CHU GIAI 2022_ TU CHUONG 16 DEN CHUONG 22
PHẦN IV
TH'THỰC PHẨM ĐÃ CHẾ BIẾN; ĐỒ UỐNG, RƯỢU MẠNH VÀ
GIẤM; THUỐC LÁ VÀ NGUYÊN LIỆU THAY THẾ LÁ THUỐC
LÁ ĐÃ CHẾ BIẾN; CÁC SẢN PHẨM CHỨA HOẶC KHÔNG
CHỨA NICOTIN, DÙNG ĐỂ HÚT MÀ KHÔNG CẦN ĐỐT
CHÁY; CÁC SẢN PHẨM CHỨA NICOTIN KHÁC DÙNG ĐỂ
NẠP NICOTIN VÀO CƠ THỂ CON NGƯỜI
Chú giải.
1. Trong Phần này khái niệm "viên" chỉ các sản phẩm được liên kết bằng
phương pháp ép trực tiếp hoặc bằng cách pha thêm chất kết dính theo
tỷ lệ không quá 3% tính theo khối lượng..
Chương 16
Các chế phẩm từ thịt, cá, động vật giáp xác, động vật thân mềm
hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống khác, hoặc từ côn trùng
Chú giải.
Chương này không bao gồm các loại thịt, các phụ phẩm dạng thịt
sau giết mổ, cá, động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động
vật thuỷ sinh không xương sống khác, cũng như côn trùng, đã chế
biến hoặc bảo quản theo các quy trình đã ghi trong Chương 2 hoặc
Chương 3, Chú giải 6 Chương 4 hoặc nhóm 05.04
Chế phẩm thực phẩm được xếp vào Chương này với điều kiện các
chế phẩm này chứa trên 20% tính theo khối lượng là xúc xích, thịt,
các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, cá hoặc động
vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không
xương sống khác, hoặc hỗn hợp bất kỳ của các loại trên. Nếu chế
phẩm có chứa hai hoặc nhiều thành phần trên, thì xếp vào nhóm
tương ứng với thành phần hoặc những thành phần chiếm trọng
lượng lớn hơn trong chế phẩm đó thuộc Chương 16. Những quy
định này không áp dụng với các sản phẩm nhồi thuộc nhóm 19.02
hoặc các chế phẩm thuộc nhóm 21.03 hoặc 21.04.
Chú giải phân nhóm.
1. Theo mục đích của phân nhóm 1602.10, khái niệm "chế phẩm đồng
nhất" được hiểu là chế phẩm từ thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết
mổ, tiết hoặc côn trùng, được làm đồng nhất mịn, phù hợp làm thực
phẩm cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc để ăn kiêng, đóng gói để bán
lẻ với khối lượng tịnh không quá 250g. Khi áp dụng định nghĩa này
không cần quan tâm đến những thành phần có hàm lượng nhỏ thêm
vào làm gia vị, để bảo quản hoặc các mục đích khác. Các chế phẩm
này có thể chứa một lượng nhỏ mảnh vụn thịt hoặc phụ phẩm dạng
thịt sau giết mổ hoặc côn trùng có thể nhìn thấy được. Phân nhóm
này được ưu tiên xem xét trước trong các phân nhóm của nhóm
2. Cá, động vật giáp xác, động vật thân mềm và động vật thủy sinh
không xương sống khác được ghi theo tên thông thường trong các
phân nhóm của nhóm 16.04 hoặc 16.05, là các loài cùng tên tương
ứng được chi tiết ở Chương 3.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm các thực phẩm đã chế biến thu được bằng cách chế
biến thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ (ví dụ, chân, da, tim, lưỡi, gan,
lòng, dạ dày), tiết, côn trùng, cá (kể cả da của chúng), động vật giáp xác,
động vật thân mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống khác.
Chương này bao gồm các sản phẩm trên đã được chế biến và bảo quản
bằng các qui trình khác với các qui trình đã nêu trong Chương 2 hoặc
Chương 3, Chú giải 6 Chương 4 hoặc nhóm 05.04, ví dụ, các sản phẩm
đã được:
(1) Chế biến thành xúc xích hoặc sản phẩm tương tự.
(2) Luộc, hấp, nướng, chiên, quay hoặc bằng các cách nấu chín khác, trừ
cá, động vật giáp xác và động vật thân mềm hoặc động vật thủy sinh
không xương sống khác hun khói, có thể đã được làm chín trước
hoặc trong khi hun khói (nhóm 03.05, 03.06, 03.07 và 03.08), động
vật giáp xác, có vỏ, đã nấu chín bằng cách hấp hoặc luộc trong nước
(nhóm 03.06), động vật thân mềm chỉ được chần/trụng nước sôi
(scalding) hoặc các loại sốc nhiệt khác (không cần phải nấu chín),
cần thiết để mở vỏ hoặc cố định động vật thân mềm trước khi vận
chuyển hoặc đông lạnh (nhóm 03.07) và bột thô, bột mịn, viên, chế
biến từ cá, động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thủy
sinh không xương sống khác đã chín (nhóm 03.09).
(3) Đã được chế biến hoặc bảo quản dưới dạng chiết xuất, nước ép hoặc
nước xốt (marinade), chế biến từ trứng cá như trứng cá tầm muối hoặc
các sản phẩm thay thế trứng cá tầm muối, chỉ mới được bao bột hoặc
bao vụn bánh mì, trộn nấm, gia vị (ví dụ, với cả tiêu và muối), v.v....
(4) Được làm đồng nhất mịn và chỉ dùng các sản phẩm trong Chương
này (là thịt, phụ phẩm dạng thịt, tiết, côn trùng, cá hoặc động vật giáp
xác, động vật thân mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống
khác, đã chế biến hoặc bảo quản). Các chế phẩm đồng nhất này có
thể chứa một lượng nhỏ vụn thịt, cá... cũng như một lượng nhỏ thành
phần làm gia vị, chất bảo quản hoặc mục đích khác. Tuy nhiên, chế
phẩm đồng nhất hóa, tự nó, không đủ tiêu chuẩn là một sản phẩm để
phân loại như một chế phẩm trong Chương 16.
Để phân biệt giữa các sản phẩm của Chương 2 và Chương 3 với sản
phẩm của Chương 16, hãy xem phần Chú giải tổng quát của Chương 2
và 3.
Chương này còn gồm các chế phẩm thực phẩm (kể cả các món đã chế
biến) gồm, ví dụ, xúc xích, thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn
trùng, cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thủy
sinh không xương sống khác cùng với rau, spaghetti, nước xốt... với
điều kiện các chế phẩm này chứa trên 20% trọng lượng là xúc xích, thịt,
phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, cá hoặc động vật giáp
xác, động vật thân mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống
khác, hoặc hỗn hợp các sản phẩm này. Trong các trường hợp mà các chế
phẩm này chứa 2 hoặc nhiều sản phẩm kể trên (ví dụ, cả thịt và cá), thì
được phân loại vào Chương 16 thuộc nhóm tương ứng có một thành
phần hay nhiều thành phần chiếm đa số trọng lượng trong chế phẩm.
Trong mọi trường hợp, chỉ xem xét đến trọng lượng thịt, cá... trong chế
phẩm dưới dạng nó đã được chế biến chứ không phải trọng lượng của
sản phẩm tương tự trước khi tạo thành chế phẩm. (Tuy nhiên, cần lưu ý
rằng các sản phẩm được nhồi thuộc nhóm 19.02, nước xốt và các chế
phẩm làm nước sốt, các đồ gia vị và bột canh thuộc nhóm 21.03, súp và
nước xuýt và các chế phẩm làm súp và nước xuýt và các loại chế phẩm
thực phẩm đồng nhất thuộc nhóm 21.04, luôn được phân loại trong các
nhóm đó).
Chương này cũng không bao gồm:
(a) Bột mịn và bột thô, thích hợp dùng làm thức ăn cho người, được chế biến
từ thịt hoặc các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ (kể cả các sản phẩm từ
các động vật biển có vú) (nhóm 02.10) hoặc từ cá (nhóm 03.09) hoặc từ
côn trùng (nhóm 04.10).
(b) Bột mịn, bột thô và viên, không thích hợp dùng làm thức ăn cho người,
được chế biến từ côn trùng (nhóm 05.11), từ thịt (kể cả các sản phẩm
từ động vật biển có vú), từ cá hoặc từ động vật giáp xác, động vật thân
mềm hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống khác (nhóm 23.01).
(c) Các chế phẩm từ thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, cá vv...
dùng làm thức ăn chăn nuôi (nhóm 23.09).
Dược phẩm thuộc Chương 30.
16.01 - Xúc xích và các sản phẩm tương tự làm từ thịt, từ phụ phẩm
dạng thịt sau giết mổ, tiết hoặc côn trùng; các chế phẩm
thực phẩm từ các sản phẩm đó.
Nhóm này bao gồm xúc xích và các sản phẩm tương tự, tức là, các chế
phẩm gồm thịt, phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ (kể cả lòng và
dạ dày) hoặc côn trùng, đã được băm hoặc xay nhỏ, hoặc tiết, được nhồi
vào lòng, dạ dày, bong bóng, da hoặc vỏ bọc tương tự (tự nhiên hoặc
nhân tạo). Tuy nhiên, một số sản phẩm này có thể không có vỏ ngoài,
chỉ được ép lại theo hình đặc trưng của xúc xích như hình trụ hoặc hình
tương tự, có mặt cắt là hình tròn, bầu dục hoặc chữ nhật (có các góc hơi
tròn).
Xúc xích và các sản phẩm tương tự có thể sống hoặc chín, hun khói hoặc
không, và chúng có thể được bổ sung chất béo, tinh bột, gia vị, ớt cay....
Ngoài ra, các chế phẩm này có thể còn có nhiều miếng thịt (ví dụ: cỡ
một miếng) hoặc các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ. Xúc xích và sản
phẩm tương tự vẫn được phân loại trong nhóm này cho dù chúng có hay
không được cắt thành lát hoặc đóng bao bì kín khí.
Sản phẩm thuộc nhóm này có thể kể đến:
(1) Xúc xích và sản phẩm tương tự có nguyên liệu cơ bản là thịt (ví dụ,
xúc xích Frankfurt, Salami).
(2) Xúc xích gan (kể cả làm từ gan gia cầm).
(3) Dồi đen và dồi trắng.
(4) “Andouillettes ” (xúc xích nhỏ làm từ ruột non), xúc xích nhiều gia
vị (saveloy), xúc xích hun khói từ thịt bò, bê, lợn (bologna) và các
chế phẩm khác tương tự.
(5) Pate, thịt xay nhuyễn, giò đông và thịt xay đóng hộp (rillettes), nếu
có vỏ bọc xúc xích hoặc nén theo hình đặc trưng của xúc xích.
Nhóm này còn gồm một số chế phẩm thực phẩm nhất định (kể cả “thức
ăn chế biến sẵn”) từ xúc xích hoặc các sản phẩm tương tự (xem đoạn 3,
Chú giải Tổng quát của Chương này).
(5) Pâtés, meat pastes, galantines and rillettes (potted mince), if put up
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm:
(a) Thịt được nhồi trong bong bóng, lòng hoặc có vỏ ngoài tương tự
(tự nhiên hoặc nhân tạo), nhưng không xay hoặc không băm trước,
ví dụ, thịt mông đùi (ham) và vai cuốn tròn (thường thuộc nhóm
02.10 hoặc 16.02).
(b) Thịt sống, băm hoặc xay nhưng không chứa các thành phần khác,
mặc dù có vỏ bao ngoài (Chương 2).
(c) Các chế phẩm có vỏ bao ngoài nhưng không phải là loại thường
làm vỏ xúc xích, trừ khi các chế phẩm này không có vỏ bao ngoài
như vậy có thể được phân loại trong nhóm này (nhóm 16.02).
(d) Thịt gia cầm chín đã rút xương như thịt gà tây cuốn (nhóm 16.02).
16.02 - Thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết hoặc côn
trùng, đã chế biến hoặc bảo quản khác.
- Chế phẩm đồng nhất
- Từ gan động vật
- Từ gia cầm thuộc nhóm 01.05:
- - Từ gà tây
- - Từ gà thuộc loài Gallus domesticus
- - Loại khác
- Từ lợn:
- - Thịt mông đùi (ham) và các mảnh của chúng
- - Thịt vai nguyên miếng và các mảnh của chúng
- - Loại khác, kể cả các hỗn hợp
- Từ động vật họ trâu bò
- Loại khác, kể cả sản phẩm chế biến từ tiết
động vật
Nhóm này bao gồm tất cả thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết
hoặc côn trùng đã chế biến và bảo quản thuộc Chương này, trừ xúc xích
và sản phẩm tương tự (nhóm 16.01), các sản phẩm chiết xuất từ thịt và
nước thịt ép (nhóm 16.03).
Nhóm này bao gồm:
(1) Thịt hoặc các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ đã luộc chín (không
bằng biện pháp trụng/chần nước sôi hoặc xử lý tương tự - xem
phần Chú giải tổng quát của Chương 2), hấp, nướng, rán, quay
hoặc phương pháp làm chín khác.
(2) Patê, thịt xay nhuyễn, giò đông và thịt xay đóng hộp miễn là chúng
không đáp ứng các yêu cầu để được phân loại trong nhóm 16.01
như xúc xích hoặc các sản phẩm tương tự.
(3) Thịt và phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ đã chế biến hoặc bảo quản
bằng các phương pháp khác không nêu trong Chương 2 hoặc nhóm
05.04, kể cả các sản phẩm này chỉ được bao bột hoặc vụn bánh mì,
trộn nấm củ hoặc thêm gia vị (ví dụ, với cả tiêu và muối) hoặc
được làm đồng nhất mịn (xem Mục (4), phần Chú giải tổng quát
của Chương này).
(4) Các chế phẩm từ tiết, trừ dồi đen (dồi tiết) và sản phẩm tương tự
thuộc nhóm 16.01.
(5) Chế phẩm thực phẩm (kể cả “ thức ăn chế biến sẵn”) chứa trên
20% trọng lượng là thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết
hoặc côn trùng (xem phần Chú giải tổng quát của Chương này).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Sản phẩm từ bột nhào (pasta) ( ví dụ: bánh bao ý…) nhồi thịt
hoặc phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ (nhóm 19.02).
(b) Nước xốt và các chế phẩm làm nước xốt, các loại gia vị hỗn
hợp và bột canh hỗn hợp (nhóm 21.03).
(c) Súp và nước xuýt và các chế phẩm làm súp và nước xuýt và các
chế phẩm thực phẩm tổng hợp đồng nhất (nhóm 21.04).
(2) Pâtés, meat pastes, galantines and rillettes (potted mince),
16.03 - Sản phẩm chiết xuất và nước ép từ thịt, cá hoặc từ động vật
giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không
xương sống khác.
Mặc dù thu được từ các sản phẩm khác nhau, nhưng các sản phẩm chiết
xuất của nhóm này có đặc tính vật lý (hình dạng, mùi, vị vv...) và thành
phần hoá học tương tự nhau.
Nhóm này gồm:
(1) Sản phẩm chiết xuất từ thịt. Các sản phẩm này là các chất cô đặc
thường được chiết ra bằng cách luộc hay hấp thịt dưới áp suất và
cô đặc lượng chất lỏng thu được sau khi đã loại bỏ chất béo bằng
cách lọc hoặc li tâm. Các sản phẩm chiết xuất có thể ở dạng lỏng
hay đặc tuỳ theo mức độ cô đặc.
(2) Nước thịt ép thu được bằng cách ép thịt sống.
(3) Chiết xuất từ cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm
hoặc động vật thủy sinh không xương sống khác. Chiết xuất từ
cá thu được, ví dụ, bằng cách cô đặc nước tinh chiết từ thịt của cá
trích nước lạnh hoặc các loại cá khác hoặc từ bột thô của cá (đã
hoặc không khử chất béo); trong quá trình sản xuất, tất cả hoặc một
phần của các chất có mùi tanh cá (ví dụ, vị trimethilamine trong
trường hợp cá biển) có thể bị khử và vì vậy các sản phẩm chiết
xuất này có các đặc tính giống với đặc tính của thịt chiết xuất.
(4) Nước ép thu được từ việc ép cá, động vật giáp xác, động vật thân
mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống khác còn ở dạng
thịt sống.
Tất cả các sản phẩm này có thể chứa muối hoặc các chất khác được bổ
sung một lượng vừa đủ để đảm bảo cho việc bảo quản.
Các chiết xuất này được dùng để chế biến một số chế phẩm thực phẩm
như súp (cô đặc hay không cô đặc) và nước xốt. Nước ép chủ yếu dùng
làm thức ăn kiêng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Súp và nước xuýt và các chế phẩm làm súp và nước xuýt và các
chế phẩm thực phẩm tổng hợp đồng nhất chứa chiết xuất của thịt,
cá vv… (kể cả súp và nước xuýt ở dạng viên hoặc hạt lựu) mà các
sản phẩm này còn chứa các chất khác như chất béo, chất kết dính
(gelatin) và thường có tỉ lệ muối lớn (nhóm 21.04).
(b) Viên cô đặc làm từ cá hoặc động vật biển có vú thuộc nhóm 23.09.
(c) Dược phẩm có chứa bất cứ sản phẩm nào thuộc nhóm này được
dùng đơn thuần như một phương tiện hỗ trợ cho các chất dược
phẩm (Chương 30).
(d) Chất peptone và peptonnate (nhóm 35.04).
16.04 - Cá đã được chế biến hoặc bảo quản; trứng cá tầm muối và
sản phẩm thay thế trứng cá tầm muối chế biến từ trứng cá.
- Cá, nguyên con hoặc dạng miếng, nhưng chưa cắt nhỏ:
1604.11 - - Từ cá hồi
1604.12 - - Từ cá trích nước lạnh
1604.13 - - Từ cá trích dầu, cá trích xương và cá trích kê hoặc cá
trích cơm
1604.14 - - Từ cá ngừ đại dương, cá ngừ vằn và cá ngừ ba chấm
1604.15 - - Từ cá nục hoa
1604.16 - - Từ cá cơm (cá trỏng)
1604.17 - - Cá chình
1604.18 - - Vây cá mập
1604.19 - - Loại khác
1604.20 - Cá đã được chế biến hoặc bảo quản cách khác
- Trứng cá tầm muối và sản phẩm thay thế trứng cá tầm
muối:
1604.31 - - Trứng cá tầm muối
1604.32 - - Sản phẩm thay thế trứng cá tầm muối
Nhóm này gồm:
(1) Cá được luộc, hấp, nướng, chiên, quay hoặc làm chín bằng các
cách khác; tuy nhiên phải lưu ý là cá hun khói đã được làm chín
trước hoặc trong quá trình hun khói vẫn được phân loại trong
nhóm 03.05 miễn là nó chưa được chế biến bằng bất cứ một cách
nào khác.
(2) Cá được chế biến hoặc bảo quản trong dầu, dấm .v.v; cá dầm nước
xốt (cá dầm trong rượu, dấm vv… có bổ sung gia vị hoặc các thành
phần khác); xúc xích cá; cá xay nhuyễn; sản phẩm có tên “cá trỏng
xay nhuyễn” và “cá hồi xay nhuyễn” (cá xay nhuyễn được làm từ
các loại cá này có bổ sung chất béo)...
(3) Cá, và các bộ phận của cá, đã chế biến hoặc bảo quản bằng các
phương pháp khác miễn là nó không thuộc các nhóm từ 03.02 đến
03.05, ví dụ, phi-lê cá chỉ bao bột hoặc vụn bánh mì, bọc trứng cá
và gan cá đã chế biến, cá đồng nhất mịn (xem Mục (4) phần Chú
giải tổng quát của Chương này) và cá đã khử trùng hoặc tiệt trùng.
(4) Một số chế phẩm thực phẩm có chứa cá (kể cả “ món ăn chế biến
sẵn”) (xem phần Chú giải tổng quát của Chương này).
(5) Trứng cá tầm muối. Sản phẩm này được chế biến từ bọc trứng cá
tầm, loại cá sống ở sông của một số vùng (Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Italia,
Alaska và Nga); chủ yếu là các loại cá tầm có tên Beluga, Schip,
Ossiotr và Sewruga. Trứng cá tầm muối thường ở dạng khối các
hạt trứng nhỏ, mềm có đường kính từ 2 đến 4 mm và có màu từ
xám bạc đến đen ngả xanh lục; nó có mùi đặc trưng và vị hơi mặn.
Trứng cá tầm muối có thể còn được làm dưới dạng nén, tức là cô
lại thành dạng nhuyễn, cũng có khi thành bánh nhỏ hình trụ hoặc
đựng trong các hộp nhỏ.
(6) Các sản phẩm thay thế trứng cá tầm muối. Các sản phẩm này được
dùng như trứng cá tầm muối, nhưng được chế biến từ trứng các
loại cá khác không phải là cá tầm (như cá hồi, cá chép, cá chó, cá
ngừ đại dương, cá đối, cá tuyết, cá vây tròn), trứng cá được rửa
sạch, tẩy các màng dính, sau đó ướp muối và cũng có khi ép hoặc
làm khô. Các loại trứng cá này có thể cho thêm gia vị hoặc chất
màu.
Tất cả các sản phẩm này vẫn được phân loại vào nhóm này bất kể được
đóng hay không đóng trong bao bì kín khí.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Bọc trứng cá, tức là, trứng cá và sẹ, chưa được chế biến hoặc
bảo quản hoặc đã được chế biến hoặc bảo quản chỉ theo các
phương pháp ghi trong Chương 3 (Chương 3) trừ loại thích
hợp dùng ngay như trứng cá tầm muối và sản phẩm thay thế
trứng cá tầm muối.
(b) Sản phẩm chiết xuất và nước ép từ cá (nhóm 16.03).
(c) Cá được nhồi trong sản phẩm từ bột nhào (pasta) (nhóm
(d) Nước xốt và các chế phẩm làm nước xốt, đồ gia vị hỗn hợp và
bột canh hỗn hợp (nhóm 21.03).
(e) Súp và nước xuýt và chế phẩm để làm súp và nước xuýt và các chế
phẩm thực phẩm tổng hợp đồng nhất (nhóm 21.04).
16.05 - Động vật giáp xác, động vật thân mềm và động vật thuỷ sinh
không xương sống khác, đã được chế biến hoặc bảo quản.
- Cua, ghẹ
- Tôm shrimp và tôm prawn:
- - Không đóng bao bì kín khí
- - Loại khác
- Tôm hùm
- Động vật giáp xác khác
- Động vật thân mềm:
- - Hàu
- - Điệp, kể cả điệp nữ hoàng
- - Vẹm (Mussels)
- - Mực nang và mực ống
- - Bạch tuộc
- - Nghêu (ngao), sò
- - Bào ngư
- - Ốc, trừ ốc biển
- - Loại khác
- Động vật thủy sinh không xương sống khác:
- - Hải sâm
- - Cầu gai
- - Sứa
- - Loại khác
Chú giải của nhóm 16.04 liên quan đến các cách thức khác nhau mà các
sản phẩm thuộc nhóm này có thể được chế biến hoặc bảo quản, với
những sửa đổi chi tiết thích hợp, được áp dụng cho động vật giáp xác,
động vật thân mềm hoặc các động vật thuỷ sinh không xương sống.
Động vật giáp xác và động vật thân mềm được chế biến và bảo quản
thông dụng nhất gồm cua, ghẹ, tôm prawn, tôm hùm, tôm (crawfish),
tôm sông, vẹm, bạch tuộc, mực ống và ốc. Động vật thuỷ sinh không
xương sống chủ yếu khác, được chế biến và bảo quản, thuộc nhóm này
là cầu gai, hải sâm và sứa.
Tuy nhiên, nhóm này loại trừ các loài giáp xác, còn nguyên vỏ, đã được
hấp chín hoặc luộc chín trong nước (có hoặc không thêm một lượng nhỏ
chất bảo quản hóa học tạm thời) (nhóm 03.06) và động vật thân mềm
chỉ được trụng/chần nước sôi (scalding) hoặc các kiểu sốc nhiệt khác
(không cần phải nấu chín), cần thiết để mở vỏ hoặc cố định động vật
thân mềm trước khi vận chuyển hoặc đông lạnh (nhóm 03.07).
(bêches-de-mer) and jellyfish.
Chương 17
Đường và các loại kẹo đường
Chú giải.
Chương này không bao gồm:
(a) Các loại kẹo đường chứa ca cao (nhóm 18.06);
(b) Các loại đường tinh khiết về mặt hoá học (trừ sucroza,
lactoza, maltoza, glucoza và fructoza) hoặc các sản phẩm
khác của nhóm 29.40; hoặc
(c) Thuốc hoặc các sản phẩm khác của Chương 30.
Chú giải phân nhóm.
1.- Theo mục đích của các phân nhóm 1701.12, 1701.13 và 1701.14,
khái niệm "đường thô" có nghĩa là các loại đường có hàm lượng
sucroza tính theo khối lượng, ở thể khô, tương ứng với kết quả dưới
99,5o trên phân cực kế.
