường nghịch chuyển cũng 
như xirô sucroza), nhóm này gồm: 
(1)  Xiro đường (simple syrup) thu được từ sự hoà tan các loại đường 
của Chương này trong nước. 
(2)  Nước ép và xirô thu được trong quá trình chiết xuất đường từ mía 
đường, củ cải đường.... Các loại nước này có thể chứa tạp chất như: 
chất pectin, chất  albuminoidal, muối khoáng … 
(3)  Xirô vàng, dùng làm đồ uống hoặc làm thức ăn có chứa đường 
sucroza và đường nghịch chuyển. Xirô vàng được chế biến từ phần 
xirô còn lại trong quá trình tinh chế đường sau khi kết tinh và tách 
đường đã tinh chế, hoặc chế biến từ đường mía hay đường củ cải, 
hoặc bằng cách chuyển một phần đường sucroza hoặc thêm đường 
nghịch chuyển. 
(C)  MẬT ONG NHÂN TẠO 
Thuật ngữ “mật ong nhân tạo” dùng cho các hỗn hợp pha trộn đường 

sucroza, đường glucoza hoặc đường nghịch chuyển, thường đã thêm 
hương liệu hoặc chất màu và chế biến để giống mật ong tự nhiên. Nhóm 
này cũng bao gồm cả các hỗn hợp pha trộn mật ong tự nhiên với  mật 
ong nhân tạo.  
(D)  ĐƯỜNG CARAMEN 
Đường caramen là chất có màu nâu, không kết tinh được và có mùi 
thơm. Nó có thể  ở dạng chất lỏng ít nhiều giống như xirô, hoặc dạng 
rắn, thường ở dạng bột. 
Chúng ít nhiều thu được từ sự nhiệt phân kéo dài của đường, ở nhiệt độ 
từ 1200C đến 1800C, từ các loại đường (thường là glucoza hoặc sucroza) 
hoặc từ mật đường. 
Tuỳ theo quy trình chế biến, toàn bộ loạt sản phẩm thu được lần lượt là 
đường đã caramen hóa (hoặc mật đường) với hàm lượng đường thường 
là cao (khoảng chừng 90%), tính theo sản phẩm khô, đến đường 
caramen “màu”, với hàm lượng đường rất thấp. 
Đường hoặc mật đường đã caramen hóa được dùng làm hương liệu, nhất 
là trong món tráng miệng có đường, kem hoặc bánh ngọt. Màu caramen, 
có được là do sự chuyển biến của đường thành melanoidin (chất màu) ở 
nhiệt độ tương đối cao, được dùng như chất màu, ví dụ, sản xuất bánh 
bích quy, trong công nghiệp sản xuất bia rượu và chế biến một số đồ 
uống không có cồn. 
17.03 - Mật thu được từ chiết xuất hoặc tinh chế đường (+). 
- Mật mía 
- Loại khác 
Các loại mật thuộc nhóm này chỉ thu được từ kết quả của việc chiết xuất 
hoặc tinh chế đường. Mật thu được thường là sản phẩm phụ thông 
thường từ việc chiết xuất hoặc tinh chế đường mía hoặc đường củ cải 
hoặc từ việc sản xuất đường fructoza từ ngô. Đó là chất nhớt có màu nâu 
hoặc hơi đen chứa một lượng đáng kể đường không thể dễ dàng làm kết 
tinh. Tuy nhiên, nó có thể được làm thành bột. 
Mật củ cải đường thu được như ở trên thường không ăn được, nhưng 

một số dạng đã qua tinh chế của mật mía và mật ngô thích hợp dùng làm 
thức ăn cho người và được bán như là mật đường hoặc như xirô để ăn. 
Công dụng chủ yếu của các loại mật là dùng làm nguyên liệu thô để 
chưng cất rượu và đồ uống có cồn (ví dụ, rượu rum chế biến từ mật mía 
đường), hoặc chế biến thức ăn cho gia súc hay các chất thay thế cà phê. 
Nó cũng đôi khi được dùng để chiết xuất đường. 
Các loại mật thuộc nhóm này có thể bị khử màu, tạo màu hoặc tạo mùi. 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 1703.10  
Mật mía có thể phân biệt với các loại mật khác của nhóm 17.03 dựa trên 
mùi và thành phần hoá học. 
17.04 - Các loại kẹo đường (kể cả sô cô la trắng), không chứa ca cao. 
- Kẹo cao su, đã hoặc chưa bọc đường 
- Loại khác 
Nhóm này bao gồm hầu hết các chế phẩm đường có trên thị trường ở thể 
rắn hoặc thể bán rắn, thường thích hợp để sử dụng ngay và gọi chung là 
mứt kẹo, bánh kẹo hoặc kẹo.  
Nhóm này có thể kể đến: 
(1)  Kẹo cao su có đường (kể cả kẹo cao su được làm ngọt và các loại 
tương tự). 
(2)  Kẹo cứng (kể cả kẹo có chiết xuất từ malt). 
(3)  Caramen, kẹo cao su (cachou), kẹo đường, kẹo nougat, kẹo mềm 
(fondant), kẹo hạnh nhân, kẹo Turkish delight. 
(4)  Bánh hạnh nhân. 
(5)  Các chế phẩm ở dạng kẹo viên ngậm hoặc kẹo chống ho đã đóng 
gói, chủ yếu làm bằng đường (có hoặc không có thêm thực phẩm 
khác như gelatin, tinh bột hoặc bột) và hương liệu (kể cả các chất 
có dược tính, như cồn benzyl, mentol, dầu bạch đàn và dầu thơm 

tolu). Tuy nhiên, viên kẹo ngậm hoặc kẹo chống ho có chứa chất 
dược tính, trừ hương liệu, thuộc Chương 30, với điều kiện tỉ lệ 
các chất này trong mỗi viên kẹo ngậm hoặc kẹo chống ho có thể 
dùng cho mục đích phòng bệnh hoặc chữa bệnh. 
(6)  Sôcôla trắng gồm đường, bơ cacao, sữa bột và hương liệu, nhưng 
chứa một lượng rất ít cacao (bơ cacao không coi như cacao). 
(7)  Chiết xuất từ cam thảo (bánh, khối, que, viên...) chứa trên 10% 
trọng lượng là đường sucroza. Tuy nhiên, khi được đóng gói ở 
dạng kẹo (có hoặc không có hương liệu), chiết xuất cam thảo thuộc 
nhóm này không tính đến tỷ lệ đường. 
(8)  Thạch trái cây và bột trái cây nhão được đóng gói ở dạng kẹo đường. 
(9)  Bột nhão từ đường và chứa một ít hoặc không có chất béo và thích 
hợp không những dùng trực tiếp làm mứt kẹo của nhóm này, mà 
còn làm nhân của các sản phẩm thuộc nhóm này hoặc các nhóm 
khác, ví dụ: 
(a)  Bột nhão làm kẹo frondant được chế biến từ đường sucroza, 
xirô sucroza hoặc xirô glucoza hoặc xirô đường nghịch 
chuyển có hoặc không có hương liệu, dùng sản xuất kẹo mềm 
(fondant), và làm nhân trong kẹo hoặc sôcôla... 
(b)  Bột nhão làm kẹo nougat, là hỗn hợp có khí của đường, nước 
và chất tạo keo (ví dụ, lòng trắng trứng) và đôi khi thêm một 
lượng nhỏ chất béo, có hoặc không có thêm quả hạch (nut), 
quả hoặc các sản phẩm thực vật khác, dùng để sản xuất kẹo 
nougat và làm nhân trong sôcôla, ... 
(c)  Bột hạnh nhân nhão, chế biến chủ yếu từ hạnh nhân và 
đường, dùng chủ yếu để sản xuất bánh hạnh nhân. 
(10)  Các chế phẩm làm từ mật ong tự nhiên được đóng gói dưới dạng 
kẹo đường (ví dụ: “halva”). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Chiết xuất từ cam thảo (không được đóng gói như mứt kẹo) chứa 
không quá 10% hàm lượng đường sucroza tính theo trọng lượng 

(nhóm 13.02). 
(b)  Chế phẩm đường chứa cacao (nhóm 18.06). (Với mục đích này bơ 
cacao không được coi như cacao). 
(c)  Các chế phẩm dùng làm thức ăn được làm ngọt như rau, quả, vỏ 
trái cây... được bảo quản bằng đường (nhóm 20.06) và mứt, thạch 
trái cây... (nhóm 20.07). 
(d)  Kẹo, kẹo cao su và các sản phẩm tương tự (đặc biệt là dùng cho 
người bệnh đái tháo đường) có chứa chất làm ngọt tổng hợp (ví dụ, 
chất sorbitol) thay thế đường; bột nhão từ đường, có thêm chất béo 
với tỉ lệ tương đối lớn và, đôi khi, có sữa hoặc quả hạch (nut) 
không dùng trực tiếp làm mứt, kẹo (nhóm 21.06). 
(e)    Dược phẩm thuộc Chương 30. 

Chương 18 
Ca cao và các chế phẩm từ ca cao 
Chú giải. 
1.-  Chương này không bao gồm:  
(a)  Chế phẩm thực phẩm có hàm lượng trên 20% tính theo khối 
lượng là xúc xích, thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, 
tiết, côn trùng, cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm 
hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống khác, hoặc hỗn 
hợp bất kỳ của các loại trên (Chương 16); 
(b) Các chế phẩm thuộc các nhóm 04.03, 19.01, 19.02, 19.04, 
19.05, 21.05, 22.02, 22.08, 30.03 hoặc 30.04.. 
2.-  Nhóm 18.06 bao gồm các loại kẹo đường có chứa ca cao và các 
loại chế phẩm thực phẩm khác chứa ca cao, trừ các chế phẩm 
thuộc các nhóm đã ghi trong Chú giải 1 Chương này. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm ca cao (kể cả hạt ca cao) ở tất cả các dạng, bơ ca 
cao, chất béo và dầu ca cao và các chế phẩm có chứa ca cao (với bất cứ 
tỉ lệ nào), trừ: 
(a)  Sữa chua và các sản phẩm khác thuộc nhóm 04.03. 
Sôcôla trắng (nhóm 17.04). 
Các chế phẩm thực phẩm từ bột, tấm, bột thô, tinh bột hoặc chiết 
xuất malt, có lượng cacao dưới 40% tính theo trọng lượng sau khi 
đã khử toàn bộ chất béo, và các chế phẩm thực phẩm của hàng hóa 
thuộc các nhóm từ 04.01 đến 04.04 có chứa lượng cacao dưới 5% 
tính theo trọng lượng sau khi đã khử toàn bộ chất béo, thuộc 
nhóm 19.01.  
(d)  Ngũ cốc rang hoặc nổ (swelled) có chứa lượng ca cao không quá 
6% tính theo trọng lượng sau khi đã khử toàn bộ chất béo (nhóm 
(e)  Bánh bột nhào (pastry), bánh ga tô (cake), bánh quy và các loại 
bánh khác, có chứa ca cao (nhóm 19.05). 

(f)  Kem lạnh và sản phẩm ăn được tương tự khác, có chứa một tỷ lệ 
ca cao bất kỳ (nhóm 21.05). 
(g)  Đồ uống, có hoặc không có cồn (ví dụ: rượu cacao) có chứa ca cao 
và uống được ngay (Chương 22). 
(h)  Thuốc (nhóm 30.03 hoặc 30.04). 
Chương này cũng không bao gồm chất theobromine và alkaloid chiết 
xuất từ ca cao (nhóm 29.39). 
(g)  Beverages, non-alcoholic or alcoholic (e.g., “crème de cacao”), 
18.01 - Hạt ca cao, đã hoặc chưa vỡ mảnh, sống hoặc đã rang. 
Hạt ca cao là các hạt có nhiều (25-80) trong quả (cocoa-pod) của cây ca 
cao (Theobroma cacao). Hạt ca cao có hình trứng, phẳng, thường có màu 
tím hoặc hơi đỏ. Hạt ca cao gồm có phần vỏ ngoài cứng, giòn và dễ vỡ và 
phần vỏ lụa trong rất mỏng có màu trắng mỡ bọc lấy lõi hạt và chia lõi hạt 
ra thành nhiều phần. 
Để giảm bớt vị đắng, tăng thêm hương vị đặc biệt của ca cao và để bóc 
vỏ cứng được dễ dàng, hạt được làm lên men; Hạt cũng có thể được xử 
lý bằng hơi nước và làm khô. Hạt được rang lên để dễ dàng bóc phần vỏ 
cứng, để làm cho phần lõi hạt dễ vụn hơn, cô đặc sản phẩm và tăng 
thêm hương và vị của hạt. Sau đó hạt được cho vào những thiết bị trục 
lăn có gợn sóng để làm vỡ hạt và tách phần phôi mầm. Sau đó là các 
công đoạn tách phần vỏ cứng, vỏ lụa và phần phôi mầm từ các mảnh lõi 
hạt (mảnh hạt ca cao).  
Nhóm này bao gồm hạt thô hoặc hạt đã rang, nguyên hạt (đã hoặc chưa 
bóc vỏ cứng, vỏ lụa hoặc  mầm) hoặc đã vỡ mảnh. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Phần vỏ quả, vỏ hạt, vỏ lụa và những phế liệu khác của cacao 
(nhóm 18.02). 
( b)  Hạt ca cao đã được nghiền ở dạng bột nhão (nhóm 18.03). 
18.02 - Vỏ quả, vỏ hạt, vỏ lụa và phế liệu ca cao khác. 
Nhóm này bao gồm các phế liệu còn lại thu được từ sản xuất bột ca cao 

hoặc bơ ca cao. Một số phế liệu có thể được sử dụng cho việc chiết xuất 
sâu hơn nữa bơ ca cao và chúng có thể được sử dụng cho việc chiết xuất 
theobromine. Chúng cũng có thể được sử dụng, với một tỷ lệ tương đối 
nhỏ, để trộn vào thức ăn chăn nuôi. Khi được nghiền, chúng đôi khi 
được sử dụng thay thế cho bột ca cao vì chúng có mùi tương tự nhưng 
không giống vị. 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Vỏ cứng, vỏ lụa được tách ra trong quá trình rang và xay hạt. Các 
vỏ này còn dính một ít mảnh vụn của lõi hạt (mảnh vụn của lõi hạt 
dính vào vỏ cứng, vỏ lụa và không thể tách chúng ngay ra khỏi vỏ 
được), từ những phần mảnh vụn này có thể chiết xuất được một tỷ 
lệ bơ ca cao.  
(2)  Phôi mầm ca cao, thu được khi cho hạt cacao qua một máy tách 
mầm. Phôi mầm ca cao thực sự không chứa chất béo. 
(3)  Bụi cacao; thu được từ việc làm sạch vỏ trong máy phân loại; 
thường tỷ lệ chất béo có trong chúng đủ cao phù hợp cho việc 
chiết xuất một cách hiệu quả. 
(4)  Khô dầu cacao (Cocoa cakes) (thu được từ quá trình chiết xuất 
bơ ca cao từ vỏ cứng, vỏ lụa còn dính một phần lõi hạt hoặc từ ca 
cao nguyên hạt). Khô dầu gồm những mẩu nhỏ của vỏ cứng, vỏ 
lụa, vì vậy chúng không thích hợp để sản xuất bột ca cao hoặc 
sôcôla. 
Nhóm này loại trừ khô dầu ca cao không có vỏ cứng, vỏ lụa, thu được 
từ quá trình chiết xuất bơ ca cao từ bột ca cao nhão (nhóm 18.03). 
18.03 - Bột ca cao nhão, đã hoặc chưa khử chất béo. 
- Chưa khử chất béo 
- Đã khử một phần hoặc toàn bộ chất béo 
Bột ca cao nhão thu được từ việc nghiền hạt ca cao đã rang (hạt đã 

làm sạch vỏ cứng, vỏ lụa và phôi mầm của chúng) bằng máy nghiền 
đá mài nóng hoặc máy thớt nghiền; Sản phẩm thu được làm cứng 
dưới dạng viên, miếng hoặc khối. Bột nhão có thể được các nhà sản 
xuất bánh kẹo sử dụng luôn nhưng chúng thường được dùng để sản 
xuất bơ ca cao, bột ca cao và sôcôla. 
Nhóm này cũng bao gồm bột nhão ca cao đã được khử một phần hoặc 
toàn bộ chất béo (khô dầu ca cao (cocoa cake)); Chúng được sử dụng 
cho sản xuất bột ca cao hoặc sôcôla; hoặc trong một số trường hợp được 
sử dụng để sản xuất theobromine 
Nhóm này loại trừ bột nhão ca cao đã cho thêm đường hoặc chất làm 
ngọt khác (nhóm 18.06). 
18.04 - Bơ ca cao, chất béo và dầu ca cao. 
Bơ ca cao, là phần chất béo có trong hạt ca cao, thu được từ việc ép 
nóng bột nhão ca cao hoặc hạt ca cao. Phần chất lượng kém thường 
được gọi là chất béo ca cao cũng thu được từ hạt ca cao chất lượng kém 
hoặc từ các phế liệu khác nhau của ca cao (vỏ cứng, vỏ lụa hoặc bụi, 
rác...) bằng phương pháp ép nén hoặc chiết xuất với một số dung môi 
thích hợp. 
Bơ ca cao thường ở dạng rắn trong nhiệt độ phòng, có độ nhờn nhẹ và 
màu trắng vàng nhạt; có mùi thơm tương tự mùi ca cao và vị ngon dễ 
chịu. Bơ ca cao thường được làm thành miếng và được sử dụng trong 
sản xuất sôcôla (để làm tăng chất lượng bột nhão ca cao), trong sản xuất 
bánh kẹo (phụ liệu để làm một số loại kẹo), trong sản xuất nước hoa 
(chiết xuất hương thơm bằng phương pháp tách hương liệu), trong sản 
xuất mỹ phẩm và dược phẩm (phụ liệu để sản xuất thuốc mỡ, thuốc 
dạng viên đạn...). 
18.05 - Bột ca cao, chưa pha thêm đường hoặc chất làm ngọt khác. 
Bột ca cao thu được từ ca cao dạng nhão đã tách một phần chất béo 

thuộc nhóm 18.03 bằng cách tán thành bột. 
Nhóm này chỉ bao gồm bột ca cao chưa pha thêm đường hoặc chất làm 
ngọt khác. Nhóm này bao gồm bột cacao thu được sau khi xử lý mảnh 
hạt, bột nhão và bột khô với chất kiềm (Carbonate natri hoặc carbonate 
kali...) để tăng độ hoà tan (ca cao hoà tan). 
Bột ca cao đã pha thêm đường hoặc chất ngọt khác và bột ca cao đã pha 
thêm sữa hoặc peptone thuộc nhóm 18.06. Tuy nhiên, dược phẩm trong 
đó có bột ca cao chỉ được sử dụng như là chất hổ trợ hoặc chất dẫn cho 
thuốc thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04. 
18.06 - Sô cô la và các chế phẩm thực phẩm khác có chứa ca cao (+). 
- Bột ca cao, đã pha thêm đường hoặc chất làm ngọt 
khác 
- Chế phẩm khác ở dạng khối, miếng hoặc thanh có 
trọng lượng trên 2 kg hoặc ở dạng lỏng, dạng nhão, 
bột mịn, dạng hạt hay dạng rời khác đóng trong bao 
bì hoặc gói sẵn, trọng lượng trên 2 kg 
- Loại khác, ở dạng khối, miếng hoặc thanh: 
- - Có nhân 
- - Không có nhân 
- Loại khác 
Sôcôla được làm chủ yếu từ bột nhão ca cao và đường hoặc chất làm 
ngọt khác, thường được cho thêm hương liệu và bơ ca cao. Trong một 
số trường hợp, bột ca cao và dầu thực vật có thể được dùng thay thế cho 
bột nhão ca cao. Sữa, cà phê, hạt dẻ, hạt hạnh nhân, vỏ cam, ...  cũng 
được cho thêm vào. 
Sôcôla và các sản phẩm từ sôcôla có thể được làm thành dạng khối, 
miếng, phiến, thanh, viên, hình thoi, khoanh tròn, hạt hoặc bột hoặc là 
các sản phẩm từ sôcôla có nhân kem, quả hoặc rượu...   

