CHU GIAI 2022 CHUONG 90 2
hooc-môn, vitamin, kháng sinh, thuốc làm giãn
phế quản, tinh dầu, v.v...).
Một số thiết bị này cũng có thể là dụng cụ cá nhân (ống phun) lắp trực
tiếp vào bình oxy hay không khí nén hoặc lắp trong các lồng thở oxy
được mô tả ở Phần (V) trên đây. Một số khác cũng có thể là máy phun
xông khí trong các phòng khám bệnh hay bệnh viện, chủ yếu gồm một
khoang chứa một máy nén có động cơ, thiết bị đo, bản thân máy phun và
các thiết bị ứng dụng khác (mặt nạ, các vòi phun thuộc mũi, miệng, phụ
khoa, v.v...). Nhóm bao gồm loại xông khí xịt bằng tay để xịt vào răng
hoặc lợi, loại này hoạt động bằng khí gas nén trong một hộp có nắp vặn;
loại thuốc sử dụng để làm sạch miệng và điều trị bệnh chẳng hạn như
viêm quanh răng.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các
bộ phận và phụ kiện cho các dụng cụ hoặc thiết bị nhóm này cũng được
phân loại trong nhóm. Những bộ phận và phụ kiện này bao gồm lồng
chụp và các thiết bị gắn lồng chụpcho các máy trị liệu ôxy.
90.20 - Thiết bị thở và mặt nạ phòng khí khác, trừ các mặt nạ bảo hộ
mà không có bộ phận cơ khí hoặc không có phin lọc có thể
thay thế được.
(I) CÁC THIẾT BỊ THỞ
Nhóm này bao gồm các thiết bị thở được sử dụng bởi các phi công, thợ
lặn, người leo núi hay nhân viên cứu hoả. Đó có thể là các máy độc lập
(có bình oxy hay bình không khí nén mang theo) hoặc trong những
trường hợp khác, máy có thể có ống mềm nối với bộ nén khí, ống dẫn
không khí nén, bình chứa hoặc là thông với không khí bên ngoài (đối với
một số thiết bị sử dụng ở cự li ngắn).
Nhóm này cũng bao gồm mũ của thợ lặn, được gắn chặt vào áo lặn cho
kín nước và bộ đồ bảo vệ chống bức xạ hay nhiễm xạ, kết hợp với các
thiết bị thở.
(II) MẶT NẠ PHÒNG KHÍ
Thiết bị loại này cho phép người đeo hít thở an toàn trong các môi trư-
ờng bị ô nhiễm do bụi, khí độc, khói, v.v..,. và vì vậy, được sử dụng
trong một số ngành công nghiệp nhất định, hoặc trong chiến tranh
(chống hơi độc).
Đặc điểm của mặt nạ phòng độc là không khí thở được đi trực tiếp từ
bên ngoài vào, qua bộ lọc có tác dụng hấp thu khí độc hoặc cản bụi. Do
đó, chúng cần có một mặt nạ cấu tạo sao cho người đeo vẫn có thể nhìn
được, một khung bằng kim loại có các van thở ra, hít vào và một lỗ để
lắp bộ lọc hay ống mềm nối với hệ thống lọc đặt trên lưng hay trước
ngực. Cũng có những kiểu mặt nạ đơn giản hơn chỉ để che miệng và
mũi; nó được giữ bằng một hoặc nhiều ruy-băng đàn hồi và chứa vật liệu
lọc hay vật liệu hấp thu (bằng sợi a-mi-ăng, cao su xốp, bông, v.v..,. có
tẩm thuốc hay không) dễ thay thế sau khi sử dụng.
Những loại thiết bị thở hoặc mặt nạ phòng khí sau đây không thuộc
nhóm này:
(a) Mặt nạ chống bụi, mùi khó chịu, v.v..,. không được trang bị một bộ
lọc có thể thay thếnhưng lại gồm một vài lớp vải dệt tết lại với nhau,
có hoặc không phủ than hoạt tính hoặc ở giữa có lớp sợi tổng hợp,
cũng như các mặt nạ bằng vật liệu dệt mà các phẫu thuật viên, y tá,
v.v... thường dùng trong khi mổ hay chăm sóc bệnh nhân (nhóm
(b) Mặt nạ chống bụi hay các hạt bụi từ nguyên liệu, gồm một mảnh
đơn giản bằng lưới thép sợi không có bộ lọc ngoại trừ một miếng gạc
(Phần XV).
(c) Mặt nạ để tiến hành gây mê (nhóm 90.18).
(d) Mặt nạ hô hấp của thợ lặn mà không có bình ôxy hay không khí nén
cũng như các ống thở dưới nước đơn giản (thường gọi là "ống thở")
cho người lặn hay bơi (nhóm 95.06).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện của các máy móc hay dụng cụ nói trên cũng vẫn được
phân loại vào nhóm này.
90.21 - Dụng cụ chỉnh hình, kể cả nạng, băng dùng trong phẫu thuật và
băng cố định; nẹp và các dụng cụ cố định vết gẫy khác; các bộ
phận nhân tạo của cơ thể người; thiết bị trợ thính và dụng cụ
khác được lắp hoặc mang theo, hoặc cấy vào cơ thể, để bù đắp
khuyết tật hay sự suy giảm của một bộ phận cơ thể.
9021.10 - Các dụng cụ chỉnh hình hoặc nẹp xương
⦁ Răng giả và chi tiết gắn dùng trong nha khoa:
9021.21 - - Răng giả
9021.29 - - Loại khác
- Các bộ phận nhân tạo khác của cơ thể:
9021.31 - - Khớp giả
9021.39 - - Loại khác
9021.40 - Thiết bị trợ thính, trừ các bộ phận và phụ kiện
9021.50 - Thiết bị điều hoà nhịp tim dùng cho việc kích thích cơ
tim, trừ các bộ phận và phụ kiện
9021.90 - Loại khác
(I) DỤNG CỤ CHỈNH HÌNH
Được định nghĩa trong Chú giải 6 của Chương này. Các dụng cụ này
dùng để:
⦁ Phòng ngừa hay chỉnh lại những bộ phận cơ thể dị dạng; hoặc
⦁ Để trợ giúp hay giữ các bộ phận cơ thể sau khi ốm dậy, sau khi phẫu
thuật hoặc chấn thương.
Chúng bao gồm:
(1) Dụng cụ cho người bị bệnh về hông (bệnh đau khớp háng, ...).
(2) Dụng cụ nẹp xương cánh tay (để cho phép sử dụng một tay sau
khi cắt bỏ), (nẹp khi kéo giãn)
(3) Dụng cụ cho xương hàm.
(4) Các dụng cụ kéo giãn, v.v... để nắn xương ngón tay.
(5) Dụng cụ điều trị bệnh Pott (nắn đầu và cột sống) (bệnh lao cột
sống).
(6) Giày chỉnh hình và các đế giày chuyên dụng được thiết kế để
chỉnh đúng các dạng chỉnh hình, với điều kiện chúng hoặc có
thể được sản xuất ra (1) để đo hoặc (2) sản xuất hàng loạt, ở
dạng chỉ có 1 chiếc và không theo đôi và được thiết kế để vừa
với cả hai chân như nhau.
(7) Dụng cụ nha khoa dùng để chỉnh hàm răng dị dạng (niềng răng,
vành cung, v.v...).
(8) Các dụng cụ chỉnh hình bàn chân (cho người chân vẹo, nẹp
châncó hoặc không có bộ đệm cho bàn chân, ủng dùng sau phẫu
thuật, v.v...).
(9) Băng giữ (bẹn, đùi, rốn, v.v...) và thiết bị dùng cho người thoát
vị.
(10) Dụng cụ nắn cho người bị vẹo xương sống và lệch thân, cũng
như các loại áo nịt và thắt lưng nội-ngoại khoa (bao gồm cả một
số thắt lưng chống sa) được đặc trưng bởi:
(a) Các miếng đệm và lò xo chuyên dụng, v.v... có thể điều chỉnh
cho phù hợp với từng bệnh nhân.
(b) Chất liệu cấu thành (bằng da, kim loại, plastic…); hoặc
(c) Sự có mặt của các bộ phận được gia cố, các miếng vải hay băng
cứng với chiều rộng khác nhau.
Sự thiết kế chuyên dụng của các sản phẩm này cho riêng mục
đích chỉnh hình làm cho chúng khác biệt với các áo nịt hay thắt
lưng thông thường, dù các sản phẩm thông thường đó có hoặc
không có tác dụng nâng hay giữ.
(11) Băng treo chỉnh hình (không kể những loại băng treo đơn giản
bằng chất liệu dệt, đan hoặc móc...).
Cũng thuộc nhóm này còn có các loại nạng và gậy chống nạng. (Tuy
nhiên, lưu ý rằngkhông kể những loại gậy đi dạo thông thường, thậm chí
được làm đặc biệt cho người tàn tật (nhóm 66.02)).
Nhóm này còn bao gồm các thiết bị hỗ trợ đi bộ, hay còn gọi là “khung
tập đi” hỗ trợ người sử dụng khi họ đẩy lên khung này. Thiết bị này
thường gồm một khung kim loại hình ống trên 3 hoặc 4 bánh xe (một vài
hoặc tất cả các bánh xe có thể xoay được), tay cầm và phanh tay.
“Khung tập đi” có thể điều chỉnh được độ cao và có thể được lắp thêm
một ghế ngồi giữa các tay cầm và một giỏ để đựng đồ cá nhân. Ghế ngồi
giúp người sử dụng có thể ngồi nghỉ ngơi khi cần thiết.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Tất dài cho người bị giãn tĩnh mạch (nhóm 61.15).
(b) Các dụng cụ hay vật bảo vệ đơn giản để làm giảm sức ép lên một số
bộ phận nhất định của bàn chân (thuộc nhóm 39.26 khi chúng được
làm bằng plastic hay nhóm 40.14 khi chúng được làm bằng cao su
xốp gắn trên gạc có chất kết dính).
(c) Thắt lưng và các vật dụng hỗ trợ khác thuộc loại như đã đề cập ở
Chú giải 1 (b) của Chương này, ví dụ thắt lưng cho người có thai hay
trước khi sinh (thường thuộc các nhóm 62.12 hay 63.07).
d) Giày dép được sản xuất hàng loạt có chỗ gồ lên ở đế để đỡ vòm cong
ở gan bàn chân (Chương 64).
Nhóm này cũng bao gồm các dụng cụ chỉnh hình cho súc vật, như
băng thoát vị, đai thoát vị; các dụng cụ để cố định bàn chân hay cẳng
chân; dây curoa và ống đặc biệt để ngăn không cho súc vật cắn vào cũi;
băng chống sa (chống sa trực tràng, dạ con, v.v...); dụng cụ bảo vệ
sừng... Tuy nhiên, những thiết bị bảo vệ có tính chất của các vật dụng
yên cương thông thường cho súc vật (ví dụ, miếng lót bảo vệ chân cho
ngựa) khôngthuộc nhóm này (nhóm 42.01).
(II) NẸP VÀ CÁC DỤNG CỤ CỐ ĐỊNH VẾT GÃY KHÁC
Dụng cụcố định vết gãy được dùng hoặc để cố định phần bị thương tổn
của cơ thể người (để kéo giãn hoặc bảo vệ) hoặc cố định vết gãy. Chúng
cũng được sử dụng để điều trị khi sai khớp hay chấn thương khớp khác.
Một số loại được thiết kế để đặt trên cơ thể bệnh nhân (ví dụ là trường
hợp các khung nẹp bằng dây kim loại, bằng kẽm, gỗ... để cố định các
chi, nẹp bằng băng đắp thạch cao, các dụng cụ chữa gãy xương sườn, giá
đỡ lồng ngực, v.v...); những loại khác được thiết kế để gắn vào giường,
bàn hay dụng cụ hỗ trợ khác (khung bảo vệ gắn trên giường, những dụng
cụ gọi là "giãn cơ" có nẹp đứng hình ống thay thế cho khung nẹp, v.v...).
Tuy nhiên, những dụng cụ mà không thể tách rời với giường, bàn hoặc
dụng cụ hỗ trợ khác thì không thuộc nhóm này.
Theo Chú giải 1 (f) của Chương này, nhóm này còn có các phiến, đinh
ghép, v.v... do các nhà phẫu thuật đưa vào cơ thể ngườiđể ghép hai phần
xương gẫy hay những trường hợp gãy tương tự.
(III) CHI GIẢ, RĂNG GIẢ, MẮT GIẢ HAY NHỮNG BỘ PHẬN
NHÂN TẠO KHÁC CỦA CƠ THỂ
Đó là những dụng cụ để thay thế toàn bộ hay một phần cho bộ phận bị
khuyết của cơ thể và nói chung làm giống như thật. Trong số những
dụng cụ này có thể kể:
(A) Đồ dùng làm mắt nhân tạo:
(1) Mắt giả: thường làm bằng plastic hay thuỷ tinh có thêm một
lượng nhỏ ôxit kim loại để mô phỏng các đặc tính và màu sắc
của các bộ phận khác nhau ở mắt người (củng mạc, mống mắt,
con ngươi). Chúng có thể là loại đơn hay hai lớp.
(2) Thấu kính trong mắt:
Mắt giả cho ma-nơ-canh, thú, v.v...bị loại trừ (thường được
phân loại trong nhóm 39.26 hay 70.18); mắt giả được nhận dạng
là bộ phận của búp bê hoặc của con thú đồ chơi thì thuộc nhóm
95.03 hoặc thuộc nhóm 70.18 nếu làm bằng thuỷ tinh.
(B) Răng giả và các phụ kiện nha khoa, ví dụ:
(1) Răng giả đặc, thường bằng sứ hay plastic (cụ thể là nhựa
polymer acrylic). Chúng có thể là răng gắn có một số lỗ nhỏ để
đổ chất có tác dụng cố định (thông thường đó là răng hàm) hoặc
răng có móc, tức là ở mặt sau có hai móc kim loại để giữ răng
(thường là răng cửa hoặc răng nanh), hoặc răng có rãnh, còn gọi
là răng kép, tức là ở mặt sau có rãnh để có thể gài một phiến kim
loại (thông thường đó cũng là răng cửa hay răng nanh).
(2) Răng giả rỗng, cũng bằng sứ hay plastic, bên ngoài có hình răng
(răng cửa, răng nanh hay răng hàm), nhưng bên trong rỗng.
Theo cách lắp, loại này được gọi là “răng có trụ” (vì được đặt
trên một trụ kim loại nhỏ vừa khớp với chân răng cũ) hay các
“mũ răng” (được gắn chặt bằng keo nhân tạo, trên một chân răng
cụt đã sửa trước cho ăn khớp).
(3) Hàm răng giả từng phần hay toàn bộ, gồm có một tấm gắn bằng
cao su lưu hoá, plastic hay kim loại, để lắp răng giả.
(4) Các loại răng khác như: các mũ răng giả bằng kim loại đúc sẵn
(bằng vàng, thép không gỉ...) để bọc răng tự nhiên nhằm mục
đích bảo vệ; các mảnh bằng thiếc nấu chảy gọi là "thỏi răng" để
làm cho hàm răng giả nặng thêm, do đó ổn định hơn; thỏi bằng
thiếc không gỉ để gia cố tấm gán bằng cao su lưu hóa; các phụ
tùng khác dễ nhận biết là những thứ mà nha sĩ dùng để làm mũ
răng bằng kim loại và hàm răng giả (ổ, vòng, trụ, móc, lỗ...).
Lưu ý rằng, xi măng hàn răngvà các chất hàn răngkhác thuộc
nhóm 30.06; các chế phẩm gọi là "xi nha khoa" hoặc “các hợp
chất tạo khuôn răng” đã đóng gói thành bộ để bán lẻ hoặc ở dạng
phiến, dạng móng ngựa, dạng thanh hoặc các dạng tương tự; các
chế phẩm khác dùng trong nha khoa, với thành phần cơ bản là
thạch cao plaster (thạch cao nung hoặc canxi sulphat nung)thuộc
nhóm 34.07.
(C) Các dụng cụ và đồ giả khác, và như cánh tay, cẳng tay, bàn tay,
cẳng chân, bàn chân, mũi, khớp giả (ví dụ cho hông, đầu gối) và các
ống bằng sợi tổng hợp để thay thế cho các mạch máu và van tim.
Nhóm này loại trừ các mẩu xương hay da để cấy ghép, trong vật
đựng vô trùng (nhóm 30.01) và xi măng gắn xương (nhóm 30.06).
(IV) MÁY TRỢ THÍNH
Thông thường, những máy này là những thiết bị điệncó một mạch gồm
có một hay nhiều microphone (có hay không có thiết bị tăng âm), một
máy thu (ống nghe) và một bộ pin. Ống nghe có thể đặt trong tai, sau tai
hoặc có thể được thiết kế đểdùng tay áp vào tai.
Chỉ có những máy giúp những người kém thính lực thực sự mới được
phân loại vào nhóm này, vì vậy các loại máy khác như tai nghe, máy
tăng âm và các máy tương tự, sử dụng trong các phòng hội nghị hay
dùng cho điện thoại viên để nghe rõ hơn các cuộc đàm thoại, không
thuộc nhóm này.
(V) DỤNG CỤ KHÁC ĐƯỢC ĐEO, HOẶC MANG THEO, HOẶC
CẤY VÀO CƠ THỂ ĐỂ BÙ ĐẮP KHUYẾT TẬT HAY SỰ SUY
GIẢM CỦA MỘT BỘ PHẬN CƠ THỂ.
Nhóm này gồm có:
(1) Máy trợ giúp phát âm cho người bị mất dây thanh âm do bị chấn
thương hay sau khi phẫu thuật. Những máy này chủ yếu gồm một
máy phát xung điện tử. Ví dụ,khi tỳ trên vách ngoài của cổ, chúng
tạo ra bên trong yết hầu những độ rung mà bệnh nhân có thể điều
biến và tạo ra tiếng nói có thể nghe được.
(2) Các thiết bị điều hoà nhịp tim có tác dụng kích thích cơ tim trong
trường hợp tim co bóp yếu. Những máy này có kích cỡ và trọng l-
ượng chỉ nặng bằng một chiếc đồng hồ bỏ túi, thường được cấy vào
dưới da ở vùng ngực bệnh nhân. Chúng có một bộ pin điện được liên
kết với tim bằng các điện cực để phát xung kích thích tim. Các máy
điều hoà khác được sử dụng để kích thích các cơ quan khác (phổi,
trực tràng, bóng đái...).
(3) Các thiết bị điện tử để dẫn đường cho người mù. Các thiết bị này chủ
yếu gồm một máy thu - phát siêu âm có nguồn pin cung cấp điện.
Những dao động tần số theo thời gian cho phép chùm sóng siêu âm
vượt qua chướng ngại và có thể được phản hồi lại người sử dụng qua
một thiết bị thuthích hợp (ví dụ, tai nghe đặt trong) giúp cho người
mù phát hiện vật chướng ngại và ước tính khoảng cách.
(4) Các thiết bị cấy vào cơ thể để trợ lực hoặc thay thế chức năng hoá
học của một số cơ quan nhất định (ví dụ, chức năng bài tiết insulin).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện của các dụng cụ và thiết bị của nhóm này vẫn được
phân loại vào trong nhóm.
90.22 - Thiết bị sử dụng tia X hoặc tia phóng xạ alpha, beta, gamma
hoặc các bức xạ ion hóa khác, có hoặc không dùng cho mục
đích y học, phẫu thuật, nha khoa hay thú y, kể cả thiết bị
chụp hoặc thiết bị điều trị bằng các tia đó, ống phát tia X và
thiết bị tạo tia X khác, thiết bị tạo tia cường độ cao, bảng và
bàn điều khiển, màn hình, bàn, ghế và các loại tương tự,
dùng để khám hoặc điều trị (+).
⦁ Thiết bị sử dụng tia X, có hoặc không dùng cho
mục đích y học, phẫu thuật, nha khoa hay thú y, kể
cả thiết bị chụp hoặc thiết bị điều trị bằng tia X:
9022.12 - - Thiết bị chụp cắt lớp điều khiển bằng máy tính
9022.13- - Loại khác, sử dụng trong nha khoa
9022.14 - - Loại khác, sử dụng cho mục đích y học, phẫu thuật
hoặc thú y
9022.19 - - Cho các mục đích khác
⦁ Thiết bị sử dụng tia alpha, beta, gama hoặc các bức
xạ ion hóa khác, có hoặc không dùng cho mục đích
y học, phẫu thuật, nha khoa hay thú y, kể cả thiết bị
chụp hoặc điều trị bằng các loại tia đó:
9022.21 -- Dùng cho mục đích y học, phẫu thuật, nha khoa hay
thú y
9022.29 - - Dùng cho các mục đích khác
9022.30 - Ống phát tia X
9022.90 - Loại khác, kể cả bộ phận và phụ kiện
(I) THIẾT BỊ SỬ DỤNG TIA X
Yếu tố cơ bản của các máy này là bộ phận chứa một hay nhiều ống phát
tia X. Bộ phận này, thường được treo hay lắp trên một cột hay giá đỡ có
cơ cấu nâng và chỉnh hướng khác, được nạp đầy hiệu điện thế thích hợp
từ một thiết bị đặc biệt chứa một bộ lắp ráp các máy biến áp, các chỉnh
lưu, v.v.... Ngoài ra, ở hầu hết các chi tiết khác thì những đặc điểm về
cấu trúc của các máy tia X thay đổi theo mục đích sử dụng, ví dụ:
(A) Các máy Tia X để chẩn đoán bệnh. Các máy này dựa trên thực tế
về đặc tính của tia X là có thể xuyên qua các vật thể mà ánh sáng
thông thường không xuyên qua được và bị hấp thụ càng nhiều cùng
tỷ trọng của vật thể được chiếu có tỉ trọng càng lớn, gồm:
(1) Máy soi tia X (phép nghiệm huỳnh quang), trong đó, tia X
được sử dụng để soi chiếu bộ phận để kiểm tra, thì được chế tạo
để chiếu một cái bóng lên trên màn ảnh; khi mật độ hình ảnh
bóng thay đổi sẽ biểu thị tình trạng của bộ phận đó.
(2) Máy chụp tia X, sau khi các tia X ra khỏi vùng được chiếu thì
tác động vào một tấm kính ảnh hay phim ảnh và được ghi lại
trên đó. Các máy tương tự cũng có thể dùng để soi hay chụp tia
(3) Các thiết bị bao gồm máy tia X kết hợp với một máy ảnh
được thiết kế đặc biệt. Những bức ảnh mà hình ảnh của chúng
được tạo lên trên màn hình tia X, bản thân chúng cũng đã được
đặt trong máy ảnh. Nếu thiết bị và máy ảnh chuyên dụng được
trình diện đồng thời thì chúng được phân loại cùng nhau trong
nhóm này ngay cả nếu chúng được đóng gói riêng lẻ cho tiện
vận chuyển. Tuy nhiên, các máy ảnh được trình bày riêng biệt lại
được phân loại vào nhóm 90.06.
(B) Máy trị liệu bằng tia X: Người ta sử dụng đồng thời cả khả năng
xuyên thấu của tia X và tác dụng phá huỷ của nó đối với một số mô
sống để điều trị một số loại bệnh như các bệnh về da hay khối u nhất
định. Tuỳ theo chiều sâu mà tia có thể xuyên tới, để xem đó là liệu
pháp tia X bề mặt, còn gọi là "liệu pháp tia X tiếp xúc", hay “liệu
pháp tia X xuyên”.