2.- Phân nhóm 1701.13 chỉ bao gồm đường mía, thu được không qua
quá trình ly tâm, trong đó hàm lượng đường sucroza tính theo khối
lượng, ở thể khô, tương ứng với kết quả trên phân cực kế từ 69o đến
dưới 93o. Sản phẩm này chỉ chứa các vi tinh thể anhedral tự nhiên, có
hình dạng không đều, không thể quan sát được bằng mắt thường,
được bao phủ bằng phế liệu từ mật mía và các thành phần khác của
cây mía đường.
TỔNG QUÁT
Chương này không chỉ gồm các loại đường (ví dụ, sucroza, lactoza,
maltose, glucoza và fructoza), mà còn gồm xirô đường, mật ong nhân
tạo, đường caramen, mật đường từ quá trình chiết xuất hoặc tinh chế
đường và kẹo đường. Đường và mật đường ở dạng rắn thuộc Chương
này có thể pha thêm hương liệu hoặc chất màu (ví dụ, axit citric hoặc
vani) hoặc chất làm ngọt nhân tạo (ví dụ, aspartame hoặc stevia), miễn là
chúng giữ được đặc tính nguyên bản là đường hoặc mật đường.
Chương này không bao gồm:
(a) Kẹo đường có pha cacao hoặc sôcôla (trừ sôcôla trắng) ở bất kỳ tỷ
lệ nào và bột cacao được làm ngọt (nhóm 18.06).
(b) Chế phẩm thực phẩm được làm ngọt của các Chương 19, Chương
20, Chương 21 hoặc Chương 22.
(c) Thức ăn gia súc được làm ngọt (nhóm 23.09).
(d) Đường tinh khiết về mặt hoá học (trừ đường sucroza, lactoza,
maltose, glucoza và fructoza), và dạng dung dịch có nước của
chúng (nhóm 29.40).
(e) Dược phẩm có đường (Chương 30).
17.01 - Đường mía hoặc đường củ cải và đường sucroza tinh khiết về
mặt hoá học, ở thể rắn (+).
- Đường thô chưa pha thêm hương liệu hoặc chất màu:
1701.12 - - Đường củ cải
1701.13 - - Đường mía đã nêu trong Chú giải phân nhóm 2 của
Chương này
1701.14 - - Các loại đường mía khác
- Loại khác:
1701.91 - - Đã pha thêm hương liệu hoặc chất màu
1701.99 - - Loại khác
Đường mía thu được từ nước ép của thân cây mía. Đường củ cải thu
được từ nước ép được chiết xuất từ củ cây củ cải đường.
Đường mía hoặc đường củ cải thô hoặc chưa tinh luyện có dạng kết tinh
hoặc ở thể rắn khác màu nâu, màu sắc thay đổi do hàm lượng của tạp
chất. Hàm lượng đường sucroza tính theo trọng lượng, ở thể khô dưới
99,50 đọc kết quả tương ứng trên phân cực kế (xem Chú giải phân nhóm
1). Các loại đường này thường được dùng để tinh chế thành các sản
phẩm đường tinh luyện. Tuy nhiên, đường thô cũng có thể có độ tinh
khiết ở mức độ cao phù hợp cho người sử dụng mà không cần tinh chế.
Đường tinh luyện của mía hoặc của củ cải đường được sản xuất bằng
cách tinh chế đường thô. Chúng được sản xuất dưới dạng tinh thể màu
trắng và được đưa ra thị trường ở nhiều mức độ tinh khiết khác nhau
hoặc dưới dạng viên, bánh, miếng hoặc thanh hoặc các mảnh được đúc,
cưa hoặc cắt.
Ngoài các loại đường thô hoặc tinh luyện nêu trên, nhóm này cũng bao
gồm đường nâu có chứa đường trắng trộn với một lượng nhỏ, ví dụ,
đường caramel hay nước mật, và các viên đường gồm các tinh thể đông
kết lớn được sản xuất bằng quá trình đông kết chậm của dung dịch
đường cô đặc.
Lưu ý rằng đường của mía và của củ cải đường thuộc nhóm này chỉ khi
ở thể rắn (kể cả bột); các loại đường này có thể đã được thêm hương liệu
hoặc chất màu.
Xirô đường mía và đường củ cải, bao gồm các dung dịch có nước của
đường, được phân loại vào nhóm 17.02 khi không được thêm chất
hương liệu hoặc chất màu và ngược lại thì thuộc nhóm 21.06.
Ngoài ra, nhóm này không bao gồm các chế phẩm ở thể rắn (kể cả hạt
nhỏ hoặc bột) mà đã mất đặc tính của đường, loại sử dụng để làm đồ
uống (nhóm 21.06).
Nhóm này cũng bao gồm đường sucroza tinh khiết về mặt hóa học ở thể
rắn, bất kể nguồn gốc của chúng. Đường sucroza (không kể đường
sucroza tinh khiết về mặt hoá học) thu được từ các nguồn gốc khác
không phải là mía hoặc củ cải đường bị loại trừ (nhóm 17.02).
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 1701.12, 1701.13 và 1701.14
Đường mía thô trong thương mại thường chứa hơn 0.1% đường nghịch
chuyển trong khi đó hàm lượng đường nghịch chuyển của đường củ cải
thô thường thấp hơn 0.1%. Hai loại đường thô này cũng có thể phân biệt
với nhau bằng sự khác biệt về mùi sinh ra sau khi để qua đêm các mẫu
dưới dạng dung dịch có nước đóng trong vật chứa có nút.
17.02 - Đường khác, kể cả đường lactoza, mantoza, glucoza và
fructoza, tinh khiết về mặt hoá học, ở thể rắn; xirô đường
chưa pha thêm hương liệu hoặc chất màu; mật ong nhân
tạo, đã hoặc chưa pha trộn với mật ong tự nhiên; đường
- Lactoza và xirô lactoza:
- - Có hàm lượng lactoza khan từ 99% trở lên, tính
theo khối lượng chất khô
- - Loại khác
- Đường từ cây thích (maple) và xirô từ cây thích
- Glucoza và xirô glucoza, không chứa hoặc có chứa
hàm lượng fructoza dưới 20% tính theo khối lượng ở
thể khô
- Glucoza và xirô glucoza, chứa hàm lượng fructoza ít
nhất là 20% nhưng dưới 50% tính theo khối lượng ở
thể khô, trừ đường nghịch chuyển
- Fructoza tinh khiết về mặt hoá học
- Fructoza và xirô fructoza khác, chứa hàm lượng
fructoza trên 50% tính theo khối lượng ở thể khô, trừ
đường nghịch chuyển
- Loại khác, kể cả đường nghịch chuyển và đường
khác và hỗn hợp xirô đường có chứa hàm lượng
fructoza là 50% tính theo khối lượng ở thể khô
Nhóm này bao gồm các loại đường khác ở thể rắn, xirô đường cũng như
mật ong nhân tạo và đường caramen.
(A) CÁC LOẠI ĐƯỜNG KHÁC
Phần này bao gồm đường, trừ đường thuộc nhóm 17.01 hoặc đường
tinh khiết về mặt hoá học thuộc nhóm 29.40, ở thể rắn (kể cả dạng bột),
đã hoặc chưa được thêm hương liệu hoặc chất màu. Các loại đường chủ
yếu thuộc nhóm này là:
(1) Đường lactoza (còn gọi là đường sữa) (C12H22O11), đường này có
trong sữa và được sản xuất ở quy mô thương mại từ nước sữa
(whey). Nhóm này gồm cả đường lactoza mang tính chất thương
mại cũng như lactoza tinh khiết về mặt hoá học. Các sản phẩm này
phải chứa hàm lượng lactoza, được ép thành đường lactoza khan,
trên 95% tính theo trọng lượng chất khô. Với mục đích tính toán tỉ
trọng đường lactoza trong một sản phẩm, khái niệm "chất khô"
được hiểu là không bao gồm cả nước ở trạng thái tự do và nước kết
tinh. Sản phẩm thu được từ whey và chứa hàm lượng lactoza, được
ép thành đường lactoza khan, từ 95% trở xuống, tính theo trọng
lượng ở thể khô, bị loại trừ (thường thuộc nhóm 04.04).
Khi được tinh chế, thì đường lactoza thương phẩm ở dạng đường cát
kết tinh màu trắng và hơi ngọt. Đường lactoza tinh khiết về mặt hoá
học, khan hoặc ướt, ở dạng tinh thể rắn, không màu, hấp thụ mùi.
Đường lactoza được dùng rộng rãi, cùng với sữa, trong chế phẩm
làm thức ăn cho trẻ em; đường lactoza còn dùng làm bánh kẹo, mứt
hoặc dược phẩm.
(2) Đường nghịch chuyển, thành phần chính của mật ong tự nhiên.
Được chế biến ở quy mô thương mại bằng sự thủy phân đường
sucroza tinh chế hoà tan và bao gồm tỷ lệ đường glucoza và fructoza
bằng nhau tính theo trọng lượng. Đường này có thể ở thể rắn hoặc ở
dạng xirô đặc (xem phần B). Người ta sử dụng đường nghịch chuyển
để bào chế dược phẩm, làm bánh mì, sản xuất trái cây đóng hộp và
mật ong nhân tạo và trong ngành công nghiệp sản xuất bia.
(3) Đường glucoza, thường có tự nhiên trong trái cây và trong mật
ong. Đường glucoza cùng với tỉ lệ bằng đường fructoza thì tạo
thành đường nghịch chuyển.
Nhóm này bao gồm đường dextrose (đường glucoza tinh khiết về
mặt hoá học) và đường glucoza thương mại.
Đường dextroza (C6H12O6) là đường dạng bột kết tinh trắng.
Đường này dùng trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm.
Đường glucoza thương phẩm được thu được từ quá trình thuỷ phân
tinh bột với axit và/hoặc enzyme. Ngoài dextrose ra, đường glucoza
luôn chứa một tỉ lệ thay đổi 2-, 3- và nhiều chất polysaccharide
khác (maltose, maltotriose...). Lượng đường khử, biểu thị như
đường dextrose ở dạng chất khô, từ 20% trở lên. Đường này thường
ở dạng sệt, không màu (xirô đường glucoza, xem phần (B)) hoặc
thành miếng hoặc bánh (đường glucoza khối) hoặc bột vô định hình
(amorphous powder), dùng chủ yếu trong công nghiệp thực phẩm,
sản xuất bia, lên men thuốc lá và dược phẩm.
(4) Đường fructoza (C6H12O6) có nhiều, với glucoza, trong các loại
quả ngọt và trong mật ong. Người ta sản xuất đường fructoza
thương phẩm từ đường glucoza thương phẩm (ví dụ, xirô ngô), từ
đường sucroza hoặc bằng thủy phân chất inulin, một chất chủ yếu
được tìm thấy trong rễ cây hoa huệ và cây a-ti-sô Jerusalem.
Đường fructoza ở dạng đường cát kết tinh, hơi trắng hoặc ở dạng
xirô sệt (xem phần (B)); đường fructoza ngọt hơn đường thường
(sucroza) và đặc biệt thích hợp cho những người mắc bệnh đái tháo
đường. Nhóm này bao gồm cả đường fructoza thương phẩm cũng
như đường fructoza tinh khiết về mặt hoá học.
(5) Đường sucroza, thu được từ các nguồn không phải là củ cải
đường và mía đường. Quan trọng nhất là đường từ cây thích, thu
được từ nhựa của cây thích, chủ yếu là loại cây thích saccharum và
Acer nigrum mọc chủ yếu ở Canada và vùng Đông Bắc nước Mỹ.
Nhựa thường được cô đặc và kết tinh không qua tinh chế nhằm giữ
lại một số chất không phải là đường tạo nên hương vị đặc biệt của
nó. Nó cũng được bán ra thị trường ở dạng xirô (xem Phần (B)).
Các loại xirô khác của đường sucroza (xem Phần (B)) thu được từ
cây cao lương ngọt (sorghum vulgare var. sacchratum), hạt carob,
một số loại cọ,...
(6) Đường malto- dextrin (hoặc dextri-maltoses), thu được theo quy
trình sản xuất tương tự đường glucoza thương phẩm. Đường malto-
dextrin chứa một tỉ lệ không cố định đường maltose và chất
polysaccharide khác. Tuy nhiên, chúng bị thủy phân ít hơn và do đó
có hàm lượng đường khử thấp hơn đường glucoza thương phẩm.
Nhóm này chỉ bao gồm những sản phẩm có lượng đường khử, biểu
thị như đường dextrose ở dạng chất khô, trên 10% ( nhưng dưới
20%). Các sản phẩm có lượng đường khử không vượt quá 10%
thuộc nhóm 35.05. Đường malto-dextrin ở dạng thông dụng nhất là
bột có màu trắng, nhưng chúng cũng có trên thị trường ở dạng xirô
(xem Phần (B)). Chúng dùng chủ yếu làm thức ăn cho trẻ em và
thức ăn kiêng với hàm lượng calo thấp, làm chất thơm hoặc chất
màu thực phẩm, làm chất mang dùng trong công nghiệp dược phẩm.
(7) Đường maltoza (C12H22O11) được sản xuất ở quy mô công nghiệp
từ sự thủy phân tinh bột với chất diastase của malt và được sản
xuất ở dạng bột kết tinh có màu trắng. Nó được dùng trong công
nghiệp sản xuất rượu bia. Nhóm này gồm đường malto thương
phẩm cũng như đường maltoza tinh khiết về mặt hoá học.
XIRÔ ĐƯỜNG
Phần này gồm các loại xirô của tất cả các loại đường (kể cả xirô lactoza
cũng như các dung dịch chứa nước trừ dung dịch chứa nước của đường
tinh khiết về mặt hoá học thuộc nhóm 29.40), với điều kiện chưa được
thêm hương liệu hoặc chất màu (xem phần Chú giải của nhóm 21.06).
Ngoài xirô được đề cập ở phần A trên đây (tức là xirô glucoza (tinh
bột)), xirô fructoza, xirô malto-dextrin, xirô đường nghịch chuyển cũng
như xirô sucroza), nhóm này gồm:
(1) Xiro đường (simple syrup) thu được từ sự hoà tan các loại đường
của Chương này trong nước.
(2) Nước ép và xirô thu được trong quá trình chiết xuất đường từ mía
đường, củ cải đường.... Các loại nước này có thể chứa tạp chất như:
chất pectin, chất albuminoidal, muối khoáng …
(3) Xirô vàng, dùng làm đồ uống hoặc làm thức ăn có chứa đường
sucroza và đường nghịch chuyển. Xirô vàng được chế biến từ phần
xirô còn lại trong quá trình tinh chế đường sau khi kết tinh và tách
đường đã tinh chế, hoặc chế biến từ đường mía hay đường củ cải,
hoặc bằng cách chuyển một phần đường sucroza hoặc thêm đường
nghịch chuyển.
(C) MẬT ONG NHÂN TẠO
Thuật ngữ “mật ong nhân tạo” dùng cho các hỗn hợp pha trộn đường
sucroza, đường glucoza hoặc đường nghịch chuyển, thường đã thêm
hương liệu hoặc chất màu và chế biến để giống mật ong tự nhiên. Nhóm
này cũng bao gồm cả các hỗn hợp pha trộn mật ong tự nhiên với mật
ong nhân tạo.
(D) ĐƯỜNG CARAMEN
Đường caramen là chất có màu nâu, không kết tinh được và có mùi
thơm. Nó có thể ở dạng chất lỏng ít nhiều giống như xirô, hoặc dạng
rắn, thường ở dạng bột.
Chúng ít nhiều thu được từ sự nhiệt phân kéo dài của đường, ở nhiệt độ
từ 1200C đến 1800C, từ các loại đường (thường là glucoza hoặc sucroza)
hoặc từ mật đường.
Tuỳ theo quy trình chế biến, toàn bộ loạt sản phẩm thu được lần lượt là
đường đã caramen hóa (hoặc mật đường) với hàm lượng đường thường
là cao (khoảng chừng 90%), tính theo sản phẩm khô, đến đường
caramen “màu”, với hàm lượng đường rất thấp.
Đường hoặc mật đường đã caramen hóa được dùng làm hương liệu, nhất
là trong món tráng miệng có đường, kem hoặc bánh ngọt. Màu caramen,
có được là do sự chuyển biến của đường thành melanoidin (chất màu) ở
nhiệt độ tương đối cao, được dùng như chất màu, ví dụ, sản xuất bánh
bích quy, trong công nghiệp sản xuất bia rượu và chế biến một số đồ
uống không có cồn.
17.03 - Mật thu được từ chiết xuất hoặc tinh chế đường (+).
- Mật mía
- Loại khác
Các loại mật thuộc nhóm này chỉ thu được từ kết quả của việc chiết xuất
hoặc tinh chế đường. Mật thu được thường là sản phẩm phụ thông
thường từ việc chiết xuất hoặc tinh chế đường mía hoặc đường củ cải
hoặc từ việc sản xuất đường fructoza từ ngô. Đó là chất nhớt có màu nâu
hoặc hơi đen chứa một lượng đáng kể đường không thể dễ dàng làm kết
tinh. Tuy nhiên, nó có thể được làm thành bột.
Mật củ cải đường thu được như ở trên thường không ăn được, nhưng
một số dạng đã qua tinh chế của mật mía và mật ngô thích hợp dùng làm
thức ăn cho người và được bán như là mật đường hoặc như xirô để ăn.
Công dụng chủ yếu của các loại mật là dùng làm nguyên liệu thô để
chưng cất rượu và đồ uống có cồn (ví dụ, rượu rum chế biến từ mật mía
đường), hoặc chế biến thức ăn cho gia súc hay các chất thay thế cà phê.
Nó cũng đôi khi được dùng để chiết xuất đường.
Các loại mật thuộc nhóm này có thể bị khử màu, tạo màu hoặc tạo mùi.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1703.10
Mật mía có thể phân biệt với các loại mật khác của nhóm 17.03 dựa trên
mùi và thành phần hoá học.
17.04 - Các loại kẹo đường (kể cả sô cô la trắng), không chứa ca cao.
- Kẹo cao su, đã hoặc chưa bọc đường
- Loại khác
Nhóm này bao gồm hầu hết các chế phẩm đường có trên thị trường ở thể
rắn hoặc thể bán rắn, thường thích hợp để sử dụng ngay và gọi chung là
mứt kẹo, bánh kẹo hoặc kẹo.
Nhóm này có thể kể đến:
(1) Kẹo cao su có đường (kể cả kẹo cao su được làm ngọt và các loại
tương tự).
(2) Kẹo cứng (kể cả kẹo có chiết xuất từ malt).
(3) Caramen, kẹo cao su (cachou), kẹo đường, kẹo nougat, kẹo mềm
(fondant), kẹo hạnh nhân, kẹo Turkish delight.
(4) Bánh hạnh nhân.
(5) Các chế phẩm ở dạng kẹo viên ngậm hoặc kẹo chống ho đã đóng
gói, chủ yếu làm bằng đường (có hoặc không có thêm thực phẩm
khác như gelatin, tinh bột hoặc bột) và hương liệu (kể cả các chất
có dược tính, như cồn benzyl, mentol, dầu bạch đàn và dầu thơm
tolu). Tuy nhiên, viên kẹo ngậm hoặc kẹo chống ho có chứa chất
dược tính, trừ hương liệu, thuộc Chương 30, với điều kiện tỉ lệ
các chất này trong mỗi viên kẹo ngậm hoặc kẹo chống ho có thể
dùng cho mục đích phòng bệnh hoặc chữa bệnh.
(6) Sôcôla trắng gồm đường, bơ cacao, sữa bột và hương liệu, nhưng
chứa một lượng rất ít cacao (bơ cacao không coi như cacao).
(7) Chiết xuất từ cam thảo (bánh, khối, que, viên...) chứa trên 10%
trọng lượng là đường sucroza. Tuy nhiên, khi được đóng gói ở
dạng kẹo (có hoặc không có hương liệu), chiết xuất cam thảo thuộc
nhóm này không tính đến tỷ lệ đường.
(8) Thạch trái cây và bột trái cây nhão được đóng gói ở dạng kẹo đường.
(9) Bột nhão từ đường và chứa một ít hoặc không có chất béo và thích
hợp không những dùng trực tiếp làm mứt kẹo của nhóm này, mà
còn làm nhân của các sản phẩm thuộc nhóm này hoặc các nhóm
khác, ví dụ:
(a) Bột nhão làm kẹo frondant được chế biến từ đường sucroza,
xirô sucroza hoặc xirô glucoza hoặc xirô đường nghịch
chuyển có hoặc không có hương liệu, dùng sản xuất kẹo mềm
(fondant), và làm nhân trong kẹo hoặc sôcôla...
(b) Bột nhão làm kẹo nougat, là hỗn hợp có khí của đường, nước
và chất tạo keo (ví dụ, lòng trắng trứng) và đôi khi thêm một
lượng nhỏ chất béo, có hoặc không có thêm quả hạch (nut),
quả hoặc các sản phẩm thực vật khác, dùng để sản xuất kẹo
nougat và làm nhân trong sôcôla, ...
(c) Bột hạnh nhân nhão, chế biến chủ yếu từ hạnh nhân và
đường, dùng chủ yếu để sản xuất bánh hạnh nhân.
(10) Các chế phẩm làm từ mật ong tự nhiên được đóng gói dưới dạng
kẹo đường (ví dụ: “halva”).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Chiết xuất từ cam thảo (không được đóng gói như mứt kẹo) chứa
không quá 10% hàm lượng đường sucroza tính theo trọng lượng
(nhóm 13.02).
(b) Chế phẩm đường chứa cacao (nhóm 18.06). (Với mục đích này bơ
cacao không được coi như cacao).
(c) Các chế phẩm dùng làm thức ăn được làm ngọt như rau, quả, vỏ
trái cây... được bảo quản bằng đường (nhóm 20.06) và mứt, thạch
trái cây... (nhóm 20.07).
(d) Kẹo, kẹo cao su và các sản phẩm tương tự (đặc biệt là dùng cho
người bệnh đái tháo đường) có chứa chất làm ngọt tổng hợp (ví dụ,
chất sorbitol) thay thế đường; bột nhão từ đường, có thêm chất béo
với tỉ lệ tương đối lớn và, đôi khi, có sữa hoặc quả hạch (nut)
không dùng trực tiếp làm mứt, kẹo (nhóm 21.06).
(e) Dược phẩm thuộc Chương 30.
Chương 18
Ca cao và các chế phẩm từ ca cao
Chú giải.
1.- Chương này không bao gồm:
(a) Chế phẩm thực phẩm có hàm lượng trên 20% tính theo khối
lượng là xúc xích, thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ,
tiết, côn trùng, cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm
hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống khác, hoặc hỗn
hợp bất kỳ của các loại trên (Chương 16);
(b) Các chế phẩm thuộc các nhóm 04.03, 19.01, 19.02, 19.04,
19.05, 21.05, 22.02, 22.08, 30.03 hoặc 30.04..
2.- Nhóm 18.06 bao gồm các loại kẹo đường có chứa ca cao và các
loại chế phẩm thực phẩm khác chứa ca cao, trừ các chế phẩm
thuộc các nhóm đã ghi trong Chú giải 1 Chương này.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm ca cao (kể cả hạt ca cao) ở tất cả các dạng, bơ ca
cao, chất béo và dầu ca cao và các chế phẩm có chứa ca cao (với bất cứ
tỉ lệ nào), trừ:
(a) Sữa chua và các sản phẩm khác thuộc nhóm 04.03.
Sôcôla trắng (nhóm 17.04).
Các chế phẩm thực phẩm từ bột, tấm, bột thô, tinh bột hoặc chiết
xuất malt, có lượng cacao dưới 40% tính theo trọng lượng sau khi
đã khử toàn bộ chất béo, và các chế phẩm thực phẩm của hàng hóa
thuộc các nhóm từ 04.01 đến 04.04 có chứa lượng cacao dưới 5%
tính theo trọng lượng sau khi đã khử toàn bộ chất béo, thuộc
nhóm 19.01.
(d) Ngũ cốc rang hoặc nổ (swelled) có chứa lượng ca cao không quá
6% tính theo trọng lượng sau khi đã khử toàn bộ chất béo (nhóm
(e) Bánh bột nhào (pastry), bánh ga tô (cake), bánh quy và các loại
bánh khác, có chứa ca cao (nhóm 19.05).
(f) Kem lạnh và sản phẩm ăn được tương tự khác, có chứa một tỷ lệ
ca cao bất kỳ (nhóm 21.05).
(g) Đồ uống, có hoặc không có cồn (ví dụ: rượu cacao) có chứa ca cao
và uống được ngay (Chương 22).
(h) Thuốc (nhóm 30.03 hoặc 30.04).
Chương này cũng không bao gồm chất theobromine và alkaloid chiết
xuất từ ca cao (nhóm 29.39).
(g) Beverages, non-alcoholic or alcoholic (e.g., “crème de cacao”),
18.01 - Hạt ca cao, đã hoặc chưa vỡ mảnh, sống hoặc đã rang.
