CHU GIAI 2022_ TU CHUONG 10 DEN CHUONG 15
Chương 10
Ngũ cốc
Chú giải.
1.- (A) Các sản phẩm kể tên trong các nhóm của Chương này chỉ được
phân loại trong các nhóm đó khi ở dạng hạt, còn hoặc không còn
ở trên bông hoặc trên thân cây.
(B) Chương này không bao gồm các loại hạt đã xát vỏ hoặc chế biến
cách khác. Tuy nhiên, thóc được xay để bỏ trấu, gạo được xát,
đánh bóng, hồ (glazed), gạo đồ(1) hoặc gạo tấm vẫn được phân
loại trong nhóm 10.06. Tương tự, hạt diêm mạch (quinoa) đã
được loại bỏ toàn bộ hoặc một phần vỏ lụa để tách saponin,
nhưng không trải qua bất kỳ quá trình chế biến nào khác, vẫn
được phân loại trong nhóm 10.08.
2.- Nhóm 10.05 không bao gồm ngô ngọt (Chương 7).
Chú giải phân nhóm.
1.- Khái niệm "lúa mì durum" có nghĩa là loại lúa mì thuộc loài
Triticum durum và các giống lai tạo từ việc kết hợp giữa các loài
của Triticum durum có cùng số nhiễm sắc thể (28) như loài đó.
TỔNG QUÁT
Chương này chỉ bao gồm các loại hạt ngũ cốc, đã được hoặc chưa được
tách khỏi bông hoặc bắp. Các loại hạt từ ngũ cốc được thu hoạch non,
vẫn còn nguyên vỏ, được phân loại như loại hạt thường. Các loại ngũ
cốc tươi (trừ ngô ngọt thuộc Chương 7), được dùng hay không được
dùng làm rau, vẫn được phân loại vào Chương này.
Lúa gạo vẫn được phân loại trong nhóm 10.06 ngay cả khi lúa gạo đã
được xay để bỏ trấu (gạo lứt), xát, đánh bóng, hồ (glazed), gạo đồ, hoặc
gạo tấm, miễn là không được chế biến theo cách khác. Tương tự, hạt
diêm mạch (quinoa) đã được loại bỏ toàn bộ hoặc một phần vỏ lụa để
tách saponin, nhưng không trải qua bất kỳ quá trình chế biến nào khác,
vẫn được phân loại trong nhóm 10.08. Tuy nhiên, những loại hạt khác
không thuộc Chương này nếu chúng đã được xát vỏ hoặc sơ chế theo
các cách khác, ví dụ, như được mô tả tại nhóm 11.04 (xem Chú giải
tương ứng).
10.01 - Lúa mì và meslin (+).
- Lúa mì Durum:
- - Hạt giống
- - Loại khác
- Loại khác:
- - Hạt giống
- - Loại khác
Lúa mì được phân thành 2 loại chính:
(1) Lúa mì thường, mềm, nửa cứng hoặc cứng và thường có vết bột
nứt;
(2) Lúa mì Durum (xem Chú giải phân nhóm 1 của Chương này). Lúa
mì Durum thường có màu từ vàng hổ phách ngả sang nâu; nó
thường có vết nứt có màu trắng đục, giống sừng, trong mờ.
Lúa mì Spelt, loại lúa mì nâu hạt nhỏ vẫn còn vỏ sau khi được đập cũng
được phân loại vào nhóm này.
Lúa mì Meslin là một hỗn hợp giữa lúa mì và lúa mạch đen, thường có
tỉ lệ là 2 phần lúa mì và 1 phần mạch đen.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1001.11 và 1001.91
Theo mục đích của phân nhóm1001.11 và 1001.91, thuật ngữ “hạt
giống” chỉ bao gồm lúa mì hoặc lúa mì Meslin được các cơ quan quốc
gia có thẩm quyềnđánh giá là để gieo trồng.
10.02 - Lúa mạch đen (+).
- Hạt giống
- Loại khác
Lúa mạch đen có hạt hình dạng dài hơn, màu xanh xám hoặc xám sáng.
Bột của nó màu xám.
Lúa mạch đen có cựa dùng làm thuốc do nấm gây nên gọi là hạt cựa
(ergot) không thuộc nhóm này (nhóm 12.11).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1002.10
Theo mục đích của phân nhóm 1002.10, thuật ngữ “hạt giống” chỉ bao
gồm lúa mạch đen được các cơ quan quốc gia có thẩm quyền đánh giá là
để gieo trồng.
10.03 - Lúa đại mạch (+).
- Hạt giống
- Loại khác
Lúa đại mạch có hạt to hơn hạt lúa mì, thường được dùng làm thức ăn
chăn nuôi. Nó chủ yếu được sử dụng để tạo ra malt và, khi được đánh
bóng hoặc nghiền thì được dùng để chế biến thức ăn hoặc nấu súp.
Các loại lúa đại mạch Bracteifeous khác với phần lớn các loại ngũ cốc
khác bởi vì vỏ của các loại lúa mạch dính chặt vào phần hạt trong quá
trình phát triển và vì vậy người ta không thể tách được vỏ chỉ bằng các
biện pháp đập và sàng sẩy đơn thuần. Lúa đại mạch loại này, có màu
vàng rơm và thuôn 2 đầu, được phân loại vào nhóm này chỉ khi vẫn còn
nguyên vỏ. Khi đã bị xát hết phần vỏ, nó bị loại trừ (nhóm 11.04); việc
xát vỏ đòi hỏi cả một quy trình xát trong đó đôi khi xát mất một phần vỏ.
Còn loại lúa đại mạch về bản chất tự nhiên không có vỏ, vẫn thuộc nhóm
này miễn là chưa qua bất kỳ một quá trình chế biến nào trừ đập và sàng
sẩy.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Lúa đại mạch đã nảy mầm (malt), và malt đã rang (xem Chú giải
nhóm 11.07).
(b) Lúa đại mạch đã rang (thay thế cà phê) (nhóm 21.01).
(c) Mầm malt được tách từ malt trong quá trình tách mầm và các loại
phế phẩm từ quá trình sản xuất bia (ví dụ, bã hoa bia, cặn ngũ cốc...)
(nhóm 23.03).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1003.10
Theo mục đích của phân nhóm 1003.10, thuật ngữ “hạt giống” chỉ bao
gồm lúa đại mạch được các cơ quan quốc gia có thẩm quyền đánh giá là
để gieo trồng.
10.04 - Yến mạch (+).
1004.10 - Hạt giống
1004.90 - Loại khác
Có hai loại yến mạch chính: Yến mạch xám (hoặc đen) và yến mạch
trắng (hoặc vàng).
Nhóm này bao gồm hạt yến mạch có vỏ cũng như các hạt về bản chất tự
nhiên không có trấu hoặc vỏ, miễn là chưa qua bất kỳ một quá trình chế
biến nào trừ đập hay sàng sẩy.
Nhóm này cũng bao gồm loại yến mạch phần mày có thể đã bị mất trong
quá trình chế biến hoặc xử lý đơn thuần (đập, chuyên chở, chất hàng...).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1004.10
Theo mục đích của phân nhóm 1004.10, thuật ngữ “hạt giống” chỉ bao
gồm yến mạch được các cơ quan quốc gia có thẩm quyềnđánh giá là để
gieo trồng.
10.05 – Ngô (+).
- Hạt giống
- Loại khác
Có một vài loại ngô, với các loại hạt có màu sắc khác nhau (vàng óng,
trắng, đôi khi nâu đỏ hoặc kết hợp nhiều màu), và có nhiều hình dạng
khác nhau (tròn, răng ngựa, phẳng bẹt...)
Nhóm này không bao gồm ngô ngọt (Chương 7).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1005.10
Theo mục đích của phân nhóm 1005.10, thuật ngữ "hạt giống" chỉ bao
gồm ngô được được các cơ quan quốc gia có thẩm quyềnđánh giá là để
gieo trồng.
10.06 - Lúa gạo.
- Thóc
- Gạo lứt
- Gạo đã xát toàn bộ hoặc sơ bộ, đã hoặc chưa được
đánh bóng hoặc hồ (glazed)
- Tấm
Nhóm này bao gồm:
(1) Gạo còn nguyên vỏ (thóc hay thóc chưa xay), tức là, gạo còn
nguyên vỏ trấu bao chặt lấy hạt.
(2) Gạo lứt (gạo mới xay bỏ phần trấu), mặc dù đã được xay bỏ hết
phần trấu bởi máy xay, nhưng vẫn còn phần vỏ lụa. Gạo lứt dường
như vẫn còn chứa lượng nhỏ thóc.
(3) Gạo đã xát sơ bộ, tức là, gạo còn nguyên hạt nhưng một phần vỏ
lụa đã bị tách.
(4) Gạo đã xát toàn bộ (gạo đã tẩy trắng), gạo nguyên hạt đã được
xát hết phần vỏ lụa bằng máy xát (hình phễu).
Loại gạo đã xát toàn bộ có thể được đánh bóng rồi hồ (glazed) bề
mặt để tăng giá trị cảm quan. Đánh bóng gạo (làm bóng bề mặt đục
của gạo xát trơn) bằng các máy có trang bị bàn chải hoặc các máy
đánh bóng (hình phễu). "Hồ gạo", tức là bao phủ vỏ gạo một hỗn
hợp gồm glucoza và bột talc bằng các máy hồ gạo.
Nhóm này cũng bao gồm loại gạo "làm bóng bằng dầu (Camolino)"
là loại gạo đã xát trắng được phủ một lớp dầu mỏng.
(5) Gạo tấm, là loại gạo bị vỡ trong quá trình chế biến.
Nhóm này cũng bao gồm:
(a) Gạo giàu vitamin, là hỗn hợp giữa loại gạo xát trắng thường và một
lượng rất nhỏ (1%) hạt gạo đã được phủ hoặc tẩm các chất vitamin.
(b) Gạo đồ, là loại gạo khi vẫn còn vỏ và trước khi được sơ chế (ví dụ,
xay, xát, đánh bóng), được ngâm nước nóng hoặc hấp rồi được làm
khô. Trong quá trình làm chín sơ, gạo có thể được xử lý dưới áp lực
hoặc được đặt trong chân không toàn phần hoặc một phần.
Cấu trúc hạt của gạo đồthay đổi không đáng kể qua các quá trình sơ
chế trên. Gạo đồ, sau khi được xát, đánh bóng… phải đun từ 20 đến
35 phút để nấu chín hoàn toàn.
Những loại gạo khác mà cấu trúc hạt đã bị thay đổi đáng kể trong quá
trình chế biến không được phân loại vào nhóm này. Loại gạo đã được
nấu chín trước là gạo đã được nấu chín một phần hay toàn phần và sau
đó được rút hết nước thuộc vào nhóm 19.04. Loại gạo đã được nấu chín
sẵn một phần mất từ 5 đến 12 phút để chuẩn bị cho bữa ăn, còn đối với
loại gạo đã được làm chín trước toàn phần thì chỉ cần cho vào nước và
đun sôi trước khi ăn. Còn bỏng gạo (puffed rice) có được sau quá trình
nổ bỏng và ăn được ngay cũng được phân loại vào nhóm 19.04.
10.07 - Lúa miến.
- Hạt giống
- Loại khác
Nhóm này chỉ bao gồm những loại lúa miến mà hạt có thể được sử dụng
làm ngũ cốc dùng làm thức ăn cho người. Cũng được phân loại vào
nhóm này là các loại lúa miến như Caffrorum, cernuum(kê trắng),
durra(kê nâu) và nervosum(cao lương).
Nhóm này không bao gồm lúa miến dùng làm thức ăn cho gia súc (để
làm cỏ khô hoặc ủ tươi) như loại halepensis (halepense), các loại miến
cỏ (trồng trong các bãi cỏ) như loại sudanensis (Xu đăng)hoặc các loại
miến ngọt (chủ yếu được dùng làm xirô hoặc làm mật) như loại miến
saccharatum. Nếu là hạt giống, các sản phẩm được phân loại vào nhóm
12.09. Trong các trường hợp khác, lúa miến dùng làm thức ăn cho gia
súc và lúa miến cỏ được phân loại vào nhóm 12.14 và lúa miến ngọt vào
nhóm 12.12. Nhóm này cũng không bao gồm loại miến "chổi"
(Sorghum vulgare var. technicum) được phân loại vào nhóm 14.04.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1007.10
Theo mục đích của phân nhóm 1007.10, thuật ngữ “hạt giống” chỉ bao
gồm lúa miến được các cơ quan quốc gia có thẩm quyền đánh giá là để
gieo trồng.
10.08 - Kiều mạch, kê, hạt cây thóc chim; các loại ngũ cốc khác.
- Kiều mạch
- Kê:
- - Hạt giống
- - Loại khác
- Hạt cây thóc chim (họ lúa)
- Hạt kê Fonio (Digitaria spp.)
- Hạt diêm mạch (Chenopodium quinoa)
- Lúa mì lai lúa mạch đen (Triticale)
- Ngũ cốc loại khác
(A) KIỀU MẠCH, KÊ, HẠT CÂY THÓC CHIM (HỌ LÚA)
Nhóm các sản phẩm này bao gồm:
(1) Kiều mạch: Loại ngũ cốc này còn được gọi là lúa mỳ đen, thuộc họ
Polygonaceae, tương đối khác với họ Gramineae mà bao gồm phần
lớn các loại ngũ cốc khác.
(2) Kê, hạt tròn màu vàng rơm và bao gồm các loại: Setaria,
Pennisetum, Echinochloa, Eleusine (kể cả Eleusine coracana
(Coracan)), Panicum, Digitaria sanguinalis và Eragrostis tef.
(3) Hạt cây thóc chim, là hạt có màu rơm, bóng, thon 2 đầu.
(B) NHỮNG LOẠI NGŨ CỐC KHÁC
Nhóm các sản phẩm này bao gồm một số loại ngũ cốc lai, ví dụ,lúa mì
đen (triticale), loại ngũ cốc lai giữa lúa mì và mạch đen.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1008.21
Theo mục đích của phân nhóm 1008.21, thuật ngữ “hạt giống” chỉ bao
gồm kê được các cơ quan quốc gia có thẩm quyền đánh giá là để gieo
trồng.
Chương 11
Các sản phẩm xay xát; malt; tinh bột; inulin; gluten lúa mì
Chú giải.
1. Chương này không bao gồm:
(a) Malt đã rang dùng như chất thay thế cà phê (nhóm 09.01 hoặc
nhóm 21.01);
(b) Bột mịn, tấm, bột thô hoặc tinh bột đã chế biến thuộc nhóm
(c) Mảnh ngô chế biến từ bột ngô (corn flakes) hoặc các sản phẩm
khác thuộc nhóm 19.04;
(d) Các loại rau, đã chế biến hoặc bảo quản, thuộc nhóm 20.01,
20.04 hoặc 20.05;
(e) Dược phẩm (Chương 30); hoặc
(f) inh bột có đặc tính của nước hoa, mỹ phẩm hoặc chế phẩm vệ
sinh (Chương 33).
2. (A) Các sản phẩm thu được từ quá trình xay xát ngũ cốc liệt kê trong
bảng dưới đây được xếp vào Chương này, nếu tính theo khối lượng
trên sản phẩm khô các sản phẩm này có:
(a) hàm lượng tinh bột (được xác định theo phương pháp phân
cực Ewer cải tiến) vượt quá chỉ dẫn ghi trong Cột (2); và
(b) hàm lượng tro (sau khi loại trừ các khoáng chất bổ sung)
không vượt quá chỉ dẫn ghi trong Cột (3).
Các sản phẩm không giống như vậy sẽ được xếp vào nhóm
23.02. Tuy nhiên, mầm ngũ cốc nguyên dạng, đã được xay, vỡ
mảnh hoặc nghiền, luôn luôn được phân loại vào nhóm 11.04.
(B) Các sản phẩm thuộc Chương này theo những quy định trên đây
sẽ được xếp vào nhóm 11.01 hoặc 11.02 nếu có tỷ lệ phần trăm
lọt qua sàng bằng lưới kim loại với kích thước mắt sàng ghi
trong Cột (4) hoặc (5) không thấp hơn tỷ lệ ghi cho từng loại
ngũ cốc, tính theo khối lượng.
Các trường hợp khác sẽ được xếp vào nhóm 11.03 hoặc 11.04.
Ngũ cốc
Hàm
lượng
bột
Hàm
lượng
Tỉ lệ lọt qua sàng so với
kích thước mắt sàng
- Lúa mì và lúa mạch đen
- Lúa đại mạch
- Yến mạch
- Ngô và lúa miến
- Gạo
- Kiều mạch
3. Theo mục đích của nhóm 11.03, khái niệm "tấm" và "bột thô" được
hiểu là các sản phẩm thu được từ quá trình xay vỡ hạt ngũ cốc, trong
đó:
(a) đối với sản phẩm ngô, tối thiểu 95% tính theo khối lượng lọt qua
sàng bằng lưới kim loại với kích thước mắt sàng là 2 mm;
(b) đối với sản phẩm ngũ cốc khác, tối thiểu 95% tính theo khối
lượng lọt qua sàng có lưới bằng kim loại với kích thước mắt sàng
là 1,25 mm..
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm:
(1) Những sản phẩm thu được từ quá trình xay xát các loại ngũ cốc
thuộc Chương 10 và ngô ngọt thuộc Chương 7, trừ những phế liệu
xay xát thuộc nhóm 23.02. Trong phạm vi này, các sản phẩm thu
được từ quá trình xay xát bột mì, lúa mạch đen, lúa đại mạch, yến
mạch, ngô (kể cả loại ngô còn nguyên bắp, vẫn còn hay không còn
vỏ ngô), lúa miến, gạo và kiều mạch thuộc Chương này được phân
biệt với những phế liệu thuộc nhóm 23.02 dựa trên những tiêu chí
về mặt hàm lượng tinh bột và hàm lượng tro nêu tại Chú giải 2 (A)
của Chương này.
Trong phạm vi Chương này, đối với những loại ngũ cốc được kể tên
trên, các loại bột thuộc nhóm 11.01 hoặc 11.02 phải được phân biệt
với các sản phẩm thuộc nhóm 11.03 hoặc 11.04 dựa trên các tiêu chí
về tỉ lệ lọt qua sàng được nêu trong phần Chú giải 2 (B) của Chương
này. Đồng thời, tất cả ngũ cốc ở dạng tấm và bột thô thuộc nhóm
11.03 cũng phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chí về tỉ lệ lọt qua sàng
được nêu trong Chú giải 3 của Chương này.
(2) Những sản phẩm cũng được thu từ các sản phẩm ngũ cốc của
Chương 10 đã qua công đoạn chế biến được nêu trong các nhóm
khác nhau của Chương này, như ủ malt hoặc chiết xuất tinh bột
hoặc gluten lúa mì.
(3) Những sản phẩm thu được từ nguyên liệu thô thuộc các Chương
khác (rau đậu khô, khoai tây, quả...) được chế biến theo các công
đoạn giống như được nêu trong đoạn (1) và đoạn (2) ở trên.
Ngoài các loại khác, Chương này không bao gồm:
(a) Malt đã rang và được dùng làm sản phẩm thay thế cà phê (nhóm
09.01 hoặc 21.01).
(b) Vỏ ngũ cốc (nhóm 12.13).
(c) Bột, bột mịn, bột thô hoặc tinh bột, đã chế biến thuộc nhóm 19.01.
(d) Tinh bột sắn (nhóm 19.03).
(e) Bỏng gạo, bỏng ngô dạng mảnh và các sản phẩm tương tự, thu được
từ quá trình rang sấy hoặc rang và lúa mì sấy khô đóng bánh (nhóm
(f) Rau đã được chế biến hoặc bảo quản thuộc các nhóm 20.01, 20.04
và 20.05.
(g) Phế liệu thu được từ quá trình sàng sẩy, xay xát hoặc sau những
công đoạn chế biến ngũ cốc hay rau đậu khác (nhóm 23.02).
(h) Dược phẩm (Chương 30).
(ij) Các sản phẩm của Chương 33 (xem Chú giải 3 và 4 của
Chương 33).
11.01 - Bột mì hoặc bột meslin.
Nhóm này bao gồmbột mì hoặc bột meslin (nghĩa là những sản phẩm
dạng bột thu được từ quá trình xay xát các loại ngũ cốc thuộc nhóm
10.01) đáp ứng đầy đủ các tiêu chí hàm lượng tinh bột và hàm lượng tro
được quy định trong đoạn (A) của Chú giải 2 (xem Chú giải Tổng quát)
và phù hợp với tỷ lệ lọt qua sàng như quy định tại đoạn (B) của Chú giải
2 của Chương.
Các loại bột thuộc nhóm này có thể được nâng cao chất lượng tốt hơn khi
được thêm một lượng rất nhỏ khoáng phốt phát, chất chống oxy hoá, chất tạo
nhũ, vitamin hoặc bột nở đã chế biến (bột ủ men). Bột mì có thể được làm
giàu hơn bằng cách cho thêm chất gluten, với hàm lượng không quá 10%.
Nhóm này cũng bao gồm các "loại bột nở", bột được xử lý nhiệt để nấu
thành keo. Loại bột này được sử dụng để sản xuất các chế phẩm thuộc
nhóm 19.01, chất phụ gia vào bánh hoặc thức ăn chăn nuôi hoặc trong
một số ngành công nghiệp như công nghiệp dệt may, giấy hoặc luyện
kim (dùng làm nguyên liệu để sản xuất các chất gắn lõi đúc).
Các loại bột qua những công đoạn chế biến thêm hoặc có pha thêm một
số chất dùng để làm chế phẩm thực phẩmbị loại trừ (thường thuộc
nhóm 19.01).
Nhóm này cũng loại trừ bột trộn với cacao (nhóm 18.06 nếu chứa hàm
lượng cacao từ 40% trọng lượng đã khử chất béo trở lên, hoặc nếu dưới
40% thì thuộc nhóm 19.01).
11.02 - Bột ngũ cốc, trừ bột mì hoặc bột meslin.
- Bột ngô
- Loại khác
Nhóm này bao gồm bột (nghĩa là bột có được từ quá trình xay xát các
loại ngũ cốc thuộc Chương 10) trừ bột mì hoặc bột meslin.
Các sản phẩm thu được từ quá trình xay xát của lúa mạch đen, lúa đại
mạch, yến mạch, ngô (kể cả ngô còn nguyên bắp, vẫn còn hoặc không
còn vỏ), lúa miến, gạo hoặc kiều mạch được phân loại vào nhóm này
như các loại bột nếu chúng đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về hàm lượng
tinh bột và hàm lượng tro được quy định trong đoạn (A) của Chú giải 2
(xem Chú giải tổng quát) và phù hợp với tỷ lệ lọt qua sàng như quy định
tại đoạn (B) của Chú giải 2 của Chương.
Các loại bột thuộc nhóm này có thể được cải thiện tốt hơn khi được thêm
một lượng rất nhỏ khoáng phosphate, chất chống oxy hoá, chất tạo nhũ,
vitamin hoặc bột nở đã chế biến (bột ủ men).
Nhóm này cũng bao gồm các loại bột "trương nở" (đã được hồ hóa sơ
bộ) đã được xử lý nhiệt để hồ hóa sơ bộ tinh bột. Loại bột này được sử
dụng để sản xuất các chế phẩm thuộc nhóm 19.01, chất phụ gia vào bánh
hoặc thức ăn cho gia súc hoặc trong một số ngành công nghiệp như công
nghiệp dệt may, giấy hoặc luyện kim (dùng làm nguyên liệu để sản xuất
các chất gắn lõi đúc).
Các loại bột đã qua các công đoạn chế biến thêm hoặc có pha thêm một
số chất dùng làm chế phẩm thực phẩmbị loại trừ (thường được phân
loại vào nhóm 19.01).
Nhóm này cũng loại trừ bột trộn với cacao (nhóm 18.06 nếu chứa hàm
lượng cacao từ 40% trọng lượng đã khử chất béo trở lên, hoặc nếu dưới
40% thì thuộc nhóm 19.01).
11.03 - Ngũ cốc dạng tấm, dạng bột thô và viên.
- Dạng tấm và bột thô:
- - Của lúa mì
- - Của ngô
- - Của ngũ cốc khác
- Dạng viên
Ngũ cốc dạng tấm và bột thô thuộc nhóm này là các sản phẩm, thu được
từ các mảnh vỡ của các hạt ngũ cốc (bao gồm cả ngô nguyên bắp vẫn
còn hoặc không có lá bao), mà, trong trường hợp thích hợp, đáp ứng đầy
đủ các tiêu chí về hàm lượng tinh bột và hàm lượng tro theo quy định
trong Chú giải 2 (A) và trong tất cả các trường hợp đáp ứng những tiêu
chí liên quan về tỉ lệ lọt qua sàng theo quy định trong Chú giải 3 của
Chương này.
Về việc phân biệt với các loại bột của các nhóm 11.01 hoặc 11.02, ngũ
cốc dạng tấm và bột thô thuộc nhóm này và các sản phẩm của nhóm
11.04, xem phần Chú giải tổng quát của Chương này (Mục (1), đoạn thứ
Ngũ cốc dạng tấm là những mảnh vỡ nhỏ hoặc lõi chứa bột của hạt ngũ
cốc từ quá trình xay thô ngũ cốc.
Bột thô là sản phẩm có hình hạt hơn so với bột mịn và được tạo ra từ
quá trình sàng đầu tiên sau xay xát, hoặc nghiền lại và sàng lại tấm từ
quá trình xay xát đầu tiên.
Bột lúa mì thô Durum, hoặc semolina, là nguyên liệu thô chính trong
việc sản xuất mỳ macaroni, mỳ spaghetti hoặc các sản phẩm tương tự.
Semolina cũng được sử dụng trực tiếp làm thực phẩm (ví dụ, làm bánh
Nhóm này cũng bao gồm các loại bột thô (ví dụ, bột ngô) được hồ hóa
sơ bộ bằng cách xử lý nhiệt, được sử dụng, ví dụ, làm chất phụ gia trong
sản xuất bia.
Viên là những sản phẩm thu được từ quá trình xay xát các loại ngũ cốc
thuộc Chương này được tích tụ bằng cách nén trực tiếp bằng áp lực hay
bổ sung chất kết dính với tỉ lệ không quá 3% trọng lượng (xem Chú giải
1 của Phần II). Nhóm này không bao gồm những phế liệu được viên lại
từ quá trình xay xát ngũ cốc (Chương 23).
11.04 - Hạt ngũ cốc được chế biến theo cách khác (ví dụ, xát vỏ, xay,
vỡ mảnh, nghiền vụn, cắt lát hoặc nghiền thô), trừ gạo thuộc
nhóm 10.06; mầm ngũ cốc, nguyên dạng, xay, vỡ mảnh hoặc
nghiền.
- Ngũ cốc xay hoặc vỡ mảnh:
- - Của yến mạch
- - Của ngũ cốc khác
- Ngũ cốc đã chế biến cách khác (ví dụ, xát vỏ, nghiền
vụn, cắt lát hoặc nghiền thô):
- - Của yến mạch
- - Của ngô
- - Của ngũ cốc khác
1104.30 - Mầm ngũ cốc, nguyên dạng, xay, vỡ mảnh hoặc
nghiền
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm ngũ cốc đã quá trình xay xát
nhưng chưa xác định mục đích sử dụng, trừ bột (nhóm 11.01 và 11.02),
ngũ cốc dạng tấm, bột thô và viên (nhóm 11.03) và phế liệu (nhóm
23.02). Về việc phân biệt các sản phẩm của nhóm này với các sản phẩm
được phân loại trong các nhóm vừa loại trừ nêu trên, xem Mục (1) Chú
giải tổng quát của Chương này.