(C) Các thiết bị tia X dùng trong công nghiệp: tia X có rất nhiều ứng
dụng trong công nghiệp. Ví dụ như chúng được sử dụng trong luyện
kim để phát hiện vị trí của những chỗ bị phồng lên trong các sản
phẩm hay để đảm bảo tính đồng nhất của hợp kim; trong ngành kỹ
thuật, để kiểm tra độ chính xác của việc lắp ráp; trong công nghiệp
điện để kiểm tra tính toàn vẹn của các dây cáp lớn hay đèn bằng thuỷ
tinh mờ; trong công nghiệp cao su để kiểm tra sự phản ứng của lớp
trong của lốp (ví dụ mức độ co giãn củavải bạt); trong các ngành
công nghiệp khác là để đo lường hay kiểm tra độ dày của vật liệu.
Đối với tất cả những ứng dụng khác nhau này, các thiết bị chủ yếu
được lắp ghép để sử dụng cho các mục đích chẩn đoán đã được mô tả
phía trên, trừ khi nó được đem trang bị với các bộ phối hợp và thiết
bị hỗ trợ cho các mục đích cụ thể.
Nhóm này bao gồm:
(1) Các thiết bị đặc biệt (máy nhiễu xạ kế tia X, phổ kế tia X) dùng
để phân tích cấu trúc tinh thể hay cấu tạo hoá học của vật chất.
Tia X bị nhiễu xạ bởi các tinh thể rồi đập vào phim ảnh hay máy
đếm điện tử.
(2) Thiết bị để kiểm tra bằng phương pháp soi tia X các loại tiền
giấy hay các chứng từ khác.
(II) CÁC THIẾT BỊ SỬ DỤNG BỨC XẠ ALPHA, BETA,
HOẶC GAMMA
Các bức xạ alpha, beta hay gamma phát ra từ một chất phóng xạ có đặc
tính phát ra các bức xạ do sự biến đổi tự phát của các nguyên tử. Chất
phóng xạ này được đặt trong một vật đựng thường là bằng thép bọc chì
(bom) có khe hở bố trí sao cho bức xạ chỉ thoát ra theo một hướng nhất
định. Bức xạ gamma có nhiều ứng dụng rất giống với tia X.
Tuỳ theo các bức xạ được sử dụng và mục đích sử dụng, cần phân biệt
một số loại sau:
(1) Các thiết bị trị liệu, trong đó nguồn phóng xạ là sự tích điện của
radium hay cobalt phóng xạ hoặc một vài đồng vị phóng xạ khác
(liệu pháp gamma).
(2) Các thiết bị để thử nghe phóng xạ, chủ yếu sử dụng trong công
nghiệp, để kiểm tra các sản phẩm kim loại mà không làm hư hại cấu
trúc của chúng.
(3) Các thiết bị gồm một dụng cụ đo như dụng cụ đo độ dàybằng tia
beta và gamma để đo dộ dày của các vật liệu (dạng lá mỏng, lớp phủ
và loại tương tự), các máy để kiểm tra các sản phẩm rất khác nhau
chứa trong các thùng hàng (dược phẩm, thực phẩm, đạn súng thể
thao, nước hoa...) hay các tốc phong kế ion hoá. Trong các thiết bị
này, những thông tin được yêu cầu thường đạt được bằng cách đo sự
thay đổi lượng phóng xạ chiếu vào vật thể khi khám xét.
(4) Các máy báo động cháy gồm một thiết bị phát hiện khói chứa một
chất phóng xạ.
Những dụng cụ và thiết bị dù có được chia độ theo thang tuỳ ý, nhưng
không có nguồn phóng xạ và chỉ đơn thuần dùng để đo hay phát hiện các
bức xạ không được phân loạivào nhóm này (nhóm 90.30).
(III) ỐNG PHÁT TIA X, THIẾT BỊ TẠO TIA X KHÁC, THIẾT BỊ
TẠO TIA CƯỜNG ĐỘ CAO, BẢNG VÀ BÀN ĐIỀU KHIỂN, MÀN
HÌNH, BÀN, GHẾ VÀ CÁC LOẠI TƯƠNG TỰ DÙNG ĐỂ KHÁM
HOẶC ĐIỀU TRỊ
Nhóm này bao gồm:
(A) Ống phát tia X:là thiết bị trong đó năng lượng điện được biến đổi
thành tia X.
Những đặc điểm của chúng thay đổi tuỳ theo mục đích sử dụng. Về
nguyên lý, chúng gồm có một catốt (cực âm) phóng ra các điện tử,
và một mục tiêu (chống lại cực âm hoặc cực dương) trên đó các hạt
điện tử va đập vào nhau và làm nó phát ra tia X. Trong một vài
trường hợp, những ống này còn có thêm các điện cực trung gian có
tác dụng làm tăng tốc độ chùm điện tử. Tất cả điện cực được đặt
trong ống hoặc đồ chứa, thường là bằng thuỷ tinh có lắp công tắc
điện phù hợp. Thông thường, bản thân ống được lồng trong một vỏ
kim loại cách điện có chứa đầy dầu nhờn. Đôi khi ống chứa khí
(gas) nhưng phần lớn là ống có độ chân không cao.
Những vỏ bằng thuỷ tinh để làm ống tia X không thuộc nhóm này
(nhóm 70.11).
(B) Các thiết bị phát tia X khác, ví dụ, những thiết bị bao gồm một
"máy gia tốc cảm ứng" để tạo nên một gia tốc cực mạnh cho chùm
điện tử, do đó sinh ra tia X có khả năng xuyên thấu rất cao. Nhưng
các "máy gia tốc cảm ứng" và các máy gia tốc "điện tử" khác, không
thích hợp để tạo ra tia X hoặc không được lắp trong thiết bị tia X thì
bị loại trừ (nhóm 85.43).
(C) Màn hình tia X. Các màn hình của máy soi tia X là các màn hình
huỳnh quang có khả năng nhận các tia phóng xạ. Lớp hoạt chất trên
bề mặtthường là bằng xianua platin - bari, sunfua - catmi hay
vonframat catmi. Thông thường, chúng cũng được bọc một lớp thuỷ
tinh - chì. Cũng có những màn hình gọi là "màn hình tăng cường",
tạo ra hình ảnhnhờ được thêm vào đèn quang hóa để làm tăng độ
sáng của hình ảnh từ các bản chụp tia X.
(D) Thiết bị tạo tia X cường độ cao, các máy này có một biến áp và
các van chỉnh lưu được đặt trong màn hình làm bằng chất cách điện,
chúng cũng có các "công tắc" cao áp có thể tháo lắp được để nối với
ống đèn tia X. Tuy nhiên, nhóm này chỉ giới hạn cho các máy thuộc
loại chuyên dụng cho các thiết bị tia X.
(E) Các bảng và bàn điều khiển tia X, thường kết hợp các dụng cụ để
kiểm soát độ dài thời gian lộ sáng và điện áp, và cũng thường gồm
cả một xạ lượng kế,tạo thành một bộ phận hoàn chỉnh của thiết bị.
Lưu ý, chỉ được phân loại vào nhóm này các bảng và bàn thuộc
loại chuyên dụng cho các thiết bị tia X.
(F) Bàn, ghế trị liệu hoặc thăm khám và các thiết bị tương tự chuyên
dùng cho các công việc liên quan đến tia X, dù là thiết bị bổ trợ
lắp vào các máy tia X hay là ở dạng sản phẩm tách biệt. Nếu chúng
được thiết kế dành riêng hoặc chủ yếu để sử dụng với thiết bị tia X,
thì những loại bàn, ghế này được phân loại thuộc nhóm này mặc dù
chúng được trình bày riêng biệt; nhưng bàn, ghế không chuyên dụng
cho các công việc liên quan tia X thì bị loại trừ (thường thuộcnhóm
Nhóm này cũng bao gồm các cột thu lôi dựa trên nguyên tắc của chất
phóng xạ.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này, (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện được công nhận là chỉ dùng hay chủ yếu dùngcho các
thiết bị tia X... cũng được phân loạivào nhóm này, có thể kể ra:
(1) Chất gắn thường là chì sợi/sợi chì để gắn vào cửa của ống đèn tia X
hay bom phóng xạ; những thiết bị này đôi khi được gọi là "thiết bị
định vị".
(2) Dụng cụ chỉnh tâm sáng: được sử dụng riêng trong trị liệu bằng tia
phóng xạ, để kiểm tra vùng điều trị bằng cách chiếu trực tiếp vào da.
Thiết bị này, cũng như các phụ kiện trước, thường được lắp ở cửa
của ống đèn tia X hay bom chứa chất phóng xạ.
(3) Bao bảo vệ là lớp vỏ bọc bằng thuỷ tinh pha chì hay các chất khác
mà cơ sở là một số loại muối cản quang. Các lớp bảo vệ này được đặt
xung quanh ốngtia X để bảo vệ cho người điều khiển khỏi bị nhiễm
xạ.
(4) Màn hay tấm chắn bảo vệ bằng thủy tinh pha chì hoặc có phủ chì
đặt giữa người điều khiển và ống tia X.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các thiết bị bảo vệ để đeo cho
người điều khiển như áo choàng và bao tay bằng cao su dát chì (nhóm
40.15) và kính bảo hộ bằng thuỷ tinh pha chì (nhóm 90.04).
Nhóm này cũng không bao gồm:
a) Kim bằng radium, và các loại ống, kim và loại tương tự chứa các
chất phóng xạ khác (Chương 28).
(b) Các tấm và phim ảnh (Chương 37).
(c) Các ống hoặc van nắn dòng, kiểu hai cực hay các kiểu khác, dùng
trong các thiết bị cung cấp điện cho thiết bị tia X (nhóm 85.40).
(d) Các thiết bị rửa âm bản chụp tia X hay chụp ảnh X quang (nhóm
90.10), và cả các thiết bị kiểm tra các âm bản đó (gồm các máy chiếu
ảnh) (nhóm 90.08 hay 90.10).
(e) Các thiết bị y tế sử dụng tia cực tímhay hồng ngoại (thiết bị trị liệu
quang hoá) (nhóm 90.18).
(f) Các dụng cụ để đo hay phát hiện phóng xạ tia X hay alpha, beta,
gamma; các dụng cụ này thuộc nhóm 90.30, trừ trường hợp chúng
được lắp vào các máy X quang.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 9022.12
Phân nhóm này bao gồm máy chụp cắt lớp vi tính do một bộ phận tự
động xử lý thông tin vi tính điều khiển để chẩn đoán toàn bộ cơ thể con
người. Đó là các hệ thống chẩn đoán qua hiển thị bằng X quang và điện
tử các lớp cắt ngang cơ thể. Các vùng cơ thể được chùm tia X quét lần
lượt từng lớp và sự biến thiên giảm dầncủa tia X chiếu vào cơ thể được
đo bằng hàng trăm thiết bị phát hiện đặt vòng quanh lồng khám, trong đó
bệnh nhân được đặt nằm trên một chiếc bàn.
Dữ liệu đo được từ bộ phận cảm biếnsẽ được bộ phận tự động xử lý
thông tin chuyển thành hình ảnh hiện trên màn hình của hệ thống. Thông
thường, các hình ảnh chụp cắt lớp được chụp bằng một camera chuyên
dụng lắp trong hệ thống và có thể ghi nhớ bằng điện từ.
90.23- Các dụng cụ, máy và mô hình, được thiết kế cho mục đích
trưng bày (ví dụ, dùng trong giáo dục hoặc triển lãm), không
sử dụng được cho các mục đích khác.
Nhóm này bao gồm một tập hợp rộng các dụng cụ, thiết bị, hay mô hình
được thiết kế không sử dụng cho mục đích nào khác ngoài mục đích
trưng bày (trong nhà trường, phòng học, triển lãm...).
Theo điều kiện này thì nhóm này bao gồm:
(1) Các máy móc và dụng cụ chuyên dụng để trưng bày, như máy
Wimshurst (cho các thí nghiệm về điện), máy Atwood (để chứng
minh các định luật về trọng lực), các bán cầu Magdebourg (để
chứng minh hiệu ứng của áp suất khí quyển), vòng Gravesande (để
thí nghiệm về sự giãn nở của nhiệt), đĩa Newton (để chỉ ra sự cấu
thành màu sắc từ ánh sáng trắng).
(2) Các mô hình giải phẫu người hay động vật (dù được hay không
đượcnối với hay lắp thêm thiết bị chiếu sáng bằng điện), các mô
hình vật thể hình học không gian, các tinh thể, v.v..., Các mô hình
loại này thường được làm từ plastic hoặc từ thành phần chủ yếu là
thạch cao.
(3) Hình nộm để tập luyện, là mô hình có thể bơm phồng lên, to bằng
người thật, có các bộ phận hô hấp nhân tạo, với những đặc tính
tương tự ở người thật, dùng để huấn luyện phương pháp cấp cứu hà
hơi thổi ngạt.
(4) Các mô hình mặt cắt ngang của những con tàu, động cơ, đầu máy,...
được cắt ra để cho thấy sự vận hành bên trong của chúng hay hoạt
động của một bộ phận quan trọng; các bảng điều khiển và sơ đồ
giảng dạy, hình nổi, có hoặc không có thiết bị chiếu sáng bằng điện,
ví dụ để tái hiện quá trình lắp ráp một đài vô tuyến điện (cho trường
huấn luyện điện báo viên vô tuyến), sự phân phối dầu bôi trơn trong
mô tơ (động cơ)...
(5) Các tủ kính, panel triển lãm, v.v..., trưng bày các mẫu nguyên liệu
thô (sợi dệt, gỗ...) hay chỉ ra các giai đoạn khác nhau của việc chế
tạo hoặc chế biến một sản phẩm (để giảng dạy trong các trường kỹ
thuật).
(6) Các mô hình... cho đào tạo pháo binh, sử dụng trong các khoá học
đào tạo được tổ chức trong phòng học.
(7) Các tiêu bản được chuẩn bị cho nghiên cứu kính hiển vi.
(8) Các hình mẫu quy hoạch đô thị, công trình kỷ niệm công cộng, nhà
cửa...(bằng thạch cao, bìa, gỗ, v.v...)
(9) Các mô hình trưng bày thu nhỏ (máy bay, tàu thuỷ, máy móc, v.v...),
thường làm bằng kim loại hay bằng gỗ (ví dụ, cho mục đích quảng
cáo, ...). Tuy nhiên cần lưu ý đến các mô hình mà chỉ thích hợp cho
các mục đích trang trí thì lại được phân loại lần lượt theo các nhóm
tương ứng của chúng.
(10) Bản đồ nổi (về các tỉnh, thành phố, các dãy núi, v.v...) các quy
hoạch nổi của các thành phố cũng như địa cầu hay bầu trời nổi, có
hoặc không được in.
(11) Các thiết bị mô phỏng xe tăng quân sự để đào tạo (cả đào tạo cao
cấp) cho người lái xe tăng. Thiết bị này cần có những thành phần
⦁ một ca bin (buồng lái) lắp trên một bệ cơ động,
⦁ một hệ thống quan sát gồm một mô hình tỷ lệ về địa hình và một
máy quay truyền hình gắn trên một cần cẩu di động,
⦁ bảng điện chỉ dẫn cho người điều khiển,
⦁ một đơn vị máy tính,
⦁ một trung tâm thuỷ lực, và
⦁ một trạm cung cấp điện.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), nhóm
này bao gồm cả các các bộ phận và phụ kiện của các dụng cụ và thiết bị
của nhóm này được phân loại trong nhóm.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các quy hoạch, bảng, biểu đồ được in ra, v.v..., dù là để giảng dạy,
để quảng cáo, v,v... (Chương 49).
(b) Các thiết bị huấn luyện bay mặt đấtthuộc nhóm 88.05.
(c) Những đồ dùngvừa để giải trí vừa trưng bày(như một số bộ mẫu
nhất định của các bộ phận cơ khí, một số đồ chơi cơ khí hay điện,
nồi hơi, cần cẩu, máy bay, đầu máy xe lửa, v.v...) (Chương 95).
(d) Mô hình tự động, v.v...của nhóm 96.18.
(e) Các vật phẩm sưu tậpthuộc nhóm 97.05.
(f) Các đồ cổ (ví dụ, sa bàn, địa cầu nổi, v.v...) đã có tuổi trên 100 năm
(nhóm 97.06).
90.24 - Máy và thiết bị thử độ cứng, độ bền, độ nén, độ đàn hồi hoặc
các tính chất cơ học khác của vật liệu (ví dụ, kim loại, gỗ,
hàng dệt, giấy, plastic).
9024.10 - Máy và thiết bị thử kim loại
9024.80 - Máy và thiết bị khác
9024.90 - Bộ phận và phụ kiện
Nhóm này gồm nhiều các loại máy móc hay dụng cụ để thử độ cứng, độ
đàn hồi, độ bền khi bị kéo, bị nén, hay các đặc tính cơ học khác của các
loại nguyên vật liệu khác nhau (ví dụ: kim loại, gỗ, bê-tông, sợi dệt và
vải, giấy hoặc bìa, cao su, plastic, da thuộc). Vì vậy, nhóm này không
bao gồm:
(a) Các dụng cụ hoặc máy móc để kiểm tra cấu trúc vật chất vi thể (ví
dụ,thiết bị nghiên cứu kết cấu kim loại và hợp kim hoặc kính hiển vi
khác - nhóm 90.11 hay 90.12) hoặc phân tích vật liệu, hay đo đạc
các đặc tính như độ xốp, sự giãn nở nhiệt,... (nhóm 90.27).
(b) Các dụng cụ hoặc thiết bị chỉ để tiến hành những công việc đo kích
thước hoặc kiểm định thông thường về chiều rộng, độ dày, v.v... (ví
dụ như các bộ phận được gia công, dây dẫn, đồ kim loại) (nhóm
(c) Các máy phát hiện lỗi, chỗ rạn nứt hay những khiếm khuyết khác
trong vật liệu (nhóm 90.31).
Các máy móc và dụng cụ thuộc nhóm này thường được sử dụng để kiểm
tra sản phẩm sau khi chế tạo trong các phòng thí nghiệm công nghiệp
hoặc trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu (thường được lựa chọn kỹ
lưỡng hoặc đúng tiêu chuẩn (mẫu thử). Chúng cũng có thể được sử dụng
trong quá trình chế tạo, khi thi công (trong các xưởng, công trường...)
hoặc kiểm tra khi giao hàng trong các kho, v.v...
Phạm vi của chúng bao gồm từ những máy móc nặng hàng tấn, hoạt
động bằng cơ, thuỷ lực hay điện cho đến những dụng cụ nhỏ xách tay,
thậm chí bỏ túi. Một số loại thông dụng(ví dụ để thử kim loại) bằng các
thiết bị đi kèm có thể tháo rời, có thể sử dụng để kiểm tra độ cứng, sức
bền khi bị kéo, uốn, v.v.... Mặc dù chúng thường vận hành theo nguyên
tắc “bắt đầu-kết thúc” (start-stop principle) nhưng một số máy có thể
làm việc theo chế độ tự động hoặc bán tự động (chẳng hạn trong trường
hợp kiểm tra sản lượng lớn đầu ra của dây chuyền lắp ráp).
Các kết quả kiểm tra có thể được xác định bằng cách đọc trực tiếp (đôi
khi cần có sự trợ giúp của thiết bịquang học đơn giản như một kính lúp,
hoặc thậm chí kính hiển vi hay một máy chiếu được gắn liền), hoặc bằng
cách kiểm tra kỹ lưỡng qua kính hiển vi mẫu vật thử nghiệm (chẳng hạn
quan sát dấu vết của viên bi trên các mẫu kim loại). Ngoài ra, một số
máy nhất định có thể cóthiết bị ghi sức căng, độ biến dạng, v.v... do vật
thử nghiệm sinh ra.
(I) CÁC MÁY MÓC VÀ DỤNG CỤ THỬ NGHIỆM KIM LOẠI.
Nhóm này đề cập đến các thiết bị và máy móc dùng cho các mục đích sau:
(A) Thử sức bền khi bị kéo đối với các mẫu thử, thanh, sợi hay cáp, lò-
xo, v.v... Việc thử này cho phép xác định tính đàn hồi và ngưỡng
đứt gẫy cũng như rất nhiều các đặc tính quan trọng khác của một
kim loại. Các máy dùng cho những thử nghiệm đó có nhiều loại
khác nhau (ví dụ vít vô tận loại dọc hay nằm ngang, hoặc các loại có
tải trọng thuỷ lực), tuy nhiên, về cơ bản mỗi thiết bị gồm có các kẹp
hay mỏ kẹp để giữ vật mẫu trong khi thử nghiệm.
(B) Thử độ cứng trên các mẫu thử, thanh (kim loại), máy đã gia công,
v.v..., độ cứng của một kim loại thể hiện ở khả năng chống sức
xuyên. Các cuộc thử nghiệm này bao gồm:
(1) Thử bằng độ lõm của bi thép (bi bằng thép cứng hay bằng các-
bua kim loại) hay thử độ cứng Brinell. Tuỳ theo máy,vết lõm
được tạo nên nhờ một đòn bẩy, một lò xohoặc một piston tạo ra
các áp lực liên tục tác động vào viên bi thép, (chứ không phải
gây va đập hoặc va đập lặp đi lặp lại); đường kính của vết bi
được đo bằng kính hiển vi.
(2) Thử độ lõm bằng mũi kim cương. Cuộc thử nghiệm này có thể
tiến hành theo phương pháp Rockwell (sử dụng máy so có mặt
số để đo độ sâu của vết lõm do mũi kim cương tạo nên), hoặc
bằng phương pháp Vickers (xác định kích thước vết lõm bằng
kính hiển vi). Ngoài ra còn có các phương pháp thử nghiệm khác
(Monotron, Shore, Knoop,.v.v...) cũng như các dụng cụ thử các
kim loại nhẹ, sử dụng các công cụ xuyên bằng thép (chẳng hạn
trường hợp áp dụng phương pháp Rockwell). Ba phương pháp
nêu trên có thể được tiến hành trên cùng một máy.
(3) Thử bằng độ nảy được thực hiện dưới sự giúp đỡ của các dụng
cụ đo độ cứng hay ghi lại độ cứng dựa vào nguyên lý kim loại
càng rắn thì độ nảy của búa càng cao khi dùng một chiếc búa
nhỏ (đầu thường là hình chóp có mũi kim cương), cho rơi từ một
độ cao đã được xác định xuống bề mặt vật mẫu thử nghiệm.
(4) Thử độ cứng bằng con lắc, dựa trên sự quan sát dao động của
một con lắc (con lắc gồm có một vật thể bằng gang đúc hình chữ
U úp ngược, ở chính giữa có treo một viên bi thép) đặt trên vật
thử nghiệm.
(C) Thử độ uốn
(1) Bằng va đập, đối với các thanh nhỏ (có hay không được xẻ
rãnh), đặt trên hai điểm tựa chịu va đập tuần hoàn do một búa
nện gây nên cho đến khi bị gãy. Sức chịu đựng tới hạn của nó
sau đó sẽ được xác định.
(2) Bằng áp lực (chủ yếu đối với các thanh), bằng cách làm biến
dạng (trong trường hợp lò-xo).
(D) Thử độ dẻo, chủ yếu áp dụng đối với kim loại dạng phiến (lá) bằng
cách đặt vào giữa mẫu thử một chiếc dùi ở đầu thường có một viên bi
thép, ấn mạnh dần vào phiến cho đến khi thủng, người ta ghi lại sự
biến dạng đầu tiên xuất hiện, qua đó đo ứng suất và độ võng tương
ứng.