Nhóm này cũng bao gồm kẹo đường chứa ca cao với một tỷ lệ bất kỳ 
(bao gồm cả kẹo nougat sôcôla), bột ca cao đã cho thêm chất tạo ngọt, 
bột sôcôla, mứt sôcôla và nhìn chung, tất cả chế phẩm thực phẩm có 
chứa ca cao (trừ những sản phẩm đã được loại trừ trong Chú giải 
Tổng quát của Chương này). 
Sôcôla đã được bổ sung thêm vitamin cũng được phân loại trong nhóm này. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Sôcôla trắng (thành phần gồm bơ ca cao, đường và sữa bột) (nhóm 
(b) Bánh quy và các loại bánh bọc sôcôla khác (nhóm 19.05).  
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 1806.20 
Hàng hóa được thể hiện “dạng khối khác” thuộc phân nhóm 1806.20 
nếu chúng ở dạng viên, hạt, tròn, giọt, hình bóng, lát mỏng, vảy, mảnh 
vụn, mảnh bào và các dạng tương tự. Hàng hóa trong phân nhóm này 
thường được dùng trong sản xuất các sản phẩm sôcôla, sản phẩm bánh, 
bánh keo, kem, ..., hoặc dùng cho trang trí. 
Phân nhóm 1806.31 
Với mục đích của phân nhóm này, thuật ngữ “có nhân” chỉ những sản 
phẩm dạng khối, miếng hoặc thanh mà ở phần giữa có chứa, ví dụ kem, 
đường bọc, dừa sấy khô, quả sấy khô, bột nhão của quả, rượu, bột hạnh 
nhân, các loại hạt, kẹo nougat, kem caramen hoặc hỗn hợp các sản 
phẩm này, tất cả được trang trí với sôcôla. Sôcôla ở dạng khối, miếng 
hoặc thanh, thể rắn, có chứa ví dụ ngũ cốc, quả hoặc các loại hạt 
(nguyên hạt hoặc dạng mảnh), đã được bọc phủ sôcôla, không được 
xem là “có nhân”. 

Chương 19 
Chế phẩm từ ngũ cốc, bột, tinh bột hoặc sữa; các loại bánh 
Chú giải. 
1.-  Chương này không bao gồm: 
(a)  Các chế phẩm thực phẩm có chứa trên 20% tính theo khối 
lượng là xúc xích, thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, 
côn trùng, cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc 
động vật thuỷ sinh không xương sống khác, hoặc hỗn hợp bất 
kỳ của các loại trên (Chương 16), trừ các sản phẩm được nhồi 
thuộc nhóm 19.02; 
(b)  Bánh bích quy hoặc các sản phẩm khác làm từ bột hoặc tinh 
bột, được chế biến đặc biệt dùng để chăn nuôi động vật (nhóm 
23.09); hoặc 
(c)  Thuốc hoặc các sản phẩm khác thuộc Chương 30. 
2.-  Theo mục đích của nhóm 19.01: 
(a)    Thuật ngữ "tấm" có nghĩa là tấm từ ngũ cốc thuộc Chương 11;  
(b)    Thuật ngữ "bột" và "bột thô" có nghĩa là: 
                 (1) Bột và bột thô từ ngũ cốc thuộc Chương 11, và 
                 (2) Bột, bột thô và bột mịn nguồn gốc thực vật ở bất kỳ 
Chương nào, trừ bột, bột thô hoặc bột mịn của rau khô 
(nhóm 07.12), của khoai tây (nhóm 11.05) hoặc của các 
loại rau đậu khô (nhóm 11.06). 
3.-  Nhóm 19.04 không bao gồm các chế phẩm có chứa trên 6% tính 
theo khối lượng là ca cao đã được khử toàn bộ chất béo hoặc được 
phủ sô cô la hoặc các chế phẩm thực phẩm khác có chứa ca cao 
thuộc nhóm 18.06 (nhóm 18.06). 
4.-  Theo mục đích nhóm 19.04, thuật ngữ "chế biến cách khác" có nghĩa 
là được chế biến hoặc xử lý ngoài phạm vi quy định tại các nhóm 
hoặc các Chú giải của các Chương 10 hoặc 11. 

TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm các sản phẩm thường được dùng làm thực phẩm, 
được chế biến trực tiếp từ các loại ngũ cốc thuộc chương 10, từ các sản 
phẩm của chương 11 hoặc từ bột, bột thô và bột mịn có nguồn gốc thực 
vật thuộc các chương khác (bột mịn ngũ cốc, tấm và bột thô, tinh bột từ 
ngũ cốc, bột, bột thô, bột mịn từ rau và quả) hoặc là từ những sản phẩm 
của các nhóm từ 04.01 đến 04.04. Chương này cũng bao gồm các sản 
phẩm bánh ngọt, bánh quy, ngay cả khi trong thành phần của chúng 
không có bột, tinh bột hoặc những sản phẩm ngũ cốc khác. 
Theo mục đích của Chú giải 3 của Chương này và nhóm 19.01, hàm 
lượng ca cao trong một sản phẩm thông thường có thể tính bằng cách 
nhân hàm lượng hỗn hợp giữa theobromine và chất caffeine với hệ số 31.  
Lưu ý rằng, thuật ngữ “ca cao” bao gồm ca cao ở tất cả các dạng, kể cả 
dạng bột nhão và dạng rắn. 
Chương này không bao gồm: 
(a)  Những chế phẩm thực phẩm (trừ các sản phẩm nhồi thuộc nhóm 
19.02) có chứa trên 20% trọng lượng là xúc xích, thịt, phụ phẩm 
dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, cá hoặc động vật giáp xác, 
động vật thân mềm, hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống 
khác, hoặc hỗn hợp các sản phẩm ở trên (Chương 16). 
(b)  Các chế phẩm thực phẩm từ bột mịn, tấm, bột thô, tinh bột hoặc 
chiết xuất malt chứa từ 40% trở lên trọng lượng là cacao được tính 
trên cơ sở đã loại trừ toàn bộ chất béo và các chế phẩm thực phẩm 
của hàng hoá thuộc nhóm từ 04.01 đến 04.04 chứa từ 5% trở lên 
trọng lượng là cacao được tính trên cơ sở đã loại trừ toàn bộ chất 
béo (nhóm 18.06). 
(c)   Các chất thay thế cà phê đã rang có chứa một tỷ lệ cà phê bất kỳ 
(thuộc nhóm 09.01) và các chất thay thế cà phê đã rang khác ( ví 
dụ đại mạch đã rang) (nhóm 21.01). 
(d)  Các loại bột để làm custard, các món tráng miệng, kem hoặc các 

chế phẩm tương tự nhưng không phải là các chế phẩm được làm từ 
bột mịn, bột thô, tinh bột, chiết xuất malt hoặc các hàng hóa thuộc 
các nhóm từ 04.01 đến 04.04 (thường thuộc nhóm 21.06). 
(e)  Các sản phẩm được làm từ bột mịn hoặc từ tinh bột, được chế biến 
chuyên dùng làm thức ăn chăn nuôi (ví dụ: bánh quy cho chó) 
(nhóm 23.09). 
(f)  Dược phẩm và các sản phẩm khác thuộc Chương 30. 
19.01 - Chiết xuất malt; chế phẩm thực phẩm từ bột, tấm, bột thô, 
tinh bột hoặc từ chiết xuất malt, không chứa ca cao hoặc chứa 
dưới 40% tính theo khối lượng là ca cao đã khử toàn bộ chất 
béo, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác; chế phẩm thực 
phẩm từ sản phẩm thuộc các nhóm 04.01 đến 04.04, không 
chứa ca cao hoặc chứa dưới 5% tính theo khối lượng là ca cao 
đã khử toàn bộ chất béo, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi 
khác. 
- Các chế phẩm phù hợp dùng cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ 
nhỏ, đã đóng gói để bán lẻ 
- Bột trộn và bột nhào để chế biến thành các loại bánh 
thuộc nhóm 19.05 
            1901.90     - Loại khác 
(I)  Chiết xuất malt. 
Chiết xuất malt thu được bằng cách cô đặc dung dịch thu được từ 
ngâm malt vào trong nước. 
Chiết xuất malt được phân loại vào nhóm này ngay cả khi ở dạng 
khối hoặc dạng bột hoặc ít nhiều ở dạng lỏng sệt. 
Chiết xuất malt  được bổ sung lecithin, vitamin, muối, v.v vẫn thuộc 
nhóm này miễn là chúng không tạo thành dược phẩm của Chương 

Chiết xuất malt được sử dụng chủ yếu cho việc chế biến các sản 
phẩm dùng làm thực phẩm cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc cho ăn 
kiêng hoặc nấu nướng, hoặc để sản xuất các sản phẩm dược phẩm. 
Các dạng lỏng sệt cũng có thể được sử dụng trong các ngành công 
nghiệp làm bánh và công nghiệp dệt mà không cần chế biến thêm. 
Nhóm này không bao gồm : 
(a) Các loại kẹo đường, chứa chiết xuất malt, thuộc nhóm 17.04. 
(b) Bia và các đồ uống khác (ví dụ malton) được sản xuất từ malt 
(Chương 22). 
(c)  Các enzym malt (nhóm 35.07). 
(II)  Các chế phẩm thực phẩm từ bột, tấm, bột thô, tinh bột hoặc 
chiết xuất malt không chứa cacao hoặc chứa dưới 40% trọng 
lượng là cacao đã khử toàn bột chất béo, chưa được chi tiết hoặc 
ghi ở nơi khác.  
Nhóm này bao gồm các chế phẩm thực phẩm được chế biến chủ yếu 
từ bột mịn, tấm, bột thô, tinh bột hoặc chiết xuất malt, những nguyên 
liệu này quyết định đặc điểm cốt yếu của chúng cho dù các thành 
phần này chiếm ưu thế hay không chiếm ưu thế về trọng lượng hoặc 
số lượng.  
Ngoài các thành phần chính, có thể bổ sung thêm các chất khác như 
sữa, đường, trứng, casein, albumin, chất béo, dầu, hương liệu, gluten, 
chất màu, vitamin, quả hoặc các chất khác để tăng giá trị dinh dưỡng 
hoặc cacao, với một tỷ lệ cacao bất kỳ dưới 40% trọng lượng tính 
trên cơ sở đã loại trừ toàn bộ chất béo (xem Chú giải Tổng quát của 
Chương này). 
Tuy nhiên, nên lưu ý rằng các chế phẩm chứa trên 20% trọng lượng là 
xúc xích, thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, cá hoặc 
động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không 
xương sống khác hoặc hỗn hợp các sản phẩm nêu trên được loại trừ khỏi 
nhóm này (Chương 16). 

Theo mục đích của nhóm này: 
(A) Các thuật ngữ "bột" và "bột thô" nghĩa là không chỉ bột hoặc bột 
thô của ngũ cốc thuộc Chương 11 mà còn bao gồm bột, bột thô 
và bột mịn có nguồn gốc thực vật của bất kỳ Chương nào, như 
bột đậu tương. Tuy nhiên, các thuật ngữ này không bao gồm 
bột, bột thô hoặc bột mịn của các loại rau khô (nhóm 07.12), của 
khoai tây (nhóm 11.05) hoặc của các loại rau đậu khô (nhóm 
(B) Thuật ngữ “tinh bột” bao gồm cả loại tinh bột chưa chế biến và 
tinh bột đã được làm thành keo hoặc được hoà tan, nhưng không 
bao gồm các sản phẩm tinh bột đã được chế biến thêm (more 
evolved) chẳng hạn như dextrimaltose. 
Các chế phẩm thuộc nhóm này có thể ở dạng lỏng hoặc dạng bột, hạt, bột 
nhão hoặc các dạng rắn khác như dạng dải hoặc khoanh. 
Các chế phẩm này thường được sử dụng để chế biến đồ uống, cháo, thực 
phẩm cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ, thực phẩm ăn kiêng, v.v, bằng cách 
trộn đơn giản hoặc đun sôi trong sữa hoặc nước, hoặc để làm bánh, 
pudding, custard hoặc các chế phẩm nấu nướng tương tự khác. 
Các chế phẩm này cũng có thể được sử dụng như các chế phẩm trung 
gian trong công nghiệp thực phẩm. 
Nhóm này có thể kể đến các chế phẩm như: 
(1)  Các loại bột, thu được từ việc làm khô hỗn hợp sữa với đường 
và bột. 
(2)  Các chế phẩm là hỗn hợp của bột trứng, sữa bột, chiết xuất malt 
và bột cacao. 
       (3)   Bột thập cẩm là chế phẩm thực phẩm gồm có bột gạo, các loại  
                tinh bột, bột quả đấu ngọt, đường, bột cacao và hương vani. 
(4)  Các chế phẩm gồm hỗn hợp của bột ngũ cốc với bột trái cây, 
thường pha thêm bột ca cao, hoặc các loại bột trái cây pha thêm 
bột ca cao. 
(5)  Các chế phẩm sữa malt và các chế phẩm tương tự  được chế 

biến từ hỗn hợp sữa bột và chiết xuất malt, có hoặc không thêm 
đường. 
(6)  Các sản phẩm có tên gọi “Knödel”, “Klösse”, “Nockerln” có 
chứa các thành phần như: bột hòn, bột ngũ cốc, bánh mì vụn, 
chất béo, đường, trứng, gia vị, men, mứt  hoặc quả. Tuy nhiên, 
các sản phẩm loại này được chế biến từ bột khoai tây thì được 
phân loại ở Chương 20. 
(7)  Hỗn hợp bột nhào trộn sẵn, có thành phần chính là bột ngũ cốc 
với đường, chất béo, trứng hoặc quả (kể cả loại được đặt trong 
khuôn hoặc đã được tạo hình thành phẩm). 
      (8) Bánh pizza chưa được làm chín gồm đế bánh pizza (bột nhào) 
     được phủ các thành phần khác như pho mát, cà chua, dầu, thịt, cá 
     cơm (cá trỏng). Tuy nhiên, pizza đã được làm chín sơ (pre- 
     cooked) hoặc làm chín được phân loại trong nhóm 19.05. 
Ngoài các chế phẩm đã loại trừ theo Chú giải Tổng quát của Chương 
này, nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Bột lên men tự nhiên và bột “trương nở” (dạng keo) thuộc 
nhóm 11.01 hoặc 11.02. 
(b)  Bột ngũ cốc đã pha trộn (nhóm 11.01 hoặc 11.02), bột và bột 
thô từ rau đậu đã pha trộn và bột, bột thô hoặc bột mịn từ quả đã 
pha trộn (nhóm 11.06), chưa được chế biến cách khác. 
(c)  Sản phẩm từ bột nhào (Pasta) và bột mỳ nấu với thịt (couscous) 
thuộc nhóm 19.02. 
(d)  Tinh bột sắn và các sản phẩm thay thế (nhóm 19.03). 
(e)  Các loại bánh đã chín hoàn toàn hoặc một phần. Loại chín một 
phần cần tiếp tục được làm chín trước khi dùng (nhóm 19.05). 
(f)  Nước xốt và các chế phẩm làm nước xốt (nhóm 21.03). 
(g)  Súp và nước xuýt và chế phẩm để làm súp và nước xuýt và chế 
phẩm thực phẩm đồng nhất (nhóm 21.04). 

(h) Các sản phẩm protein thực vật có cấu trúc (nhóm 21.06). 
        (ij) Đồ uống thuộc Chương 22. 
(III) Các chế phẩm thực phẩm thuộc các nhóm từ 04.01 đến 04.04, 
không chứa cacao hoặc chứa dưới 5% trọng lượng là cacao đã 
khử toàn bộ chất béo, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác.  
Các chế phẩm thuộc nhóm này có thể được phân biệt với các sản 
phẩm thuộc các nhóm từ 04.01 đến 04.04 ở chỗ, trong đó ngoài các 
thành phần sữa tự nhiên chúng còn bao gồm cả các thành phần khác 
không được cho phép có trong các sản phẩm thuộc các nhóm đã nêu 
ở các nhóm trước. Vì vậy, nhóm 19.01 bao gồm, ví dụ: 
(1)  Các chế phẩm ở dạng bột hoặc dạng lỏng được sử dụng như là 
thực phẩm cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc cho mục đích thực 
phẩm dinh dưỡng và gồm có sữa được bổ sung với các thành 
phần phụ khác (ví dụ: tấm ngũ cốc, men).  
(2)  Các chế phẩm từ sữa thu được bằng cách thay thế một hay nhiều 
hơn các thành phần của sữa (thí dụ: chất béo butyric) bằng một 
chất khác (thí dụ: chất béo oleic). 
Các sản phẩm của nhóm này có thể được làm ngọt hoặc có thể chứa 
cacao. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các sản phẩm có đặc 
tính của kẹo đường (nhóm 17.04) và các sản phẩm có chứa từ 5% 
trở lên tính theo trọng lượng là ca cao đã khử toàn bộ chất béo (xem 
Chú giải Tổng quát của Chương này) (nhóm 18.06) và đồ uống 
(Chương 22). 
Nhóm này cũng bao gồm các hỗn hợp và các sản phẩm nền (ví dụ, bột) 
để sản xuất kem lạnh nhưng lại không bao gồm kem lạnh và các loại 
kem ăn được khác được chế biến từ sữa (nhóm 21.05). 
19.02 - Sản phẩm từ bột nhào (pasta), đã hoặc chưa làm chín hoặc 
nhồi (thịt hoặc các chất khác) hoặc chế biến cách khác, như 

spaghetti, macaroni, mì sợi (noodle), mì dẹt (lasagne), gnocchi, 
ravioli, cannelloni; couscous, đã hoặc chưa chế biến. 
  - Sản phẩm từ bột nhào chưa làm chín, chưa nhồi hoặc 
chưa chế biến cách khác: 
- - Có chứa trứng 
1902.19  - - Loại khác 
- Sản phẩm từ bột nhào đã được nhồi, đã hoặc chưa nấu 
chín hoặc chế biến cách khác 
- Sản phẩm từ bột nhào khác 
Sản phẩm từ bột nhào (pasta) thuộc nhóm này là các sản phẩm chưa được 
lên men làm từ bột hòn (semolina) hoặc bột lúa mỳ, bột ngô, bột gạo, bột 
khoai tây... 
Các loại bột hòn hoặc bột này (hoặc hỗn hợp hai loại) trước tiên được 
trộn với nước sau đó được nhào thành bột nhão và có thể cho thêm các 
thành phần khác (ví dụ, rau băm thật mịn, nước ép hoặc bột sệt rau, 
trứng, sữa, gluten bột mì, diastase, vitamin, chất màu, hương liệu). 
Sau đó, bột nhào được tạo hình (ví dụ, đùn và cắt, cán mỏng và cắt, ép 
hoặc đặt khuôn hoặc nén trong trống quay) thành các hình định sẵn 
(chẳng hạn như dạng ống, dạng dây, dạng sợi, vỏ sò, hột, hạt nhỏ, ngôi 
sao, hình gấp khúc, hình các chữ cái). Trong quá trình này, đôi khi bổ 
sung thêm một lượng nhỏ dầu ăn. Những hình dạng này thường được đặt 
làm tên của thành phẩm cuối cùng (ví dụ, macaroni, mì sợi mảnh 
(tagliatelle), spaghetti, mì sợi (noodles). 
Các sản phẩm thường được làm khô trước khi đưa ra bán để dễ dàng vận 
chuyển, trữ kho và bảo quản; ở dạng khô, chúng dễ bị gẫy. Nhóm này 
cũng bao gồm các sản phẩm chưa được làm khô (tức là còn ẩm hoặc tươi) 
và các sản phẩm đông lạnh, ví dụ, gnocchi (của Ý) tươi và ravioli (của Ý 
- giống như sủi cảo) đông lạnh. 
Các sản phẩm từ bột nhào (pasta) thuộc nhóm này cũng có thể được nấu 
chín, được nhồi với thịt, cá, pho mát hoặc một số chất khác theo một tỷ lệ 
bất kỳ hoặc được chế biến theo cách khác (ví dụ, dưới dạng món ăn chế 
purées, eggs, milk, gluten, diastases, vitamins, colouring matter, 

biến sẵn có chứa các thành phần khác như rau, nước sốt, thịt). Nấu là để 
làm sản phẩm từ bột nhào (pasta) mềm ra mà không thay đổi hình dạng 
ban đầu của sản phẩm. 
Sản phẩm từ bột nhào (pasta) đã nhồi có thể được bao kín toàn bộ (ví dụ, 
món ravioli) hoặc mở hai đầu (ví dụ, món cannelloni) (mì nhồi dạng ống) 
hoặc thành từng lớp chồng lên nhau như món lasagnes (mì dẹt). 
Nhóm này cũng bao gồm couscous là bột hòn (semolina) được xử lý bằng 
nhiệt. Couscous thuộc nhóm này có thể được nấu chín hoặc chế biến cách 
khác (ví dụ, đóng gói với thịt, rau và các thành phần khác như một món 
ăn hoàn chỉnh của món couscous). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)    Các chế phẩm thực phẩm (trừ các sản phẩm nhồi thuộc nhóm 
19.02) đã nhồi, có chứa trên 20% trọng lượng là xúc xích, thịt, phụ 
phẩm dạng thịt, tiết, côn trùng, cá hoặc động vật giáp xác, động vật 
thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống khác, hoặc 
hỗn hợp bất kỳ của các loại trên (Chương 16). 
(b)    Súp và nước xuýt và chế phẩm để làm súp và nước xuýt, có chứa 
sản phẩm từ bột nhào (pasta) (nhóm 21.04). 
19.03 - Sản phẩm từ tinh bột sắn và sản phẩm thay thế chế biến từ 
tinh bột, ở dạng mảnh, hạt, bột xay, bột rây hoặc các dạng 
tương tự. 
Nhóm này bao gồm các chế phẩm thực phẩm được chế biến từ tinh bột củ 
sắn (gọi là tapioca), tinh bột cọ sago, tinh bột khoai tây (còn gọi là 
tapioca hoặc cọ sago bản địa) và các loại tinh bột tương tự (thí dụ: củ 
dong, củ lan, củ ngọc lá (yucca),...). 
Các chế phẩm này thu được khi hoà tinh bột với nước thành một loại bột 
nhão, đặc sau đó được đổ vào một cái sàng hoặc chảo có các lỗ nhỏ ở đáy 
và để nhỏ giọt xuống một tấm kim loại được đun nóng ở nhiệt độ từ 
120°C đến 150°C. Giọt bột khi rơi xuống sẽ kết tụ thành viên nhỏ hoặc 
mảnh sau đó đôi khi được nghiền vụn thành hạt nhỏ. Một cách khác tinh 
bột nhão được đông kết trong nồi hơi. 
Các sản phẩm trên được đưa ra thị trường có dạng mảnh, hạt, bột xay, bột 