Nhóm này bao gồm:
(1) Ngũ cốc xay hoặc vỡ mảnh (thí dụ, lúa đại mạch hoặc yến mạch),
thu được từ quá trình nghiền hoặc cán hạt ngũ cốc nguyên dạng (đã
hoặc chưa xay bỏ vỏ) hoặc các loại hạt ngũ cốc đã qua nghiền thô
hoặc các sản phẩm được nêu trong Mục (2) và (3) dưới đây và nêu
trong Mục (2) đến (5) của Chú giải nhóm 10.06. Trong quá trình chế
biến này, hạt ngũ cốc thông thường được hấp hoặc được nghiền
trong các máy cán nóng. Các loại thực phẩm ăn sáng chế biến từ
“Mảnh ngô” (conrn flakes) đã được nấu chín sẵn sàng cho sử dụng
và vì vậy, cũng như các sản phẩm ngũ cốc được nấu chín tương tự,
thuộc nhóm 19.04.
(2) Yến mạch, kiều mạch và kê đã được xay bỏ vỏ ngoài nhưng còn
vỏ lụa.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm loại hạt yến mạch trong tình
trạng tự nhiên không có vỏ trấu, miễn là chúng chưa qua bất kỳ quá
trình chế biến nào trừ đập hoặc sàng sẩy (nhóm 10.04).
(3) Các hạt đã được xay xát hoặc chế biến cách khác để loại bỏ một
phần hoặc toàn bộ vỏ ngoài và phần vỏ lụa (lớp vỏ mỏng nằm dưới
vỏ). Phần lõi bột khi đó có thể nhìn thấy được. Hạt thuộc các giống
lúa đại mạch cũng được phân loại vào nhóm này nếu đã được xát
hết phần vỏ bao. (Phần vỏ ngoài chỉ có thể bị loại bỏ bằng việc
nghiền vìphần vỏ bao dính quá chặt vào phần lõi mà đập và sàng
sẩy không tách ra được - xem Chú giải nhóm 10.03).
(4) Hạt xát tròn (chủ yếu là của lúa đại mạch), tức là, loại hạt đã được
xay và xát gần như hết vỏ lụa; hai đầu được làm khá tròn.
(5) Hạt nghiền thô, tức là, loại hạt (xay hoặc chưa xay bỏ vỏ) được cắt
hoặc nghiền thành mảnh vụn nhưng khác dạng tấm ở chỗ các mảnh
vụn này thô hơn và kém đều hơn.
(6) Mầm ngũ cốc, được tách khỏi hạt từ bước đầu tiên của quá trình xay
xát, mầm có thể được tách nguyên hay hơi dát mỏng (bị cán). Để nâng
cao chất lượng bảo quản, mầm có thể được rút bớt dầu hoặc qua xử lý
nhiệt. Dựa vào những mục đích sử dụng khác nhau, mầm có thể được
làm vỡ mảnh hoặc nghiền (nghiền thô hoặc nghiền vụn) và được thêm
vitamin, ví dụ, để bù vào lượng đã mất trong quá trình sơ chế.
Những mầm nguyên dạng hoặc bị cán thường được sử dụng để chiết
xuất dầu. Loại mầm nghiền hoặc vỡ mảnh thường được sử dụng chế
biến món ăn (bánh bích quy hoặc các loại bánh khác, sản phẩm ăn
kiêng), thức ăn chăn nuôi (làm thức ăn bổ sung) hoặc trong sản xuất
dược phẩm.
Phần cặn còn lại sau khi chiết xuất dầu từ mầm ngũ cốc được phân
loại vào nhóm 23.06.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Gạo lứt, gạo đã xát toàn bộ hay xát sơ bộ, đã bóc vỏ, đã hoặc
chưa được đánh bóng, hồ (glazed), hoặc gạo đồ, và gạo tấm
(nhóm 10.06).
(b) Hạt diêm mạch (quinoa) đã được loại bỏ toàn bộ hoặc một phần
vỏ lụa để tách saponin, nhưng không trải qua bất kỳ quá trình
chế biến nào khác (nhóm 10.08).
(c) Lúa mì sấy khô đóng bánh ở dạng hạt đã được chế biến
(nhóm 19.04).
11.05 - Bột, bột thô, bột mịn, mảnh lát, hạt và viên từ khoai tây.
- Bột, bột thô và bột mịn
- Dạng mảnh lát, hạt và viên
Nhóm này bao gồm khoai tây khô dưới dạng bột, bột thô, bột mịn, dạng
mảnh lát, hạt hoặc viên. Bột thô, bột mịn, dạng mảnh lát và hạt của
nhóm này thu được từ khoai tây tươi hấp chín và được nghiền nhừ rồi
sau đó làm khô phần nghiền nhừ đó thành bột, bột thô, bột mịn hoặc hạt
hoặc thành tấm mỏng được cắt thành các mảnh lát nhỏ. Viên thuộc nhóm
này thường thu được từ quá trình ép nén bột, bột thô, bột mịn hoặc các
mẩu vụn của khoai tây.
Các sản phẩm thuộc nhóm này có thể được cải thiện bằng cách cho thêm
một lượng rất nhỏ chất chống oxy hoá, chất nhũ hoá hay vitamin.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các sản phẩm được cho thêm một
số chất thay đổi đặc tính của chế phẩm khoai tây.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Khoai tây mới chỉ được làm khô đơn giản, được phơi khô hoặc tách
nước, mà không được chế biến thêm (nhóm 07.12).
(b) Tinh bột khoai tây (nhóm 11.08).
(c) Những sản phẩm thay thế tinh bột sắn được làm từ tinh bột khoai tây
(nhóm 19.03).
11.06 - Bột, bột thô và bột mịn, chế biến từ các loại rau đậu khô
thuộc nhóm 07.13, từ cọ sago hoặc từ rễ, củ hoặc thân củ
thuộc nhóm 07.14 hoặc từ các sản phẩm thuộc Chương 8.
1106.10 - Từ các loại rau đậu khô thuộc nhóm 07.13
1106.20 - Từ cọ sago hoặc từ rễ hoặc thân củ thuộc nhóm 07.14
1106.30 - Từ các sản phẩm thuộc Chương 8
(A) Bột, bột thô và bột mịn của các loại rau đậu khô thuộc nhóm
Nhóm này gồm bột, bột thô và bột mịnđược làm từ đậu Hà lan,
đậu hạt hoặc đậu lăng; chủ yếu được dùng vào việc nấu súp hoặc
quấy bột.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Bột đậu tương chưa được tách dầu (nhóm 12.08).
(b) Bột quả minh quyết (nhóm 12.12).
(c) Súp và nước xuýt (ngay cả ở dạng lỏng, rắn hoặc bột), có thành
phần cơ bản là bột hoặc bột thô của rau (nhóm 21.04).
(B) Bột, bột thô và bột mịncủa cọ sago hoặc từ rễ, củ hoặc thân củ
thuộc nhóm 07.14.
Các sản phẩm này thu được từ việc nạo hoặc xay lõi cọ sago hoặc rễ
của củ sắn khô... Một số trong những sản phẩm này thường được xử
beans or lentils; they are mainly used for prepared soups or purées.
lý bằng nhiệt trong quá trình chế biến để loại bỏ các độc tố; quá
trình này có thể làm hồ hoá sơ bộ tinh bột.
Nhóm này không bao gồm loại tinh bột thu được từ các nguồn này
(cần lưu ý rằng tinh bột từ cọ sago đôi khi được gọi là “tinh bột
sago”). Những loại tinh bột này được phân loại vào nhóm 11.08 và
có thể phân biệt với loại bột thuộc nhóm này, vì bột, khác tinh bột,
không bị vụn khi ta lấy 2 ngón tay bóp. Các loại bột, bột thô, bột
mịn của cọ sago hoặc của các loại rễ, củ hoặc thân củ thuộc nhóm
07.14 được ép dưới dạng viên cũng không được phân loại vào nhóm
này (nhóm 07.14).
(C) Bột, bột thô và bột mịn của các sản phẩm thuộc Chương 8.
Các loại quả hoặc quả hạch (nut) chủ yếu thuộc Chương 8 thường
được làm thành bột, bột thô hoặc bột mịn là hạt dẻ, hạnh nhân, chà
là, chuối, dừa và me.
Nhóm này cũng bao gồm bột, bột thô và bột mịn của các loại vỏ quả.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm loại bột me được đóng gói để bán
lẻ dùng để phòng hoặc chữa bệnh (nhóm 30.04).
Những sản phẩm thuộc nhóm này có thể được cải thiện nếu được thêm
một lượng rất nhỏ chất chống oxy hoá hoặc chất nhũ hoá.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Lõi cây cọ sago (nhóm 07.14).
(b) Thực phẩm chế biến sẵn được biết đến như bột sắn (nhóm 19.03).
11.07 - Malt, rang hoặc chưa rang.
- Chưa rang
- Đã rang
Malt là hạt nảy mầm (chủ yếu từ lúa đại mạch), sau đó thường được làm
khô trong các lò khí nóng (lò sấy malt).
Malt có những vệt nhăn mờ chạy từ đầu này đến đầu kia hạt và có màu
trắng bên trong và vàng nâu bên ngoài. Malt để lại các vạch dấu hiệu như
phấn và, không giống hạt chưa là malt, malt thường nổi trên bề mặt nước và
cũng bở. Malt có mùi đặc trưng của hạt được nấu chín và có vị ngọt nhẹ.
Nhóm này bao gồm malt nguyên dạng, nghiền vụn và bột. Nhóm cũng
bao gồm loại malt đã rang (ví dụ, được sử dụng tạo màu cho bia), tuy
nhiên nhóm này không bao gồm những sản phẩm đã qua những công
đoạn chế biến thêm, như chiết xuất malt và chế phẩm thực phẩm của
chiết xuất maltthuộc nhóm 19.01 và cả các loại malt đã rang được dùng
làm chất thay thế cà phê (nhóm 21.01).
11.08 - Tinh bột; inulin.
- Tinh bột:
- - Tinh bột mì
- - Tinh bột ngô
- - Tinh bột khoai tây
- - Tinh bột sắn
- - Tinh bột khác:
Tinh bột, về tính chất hóa học là các carbohydrate, có trong các tế bào
của các sản phẩm rau. Nguồn quan trọng chủ yếu của tinh bột là các loại
hạt ngũ cốc (ví dụ như ngô, lúa mỳ và gạo), một số loại địa y nhất định,
một số loại thân rễ củ và rễ củ (khoai tây, sắn, dong...) và lõi cọ sago.
Tinh bột là bột trắng không mùi gồm các hạt nguyên chất dễ vỡ vụn khi
lấy ngón tay bóp. Cùng với iốt tinh bột thường có màu xanh da trời sẫm
(trừcác loại tinh bột amylopectin, có màu nâu đỏ). Quan sát dưới kính
hiển vi dưới ánh sáng phân cực, các hạt li ti hiện ra dưới dạng dấu thập
đen rất đặc trưng. Không tan trong nước lạnh, nhưng, nếu nước nóng
trên nhiệt độ hồ hoá (600C với hầu hết các loại tinh bột), tinh bột bị phá
vỡ và trở thành bột nhão. Tinh bột thương phẩm gồm nhiều loại được
phân loại ở các nhóm khác, như tinh bột biến tính, tinh bột sấy hoà tan,
dextrin, malto-dextrin, dextrose và glucoza. Tinh bột cũng được sử dụng
rộng rãi trong công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp thực phẩm, giấy,
chuyển đổi giấy và dệt.
Nhóm này cũng bao gồm cả inulin; nó có thành phần hoá học tương tự
với tinh bột tuy nhiên khi cho vào iốt không đổi màu thành xanhmà có
màu nâu vàng nhạt. Inulin được chiết xuất từ a-ti-sô Jerusalem, củ thược
dược và rễ rau diếp xoăn. Khi thuỷ phân lâu trong nước sôi sẽ tạo thành
Ngoài các loại khác, nhóm này không bao gồm:
(a) Chế phẩm tinh bột thuộc nhóm 19.01.
(b) Tinh bột sắn và các sản phẩm thay thế chế biến từ tinh bột (xem
Chú giải nhóm 19.03).
(c) Tinh bột sử dụng trong sản xuất nước hoa và các chế phẩm vệ sinh
(toilet preparation) (Chương 33).
(d) Các loại dextrin và tinh bột biến tính khác thuộcnhóm 35.05.
(e) Keo sản xuất từ tinh bột (nhóm 35.05 hoặc 35.06)
(f) Nước bóng hoặc chất xử lý hoàn tất đã điều chế làm từ tinh bột
(nhóm 38.09).
(g) Amylopectine và Amylo tách riêng thu được sau quá trình phân
đoạn tinh bột (nhóm 39.13).
11.09 - Gluten lúa mì, đã hoặc chưa làm khô.
Gluten được chiết xuất từ bột mỳ bởi quá trình phân tách đơn giản trong
nước từ các thành phần khác nhau (tinh bột...). Chất này hoặc ở dạng
lỏng hoặc sệt màu hơi trắng (gluten "ẩm") hoặc có dạng bột màu kem
(gluten khô).
Về cơ bản, chất này bao gồm một hỗn hợp các loại protein, mà những
protein chính là gliadin và glutenin (chiếm từ 85 đến 95% của hỗn hợp).
Sự hiện diện của hai loại protein này là đặc trưng của gluten lúa mì, khi
trộn gluten với nước theo một tỷ lệ nhất định, nhờ có hai loại protein này
mà gluten có tính đàn hồi và mềm dẻo.
Gluten chủ yếu được sử dụng để làm giàu protein cho các loại bột dùng
trong chế biến bánh mì hoặc bánh bích quy, macaroni hoặc các sản phẩm
tương tự hoặc chế phẩm ăn kiêng. Chất này cũng được sử dụng như một
chất kết dính trong một số chế phẩm thịt, trong sản xuấthồ dán hoặc các
sản phẩm như gluten sulphate hoặc gluten phosphate, các protein thực
vật thuỷ phân hoặc mỳ chính.
Ngoài các loại khác, nhóm này không bao gồm:
(a) Bột lúa mì được làm giàu bằng cách cho thêm gluten (nhóm 11.01).
(b) Các protein chiết xuất từ gluten lúa mì (nhóm 35.04).
(c) Gluten lúa mì chế biến dùng làm hồ dán hoặc nước bóng hoặc chất
xử lý hoàn tất trong công nghiệp dệt (nhóm 35.06 hoặc 38.09).
Chương 12
Hạt dầu và quả có dầu; các loại hạt, hạt giống và quả khác; cây công
nghiệp hoặc cây dược liệu; rơm, rạ và cỏ khô
Chú giải.
1. Không kể những đề cập khác, nhóm 12.07 áp dụng cho hạt và nhân
hạt cọ, hạt bông, hạt thầu dầu, hạt vừng, hạt mù tạt, hạt rum, hạt
thuốc phiện và hạt mỡ (hạt karite). Không áp dụng đối với các sản
phẩm thuộc nhóm 08.01 hoặc 08.02 hoặc ôliu (Chương 7 hoặc
Chương 20).
2. Nhóm 12.08 không chỉ áp dụng cho tất cả bột mịn và bột thô chưa
khử chất béo mà còn áp dụng cho bột mịn và bột thô đã đuợc khử
một phần hoặc toàn bộ chất béo và bột mịn và bột thô sau khi khử
chất béo được bổ sung lại toàn phần hoặc một phần bằng dầu lấy từ
chính các bột ấy. Tuy nhiên, nhóm này không áp dụng cho các loại
phế liệu thuộc các nhóm 23.04 đến 23.06.
3. Theo mục đích của nhóm 12.09, hạt củ cải đường, hạt cây cỏ và hạt
cây dạng cỏ khác, hạt cây hoa trang trí, hạt rau, hạt cây rừng, hạt
cây ăn quả, hạt đậu tằm (trừ hạt cây thuộc loài Vicia faba) hoặc hạt
đậu lupin được coi là "hạt để gieo trồng".
Tuy nhiên, nhóm 12.09 không áp dụng đối với những loại sau, cho
dù dùng để gieo trồng:
(a) Các loại rau đậu hay ngô ngọt (Chương 7);
(b) Các loại gia vị hoặc các sản phẩm khác thuộc Chương 9;
(c) Ngũ cốc (Chương 10); hoặc
(d) Các sản phẩm thuộc các nhóm từ 12.01 đến 12.07 hoặc 12.11.
4. Không kể những đề cập khác, nhóm 12.11 áp dụng với các loại cây
hoặc các phần của các loại cây sau đây: húng quế, cây borage (cây
lá nhám, hoa xanh), cây nhân sâm, cây bài hương, cây cam thảo, các
loại cây bạc hà, cây hương thảo, cây cửu lý hương, cây xả thơm và
cây ngải tây.
Tuy nhiên, nhóm 12.11 không áp dụng đối với những loại sau:
(a) Dược phẩm thuộc Chương 30;
(b) Nước hoa, mỹ phẩm hoặc chế phẩm vệ sinh thuộc Chương 33;
hoặc
(c) Thuốc diệt côn trùng, thuốc diệt nấm, thuốc diệt cỏ, thuốc khử
trùng hoặc các loại tương tự thuộc nhóm 38.08.
5. Theo mục đích của nhóm 12.12, khái niệm "rong biển và các loại
tảo khác" không bao gồm:
(a) Các vi sinh đơn bào đã chết thuộc nhóm 21.02;
(b) Các vi sinh nuôi cấy thuộc nhóm 30.02; hoặc
(c) Phân bón thuộc nhóm 31.01 hoặc 31.05.
Chú giải phân nhóm.
1. Theo mục đích của phân nhóm 1205.10, cụm từ "hạt cải dầu có hàm
lượng axit eruxic thấp" có nghĩa là hạt cải dầu có chứa một lượng
dầu không bay hơi với hàm lượng axit eruxic chiếm dưới 2% tính
theo khối lượng và thành phần rắn chứa dưới 30 micromol
glucosinolate trên 1 gram.
TỔNG QUÁT
Nhóm 12.01 đến 12.07 gồm các loại hạt và quả dùng cho quá trình chiết
xuất (bằng áp lực hoặc bằng dung môi) dầu và mỡ dùng cho công nghiệp
hoặc thực phẩm, dù chúng dùng cho mục đích này, cho việc làm giống
hoặc cho các mục đích khác. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các
sản phẩm của các nhóm 08.01 hoặc 08.02; ôliu (Chương 7 hoặc
Chương 20) hoặc một số quả và hạt khác có thể chiết xuất dầu, nhưng
chủ yếu phục vụ cho các mục đích khác, như nhân hạt mơ, đào, mận
(nhóm 12.12) và hạt cacao (nhóm 18.01).
Các loại hạt và quả của nhóm này có thể còn nguyên hạt, được nghiền The seeds and fruits covered by the heading may be whole, broken,
vụn, xay hay bỏ vỏ. Các loại hạt và quả nhóm này có thể bị xử lý nhiệt
chủ yếu để bảo quản tốt hơn (ví dụ, bằng cách khử hoạt tính enzyme
lipolytic và loại bỏ một phần độ ẩm), để khử vị đắng, để khử các yếu tố
kháng dinh dưỡng hoặc để dễ dàng sử dụng chúng. Tuy nhiên, quá trình
xử lý chỉ được áp dụng với điều kiện việc xử lý này không làm thay đổi
tính đặc trưng tự nhiên của hạt và quả và không chế biến chúng theo
mục đích riêng thay vì mục đích chung.
Nhóm này không bao gồm các phế liệu dạng rắn thu từ quá trình chiết
xuất dầu thực vật của các loại hạt dầu hoặc quả có dầu (bao gồm cả bột
và bột thô được loại bỏ chất béo) (nhóm 23.04, 23.05 hoặc 23.06).
12.01 - Đậu tương, đã hoặc chưa vỡ mảnh (+).
- Hạt giống
- Loại khác
Đậu tương là một nguồn rất quan trọng của dầu thực vật. Các loại đậu
tương thuộc nhóm này có thể được xử lý nhiệt để giảm vị đắng (xem
trong phần Chú giải tổng quát).
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm đậu tương rang được dùng làm
các chất thay thế cà phê (nhóm 21.01).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1201.10
Theo mục đích của phân nhóm 1201.10, thuật ngữ “hạt giống” chỉ bao
gồm đậu tương được các cơ quan quốc gia có thẩm quyền đánh giá là để
gieo trồng.
12.02 - Lạc chưa rang, hoặc chưa làm chín cách khác, đã hoặc chưa
bóc vỏ hoặc vỡ mảnh. (+).
- Hạt giống
- Loại khác:
- - Chưa bóc vỏ
- - Lạc nhân, đã hoặc chưa vỡ mảnh
Nhóm này gồm các loại lạc (hay còn gọi là hạt đậu phộng) đã hoặc chưa
tách vỏ hoặc vỡ mảnh, chưa rang hoặc chưa làm chín cách khác. Lạc
thuộc nhóm này có thể bị xử lý nhiệt nhằm bảo quản tốt hơn (xem trong
phần Chú giải tổng quát). Lạc đã rang hoặc đã làm chín cách khác thuộc
Chương 20.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1202.30
Theo mục đích của phân nhóm 1202.30, thuật ngữ “hạt giống” chỉ bao
gồm lạc được các cơ quan quốc gia có thẩm quyền đánh giá là để gieo
trồng.
12.03 - Cùi (cơm) dừa khô.
Cùi (cơm) dừa khô là phần cùi được làm khô của quả dừa dùng để ép
dầu dừa và không thích hợp dùng làm thức ăn cho người.
Nhóm này không bao gồm dừa làm khô, tức là, cùi dừa được cắt thành
miếng nhỏ và được làm khô thích hợp dùng làm thức ăn cho người
(nhóm 08.01).
12.04 - Hạt lanh, đã hoặc chưa vỡ mảnh.
Hạt lanh, nghĩa là, hạt của cây lanh, cung cấp một trong những loại dầu
làm khô quan trọng nhất.
12.05 - Hạt cải dầu đã hoặc chưa vỡ mảnh.
1205.10 - Hạt cải dầu có hàm lượng axit eruxic thấp
1205.90 - Loại khác
Nhóm này gồm các loại hạt cải dầu (các loại hạt của một số loài cải
Brassica, nhất là cải Brassica napus (cải dầu) và brassica rapa (hoặc B.
campestris)). Nhóm này bao gồm cả hạt cải dầu truyền thống và hạt cải
dầu có hàm lượng axit erucic thấp. Hạt cải dầu có hàm lượng axit erucic
thấp, như hạt Canola, hoặc hạt cải dầu Châu âu “ double zero ”, có chứa
một lượng dầu không bay hơi với hàm lượng axit eruxic chiếm dưới 2%
tính theo trọng lượng và thành phần rắn chứa dưới 30 micromol
glucosinolate trên 1 gram.
12.06 - Hạt hướng dương, đã hoặc chưa vỡ mảnh.
Nhóm này gồm các loại hạt của hoa hướng dương thông thường
12.07 - Quả và hạt có dầu khác, đã hoặc chưa vỡ mảnh (+).
- Hạt cọ và nhân hạt cọ
- Hạt bông:
- - Hạt giống
- - Loại khác
- Hạt thầu dầu
- Hạt vừng
- Hạt mù tạt
- Hạt rum (Carthamus tinctorius)
- Hạt dưa (melon seeds)
- Loại khác:
- - Hạt thuốc phiện
- - Loại khác
Nhóm này gồm các loại hạt và quả dùng để ép dầu hoặc chất béo dùng
cho thực phẩm hay công nghiệp, trừ các sản phẩm từ nhóm 12.01 đến
12.06 (xem trong phần Chú giải tổng quát).
Nhóm này có thể kể đến:
- Hạt ba-ba-su
- Hạt sồi
- Hạt quả lai
- Hạt carapa (ví dụ, hạt touloucouna)
- Hạt thầu dầu
- Hạt dầu chùm bao
- Hạt bông
- Hạt khổ sâm (hay hạt thông lọng Ấn Độ)
- Hạt cây anh thảo đêm thuộc loài Oenothera biennis và
- Hạt nho
- Hạt gai dầu
- Hạt illipe
- Hạt bông gạo
- Hạt mowra
- Hạt mù tạt
- Hạt niger
- Hạt oiticica
- Hạt và nhân hạt cọ
- Hạt cây tía tô
- Hạt thuốc (pulza)
- Hạt thuốc phiện
- Hạt rum
- Hạt vừng
- Hạt mỡ (Hạt Karite)
- Hạt stillingia
- Hạt chè
- Hạt tung (hoặc hạt oleococca)
Chú giải phân nhóm
Phân nhóm 1207.21
Theo mục đích của phân nhóm 1207.21, thuật ngữ “hạt giống” chỉ bao
gồm hạt bông được các cơ quan quốc gia có thẩm quyền đánh giá là để
gieo trồng.
12.08 - Bột mịn và bột thô từ các loại hạt hoặc quả có dầu, trừ bột
mịn và bột thô từ hạt mù tạt.
- Từ đậu tương
- Loại khác
Nhóm này gồm bột mịn hoặc bột thô không bị loại bỏ chất béo hay chỉ
bị loại bỏ một phần chất béo thu được từ quá trình xay xát hạt và quả có
dầu từ nhóm 12.01 đến 12.07. Nhóm này cũng bao gồm bột mịn hoặc
bột thô đã được loại bỏ chất béo hoặc đã được bổ sung một phần hay
toàn bộ chất béo bằng dầu lấy từ các loại bột đó (xem Chú giải 2 của
Chương này).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Bơ lạc (nhóm 20.08).
(b) Bột mịn và bột thô của mù tạt, đã hoặc chưa khử chất béo, đã hoặc
chưa chế biến (nhóm 21.03).
(c) Bột mịn và bột thô bị khử chất béo (trừ loại của hạt mù tạt) (các
nhóm từ nhóm 23.04 đến nhóm 23.06).
12.09 - Hạt, quả và mầm, dùng để gieo trồng.
- Hạt củ cải đường (sugar beet)
- Hạt của các loại cây dùng làm thức ăn gia súc:
- - Hạt cỏ linh lăng (alfalfa)
- - Hạt cỏ ba lá (Trifolium spp.)
- - Hạt cỏ đuôi trâu
- - Hạt cỏ kentucky màu xanh da trời (Poa
- - Hạt cỏ mạch đen (Lolium multiflorum Lam.,
- - Loại khác
- Hạt của các loại cây thân cỏ trồng chủ yếu để lấy
- Loại khác:
- - Hạt rau
- - Loại khác
Nhóm 12.09 gồm tất cả các loại hạt, quả và mầm dùng để gieo trồng.
Nhóm này bao gồm các hạt thậm chí không còn khả năng nảy mầm nữa.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các sản phẩm như các sản phẩm
được nêu ở phần cuối của Chú giải này, mặc dù được dùng để gieo
trồng, chúng được phân loại trong các nhóm khác của Danh mục, vì
chúng thường được dùng cho các mục đích khác không phải để gieo
trồng.
Nhóm này bao gồm các loại hạt củ cải, hạt cỏ, hạt cỏ đồng nội hay các
loại hạt cỏ khác (cỏ linh lăng, cây hồng đậu, cỏ ba lá, cỏ ray, cỏ đuôi
trâu, lúa mạch đen, cỏ kentucky màu xanh da trời, cỏ đuôi mèo…), các
loại hạt hoa trang trí, hạt rau, hạt cây rừng (kể cả quả của cây thông có
hạt), hạt cây ăn quả, hạt của đậu tằm (vetch) (trừ hạt thuộc loài Vicia
faba, tức là, hạt đậu tằm (broad bean) và đậu ngựa), hạt đậu lupin, hạt
me, hạt cây thuốc lá, hạt của các cây cho các sản phẩm thuộc nhóm
12.11 (không dùng chủ yếu làm nước hoa, dược phẩm, thuốc trừ sâu,
thuốc diệt nấm hoặc mục đích tương tự).