(E) Thử độ gấp (đối với các phiến, thanh hay dây kim loại), thử nén
vàcắt (áp dụng chủ yếu đối với gang đúc)
(F) Thử độ mỏi các vật thử nghiệm, không chỉ chịu các lực tác động đơn
giảnnhư trong các trường hợp nêu trênmà còn chịu nhiều lực tác
động kép và thay đổi. Các cuộc thử nghiệm này được tiến hành bằng
cách sử dụng các công cụ "uốn quay" (trong đó các vật thử quay
với tốc độ lớn), máy xoắn hai chiều (trong đó hướng xoắn lần lượt
đổi chiều) hay các máy thử độ mỏivận hành bằng điện từ…
(II) CÁC MÁY MÓC VÀ DỤNG CỤ KIỂM TRA SỢI DỆT
Máy móc nhóm này thường tiến hành các cuộc kiểm tra chính như sau:
(1) Thử độ dai, độ dãn trước khi đứt, tính đàn hồi, độ bền khi bị kéo
và các thử nghiệm tương tự (các loại thử khác nhau này có thể kết
hợp được với nhau), đối với nguyên liệu như sợi thô hoặc chỉ, dây
chão hay cáp, hoặc đối với hàng dệt thông thường, đai, thắt lưng,
Những công việc thử nghiệm này được tiến hành bằng các kiểu lực
kế rất khác nhau, được đặt tên theo nguyên lý hoạt động (ví dụ lực kế
đòn bẩy cân bằng, đòn bẩy con lắc) hoặc theo nguyên liệu thường
được sử dụng nhất (ví dụ lực kế cho sợi đơn, sợi xe hay bện, cho sợi
thuỷ tinh, cuộn chỉ, vải, v.v...); hay bằng cách sử dụng các máy đo
độ giãn. Một số lực kế có thiết bị bi để thử mức độ dễ bị xuyên
thủng của vải.
(2) Các cuộc kiểm tra để phát hiện những thay đổi về kích thước của
các mẫu vải, đo độ kéo giãn hay co lại của một mẫu vải bị kéo căng
ở trạng thái khô và ở trạng thái ẩm.
(3) Thử độ sờn và độ rách, thực hiện đối với mọi thứ hàng dệt bằng
cách cọ sát (khăn trải giường, vải, khăn trải bàn, v.v...) hoặc đôi khi
thử chính bản thân sợi dệt.
Công việc thử nghiệm này được tiến hành bằng máy đo độ mòn,
máy đo độ sờn, v.v... trong đó một băng vải căng ở mức vừa phải bị
cứa mạnh bởi một dụng cụ mài (đĩa có chất mài mòn, xilanh quay có
mặt bích bằng kim loại, đĩa phay bằng thép... ). Khả năng chống sờn
và rách được xác định bằng số vòng quay cần thiết của dụng cụ mài
để làm rách vải.
Nhóm này không bao gồm các dụng cụ sử dụng để kiểm tra vật liệu dệt
(ví dụ nhất là những dụng cụ kiểm tra xem sợi có đều không, các máy đo
sức căng bề mặt để xác định độ căng của sợi khi chúng được đặt trên
khung mắc cửi, máy cuốn sợi, v.v...; các máy đo độ xoắn (xoắn kế) và
máy ghi độ xoắn của sợi (nhóm 90.31).
(III) CÁC MÁY MÓC VÀ DỤNG CỤ ĐỂ THỬ NGHIỆM GIẤY,
BÌA , THẢM LINOLEUM, PLASTIC CO DẴN
HAY CAO SU CO DÃN
Chủ yếu để thử độ bền khi bị kéo (đo khả năng kéo dài, khả năng chịu
tải, v.v...) hay mức độ dễ bị xuyên thủng. Việc thử nghiệm được thực
hiện bằng lực kế theo nguyên lý tương tự thử nghiệm hàng dệt.
Nhóm này bao gồm các thiết bị thử nghiệm khả năng chống bục, nát;
máy thử độ gấp, v.v... (ví dụ, đối với giấy); và có các đàn hồi kế, máy
đo độ nảy, thử độ bền, thử độ mòn, độ dẻo (ví dụ: đối với cao su và
nhựa).
(IV) CÁC MÁY MÓC VÀ DỤNG CỤ THỬ CÁC VẬT LIỆU KHÁC
Phần lớn các vật liệu này (như gỗ, bêtông, plastic cứng, v.v...) đều được
trải qua các cuộc thử nghiệm bằng cách kéo, uốn, đập, ép, cắt, mài ... bởi
các phương tiện máy móc và dụng cụ có nguyên lý hoạt động tương tự
những loại dùng để thử kim loại (bằng vết in bi, va đập...)
Nhóm này cũng bao gồm một số lớn dụng cụ thường là cỡ nhỏ để xác
định độ bền kéo, uốn, ép, v.v... của các vật mẫu được đúc từ cát đúc
khuôn. Nó cũng bao gồm các thiết bị để đo độ cứng của mặt khuôn hay
lõi khuôn đúc đã hoàn chỉnh.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện của các dụng cụhoặc thiết bị thuộc nhóm này cũng
được phân loại trong nhóm.
90.25 - Tỷ trọng kế và các dụng cụ đo dạng nổi tương tự, nhiệt kế, 90.25- Hydrometers
hoả kế, khí áp kế, ẩm kế, có hoặc không ghi, và tổ hợp của
chúng.
⦁ Nhiệt kế và hỏa kế, không kết hợp với các dụng cụ
khác:
9025.11 - - Chứa chất lỏng, để đọc trực tiếp
9025.19 - - Loại khác
9025.80 - Dụng cụ khác
9025.90 - Bộ phận và phụ kiện
(A) TỶ TRỌNG KẾ VÀ DỤNG CỤ ĐO DẠNG NỔI TƯƠNG TỰ
Các dụng cụ này được sử dụng để xác định, thường bằng cách đọc trực
tiếp trên một thanh chia vạch, khối lượng riêng của các chất rắn hoặc
chất lỏng hoặc một vài giá trị tuỳ ý liên quan tới khối lượng riêng (ví dụ
như nồng độ của các chất lỏng tinh khiết). Đôi lúc kết quả đọc được sẽ bị
chuyển đổi sang các đơn vị đo khác nhờ có một bảng hoán đổi.
Các công cụ loại trên thường làm bằng thủy tinh (mặc dù đôi khi có thể
bằng kim loại, ví dụ bạc niken, bạc, v.v...), một đầu nặng đựng thủy
ngân hoặc bột hạt chì. Các trọng lượng này nói chung không đổi nhưng
công cụ dùng để xác định tỷ khối của các chất lỏng có khối lượng riêng
khác nhau, đôi khi được thiết kế để các trọng lượng đó có thể bị thay đổi
hoặc một số trọng lượng phụ được thêm vào. Một số dụng cụ đo tỷ trọng
(như loại dùng để đo độ axit trong ắc quy), thì được cho vào trong một
ống thuỷ tinh. Một số dụng cụ khác kết hợp với một nhiệt kế.
Phần lớn các dụng cụ nói trên được gọi tên theo mục đích sử dụng mà
chúng đã được thiết kế, ví dụ tửu kế, thước đo đường saccharo (dùng cho
nhà máy đường, rượu, bia); dụng cụ đo độ mặn; tỷ trọng kế sữa hay
nghiệm nhã kế, các axit kế (xác định trọng lượng riêng của axít bình ắc
quy hoặc các axit khác); các tiết niệu kế. Một số khác được gọi theo tên
người phát minh (như Beaumé, Brix, Balling, Bates, Gray - Lussac,
Richter, Tralle, Sikes, Stippani ...). Tỷ trọng kế Nicholson được dùng
cho chất rắn.
Nhóm này không bao gồm:
inventor (e.g., Baumé, Brix, Balling, Bates, Gay-Lussac, Richter, Tralle,
(a) Những dụng cụ xác định trọng lượng riêng bằng các phương pháp
khác, ví dụ: kế pyknomet (các bình tỷ trọng) (nhóm 70.17), các cân
tỷ trọng hoặc thuỷ tĩnh (nhóm 90.16).
(b) Một số dụng cụ phân giải nhất định như bơ kế (để đo hàm lượng chất
béo của bơ), ure kế (đo liều lượng ure) mà không là dụng cụ nổi thì
thuộc nhóm 70.17.
(B) NHIỆT KẾ, MÁY GHI NHIỆT VÀ HOẢ KẾ
Trong những dụng cụ của nhóm này, có thể kể ra:
(1) Nhiệt kế bằng thuỷ tinh, loại có một ống bằng thuỷ tinh được
chứa đầy chất lỏng. Loại này bao gồm: Nhiệt kế dùng ở gia đình
(nhiệt kế trong phòng, ngoài trời...), nhiệt kế nổi (cho bồn tắm...),
nhiệt kế trong y tế, nhiệt kế công nghiệp (cho nồi hơi, lò, nồi hấp..),
...nhiệt kế phòng thí nghiệm (sử dụng trong calo kế,...), nhiệt kế
chuyên dụng cho khí tượng học (ví dụ như đo bức xạ mặt trời, hoặc
bức xạ đất), nhiệt kế dùng trong thuỷ văn (ví dụ như nhiệt kế đảo
dùng cho thăm dò sâu dưới biển). Nhóm này gồm một số nhiệt kế
thuỷ tinh được gọi là nhiệt kế cực đại hay cực tiểu vì chúng được
thiết kế để chỉ ra các nhiệt độ cao nhất và thấp nhấtghi được.
(2) Nhiệt kế kim loại (cụ thể là nhiệt biểu lưỡng kim sử dụng hai lưỡi
kim loại được hàn với nhau, có hệ số giãn nở khác nhau). Loại này
được dùng chủ yếu trong khí tượng học, điều hoà không khí hoặc
dùng cho mục đích khoa học hoặc công nghiệp khác; những nhiệt kế
thiết kế đặt trên xe cộ để chỉ nhiệt độ của nước trong bộ tản nhiệt th-
ường thuộc loại trên.
(3) Nhiệt kế đo độ giãn nở hoặc áp suất, với các hệ thống bằng kim
loại. Trong thiết bị này, môi trường giãn nở (lỏng, hơi hoặc khí) làm
tăng áp lực và kích thích một ống Bourdon hoặc dụng cụ đo áp suất
tương tự, sau đó làm quay một kim trên mặt chỉ báo. Phần lớn các
nhiệt kế đó được dùng trong công nghiệp.
(4) Nhiệt kế tinh thể lỏng có chứa các tinh thể chất lỏng làm biến đổi
các thuộc tính vật lý của chúng (ví dụ về màu) theo nhiệt độ.
(5) Nhiệt kế và hoả kế điện gồm:
(i) Nhiệt kế và hoả kếđiện trởvận hành theo những thay đổi điện
trở của một loại kim loại (chủ yếu là bạch kim) hoặc của vật bán
dẫn.
(ii) Nhiệt kế và hoả kế cặp nhiệt điện dựa trên nguyên tắc: đun
nóng mối hàn của hai vật dẫn điện khác nhau tạo ra một sức điện
động tỷ lệ thuận với nhiệt độ. Các hợp kim này chủ yếu là bạch
kim với bạch kim rhodium (Rh); đồng với đồng niken; sắt với
đồng niken; crôm niken với nhôm nicken.
(iii) Hoả kế bức xạ (gồm cả “quang học”) gồm nhiều loại, chẳng
hạn như:
(a) Các hoả kế, trong đó có một gương lồi hội tụ các bức xạ từ
một vật phát, ví dụ vào mối nối nóng của một cặp nhiệt
điện đặt ở tiêu điểm của tấm gương.
(b) Các hoả kế "biến dây tóc" trong đó việc đo nhiệt độ được
thực hiện bằng cách làm thay đổi độ sáng của dây tóc bóng
đèn, nhờ thiết bị có biến trở, cho đến khi độ sáng đó trùng
với độ chói của hình ảnh của nguồn kiểm soát.
Nhiệt kế và hoả kế điện đôi khi được kết hợp với một cơ cấu
điều chỉnh tự động để điều khiển hoạt động cho các lò nung, lò
vi sóng, bể lên men, v.v..., những kết hợp đó thuộc nhóm 90.32.
(6) Hoả kế lập phương trắc quang. Vùng trung tâm thị giới được tạo
nên bởi một lăng kính được một đèn dây tóc tiêu chuẩn, còn vùng
ngoài thì được vật bị nung chiếu sáng. Một đĩa thuỷ tinh có nhũ
bọccó tỷ trọng thay đổi, quay xung quanh để thay đổi cường độ ánh
sáng phát xuất từ vật bị nung nóng. Nhiệt độ được thể hiện bằng số
độ mà đĩa phải quay để cân bằng độ sáng vùng trong và vùng ngoài
của thị giới.
(7) Hoả kế quang học biến dây tóc, trong đó việc cân bằng cường độ
của hình ảnh từ lò nung và cường độ của đèn chuẩn được thực hiện
bằng cách cài vào thiết bị này một số nhíp kính màu, hoặc bằng cách
quay một lăng kính hút nhiệt có thang độtương ứng với nhiệt độ
nhất định.
(8) Kính trắc nhiệt dựa trên hiện tượng phân cực quang gồm hai
lăng kính Nicol ở giữa đặt một tinh thể thạch anh đã định cỡ. Cho
quay một trong hai lăng kính đến khi đạt được độ màu riêng biệt tại
một góc quay mà ở đó nhiệt độ được tính toán.
(9) Hoả kế dựa trên nguyên lý co lại của chất rắn (của đất sét chẳng
hạn), gồm có một đòn bẩy dao động, một tay cầm của nó di chuyển
trước một mặt số, còn tay kia tiếp xúc với một thanh truyền dùng để -
ước tính nhiệt độ.
Nhóm này cũng bao gồm những nhiệt kế "tiếp xúc" chỉ báo nhiệt độ,
và còn có một phần cơ cấu phụ có thể kích hoạt được tín hiệu điện hoặc
tín hiệu báo động, các rơle hoặc các ngắt mạch.
Hơn nữa nó còn bao gồm các nhiệt kế kim loại hoặc áp suất hơi cũng đôi
khi được gọi là hoả kế, cho phép đo được các nhiệt độ tối đa lên tới 500
đến 600oC.
Các nhiệt kế tự ký cũng thuộc nhóm này. Chúng gồm có một nhiệt kế
kết hợp với công cụ chỉ báo ghi lại các biến đổi nhiệt độ trên một tang
trống; và được điều khiển bởi chuyển động của đồng hồ cơ, điện hoặc
động cơ đồng bộ.
Nhóm này không tính các hoả kế, những công cụ loại compa, dùng để
đo độ co của một mẫu nghiệm bằng đất sét v.v... lấy ra từ lò gốm trong
quá trình nung để xác định đặc tính nung (nhóm 90.17 hoặc 90.31).
(C) KHÍ ÁP KẾ VÀ KHÍ ÁP KÝ
Đây là những công cụ dùng để đo áp suất khí quyển; những công cụ
tương tự (áp kế) dùng để đo áp suất các chất lỏng hoặc khí (lực kế) bị
loại trừ (nhóm 90.26).
Hai loại thông dụng là khí áp kế thuỷ ngân và khí áp kế dạng hộp.
Khí áp kế thuỷ ngân thông thường gồm có một ống thuỷ tinhcó chứa
thủy ngân bịt đầu trên. Một loại thì có đầu dưới ngập trong một khay đầy
thuỷ ngân, còn loại khác thì có đầu dưới của ống bị bẻ thành siphon, khi
đó áp lực không khí sẽ hoạt động ở phần mở, ngắn của ống. Trong cả
hai trường hợp, độ cao của cột thuỷ ngân trong ống thay đổi theo áp suất
khí quyển được chỉ báo bằng kim di động trên một tấm khắc thang độ,
hoặc trên một đồng hồ. Loại này bao gồm khí áp kế Fortin (khay di
động) khí áp kế siphon(có mặt đồng hồ tháo lắp được) và khí áp kế
cardan đường biển(được gắn vào các-đăng).
Trong khí áp kế dạng hộp, áp suất khí quyển tác động lên một hay
nhiều hộp kim loại cuốn sóng được xả khí hoặc trên một ống kim loại
cong vách mỏng đã hút chân không. Sự biến dạng các hộp hoặc ống
được khuyếch đại và truyền tới một cái kim chỉ để chỉ áp suất khí quyển
trên thang chia độ, hoặc biến đổi thành tín hiệu điện.
Nhóm này còn gồm:
(1) Khí áp kế đo độ cao không những dùng để chỉ báo áp suất khí
quyển mà còn cả độ cao; tuy nhiên cần lưu ý rằng nhóm này không
bao gồm các đồng hồ đo độ cao (đặc biệt là dùng cho hàng không)
chỉ dùng để báo độ cao (nhóm 90.14).
(2) Các khí áp kế, trong đó thuỷ ngân được thay bằng một chất lỏng, ví
dụ như dầu dùng nén khí chứa trong ống.
Khí áp ký là công cụ để ghi áp suất khí quyển theo cách tương tự như
nhiệt kế tự ký ghi nhiệt (xem Phần (B) ở trên).
(D)ẨM KẾ VÀ ẨM KẾ KÝ
Chúng được dùng để đánh giá độ ẩm của không khí hoặc các khí khác.
Các loại chính gồm:
(1) Ẩm kế hoá học, hoạt động dựa trên việc hấp thụ độ ẩm của các chất
hoá học và sau đó được cân lên.
(2) Ẩm kế ngưng tụ hay ẩm kế đọng sươngdùng phương pháp gọi là
"đọng sương" (tức là nhiệt độ mà tại đó hơi nước bắt đầu ngưng tụ).
(3) Ẩm kế tóc dựa trên các biến đổi chiều dài của một hay nhiều sợi
tóc hoặc thanh nhựa tuỳ theo chúng khô hay ẩm. Tóc hoặc thanh
plastic được treo trên một khung, được cân bằng một đối trọng và
được gắn trên một ròng rọc có trục mang kim di động trên mặt
đồng hồ. Trong một số dụng cụ, chuyển động đó được chuyển
thành tín hiệu điện.
(4) Ẩm kế hình xuyến lắc gồm có một ống thuỷ tinh hình xuyến, chứa
một phần thuỷ ngân, bịt một đầu bằng một màng ngăn bán thấm khi
gặp hơi nước trong khí quyển. Áp lực của hơi nước tác động trên
thuỷ ngân làm di chuyển ống thuỷ ngân xung quanh trục của một cây
kim di động trên mặt đồng hồ. Trong một số áp kế sự di động đó
được chuyển thành tín hiệu điện.
(5) Ẩm kế dây kim loại, các dây đó được cuốn theo kiểu xoáy trôn ốc
(hêlicôit) và được phủ bên ngoài bằng một chất phản ứng với độ ẩm.
Phản ứng ẩm làm thay đổi độ dài các dây kim loại. Chuyển động đó
được truyền đến một trục gắn cố định với đầu cuối của dải kim loại
và có một kim di động trên mặt đồng hồ. Trong một số áp kế, chuyển
động trên được chuyển thành tín hiệu điện.
(6) Ẩm kế điện hoạt động chủ yếu trên nguyên lý thay đổi tính dẫn điện
của các muối hấp thụ đặc biệt (ví dụ, clorua lithium) hoặc trên
nguyên lý thay đổi công suất của một dụng cụ điện theo độ ẩm.
(Những công cụ này đôi khi có thang độ để chỉ điểm đọng sương của
yếu tố được đo).
Các ẩm nghiệm được yêu thích chủ yếu có nhiều hoặc ít các đồ vật
trang trí (ví dụ các nhà gỗ, toà tháp, v.v...) với những bức tượng nhỏ
đi vào hoặc đi ra theo thời tiết dự báo tốt hay xấu, cũng được phân
loại vào nhóm này. Mặt khác, những tờ giấy thấm chất hoá học có
màu thay đổi theo độ ẩm khí quyển bị loại trừ (nhóm 38.22).
Những ẩm kế tự ký thuộc nhóm này thì giống như các ẩm kế tóc,
nhưng lại ghi các thay đổi của độ ẩm có liên quan giống như những nhiệt
kế tự ký ghi nhiệt độ (xem Phần (B) ở trên).
Nhóm này không bao gồm thiết bị xác định độ ẩm của chất cứng (nhóm
(E) THƯỚC ĐO ẨM
Thước đo ẩm là một loại ẩm kế đặc biệt, xác định dung lượng độ ẩm
theo độ chênh lệch về nhiệt độ được chỉ ra bởi (a) một nhiệt kế khô dùng
để ghi nhiệt độ không khí và (b) một nhiệt kế ẩm có bóng đèn được giữ
ẩm liên tục bằng một vật liệu thấm nước, bóng đèn này sẽ hấp thụ nhiệt
trong quá trình bốc hơi.
Các thước đo ẩm điện nói chung sử dụng những nhiệt kế trở kháng hoặc
bán dẫn thay thế các nhiệt kế không dùng điện được trang bị cho các ẩm
kế thông dụng.
Ẩm kế và hoả kế được dùng cho nhiều mục đích: trong ngành khí tượng
học (trong các đài quan trắc, trong nhà ...), trong phòng thí nghiệm, trong
các nhà máy đông lạnh, trong ấp trứng nhân tạo, điều hoà không khí (đặc
biệt trong các nhà máy dệt).
SỰ KẾT HỢP CỦA CÁC DỤNG CỤ
Nhóm này cũng gồm những sự kết hợp của các dụng cụ được đề cập
đến ở trên (ví dụ như sự kết hợp của các tỷ trọng kế, nhiệt kế, khí áp kế,
ẩm kế, thước đo ẩm), trừ khi sự bổ sung thêm một hoặc nhiều các dụng
cụ khác làm cho tổ hợp có đặc tính của thiết bị hay dụng cụ thuộc nhóm
được mô tả chi tiết hơn (ví dụ, nhóm 90.15, giống các dụng cụ đo khí t-
ượng học). Cụ thể, thiết bị sau vẫnđược phân loại vào nhóm này:
(1) Thiết bị ghi nhiệt độ - độ ẩm, các thiết bị ghi khí áp - nhiệt độ -
độ ẩm; các quang hoá kế (các dụng cụ đơn giản gồm có hai nhiệt kế
chuyên dụng được kết hợp với nhau).
(2) Thấp khí kế, tức là các dụng cụ cảnh báo băng giá, do đó được sử
dụng đặc biệt trong nghề làm vườn. Chúng chủ yếucũng gồm có hai
nhiệt kế phối hợp.
Mặt khác, nhóm này không bao gồmdụng cụ dò vô tuyến dùng để thăm
dò khí quyển (xem Chú giải chi tiết nhóm 90.15).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát) các bộ
phận và phụ kiện của những dụng cụ thuộc nhóm này cũng được phân
loại trong nhóm khi đứng riêng lẻ (ví dụ, mặt số, kim, vỏ, hoặc thước
chia độ).
90.26- Dụng cụ và máy đo hoặc kiểm tra lưu lượng, mức, áp suất
hoặc biến số của chất lỏng hoặc chất khí (ví dụ, dụng cụ đo
lưu lượng, dụng cụ đo mức, áp kế, nhiệt kế), trừ các dụng cụ
và thiết bị thuộc nhóm 90.14, 90.15, 90.28 hoặc 90.32.
9026.10 - Để đo hoặc kiểm tra lưu lượng hoặc mức của chất lỏng
9026.20 - Để đo hoặc kiểm tra áp suất
9026.80 - Thiết bị hoặc dụng cụ khác
9026.90 – Bộ phận và phụ kiện
Ngoại trừ các dụng cụ hoặc thiết bị được quy định cụ thể hơn trong các
nhóm khác của Danh mục, như:
(a) Van điều chỉnh nhiệt tĩnh và van giảm áp (nhóm 84.81);
(b) Phong tốc kế (dụng cụ đo gió) và thiết bị thuỷ học (nhóm 90.15);
(c) Nhiệt kế, hoả kế, áp kế, ẩm kế và thước đo ẩm (nhóm 90.25);
(d) Thiết bị và dụng cụ để phân tích lý, hoá... (nhóm 90.27),
nhóm này gồm các công cụ, thiết bị để đo đạc hoặc kiểm tra lưu lượng,
mức độ, áp suất, động năng hoặc các tính chất biến đổi khác của chất
lỏng hoặc khí.