Hạt ca cao là các hạt có nhiều (25-80) trong quả (cocoa-pod) của cây ca
cao (Theobroma cacao). Hạt ca cao có hình trứng, phẳng, thường có màu
tím hoặc hơi đỏ. Hạt ca cao gồm có phần vỏ ngoài cứng, giòn và dễ vỡ và
phần vỏ lụa trong rất mỏng có màu trắng mỡ bọc lấy lõi hạt và chia lõi hạt
ra thành nhiều phần.
Để giảm bớt vị đắng, tăng thêm hương vị đặc biệt của ca cao và để bóc
vỏ cứng được dễ dàng, hạt được làm lên men; Hạt cũng có thể được xử
lý bằng hơi nước và làm khô. Hạt được rang lên để dễ dàng bóc phần vỏ
cứng, để làm cho phần lõi hạt dễ vụn hơn, cô đặc sản phẩm và tăng
thêm hương và vị của hạt. Sau đó hạt được cho vào những thiết bị trục
lăn có gợn sóng để làm vỡ hạt và tách phần phôi mầm. Sau đó là các
công đoạn tách phần vỏ cứng, vỏ lụa và phần phôi mầm từ các mảnh lõi
hạt (mảnh hạt ca cao).
Nhóm này bao gồm hạt thô hoặc hạt đã rang, nguyên hạt (đã hoặc chưa
bóc vỏ cứng, vỏ lụa hoặc mầm) hoặc đã vỡ mảnh.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Phần vỏ quả, vỏ hạt, vỏ lụa và những phế liệu khác của cacao
(nhóm 18.02).
( b) Hạt ca cao đã được nghiền ở dạng bột nhão (nhóm 18.03).
18.02 - Vỏ quả, vỏ hạt, vỏ lụa và phế liệu ca cao khác.
Nhóm này bao gồm các phế liệu còn lại thu được từ sản xuất bột ca cao
hoặc bơ ca cao. Một số phế liệu có thể được sử dụng cho việc chiết xuất
sâu hơn nữa bơ ca cao và chúng có thể được sử dụng cho việc chiết xuất
theobromine. Chúng cũng có thể được sử dụng, với một tỷ lệ tương đối
nhỏ, để trộn vào thức ăn chăn nuôi. Khi được nghiền, chúng đôi khi
được sử dụng thay thế cho bột ca cao vì chúng có mùi tương tự nhưng
không giống vị.
Nhóm này bao gồm:
(1) Vỏ cứng, vỏ lụa được tách ra trong quá trình rang và xay hạt. Các
vỏ này còn dính một ít mảnh vụn của lõi hạt (mảnh vụn của lõi hạt
dính vào vỏ cứng, vỏ lụa và không thể tách chúng ngay ra khỏi vỏ
được), từ những phần mảnh vụn này có thể chiết xuất được một tỷ
lệ bơ ca cao.
(2) Phôi mầm ca cao, thu được khi cho hạt cacao qua một máy tách
mầm. Phôi mầm ca cao thực sự không chứa chất béo.
(3) Bụi cacao; thu được từ việc làm sạch vỏ trong máy phân loại;
thường tỷ lệ chất béo có trong chúng đủ cao phù hợp cho việc
chiết xuất một cách hiệu quả.
(4) Khô dầu cacao (Cocoa cakes) (thu được từ quá trình chiết xuất
bơ ca cao từ vỏ cứng, vỏ lụa còn dính một phần lõi hạt hoặc từ ca
cao nguyên hạt). Khô dầu gồm những mẩu nhỏ của vỏ cứng, vỏ
lụa, vì vậy chúng không thích hợp để sản xuất bột ca cao hoặc
sôcôla.
Nhóm này loại trừ khô dầu ca cao không có vỏ cứng, vỏ lụa, thu được
từ quá trình chiết xuất bơ ca cao từ bột ca cao nhão (nhóm 18.03).
18.03 - Bột ca cao nhão, đã hoặc chưa khử chất béo.
- Chưa khử chất béo
- Đã khử một phần hoặc toàn bộ chất béo
Bột ca cao nhão thu được từ việc nghiền hạt ca cao đã rang (hạt đã
làm sạch vỏ cứng, vỏ lụa và phôi mầm của chúng) bằng máy nghiền
đá mài nóng hoặc máy thớt nghiền; Sản phẩm thu được làm cứng
dưới dạng viên, miếng hoặc khối. Bột nhão có thể được các nhà sản
xuất bánh kẹo sử dụng luôn nhưng chúng thường được dùng để sản
xuất bơ ca cao, bột ca cao và sôcôla.
Nhóm này cũng bao gồm bột nhão ca cao đã được khử một phần hoặc
toàn bộ chất béo (khô dầu ca cao (cocoa cake)); Chúng được sử dụng
cho sản xuất bột ca cao hoặc sôcôla; hoặc trong một số trường hợp được
sử dụng để sản xuất theobromine
Nhóm này loại trừ bột nhão ca cao đã cho thêm đường hoặc chất làm
ngọt khác (nhóm 18.06).
18.04 - Bơ ca cao, chất béo và dầu ca cao.
Bơ ca cao, là phần chất béo có trong hạt ca cao, thu được từ việc ép
nóng bột nhão ca cao hoặc hạt ca cao. Phần chất lượng kém thường
được gọi là chất béo ca cao cũng thu được từ hạt ca cao chất lượng kém
hoặc từ các phế liệu khác nhau của ca cao (vỏ cứng, vỏ lụa hoặc bụi,
rác...) bằng phương pháp ép nén hoặc chiết xuất với một số dung môi
thích hợp.
Bơ ca cao thường ở dạng rắn trong nhiệt độ phòng, có độ nhờn nhẹ và
màu trắng vàng nhạt; có mùi thơm tương tự mùi ca cao và vị ngon dễ
chịu. Bơ ca cao thường được làm thành miếng và được sử dụng trong
sản xuất sôcôla (để làm tăng chất lượng bột nhão ca cao), trong sản xuất
bánh kẹo (phụ liệu để làm một số loại kẹo), trong sản xuất nước hoa
(chiết xuất hương thơm bằng phương pháp tách hương liệu), trong sản
xuất mỹ phẩm và dược phẩm (phụ liệu để sản xuất thuốc mỡ, thuốc
dạng viên đạn...).
18.05 - Bột ca cao, chưa pha thêm đường hoặc chất làm ngọt khác.
Bột ca cao thu được từ ca cao dạng nhão đã tách một phần chất béo
thuộc nhóm 18.03 bằng cách tán thành bột.
Nhóm này chỉ bao gồm bột ca cao chưa pha thêm đường hoặc chất làm
ngọt khác. Nhóm này bao gồm bột cacao thu được sau khi xử lý mảnh
hạt, bột nhão và bột khô với chất kiềm (Carbonate natri hoặc carbonate
kali...) để tăng độ hoà tan (ca cao hoà tan).
Bột ca cao đã pha thêm đường hoặc chất ngọt khác và bột ca cao đã pha
thêm sữa hoặc peptone thuộc nhóm 18.06. Tuy nhiên, dược phẩm trong
đó có bột ca cao chỉ được sử dụng như là chất hổ trợ hoặc chất dẫn cho
thuốc thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04.
18.06 - Sô cô la và các chế phẩm thực phẩm khác có chứa ca cao (+).
- Bột ca cao, đã pha thêm đường hoặc chất làm ngọt
khác
- Chế phẩm khác ở dạng khối, miếng hoặc thanh có
trọng lượng trên 2 kg hoặc ở dạng lỏng, dạng nhão,
bột mịn, dạng hạt hay dạng rời khác đóng trong bao
bì hoặc gói sẵn, trọng lượng trên 2 kg
- Loại khác, ở dạng khối, miếng hoặc thanh:
- - Có nhân
- - Không có nhân
- Loại khác
Sôcôla được làm chủ yếu từ bột nhão ca cao và đường hoặc chất làm
ngọt khác, thường được cho thêm hương liệu và bơ ca cao. Trong một
số trường hợp, bột ca cao và dầu thực vật có thể được dùng thay thế cho
bột nhão ca cao. Sữa, cà phê, hạt dẻ, hạt hạnh nhân, vỏ cam, ... cũng
được cho thêm vào.
Sôcôla và các sản phẩm từ sôcôla có thể được làm thành dạng khối,
miếng, phiến, thanh, viên, hình thoi, khoanh tròn, hạt hoặc bột hoặc là
các sản phẩm từ sôcôla có nhân kem, quả hoặc rượu...
Nhóm này cũng bao gồm kẹo đường chứa ca cao với một tỷ lệ bất kỳ
(bao gồm cả kẹo nougat sôcôla), bột ca cao đã cho thêm chất tạo ngọt,
bột sôcôla, mứt sôcôla và nhìn chung, tất cả chế phẩm thực phẩm có
chứa ca cao (trừ những sản phẩm đã được loại trừ trong Chú giải
Tổng quát của Chương này).
Sôcôla đã được bổ sung thêm vitamin cũng được phân loại trong nhóm này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Sôcôla trắng (thành phần gồm bơ ca cao, đường và sữa bột) (nhóm
(b) Bánh quy và các loại bánh bọc sôcôla khác (nhóm 19.05).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1806.20
Hàng hóa được thể hiện “dạng khối khác” thuộc phân nhóm 1806.20
nếu chúng ở dạng viên, hạt, tròn, giọt, hình bóng, lát mỏng, vảy, mảnh
vụn, mảnh bào và các dạng tương tự. Hàng hóa trong phân nhóm này
thường được dùng trong sản xuất các sản phẩm sôcôla, sản phẩm bánh,
bánh keo, kem, ..., hoặc dùng cho trang trí.
Phân nhóm 1806.31
Với mục đích của phân nhóm này, thuật ngữ “có nhân” chỉ những sản
phẩm dạng khối, miếng hoặc thanh mà ở phần giữa có chứa, ví dụ kem,
đường bọc, dừa sấy khô, quả sấy khô, bột nhão của quả, rượu, bột hạnh
nhân, các loại hạt, kẹo nougat, kem caramen hoặc hỗn hợp các sản
phẩm này, tất cả được trang trí với sôcôla. Sôcôla ở dạng khối, miếng
hoặc thanh, thể rắn, có chứa ví dụ ngũ cốc, quả hoặc các loại hạt
(nguyên hạt hoặc dạng mảnh), đã được bọc phủ sôcôla, không được
xem là “có nhân”.
Chương 19
Chế phẩm từ ngũ cốc, bột, tinh bột hoặc sữa; các loại bánh
Chú giải.
1.- Chương này không bao gồm:
(a) Các chế phẩm thực phẩm có chứa trên 20% tính theo khối
lượng là xúc xích, thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết,
côn trùng, cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc
động vật thuỷ sinh không xương sống khác, hoặc hỗn hợp bất
kỳ của các loại trên (Chương 16), trừ các sản phẩm được nhồi
thuộc nhóm 19.02;
(b) Bánh bích quy hoặc các sản phẩm khác làm từ bột hoặc tinh
bột, được chế biến đặc biệt dùng để chăn nuôi động vật (nhóm
23.09); hoặc
(c) Thuốc hoặc các sản phẩm khác thuộc Chương 30.
2.- Theo mục đích của nhóm 19.01:
(a) Thuật ngữ "tấm" có nghĩa là tấm từ ngũ cốc thuộc Chương 11;
(b) Thuật ngữ "bột" và "bột thô" có nghĩa là:
(1) Bột và bột thô từ ngũ cốc thuộc Chương 11, và
(2) Bột, bột thô và bột mịn nguồn gốc thực vật ở bất kỳ
Chương nào, trừ bột, bột thô hoặc bột mịn của rau khô
(nhóm 07.12), của khoai tây (nhóm 11.05) hoặc của các
loại rau đậu khô (nhóm 11.06).
3.- Nhóm 19.04 không bao gồm các chế phẩm có chứa trên 6% tính
theo khối lượng là ca cao đã được khử toàn bộ chất béo hoặc được
phủ sô cô la hoặc các chế phẩm thực phẩm khác có chứa ca cao
thuộc nhóm 18.06 (nhóm 18.06).
4.- Theo mục đích nhóm 19.04, thuật ngữ "chế biến cách khác" có nghĩa
là được chế biến hoặc xử lý ngoài phạm vi quy định tại các nhóm
hoặc các Chú giải của các Chương 10 hoặc 11.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm các sản phẩm thường được dùng làm thực phẩm,
được chế biến trực tiếp từ các loại ngũ cốc thuộc chương 10, từ các sản
phẩm của chương 11 hoặc từ bột, bột thô và bột mịn có nguồn gốc thực
vật thuộc các chương khác (bột mịn ngũ cốc, tấm và bột thô, tinh bột từ
ngũ cốc, bột, bột thô, bột mịn từ rau và quả) hoặc là từ những sản phẩm
của các nhóm từ 04.01 đến 04.04. Chương này cũng bao gồm các sản
phẩm bánh ngọt, bánh quy, ngay cả khi trong thành phần của chúng
không có bột, tinh bột hoặc những sản phẩm ngũ cốc khác.
Theo mục đích của Chú giải 3 của Chương này và nhóm 19.01, hàm
lượng ca cao trong một sản phẩm thông thường có thể tính bằng cách
nhân hàm lượng hỗn hợp giữa theobromine và chất caffeine với hệ số 31.
Lưu ý rằng, thuật ngữ “ca cao” bao gồm ca cao ở tất cả các dạng, kể cả
dạng bột nhão và dạng rắn.
Chương này không bao gồm:
(a) Những chế phẩm thực phẩm (trừ các sản phẩm nhồi thuộc nhóm
19.02) có chứa trên 20% trọng lượng là xúc xích, thịt, phụ phẩm
dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, cá hoặc động vật giáp xác,
động vật thân mềm, hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống
khác, hoặc hỗn hợp các sản phẩm ở trên (Chương 16).
(b) Các chế phẩm thực phẩm từ bột mịn, tấm, bột thô, tinh bột hoặc
chiết xuất malt chứa từ 40% trở lên trọng lượng là cacao được tính
trên cơ sở đã loại trừ toàn bộ chất béo và các chế phẩm thực phẩm
của hàng hoá thuộc nhóm từ 04.01 đến 04.04 chứa từ 5% trở lên
trọng lượng là cacao được tính trên cơ sở đã loại trừ toàn bộ chất
béo (nhóm 18.06).
(c) Các chất thay thế cà phê đã rang có chứa một tỷ lệ cà phê bất kỳ
(thuộc nhóm 09.01) và các chất thay thế cà phê đã rang khác ( ví
dụ đại mạch đã rang) (nhóm 21.01).
(d) Các loại bột để làm custard, các món tráng miệng, kem hoặc các
chế phẩm tương tự nhưng không phải là các chế phẩm được làm từ
bột mịn, bột thô, tinh bột, chiết xuất malt hoặc các hàng hóa thuộc
các nhóm từ 04.01 đến 04.04 (thường thuộc nhóm 21.06).
(e) Các sản phẩm được làm từ bột mịn hoặc từ tinh bột, được chế biến
chuyên dùng làm thức ăn chăn nuôi (ví dụ: bánh quy cho chó)
(nhóm 23.09).
(f) Dược phẩm và các sản phẩm khác thuộc Chương 30.
19.01 - Chiết xuất malt; chế phẩm thực phẩm từ bột, tấm, bột thô,
tinh bột hoặc từ chiết xuất malt, không chứa ca cao hoặc chứa
dưới 40% tính theo khối lượng là ca cao đã khử toàn bộ chất
béo, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác; chế phẩm thực
phẩm từ sản phẩm thuộc các nhóm 04.01 đến 04.04, không
chứa ca cao hoặc chứa dưới 5% tính theo khối lượng là ca cao
đã khử toàn bộ chất béo, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi
khác.
- Các chế phẩm phù hợp dùng cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ
nhỏ, đã đóng gói để bán lẻ
- Bột trộn và bột nhào để chế biến thành các loại bánh
thuộc nhóm 19.05
1901.90 - Loại khác
(I) Chiết xuất malt.
Chiết xuất malt thu được bằng cách cô đặc dung dịch thu được từ
ngâm malt vào trong nước.
Chiết xuất malt được phân loại vào nhóm này ngay cả khi ở dạng
khối hoặc dạng bột hoặc ít nhiều ở dạng lỏng sệt.
Chiết xuất malt được bổ sung lecithin, vitamin, muối, v.v vẫn thuộc
nhóm này miễn là chúng không tạo thành dược phẩm của Chương
Chiết xuất malt được sử dụng chủ yếu cho việc chế biến các sản
phẩm dùng làm thực phẩm cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc cho ăn
kiêng hoặc nấu nướng, hoặc để sản xuất các sản phẩm dược phẩm.
Các dạng lỏng sệt cũng có thể được sử dụng trong các ngành công
nghiệp làm bánh và công nghiệp dệt mà không cần chế biến thêm.
Nhóm này không bao gồm :
(a) Các loại kẹo đường, chứa chiết xuất malt, thuộc nhóm 17.04.
(b) Bia và các đồ uống khác (ví dụ malton) được sản xuất từ malt
(Chương 22).
(c) Các enzym malt (nhóm 35.07).
(II) Các chế phẩm thực phẩm từ bột, tấm, bột thô, tinh bột hoặc
chiết xuất malt không chứa cacao hoặc chứa dưới 40% trọng
lượng là cacao đã khử toàn bột chất béo, chưa được chi tiết hoặc
ghi ở nơi khác.
Nhóm này bao gồm các chế phẩm thực phẩm được chế biến chủ yếu
từ bột mịn, tấm, bột thô, tinh bột hoặc chiết xuất malt, những nguyên
liệu này quyết định đặc điểm cốt yếu của chúng cho dù các thành
phần này chiếm ưu thế hay không chiếm ưu thế về trọng lượng hoặc
số lượng.
Ngoài các thành phần chính, có thể bổ sung thêm các chất khác như
sữa, đường, trứng, casein, albumin, chất béo, dầu, hương liệu, gluten,
chất màu, vitamin, quả hoặc các chất khác để tăng giá trị dinh dưỡng
hoặc cacao, với một tỷ lệ cacao bất kỳ dưới 40% trọng lượng tính
trên cơ sở đã loại trừ toàn bộ chất béo (xem Chú giải Tổng quát của
Chương này).
Tuy nhiên, nên lưu ý rằng các chế phẩm chứa trên 20% trọng lượng là
xúc xích, thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, cá hoặc
động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không
xương sống khác hoặc hỗn hợp các sản phẩm nêu trên được loại trừ khỏi
nhóm này (Chương 16).
Theo mục đích của nhóm này:
(A) Các thuật ngữ "bột" và "bột thô" nghĩa là không chỉ bột hoặc bột
thô của ngũ cốc thuộc Chương 11 mà còn bao gồm bột, bột thô
và bột mịn có nguồn gốc thực vật của bất kỳ Chương nào, như
bột đậu tương. Tuy nhiên, các thuật ngữ này không bao gồm
bột, bột thô hoặc bột mịn của các loại rau khô (nhóm 07.12), của
khoai tây (nhóm 11.05) hoặc của các loại rau đậu khô (nhóm
(B) Thuật ngữ “tinh bột” bao gồm cả loại tinh bột chưa chế biến và
tinh bột đã được làm thành keo hoặc được hoà tan, nhưng không
bao gồm các sản phẩm tinh bột đã được chế biến thêm (more
evolved) chẳng hạn như dextrimaltose.
Các chế phẩm thuộc nhóm này có thể ở dạng lỏng hoặc dạng bột, hạt, bột
nhão hoặc các dạng rắn khác như dạng dải hoặc khoanh.
Các chế phẩm này thường được sử dụng để chế biến đồ uống, cháo, thực
phẩm cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ, thực phẩm ăn kiêng, v.v, bằng cách
trộn đơn giản hoặc đun sôi trong sữa hoặc nước, hoặc để làm bánh,
pudding, custard hoặc các chế phẩm nấu nướng tương tự khác.
Các chế phẩm này cũng có thể được sử dụng như các chế phẩm trung
gian trong công nghiệp thực phẩm.
Nhóm này có thể kể đến các chế phẩm như:
(1) Các loại bột, thu được từ việc làm khô hỗn hợp sữa với đường
và bột.
(2) Các chế phẩm là hỗn hợp của bột trứng, sữa bột, chiết xuất malt
và bột cacao.
(3) Bột thập cẩm là chế phẩm thực phẩm gồm có bột gạo, các loại
tinh bột, bột quả đấu ngọt, đường, bột cacao và hương vani.
(4) Các chế phẩm gồm hỗn hợp của bột ngũ cốc với bột trái cây,
thường pha thêm bột ca cao, hoặc các loại bột trái cây pha thêm
bột ca cao.
(5) Các chế phẩm sữa malt và các chế phẩm tương tự được chế
biến từ hỗn hợp sữa bột và chiết xuất malt, có hoặc không thêm
đường.
(6) Các sản phẩm có tên gọi “Knödel”, “Klösse”, “Nockerln” có
chứa các thành phần như: bột hòn, bột ngũ cốc, bánh mì vụn,
chất béo, đường, trứng, gia vị, men, mứt hoặc quả. Tuy nhiên,
các sản phẩm loại này được chế biến từ bột khoai tây thì được
phân loại ở Chương 20.
(7) Hỗn hợp bột nhào trộn sẵn, có thành phần chính là bột ngũ cốc
với đường, chất béo, trứng hoặc quả (kể cả loại được đặt trong
khuôn hoặc đã được tạo hình thành phẩm).
(8) Bánh pizza chưa được làm chín gồm đế bánh pizza (bột nhào)
được phủ các thành phần khác như pho mát, cà chua, dầu, thịt, cá
cơm (cá trỏng). Tuy nhiên, pizza đã được làm chín sơ (pre-
cooked) hoặc làm chín được phân loại trong nhóm 19.05.
Ngoài các chế phẩm đã loại trừ theo Chú giải Tổng quát của Chương
này, nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Bột lên men tự nhiên và bột “trương nở” (dạng keo) thuộc
nhóm 11.01 hoặc 11.02.
(b) Bột ngũ cốc đã pha trộn (nhóm 11.01 hoặc 11.02), bột và bột
thô từ rau đậu đã pha trộn và bột, bột thô hoặc bột mịn từ quả đã
pha trộn (nhóm 11.06), chưa được chế biến cách khác.
(c) Sản phẩm từ bột nhào (Pasta) và bột mỳ nấu với thịt (couscous)
thuộc nhóm 19.02.
(d) Tinh bột sắn và các sản phẩm thay thế (nhóm 19.03).
(e) Các loại bánh đã chín hoàn toàn hoặc một phần. Loại chín một
phần cần tiếp tục được làm chín trước khi dùng (nhóm 19.05).
(f) Nước xốt và các chế phẩm làm nước xốt (nhóm 21.03).
(g) Súp và nước xuýt và chế phẩm để làm súp và nước xuýt và chế
phẩm thực phẩm đồng nhất (nhóm 21.04).
(h) Các sản phẩm protein thực vật có cấu trúc (nhóm 21.06).
(ij) Đồ uống thuộc Chương 22.
(III) Các chế phẩm thực phẩm thuộc các nhóm từ 04.01 đến 04.04,
không chứa cacao hoặc chứa dưới 5% trọng lượng là cacao đã
khử toàn bộ chất béo, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác.
Các chế phẩm thuộc nhóm này có thể được phân biệt với các sản
phẩm thuộc các nhóm từ 04.01 đến 04.04 ở chỗ, trong đó ngoài các
thành phần sữa tự nhiên chúng còn bao gồm cả các thành phần khác
không được cho phép có trong các sản phẩm thuộc các nhóm đã nêu
ở các nhóm trước. Vì vậy, nhóm 19.01 bao gồm, ví dụ:
(1) Các chế phẩm ở dạng bột hoặc dạng lỏng được sử dụng như là
thực phẩm cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc cho mục đích thực
phẩm dinh dưỡng và gồm có sữa được bổ sung với các thành
phần phụ khác (ví dụ: tấm ngũ cốc, men).
(2) Các chế phẩm từ sữa thu được bằng cách thay thế một hay nhiều
hơn các thành phần của sữa (thí dụ: chất béo butyric) bằng một
chất khác (thí dụ: chất béo oleic).
Các sản phẩm của nhóm này có thể được làm ngọt hoặc có thể chứa
cacao. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các sản phẩm có đặc
tính của kẹo đường (nhóm 17.04) và các sản phẩm có chứa từ 5%
trở lên tính theo trọng lượng là ca cao đã khử toàn bộ chất béo (xem
Chú giải Tổng quát của Chương này) (nhóm 18.06) và đồ uống
(Chương 22).
Nhóm này cũng bao gồm các hỗn hợp và các sản phẩm nền (ví dụ, bột)
để sản xuất kem lạnh nhưng lại không bao gồm kem lạnh và các loại
kem ăn được khác được chế biến từ sữa (nhóm 21.05).