Các sản phẩm thuộc nhóm này (đặc biệt là hạt cỏ) có thể được phân tán
cùng với lượng nhỏ phân mịn trên 1 lớp lót bằng giấy và được phủ một
lớp mền xơ mịn được giữ đúng vị trí bởi một chiếc lưới được gia cố
bằng plastic.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Hệ sợi nấm (nhóm 06.02).
(b) Rau đậu và ngô ngọt (Chương 7).
(c) Quả của Chương 8.
(d) Gia vị và các loại sản phẩm khác thuộc Chương 9.
(e) Hạt ngũ cốc (Chương 10).
(f) Hạt và quả có dầu từ nhóm 12.01 đến nhóm 12.07.
(g) Các loại hạt và quả dùng chủ yếu làm nước hoa, dược phẩm, thuốc
trừ sâu, thuốc diệt nấm hoặc cho các mục đích tương tự (nhóm
(h) Hạt minh quyết (nhóm 12.12).
12.10 - Hublong (hoa bia), tươi hoặc khô, đã hoặc chưa nghiền, xay
thành bột hoặc ở dạng viên; phấn hoa bia.
- Hublong, chưa nghiền và chưa xay thành bột và
chưa ở dạng viên
- Hublong, đã nghiền, đã xay thành bột hoặc ở dạng
viên; phấn hoa bia
Hublong là loại hoa đuôi sóc có vảy giống hình nón hoặc hoa của cây
hublong (Humulus lupulus). Chúng được dùng chủ yếu trong công
nghiệp sản xuất bia tạo hương vị cho bia, nhưng Hublong còn dùng làm
dược phẩm. Nhóm 12.10 gồm hublong tươi hay khô, đã hoặc chưa xay,
nghiền thành bột hoặc ở dạng viên (nghĩa là, được tích tụ lại bằng cách
nén trực tiếp hoặc cho thêm chất kết dính với tỉ lệ không quá 3% trọng
lượng).
Phấn hoa bia là một loại bụi phấn nhựa màu vàng bao phủ hublong, bột
này có vị đắng, mùi thơm tạo nên tính đặc trưng của hoa. Phấn hoa được
sử dụng trong công nghiệp sản xuất bia như là sản phẩm thay thế phần
nào hublong và trong dược phẩm. Phấn hoa được tách khỏi hoa bằng
máy móc, sau khi làm khô.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Chiết xuất từ hublong (nhóm 13.02).
(b) Phế liệu của hublong chưa được khai thác hết (nhóm 23.03).
(c) Tinh dầu hublong (nhóm 33.01).
12.11 - Các loại cây và các bộ phận của cây (kể cả hạt và quả), chủ
yếu dùng làm nước hoa, làm dược phẩm hoặc thuốc trừ sâu,
thuốc diệt nấm hoặc các mục đích tương tự, tươi, ướp lạnh,
đông lạnh hoặc khô, đã hoặc chưa cắt, nghiền hoặc xay
thành bột.
1211.20 - Rễ cây nhân sâm
1211.30 - Lá coca
1211.40 - Thân cây anh túc
1211.50 - Cây ma hoàng
- Vỏ cây anh đào Châu Phi (Prunus africana)
1211.90 - Loại khác
Nhóm này gồm các sản phẩm rau chủ yếu dùng làm nước hoa, dược
phẩm, thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm hoặc các mục đích tương tự. Sản
phẩm thuộc nhóm này có thể ở dạng cả cây, rêu hoặc địa y, hoặc chỉ là
một phần cây (như vỏ cây, rễ cây, thân cây, lá, bông hoa, cánh hoa, quả
và hạt (trừ các loại hạt và quả có dầu được phân loại trong các nhóm từ
nhóm 12.01 đến 12.07)), hoặc ở dạng phế phẩm thu chủ yếu từ quá trình
xử lý cơ học. Các sản phẩm này dù tươi, ướp lạnh, đông lạnh hoặc khô,
đã hoặc chưa cắt, nghiền hoặc xay thành bột hoặc (trong trường hợp
thích hợp) nạo hoặc bóc vỏ vẫn thuộc nhóm này. Các sản phẩm này dù
được tẩm rượu vẫn được phân loại vào nhóm này.
Các loại cây, các phần của cây (kể cả hạt và quả), bụi cây, cây bụi hoặc
các loại cây khác được phân loại vào trong nhóm này nếu trực tiếp được
dùng cho các mục đích nêu ở trên hoặc được dùng để sản xuất các chất
chiết xuất, alkaloid hoặc tinh dầu phù hợp dùng cho các mục đích đó.
Mặt khác, nhóm này không bao gồm các loại hạt, quả được dùng để
chiết xuất dầu không bay hơi mặc dù lượng dầu đó được sử dụng cho các
mục đích nêu tại nhóm này; chúng được phân loại vào các nhóm từ
nhóm 12.01 đến 12.07.
Cần lưu ý sản phẩm thực vật được mô tả cụ thể hơn trong các nhóm khác
của danh mục bị loại khỏi nhóm này, cho dù chúng có khả năng được
dùng trong sản xuất nước hoa, dược phẩm... Đó là trường hợp đối với vỏ
chi cam quýt (nhóm 08.14); đinh hương, vani, hạt hồi, hoa hồi dạng sao
(badian) và các sản phẩm khác của Chương 9; hublong (nhóm 12.10);
rễ rau diếp xoăn của nhóm 12.12; gôm, nhựa, nhựa-gôm và nhựa dầu tự
nhiên (nhóm 13.01).
Cây sống và rễ rau diếp xoăn và cây giống sống khác, củ, rễ, vv, nhằm
mục đích rõ ràng để trồng, và hoa, lá, ..., để trang trí, thuộc Chương 6.
Cũng cần chú ý rằng các loại gỗ dùng chủ yếu làm nước hoa, dược
phẩm, thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm hoặc cho các mục đích tương tự
thuộc nhóm này chỉ khi chúng ở dưới dạng vỏ bào, gỗ mảnh, hoặc ở
dạng nghiền, xay, hoặc bột. Nếu ở dưới dạng khác thì gỗ này bị loại trừ
khỏi nhóm này (Chương 44).
Một số các loại cây hoặc bộ phận của cây (kể cả hạt hoặc quả) thuộc
nhóm này có thể được đóng gói (ví dụ, trong gói) để pha thảo dược hoặc
làm trà thảo dược. Các sản phẩm này bao gồm cả cây hoặc bộ phận của
cây (kể cả hạt hoặc quả) của riêng một loại (ví dụ, trà bạc hà) vẫn được
phân loại vào nhóm này.
Tuy nhiên, nhóm này loại trừ các sản phẩm bao gồm các loại cây hoặc các
bộ phận của cây (kể cả hạt hoặc quả) của các loài khác nhau (có hay không
phải là tổ hợp cây hoặc các bộ phận của cây thuộc các nhóm khác) hoặc bao
gồm cây hoặc bộ phận cây của một hay nhiều loài pha trộn với các chất
khác, ví dụ một hoặc nhiều chiết xuất của cây (nhóm 21.06).
Ngoài ra, cần lưu ý tùy từng trường hợp cụ thể mà có thể phân loại các sản
phẩm dưới đây vào các nhóm 30.03, 30.04, từ 33.03 đến 33.07 hoặc 38.08:
(a) Các sản phẩm của nhóm này, không pha trộn, nhưng được đóng gói
ở dạng các liều thuốc hoặc dưới dạng đóng gói để bán lẻ, được dùng
để chữa bệnh hoặc phòng bệnh, hay còn được đóng gói để bán lẻ
như các sản phẩm nước hoa hoặc như thuốc diệt côn trùng, thuốc
diệt ký sinh hoặc cho các sản phẩm tương tự.
(b) Các sản phẩm được pha trộn cho các mục đích được nêu ở mục (a)
trên.
Tuy nhiên, việc phân loại các sản phẩm rau trong nhóm này vì chúng
dùng chủ yếu trong y tế, không nhất thiết hàm ý rằng chúng được xem
như thuốc chữa bệnh thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04 khi chúng được pha
trộn hoặc không được pha trộn nhưng được đóng gói dưới dạng liều
thuốc hoặc được đóng gói để bán lẻ. Trong khi thuật ngữ “thuốc” thuộc
nhóm 30.03 hoặc 30.04 chỉ đề cập đến các sản phẩm dùng để phòng
hoặc chữa bệnh, thì khái niệm rộng hơn “dược phẩm” bao hàm cả thuốc
chữa bệnh và các loại thuốc không chữa bệnh hoặc phòng bệnh (ví dụ,
thuốc bổ, thức ăn bổ dưỡng, chất gây phản ứng để xác định nhóm máu
hoặc thành phần máu).
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) hỗn hợp bao gồm các loài thực vật khác nhau hoặc các bộ phận của
thực vật thuộc nhóm này loại dùng làm nước xốt gia vị (nhóm
(b) các sản phẩm liệt kê dưới đây dùng trực tiếp để tạo mùi thơm đồ
uống hoặc để điều chế các chiết xuất nhằm sản xuất đồ uống:
(i) các hỗn hợp bao gồm các loài cây khác nhau hoặc các phần của
cây trong nhóm này (nhóm 21.06); và
(ii) các hỗn hợp cây hoặc phần cây của nhóm này với các loại nông
sản khác thuộc các Chương khác (ví dụ, Chương 7, Chương 9,
Chương 11) (Chương 9 hoặc nhóm 21.06).
Các sản phẩm sau đây thuộc nhóm này:
- Cây phụ tử (Aconitum naplellus): rễ và lá.
- Cây vông vang (Hibiscus abelmoschus): hạt.
- Cây bạch chỉ (Archangelica officinalis): rễ và hạt.
- Cây vỏ đắng- chi cam quýt (Galipea officinalis): vỏ.
- Cây bách tán (Andira araroba): bột.
- Cây kim sa (Armica montana): rễ, thân, lá và hoa.
- Cây húng quế (Ocimum basilicum): lá và hoa
- Cây mạn việt quất (Uva ursi): lá.
- Cây cà dược (Atropa belladonna): thảo dược (herbs), rễ, quả, lá
và hoa
- Cây bônđo (Penmus boldus): lá.
- Cây mồ hôi (Borago officinalis): thân, lá và hoa.
- Cây nhăng (Bryonia dioica): rễ.
- Buchu (Barosma betulina, Barosma serratifolia và Barosma
crenulata): lá.
- Buckbean (Menyanthes trifoliata): lá.
- Cây ngưu bàng (Arctium lappa): Hạt và rễ khô.
- Cây họ đậu (Physostigma venenosum): hạt.
- Cây thạch xương bồ (Acorus calamus): rễ.
- Calumba (Jateorhiza palmata): rễ.
- Cây gai dầu (Canabis sativa): thảo dược (herbs).
- Cascara sagrada (Rhamnus purshiana): vỏ.
- Cascarilla (Croton eluteria): vỏ.
- Cây muồng (Casia fistula): hạt và cùi chưa tinh chế. (Cùi cây đã
tinh chế (rút nước) được phân loại vào nhóm 13.02).
- Cây xa cúc (Erythraea centaurium): thảo dược (herbs).
- Cevadilla (Sabadilla) (Schoenocaulon officinale): hạt.
- Cây cúc cam (Matricaria chamomilla, Anthemis nobilis): hoa.
- Cây ra muối (Chenopdium): hạt .
- Cây anh đào: thân.
- Cây nguyệt quế anh đào (Prunus laurocerasus): quả.
- Cây canh-ki-na: vỏ.
- Cây đinh hương (Caryophyllus aromaticus): vỏ và lá.
- Cây coca (Erythroxylon coca, E.truxillense): lá.
- Cây lơvăng (quả Ấn Độ) (Animirta paniculata): vỏ.
- Cocillana (Guarea rusbyi): vỏ.
- Cây bả chó (Colchicum antumnale): thân và hạt.
- Cây dưa đắng (Citrullus colocynthis): quả.
- Cây se (Symphytum officinale): rễ
- Condurango (Marsdenia condurango): vỏ.
- Cỏ gà (Agropyrum repens): rễ
- Cubé (barbasco or timbo) (Lonchocarpus nicou): vỏ và rễ.
- Hạt tiêu (Cubeba officinalis miquel hoặc piper cebeba): bột.
- Damiana (Turnera diffusa): lá.
- Cây bồ công anh (Taraxacum officinale): rễ.
- Datura metel: lá và hạt.
- Cây dây mật (Derris elliptica và Derris trifoliata): rễ .
- Cây dương địa hoành (Digitalis purpurea): lá và hạt.
- Cây cơm cháy (Sambucus nigra): vỏ và hoa.
- Cây ma hoàng (Ephedra (Mahuang): nhánh và thân.
- Cựa lúa mạch đen.
- Cây bạch đàn (Encalyptus globulus): lá
- Frangula: vỏ.
- Cây lam cận (Fumaria officinalis): lá và hoa.
- Củ riềng (Alpinia oficinarum): thân rễ.
- Cây long đờm (Gentiana lutea): rễ và hoa.
- Cây nhân sâm (Panax quinguefolium và Panax ginseng): rễ.
Cubé (barbasco or timbo) (Lonchocarpus nicou) : bark and roots.
- Golden seal (Hydrastis) (Hydrastis canadensis): rễ.
- Cây dũ sung (Guaiacum officinale and Guaiacum sanctum): gỗ.
- Cây kim mai (Hamamelis virginiana): vỏ và lá.
- Cây trị điên (Veratrum album and Veratrum viride): rễ.
- Cây kỳ nham (Hyoscyamus niger, muticus): rễ, hạt và lá.
- Cây húng xạ (Marrubium vulgare): thảo dược (herbs), nhánh,
thân và lá.
- Cây bài hương (Hyssopus officinalis): lá và hoa.
- Cây ipêca (Cephaelis ipecacuanha): rễ.
- Cây bìm bìm (Ipomoea orizabensis): rễ.
- Cây chanh tím (Pilocarpus jaborandi và Pilocarpus
microphyllus): lá
- Cây khoai sổ (Ipomoea purga): rễ.
- Cây oải hương (Lavandula vera): thảo dược (herbs) và hoa.
- Leptandra (Veronica virginica): rễ.
- Linaloe (Bursera delpechiana): gỗ.
- Cây đoan (Tilia europaea): hoa và lá.
- Cây cam thảo (Glycynhiza glabra): rễ
- Cây lobelia (Lobelia inflata): thảo dược (herbs) và hoa.
- Long pepper (Piper longum): rễ và thân dưới đất.
- Cây dương xỉ đực (Dryopteris filix-mas): rễ.
- Cây cẩm quỳ (Malva silvestris and Malva rotundifolia): lá và hoa.
- Cây độc có quả vàng (mandrake): rễ và thân rễ.
- Cây kinh giới ô (xem “cây kinh giới ô dại” ở dưới).
- Cây thục quỳ (Althaea officinalis): rễ, lá và hoa
- Cây hương phong (Melissa officinalis): lá và hoa
- Cây bạc hà (tất cả các loài).
- Mousse de chêne (rêu sồi) (Evernia furfuracea) (một loài địa y).
- Cây ngải (Artemisia vulgaris) : rễ và lá
Mousse de chêne (oak moss) (Evernia furfuracea) (a lichen).
- Hạt mã tiền (Strychnos nux-vomica): hạt.
- Cây cam (Citrus aurantium): lá và hoa.
- Cây đuôi diều (Iris germanica, Iris pallida và Iris florentina): rễ.
- Cây hoa păng xê: hoa.
- Cây hoắc hương (Pogostemon patchouli): lá.
- Cây bạc hà cay (xem cây bạc hà).
- Cây thông và cây lãnh sam: chồi
- Plantago psyllium: cỏ và hạt.
- Podophyllum (Podophyllum peltatum): rễ hoặc thân rễ.
- Cây thuốc phiện (Papaver somniferum): ngọn (chưa chín, khô).
- Pulsatilla (Anemone pulsatilla): cỏ.
- Cây cúc trừ sâu (Chrysanthemum cinerariaefolium): thân, lá và hoa.
- Cây cúc trừ sâu (Anacyclus pyrethrum): rễ.
- Cây thằn lằn (Quassia amara và Picraena excelsa): gỗ và vỏ
- Cây mộc qua: hạt.
- Cây hoa gáo (Krameria triadra): rễ
- Cây đại hoàng (Rheum officinale): rễ
- Cây hoa hồng: hoa
- Cây cỏ hương thảo (Rosmarinus officinalis): lá và hoa
- Cây cửu lý hương (Ruta graveolens): lá
- Cây hoa xôn (Salvia officinalis): hoa và lá
- Đậu St. Ignatius (Strychnos ignatii).
- Cây gỗ đàn hương: mảnh (trắng và vàng).
- Cây thổ phục linh (Smilax): rễ
- Cây de vàng (Sassafras officinalis): gỗ, vỏ và rễ.
- Cây bìm bìm nhựa xổ (Convolvulus scammonia): rễ.
- Cây viễn chí (Polygala senega): rễ
- Cây lá keo (Cassia acutifolia and Cassia angustifolia): quả và lá
- Cây du (Ulmus fulra): vỏ
- Cây học cà (Solanum nigrum)
- Cây hành biển (Urginea maritima, Urginea scilla): thân
- Cây cà độc dược (Datura stramonium): lá và thân trên
- Họ La bố ma (Strophanthus kombe) : hạt.
- Cây cúc ngải (Tanacetum vulgare): rễ, lá và hạt.
- Tonka (tonquin) (Dipterix odorata): hột.
- Cây nữ lang (Valeriana officinalis): rễ
- Cây hoa phổi (Verbuscum thapsus, verbascum phlomoides):
lá và hoa
- Cỏ roi ngựa: Lá và thân trên
- Cây rau thuỷ (Veronica officinalis): lá
- Cây giáng cua (Viburnum prunifolium): vỏ rễ.
- Cây hoa violet (Viola odorata): rễ và hoa khô.
- Cây óc chó: lá.
- Cây kinh giới ô dại (Origanum vulgare); cây kinh giới ô ngọt
(Majorana hortensis hoặc Origanum majorana) bị loại trừ
(Chương 7).
- Cây cỏ xa diệp (Asperula odorata): lá và hoa
- Woodruff (Asperula odorata): thảo dược (herbs).
- Cây ngải đắng (Artemisia abssinthium): lá và hoa.
- Yohimba (Corynanthe johimbe) : vỏ.
Tên thực vật trong bảng tên nêu trên (không toàn diện) được đưa ra để
giúp việc xác định cây một cách dễ dàng hơn. Các tên thực vật nêu trên
của các loài cụ thể không có nghĩa là các loài khác cùng họ cây không
được phân loại vào nhóm này.
Một số sản phẩm của nhóm này, theo các văn bản quốc tế được coi như
là chất gây nghiện, được nêu trong danh sách ở cuối Chương 29.
12.12 - Quả minh quyết (1), rong biển và các loại tảo khác, củ cải
đường (sugar beet) và mía đường, tươi, ướp lạnh, đông lạnh
hoặc khô, đã hoặc chưa nghiền; hạt và nhân của hạt và các
sản phẩm thực vật khác (kể cả rễ rau diếp xoăn chưa rang
thuộc loài Cichorium intybus satibium) chủ yếu dùng làm
thức ăn cho người, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác.
- Rong biển và các loại tảo khác:
- - Thích hợp sử dụng cho người
- - Loại khác
- Loại khác:
- - Củ cải đường
- - Quả minh quyết (carob)
- - Mía đường:
- - Rễ rau diếp xoăn
- - Loại khác
(A) Rong biển và các loại tảo khác.
Nhóm này bao gồm tất cả các loại rong biển và các loại tảo khác, ăn
được hay không ăn được. Chúng có thể ở dạng tươi, ướp lạnh, đông
lạnh, làm khô hoặc nghiền. Rong biển và các loại tảo khác dùng cho
nhiều mục đích (ví dụ, dược phẩm, mỹ phẩm, thức ăn cho người,
thức ăn chăn nuôi, phân bón).
Nhóm này cũng gồm bột thô rong biển và bột thô của các loại tảo
khác, dù tạo thành hay không tạo thành hỗn hợp của các loại rong
biển và các loại tảo khác.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Thạch rau câu và carrageenan (nhóm 13.02).
(b) Các loại tảo đơn bào chết (nhóm 21.02).
(c) Vi sinh nuôi cấy thuộc nhóm 30.02
(d) Các loại phân bón thuộc nhóm 31.01 hoặc 31.05.
(B) Củ cải đường và mía đường.
Nhóm này cũng bao gồm củ cải đường và mía đường, dưới các dạng
được nêu cụ thể trong nhóm này. Nhóm này không bao gồm bã mía,
phần bã của cây mía còn lại sau khi ép lấy nước mía (nhóm 23.03).
(C) Quả minh quyết.
Quả minh quyết là một loại quả của cây xanh nhỏ (Ceratonia
siliqua) sinh sôi ở vùng Địa Trung Hải. Quả có vỏ màu nâu, nhiều
hạt, chủ yếu được dùng để chưng cất hoặc làm thức ăn cho động vật.
Quả minh quyết chứa một tỷ lệ đường cao và đôi khi được ăn như
mứt.
Nhóm này bao gồm phôi nhũ, mầm, hạt quả cây minh quyết và cả
bột mầm đã hoặc chưa trộn với bột vỏ.
Nhóm này không bao gồm bột của phôi nhũ cây minh quyết, loại
được phân loại vào nhóm 13.02 như chất nhầy hoặc chất làm đông.
(D) Hạt quả và nhân của hạt và các sản phẩm rau khác (gồm cả rễ
rau diếp xoăn chưa rang thuộc loài Cichorium intybus satirum)
chủ yếu dùng làm thức ăn cho người, chưa được chi tiết hoặc
ghi ở nơi khác.
Nhóm này bao gồm hạt quả và nhân quả và các sản phẩm rau khác, chủ
yếu dùng làm thức ăn cho người một cách trực tiếp hay gián tiếp, chưa
được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác trong Danh mục.
Nhóm này do đó bao gồm nhân hạt đào (kể cả xuân đào), mơ và mận
(được dùng chủ yếu làm sản phẩm thay thế hạt hạnh nhân). Các sản
phẩm này vẫn được phân loại vào nhóm này mặc dù chúng được dùng để
chiết xuất lấy dầu.
Nhóm này cũng bao gồm rễ rau diếp xoăn chưa rang thuộc loài
Cichorium intybus satirum, tươi hoặc khô, còn nguyên rễ hay bị chặt. Rễ
rau diếp xoăn đã rang thuộc loài này được dùng làm chất thay thế cà phê
bị loại trừ (nhóm 21.01). Các loại rễ của rau diếp xoăn thuộc loài khác
chưa rang được phân loại vào nhóm 06.01.
Nhóm này cũng bao gồm thân của cây bạch chỉ, được dùng chủ yếu để
sản xuất đường bạch chỉ hoặc làm mứt bạch chỉ. Thân cây này thông
thường được bảo quản trong nước muối.
Nhóm này còn gồm cả cây lúa miến ngọt như loại saccharatum, dùng
chủ yếu để làm xirô hoặc mật đường.
Nhóm này không bao gồm các loại hạt quả hoặc các loại hạt dùng trong
nghệ thuật trạm khắc (ví dụ, hạt chà là) (nhóm 14.04) và các nhân quả đã
rang (thường được phân loại như các chất thay thế cà phê - nhóm 21.01).
12.13 - Rơm, rạ và trấu từ cây ngũ cốc, chưa xử lý, đã hoặc chưa
băm, nghiền, ép hoặc làm thành dạng viên.
Nhóm này chỉ gồm rơm, rạ và trấu từ cây ngũ cốc chưa chế biến thu
được từ quá trình đập ngũ cốc, hoặc băm, nghiền, ép hoặc làm thành
dạng viên (nghĩa là được tích tụ lại bằng cách nén trực tiếp hoặc cho
thêm chất kết dính với tỉ lệ không quá 3% tính theo trọng lượng), nhưng
không được chế biến thêm. Nhóm này không bao gồm rơm rạ đã được
làm sạch, được tẩy trắng hoặc nhuộm (nhóm 14.01).
12.14 - ải củ Thụy Điển, cải cầu vồng (mangold), rễ cỏ khô, cỏ khô,
cỏ linh lăng, cỏ ba lá, cây hồng đậu, cải xoăn, đậu lu-pin,
đậu tằm và các sản phẩm tương tự dùng làm thức ăn cho gia
súc, đã hoặc chưa làm thành viên.
- Bột thô và viên cỏ linh lăng (alfalfa)
- Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Củ cải Thụy Điển (Brassica nopobrassica), cải cầu vồng (mangold),
cà rốt (có màu trắng hoặc vàng nhạt) và các loại rễ cây, dùng làm
thức ăn cho gia súc. Những loại rễ cây này vẫn được phân loại vào
nhóm này ngay cả khi một số rễ cây cũng thích hợp dùng làm thức
ăn cho người.
(2) Cỏ khô, cỏ linh lăng (alfalfa), cỏ ba lá, cây hồng đậu, cải xoăn, đậu
lu-pin, đậu tằm và các sản phẩm tương tự làm thức ăn cho gia súc,
tươi hoặc khô, đã hoặc chưa cắt, ép hoặc băm vụn nhỏ. Những sản
phẩm này vẫn thuộc nhóm này ngay cả khi chúng có hay không
được ướp muối hoặc xử lý cách khác trong hầm chứa để ngăn chặn
quá trình lên men hoặc hư hỏng.
Khái niệm "các sản phẩm tương tự làm thức ăn cho gia súc" chỉ đề cập
đến các loại cây trồng riêng cho mục đích này. Nó không bao gồm các
phế liệu thực vật có thể được dùng cho mục đích tương tự (nhóm 23.08).
Sản phẩm dùng làm thức ăn cho gia súc thuộc nhóm này cũng có thể ở
dạng viên, tức là, được tích tụ bằng cách nén, ép hoặc thêm chất kết dính
với tỉ lệ không quá 3% tính theo trọng lượng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Cà rốt (có màu vàng đỏ nhạt) thuộc nhóm 07.06.
(b) Rơm, rạ và trấu từ cây ngũ cốc (nhóm 12.13).
(c) Sản phẩm rau dù được dùng làm thức ăn gia súc, nhưng không phải
là được trồng cho riêng mục đích này như lá củ cải hoặc lá cà rốt và
lá ngô (nhóm 23.08).
(d) Các chế phẩm dùng làm thức ăn chăn nuôi (ví dụ, thức ăn cho gia
súc được làm ngọt) (nhóm 23.09).
Chương 13
Nhựa cánh kiến đỏ; gôm, nhựa cây, các chất nhựa và các chất chiết
xuất từ thực vật khác
Chú giải.
1. Không kể những đề cập khác, nhóm 13.02 áp dụng cho các chất
chiết xuất từ cây cam thảo và cây kim cúc, cây hublong (hoa bia),
cây lô hội và cây thuốc phiện.
Nhóm này không áp dụng cho:
(a) Chất chiết xuất từ cây cam thảo có hàm lượng trên 10% tính
theo khối lượng là đường sucroza hoặc được đóng gói như kẹo
(nhóm 17.04);
(b) Chất chiết xuất từ malt (nhóm 19.01);
(c) Chất chiết xuất từ cà phê, chè hoặc chè paragoay (nhóm 21.01);
(d) Các chất nhựa hoặc chất chiết xuất từ thực vật để làm đồ uống
có cồn (Chương 22);
(e) Long não (camphor), glycyrrhizin hoặc các sản phẩm khác
thuộc nhóm 29.14 hoặc 29.38;
(f) Cao thuốc phiện có chứa hàm lượng alkaloid từ 50% trở lên
tính theo khối lượng (nhóm 29.39);
(g) Dược phẩm thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04 hoặc thuốc thử nhóm
máu (nhóm 38.22);
(h) Chất chiết xuất làm thuốc nhuộm hoặc thuộc da (nhóm 32.01
hoặc 32.03);
(ij) Tinh dầu, thể rắn, nguyên chất, chất tựa nhựa, nhựa dầu, nước
cất tinh dầu hoặc dung dịch nước của tinh dầu hoặc các chế
phẩm dựa trên các chất thơm sử dụng để sản xuất đồ uống
(Chương 33); hoặc
(k) Cao su tự nhiên, nhựa cây balata, nhựa két, nhựa cây cúc cao su,
nhựa chicle hoặc các loại nhựa tự nhiên tương tự (nhóm 40.01).