Những thiết bị thuộc nhóm này có thể có các cơ cấu ghi, báo tín hiệu
hoặc cơ cấu quang học để đọc tỷ lệ, hoặc có các máy phát có thiết bị đầu
ra chạy bằng điện, khí nén hoặc thuỷ lực.
Các thiết bị đo hoặc kiểm tra thường được trang bị một bộ phận nhạy
cảm với các biến đổi của đại lượng cần đo (ví dụ như ống Bourdon,
màng ngăn, ống gió, bán dẫn) làm dịch chuyển một kim hoặc chỉ báo. Ở
một số thiết bị, các biến đổi này được biến đổi thành tín hiệu điện.
Những dụng cụ và thiết bị đo hay kiểm tra của nhóm này được kết hợp
với các vòi và van... sẽ được phân loại theo Chú giải chi tiết nhóm
(I) THIẾT BỊ ĐO HOẶC KIỂM TRA LƯU LƯỢNG HOẶC TỐC
ĐỘ DÒNG CHẢY CỦA CÁC CHẤT LỎNG HOẶC KHÍ
(A) Lưu lượng kế, là công cụ chỉ báo tốc độ dòng chảy (về thể tích hoặc
trọng lượng trên một đơn vị thời gian) dùng trong đo đạc dòng chảy
lộ thiên (sông, kênh rạch,...) và cả dòng chảy kín trong ống dẫn
(đường ống ...).
Một số lưu lượng kế sử dụng nguyên tắc của đồng hồ chất lỏng nhóm
90.28 (loại có tuabin, loại có pít tông, ...), song đa phần các thiết bị
đó đều dựa trên nguyên lý áp suất vi sai. Những thiết bị này bao
gồm:
(1) Lưu lượng kế áp suất vi sai (có độ mở cố định) chủ yếu gồm:
(i) Một dụng cụ chính nhằm tạo áp suất vi sai (ống Pitot hoặc
Venturi, màng chắnđơn giản, màng ngăn khoang tròn, ống
đã tạo dạng ...) và
(ii) Một áp kế vi sai (phao nổi, màng chắn, lực kế vòng dao
động, áp suất vi sai, thiết bị chuyển đổi lưu lượng...).
(2) Thiết bị đo lưu lượng có tiết diện thay đổi (độ mở thay đổi)
nhìn chung được tạo bởi một ống hình nón có thang chia độ chứa
phao nổi nặng mà bị dòng cuốn theo cho đến khi lưu lượng của
chất lỏng chảy qua giữa phao với thành ống đạt mức cân bằng.
Với những chất lỏng áp suất cao, sẽ sử dụng các thiết bị hoặc
thuộc loại từ tính (vị trí của phao bằng sắt trong ống không từ
tính được chỉ báo ra ngoài nhờ một nam châm), hoặc dưới dạng
supáp (một màng ngăn cầu vồng đặt trong ống được tiếp xúc
song song với một lưu lượng kế nhỏ).
(3) Lưu lượng kế sử dụng từ trường, siêu âm hoặc nhiệt.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Bánh guồng thủy văn để đo tốc độ dòng chảy trên sông, rạch,
v.v… thuộc nhóm 90.15 được xem như các dụng cụ thuỷ văn.
(b) Thiết bị chỉ báo tổng lưu lượng chất lỏng chảy trong một thời
gian đã định và được xem nhưcác thiết bị đo chất lỏng được
cung cấpthuộc nhóm 90.28.
(B) Các phong tốc kế của các loại chuyên dụng dùng ghi tốc độ lưu
lượng của các dòng không khí trong các hầm mỏ, đường hầm, ống
khói, lò nung và các đường ống nói chung, và thường gồm một quạt
cánh và một mặt đồng hồ có thang độ. Trong một số thiết bị, các trị
số đo được chuyển thành tín hiệu điện.
(II) THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ ĐO HOẶC KIỂM TRA MỨC ĐỘ
CHẤT LỎNG HOẶC KHÍ
Các dụng cụ chỉ báo mức độ chất lỏng hoặc hàm lượng của khí kế.
Các dụng cụ chỉ báo mức độ chất lỏnggồm có:
(1) Chỉ báo loại phao nổi, có thể cho biết kết quả trực tiếp trên cột chia
độ lắp trên phao nổi hoặc kết quả có thể được dẫn tới một kim đồng
hồ đo bằng dây cáp và tang trống hoặc được chuyển sang tín hiệu
điện.
(2) Loại có phao hơi và thuỷ tĩnh dùng để đo mức trong các thùng
chứa dưới áp suất nhờ một lực kế vi sai.
(3) Loại có ánh sáng hai màu, cho các nồi hơi, dựa trên sự chênh lệch
các chỉ báo khúc xạ của nước và hơi, chúng gồm một bộ bóng đèn,
màn hình màu, một hệ thống quang học và một dụng cụ chỉ báo chỉ
ra các màu khác nhau tương ứng với các độ khúc xạ khác nhau của
nước và hơi.
(4) Loại dùng điện, ví dụ dựa trên những biến đổi về điện trở, điện dung
hoặc dùng siêu âm...
Nhóm này không chỉ đề cập đến các chỉ báo mức trong các bể chứa kín
mà còn trong cả các bể hoặc kênh lộ (nhà máy thuỷ điện, hệ thống tưới
tiêu...)
Để xác định dung lượng của một khí kế, người ta đo mức của bình khí
hoặc trực tiếp, hoặc từ một kim chỉ số kết nối với bình khí bằng dây cáp
và tang trống.
Các thiết bị đo hoặc kiểm tra mức độ các chất rắn bị loại trừ (các nhóm
90.22 hoặc 90.31 tuỳ theo từng trường hợp).
(III) THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ ĐO HOẶC KIỂM TRA ÁP SUẤT
CHẤT LỎNG HOẶC KHÍ
Các dụng cụ đo áp suất (ví dụ các áp kế) là những thiết bị để đo áp suất
một chất lỏng hoặc một chất khí. Khác với khí áp kế ở chỗ khí áp kế đo
áp suất khí quyển tự do, còn áp kế đo áp suất chất lỏng hoặc khí chứa
trong không gian kín. Có những loại áp kế chính sau đây:
(1) Áp kế chất lỏng (thuỷ ngân, nước hoặc chất lỏng khác, hoặc cả hai
chất lỏng không thể hoà tan với nhau). Chất lỏng chứa trong ống
thuỷ tinh hoặc kim loại; áp kế nàycó thể là loại chỉ có một cột, loại
ống hình chữ U, loại cột nghiêng, hoặc có nhiều cột, hoặc lực kế
vòng dao động.
(2) Áp kế kim loại, cũng giống như khí áp kế hộp, có thể có một màng
đơn hay nhiều màng, một vỏ bọc, một ống Bourdon hoặc một ống
kim loại hình xoắn ốc hoặc một thành phần nhạy cảm với áp suất.
Thành phần đó có thể làm chuyển động trực tiếp một kim hoặc thay
đổi một tín hiệu điện.
(3) Áp kế piston, trong đó áp suất tác động hoặc trực tiếp, hoặc có khi
thông qua màng ngăn lên một piston được gắn hoặc nén bằng một lò
(4) Áp kế điện dựa trên các biến đổi hiện tượng điện (ví dụ điện trở hoặc
công suất) hoặc dùng siêu âm.
Các thước chân không để đo các áp suất rất thấp, gồm cả loại thước
ion hoá có ống chân không nhiệt (triode). Trong đó ion dương được
sinh ra do va chạm các điện tử với các phân tử khí còn lại đều bị hút
về phía bản âm. Nếu được trình bày tách rời, các ống nhiệt chân
không (triode) bị loại trừ (nhóm 85.40).
Nhóm này cũng bao gồm các áp kế cực đại và cực tiểu. Trong các áp
kế vi sai dùng để đo chênh lệch về áp suất, bao gồm các loại: áp kế hai
chất lỏng, áp kế phao nổi, lực kế vòng lắc, màng, vỏ bọc, bi (không có
chất lỏng),v.v...
(IV) CÔNG TƠ NHIỆT
Các công tơ nhiệt dùng để đo các đại lượng nhiệt tiêu thụ trong một
thiết bị (ví dụ hệ thống đun nước nóng). Gồm chủ yếu một thiết bị đo
chất lỏng được cung cấp, hai nhiệt kế được đặt lần lượt tại đầu vào và
đầu ra của ống dẫn và một cơ cấu đếm và tính tổng. Công tơ ngẫu nhiệt
cũng thuộc nhóm này.
Các công tơ nhiệt nhỏ dùng trong các nhà tập thể và được lắp trên các bộ
toả nhiệt để chia đều chi phí đun chung giống như một nhiệt kế và chứa
một chất lỏng bốc hơi dưới tác dụng của nhiệt.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các
bộ phận và phụ kiện của các thiết bị hoặc dụng cụ được trình bày tách
rời vẫnđược phân loại ở đây. Ví dụ của các thiết bị ghi đồ họa riêng
biệt(kể cả khi việc ghi được tiến hành theo chỉ số của nhiều dụng cụ đo
hoặc kiểm tra và các máy ghi), có hay không được gắn với thiết bị phát
tín hiệu, chọn lọc sơ bộ hay điều khiển.
90.27 - Dụng cụ và thiết bị phân tích lý hoặc hóa học (ví dụ, máy đo
phân cực, đo khúc xạ, quang phổ kế, máy phân tích khí hoặc
khói); dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra độ nhớt, độ xốp,
độ giãn nở, sức căng bề mặt hoặc các loại tương tự; dụng cụ
và thiết bị đo hoặc kiểm tra nhiệt lượng, âm lượng hoặc ánh
sáng (kể cả máy đo độ phơi sáng); thiết bị vi phẫu.
9027.10 - Thiết bị phân tích khí hoặc khói
9027.20 - Máy sắc ký và điện di
9027.30 - Quang phổ kế, ảnh phổ và quang phổ ký sử dụng bức
xạ quang học (tia cực tím, tia có thể nhìn thấy được, tia
hồng ngoại)
9027.50 - Dụng cụ và thiết bị khác sử dụng bức xạ quang học (tia
cực tím, tia có thể nhìn thấy được, tia hồng ngoại)
- Dụng cụ và thiết bị khác:
9027.81 - - Khối phổ kế
9027.89 - - Loại khác
9027.90 - Thiết bị vi phẫu; các bộ phận và phụ kiện
Nhóm này bao gồm:
(1) Các phân cực kế, dùng để đo góc quay của mặt phẳng phân cực
một tia sáng khi xuyên qua một chất hoạt động quang học. Chúng
thường có một nguồn sáng, một dụng cụ quang học gồm lăng kính
phân cực và lăng kính phân tích, một giá đựng ống để chứa vật
chất cần phân tích, một kính quan sát và một thang đo.
Phân cực kế điện tử ngoài những chi tiết quang học cần thiết của
một phân cực kế truyền thống, còn có một tế bào quang điện.
(2) Dụng cụ phân tích bản ảnh để phân tích ánh sáng bị phân cực
thẳng hoặc theo hình ê-líp.
(3) Dụng cụ đo nồng độ đường, những phân cực kế đặc biệt dùng để
xác định hàm lượng đường trong các dung dịch ngọt.
(4) Khúc xạ kế dùng để xác định chỉ số khúc xạ của các chất lỏng
hoặc rắn (là một trong những hằng số quan trọng nhất để đánh giá
độ tinh khiết các chất). Gồm chủ yếu một hệ thống lăng kính, kính
quan sát và đọc, một thiết bị điều chỉnh nhiệt độ (vì nhiệt độ có
ảnh hưởng rất lớn đến chỉ số khúc xạ). Chúng được sử dụng rộng
rãi, cụ thể là trong các ngành công nghiệp thực phẩm (kiểm tra các
loại dầu, bơ và chất béo khác, phân tích các loại mứt và nước hoa
quả, v.v...), trong công nghiệp thuỷ tinh, lọc dầu, trong sinh học
(đo hàm lượng prôtêin trong huyết tương hoặc các chất tiết ra,...).
Phần lớn các khúc xạ kế đều đặt trên một giá đỡ hoặc đế; những
loại khác thì để cầm tay, một số cấu tạo để gắn vào các thành của
các bể chế tạo.
(5) Các phổ kế để đo bước sóng của các tia phổ phát xạ hoặc phổ hấp
thụ. Chúng cần có một ống chuẩn trực có khe điều chỉnh được (là
nơi mà ánh sáng cần phân tích sẽ đi qua), một hay nhiều lăng kính
thuỷ tinh định hướng được, một kính quan sát và một bàn lăng trụ.
Một số quang phổ kế (cụ thể được dùng để phân tích tia hồng
ngoại hoặc cực tím) dùng các lăng kính hoặc mạng nhiễu xạ.
Nhóm này bao gồm: kính quang phổ để quan sát phổ; các quang
phổ kýđể ghi phổ trên một tấm ảnh hoặc phim (phổ đồ); các đơn
sắc kế, dùng chủ yếu để tách một tia nào đó của phổ hoặc để tách
các phần nhất định trong phổ liên tục.
Nhưng nhóm này không bao gồm các kính thiên văn quang phổ
và các quang phổ ký dùng trong quan sát mặt trời (nhóm 90.05);
các máy chiếu quang phổ để kiểm tra một quang phổ đã được
khuyếch đại chiếu, trên màn hình (nhóm 90.08); các kính hiển vi
vi kế và các máy so sánh quang phổ có các kính hiển vi (để nghiên
cứu so sánh các phổ ký bằng quan sát quang học) (nhóm 90.11) và
các dụng cụ phân tích phổ để đo hoặc kiểm tra các đại lượng điện
(nhóm 90.30).
(6) Các phổ ký trọng lượng và các thiết bị tương tự dùng chủ yếu để
phân tích cấu tạo đồng vị v.v... của các chất. Song các thiết bị để
tách đồng vị bị loại trừ (nhóm 84.01).
(7) Các dụng cụ đo màu - sắc kế. Từ này áp dụng cho hai loại dụng
cụ khác nhau. Loại thứ nhất dùng để xác định màu của một chất
(lỏng hoặc rắn), bằng cách ghép trùng hợp màu của chất đó với
màu của một hỗn hợp đạt được bằng những tỷ lệ biến đổi nhưng
đo được của ba màu cơ bản (đỏ, lục và xanh). Loại thứ hai dùng
trong các phân tích hoá học hoặc sinh hoá để xác định nồng độ
(đậm đặc) của một chất có trong một dung dịch bằng cách so sánh
màu của chất (hoặc màu của chất đó sau khi xử lý bằng một thuốc
thử) với màu các tấm chuẩn hoặc chất lỏng chuẩn. Trong một loại
sắc kế thuộc loại thứ hai, một dung dịch để thử nghiệm và một
dung dịch chuẩn được chứa trong 2 ống nghiệm, mà có thể được
xem xét nhờ hai lăng kính qua một thị kính. Một số sắc kế nhất
định thì dựa trên việc sử dụng các tế bào quang điện. Một vài công
cụ khác của loại đó dùng một dải giấy, nhúng thuốc thử làm thay
đổi màu sau khi phản ứng với một loại khí. Những công cụ đó gồm
hai tế bào quang điện, một để đo màu trước và một đo màu sau
phản ứng với khí.
Nhóm này cũng bao gồm các sắc kế có thể kèm theo những thiết bị
phân tích quang học khác như: máy đo độ đục (xác định độ đục
trong các dung dịch), hấp thụ kế, huỳnh quang kế (để xác định
huỳnh quang được dùng rộng rãi cho việc phân tích hàm lượng
vitamin, alkaloid...), khí cụ đo độ trắng và khí cụ đo độ mờ
(chuyên dùng để đo độ trắng, độ mờ và độ sáng chói trong bột
giấy, giấy...).
(8) Các thiết bị phân tích khí hoặc khói để phân tích khí đốt hoặc sản
phẩm phụ (khí đã đốt) cụ thể là trong các lò than cốc, máy chế khí
than, các lò cao... để xác định hàm lượng của các axit carbon
dioxit/khí carbonic, carbon monoxit, oxy, hydro, nitơ hoặc các hợp
chất hữu cơ. Các thiết bị điện phân tích khí và khói được dùng chủ
yếu trong các nhà máy để đo thành phần các khí sau đây: khí
cacbonic (carbon dioxit), carbonmonoxit và hydro, oxy, hydro,
sunphurơ, amoniac.
Một vài thiết bị đó hoạt động bằng cách xác định phân lượng thể
tích các khí đã đốt hoặc bị hấp thụ bởi những chất hoá học thích
hợp, chủ yếu gồm:
(i) Dụng cụ orsat, gồm chủ yếu một chai/lọ hút khí, một hoặc
nhiều ống hút hoặc ống đo.
(ii) Dụng cụ đốt hoặc nổ gồm thêm một ống đốt hoặc nổ (ống
nhỏ bằng bạch kim, ống bằng sợi bạch kim hoặc palladium
(Pd) có bộ phận đánh lửa cảm ứng...)
Các loại đó còn có thể phối hợp với nhau.
Trong những kiểu khác, người ta thao tác theo tỷ trọng hoặc bằng
ngưng tụ và chưng cất từng phần, hoặc còn dựa trên các nguyên lý
sau đây:
(i) Tính chất dẫn nhiệt của một khí
(ii) Hiệu ứng nhiệt của các khí đốt trên một điện cực (ví dụ hỗn
hợp carbon monoxit với hydro trong các khí thải).
(iii) Hấp thụ có chọn lọc các tia cực tím, quang phổ nhìn được,
hồng ngoại hoặc vi sóng bằng một khí cần nghiên cứu.
(iv) Chênh lệch độ thấm từ của các khí.
(v) Phản ứng phát quang hoá học giữa khí với một thành phần của
khí phụ thích hợp.
(vi) Ion hoá hydrocarbon bằng ngọn lửa hydro.
(vii) Chênh lệch giữa độ dẫn điện của một thuốc thử chất lỏng
thích hợp trước khi và sau khi phản ứng với chất khí.
(viii) Phản ứng điện hoá trong các tế bào với dung dịch điện phân
hoặc chất rắn (đặc biệt ôxit zircon để phân tích oxy).
Lưu ý rằng, nhóm này gồm có các thiết bị phân tích khí hoặc
khói để sử dụng trong sản xuất công nghiệp (tức là được nối trực
tiếp với các lò nung, các lò chế khí đốt, v.v...) Nhưng những
dụng cụ phân tích khí chỉ giản đơn bằng thuỷ tinh trong phòng thí
nghiệm thuộc nhóm 70.17.
(9) Các máy dò khói điện tử, dùng cho lò nung, lò đốt ... ví dụ những
máy mà trong đó, một chùm tia sáng (hoặc hồng ngoại) được chiếu
trực tiếp lên trên một tế bào quang điện. Tuỳ theo mật độ của làn
khói, sự di chuyển của chùm tia này qua làn khói sẽ gây ra những
thay đổi trong dòng của mạch tế bào quang điện, do đó làm vận
hành một dụng cụ chỉ báo có thang chia độ hoặc một hệ thống ghi
và trong một số trường hợp nhất định thì là van điều chỉnh. Những
khí cụ đó có thể được trang bị một thiết bị báo động.
Các máy dò khói bằng điện chỉ trang bị một cơ cấu báo động duy
nhất thuộc nhóm 85.31.
(10) Máy đo khí nổ mỏ than và dụng cụ phát hiện khí khác (ví dụ
cho khí CO2). Các thiết bị này có thể mang theo được để dò khí
khác trong các hầm mỏ, đường hầm, để phát hiện rò rỉ trong đường
ống,...
(11) Thiết bị đo bụi trong các khí. Các thiết bị này hoạt động bằng
cách đưa một lượng khí nhất định qua một đĩa lọc được cân đo
trước và sau khi kiểm tra. Nhóm này bao gồm các bụi kế/ thiết bị
đo bụi, để đo hàm lượng bụi trong không khí và để kiểm tra các
mặt nạ chống bụi, bộ lọc..., chúng gồm có chủ yếu một khoang bụi
bọc kính đen, một nguồn sáng, một đầu quang kế có cơ cấu lăng
kính đo và vòng tròn thang độ để đọc các góc quay.
(12) Thiết bị đo hàm lượng oxy để xác định oxy đã hoà tan trong các
chất lỏng bằng việc sử dụng một tế bào phân cực hoặc bằng phản
ứng hoá học giữa tali (Tl) với oxy hoà tan (đo sự thay đổi trong độ
dẫn điện phân giải).
(13) Dụng cụ phân cực để xác định các thành phần của chất lỏng,
ví dụ cặn kim loại hoà tan trong nước bằng việc đo và đánh giá
hệ thức dòng điện/điện trở của các điện cực nhúng trong dung
dịch.
(14) Dụng cụ phân tích bằng hoá ẩm để xác định các thành phần hữu
cơ hoặc vô cơ của chất lỏng, ví dụ cặn kim loại, phosphate, nitrat,
clorua, hoặc các tham số tổng hợp như "nhu cầu oxy hóa
học(COD)" hoặc "tổng hàm lượng của carbon hữu cơ (TOC)".
Thiết bị phân tích gồm một máy chuẩn bị mẫu phân tích, máy phân
tích có các điện cực nhạy cảm với ion, các quang kế hoặc phân cực
ký và một cơ cấu điều chỉnh trong các dụng cụ phân tích tự động.
(15) Các thước đo nhớt và loại tương tự dùng để xác định độ nhớt
(tức là: ma sát trong của chất lỏng).
Chúng có thể dựa trên:
(i) Nguyên lý của ống mao quản, việc đo thời gian yêu cầu khi chất
lỏng chảy qua ống dưới áp lực không đổi (thiết bị đo độ nhớt
(ii) Hiệu ứng ma sát giữa một chất rắn và một chất lỏng.
hoặc (iii) Bằng phương pháp đo thời gian rơi của viên bi qua một môi
trường lỏng.
(16) Các phân cực nghiệm(thiết bị quan sát biến dạng) để đo các
biến dạng bên trong của thuỷ tinh (các biến dạng là kết quả của các
quá trình làm dai, tôi, hàn..., mà dễ làm cho thuỷ tinh vỡ ra).
Chúng cần có một khoang trong đó có chứa một đèn điện, một
thiết bị phát tán ánh sáng, một bộ phân cực và một kính quan sát
phân cực. Các ứng suất trong thuỷ tinh được chỉ ra như các màu
sắc sáng chói.
(17) Dụng cụ đo độ giãn nở để đo các giãn nở hoặc co ngót của các
vật liệu như thép, hợp kim, than luyện ..., xảy ra theo các thay đổi
của nhiệt độ. Các dụng cụ đó thường là loại tự ghi (việc ghi cơ học
trên đồ thị hoặc bằng chụp ảnh).
(18) Dụng cụ xác định độ xốp hoặc độ thấm (đối với nước, không khí
hoặc các chất khí khác, v.v...), được gọi là máy đo độ xốp hoặc
máy đo độ thấm (không nên nhầm với các dụng cụ đo độ từ thẩm
của các chất). Chúng được dùng cho các chất như giấy, sợi dệt,
vải, plastic, da thuộc, cát, v.v...