rây hay các dạng tương tự. Chúng được sử dụng để chế các món canh, đồ 
tráng miệng hoặc thức ăn cho chế độ ăn kiêng. 
19.04 - Thực phẩm chế biến thu được từ quá trình rang hoặc nổ ngũ 
cốc hoặc các sản phẩm ngũ cốc (ví dụ mảnh ngô được chế biến 
từ bột ngô (corn flakes)); ngũ cốc (trừ ngô), ở dạng hạt hoặc 
dạng mảnh hoặc đã làm thành dạng hạt khác (trừ bột, tấm và 
bột thô), đã làm chín sơ hoặc chế biến cách khác, chưa được 
chi tiết hoặc ghi ở nơi khác. 
- Thực phẩm chế biến thu được từ quá trình rang hoặc 
nổ ngũ cốc hoặc các sản phẩm ngũ cốc 
- Thực phẩm chế biến từ mảnh ngũ cốc chưa rang hoặc 
từ hỗn hợp của mảnh ngũ cốc chưa rang và mảnh ngũ 
cốc đã rang hoặc ngũ cốc đã nổ 
- Lúa mì bulgur 
- Loại khác 
(A)  Thực phẩm chế biến thu được từ quá trình rang hoặc nổ ngũ 
cốc hoặc các sản phẩm ngũ cốc (ví dụ, mảnh ngô). 
Nhóm này bao gồm một loạt các loại thực phẩm được chế biến từ 
các loại hạt ngũ cốc (ngô, lúa mì, gạo, lúa đại mạch, ...) được làm 
giòn bằng cách nổ hoặc rang. Chúng chủ yếu được dùng làm thức 
ăn sáng có hoặc không kèm thêm sữa. Trong hoặc sau quá trình chế 
biến, các sản phẩm này có thể được thêm muối, đường, mật, chiết 
xuất malt, hoa quả hoặc ca cao... (xem Chú giải 3 và Chú giải Tổng 
quát của Chương này). 
Nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm tương tự được chế biến từ 
bột hoặc cám bằng phương pháp rang hoặc trương nở. 
Mảnh ngô được chế biến từ hạt ngô bằng cách lấy hết lớp vỏ lụa và 
phôi mầm, thêm đường, muối và chiết xuất malt, làm mềm bằng 
hấp và sau đó được cán vỡ mảnh và cuối cùng là rang trong một lò 
quay. Phương pháp này cũng áp dụng đối với hạt lúa mì hoặc hạt 
ngũ cốc khác. 

         “Bỏng" gạo và “bỏng” lúa mỳ cũng thuộc nhóm này. Chúng thu 
được bằng việc xử lý hạt gạo hoặc hạt lúa mì trong bình nóng và ẩm 
dưới áp suất lớn. Bằng cách giảm đột ngột áp suất và bắn hạt vào 
môi trường lạnh, hạt sẽ nở ra và sẽ có thể tích lớn hơn nhiều lần thể 
tích hạt ban đầu. 
Nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm thực phẩm giòn thơm, thu 
được từ hạt ngũ cốc (một phần hoặc toàn bộ) được làm ẩm, tiếp đó 
được xử lý bằng nhiệt làm cho hạt nở phồng lên, sau đó ướp với 
một hỗn hợp gia vị gồm có dầu ăn thực vật, pho mát, chiết xuất 
men, muối và mì chính. Các chế phẩm tương tự được chế từ bột 
nhào và chiên trong dầu ăn thực vật bị loại trừ (nhóm 19.05). 
(B)  Thực phẩm chế biến từ mảnh ngũ cốc chưa rang hoặc từ hỗn 
hợp của mảnh ngũ cốc chưa rang và mảnh ngũ cốc đã rang 
hoặc ngũ cốc đã nổ. 
Nhóm này bao gồm các loại thực phẩm chế biến từ mảnh ngũ cốc 
chưa rang hoặc từ hỗn hợp của mảnh ngũ cốc chưa rang và mảnh 
ngũ cốc đã rang hoặc ngũ cốc đã nổ. Các sản phẩm này (thường 
được gọi là “ Müsli ”) có thể có chứa quả khô, quả hạch (nut), đư-
ờng, mật ong... Thường được đóng gói làm đồ ăn sáng.  
(C)  Lúa mì bulgur.  
         Nhóm này bao gồm lúa mì bulgur, ở dạng hạt đã xử lý, thu được 
nhờ quá trình đun chín hạt lúa mì cứng, sau đó được làm khô, được 
bóc hoặc lột vỏ, sau đó được làm vỡ, nghiền hoặc xay và cuối cùng 
được rây thành lúa mì bulgur với các kích cỡ to, nhỏ khác nhau. 
Lúa mì bulgur cũng có thể ở dạng nguyên hạt.  
(D)  Các loại ngũ cốc khác, trừ ngô, được sơ chế hoặc chế biến cách 
khác.  
Nhóm này bao gồm các loại ngũ cốc đã được nấu chín sơ hoặc chế 
biến theo cách khác, dạng hạt (kể cả hạt vỡ). Vì vậy, nhóm này bao 
gồm, ví dụ như gạo đã được nấu chín sơ một phần hoặc hoàn toàn 
và sau đó được rút hết nước, và vì thế cấu trúc của hạt cũng thay 
đổi. Đối với loại gạo đã nấu chín sơ hoàn toàn thì chỉ cần ngâm vào 
nước và đun đến sôi là ăn được ngay, còn với loại gạo mới chín sơ 

một phần thì phải đun thêm từ 5 đến 12 phút mới ăn được. Tương 
tự, nhóm này bao gồm các sản phẩm gạo nấu chín sơ có cho thêm 
một số thành phần khác như rau hoặc bột canh, miễn là các thành 
phần thêm vào không làm thay đổi đặc tính của chế phẩm gạo.. 
Nhóm này không bao gồm các loại hạt ngũ cốc chỉ được chế biến 
hoặc xử lý theo các phương pháp đã được nêu ở Chương 10 hoặc 
Chương 11. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Ngũ cốc đã chế biến được phủ hoặc xử lý cách khác, có chứa đường 
với tỷ lệ làm cho nó có đặc tính của kẹo đường (nhóm 17.04). 
(b)  Các chế phẩm có chứa ca cao trên 6% trọng lượng được tính trên cơ 
sở đã khử toàn bộ chất béo hoặc được bọc sôcôla hoặc các chế 
phẩm thực phẩm khác có chứa ca cao thuộc nhóm 18.06 (nhóm 
(c)    Bắp ngô và hạt ngô ăn được, đã chế biến (Chương 20). 
19.05 - Bánh mì, bánh bột nhào (pastry), bánh ga tô (cakes), bánh 
quy và các loại bánh khác, có hoặc không chứa ca cao; bánh 
thánh, vỏ viên nhộng dùng trong ngành dược, bánh xốp 
sealing wafers, bánh đa và các sản phẩm tương tự. 
- Bánh mì giòn 
- Bánh mì có gừng và loại tương tự 
- Bánh quy ngọt; bánh waffles và bánh xốp wafers 
- - Bánh quy ngọt 
- - Bánh waffles và bánh xốp wafers 
- Bánh bít cốt (rusks), bánh mì nướng và các loại 
bánh nướng tương tự 

            1905.90        - Loại khác 
(A) Các sản phẩm bánh mì, bánh bột nhào (pastry), bánh nướng, 
bánh quy và các loại bánh khác, có hoặc không chứa cacao. 
Nhóm này bao gồm tất cả các loại bánh được nướng. Thành phần 
chung nhất của các loại bánh trên là các loại bột ngũ cốc, bột nở, 
muối nhưng các sản phẩm này cũng có chứa thêm một số thành phần 
khác như: gluten, tinh bột, bột rau đậu, chiết xuất malt hoặc sữa, các 
loại hạt như: hạt thuốc phiện, thì là hoặc hồi, đường, mật ong, trứng, 
chất béo, pho mát, quả, ca cao với mọi tỉ lệ, thịt, cá, phụ gia,... Các  
chất phụ gia này chủ yếu được dùng để xử lý bột, thúc đẩy quá trình 
lên men, nâng phẩm chất cũng như mẫu mã sản phẩm và kéo dài thời 
gian bảo quản sản phẩm. Các sản phẩm của nhóm này có thể được 
chế biến từ bột nhào được làm từ bột, bột thô hay bột mịn của  
khoai tây. 
Nhóm này bao gồm các sản phẩm sau: 
(1)  Bánh mì thường, thường chỉ gồm có bột ngũ cốc, bột nở và 
muối.  
(2)  Bánh mỳ có thêm gluten, dùng cho người mắc bệnh tiểu 
đường. 
(3)  Bánh không men hoặc matzos (không cho bột nở). 
(4)  Bánh mì giòn (cũng được biết đến như knäckebrot), là bánh 
mì giòn khô thường có dạng miếng mỏng hình vuông, chữ nhật 
hoặc tròn, trên bề mặt có những lỗ chấm nhỏ. Bánh mì giòn làm 
từ một loại bột nhào từ bột, bột thô, tấm hoặc bột mịn của mạch 
đen, đại mạch, yến mạch hoặc lúa mì và được lên men bằng 
men, bột chua hoặc các tác nhân lên men khác hoặc bằng khí 
nén. Hàm lượng nước trong sản phẩm không quá 10% trọng 
lượng. 
(5)  Bánh bít cốt, bánh mì nướng và các bánh nướng tương tự, 
đã hoặc chưa được cắt lát hoặc nghiền, có hoặc không thêm bơ 
hoặc chất béo khác, đường, trứng hoặc các chất có dinh dưỡng 

khác. 
(6)  Bánh gừng và loại tương tự, là một sản phẩm có tính xốp, 
mềm dẻo, làm từ bột mạch đen hoặc lúa mì có pha chất ngọt (ví 
dụ, mật ong, glucoza, đường nghịch chuyển, mật tinh khiết), và 
các loại gia vị hoặc hương vị,  đôi khi có chứa cả lòng đỏ trứng 
gà hoặc trái cây. Một số loại bánh mì gừng được bọc bằng 
sôcôla hoặc được làm lạnh từ các chế phẩm nhiều chất béo và 
cacao. Một số loại khác có chứa đường hoặc phủ đường. 
       (7)  Bánh "vắt" là loại sản phẩm khô, dễ gãy được bao mật và rắc  
              muối làm từ một loại bột nhào được kéo tròn và sau đó cuốn 
              thành hình chữ "B". 
(8)  Bánh quy, thường được làm từ bột với chất béo, có thể có thêm 
đường hoặc một số chất khác được nêu ở Mục (10) dưới đây. 
Các sản phẩm bánh quy chủ yếu và các mặt hàng bảo quản được 
lâu dài vì đã được nướng kỹ và được gói kín. Có nhiều loại bánh 
(a) Bánh quy thường chứa ít hoặc không chứa chất tạo ngọt 
nhưng chứa một lượng tương đối lớn chất béo; loại này bao 
gồm cả bánh quy giòn có kem và bánh quy chỉ làm từ bột và 
nước. 
(b) Bánh quy ngọt, là sản phẩm cao cấp bảo quản được lâu, chế 
biến từ hỗn hợp bột, đường hoặc chất tạo ngọt khác và chất 
béo (các thành phần này chiếm ít nhất 50% trọng lượng sản 
phẩm) có hoặc không chứa thêm  muối, hạnh nhân, hạt dẻ, 
hương liệu, sôcôla, cà phê,... Trong loại bánh quy này hàm 
lượng nước không quá 12% và hàm lượng chất béo tối đa là 
35% trọng lượng thành phẩm (các chất được sử dụng để làm 
nhân hoặc bao ngoài bánh quy không kể đến trong việc tính 
toán các hàm lượng trên). Các loại bánh quy trên thị trường 
thường là không nhân, nhưng đôi khi có thể có chứa nhân 

cứng hoặc các loại nhân khác (đường, dầu thực vật, 
sôcôla,...). Hầu như tất cả các loại bánh quy đều được sản 
xuất theo phương pháp công nghiệp. 
(c) Bánh quy mặn và ướp hương vị, thường có chứa một 
lượng rất nhỏ đường sucroza. 
(9)  Bánh waffles và bánh xốp wafers, là loại bánh cao cấp của 
ngành bánh, được nướng chín giữa hai tấm kim loại có tạo hình. 
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm bánh quế mỏng, có thể 
được cuộn, bánh quế có nhân được kẹp giữa hai hay nhiều lớp 
bánh quế mỏng, và các sản phẩm bánh quế được tạo hình qua 
một máy đặc biệt (ví dụ, vỏ kem ốc quế). Bánh quế cũng có thể 
được bao sôcôla. Bánh xốp là sản phẩm tương tự bánh quế. 
(10) Bánh bột nhào (pastry) và bánh ngọt (cakes), là các sản 
phẩm gồm nhiều thành phần như bột, tinh bột, bơ hoặc chất béo 
khác, đường, sữa, kem, trứng, cacao, sôcôla, cà phê, mật ong, 
trái cây, rượu mùi, rượu mạnh, albumen, pho mát, thịt, cá, 
hương liệu, men hoặc các chất bột nở khác... 
(11) Bánh nướng không bột (ví dụ, bánh trứng đường được làm từ 
lòng trắng trứng với đường). 
(12) Bánh xèo và bánh crêpe. 
(13) Bánh kít, được làm từ bột nhào có cho thêm một số thành phần 
như: pho mát, trứng, kem, bơ, muối, tiêu, hạt nhục đậu khấu và 
đối với loại bánh kít vùng lorraine thì có thêm thăn lợn hun khói 
hay thịt giăm bông (ham). 
(14) Bánh pizza (đã được làm chín sơ hoặc đã chín), gồm một đế 
bánh pizza phủ một số thành phần như pho mát, cà chua, dầu 
ăn, thịt, cá trỏng. Tuy nhiên, bánh pizza chưa được làm chín 
thuộc nhóm 19.01. 
(15) Các sản phẩm thực phẩm giòn có hương liệu khác, ví dụ các 
(12) Crêpes and pancakes. 

sản phẩm được làm từ loại bột nhào từ bột, bột thô hay bột mịn 
của khoai tây, hoặc là bột ngô có thêm hỗn hợp pho mát, mì 
chính và muối, được chiên trong dầu thực vật và ăn ngay được.  
       Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Tất cả các sản phẩm có chứa trên 20% trọng lượng là xúc xích, 
thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, cá hoặc 
động vật giáp xác, động vật thân mềm, động vật thủy sinh 
không xương sống khác hoặc hỗn hợp các loại trên (ví dụ, bánh 
gồm thịt đã được nhồi trong bột nhào (pastry)) (Chương 16). 
(b)  Các sản phẩm thuộc nhóm 20.05 
(B) Bánh thánh, vỏ thuốc con nhộng dùng trong ngành dược, bánh 
xốp (sealing wafer), bánh đa và các sản phẩm tương tự. 
Nhóm này bao gồm một số sản phẩm được chế biến từ bột hoặc tinh 
bột nhão, thường được nướng ở dạng đĩa hoặc lá. Các loại này có rất 
nhiều công dụng. 
Bánh thánh là dạng đĩa, rất mỏng làm từ bột mì nhão rất tinh khiết, 
được nướng chín giữa hai tấm sắt. 
Vỏ thuốc con nhộng dùng trong ngành dược có hình dạng như 
những chiếc tách cạn, nhỏ, được làm từ bột hoặc tinh bột nhão. Hai 
nửa của con nhộng có thể lồng khít vào nhau để tạo thành một 
khoang chứa. 
Bánh xốp (sealing wafer) được cắt từ những lá bánh mỏng đã được 
nướng chín, làm khô và đôi khi được nhuộm màu. Những chiếc bánh này 
cũng có thể chứa các chất kết dính. 
Bánh đa bao gồm những lá bánh mỏng đã được nướng và làm từ bột khô 
hoặc tinh bột nhão. Bánh được dùng để bọc các sản phẩm mứt kẹo, đặc 
biệt là kẹo nougat. Không nên nhầm lẫn bánh đa với một loại “rice paper” 
được làm bằng cách thái lát phần xốp thân cây cọ (xem Chú giải Chi tiết 
nhóm 14.04). 

Chương 20 
Các chế phẩm từ rau, quả, quả hạch (nut) 
 hoặc các phần khác của cây 
Chú giải. 
Chương này không bao gồm: 
(a)  Các loại rau, quả hoặc quả hạch (nuts), được chế biến hoặc 
bảo quản theo quy trình đã ghi trong Chương 7, 8 hoặc 11; 
(b)  Chất béo và dầu thực vật (Chương 15); 
(c)  Các chế phẩm thực phẩm chứa trên 20% tính theo khối lượng 
là xúc xích, thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn 
trùng, cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc 
động vật thuỷ sinh không xương sống khác, hoặc hỗn hợp bất 
kỳ của các loại trên (Chương 16); 
(d)  Các loại bánh và sản phẩm khác thuộc nhóm 19.05; hoặc 
(e)  Các chế phẩm thực phẩm tổng hợp đồng nhất thuộc nhóm 21.04. 
Các nhóm 20.07 và 20.08 không áp dụng cho các loại thạch trái 
cây, bột nhão từ quả, các loại quả hạnh bọc đường hoặc các sản 
phẩm tương tự chế biến dưới dạng kẹo đường (nhóm 17.04) hoặc 
kẹo sôcôla (nhóm 18.06). 
3.-  Các nhóm 20.01, 20.04 và 20.05, tuỳ theo từng trường hợp, chỉ bao 
gồm những sản phẩm thuộc Chương 7 hoặc nhóm 11.05 hoặc 11.06 
(trừ bột, bột thô và bột mịn của các sản phẩm đã ghi trong Chương 
8) đã được chế biến hoặc bảo quản theo các quy trình khác với quy 
trình đã ghi trong Chú giải 1(a). 
4.-  Nước ép cà chua có hàm lượng chất khô từ 7% trở lên được xếp 
vào nhóm 20.02. 
5.-  Theo mục đích của nhóm 20.07, khái niệm "thu được từ quá trình 
đun nấu" có nghĩa là thu được bằng cách xử lý nhiệt ở áp suất 
không khí hoặc giảm áp suất để làm tăng độ dẻo của một sản phẩm 
thông qua việc giảm lượng nước hoặc thông qua biện pháp khác. 
6.-  Theo mục đích của nhóm 20.09, khái niệm "các loại nước ép, chưa lên 
men và chưa pha rượu" để chỉ các loại nước ép có nồng độ cồn không 
quá 0,5% tính theo thể tích (xem Chú giải 2 của Chương 22). 

Chú giải phân nhóm. 
1.-  Theo mục đích của phân nhóm 2005.10, khái niệm "rau đồng nhất" 
chỉ các loại chế phẩm từ rau, đã đồng nhất mịn, phù hợp dùng làm 
thức ăn cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc để ăn kiêng, đóng gói để 
bán lẻ, trong bao bì với khối lượng tịnh không quá 250 gam. Khi áp 
dụng định nghĩa này không cần quan tâm đến những thành phần có 
hàm lượng nhỏ cho thêm vào làm gia vị, để bảo quản hoặc đáp ứng 
các mục đích khác. Các chế phẩm này có thể chứa một lượng nhỏ 
mảnh vụn rau có thể nhìn thấy được. Phân nhóm 2005.10 được ưu 
tiên xem xét trước trong các phân nhóm thuộc nhóm 20.05. 
2.-  Theo mục đích của phân nhóm 2007.10, khái niệm "chế phẩm đồng 
nhất" chỉ các loại chế phẩm của quả, đã đồng nhất mịn, phù hợp 
dùng làm thức ăn cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc để ăn kiêng, 
đóng gói để bán lẻ trong bao bì với khối lượng tịnh không quá 250 
gam. Khi áp dụng định nghĩa này không cần quan tâm đến những 
thành phần có hàm lượng nhỏ cho thêm vào làm gia vị, để bảo quản 
hoặc đáp ứng các mục đích khác. Các chế phẩm này có thể chứa 
một lượng nhỏ mảnh vụn quả có thể nhìn thấy được. Phân nhóm 
2007.10 được ưu tiên xem xét trước trong các phân nhóm thuộc 
nhóm 20.07. 
Theo mục đích của các phân nhóm 2009.12, 2009.21, 2009.31, 
2009.41, 2009.61 và 2009.71, khái niệm "giá trị Brix" có nghĩa là 
đọc trực tiếp độ Brix từ tỷ trọng kế Brix hoặc của chỉ số khúc xạ 
được biểu thị theo khái niệm tỷ lệ phần trăm thành phần sucroza đo 
bằng khúc xạ kế, ở nhiệt độ 20°C hoặc được hiệu chỉnh về 20°C 
nếu phép đo được tiến hành ở một nhiệt độ khác. 

TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm: 
(1)  Rau, quả, quả hạch (nut) và các phần ăn được khác của cây, đã chế 
biến hoặc bảo quản bằng giấm hoặc axit acetic. 
(2)  Rau, quả, quả hạch (nut), vỏ quả và các phần khác của cây, được 
bảo quản bằng đường. 
(3)  Mứt, thạch trái cây, mứt từ quả thuộc chi cam quít, bột nghiền và 
bột nhão từ quả hoặc quả hạch (nut), thu được từ quá trình đun nấu. 
(4)  Rau quả đã chế biến hoặc bảo quản đồng nhất. 
(5)  Nước ép quả, nước ép rau, chưa lên men và chưa pha thêm cồn 
hoặc có nồng độ cồn không quá 0,5% theo thể tích. 
(6)  Rau, quả, quả hạch (nut) và các phần ăn được khác của cây được 
chế biến hoặc bảo quản theo các phương thức khác với các phương 
thức đã được nêu ở chương 7, 8 hoặc 11 hoặc ở các nơi khác trong 
Danh mục. 
(7)  Các sản phẩm của các nhóm 07.14, 11.05 hoặc 11.06 (trừ bột, bột 
thô, bột mịn của các sản phẩm thuộc Chương 8) đã được chế biến 
hoặc bảo quản bằng các phương thức khác với các phương thức đã 
liệt kê ở Chương 7 hoặc Chương 11. 
(8)  Quả được bảo quản bằng cách khử nước thẩm thấu. 
Các sản phẩm kể trên có thể còn nguyên dạng, cắt miếng hay nghiền nát. 
Chương này không bao gồm: 
(a)  Các chế phẩm có chứa trên 20% trọng lượng là xúc xích, thịt, phụ 
phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, động vật giáp xác, động 
vật thân mềm hay các loại động vật thủy sinh không xương sống 
khác hoặc hỗn hợp các sản phẩm đó (Chương 16). 
(b)  Các sản phẩm bánh trái cây (fruit tart), được chế biến với bánh bột 
nhào (pastry) (nhóm 19.05). 
(c)  Súp và nước xuýt và các chế phẩm để làm súp và nước xuýt, chế 
(3)  Jams, fruit jellies, marmalades, fruit or nut purées, fruit or nut 

phẩm thực phẩm đồng nhất thuộc nhóm 21.04. 
(d)    Các loại nước ép quả hoặc nước ép rau có nồng độ cồn trên 0,5%     
        theo thể tích (Chương 22). 
20.01 - Rau, quả, quả hạch (nuts) và các phần ăn được khác của cây, 
đã chế biến hoặc bảo quản bằng giấm hoặc axit axetic. 
- Dưa chuột và dưa chuột ri 
- Loại khác 
Nhóm này bao gồm các loại rau (xem Chú giải 3 của Chương này) quả, 
quả hạch (nut) và các phần ăn được khác của cây, đã chế biến hoặc bảo 
quản bằng dấm hoặc axit acetic, có hoặc không thêm muối, gia vị, mù tạt, 
đường hoặc một số chất tạo ngọt khác. Các sản phẩm này cũng có thể 
chứa dầu ăn hoặc một số phụ gia khác. Chúng có thể được đóng trong 
thùng, (thùng tô nô nhỏ, thùng phuy, v.v) hoặc được đóng vào bình, chai, 
hộp thiếc hoặc đóng bao bì kín khí để bán lẻ. Nhóm này cũng bao gồm 
một số các sản phẩm có tên gọi là "dưa món", dưa mù tạt,... 
Các sản phẩm ở nhóm này được phân biệt với các loại nước xốt của 
nhóm 21.03 ở chỗ nước xốt và gia vị, bột canh thường có dạng lỏng, nhũ 
tương hoặc huyền phù, không được dùng để ăn một mình nhưng được sử 
dụng như một món đi kèm với thức ăn hoặc để chế biến một số món ăn. 
Các sản phẩm chính được bảo quản theo cách được mô tả trong nhóm 
này là dưa chuột, dưa chuột ri, hành, hẹ tây, cà chua, súp lơ, ô liu, nụ 
bạch hoa, ngô ngọt, bông a-ti-sô, lõi cọ, củ từ, quả óc chó và xoài. 
20.02 - Cà chua đã chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác trừ loại 
bảo quản bằng giấm hoặc axit axetic. 
- Cà chua, nguyên quả hoặc dạng miếng 
- Loại khác 
Nhóm này bao gồm các loại cà chua, nguyên quả hay dạng miếng, trừ 

loại cà chua đã chế biến hoặc bảo quản bằng giấm hoặc axit acetic 
(nhóm 20.01) và các loại cà chua đã được nêu cụ thể trong Chương 7. 
Cà chua được phân loại trong nhóm này được chứa trong bất cứ loại bao 
bì nào. 
Nhóm này cũng bao gồm các loại cà chua đồng nhất đã chế biến hoặc 
bảo quản (ví dụ: bột quấy cà chua (tomato purée), bột cà chua dạng sệt, 
cà chua cô đặc) và nước ép cà chua mà hàm lượng thành phần khô từ 7% 
trở lên. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm: nước xốt cà chua có tên 
gọi ketchup và các loại xốt cà chua khác (nhóm 21.03) và cả các loại súp 
cà chua và các chế phẩm làm súp cà chua (nhóm 21.04). 
(e.g., tomato purée, paste or concentrate) and tomato juice of which the 
20.03 - Nấm và nấm cục (truffles), đã chế biến hoặc bảo quản bằng 
cách khác trừ bảo quản bằng giấm hoặc axit axetic.  
- Nấm thuộc chi Agaricus  
- Loại khác 
Nhóm này bao gồm các loại nấm (kể cả thân nấm) và nấm cục, trừ các 
sản phẩm được chế biến hoặc bảo quản bằng giấm hoặc axit acetic) 
(nhóm 20.01) và các sản phẩm đã được nêu cụ thể tại Chương 7. Các 
sản phẩm nấm và nấm cục của nhóm này có thể còn nguyên dạng, hoặc 
cắt miếng (thí dụ: thái mỏng) hoặc đồng nhất. 
20.04 - Rau khác, đã chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác trừ bảo 
quản bằng giấm hoặc axit axetic, đã đông lạnh, trừ các sản 
phẩm thuộc nhóm 20.06. 
- Khoai tây 
- Rau khác và hỗn hợp các loại rau 
Các loại rau đông lạnh thuộc nhóm này sẽ được phân loại trong nhóm 
20.05 khi không được làm đông lạnh (xem Chú giải nhóm 20.05). Thuật 
ngữ "đông lạnh" đã được giải thích trong Chú giải Tổng quát Chương 7. 
Ví dụ các sản phẩm thường thấy trên thị trường thuộc Chương này là: 
(1)  Khoai tây (khoai tây rán hoặc khoai tây rán kiểu pháp), rán 
chín hoàn toàn hoặc một phần bằng dầu ăn rồi được làm đông lạnh. 

(2)  Ngô ngọt còn nguyên bắp hoặc dạng hạt, cà rốt, đậu hà lan,... 
đông lạnh, đã hoặc chưa nấu chín sơ, đóng trong bao bì kín khí với 
bơ hoặc nước xốt khác (ví dụ, trong túi plastic). 
(3)   Các sản phẩm “Knödel”, “Klösse ”, “Nockerln”, được chế biến từ 
bột khoai tây, đông lạnh. 
20.05 - Rau khác đã chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác trừ bảo 
quản bằng giấm hoặc axit axetic, không đông lạnh, trừ các 
sản phẩm thuộc nhóm 20.06. 
2005.10  - Rau đồng nhất 
2005.20  - Khoai tây 
2005.40  - Đậu Hà lan (Pisum sativum) 
               - Đậu hạt (Vigna spp., Phaseolus spp.): 
2005.51  - - Đã bóc vỏ 
2005.59  - - Loại khác 
2005.60  - Măng tây 
2005.70  - Ô liu 
2005.80  - Ngô ngọt (Zea mays var. saccharata) 
               - Rau khác và hỗn hợp các loại rau: 
 2005.91  - - Măng tre 
             2005.99   - - Loại khác 
Thuật ngữ "rau" trong nhóm này chỉ bao gồm các sản phẩm đã được nêu 
trong phần Chú giải 3 của Chương này. Các sản phẩm này (trừ các loại 
rau được chế biến hoặc bảo quản bằng giấm hoặc axit acetic thuộc nhóm 
20.01, các loại rau đông lạnh thuộc nhóm 20.04 và các loại rau bảo quản 
bằng đường thuộc nhóm 20.06) chỉ được phân loại vào nhóm này nếu đã 
qua chế biến hoặc bảo quản khác theo các công đoạn đã được nêu ở 
Chương 7 hoặc 11. 
Các sản phẩm thuộc nhóm này được chứa trong bất cứ loại bao bì nào mà 
chúng được đóng gói (thường trong hộp hoặc các loại bao bì kín khí khác). 
Tất cả các sản phẩm này, dù nguyên dạng, cắt miếng hay được nghiền, có 

thể được bảo quản trong nước, trong nước xốt cà chua hoặc với các thành 
phần khác để có thể ăn được ngay. Chúng cũng có thể được làm đồng 
nhất hoặc được trộn lẫn với nhau (salad). 
Ví dụ các chế phẩm thuộc nhóm này như sau: 
(1)  Ô liu, ăn được vì qua một công đoạn xử lý đặc biệt trong dung dịch 
soda hoặc ngâm lâu trong nước muối. (Ô liu được bảo quản tạm 
thời trong nước muối được phân loại trong nhóm 07.11- xem Chú 
giải chi tiết của nhóm đó). 
(2)  Dưa bắp cải, được chế biến bằng bắp cải thái chỉ lên men một phần 
và ướp muối. 
(3)  Ngô ngọt nguyên bắp hoặc dạng hạt, cà rốt, đậu hà lan... được 
làm chín sơ hoặc đóng hộp với bơ hay nước xốt khác. 
(4)  Các sản phẩm làm từ bột mịn khoai tây thành miếng mỏng, 
hình chữ nhật có nêm muối và một lượng nhỏ mì chính, và đã 
được làm ẩm để rút bớt một phần dextrin rồi được làm khô. Các sản 
phẩm này chỉ cần chiên ngập dầu trong vài giây là ăn được và được 
gọi là khoai tây lát rán (chips). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các sản phẩm thực phẩm giòn thơm thuộc nhóm 19.05. 
(b)  Nước ép rau thuộc nhóm 20.09. 
(c)     Nước ép rau có nồng độ cồn trên 0,5% theo thể tích (Chương 22). 
20.06 - Rau, quả, quả hạch (nuts), vỏ quả và các phần khác của cây, 
được bảo quản bằng đường (dạng khô có tẩm đường, ngâm 
trong nước đường hoặc bọc đường). 
Các sản phẩm của nhóm này thu được sau công đoạn dùng nước sôi làm 
mềm rau, quả, vỏ quả và các thành phần khác của cây để chúng ngấm 
đường được dễ dàng. Sau công đoạn này sản phẩm được đun đến sôi và 
ngâm vào xirô đường và để nguyên một thời gian với độ đậm đặc của 
đường tăng dần cho đến khi sản phẩm ngấm đủ đường để đảm bảo việc 
preserved by sugar (drained, glacé or crystallised). 

bảo quản. 
Các sản phẩm chính được ngâm đường có thể có dạng nguyên quả hoặc 
nguyên quả hạch (nut) (thí dụ: anh đào, mơ, lê, mận đỏ, hạt dẻ, óc chó, 
...), dạng bổ hoặc cắt miếng (thí dụ: cam, chanh, dứa ...), dạng vỏ quả (ví 
dụ: thanh yên, chanh, cam, dưa lê,...), các bộ phận khác của cây (ví dụ, 
bạch chỉ, gừng, củ từ, khoai lang...) và hoa (ví dụ, violets, mimosa...) 
Để chế biến các sản phẩm đã ráo nước người ta sử dụng một loại xirô (ví 
dụ, hỗn hợp đường nghịch chuyển hoặc đường glucoza với một phần 
đường sucroza vì các loại đường này khi ra ngoài không khí không bị kết 
tinh. Sau khi ngâm ngấm đường, phần xirô thừa ra khô đi làm cho sản 
phẩm sờ vào dính tay. 
Các sản phẩm nhúng trong nước đường là sản phẩm thu được sau khi 
nhúng sản phẩm đã ráo nước vào xirô đường sucroza. Khi khô sản phẩm 
sẽ có phủ một lớp đường mỏng và bóng. 
Các sản phẩm bọc đường cũng được chế biến từ việc ngâm sản phẩm 
vào xirô đường sucroza để đường thẩm thấu vào sản phẩm đến khi khô 
đường kết tinh khô lại ở trên bề mặt hoặc bên trong sản phẩm. 
Các sản phẩm được bảo quản bằng đường và được đóng gói trong xirô, 
bất kể trong loại bao bì nào, đều bị loại trừ khỏi nhóm này (nếu là rau sẽ 
thuộc nhóm 20.02, 20.03 hoặc 20.05, nếu là quả, quả hạch (nut), vỏ quả 
hoặc các bộ phận ăn được khác của cây... sẽ thuộc nhóm 20.08 ví dụ, hạt 
dẻ phủ đường hoặc gừng). 
Tuy nhiên, các loại quả, hạt khô (chà là, mận...) được phân loại trong 
Chương 8 ngay cả khi có cho một lượng nhỏ đường hoặc bên ngoài được 
phủ một lớp đường tự nhiên được làm khô tạo cho sản phẩm trông giống 
như các loại quả bọc đường của Chương này. 
(cherries, apricots, pears, plums, chestnuts (marrons glacés), walnuts, 
Glacéproducts are obtained by dipping the drained product in a sucrose 
nuts, fruit-peel and other edible parts of plants, e.g., marrons glacés or 
20.07 - Mứt, thạch trái cây, mứt từ quả thuộc chi cam quýt, quả hoặc 
quả hạch (nuts) dạng nghiền (purée) và dạng nhão, thu được 
từ quá trình đun nấu, đã hoặc chưa pha thêm đường hoặc 
 20.07 - Jams, fruit jellies, marmalades, fruit or nut purée and fruit 

chất tạo ngọt khác. 
- Chế phẩm đồng nhất 
- Loại khác: 
- - Từ quả thuộc chi cam quýt 
- - Loại khác 
Mứt là loại sản phẩm thu được bằng cách đun sôi cả quả hoặc phần thịt 
quả hoặc một số loại rau (ví dụ: bí đỏ, cà tím) hoặc các sản phẩm khác 
(ví dụ: gừng, cánh hoa hồng) với một lượng đường tương đương. Khi 
nguội, sản phẩm thu được tương đối se đặc và có chứa các mẩu vụn của 
quả. 
Mứt từ quả thuộc chi cam quýt là các loại mứt được chế biến chủ yếu 
từ các quả thuộc chi cam quýt. 
Thạch trái cây được chế biến bằng cách đun sôi nước ép quả với đường 
(được ép từ quả đã hoặc chưa được đun chín) cho đến khi sản phẩm đông 
lại khi nguội. Nước ép quả cô đặc có dạng đặc, trong suốt và không có 
chứa mảnh vụn của quả. 
Bột nghiền từ quả hoặc quả hạch (nut) được chế biến bằng cách đun 
sôi thịt quả đã được sàng lọc hoặc bột quả hạch (nut), có hoặc không 
thêm đường cho tới khi có dạng sệt. Bột nghiền từ quả khác với các sản 
phẩm mứt ở chỗ lượng quả nhiều và nhão nhuyễn hơn. 
Bột nhão từ trái cây hoặc quả hạch (nut) (táo, mộc qua, lê, mơ, hạnh 
nhân,...) được làm bằng cách bay hơi từ bột nghiền trở thành loại có độ 
đặc hoàn toàn hoặc gần đặc.    
Sản phẩm thuộc nhóm này thường được chế biến với đường hoặc có thể 
được làm ngọt với các chất tổng hợp (ví dụ sorbitol) thay cho đường. 
Nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm đồng nhất. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Thạch và bột nhão ở dạng kẹo đường hoặc kẹo sôcôla (nhóm 
17.04 hoặc 18.06, tương ứng). 
(b) Thạch ăn được được chế biến từ gelatin, đường và nước ép trái cây 
Fruit or nut purées are prepared by boiling sieved fruit pulp or 
consistency. Fruit purées differ from jams in having a higher proportion 
evaporated purées of a solid or almost solid consistency. 

hoặc tinh chất trái cây nhân tạo (nhóm 21.06). 
20.08 - Quả, quả hạch (nuts) và các phần ăn được khác của cây, đã 
chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác, đã hoặc chưa pha 
thêm đường hoặc chất tạo ngọt khác hoặc rượu, chưa được 
chi tiết hoặc ghi ở nơi khác. 
- Quả hạch (nut), lạc và hạt khác, đã hoặc chưa pha 
trộn với nhau: 
- - Lạc 
- - Loại khác, kể cả các hỗn hợp 
- Dứa 
- Quả thuộc chi cam quýt 
- Lê 
- Mơ 
- Anh đào (Cherries) 
- Đào, kể cả quả xuân đào 
- Dâu tây 
- Loại khác, kể cả dạng hỗn hợp trừ loại thuộc 
phân nhóm 2008.19: 
- - Lõi cây cọ 
- - Quả nam việt quất (Vaccinium macrocarpon, 
quả 
- - Dạng hỗn hợp 
- - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các loại quả, quả hạch (nut) và các phần ăn được 
khác của cây, , nguyên trái, cắt miếng hoặc nghiền nát, được chế biến 
hoặc bảo quản khác với các cách đã được nêu rõ trong các Chương khác 
hoặc trong các nhóm trước thuộc Chương này. 
Nhóm này có thể kể đến: 
(1)  Quả hạnh nhân, lạc, quả cau (hoặc trầu) và các loại quả hạch khác, 

được rang khô, chiên dầu ăn hoặc mỡ, có hoặc không chứa hoặc 
phủ dầu thực vật, muối, hương vị, hương liệu hoặc một số phụ gia 
khác. 
(2)  Bơ lạc, có dạng bột nhão thu được từ lạc rang nghiền nát, có hoặc 
không thêm muối hoặc dầu ăn. 
(3)  Quả (kể cả vỏ quả và hạt) được bảo quản trong nước, trong xirô, 
trong các chất hóa học hoặc trong rượu. 
(4)  Phần thịt quả, đã được tiệt trùng, đã hoặc chưa nấu chín. 
(5)  Quả nguyên trái như đào (kể cả xuân đào), mơ, cam (đã hoặc chưa 
bóc vỏ, bỏ hạt), nghiền nát và đã tiệt trùng, có hoặc không thêm 
nước hoặc xirô đường nhưng với tỷ lệ chưa đủ để sản phẩm có thể 
sử dụng ngay như đồ uống. Các sản phẩm này khi có thêm lượng 
nước và xirô đường vừa đủ để sử dụng ngay như đồ uống được 
phân loại vào nhóm 22.02. 
(6)  Các loại quả đã nấu chín. Tuy nhiên, các loại quả đã được hấp chín 
hoặc luộc chín trong nước và được làm đông lạnh vẫn thuộc nhóm 
(7)  Thân, rễ và các phần ăn được khác của cây (thí dụ: gừng, bạch chỉ, 
củ từ, khoai lang, ngọn hoa hublon, lá nho, lõi cọ) được bảo quản 
bằng xirô hoặc chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác. 
(8)  Me quả ngâm xirô đường. 
(9)  Quả, quả hạch (nut), vỏ quả và các phần ăn được khác của cây (trừ 
các loại rau), được bảo quản bằng đường và ngâm vào xirô (ví dụ: 
hạt dẻ phủ đường, hoặc gừng), bất kể được đóng gói thế nào. 
(10) Quả được bảo quản bằng phương pháp khử nước thẩm thấu. Khái 
niệm "phương pháp khử nước thẩm thấu” đề cập đến quá trình mà 
các miếng của quả  được ngâm trong xirô đường cô đặc đến mức 
mà hầu hết nước và đường tự nhiên của quả được thay thế bằng 
đường từ xirô. Quả sau đó có thể được thổi khô để giảm bớt độ ẩm. 
Các sản phẩm của nhóm này có thể được tạo ngọt bằng các chất tạo ngọt 
glacés or ginger), whatever the packing. 