(c) Extracts of coffee, tea or maté (heading 21.01);
13.01 - Nhựa cánh kiến đỏ; gôm tự nhiên, nhựa cây, nhựa gôm và
nhựa dầu tự nhiên (ví dụ, nhựa thơm từ cây balsam).
- Gôm Ả rập
- Loại khác
(I) Nhựa cánh kiến đỏ.
Nhựa cánh kiến đỏ là chất nhựa do loại côn trùng có cùng họ với sâu yên
chi (rệp son) và sâu kemet tạo ra trên một số cây ở vùng nhiệt đới.
Một số thương phẩm quan trọng nhất là:
(A) Nhựa cánh kiến đỏ dạng thỏi (lắc thỏi), thường gồm các cành trên
đó có lớp màng dày hoặc mỏng nhựa cánh kiến; nó có màu đỏ sẫm
và là loại nhựa cánh kiến đỏ có mầu đậm nhất.
(B) Nhựa cánh kiến đỏ dạng hạt (lắc hạt), là loại cánh kiến đỏ được
nghiền sau khi tách ra khỏi cành, thông thường người ra rửa để loại
bỏ chất phẩm màu của cánh kiến đỏ.
(C) Nhựa cánh kiến đỏ dạng phiến mỏng, còn gọi là cánh kiến đỏ
dạng lá, lắc phiến hoặc lắc bản (shellac) thu được từ quá trình làm
nóng chảy và lọc để tinh chế gôm. Nó có dạng các phiến mỏng,
trong suốt và có màu hổ phách hoặc hơi đỏ. Sản phẩm tương tự ở
dạng hình đĩa được gọi là “cánh kiến cúc áo”.
Nhựa cánh kiến đỏ dạng phiến mỏng được được sử dụng rộng rãi
trong quá trình sản xuất sáp dán, vecni và dùng trong kỹ thuật điện.
(D) Nhựa cánh kiến đỏ dạng khối (hay là cánh kiến ngọc hồng lựu) thu
được chủ yếu từ các phế liệu trong quá trình chế biến nhựa cánh
kiến đỏ dạng phiến mỏng.
Nhựa cánh kiến đỏ cũng có thể được tẩy mầu hoặc tẩy trắng và đôi khi ở
dạng các nùi được xoắn.
Nhựa của một số cây phương Đông có thể đông lại, tạo thành một màng
bền khi ở ngoài không khí (như "sơn mài Trung Quốc", "sơn mài Nhật
Bản"...) bị loại trừ (nhóm 13.02).
(II) Gôm tự nhiên, nhựa cây, nhựa gôm và nhựa dầu.
Gôm tự nhiên, nhựa cây, nhựa gôm và nhựa dầu là chất được tiết ra từ
thực vật, có thể bị đông khi để ngoài không khí. Các thuật ngữ này được
sử dụng rộng rãi. Các sản phẩm này có các đặc tính khác biệt như sau:
(A) Gôm thật không mùi, không vị và ít nhiều hòa tan trong nước, tạo
thành chất dính. Chúng cháy mà không tan chảy và không mùi.
(B) Nhựa cây không tan trong nước, có mùi nhẹ, là chất dẫn điện kém
và có khả năng nhiễm điện âm. Chúng mềm đi và chảy ra hầu như
hoàn toàn khi dùng nhiệt, và khi được đốt cháy chúng phát lửa có
khói và có mùi đặc trưng.
(C) Nhựa gôm, như tên gọi, gồm hỗn hợp tự nhiên của gôm và nhựa cây
với các tỉ lệ khác nhau, và do đó hoà tan được một phần trong nước;
nói chung chúng có mùi và vị hắc nồng và đặc trưng.
(D) Nhựa dầu là tiết dịch thành phần chính chủ yếu là các thành phần
giống nhựa cây và dễ bay hơi. Nhựa Balsams là nhựa dầu có mùi
thơm đặc trưng do hàm lượng chất benzoic hoặc hợp chất cinnamic.
Các sản phẩm chủ yếu là:
(1) Gôm Ả rập (thu được từ nhiều loại cây keo khác nhau) (đôi khi còn
được gọi là gôm Nil, gôm Ađen, gôm Sênêgan); gôm tragacanth
(thu được từ một số cây họ bộ đậu Astragalus); gôm Basra; gôm
Anacardium (gôm từ cây đào lộn hột); gôm Ấn Độ; một số loại
được gọi là “gôm bản xứ” thu được từ loại cây có họ Rosaceae như
cây anh đào, cây mận, cây mơ, cây đào, cây hạnh nhân.
(2) Nhựa dầu tươi (dạng lỏng) của cây thông (bao gồm cả nhựa thông),
cây linh sam hoặc các loài cây lá kim khác (thô hoặc tinh chế), cũng
như nhựa của cây lá kim (galipot,...) mà đã khô trên vết nứt của cây
và có chứa phế thải thực vật.
(3) Nhựa copal (của Ấn độ, Braxin, Cônggô…), kể cả thạch copal; gôm
nhựa cây côri; nhựa damar, nhựa mastic; nhựa elemi; nhựa trắc bách
diệp; nhựa cây song máu rồng.
(4) Gôm gút hay gôm campuchia; gôm amôniac; gôm a ngùy; gôm cây
đại kích, gôm galbanum, gôm cây xương khô; nhựa hương hay
hương trầm, nhựa thơm, nhựa acaroid; nhựa cây gaiac.
(5) Cánh kiến trắng; nhựa cây bồ đề (thể rắn hay lỏng); nhựa bôm tôhe,
peru, canada, copaihu; nhựa mecca; nhựa thapsia.
(6) Nhựa gai dầu (canabis) (thô hoặc đã tinh chế) thu được từ cây gai
dầu. (Nhựa gai dầu là loại nhựa có chứa chất gây nghiện xem bảng
liệt kê ở cuối Chương 29).
Nhựa, nhựa cây, nhựa gôm và nhựa dầu tự nhiên thuộc nhóm này có thể
ở dạng thô, được tẩy rửa, tinh chế, tẩy trắng, được nghiền, hoặc xay
thành dạng bột. Tuy nhiên, chúng không thuộc nhóm này nếu trải qua
các quá trình xử lý như xử lý với nước dưới áp suất, được xử lý bằng
axit vô cơ hoặc bằng nhiệt; ví dụ: gôm và nhựa - gôm được hòa tan qua
xử lý áp suất nước (nhóm 13.02), gôm được hòa tan qua xử lý bằng axit
sulphuric (nhóm 35.06), và nhựa được xử lý nhiệt để chúng hòa tan
trong dầu khô (nhóm 38.06).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Hổ phách (nhóm 25.30).
(b) Thuốc có chứa nhựa balsam tự nhiên cũng như các thuốc được điều
chế có chứa các nhựa balsam khác (nhóm 30.03 hoặc 30.04).
(c) Thuốc nhuộm cánh kiến đỏ, chất màu được chiết xuất từ nhựa cánh
kiến đỏ (nhóm 32.03).
(d) Chất tựa nhựa (thu được từ các chất của nhóm này) và nhựa dầu đã
chiết (nhóm 33.01).
(e) Dầu tall (tall oil) đối khi còn gọi là nhựa thể lỏng (nhóm 38.03).
(f) Dầu nhựa thông (nhóm 38.05).
(g) Colophan, axit nhựa, tinh dầu colophan và dầu colophan, nhựa dính
colophan, nhựa dính hắc ín dùng trong sản xuất rượu bia và các chế
phẩm tương tự làm từ colophan (Chương 38).
13.02 - Nhựa và các chiết xuất từ thực vật; chất pectic, muối của axit
pectinic và muối của axit pectic; thạch rau câu (agar-agar)
và các chất nhầy và các chất làm đặc, làm dày khác, đã hoặc
chưa cải biến, thu được từ các sản phẩm thực vật.
- Nhựa và các chất chiết xuất từ thực vật:
- - Thuốc phiện
- - Từ cam thảo
- - Từ hoa bia (hublong)
1302.14 - - Từ cây ma hoàng
- - Loại khác
- Chất pectic, muối của axit pectinic và muối của axit
- Chất nhầy và chất làm đặc, làm dày, đã hoặc chưa
biến đổi thu được từ các sản phẩm thực vật:
- - Thạch rau câu (agar-agar)
- - Chất nhầy và chất làm đặc, làm dày, đã hoặc chưa
biến đổi, thu được từ quả minh quyết, hạt minh quyết
hoặc hạt guar
- - Loại khác
(A) Nhựa và các chiết xuất từ thực vật.
Nhóm này bao gồm nhựa thực vật (sản phẩm thực vật thường thu được
từ sự rỉ tự nhiên hoặc bị rạch), và các chiết xuất (sản phẩm thực vật
chiết xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật bằng dung môi) miễn
là các chất chiết xuất này không được chi tiết hoặc được ghi tại các
nhóm chi tiết hơn của Danh mục (xem danh sách loại trừ ở cuối phần
(A) của phần Chú giải này).
Nhựa và các chiết xuất này khác với tinh dầu, chất tựa nhựa và nhựa dầu
đã chiết thuộc nhóm 33.01, ở chỗ, ngoài các thành phần thơm dễ bay
hơi, chúng có chứa các thành phần khác của cây với tỉ lệ cao hơn nhiều
(ví dụ, chất diệp lục, chất tanin, chất đắng, carbohydrate và các chất
được chiết xuất khác).
Nhựa và các chiết xuất được phân loại vào nhóm này bao gồm:
(1) Thuốc phiện, nhựa khô của quả nang chưa chín của cây anh túc
(Papaver somniferum) thu được từ vết rạch, hoặc chiết xuất, từ thân
hoặc vỏ hạt. Thuốc phiện thường ở dưới dạng viên hoặc bánh có
hình dạng và kích cỡ khác nhau. Tuy nhiên, dịch chiết đậm đặc từ
thân cây anh túc có chứa hàm lượng alkaloid từ 50% trở lên tính
theo trọng lượng thì bị loại trừ khỏi nhóm này (xem Chú giải 1(f)
của Chương này).
(2) Cam thảo chiết xuất từ rễ khô của cây thuộc họ Leguminosae
(Glycyrrhiza glabra) bằng nước nóng dưới áp suất và sau đó cô đặc.
Chất chiết xuất này có thể dưới dạng chất lỏng hoặc hình khối,
bánh, thỏi, lát hoặc bột. (Chất cam thảo chứa hàm lượng đường
sucroza trên 10% tính theo trọng lượng, hoặc được đóng gói (tức là,
được chế biến) dưới dạng kẹo đường với hàm lượng đường bất kỳ,
bị loại trừ, xem nhóm 17.04).
(3) Chiết xuất từ hublong (hoa bia).
(4) Chiết xuất từ cây kim cúc, chủ yếu thu được từ hoa của các loài
cây kim cúc khác nhau (ví dụ, Chrysanthemum cinerariaefolium)
bằng cách chiết xuất với dung môi hữu cơ như chất hexan thông
thường hoặc "ete của dầu mỏ".
(5) Chiết xuất từ rễ cây có chứa chất rotenone (dây mật, cubé, timbo,
(6) Chiết xuất và cồn của bất kỳ cây nào họ Cannabis (gai dầu).
Nhựa gai dầu, thô hoặc đã tinh chế, không thuộc nhóm này (nhóm 13.01).
(7) Chiết xuất từ nhân sâm, thu được từ rút nước hoặc chất cồn, được
đóng gói hay không được đóng gói để bán lẻ.
Hỗn hợp gồm chiết xuất từ nhân sâm trộn với các thành phần khác
(ví dụ, lactoza hoặc glucoza) được dùng để chế biến "trà sâm" hoặc
(5) Extracts of the roots of plants containing rotenone (derris, cubé,
đồ uống từ sâm bị loại trừ (nhóm 21.06).
(8) Nhựa lô hội, là lớp nhựa dày có vị rất đắng, được lấy từ một số loại
cây có cùng tên (họ Liliaceae).
(9) Podophyllum, là chất như nhựa được chiết xuất bằng chất có cồn từ
thân rễ khô của podophyllum peltatum.
(10) Hoàng nà (nhựa độc curare), nước chiết xuất từ lá và vỏ của các
loại cây có họ Strychnos.
(11) Chiết xuất từ cây thằn lằn hoa giềng (quassia amara), thu được từ
gỗ của nhiều dạng cây có cùng tên thuộc họ Simaroubaceae, sống ở
vùng Nam Mỹ.
Quassin, vị đắng chiết xuất từ gỗ cây thằn lằn hoa giềng, là một hợp
chất dị vòng thuộc nhóm 29.32.
(12) Các chiết xuất dược phẩm khác, ví dụ, cây cà dược, alder đen
(alder buckthorn), cây hắc mai, tỏi, cây gentian, cây jalap, cây
canhkina, cây đại hoàng, cây thổ phục linh, cây me, cây nữ lang,
búp thông, cây coca, cây dưa đắng, cây dương xỉ đực, cây phỉ, cây
kỳ nham, cây lúa mạch đen.
(13) "Manna", nhựa ngọt, thể rắn thu được từ vết nứt, rãnh của một số
loại cây tần bì.
(14) Nhựa bẫy chim, keo nhầy và quánh, có màu lục nhạt, được chiết
xuất từ quả cây tầm gửi hoặc từ cây nhựa ruồi.
(15) Chiết xuất nước thu được từ lõi cây cassia. Tuy nhiên, quả và lõi
cây cassia bị loại trừ (nhóm 12.11).
(16) Gôm "Kino", một loại nhựa cô đặc của một số cây nhiệt đới được
dùng làm thuốc và thuộc da.
(17) Sơn mài Nhật Bản (hoặc Trung Quốc) (sơn mài tự nhiên), là loại
nhựa thu được từ vết nứt, rạch từ một số cây bụi họ Rhus (urushi)
mọc ở vùng Viễn Đông (ví dụ, Rhus vernicifera). Nó dùng làm lớp
phủ hoặc trang trí các đồ vật khác nhau (tráp, hộp...)
(18) Nhựa đu đủ (papaw), đã hoặc chưa làm khô, nhưng chưa được
tinh chế thành enzym đu đủ. (Những giọt nhựa cô đọng có thể được
quan sát qua kính hiển vi). Nhóm này không bao gồm papain
(nhóm 35.07).
(19) Chiết xuất từ cola, được lấy từ hạt cola (hạt của nhiều loạ i cola, ví
dụ, cola nitida) và dùng chủ yếu để sản xuất một số loại đồ uống.
(20) Chiết xuất từ vỏ hạt điều. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm
chất polymer của chiết xuất dung dịch của vỏ hạt điều (thường
thuộc nhóm 39.11).
(21) Nhựa dầu vani, đôi khi người ta gọi sai thành “chất tựa nhựa vani”
hoặc “chiết xuất của vani”.
Nhựa cây thường được làm cho đặc, dày, hoặc được làm đông đặc.
Chiết xuất có thể ở dạng lỏng, sệt hoặc rắn. “Cồn thuốc” là các chiết
xuất vẫn bị phân hủy trong cồn tùy theo cách chúng được chiết xuất; cái
được gọi là “chiết xuất lỏng” là dung dịch của các chiết xuất hòa tan
trong cồn, glycerin hoặc dầu khoáng, chẳng hạn. Cồn thuốc và chiết xuất
lỏng nói chung được tiêu chuẩn hóa (ví dụ, chiết xuất từ cây kim cúc có
thể được chuẩn hóa bằng cách pha thêm dầu khoáng để đạt các phẩm cấp
với hàm lượng kim cúc tiêu chuẩn, ví dụ, 2%, 20% hoặc 25%). Chất
chiết xuất thể rắn thu được bằng cách làm bay hơi dung môi. Chất trơ
đôi khi được bổ sung vào một số chất chiết xuất để các chất này dễ làm
thành bột hơn (ví dụ, chiết xuất cây cà dược, được bổ sung gôm Ả rập đã
nghiền thành bột), hoặc để thu được nồng độ tiêu chuẩn (ví dụ, một
lượng tinh bột nhất định được bổ sung vào thuốc phiện để tạo ra sản
phẩm chứa lượng morphine nhất định). Việc thêm vào các chất nói trên
không ảnh hưởng đến việc phân loại các chất chiết xuất thể rắn này. Tuy
nhiên, chất chiết xuất có thể không cần trải qua các chu trình chiết bổ
sung hoặc các quy trình tinh chế, ví dụ tinh chế bằng phương pháp sắc
ký, làm tăng hoặc giảm các hợp chất hoặc nhóm hợp chất nhất định đến
mức độ không thể đạt được chỉ bằng phương pháp chiết xuất dung môi
ban đầu.
Các chiết xuất có thể là đơn giản hoặc là hợp chất. Các chiết xuất đơn
giản thu được từ quá trình xử lý một loại cây duy nhất. Chiết xuất hợp
chất thu được bằng cách pha trộn các chiết xuất đơn giản hoặc bằng cách
xử lý các hợp chất của nhiều loại cây khác nhau. Chiết xuất hợp chất (ở
dạng cồn lỏng hay ở các dạng khác) do đó có chứa các thành phần của
một số loại cây; chúng bao gồm chiết xuất hợp chất thuốc tẩy jalap, chiết
xuất hợp chất của cây lô hội, chiết xuất hợp chất của cây canhkina …
Nhựa và các chiết xuất từ thực vật thuộc nhóm này thường là các nguyên
liệu thô dùng cho nhiều sản phẩm khác nhau. Chúng bị loại trừ khỏi
nhóm này khi chúng có đặc tính của chế phẩm thực phẩm, thuốc… do
được bổ sung thêm một số chất khác. Chúng cũng bị loại trừ khỏi nhóm
này khi chúng được tinh luyện hoặc tinh chế ở mức độ cao, ví dụ, bằng
phương pháp sắc ký tinh chế, siêu lọc, hoặc các chu trình chiết xuất bổ
sung (ví dụ: chiết xuất lỏng-lỏng) sau khi chiết xuất lần đầu.
Một số sản phẩm thuộc nhóm này, được coi là chất gây nghiện theo các
văn kiện quốc tế, được nêu trong danh sách ở cuối Chương 29.
Các ví dụ cho các chế phẩm bị loại trừ là:
(i) Xirô đã pha hương liệu có chứa các chiết xuất từ thực vật (nhóm
(ii) Chế phẩm dùng trong sản xuất đồ uống. Các chế phẩm này được
thu từ việc trộn các chiết xuất thực vật thuộc nhóm này với axit
lactic, axit tartaric, axit citric, axit phosphoric, chất bảo quản, chất
tạo bọt, nước hoa quả...và đôi khi với tinh dầu. Chế phẩm trên
thường được phân loại vào nhóm 21.06 hoặc 33.02.
(iii) Chế phẩm dược (một số được biết đến như “cồn thuốc”) gồm các
hợp chất của các chiết xuất thực vật với các sản phẩm khác (ví dụ,
chế phẩm bao gồm hợp chất của các chiết xuất capsicum, cồn của
nhựa thông, long não và methyl salixylate, hoặc các hợp chất của
cồn thuốc phiện, dầu cây hồi, long não và axit benzoic) (nhóm
30.03 hoặc nhóm 30.04).
(iv) Các sản phẩm trung gian dùng cho quá trình sản xuất thuốc trừ
sâu, bao gồm chiết xuất từ loài hoa kim cúc được pha loãng bằng
cách bổ sung thêm dầu khoáng với hàm lượng kim cúc dưới 2%,
hoặc với các chất khác như synergist (ví dụ, piperonyl butoxide.)
được thêm vào (nhóm 38.08).
Nhóm này cũng không bao gồm các chiết xuất từ thực vật đã đuợc trộn
hoặc pha (mà không thêm các chất khác) cho mục đích phòng hoặc chữa
bệnh. Những hợp chất này, và các chiết xuất hợp chất thuốc tương tự thu
được từ quá trình xử lý hợp chất của các loại cây, được phân loại vào
nhóm 30.03 hay 30.04. Nhóm sau (30.04) cũng bao gồm cả các chiết
xuất thực vật bằng phương pháp đơn giản (dù được hay chưa được chuẩn
hóa hoặc được hòa tan trong dung môi bất kỳ) khi được đóng gói thành
liều lượng để dùng cho việc phòng và chữa bệnh hoặc thành các dạng
hoặc đóng gói để bán lẻ cho cùng mục đích nêu trên.
Nhóm này không bao gồm tinh dầu, chất tựa nhựa và nhựa dầu đã chiết
(nhóm 33.01). Tinh dầu (có thể cũng thu được từ việc chiết xuất dung
môi) khác với các chiết xuất được phân loại trong nhóm này bởi vì
chúng chủ yếu bao gồm các thành phần chất thơm dễ bay hơi. Chất tựa
nhựa khác với chiết xuất trong nhóm này vì chúng thu được bằng cách
chiết xuất các nguyên liệu nhựa cây từ thực vật không có tế bào tự nhiên
hoặc nguyên liệu giống nhựa cây từ động vật thông qua dung môi hữu cơ
hoặc chất lưu siêu hạn (ví dụ, khí cacbonic dưới áp suất). Nhựa dầu đã
chiết khác với các chiết xuất thuộc nhóm này vì chúng (1) thu được từ
các chất thực vật thô có tế bào tự nhiên (hầu hết là cây gia vị hoặc cây có
chất thơm), hoặc bằng cách chiết xuất dung môi hữu cơ hoặc bằng cách
chiết xuất chất lưu tới hạn, và (2) bao gồm các thành phần thơm dễ bay
hơi cùng với các hương liệu không bay hơi, quyết định mùi hoặc vị đặc
trưng của cây gia vị hoặc cây có mùi thơm.
Nhóm này cũng không bao gồm các sản phẩm thực vật sau đây, mà
được phân loại vào các nhóm chi tiết hơn tại Danh mục:
(a) Gôm, nhựa cây, nhựa gôm và nhựa dầu tự nhiên (nhóm 13.01).
(b) Chiết xuất malt (nhóm 19.01).
(c) Chiết xuất của cà phê, chè hoặc chè Paragoay (nhóm 21.01).
(d) Nhựa và chất chiết xuất của thực vật làm đồ uống có cồn (Chương
(e) Chiết xuất của thuốc lá (nhóm 24.03).
(f) Long não (nhóm 29.14), glycyrrhizin và glycyrrhizates (nhóm
(c) Extracts of coffee, tea or maté (heading 21.01).
(g) Chiết xuất được dùng làm thuốc thử để xác định nhóm máu (nhóm
(h) Chiết xuất tanin (nhóm 32.01).
(ij) Chiết xuất nhuộm (nhóm 32.03).
(k) Cao su tự nhiên, nhựa cây balata, nhựa két, nhựa cây cúc cao su,
nhựa cây họ sacolasea tự nhiên và các loại nhựa tự nhiên tương tự
(nhóm 40.01).
(B) Chất pectic, muối của axit pectinic và muối của axit pectic.
Chất pectic (trong thương phẩm được biết với cái tên “pectin”) là các
polisacarit mà thành phần cơ bản cấu tạo là axit polygalacturonic. Chất
pectic có trong tế bào của cây, đặc biệt là trong quả và rau, được chiết
xuất bằng phương pháp công nghiệp từ bã của táo, lê, quả mộc qua, cam
quýt, củ cải đường... Pectin chủ yếu được dùng như tác nhân “kết dính”
để làm mứt quả hoặc các chất bảo quản khác. Chúng có thể ở dưới dạng
lỏng hoặc dạng bột, và được phân loại trong nhóm này dù có hay không
được chuẩn hóa bằng cách pha thêm đường (glucoza, sucroza,…) hoặc
các sản phẩm khác (để đảm bảo không thay đổi đặc tính khi sử dụng).
Đôi khi chúng bao gồm citrate natri hoặc các muối đệm khác.
Muối pectinate là muối của axit pectinic (một phần là axit
methoxylated polygalacturonic) và muối pectate là muối của axit pectic
(axit demethoxylate pectinic). Chúng có chung nhiều tính chất và mục
đích sử dụng như chất pectin.
(C) Thạch rau câu và các chất nhầy và chất làm đặc, làm dày khác,
đã hoặc chưa cải biến, thu được từ các sản phẩm thực vật.
Các chất nhầy và chất làm đặc, làm dày, thu được từ các sản phẩm
thực vật, phồng lên trong nước lạnh và hoà tan trong nước nóng, khi gặp
lạnh trở thành khối đồng nhất, sền sệt và thường không vị khi được làm
mát. Các sản phẩm này chủ yếu được dùng như sản phẩm thay thế chất
gelatin dùng trong công nghiệp thực phẩm, dùng để làm hồ giấy hoặc hồ
vải, lọc một số chất lỏng, sử dụng cho nuôi cấy vi khuẩn, trong dược
phẩm và để sản xuất mỹ phẩm. Chúng có thể được biến đổi thông qua xử
lý hoá học (ví dụ, este hoá, ete hoá, được xử lý với borax, axit hoặc chất
kiềm).
Các sản phẩm này vẫn được phân loại trong nhóm này dù có hay không
được chuẩn hóa bằng cách pha thêm đường (glucoza, sucroza…) hoặc
các sản phẩm khác (để đảm bảo không thay đổi đặc tính khi sử dụng).
Các sản phẩm quan trọng nhất là:
(1) Thạch rau câu thu được từ quá trình chiết xuất một số loại tảo biển
được thấy chủ yếu ở vùng Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, và
thường ở dưới dạng sợi nhỏ được làm khô, dạng vảy, dạng bột hoặc
ở thể keo sau khi được xử lý bằng axit. Trong thương mại, loại
thạch này còn được biết đến trong tên “thạch trắng” và cũng là chất
gelatin thực vật Nhật Bản (hoặc rêu) hoặc Tảo spinosa.
(2) Bột phôi nhũ từ hạt minh quyết (Ceratonia siliqua) hoặc hạt guar
(Cyamopsis psoralioides hoặc Cyamopsis tetragonoloba). Các loại
bột này được phân loại trong nhóm này, dù có hay không bị biến đổi
do được xử lý bằng hoá học để cải tiến hoặc ổn định thuộc tính nhầy
(tính nhớt, độ tan...).
(3) Carrageenan được chiết xuất từ tảo carrageen (có tên là rêu ngọc
hoặc rêu Ai-Len) và thường có dạng chỉ sợi, dạng vảy hoặc bột.
Nhóm này cũng bao gồm các chất nhầy thu được từ quá trình xử lý
hoá học carrageenan (ví dụ, “natri carrageenate”)
(4) Chất làm đặc, làm dày thu được từ gôm hoặc nhựa gôm hoà tan
được trong nước nhờ xử lý bằng áp suất nước hoặc quá trình khác
bất kỳ.
(5) Bột lá mầm từ hạt me (tamarindus indica). Bột này được phân loại
trong nhóm này cả trong trường hợp được cải biến qua xử lý bằng
nhiệt hoặc hoá chất.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Rong biển và các loại tảo khác tươi hoặc đã làm khô (nói chung
thuộc nhóm 12.12).
(b) Axit alginic và muối alginate (nhóm 39.13).
Chương 14
Vật liệu thực vật dùng để tết bện; các sản phẩm thực vật chưa được
chi tiết hoặc ghi ở nơi khác
Chú giải.