(19) Dụng cụ để đo sức căng bề mặt hoặc mặt tiếp xúc của các chất
lỏng (ví dụ, cân xoắn). Sức căng bề mặt hoặc mặt tiếp xúc của
chất lỏng được xác định bằng một trong ba yếu tố sau: trọng lượng
một giọt nước rơi từ một ống mao quản cho trước (hoặc một số
giọt có thể tích đã biết) (phương pháp trọng lượng giọt); chiều cao
tăng lên tự do của chất lỏng trong ống mao quản có đường kính đã
định(phương pháp chiều cao mao dẫn); hoặc lực cần thiết để kéo
một vòng nhẫn ra khỏi mặt chất lỏng ngâm nó.
(20) Các dụng cụ (thẩm thấu kế) xác định áp suất thẩm thấu, có
nghĩa là áp suất xuất hiện khi hai chất lỏng có thể hoà trộn được
tách khỏi nhau bằng một màng ngăn có độ thẩm thấu theo từng
phần nhưng không đều với hai chất lỏng đó.
(21) Dụng cụ thử dầu mỏ và các dẫn xuất từ dầu (cũng như các nhựa
đường, bitum, asphalt). Chúng bao gồm các thiết bị để xác định
điểm chớp cháy, điểm đông, điểm thành keo, điểm chảy, điểm
rơi..., của dầu khoáng, điểm chảy của sáp paraphin, hàm lượng
nước, hàm lượng cặn, hàm lượng lưu huỳnh, độ quánh mỡ và nhựa
đường, điểm đục, điểm đông lạnh,...
(22) Thước đo nồng độ pH và các khí cụ đo thế năng oxy hoá khử
(thước rH). Thước pH thường để đo một đại lượng trong đó đánh
giá tính chất axit hay kiềm của một dung dịch hoặc hỗn hợp (nước
tinh khiết biểu hiện tiêu chuẩn trung tính). Thước rH dùng để đo
khả năng oxy hoá hoặc giảm oxy hoá của một dung dịch. Các khí
cụ trên sử dụng nhiều nguyên lý khác nhau; trong đó thường dùng
nhất là loại dùng hệ thống đo điện, dựa trên việc dùng các điện cực
tạo ra các hiệu điện thế tỷ lệ thuận với nồng độ pH hoặc rH của
dung dịch. Những khí cụ đó không những dùng để đo mà còn làm
chức năng điều chỉnh tự động.
(23) Dụng cụ sử dụng hiện tượng điện di, dựa trên sự thay đổi nồng
độ được tạo ra trong một dung dịch khi một dòng điện một chiều
đi qua. Các hạt tích điện di chuyển theo các tốc độ khác nhau tuỳ
theo từng loại sản phẩm.
Các công cụ đó thường tích hợp một dụng cụ quang trắc, dụng cụ
quang trắc này có một tế bào quang điện, và một vi ampe kế được
chia thang độ trực tiếp theo đơn vị của mật độ quang học. Dùng
chủ yếu cho phân tích các dung dịch khác nhau (protein, axit
amin,...), nghiên cứu các chất như plasma, hormone, virut,
enzyme…hoặc nghiên cứu các hiện tượng polyme hoá.
(24) Các sắc ký (ở thể lỏng, thể khí, thể ion hoặc từng lớp mỏng) dùng
để xác định các thành phần của khí hoặc chất lỏng. Khí hoặc chất
lỏng được phân tích thì đi qua những cột hoặc lớp mỏng của một
chất hấp thụ, sau đó được đo bởi một máy dò. Thời gian truyền
qua các cột hoặc các lớp mỏng của chất hấp thụ chỉ ra các đặc tính
của các khí hoặc chất lỏng cần phân tích, trong khi cường độ tín
hiệu đầu ra của máy dò chỉ ra định lượng của các thành phần khác
nhau cần phân tích.
25) Các công cụ chuẩn độ điện tử sử dụng các điện cực đo để chuẩn
độ nước, muối bạc, halogen, v.v....
(26) Các công cụ phân tích - đôi khi được gọi là "ẩm kế dùng cho chất
rắn” dựa trên hằng số điện môi các chất, truyền dẫn điện, năng
lượng điện từ hấp thụ hoặc tia hồng ngoại của các chất.
(27) Dụng cụ đo tính dẫn điện để xác định độ dẫn điện phân giải hoặc
nồng độ muối, axit hoặc bazơ hoà tan trongcác chất lỏng.
(28) Các vi quang kế và mật độ kế tế vi bằng tế bào quang điện để
đo mật độ các phim phổ ký và để phân tích tất cả các hiện tượng
được ghi trên một nhũ tương ảnh.
(29) Các quang kế dùng để đo cường độ ánh sáng. Đặt ánh sáng cần đo
và nguồn ánh sáng chuẩn sao cho chúng chiếu lên một mặt phẳng
cho trước với cùng một cường độ - thay vì so sánh cường độ hai
ánh sáng, người ta so sánh các phổ tương ứngcủa chúng bằng cách
sử dụng quang phổ kế.
Quang kế được sử dụng rất nhiều trong các quá trình quang học
hoặc các phân tích khác nhau (để xác định nồng độ, độ sáng, độ
trong suốt của các chất rắn; độ phơi sáng của các tấm hoặc phim
ảnh (vi quang kế); độ đậm nét màu sắc trong suốt hoặc đục của các
chất rắn hoặc của các dung dịch.
Một số quang kế dùng trong nhiếp ảnh hoặc làm phim được biết
đến như các dụng cụ đo thời gian lộ sáng và được dùng để đo
thời gian phơi sáng hoặc xác định độ mở ống kính máy ảnh.
(30) Các lux kế (dùng để đo độ sáng, bằng đơn vị “lux”, của một
nguồn phát sáng).
(31) Các nhiệt lượng kế dùng để đo các số lượng nhiệt bị hấp thụ hoặc
thoát ra bởi một chất rắn, lỏng hoặc khí. Trong đó có các loại
chính sau:
(A) Nhiệt lượng kế nước đá (Nhiệt lượng kế Bunsen) dựa trên
các biến đổi thể tích được tạo ra khi nước đá tan chảy. Gồm có
một ống thử được bao quanh bằng nước đá, ngâm trong một
bể đầy nước và một ống nhỏ có thang độ chứa thuỷ ngân.
(B) Nhiệt lượng kế nung (Nhiệt lượng kế Berthelot) dựa trên
nguyên lý chuyển đổi các đại lượng nhiệt. Chúng gồm chủ yếu
một bình đo nhiệt lượng bên trong có chứa đầy nước đặt trong một
chậu cũng chứa nước; chúng được lắp với những nhiệt kế và thiết
bị quấy. Dựa trên nguyên lý đó, có hai loại nhiệt lượng kế:
(i) Nhiệt lượng kế xác định nhiệt đặc biệt của các khí hoặc
nhiên liệu chất lỏng. Trong các dụng cụ này người ta cho
nước chảy qua một khoang ở đó đốt cháy một lượng khí
hoặc chất lỏng và đo chênh lệch nhiệt độ của nước lúc vào
và lúc ra.
(ii) Nhiệt lượng kế bom, dùng để xác định lượng nhiệt đốt vật
liệu, gồm một bình thép (bom), chứa một chất rắn hoặc
lỏng được xác định dùng để thử nghiệm và cả oxy dưới áp
suất. Bằng một dụng cụ thích hợp, người ta tạo ra việc đốt
mẫu thử trong oxy và lượng nhiệt thoát ra được xác định
bằng cách đặt bom đó trong một nhiệt lượng kế nước.
Cùng nằm trong các nhóm này là các nhiệt lượng kế sử dụng
trong công nghiệp; chúng được lắp vào các lò sản suất khí với
công suất calo đã được xác định. Tuy nhiên, nếu các dụng cụ đó
được nối với những thiết bị điều chỉnh có chức năng duy trì hỗn
hợp khí ở mức công suất calo theo mong muốn thì bị loại trừ
(thường thuộc nhóm 90.32).
(32) Khí cụ nghiệm lạnh và khí cụ nghiệm sôi, trừ loại có đặc tính của
đồ thuỷ tinh dùng trong phòng thí nghiệm (nhóm 70.17).
(33) Dụng cụ và thiết bị dùng trong phòng thí nghiệm lâm sàng để xét
nghiệm chẩn đoán in vitro.
Nhóm này cũng gồm các dao vi cắt dùng để cắt thành mảnh cực mỏng
trong thực hành kính hiển vi, có độ dày đã định theo các mẫu của các
chất cần nghiên cứu. Trong số đó có dao vi cắt thủ công (kiểu lưỡi dao
cạo), dao vi cắt quay, dao vi cắt lạng (trên mặt phẳng hoặc mặt phẳng
nghiêng).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các
bộ phận hay phụ kiện của những dụng cụ hay máy móc nói trên cũng
được phân loại vào nhóm này miễn là có thể nhận biết rõ là chúng được
dùng hoàn toàn hay chủ yếu cho những dụng cụ hay máy móc đã được
kể ở trên.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Những thiết bị dùng trong phòng thí nghiệm (bình pha lê có vòi, lọ,
ống thổi, tách, chậu,... và tương tự) bằng vật liệu chịu lửa (nhóm
69.03) và những mặt hàng tương tự bằng vật liệu gốm khác (nhóm
(b) Dụng cụ thuỷ tinh trong phòng thí nghiệm (nhóm 70.17) (xem thêm
các miêu tả chi tiết dưới đây).
(c) Các kính hiển vi (nhóm 90.11 hoặc 90.12).
(d) Các cân chính xác (nhóm 90.16).
(e) Máy tia X, v.v... (nhóm 90.22).
(f) Các thiết bị trưng bày (nhóm 90.23).
(g) Máy và thiết bị để thử một số vật liệu (nhóm 90.24).
(h) Các tỷ trọng kế, nhiệt kế, ẩm kế và các dụng cụ tương tự khác thuộc
nhóm 90.25, có hoặc không dùng trong các phòng thí nghiệm.
(ij) Các thiết bị thuộc nhóm 90.26.
Việc phân loại các mặt hàng có khả năng nằm trong phạm vi của
nhóm này và cả nhóm 70.17 (dụng cụ thuỷ tinh trong phòng thí
nghiệm).
Trong những trường hợp như vậy để xác định thuộc nhóm nào trong hai
nhóm, nên xem xét những nhận xét sau:
(1) Nếu một thiết bị có các đặc tính cần thiết của thuỷ tinh (dù có hoặc
không được chia độ, có hoặc không có chất gắn và các kết nối phụ,...
từ cao su, v.v...) thì không được phân loại trong nhóm này ngay cả
khi nó được gọi thông thường như các thiết bị hoặc dụng cụ riêng
biệt.
(2) Nói chung, các dụng cụ dễ dàng mất đi các đặc tính cần thiết của
thuỷ tinh khi chúng có một phần là thuỷ tinh còn đa phần làm từ
nguyên liệu khác; hoặc nếu chúng có các bộ phận làm từ thuỷ tinh
được lắp hoặc gắn cố định trên các khung, giá, hộp hoặc các dạng
tương tự.
(3) Việc kết hợp các bộ phận thuỷ tinh với các công cụ đo đạc (ví dụ áp
kế, nhiệt kế...) thực tế có thể cung cấp những cơ sở để xem các khí cụ
như vậy phù hợp được phân loại trong nhóm này.
Trên cơ sở đó, sẽ đưa các công cụ sau đây vào nhóm 70.17 - khi chúng
hình thành từ thuỷ tinh và có thang chia độ đơn giản:
Thiết bị đo hàm lượng chất béo trong sữa và dụng cụ tương tự trong thử
nghiệm các sản phẩm sữa; các thiết bị đo albumin và urê; các ống đo
khí; thể tích; nitơ, dụng cụ Kipps hoặc Kjeldahl và các công cụ tương tự,
các canxi kế, các nghiệm lạnh và sôi kế để xác định trọng lượng phân
tử...
Nhóm này cũng loại trừ các máy móc và thiết bị (có hoặc không dùng
điện) của loại được phân loại trong Phần XVI, có hoặc không được xét
đến các công cụ hiệu suất thấp, kích thước thu nhỏ và cả về cấu tạo
chung như đã biết chúng rõ ràng được sử dụng trong các phòng thí
nghiệm (chủ yếu để chuẩn bị và xử lý các vật mẫu). Do đó, trường hợp
các lò đốt; nồi hấp; tủ sấy hoặc máy sấy khô; máy nghiền trộn; máy li
tâm; nồi chưng cất; máy ép, lọc, lọc ép và máy khuấy… không thuộc
nhóm này.
Tương tự như vậy, các thiết bị đun nhiệt (đèn Bunsen, bồn tắm hơi ...),
các công cụ, đồ nội thất dùng cho các phòng thí nghiệm (bàn thí nghiệm,
giá kính hiển vi, tủ xông khói) và các bàn chải sẽ được phân loại theo
nhóm riêng phù hợpcủa chúng (Phần XV, Chương 94 hoặc Chương
90.28 - Thiết bị đo khí, chất lỏng hoặc lượng điện được sản xuất
hoặc cung cấp, kể cả thiết bị kiểm định các thiết bị trên.
9028.10 - Thiết bị đo khí
9028.20 - Thiết bị đo chất lỏng
9028.30 - Công tơ điện
9028.90 - Bộ phận và phụ kiện
Các thiết bị đo này nhìn chung, gồm một thiết bị chuyển động theo tốc
độ tỷ lệ thuận với lưu lượng chất lỏng hoặc đại lượng điện được đo. Các
thiết bị thường lắp trên một đường vòng, hoặc chệch trục chính, hoặc kết
nối với các bộ đo biến áp sao cho chỉ một phần lưu lượng qua chúng, tuy
nhiên, chúng được định cỡ để chỉ báo tổng lưu lượng qua ống hoặc qua
mạch chính.
Các thiết bị đo khí, chất lỏng hoặc lượng điện sản xuất hoặc cung cấp
vẫn thuộc nhóm này dù chúng có hay không một cơ cấu ghi ký theo
chuyển động đồng hồ hoặc có một dụng cụ cơ hoặc điện giản đơn để
kích hoạt các dụng cụ báo tín hiệu, các bộ phận điều khiển,... đi vào
hoạt động.
(I) THIẾT BỊ ĐO KHÍ HOẶC CHẤT LỎNG ĐƯỢC SẢN XUẤT
HOẶC CUNG CẤP
Phần này, nói về những dụng cụ dùng để đo theo đơn vị thể tích, lượng
chất lỏng chảy qua một ống. Lưu lượng kế đo tốc độ lưu lượng bị loại
trừ(nhóm 90.26).
Thuộc nhóm này còn gồm các công tơ cung cấp tại các hộ gia đình (công
tơ thuê bao), công tơ sản suất (nhà máy) hoặc cung cấp, và các công tơ
chuẩn (để kiểm tra độ chính xác của các công tơ thông thường). Ngoài
các công tơ giản đơn, nhóm này còn có những công tơ chuyên dụng như
công tơ cực đại, công tơ trả trước, công tơ tính giá, v.v...
Những công tơ được sản xuất hoặc cung cấp thuộc nhóm này chủ yếu
gồm một dụng cụ đo (tuabin, piston, màng chắn ...) một cơ cấu điều
chỉnh sự dẫn chất lỏng (nói chung có van lá), một cơ cấu truyền dẫn (vít
vô tận, trục khuỷu, bánh răng hoặc các hệ thống khác), một dụng cụ ghi
hoặc một bộ phận chỉ báo (loại kim chỉ hoặc tang trống), hoặc cả hai.
(A) Thiết bị đo khí được sản xuất hoặc được cung cấp
(1) Công tơ ẩm.
Thường bao gồm một tang trống hay một bánh lái được phân
chia vào các khoang; nó sẽ quay trong một hộp hình trụ, chứa
trên một nửa hộp đó là chất lỏng (nước, dầu….). Tang trống
quay được là nhờ khí đi vào công tơ, làm đầy các khoang chìm
và do đó đẩy chúng lên khỏi mặt nước. Chuyển động quay của
tang trống được chỉ ra trên cơ cấu đếm.
Ở một loại khác (công tơ đo nhờ chuông động), gồm một cái
chuông qua đó khí đi vào và ra khỏi một chuỗi các khoang;
chuông được để ở vị trí trung tâm khi đó được thiết kế để quay
xung quanh một trục nghiêng, điều này kích hoạt cánh tay quay
được gắn với trục quay lái của cơ cấu đếm.
(2) Công tơ khô.
Có nhiều loại công tơ khô, cơ cấu đo có thể gồm piston, màng
chắn hoặc cánh quạt do áp suất khí kích hoạt và được nối với cơ
cấu đếm. Loại công tơ thông thường có một hộp chia làm hai
khoang bởi một tấm ngăn, mỗi khoang lại bị chia bởi một màng
chắn chính giữa; bốn ngăn tạo nên đó lần lượt cho khí đi vào rồi
đi ra. Chuyển động thay đổi của màng ngăn sẽ làm hoạt động cơ
cấu đếm.
(B) Công tơ đo chất lỏng sản xuất hoặc cung cấp (nước nóng, nước
lạnh, dầu mỏ, cồn, bia, rượu, sữa...), trừ các bơm chất lỏng (ngay cả
khi nó có một cơ cấu đo) của nhóm 84.13.
Gồm:
(1) Công tơ tuabin.
Những công tơ này còn được gọi là công tơ suy luận vì thể tích
của chất lỏng được suy ra từ tốc độ của nó. Cơ cấu đo là một
cánh quạt hoặc một chong chóng quay ở tốc độ tỷ lệ thuận với
lưu lượng chất lỏng. Chuyển động quay kích hoạt cơ cấu đếm.
(2) Công tơ khoang giãn (công tơ theo chiều dương)
Những công tơ này giống như công tơ đo khí khô đã nói ở trên.
Một trục hình trụ rỗng bằng gang chia đôi thành hai khoang, có
màng cơ động ngăn cách phồng lên hoặc dẹp xuống khi các khoang
lần lượt rỗng hay đầy. Chuyển động này làm vận hành cơ cấu đếm.
(3) Công tơ piston tịnh tiến (công tơ theo chiều dương)
Những công tơ này có thể gồm một hoặc nhiều piston chuyển
động tịnh tiến trong các trụ. Giống như các động cơ hơi nước,
một hệ thống các van lá điều khiển dòng chất lỏng trong quá
trình đo để dẫn chất lỏng liên tiếp lên và xuống các bên của
piston và mở hoặc đóng các vòi nút. Chuyển động của piston
được truyền đến cơ cấu đếm.
(4) Công tơ piston đĩa (công tơ bán dương)
Trong các công tơ này, piston được thay bằng một đĩa quay và
chia một buồng hình cầu thành hai khoang bằng nhau. Các
khoang đó lần lượt vơi và đầy chất lỏng. Kết quả chuyển động
dao động được chuyển đến cơ cấu đếm.
(5) Công tơ piston quay (công tơ bán dương)
Trong một loại công tơ này, gồm có một khoang hoạt động hình
trụ có lắp một màng ngăn toả tròn, cơ cấu đo là một piston hình
trụ bị sẻ rãnh sao cho khớp với màng ngăn. Khi các khoang vơi
hay đầy sẽ truyền một chuyển động dao động (bán quay) tới trục
lăn và chuyển động này được chuyển động bởi các bánh răng tới
cơ cấu đếm.
Ở một loại khác mà khoang hoạt động không có các vách ngăn,
một piston hình elip sẽ chuyển động vòng tròn khép kín. Đôi khi
công tơ được cấu tạo theo kiểu đĩa hình côn quay trong một
khoang hình cầu có vách ngăn.
Thiết bị đo được nhắc đến từ mục (2) đến (5) bên trên được biết
đến là loại dịch chuyển dương.
(II) THIẾT BỊ ĐO LƯỢNG ĐIỆN ĐƯỢC SẢN XUẤT HOẶC
CUNG CẤP
Công tơ điện dùng để đo lượng điện tiêu thụ (thường có đơn vị là
ampe/giờ, hoặc kilô ampe/giờ,..) (công tơ số lượng), hoặc năng lượng
tiêu thụ (bằng oát giờ, hectô oát giờ, kilô oát giờ, kilôvôn ampe giờ)
(công tơ năng lượng có khi gọi là công tơ công suất). Khi điện áp không
thay đổi, công tơ số lượng có thể được đo bằng oát/giờ (hoặc một trong
các bội số oát/giờ). Người ta phân biệt các công tơ điện một chiều và
công tơ điện xoay chiều để sử dụng cho phù hợp.
Nhóm này loại trừ các thiết bị như vôn kế, ampe kế, oát kế,...không
dùng để đo tổng số lượng điện hay năng lượng tiêu thụ mà để đo đơn
giản những đại lượng điện khác (nhóm 90.30).
Nhóm này bao gồm các loại công tơ cung cấp điện chính sau:
(A) Công tơ động cơ.
Các công tơ này gồm chủ yếu một hoặc nhiều cuộn cảm, một bộ
phận quay (phần ứng) với tốc độ quay tỷ lệ thuận với số lượng điện
hoặc năng lượng tiêu thụ, một cơ cấu đếm và một kim chỉ hoặc thiết
bị chỉ báo trống tang (hoặc cả hai kết hợp).
Công tơ động cơ thường được cung cấp một bộ hãm dòng xoáy, một
đĩa phanh kim loại, ở đó, các dòng xoáy được tạo ra khi đĩa quay
giữa các cực của một hoặc nhiều nam châm vĩnh cửu.
(B) Công tơ tĩnh.
Các công tơ này gồm chủ yếu những bán tổ hợp tĩnh điện tử như các
số nhân, các bộ lượng tử hoá được trang bị một thiết bị chỉ báo.
Trong các bán tổ hợp đó, phát ra một dòng điện hay điện trở có giá
trị tỷ lệ thuận với lượng điện tiêu thụ. Thiết bị chỉ báo có thể là thiết
bị cơ (được cung cấp một con trở hoặc một thiết bị chỉ báo trống
tang), hoặc điện tử.
Loại này bao gồm:
(1) Công tơ trả trước.
(2) Công tơ nhiều biểu giá (tính toán năng lượng điện được cung
cấp tại hai hoặc nhiều giá cước khác nhau).
(3) Công tơ cực đại (chỉ giá trị cực đại đạt được của tải trung bình
trong một thời gian nhất định).
(4) Công tơ trần (chỉ lượng năng lượng tiêu thụ vượt trên một giá
trị trần nào đó).
(5) Công tơ vượt mức (tương tự như công tơ trần, nhưng nó còn chỉ
rõ thêm tổng năng lượng đã tiêu thụ).
(6) Công tơ xung (có một máy phát xung).
(7) Công tơ phản lực.
(8) Công tơ chứng minh.
(9) Công tơ dòng một chiều (công tơ đo theo Vôn/giờ, Ampe/giờ,
Oát/giờ).
(10) Công tơ có xung đầu vào để kết nối với các công tơ xung, có
một dụng cụ chỉ báo tiêu thụ và một cơ cấu tổng hợp hoặc cực
đại (để chỉ hoặc ghi) hoặc thiết bị vượt mức, v.v...
(11) Công tơ chuẩn để kiểm tra và kiểm định các công tơ khác.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát) các bộ
phận và phụ kiện của những công tơ thuộc nhóm này cũng được phân
loại vào nhóm này.
90.29 -Máy đếm vòng quay, máy đếm sản lượng, máy đếm cây số để
tính tiền taxi, máy đếm dặm, máy đo bước và máy tương tự;
đồng hồ chỉ tốc độ và máy đo tốc độ gốc, trừ các loại máy
thuộc nhóm 90.14 hoặc 90.15; máy hoạt nghiệm.