tổng hợp (ví dụ: sorbitol) thay thế cho đường. Các chất khác (ví dụ, tinh 
bột) có thể được thêm vào các sản phẩm của nhóm này, miễn là nó không 
thay đổi đặc tính chính của quả, quả hạch (nut), hoặc những phần ăn 
được của cây. 
Các sản phẩm của nhóm này thường được đóng gói trong hộp, bình hoặc 
bao bì kín khí hoặc đóng thùng tô nô, thùng rượu (barrels) hoặc các loại 
đồ chứa tương tự. 
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm là các hỗn hợp của cây hoặc 
các phần của cây (kể cả hạt hoặc quả) của các loài khác nhau hoặc bao 
gồm cây hoặc các phần của cây (kể cả hạt và quả) của một loại hoặc của 
các loại khác nhau trộn với các chất khác như chiết xuất của một loại 
hoặc nhiều loại thực vật, không ăn trực tiếp mà được sử dụng để chế trà 
thảo dược hoặc thuốc hãm thảo dược (ví dụ, nhóm 08.13, 09.09 hoặc 
Nhóm này không bao gồm trái cây, quả hạch (nut) hoặc các phần ăn 
được khác của cây được chế biến thành kẹo đường (kể cả những loại làm 
từ mật ong tự nhiên), thuộc nhóm 17.04. 
Nhóm này cũng không bao gồm hỗn hợp của cây, các phần của cây, hạt 
hoặc quả (nguyên trái, cắt miếng, nghiền hoặc làm thành bột) của các loại 
thuộc các Chương khác (ví dụ: chương 7, 9, 11, 12), không được dùng 
ngay, nhưng là loại dùng trực tiếp để tạo hương vị cho đồ uống hoặc để 
chế biến các chiết xuất dùng trong sản xuất đồ uống (Chương 9 hoặc 
nhóm 21.06). 
20.09 -  Các loại nước ép trái cây hoặc nước ép từ quả hạch (nut) (kể 
cả hèm nho và nước dừa) và nước rau ép, chưa lên men và 
chưa pha thêm rượu, đã hoặc chưa pha thêm đường hoặc 
chất tạo ngọt khác (+). 
- Nước cam ép: 
- - Đông lạnh 
- - Không đông lạnh, với trị giá Brix không quá 20 
- - Loại khác 

- Nước ép quả bưởi chùm; nước ép quả bưởi: 
- - Với trị giá Brix không quá 20 
- - Loại khác 
- Nước ép từ một loại quả thuộc chi cam quýt 
khác: 
- - Với trị giá Brix không quá 20 
- - Loại khác 
- Nước dứa ép: 
- - Với trị giá Brix không quá 20 
- - Loại khác 
- Nước cà chua ép 
-  Nước nho ép (kể cả hèm nho): 
- - Với trị giá Brix không quá 30 
- - Loại khác 
- Nước táo ép: 
- - Với trị giá Brix không quá 20 
- - Loại khác 
- Nước ép từ một loại quả, quả hạch (nut) hoặc rau 
khác: 
- - Nước quả nam việt quất ép (Vaccinium 
macrocarpon, Vaccinium oxycoccos); nước quả 
lingonberry ép (Vaccinium Vitis-idaea) 
- - Loại khác 
- Nước ép hỗn hợp 
Liên quan đến nước ép, chưa lên men và chưa pha thêm rượu, xem Chú 
giải 6 của Chương này. 
Các loại nước ép quả hoặc nước ép rau của nhóm này thường thu được từ 
việc ép hoặc bóc tách cơ học quả hoặc rau còn tươi, lành lặn và chín. 
Việc ép có thể được thực hiện (trong trường hợp của quả thuộc chi cam 
quýt) bằng phương pháp cơ học "vắt" giống như nguyên lý vắt chanh, 
hoặc bằng việc ép mà quả trước đó đã hoặc chưa được nghiền nát (chủ 
yếu đối với táo) hoặc quả trước đó đã được xử lý bằng nước lạnh hoặc 

nước nóng hoặc hơi nước (ví dụ cà chua, phúc bồn đen và một số loại rau 
như cà rốt và cần tây). Nước ép thuộc nhóm này cũng bao gồm nước dừa. 
Nước ép thu được sau đó thường qua các công đoạn xử lý sau: 
(a)  Làm trong, nhằm tách phần nước ép ra khỏi phần lớn những thành 
phần rắn lẫn trong nước ép, hoặc bằng các chất làm trong (gelatin, 
anbumin, đất infusorial,...) hoặc bằng enzyme hoặc bằng quay ly tâm, 
bằng siêu lọc, quá trình cuối cùng này cũng được sử dụng để tiệt trùng 
sản phẩm. 
(b)  Lọc, chủ yếu các thiết bị lọc tấm có phủ kieselguhr, cellulose,... 
(c)  Loại không khí, nhằm loại bỏ oxy vì khí này ảnh hưởng xấu đến 
màu và mùi vị của sản phẩm. 
(d)  Đồng nhất hoá, trong trường hợp một số loại nước ép thu được từ 
các loại quả có nhiều thịt (cà chua, đào, ...). 
(e)  Tiệt trùng, nhằm tránh việc lên men. Công đoạn này có thể được 
tiến hành theo nhiều phương thức, ví dụ: tiệt trùng theo phương 
pháp pasteur kéo dài hoặc chớp nhoáng (flash pasteurisation), tiệt 
trùng bằng điện trong những máy có gắn các điện cực, tiệt trùng 
bằng phương pháp lọc, bảo quản bằng áp lực carbon dioxide, bảo 
quản lạnh, tiệt trùng bằng phương pháp hoá học (bằng dùng chất 
sulphur dioxide, benzoate natri...), xử lý bằng tia cực tím hoặc chất 
trao đổi ion. 
Nhờ qua các khâu xử lý trên, các loại nước ép quả, nước ép rau sẽ có 
dạng lỏng trong, chưa lên men. Tuy nhiên, đối với một số loại nước ép 
(đặc biệt là loại được ép từ các loại quả nhiều thịt như mơ, đào và cà 
chua (vẫn còn phần nhỏ thịt quả bị vẩn hoặc bị lắng đọng. 
Nhóm này cũng bao gồm các loại nước ép, tương đối hiếm trong thực tế, 
thu được từ các loại quả khô với điều kiện là những loại quả này có chứa 
nước quả khi còn tươi. Ví dụ như trường hợp của “nước ép mận khô”, 
được chiết xuất từ mận khô bằng cách làm nóng với nước trong nhiều giờ 
trong máy khuếch tán. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các sản 

phẩm ở dạng lỏng, thu được từ quá trình làm nóng trong nước các loại 
quả tươi hay khô (ví dụ, quả cây bách xù, hoa hồng dại)  mà hầu như 
không còn nước quả; các sản phẩm như vậy thường được phân loại thuộc 
nhóm 21.06. 
Các loại nước ép của nhóm này có thể có dạng cô đặc (đã hoặc chưa 
đông lạnh) hoặc dạng kết tinh hoặc dạng bột, với điều kiện là, đối với 
trường hợp bột hoặc dạng kết tinh, chúng  hòa tan hoặc hầu như tan hết 
trong nước. Các sản phẩm này thường thu được bằng các công đoạn xử 
lý qua nhiệt (không hoặc có chân không) hoặc lạnh (làm khô lạnh).  
Một số loại nước ép cô đặc có thể được phân biệt với các loại nước ép 
không cô đặc tương ứng dựa trên cơ sở trị giá Brix (xem Chú giải phân 
nhóm 3 của Chương này). 
Với điều kiện là chúng giữ được đặc tính ban đầu, các loại nước ép quả, 
nước ép từ quả hạch (nut) hoặc nước ép rau của nhóm này có thể chứa 
các chất thuộc các loại được nêu dưới đây, các chất này hoặc được sinh 
ra ngay trong nước ép qua các công đoạn xử lý hoặc được thêm vào: 
(1)  Đường. 
(2)  Một số chất làm ngọt khác, tự nhiên hoặc tổng hợp, với điều kiện là 
lượng các chất thêm vào không được quá lượng cần thiết cho độ 
ngọt thông thường và ngoài ra nước ép này đáp ứng điều kiện của 
nhóm này, đặc biệt là sự cân bằng của các thành phần khác nhau 
(xem Mục (4) dưới đây). 
(3)  Các sản phẩm được thêm vào để bảo quản nước ép hoặc để chống 
sự lên men (thí dụ: sulphur dioxide, carbon dioxide, enzyme). 
(4)  Các chất chuẩn (như axit citric, axit tartaric) và các sản phẩm được 
thêm vào để bù cho các thành phần bị phá hủy hoặc hư hỏng trong 
quá trình chế biến (thí dụ: vitamin, các chất tạo màu), hoặc để cố 
định hương vị (ví dụ, cho thêm sorbitol vào các loại nước ép quả 
thuộc chi cam quýt dạng bột hoặc dạng tinh thể). Tuy nhiên, nhóm 
này loại trừ các loại nước ép quả mà một trong các thành phần 
(axit citric, tinh dầu chiết xuất từ quả...) được thêm vào với một 
lượng mà sự cân bằng các thành phần khác nhau trong nước ép tự 
nhiên bị phá vỡ; trong trường hợp này sản phẩm bị mất đặc tính ban 

đầu. 
Các loại nước ép rau của nhóm này có thể có thêm muối (natri chloride), 
gia vị hoặc hương liệu. 
Tương tự, hỗn hợp các nước ép quả, nước ép từ quả hạch (nut) hoặc nước 
ép rau của cùng hoặc khác loại vẫn được phân loại trong nhóm này như 
là sự hoàn nguyên nước ép quả (nghĩa là, các sản phẩm này thu được nhờ 
việc thêm vào nước ép cô đặc một lượng nước không được vượt quá 
lượng nước chứa trong nước ép không cô đặc của các thành phần bình th-
ường). 
Tuy nhiên, nếu cho thêm nước vào nước quả ép, nước ép từ quả hạch 
(nut) hoặc nước rau ép thông thường, hoặc thêm nước vào nước ép trước 
đó đã cô đặc với một tỉ lệ lớn hơn tỉ lệ cần thiết cho phép để thu được nư-
ớc ép có thành phần tự nhiên ban đầu thì sẽ thu được sản phẩm pha loãng 
mà sẽ có đặc tính của đồ uống thuộc nhóm 22.02. Các loại nước ép quả, 
nước ép từ quả hạch (nut) hoặc nước ép rau có chứa một tỉ lệ carbon 
dioxide lớn hơn tỉ lệ bình thường có chứa trong các loại nước ép xử lý 
bằng loại chất này (nước ép có gas từ trái cây hoặc từ quả hạch (nut)) và 
cả nước chanh, nước có gas được dùng nước ép quả hoặc nước ép từ quả 
hạch (nut) để tạo hương đều bị loại trừ (nhóm 22.02). 
Nhóm này cũng bao gồm hèm nho bất kể được dùng để làm gì, với điều 
kiện là chưa lên men. Khi đã được xử lý qua các công đoạn như xử lý 
nước ép quả, hèm nho sẽ giống như nước ép nho thông thường. Sản 
phẩm có thể có dạng nước ép cô đặc thậm chí có dạng tinh thể (đối với 
loại có dạng tinh thể, sản phẩm này đôi khi được gọi là đường nho hoặc 
mật nho và có thể được sử dụng trong làm bánh ngọt hoặc kẹo, chủ yếu 
để sản xuất bánh mỳ có gừng, mứt kẹo,...). 
Hèm nho đã lên men một phần, đã hoặc chưa lên men, cũng như loại hèm 
nho chưa lên men, đã cho thêm rượu, cả hai sản phẩm này đều có nồng 
độ cồn trên 0,5% theo thể tích thuộc nhóm 22.04. 

Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Nước ép cà chua có hàm lượng thành phần khô từ 7% trở lên 
(nhóm 20.02). 
(b)  Các loại nước quả ép quả, nước ép từ quả hạch (nut) hoặc nước ép 
rau có nồng độ cồn trên 0,5% theo thể tích (Chương 22). 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 2009.11: 
Thuật ngữ "nước ép cam đông lạnh" cũng để chỉ các loại nước ép cam cô 
đặc mặc dù đã được làm lạnh và giữ lạnh ở nhiệt độ khoảng -18 oCnhưng 
chưa hoàn toàn đông cứng. 

Chương 21 
Các chế phẩm ăn được khác 
Chú giải. 
1.-  Chương này không bao gồm: 
(a)  Các loại rau hỗn hợp thuộc nhóm 07.12; 
(b)  Các chất thay thế cà phê rang có chứa cà phê theo tỷ lệ bất kỳ 
(nhóm 09.01); 
(c)  Chè đã pha hương liệu (nhóm 09.02); 
(d)  Các gia vị hoặc các sản phẩm khác thuộc các nhóm từ 09.04 
đến 09.10; 
(e)  Các chế phẩm thực phẩm, trừ các sản phẩm ghi trong nhóm 
21.03 hoặc 21.04, chứa trên 20% tính theo khối lượng là xúc 
xích, thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, cá 
hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc các loại 
động vật thuỷ sinh không xương sống khác, hoặc hỗn hợp bất 
kỳ của các loại trên (Chương 16); 
(f)  Các sản phẩm của nhóm 24.04; 
(g)  Men được đóng gói như dược phẩm hoặc các sản phẩm khác 
thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04; hoặc 
(h)  Enzyme đã chế biến thuộc nhóm 35.07. 
Các chiết xuất từ các chất thay thế ghi trong Chú giải 1(b) trên đây 
được xếp vào nhóm 21.01. 
3.-  Theo mục đích của nhóm 21.04, khái niệm "chế phẩm thực phẩm 
tổng hợp đồng nhất" có nghĩa là các loại chế phẩm bao gồm một 
hỗn hợp đồng nhất mịn của hai hoặc nhiều thành phần cơ bản như 
thịt, cá, rau, quả hoặc quả hạch (nuts), được đóng gói với khối 
lượng tịnh không quá 250g để bán lẻ, phù hợp dùng làm thức ăn cho 
trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc ăn kiêng. Khi áp dụng khái niệm này, 
không cần quan tâm đến những thành phần có hàm lượng nhỏ cho 
thêm vào làm gia vị, để bảo quản hoặc cho các mục đích khác. Các 
chế phẩm này có thể chứa một lượng nhỏ những mẩu vụn có thể 
nhìn thấy được của các thành phần nói trên. 

21.01 - Chất chiết xuất, tinh chất và chất cô đặc, từ cà phê, chè hoặc 
chè Paragoay, và các chế phẩm có thành phần cơ bản là các 
sản phẩm này hoặc có thành phần cơ bản là cà phê, chè, chè 
Paragoay; rau diếp xoăn rang và các chất thay thế cà phê 
rang khác, và các chiết xuất, tinh chất và chất cô đặc của 
chúng. 
 - Chất chiết xuất, tinh chất và các chất cô đặc, từ cà 
phê, và các chế phẩm có thành phần cơ bản là các 
chất chiết xuất, tinh chất hoặc các chất cô đặc này 
hoặc có thành phần cơ bản là cà phê: 
- - Chất chiết xuất, tinh chất và các chất cô đặc 
- - Các chế phẩm có thành phần cơ bản là các chất 
chiết xuất, tinh chất hoặc các chất cô đặc hoặc có 
thành phần cơ bản là cà phê: 
- Chất chiết xuất, tinh chất và các chất cô đặc, từ 
chè hoặc chè Paragoay, và các chế phẩm có thành 
phần cơ bản là các chất chiết xuất, tinh chất hoặc 
các chất cô đặc này hoặc có thành phần cơ bản là 
chè hoặc chè Paragoay 
- Rau diếp xoăn rang và các chất thay thế cà phê 
rang khác, và chất chiết xuất, tinh chất và các chất 
cô đặc của chúng 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Các chiết xuất, tinh chất và chất cô đặc của cà phê. Các chất 
này có thể được chế biến trực tiếp từ cà phê nguyên chất (đã hoặc 
chưa tách caffeine) hoặc từ một hỗn hợp với tỉ lệ bất kỳ giữa cà 
phê nguyên chất và các sản phẩm thay thế cà phê. Các sản phẩm 
này có thể có dạng lỏng hoặc dạng bột, thường rất cô đặc. Nhóm 
này bao gồm cả các sản phẩm cà phê tan thu được từ cà phê pha 
hãm và khử nước hoặc pha hãm và sau đó được làm đông khô bằng 
 21.01 - Extracts, essences and concentrates, of coffee, tea or maté and 
coffee, tea or maté; roasted chicory and other roasted coffee 
maté, and preparations with a basis of these 
of tea or maté 

chân không. 
Các chiết xuất, tinh chất và chất cô đặc của chè, hoặc chè 
paragoay. Các sản phẩm này cũng qua các công đoạn chế biến 
tương tự như các sản phẩm của phần (1) trên đây. 
(3)  Các chế phẩm có thành phần cơ bản là chiết xuất, tinh chất 
hoặc chất cô đặc của chè, cà phê của phần (1) và (2) trên đây. 
Đó là các chế phẩm dựa trên chiết xuất, tinh chất hoặc chất cô đặc 
của cà phê, chè hoặc chè paragoay (chứ không phải cà phê, chè 
hoặc chè paragoay nguyên chất), và bao gồm chất chiết xuất,... có 
thêm tinh bột hoặc carbohydrate khác. 
(4)  Các chế phẩm có thành phần cơ bản là cà phê, chè hoặc chè 
paragoay. Các chế phẩm này có thể kể đến: 
(a)  bột nhão cà phê gồm hỗn hợp cà phê rang, đã nghiền thành 
bột với chất béo thực vật và đôi khi có một số thành phần 
khác nữa, và  
(b)  các chế phẩm chè gồm hỗn hợp của chè, sữa bột và đường. 
(5)  Rễ rau diếp xoăn rang và các chất thay thế cà phê rang khác và 
các chiết xuất, tinh chất và chất cô đặc của chúng. Đây là tất cả 
các loại sản phẩm đã rang dùng để thay thế và giả cà phê bằng cách 
hãm với nước nóng, hoặc để cho thêm vào cà phê. Các sản phẩm 
này đôi khi được gọi là “cà phê”, có kèm theo tên của nguyên liệu 
nền (ví dụ cà phê đại mạch, cà phê malt, cà phê sồi...). 
Rau diếp xoăn rang thu được từ việc rang phần rễ rau diếp xoăn 
(Cichorium intybus var. sativum) của nhóm 12.12. Sản phẩm có 
màu nâu đen nhạt và có vị đắng. 
Các chất thay thế cà phê đã rang khác bao gồm các chất thu được 
từ củ cải đường, cà rốt, vả, ngũ cốc (chủ yếu là lúa mạch, lúa mì và 
lúa mạch đen), đậu hạt tách đôi, đậu lupine, đậu tương, sồi ăn 
được, hạt chà là (date stone), hạnh nhân, rễ bồ công anh hoặc hạt 
dẻ. Nhóm này cũng bao gồm malt đã rang được đóng gói để làm 
chất thay thế cà phê. 
(2)  Tea or maté extracts, essences and concentrates. These products 
(3)  Preparations with a basis of the coffee, tea or maté extracts, 
coffee, tea or maté (and not on coffee, tea or maté themselves), and 
(4)  Preparations with a basis of coffee, tea or maté. These 