1. Chương này không bao gồm các sản phẩm sau đây đã được xếp
trong Phần XI: vật liệu thực vật hoặc xơ từ nguyên liệu thực vật đã
chế biến chủ yếu dùng cho ngành dệt, hoặc các vật liệu thực vật
khác, đã xử lý thích hợp chỉ để dùng làm vật liệu dệt.
2. Không kể những đề cập khác, nhóm 14.01 áp dụng cho các loại tre
(đã hoặc chưa chẻ, xẻ dọc, cắt thành từng đoạn, tiện tròn đầu, tẩy
trắng, chống cháy, đánh bóng hoặc nhuộm), liễu gai, sậy và các loại
tương tự đã tách, lõi song mây hoặc song mây chẻ. Nhóm này
không áp dụng cho nan gỗ (nhóm 44.04).
3. Nhóm 14.04 không áp dụng cho sợi gỗ (nhóm 44.05) và túm hoặc
búi đã làm sẵn dùng để làm chổi hoặc bàn chải (nhóm 96.03).
TỔNG QUÁT
Chương này gồm:
(1) Vật liệu thực vật, thô hoặc đã sơ chế, loại chủ yếu dùng để tết bện,
làm chổi hoặc bàn chải, hoặc lót hoặc nhồi.
(2) Hạt, hạt mềm, vỏ trái cây và quả hạch (nut) loại sử dụng để chạm,
khắc, để làm khuy hoặc một số đồ trang trí nhỏ khác.
(3) Các sản phẩm thực vật khác chưa đượcchi tiết ở nơi khác.
Chương này không bao gồm các vật liệu thực vật loại chủ yếu dùng cho
ngành dệt, tuy nhiên đã được xử lý, cũng như các nguyên liệu từ thực vật
khác đã được xử lý để dùng làm nguyên liệu dệt (Phần XI).
14.01 - Nguyên liệu thực vật chủ yếu dùng để tết bện (như: tre, song, 14.01 -Vegetable materials of a kind used primarily for plaiting (for
mây, sậy, liễu gai, cây bấc, cọ sợi, các loại rơm, rạ ngũ cốc
đã làm sạch, tẩy trắng hoặc đã nhuộm và vỏ cây đoạn).
- Song, mây
- Loại khác
Nhóm này bao gồm nguyên liệu thực vật thô loại chủ yếu sử dụng để sản
xuất các đồ vật bằng cách gắn kết hoặc tết bện như chiếu, tấm chùi chân,
thảm, khay, giỏ các loại (bao gồm giỏ trái cây, rau, sò...), hòm, vali, đồ
nội thất (ví dụ, ghế, bàn), mũ... Các nguyên liệu thô này cũng có thể
được sử dụng để làm bàn chải, cán ô, ba toong, cần câu, ống tẩu,
thừng,..., chúng còn dùng để sản xuất bột giấy, hoặc là rác thải.
Ngoài các mặt hàng khác,nhóm này bao gồm các nguyên liệu thô sau:
(1) Tre, loài cỏ đặc biệt, mọc rất phổ biến ở một số vùng và đặc biệt là
ở Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ. Tre có thân rỗng, rất nhẹ, mặt
ngoài bóng, một số có rãnh khía giữa hai đốt. Tre (đã hoặc chưa
chẻ, cắt thành đoạn, cắt dọc, tiện tròn đầu, chuội, chống cháy, đánh
bóng hoặc nhuộm) thuộc nhóm này.
(2) Song, mây là thân của loại cây họ cọ có thân leo thường thuộc họ
Calamus và chủ yếu ở các vùng Nam á. Chúng có thân dẻo, hình
trụ, đặc và đường kính từ 0,3-6cm và có màu từ vàng đến nâu;
chúng có thể có bề mặt xỉn hoặc bóng. Sản phẩm phân loại trong
nhóm này gồm cả lõi song, mây và vỏ song cứng; nhóm cũng bao
gồm các sợi song, mây dài có được từ việc chẻ dọc các lõi hoặc các
khúc song, mây hoặc toàn bộ cây song, mây.
(3) Sậy và cói , bấc, là tên gọi chung của các cây thân thảo sống nơi ẩm
ướt, cả trong vùng ôn đới và nhiệt đới. Sậy là loại cây có thân cứng
hơn, thẳng và ruột rỗng, có đốt ở từng đoạn đều nhau, đánh dấu chỗ
lá mọc. Trong số các loại cây này phải kể đến: cây cói sống ở vùng
đầm lầy (Scirpus lacustris), sậy thông thường và sậy đầm lầy
(Arundo donax và Phragmites communis), cũng như nhiều loại cây
sậyloàiCeperus (Cyperus tegetiformis, cỏ chiếu Trung Quốc) hoặc
loài Juncus (Juncus effusus- cây cói chiếu Nhật Bản).
(4) Cây liễu gai (trắng, vàng, xanh hoặc đỏ), là cành non hoặc cành cây
mềm dẻo, dài của một số loại cây liễu (Salix).
(5) Cọ sợi, tên thương mại để chỉ các dải sợi được tách từ lá của một số
loại cây cọ thuộc họ Raphia, trong họ này quan trọng nhất là loại
Raphia ruffia sống chủ yếu ở Madagasca. Cọ sợi dùng để tết, bện và
được sử dụng như các vật liệu buộc trong công việc làm vườn. Vải
từ cọ sợi chưa xe sợi bị loại trừ (nhóm 46.01). Nhóm này bao gồm
các loại lá và cỏ khác (ví dụ, các loại của Panama và latania) được
sử dụng với cùng mục đích như cọ sợi và trong việc làm mũ, nón.
(6) Rơm ngũ cốc, còn hoặc không còn bông, đã được làm sạch, chuội
hoặc đã nhuộm (xem dưới đây).
(7) Vỏ trong (sợi vỏ) của một số loại cây đoan (loài Tilia). Sợi của vỏ
này rất bền và dùng tết thừng, dệt thành tấm vải và dệt thành thảm
và còn để buộc cây. Nhóm này bao gồm vỏ cây bao báp và vỏ của
một số loại liễu hoặc dương, cũng được dùng như vậy.
Ngoại trừ rơm ngũ cốc, mà trong tình trạng chưa chế biến bị loại trừ
(nhóm 12.13), các nguyên liệu thực vật dùng để tết bện được xếp trong
nhóm này cho dù đã hoặc chưa rửa sạch và thuộc dạng thô hoặc được
chẻ, tước vỏ, đánh bóng, tẩy trắng, chuẩn bị để nhuộm, đã nhuộm, đánh
vecni hoặc sơn, hoặc làm cho chống cháy. Các vật liệu thuộc nhóm này
cũng có thể được chẻ dọc, đã hoặc chưa tiện tròn đầu (ống để làm ống
hút nước, cây để làm cần câu, tre để nhuộm...), hoặc được sắp xếp thành
bó hoặc nùi mà có thể được xoắn nhẹ để dễ dàng cho việc đóng gói, bảo
quản, vận chuyển...; các vật liệu trong nhóm này được tập hợp lại bằng
cách xoắn để thích hợp sử dụng trong tình trạng đó thay cho dây tết bện
được phân loại vào nhóm 46.01.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Nan gỗ (chipwood) (nhóm 44.04).
(b) Nguyên liệu từ thực vật mô tả ở trên được dát mỏng, dùi đập, chải
hoặc chế biến cách khác làm sợi xe (các nhóm 53.03 hoặc 53.05).
14.04 - Các sản phẩm từ thực vật chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi
khác.
- Xơ của cây bông
- Loại khác
Nhóm này gồm các sản phẩm từ thực vật chưa được chi tiết hoặc ghi ở
nơi khác của Danh mục.
Nhóm này gồm:
(A) Xơ của cây bông.
Hạt của một số loại cây bông, sau khi tách khỏi sợi bông bằng cách
tỉa, vẫn còn phủ lông tơ mịn hình thành các sợi rất ngắn (thường có
chiều dài dưới 5mm). Các sợi này được gọi là xơ của cây bông.
Các xơ quá ngắn để kéo sợi được; hàm lượng cellulose rất cao của
chúng khiến chúng thành một nguyên liệu thô lý tưởng để chế biến
bột không khói và sản xuất sợi nhân tạo (ví dụ, rayon) hoặc plastic
cellulose. Đôi khi chúng còn được sử dụng trong sản xuất một số
loại giấy, khối lọc và được sử dụng như chất độn trong công nghiệp
sản xuất cao su.
Xơ của cây bông được phân loại ở nhóm này dù dùng vào mục đích
gì và dù thô, được làm sạch, tẩy trắng, nhuộm hay được làm thành
chất thấm hút. Chúng có thể ở dạng đống hoặc được ép mạnh thành
hình tấm hoặc phiến.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Bông, y tế hoặc đóng gói bán lẻ dùng cho y tế, phẫu thuật, nha
khoa hoặc thú y (nhóm 30.05).
(b) Các loại bông khác (nhóm 56.01).
(B) Nguyên liệu thực vật thô loại chủ yếu dùng trong công nghệ
nhuộm hoặc thuộc da.
Sản phẩm này chủ yếu dùng trong công nghệ nhuộm hoặc thuộc da
cả bằng cách trực tiếp hoặc trong sản xuất chiết xuất nhuộm hoặc
thuộc da. Các nguyên liệu này có thể chưa được xử lý, đã làm sạch,
làm khô, xay hoặc tán thành bột (đã hoặc chưa được ép).
Các sản phẩm quan trọng hơn gồm:
(1) Gỗ: gỗ cây sơn, gỗ hoàng mộc (bao gồm cả gỗ gọi là “gỗ
hoàng mộc non”), gỗ huyết mộc, cây mẻ rừu, gỗ Brazin (kể cả
gỗ Pernambouco và gỗ vang), gỗ dẻ, gỗ tinh dầu (gỗ đàn hương
đỏ).
Cần phải lưu ý rằng các loại gỗ chủ yếu dùng trong công nghệ
nhuộm hoặc thuộc da chỉ được phân loại trong nhóm này nếu
chúng ở dạng mảnh vụn, mảnh vỡ hoặc dạng bột. Còn ở các
dạng khác, chúng bị loại trừ (Chương 44).
(2) Vỏ cây: vỏ của cây sồi các loại (kể cả sồi đen (sồi nhuộm) và
lớp vỏ thứ hai của cây sồi bần), vỏ cây dẻ, cây bulô trắng, cây
sơn, “cây hoàng mộc”, cây keo (wattle),cây trinh nữ, cây đước,
cây tùng hemlock và cây liễu.
(3) Rễ cây và các loại tương tự: cây thiên thảo căn, cây chút chít
chát (canaigre), cây hoàng liên gai (Berberis vulgaris) và cây
(4) Quả, quả mọng và hạt:quả đậu Algarobilla, quả vallonia, quả
kha tử, quả Libidibi, quả buckthorn (được biết đến là hạt quả
vùng Iran, hạt quả vùng Thổ Nhĩ Kỳ, hạt vàng...), hạt và bột
quả điều (annatto), vỏ quả óc chó, vỏ quả hạnh nhân.
(5) Mụn cây (vú lá): là các nốt nổi ở lá hoặc trên cây (hạt galle,
galle Trung Quốc, galle Alep, galle Hungari...)
Các hạt nổi là các "u" hoặc "bướu" xuất hiện trên lá cây hoặc
cành cây sồi hoặc các cây khác do vết châm của một số côn
trùng như loại côn trùng giống Cynipis. Các "u” này có chất
tanin và axit galic, và dùng trong công nghệ nhuộm và để sản
xuất một số loại mực viết.
(6) Thân cây, lá và hoa: thân cây, thân và lá cây tùng lam, cây
sơn, cây hoàng mộc, cây nhựa ruồi, cây sim, cây hướng dương,
cây lá móng, cây cỏ mọc tê, cây chàm; lá cây nhũ hương, hoa
cây rum (nghệ cây hoang) và cây bụi nhỏ Á Âu (cây tước kim
chỉ tinctoriaGenista tinctoria; cây tùng lam)..
Cần chú ý rằng đầu nhụy và bầu nhị của cây nghệ tây bị loại
trừ (nhóm 09.10).
(7) Địa y: thuốc nhuộm từ cây địa y được biết đến là ocxen (hoặc thuốc
nhuộm ocxen), địa y nhuộm và quỳ thu được từ địa y(Rocella
tinctoria và Fucipomis, lichen tartareurs và lichen parellus,
pustulous lichen hoặc Umbilcaria pustulat).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Chiết xuất tannin từ gốcthực vật và chất tanin (axit tanic) gồm tanin
từ các "u" nước trên lá cây hoặc thân cây (nhóm 32.01).
(b) Chiết xuất nhuộm từ gỗ hoặc các loại chiết xuất thực vật để nhuộm
khác (nhóm 32.03).
(C) Hạt cứng, hạt mềm, vỏ trái cây và quả hạch (nut) loại sử dụng để
chạm khắc.
Các sản phẩm này chủ yếu làm khuy, chuỗi hạt, tràng hạt hoặc các
đồ trang trí nhỏ khác.
Ngoài các mặt hàng khác, chúng có thể kể đến:
(1) Quả dừa ngà, là hạt (“nut”) của một vài loại cây cọ mọc chủ
yếu ở Nam Mỹ. Cấu tạo, độ cứng và màu sắc của nó giống ngà
voi, do đó có tên thường gọi là “ngà thực vật”.
(2) Hạt (“nut”) của cọ đum sống chủ yếu ở vùng Đông và Trung
(3) Các loại hạt ("nut") tương tự của một số cây cọ khác (ví dụ,
quả hạch Tahiti hoặc Pamira)
(4) Hạt của cây sậy họ Canna indica (hạt cà na); hạt Abrus
(Abrus precatorius) (còn gọi là cây tràng hạt); quả chà là;
hạt của cây cọ sợi.
(5) Vỏ quả dừa.
Các sản phẩm trên vẫn thuộc nhóm này dù nguyên dạng hoặc (như
thường thấy trong trường hợp quả dừa ngà hoặc quả cọ đum) được thái
lát, nhưng không được gia công cách khác. Khi được gia công cách
khác, chúng bị loại trừ (thường thuộc nhóm 96.02 hoặc nhóm 96.06).
(D) Nguyên liệu thực vật chủ yếu dùng để lót hoặc nhồi (ví dụ, bông
gòn, lông thực vật và rong lươn), đã hoặc chưa làm thành lớp,
có hoặc không có nguyên liệu phụ trợ.
Loại này bao gồm các nguyên liệu thực vật chủ yếu dùng để nhồi đồ
đạc, đệm, nệm, gối, yên cương, phao cứu sinh,… Những nguyên
liệu này vẫn được phân loại trong nhóm này ngay cả khi chúng có
các công dụng phụ trợ khác.
Nhóm này không bao gồm các nguyên liệu thực vật được sử dụng
để nhồi nhưng đã được chi tiết ở nơi khác hoặc được sử dụng chủ
yếu cho các mục đích khác, ví dụ, sợi gỗ (nhóm 44.05), sợi lie
(nhóm 45.01), xơ dừa (hoặc sợi dừa) (nhóm 53.05) và phế liệu từ
xơ dệt thực vật (Chương 52 hoặc 53).
Ngoài các mặt hàng khác, các sản phẩm thuộc nhóm này bao gồm:
(1) Bông gòn, tên thương mại của một loại tơ sợi màu vàng nhạt
hoặc đôi khi có màu nâu nhạt bao xung quanh hạt của một số
các loại cây thuộc họ Bombacaceae. Các sợi này dài từ 15 đến
30 mm, tùy từng loài, và có tính đàn hồi, không thấm nước,
khối lượng nhẹ nhưng mỏng manh.
(2) Một số loại lông mịn thực vậtkhác (đôi khi còn được gọi là tơ
lụa thực vật), được hình thành từ lông đơn bào của hạt của một
số loại cây nhiệt đới (ví dụ, Asclepias).
(3) Các sản phẩm còn gọi là lông thực vật, bao gồm xơ Algeria
(crin vegetal), thu được từ lá của một số loài cọ lùn (đặc biệt là
(4) Rong lươn (ví dụ, Zostera marina), một loài cây ở biển, có
hình dạng giống tóc hoặc cỏ.
(5) Một sản phẩm xoăn tự nhiên (foin frisé) thu được từ lá của
một số loại sậy thuộc giống Carex.
Nhóm này bao gồm các nguyên liệunày nếu thô, hoặc đã được làm
sạch, tẩy trắng, nhuộm, chải hoặc đã được sơ chế cách khác (trừ
việc se sợi). Chúng vẫn được phân loại trong nhóm này ngay cả khi
được nhập khẩu dưới dạng con sợi (hoặc nùi sợi).
Nhóm này cũng bao gồm một lớp các nguyên liệu thực vật thuộc
loại đã được mô tả trên đây được đặt trên một nền phụ trợ bằng vải
dệt, giấy…, hoặc được đặt vào giữa các lớp vải dệt, giấy…, bằng
cách dập ghim hay khâu đơn giản.
(E) Nguyên liệu thực vật chủ yếu dùng làm chổi hay bàn chải (ví dụ,
cây ngũ cốc dùng làm chổi, sợi cỏ, cỏ băng, sợi thùa), đã hoặc
chưa làm thành nùi hoặc bó.
Loại này bao gồm các nguyên liệu thực vật chủ yếu dùng làm chổi
hay bàn chải…, ngay cả khi chúng có các công dụng phụ trợ cho
các mục đích khác. Nhưng loại này không bao gồm các nguyên liệu
thực vật đã được chi tiết ở nơi khác trong Danh mục hoặc không
được sử dụng chủ yếu để làm chổi hay bàn chải, ví dụ, tre, đã hoặc
chưa chẻ, sậy và cây bấc (nhóm 14.01), cỏ alfa, cỏ giấy và thân của
cây đậu chổi, nếu được chế biếnđể sử dụng cho mục đích dệt may
(nhóm 53.03 (cây đậu chổi) hoặc nhóm 53.05 (cỏ alfa và cỏ giấy)),
xơ dừa (hoặc sợi dừa) (nhóm 53.05).
Ngoài các mặt hàng khác, các sản phẩm thuộc nhóm này có thể kể đến:
(1) Chùy hoa gạo, cây ngũ cốc dùng làm chổi (Sorghum vulgare
var. technicum) hoặc cây kê, đã được loại bỏ hạt.
(2) Sợi cỏ Piassava, một loại xơ thu được từ lá của một số loại cọ
nhiệt đới. Loại sợi cỏ được biết đến nhiều nhất là các chủng
loại của Brazil và Châu Phi.
(5) A naturally curled product (foin frisé) obtained from the
(3) Rễ của cỏ băng, một loài cây thuộc họ lúa giống Andropogon,
được trồng trên đất cát, khô. Loại cây này, còn được gọi là “cỏ
đuôi chồn”, một loại cỏ dùng làm bàn chải, là một loại cỏ được
tìm thấy ở Châu Âu, cụ thể là ở Hungary và Italy. Rễ của cỏ
băng cần được phân biệt với rễ của cỏ vetiver (cỏ Khus-Khus
hay cỏ băng Ấn Độ) là loại cỏ tiết ra tinh dầu, và phân biệt với
cỏ băng chữa bệnh, rễ của chúng có đặc tính trị bệnh (nhóm
(4) Rễ của một số loài thực vật thuộc họ lúa ở vùng Trung Mỹ
như các loại thuộc giống Epicampes (ví dụ, rễ cây đậu chổi
hoặc zacaton).
(5) Xơ Gomuti lấy từ Arenga saccharifera hoặc pinnata.
(6) Sợi thùa hoặc ixtle (Tampico, xơ Tam pico hoặc xơ Mexico) là
các loại xơ, bao gồm cả các xơ cứng ngắn lấy từ thân cây thùa
lá ngắn ở Mexico.
Tất cả các nguyên liệu này vẫn thuộc nhóm này dù đã hoặc chưa
được cắt, tẩy trắng, nhuộm hoặc chải (trừ xe sợi), và đã hoặc chưa
làm thành nùi hoặc bó.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các túm hoặc búi xơ đã làm
sẵn để kết chặt không tách rời làm thànhchổi hoặc bàn chải (hoặc
chỉ cần xử lý rất ít để sẵn sàng cho việc kết chặt trên). Những loại
này được phân loại vào nhóm 96.03 (xem Chú giải 3 của Chương
(F) Các sản phẩm khác từ thực vật.
Các sản phẩm này bao gồm:
(1) Cỏ giấy, từ loại cỏ giấy (Stipa tenacissima) và cỏ Lygeum
spartum mọc ở Châu Phi và Tây Ban Nha. Chúng chủ yếu dùng
làm bột giấy, nhưng chúng cũng được dùng làm dây và lưới,
các sản phẩm tết bện như thảm, chiếu, giỏ, giầy, dép,… và như
vật liệu nhồi và lót cho ghế hoặc đệm.
Cỏ giấy chỉ thuộc nhóm này nếu ở dạng thân cây hoặc lá, dù
thô, được tẩy trắng hoặc nhuộm; khi đã được dát mỏng, đập bẹt
hoặc chải như sợi dệt thì bị loại trừ (nhóm 53.05).
(2) Cỏ alfa, nếu không được chế biến cho mục đích dệt may.
(3) Cây đậu chổi thô (chưa là xơ lanh), là loại cây thuộc họ rau
đậu có sợi dùng trong công nghiệp dệt; sợi hoặc sợi lanh của
đậu chổi đã được chải bị loại trừ
(4) Xơ mướp (loofah), còn gọi là bọt biển thực vật, do màng sợi
của một loại họ bầu bí lai (Luffa cylindrica) tạo thành.
Loại trừ bọt biển có gốc động vật (nhóm 05.11).
(5) Bột quả dừa ngà, bột quả cọ đum, bột vỏ trái dừa hoặc tương
tự.
(6) Cây địa y (trừ loại sử dụng để nhuộm (xem Mục (A)(7)), làm
dược liệu hoặc trang trí). Thạch rau câu, carrageenan và chất
làm đặc, làm dày tự nhiên khác được chiết xuất từ nguyên liệu
thực vật bị loại trừ (nhóm 13.02). Tảo biển và tảo khác thuộc
nhóm 12.12 và tảo đơn bào đã chết (nhóm 21.02) cũng bị loại
trừ.
(7) Ngọn lắc gai, kể cả loại đã chế biến dùng trong hồ vải, nhưng
chưa đóng khuôn.
(8) Giấy làm từ rơm rạ (rice paper) Nhật bản được chế biến từ
việc cắt lát các lõi của một số cây bản địa sống ở vùng Viễn
Đông. Các sản phẩm này dùng làm hoa giả, màu nước...
Các lá giấy gạo này vẫn được phân loại vào nhóm này ngay cả
khi được cán phẳng trên bề mặt và được cắt thành hình chữ
nhật (kể cả hình vuông).
(9) Lá trầu, là lá màu xanh, tươi của loại cây leo Piper betle L. Lá
trầu thường được nhai sau bữa ăn vì nó có tác dụng làm tỉnh táo
và kích thích.
(10) Vỏ cây Quilaia (vỏ cây xà phòng ("Soap bark") hoặc vỏ cây
(11) Hạt hoặc quả bồ hòn (Sapindus mukorossi, S. trifoliatus, S.
Một lớp nguyên liệu từ thực vật (thuộc các loại trong nhóm này)
trên nền phụ trợ bằng vải dệt, giấy…, hoặc được đặt vào giữa các
tấm vải dệt, giấy…, bằng cách dập ghim hay khâu đơn giản, cũng
được phân loại vào nhóm này.
PHẦN III
CHẤT BÉO VÀ DẦU CÓ NGUỒN GỐC TỪ ĐỘNG VẬT, THỰC
VẬT HOẶC VI SINH VẬT VÀ CÁC SẢN PHẨM TÁCH TỪ
CHÚNG; CHẤT BÉO ĂN ĐƯỢC ĐÃ CHẾ BIẾN; CÁC LOẠI SÁP
ĐỘNG VẬT HOẶC THỰC VẬT
Chương 15
Chất béo và dầu có nguồn gốc từ động vật, thực vật hoặc vi sinh vật
và các sản phẩm tách từ chúng; chất béo ăn được đã chế biến; các
loại sáp động vật hoặc thực vật
Chú giải.
1. Chương này không bao gồm:
(a) Mỡ lợn hoặc mỡ gia cầm thuộc nhóm 02.09;
(b) Bơ ca cao, chất béo hoặc dầu cacao (nhóm 18.04);
(c) Các chế phẩm ăn được có chứa hàm lượng trên 15% tính theo khối
lượng các sản phẩm của nhóm 04.05 (thường thuộc Chương 21);
(d) Tóp mỡ (nhóm 23.01) hoặc phế liệu thuộc các nhóm từ 23.04 đến
(e) Axit béo, sáp đã chế biến, dược phẩm, sơn, vecni, xà phòng, nước
hoa, mỹ phẩm hoặc chế phẩm vệ sinh, dầu đã được sulphonat hoá
hoặc các mặt hàng khác thuộc Phần VI; hoặc
(f) Chất thay thế cao su được điều chế từ dầu (nhóm 40.02).
2. Nhóm 15.09 không áp dụng cho các loại dầu ô liu thu được bằng
phương pháp tách chiết dung môi (nhóm 15.10).
3. Nhóm 15.18 không bao gồm chất béo hoặc dầu hoặc phân đoạn của
chúng, mới chỉ làm biến chất, những loại đó được phân loại vào
nhóm thích hợp tương ứng với các loại chất béo và dầu và phân đoạn
của chúng chưa bị biến chất.
4. Nguyên liệu sản xuất xà phòng, cặn dầu, hắc ín stearin, hắc ín
glyxerin và phế liệu mỡ lông (wool grease) được phân loại vào nhóm
Chú giải phân nhóm.
1. Theo mục đích của phân nhóm 1509.30, dầu ô liu nguyên chất (virgin
olive oil) có chỉ số axit tự do tính theo axit oleic không quá 2,0g/100g
và được phân biệt với các loại dầu ô liu nguyên chất khác (other
virgin olive oils) tùy thuộc vào đặc tính theo chỉ dẫn Tiêu chuẩn
2. Theo mục đích của các phân nhóm 1514.11 và 1514.19, khái niệm
"dầu cây cải dầu (rape oil hoặc colza oil) có hàm lượng axit eruxic
thấp" có nghĩa là dầu không bay hơi với hàm lượng axit eruxic dưới
2% tính theo khối lượng.
TỔNG QUÁT
(A) Chương này gồm:
(1) Chất béo và dầu có nguồn gốc động vật, thực vật hoặc vi sinh
vật, dạng thô, làm sạch hoặc tinh lọc hoặc tinh chế hoặc chế
biến theo một số cách khác (ví dụ, được đun sôi, sulphurơ hoá
hoặc hydro hoá).
(2) Một số sản phẩm từ chất béo hoặc từ dầu, nhất là những sản
phẩm từ sự phân ly chất béo hoặc dầu (ví dụ, glycerin thô).
(3) Hợp chất ăn được của chất béo và dầu (ví dụ, margarin).
(4) Sáp động vật hoặc thực vật
(5) Phế thải thu được từ việc chế biến các chất béo từ sáp động vật
hoặc thực vật.
Tuy nhiên, Chương này không bao gồm:
(a) Mỡ lợn không dính nạc, và mỡ gia cầm, chưa nấu chảy hoặc
chiết xuất cách khác, thuộc nhóm 02.09.
(b) Bơ và chất béo và dầu khác thu được từ sữa (nhóm 04.05); chất
phết từ bơ sữa thuộc nhóm 04.05.
(c) Bơ, chất béo và dầu từ cacao (nhóm 18.04).
(d) Tóp mỡ (nhóm 23.01); khô dầu, khô dầu ô liu và chất bã khác
(trừ cặn) chiết từ chất béo và dầu thực vật hoặc vi sinh vật (các
nhóm từ 23.04 đến 23.06).