9029.10 - Máy đếm vòng quay, máy đếm sản lượng, máy đếm
cây số để tính tiền taxi, máy đếm dặm, máy đo bước và
máy tương tự
9029.20 - Đồng hồ chỉ tốc độ và máy đo tốc độ góc; máy hoạt
nghiệm
9029. 90 - Bộ phận và phụ kiện
Nhóm này gồm:
(A) Các thiết bị đếm chỉ ra tổng số những đơn vị nhất định (vòng, sản
phẩm, độ dài, v.v...) hoặc chỉ một số tiền phải trả. Song không kể
đến ở đây, những dụng cụ tính tổng các loại thuộc nhóm 84.73, các
thiết bị đo khí, thiết bị đo chất lỏng hoặc thiết bị đo lượng điện được
sản xuất hoặc cung cấp, thuộc nhóm 90.28, và dụng cụ đo độ cong
và đo diện tích thuộc nhóm 90.17 hoặc 90.31.
(B) Các dụng cụ chỉ tốc độ quay hoặc tốc độ tuyến tính theo thời gian
(tốc độ kế và chỉ báo tốc độ) trừ các công tơ của nhóm 90.14 hoặc
(C) Máy hoạt nghiệm các loại.
Những dụng cụ trên đây vẫn thuộc nhóm này cho dù có hay không có cơ
cấu ghi theo chuyển động đồng hồ và có hay không có một dụng cụ cơ
hoặc điện giản đơn để kích hoạt các thiết bị báo tín hiệu, bộ phận điều
khiển máy, hãm phanh, v.v... trong chuyển động.
(A) THIẾT BỊ ĐẾM
(1) Máy đếm vòng.
Các công tơ này tính tổng các vòng quay của một bộ phận cơ nào đó,
(trục máy chẳng hạn) gồm chủ yếu một trục điều khiển được truyền
động tới các dụng cụ chỉ báo con trỏ hay trống tang. Nói chung,
chúng có một bộ phận đưa máy đếm quay về "0". Các công tơ hoặc
lắp trực tiếp với bộ phận quay (có khi bộ phận đó tự điều khiển các
bánh răng), hoặc được điều khiển từ xa. Trục điều khiển được kích
hoạt bằng chuyển động quay, chuyển động qua lại hoặc bằng xung
(ví dụ: bộ mã hoá) của bộ phận đang quay.
Lưu ý là các guồng quay kiểm định, xoắn kế và dụng cụ kiểm tra
hoặc thử nghiệm tương tự có công tơ vòng bị loại trừ (nhóm 90.31).
(2) Công tơ đo lượng sản xuất.
Các công tơ này có cấu tạo tương tự như máy đếm vòng.Chúng chủ
yếu để đo các độ dài (ví dụ trên máy xe chỉ hoặc xe sợi), để đếm các
chuyển động của máy (cân bằng tự động, bơm, sợi canh của máy dệt,
v.v...) hoặc số sản phẩm (tờ giấy in của một máy in quay, sản phẩm
do băng truyền chuyển ra, tiền giấy, v.v...). Thực tế, người ta còn
dùng cả những công tơ vòng để chỉ báo các độ dài hoặc số lượng sản
phẩm theo số vòng quay của trục điều khiển.
Các công tơ sản xuất điện tử, dựa trên nguyên lý các vật cần đếm
làm gián đoạn các tia chiếu lên một tế bào quang điện và một thiết bị
ghi sẽ tính số lượng hàng hoá đi qua tia.
Nhóm này có những đa công tơ (ví dụ được sử dụng cho phép kiểm
tra sản lượng của nhiều công nhân thực hiện trên cùng một máy).
Cũng thuộc vào nhóm này, có các công tơ điện từ, được dùng trong
các tổng đài điện thoại tự động để tính số các lần gọi của một máy
thuê bao, các công tơ này gồm một nam châm điện làm chuyển động
cơ cấu ghi tới một vị trí (công tơ cuộn mã hoá, v.v...) mỗi khi có
xung điện chạy qua các cuộn của nó.
(3) Công tơ đếm giờ làm việc cho máy, môtơ, v.v... (công tơ tính giờ
hoặc thời gian)
Thực tế, đó là những công tơ vòng định cỡ theo giờ làm việc.
(4) Công tơ nhập.
Đó là những công tơ được kích hoạt nhờ cánh cửa xoay trọng hoặc
các bộ phận khác đặt tại lối vào các bảo tàng, công viên, sân vận
động, v.v..., ở đó chúng ghi lại tổng số quan khách hoặc khán giả.
(5) Công tơ bi-a.
Đây là những công tơ cơ học (loại rulô hoặc tương tự), thường dùng
tay điều khiển để tính điểm.
Nhóm này loại trừ những công tơ chuyển động kiểu đồng hồ chỉ báo
thời gian thi đấu, hoặc tiền phải trả theo thời gian chơi (nhóm 91.06).
Công tơ tính điểm bi-a loại bi lăn hoặc trượt, thuộc nhóm 95.04.
(6) Dụng cụ và thiết bị để đo những khoảng thời gian ngắn bằng cách
đếm, không thuộc Chương 91, không có chuyển động kiểu đồng hồ
thời gian hoặc đồng hồ đeo tay (gồm có môtơ đồng bộ). Nhóm này
cũng bao gồm công tơ xung điện tử (máy đếm gộp) (ví dụ công tơ
đếm khách xe ca, tàu hoả, v.v...).
(7) Đồng hồ tính tiền xe taxi (máy đếm cây số để tính tiền taxi).
Thông thường theo chuyển động kiểu đồng hồ và chỉ ra số tiền phải
trả hoặc theo thời gian và theo hành trình đã chạy.
(8) Công tơ hành trình (công tơ cây số).
Là những công tơ vòng, dùng cho xe cộ nói chung, chia thang độ
theo đơn vị chiều dài (kilômét, dặm, v.v...). Song, phần lớn các công
tơ đó được phối hợp với một dụng cụ chỉ báo tốc độ.
(9) Lộ trình kế (cũng gọi là thước đếm bước, máy đo đường đi, công
tơ bước).
Là những công cụ dưới dạng đồng hồ đo dùng để đo các khoảng cách
gần đúng, gồm một con lắc cứ mỗi bước đi, quay một đơn vị. Từ số
bước đi và độ dài của bước, tính ra hành trình đã đi.
(10) Công tơ cầm tay.
Các công tơ này chỉ ghi tối đa bốn số, theo các đơn vị cố định sẵn.
Người dùng bấm một nút tương ứng với loại đơn vị đã chọn để
hiệntổng số trên cơ cấu chỉ báo.
(B) ĐỒNG HỒ CHỈ TỐC ĐỘ VÀ MÁY ĐO TỐC ĐỘ GÓC
Những dụng cụ đó khác với các công tơ vòng và các công tơ đo lượng
sản xuấttrong Phần (A) ở trên, ở chỗ chúng chỉ ra số vòng, tốc độ, sản
lượng, v.v... theo đơn vị thời gian (ví dụ, vòng/phút, kilômét/giờ,
dặm/giờ, mét/phút). Thông thường hầu hết đều được lắp trên xe cộ (ôtô,
môtô, xe đạp, đầu tàu hoả, v.v...) hoặc trên các máy (môtơ, tua bin, máy
làm giấy, máy in, máy dệt, v.v...).
Đồng hồ chỉ tốc độ và đồng hồ tốc độ góc thuộc nhóm này vận hành
theo các nguyên lý sau:
(1) Hệ thống đo thời gian.
Cơ cấu đo được phối hợp với máy kiểu đồng hồ. Đôi khi, việc đo
thời gian được thực hiện nhờ một máy ghi thời gian riêng, thường
trong trường hợp đó, hai thiết bị được phân loại theo các nhóm thích
hợp của chúng.
(2) Hệ thống ly tâm.
Một tay quay điều chỉnh nằm dọc, được gắn bởi lò xo,quay xung
quanh trục điều khiển. Do lực li tâm, tay quay điều chỉnh mang hai
quả cân chuyển động xa khỏi đường thẳng đứng tỷ lệ thuận với tốc
độ. Sự dịch chuyển đó được truyền đến dụng cụ chỉ báo.
(3) Hệ thống rung.
Loại này được dùng cho các máy tốc độ nhanh như tua bin hơi nước,
bơm, máy nén, động cơ điện, v.v... Sự cộng hưởng rung cơ học của
khung hoặc các ổ trục của máy tạo nên các dao động của khung go
chia độ với tốc độ tương ứng với số vòng quay của máy.
(4) Hệ thống từ tính (cảm ứng).
Một hệ thống nam châm vĩnh cửu xoay xung quanh trục truyền động,
tạo ra các dòng xoáy (dòng phu-cô) trên một đĩa đồng hoặc nhôm
nằm trong từ trường, dòng điện này tỷ lệ thuận với tốc độ quay của
các nam châm, do đó kéo hoặc đẩy đĩa, nhưng chuyển động quay của
nó bị một lò xo phản cản lại. Đĩa đó được nối với một kim chỉ báo
tốc độ.
(5) Các hệ thống điện.
Các hệ thống này hoặc có một tế bào quang điện, hoặc được vận
hành bởi một máy phát xung lắp trên máy điều khiển.
Đồng hồ chỉ tốc độ và máy đo tốc độ góc trong nhóm này có thể là
cố định hoặc xách tay có chức năng đơn giản hoặc đa năng (ví dụ cho
cực đại hoặc cực tiểu), vi sai (tính hệ số % chênh lệch giữa hai tốc
độ) kết hợp với một công tơ tổng hợp hoặc tính giờ hoặc một cơ cấu
ghi đồ họa (tốc ký), v.v... Một số dụng cụ thuộc nhóm này, ghi đồng
thời cả tốc độ, hành trình, thời gian chạy và ngừng nghỉ, v.v...
(C) CÁC MÁY HOẠT NGHIỆM
Các máy hoạt nghiệm là những dụng cụ cho phép chỉ ra tốc độ lúc chạy
chậm hoặc ngừng, chúng cũng được dùng để đo tốc độ các bộ phận quay
hoặc đang chuyển động xoay chiều. Trong trường hợp sau cùng này,
chúng được gọi riêng là tốc kế hoạt nghiệm. Nguyên lý của hoạt
nghiệm là thực hiện đứng im tương đối hoặc chuyển động chậm dần của
bộ phận cần quan sát bằng các tia sáng lần lượt tại các khoảng cách cố
định. Hoặc bằng cách chiếu sáng thường xuyên vào bộ phận cần quan sát
để kiểm nghiệm qua một công cụ quang học (đĩa có một hoặc nhiều rãnh
dạng toả tia) làm gián đoạn tia thị giác, hoặc đặt vật đó trong bóng tối và
chiếu sáng định kỳ trong những thời gian rất ngắn. Tốc độ của cơ cấu
chuyển động quay tròn hay qua lại khi quan sát có thể đạt được bằng
cách điều chỉnh tốc độ đĩa hoặc tần số của các ánh sáng cho đến khi đạt
được sự dừng chuyển động hoàn toàn.
Các máy hoạt nghiệm dựa trên nguyên lý chiếu sáng liên tục chủ yếu
gồm một cơ cấu điều khiển hoạt động như đồng hồ với một hoặc nhiều
rãnh và một cơ cấu điều chỉnh tốc độ, một thị kính và một tang trống có
thang chia độ (bằng vòng/phút).
Những máy hoạt nghiệm vận hành theo phương pháp chiếu sáng
theo chu kỳ khác nhau tuỳ theo cơ cấu tạo tia sáng. Những loại giản
đơn nhất gồm một bóng đèn thường, một môtơ có bộ điều chỉnh tốc
độ điều khiển tần suất các tia, và một bề mặt có thang chia độ. Một
phương pháp khác tạo ra các tia sáng nhờ một đèn phóng điện qua
khí. Máy hoạt nghiệm xả phóng điện qua khí thì có cấu tạo phức tạp
hơn nhiều, cho phép chụp ảnh hoặc quay phim, đôi khi được lắp trên
bánh xe hoặc con lăn. Các tia sáng cần để quan sát một cơ cấu đang
quay hoặc chuyển động qua lại có thể được điều khiển bởi chính cơ
cấu đó. Sự đồng bộ đó đạt được nhờ bộ phận ngắt loại lò xo, một tế
bào quang điện, một rơle điện từ, v.v...
Ngoại trừ khi được đưa cố định vào trong các máy hoạt nghiệm, thì các
máy chụp ảnh hoặc quay phim sẽ được phân loại theo nhóm thích hợp
của chúng.
Cụ thể thì các máy hoạt nghiệm chủ yếu quan sát hoặc để đo tốc độ của
các động cơ, cơ cấu truyền động, máy dệt (các bộ phận như kim đan chỉ,
cuộn quấn chỉ, máy chải len, con thoi) các máy làm giấy, máy in, máy
gia công. Chúng cũng được sử dụng trong y học để kiểm tra độ rung của
dây thanh đới.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát) các bộ
phận và phụ kiện của những máy móc thuộc nhóm này khi được trình
bày riêng biệt cũng được phân loại trong nhóm.
90.30 - Máy hiện sóng, máy phân tích phổ và các dụng cụ và thiết bị
khác để đo hoặc kiểm tra đại lượng điện, trừ các loại máy
thuộc nhóm 90.28; các thiết bị và dụng cụ đo hoặc phát hiện
tia alpha, beta, gamma, tia X, bức xạ vũ trụ hoặc các bức xạ
ion khác (+).
9030.10 - Dụng cụ và thiết bị để đo hoặc phát hiện các bức xạ ion
9030.20 - Máy hiện sóng và máy ghi dao động
⦁ Dụng cụ và thiết bị khác, để đo hoặc kiểm tra điện
áp, dòng điện, điện trở hoặc công suất (trừ những
dụng cụ và thiết bị để đo hoặc kiểm tra các vi mạch
hoặc linh kiện bán dẫn):
9030.31 - - Máy đo đa năng không bao gồm thiết bị ghi
9030.32 - - Máy đo đa năng bao gồm thiết bị ghi
9030.33 - - Loại khác, không bao gồm thiết bị ghi
9030.39 - - Loại khác, có gắn thiết bị ghi
9030.40 - Thiết bị và dụng cụ khác, chuyên dụng cho viễn thông
(ví dụ máy đo xuyên âm, thiết bị đo độ khuếch đại,
máy đo hệ số biến dạng âm thanh, máy đo tạp âm)
⦁ Dụng cụ và thiết bị khác:
9030.82 - - Để đo hoặc kiểm tra các vi mạch hoặc linh kiện bán
dẫn (kể cả mạch tích hợp)
9030.84 - - Loại khác, có kèm thiết bị ghi
9030.89 - - Loại khác
9030.90 - Bộ phận và phụ kiện
(A) DỤNG CỤ VÀ THIẾT BỊ ĐO HOẶC PHÁT HIỆN CÁC
BỨC XẠ ALPHA, BÊTA, GAMMA, TIA X, BỨC XẠ VŨ
TRỤ HOẶC CÁC BỨC XẠ ION KHÁC
Chúng được sử dụng trong nghiên cứu khoa học, cho các mục đích công
nghiệp (luyện kim, thăm dò dầu hoả, v.v...), hoặc trong sinh học hoặc y
học (kết nối với bộ phận quét phát xạ). Chúng báo gồm:
(1) Các thiết bị dò tìm có các buồng ion hoá. Một hiệu điện thế được
tạo ra giữa hai điện cực chứa trong buồng ion hoá. Các ion đã hình
thành khi một tia phóng xạ chạy vào buồng này được hút về các điện
cực và những thay đổi cuối cùng về hiệu điện thế có thể được khuếch
đại và đo.
(2) Ống đếm Geiger. Một hiệu điện thế lớn được duy trì giữa các điện
cực của thiết bị đo; các ion được tạo ra khi tia phóng xạ đến được gia
tốc rất nhanh và sau đó ion hoá luôn khí chứa trong ống và các xung
hình thành có thể được đếm.
Các thiết bị buồng ion hoá và ống đếm Geiger thuộc nhóm này thường
gồm nhiều thành phần như một buồng, hoặc một công tơ, một máy
khuếch đại, một đơn vị cung cấp điện áp cho buồng hoặc công tơ và một
mạch đếm hoặc một công cụ chỉ báo. Các thành phần trên thường được
chứa trong một hộp chung. Có khi, các thành phần (trừ buồng ion hoá và
công tơ ra), được kết hợp trong cùng một hộp, những thiết bị loại đó
(muốn hoàn chỉnh phải có buồng ion hoá hoặc một công tơ) vẫn được
phân loại vào nhóm này (như một công cụ cần hoàn chỉnh). Khi các
thành phần cá thể trên được tách rời thì sẽ được phân loại theo các điều
khoản của Chú giải tổng quát của Chương này.
Một số buồng ion hoá sử dụng để đo tổng các số lượng bức xạ phát ra
trong một khoảng thời gian đáng kể (ví dụ, 24 giờ) thì không cần thiết bị
khuếch đại phụ trợ, v.v... mà gồm một con trỏ di động rất nhẹ, đưa vào
kính hiển vi để đọc kết quả và chỉ ra tổng số các bức xạ đã đi qua buồng.
Các buồng này (chúng trông giống như một bút máy), bản thân chúng là
những công cụ đo hoàn chỉnh và được phân loại vào nhóm này.
Nhóm này cũng kể đến các công tơ nhấp nháy. Chúng gồm một dụng
cụ (bộ nhân quang điện) mà bộ này cần được trang bị một tế bào quang
điện và một bộ nhân electron. Chúng hoạt động theo nguyên lý mà theo
đó phóng xạ có thể được dò hoặc đo bằng hiệu ứng của nó khi kích thích
huỳnh quang của một tinh thể cố định (như sulphide kẽm, iođua natri kết
hợp với Tali, anthracene, plastic thấm tetraphenyl-butadiene...). Người ta
đặt các tinh thể vào giữa nguồn tia bức xạ và một trong các điện cực của
công tơ.
Cùng nhóm này còn có:
(1) Các xạ lượng kế và dụng cụ tương tự để đo và kiểm tra cường độ
và khả năng xuyên thấu của các tia X.
(2) Các dụng cụ đo bức xạ của vũ trụ hoặc bức xạ tương tự
(3) Các máy phát hiện nơtrôn gọi là "pin nhiệt", cũng như các dụng
cụ để dò hoặc đo có lắp các ống dò nơtrôn (các loại Bo, trifluoride
Bo, hydro, hoặc các thành phần phóng xạ có thể phân hạch).
(4) Các dụng cụ dò hoặc đo bức xạ gồm các máy phát hiện bức xạ
qua các chất phát sáng dạng chất lỏng hay rắn.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Những dụng cụ gồm công tơ nhấp nháy có các thông số đã được
chuyển thành tín hiệu tương tự nhằm phục vụ cho mục đích chẩn
đoán bệnh (ví dụ máy soi gamma, máy quét biểu đồ nhấp nháy)
(nhóm 90.18).
(b) Những dụng cụ dùng để đo hoặc kiểm tra được thiết kế để đưa vào
một nguồn phóng xạ (chủ yếu các chất đồng vị nhân tạo) ví dụ như
đo độ dày vật liệu (tấm, lớp lót hoặc những vật tương tự), những
dụng cụ để kiểm tra nội dung các lớp vỏ bọc để đo dòng không khí
có vận tốc thấp (phong tốc kế, máy đo sự ion hoá) ... (nhóm 90.22).
(B) MÁY HIỆN SÓNG, MÁY PHÂN TÍCH PHỔ VÀ CÁC
DỤNG CỤ VÀ CÁC THIẾT BỊ KHÁC ĐỂ ĐO HOẶC KIỂM TRA
ĐẠI LƯỢNG ĐIỆN
Các máy hiện sóng và máy ghi dao động được sử dụng chủ yếu để
quan sát hoặc ghi mọi biến đổi nhanh của một đại lượng điện (hiệu điện
thế, cường độ, v.v...). Các máy này có thể được phân ra ba loại chính:
(a) Máy ghi dao động Duddell, bên trong là một cuộn dây thường có
một vòng dây điện quấn căng gắn chặt với mặt gương chuyển động
trong môi trường nam châm điện. Hiện tượng cần nghiên cứu định kỳ
có thể được quan sát trực tiếp trên một mắt kính nhám hoặc được ghi
trên một dải phim.
(b) Máy ghi dao động loại sắt mềm và dao khắc với một cuộn dây trên
một dải sắt mềm đặt trong môi trường không thay đổi. Một kim nhẹ
đầu nhọn nối với dải và ghi vạch lại hiện tượng (ví dụ bằng việc cắt
một dải được tráng phủ cellulose acetate).
(c) Các máy ghi dao động và máy hiện sóng tự kí tia catốt; hoạt động
bằng cách ghi lại việc các chùm tia catốt bị làm lệch như thế nào bởi
lực tĩnh điện hoặc điện từ. Những khí cụ đó, dưới dạng một hay
nhiều bộ phận, chủ yếu gồm ống tia catốt, các cơ cấu nạp và các máy
biến thế, bộ khuếch đại, một cơ cấu quét, nhiều cơ cấu phụ và đôi
khi, một chuyển mạch điện tử. Các máy hiện sóng có bộ nhớ được
dùng trong nghiên cứu các hiện tượng chuyển tiếp quá nhanh được
cách điện và được trang bị hoặc một ống catốt nhớ, hoặc một bộ nhớ
số kết hợp với một ống catốt. Trong loại thứ nhất, hình ảnh của tín
hiện thu được được lưu giữ trong ống catốt. Trong loại thứ hai, tín
hiệu được ghi trong bộ nhớ và có thể lấy ra tuỳ ý để xem trên màn
hình.
Máy phân tích phổ là những dụng cụ nhằm xác định các thành phần tần
số khác nhau của một tín hiệu điện đi vào, chủ yếu cho phép phân tích
các đại lượng điện, cũng có thể dùng để phân tích một bức xạ ion, sóng
âm thanh hoặc các đại lượng không liên quan đến điện khác khi nối với
một máy dò bức xạ hoặc thiết bị khác cho phép phát hiện các đại lượng
không mang điện và biến đổi chúng thành tín hiệu điện.
Nhóm này gồm các máy ghi các hiện tượng nhất thời/ngắn hạn là những
dụng cụ được thiết kế nhằm thu một tín hiệu và ghi lại để truyền đến, dư-
ới một hình thức thích hợp, một thiết bị màn hình sau đó (ví dụ, màn
hình tivi). Các máy "phân tích lôgic", là những dụng cụ để nghiên cứu
các mạch điện bao gồm hầu hết các bộ phậncấu thành nên các dụng cụ
bán dẫn, cũng thuộc nhóm này.
Những công cụ và máy đo hoặc kiểm tra các đại lượng điện có thể gồm
những máy chỉ báo hoặc dụng cụ ghi.
Dưới góc độ nguyên lý vận hành, các công cụ và máy đó được chia
thành một số nhóm như:
(1) Máy điện từ: trong đó, dòng điện phải đo được chạy qua một cuộn
dây tự do để di chuyển trong một từ trường do một nam châm vĩnh
cửu tạo ra. Kim chỉ báo được gắn vào cuộn dây.
(2) Dụng cụ sắt từ: trong đó từ trường do một lõi solenoid tạo nên tác
động lên một mảnh sắt mềm đính trục kim và làm cho kim chạy.
(3) Dụng cụ điện động: trong đó, dòng điện cần đo chạy qua các cuộn
dây cố định và cuộn di động, cuộn di động hoạt động trong từ trường
phát sinh bởi các cuộn cố định và kim được đính vào các cuộn di
động.
(4) Dụng cụ cảm ứng: gồm một trục kim trên đó lắp một đĩa dẹt hoặc
một xilanh di chuyển trong khe hở khí của một nam châm điện từ, có
một cuộn hoặc nhiều cuộn dây.
(5) Dụng cụ cặp nhiệt ngẫu: trong đó dòng điện được đo đi qua một sợi
đốt sử dụng cho mối hàn của cặp nhiệt ngẫu kim loại mà sức điện
động của chúng sau đó sẽ được đo.