19.02 - Sản phẩm từ bột nhào (pasta), đã hoặc chưa làm chín hoặc
nhồi (thịt hoặc các chất khác) hoặc chế biến cách khác, như
spaghetti, macaroni, mì sợi (noodle), mì dẹt (lasagne), gnocchi,
ravioli, cannelloni; couscous, đã hoặc chưa chế biến.
- Sản phẩm từ bột nhào chưa làm chín, chưa nhồi hoặc
chưa chế biến cách khác:
- - Có chứa trứng
1902.19 - - Loại khác
- Sản phẩm từ bột nhào đã được nhồi, đã hoặc chưa nấu
chín hoặc chế biến cách khác
- Sản phẩm từ bột nhào khác
Sản phẩm từ bột nhào (pasta) thuộc nhóm này là các sản phẩm chưa được
lên men làm từ bột hòn (semolina) hoặc bột lúa mỳ, bột ngô, bột gạo, bột
khoai tây...
Các loại bột hòn hoặc bột này (hoặc hỗn hợp hai loại) trước tiên được
trộn với nước sau đó được nhào thành bột nhão và có thể cho thêm các
thành phần khác (ví dụ, rau băm thật mịn, nước ép hoặc bột sệt rau,
trứng, sữa, gluten bột mì, diastase, vitamin, chất màu, hương liệu).
Sau đó, bột nhào được tạo hình (ví dụ, đùn và cắt, cán mỏng và cắt, ép
hoặc đặt khuôn hoặc nén trong trống quay) thành các hình định sẵn
(chẳng hạn như dạng ống, dạng dây, dạng sợi, vỏ sò, hột, hạt nhỏ, ngôi
sao, hình gấp khúc, hình các chữ cái). Trong quá trình này, đôi khi bổ
sung thêm một lượng nhỏ dầu ăn. Những hình dạng này thường được đặt
làm tên của thành phẩm cuối cùng (ví dụ, macaroni, mì sợi mảnh
(tagliatelle), spaghetti, mì sợi (noodles).
Các sản phẩm thường được làm khô trước khi đưa ra bán để dễ dàng vận
chuyển, trữ kho và bảo quản; ở dạng khô, chúng dễ bị gẫy. Nhóm này
cũng bao gồm các sản phẩm chưa được làm khô (tức là còn ẩm hoặc tươi)
và các sản phẩm đông lạnh, ví dụ, gnocchi (của Ý) tươi và ravioli (của Ý
- giống như sủi cảo) đông lạnh.
Các sản phẩm từ bột nhào (pasta) thuộc nhóm này cũng có thể được nấu
chín, được nhồi với thịt, cá, pho mát hoặc một số chất khác theo một tỷ lệ
bất kỳ hoặc được chế biến theo cách khác (ví dụ, dưới dạng món ăn chế
purées, eggs, milk, gluten, diastases, vitamins, colouring matter,
biến sẵn có chứa các thành phần khác như rau, nước sốt, thịt). Nấu là để
làm sản phẩm từ bột nhào (pasta) mềm ra mà không thay đổi hình dạng
ban đầu của sản phẩm.
Sản phẩm từ bột nhào (pasta) đã nhồi có thể được bao kín toàn bộ (ví dụ,
món ravioli) hoặc mở hai đầu (ví dụ, món cannelloni) (mì nhồi dạng ống)
hoặc thành từng lớp chồng lên nhau như món lasagnes (mì dẹt).
Nhóm này cũng bao gồm couscous là bột hòn (semolina) được xử lý bằng
nhiệt. Couscous thuộc nhóm này có thể được nấu chín hoặc chế biến cách
khác (ví dụ, đóng gói với thịt, rau và các thành phần khác như một món
ăn hoàn chỉnh của món couscous).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các chế phẩm thực phẩm (trừ các sản phẩm nhồi thuộc nhóm
19.02) đã nhồi, có chứa trên 20% trọng lượng là xúc xích, thịt, phụ
phẩm dạng thịt, tiết, côn trùng, cá hoặc động vật giáp xác, động vật
thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống khác, hoặc
hỗn hợp bất kỳ của các loại trên (Chương 16).
(b) Súp và nước xuýt và chế phẩm để làm súp và nước xuýt, có chứa
sản phẩm từ bột nhào (pasta) (nhóm 21.04).
19.03 - Sản phẩm từ tinh bột sắn và sản phẩm thay thế chế biến từ
tinh bột, ở dạng mảnh, hạt, bột xay, bột rây hoặc các dạng
tương tự.
Nhóm này bao gồm các chế phẩm thực phẩm được chế biến từ tinh bột củ
sắn (gọi là tapioca), tinh bột cọ sago, tinh bột khoai tây (còn gọi là
tapioca hoặc cọ sago bản địa) và các loại tinh bột tương tự (thí dụ: củ
dong, củ lan, củ ngọc lá (yucca),...).
Các chế phẩm này thu được khi hoà tinh bột với nước thành một loại bột
nhão, đặc sau đó được đổ vào một cái sàng hoặc chảo có các lỗ nhỏ ở đáy
và để nhỏ giọt xuống một tấm kim loại được đun nóng ở nhiệt độ từ
120°C đến 150°C. Giọt bột khi rơi xuống sẽ kết tụ thành viên nhỏ hoặc
mảnh sau đó đôi khi được nghiền vụn thành hạt nhỏ. Một cách khác tinh
bột nhão được đông kết trong nồi hơi.
Các sản phẩm trên được đưa ra thị trường có dạng mảnh, hạt, bột xay, bột
rây hay các dạng tương tự. Chúng được sử dụng để chế các món canh, đồ
tráng miệng hoặc thức ăn cho chế độ ăn kiêng.
19.04 - Thực phẩm chế biến thu được từ quá trình rang hoặc nổ ngũ
cốc hoặc các sản phẩm ngũ cốc (ví dụ mảnh ngô được chế biến
từ bột ngô (corn flakes)); ngũ cốc (trừ ngô), ở dạng hạt hoặc
dạng mảnh hoặc đã làm thành dạng hạt khác (trừ bột, tấm và
bột thô), đã làm chín sơ hoặc chế biến cách khác, chưa được
chi tiết hoặc ghi ở nơi khác.
- Thực phẩm chế biến thu được từ quá trình rang hoặc
nổ ngũ cốc hoặc các sản phẩm ngũ cốc
- Thực phẩm chế biến từ mảnh ngũ cốc chưa rang hoặc
từ hỗn hợp của mảnh ngũ cốc chưa rang và mảnh ngũ
cốc đã rang hoặc ngũ cốc đã nổ
- Lúa mì bulgur
- Loại khác
(A) Thực phẩm chế biến thu được từ quá trình rang hoặc nổ ngũ
cốc hoặc các sản phẩm ngũ cốc (ví dụ, mảnh ngô).
Nhóm này bao gồm một loạt các loại thực phẩm được chế biến từ
các loại hạt ngũ cốc (ngô, lúa mì, gạo, lúa đại mạch, ...) được làm
giòn bằng cách nổ hoặc rang. Chúng chủ yếu được dùng làm thức
ăn sáng có hoặc không kèm thêm sữa. Trong hoặc sau quá trình chế
biến, các sản phẩm này có thể được thêm muối, đường, mật, chiết
xuất malt, hoa quả hoặc ca cao... (xem Chú giải 3 và Chú giải Tổng
quát của Chương này).
Nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm tương tự được chế biến từ
bột hoặc cám bằng phương pháp rang hoặc trương nở.
Mảnh ngô được chế biến từ hạt ngô bằng cách lấy hết lớp vỏ lụa và
phôi mầm, thêm đường, muối và chiết xuất malt, làm mềm bằng
hấp và sau đó được cán vỡ mảnh và cuối cùng là rang trong một lò
quay. Phương pháp này cũng áp dụng đối với hạt lúa mì hoặc hạt
ngũ cốc khác.
“Bỏng" gạo và “bỏng” lúa mỳ cũng thuộc nhóm này. Chúng thu
được bằng việc xử lý hạt gạo hoặc hạt lúa mì trong bình nóng và ẩm
dưới áp suất lớn. Bằng cách giảm đột ngột áp suất và bắn hạt vào
môi trường lạnh, hạt sẽ nở ra và sẽ có thể tích lớn hơn nhiều lần thể
tích hạt ban đầu.
Nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm thực phẩm giòn thơm, thu
được từ hạt ngũ cốc (một phần hoặc toàn bộ) được làm ẩm, tiếp đó
được xử lý bằng nhiệt làm cho hạt nở phồng lên, sau đó ướp với
một hỗn hợp gia vị gồm có dầu ăn thực vật, pho mát, chiết xuất
men, muối và mì chính. Các chế phẩm tương tự được chế từ bột
nhào và chiên trong dầu ăn thực vật bị loại trừ (nhóm 19.05).
(B) Thực phẩm chế biến từ mảnh ngũ cốc chưa rang hoặc từ hỗn
hợp của mảnh ngũ cốc chưa rang và mảnh ngũ cốc đã rang
hoặc ngũ cốc đã nổ.
Nhóm này bao gồm các loại thực phẩm chế biến từ mảnh ngũ cốc
chưa rang hoặc từ hỗn hợp của mảnh ngũ cốc chưa rang và mảnh
ngũ cốc đã rang hoặc ngũ cốc đã nổ. Các sản phẩm này (thường
được gọi là “ Müsli ”) có thể có chứa quả khô, quả hạch (nut), đư-
ờng, mật ong... Thường được đóng gói làm đồ ăn sáng.
(C) Lúa mì bulgur.
Nhóm này bao gồm lúa mì bulgur, ở dạng hạt đã xử lý, thu được
nhờ quá trình đun chín hạt lúa mì cứng, sau đó được làm khô, được
bóc hoặc lột vỏ, sau đó được làm vỡ, nghiền hoặc xay và cuối cùng
được rây thành lúa mì bulgur với các kích cỡ to, nhỏ khác nhau.
Lúa mì bulgur cũng có thể ở dạng nguyên hạt.
(D) Các loại ngũ cốc khác, trừ ngô, được sơ chế hoặc chế biến cách
khác.
Nhóm này bao gồm các loại ngũ cốc đã được nấu chín sơ hoặc chế
biến theo cách khác, dạng hạt (kể cả hạt vỡ). Vì vậy, nhóm này bao
gồm, ví dụ như gạo đã được nấu chín sơ một phần hoặc hoàn toàn
và sau đó được rút hết nước, và vì thế cấu trúc của hạt cũng thay
đổi. Đối với loại gạo đã nấu chín sơ hoàn toàn thì chỉ cần ngâm vào
nước và đun đến sôi là ăn được ngay, còn với loại gạo mới chín sơ
một phần thì phải đun thêm từ 5 đến 12 phút mới ăn được. Tương
tự, nhóm này bao gồm các sản phẩm gạo nấu chín sơ có cho thêm
một số thành phần khác như rau hoặc bột canh, miễn là các thành
phần thêm vào không làm thay đổi đặc tính của chế phẩm gạo..
Nhóm này không bao gồm các loại hạt ngũ cốc chỉ được chế biến
hoặc xử lý theo các phương pháp đã được nêu ở Chương 10 hoặc
Chương 11.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Ngũ cốc đã chế biến được phủ hoặc xử lý cách khác, có chứa đường
với tỷ lệ làm cho nó có đặc tính của kẹo đường (nhóm 17.04).
(b) Các chế phẩm có chứa ca cao trên 6% trọng lượng được tính trên cơ
sở đã khử toàn bộ chất béo hoặc được bọc sôcôla hoặc các chế
phẩm thực phẩm khác có chứa ca cao thuộc nhóm 18.06 (nhóm
(c) Bắp ngô và hạt ngô ăn được, đã chế biến (Chương 20).
19.05 - Bánh mì, bánh bột nhào (pastry), bánh ga tô (cakes), bánh
quy và các loại bánh khác, có hoặc không chứa ca cao; bánh
thánh, vỏ viên nhộng dùng trong ngành dược, bánh xốp
sealing wafers, bánh đa và các sản phẩm tương tự.
- Bánh mì giòn
- Bánh mì có gừng và loại tương tự
- Bánh quy ngọt; bánh waffles và bánh xốp wafers
- - Bánh quy ngọt
- - Bánh waffles và bánh xốp wafers
- Bánh bít cốt (rusks), bánh mì nướng và các loại
bánh nướng tương tự
1905.90 - Loại khác
(A) Các sản phẩm bánh mì, bánh bột nhào (pastry), bánh nướng,
bánh quy và các loại bánh khác, có hoặc không chứa cacao.
Nhóm này bao gồm tất cả các loại bánh được nướng. Thành phần
chung nhất của các loại bánh trên là các loại bột ngũ cốc, bột nở,
muối nhưng các sản phẩm này cũng có chứa thêm một số thành phần
khác như: gluten, tinh bột, bột rau đậu, chiết xuất malt hoặc sữa, các
loại hạt như: hạt thuốc phiện, thì là hoặc hồi, đường, mật ong, trứng,
chất béo, pho mát, quả, ca cao với mọi tỉ lệ, thịt, cá, phụ gia,... Các
chất phụ gia này chủ yếu được dùng để xử lý bột, thúc đẩy quá trình
lên men, nâng phẩm chất cũng như mẫu mã sản phẩm và kéo dài thời
gian bảo quản sản phẩm. Các sản phẩm của nhóm này có thể được
chế biến từ bột nhào được làm từ bột, bột thô hay bột mịn của
khoai tây.
Nhóm này bao gồm các sản phẩm sau:
(1) Bánh mì thường, thường chỉ gồm có bột ngũ cốc, bột nở và
muối.
(2) Bánh mỳ có thêm gluten, dùng cho người mắc bệnh tiểu
đường.
(3) Bánh không men hoặc matzos (không cho bột nở).
(4) Bánh mì giòn (cũng được biết đến như knäckebrot), là bánh
mì giòn khô thường có dạng miếng mỏng hình vuông, chữ nhật
hoặc tròn, trên bề mặt có những lỗ chấm nhỏ. Bánh mì giòn làm
từ một loại bột nhào từ bột, bột thô, tấm hoặc bột mịn của mạch
đen, đại mạch, yến mạch hoặc lúa mì và được lên men bằng
men, bột chua hoặc các tác nhân lên men khác hoặc bằng khí
nén. Hàm lượng nước trong sản phẩm không quá 10% trọng
lượng.
(5) Bánh bít cốt, bánh mì nướng và các bánh nướng tương tự,
đã hoặc chưa được cắt lát hoặc nghiền, có hoặc không thêm bơ
hoặc chất béo khác, đường, trứng hoặc các chất có dinh dưỡng
khác.
(6) Bánh gừng và loại tương tự, là một sản phẩm có tính xốp,
mềm dẻo, làm từ bột mạch đen hoặc lúa mì có pha chất ngọt (ví
dụ, mật ong, glucoza, đường nghịch chuyển, mật tinh khiết), và
các loại gia vị hoặc hương vị, đôi khi có chứa cả lòng đỏ trứng
gà hoặc trái cây. Một số loại bánh mì gừng được bọc bằng
sôcôla hoặc được làm lạnh từ các chế phẩm nhiều chất béo và
cacao. Một số loại khác có chứa đường hoặc phủ đường.
(7) Bánh "vắt" là loại sản phẩm khô, dễ gãy được bao mật và rắc
muối làm từ một loại bột nhào được kéo tròn và sau đó cuốn
thành hình chữ "B".
(8) Bánh quy, thường được làm từ bột với chất béo, có thể có thêm
đường hoặc một số chất khác được nêu ở Mục (10) dưới đây.
Các sản phẩm bánh quy chủ yếu và các mặt hàng bảo quản được
lâu dài vì đã được nướng kỹ và được gói kín. Có nhiều loại bánh
(a) Bánh quy thường chứa ít hoặc không chứa chất tạo ngọt
nhưng chứa một lượng tương đối lớn chất béo; loại này bao
gồm cả bánh quy giòn có kem và bánh quy chỉ làm từ bột và
nước.
(b) Bánh quy ngọt, là sản phẩm cao cấp bảo quản được lâu, chế
biến từ hỗn hợp bột, đường hoặc chất tạo ngọt khác và chất
béo (các thành phần này chiếm ít nhất 50% trọng lượng sản
phẩm) có hoặc không chứa thêm muối, hạnh nhân, hạt dẻ,
hương liệu, sôcôla, cà phê,... Trong loại bánh quy này hàm
lượng nước không quá 12% và hàm lượng chất béo tối đa là
35% trọng lượng thành phẩm (các chất được sử dụng để làm
nhân hoặc bao ngoài bánh quy không kể đến trong việc tính
toán các hàm lượng trên). Các loại bánh quy trên thị trường
thường là không nhân, nhưng đôi khi có thể có chứa nhân
cứng hoặc các loại nhân khác (đường, dầu thực vật,
sôcôla,...). Hầu như tất cả các loại bánh quy đều được sản
xuất theo phương pháp công nghiệp.
(c) Bánh quy mặn và ướp hương vị, thường có chứa một
lượng rất nhỏ đường sucroza.
(9) Bánh waffles và bánh xốp wafers, là loại bánh cao cấp của
ngành bánh, được nướng chín giữa hai tấm kim loại có tạo hình.
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm bánh quế mỏng, có thể
được cuộn, bánh quế có nhân được kẹp giữa hai hay nhiều lớp
bánh quế mỏng, và các sản phẩm bánh quế được tạo hình qua
một máy đặc biệt (ví dụ, vỏ kem ốc quế). Bánh quế cũng có thể
được bao sôcôla. Bánh xốp là sản phẩm tương tự bánh quế.
(10) Bánh bột nhào (pastry) và bánh ngọt (cakes), là các sản
phẩm gồm nhiều thành phần như bột, tinh bột, bơ hoặc chất béo
khác, đường, sữa, kem, trứng, cacao, sôcôla, cà phê, mật ong,
trái cây, rượu mùi, rượu mạnh, albumen, pho mát, thịt, cá,
hương liệu, men hoặc các chất bột nở khác...
(11) Bánh nướng không bột (ví dụ, bánh trứng đường được làm từ
lòng trắng trứng với đường).
(12) Bánh xèo và bánh crêpe.
(13) Bánh kít, được làm từ bột nhào có cho thêm một số thành phần
như: pho mát, trứng, kem, bơ, muối, tiêu, hạt nhục đậu khấu và
đối với loại bánh kít vùng lorraine thì có thêm thăn lợn hun khói
hay thịt giăm bông (ham).
(14) Bánh pizza (đã được làm chín sơ hoặc đã chín), gồm một đế
bánh pizza phủ một số thành phần như pho mát, cà chua, dầu
ăn, thịt, cá trỏng. Tuy nhiên, bánh pizza chưa được làm chín
thuộc nhóm 19.01.
(15) Các sản phẩm thực phẩm giòn có hương liệu khác, ví dụ các
(12) Crêpes and pancakes.
sản phẩm được làm từ loại bột nhào từ bột, bột thô hay bột mịn
của khoai tây, hoặc là bột ngô có thêm hỗn hợp pho mát, mì
chính và muối, được chiên trong dầu thực vật và ăn ngay được.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Tất cả các sản phẩm có chứa trên 20% trọng lượng là xúc xích,
thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, cá hoặc
động vật giáp xác, động vật thân mềm, động vật thủy sinh
không xương sống khác hoặc hỗn hợp các loại trên (ví dụ, bánh
gồm thịt đã được nhồi trong bột nhào (pastry)) (Chương 16).
(b) Các sản phẩm thuộc nhóm 20.05
(B) Bánh thánh, vỏ thuốc con nhộng dùng trong ngành dược, bánh
xốp (sealing wafer), bánh đa và các sản phẩm tương tự.
Nhóm này bao gồm một số sản phẩm được chế biến từ bột hoặc tinh
bột nhão, thường được nướng ở dạng đĩa hoặc lá. Các loại này có rất
nhiều công dụng.
Bánh thánh là dạng đĩa, rất mỏng làm từ bột mì nhão rất tinh khiết,
được nướng chín giữa hai tấm sắt.
Vỏ thuốc con nhộng dùng trong ngành dược có hình dạng như
những chiếc tách cạn, nhỏ, được làm từ bột hoặc tinh bột nhão. Hai
nửa của con nhộng có thể lồng khít vào nhau để tạo thành một
khoang chứa.
Bánh xốp (sealing wafer) được cắt từ những lá bánh mỏng đã được
nướng chín, làm khô và đôi khi được nhuộm màu. Những chiếc bánh này
cũng có thể chứa các chất kết dính.
Bánh đa bao gồm những lá bánh mỏng đã được nướng và làm từ bột khô
hoặc tinh bột nhão. Bánh được dùng để bọc các sản phẩm mứt kẹo, đặc
biệt là kẹo nougat. Không nên nhầm lẫn bánh đa với một loại “rice paper”
được làm bằng cách thái lát phần xốp thân cây cọ (xem Chú giải Chi tiết
nhóm 14.04).
Chương 20
Các chế phẩm từ rau, quả, quả hạch (nut)
hoặc các phần khác của cây
Chú giải.
Chương này không bao gồm:
(a) Các loại rau, quả hoặc quả hạch (nuts), được chế biến hoặc
bảo quản theo quy trình đã ghi trong Chương 7, 8 hoặc 11;
(b) Chất béo và dầu thực vật (Chương 15);
(c) Các chế phẩm thực phẩm chứa trên 20% tính theo khối lượng
là xúc xích, thịt, các phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn
trùng, cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc
động vật thuỷ sinh không xương sống khác, hoặc hỗn hợp bất
kỳ của các loại trên (Chương 16);
(d) Các loại bánh và sản phẩm khác thuộc nhóm 19.05; hoặc
(e) Các chế phẩm thực phẩm tổng hợp đồng nhất thuộc nhóm 21.04.
Các nhóm 20.07 và 20.08 không áp dụng cho các loại thạch trái
cây, bột nhão từ quả, các loại quả hạnh bọc đường hoặc các sản
phẩm tương tự chế biến dưới dạng kẹo đường (nhóm 17.04) hoặc
kẹo sôcôla (nhóm 18.06).
3.- Các nhóm 20.01, 20.04 và 20.05, tuỳ theo từng trường hợp, chỉ bao
gồm những sản phẩm thuộc Chương 7 hoặc nhóm 11.05 hoặc 11.06
(trừ bột, bột thô và bột mịn của các sản phẩm đã ghi trong Chương
8) đã được chế biến hoặc bảo quản theo các quy trình khác với quy
trình đã ghi trong Chú giải 1(a).
4.- Nước ép cà chua có hàm lượng chất khô từ 7% trở lên được xếp
vào nhóm 20.02.
5.- Theo mục đích của nhóm 20.07, khái niệm "thu được từ quá trình
đun nấu" có nghĩa là thu được bằng cách xử lý nhiệt ở áp suất
không khí hoặc giảm áp suất để làm tăng độ dẻo của một sản phẩm
thông qua việc giảm lượng nước hoặc thông qua biện pháp khác.
6.- Theo mục đích của nhóm 20.09, khái niệm "các loại nước ép, chưa lên
men và chưa pha rượu" để chỉ các loại nước ép có nồng độ cồn không
quá 0,5% tính theo thể tích (xem Chú giải 2 của Chương 22).
Chú giải phân nhóm.
1.- Theo mục đích của phân nhóm 2005.10, khái niệm "rau đồng nhất"
chỉ các loại chế phẩm từ rau, đã đồng nhất mịn, phù hợp dùng làm
thức ăn cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc để ăn kiêng, đóng gói để
bán lẻ, trong bao bì với khối lượng tịnh không quá 250 gam. Khi áp
dụng định nghĩa này không cần quan tâm đến những thành phần có
hàm lượng nhỏ cho thêm vào làm gia vị, để bảo quản hoặc đáp ứng
các mục đích khác. Các chế phẩm này có thể chứa một lượng nhỏ
mảnh vụn rau có thể nhìn thấy được. Phân nhóm 2005.10 được ưu
tiên xem xét trước trong các phân nhóm thuộc nhóm 20.05.
2.- Theo mục đích của phân nhóm 2007.10, khái niệm "chế phẩm đồng
nhất" chỉ các loại chế phẩm của quả, đã đồng nhất mịn, phù hợp
dùng làm thức ăn cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc để ăn kiêng,
đóng gói để bán lẻ trong bao bì với khối lượng tịnh không quá 250
gam. Khi áp dụng định nghĩa này không cần quan tâm đến những
thành phần có hàm lượng nhỏ cho thêm vào làm gia vị, để bảo quản
hoặc đáp ứng các mục đích khác. Các chế phẩm này có thể chứa
một lượng nhỏ mảnh vụn quả có thể nhìn thấy được. Phân nhóm
2007.10 được ưu tiên xem xét trước trong các phân nhóm thuộc
nhóm 20.07.