(e) Axit béo, dầu axit tinh chế, cồn béo, glycerin (trừ glycerin thô),
sáp đã chế biến, dược phẩm, sơn, vecni, xà phòng, nước hoa,
mỹ phẩm hoặc chế phẩm vệ sinh, dầu sulphonat hóa hoặc
những sản phẩm khác thuộc Phần VI.
(f) Chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu (nhóm 40.02).
Trừ dầu cá nhà táng và dầu jojoba, chất béo và dầu động vật, thực
vật hoặc vi sinh vật là este của glycerin với axit béo (như axit
palmitic, stearic và oleic).
Chúng có thể ở thể rắn hoặc lỏng, nhưng tất cả đều nhẹ hơn nước.
Để khá lâu ngoài không khí chúng bị ôi do hiện tượng thuỷ phân và
oxy hoá. Khi bị nóng chúng phân huỷ, bốc mùi hắc, khó chịu.
Chúng không tan hoàn toàn trong nước, nhưng tan hoàn toàn trong
Dầu của cây thầu dầu tan trong cồn, nhưng những loại dầu và chất
béo khác từ động vật, thực vật hoặc vi sinh vật chỉ tan rất ít trong
cồn. Tất cả chúng để lại vết dính mỡ không tẩy sạch trên giấy.
Este tạo thành từ các chất béo triglyceride có thể bị phân hủy (sự xà
phòng hóa) do tác động của hơi nước nhiệt cao, axit loãng, enzyme
hoặc chất xúc tác, thành glycerin và axit béo, hoặc do tác động của
kiềm, thành glycerin và muối kiềm của axit béo (xà phòng).
Các nhóm 15.04 và từ 15.06 đến 15.15 cũng bao gồm những phần
phân đoạn của chất béo và của dầu được nêu trong các nhóm đó, với
điều kiện chúng không được mô tả cụ thể hơn ở nơi khác trong
Danh mục (ví dụ, mỡ cá nhà táng thuộc nhóm 15.21). Những
phương pháp chính dùng để phân đoạn như sau:
(a) Phân đoạn khô gồm ép, gạn, hóa đông và lọc;
(b) Phân đoạn bằng dung môi; và
(c) Phân đoạn với sự trợ giúp của tác nhân hoạt động bề mặt.
Sự phân đoạn không dẫn đến thay đổi về cấu trúc hoá học của chất
béo và dầu.
Thuật ngữ "chất béo hoặc dầu hoặc phân đoạn của chúng, mới chỉ
làm biến chất" được nêu trong Chú giải 3 của Chương này đề cập
đến chất béo hoặc dầu hoặc các phân đoạn của chúng mà một chất
làm biến tính, như dầu cá, phenol, dầu mỏ, dầu nhựa thông, toluene,
methyl salicylate (dầu cây lộc đề), dầu hương thảo, được thêm vào
làm cho chúng không phù hợp để ăn. Những chất này được thêm
vào với một lượng nhỏ (thường không quá 1%) làm cho chất béo
hoặc dầu hoặc các phần phân đoạn của chúng trở nên, ví dụ, ôi,
chua, cay, đắng.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Chú giải 3 của Chương này không áp
dụng cho hỗn hợp hoặc chế phẩm biến chất của chất béo hoặc dầu
hoặc của các phần phân đoạn của chúng (nhóm 15.18).
Theo các loại trừ trong Chú giải 1 của Chương này, chất béo và dầu
từ động vật, thực vật hoặc vi sinh vật và các phần phân đoạn của
chúng vẫn thuộc Chương này dù được dùng làm thực phẩm hoặc
dùng cho mục đích kỹ thuật hoặc công nghiệp (ví dụ, sản xuất xà
phòng, làm nến, chất bôi trơn, vecni hoặc sơn).
Sáp động vật hoặc thực vật cơ bản bao gồm các este của một số
axit béo bậc cao (palmitic, cerotic, myristic) với một số loại cồn trừ
glycerin (cetyl, v.v.). Chúng bao gồm một tỷ lệ nhất định của axit
và cồn của chúng ở dạng tự do, như hydrocarbon
Các loại sáp này không sinh ra glycerin khi thủy phân và khi làm
nóng chúng không bốc mùi hăng của mỡ và không bị ôi. Sáp
thường cứng hơn chất béo.
(B) Các nhóm từ 15.07 đến 15.15 của Chương này bao gồm chất béo và
dầu thực vật đơn lẻ (tức là không trộn với chất béo hoặc dầu của
chất tự nhiên khác), các chất béo và dầu thực vật hoặc vi sinh vật
không bay hơi được nêu trong những nhóm này, cùng với các phần
phân đoạn của chúng, đã hoặc chưa tinh chế, nhưng không thay đổi
về mặt hoá học.
Chất béo và dầu thực vật rất phổ biến trong tự nhiên và được chứa
trong tế bào của một số bộ phận của cây (ví dụ, hạt và quả), từ đó
chúng được chiết xuất bằng cách ép hoặc bằng dung môi.
Chất béo và dầu thực vật hoặc vi sinh vật trong các nhóm này là chất
béo và dầu không bay hơi, tức là, chất béo và dầu không thể dễ dàng
chưng cất mà không phân ly, những dầu và chất béo này không bay
hơi và không thể mất đi bằng hơi nước nhiệt cao (hơi nước nóng
phân ly và xà phòng hoá chúng).
Với ngoại lệ, ví dụ, dầu jojoba, chất béo và dầu thực vật là hỗn hợp
các glycerit, trong khi glycerit palmitic và stearic dạng rắn ở nhiệt
độ phòng chiếm tỷ trọng trội hơn trong dầu thể rắn thì dầu thể lỏng
chủ yếu gồm các glycerit dạng lỏng ở nhiệt độ phòng (glycerit của
axit oleic, axit linoleic, axit linolenic,…). Chất béo và dầu vi sinh
vật cũng là hỗn hợp của glyceride, chủ yếu là các axit béo không
bão hòa đa như axit arachidonic và axit linoleic, ở dạng lỏng ở nhiệt
độ phòng.
Nhóm này bao gồm chất béo thô và dầu thô và các phân đoạn của
chúng, cũng như đã được tinh chế hoặc làm tinh khiết, ví dụ, bằng
cách làm sạch, rửa, lọc, khử màu, khử axit hoặc khử mùi.
Sản phẩm phụ khi tinh chế dầu, ví dụ, “cặn bã dầu”, và nguyên liệu
làm xà phòng thuộc nhóm 15.22. Dầu axit từ quá trình tinh chế
thuộc nhóm 38.23 và được chế biến bằng cách phân tách với axit
khoáng nguyên liệu làm xà phòng thu được trong quá trình tinh chế
dầu thô.
Chất béo và dầu thực vật trong các nhóm này có nguồn gốc không
chỉ từ hạt và quả có dầu của các nhóm từ 12.01 đến 12.07 mà còn từ
những nguyên liệu thực vật trong các nhóm khác (ví dụ, dầu ôliu,
dầu thu được từ nhân hạt đào, nhân hạt mơ hoặc nhân hạt mận thuộc
nhóm 12.12, dầu thu được từ quả hạnh nhân, từ quả hồ đào, quả óc
chó, hạt thông, hạt hồ trăn,..., thuộc nhóm 08.02, dầu thu được từ
mầm ngũ cốc). Chất béo và dầu vi sinh vật thuộc nhóm 15.15 thu
được bằng cách chiết xuất lipid từ các vi sinh vật có dầu. Chất béo
và dầu vi sinh vật còn được gọi là dầu đơn bào (SCO).
Các nhóm này không bao gồm các hỗn hợp hoặc các chế phẩm ăn
được hoặc không ăn được, hoặc chất béo và dầu thực vật đã thay đổi
về mặt hoá học (nhóm 15.16, 15.17 hoặc 15.18, trừ khi chúng có
đặc tính của các sản phẩm được phân loại nơi khác, ví dụ, trong các
nhóm 30.03, 30.04, từ 33.03 đến 33.07, 34.03).
15.01 - Mỡ lợn (kể cả mỡ từ mỡ lá và mỡ khổ) và mỡ gia cầm, trừ
các loại thuộc nhóm 02.09 hoặc 15.03.
- Mỡ lợn từ mỡ lá và mỡ khổ
- Mỡ lợn khác
- Loại khác
Mỡ trong nhóm này có thể thu được bởi bất cứ phương pháp nào, ví dụ,
bằng cách làm nóng chảy, ép hoặc chiết trong dung môi. Phương pháp
được dùng phổ biến nhất là làm nóng chảy ướt (bằng hơi nước hoặc
bằng nhiệt độ thấp) và bằng phương pháp nóng chảy khô. Trong quá
trình làm nóng chảy bằng phương pháp khô, một phần mỡ được chắt
dưới tác động của nhiệt độ cao; một phần khác thu được bởi ép và cộng
với phần đã được chắt. Trong một số trường hợp, phần còn lại của mỡ ở
trong bã có thể được chiết trong dung môi.
Theo những nhận xét đã nêu trên, nhóm này bao gồm:
Mỡ lợn từ mỡ lá và mỡ khổ của lợn là mỡ làm thực phẩm, cứng
hoặc nửa cứng, mềm và dạng kem, màu trắng lấy từ những mô mỡ
lợn. Theo từng phương pháp chế biến và mô mỡ, các loại mỡ từ mỡ
lá và mỡ khổ khác nhau được sản xuất. Ví dụ, mỡ lợn ăn được chất
lượng tốt nhất thường thu được bởi làm chảy bằng phương pháp khô
từ mỡ trong phần bụng của lợn. Phần lớn mỡ từ mỡ lá và mỡ khổ
được khử mùi và trong một số trường hợp có thể có thêm chất
chống oxy hoá để ngăn ngừa ôi thiu.
Mỡ lợn từ mỡ lá và mỡ khổ có thêm lá cây nguyệt quế hoặc gia vị khác,
với số lượng ít không đủ để làm thay đổi đặc tính cơ bản của nó, được
phân loại vào nhóm này, nhưng những hỗn hợp ăn được hoặc chế phẩm
thực phẩm chứa mỡ từ mỡ lá và mỡ khổ bị loại trừ (nhóm 15.17).
- Những loại mỡ khác của lợn, gồm cả mỡ xương, mỡ phế liệu và các
loại mỡ không ăn được khác sử dụng cho các mục đích trừ làm thức
ăn cho người, như để sản xuất và làm thức ăn cho động vật.
- Mỡ gia cầm, kể cả mỡ xương và mỡ phế liệu
Mỡ xương thu được từ xương tươi là mỡ có màu trắng hoặc hơi
vàng đều và có mùi của mỡ động vật (tallow); nhưng mỡ thu được
từ xương không tươi, mềm, có hạt, mầu vàng xỉn hoặc nâu, có mùi
khó chịu. Mỡ này được dùng trong công nghiệp làm xà phòng hoặc
nến và dùng như chất bôi trơn.
Mỡ phế liệu là mỡ từ xác động vật, mỡ từ một số phế liệu hoặc phần dư
thừa của động vật (bạc nhạc lưỡi, dạ cỏ, bạc nhạc thu được từ quá trình
cắt lọc v.v.) hoặc bạc nhạc thu được khi lọc và làm sạch da. Mỡ phế liệu
thường có những đặc điểm sau: mầu đậm, mùi khó chịu, có hàm lượng
cao hơn về các chất như axit béo tự do (axit oleic, palmitic…),
cholesterol và chất tạp bẩn, và điểm nóng chảy thấp hơn mỡ từ mỡ lá và
mỡ khổ hoặc các loại mỡ khác thuộc nhóm này. Mỡ này dùng chủ yếu
trong kỹ thuật.
Những loại mỡ này có thể ở dạng thô hoặc đã tinh chế bằng cách trung
hòa, xử lý bằng đất sét, hơi nước nhiệt cao, lọc v.v.
Những sản phẩm này được dùng trong chế biến thực phẩm, sản xuất
thuốc mỡ, xà phòng v.v.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Mỡ lợn không dính nạc và mỡ gia cầm, chưa nấu chảy hoặc chưa
chiết xuất cách khác, thuộc nhóm 02.09.
(b) Stearin mỡ lá và mỡ khổ và dầu mỡ lá và mỡ khổ (nhóm 15.03).
(c) Mỡ thu được từ động vật trừ những loại nêu trong nhóm này (nhóm
15.02, 15.04 hoặc 15.06).
(d) Dầu xương thuộc nhóm 15.06.
(e) Chế phẩm giả mỡ lá và mỡ khổ (nhóm 15.17).
15.02 -Mỡ của động vật họ trâu bò, cừu hoặc dê, trừ các loại mỡ
thuộc nhóm 15.03.
- Mỡ tallow
- Loại khác
Nhóm này bao gồm mỡ ở các bộ phận nội tạng và cơ của động vật họ
trâu bò, cừu hoặc dê và chủ yếu từ động vật họ trâu bò. Mỡ này có thể
chưa tinh chế (tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh), ướp muối, ngâm nước
muối, làm khô, hun khói hoặc ở dạng mỡ nấu chảy (tallow). Quá trình
nấu chảy được sử dụng cũng như quá trình nấu chảy được nêu tại nhóm
15.01. Nhóm này cũng bao gồm mỡ được ép hoặc đã chiết xuất bằng
dung môi.
“Premier jus ” (oleo stock) là mỡ có chất lượng cao nhất trong số mỡ
tallow ăn được. Nó là sản phẩm rắn màu trắng hoặc hơi vàng, khi vừa
chế biến gần như không có mùi nhưng để lâu ngoài không khí có mùi ôi
đặc trưng.
Mỡ tallow thành phần chủ yếu gồm các glycerit của axit oleic, axit
stearic và axit palmitic.
Mỡ tallow được dùng để chế biến mỡ ăn được hoặc chất bôi trơn, trong
công nghiệp làm xà phòng hoặc làm nến, dùng để phủ lên đồ da, dùng
trong chế biến thức ăn chăn nuôi, v.v.
Nhóm này cũng bao gồm mỡ xương và mỡ thu được từ phế liệu, của
động vật họ trâu bò, cừu hoặc dê. Những mô tả liên quan đến mỡ tương
ứng nêu trong Chú giải của nhóm 15.01 cũng áp dụng cho mỡ của nhóm
này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Oleostearin, dầu oleo và dầu mỡ (dầu tallow) (nhóm 15.03).
(b) Mỡ của các loại ngựa (nhóm 15.06).
(c) Mỡ xương và mỡ thu được từ phế liệu, của động vật không được
nêu trong nhóm này (nhóm 15.01, 15.04 hoặc 15.06).
(d) Dầu gốc động vật (ví dụ, dầu từ chân bò và dầu xương, thuộc nhóm
(e) Một số chất béo thực vật, gọi là "tallow thực vật", ví dụ, tallow thực
vật Trung Quốc (chất béo thực vật chiết từ hạt stillingia) và "tallow
Borneo" (chất béo thực vật chiết từ nhiều cây ở Indonesia) (nhóm
15.03 - Stearin mỡ lợn, dầu mỡ lợn, oleostearin, dầu oleo và dầu
tallow, chưa nhũ hoá hoặc chưa pha trộn hoặc chưa chế biến
cách khác.
Nhóm này bao gồm các sản phẩm thu được bằng cách ép mỡ lá và mỡ
khổ của lợn (tức là, stearin mỡ lá và mỡ khổ của lợn, dầu từ mỡ lá và
mỡ khổ của lợn) hoặc bằng cách ép mỡ tallow (tức là, dầu oleo, dầu
tallow và oleostearin). Trong các quá trình chế biến này, mỡ lá và mỡ
khổ hoặc mỡ tallow được giữ trong thùng ủ nóng trong 3 tới 4 ngày,
trong thời gian đó các tinh thể stearin mỡ lá và mỡ khổ của lợn hoặc
oleostearin được hình thành. Các hạt được hình thành này sau đó
được ép để tách dầu từ các stearin. Kiểu ép này khác với kiểu ép thực
hiện trong nóng chảy bằng phương pháp khô ở chỗ phương pháp ép
nóng chảy khô được thực hiện ở nhiệt độ cao hơn để lấy mỡ phế liệu
khỏi các nguyên liệu động vật khác như protein và những mô liên kết
v.v. Các sản phẩm trong nhóm này cũng có thể thu được bởi các
phương pháp phân đoạn khác.
Stearin từ mỡ lá và mỡ khổ của lợn là phần mỡ cứng màu trắng còn lại
sau khi ép mỡ lá và mỡ khổ của lợn hoặc ép mỡ lợn đã nấu chảy khác.
Nhóm này bao gồm cả dạng ăn được và không ăn được. Stearin từ mỡ lá
và mỡ khổ của lợn ăn được đôi khi dùng trộn với mỡ lá và mỡ khổ của
lợn mềm làm cho sản phẩm đồng nhất và đặc hơn (nhóm 15.17). Stearin
từ mỡ lá và mỡ khổ của lợn không ăn được dùng để bôi trơn hoặc làm
nguyên liệu để sản xuất glycerin, stearin hoặc olein.
Dầu từ mỡ lá và mỡ khổ của lợn là sản phẩm thu được bằng việc ép
lạnh mỡ lá và mỡ khổ của lợn hoặc ép mỡ lợn đã nấu chảy khác. Đó là
chất lỏng màu hơi vàng, có mùi mỡ nhẹ và vị dễ chịu, có thể được dùng
trong một số quy trình công nghiệp (làm len, xà phòng v.v.) hoặc để bôi
trơn hoặc đôi khi dùng làm thực phẩm
Dầu oleo (ăn được) là mỡ trắng hoặc hơi vàng, rắn, có mùi nhẹ của mỡ
tallow và có vị dễ chịu, có cấu trúc tinh thể nhưng có thể có dạng hạt sau
khi cán hoặc làm láng. Nó cấu tạo chủ yếu từ phần glycerit của axit oleic
(triolein). Dầu oleo chủ yếu được dùng trong sản xuất các sản phẩm ăn
được, như margarin hoặc chế phẩm giả mỡ từ mỡ lá và mỡ khổ của lợn,
và như chất bôi trơn.
Dầu tallow (dầu oleo không ăn được) là chất lỏng hơi vàng, có mùi của
mỡ tallow, và rất dễ bị ôi khi để ngoài không khí. Dầu này dùng làm xà
phòng và trộn với dầu mỏ làm thành chất bôi trơn.
Phần cứng hơn còn lại sau khi chiết xuất dầu oleo hoặc dầu tallow là một
hỗn hợp chủ yếu bao gồm các glycerit của axit stearic và palmitic
(tristearin and tripalmitin).Gọi là oleostearin hoặc stearin mỡ tallow
(tallow ép), nó thường ở dạng bánh hoặc thỏi, cứng và dễ gẫy. Nó có
màu trắng, không mùi và không vị.
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm đã nhũ hoá, đã pha trộn hoặc
chế biến cách khác (nhóm 15.16, 15.17 hoặc 15.18).
15.04 - Mỡ và dầu và các phần phân đoạn của chúng, từ cá hoặc các
loài động vật có vú sống ở biển, đã hoặc chưa tinh chế,
nhưng không thay đổi về mặt hoá học.
- Dầu gan cá và các phần phân đoạn của chúng
- Mỡ và dầu và các phần phân đoạn của chúng, từ
cá, trừ dầu gan cá
- Mỡ và dầu và các phần phân đoạn của chúng, từ
động vật có vú ở biển
Nhóm này bao gồm mỡ và dầu và các phần phân đoạn của chúng, có
nguồn gốc từ các loại cá (cá tuyết, cá bơn lưỡi ngựa (halibut), cá trích
nước lạnh, cá trích dầu, cá cơm (cá trỏng), cá sac-đin biển Măng sơ
(pilchard) v.v.) hoặc động vật có vú ở biển (cá voi, cá heo, hải cẩu v.v.).
Chúng được chiết xuất từ thân động vật hoặc từ gan của cá hoặc động
vật có vú ở biển hoặc từ phế liệu của chúng. Chúng thường có mùi tanh
đặc trưng của cá, có vị khó chịu, có màu thay đổi từ vàng đến nâu đỏ.
Gan cá tuyết và gan cá bơn lưỡi ngựa và gan các loại cá khác cung cấp
dầu với hàm lượng vitamin cao và các chất hữu cơ khác. Do đó, chúng
chủ yếu được dùng trong sản xuất thuốc. Các loại dầu này vẫn thuộc
nhóm này dù có hay không được tăng hàm lượng vitamin bằng chiếu xạ
hoặc cách khác, nhưng chúng thuộc Chương 30 khi được đóng gói như
thuốc, hoặc được nhũ hoá hoặc thêm chất khác vì mục đích điều trị.
Nhóm này cũng bao gồm stearin của cá, sản phẩm rắn thu được bằng
cách ép hoặc gạn dầu cá ướp lạnh. Sản phẩm này là một chất có mầu hơi
vàng hoặc nâu có mùi tanh của cá và được dùng để chế biến chất nhờn
(degras), chất bôi trơn hoặc xà phòng loại thấp cấp.
Mỡ và dầu có nguồn gốc từ cá hoặc động vật có vú ở biển vẫn thuộc nhóm
này khi được tinh chế, nhưng bị loại trừ nếu được hydro hoá, este hoá liên
hợp, tái este hóa hoặc eledin hoá một phần hoặc toàn bộ (nhóm 15.16).
15.05 - Mỡ lông và chất béo thu được từ mỡ lông (kể cả lanolin).
Mỡ lông là một loại mỡ dính có mùi khó chịu, được chiết xuất từ nước
xà phòng tẩy lông hoặc chuội hoặc hồ vải. Người ta cũng có thể chiết mỡ
lông bằng dung môi dễ bay hơi (carbon disulphide,v.v.). Mỡ lông không
có các este glycerin và, do đó, về mặt hóa học nó nên được coi như sáp
hơn là một loại mỡ. Nó được dùng trong sản xuất các chất bôi trơn và
cho các mục đích công nghiệp khác, nhưng nó được dùng chủ yếu như
lanolin (sản phẩm đã được tinh chế của nó) hoặc để chiết xuất olein mỡ
lông hoặc stearin mỡ lông.
Lanolin, thu được bằng cách tinh chế mỡ lông, có tính đồng nhất của
thuốc mỡ; nó có màu từ trắng hơi vàng đến nâu tuỳ theo mức độ tinh
chế, mỡ lông này ít hỏng ngoài không khí và có mùi nhẹ đặc trưng.
Lanolin rất dễ tan trong cồn sôi nhưng không tan trong nước, mặc dù nó
có thể hút một lượng nước lớn khi chuyển sang thể sữa đặc sền sệt, được
gọi là mỡ lông tinh chế ngậm nước.
Lanolin khan được dùng chủ yếu để sản xuất chất bôi trơn, dầu nhũ hoặc
chất hoàn tất (chất phủ). Lanolin ngậm nước hoặc nhũ hoá phần lớn
được dùng chế thuốc mỡ hoặc mỹ phẩm.
Lanolin ít biến tính, vẫn giữ được tính chất cơ bản của lanolin, và cồn
của mỡ lông (thường gọi là cồn của lanolin- là hỗn hợp của cholesterol,
isocholesterol và các loại cồn bậc cao khác) cũng thuộc trong nhóm này
Nhóm này không bao gồm các loại cồn đã xác định về mặt hóa học
(thường thuộc Chương 29) và những chế phẩm dựa trên lanolin, ví dụ
lanolin thêm thuốc hoặc chất thơm (nhóm 30.03 hoặc 30.04, hoặc
Chương 33). Cũng không thuộc nhóm này là các lanolin thay đổi về
mặt hoá học đến mức làm mất tính chất cơ bản của lanolin, ví dụ lanolin
được ethoxylat hóa đến mức trở thành hoà tan trong nước (thường thuộc
nhóm 34.02).
Khi chưng cất mỡ lông, thực hiện dưới tác dụng của hơi nước nóng và
tiếp sau là tác dụng của việc ép, người ta có thể tách được sản phẩm
dạng lỏng, sản phẩm dạng cứng và phế liệu.
Sản phẩm dạng lỏng, được gọi là olein của mỡ lông, có màu nâu đỏ, đục
và hơi có mùi mỡ lông. Nó tan trong cồn, trong ete diethyl, xăng dầu v.v.
Nó được sử dụng như một chất bôi trơn vải sợi trong nhà máy sợi.
Phần rắn (stearin của mỡ lông) là một chất sáp, có màu nâu vàng và có
nặng mùi mỡ lông, tan trong cồn sôi và các dung môi hữu cơ khác. Nó
được dùng trong công nghiệp da, chế chất bôi trơn hoặc mỡ dính và làm
nến hoặc xà phòng.
Nhóm này không bao gồm phế liệu của mỡ lông (nhóm 15.22).
15.06 - Mỡ và dầu động vật khác và các phần phân đoạn của chúng,
đã hoặc chưa tinh chế, nhưng không thay đổi về mặt hoá
học.
Nhóm này bao gồm tất cả mỡ và dầu có nguồn gốc từ động vật cũng như
các phần phân đoạn của chúng, trừ những loại thuộc nhóm 02.09 hoặc
thuộc những nhóm trước của Chương này. Vì vậy nhóm này bao gồm
tất cả mỡ có nguồn gốc động vật không thu được từ lợn, gia cầm, động
vật họ trâu bò, dê, cừu, cá hoặc động vật có vú ở biển, và tất cả dầu
nguồn gốc động vật trừ dầu từ mỡ lá và mỡ khổ của lợn, dầu oleo, dầu
tallow, dầu thu được từ cá hoặc động vật có vú ở biển và dầu thu được
từ mỡ lông.
Đặc biệt, nhóm này bao gồm:
(1) Mỡ của các loại ngựa, hà mã, gấu, thỏ, cua đất, rùa v.v. (kể cả
mỡ từ xương, xương tuỷ hoặc từ phế liệu của các động vật này).
(2) Dầu từ chân của bò và các loại dầu tương tự là sản phẩm của việc
ép lạnh mỡ thu được bằng cách đun sôi xương chân hoặc xương
cẳng chân chân của động vật họ trâu bò, ngựa hoặc cừu.
Dầu loại này có màu vàng nhạt, hơi ngọt, ổn định trong không khí,
chủ yếu được dùng làm chất bôi trơn các loại máy móc tinh xảo
(đồng hồ, máy khâu, súng...).
(3) Dầu xương được chiết xuất từ mỡ xương bằng cách ép, hoặc bằng
cách xử lý xương bằng nước nóng. Dầu xương là dầu dạng lỏng, hơi
vàng, không mùi, và không dễ bị ôi. Nó được dùng như chất bôi
trơn cho máy móc tinh xảo và cho lớp phủ chất hoàn tất (dressing
(4) Dầu chiết từ tủy, là sản phẩm màu trắng hoặc hơi vàng, được dùng
trong dược phẩm và nước hoa.
(5) Dầu của lòng đỏ trứng được chiết xuất từ lòng đỏ trứng đã luộc
chín bằng cách ép hoặc bằng dung môi. Đó là loại dầu trong, màu
vàng ánh kim hoặc đỏ nhạt, có mùi của trứng chín.
(6) Dầu trứng rùa, có màu vàng nhạt, không mùi, dùng làm thực phẩm.
(7) Dầu nhộng chiết từ nhộng tằm, màu nâu đỏ, có mùi nồng và rất khó
chịu, dùng trong sản xuất xà phòng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Mỡ lợn hoặc mỡ gia cầm (nhóm 02.09 hoặc 15.01).
(b) Mỡ của động vật họ trâu bò, dê hoặc cừu (nhóm 15.02).
(c) Mỡ và dầu của cá hoặc động vật có vú ở biển và các phần phân
đoạn của chúng (nhóm 15.04).
(d) Những sản phẩm bao gồm chủ yếu bazơ piriddin (dầu dippel, thường
gọi dầu xương) (nhóm 38.24).