Các sản phẩm này có thể dưới dạng miếng, hạt hoặc bột hoặc các 
chiết xuất dạng lỏng hoặc rắn. Chúng có thể được trộn lẫn với nhau 
hoặc với một số thành phần khác (ví dụ: muối, carbonate kiềm...) 
và có thể được đóng gói trong các loại bao bì khác nhau. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các chất thay thế cà phê đã rang có chứa cà phê với tỉ lệ bất kỳ 
(nhóm 09.01). 
(b)  Chè đã ướp hương (nhóm 09.02). 
(c)  Đường caramen (mật và đường đã chưng thành caramen) 
(nhóm 17.02). 
(d)    Các sản phẩm thuộc Chương 22. 
21.02 - Men (sống hoặc ỳ); các vi sinh đơn bào khác, chết (nhưng 
không bao gồm các loại vắc xin thuộc nhóm 30.02); bột nở 
đã pha chế. 
- Men sống 
- Men ỳ; các vi sinh đơn bào khác, chết 
- Bột nở đã pha chế 
Men thuộc nhóm này có thể ở trạng thái hoạt động hoặc ỳ (không hoạt động). 
Các loại men sống thường được sử dụng để kích thích quá trình lên 
men. Chúng chủ yếu được tạo nên từ một số loại vi sinh vật (hầu như 
chế từ chi Saccharomyces), chúng sinh sôi nảy nở trong quá trình lên 
men rượu. Men cũng có thể được sản xuất bằng cách kìm hãm một phần 
hoặc toàn bộ quá trình lên men, theo quy trình thông khí.  
Men sống gồm: 
(1)  Men bia. Men bia được hình thành trong các thùng ủ men bia. 
Men bia có màu nâu vàng nhạt và thường có vị đắng của hoa bia 
(houblon) và có mùi của bia ở dạng rắn hoặc nhão. 
(2)  Men chưng cất, được sản xuất trong quá trình lên men, của, ví dụ,  

hạt, khoai tây hoặc trái cây, trong chưng cất. Nó có dạng bột nhão 
hơi khô, có màu kem. Mùi của sản phẩm tùy thuộc vào sản phẩm 
được chưng cất. 
(3)  Men làm bánh, thu được từ sự phát tán của chủng đặc biệt nuôi 
cấy nấm men trong môi trường carbohydrate, thí dụ như mật 
đường. Loại men này thường có dạng bánh nén (men nén) màu 
xám vàng nhạt và thường có mùi rượu. Tuy nhiên, ngoài thị trường 
còn có loại men có dạng khô (thường là dạng hạt) hoặc ở dạng 
lỏng. 
(4)  Men cấy: nấm men thuần khiết nuôi cấy trong phòng thí nghiệm. 
Nấm có thể dạng huyền phù (lơ lửng) trong nước được chưng cất 
hoặc trong gelatin hoặc trong thạch rau câu (agar-agar). Nấm men 
thường được bán với định lượng nhất định đóng gói trong bao bì 
kín để bảo vệ nấm khỏi bị nhiễm bệnh. 
(5)  Men gây giống, thu được từ quá trình lên men liên tiếp của men 
cấy và được dùng để gây giống cho nấm men thương mại. Loại 
men này thường được bán dưới dạng khối nén, ẩm và dẻo hoặc 
dưới dạng huyền phù lỏng. 
Nấm men ỳ, thu được bằng việc làm khô, thường là các loại nấm men 
bia, men để chưng cất hoặc làm bánh loại đã không còn đủ khả năng 
hoạt động được nữa để sử dụng trong các ngành công nghiệp này. Chúng 
thường được sử dụng làm thức ăn cho người (nguồn vitamin B) hoặc để 
làm thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng vì nhu cầu cần loại 
men này lớn nên các loại men khô này càng ngày càng được làm trực 
tiếp từ các loại men sống (hoạt động) được chế biến riêng cho mục đích 
này. 
Nhóm này cũng bao gồm một số loại men khô khác (ví dụ: candida 
lipolitica hoặc tropicalis, candida maltosa) thu được từ việc xử lý các 
loại nấm men không thuộc loại sacchromyces. Chúng thu được bằng 
cách làm khô các loại men đã được cấy trên các phần nền có chứa 
hydrocarbon (như dầu gas hoặc n-paraffin) hoặc carbohydrate. Các loại 
men khô này rất giàu protein, được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi và 
thường được gọi là protein dầu (petroprotein) hoặc protein nấm men 

sinh học (men bioprotein). 
(B) CÁC VI SINH ĐƠN BÀO KHÁC, ĐÃ CHẾT 
Mục này bao gồm các loại vi sinh vật đơn bào đã chết như: vi khuẩn và 
tảo đơn bào. Ngoài các loại khác, mục này cũng bao gồm các loại vi sinh 
vật được cấy trên các phần nền có chứa hydrocarbon hoặc carbon 
dioxide. Các sản phẩm này rất giàu protein và thường được sử dụng làm 
thức ăn chăn nuôi. 
Một số sản phẩm của nhóm này có thể được đóng gói như thực phẩm bổ 
sung cho người hoặc thức ăn chăn nuôi (ví dụ, ở dạng bột hoặc dạng 
viên nén) và có thể chứa một lượng nhỏ chất tá dược, ví dụ như, các chất 
ổn định và chất chống oxy hóa. Các sản phẩm này vẫn được phân loại ở 
đây với điều kiện là việc bổ sung các thành phần như vậy không làm 
thay đổi đặc tính là vi sinh. 
(C) BỘT NỞ ĐÃ PHA CHẾ 
Các loại bột nở đã pha chế thuộc nhóm này là hỗn hợp của một số hoá 
chất (ví dụ: natri bicarbonate, axit tartaric, ammonium carbonate, 
phosphate), thêm hoặc không thêm tinh bột. Dưới môi trường phù hợp, 
chúng sinh ra khí carbon dioxide, và vì vậy chúng được sử dụng làm bột 
nở trong nướng bánh. Chúng thường được đóng gói để bán lẻ (trong túi 
hoặc hộp,...) theo các tên gọi khác nhau (ví dụ: bột làm bánh, bột nở làm 
bánh alsatiọn,...). 
Ngoài các loại khác, nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các loại bột làm bánh ngũ cốc ví dụ, bột được cho thêm bột nở 
(nhóm 11.01 hoặc 11.02). 
(b)  Men tự phân (nhóm 21.06). 
(c)  Vi sinh nuôi cấy (trừ các loại men) và các loại vắc xin (nhóm 
(d)  Thuốc thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04. 
(e)  Các loại enzyme (amylases, penpsine, men dịch vị...) (nhóm 35.07). 

21.03 - Nước xốt và các chế phẩm làm nước xốt; đồ gia vị hỗn hợp 
và bột canh hỗn hợp; bột mịn và bột thô từ hạt mù tạt và mù 
tạt đã chế biến. 
- Nước xốt đậu tương 
- Ketchup cà chua và nước xốt cà chua khác 
- Bột mù tạt mịn, bột mù tạt thô và mù tạt đã chế 
biến 
- Loại khác 
(A)  NƯỚC XỐT VÀ CÁC CHẾ PHẨM ĐỂ LÀM NƯỚC XỐT; 
ĐỒ GIA VỊ HỖN HỢP VÀ BỘT CANH HỖN HỢP 
Nhóm này bao gồm các chế phẩm, thường có đặc tính chính là gia 
vị, được dùng để làm dậy mùi của một số món ăn (thịt, cá, salat...), 
và được làm từ nhiều thành phần khác nhau (trứng, rau, thịt, trái 
cây, bột mịn, tinh bột, dầu ăn, giấm, đường, gia vị, mù tạt, hương 
liệu...). Nước xốt thường ở dạng lỏng và các chế phẩm để làm 
nước xốt thường ở dạng bột, chỉ cần thêm sữa, nước... là thu được 
nước xốt. 
Nước xốt thường được cho vào thực phẩm khi chế biến hoặc khi 
ăn. Nước xốt có hương vị, độ ẩm và tương phản về cấu trúc và màu 
sắc. Nước xốt cũng có thể được sử dụng như một loại trung gian 
trộn cùng thực phẩm, ví dụ, nước xốt velouté của món gà kem. Gia 
vị lỏng (nước xốt đậu tương, nước xốt hạt tiêu, nước mắm) được sử 
dụng như thành phần trong nấu ăn và gia vị trên bàn ăn. 
Nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm nhất định dựa trên rau hoặc 
quả, chủ yếu ở thể lỏng, thể nhũ tương hoặc huyền phù và đôi khi 
có chứa các mẩu vụn rau hoặc quả nhìn thấy được. Các chế phẩm 
này khác với rau hoặc quả đã chế biến hoặc bảo quản của Chương 
20 ở chỗ chúng được sử dụng như các loại nước xốt, như là một 
thành phần đi kèm với thực phẩm hoặc trong chế biến một số món 
ăn, chứ không phải để ăn riêng lẻ.  
Gia vị hỗn hợp và bột canh hỗn hợp có chứa các loại gia vị khác 
contained, for example, the velouté sauce of creamed chicken. 

với gia vị và gia vị pha trộn của các nhóm từ 09.04 đến 09.10 ở 
điểm chúng còn chứa một hoặc nhiều hương liệu hoặc các gia vị 
thuộc các Chương khác ngoài Chương 9 với một tỉ lệ mà các hỗn 
hợp này không còn đặc tính cơ bản của gia vị theo nghĩa của 
Chương 9 (Xem Chú giải Tổng quát của Chương 9). 
Để ví dụ, ta có thể kể ra đây các sản phẩm thuộc nhóm này: nước 
xốt mayonnaise, các loại gia vị trang trí salad, nước xốt Béarnaise, 
nước xốt bolognaise (có chứa thịt băm, cà chua nghiền nhuyễn, gia 
vị...), nước xốt đậu tương, nước xốt nấm, nước xốt worcester 
(thường được làm với thành phần cơ bản là nước xốt đậu tương 
đặc, pha với gia vị trong dấm, thêm muối, đường, caramen và mù 
tạt), nước xốt cà chua nấm (ketchup cà chua) (chế phẩm từ cà chua 
nghiền nhuyễn, đường, giấm, muối và gia vị) và các loại nước xốt 
cà chua khác, muối cần tây (hỗn hợp giữa muối ăn và hạt cần tây 
nghiền nhỏ), một số bột canh hỗn hợp dùng trong chế biến xúc 
xích, và các sản phẩm của Chương 22 (trừ các sản phẩm thuộc 
nhóm 22.09) được chế biến để dùng trong nấu ăn và vì vậy không 
thể dùng làm đồ uống được (ví dụ, rượu vang để nấu nướng và 
cognac để nấu nướng). Nhóm này cũng bao gồm hỗn hợp các loại 
thực vật hoặc các bộ phận của thực vật thuộc nhóm 12.11 loại dùng 
làm nước xốt gia vị. 
Cùng với các sản phẩm của Chương 9 và Chương 20 đã được kể 
trên, nhóm này không bao gồm: 
(a)  Chiết xuất và nước ép thịt, cá hoặc của động vật giáp xác, 
động vật thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không xương 
sống khác (nhóm 16.03). 
(b)  Súp và nước xuýt và chế phẩm để làm súp và nước xuýt 
(nhóm 21.04). 
(c)  Các chất phân huỷ protein, chủ yếu là hỗn hợp giữa amino 
axit và natri chloride, được sử dụng như phụ gia để cho thêm 
vào các chế phẩm thực phẩm (nhóm 21.06). 
(d)  Men tự phân (nhóm 21.06). 
salad dressings, Béarnaise, bolognaise (consisting of chopped 
meat, tomato purée, spices, etc.), soya sauces, mushroom sauce, 
purée, sugar, vinegar, salt and spices) and other tomato sauces, 

(B)  BỘT MÙ TẠT MỊN, BỘT MÙ TẠT THÔ VÀ MÙ TẠT Đà
CHẾ BIẾN  
Bột mù tạt mịn và bột mù tạt thô thu được từ việc nghiền vụn rồi 
rây kỹ hạt mù tạt của thuộc nhóm 12.07. Chúng có thể được làm từ 
hạt mù tạt màu trắng hoặc màu đen hoặc hỗn hợp của hai loại đó. 
Bột mù tạt thuộc nhóm này, bất kể mục đích sử dụng, dù trước khi 
xay hạt có được loại chất béo, được bóc hết phần vỏ lụa bao ngoài 
hạt hay không. 
Nhóm này cũng bao gồm loại mù tạt chế biến gồm bột mù tạt mịn 
trộn với một lượng nhỏ các thành phần khác (bột ngũ cốc, quế, 
nghệ, tiêu...), hoặc dưới dạng bột nhão gồm có hỗn hợp bột mù tạt 
với giấm, hèm rượu nho hoặc rượu vang, đôi khi có thêm muối, 
đường, gia vị hoặc một số gia vị khác. 
Ngoài các loại khác, nhóm này không bao gồm: 
(a)  Hạt mù tạt (nhóm 12.07). 
(b)  Dầu mù tạt không bay hơi (nhóm 15.14). 
(c)  Khô dầu từ hạt mù tạt thu được sau quá trình chiết xuất dầu 
không bay hơi từ hạt mù tạt (nhóm 23.06). 
        (d)     Tinh dầu mù tạt (nhóm 33.01). 
21.04 - Súp và nước xuýt (broths) và chế phẩm để làm súp và nước 
xuýt; chế phẩm thực phẩm tổng hợp đồng nhất. 
-  Súp và  nước xuýt (broths) và chế phẩm để làm 
súp và nước xuýt 
- Chế phẩm thực phẩm tổng hợp đồng nhất 
(A) SÚP VÀ NƯỚC XUÝT (BROTHS) VÀ CHẾ PHẨM ĐỂ LÀM 
SÚP VÀ NƯỚC XUÝT 
Mục này bao gồm: 
(1)  Các chế phẩm để làm súp hoặc nước xuýt chỉ cần thêm nước, 
sữa,... 
(2)  Súp và nước xuýt chế biến ăn sẵn sau khi hâm nóng. 

Các sản phẩm này chủ yếu là từ các sản phẩm thực vật (rau, bột, tinh 
bột, tinh bột sắn, pasta, gạo, chiết xuất thực vật,...), thịt, chiết xuất của 
thịt, chất béo, cá, động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật 
thuỷ sinh không xương sống khác, peptone, amino axit hoặc chiết xuất 
men. Chúng cũng có thể chứa một tỷ lệ muối đáng kể. 
Các sản phẩm này thường có dạng viên, bánh, hình khối lập phương 
hoặc dạng bột hoặc dạng lỏng. 
(B) CHẾ PHẨM THỰC PHẨM TỔNG HỢP ĐỒNG NHẤT 
Phù hợp với nội dung Chú giải 3 của Chương này, các chế phẩm thực 
phẩm tổng hợp đồng nhất của nhóm này là hỗn hợp mịn đồng nhất của 
hai hay nhiều thành phần cơ bản như: thịt, cá, rau hoặc quả được dùng 
làm thực phẩm cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc cho các mục đích ăn 
kiêng, được đóng gói để bán lẻ với trọng lượng tịnh không quá 250g. 
Ngoài những thành phần cơ bản trên, các chế phẩm cũng có thể chứa 
thêm một lượng nhỏ các chất như: pho mát, lòng đỏ trứng, tinh bột, 
dextrin, muối hoặc vitamin nhằm để đáp ứng các mục đích ăn kiêng (chế 
độ ăn cân bằng), hoặc để làm bột canh, để bảo quản hoặc cho các mục 
đích khác. Các chế phẩm này cũng có thể chứa các mảnh nhỏ nhìn thấy 
được của các thành phần nhưng với điều kiện các mảnh nhỏ này chỉ 
chiếm tỉ lệ nhỏ, có nghĩa là không làm thay đổi đặc tính của sản phẩm là 
các chế phẩm đồng nhất này. 
Các chế phẩm thực phẩm đồng nhất thường được dùng làm thực phẩm 
cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ, có dạng bột nhão mịn với độ đặc khác nhau, 
phù hợp cho việc ăn trực tiếp hoặc làm nóng trước khi ăn. Chúng thường 
được đựng trong lọ hoặc hộp kín khí và thường có lượng tương đương 
với một bữa ăn đầy đủ. 
Nhóm này không bao gồm các chế phẩm thực phẩm đồng nhất (trừ loại 
được đóng để bán lẻ) được dùng làm thực phẩm cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ 
nhỏ hoặc cho các mục đích ăn kiêng, hoặc được đóng gói với trọng 
lượng tịnh trên 250g. Nhóm này cũng loại trừ các chế phẩm gồm một 
thành phần cơ bản như thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, cá, rau hoặc 
quả (thường thuộc Chương 16 hoặc 20), chứa hay không chứa lượng 

nhỏ của bất kỳ thành phần khác để làm bột canh, bảo quản hoặc cho các 
mục đích khác. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Hỗn hợp rau khô (rau thập cẩm thái quân cờ), ở dạng bột hay 
không ở dạng bột (nhóm 07.12). 
(b)  Bột, bột thô, bột mịn của rau đậu khô (nhóm 11.06). 
(c)  Chiết xuất và nước ép của thịt, cá... và các sản phẩm khác của 
Chương 16. 
(d)  Các chế phẩm thực phẩm có chứa cacao (thường thuộc nhóm 
18.06 hoặc 19.01). 
(e)  Rau được bảo quản thuộc nhóm 20.04 hoặc 20.05 gồm hỗn hợp 
các loại rau (julienne, salads, …), thậm chí đôi khi được sử dụng 
để chế biến súp. 
(f)    Men tự phân (nhóm 21.06). 
21.05 - Kem lạnh và sản phẩm ăn được tương tự khác, có hoặc 
không chứa ca cao.. 
Nhóm này bao gồm các loại kem lạnh thường được chế biến với thành 
phần cơ bản là sữa hoặc kem, và kem ăn được khác (thí dụ: sherbet (kem 
làm từ nước quả và đôi khi có thêm rượu mùi), kem que), có chứa hoặc 
không chứa ca cao với tỉ lệ bất kỳ. Tuy nhiên, nhóm này không bao 
gồm hỗn hợp và các thành phần cơ bản để làm kem lạnh. Các sản phẩm 
này sẽ được phân loại tuỳ theo thành phần cơ bản chứa trong sản phẩm 
(thí dụ: nhóm 18.06, 19.01 hoặc 21.06). 
21.06 - Các chế phẩm thực phẩm chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi 
khác. 
-  Protein cô đặc và chất protein được làm rắn 
- Loại khác 
Nhóm này bao gồm các chế phẩm sau (với điều kiện chúng chưa thuộc 

các nhóm khác trong Danh mục): 
(A)  Các chế phẩm được dùng làm thức ăn cho người, có thể ăn ngay 
được hoặc phải qua chế biến (như nấu chín, hoà tan hoặc đun sôi 
trong nước, sữa...). 
(B)  Các chế phẩm bao gồm toàn bộ hoặc một phần là thực phẩm, được 
dùng để chế biến đồ uống hoặc chế phẩm thực phẩm cho người. 
Nhóm này bao gồm các chế phẩm chứa hỗn hợp một số chất hoá 
học (axit hữu cơ, muối canxi...) với thực phẩm (bột, đường, sữa 
bột,...), được sử dụng làm thành phần của chế phẩm thực phẩm 
hoặc hoặc để nâng cao một số tính chất (về hình thức, bảo quản 
chất lượng...) (xem Chú giải Tổng quát Chương 38). 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các chế phẩm enzyme có 
chứa thực phẩm (ví dụ: các sản phẩm dùng làm mềm thịt có chứa 
một enzyme phân giải protein có dextrose bổ sung hoặc một số 
thực phẩm khác). Các chế phẩm này thuộc nhóm 35.07 với điều 
kiện chúng chưa thuộc các nhóm khác trong Danh mục. 
Nhóm này có thể kể đến: 
(1)  Các loại bột để làm kem, thạch, kem lạnh, ăn được hoặc các chế 
phẩm tương tự, có hoặc không được làm ngọt. 
Các loại bột từ bột mịn, bột thô, tinh bột, chiết xuất malt hoặc từ 
các sản phẩm của các nhóm từ 04.01 đến 04.04, có hoặc không cho 
thêm ca cao, thuộc nhóm 18.06 hoặc 19.01 tuỳ theo hàm lượng ca 
cao (xem Chú giải Tổng quát Chương 19). Các loại bột khác có 
chứa ca cao thuộc nhóm 18.06. Còn các loại bột có đặc tính của 
đường đã pha hương liệu hoặc chất màu dùng để làm ngọt, tuỳ theo 
loại, thuộc nhóm 17.01 hoặc 17.02. 
(2)  Bột đã pha hương liệu để chế biến đồ uống, có hoặc không có 
đường, có thành phần cơ bản là bicarbonate natri và glycyrhizin 
hoặc chiết xuất cây cam thảo (được bán theo tên gọi  “bột ca cao”). 
(3)  Các chế phẩm từ bơ hoặc từ các chất béo hoặc dầu khác thu được 
từ sữa và được sử dụng chủ yếu trong các sản phẩm bánh. 