Theo mục đích của các phân nhóm 2009.12, 2009.21, 2009.31,
2009.41, 2009.61 và 2009.71, khái niệm "giá trị Brix" có nghĩa là
đọc trực tiếp độ Brix từ tỷ trọng kế Brix hoặc của chỉ số khúc xạ
được biểu thị theo khái niệm tỷ lệ phần trăm thành phần sucroza đo
bằng khúc xạ kế, ở nhiệt độ 20°C hoặc được hiệu chỉnh về 20°C
nếu phép đo được tiến hành ở một nhiệt độ khác.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm:
(1) Rau, quả, quả hạch (nut) và các phần ăn được khác của cây, đã chế
biến hoặc bảo quản bằng giấm hoặc axit acetic.
(2) Rau, quả, quả hạch (nut), vỏ quả và các phần khác của cây, được
bảo quản bằng đường.
(3) Mứt, thạch trái cây, mứt từ quả thuộc chi cam quít, bột nghiền và
bột nhão từ quả hoặc quả hạch (nut), thu được từ quá trình đun nấu.
(4) Rau quả đã chế biến hoặc bảo quản đồng nhất.
(5) Nước ép quả, nước ép rau, chưa lên men và chưa pha thêm cồn
hoặc có nồng độ cồn không quá 0,5% theo thể tích.
(6) Rau, quả, quả hạch (nut) và các phần ăn được khác của cây được
chế biến hoặc bảo quản theo các phương thức khác với các phương
thức đã được nêu ở chương 7, 8 hoặc 11 hoặc ở các nơi khác trong
Danh mục.
(7) Các sản phẩm của các nhóm 07.14, 11.05 hoặc 11.06 (trừ bột, bột
thô, bột mịn của các sản phẩm thuộc Chương 8) đã được chế biến
hoặc bảo quản bằng các phương thức khác với các phương thức đã
liệt kê ở Chương 7 hoặc Chương 11.
(8) Quả được bảo quản bằng cách khử nước thẩm thấu.
Các sản phẩm kể trên có thể còn nguyên dạng, cắt miếng hay nghiền nát.
Chương này không bao gồm:
(a) Các chế phẩm có chứa trên 20% trọng lượng là xúc xích, thịt, phụ
phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, động vật giáp xác, động
vật thân mềm hay các loại động vật thủy sinh không xương sống
khác hoặc hỗn hợp các sản phẩm đó (Chương 16).
(b) Các sản phẩm bánh trái cây (fruit tart), được chế biến với bánh bột
nhào (pastry) (nhóm 19.05).
(c) Súp và nước xuýt và các chế phẩm để làm súp và nước xuýt, chế
(3) Jams, fruit jellies, marmalades, fruit or nut purées, fruit or nut
phẩm thực phẩm đồng nhất thuộc nhóm 21.04.
(d) Các loại nước ép quả hoặc nước ép rau có nồng độ cồn trên 0,5%
theo thể tích (Chương 22).
20.01 - Rau, quả, quả hạch (nuts) và các phần ăn được khác của cây,
đã chế biến hoặc bảo quản bằng giấm hoặc axit axetic.
- Dưa chuột và dưa chuột ri
- Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại rau (xem Chú giải 3 của Chương này) quả,
quả hạch (nut) và các phần ăn được khác của cây, đã chế biến hoặc bảo
quản bằng dấm hoặc axit acetic, có hoặc không thêm muối, gia vị, mù tạt,
đường hoặc một số chất tạo ngọt khác. Các sản phẩm này cũng có thể
chứa dầu ăn hoặc một số phụ gia khác. Chúng có thể được đóng trong
thùng, (thùng tô nô nhỏ, thùng phuy, v.v) hoặc được đóng vào bình, chai,
hộp thiếc hoặc đóng bao bì kín khí để bán lẻ. Nhóm này cũng bao gồm
một số các sản phẩm có tên gọi là "dưa món", dưa mù tạt,...
Các sản phẩm ở nhóm này được phân biệt với các loại nước xốt của
nhóm 21.03 ở chỗ nước xốt và gia vị, bột canh thường có dạng lỏng, nhũ
tương hoặc huyền phù, không được dùng để ăn một mình nhưng được sử
dụng như một món đi kèm với thức ăn hoặc để chế biến một số món ăn.
Các sản phẩm chính được bảo quản theo cách được mô tả trong nhóm
này là dưa chuột, dưa chuột ri, hành, hẹ tây, cà chua, súp lơ, ô liu, nụ
bạch hoa, ngô ngọt, bông a-ti-sô, lõi cọ, củ từ, quả óc chó và xoài.
20.02 - Cà chua đã chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác trừ loại
bảo quản bằng giấm hoặc axit axetic.
- Cà chua, nguyên quả hoặc dạng miếng
- Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại cà chua, nguyên quả hay dạng miếng, trừ
loại cà chua đã chế biến hoặc bảo quản bằng giấm hoặc axit acetic
(nhóm 20.01) và các loại cà chua đã được nêu cụ thể trong Chương 7.
Cà chua được phân loại trong nhóm này được chứa trong bất cứ loại bao
bì nào.
Nhóm này cũng bao gồm các loại cà chua đồng nhất đã chế biến hoặc
bảo quản (ví dụ: bột quấy cà chua (tomato purée), bột cà chua dạng sệt,
cà chua cô đặc) và nước ép cà chua mà hàm lượng thành phần khô từ 7%
trở lên. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm: nước xốt cà chua có tên
gọi ketchup và các loại xốt cà chua khác (nhóm 21.03) và cả các loại súp
cà chua và các chế phẩm làm súp cà chua (nhóm 21.04).
(e.g., tomato purée, paste or concentrate) and tomato juice of which the
20.03 - Nấm và nấm cục (truffles), đã chế biến hoặc bảo quản bằng
cách khác trừ bảo quản bằng giấm hoặc axit axetic.
- Nấm thuộc chi Agaricus
- Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại nấm (kể cả thân nấm) và nấm cục, trừ các
sản phẩm được chế biến hoặc bảo quản bằng giấm hoặc axit acetic)
(nhóm 20.01) và các sản phẩm đã được nêu cụ thể tại Chương 7. Các
sản phẩm nấm và nấm cục của nhóm này có thể còn nguyên dạng, hoặc
cắt miếng (thí dụ: thái mỏng) hoặc đồng nhất.
20.04 - Rau khác, đã chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác trừ bảo
quản bằng giấm hoặc axit axetic, đã đông lạnh, trừ các sản
phẩm thuộc nhóm 20.06.
- Khoai tây
- Rau khác và hỗn hợp các loại rau
Các loại rau đông lạnh thuộc nhóm này sẽ được phân loại trong nhóm
20.05 khi không được làm đông lạnh (xem Chú giải nhóm 20.05). Thuật
ngữ "đông lạnh" đã được giải thích trong Chú giải Tổng quát Chương 7.
Ví dụ các sản phẩm thường thấy trên thị trường thuộc Chương này là:
(1) Khoai tây (khoai tây rán hoặc khoai tây rán kiểu pháp), rán
chín hoàn toàn hoặc một phần bằng dầu ăn rồi được làm đông lạnh.
(2) Ngô ngọt còn nguyên bắp hoặc dạng hạt, cà rốt, đậu hà lan,...
đông lạnh, đã hoặc chưa nấu chín sơ, đóng trong bao bì kín khí với
bơ hoặc nước xốt khác (ví dụ, trong túi plastic).
(3) Các sản phẩm “Knödel”, “Klösse ”, “Nockerln”, được chế biến từ
bột khoai tây, đông lạnh.
20.05 - Rau khác đã chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác trừ bảo
quản bằng giấm hoặc axit axetic, không đông lạnh, trừ các
sản phẩm thuộc nhóm 20.06.
2005.10 - Rau đồng nhất
2005.20 - Khoai tây
2005.40 - Đậu Hà lan (Pisum sativum)
- Đậu hạt (Vigna spp., Phaseolus spp.):
2005.51 - - Đã bóc vỏ
2005.59 - - Loại khác
2005.60 - Măng tây
2005.70 - Ô liu
2005.80 - Ngô ngọt (Zea mays var. saccharata)
- Rau khác và hỗn hợp các loại rau:
2005.91 - - Măng tre
2005.99 - - Loại khác
Thuật ngữ "rau" trong nhóm này chỉ bao gồm các sản phẩm đã được nêu
trong phần Chú giải 3 của Chương này. Các sản phẩm này (trừ các loại
rau được chế biến hoặc bảo quản bằng giấm hoặc axit acetic thuộc nhóm
20.01, các loại rau đông lạnh thuộc nhóm 20.04 và các loại rau bảo quản
bằng đường thuộc nhóm 20.06) chỉ được phân loại vào nhóm này nếu đã
qua chế biến hoặc bảo quản khác theo các công đoạn đã được nêu ở
Chương 7 hoặc 11.
Các sản phẩm thuộc nhóm này được chứa trong bất cứ loại bao bì nào mà
chúng được đóng gói (thường trong hộp hoặc các loại bao bì kín khí khác).
Tất cả các sản phẩm này, dù nguyên dạng, cắt miếng hay được nghiền, có
thể được bảo quản trong nước, trong nước xốt cà chua hoặc với các thành
phần khác để có thể ăn được ngay. Chúng cũng có thể được làm đồng
nhất hoặc được trộn lẫn với nhau (salad).
Ví dụ các chế phẩm thuộc nhóm này như sau:
(1) Ô liu, ăn được vì qua một công đoạn xử lý đặc biệt trong dung dịch
soda hoặc ngâm lâu trong nước muối. (Ô liu được bảo quản tạm
thời trong nước muối được phân loại trong nhóm 07.11- xem Chú
giải chi tiết của nhóm đó).
(2) Dưa bắp cải, được chế biến bằng bắp cải thái chỉ lên men một phần
và ướp muối.
(3) Ngô ngọt nguyên bắp hoặc dạng hạt, cà rốt, đậu hà lan... được
làm chín sơ hoặc đóng hộp với bơ hay nước xốt khác.
(4) Các sản phẩm làm từ bột mịn khoai tây thành miếng mỏng,
hình chữ nhật có nêm muối và một lượng nhỏ mì chính, và đã
được làm ẩm để rút bớt một phần dextrin rồi được làm khô. Các sản
phẩm này chỉ cần chiên ngập dầu trong vài giây là ăn được và được
gọi là khoai tây lát rán (chips).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các sản phẩm thực phẩm giòn thơm thuộc nhóm 19.05.
(b) Nước ép rau thuộc nhóm 20.09.
(c) Nước ép rau có nồng độ cồn trên 0,5% theo thể tích (Chương 22).
20.06 - Rau, quả, quả hạch (nuts), vỏ quả và các phần khác của cây,
được bảo quản bằng đường (dạng khô có tẩm đường, ngâm
trong nước đường hoặc bọc đường).
Các sản phẩm của nhóm này thu được sau công đoạn dùng nước sôi làm
mềm rau, quả, vỏ quả và các thành phần khác của cây để chúng ngấm
đường được dễ dàng. Sau công đoạn này sản phẩm được đun đến sôi và
ngâm vào xirô đường và để nguyên một thời gian với độ đậm đặc của
đường tăng dần cho đến khi sản phẩm ngấm đủ đường để đảm bảo việc
preserved by sugar (drained, glacé or crystallised).
bảo quản.
Các sản phẩm chính được ngâm đường có thể có dạng nguyên quả hoặc
nguyên quả hạch (nut) (thí dụ: anh đào, mơ, lê, mận đỏ, hạt dẻ, óc chó,
...), dạng bổ hoặc cắt miếng (thí dụ: cam, chanh, dứa ...), dạng vỏ quả (ví
dụ: thanh yên, chanh, cam, dưa lê,...), các bộ phận khác của cây (ví dụ,
bạch chỉ, gừng, củ từ, khoai lang...) và hoa (ví dụ, violets, mimosa...)
Để chế biến các sản phẩm đã ráo nước người ta sử dụng một loại xirô (ví
dụ, hỗn hợp đường nghịch chuyển hoặc đường glucoza với một phần
đường sucroza vì các loại đường này khi ra ngoài không khí không bị kết
tinh. Sau khi ngâm ngấm đường, phần xirô thừa ra khô đi làm cho sản
phẩm sờ vào dính tay.
Các sản phẩm nhúng trong nước đường là sản phẩm thu được sau khi
nhúng sản phẩm đã ráo nước vào xirô đường sucroza. Khi khô sản phẩm
sẽ có phủ một lớp đường mỏng và bóng.
Các sản phẩm bọc đường cũng được chế biến từ việc ngâm sản phẩm
vào xirô đường sucroza để đường thẩm thấu vào sản phẩm đến khi khô
đường kết tinh khô lại ở trên bề mặt hoặc bên trong sản phẩm.
Các sản phẩm được bảo quản bằng đường và được đóng gói trong xirô,
bất kể trong loại bao bì nào, đều bị loại trừ khỏi nhóm này (nếu là rau sẽ
thuộc nhóm 20.02, 20.03 hoặc 20.05, nếu là quả, quả hạch (nut), vỏ quả
hoặc các bộ phận ăn được khác của cây... sẽ thuộc nhóm 20.08 ví dụ, hạt
dẻ phủ đường hoặc gừng).
Tuy nhiên, các loại quả, hạt khô (chà là, mận...) được phân loại trong
Chương 8 ngay cả khi có cho một lượng nhỏ đường hoặc bên ngoài được
phủ một lớp đường tự nhiên được làm khô tạo cho sản phẩm trông giống
như các loại quả bọc đường của Chương này.
(cherries, apricots, pears, plums, chestnuts (marrons glacés), walnuts,
Glacéproducts are obtained by dipping the drained product in a sucrose
nuts, fruit-peel and other edible parts of plants, e.g., marrons glacés or
20.07 - Mứt, thạch trái cây, mứt từ quả thuộc chi cam quýt, quả hoặc
quả hạch (nuts) dạng nghiền (purée) và dạng nhão, thu được
từ quá trình đun nấu, đã hoặc chưa pha thêm đường hoặc
20.07 - Jams, fruit jellies, marmalades, fruit or nut purée and fruit
chất tạo ngọt khác.
- Chế phẩm đồng nhất
- Loại khác:
- - Từ quả thuộc chi cam quýt
- - Loại khác
Mứt là loại sản phẩm thu được bằng cách đun sôi cả quả hoặc phần thịt
quả hoặc một số loại rau (ví dụ: bí đỏ, cà tím) hoặc các sản phẩm khác
(ví dụ: gừng, cánh hoa hồng) với một lượng đường tương đương. Khi
nguội, sản phẩm thu được tương đối se đặc và có chứa các mẩu vụn của
quả.
Mứt từ quả thuộc chi cam quýt là các loại mứt được chế biến chủ yếu
từ các quả thuộc chi cam quýt.
Thạch trái cây được chế biến bằng cách đun sôi nước ép quả với đường
(được ép từ quả đã hoặc chưa được đun chín) cho đến khi sản phẩm đông
lại khi nguội. Nước ép quả cô đặc có dạng đặc, trong suốt và không có
chứa mảnh vụn của quả.
Bột nghiền từ quả hoặc quả hạch (nut) được chế biến bằng cách đun
sôi thịt quả đã được sàng lọc hoặc bột quả hạch (nut), có hoặc không
thêm đường cho tới khi có dạng sệt. Bột nghiền từ quả khác với các sản
phẩm mứt ở chỗ lượng quả nhiều và nhão nhuyễn hơn.
Bột nhão từ trái cây hoặc quả hạch (nut) (táo, mộc qua, lê, mơ, hạnh
nhân,...) được làm bằng cách bay hơi từ bột nghiền trở thành loại có độ
đặc hoàn toàn hoặc gần đặc.
Sản phẩm thuộc nhóm này thường được chế biến với đường hoặc có thể
được làm ngọt với các chất tổng hợp (ví dụ sorbitol) thay cho đường.
Nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm đồng nhất.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Thạch và bột nhão ở dạng kẹo đường hoặc kẹo sôcôla (nhóm
17.04 hoặc 18.06, tương ứng).
(b) Thạch ăn được được chế biến từ gelatin, đường và nước ép trái cây
Fruit or nut purées are prepared by boiling sieved fruit pulp or
consistency. Fruit purées differ from jams in having a higher proportion
evaporated purées of a solid or almost solid consistency.
hoặc tinh chất trái cây nhân tạo (nhóm 21.06).
20.08 - Quả, quả hạch (nuts) và các phần ăn được khác của cây, đã
chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác, đã hoặc chưa pha
thêm đường hoặc chất tạo ngọt khác hoặc rượu, chưa được
chi tiết hoặc ghi ở nơi khác.
- Quả hạch (nut), lạc và hạt khác, đã hoặc chưa pha
trộn với nhau:
- - Lạc
- - Loại khác, kể cả các hỗn hợp
- Dứa
- Quả thuộc chi cam quýt
- Lê
- Mơ
- Anh đào (Cherries)
- Đào, kể cả quả xuân đào
- Dâu tây
- Loại khác, kể cả dạng hỗn hợp trừ loại thuộc
phân nhóm 2008.19:
- - Lõi cây cọ
- - Quả nam việt quất (Vaccinium macrocarpon,
quả
- - Dạng hỗn hợp
- - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại quả, quả hạch (nut) và các phần ăn được
khác của cây, , nguyên trái, cắt miếng hoặc nghiền nát, được chế biến
hoặc bảo quản khác với các cách đã được nêu rõ trong các Chương khác
hoặc trong các nhóm trước thuộc Chương này.
Nhóm này có thể kể đến:
(1) Quả hạnh nhân, lạc, quả cau (hoặc trầu) và các loại quả hạch khác,
được rang khô, chiên dầu ăn hoặc mỡ, có hoặc không chứa hoặc
phủ dầu thực vật, muối, hương vị, hương liệu hoặc một số phụ gia
khác.
(2) Bơ lạc, có dạng bột nhão thu được từ lạc rang nghiền nát, có hoặc
không thêm muối hoặc dầu ăn.
(3) Quả (kể cả vỏ quả và hạt) được bảo quản trong nước, trong xirô,
trong các chất hóa học hoặc trong rượu.
(4) Phần thịt quả, đã được tiệt trùng, đã hoặc chưa nấu chín.
(5) Quả nguyên trái như đào (kể cả xuân đào), mơ, cam (đã hoặc chưa
bóc vỏ, bỏ hạt), nghiền nát và đã tiệt trùng, có hoặc không thêm
nước hoặc xirô đường nhưng với tỷ lệ chưa đủ để sản phẩm có thể
sử dụng ngay như đồ uống. Các sản phẩm này khi có thêm lượng
nước và xirô đường vừa đủ để sử dụng ngay như đồ uống được
phân loại vào nhóm 22.02.
(6) Các loại quả đã nấu chín. Tuy nhiên, các loại quả đã được hấp chín
hoặc luộc chín trong nước và được làm đông lạnh vẫn thuộc nhóm
(7) Thân, rễ và các phần ăn được khác của cây (thí dụ: gừng, bạch chỉ,
củ từ, khoai lang, ngọn hoa hublon, lá nho, lõi cọ) được bảo quản
bằng xirô hoặc chế biến hoặc bảo quản bằng cách khác.
(8) Me quả ngâm xirô đường.
(9) Quả, quả hạch (nut), vỏ quả và các phần ăn được khác của cây (trừ
các loại rau), được bảo quản bằng đường và ngâm vào xirô (ví dụ:
hạt dẻ phủ đường, hoặc gừng), bất kể được đóng gói thế nào.
(10) Quả được bảo quản bằng phương pháp khử nước thẩm thấu. Khái
niệm "phương pháp khử nước thẩm thấu” đề cập đến quá trình mà
các miếng của quả được ngâm trong xirô đường cô đặc đến mức
mà hầu hết nước và đường tự nhiên của quả được thay thế bằng
đường từ xirô. Quả sau đó có thể được thổi khô để giảm bớt độ ẩm.
Các sản phẩm của nhóm này có thể được tạo ngọt bằng các chất tạo ngọt
glacés or ginger), whatever the packing.
tổng hợp (ví dụ: sorbitol) thay thế cho đường. Các chất khác (ví dụ, tinh
bột) có thể được thêm vào các sản phẩm của nhóm này, miễn là nó không
thay đổi đặc tính chính của quả, quả hạch (nut), hoặc những phần ăn
được của cây.
Các sản phẩm của nhóm này thường được đóng gói trong hộp, bình hoặc
bao bì kín khí hoặc đóng thùng tô nô, thùng rượu (barrels) hoặc các loại
đồ chứa tương tự.
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm là các hỗn hợp của cây hoặc
các phần của cây (kể cả hạt hoặc quả) của các loài khác nhau hoặc bao
gồm cây hoặc các phần của cây (kể cả hạt và quả) của một loại hoặc của
các loại khác nhau trộn với các chất khác như chiết xuất của một loại
hoặc nhiều loại thực vật, không ăn trực tiếp mà được sử dụng để chế trà
thảo dược hoặc thuốc hãm thảo dược (ví dụ, nhóm 08.13, 09.09 hoặc
Nhóm này không bao gồm trái cây, quả hạch (nut) hoặc các phần ăn
được khác của cây được chế biến thành kẹo đường (kể cả những loại làm
từ mật ong tự nhiên), thuộc nhóm 17.04.
Nhóm này cũng không bao gồm hỗn hợp của cây, các phần của cây, hạt
hoặc quả (nguyên trái, cắt miếng, nghiền hoặc làm thành bột) của các loại
thuộc các Chương khác (ví dụ: chương 7, 9, 11, 12), không được dùng
ngay, nhưng là loại dùng trực tiếp để tạo hương vị cho đồ uống hoặc để
chế biến các chiết xuất dùng trong sản xuất đồ uống (Chương 9 hoặc
nhóm 21.06).
20.09 - Các loại nước ép trái cây hoặc nước ép từ quả hạch (nut) (kể
cả hèm nho và nước dừa) và nước rau ép, chưa lên men và
chưa pha thêm rượu, đã hoặc chưa pha thêm đường hoặc
chất tạo ngọt khác (+).
- Nước cam ép:
- - Đông lạnh
- - Không đông lạnh, với trị giá Brix không quá 20
- - Loại khác
- Nước ép quả bưởi chùm; nước ép quả bưởi:
- - Với trị giá Brix không quá 20
- - Loại khác
- Nước ép từ một loại quả thuộc chi cam quýt
khác:
- - Với trị giá Brix không quá 20
- - Loại khác
- Nước dứa ép:
- - Với trị giá Brix không quá 20
- - Loại khác
- Nước cà chua ép
- Nước nho ép (kể cả hèm nho):
- - Với trị giá Brix không quá 30
- - Loại khác
- Nước táo ép:
- - Với trị giá Brix không quá 20
- - Loại khác
- Nước ép từ một loại quả, quả hạch (nut) hoặc rau
khác:
- - Nước quả nam việt quất ép (Vaccinium
macrocarpon, Vaccinium oxycoccos); nước quả
lingonberry ép (Vaccinium Vitis-idaea)
- - Loại khác
- Nước ép hỗn hợp
Liên quan đến nước ép, chưa lên men và chưa pha thêm rượu, xem Chú
giải 6 của Chương này.
Các loại nước ép quả hoặc nước ép rau của nhóm này thường thu được từ
việc ép hoặc bóc tách cơ học quả hoặc rau còn tươi, lành lặn và chín.
Việc ép có thể được thực hiện (trong trường hợp của quả thuộc chi cam
quýt) bằng phương pháp cơ học "vắt" giống như nguyên lý vắt chanh,
hoặc bằng việc ép mà quả trước đó đã hoặc chưa được nghiền nát (chủ
yếu đối với táo) hoặc quả trước đó đã được xử lý bằng nước lạnh hoặc
nước nóng hoặc hơi nước (ví dụ cà chua, phúc bồn đen và một số loại rau
như cà rốt và cần tây). Nước ép thuộc nhóm này cũng bao gồm nước dừa.
Nước ép thu được sau đó thường qua các công đoạn xử lý sau:
(a) Làm trong, nhằm tách phần nước ép ra khỏi phần lớn những thành
phần rắn lẫn trong nước ép, hoặc bằng các chất làm trong (gelatin,
anbumin, đất infusorial,...) hoặc bằng enzyme hoặc bằng quay ly tâm,
bằng siêu lọc, quá trình cuối cùng này cũng được sử dụng để tiệt trùng
sản phẩm.
(b) Lọc, chủ yếu các thiết bị lọc tấm có phủ kieselguhr, cellulose,...
(c) Loại không khí, nhằm loại bỏ oxy vì khí này ảnh hưởng xấu đến
màu và mùi vị của sản phẩm.
(d) Đồng nhất hoá, trong trường hợp một số loại nước ép thu được từ
các loại quả có nhiều thịt (cà chua, đào, ...).
(e) Tiệt trùng, nhằm tránh việc lên men. Công đoạn này có thể được
tiến hành theo nhiều phương thức, ví dụ: tiệt trùng theo phương
pháp pasteur kéo dài hoặc chớp nhoáng (flash pasteurisation), tiệt
trùng bằng điện trong những máy có gắn các điện cực, tiệt trùng
bằng phương pháp lọc, bảo quản bằng áp lực carbon dioxide, bảo
quản lạnh, tiệt trùng bằng phương pháp hoá học (bằng dùng chất
sulphur dioxide, benzoate natri...), xử lý bằng tia cực tím hoặc chất
trao đổi ion.