15.07 - Dầu đậu tương và các phần phân đoạn của dầu đậu tương,
đã hoặc chưa tinh chế, nhưng không thay đổi về mặt hoá học (+).
- Dầu thô, đã hoặc chưa khử chất nhựa
- Loại khác
Dầu đậu tương thu được bằng cách chiết xuất từ hạt đậu tương (Glycine
max), bằng cách ép thuỷ lực hoặc bằng ép dầu bật ra (expeller presses), hoặc
bằng dung môi. Nó là loại dầu khô không bay hơi, màu vàng lợt, có thể dùng
làm thực phẩm hoặc trong một số ngành công nghiệp, ví dụ, chế biến
margarin hoặc salad, sản xuất xà phòng, sơn, vecni, chất hóa dẻo, và nhựa
Nhóm này cũng bao gồm các phân đoạn của dầu đậu tương. Tuy nhiên,
lecithin của dầu đậu tương thu được từ dầu thô trong quá trình tinh chế,
được phân loại trong nhóm 29.23.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1507.10
Dầu thực vật không bay hơi, lỏng hoặc rắn, thu được bằng cách ép, được
coi như dầu thô nếu không qua quá trình chế biến nào khác ngoài gạn,
quay ly tâm hoặc lọc, với điều kiện, để tách dầu ra khỏi các hạt cứng, chỉ
cần đến lực cơ học như sức nặng, nén hoặc lực ly tâm, trừ các phương
pháp lọc hấp thụ, bằng việc phân đoạn hoặc phương pháp hoá hoặc lý
nào khác. Dầu thu được từ việc chiết được coi là dầu thô nếu không có
thay đổi về màu sắc, mùi, vị so với dầu tương ứng thu được từ việc ép.
15.08 - Dầu lạc và các phần phân đoạn của dầu lạc, đã hoặc chưa
tinh chế, nhưng không thay đổi về mặt hoá học (+).
- Dầu thô
- Loại khác
Dầu lạc là một loại dầu không khô, thu được từ lạc thông thường
(Arachis hypogaea) bằng cách chiết xuất dung môi hay ép.
Dầu lọc và tinh chế được dùng, ví dụ, làm dầu salad, làm dầu nấu ăn và
chế margarin. Những loại có chất lượng kém hơn được dùng để làm xà
phòng hoặc chất bôi trơn.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1508.10
Xem Chú giải của phân nhóm 1507.10.
15.09 -Dầu ô liu và các phần phân đoạn của dầu ô liu, đã hoặc chưa
tinh chế, nhưng không thay đổi về mặt hoá học.
- Dầu ô liu nguyên chất đặc biệt (Extra virgin olive
- Dầu ô liu nguyên chất (Virgin olive oil)
- Dầu ô liu nguyên chất khác
- Loại khác
Dầu oliu là dầu thu được từ quả ôliu (olea europaea L.)
Nhóm này bao gồm:
Dầu ôliu nguyên chất (vigrin) là dầu thu được từ quả ôliu chỉ bằng
phương pháp cơ học hoặc vật lý khác trong các điều kiện, đặc biệt là
điều kiện nhiệt, không làm biến chất dầu, và không qua chế biến khác
ngoài rửa sạch, gạn, quay ly tâm hoặc lọc.
(A) Dầu ôliu nguyên chất đặc biệt, thu được trong các điều kiện cụ thể,
đặc biệt liên quan đến việc xử lý ô liu trước khi chế biến hoặc kiểm
soát nhiệt độ trong quá trình chế biến và bảo quản, không dẫn đến
bất kỳ thay đổi nào trong dầu. Về đặc tính cảm quan, nó có vị trái
cây và không có khuyết tật. Nó có màu trong suốt, từ vàng nhạt đến
xanh lá. Nó phù hợp để dùng ở trạng thái tự nhiên. Dầu ô liu
nguyên chất đặc biệt có chỉ số axit tự do tính theo axit oleic không
vượt quá 0,8 gam trên 100 gam và có thể phân biệt với các loại dầu
ô liu khác theo các đặc tính được nêu trong Tiêu chuẩn Codex
(B) Dầu ô liu nguyên chất, thu được trong các điều kiện cụ thể, đặc biệt
là điều kiện nhiệt trong quá trình chế biến và bảo quản, có thể dẫn
đến một số thay đổi nhỏ trong dầu, tạo ra các nhược điểm về cảm
quan không vượt quá giới hạn quy định trong Tiêu chuẩn Codex
Alimentarius 33-1981. Nó có hương vị trái cây đặc trưng, màu vàng
nhạt đến xanh lá và thích hợp để dùng ở trạng thái tự nhiên. Dầu ô
liu nguyên chất có chỉ số axit tự do tính theo axit oleic không vượt
quá 2,0 gam trên 100 gam và có thể phân biệt với các loại dầu ô liu
khác theo các đặc tính được nêu trong Tiêu chuẩn Codex
(C) Các dầu ô liu nguyên chất khác, thu được trong các điều kiện tạo
ra sản phẩm có thể không thích hợp dùng làm thức ăn cho người nếu
không tinh chế thêm và bao gồm hai loại, tức là, dầu ô liu nguyên
chất lampante và dầu ô liu nguyên chất thông thường.
(D) Loại khác bao gồm các loại dầu thu được từ dầu ô liu nguyên chất
thuộc các phân nhóm nêu trên bằng phương pháp tinh chế, không
làm thay đổi cấu trúc glyceride ban đầu. Nó bao gồm hai loại sau:
(1) Dầu ô liu tinh chế có chỉ số axit tự do tính theo axit oleic không
vượt quá 0,3 gam trên 100 gam và các đặc tính khác tương ứng
với các đặc tính nêu tại Tiêu chuẩn Codex Alimentarius 33-
1981. Nó là một loại dầu trong suốt, không chứa cặn. Nó có màu
vàng nhạt và không có mùi hoặc vị đặc trưng và có thể thích hợp
dùng làm thức ăn cho người.
(2) Dầu ô liu bao gồm dầu ô liu tinh chế và dầu ô liu nguyên chất là
dầu bao gồm hỗn hợp dầu ô liu tinh chế và dầu ô liu nguyên chất
phù hợp để tiêu dùng. Nó có chỉ số axit tự do, tính theo axit
oleic, không quá 1 gam trên 100 gam và các đặc tính khác của
nó tương ứng với các đặc tính đã nêu tại phần 3 của Tiêu chuẩn
Codex Alimentarius 33-1981. Sản phẩm này có màu từ vàng
nhạt đến xanh lá, mùi thơm và vị ngon.
(E) Các phân đoạn và hỗn hợp của các loại dầu được mô tả từ (A) đến
(D) ở trên.
Nhóm này không bao gồm dầu bã ô liu và hỗn hợp của nó với dầu ô liu
nguyên chất (nhóm 15.10) hoặc dầu tái este hóa thu được từ dầu ô liu
(nhóm 15.16).
15.10 - Dầu khác và các phần phân đoạn của chúng, thu được duy
nhất từ ô liu, đã hoặc chưa tinh chế, nhưng chưa thay đổi về
mặt hoá học, kể cả hỗn hợp của các loại dầu này hoặc các
phần phân đoạn của các loại dầu này với dầu hoặc các phần
phân đoạn của dầu thuộc nhóm 15.09.
- Dầu bã ô liu (olive pomace oil) thô
- Loại khác
Nhóm này bao gồm dầu từ quả ôliu trừ dầu thuộc nhóm 15.09.
Nhóm này bao gồm các loại dầu thu được từ bã ô liu. Bã ô liu là chất rắn
còn sót lại của ô liu sau khi chiết xuất dầu ô liu của nhóm 15.09. Phần
nhão còn sót lại này vẫn chứa một lượng nước và dầu khác nhau.
Các loại dầu thuộc nhóm này có thể ở dạng thô hoặc tinh chế hoặc được
xử lý cách khác, với điều kiện là không có sự biến đổi cấu trúc
Nhóm này cũng bao gồm các phần phân đoạn và hỗn hợp của dầu hoặc
các phần phân đoạn của nhóm này với dầu hoặc các phần phân đoạn của
nhóm 15.09. Hỗn hợp phổ biến nhất bao gồm hỗn hợp dầu bã ô liu tinh
chế và dầu ô liu nguyên chất.
(A) Dầu bã ô liu thô, là loại dầu thu được bằng cách chiết dung môi
hoặc các xử lý vật lý khác các cặn còn lại sau khi chiết xuất dầu ô
liu thuộc nhóm 15.09. Dầu này có thể được phân biệt với các loại
dầu thuộc nhóm 15.09 bằng các đặc tính dành cho loại này được nêu
trong Tiêu chuẩn của Hội đồng Ô liu Quốc tế (COI/T.15/NC số 3).
Nó nhằm để sử dụng trong kỹ thuật hoặc dùng làm thức ăn cho
người sau khi tinh chế.
(B) Dầu bã ô liu tinh chế, là loại dầu thu được từ dầu bã ô liu thô bằng
phương pháp tinh chế, không dẫn đến thay đổi cấu trúc glyceridic
ban đầu.
Dầu bã ô liu tinh chế bao gồm:
(1) Dầu bã ô liu tinh chế: có chỉ số axit tự do, tính theo axit oleic,
không quá 0,3 gam trên 100 gam và các đặc tính khác tương ứng
với các đặc tính được báo cáo trong Tiêu chuẩn Codex
Alimentarius 33-1981 cho loại này. Sản phẩm này có màu từ
vàng nhạt đến vàng nâu, mùi, vị chấp nhận được, thích hợp dùng
làm thực phẩm cho người; tuy nhiên, nó chỉ có thể được bán trực
tiếp cho người tiêu dùng nếu được cho phép ở quốc gia bán lẻ.
(2) Dầu bã ô liu là loại dầu bao gồm hỗn hợp dầu bã ô liu tinh chế
và dầu ô liu nguyên chất đặc biệt (A) và/hoặc dầu ô liu nguyên
chất (B). Nó có chỉ số axit tự do, tính theo axit oleic, không quá
1 gam trên 100 gam và các đặc tính khác tương ứng với các đặc
tính được nêu trong Tiêu chuẩn Codex Alimentarius 33-1981
cho loại này. Sản phẩm này có màu từ vàng nhạt đến xanh lá,
mùi thơm và vị ngon, thích hợp dùng làm thức ăn cho người.
Nhóm này không bao gồm dầu tái este hóa thu được từ dầu ôliu (nhóm
15.11 - Dầu cọ và các phần phân đoạn của dầu cọ, đã hoặc chưa tinh
chế, nhưng không thay đổi về mặt hoá học (+).
- Dầu thô
- Loại khác
Dầu cọ là một loại chất béo thực vật thu được từ cơm của quả cọ dầu.
Nguồn gốc chủ yếu từ cây cọ dầu châu Phi (Elacis guineensis) mọc tự
nhiên ở vùng Châu Phi nhiệt đới, nhưng cũng được trồng ở Trung Mỹ,
Malaysia và Indonesia. Trong những cây cọ dầu khác, cũng có thể kể tới
loại Elacis melanococa (biết đến với tên cọ noli) và những loại cọ khác
thuộc loài Acrocimia gồm cả cọ Paragoay (coco mbocaya), có nguồn gốc
ở Nam Mỹ. Dầu thu được bởi chiết hoặc ép và có màu thay đổi theo
trạng thái đã hoặc chưa tinh chế. Dầu này khác với dầu hạt cọ (nhóm
15.13), loại thu được từ cây cọ dầu có thành phần axit palmitic và axit
oleic rất cao.
Dầu cọ được dùng làm xà phòng, làm nến, mỹ phẩm hoặc các chế phẩm
vệ sinh, dùng như chất bôi trơn, để mạ thiếc nhúng nóng, để sản xuất
axit palmitic v.v. Dầu cọ tinh chế được dùng làm thực phẩm như mỡ rán
và sản xuất margarin.
Nhóm này không bao gồm dầu hạt cọ, dầu ba-ba-su (nhóm 15.13).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1511.10
Xem Chú giải phân nhóm 1507.10.
15.12 - Dầu hạt hướng dương, dầu cây rum hoặc dầu hạt bông và
các phần phân đoạn của chúng, đã hoặc chưa tinh chế, nhưng không
thay đổi về mặt hoá học (+).
- Dầu hạt hướng dương hoặc dầu cây rum và các phần
phân đoạn của chúng:
1512.11 - - Dầu thô
1512.19 - - Loại khác
- Dầu hạt bông và các phần phân đoạn của chúng:
1512.21 - - Dầu thô, đã hoặc chưa khử gossypol
1512.29 - - Loại khác
(A) DẦU HẠT HƯỚNG DƯƠNG
Dầu này lấy từ hạt hướng dương thông thường (Helianthus annuus)
và là dầu có màu vàng sáng. Nó được dùng để trộn salad và là thành
phần của margarin hoặc chất thay thế mỡ từ mỡ lá và mỡ khổ của
lợn. Dầu có đặc tính bán-mau khô, vì vậy rất hữu ích trong công
nghiệp sơn hoặc vecni.
(B) DẦU CÂY RUM
Hạt của cây rum (Carthamus tinctoris) có tầm quan trọng trong
công nghệ nhuộm, nó cung cấp dầu khô, ăn được. Dầu này được
dùng làm thực phẩm, sản suất thuốc, nhựa alkyd, sơn và vecni.
(C) DẦU HẠT BÔNG
Dầu này là loại phổ biến nhất trong những loại dầu bán-mau khô, lấy
từ nhân của hạt của các loại cây họ Gossypium. Dầu hạt bông được
dùng rộng rãi trong công nghiệp ví dụ như chất phủ da (leather
dressing), sản xuất xà phòng, sản xuất chất bôi trơn, sản xuất glycerin
và sản xuất nguyên liệu không thấm nước và làm chất nền của kem
mỹ phẩm. Dầu hạt bông tinh chế tinh khiết có giá trị lớn rất được ưa
chuộng làm thực phẩm như trộn salad hoặc dầu nấu ăn cũng như sản
xuất margarin hoặc chất thay thế của mỡ từ mỡ lá và mỡ khổ của lợn.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1512.11 và 1512.21
Xem Chú giải của phân nhóm 1507.10.
15.13 - Dầu dừa (copra), dầu hạt cọ hoặc dầu cọ ba-ba-su và các
phần phân đoạn của chúng, đã hoặc chưa tinh chế, nhưng
không thay đổi về mặt hoá học (+).
- Dầu dừa (copra) và các phân đoạn của dầu dừa:
1513.11 - - Dầu thô
1513.19 - - Loại khác
- Dầu hạt cọ hoặc dầu cọ ba-ba-su và các phần phân
đoạn của chúng:
1513.21 - - Dầu thô
1513.29 - - Loại khác
(A) DẦU (COPRA) DỪA
Dầu này thu được từ cùi dừa khô của quả dừa (cocos nucifera), cùi
dừa tươi cũng có thể được sử dụng. Loại dầu không khô này có màu
vàng lợt hoặc không màu và đóng rắn khi nhiệt độ thấp hơn 250C.
Dầu dừa được dùng để sản xuất xà phòng, những chế phẩm vệ sinh
và mỹ phẩm, mỡ bôi trơn, chất tẩy tổng hợp, những chế phẩm làm
trắng và giặt khô và là nguyên liệu sản xuất axit béo, cồn béo hoặc
Dầu dừa tinh chế ăn được, dùng để sản xuất thực phẩm như
margarin, thực phẩm bổ sung ăn kiêng.
(B) DẦU HẠT CỌ
Dầu có màu trắng, thu được từ nhân của hạt, không phải thu từ cơm
của quả những cây cọ dầu, chủ yếu là từ cây cọ dầu châu Phi Elaeis
guineensis (xem Chú giải nhóm 15.11). Dầu này được dùng nhiều
trong công nghiệp chế biến margarin và làm kẹo vì có mùi thơm dễ
chịu và có vị của hạt phỉ. Cũng được dùng để sản xuất glycerin, dầu
gội đầu, xà phòng và nến.
(C) DẦU CỌ BA-BA-SU
Loại dầu không khô này thu được bằng cách ép từ nhân của hạt quả
cọ ba-ba-su Orbigyna martiana và O. oleifera.
Dầu cọ ba-ba-su được dùng để sản xuất các sản phẩm công nghiệp,
ví dụ, xà phòng. Khi được tinh chế nó được sử dụng như sản phẩm
thay thế dầu hạt cọ trong các sản phẩm thực phẩm.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1513.11 và 1513.21
Xem Chú giải của phân nhóm 1507.10.
15.14 - Dầu cây cải dầu (rape oil hoặc colza oil) hoặc dầu mù tạt và
các phần phân đoạn của chúng, đã hoặc chưa tinh chế,
nhưng không thay đổi về mặt hoá học (+).
- Dầu cây cải dầu hàm lượng axit eruxic thấp và các
phần phân đoạn của chúng:
1514.11 - - Dầu thô
1514.19 - - Loại khác
- Loại khác:
1514.91 - - Dầu thô
1514.99 - - Loại khác
(A) DẦU CÂY CẢI DẦU (RAPE OIL HOẶC COLZA OIL)
Hạt của các loại cải thuộc họ Brassica, nhất là B.napus và B.rapa
(hoặc B.campestris), cung cấp dầu bán mau khô có những đặc tính
tương tự, mà trong thương mại được gọi là dầu cây cải dầu (rape
hoặc colza oil).
Dầu này thường có tỉ lệ axit erucic cao. Nhóm này cũng bao gồm
dầu cây cải dầu (rape hoặc colza) có tỉ lệ axit erucic thấp (dầu lấy từ
hạt cải dầu có hàm lượng axit erucic thấp thuộc các giống cải dầu có
khả năng sinh trưởng mạnh), ví dụ, dầu cây cải dầu hoặc dầu cây cải
dầu (rape hoặc colza) châu Âu “hai số không”.
Dầu này được dùng để trộn salad, trong sản xuất margarin v.v. Dầu
này cũng dùng để sản xuất những sản phẩm công nghiệp, ví dụ, như
chất thêm vào để bôi trơn. Dầu tinh chế, mà thường được gọi là dầu
cây cải dầu cũng ăn được.
(B) DẦU MÙ TẠT
Đó là dầu thực vật không bay hơi thu được từ, ví dụ, lấy từ 3 loại
thực vật sau: Mù tạt trắng (sinapsis alba và Brassica hirta), mù tạt
đen (Brassica nigra), hoặc mù tạt Ấn Độ (Brassica juncea). Dầu
này thường có tỉ lệ axit erucic cao và được dùng, ví dụ, trong thuốc,
nấu ăn hoặc trong các sản phẩm công nghiệp.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1514.11 và 1514.91
Xem Chú giải của phân nhóm 1507.10.
15.15 - Chất béo và dầu không bay hơi khác của thực vật hoặc vi
sinh vật (kể cả dầu jojoba) và các phần phân đoạn của
chúng, đã hoặc chưa tinh chế, nhưng không thay đổi về mặt
hoá học (+).
- Dầu hạt lanh và các phần phân đoạn của dầu hạt
- - Dầu thô
- - Loại khác
- Dầu hạt ngô và các phần phân đoạn của dầu hạt ngô:
- - Dầu thô
- - Loại khác
- Dầu thầu dầu và các phần phân đoạn của dầu thầu dầu
- Dầu hạt vừng và các phần phân đoạn của dầu hạt vừng
1515.60 - Chất béo và dầu vi sinh vật và các phần phân đoạn
của chúng
- Loại khác
Nhóm này bao gồm chất béo và dầu thực vật hoặc vi sinh vật đơn, không
bay hơi và các phân đoạn của chúng, (xem Chú giải tổng quát, Phần
(B)), trừ những loại đã nêu trong các nhóm từ 15.07 đến 15.14. Những
loại dầu sau có giá trị thương mại nổi bật:
(1) Dầu hạt lanh, thu được từ hạt của cây lanh (linum usitatissimun).
Dầu này là một trong những loại dầu khô quan trọng nhất. Dầu hạt
lanh có màu vàng đến nâu nhạt và mùi, vị hăng hắc. Khi bị oxy hoá,
dầu này tạo thành một lớp màng đàn hồi trên bề mặt của vật mà nó
được quét lên. Dầu này được dùng chủ yếu để sản xuất sơn, vecni,
vải dầu, chất gắn, xà phòng mềm, mực in, nhựa alkyd hoặc dược
phẩm. Dầu hạt lanh ép nguội ăn được.
(2) Dầu hạt ngô, thu được từ hạt ngô. Nhân hạt ngô chứa khoảng 80% là
lipid. Dầu thô dùng nhiều trong ứng dụng công nghiệp như sản xuất
xà phòng, chất bôi trơn, chất hoàn tất da (dressing leather)... Dầu
tinh chế này ăn được và được dùng nấu ăn, làm bánh và trộn với các
loại dầu khác v.v... dầu ngô là loại dầu bán - mau khô.
(3) Dầu thầu dầu lấy từ hạt của Ricinus communis. Đó là loại dầu không khô,
đặc, thường không có màu hoặc có màu nhạt, trước kia thường được dùng
chủ yếu trong y học như thuốc xổ, nhưng hiện nay được dùng trong công
nghiệp như chất hoá dẻo trong thành phần của sơn dầu hoặc của
nitrocellulose, trong việc sản xuất ra axit dibasic, chất đàn hồi hoặc chất
kết dính, tác nhân hoạt động bề mặt, chất lỏng thủy lực,...
(4) Dầu hạt vừng, thu được từ hạt cây vừng là loại cây thu hái hàng
năm, Sesamum indicum. Đó là dầu bán khô, loại có chất lượng tốt
được dùng trong shortenings, dầu trộn salad, margarin và các sản
phẩm thực phẩm tương tự và sử dụng trong thuốc. Dầu chất lượng
kém hơn được dùng trong công nghiệp
(5) Chất béo và dầu vi sinh vật, còn được gọi là dầu đơn bào (SCO),
thu được bằng cách chiết xuất lipid từ các vi sinh vật có dầu như
nấm (bao gồm cả nấm men), vi khuẩn và vi tảo. Những lipid này
chứa tỷ lệ cao triacylglycerol (TAG), chủ yếu là các axit béo không
bão hòa đa như axit arachidonic và axit linoleic, ở dạng lỏng ở nhiệt
độ phòng. Chúng có thể được sử dụng cho nhiều mục đích tương tự
như dầu thực vật. Dầu thu được từ các vi sinh vật đa tế bào có dầu
khác cũng được xếp vào nhóm này.
Ví dụ :
(a) Dầu axit arachidonic (ARA), thu được từ nấm Mortierella
alpina, là chất lỏng màu vàng hoặc vàng cam có thể được sử
dụng làm thành phần trong thực phẩm, thức ăn chăn nuôi,
thuốc hoặc mỹ phẩm.
(b) Dầu Schizochytrium, thu được từ vi tảo Schizochytrium sp., có
thể được sử dụng như một thành phần trong thực phẩm.
Các vi sinh vật có dầu để thu được chất béo và dầu vi sinh vật bao
gồm, không kể những đề cập khác, nấm men, nấm, vi tảo và vi
khuẩn.
(6) Dầu tung (hay dầu gỗ Trung Quốc), thu được từ hạt của quả những
các loài tung khác nhau thuộc họ Aleurites (ví dụ, A.fordii và
A.montana). Dầu có màu từ vàng lợt đến nâu đậm, khô rất nhanh và
có tính bảo quản tốt và chống thấm tốt. Được dùng chủ yếu để sản
xuất sơn và vecni.
(7) Dầu jojoba, thường được miêu tả như sáp lỏng, một chất lỏng không
màu hoặc vàng nhạt, không mùi, thành phần chủ yếu là este của cồn
có hàm lượng béo cao, thu được từ hạt của cây bụi sa mạc thuộc họ
Simmondia (S. californica or S. chinensis), được dùng như chất thay
thế dầu của mỡ cá nhà táng, ví dụ, trong các chế phẩm mỹ phẩm.
(8) Một số sản phẩm gọi là tallow thực vật (chủ yếu là tallow Berneo và
tallow thực vật Trung quốc), thu được từ quá trình xử lý các hạt có
dầu. Tallow Borneo dạng bánh và dạng hạt, có màu trắng ở phía
ngoài và vàng xanh nhạt ở trong. Tallow thực vật Trung quốc là
chất rắn, dạng sáp, có màu xanh lục và mùi thơm nhẹ, khi chạm vào
thì nhờn.
(9) Những sản phẩm được gọi trong thương mại là sáp cây sim và sáp
Nhật bản, trong thực tế là chất béo thực vật. Sáp cây sim được chiết
xuất từ quả cây sim, ở dạng bánh thể sáp, màu vàng tái, đặc cứng và
có mùi đặc trưng của nhựa thơm. Sáp Nhật bản là chất lấy từ quả
của các loại cây khác nhau ở Trung Quốc, Nhật bản, thuộc họ cây
Rhus. Nó có dạng viên hoặc tấm dẹt, nhìn giống thể sáp, màu xanh
lục, vàng nhạt hoặc trắng, có cấu trúc tinh thể giòn, có mùi nhựa
thoang thoảng.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 1515.11 và 1515.21
Xem Chú giải phân nhóm 1507.10.
15.16 - Chất béo và dầu động vật, thực vật hoặc vi sinh vật và các
phần phân đoạn của chúng, đã qua hydro hoá, este hoá liên
hợp, tái este hoá hoặc elaiđin hoá toàn bộ hoặc một phần, đã
hoặc chưa tinh chế, nhưng chưa chế biến thêm.
1516.10 - Mỡ và dầu động vật và các phần phân đoạn của chúng
1516.20 - Chất béo và dầu thực vật và các phần phân đoạn của chúng
1516.30 - Chất béo và dầu vi sinh vật và các phần phân đoạn của
chúng
Nhóm này bao gồm chất béo và dầu động vật, thực vật hoặc vi sinh vật
đã qua chuyển đổi hoá học theo những cách nêu sau đây nhưng không
chế biến thêm.
Nhóm này cũng bao gồm các phân đoạn của chất béo và dầu động vật,
thực vật hoặc vi sinh vật đã qua chế biến theo cách tương tự.
(A) Chất béo và dầu đã hydro hoá.
Hydro hoá, được tiến hành bằng việc để sản phẩm tiếp xúc với
hydro tinh khiết ở nhiệt độ và áp suất thích hợp, có chất xúc tác
(thường là Niken đã được tách nhỏ), làm tăng điểm nóng chảy của
chất béo và tăng độ đặc của dầu bằng chuyển glycerit chưa no (ví
dụ, axit oleic, axit linoleic v.v.) thành glycerit no có điểm nóng chảy
cao hơn (ví dụ, axit palmilic, axit stearic v.v.). Mức độ hydro hoá
cũng như độ đặc cuối cùng của sản phẩm phụ thuộc vào phương
pháp được dùng và thời gian chế biến. Nhóm này bao gồm các sản
phẩm sau:
(1) Được hydro hoá một phần (ngay cả khi những sản phẩm này có
xu hướng phân chia thành những lớp nhão và lỏng). Quá trình
hydro hóa cũng có tác động nhằm thay đổi dạng CIS của axit
béo không no thành dạng TRANS để nâng cao điểm nóng chảy.
(2) Được hydro hoá toàn bộ (ví dụ, dầu chuyển thành chất béo
nhão hoặc cứng).
Những sản phẩm thường được hydro hoá nhất là dầu cá hoặc dầu
động vật có vú ở biển và một số dầu thực vật (dầu hạt bông, dầu
vừng, lạc, hạt cải (colza), đậu tương, ngô v.v.). Những loại dầu được
hydro hoá toàn phần hoặc từng phần theo cách này, thường được sử
dụng như các thành phần trong chế phẩm của chất béo ăn được
thuộc nhóm 15.17, bởi vì hydro hoá không những làm tăng độ đậm
đặc, mà còn làm giảm sự biến chất bởi oxy hoá ngoài không khí, và
làm cải thiện mùi vị và tẩy để tăng hình thức bề ngoài (làm trắng).