(4)  Các loại bột nhão từ đường, có thêm một tỉ lệ tương đối lớn các 
chất béo, đôi khi thêm sữa hoặc quả hạch (nut), không được sử 
dụng để chế biến trực tiếp kẹo đường mà được dùng để phủ và 
bọc,... cho các sản phẩm sôcôla, các loại bánh quy trang trí, bánh 
mì nhồi nhân, bánh nướng (cake),... 
(5)  Mật ong tự nhiên được làm giầu bằng sữa ong chúa. 
(6)  Các chất thuỷ phân từ protein chủ yếu là hỗn hợp giữa amino axit và 
chloride natri, được sử dụng trong các chế phẩm thực phẩm (ví dụ, để 
làm hương liệu); protein cô đặc thu được từ bột đậu tương đã được 
khử chất béo bằng cách loại bỏ bớt một số thành phần của bột, được 
dùng làm giầu protein cho các chế phẩm thực phẩm; bột đậu tương và 
một số chất protein khác, đã được tạo kết cấu. Tuy nhiên, nhóm này 
không bao gồm bột đậu tương đã được khử chất béo nhưng không 
được tạo kết cấu, thích hợp hay không thích hợp làm thức ăn cho 
người (nhóm 23.04) và protein biệt lập (nhóm 35.04). 
(7)  Các chế phẩm có hoặc không có cồn (không dựa trên các chất 
thơm) loại được sử dụng để sản xuất các loại đồ uống có hoặc 
không có cồn. Các chế phẩm này thu được bằng cách pha trộn 
chiết xuất thực vật thuộc nhóm 13.02 với một số chất như: axit 
lactic, axit tartaric, axit citric, axit phosphoric, các chất bảo quản, 
các chất làm bông, nước quả,... Các chế phẩm này có chứa (toàn bộ 
hoặc một phần) thành phần hương vị mang lại đặc trưng cho một 
loại đồ uống nào đó. Vì thế, đồ uống thường có thể thu được bằng 
cách đơn giản là hoà tan chế phẩm đó vào nước, rượu vang hoặc 
cồn, thêm hoặc không thêm, ví dụ: đường hoặc khí carbon dioxide. 
Một số trong các chế phẩm trên được chế biến riêng để sử dụng 
trong gia đình; chúng cũng được sử dụng rộng rãi trong công 
nghiệp để tránh việc vận chuyển một cách vô ích một lượng lớn 
nước, cồn,... Như đã trình bày, các chế phẩm này không sử dụng 
như đồ uống và vì vậy có thể được phân biệt với các loại đồ uống 
thuộc Chương 22. 
         Nhóm này không bao gồm các chế phẩm được dùng để sản xuất 
         đồ uống, dựa trên một hoặc một số chất thơm (nhóm 33.02). 

(8)  Các loại viên nén ăn được với thành phần cơ bản là hương liệu  tự 
nhiên hay nhân tạo (ví dụ: vanillin). 
(9)  Các loại kẹo, các loại gôm và các sản phẩm tương tự (chủ yếu cho 
người bị bệnh tiểu đường) có chứa các chất làm ngọt tổng hợp (ví 
dụ: sorbitol) thay cho đường. 
(10)  Các chế phẩm (ví dụ: dạng viên nén) gồm có saccharrin và một 
loại thực phẩm như lactoza, được sử dụng để làm ngọt. 
(11)  Men tự phân và chiết xuất men khác, những sản phẩm thu được từ 
quá trình thủy phân men. Các sản phẩm này không thể làm nảy 
sinh quá trình lên men được và chúng có chứa một hàm lượng lớn 
protein. Chúng chủ yếu được sử dụng trong công nghiệp thực 
phẩm (ví dụ: để chế biến một số gia vị). 
(12)  Các chế phẩm để chế biến nước chanh hoặc đồ uống khác, gồm có, 
ví dụ: 
-  xirô đã ướp hương hoặc pha màu, là những dung dịch đường và 
có pha thêm một số chất tự nhiên hoặc nhân tạo để tạo cho dung 
dịch có hương vị của, ví dụ: một số loại quả, cây (phúc bồn tử, 
phúc bồn đen, chanh, bạc hà...), có hoặc không pha thêm axit 
citric và chất bảo quản; 
-  xirô được pha thêm hương liệu từ một chế phẩm tổng hợp thuộc 
nhóm này (xem đoạn (7 ) ở trên), đặc biệt chứa chiết xuất từ 
cola và axit citric được tạo màu bằng đường caramen, hoặc axit 
citric và tinh dầu quả (ví dụ: chanh hoặc cam); 
-  xirô được pha hương liệu nước ép trái cây hoặc nước ép quả 
hạch (nut) đã được biến đổi bằng cách bổ sung thêm một số 
thành phần (axit citric, tinh dầu của trái cây,...) với một lượng 
sao cho sự cân bằng của các thành phần trong nước ép trái cây hoặc 
quả hạch tìm thấy trong nước ép tự nhiên rõ ràng bị phá vỡ; 
-  nước ép quả cô đặc có thêm axit citric (với một tỉ lệ tổng hàm 
lượng axit lớn hơn nhiều so với nước ép tự nhiên), tinh dầu quả, 
chất làm ngọt tổng hợp,... 

Các chế phẩm này sau khi được hoà tan vào nước hoặc được xử lý 
thêm, được sử dụng làm đồ uống. Một số chế phẩm của loại này 
được dùng để bổ sung vào các chế phẩm thực phẩm khác. 
(13)  Các hỗn hợp chiết xuất từ sâm với một số chất khác (thí dụ: lactoza 
hoặc glucoza) được dùng để chế biến "trà" sâm hay đồ uống có sâm. 
(14)  Các sản phẩm bao gồm hỗn hợp giữa một số loại cây hoặc các 
phần của cây (kể cả hạt hoặc quả) của các loài khác nhau hoặc bao 
gồm một số loại cây hoặc các phần của cây (kể cả hạt hoặc quả) 
của một hoặc nhiều loài khác nhau với một số chất khác như một 
hoặc nhiều loại chiết xuất từ cây, không sử dụng làm thực phẩm 
được ngay nhưng là những loại được sử dụng để chế biến một số 
loại dịch thảo dược hoặc trà thảo dược, (ví dụ, những loại có tính 
năng nhuận tràng, xổ, thuốc lợi tiểu hoặc tống hơi), kể cả loại được 
cho là có  thể làm dịu một số chứng đau hoặc giúp cho cơ thể khoẻ 
mạnh và dễ chịu. 
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm các sản phẩm pha trộn có 
định lượng của hoạt chất dùng để phòng hoặc chữa một loại bệnh 
cụ thể (nhóm 30.03 hoặc 30.04). 
Cũng loại trừ khỏi nhóm này là các sản phẩm thuộc nhóm 08.13 
hoặc Chương 9. 
(15)  Các hỗn hợp bao gồm cây, các thành phần của cây, hạt hoặc quả 
(nguyên dạng, cắt miếng, xay, nghiền vụn hoặc thành bột) của các 
loài thuộc các Chương khác nhau (thí dụ: các Chương 7, 9, 11, 12) 
hoặc nhiều loài khác nhau của nhóm 12.11, không được dùng để ăn 
ngay mà để tạo hương liệu cho đồ uống hoặc để chế các chiết xuất 
dùng trong sản xuất đồ uống. 
 Tuy nhiên, các sản phẩm của loại này mang đặc tính cơ bản của 
các sản phẩm thuộc Chương 9 thì bị loại trừ (Chương 9).  
(16)  Các chế phẩm, thường được gọi là thực phẩm bảo vệ sức khỏe 

(food supplements hoặc dietary supplements), bao gồm, hoặc dựa 
trên, một hoặc nhiều vitamin, khoáng chất, axit amin, chất cô đặc, 
chất chiết xuất, chất phân lập hoặc các chất tương tự có trong thực 
phẩm hoặc loại tổng hợp của các chất đó, được đóng gói như thực 
phẩm bổ sung cho chế độ ăn uống bình thường. Nhóm này bao 
gồm các sản phẩm như vậy có hoặc không chứa chất làm ngọt, chất 
màu, hương liệu, chất tạo mùi, chất mang, chất độn, chất ổn định 
hoặc các chất hỗ trợ kỹ thuật khác. Những sản phẩm như vậy 
thường được đóng gói trong bao bì có chỉ dẫn cho thấy chúng giữ 
sức khỏe nói chung, cải thiện thành tích thể thao, ngăn ngừa sự 
thiếu hụt dinh dưỡng hoặc điều chỉnh các mức dinh dưỡng dưới 
chuẩn. 
Các chế phẩm này không chứa đủ lượng thành phần hoạt tính để 
mang lại hiệu quả điều trị hoặc phòng ngừa các bệnh tật trừ tình 
trạng thiếu hụt dinh dưỡng liên quan. Các chế phẩm khác có lượng 
thành phần hoạt tính đủ để mang lại tác dụng điều trị hoặc phòng 
ngừa một căn bệnh cụ thể bị loại trừ (nhóm 30.03 hoặc 30.04). 
(17) Các chế phẩm ở dạng hạt hoặc bột gồm đường, hương liệu hoặc 
chất màu (ví dụ chiết xuất thực vật hoặc một số loại quả hoặc cây 
như cam, phúc bồn đen, ...), chất chống oxy hóa (ví dụ axit 
ascorbic hoặc axit citric hoặc cả hai), các chất bảo quản,..., loại 
được sử dụng để chế biến đồ uống. Tuy nhiên, các chế phẩm có 
đăc tính của đường thuộc nhóm 17.01 hoặc 17.02, tùy trường hợp. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Các chế phẩm được chế biến từ quả, quả hạch (nut) hoặc các 
phần ăn được của cây thuộc nhóm 20.08, với điều kiện là đặc 
tính cơ bản của các chế phẩm được tạo bởi quả, quả hạch 
(nut) hoặc các phần ăn được của cây khác (nhóm 20.08). 
         (b)  Vi sinh vật thuộc nhóm 21.02 được đóng gói như thực phẩm  
                bảo vệ sức khỏe (food supplements) dùng cho người (nhóm 

(c)  Các chế phẩm có chứa ca cao, được đóng gói như thực phẩm 
bảo vệ sức khỏe thích hợp để sử dụng cho người (nhóm 
(d)  Kẹo cao su có chứa nicotin (nhóm 24.04). 

Chương 22 
Đồ uống, rượu và giấm 
Chú giải. 
1.-  Chương này không bao gồm: 
(a)  Các sản phẩm của Chương này (trừ các sản phẩm của nhóm 
22.09) được chế biến cho mục đích nấu nướng và không phù 
hợp để làm đồ uống (thường ở nhóm 21.03); 
(b)  Nước biển (nhóm 25.01); 
(c)  Nước cất hoặc nước khử độ dẫn hoặc nước có độ tinh khiết 
tương tự (nhóm 28.53); 
(d)  Axit axetic có nồng độ axit axetic trên 10% tính theo khối 
lượng (nhóm 29.15); 
(e)  Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hay 30.04; hoặc 
(f)  Các chế phẩm nước hoa hoặc chế phẩm vệ sinh (Chương 33). 
2.-  Theo mục đích của Chương này và các Chương 20 và 21, "nồng độ 
cồn tính theo thể tích" sẽ được xác định ở nhiệt độ 20oC. 
3.-  Theo mục đích của nhóm 22.02, khái niệm "đồ uống không chứa 
cồn" có nghĩa là các loại đồ uống có nồng độ cồn không quá 0,5% 
tính theo thể tích. Đồ uống có cồn được xếp vào các nhóm thích hợp 
từ 22.03 đến 22.06 hoặc nhóm 22.08. 
Chú giải phân nhóm. 
1.-  Theo mục đích của phân nhóm 2204.10, khái niệm "rượu vang 
nổ"(1) là loại rượu khi bảo quản ở nhiệt độ 20oC trong thùng kín, có 
mức áp suất vượt từ 3 bars trở lên. 

TỔNG QUÁT 
Các sản phẩm thuộc Chương này hoàn toàn khác biệt với các thực phẩm 
đã được nêu trong các Chương trước của Danh mục. 
Chúng chia thành 4 loại chính: 
(A)  Nước và các đồ uống không chứa cồn khác và nước đá. 
(B)  Đồ uống có cồn đã lên men (bia, rượu vang, rượu táo,...). 
(C)  Đồ uống và chất lỏng có chứa cồn được chưng cất (rượu mùi, rượu 
mạnh, ...) và cồn ethyl. 
(D)  Giấm ăn và các sản phẩm thay thế giấm. 
Chương này không bao gồm: 
(a)  Các sản phẩm sữa dạng lỏng của Chương 4. 
(b)  Các sản phẩm của Chương này (trừ các sản phẩm thuộc nhóm 
22.09) đã được chế biến để dùng trong nấu nướng (ví dụ: rượu 
vang và Cognac dùng để nấu nướng) và vì thế không phù hợp để 
làm đồ uống (thường thuộc nhóm 21.03). 
(c)  Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04. 
(d)  Các sản phẩm nước hoa hoặc chế phẩm vệ sinh (toilet preparation) 
(Chương 33). 
22.01 - Nước, kể cả nước khoáng tự nhiên hoặc nhân tạo và nước có 
ga, chưa pha thêm đường hoặc chất tạo ngọt khác hoặc 
hương liệu; nước đá và tuyết. 
2201.10   - Nước khoáng và nước có ga 
2201.90   -   Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
 (A)  Nước tự nhiên thông thường: bao gồm tất cả các loại nước 
thường tự nhiên (trừ nước biển - xem nhóm 25.01). Các loại nước 
này có thể đã hoặc chưa được lọc sạch, trừ nước cất hoặc nước 
khử độ dẫn và các loại nước tinh khiết tương tự thuộc nhóm 28.53. 
Nhóm này không bao gồm các loại nước đã được làm ngọt hoặc 

đã pha hương liệu (nhóm 22.02). 
(B)  Nước khoáng: là các loại nước khoáng thiên nhiên hay nước 
khoáng nhân tạo. 
Nước khoáng thiên nhiên là loại nước có chứa muối khoáng hoặc 
có ga. Thành phần của các loại nước này rất khác nhau, nên thường 
được phân loại theo các đặc tính hoá học của các loại muối trong 
chúng, ví dụ: 
(1)  Các loại nước có kiềm. 
(2)  Các loại nước có sunfat. 
(3)  Các loại nước có hợp chất halogen và một nguyên tố hoặc 
gốc khác (halide water). 
(4)  Các loại nước có lưu huỳnh. 
(5)  Các loại nước có arsen. 
(6)  Các loại nước có sắt. 
Các loại nước khoáng thiên nhiên này có thể cũng chứa carbon 
dioxide tự nhiên hoặc được bổ sung vào. 
Nước khoáng nhân tạo đã qua chế biến từ nước uống thông 
thường bằng cách thêm vào các thành tố hoạt tính (muối khoáng 
hoặc ga) có trong nước khoáng tự nhiên tương ứng để tạo ra nước 
có đặc tính tương tự. 
Nhóm này loại trừ nước khoáng (tự nhiên hoặc nhân tạo) đã được 
làm ngọt hoặc đã pha hương liệu (hương cam, chanh...) (nhóm 
(C)  Nước có ga (carbonated water), nghĩa là, các loại nước uống 
thông thường đã được nạp khí carbon dioxide dưới áp suất. Các 
loại này thường được gọi là “nước sô đa" hay “nước vùng seltz" 
mặc dù nước vùng seltz thực sự lại là một loại nước khoáng tự 
nhiên.  
Nhóm này loại trừ các loại nước có ga đã được làm ngọt hoặc đã 
pha hương liệu (nhóm 22.02). 
(D)  Nước đá và tuyết, có nghĩa là, nước đá và tuyết tự nhiên và nước 
được làm đông lạnh. 

Nhóm này loại trừ kem ăn được thuộc nhóm 21.05 và “tuyết axit 
carbonic” hoặc “nước đá khô” (tức là dioxyde carbone ở dạng rắn) 
(nhóm 28.11). 
22.02 - Nước, kể cả nước khoáng và nước có ga, đã pha thêm đường 
hoặc chất tạo ngọt khác hoặc hương liệu, và đồ uống không 
chứa cồn khác, không bao gồm nước quả ép, nước ép từ quả 
hạch (nut) hoặc nước rau ép thuộc nhóm 20.09. 
2202.10  - Nước, kể cả nước khoáng và nước có ga, đã pha thêm 
đường hoặc chất tạo ngọt khác hoặc hương liệu 
                             -     Loại khác: 
  2202.91  - -    Bia không cồn 
              2202.99  - -  Loại khác  
Nhóm này bao gồm các loại đồ uống không chứa cồn, như định nghĩa tại 
Chú giải 3 của Chương này, không được phân loại vào các nhóm khác, 
đặc biệt là nhóm 20.09 hoặc 22.01.  
(A)  Nước, kể cả nước khoáng và nước có ga, đã pha thêm đường 
hoặc chất làm ngọt khác hoặc đã pha hương liệu. 
Nhóm này có thể kể đến:  
(1)  Các loại nước khoáng (tự nhiên hoặc nhân tạo) đã được 
làm ngọt hoặc pha hương liệu. 
(2)  Các loại đồ uống như nước chanh, đồ uống có hương cam, 
nước cola, bao gồm nước uống thông thường, được làm ngọt 
hoặc không, được tạo hương bằng nước ép hoặc tinh chất trái 
cây hoặc quả hạch (nut) hoặc bằng các chiết xuất hỗn hợp, 
đôi khi có pha thêm axit tartaric hoặc axit citric. Các loại 
nước này thường được tạo ga bằng cách cho thêm khí carbon 
dioxide, và thường được đóng chai hoặc trong các loại bao bì 
kín khí khác. 
(B)  Bia không cồn. Nhóm này bao gồm: 
        (1) Bia làm từ mạch nha, nồng độ cồn tính theo thể tích giảm 

xuống còn 0,5% hoặc ít hơn. 
        (2) Bia gừng và bia thảo mộc, có nồng độ cồn không quá 0,5% tính 
theo thể tích. 
        (3) Hỗn hợp bia và đồ uống không cồn (ví dụ, nước chanh), có 
nồng độ cồn không quá 0,5% tính theo thể tích. 
(C)  Các loại đồ uống không có cồn khác, trừ nước quả ép và nước 
rau ép thuộc nhóm 20.09. 
Nhóm này có thể kể đến: 
(1)  Mật hoa liễu bách (Tamarind nectar) đã được chế biến 
thành đồ uống sau khi pha thêm nước, đường và lọc kĩ. 
(2)  Một số đồ uống khác có thể được trực tiếp sử dụng, như 
các loại đồ uống có thành phần cơ bản là sữa và ca cao. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Sữa chua ở dạng lỏng và các loại sữa và kem đã lên men hoặc được 
làm chua khác, có chứa ca cao, quả hoặc hương liệu (nhóm 04.03). 
(b)  Xirô đường thuộc nhóm 17.02 và xirô đường có thêm hương liệu 
thuộc nhóm 21.06. 
(c)  Các loại nước ép trái cây hoặc quả (hạch) hoặc nước rau ép, dùng 
hay không được dùng làm đồ uống (nhóm 20.09). 
(d)    Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04.  
22.03 - Bia sản xuất từ malt. 
Bia là một loại đồ uống có chứa cồn thu được từ quá trình lên men của 
nước hèm (wort) chế biến từ ngũ cốc ủ mạch nha (phổ biến nhất là lúa 
đại mạch hoặc lúa mì), nước và (thường) với hoa bia (houblon). Một 
lượng ngũ cốc chưa gây malt nhất định (ví dụ: ngô hoặc lúa gạo) cũng có 
thể được sử dụng trong quá trình chế biến nước hèm (wort). Hoa bia 
(houblon) cho thêm vào tạo nên vị đắng và mùi thơm và có tác dụng bảo 

quản được sản phẩm tốt hơn. Quả anh đào hoặc một số chất tạo hương 
khác đôi khi được thêm vào bia trong quá trình lên men. 
Đường (đặc biệt là glucoza), chất tạo màu, carbon dioxide và các chất 
khác có thể cũng được cho thêm vào. 
Tuỳ theo các phương pháp lên men, các sản phẩm có thể là bia lên men 
chìm thu được ở nhiệt độ thấp với các loại men chìm (bottom yeast), 
hoặc các loại bia lên men nổi, thu được ở nhiệt độ cao hơn với các loại 
men nổi (top yeast). 
Bia có thể có màu nhạt hoặc đậm, ngọt hoặc đắng, nhẹ hoặc nặng. Bia 
thường được đóng trong thùng (barrels), đóng chai hoặc hộp kín khí và 
cũng có thể bán trên thị trường với các loại tên gọi như: bia anh (ale), bia 
đen (stout)... 
Nhóm này cũng bao gồm các loại bia cô đặc được chế biến từ bia chưng 
cất chân không có độ cồn thấp (nhưng với hàm lượng chiết xuất malt 
cao) chỉ còn từ 1/5 đến 1/6 khối lượng ban đầu. 
Nhóm này không bao gồm:  
(a)  Một số đồ uống, mặc dù chúng đôi khi được gọi là bia, không có 
cồn (ví dụ: loại đồ uống thu được từ nước pha với đường caramen) 
(nhóm 22.02). 
(b)  Các loại đồ uống được gọi là bia không chứa cồn gồm bia sản xuất 
từ malt, có nồng độ cồn tính theo thể tích giảm từ 0,5% trở xuống 
(nhóm 22.02). 
(c)  Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04. 
22.04- Rượu vang làm từ nho tươi, kể cả rượu vang cao độ; hèm nho 
trừ loại thuộc nhóm 20.09. 
- Rượu vang nổ 
- Rượu vang khác; hèm nho đã pha cồn để ngăn 
ngừa hoặc cản sự lên men 
- - Loại trong đồ đựng không quá 2 lít 