Nhờ qua các khâu xử lý trên, các loại nước ép quả, nước ép rau sẽ có
dạng lỏng trong, chưa lên men. Tuy nhiên, đối với một số loại nước ép
(đặc biệt là loại được ép từ các loại quả nhiều thịt như mơ, đào và cà
chua (vẫn còn phần nhỏ thịt quả bị vẩn hoặc bị lắng đọng.
Nhóm này cũng bao gồm các loại nước ép, tương đối hiếm trong thực tế,
thu được từ các loại quả khô với điều kiện là những loại quả này có chứa
nước quả khi còn tươi. Ví dụ như trường hợp của “nước ép mận khô”,
được chiết xuất từ mận khô bằng cách làm nóng với nước trong nhiều giờ
trong máy khuếch tán. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các sản
phẩm ở dạng lỏng, thu được từ quá trình làm nóng trong nước các loại
quả tươi hay khô (ví dụ, quả cây bách xù, hoa hồng dại) mà hầu như
không còn nước quả; các sản phẩm như vậy thường được phân loại thuộc
nhóm 21.06.
Các loại nước ép của nhóm này có thể có dạng cô đặc (đã hoặc chưa
đông lạnh) hoặc dạng kết tinh hoặc dạng bột, với điều kiện là, đối với
trường hợp bột hoặc dạng kết tinh, chúng hòa tan hoặc hầu như tan hết
trong nước. Các sản phẩm này thường thu được bằng các công đoạn xử
lý qua nhiệt (không hoặc có chân không) hoặc lạnh (làm khô lạnh).
Một số loại nước ép cô đặc có thể được phân biệt với các loại nước ép
không cô đặc tương ứng dựa trên cơ sở trị giá Brix (xem Chú giải phân
nhóm 3 của Chương này).
Với điều kiện là chúng giữ được đặc tính ban đầu, các loại nước ép quả,
nước ép từ quả hạch (nut) hoặc nước ép rau của nhóm này có thể chứa
các chất thuộc các loại được nêu dưới đây, các chất này hoặc được sinh
ra ngay trong nước ép qua các công đoạn xử lý hoặc được thêm vào:
(1) Đường.
(2) Một số chất làm ngọt khác, tự nhiên hoặc tổng hợp, với điều kiện là
lượng các chất thêm vào không được quá lượng cần thiết cho độ
ngọt thông thường và ngoài ra nước ép này đáp ứng điều kiện của
nhóm này, đặc biệt là sự cân bằng của các thành phần khác nhau
(xem Mục (4) dưới đây).
(3) Các sản phẩm được thêm vào để bảo quản nước ép hoặc để chống
sự lên men (thí dụ: sulphur dioxide, carbon dioxide, enzyme).
(4) Các chất chuẩn (như axit citric, axit tartaric) và các sản phẩm được
thêm vào để bù cho các thành phần bị phá hủy hoặc hư hỏng trong
quá trình chế biến (thí dụ: vitamin, các chất tạo màu), hoặc để cố
định hương vị (ví dụ, cho thêm sorbitol vào các loại nước ép quả
thuộc chi cam quýt dạng bột hoặc dạng tinh thể). Tuy nhiên, nhóm
này loại trừ các loại nước ép quả mà một trong các thành phần
(axit citric, tinh dầu chiết xuất từ quả...) được thêm vào với một
lượng mà sự cân bằng các thành phần khác nhau trong nước ép tự
nhiên bị phá vỡ; trong trường hợp này sản phẩm bị mất đặc tính ban
đầu.
Các loại nước ép rau của nhóm này có thể có thêm muối (natri chloride),
gia vị hoặc hương liệu.
Tương tự, hỗn hợp các nước ép quả, nước ép từ quả hạch (nut) hoặc nước
ép rau của cùng hoặc khác loại vẫn được phân loại trong nhóm này như
là sự hoàn nguyên nước ép quả (nghĩa là, các sản phẩm này thu được nhờ
việc thêm vào nước ép cô đặc một lượng nước không được vượt quá
lượng nước chứa trong nước ép không cô đặc của các thành phần bình th-
ường).
Tuy nhiên, nếu cho thêm nước vào nước quả ép, nước ép từ quả hạch
(nut) hoặc nước rau ép thông thường, hoặc thêm nước vào nước ép trước
đó đã cô đặc với một tỉ lệ lớn hơn tỉ lệ cần thiết cho phép để thu được nư-
ớc ép có thành phần tự nhiên ban đầu thì sẽ thu được sản phẩm pha loãng
mà sẽ có đặc tính của đồ uống thuộc nhóm 22.02. Các loại nước ép quả,
nước ép từ quả hạch (nut) hoặc nước ép rau có chứa một tỉ lệ carbon
dioxide lớn hơn tỉ lệ bình thường có chứa trong các loại nước ép xử lý
bằng loại chất này (nước ép có gas từ trái cây hoặc từ quả hạch (nut)) và
cả nước chanh, nước có gas được dùng nước ép quả hoặc nước ép từ quả
hạch (nut) để tạo hương đều bị loại trừ (nhóm 22.02).
Nhóm này cũng bao gồm hèm nho bất kể được dùng để làm gì, với điều
kiện là chưa lên men. Khi đã được xử lý qua các công đoạn như xử lý
nước ép quả, hèm nho sẽ giống như nước ép nho thông thường. Sản
phẩm có thể có dạng nước ép cô đặc thậm chí có dạng tinh thể (đối với
loại có dạng tinh thể, sản phẩm này đôi khi được gọi là đường nho hoặc
mật nho và có thể được sử dụng trong làm bánh ngọt hoặc kẹo, chủ yếu
để sản xuất bánh mỳ có gừng, mứt kẹo,...).
Hèm nho đã lên men một phần, đã hoặc chưa lên men, cũng như loại hèm
nho chưa lên men, đã cho thêm rượu, cả hai sản phẩm này đều có nồng
độ cồn trên 0,5% theo thể tích thuộc nhóm 22.04.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Nước ép cà chua có hàm lượng thành phần khô từ 7% trở lên
(nhóm 20.02).
(b) Các loại nước quả ép quả, nước ép từ quả hạch (nut) hoặc nước ép
rau có nồng độ cồn trên 0,5% theo thể tích (Chương 22).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 2009.11:
Thuật ngữ "nước ép cam đông lạnh" cũng để chỉ các loại nước ép cam cô
đặc mặc dù đã được làm lạnh và giữ lạnh ở nhiệt độ khoảng -18 oCnhưng
chưa hoàn toàn đông cứng.
Chương 21
Các chế phẩm ăn được khác
Chú giải.
1.- Chương này không bao gồm:
(a) Các loại rau hỗn hợp thuộc nhóm 07.12;
(b) Các chất thay thế cà phê rang có chứa cà phê theo tỷ lệ bất kỳ
(nhóm 09.01);
(c) Chè đã pha hương liệu (nhóm 09.02);
(d) Các gia vị hoặc các sản phẩm khác thuộc các nhóm từ 09.04
đến 09.10;
(e) Các chế phẩm thực phẩm, trừ các sản phẩm ghi trong nhóm
21.03 hoặc 21.04, chứa trên 20% tính theo khối lượng là xúc
xích, thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, tiết, côn trùng, cá
hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc các loại
động vật thuỷ sinh không xương sống khác, hoặc hỗn hợp bất
kỳ của các loại trên (Chương 16);
(f) Các sản phẩm của nhóm 24.04;
(g) Men được đóng gói như dược phẩm hoặc các sản phẩm khác
thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04; hoặc
(h) Enzyme đã chế biến thuộc nhóm 35.07.
Các chiết xuất từ các chất thay thế ghi trong Chú giải 1(b) trên đây
được xếp vào nhóm 21.01.
3.- Theo mục đích của nhóm 21.04, khái niệm "chế phẩm thực phẩm
tổng hợp đồng nhất" có nghĩa là các loại chế phẩm bao gồm một
hỗn hợp đồng nhất mịn của hai hoặc nhiều thành phần cơ bản như
thịt, cá, rau, quả hoặc quả hạch (nuts), được đóng gói với khối
lượng tịnh không quá 250g để bán lẻ, phù hợp dùng làm thức ăn cho
trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc ăn kiêng. Khi áp dụng khái niệm này,
không cần quan tâm đến những thành phần có hàm lượng nhỏ cho
thêm vào làm gia vị, để bảo quản hoặc cho các mục đích khác. Các
chế phẩm này có thể chứa một lượng nhỏ những mẩu vụn có thể
nhìn thấy được của các thành phần nói trên.
21.01 - Chất chiết xuất, tinh chất và chất cô đặc, từ cà phê, chè hoặc
chè Paragoay, và các chế phẩm có thành phần cơ bản là các
sản phẩm này hoặc có thành phần cơ bản là cà phê, chè, chè
Paragoay; rau diếp xoăn rang và các chất thay thế cà phê
rang khác, và các chiết xuất, tinh chất và chất cô đặc của
chúng.
- Chất chiết xuất, tinh chất và các chất cô đặc, từ cà
phê, và các chế phẩm có thành phần cơ bản là các
chất chiết xuất, tinh chất hoặc các chất cô đặc này
hoặc có thành phần cơ bản là cà phê:
- - Chất chiết xuất, tinh chất và các chất cô đặc
- - Các chế phẩm có thành phần cơ bản là các chất
chiết xuất, tinh chất hoặc các chất cô đặc hoặc có
thành phần cơ bản là cà phê:
- Chất chiết xuất, tinh chất và các chất cô đặc, từ
chè hoặc chè Paragoay, và các chế phẩm có thành
phần cơ bản là các chất chiết xuất, tinh chất hoặc
các chất cô đặc này hoặc có thành phần cơ bản là
chè hoặc chè Paragoay
- Rau diếp xoăn rang và các chất thay thế cà phê
rang khác, và chất chiết xuất, tinh chất và các chất
cô đặc của chúng
Nhóm này bao gồm:
(1) Các chiết xuất, tinh chất và chất cô đặc của cà phê. Các chất
này có thể được chế biến trực tiếp từ cà phê nguyên chất (đã hoặc
chưa tách caffeine) hoặc từ một hỗn hợp với tỉ lệ bất kỳ giữa cà
phê nguyên chất và các sản phẩm thay thế cà phê. Các sản phẩm
này có thể có dạng lỏng hoặc dạng bột, thường rất cô đặc. Nhóm
này bao gồm cả các sản phẩm cà phê tan thu được từ cà phê pha
hãm và khử nước hoặc pha hãm và sau đó được làm đông khô bằng
21.01 - Extracts, essences and concentrates, of coffee, tea or maté and
coffee, tea or maté; roasted chicory and other roasted coffee
maté, and preparations with a basis of these
of tea or maté
chân không.
Các chiết xuất, tinh chất và chất cô đặc của chè, hoặc chè
paragoay. Các sản phẩm này cũng qua các công đoạn chế biến
tương tự như các sản phẩm của phần (1) trên đây.
(3) Các chế phẩm có thành phần cơ bản là chiết xuất, tinh chất
hoặc chất cô đặc của chè, cà phê của phần (1) và (2) trên đây.
Đó là các chế phẩm dựa trên chiết xuất, tinh chất hoặc chất cô đặc
của cà phê, chè hoặc chè paragoay (chứ không phải cà phê, chè
hoặc chè paragoay nguyên chất), và bao gồm chất chiết xuất,... có
thêm tinh bột hoặc carbohydrate khác.
(4) Các chế phẩm có thành phần cơ bản là cà phê, chè hoặc chè
paragoay. Các chế phẩm này có thể kể đến:
(a) bột nhão cà phê gồm hỗn hợp cà phê rang, đã nghiền thành
bột với chất béo thực vật và đôi khi có một số thành phần
khác nữa, và
(b) các chế phẩm chè gồm hỗn hợp của chè, sữa bột và đường.
(5) Rễ rau diếp xoăn rang và các chất thay thế cà phê rang khác và
các chiết xuất, tinh chất và chất cô đặc của chúng. Đây là tất cả
các loại sản phẩm đã rang dùng để thay thế và giả cà phê bằng cách
hãm với nước nóng, hoặc để cho thêm vào cà phê. Các sản phẩm
này đôi khi được gọi là “cà phê”, có kèm theo tên của nguyên liệu
nền (ví dụ cà phê đại mạch, cà phê malt, cà phê sồi...).
Rau diếp xoăn rang thu được từ việc rang phần rễ rau diếp xoăn
(Cichorium intybus var. sativum) của nhóm 12.12. Sản phẩm có
màu nâu đen nhạt và có vị đắng.
Các chất thay thế cà phê đã rang khác bao gồm các chất thu được
từ củ cải đường, cà rốt, vả, ngũ cốc (chủ yếu là lúa mạch, lúa mì và
lúa mạch đen), đậu hạt tách đôi, đậu lupine, đậu tương, sồi ăn
được, hạt chà là (date stone), hạnh nhân, rễ bồ công anh hoặc hạt
dẻ. Nhóm này cũng bao gồm malt đã rang được đóng gói để làm
chất thay thế cà phê.
(2) Tea or maté extracts, essences and concentrates. These products
(3) Preparations with a basis of the coffee, tea or maté extracts,
coffee, tea or maté (and not on coffee, tea or maté themselves), and
(4) Preparations with a basis of coffee, tea or maté. These
Các sản phẩm này có thể dưới dạng miếng, hạt hoặc bột hoặc các
chiết xuất dạng lỏng hoặc rắn. Chúng có thể được trộn lẫn với nhau
hoặc với một số thành phần khác (ví dụ: muối, carbonate kiềm...)
và có thể được đóng gói trong các loại bao bì khác nhau.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các chất thay thế cà phê đã rang có chứa cà phê với tỉ lệ bất kỳ
(nhóm 09.01).
(b) Chè đã ướp hương (nhóm 09.02).
(c) Đường caramen (mật và đường đã chưng thành caramen)
(nhóm 17.02).
(d) Các sản phẩm thuộc Chương 22.
21.02 - Men (sống hoặc ỳ); các vi sinh đơn bào khác, chết (nhưng
không bao gồm các loại vắc xin thuộc nhóm 30.02); bột nở
đã pha chế.
- Men sống
- Men ỳ; các vi sinh đơn bào khác, chết
- Bột nở đã pha chế
Men thuộc nhóm này có thể ở trạng thái hoạt động hoặc ỳ (không hoạt động).
Các loại men sống thường được sử dụng để kích thích quá trình lên
men. Chúng chủ yếu được tạo nên từ một số loại vi sinh vật (hầu như
chế từ chi Saccharomyces), chúng sinh sôi nảy nở trong quá trình lên
men rượu. Men cũng có thể được sản xuất bằng cách kìm hãm một phần
hoặc toàn bộ quá trình lên men, theo quy trình thông khí.
Men sống gồm:
(1) Men bia. Men bia được hình thành trong các thùng ủ men bia.
Men bia có màu nâu vàng nhạt và thường có vị đắng của hoa bia
(houblon) và có mùi của bia ở dạng rắn hoặc nhão.
(2) Men chưng cất, được sản xuất trong quá trình lên men, của, ví dụ,
hạt, khoai tây hoặc trái cây, trong chưng cất. Nó có dạng bột nhão
hơi khô, có màu kem. Mùi của sản phẩm tùy thuộc vào sản phẩm
được chưng cất.
(3) Men làm bánh, thu được từ sự phát tán của chủng đặc biệt nuôi
cấy nấm men trong môi trường carbohydrate, thí dụ như mật
đường. Loại men này thường có dạng bánh nén (men nén) màu
xám vàng nhạt và thường có mùi rượu. Tuy nhiên, ngoài thị trường
còn có loại men có dạng khô (thường là dạng hạt) hoặc ở dạng
lỏng.
(4) Men cấy: nấm men thuần khiết nuôi cấy trong phòng thí nghiệm.
Nấm có thể dạng huyền phù (lơ lửng) trong nước được chưng cất
hoặc trong gelatin hoặc trong thạch rau câu (agar-agar). Nấm men
thường được bán với định lượng nhất định đóng gói trong bao bì
kín để bảo vệ nấm khỏi bị nhiễm bệnh.
(5) Men gây giống, thu được từ quá trình lên men liên tiếp của men
cấy và được dùng để gây giống cho nấm men thương mại. Loại
men này thường được bán dưới dạng khối nén, ẩm và dẻo hoặc
dưới dạng huyền phù lỏng.
Nấm men ỳ, thu được bằng việc làm khô, thường là các loại nấm men
bia, men để chưng cất hoặc làm bánh loại đã không còn đủ khả năng
hoạt động được nữa để sử dụng trong các ngành công nghiệp này. Chúng
thường được sử dụng làm thức ăn cho người (nguồn vitamin B) hoặc để
làm thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng vì nhu cầu cần loại
men này lớn nên các loại men khô này càng ngày càng được làm trực
tiếp từ các loại men sống (hoạt động) được chế biến riêng cho mục đích
này.
Nhóm này cũng bao gồm một số loại men khô khác (ví dụ: candida
lipolitica hoặc tropicalis, candida maltosa) thu được từ việc xử lý các
loại nấm men không thuộc loại sacchromyces. Chúng thu được bằng
cách làm khô các loại men đã được cấy trên các phần nền có chứa
hydrocarbon (như dầu gas hoặc n-paraffin) hoặc carbohydrate. Các loại
men khô này rất giàu protein, được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi và
thường được gọi là protein dầu (petroprotein) hoặc protein nấm men
sinh học (men bioprotein).
(B) CÁC VI SINH ĐƠN BÀO KHÁC, ĐÃ CHẾT
Mục này bao gồm các loại vi sinh vật đơn bào đã chết như: vi khuẩn và
tảo đơn bào. Ngoài các loại khác, mục này cũng bao gồm các loại vi sinh
vật được cấy trên các phần nền có chứa hydrocarbon hoặc carbon
dioxide. Các sản phẩm này rất giàu protein và thường được sử dụng làm
thức ăn chăn nuôi.
Một số sản phẩm của nhóm này có thể được đóng gói như thực phẩm bổ
sung cho người hoặc thức ăn chăn nuôi (ví dụ, ở dạng bột hoặc dạng
viên nén) và có thể chứa một lượng nhỏ chất tá dược, ví dụ như, các chất
ổn định và chất chống oxy hóa. Các sản phẩm này vẫn được phân loại ở
đây với điều kiện là việc bổ sung các thành phần như vậy không làm
thay đổi đặc tính là vi sinh.
(C) BỘT NỞ ĐÃ PHA CHẾ
Các loại bột nở đã pha chế thuộc nhóm này là hỗn hợp của một số hoá
chất (ví dụ: natri bicarbonate, axit tartaric, ammonium carbonate,
phosphate), thêm hoặc không thêm tinh bột. Dưới môi trường phù hợp,
chúng sinh ra khí carbon dioxide, và vì vậy chúng được sử dụng làm bột
nở trong nướng bánh. Chúng thường được đóng gói để bán lẻ (trong túi
hoặc hộp,...) theo các tên gọi khác nhau (ví dụ: bột làm bánh, bột nở làm
bánh alsatiọn,...).
Ngoài các loại khác, nhóm này không bao gồm:
(a) Các loại bột làm bánh ngũ cốc ví dụ, bột được cho thêm bột nở
(nhóm 11.01 hoặc 11.02).
(b) Men tự phân (nhóm 21.06).
(c) Vi sinh nuôi cấy (trừ các loại men) và các loại vắc xin (nhóm
(d) Thuốc thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04.
(e) Các loại enzyme (amylases, penpsine, men dịch vị...) (nhóm 35.07).
21.03 - Nước xốt và các chế phẩm làm nước xốt; đồ gia vị hỗn hợp
và bột canh hỗn hợp; bột mịn và bột thô từ hạt mù tạt và mù
tạt đã chế biến.
- Nước xốt đậu tương
- Ketchup cà chua và nước xốt cà chua khác
- Bột mù tạt mịn, bột mù tạt thô và mù tạt đã chế
biến
- Loại khác
(A) NƯỚC XỐT VÀ CÁC CHẾ PHẨM ĐỂ LÀM NƯỚC XỐT;
ĐỒ GIA VỊ HỖN HỢP VÀ BỘT CANH HỖN HỢP
Nhóm này bao gồm các chế phẩm, thường có đặc tính chính là gia
vị, được dùng để làm dậy mùi của một số món ăn (thịt, cá, salat...),
và được làm từ nhiều thành phần khác nhau (trứng, rau, thịt, trái
cây, bột mịn, tinh bột, dầu ăn, giấm, đường, gia vị, mù tạt, hương
liệu...). Nước xốt thường ở dạng lỏng và các chế phẩm để làm
nước xốt thường ở dạng bột, chỉ cần thêm sữa, nước... là thu được
nước xốt.
Nước xốt thường được cho vào thực phẩm khi chế biến hoặc khi
ăn. Nước xốt có hương vị, độ ẩm và tương phản về cấu trúc và màu
sắc. Nước xốt cũng có thể được sử dụng như một loại trung gian
trộn cùng thực phẩm, ví dụ, nước xốt velouté của món gà kem. Gia
vị lỏng (nước xốt đậu tương, nước xốt hạt tiêu, nước mắm) được sử
dụng như thành phần trong nấu ăn và gia vị trên bàn ăn.
Nhóm này cũng bao gồm các chế phẩm nhất định dựa trên rau hoặc
quả, chủ yếu ở thể lỏng, thể nhũ tương hoặc huyền phù và đôi khi
có chứa các mẩu vụn rau hoặc quả nhìn thấy được. Các chế phẩm
này khác với rau hoặc quả đã chế biến hoặc bảo quản của Chương
20 ở chỗ chúng được sử dụng như các loại nước xốt, như là một
thành phần đi kèm với thực phẩm hoặc trong chế biến một số món
ăn, chứ không phải để ăn riêng lẻ.
Gia vị hỗn hợp và bột canh hỗn hợp có chứa các loại gia vị khác
contained, for example, the velouté sauce of creamed chicken.
với gia vị và gia vị pha trộn của các nhóm từ 09.04 đến 09.10 ở
điểm chúng còn chứa một hoặc nhiều hương liệu hoặc các gia vị
thuộc các Chương khác ngoài Chương 9 với một tỉ lệ mà các hỗn
hợp này không còn đặc tính cơ bản của gia vị theo nghĩa của
Chương 9 (Xem Chú giải Tổng quát của Chương 9).
Để ví dụ, ta có thể kể ra đây các sản phẩm thuộc nhóm này: nước
xốt mayonnaise, các loại gia vị trang trí salad, nước xốt Béarnaise,
nước xốt bolognaise (có chứa thịt băm, cà chua nghiền nhuyễn, gia
vị...), nước xốt đậu tương, nước xốt nấm, nước xốt worcester
(thường được làm với thành phần cơ bản là nước xốt đậu tương
đặc, pha với gia vị trong dấm, thêm muối, đường, caramen và mù
tạt), nước xốt cà chua nấm (ketchup cà chua) (chế phẩm từ cà chua
nghiền nhuyễn, đường, giấm, muối và gia vị) và các loại nước xốt
cà chua khác, muối cần tây (hỗn hợp giữa muối ăn và hạt cần tây
nghiền nhỏ), một số bột canh hỗn hợp dùng trong chế biến xúc
xích, và các sản phẩm của Chương 22 (trừ các sản phẩm thuộc
nhóm 22.09) được chế biến để dùng trong nấu ăn và vì vậy không
thể dùng làm đồ uống được (ví dụ, rượu vang để nấu nướng và
cognac để nấu nướng). Nhóm này cũng bao gồm hỗn hợp các loại
thực vật hoặc các bộ phận của thực vật thuộc nhóm 12.11 loại dùng
làm nước xốt gia vị.
Cùng với các sản phẩm của Chương 9 và Chương 20 đã được kể
trên, nhóm này không bao gồm:
(a) Chiết xuất và nước ép thịt, cá hoặc của động vật giáp xác,
động vật thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không xương
sống khác (nhóm 16.03).
(b) Súp và nước xuýt và chế phẩm để làm súp và nước xuýt
(nhóm 21.04).
(c) Các chất phân huỷ protein, chủ yếu là hỗn hợp giữa amino
axit và natri chloride, được sử dụng như phụ gia để cho thêm
vào các chế phẩm thực phẩm (nhóm 21.06).
(d) Men tự phân (nhóm 21.06).
salad dressings, Béarnaise, bolognaise (consisting of chopped
meat, tomato purée, spices, etc.), soya sauces, mushroom sauce,
purée, sugar, vinegar, salt and spices) and other tomato sauces,
(B) BỘT MÙ TẠT MỊN, BỘT MÙ TẠT THÔ VÀ MÙ TẠT ĐÃ
CHẾ BIẾN
Bột mù tạt mịn và bột mù tạt thô thu được từ việc nghiền vụn rồi
rây kỹ hạt mù tạt của thuộc nhóm 12.07. Chúng có thể được làm từ
hạt mù tạt màu trắng hoặc màu đen hoặc hỗn hợp của hai loại đó.