Phần này cũng bao gồm dầu thầu dầu được hydro hoá, gọi là “opal wax”.
(B) Chất béo và dầu este hoá liên hợp, tái este hoá hoặc elaidin hoá.
(1) Chất béo và dầu được este hoá liên hợp. Độ đặc của một
loại dầu hoặc chất béo có thể tăng khi thay đổi một cách thích
hợp nhóm gốc axit béo trong triglyceride có trong sản phẩm.
Phản ứng và việc thay đổi cần thiết của các este có thể được
kích thích khi sử dụng chất xúc tác.
(2) Chất béo và dầu tái este hoá (còn gọi là chất béo và dầu este
hóa) là các triglyceride thu được bởi quá trình tổng hợp trực
tiếp glycerin với hỗn hợp axit béo tự do hoặc với dầu axit tinh
chế. Cấu trúc nhóm gốc axit béo trong triglycerit khác với cấu
trúc nhóm gốc axit béo thường gặp trong dầu tự nhiên.
Dầu thu được từ ôliu chứa dầu tái este hoá, thuộc nhóm này.
(3) Chất béo và dầu elaidin hoá là chất béo và dầu, thu được qua
quá trình nhóm gốc axit béo không no được chuyển từ dạng
cis- sang dạng trans- tương ứng.
Những sản phẩm miêu tả trên đây được phân loại trong nhóm này, ngay
cả khi chúng mang đặc tính của sáp và ngay cả khi chúng đã được khử
mùi hoặc qua các quá trình tinh chế tương tự, và có thể hay không có thể
được sử dụng trực tiếp làm thực phẩm. Tuy nhiên, nhóm này không bao
gồm chất béo, dầu và các phần phân đoạn của chúng đã được hydro hoá
v.v. đã qua chế biến thêm để dùng làm thực phẩm như thay đổi kết cấu
(thay đổi kết cấu hoặc cấu trúc tinh thể) (nhóm 15.17). Nhóm cũng
không bao gồm chất béo và dầu hoặc các phần phân đoạn của chúng
được hydo hóa, este hóa liên hợp, tái este hóa hoặc elaidin hóa, trong
trường hợp mà các thay đổi liên quan đến nhiều hơn một chất béo hoặc
dầu (nhóm 15.17 hoặc 15.18).
15.17 - Margarin; các hỗn hợp hoặc các chế phẩm ăn được của chất
béo hoặc dầu động vật, thực vật hoặc vi sinh vật hoặc các
phần phân đoạn của các loại chất béo hoặc dầu khác nhau
thuộc Chương này, trừ chất béo và dầu hoặc các phần phân
đoạn của chúng ăn được thuộc nhóm 15.16 (+).
- Margarin, trừ loại margarin lỏng
- Loại khác
Nhóm này bao gồm margarin và các hỗn hợp có thể ăn được khác hoặc
chế phẩm thực phẩm làm từ chất béo và dầu động vật, thực vật, hoặc vi
sinh vật hoặc từ các phân đoạn của các loại chất béo hoặc dầu khác nhau
thuộc Chương này, trừ các loại thuộc nhóm 15.16. Đó thường là hỗn
hợp hoặc chế phẩm ở dạng lỏng hoặc rắn của:
(1) Các loại mỡ hoặc dầu động vật khác nhau hoặc các phân đoạn của
chúng;
(2) Các loại chất béo hoặc dầu thực vật khác nhau hoặc các phần phân
đoạn của chúng;
(3) Các loại chất béo hoặc dầu vi sinh vật khác nhau hoặc các phần phân
đoạn của chúng; hoặc
(4) Hai hay nhiều chất béo hoặc dầu động vật, thực vật hoặc vi sinh vật
hoặc các phân đoạn của chúng.
Các sản phẩm từ dầu hoặc chất béo thuộc nhóm này có thể đã được
hydro hoá trước, có thể được nhũ hoá (ví dụ, với sữa tách kem), nhào
trộn hoặc đã chế biến thay đổi kết cấu khác (thay đổi kết cấu hoặc cấu
trúc tinh thể)... và có thể thêm số lượng nhỏ lecithin, tinh bột, màu,
hương liệu, vitamin, bơ hoặc chất béo sữa khác (lưu ý đến những hạn
chế đã nêu trong Chú giải 1 (c) của Chương này).
Cũng thuộc trong nhóm này là các chế phẩm ăn được làm từ một loại
chất béo hoặc dầu đơn (hoặc các phân đoạn của nó), đã hoặc chưa hydro
hoá, đã được chế biến bằng cách nhũ hoá, nhào trộn, thay đổi kết cấu
Nhóm này bao gồm chất béo và dầu đã hydro hóa, este hóa liên hợp, tái este
hóa hoặc elaidin hóa hoặc các phân đoạn của chúng, trong trường hợp mà
việc thay đổi liên quan đến nhiều hơn một loại chất béo hoặc dầu.
Những sản phẩm chính thuộc nhóm này gồm:
(A) Margarin (trừ margarin lỏng), là một khối chất dẻo, thường màu
vàng nhạt, thu được từ chất béo hoặc dầu có nguồn gốc thực vật
hoặc động vật hoặc từ hỗn hợp của những loại mỡ hoặc dầu này. Đó
là chất nhũ loại nước- trong- dầu, đã qua chế biến về chất làm cho
sản phẩm giống bơ về hình thức, độ đặc, màu...
(B) Hỗn hợp hoặc chế phẩm ăn được từ chất béo hoặc dầu động vật
hoặc thực vật hoặc vi sinh vật từ các phần phân đoạn của chất
béo và dầu khác trong Chương này, trừ chất béo hoặc dầu ăn
được hoặc các phân đoạn của chúng thuộc nhóm 15.16; ví dụ,
chế phẩm giả mỡ từ mỡ lá và mỡ khổ của lợn, margarin lỏng và
shortening (thu từ mỡ hoặc dầu được chế biến bởi thay đổi kết cấu).
Cũng thuộc trong nhóm này hỗn hợp hoặc chế phẩm ăn được của chất
béo hoặc dầu động vật, thực vật hoặc vi sinh vật hoặc hỗn hợp các phần
phân đoạn của chất béo và dầu khác thuộc Chương này, những sản phẩm
này được dùng như chế phẩm dỡ khuôn.
Nhóm này không bao gồm chất béo và dầu đơn đã tinh lọc một cách
giản đơn, mà không xử lý tiếp; các loại dầu, chất béo này được phân loại
trong nhóm tương ứng, ngay cả khi được đóng gói để bán lẻ. Cũng
không thuộc nhóm này là những chế phẩm có trên 15% hàm lượng bơ
hoặc chất béo sữa khác (thường thuộc Chương 21) .
Ngoài ra, nhóm không bao gồm những sản phẩm thu được từ ép tallow
hoặc mỡ lá và mỡ khổ của lợn (nhóm 15.03) cũng như chất béo và dầu
đã hydro hóa, este hóa liên hợp, tái este hóa hoặc đã elaidin hóa hoặc các
phân đoạn của chúng, trong trường hợp mà việc thay đổi chỉ liên quan
đến một loại chất béo hoặc dầu (nhóm 15.16).
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 1517.10 và 1517.90
Theo các mục đích của các phân nhóm 1517.10 và 1517.90, các đặc tính
vật lý của margarin được xác định bằng cách nhìn bằng mắt thông
thường (visual examination) ở nhiệt độ 10°C.
15.18 - Chất béo và dầu động vật, thực vật hoặc vi sinh vật và các
phần phân đoạn của chúng, đã đun sôi, oxy hoá, khử nước,
sulphua hoá, thổi khô, polyme hoá bằng cách đun nóng
trong chân không hoặc trong khí trơ hoặc bằng biện pháp
thay đổi về mặt hoá học khác, trừ loại thuộc nhóm 15.16; các
hỗn hợp hoặc các chế phẩm không ăn được từ chất béo hoặc
dầu động vật, thực vật hoặc vi sinh vật hoặc từ các phần
phân đoạn của các loại chất béo hoặc dầu khác nhau thuộc
Chương này, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác.
(A) Chất béo và dầu động vật, thực vật hoặc vi sinh vật và các phần
phân đoạn của chúng, đã đun sôi, oxy hoá, khử nước, sulphat
hoá, thổi khô, polyme hoá bằng cách đun nóng trong chân
không hoặc trong khí trơ, hoặc bằng biện pháp thay đổi về mặt
hoá học khác, trừ các loại thuộc nhóm 15.16.
Nhóm này bao gồm chất béo và dầu động vật, thực vật hoặc vi sinh vật
và các phần phân đoạn của chúng đã qua quá trình làm thay đổi cấu trúc
hoá học qua đó làm tăng độ nhớt, tăng tính mau khô của chúng (tức là
tính có thể hấp thu oxy trong không khí và tạo thành màng đàn hồi) hoặc
làm thay đổi những tính chất khác của chúng, với điều kiện chúng vẫn
giữ được cấu trúc cơ bản gốc và không được chi tiết hơn ở nơi khác, ví
dụ:
(1) Dầu đun sôi hoặc oxy hoá thu được bằng cách làm nóng dầu,
thường được thêm một lượng nhỏ tác nhân oxy hoá. Dầu này được
dùng trong công nghiệp sơn hoặc vecni.
(2) Dầu thổi khô là dầu đã được oxy hoá và polimer hoá từng phần
bằng cách thổi không khí nóng qua dầu. Chúng được dùng trong sản
xuất vecni các h điện, cách nhiệt, giả da, và khi trộn với dầu khoáng,
chế phẩm bôi trơn (dầu phức hợp).
Linoxyn, sản phẩm có tính chất như cao su ở dạng bán rắn, làm bằng
dầu hạt lanh đã được oxy hoá mạnh, được dùng trong sản xuất
limoleum (vải nhựa rải sàn) cũng được phân loại trong nhóm này.
(3) Dầu thầu dầu đã khử nước, thu được bằng việc cho chất xúc tác
để loại bỏ nước của dầu thầu dầu và được dùng trong sản xuất vecni
hoặc sơn.
(4) Dầu sulphat hoá, là kết quả của việc chế biến bằng lưu huỳnh hoặc
sulphur chloride để tạo ra sự polimer hoá trong những phân tử. Dầu
đã chế biến theo cách này khô nhanh hơn và hình thành nên loại
màng ít thấm nước hơn màng của dầu khô khác, và có sức bền cơ
học lớn hơn. Dầu sulphat hoá được dùng làm sơn chống gỉ và vecni.
Nếu quá trình đó được thực hiện thêm, thu được sản phẩm rắn (các
chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu) (nhóm 40.02).
(5) Dầu được polimer hoá bằng cách đun nóng trong chân không
hoặc trong khí trơ là một số loại dầu (nhất là dầu hạt lạnh hoặc
dầu tung (dầu gỗ Trung quốc)) được polimer hoá bằng cách làm
nóng đơn giản, không oxy hoá, ở nhiệt độ 250-3000C, hoặc trong
điều kiện khí carbon dioxide trơ hoặc trong chân không. Quá trình
này thu được những lớp dầu dày, thường được gọi là “stand-oil”, sử
dụng trong sản xuất màng vecni có màng đặc biệt dẻo mềm và
không thấm nước.
Nhóm này bao gồm dầu stand-oil thu được qua chiết xuất mà trong
đó phần không được polimer hoá đã được chiết xuất (dầu Teka) và
hỗn hợp dầu stand-oil.
(6) Trong những loại dầu cải biến khác thuộc nhóm này, có thể kể
đến:
(a) Dầu Maleic có được từ chế biến, ví dụ, dầu đậu tương với số
lượng hạn chế maleic anhydride ở nhiệt độ 2000C trở lên, kết
hợp với đầy đủ nhiều chức rượu rượu cồn có nhiều nhóm
hidroxyl đủ để este hoá các nhóm axit bổ sung thêm. Dầu
maleic được chế biến như vậy có tính khô nhanh.
(b) Dầu khô (như dầu hạt lanh) được thêm một lượng nhỏ chất
làm khô lạnh (ví dụ, borat chì, naphtenate kẽm, resinate
coban) nhằm làm tăng tính khô nhanh của chúng. Dầu này
được dùng để thay thế dầu đã đun sôi trong sản xuất vecni
hoặc sơn, loại này rất khác với chất làm khô lỏng đã điều chế
thuộc nhóm 32.11 (dung dịch cô đặc của chất làm khô) và
không thể nhầm lẫn lộn với chúng.
(c) Dầu epoxit hóa thu được qua chế biến, ví dụ, chế biến dầu đậu
tương được chế biến bởi với axit peracetic đã hình thành trước
hoặc hình thành ngay tại chỗ bằng phản ứng giữa nước oxy già
(hydrogen peroxide) và axit acetic với sự tham gia của chất xúc
tác. Thường được dùng như chất hóa dẻo hoặc chất ổn định
cho, ví dụ, nhựa vinyl.
(d) Dầu có chứa brom được dùng như nhũ tương hoặc chất ổn
định cho tinh dầu, ví dụ, trong công nghiệp dược.
(B) Hỗn hợp hoặc chế phẩm không ăn được từ chất béo và dầu động
vật, thực vật hoặc vi sinh vật hoặc từ các phần phân đoạn của
các loại chất béo hoặc dầu khác nhau thuộc Chương này, chưa
được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác.
Phần này bao gồm dầu rán đã qua sử dụng chứa, ví dụ, dầu hạt cải
(rape), dầu đậu tương và một lượng nhỏ mỡ động vật, được dùng trong
chế biến thức ăn chăn nuôi.
Nhóm này cũng bao gồm chất béo và dầu đã hydro hóa, este hóa liên hợp, tái
este hóa hoặc elaidin hóa hoặc các phân đoạn của chúng, trong trường hợp
mà việc thay đổi liên quan đến nhiều hơn một loại chất béo hoặc dầu.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Chất béo hoặc dầu đã bị làm biến chất (xem Chú giải 3 của Chương này).
(b) Chất béo và dầu hydro hoá, este hoá liên hợp, tái este hóa hoặc
elaidin hóa hoặc các phân đoạn của chúng, trong trường hợp mà
việc thay đổi chỉ liên quan đến một loại chất béo hoặc dầu (nhóm
(c) Các chế phẩm của loại dùng làm thức ăn chăn nuôi (nhóm 23.09).
(d) Dầu sulphonate (tức là, dầu được xử lý bởi axit sulphuric) (nhóm
15.20 - Glycerin, thô; nước glycerin và dung dịch kiềm glycerin.
Glycerin thô là sản phẩm có sự tinh khiết nhỏ hơn 95% (tính so với
trọng lượng sản phẩm khô). Thu được bởi bằng cách phân ly tách dầu
hoặc chất béo, hoặc bởi bằng cách tổng hợp từ propylene. Chất lượng
của glycerin thô thay đổi theo phương pháp sản xuất, ví dụ:
(1) Thu được bằng thuỷ phân bằng với nước, với axit hoặc với bazơ, đó
là chất lỏng có vị hơi ngọt không có mùi khó chịu và có màu từ hơi
vàng đến nâu.
(2) Thu được từ dung dịch kiềm glycerin, đó là chất lỏng có màu vàng
sáng lợt, có vị chát và mùi khó chịu.
(3) Thu được từ xử lý dung dịch phế thải của nhà máy quá trình sản xuất
xà phòng, đó là chất lỏng có màu vàng đen đen, có vị hơi ngọt (đôi
lúc có vị tỏi khi có nhiều tạp chất) và mùi ít nhiều khó chịu.
(4) Thu được bằng thủy phân xúc tác và enzyme, đó thường là chất lỏng
có mùi và vị khó chịu, chứa số lượng lớn chất hữu cơ và chất
khoáng.
Glycerin thô cũng có thể thu được bằng este hoá liên hợp của dầu hoặc
chất béo với các loại cồn khác.
Nhóm này cũng bao gồm nước glycerin, sản phẩm phụ của quá trình
chế biến axit béo, cũng như và dung dịch kiềm glycerin, sản phẩm phụ
của quá trình sản xuất xà phòng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Glycerin thuần khiết 95% trở lên (tính so với trọng lượng sản phẩm
khô) (nhóm 29.05).
(b) Glycerin dưới dạng đóng gói dược phẩm hoặc có thêm các chất
dược phẩm (nhóm 30.03 hoặc 30.04).
(c) Glycerin thơm hoặc glycerin thêm vào dược mỹ phẩm (Chương 33).
15.21 - Sáp thực vật (trừ triglyxerit), sáp ong, sáp côn trùng khác và
sáp cá nhà táng, đã hoặc chưa tinh chế hay pha màu.
- Sáp thực vật
- Loại khác
(I) Sáp thực vật (trừ triglycerit), đã hoặc chưa tinh chế hoặc pha
màu.
(1) Sáp Carnauba, rỉ ra từ lá của nhiều các loại cây cọ (corypha
cerifera hoặc copernicia cerifera). Nó có màu lục nhạt, hơi
xám hoặc vàng nhạt, nhờn ít hoặc nhiều, có cấu trúc gần như
tinh thể, rất dễ vỡ, có mùi dễ chịu của cỏ khô.
(2) Sáp ouricury, thu được từ lá của nhiều các loại cọ (Attalea
(3) Sáp cọ, tiết rỉ một cách tự nhiên từ phần giao nhau của lá của
nhiều các loại cọ khác (ceroxylon andicola) và chảy dọc thân
cây, thường ở dạng miếng khối hình cầu, có nhiều lỗ xốp và
dễ vỡ vụn, có màu trắng vàng nhạt.
(4) Sáp candelilla, thu được khi đun trong nước một loại cây
Mexico (Euphorbia antisyphilitica hoặc Pedilanthus pavonis),
đó là sáp nâu, trong mờ, cứng.
(5) Sáp mía đường, tồn tại ở dạng tự nhiên trên bề mặt cây mía
đường và được tách công nghiệp từ bã lớp váng gạn lọc của
nước mía lắng trong khi sản xuất đường. Đó là sáp hơi đen ở
dạng thô, mềm và có mùi mật mía.
(6) Sáp bông và sáp lanh, có trong sợi thực vật được chiết xuất
bằng dung môi.
(7) Sáp ocotilla, chiết bằng dung môi của vỏ một loại cây trồng ở
(8) Sáp pyzang, thu được từ một loại bụi phấn có trên lá một số
loại cây chuối ở Java.
(9) Sáp Esparto, thu được từ cỏ giấy (Esparto) và được thu như
bụi khi các kiện cỏ khô được mở.
Sáp thực vật thuộc nhóm này có thể ở dạng thô hoặc tinh chế, đã
tẩy trắng hoặc pha màu, đã hoặc chưa thành khối, thanh v.v.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm:
(a) Dầu jojoba (nhóm 15.15).
(b) Những sản phẩm được gọi chung là sáp cây sim và sáp Nhật
Bản (nhóm 15.15).
(c) Các hỗn hợp của sáp thực vật.
(d) Những hỗn hợp của sáp thực vật với sáp động vật, sáp vô cơ
hoặc nhân tạo.
(e) Sáp thực vật trộn với chất béo, nhựa, các chất vô cơ hoặc các
chất khác (trừ các chất mầu).
Các hỗn hợp này thường thuộc Chương 34 (nhất là nhóm 34.04
hoặc 34.05).
(II) Sáp ong và sáp các loại côn trùng khác, đã hoặc chưa tinh chế
hoặc pha mầu.
Sáp ong là chất mà ong tạo ra dùng để làm lỗ sáu cạnh của các tầng
tổ. Trong trạng thái tự nhiên nó có cấu trúc hạt, có màu vàng nhạt,
da cam hoặc đôi khi nâu, có mùi đặc biệt dễ chịu; khi được tẩy
trắng và được tinh chế, nó có màu trắng hoặc vàng nhạt và hơi có
mùi thoang thoảng.
Sáp ong được dùng để sản xuất nến, vải sáp, giấy sáp, chất gắn, xi
đánh bóng....
Trong số sáp côn trùng khác, những loại quen thuộc nhất là:
(1) Sáp cánh kiến đỏ, thu được từ nhựa cánh kiến đỏ bằng cách
chiết xuất với cồn. Nó ở dưới dạng khối nâu có mùi nhựa cánh
kiến đỏ.
(2) Sáp Trung quốc (cũng gọi là sáp côn trùng hoặc sáp cây), chủ
yếu được tìm thấy ở Trung quốc, được tiết và thải ra bởi côn
trùng trên cành của một số cây tần bì, dưới dạng phấn trắng,
được thu và làm sạch (bởi sự tan chảy trong nước sôi và lọc).
Nó có màu trắng hoặc vàng nhạt, lóng lánh, kết tinh và không
có vị, có mùi gần giống dầu, mỡ động vật tallow (tallow).
Sáp ong và sáp côn trùng khác được phân loại trong nhóm này dù ở
dạng thô (kể cả dạng tầng tự nhiên), hoặc được ép hoặc tinh chế, có
hoặc không tẩy trắng hoặc pha mầu.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Hỗn hợp sáp côn trùng, hỗn hợp sáp côn trùng với mỡ sáp cá
nhà táng, với sáp thực vật, sáp vô cơ hoặc nhân tạo, hoặc sáp
côn trùng trộn với chất béo, nhựa, chất vô cơ hoặc chất khác
(trừ chất màu); những hỗn hợp này thường thuộc Chương 34
(ví dụ, nhóm 34.04 hoặc 34.05).
(b) Sáp để ong làm tổ (nhóm 96.02).
(III) Sáp cá nhà táng, thô, ép hoặc tinh chế, có hoặc không pha màu.
Sáp cá nhà táng là chất như sáp chiết từ mỡ hoặc dầu chứa trong
khoang đầu hoặc nơi dồn lại dưới da của cá nhà táng hoặc loài cá
voi tương tự.
Sáp cá nhà táng thô bao gồm khoảng 1/3 sáp cá nhà táng và 2/3
mỡ cá nhà táng, ở dạng khối, màu vàng nhạt hoặc nâu, có mùi khó
chịu.
Sáp cá nhà táng chiết ép là sản phẩm đã chiết ép lấy tất cả mỡ ra,
ở dạng vẩy cứng, nhỏ, màu nâu vàng nhạt, và không để lại làm bẩn
hoặc gần như không để lại vết trên làm bẩn giấy.
Sáp cá nhà táng tinh chế thu được từ xử lý sáp cá nhà táng ép với
xút ăn da loãng. Sáp tinh chế rất trắng và thành dãi lát mỏng óng
ánh lóng lánh và có ánh xà cừ màu ngọc trai.
Sáp cá nhà táng được dùng để sản xuất một số loại nến, làm nước
hoa, làm thuốc hoặc chất bôi trơn.
Những sản phẩm này ngay cả khi được hoặc không được pha màu
cũng thuộc nhóm này.
Nhóm này không bao gồm dầu của cá nhà táng, dù thô hoặc được
tinh chế khi bằng cách phân chia tách mỡ sáp cá nhà táng (nhóm
15.22 - Chất nhờn; bã, cặn còn lại sau quá trình xử lý các chất béo
hoặc sáp động vật hoặc thực vật.
(A) Chất nhờn.
Nhóm này bao gồm cả chất nhờn tự nhiên và chất nhờn nhân tạo, là
sản phẩm được dùng trong công nghiệp da để bôi (nhồi) da.
Chất nhờn tự nhiên (còn gọi là “moellen” và “dầu cỏ”) là chất thu
được bằng cách ép hoặc chiết phế thải thu được từ quá trình thuộc
da dê (chamois) bằng dầu trong dung môi. phế thải của sự thuộc da
bằng dầu, rút ra bằng ép hoặc chiết trong dung môi. Thành phần
chất nhờn tự nhiên gồm có chính dầu ôi từ động vật có vú ở biển,
chất tựa nhựa do quá trình oxy hóa dầu, nước, chất vô cơ (xút, vôi,
sulphate), cùng với phế liệu của lông, màng hoặc da.
Chất nhờn tự nhiên có dạng lỏng rất đậm đặc gần như nhuyễn, đồng
nhất, nặng mùi dầu cá và có màu vàng hoặc nâu đậm.
Chất nhờn nhân tạo cấu tạo chính bằng dầu cá chủ yếu là dầu cá
đã oxy hoá, nhũ hoá hoặc polimer hoá (kể cả hỗn hợp của những
loại dầu này với nhau) trộn với mỡ lông, với mỡ tallow, với dầu của
nhựa v.v. và có khi với chất nhờn tự nhiên. Hỗn hợp này là chất
lỏng đậm đặc (lỏng hơn chất nhờn tự nhiên) có màu vàng, có mùi
đặc trưng của dầu cá. Chúng không gồm phế liệu của lông, màng
hoặc da. Khi đứng lắng ở trạng thái tĩnh, dầu này có xu hướng chia
thành 2 tầng, nước ở tầng đáy.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm, dầu cá chỉ oxy hoá hoặc
polimer hóa đơn thuần (nhóm 15.18), dầu đã sulphonate hóa (nhóm
34.02), những chế phẩm để bôi (nhồi) da (nhóm 34.03).
Cũng được phân loại trong Nhóm này cũng bao gồm chất nhờn thu
được từ xử lý da thuộc dầu bởi bằng dung dịch kiềm và sự kết tủa
hydroxy axit béo bằng axit sulphuric. Trong thương mại những sản
phẩm này thường dưới dạng nhũ tương.
(B) Phế thải có từ xử lý chất béo hoặc sáp động vật hoặc thực vật.
Nhóm này bao gồm:
(1) Cặn dầu. Phế thải dầu hoặc nhầy có từ lọc dầu. Chúng được
dùng để sản xuất xà phòng hoặc chất bôi trơn.
(2) Nguyên liệu sản xuất xà phòng (soap- stocks). Sản phẩm hình
thành từ sản phẩm phụ khi lọc của việc tinh chế dầu hình thành
lúc qua quá trình trung hoà axit béo tự do bằng bazơ (xút ăn da
- sodium hydroxide), và bao gồm hỗn hợp xà phòng thô và dầu
hoặc mỡ trung tính.Chúng có dạng đặc nhuyễn, có màu thay
đổi (vàng nâu nhạt, trắng nhạt, xanh nâu nhạt v.v.) tuỳ theo
nguyên liệu thô từ đó dầu được chiết. Chúng được dùng trong
sản xuất xà phòng.
(3) Hắc ín stearin hoặc nhựa stearin thu được từ chưng cất axit
béo. Nó gồm kết thành một khối dính và đen nhạt, ít nhiều khá
cứng, đôi khi đàn hồi, tan từng phần trong dầu mỏ nhẹ. Nó
được dùng để chế sản xuất matít, bìa không thấm nước và vật
cách điện.
(4) Phế thải từ chưng cất mỡ lông, nó có dạng nhìn giống hắc ín
phế thải stearin và được sử dụng với mục đích tương tự như
hắc ín stearin.
(5) Hắc ín glycerin, phế thải của chưng cất glycerin, được dùng
để hồ vải hoặc làm cho giấy không thấm nước.
(6) Đất sử dụng đã tẩy màu đã qua sử dụng có chứa chất béo
hoặc sáp động vật hoặc thực vật.
(7) Phế thải của việc lọc sáp động vật hoặc thực vật, cấu tạo
bởi là tạp chất còn giữ lượng sáp nhất định.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Tóp mỡ, phế thải màng có từ nấu chảy mỡ lợn hoặc mỡ động vật
khác nóng chảy (nhóm 23.01).
(b) Khô dầu, bã ép dư thừa và phế thải khác (trừ cặn dầu) chiết
xuất từ dầu thực vật (các nhóm từ nhóm 23.04 đến 23.06).