- - Loại trong đồ đựng trên 2 lít nhưng không quá 10 
lít 
- - Loại khác 
-  Hèm nho khác 
(I)  Rượu vang chế biến từ nho tươi 
Rượu vang được phân loại trong nhóm này phải là sản phẩm cuối 
cùng từ quá trình lên men rượu của hèm nho tươi. 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Rượu vang thông thường (vang đỏ, hồng hoặc trắng). 
(2)  Rượu vang được làm cao độ với cồn. 
(3)  Rượu vang nổ. Các loại rượu vang này được nạp thêm khí 
carbon dioxide, hoặc từ quá trình lên men cuối cùng trong bình 
kín (các loại rượu vang nổ chính hiệu), hoặc bằng cách nạp thêm 
khí nhân tạo sau khi đóng chai (các loại vang có ga). 
(4)  Các loại rượu vang ngọt tráng miệng (đôi khi được gọi là 
rượu vang mùi). Các loại  này có nồng độ cồn cao và thường 
thu được từ hèm có lượng đường cao, chỉ một phần của lượng 
đường này được chuyển hoá thành cồn trong khi lên men. 
Trong một số trường hợp các loại này được làm cao độ bằng 
cách cho thêm cồn, hoặc thêm hèm cô đặc pha thêm cồn. Các 
loại rượu vang ngọt tráng miệng (hoặc rượu mùi) này có thể 
kể đến canary, cyprus, lacryma christi, madeira, malaga, 
malmsey, marsala, port, samos và sherry. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các loại đồ uống có thành phần cơ bản là rượu vang thuộc nhóm 
(b)  Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04. 
(II)  Hèm nho 
Hèm nho, thu được từ quá trình ép nho tươi, là một chất lỏng màu 
(1)  Ordinary wines (red, white or rosé). 

vàng xanh nhạt, có vẩn, có vị ngọt. Loại này chứa dung dịch gồm 
hỗn hợp các loại đường (glucoza và fructoza), các axit (tartaric, 
malic,...), các chất có chứa albumin, các chất khoáng và các chất 
nhầy và các thành phần tạo nên hương vị đặc trưng của rượu vang. 
Hèm nho, trừ khi bị kìm hãm, lên men một cách tự nhiên (các loại 
đường được chuyển hóa thành cồn); sản phẩm cuối cùng của quá 
trình lên men này là rượu vang. 
Có thể kiềm chế xu hướng lên men tự nhiên của hèm nho bằng quá 
trình gọi là đình chỉ lên men (mutage), hoặc là để cản sự lên men 
hoặc là để ngừng hẳn quá trình lên men. 
Quá trình đình chỉ lên men hèm nho (mutage) có thể được tiến 
hành bằng nhiều cách khác nhau: 
(1)  Bằng sử dụng tác động của axit salicylic hoặc của một số chất 
diệt khuẩn khác. 
(2)  Bằng cách cho vào hèm nho dioxide lưu huỳnh. 
(3)  Bằng cách pha thêm cồn. Dòng sản phẩm này thường được 
uống ngay như rượu vang mà không cần qua công đoạn xử lý 
nào khác nữa. Một số khác, được gọi là hèm nho đã ngưng 
lên men, được sử dụng để sản xuất rượu vang mùi và rượu 
khai vị... 
(4)  Bằng cách làm lạnh. 
Nên lưu ý rằng loại này bao gồm hèm nho đã lên men một phần, đã 
hoặc chưa được ngưng quá trình lên men, cũng như hèm nho chưa 
lên men, có thêm cồn, cả hai loại sản phẩm này đều có nồng độ cồn 
theo thể tích trên 0,5%. 
Nhóm này không bao gồm các loại nước ép nho và hèm nho, đã 
hoặc chưa cô đặc, chưa lên men hoặc có nồng độ cồn theo thể tích 
không quá 0,5% (nhóm 20.09). 
22.05 - Rượu Vermouth và rượu vang khác làm từ nho tươi đã pha 
thêm hương liệu từ thảo mộc hoặc chất thơm. 

- Loại trong đồ đựng không quá 2 lít 
- Loại khác 
Nhóm này bao gồm các loại đồ uống (thường được dùng làm rượu khai 
vị hoặc rượu bổ), được sản xuất từ rượu vang nho tươi thuộc nhóm 
22.04, và được tạo hương bằng pha chế các phần của cây (lá, rễ, quả...) 
hoặc các chất thơm. 
Nhóm này có thể cũng bao gồm các loại đồ uống trên đã được cho thêm 
vitamin hoặc hợp chất sắt.  
Các loại sản phẩm này đôi khi được gọi là các sản phẩm "thực phẩm bảo 
vệ sức khỏe (food supplements)" được dùng vào bồi bổ sức khoẻ. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Rượu vang thu được từ nho khô và được pha chế với các loại cây 
hoặc các chất có hương (nhóm 22.06). 
(b)  Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04. 
22.06 - Đồ uống đã lên men khác (ví dụ, vang táo, vang lê, vang mật 
ong, rượu sa kê); hỗn hợp của đồ uống đã lên men và hỗn 
hợp của đồ uống đã lên men với đồ uống không chứa cồn, 
chưa chi tiết hoặc ghi ở nơi khác. 
Nhóm này bao gồm tất cả các loại đồ uống đã lên men trừ các loại đã 
được nêu ở các nhóm từ 22.03 đến 22.05.  
Nhóm này có thể kể đến: 
(1)  Vang táo, là loại đồ uống có cồn thu được từ quá trình lên men của 
nước ép táo. 
(2)  Vang lê, là loại đồ uống được lên men tương tự như vang táo thu 
được từ nước ép lê. 
(3)  Vang mật ong, là loại đồ uống thu được từ quá trình lên men của 
dung dịch mật ong pha với nước. (Nhóm này bao gồm hydromel 
vineux – vang mật ong có pha thêm rượu vang trắng, hương liệu và 
một số chất khác.) 
(4)  Vang nho khô. 
(5)  Vang thu được từ việc lên men nước ép trái cây hoặc quả hạch 
saké); mixtures of fermented beverages and mixtures of 

(nut), trừ loại nước ép nho tươi (rượu vang sung, chà là hoặc bách 
xù), hoặc từ nước ép rau, có nồng độ cồn theo thể tích trên 0,5%. 
(6)  “Malt lên men (malton)”, loại đồ uống đã lên men được chế biến 
từ chiết xuất malt và bã rượu vang. 
(7)  Vân sam (spruce), một loại đồ uống được làm từ các loại lá hoặc 
nhánh nhỏ của cây linh sam hoặc từ tinh chất cây vân sam. 
(8)  Rượu sa kê hoặc rượu vang làm từ gạo. 
(9)  Vang cọ, được chế từ nhựa của một số cây cọ. 
(10)  Bia gừng và bia thảo mộc, được chế biến từ đường và nước và 
gừng hoặc một số loại thảo dược, được lên men bằng men. 
Tất cả các loại đồ uống trên có thể có ga tự nhiên hoặc được nạp thêm 
carbon dioxide. Chúng được phân loại trong nhóm này khi được làm cao 
độ cồn hoặc khi lượng cồn được tăng lên do quá trình lên men thêm, với 
điều kiện là chúng vẫn giữ được đặc tính của các sản phẩm thuộc nhóm 
này. 
Nhóm này cũng bao gồm các hỗn hợp của đồ uống không chứa cồn và 
đồ uống đã lên men và hỗn hợp đồ uống đã lên men thuộc các nhóm 
trước của Chương 22, thí dụ: hỗn hợp nước chanh với bia hoặc rượu 
vang, hỗn hợp bia với rượu vang, có nồng độ cồn theo thể tích trên 0,5%. 
Một số đồ uống có thể đã được cho thêm vitamin hoặc hợp chất sắt. Các 
loại sản phẩm này đôi khi được gọi là các sản phẩm "thực phẩm bảo vệ 
sức khỏe (food supplements)" được dùng để bồi bổ sức khoẻ.  
Nhóm này không bao gồm các loại nước ép quả (táo, lê,...) và các loại 
đồ uống khác có nồng độ cồn theo thể tích không quá 0,5% (các nhóm 
20.09 và 22.02 tương ứng). 
(8)  Saké or rice wine. 
22.07 - Cồn etylic chưa biến tính có nồng độ cồn từ 80% trở lên tính 
theo thể tích; cồn etylic và rượu mạnh khác, đã biến tính, ở 
mọi nồng độ. 
- Cồn ê-ti-lích chưa biến tính có nồng độ cồn từ 
80% trở lên tính theo thể tích 

- Cồn ê-ti-lích và rượu mạnh khác, đã biến tính, ở 
mọi nồng độ 
Cồn ê-ti-lích không được phân loại cùng các loại rượu mạch hở khác 
thuộc nhóm 29.05 nhưng bị loại trừ khỏi Chương 29 theo chú giải 2(b) 
của Chương 29. 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Cồn ê-ti-lích chưa biến tính có nồng độ cồn tính theo thể tích từ 
80% trở lên. 
(2)  Cồn ê-ti-lích và rượu mạnh khác, đã biến tính, ở mọi nồng độ. 
Đồ uống đã lên men và các loại đồ uống có rượu chứa cồn ê-ti-lích thu 
được từ việc lên men một số loại đường bằng men hoặc các cách lên 
men khác. Cồn ê-ti-lích chưa biến tính thuộc các nhóm 22.07 hoặc 22.08 
được sản xuất khi một sản phẩm được lên men được xử lý bằng các quy 
trình thanh lọc tiếp theo (ví dụ, chưng cất, lọc,...) đến mức mà các đặc 
tính sản phẩm được lên men bị mất đi, tạo ra một chất lỏng trong, không 
màu, không ga biểu hiện chỉ ở mùi và vị của cồn ê-ti-lích. Cồn ê-ti-lích 
có thể cũng được sản xuất bằng cách tổng hợp. 
Cồn ê-ti-lích và rượu mạnh khác, đã biến tính, là các loại rượu mạnh 
được trộn với các chất làm cho chúng không thích hợp để uống nhưng 
không ảnh hưởng đến việc sử dụng trong công nghiệp. Các chất làm biến 
tính được sử dụng ở mỗi nước một khác tuỳ theo luật pháp quốc gia. 
Chúng bao gồm naphtha gỗ, methanol, acetone, pyridine, hydrocarbon 
thơm (benzene, vv), chất tạo màu. 
Nhóm này cũng bao gồm các loại rượu mạnh trung tính, tức là cồn 
 ê-ti-lích có chứa nước mà trong đó một số thành phần phụ (các loại cồn bậc 
cao, ester, aldehyde, axit,...) có mặt trong lần chưng cất đầu tiên hầu như được 
loại bỏ bằng các quá trình thanh lọc (ví dụ, chưng cất phân đoạn). 
Cồn ê-ti-lic được sử dụng cho nhiều mục đích công nghiệp, ví dụ, như 
dung môi trong sản xuất hóa chất, vecni..., để chiếu sáng hoặc làm nóng, 
để chế biến đồ uống có cồn. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Cồn ê-ti-lích chưa biến tính có nồng độ cồn theo thể tích dưới 
80% (nhóm 22.08). 

(b)  Rượu mạnh khác (trừ loại đã biến tính) (nhóm 22.08). 
(c)  Các nhiên liệu ở dạng rắn và bán rắn có thành phần cơ bản là cồn 
(thường được bán trên thị trường với tên gọi là “cồn đóng rắn”) 
(nhóm 36.06). 
22.08 - Cồn etylic chưa biến tính có nồng độ cồn dưới 80% tính theo 
thể tích; rượu mạnh, rượu mùi và đồ uống có rượu khác. 
- Rượu mạnh thu được từ  cất rượu vang nho hoặc 
bã nho 
- Rượu whisky 
- Rượu rum và rượu mạnh khác được cất từ các sản 
phẩm mía đường lên men 
- Rượu gin và rượu Geneva 
- Rượu vodka 
- Rượu mùi 
- Loại khác 
Nhóm này bao gồm các loại rượu với bất cứ nồng độ cồn nào: 
(A)  Rượu mạnh thu được bằng việc chưng cất rượu vang nho, vang 
táo hoặc các loại đồ uống đã được lên men khác hoặc ngũ cốc hoặc 
các sản phẩm thực vật khác đã lên men, không thêm hương liệu; 
chúng vẫn thuộc nhóm này, toàn bộ hoặc một phần, các thành phần 
phụ (ester, aldehyde, axit, các loại cồn bậc cao,…) tạo cho rượu 
mạnh có hương vị và mùi thơm đặc trưng riêng. 
(B)  Rượu mùi, là loại đồ uống có nồng độ cồn cao, mà trong đó 
người ta thường cho thêm đường, mật ong hoặc chất tạo ngọt tự 
nhiên khác và các chiết xuất hoặc tinh chất (ví dụ, các đồ uống có 
cồn được sản xuất bằng cách chưng cất, hoặc pha trộn, cồn ê-ti-
lích hoặc các loại rượu mạnh được chưng cất, với một hoặc nhiều 
loại sau đây: quả, hoa hay các thành phần khác của cây, chiết 
xuất, tinh chất, tinh dầu hoặc các loại nước ép đã hoặc chưa được 

cô đặc). Các sản phẩm này cũng bao gồm rượu mùi có chứa tinh 
thể đường, rượu mùi nước ép trái cây, rượu trứng, rượu thảo mộc, 
rượu quả mọng, rượu gia vị, rượu trà, rượu sôcôla, rượu sữa và 
rượu mật ong. 
(C)  Tất cả các loại đồ uống có nồng độ cồn cao khác không thuộc 
bất cứ nhóm nào trước đó trong Chương này. 
Với điều kiện là chúng có nồng độ cồn dưới 80% tính theo thể tích, nhóm 
này cũng bao các loại rượu mạnh chưa biến tính (cồn ê-ti-lích và các loại 
rượu trung tính), trái với các sản phẩm được nêu ở các phần (A), (B) và (C) 
trên đây, ở chỗ nó được đặc trưng bởi việc thiếu các thành phần phụ tạo 
hương vị hoặc mùi thơm. Các loại rượu này vẫn thuộc nhóm này dù cho 
chúng được dùng để uống hay để phục vụ cho công nghiệp. 
Ngoài cồn ê-ti-lích chưa biến tính có nồng độ cồn dưới 80% theo thể 
tích, nhóm này có thể kể đến: 
(1)  Rượu mạnh thu được từ việc chưng cất rượu vang nho hoặc từ bã 
(2)  Rượu whisky và các loại rượu mạnh khác thu được bằng việc 
chưng cất hèm rượu của hạt ngũ cốc (đại mạch, yến mạch, mạch 
đen, lúa mì, ngô,...). 
(3)  Rượu mạnh thu được từ việc chưng cất các sản phẩm đã lên men 
của mía đường (nước ép mía đường, xirô mía đường, mật mía 
đường), ví dụ, rượu rum, tafia, cachaca. 
(4)  Các loại đồ uống có cồn được biết tới dưới tên gọi là rượu gin hoặc 
rượu Geneva, có chứa các thành phần hương liệu của quả bách xù. 
(5)  Rượu vodka thu được từ việc chưng cất hèm đã lên men của các 
sản phẩm nông nghiệp (ví dụ, ngũ cốc, khoai tây) và đôi khi được 
tiếp tục xử lý bằng than hoạt tính hoặc carbon. 
(6)  Các loại đồ uống có cồn (thường được gọi là rượu mùi), như 
anisette (thu được từ cây hồi xanh và hoa hồi dạng sao), curacao, 
(được sản xuất với vỏ cam đắng), kummel (được tạo hương bằng 
hạt ca-rum hoặc hạt thì là Ai cập). 
(7)  Các loại rượu mùi được gọi cremes. Sở dĩ được gọi như vậy vì độ 
đặc hoặc màu của rượu, các loại rượu này thường có nồng độ cồn 
(7)  The liqueurs known as “crèmes”, because of their consistency or 

thấp và rất ngọt (ví dụ, rượu kem cacao, chuối, vani, cà phê). 
Nhóm này cũng bao gồm cả rượu mạnh gồm thể nhũ tương của 
rượu mạnh với các sản phẩm như lòng đỏ trứng hoặc với kem.  
(8)  Rượu mùi ratafia. Đây là các loại rượu mùi thu được từ các loại 
nước ép quả; chúng thường được pha thêm một lượng nhỏ các chất 
thơm (rượu mùi ratafia anh đào, phúc bồn đen, phúc bồn tử, mơ...). 
(9)  Rượu mạnh (Aquavit) và các đồ uống có nồng độ cồn cao khác thu 
được từ quá trình chưng cất cồn với trái cây hoặc các phần khác 
của cây hoặc thảo mộc. 
(10) Rượu mạnh thu được từ vang táo (calvados),  từ mận (mận vàng 
(mirabelle), mận quít (quetsch)), từ anh đào (rượu anh đào) hoặc từ 
một số quả khác.      
(11)  Rượu arrack, rượu mạnh thu được từ gạo hoặc từ rượu vang cọ. 
(12)  Rượu mạnh thu được từ việc chưng cất nước ép quả minh quyết đã 
lên men. 
(13)  Các loại rượu khai vị có chứa cồn (rượu absinth (ngải đắng), rượu 
đắng...) trừ các loại có thành phần cơ bản là rượu vang từ nho tươi 
được phân loại vào nhóm 22.05. 
(14)  Nước chanh có cồn (không phải dược phẩm). 
(15)  Các loại nước ép trái cây hoặc quả hạch (nut) hoặc ép rau đã pha 
thêm cồn và có nồng độ cồn trên 0,5% tính theo thể tích, trừ các 
sản phẩm thuộc nhóm 22.04. 
(16)  Các loại đồ uống có nồng độ cồn cao, đôi khi được gọi là "thực 
phẩm bảo vệ sức khỏe (food supplements)" được dùng để bồi bổ 
sức khoẻ. Chúng có thể, ví dụ, được chế từ các chiết xuất cây, chất 
cô đặc của quả, từ lecithin, từ hoá chất,..., và được cho thêm 
vitamin hoặc hợp chất sắt. 
(17)  Các loại đồ uống được chế để mô phỏng rượu vang bằng cách trộn 
rượu mạnh đã chưng cất với nước ép trái cây hoặc quả hạch (nut) 

và/hoặc với nước, đường, chất tạo màu, hương liệu hoặc một số 
thành phần khác, trừ các sản phẩm thuộc nhóm 22.04. 
(18)  Rượu mạnh thu được từ chưng cất mật củ cải đường lên men. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm: 
(a)  Rượu vermouth và các loại rượu khai vị khác có thành phần cơ 
bản là rượu vang nho tươi (nhóm 22.05). 
(b)  Cồn ê-ti-lích và rượu mạnh khác, đã biến tính (ở mọi nồng độ), 
hoặc cồn ê-ty-lích chưa biến tính có nồng độ cồn từ 80% trở lên 
tính theo thể tích (nhóm 22.07). 
22.09 – Giấm và chất thay thế giấm làm từ axít axetíc. 
(I) GIẤM 
 Giấm là một chất lỏng axit thu được thu được bằng quá trình lên men 
axetic khi được để ra ngoài không khí và ở một nhiệt độ ổn định thông 
thường không vượt quá 20oc đến 30oc, của tất cả các loại chất lỏng có 
cồn hoặc của một số dung dịch có đường hoặc có tinh bột sau khi đã qua 
quá trình lên men rượu, dưới tác động của vi khuẩn giấm Mycoderma 
aceti hoặc acetobacter. 
Nhóm này bao gồm các loại giấm sau, được phân biệt theo nguồn gốc 
của chúng: 
(1)  Giấm làm từ rượu vang. Đó là một dung dịch có màu vàng nhạt 
đến màu đỏ tuỳ theo loại rượu vang được chế biến; nó có một 
hương vị đặc biệt (bouquet) nhờ vào sự tồn tại, ví dụ, của các este 
có trong rượu vang. 
(2)  Giấm làm từ bia hoặc từ malt; giấm làm từ vang táo, vang lê 
hoặc từ các loại quả đã lên men khác. Các loại giấm này thường 
có màu vàng nhạt. 
(3)  Giấm làm từ rượu mạnh, không có màu ở trạng thái tự nhiên. 

(4)  Giấm làm từ các loại hạt ngũ cốc, mật, khoai tây đã thuỷ phân, 
(II) CÁC CHẤT THAY THẾ GIẤM 
Các chất thay thế giấm thu được từ việc pha loãng axít axetíc với nước. 
Chúng thường được tạo màu bằng caramen hoặc bằng một số chất tạo 
màu hữu cơ khác (xem phần loại trừ (a) dưới đây). 
Giấm và các chất thay thế giấm được sử dụng để ướp gia vị hoặc bảo 
quản thực phẩm. Chúng có thể được tạo hương bằng thực vật như hương 
ngải thơm (tarragon) hoặc cho thêm gia vị. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các dung dịch nước có chứa axít axetíc với tỉ trọng trên 10% 
(nhóm 29.15). Tuy nhiên, nội dung chú giải 1 (d) của Chương 22, 
không áp dụng đối với các dung dịch cùng chủng loại có nồng độ 
axít axetíc thường là từ 10 đến 15% theo trọng lượng, đã được tạo 
hương hoặc tạo màu để sử dụng trong thực phẩm làm chất thay thế 
giấm nên chúng vẫn thuộc nhóm này. 
(b)  Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04. 
(c)  Các loại giấm dùng trong vệ sinh (nhóm 33.04).