(6) Dụng cụ vận hành điện tử: dựa trên kỹ thuật các bán dẫn, có dụng
cụ chỉ báo hoặc màn hình quang điện tử cho các kết quả tương tự
hoặc kỹ thuật số.
Bên cạnh các dụng cụ và thiết bị kể trên thuộc loại trực tiếp đo đó, còn
có những dụng cụ cung cấp cho người quan sát một số thông số nhất
định cho phép tính đại lượng cần đo (phương pháp so sánh). Nhóm này
chủ yếu có các cầu đo và các chiết áp thường được gắn vào hộp hoặc
tủ nhỏ chứa một hoặc nhiều điện kế, điện trở chuẩn, các tụ chuẩn, cuộn
cảm chuẩn, pin chuẩn, máy biến áp, biến đổi, chuyển mạch, v.v... Các
cầu đo được gọi theo tên người sáng chế (Wheatstone, Thomson,
Anderson, Maxwell, Sauty, Schering, Kohlrausch, Wien, v.v...), hoặc
theo các tên gọi chỉ ra hệ thống tổ hợp các đơn vị so sánh (cầu thập tiến,
cầu đôi, cầu chì T, v.v...) hoặc theo công dụng riêng (trở kháng, cầu điện
trở, đo điện dung hoặc cầu kết nối, cầu đo vạn năng, v.v...).
Tuy nhiên, những thiết bị sau bị loại trừ (Chương 85) khi chúng tách
riêng lẻ như các máy biến thế, điện trở chuẩn, các tụ chuẩn, cuộn cảm
chuẩn, pin chuẩn, v.v... cũng như các tai nghe (ống nghe) (được sử dụng
thay thế máy chỉ báo số 0 có thể nhìn thấy trong một số loại cầu đo).
Các loại dụng cụ đo điện chính là:
(I) Dụng cụ đo cường độ dòng: công việc này được thực hiện riêng
bằng điện kế hoặc ampe kế (ammeters).
(II) Đo điện thế: bằng vôn kế, chiết áp, tĩnh điện kế, v.v...Tĩnh điện kế
dùng để đo điện áp rất lớn, là các vôn kế tĩnh điện. Chúng khác loại
vôn kế thông thường ở chỗ chúng có bi hoặc đĩa trên các cột cách
điện làm giá đỡ.
(III) Đo các điện trở và độ dẫn điện: cụ thể là bằng ôm kế hoặc cầu đo.
(IV) Đo công suất: bằng oát kế.
(V) Đo điện dung và điện cảm: bằng cầu đo theo các đại lượng farad
hoặc henry.
(VI) Đo tần số: bằng tần số kế theo thang độ Hertz (số chu kỳ/một
giây).
(VII) Đo bước sóng hoặc tần số vô tuyến: bằng dụng cụ đo bước sóng
(sóng kế) hoặc công cụ dựa trên ăng ten kẽ hở hoặc ống dẫn sóng
có kẽ.
(VIII)Đo góc pha hoặc các thừa số công suất: nhờ các pha kế cho biết
ngay thừa số công suất (cos phi).
(IX) Đo các tỷ lệ giữa hai đại lượng điện: bằng các dụng cụ gọi là
máy đo tỉ số hoặc tỷ lệ kế.
(X) Đo các từ trường hoặc từ thông bằng các điện kế hoặc các từ
thông kế.
(XI) Đo đặc tính điện hoặc từ của các vật liệu: được thực hiện bằng
các từ trì kế/máy đo độ trễ của từ, từ thẩm kế, hoặc các dụng cụ
tương tự.
(XII) Xác định tính đồng bộ: nhờ các thiết bị tạo đồng bộ, các công cụ
này dùng để chỉ ra pha liên quan và mức chênh lệch giữa các tần
số của hai hiện tượng theo chu kỳ. Dụng cụ loại đó được nhận
dạng qua các từ chỉ báo “Fast” và “Slow” ("gia tốc", "giảm tốc")
(có mũi tên tương ứng) trên mặt đồng hồ chỉ báo.
(XIII)Đo và ghi các trị số tức thì của các đại lượng điện bằng các máy
hiện sóng hoặc máy ghi dao động được mô tả ở trên.
Một số dụng cụ đo điện có thể được sử dụng đa năng. Ví dụ, có những
dụng cụ (điện hoặc điện tử) được biết đến như các máy kiểm tra thông
dụng (ví dụ đa năng kế) cho phép thực hiện nhanh việc đo điện áp (một
chiều hoặc xoay chiều), dòng điện (một chiều hoặc xoay chiều), các điện
trở và điện dung.
Nhóm này cũng bao gồm một số lượng lớn các dụng cụ điện hoặc điện
tử dùng trong thông tin vô tuyến, hoặc trong viễn thông. Ngoài các vôn
kế (vôn kế, micro vôn kế, milivôn kế), các chiết áp, các cầu đo, ampe kế,
oát kế, pha kế, tần số kế như đã giới thiệu, có thể kể ra:
Dụng cụ kiểm tra trở kháng và các cầu đo trở kháng để xác định
mô đun trở kháng trong mạch và cả đo điện dung hoặc cảm ứng.
(ii) Dụng cụ kiểm tra độ tự cảm và các dụng cụ tương tự để xác
định cuộn cảm theo nguyên lý Wheatstone.
(iii) Nepe kế và các máy đo decibel, để đo độ suy giảm trong các
mạch điện thoại đường dài. Các dụng cụ và thiết bị đo đại lượng
âm thanh thuộc nhóm 90.27.
(iv) Các chỉ báo mức giảm âm: trái với các nepe kế (việc đo dựa trên
một hệ thống cân bằng), chúng chỉ ra trực tiếp mức giảm.
(v) Máy đo độ xuyên âm sử dụng cho các mạch điện thoại để đo các
đại lượng khác nhau.
(vi) Chỉ báo mức truyền dẫn.
(vii) Dụng cụ đo mức ồn: để sử dụng trên tuyến cao tần.
(viii) Dụng cụ đo hệ số khuyếch đại, để đo khuyếch đại qua các bộ
tăng âm chuyển tiếp trên mạch điện thoại đường dài.
(ix) Dụng cụ đo nhiễu: dùng để đo hiệu thế ồn trong lắp đặt điện thoại
đường dài hoặc các dòng nhiễu trong các mạch điện áp cao gần kề.
(x) Máy đo tạp âm, để đo độ nhiễu, tức là sức điện động của một
nguồn điện sẽ tạo ra cùng độ nhiễu nếu chúng thay thế các hiệu
điện thế bị cảm ứng trong mạch điện thoại.
(xi) Chỉ báo đỉnh để ghi lại các đỉnh điện áp ngắn, khi xảy ra trong các
hệ thống truyền dẫn (chẳng hạn các cáp điện thoại đường dài, các
mạch truyền phát thanh, liên lạc sóng ngắn).
(xii) Thước đo tiếng dội để nghiên cứu sự ổn định của các đường
truyền bằng các bộ đọc trực tiếp tiếng dội theo đơn vị nêpe hoặc
(xiii) Máy đo biến dạng, để đo biến dạng điều hoà được đưa vào các bộ
truyền động phức hợp.
Một số dụng cụ nói trên, cụ thể các loại dùng để đo điện thanh đều theo
thang độ đơn vị nepe hoặc decibel.
Nhóm này cũng bao gồm những dụng cụ và thiết bị khác mà thực hiện
các hoạt động của một loại thiết bị đã được mô tả trong nhóm, bao gồm
các dụng cụ đo hoặc kiểm tra đèn điện tử, cụ thể như kiểm tra đèn
điện tử ở radio. Đôi khi những dụng cụ để đo hoặc kiểm tra đèn điện tử
này được thiết kế để tạo ra các đường cong đặc thù của đèn trên màn
hình của máy hiện sóng.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện được trình bày riêng biệt của những dụng cụ và thiết bị
thuộc nhóm này cũng được phân loại trong nhóm. Ví dụ trường hợp các
máy móc điện tử trùng hợp để sử dụng cùng với các máy đếm Geiger-
Muller hoặc máy đếm tỷ lệ, các chất nhấp nháy dạng rắn (các chất đặc
biệt nhạy với bức xạ ion-hóa như tia X, sẽ nhấp nháy khi được chiếu xạ)
ở dạng tinh thể hoặc thành phần bằng plastic được lắp hoặc bọc kim loại
chỉ để trang bị cho các máy dò báo và các ống dò neutron, dùng Bo, tri
fluôma Bo, hydro hoặc các nguyên tố phân hạch.
Phân nhóm 9030.82
Phân nhóm này cũng bao gồm các dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra
mạch tích hợp.
90.31- Máy, thiết bị và dụng cụ đo lường hoặc kiểm tra, chưa được
ghi hay chi tiết ở nơi khác trong Chương này; máy chiếu biên
dạng (+).
9031.10 - Máy đo để cân chỉnh các bộ phận cơ khí
9031.20 - Bàn kiểm tra
⦁ Các thiết bị và dụng cụ quang học khác
9031.41 - - - - Để kiểm tra các vi mạch hoặc linh kiện bán dẫn
(kể cả mạch tích hợp) hoặc kiểm tra mạng che quang
hoặc lưới carô sử dụng trong sản xuất các linh kiện
bán dẫn (kể cả mạch tích hợp)
9031.49 - - Loại khác
9031.80 - Dụng cụ, thiết bị và máy khác
9031.90 - Bộ phận và phụ kiện
Ngoài các máy chiếu biên dạng, nhóm này gồm các dụng cụ, thiết bị
và máy quang học hoặc không quang học để đo hoặc kiểm tra. Tuy
nhiên, cũng cần lưu ý rằng nhóm này không bao gồm bất cứ các dụng
cụ, thiết bị hoặc máy... thuộc các nhóm từ 90.01 đến 90.12 hoặc từ 90.15
đến 90.30; cụ thể, các máy sau bị loại trừ:
(a) Dụng cụ thiên văn thuộc nhóm 90.05.
(b) Kính hiển vi (nhóm 90.11 hoặc 90.12)
(c) Dụng cụ và thiết bị về quan trắc... thuộc nhóm 90.15.
(d) Dụng cụ đo chiều dài, dùng tay (nhóm 90.17).
(e) Dụng cụ và thiết bị y học, giải phẫu, v.v... thuộc nhóm 90.18.
(f) Máy hoặc thiết bị kiểm tra các tính chất cơ của vật liệu (nhóm
(g) Dụng cụ, thiết bị đo lưu lượng... thuộc nhóm 90.26.
(h) Dụng cụ, thiết bị đo và kiểm tra các đại lượng điện và đểđo hoặc phát
hiện bức xạ ion thuộc nhóm 90.30.
(ij) Dụng cụ và thiết bị để điều chỉnh hoặc kiểm soát tự động (nhóm
(I) DỤNG CỤ, THIẾT BỊ VÀ MÁY ĐO ĐẠC
HOẶC KIỂM TRA
Bao gồm:
(1) Các máy đo để cân chỉnh các bộ phận cơ khí (động lực,tĩnh hoặc
gồm có một cơ cấu cân bằng điện tử) ví dụ, chất cảm ứng, rôto,
trục khuỷu, thanh truyền, trục chong chóng, bánh xe, bánh lái.
Trên các máy động lực, các bộ phận được quay trên hai chân trụ đỡ
hoặc giữa hai lõi, sự mất cân bằng sẽ được đo theo cơ học (vạch các
biểu đồ trên một tấm ghi, nguyên lý cân lò xo, v.v...).
Các máy cân bằng kiểu tĩnh hoạt động trên nguyên lý làm nghiêng, độ
lệch (sự mất cân bằng) được đo trên thước đo tỷ lệ hoặc thang độ.
Chúng khác với máy động lực ở chỗ vật cần cân bằng không chuyển
động quay tròn.
Người ta bù độ lệch hoặc bằng đối trọng hoặc bỏ bớt chất liệu.
Trên các máy có một cơ cấu cân bằng điện tử, các độ rung do độ lệch
gây ra được một bộ phận có độ nhạy đặc biệt phát hiện và sau đó
khuếch đại.
Những máy cân bằng được trang bị một máy công cụ (ví dụ, máy
khoan) và chỉ chuyên dùng để điều chỉnh sự mất cân bằng vẫn thuộc
nhóm này.
(2) Các bàn kiểm tra cho các động cơ và môtơ, máy phát điện, bơm, chỉ
báo tốc độ hoặc tốc kế, v.v... gồm một khung và một khí cụ đo hoặc
điều chỉnh.
(3) Các dụng cụ trong các phòng thí nghiệm loại dùng để thử các chất
đốt và cụ thể là để xác định chỉ số ốc tan trong xăng hoặc chỉ số
cetane trong các loại dầu cho động cơ diesel. Các dụng cụ đó thường
gồm một động cơ đốt trong, một dynamo, một máy phát mồi cho
động cơ, các điện trở nhiệt, các dụng cụ đo (nhiệt kế, áp kế, vôn kế,
ampe kế, v.v...).
(4) Các thiết bị kiểm tra và hiệu chỉnh động cơ xe cộ dùng để kiểm tra
tất cả các bộ phận của hệ thống mồi cho động cơ (cuộn dây, bugi, ắc
qui, tụ điện, v.v...), để xác định việc tạo dựng một bộ chế hoà khí tốt
nhất (thông qua việc phân tích các khí xả), hoặc để đo các khí nén
trong các xilanh.
(5) Các dụng cụ đo diện tích, để đo diện tích các bề mặt phẳng (ví dụ,
trên sơ đồ, đồ thị, da sống). Một điểm đánh dấu được gắn với một
thiết bị đo theo các đường bao của bề mặt được đo.
Các máy tích phân, các máy phân tích hài hoà và các dụng cụ
khác đều dựa trên nguyên lý của phép đo diện tích và có thể thực
hiện đo lường các yếu tố khác (ví dụ, thể tích, mômen của quán tính).
(6) Các thiết bị đo lường đồng mức của đầu được những người làm
mũ sử dụng để đục lỗ lên một tờ giấy.
(7) Các máy so sánh chỉ báo có mặt số, dụng cụ đo vi, bộ cảm biến điện
tử, quang điện, và cảm biến khí nén, tự động hoặc không tự động,
cũng như tất cả các dụng cụ, thiết bị dùng để đo các chiều dài, góc
hoặc đại lượng hình học khác mà dùng các bộ cảm biến như thế.
Cũng thuộc Nhóm này còn có các máy so sánh ghi ký và các máy so
sánh có một dụng cụ cơ học nhằm đưa các bộ phận chế tạo hàng loạt
vào máy so sánh và loại bỏ các bộ phận hỏng.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các máy so sánh có mặt đồng
hồ được sử dụng bằng tay và đã được miêu tả tại mục (4) phần (D)
trong Chú giải nhóm 90.17 (xem phần loại trừ (d) trên đây).
(8) Đồng hồ đo dạng cột để kiểm tra sự chính xác của các bộ êke, dùng
để kiểm tra các độ cao hoặc kiểm tra khác trong các quá trình chế
tạo.
(9) Các thanh hình sin và các thanh hình sin cho bàn điều chỉnh để
kiểm tra các góc.
(10) Các ống thuỷ chuẩn bằng bọt khí dùng trong rất nhiều ngành
nghề, gồm các ống thuỷ chuẩn có thể cân chỉnh vi kế (thuỷ chuẩn
bằng bọt khí có lắp vi kế), các thuỷ chuẩn đĩa khối (một khung kim
loại có hai thuỷ chuẩn) dùng trong ngành kỹ thuật, và các thuỷ
chuẩn chất lỏng dựa trên nguyên lý các bình thông nhau.
Chú ý rằng nhóm này loại trừ thuỷ chuẩn được dùng chuyên dụng
cho các công việc quan trắc (nhóm 90.15).
(11) Các nghiêng kế (bằng kim chỉ, mặt lưới, thước đo nghiêng, thước
đo góc nghiêng) cho phép kiểm tra một mức nào đó so với mặt phẳng
ngang hoặc đo các độ nghiêng bề mặt.
Tuy nhiên, các công cụ, cũng được gọi là nghiêng kế, dùng để quan
trắc độ cao đất liền bị loại trừ (nhóm 90.15).
(12) Dây quả dọi.
(13) Các cầu thể kế để đo đường cong các bề mặt hình cầu (thấu kính,
gương, kính mắt...) gồm một đế với 3 mũi nhọn (tại các góc của một
tam giác đều), một thước kẻ và vít vi kế có calip đo chiều dày, các
loại khác (dụng cụ thấu kính của các nhà quang học) có thể có mặt
đồng hồ để chỉ trực tiếp đường cong.
(14) Các tiêu chuẩn kiểm tra.
(15) Các thiết bị đo đa chiều gồm có các máy đo tọa độ (CMMS) dùng
để thực hiện bằng tay hoặc cơ học công việc kiểm tra kích thước đa
chiều cho nhiều thành phần hoặc bộ phận của máy.
(16) Các dụng cụ đặt tâm điểm kính mắt dùng cho các nhà quang
học để xác định và đánh dấu trục và tâm của thấu kính.
(17) Máy đo chuẩn vi kế dựa trên nguyên lý các vi kế, có một ụ sau cố
định (có chỉ báo tiếp xúc) và một ụ trước có thể cân chỉnh có vít
vi kế.
(18) Các thiết bị đo hoặc dò các độ rung, độ giãn, độ xóc hoặc lắc, sử
dụng trên máy móc, cầu, đập, v.v....
(19) Những thiết bị kiểm tra chất liệu vải như: các guồng quay kiểm
định(guồng sợi dọc) cho phép lấy một đoạn chỉ, hoặc sợi đã định (kể
cả có hay không có cơ cấu điều chỉnh độ căng, máy đếm, chuông
báo); máy đo mômen xoắn, ghi mômen xoắn để xác định độ xoắn
của chỉ; các căng kế để đo độ căng của chỉ trên máy dệt (mắc cửi,
cho chỉ vào suốt, xe chỉ...); các máy kiểm tra độ đều của chỉ bằng
cách cuộn trên một tang trống hoặc mâm, thường có cơ cấu kiểm tra
khoảng cách giữa các cuộn chỉ.
(20) Các dụng cụ đo độ nhám và máy để kiểm tra tình trạng các bề
mặt.
Trong các loại thiết bị cơ khí hoặc hơi nén, việc kiểm tra được thực
hiện bằng mũi nhọn tiếp xúc cứng hoặc tia khí nén.
Trong những máy dùng điện, các mũi kim bằng kim cương hoặc
ngọc sa-phia di chuyển ngang qua bề mặt cần được kiểm tra và
chuyển đổi bất kỳ sự bất thường nào của bề mặt đó thành điện thế.
Những chuyển động theo chiều dọc của mũi kim thì được chuyển đổi
thành điện thế nhờ có một tinh thể áp điện hoặc chuyển đổi gián tiếp
bằng cách biến đổi giá trị của tụ điện hoặc cuộn cảm. Điện thế sau đó
sẽ được khuếch đại và được đo. Việc so sánh các kết quả đo được
bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn đã chọn lựa về độ nhám của bề mặt
(các phiến kim loại nhỏ được áp dụng cho các công việc này), sẽ cho
chúng ta biết kết quả về trạng thái của bề mặt cần đo.
(21) Các máy kiểm tra cơ cấu bánh răng, chẳng hạn, dùng một bộ
khuếch đại kiểu đòn bẩy để kiểm tra hình dáng các mặt nghiêng,
đường kính của tuyến bánh răng, khoảng cách các răng, khoảng cách
tiếp xúc khi quay,... (bánh răng trụ thẳng và bánh răng nón), đầu
bánh răng,... (trên bánh răng xoắn trôn ốc và bánh vít)
(22) Các công cụ đo độ co của một mẫu kiểm tra làm từ đất sét, v.v...
lấy ra khỏi lò nung gốm trong khi nung để xác định tiến trình nung
(bằng hoả nghiệm). Công cụ đó thường giống các compa nhưng được
kẻ thang độ theo đơn vị giả định.
(23) Các dụng cụ đo bề mặt không đều (như da sống) bằng phương
pháp quang điện (hiệu số dòng điện của tế bào quang điện phụ thuộc
vào số phần của một tấm thuỷ tinh chiếu sáng đồng đều bị che khuất
bởi một bề mặt mờ đục trong khi tiến hành đo).
(24) Các dụng cụ đo đường kính của sợi chỉ bằng phương pháp quang
điện đã được miêu tả tại mục (23) trên đây.
(25) Các dụng cụ đo và kiểm tra liên tục độ dày các tấm hoặc dải kim
loại trong các máy cán, v.v....
(26) Các thiết bị đo độ dày bằng siêu âm cho phép xác định độ dày
bằng các quan sát được thực hiện chỉ từ một bên của vật liệu.
(27)Các dụng cụ soát lỗi, chỗ nứt, mẻ hoặc các sai sót, khuyết tật
khác trong vật liệu (thanh, ống, mặt nghiêng, bộ phận làm máy như
các ốc vít, kim chỉ báo,...) bằng cách quan sát biểu đồ trên màn hình
tia catốt có được từ các thay đổi từ tính, hoặc bằng cách đọc trực tiếp
trên mặt đồng hồ đã kẻ thang độ các thay đổi độ thẩm từ, hoặc sử
dụng các sóng siêu âm. Nhóm sau cũng gồm có các máy siêu âm để
kiểm tra các mối hàn, dựa trên nguyên lý mọi ngắt quãng trong trư-
ờng truyền mà sóng siêu âm đi qua sẽ khúc xạ tia. Các sai sót có thể
được kiểm tra hoặc bằng cách quan sát sự yếu dần của tia, hoặc bằng
phương pháp tiếng dội. Việc quan sát thực hiện trên màn hình ống tia
catốt.
(28)Các dụng cụ chuyên dụng để kiểm tra đồng hồ hoặc các bộ phận
của đồng hồ. Bao gồm:
(i) Các dụng cụ để kiểm tra các dây tóc.
(ii) Các máy đo biên độ để kiểm tra biên độ các dao động của bánh
xe quả lắc. Một tế bào quang điện sẽ nhận một chùm ánh sáng bị
chuyển động của con lắc làm gián đoạn và do đó sẽ đo biên độ
dao dộng.
(iii) Các máy đo dao động để thử và kiểm tra các chuyển động của
đồng hồ đã hoàn chỉnh, trong đó chuyển động của đồng hồ được
đặt trên microphone, mỗi tích của đồng hồ tạo ra một điện thế
được khuếch đại sẽ tác động vào hai điện cực trong đó, một điện
cực được khớp nối với các mũi kim, vì vậy mà chúng sẽ đột lỗ
một kí tự (record) trên băng giấy.
(iv) Các máy đo biên độ để kiểm tra lần cuối đồng hồ dựa trên
nguyên lý của các máy đo dao động (ghi lại tiếng tích tắc của
đồng hồ đặt trên một microphon), nhưng cũng có thể được lắp
máy hiện dao động tia catốt.
(29) Các dụng cụ điện chuyên dụng đo ứng lực, ứng suất và biến dạng
của vật liệu. Chúng hoạt động, ví dụ, dựa trên các nguyên lý sau:
(i) Sự biến thiên điện trở của một dây chịu tác dụng của ứng suất
(dây đo biến dạng). Tuy nhiên, các điện trở được biết như “các
dây đo biến dạng” thuộc nhóm 85.33.
(ii) Các biến thiên công suất giữa hai điện cực được thiết kế đặc biệt.
(iii) Các điện thế được sinh ra bởi các tinh thể thạch anh hoặc loại
tương tự dưới tác động của áp lực.