Bột mù tạt thuộc nhóm này, bất kể mục đích sử dụng, dù trước khi
xay hạt có được loại chất béo, được bóc hết phần vỏ lụa bao ngoài
hạt hay không.
Nhóm này cũng bao gồm loại mù tạt chế biến gồm bột mù tạt mịn
trộn với một lượng nhỏ các thành phần khác (bột ngũ cốc, quế,
nghệ, tiêu...), hoặc dưới dạng bột nhão gồm có hỗn hợp bột mù tạt
với giấm, hèm rượu nho hoặc rượu vang, đôi khi có thêm muối,
đường, gia vị hoặc một số gia vị khác.
Ngoài các loại khác, nhóm này không bao gồm:
(a) Hạt mù tạt (nhóm 12.07).
(b) Dầu mù tạt không bay hơi (nhóm 15.14).
(c) Khô dầu từ hạt mù tạt thu được sau quá trình chiết xuất dầu
không bay hơi từ hạt mù tạt (nhóm 23.06).
(d) Tinh dầu mù tạt (nhóm 33.01).
21.04 - Súp và nước xuýt (broths) và chế phẩm để làm súp và nước
xuýt; chế phẩm thực phẩm tổng hợp đồng nhất.
- Súp và nước xuýt (broths) và chế phẩm để làm
súp và nước xuýt
- Chế phẩm thực phẩm tổng hợp đồng nhất
(A) SÚP VÀ NƯỚC XUÝT (BROTHS) VÀ CHẾ PHẨM ĐỂ LÀM
SÚP VÀ NƯỚC XUÝT
Mục này bao gồm:
(1) Các chế phẩm để làm súp hoặc nước xuýt chỉ cần thêm nước,
sữa,...
(2) Súp và nước xuýt chế biến ăn sẵn sau khi hâm nóng.
Các sản phẩm này chủ yếu là từ các sản phẩm thực vật (rau, bột, tinh
bột, tinh bột sắn, pasta, gạo, chiết xuất thực vật,...), thịt, chiết xuất của
thịt, chất béo, cá, động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật
thuỷ sinh không xương sống khác, peptone, amino axit hoặc chiết xuất
men. Chúng cũng có thể chứa một tỷ lệ muối đáng kể.
Các sản phẩm này thường có dạng viên, bánh, hình khối lập phương
hoặc dạng bột hoặc dạng lỏng.
(B) CHẾ PHẨM THỰC PHẨM TỔNG HỢP ĐỒNG NHẤT
Phù hợp với nội dung Chú giải 3 của Chương này, các chế phẩm thực
phẩm tổng hợp đồng nhất của nhóm này là hỗn hợp mịn đồng nhất của
hai hay nhiều thành phần cơ bản như: thịt, cá, rau hoặc quả được dùng
làm thực phẩm cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ hoặc cho các mục đích ăn
kiêng, được đóng gói để bán lẻ với trọng lượng tịnh không quá 250g.
Ngoài những thành phần cơ bản trên, các chế phẩm cũng có thể chứa
thêm một lượng nhỏ các chất như: pho mát, lòng đỏ trứng, tinh bột,
dextrin, muối hoặc vitamin nhằm để đáp ứng các mục đích ăn kiêng (chế
độ ăn cân bằng), hoặc để làm bột canh, để bảo quản hoặc cho các mục
đích khác. Các chế phẩm này cũng có thể chứa các mảnh nhỏ nhìn thấy
được của các thành phần nhưng với điều kiện các mảnh nhỏ này chỉ
chiếm tỉ lệ nhỏ, có nghĩa là không làm thay đổi đặc tính của sản phẩm là
các chế phẩm đồng nhất này.
Các chế phẩm thực phẩm đồng nhất thường được dùng làm thực phẩm
cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ, có dạng bột nhão mịn với độ đặc khác nhau,
phù hợp cho việc ăn trực tiếp hoặc làm nóng trước khi ăn. Chúng thường
được đựng trong lọ hoặc hộp kín khí và thường có lượng tương đương
với một bữa ăn đầy đủ.
Nhóm này không bao gồm các chế phẩm thực phẩm đồng nhất (trừ loại
được đóng để bán lẻ) được dùng làm thực phẩm cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ
nhỏ hoặc cho các mục đích ăn kiêng, hoặc được đóng gói với trọng
lượng tịnh trên 250g. Nhóm này cũng loại trừ các chế phẩm gồm một
thành phần cơ bản như thịt, phụ phẩm dạng thịt sau giết mổ, cá, rau hoặc
quả (thường thuộc Chương 16 hoặc 20), chứa hay không chứa lượng
nhỏ của bất kỳ thành phần khác để làm bột canh, bảo quản hoặc cho các
mục đích khác.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Hỗn hợp rau khô (rau thập cẩm thái quân cờ), ở dạng bột hay
không ở dạng bột (nhóm 07.12).
(b) Bột, bột thô, bột mịn của rau đậu khô (nhóm 11.06).
(c) Chiết xuất và nước ép của thịt, cá... và các sản phẩm khác của
Chương 16.
(d) Các chế phẩm thực phẩm có chứa cacao (thường thuộc nhóm
18.06 hoặc 19.01).
(e) Rau được bảo quản thuộc nhóm 20.04 hoặc 20.05 gồm hỗn hợp
các loại rau (julienne, salads, …), thậm chí đôi khi được sử dụng
để chế biến súp.
(f) Men tự phân (nhóm 21.06).
21.05 - Kem lạnh và sản phẩm ăn được tương tự khác, có hoặc
không chứa ca cao..
Nhóm này bao gồm các loại kem lạnh thường được chế biến với thành
phần cơ bản là sữa hoặc kem, và kem ăn được khác (thí dụ: sherbet (kem
làm từ nước quả và đôi khi có thêm rượu mùi), kem que), có chứa hoặc
không chứa ca cao với tỉ lệ bất kỳ. Tuy nhiên, nhóm này không bao
gồm hỗn hợp và các thành phần cơ bản để làm kem lạnh. Các sản phẩm
này sẽ được phân loại tuỳ theo thành phần cơ bản chứa trong sản phẩm
(thí dụ: nhóm 18.06, 19.01 hoặc 21.06).
21.06 - Các chế phẩm thực phẩm chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi
khác.
- Protein cô đặc và chất protein được làm rắn
- Loại khác
Nhóm này bao gồm các chế phẩm sau (với điều kiện chúng chưa thuộc
các nhóm khác trong Danh mục):
(A) Các chế phẩm được dùng làm thức ăn cho người, có thể ăn ngay
được hoặc phải qua chế biến (như nấu chín, hoà tan hoặc đun sôi
trong nước, sữa...).
(B) Các chế phẩm bao gồm toàn bộ hoặc một phần là thực phẩm, được
dùng để chế biến đồ uống hoặc chế phẩm thực phẩm cho người.
Nhóm này bao gồm các chế phẩm chứa hỗn hợp một số chất hoá
học (axit hữu cơ, muối canxi...) với thực phẩm (bột, đường, sữa
bột,...), được sử dụng làm thành phần của chế phẩm thực phẩm
hoặc hoặc để nâng cao một số tính chất (về hình thức, bảo quản
chất lượng...) (xem Chú giải Tổng quát Chương 38).
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các chế phẩm enzyme có
chứa thực phẩm (ví dụ: các sản phẩm dùng làm mềm thịt có chứa
một enzyme phân giải protein có dextrose bổ sung hoặc một số
thực phẩm khác). Các chế phẩm này thuộc nhóm 35.07 với điều
kiện chúng chưa thuộc các nhóm khác trong Danh mục.
Nhóm này có thể kể đến:
(1) Các loại bột để làm kem, thạch, kem lạnh, ăn được hoặc các chế
phẩm tương tự, có hoặc không được làm ngọt.
Các loại bột từ bột mịn, bột thô, tinh bột, chiết xuất malt hoặc từ
các sản phẩm của các nhóm từ 04.01 đến 04.04, có hoặc không cho
thêm ca cao, thuộc nhóm 18.06 hoặc 19.01 tuỳ theo hàm lượng ca
cao (xem Chú giải Tổng quát Chương 19). Các loại bột khác có
chứa ca cao thuộc nhóm 18.06. Còn các loại bột có đặc tính của
đường đã pha hương liệu hoặc chất màu dùng để làm ngọt, tuỳ theo
loại, thuộc nhóm 17.01 hoặc 17.02.
(2) Bột đã pha hương liệu để chế biến đồ uống, có hoặc không có
đường, có thành phần cơ bản là bicarbonate natri và glycyrhizin
hoặc chiết xuất cây cam thảo (được bán theo tên gọi “bột ca cao”).
(3) Các chế phẩm từ bơ hoặc từ các chất béo hoặc dầu khác thu được
từ sữa và được sử dụng chủ yếu trong các sản phẩm bánh.
(4) Các loại bột nhão từ đường, có thêm một tỉ lệ tương đối lớn các
chất béo, đôi khi thêm sữa hoặc quả hạch (nut), không được sử
dụng để chế biến trực tiếp kẹo đường mà được dùng để phủ và
bọc,... cho các sản phẩm sôcôla, các loại bánh quy trang trí, bánh
mì nhồi nhân, bánh nướng (cake),...
(5) Mật ong tự nhiên được làm giầu bằng sữa ong chúa.
(6) Các chất thuỷ phân từ protein chủ yếu là hỗn hợp giữa amino axit và
chloride natri, được sử dụng trong các chế phẩm thực phẩm (ví dụ, để
làm hương liệu); protein cô đặc thu được từ bột đậu tương đã được
khử chất béo bằng cách loại bỏ bớt một số thành phần của bột, được
dùng làm giầu protein cho các chế phẩm thực phẩm; bột đậu tương và
một số chất protein khác, đã được tạo kết cấu. Tuy nhiên, nhóm này
không bao gồm bột đậu tương đã được khử chất béo nhưng không
được tạo kết cấu, thích hợp hay không thích hợp làm thức ăn cho
người (nhóm 23.04) và protein biệt lập (nhóm 35.04).
(7) Các chế phẩm có hoặc không có cồn (không dựa trên các chất
thơm) loại được sử dụng để sản xuất các loại đồ uống có hoặc
không có cồn. Các chế phẩm này thu được bằng cách pha trộn
chiết xuất thực vật thuộc nhóm 13.02 với một số chất như: axit
lactic, axit tartaric, axit citric, axit phosphoric, các chất bảo quản,
các chất làm bông, nước quả,... Các chế phẩm này có chứa (toàn bộ
hoặc một phần) thành phần hương vị mang lại đặc trưng cho một
loại đồ uống nào đó. Vì thế, đồ uống thường có thể thu được bằng
cách đơn giản là hoà tan chế phẩm đó vào nước, rượu vang hoặc
cồn, thêm hoặc không thêm, ví dụ: đường hoặc khí carbon dioxide.
Một số trong các chế phẩm trên được chế biến riêng để sử dụng
trong gia đình; chúng cũng được sử dụng rộng rãi trong công
nghiệp để tránh việc vận chuyển một cách vô ích một lượng lớn
nước, cồn,... Như đã trình bày, các chế phẩm này không sử dụng
như đồ uống và vì vậy có thể được phân biệt với các loại đồ uống
thuộc Chương 22.
Nhóm này không bao gồm các chế phẩm được dùng để sản xuất
đồ uống, dựa trên một hoặc một số chất thơm (nhóm 33.02).
(8) Các loại viên nén ăn được với thành phần cơ bản là hương liệu tự
nhiên hay nhân tạo (ví dụ: vanillin).
(9) Các loại kẹo, các loại gôm và các sản phẩm tương tự (chủ yếu cho
người bị bệnh tiểu đường) có chứa các chất làm ngọt tổng hợp (ví
dụ: sorbitol) thay cho đường.
(10) Các chế phẩm (ví dụ: dạng viên nén) gồm có saccharrin và một
loại thực phẩm như lactoza, được sử dụng để làm ngọt.
(11) Men tự phân và chiết xuất men khác, những sản phẩm thu được từ
quá trình thủy phân men. Các sản phẩm này không thể làm nảy
sinh quá trình lên men được và chúng có chứa một hàm lượng lớn
protein. Chúng chủ yếu được sử dụng trong công nghiệp thực
phẩm (ví dụ: để chế biến một số gia vị).
(12) Các chế phẩm để chế biến nước chanh hoặc đồ uống khác, gồm có,
ví dụ:
- xirô đã ướp hương hoặc pha màu, là những dung dịch đường và
có pha thêm một số chất tự nhiên hoặc nhân tạo để tạo cho dung
dịch có hương vị của, ví dụ: một số loại quả, cây (phúc bồn tử,
phúc bồn đen, chanh, bạc hà...), có hoặc không pha thêm axit
citric và chất bảo quản;
- xirô được pha thêm hương liệu từ một chế phẩm tổng hợp thuộc
nhóm này (xem đoạn (7 ) ở trên), đặc biệt chứa chiết xuất từ
cola và axit citric được tạo màu bằng đường caramen, hoặc axit
citric và tinh dầu quả (ví dụ: chanh hoặc cam);
- xirô được pha hương liệu nước ép trái cây hoặc nước ép quả
hạch (nut) đã được biến đổi bằng cách bổ sung thêm một số
thành phần (axit citric, tinh dầu của trái cây,...) với một lượng
sao cho sự cân bằng của các thành phần trong nước ép trái cây hoặc
quả hạch tìm thấy trong nước ép tự nhiên rõ ràng bị phá vỡ;
- nước ép quả cô đặc có thêm axit citric (với một tỉ lệ tổng hàm
lượng axit lớn hơn nhiều so với nước ép tự nhiên), tinh dầu quả,
chất làm ngọt tổng hợp,...
Các chế phẩm này sau khi được hoà tan vào nước hoặc được xử lý
thêm, được sử dụng làm đồ uống. Một số chế phẩm của loại này
được dùng để bổ sung vào các chế phẩm thực phẩm khác.
(13) Các hỗn hợp chiết xuất từ sâm với một số chất khác (thí dụ: lactoza
hoặc glucoza) được dùng để chế biến "trà" sâm hay đồ uống có sâm.
(14) Các sản phẩm bao gồm hỗn hợp giữa một số loại cây hoặc các
phần của cây (kể cả hạt hoặc quả) của các loài khác nhau hoặc bao
gồm một số loại cây hoặc các phần của cây (kể cả hạt hoặc quả)
của một hoặc nhiều loài khác nhau với một số chất khác như một
hoặc nhiều loại chiết xuất từ cây, không sử dụng làm thực phẩm
được ngay nhưng là những loại được sử dụng để chế biến một số
loại dịch thảo dược hoặc trà thảo dược, (ví dụ, những loại có tính
năng nhuận tràng, xổ, thuốc lợi tiểu hoặc tống hơi), kể cả loại được
cho là có thể làm dịu một số chứng đau hoặc giúp cho cơ thể khoẻ
mạnh và dễ chịu.
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm các sản phẩm pha trộn có
định lượng của hoạt chất dùng để phòng hoặc chữa một loại bệnh
cụ thể (nhóm 30.03 hoặc 30.04).
Cũng loại trừ khỏi nhóm này là các sản phẩm thuộc nhóm 08.13
hoặc Chương 9.
(15) Các hỗn hợp bao gồm cây, các thành phần của cây, hạt hoặc quả
(nguyên dạng, cắt miếng, xay, nghiền vụn hoặc thành bột) của các
loài thuộc các Chương khác nhau (thí dụ: các Chương 7, 9, 11, 12)
hoặc nhiều loài khác nhau của nhóm 12.11, không được dùng để ăn
ngay mà để tạo hương liệu cho đồ uống hoặc để chế các chiết xuất
dùng trong sản xuất đồ uống.
Tuy nhiên, các sản phẩm của loại này mang đặc tính cơ bản của
các sản phẩm thuộc Chương 9 thì bị loại trừ (Chương 9).
(16) Các chế phẩm, thường được gọi là thực phẩm bảo vệ sức khỏe
(food supplements hoặc dietary supplements), bao gồm, hoặc dựa
trên, một hoặc nhiều vitamin, khoáng chất, axit amin, chất cô đặc,
chất chiết xuất, chất phân lập hoặc các chất tương tự có trong thực
phẩm hoặc loại tổng hợp của các chất đó, được đóng gói như thực
phẩm bổ sung cho chế độ ăn uống bình thường. Nhóm này bao
gồm các sản phẩm như vậy có hoặc không chứa chất làm ngọt, chất
màu, hương liệu, chất tạo mùi, chất mang, chất độn, chất ổn định
hoặc các chất hỗ trợ kỹ thuật khác. Những sản phẩm như vậy
thường được đóng gói trong bao bì có chỉ dẫn cho thấy chúng giữ
sức khỏe nói chung, cải thiện thành tích thể thao, ngăn ngừa sự
thiếu hụt dinh dưỡng hoặc điều chỉnh các mức dinh dưỡng dưới
chuẩn.
Các chế phẩm này không chứa đủ lượng thành phần hoạt tính để
mang lại hiệu quả điều trị hoặc phòng ngừa các bệnh tật trừ tình
trạng thiếu hụt dinh dưỡng liên quan. Các chế phẩm khác có lượng
thành phần hoạt tính đủ để mang lại tác dụng điều trị hoặc phòng
ngừa một căn bệnh cụ thể bị loại trừ (nhóm 30.03 hoặc 30.04).
(17) Các chế phẩm ở dạng hạt hoặc bột gồm đường, hương liệu hoặc
chất màu (ví dụ chiết xuất thực vật hoặc một số loại quả hoặc cây
như cam, phúc bồn đen, ...), chất chống oxy hóa (ví dụ axit
ascorbic hoặc axit citric hoặc cả hai), các chất bảo quản,..., loại
được sử dụng để chế biến đồ uống. Tuy nhiên, các chế phẩm có
đăc tính của đường thuộc nhóm 17.01 hoặc 17.02, tùy trường hợp.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Các chế phẩm được chế biến từ quả, quả hạch (nut) hoặc các
phần ăn được của cây thuộc nhóm 20.08, với điều kiện là đặc
tính cơ bản của các chế phẩm được tạo bởi quả, quả hạch
(nut) hoặc các phần ăn được của cây khác (nhóm 20.08).
(b) Vi sinh vật thuộc nhóm 21.02 được đóng gói như thực phẩm
bảo vệ sức khỏe (food supplements) dùng cho người (nhóm
(c) Các chế phẩm có chứa ca cao, được đóng gói như thực phẩm
bảo vệ sức khỏe thích hợp để sử dụng cho người (nhóm
(d) Kẹo cao su có chứa nicotin (nhóm 24.04).
Chương 22
Đồ uống, rượu và giấm
Chú giải.
1.- Chương này không bao gồm:
(a) Các sản phẩm của Chương này (trừ các sản phẩm của nhóm
22.09) được chế biến cho mục đích nấu nướng và không phù
hợp để làm đồ uống (thường ở nhóm 21.03);
(b) Nước biển (nhóm 25.01);
(c) Nước cất hoặc nước khử độ dẫn hoặc nước có độ tinh khiết
tương tự (nhóm 28.53);
(d) Axit axetic có nồng độ axit axetic trên 10% tính theo khối
lượng (nhóm 29.15);
(e) Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hay 30.04; hoặc
(f) Các chế phẩm nước hoa hoặc chế phẩm vệ sinh (Chương 33).
2.- Theo mục đích của Chương này và các Chương 20 và 21, "nồng độ
cồn tính theo thể tích" sẽ được xác định ở nhiệt độ 20oC.
3.- Theo mục đích của nhóm 22.02, khái niệm "đồ uống không chứa
cồn" có nghĩa là các loại đồ uống có nồng độ cồn không quá 0,5%
tính theo thể tích. Đồ uống có cồn được xếp vào các nhóm thích hợp
từ 22.03 đến 22.06 hoặc nhóm 22.08.
Chú giải phân nhóm.
1.- Theo mục đích của phân nhóm 2204.10, khái niệm "rượu vang
nổ"(1) là loại rượu khi bảo quản ở nhiệt độ 20oC trong thùng kín, có
mức áp suất vượt từ 3 bars trở lên.
TỔNG QUÁT
Các sản phẩm thuộc Chương này hoàn toàn khác biệt với các thực phẩm
đã được nêu trong các Chương trước của Danh mục.
Chúng chia thành 4 loại chính:
(A) Nước và các đồ uống không chứa cồn khác và nước đá.
(B) Đồ uống có cồn đã lên men (bia, rượu vang, rượu táo,...).
(C) Đồ uống và chất lỏng có chứa cồn được chưng cất (rượu mùi, rượu
mạnh, ...) và cồn ethyl.
(D) Giấm ăn và các sản phẩm thay thế giấm.
Chương này không bao gồm:
(a) Các sản phẩm sữa dạng lỏng của Chương 4.
(b) Các sản phẩm của Chương này (trừ các sản phẩm thuộc nhóm
22.09) đã được chế biến để dùng trong nấu nướng (ví dụ: rượu
vang và Cognac dùng để nấu nướng) và vì thế không phù hợp để
làm đồ uống (thường thuộc nhóm 21.03).
(c) Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04.
(d) Các sản phẩm nước hoa hoặc chế phẩm vệ sinh (toilet preparation)
(Chương 33).
22.01 - Nước, kể cả nước khoáng tự nhiên hoặc nhân tạo và nước có
ga, chưa pha thêm đường hoặc chất tạo ngọt khác hoặc
hương liệu; nước đá và tuyết.
2201.10 - Nước khoáng và nước có ga
2201.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(A) Nước tự nhiên thông thường: bao gồm tất cả các loại nước
thường tự nhiên (trừ nước biển - xem nhóm 25.01). Các loại nước
này có thể đã hoặc chưa được lọc sạch, trừ nước cất hoặc nước
khử độ dẫn và các loại nước tinh khiết tương tự thuộc nhóm 28.53.
Nhóm này không bao gồm các loại nước đã được làm ngọt hoặc
đã pha hương liệu (nhóm 22.02).
(B) Nước khoáng: là các loại nước khoáng thiên nhiên hay nước
khoáng nhân tạo.
Nước khoáng thiên nhiên là loại nước có chứa muối khoáng hoặc
có ga. Thành phần của các loại nước này rất khác nhau, nên thường
được phân loại theo các đặc tính hoá học của các loại muối trong
chúng, ví dụ:
(1) Các loại nước có kiềm.
(2) Các loại nước có sunfat.
(3) Các loại nước có hợp chất halogen và một nguyên tố hoặc
gốc khác (halide water).
(4) Các loại nước có lưu huỳnh.
(5) Các loại nước có arsen.
(6) Các loại nước có sắt.
Các loại nước khoáng thiên nhiên này có thể cũng chứa carbon
dioxide tự nhiên hoặc được bổ sung vào.
Nước khoáng nhân tạo đã qua chế biến từ nước uống thông
thường bằng cách thêm vào các thành tố hoạt tính (muối khoáng
hoặc ga) có trong nước khoáng tự nhiên tương ứng để tạo ra nước
có đặc tính tương tự.
Nhóm này loại trừ nước khoáng (tự nhiên hoặc nhân tạo) đã được
làm ngọt hoặc đã pha hương liệu (hương cam, chanh...) (nhóm
(C) Nước có ga (carbonated water), nghĩa là, các loại nước uống
thông thường đã được nạp khí carbon dioxide dưới áp suất. Các
loại này thường được gọi là “nước sô đa" hay “nước vùng seltz"
mặc dù nước vùng seltz thực sự lại là một loại nước khoáng tự
nhiên.
Nhóm này loại trừ các loại nước có ga đã được làm ngọt hoặc đã
pha hương liệu (nhóm 22.02).
(D) Nước đá và tuyết, có nghĩa là, nước đá và tuyết tự nhiên và nước
được làm đông lạnh.
Nhóm này loại trừ kem ăn được thuộc nhóm 21.05 và “tuyết axit
carbonic” hoặc “nước đá khô” (tức là dioxyde carbone ở dạng rắn)
(nhóm 28.11).
22.02 - Nước, kể cả nước khoáng và nước có ga, đã pha thêm đường
hoặc chất tạo ngọt khác hoặc hương liệu, và đồ uống không
chứa cồn khác, không bao gồm nước quả ép, nước ép từ quả
hạch (nut) hoặc nước rau ép thuộc nhóm 20.09.
2202.10 - Nước, kể cả nước khoáng và nước có ga, đã pha thêm
đường hoặc chất tạo ngọt khác hoặc hương liệu
- Loại khác:
2202.91 - - Bia không cồn
2202.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại đồ uống không chứa cồn, như định nghĩa tại
Chú giải 3 của Chương này, không được phân loại vào các nhóm khác,
đặc biệt là nhóm 20.09 hoặc 22.01.
(A) Nước, kể cả nước khoáng và nước có ga, đã pha thêm đường
hoặc chất làm ngọt khác hoặc đã pha hương liệu.
Nhóm này có thể kể đến:
(1) Các loại nước khoáng (tự nhiên hoặc nhân tạo) đã được
làm ngọt hoặc pha hương liệu.
(2) Các loại đồ uống như nước chanh, đồ uống có hương cam,
nước cola, bao gồm nước uống thông thường, được làm ngọt
hoặc không, được tạo hương bằng nước ép hoặc tinh chất trái
cây hoặc quả hạch (nut) hoặc bằng các chiết xuất hỗn hợp,
đôi khi có pha thêm axit tartaric hoặc axit citric. Các loại
nước này thường được tạo ga bằng cách cho thêm khí carbon
dioxide, và thường được đóng chai hoặc trong các loại bao bì
kín khí khác.
(B) Bia không cồn. Nhóm này bao gồm:
(1) Bia làm từ mạch nha, nồng độ cồn tính theo thể tích giảm
xuống còn 0,5% hoặc ít hơn.
(2) Bia gừng và bia thảo mộc, có nồng độ cồn không quá 0,5% tính
theo thể tích.
(3) Hỗn hợp bia và đồ uống không cồn (ví dụ, nước chanh), có
nồng độ cồn không quá 0,5% tính theo thể tích.
(C) Các loại đồ uống không có cồn khác, trừ nước quả ép và nước
rau ép thuộc nhóm 20.09.
Nhóm này có thể kể đến:
(1) Mật hoa liễu bách (Tamarind nectar) đã được chế biến
thành đồ uống sau khi pha thêm nước, đường và lọc kĩ.
(2) Một số đồ uống khác có thể được trực tiếp sử dụng, như
các loại đồ uống có thành phần cơ bản là sữa và ca cao.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Sữa chua ở dạng lỏng và các loại sữa và kem đã lên men hoặc được
làm chua khác, có chứa ca cao, quả hoặc hương liệu (nhóm 04.03).
(b) Xirô đường thuộc nhóm 17.02 và xirô đường có thêm hương liệu
thuộc nhóm 21.06.
(c) Các loại nước ép trái cây hoặc quả (hạch) hoặc nước rau ép, dùng
hay không được dùng làm đồ uống (nhóm 20.09).
(d) Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04.
22.03 - Bia sản xuất từ malt.
Bia là một loại đồ uống có chứa cồn thu được từ quá trình lên men của
nước hèm (wort) chế biến từ ngũ cốc ủ mạch nha (phổ biến nhất là lúa
đại mạch hoặc lúa mì), nước và (thường) với hoa bia (houblon). Một
lượng ngũ cốc chưa gây malt nhất định (ví dụ: ngô hoặc lúa gạo) cũng có
thể được sử dụng trong quá trình chế biến nước hèm (wort). Hoa bia
(houblon) cho thêm vào tạo nên vị đắng và mùi thơm và có tác dụng bảo
quản được sản phẩm tốt hơn. Quả anh đào hoặc một số chất tạo hương
khác đôi khi được thêm vào bia trong quá trình lên men.
Đường (đặc biệt là glucoza), chất tạo màu, carbon dioxide và các chất
khác có thể cũng được cho thêm vào.
Tuỳ theo các phương pháp lên men, các sản phẩm có thể là bia lên men
chìm thu được ở nhiệt độ thấp với các loại men chìm (bottom yeast),
hoặc các loại bia lên men nổi, thu được ở nhiệt độ cao hơn với các loại
men nổi (top yeast).
Bia có thể có màu nhạt hoặc đậm, ngọt hoặc đắng, nhẹ hoặc nặng. Bia
thường được đóng trong thùng (barrels), đóng chai hoặc hộp kín khí và
cũng có thể bán trên thị trường với các loại tên gọi như: bia anh (ale), bia
đen (stout)...
Nhóm này cũng bao gồm các loại bia cô đặc được chế biến từ bia chưng
cất chân không có độ cồn thấp (nhưng với hàm lượng chiết xuất malt
cao) chỉ còn từ 1/5 đến 1/6 khối lượng ban đầu.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Một số đồ uống, mặc dù chúng đôi khi được gọi là bia, không có
cồn (ví dụ: loại đồ uống thu được từ nước pha với đường caramen)
(nhóm 22.02).
(b) Các loại đồ uống được gọi là bia không chứa cồn gồm bia sản xuất
từ malt, có nồng độ cồn tính theo thể tích giảm từ 0,5% trở xuống
(nhóm 22.02).
(c) Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04.
22.04- Rượu vang làm từ nho tươi, kể cả rượu vang cao độ; hèm nho
trừ loại thuộc nhóm 20.09.
- Rượu vang nổ
- Rượu vang khác; hèm nho đã pha cồn để ngăn
ngừa hoặc cản sự lên men
- - Loại trong đồ đựng không quá 2 lít
- - Loại trong đồ đựng trên 2 lít nhưng không quá 10
lít
- - Loại khác
- Hèm nho khác
(I) Rượu vang chế biến từ nho tươi
Rượu vang được phân loại trong nhóm này phải là sản phẩm cuối
cùng từ quá trình lên men rượu của hèm nho tươi.
Nhóm này bao gồm:
(1) Rượu vang thông thường (vang đỏ, hồng hoặc trắng).
(2) Rượu vang được làm cao độ với cồn.
(3) Rượu vang nổ. Các loại rượu vang này được nạp thêm khí
carbon dioxide, hoặc từ quá trình lên men cuối cùng trong bình
kín (các loại rượu vang nổ chính hiệu), hoặc bằng cách nạp thêm
khí nhân tạo sau khi đóng chai (các loại vang có ga).
(4) Các loại rượu vang ngọt tráng miệng (đôi khi được gọi là
rượu vang mùi). Các loại này có nồng độ cồn cao và thường
thu được từ hèm có lượng đường cao, chỉ một phần của lượng
đường này được chuyển hoá thành cồn trong khi lên men.
Trong một số trường hợp các loại này được làm cao độ bằng
cách cho thêm cồn, hoặc thêm hèm cô đặc pha thêm cồn. Các
loại rượu vang ngọt tráng miệng (hoặc rượu mùi) này có thể
kể đến canary, cyprus, lacryma christi, madeira, malaga,
malmsey, marsala, port, samos và sherry.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các loại đồ uống có thành phần cơ bản là rượu vang thuộc nhóm
(b) Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04.
(II) Hèm nho
Hèm nho, thu được từ quá trình ép nho tươi, là một chất lỏng màu
(1) Ordinary wines (red, white or rosé).
vàng xanh nhạt, có vẩn, có vị ngọt. Loại này chứa dung dịch gồm
hỗn hợp các loại đường (glucoza và fructoza), các axit (tartaric,
malic,...), các chất có chứa albumin, các chất khoáng và các chất
nhầy và các thành phần tạo nên hương vị đặc trưng của rượu vang.
Hèm nho, trừ khi bị kìm hãm, lên men một cách tự nhiên (các loại
đường được chuyển hóa thành cồn); sản phẩm cuối cùng của quá
trình lên men này là rượu vang.
Có thể kiềm chế xu hướng lên men tự nhiên của hèm nho bằng quá
trình gọi là đình chỉ lên men (mutage), hoặc là để cản sự lên men
hoặc là để ngừng hẳn quá trình lên men.
Quá trình đình chỉ lên men hèm nho (mutage) có thể được tiến
hành bằng nhiều cách khác nhau:
(1) Bằng sử dụng tác động của axit salicylic hoặc của một số chất
diệt khuẩn khác.
(2) Bằng cách cho vào hèm nho dioxide lưu huỳnh.
(3) Bằng cách pha thêm cồn. Dòng sản phẩm này thường được
uống ngay như rượu vang mà không cần qua công đoạn xử lý
nào khác nữa. Một số khác, được gọi là hèm nho đã ngưng
lên men, được sử dụng để sản xuất rượu vang mùi và rượu
khai vị...
(4) Bằng cách làm lạnh.
Nên lưu ý rằng loại này bao gồm hèm nho đã lên men một phần, đã
hoặc chưa được ngưng quá trình lên men, cũng như hèm nho chưa
lên men, có thêm cồn, cả hai loại sản phẩm này đều có nồng độ cồn
theo thể tích trên 0,5%.
Nhóm này không bao gồm các loại nước ép nho và hèm nho, đã
hoặc chưa cô đặc, chưa lên men hoặc có nồng độ cồn theo thể tích
không quá 0,5% (nhóm 20.09).
22.05 - Rượu Vermouth và rượu vang khác làm từ nho tươi đã pha
thêm hương liệu từ thảo mộc hoặc chất thơm.
- Loại trong đồ đựng không quá 2 lít
- Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại đồ uống (thường được dùng làm rượu khai
vị hoặc rượu bổ), được sản xuất từ rượu vang nho tươi thuộc nhóm
22.04, và được tạo hương bằng pha chế các phần của cây (lá, rễ, quả...)
hoặc các chất thơm.
Nhóm này có thể cũng bao gồm các loại đồ uống trên đã được cho thêm
vitamin hoặc hợp chất sắt.
Các loại sản phẩm này đôi khi được gọi là các sản phẩm "thực phẩm bảo
vệ sức khỏe (food supplements)" được dùng vào bồi bổ sức khoẻ.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Rượu vang thu được từ nho khô và được pha chế với các loại cây
hoặc các chất có hương (nhóm 22.06).
(b) Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04.
22.06 - Đồ uống đã lên men khác (ví dụ, vang táo, vang lê, vang mật
ong, rượu sa kê); hỗn hợp của đồ uống đã lên men và hỗn
hợp của đồ uống đã lên men với đồ uống không chứa cồn,
chưa chi tiết hoặc ghi ở nơi khác.
Nhóm này bao gồm tất cả các loại đồ uống đã lên men trừ các loại đã
được nêu ở các nhóm từ 22.03 đến 22.05.
Nhóm này có thể kể đến:
(1) Vang táo, là loại đồ uống có cồn thu được từ quá trình lên men của
nước ép táo.
(2) Vang lê, là loại đồ uống được lên men tương tự như vang táo thu
được từ nước ép lê.
(3) Vang mật ong, là loại đồ uống thu được từ quá trình lên men của
dung dịch mật ong pha với nước. (Nhóm này bao gồm hydromel
vineux – vang mật ong có pha thêm rượu vang trắng, hương liệu và
một số chất khác.)
(4) Vang nho khô.
(5) Vang thu được từ việc lên men nước ép trái cây hoặc quả hạch
saké); mixtures of fermented beverages and mixtures of
(nut), trừ loại nước ép nho tươi (rượu vang sung, chà là hoặc bách
xù), hoặc từ nước ép rau, có nồng độ cồn theo thể tích trên 0,5%.
(6) “Malt lên men (malton)”, loại đồ uống đã lên men được chế biến
từ chiết xuất malt và bã rượu vang.
(7) Vân sam (spruce), một loại đồ uống được làm từ các loại lá hoặc
nhánh nhỏ của cây linh sam hoặc từ tinh chất cây vân sam.
(8) Rượu sa kê hoặc rượu vang làm từ gạo.
(9) Vang cọ, được chế từ nhựa của một số cây cọ.
(10) Bia gừng và bia thảo mộc, được chế biến từ đường và nước và
gừng hoặc một số loại thảo dược, được lên men bằng men.
Tất cả các loại đồ uống trên có thể có ga tự nhiên hoặc được nạp thêm
carbon dioxide. Chúng được phân loại trong nhóm này khi được làm cao
độ cồn hoặc khi lượng cồn được tăng lên do quá trình lên men thêm, với
điều kiện là chúng vẫn giữ được đặc tính của các sản phẩm thuộc nhóm
này.
Nhóm này cũng bao gồm các hỗn hợp của đồ uống không chứa cồn và
đồ uống đã lên men và hỗn hợp đồ uống đã lên men thuộc các nhóm
trước của Chương 22, thí dụ: hỗn hợp nước chanh với bia hoặc rượu
vang, hỗn hợp bia với rượu vang, có nồng độ cồn theo thể tích trên 0,5%.
Một số đồ uống có thể đã được cho thêm vitamin hoặc hợp chất sắt. Các
loại sản phẩm này đôi khi được gọi là các sản phẩm "thực phẩm bảo vệ
sức khỏe (food supplements)" được dùng để bồi bổ sức khoẻ.
Nhóm này không bao gồm các loại nước ép quả (táo, lê,...) và các loại
đồ uống khác có nồng độ cồn theo thể tích không quá 0,5% (các nhóm
20.09 và 22.02 tương ứng).
(8) Saké or rice wine.
22.07 - Cồn etylic chưa biến tính có nồng độ cồn từ 80% trở lên tính
theo thể tích; cồn etylic và rượu mạnh khác, đã biến tính, ở
mọi nồng độ.
- Cồn ê-ti-lích chưa biến tính có nồng độ cồn từ
80% trở lên tính theo thể tích
- Cồn ê-ti-lích và rượu mạnh khác, đã biến tính, ở
mọi nồng độ
Cồn ê-ti-lích không được phân loại cùng các loại rượu mạch hở khác
thuộc nhóm 29.05 nhưng bị loại trừ khỏi Chương 29 theo chú giải 2(b)
của Chương 29.
Nhóm này bao gồm:
(1) Cồn ê-ti-lích chưa biến tính có nồng độ cồn tính theo thể tích từ
80% trở lên.
(2) Cồn ê-ti-lích và rượu mạnh khác, đã biến tính, ở mọi nồng độ.
Đồ uống đã lên men và các loại đồ uống có rượu chứa cồn ê-ti-lích thu
được từ việc lên men một số loại đường bằng men hoặc các cách lên
men khác. Cồn ê-ti-lích chưa biến tính thuộc các nhóm 22.07 hoặc 22.08
được sản xuất khi một sản phẩm được lên men được xử lý bằng các quy
trình thanh lọc tiếp theo (ví dụ, chưng cất, lọc,...) đến mức mà các đặc
tính sản phẩm được lên men bị mất đi, tạo ra một chất lỏng trong, không
màu, không ga biểu hiện chỉ ở mùi và vị của cồn ê-ti-lích. Cồn ê-ti-lích
có thể cũng được sản xuất bằng cách tổng hợp.
Cồn ê-ti-lích và rượu mạnh khác, đã biến tính, là các loại rượu mạnh
được trộn với các chất làm cho chúng không thích hợp để uống nhưng
không ảnh hưởng đến việc sử dụng trong công nghiệp. Các chất làm biến
tính được sử dụng ở mỗi nước một khác tuỳ theo luật pháp quốc gia.
Chúng bao gồm naphtha gỗ, methanol, acetone, pyridine, hydrocarbon
thơm (benzene, vv), chất tạo màu.
Nhóm này cũng bao gồm các loại rượu mạnh trung tính, tức là cồn
ê-ti-lích có chứa nước mà trong đó một số thành phần phụ (các loại cồn bậc
cao, ester, aldehyde, axit,...) có mặt trong lần chưng cất đầu tiên hầu như được
loại bỏ bằng các quá trình thanh lọc (ví dụ, chưng cất phân đoạn).
Cồn ê-ti-lic được sử dụng cho nhiều mục đích công nghiệp, ví dụ, như
dung môi trong sản xuất hóa chất, vecni..., để chiếu sáng hoặc làm nóng,
để chế biến đồ uống có cồn.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Cồn ê-ti-lích chưa biến tính có nồng độ cồn theo thể tích dưới
80% (nhóm 22.08).
(b) Rượu mạnh khác (trừ loại đã biến tính) (nhóm 22.08).
(c) Các nhiên liệu ở dạng rắn và bán rắn có thành phần cơ bản là cồn
(thường được bán trên thị trường với tên gọi là “cồn đóng rắn”)
(nhóm 36.06).
22.08 - Cồn etylic chưa biến tính có nồng độ cồn dưới 80% tính theo
thể tích; rượu mạnh, rượu mùi và đồ uống có rượu khác.
- Rượu mạnh thu được từ cất rượu vang nho hoặc
bã nho
- Rượu whisky
- Rượu rum và rượu mạnh khác được cất từ các sản
phẩm mía đường lên men
- Rượu gin và rượu Geneva
- Rượu vodka
- Rượu mùi
- Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại rượu với bất cứ nồng độ cồn nào:
(A) Rượu mạnh thu được bằng việc chưng cất rượu vang nho, vang
táo hoặc các loại đồ uống đã được lên men khác hoặc ngũ cốc hoặc
các sản phẩm thực vật khác đã lên men, không thêm hương liệu;
chúng vẫn thuộc nhóm này, toàn bộ hoặc một phần, các thành phần
phụ (ester, aldehyde, axit, các loại cồn bậc cao,…) tạo cho rượu
mạnh có hương vị và mùi thơm đặc trưng riêng.
(B) Rượu mùi, là loại đồ uống có nồng độ cồn cao, mà trong đó
người ta thường cho thêm đường, mật ong hoặc chất tạo ngọt tự
nhiên khác và các chiết xuất hoặc tinh chất (ví dụ, các đồ uống có
cồn được sản xuất bằng cách chưng cất, hoặc pha trộn, cồn ê-ti-
lích hoặc các loại rượu mạnh được chưng cất, với một hoặc nhiều
loại sau đây: quả, hoa hay các thành phần khác của cây, chiết
xuất, tinh chất, tinh dầu hoặc các loại nước ép đã hoặc chưa được
cô đặc). Các sản phẩm này cũng bao gồm rượu mùi có chứa tinh
thể đường, rượu mùi nước ép trái cây, rượu trứng, rượu thảo mộc,
rượu quả mọng, rượu gia vị, rượu trà, rượu sôcôla, rượu sữa và
rượu mật ong.
(C) Tất cả các loại đồ uống có nồng độ cồn cao khác không thuộc
bất cứ nhóm nào trước đó trong Chương này.
Với điều kiện là chúng có nồng độ cồn dưới 80% tính theo thể tích, nhóm
này cũng bao các loại rượu mạnh chưa biến tính (cồn ê-ti-lích và các loại
rượu trung tính), trái với các sản phẩm được nêu ở các phần (A), (B) và (C)
trên đây, ở chỗ nó được đặc trưng bởi việc thiếu các thành phần phụ tạo
hương vị hoặc mùi thơm. Các loại rượu này vẫn thuộc nhóm này dù cho
chúng được dùng để uống hay để phục vụ cho công nghiệp.
Ngoài cồn ê-ti-lích chưa biến tính có nồng độ cồn dưới 80% theo thể
tích, nhóm này có thể kể đến:
(1) Rượu mạnh thu được từ việc chưng cất rượu vang nho hoặc từ bã
(2) Rượu whisky và các loại rượu mạnh khác thu được bằng việc
chưng cất hèm rượu của hạt ngũ cốc (đại mạch, yến mạch, mạch
đen, lúa mì, ngô,...).
(3) Rượu mạnh thu được từ việc chưng cất các sản phẩm đã lên men
của mía đường (nước ép mía đường, xirô mía đường, mật mía
đường), ví dụ, rượu rum, tafia, cachaca.
(4) Các loại đồ uống có cồn được biết tới dưới tên gọi là rượu gin hoặc
rượu Geneva, có chứa các thành phần hương liệu của quả bách xù.
(5) Rượu vodka thu được từ việc chưng cất hèm đã lên men của các
sản phẩm nông nghiệp (ví dụ, ngũ cốc, khoai tây) và đôi khi được
tiếp tục xử lý bằng than hoạt tính hoặc carbon.
(6) Các loại đồ uống có cồn (thường được gọi là rượu mùi), như
anisette (thu được từ cây hồi xanh và hoa hồi dạng sao), curacao,
(được sản xuất với vỏ cam đắng), kummel (được tạo hương bằng
hạt ca-rum hoặc hạt thì là Ai cập).
(7) Các loại rượu mùi được gọi cremes. Sở dĩ được gọi như vậy vì độ
đặc hoặc màu của rượu, các loại rượu này thường có nồng độ cồn
(7) The liqueurs known as “crèmes”, because of their consistency or
thấp và rất ngọt (ví dụ, rượu kem cacao, chuối, vani, cà phê).
Nhóm này cũng bao gồm cả rượu mạnh gồm thể nhũ tương của
rượu mạnh với các sản phẩm như lòng đỏ trứng hoặc với kem.
(8) Rượu mùi ratafia. Đây là các loại rượu mùi thu được từ các loại
nước ép quả; chúng thường được pha thêm một lượng nhỏ các chất
thơm (rượu mùi ratafia anh đào, phúc bồn đen, phúc bồn tử, mơ...).
(9) Rượu mạnh (Aquavit) và các đồ uống có nồng độ cồn cao khác thu
được từ quá trình chưng cất cồn với trái cây hoặc các phần khác
của cây hoặc thảo mộc.
(10) Rượu mạnh thu được từ vang táo (calvados), từ mận (mận vàng
(mirabelle), mận quít (quetsch)), từ anh đào (rượu anh đào) hoặc từ
một số quả khác.
(11) Rượu arrack, rượu mạnh thu được từ gạo hoặc từ rượu vang cọ.
(12) Rượu mạnh thu được từ việc chưng cất nước ép quả minh quyết đã
lên men.
(13) Các loại rượu khai vị có chứa cồn (rượu absinth (ngải đắng), rượu
đắng...) trừ các loại có thành phần cơ bản là rượu vang từ nho tươi
được phân loại vào nhóm 22.05.
(14) Nước chanh có cồn (không phải dược phẩm).
(15) Các loại nước ép trái cây hoặc quả hạch (nut) hoặc ép rau đã pha
thêm cồn và có nồng độ cồn trên 0,5% tính theo thể tích, trừ các
sản phẩm thuộc nhóm 22.04.
(16) Các loại đồ uống có nồng độ cồn cao, đôi khi được gọi là "thực
phẩm bảo vệ sức khỏe (food supplements)" được dùng để bồi bổ
sức khoẻ. Chúng có thể, ví dụ, được chế từ các chiết xuất cây, chất
cô đặc của quả, từ lecithin, từ hoá chất,..., và được cho thêm
vitamin hoặc hợp chất sắt.
(17) Các loại đồ uống được chế để mô phỏng rượu vang bằng cách trộn
rượu mạnh đã chưng cất với nước ép trái cây hoặc quả hạch (nut)
và/hoặc với nước, đường, chất tạo màu, hương liệu hoặc một số
thành phần khác, trừ các sản phẩm thuộc nhóm 22.04.
(18) Rượu mạnh thu được từ chưng cất mật củ cải đường lên men.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm:
(a) Rượu vermouth và các loại rượu khai vị khác có thành phần cơ
bản là rượu vang nho tươi (nhóm 22.05).
(b) Cồn ê-ti-lích và rượu mạnh khác, đã biến tính (ở mọi nồng độ),
hoặc cồn ê-ty-lích chưa biến tính có nồng độ cồn từ 80% trở lên
tính theo thể tích (nhóm 22.07).
22.09 – Giấm và chất thay thế giấm làm từ axít axetíc.
(I) GIẤM
Giấm là một chất lỏng axit thu được thu được bằng quá trình lên men
axetic khi được để ra ngoài không khí và ở một nhiệt độ ổn định thông
thường không vượt quá 20oc đến 30oc, của tất cả các loại chất lỏng có
cồn hoặc của một số dung dịch có đường hoặc có tinh bột sau khi đã qua
quá trình lên men rượu, dưới tác động của vi khuẩn giấm Mycoderma
aceti hoặc acetobacter.
Nhóm này bao gồm các loại giấm sau, được phân biệt theo nguồn gốc
của chúng:
(1) Giấm làm từ rượu vang. Đó là một dung dịch có màu vàng nhạt
đến màu đỏ tuỳ theo loại rượu vang được chế biến; nó có một
hương vị đặc biệt (bouquet) nhờ vào sự tồn tại, ví dụ, của các este
có trong rượu vang.
(2) Giấm làm từ bia hoặc từ malt; giấm làm từ vang táo, vang lê
hoặc từ các loại quả đã lên men khác. Các loại giấm này thường
có màu vàng nhạt.
(3) Giấm làm từ rượu mạnh, không có màu ở trạng thái tự nhiên.
(4) Giấm làm từ các loại hạt ngũ cốc, mật, khoai tây đã thuỷ phân,
(II) CÁC CHẤT THAY THẾ GIẤM
Các chất thay thế giấm thu được từ việc pha loãng axít axetíc với nước.
Chúng thường được tạo màu bằng caramen hoặc bằng một số chất tạo
màu hữu cơ khác (xem phần loại trừ (a) dưới đây).
Giấm và các chất thay thế giấm được sử dụng để ướp gia vị hoặc bảo
quản thực phẩm. Chúng có thể được tạo hương bằng thực vật như hương
ngải thơm (tarragon) hoặc cho thêm gia vị.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các dung dịch nước có chứa axít axetíc với tỉ trọng trên 10%
(nhóm 29.15). Tuy nhiên, nội dung chú giải 1 (d) của Chương 22,
không áp dụng đối với các dung dịch cùng chủng loại có nồng độ
axít axetíc thường là từ 10 đến 15% theo trọng lượng, đã được tạo
hương hoặc tạo màu để sử dụng trong thực phẩm làm chất thay thế
giấm nên chúng vẫn thuộc nhóm này.
(b) Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04.
(c) Các loại giấm dùng trong vệ sinh (nhóm 33.04).