Nhóm này cũng bao gồm các động lực kế, cho phép đo các lực nén
hoặc kéo trong các máy ép thuỷ lực, các máy cán, các máy thử
nghiệm vật liệu, v.v.. và để cân tải trọng (chủ yếu cho máy bay).
Chúng thường gồm một bộ phận kim loại (xilanh, vòng...) trên đó khi
có một áp lực hoặc lực kéo và một thiết bị đo có thang độ với đơn vị
trọng lượng, sẽ ghi lại các thay đổi về hình dạng của vật thể kim loại.
Tuy nhiên, các động lực kế để thử các đặc tính của vật liệu bị loại
trừ (nhóm 90.24).
(30) Các tế bào đo điện biến đổi các thay đổi về lực (gồm cả trọng
lượng) thành các biến đổi tỷ lệ thuận của điện áp. Các biến đổi của
điện áp thường được xác định bởi các công cụ đo, điều khiển, cân ...
sẽ biểu hiện theo đại lượng cần tìm.
(31) Các máy ghi thời gian và thời kế điện tử để đo khoảng thời hạn
của một công tắc điện. Chúng gồm có một tụ được nạp điện nạp qua
một điện trở lớn khi công tắc đóng lại, việc đo đạc được thực hiện
trên một vôn kế điện tử có đơn vị đo tính theo đơn vị thời gian.
Nhóm này cũng bao gồm máy móc và dụng cụ quang học để đo hoặc
kiểm tra như:
(1) Các so kế quang học có kính vạt hoặc có thang độ, để cho phép
kiểm tra kích thước của một bộ phận được sản xuất so với vật chuẩn,
trong đó chuyển động của một calip đo chiều dày được khuếch đại
nhờ một dụng cụ quang học (nguyên lý gương quay).
(2) Các bàn so để kiểm tra độ kéo dài, các chiều dài, các mặt phẳng,....
Chúng bao gồm bàn và khung, bàn trượt và hai kính hiển vi vi kế
được gắn với nhau.
(3) Các bàn đo dùng cho các vật có kích thước lớn, calíp đo ren, phay
bánh răng, trục có ren cho các máy tiện, thanh dằn ngang... có khung
và bàn, kính hiển vi quan sát, hai kính hiển vi vi kế và dụng cụ chiếu.
(4) Các giao thoa kế để kiểm tra độ phẳng các bề mặt dựa trên nguyên
lý giao thoa ánh sáng, gồm một mặt phẳng quang học chuẩn với các
thấu kính cùng các dây chữ thập vi kế để đo các đám vân giao thoa.
Nhưng nhóm này loại trừ các mặt phẳng quang học chuẩn (nhóm
90.01), và các giao thoa kế dùng để đo các chỉ số khúc xạ (nhóm
(5) Các máy quang học đo bề mặt (đôi khi được gọi là thước hộp) để
kiểm tra điều kiện của các bề mặt nhờ sự phối hợp của một lăng kính
và một thấu kính.
(6) Các dụng cụ được trang bị một calíp đo chiều dày xung vi phân
nhanh có kính quan sát để chụp lại và đo các mặt cắt hoặc dạng các
bề mặt.
(7) Các kính gióng thẳng để kiểm tra độ thẳng của các bàn hoặc bàn
trượt trong các máy và để đo các cấu tạo kim loại..., chúng hoạt động
theo nguyên lý chuẩn trực hoặc chuẩn trực tự động, và gồm có một
kính viễn vọng, một ống chuẩn trực hoặc một gương soi.
(8) Các thước quang học để đo các độ lệch của mặt phẳng; gồm có một
thước rỗng mà ở hai đầu có một lăng kính và một thấu kính và một vi
kế thị kính có calíp đo chiều dày.
(9) Các thước đọc vi kế để kiểm tra di lệch của các bàn máy công cụ;
gồm có một thiết bị vi kế để đọc các thang độ milimet trên các thước
chia độ cá nhân.
(10) Các máy quang học đo góc dùng để kiểm tra các góc sắc nhọn của
răng hoặc lưỡi dao (mặt trước) trong quá trình mài; gồm một cơ cấu
thấu kính quang học với các gương chiếu và một mặt đồng hồ để đọc
góc tới, hoặc một hệ thống tấm cửa hình thành gương soi và một thị
kính có thể điều chỉnh được.
(11) Các thước đo hội tụ để đo kính mắt
Những công cụ và thiết bị nói trên vẫn được phân loại trong nhóm này
kể cả khi chúng có phù hợp để lắp trên máy hay không.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, nhóm 84.66 bao gồm những thành phần để
cân chỉnh các máy hoặc công cụ trên máy công cụ hoặc máy cắt bằng tia
nước, kể cả các phụ tùng "quang học" (ví dụ: các đầu chia “quang học”
hoặc các bàn tròn “quang học”) gắn cho các dụng cụ quang để trợ giúp
trong việc đọc các thang độ, hay thực hiện sự cân chỉnh, v.v....
(II) CÁC MÁY CHIẾU BIÊN DẠNG
Các máy chiếu này để kiểm tra hình dáng hoặc các kích thước của một
tập hợp các vật khác nhau (sản phẩm cắt gọt, bánh răng và pinhông cho
máy móc loại nhỏ, như vít, ốc vít, dao cắt ren, v.v...) hoặc để kiểm tra
các bề mặt. Trong phần lớn các máy chiếu đó, ánh sáng từ một bóng đèn
được tập trung thành tia bởi một tụ điện trước khi chiếu trực tiếp vào vật
được xem xét đặt trên một bàn soi. Mẫu kiểm tra sẽ được soi bóng lên
chùm ánh sáng mà sau khi được phản xạ vài lần sẽ được chiếu lên màn
hình nhờ một tổ hợp lăng trụ được lắp trong máy chiếu. Một số những
máy đó được trang bị một bàn soi trung gian trên đó có đặt một bộ phận
mẫu.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), nhóm
này cũng bao gồm các bộ phận và phụ kiện có thể chỉ ra là thích hợp chỉ
dùnghoặc chủ yếu dùng cùng với các máy móc, thiết bị được mô tả ở
trên; ví dụ: các tay của thước đo mặt phẳng, giá đỡ và bàn kiểm tra của
các so kế có mặt số.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm này cũng bao gồm các dụng cụ và thiết bị quang học để kiểm
tra mạch tích hợp cũng như các dụng cụ và thiết bị quang học để kiểm
tra mặt nạ quang hoặc lưới quang được sử dụng trong sản xuất mạch tích
hợp.
Phân nhóm 9031.49
Phân nhóm này không chỉ bao gồm các công cụ và thiết bị trợ giúp trực
tiếp hoặc tăng cường thị giác con người mà còn bao gồm cả những công
cụ và thiết bị khác vận hành bằng các thành phần hoặc phương pháp
quang học.
90.32 - Dụng cụ và thiết bị điều chỉnh hoặc điều khiển tự động.
9032.10 - Bộ ổn nhiệt
9032.20 - Bộ điều chỉnh áp lực
- Dụng cụ và thiết bị khác:
9032.81 - - Loại dùng thuỷ lực hoặc khí nén
9032.89 - - Loại khác
9032.90 - Bộ phận và phụ kiện
Theo Chú giải 7 của Chương này, nhóm này bao gồm:
(A) Các công cụ và thiết bị tự động kiểm soát lưu lượng, mức, áp suất
hoặc những thay đổi khác của các khí hoặc chất lỏng, hoặc kiểm tra
tự động nhiệt độ, mặc dù sự vận hành của chúng phụ thuộc hay
không phụ thuộc vào hiện tượng điện biến thiên theo hệ số được
kiểm tra tự động. Chúng được thiết kế để đưa hệ số này tới và duy
trì nó ở giá trị mong muốn, được giữ ổn định để chống lại sự nhiễu
loạn, bằng cách đo liên tục hoặc định kỳ các giá trị thực; và
(B) Các bộ điều chỉnh tự động các đại lượng điện, và các bộ điều chỉnh
tự động các đại lượng không thuộc điện khác và vận hành của chúng
phụ thuộc vào môi trường điện biến thiên theo hệ số được kiểm tra.
Chúng được thiết kế để đưa hệ số này tới và duy trì nó ở giá trị
mong muốn, được giữ ổn định để chống lại sự nhiễu loạn, bằng cách
đo liên tục hoặc định kỳ các giá trị thực.
(I) CÔNG CỤ VÀ THIẾT BỊ TỰ ĐỘNG ĐIỀU CHỈNH LƯU
LƯỢNG, MỨC, ÁP SUẤT HOẶC CÁC ĐẠI LƯỢNG KHÁC CỦA
CÁC CHẤT KHÍ HOẶC CHẤT LỎNG, HOẶC ĐỂ ĐIỀU KHIỂN
TỰ ĐỘNG NHIỆT ĐỘ
Những thiết bị tự động điều chỉnh cho chất khí, hoặc chất lỏng và
những thiết bị để điều chỉnh tự động nhiệt độ là một bộ phận trong
các hệ thống kiểm tra hoàn toàn tự động. Chủ yếu gồm những thiết bị
sau đây:
(A) Một thiết bị đo những biến số cần được điều chỉnh (áp lực hoặc
mức trong bể, nhiệt độ trong phòng,..). Trong một số trường hợp,
khí cụ đó có thể thay thế bằng một thiết bị giản đơn nhạy cảm với
các thay đổi của biến số (cọc kim loại hoặc lưỡng kim, khoang hoặc
ống quạt chứa chất lỏng có thể giãn nở được, phao...)
(B) Một thiết bị kiểm soát để, so sánh trị số đo với trị số danh định và
theo đó tác động lên thiết bị được nêu ở mục (C) dưới đây.
(C) Một thiết bị khởi động, tắt hoặc vận hành.
Các thiết bị dùng để điều chỉnh tự động các chất lỏng, khí hoặc kiểm tra
tự động nhiệt độ theo Chú giải 7(a) của Chương này gồm bộ ba thiết bị
này tạo thành một vật thể đơn hoặc theo Chú giải 3 của Chương này
thành một máy có chức năng.
Một số các công cụ và thiết bị này không có bộ phận so sánh trị số đo
với trị số danh định và được làm chuyển động trực tiếp qua một công tắc
khi mà trị số đã xác định ban đầu được đạt tới.
Các công cụ và thiết bị để điều chỉnh tự động lưu lượng, mức, áp suất và
các biến số khác của các chất khí hoặc chất lỏng hoặc để tự động điều
chỉnh nhiệt độ được nối với một thiết bị vận hành (bơm, máy nén, van,
đầu đốt cho lò luyện, nung, ...) phục hồi lại biến số (Ví dụ: chất lỏng
được đo trong bể, nhiệt độ trong phòng) tới trị số dự định, hoặc trong
trường hợp của một hệ thống an toàn, ví dụ dụng cụ này sẽ dừng hoạt
động của thiết bị hoặc máy móc được điều khiển. Nhìn chung, dụng cụ
đo thường được điều khiển từ xa bởi một thiết bị điều khiển cơ học, thuỷ
lực, khí nén, hoặc điện; chúng cũng được phân loại theo nhóm riêng phù
hợp (ví dụ bơm, hoặc máy nén khí: nhóm 84.13 hoặc 84.14;còn van:
nhóm 84.81,...). Nếu thiết bịđiều chỉnh tự động kết hợp với một thiết bị
vận hành thì sự phân loại của tất cả phải áp dụng hoặc là Quy tắc 1, hoặc
Quy tắc 3(b) (xem Phần (III) Chú giải tổng quát của Phần XVI và Chú
giải chi tiết nhóm 84.81).
Trong nhóm này gồm :
(A) Các thiết bị kiểm tra hoặc điều chỉnh áp lực còn gọi là ổn áp hoặc
điều áp kế, gồm chủ yếu một thành phần cảm ứng với áp suất, một
dụng cụ điều chỉnh để so sánh (ví dụ, nhờ một lò xo có thể điều
chỉnh) áp suất thực phải điều chỉnh, với áp suất danh định, và một
công tắc điện hoặc một van nhỏ vận hành mạch trợ động.
Những thiết bị này có thể được sử dụng để điều khiển một bơm hoặc
máy nén khí có mô tơ để nạp cho các bể áp suất hoặc để vận hành
các bộ phận định vị van khí nén, hoặc kết hợp với một van để điều
chỉnh lưu lượng, áp suất, v.v... của các chất lỏng hoặc khí.
Những dụng cụ điều khiển áp suất được mô tả trên đây khác với các
van giảm áp thuộc nhóm 84.81(vì đôi khi các van này cũng được
gọi là “điều áp”).
(B) Các bộ điều chỉnh hoặc kiểm tra mức dùng để tự động kiểm tra
mức.
Trong dụng cụ điều chỉnh mức loại phao, phao hoạt động trên
một màng ngăn, hoặc một bộ phận từ hoặc khác từ, để vận hành một
công tắc điện, lần lượt làm bật và tắt bơm, van...
Trong hệ thống điện cực, chất lỏng được để tiếp nối với đất tạo
thành một phần của mạch điện. Một cực của biến áp cũng được tiếp
đất. Khi bề mặt của chất lỏng tiếp xúc với điện cực, mạch điện đóng
và một rơ le bắt đầu hoạt động.
(C) Các bộ điều tiết độ ẩm, đôi khi còn gọi là ổn ẩm, dùng để điều
chỉnh tự động độ ẩm trong các buồng hơi, nồi hơi, lò nung, phân
xưởng, kho...
Sự vận hành các thiết bị đó phụ thuộc vào sự biến đổi độ dài một bó
tóc hoặc một số thành phần nhạy cảm với độ ẩm và vận hành một
dụng cụ phát tín hiệu hoặc điều khiển một thiết bị có khả năng thay
đổi độ ẩm mà đã được xác định (van nạp hơi, máy làm ẩm hoặc máy
tiêu ẩm, quạt ...).
(D) Các bộ điều chỉnh nhiệt dùng để kiểm tra tự động nhiệt độ, gồm
chủ yếu các linh kiện sau:
(1) Một thành phần nhạy cảm với những thay đổi nhiệt độ, chúng
hoạt động phụ thuộc vào:
Sự biến dạng của một lá lưỡng kim (thẳng, hình chữ U,
xoáy trôn ốc...);
Áp suất hơi của một chất lỏng;
Sự giãn nở của một chất lỏng hoặc thanh kim loại;
Điện trở hoặc một ngẫu nhiệt.
Trong các bộ điều chỉnh nhiệt loại lá lưỡng kim, các lá này được gắn
trong một ống piston hoặc một hộp, còn trong loại thanh kim loại thì
thanh được đặt trong ống piston. Trong các bộ điều chỉnh nhiệt theo
áp suất hơi nước hoặc chất lỏng, thì bộ phận nhạy cảm có thể gồm
một màng gấp chứa chất lỏng hoặc gồm một hệ thống chứa một
màng ngăn, ống mao quản, và bóng hoặc một ống khuỷu.
(2) Một tang trống, đĩa hoặc bất cứ một cơ cấu khác để tạo sẵn
nhiệt độ danh định.
(3) Một cơ cấu khởi động hay truyền động gồm, chủ yếu tuỳ theo
tính chất truyền động (cơ, chất lỏng trợ động, điện), một hệ
thống đòn bẩy, lò xo ... và một van hoặc một chuyển mạch điện.
Cơ cấu đó kích hoạt các tín hiệu hoặc điều khiển từ xa một thiết
bị điều chỉnh nhiệt độ như van nạp hơi hoặc nước nóng, đánh lửa
nồi hơi, thiết bị điều hoà không khí, quạt ...
Cụ thể các bộ điều chỉnh nhiệt dùng để điều chỉnh nhiệt độ trong các
ngôi nhà, toà nhà, các lò nung, bếp điện, nồi hơi, ấm đun nước, thiết
bị đông lạnh, lò sưởi hay ống khói, các thiết bị hoặc buồng hơi và
thiết bị khác dùng trong công nghiệp hoặc cho các phòng thí
nghiệm.
(E) Các bộ điều chỉnh nhiệt cho phép tạo và duy trì nhiệt độ định sẵn
của các dụng cụ nấu bằng điện (các bếp điện, dàn nướng, bình đun
cà phê ...) chủ yếu gồm một lá lưỡng kim, mà khi bị biến dạng dưới
tác động nhiệt của một điện trở sun trên mạch điện sẽ vận hành một
công tắc điện để đóng, mở mạch. Các giai đoạn “Ngắt” hay “Mở”
(và cuối cùng là nhiệt độ của bộ phận đốt) được xác định theo các vị
trí khác nhau của một mặt số điều khiển bằng tay. Vị trí “Đủ” trả lại
tình trạng không hoạt động cho bộ lưỡng kim, do vậy riêng ở các
giai đoạn bắt đầu của quá trình đốt nóng, sẽ cho phép bộ phận đốt
nóng hoạt động liên tục.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các lò hấp hơi, buồng “tĩnh nhiệt” hoặc “điều chỉnh nhiệt”, trong
đó nhiệt độ được giữ ở mức không thay đổi nhờ một bộ điều
chỉnh nhiệt và được phân loại lần lượt theo các nhóm tương ứng.
(b) Các van điều chỉnh bằng nhiệt (nhóm 84.81).
(F) Các bộ điều chỉnh kéo bằng lò được sử dụng, ví dụ như trong các
thiết bị đun trung tâm hoặc điều hoà không khí để tự động điều
chỉnh không khí nạp vào bằng cách tham chiếu nhiệt độ, áp suất, ....
(II) CÁC BỘ ĐIỀU CHỈNH TỰ ĐỘNG CÁC ĐẠI LƯỢNG ĐIỆN
VÀ CÁC THIẾT BỊ HOẶC DỤNG CỤ ĐIỀU CHỈNH TỰ ĐỘNG
CÁC ĐẠI LƯỢNG KHÔNG THUỘC ĐIỆN, CHÚNG VẬN HÀNH
PHỤ THUỘC VÀO HIỆN TƯỢNG BIẾN ĐỔI ĐIỆN THEO HỆ SỐ
ĐIỀU CHỈNH
Những bộ điều chỉnh tự động được nêu trong nhóm này nhằm sử dụng
cho các hệ thống điều chỉnh hoàn toàn tự động có chức năng đưa một đại
lượng thuộc điện hoặc không thuộc điện đến một trị số đã định và duy trì
trị số đó, được ổn định khi bị nhiễu loạn, bằng cách đo liên tục hoặc định
kỳ trị số thực tế của nó. Chúng chủ yếu gồm những dụng cụ sau:
(A) Một dụng cụ đo (bộ phận nhạy cảm, bộ chuyển đổi, máy dò điện
trở, cặp nhiệt điện, v.v...) xác định giá trị thực của đại lượng phải đo
và biến nó thành tín hiệu điện tương ứng.
(B) Một dụng cụ kiểm tra điện để so sánh trị số đo được với trị số
danh định và phát ra một tín hiệu (thường dưới dạng một dòng điện
điều biến).
(C) Một thiết bị khởi động, ngắt hoặc vận hành (thường là các công
tắc, cầu chì hoặc cầu dao, công tắc đảo hoặc đôi khi là công tắc rơ
le) cho phép dòng điện đi vào bộ khởi động theo tín hiệu nhận được
từ bộ phận điều khiển.
Một thiết bị điều chỉnh tự động đúng nghĩa của Chú giải 7(b) của
Chương này bao gồm các dụng cụ được mô tả ở mục (A), (B), (C) ở
trên, cho dù lắp ráp với nhau như một thiết bị duy nhất hoặc phù hợp với
Chú giải 3 của Chương này, thành một máy có chức năng.
Nếu không đáp ứng các mô tả được chỉ ra ở đoạn trên, thì các thiết bị
này được phân loại như sau:
(1) Thiết bị đo bằng điện nói chung thuộc các nhóm 90.25, 90.26 hoặc
(2) Thiết bị kiểm tra bằng điện được phân loại trong nhóm này khi chúng
là thiết bị hoặc dụng cụ điều chỉnh không hoàn toàn tự động.
(3) Thiết bị khởi động, ngắt hoặc vận hành nói chung thuộc nhóm 85.36
(ngắt mạch, chuyển mạch, rơ le...).
Các bộ điều chỉnh tự động được nối với một cơ cấu kích hoạt bằng điện,
khí nén hoặc thuỷ lực luôn đưa đại lượng phải đo về giá trị danh định.
Cơ cấu kích hoạt này có thể là những vật nối điều chỉnh khoảng cách các
điện cực của một lò nung hồ quang điện vòm, van động cơ nạp nước
hoặc hơi của nồi hơi, lò nung, máy tước xơ...
Thiết bị kích hoạt được phân loại vào nhóm thích hợp (kẹp điều chỉnh
thuộc nhóm 84.25; van động cơ hoặc van ruột gà vào nhóm 84.81; cơ
cấu định vị điện từ thuộc nhóm 85.05...). Trong trường hợp mà bộ điều
chỉnh tự động được phối hợp với một cơ cấu kích hoạt, toàn bộ cơ cấu
này phải được xếp theo Quy tắc 1 hoặc theo Quy tắc 3(b). (xem thêm
Phần (III) các Chú giải tổng quát cho Phần XVI và Chú giải nhóm
Các bộ điều chỉnh điện tử vận hành chặt chẽ theo nguyên lý điện chứ
không theo nguyên lý cơ điện. Những đặc trưng tiêu biểu của chúng là
các chất bán dẫn (transito) hoặc các mạch tổ hợp.
Chúng dùng không chỉ điều chỉnh các đại lượng điện như điện áp, cường
độ, tần số và công suất, mà còn để điều chỉnh các đại lượng khác như
vòng quay/phút, lực xoắn, lực kéo, mức, áp suất, lưu lượng hoặc nhiệt
độ.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các thiết bị ngắt mạch kết hợp sử dụng trong nhà riêng kết hợp với
một dụng cụ điều chỉnh điện áp hoặc dòng điện để sử dụng trong kết
nối với các động cơ piston đốt trong (nhóm 85.11).
(b) Các dụng cụ điều khiển theo lập trình gọi là cơ cấu kiểm tra lập trình
thuộc nhóm 85.37.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện của những dụng cụ hay thiết bị thuộc nhóm này cũng
đều được phân loại vào nhóm này.
90.33- Bộ phận và phụ kiện (chưa được chi tiết hoặc ghi ở các nhóm
khác thuộc Chương này) dùng cho máy, thiết bị, dụng cụ
hoặc đồ dùng thuộc Chương 90.
Nhóm này bao gồm tất cả các bộ phận và phụ kiện của máy móc, thiết
bị, dụng cụ hoặc các mặt hàng của Chương này, trừ những mặt hàng sau
đây:
(1) Những mặt hàng nêu trong Chú giải 1 của Chương này như:
(a) Các bộ phận quang học, bằng thuỷ tinh, chưa gia công về mặt
quang học (Chương 70).
(b) Các mặt hàng thuộc loại sử dụng cho máy móc, dụng cụ, sản
phẩm hay thiết bị làm từ cao su lưu hoá trừ cao su cứng (ví dụ
các đệm lót, vòng đệm và những vật tương tự bằng cao su)
(nhóm 40.16), bằng da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp (gồm cả
các màng bằng da thuộc của dụng cụ đo khí) (nhóm 42.05) hoặc
bằng vật liệu dệt (nhóm 59.11).
(c) Các bộ phận có công dụng chungtheo nghĩa của Chú giải 2 Phần
XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV) hoặc các mặt hàng tương
tự bằng plastic (Chương 39).
(2) Những mặt hàng trong Chú giải 2(a), bản thân chúng tạo thành các
mặt hàng thiết bị, máy móc, dụng cụ thuộc bất cứ nhóm riêng nào
của Chương 90 hoặc của Chương 84, Chương 85 hoặc Chương 91
(ngoại trừ các nhóm 84.87, 85.48 hoặc 90.33). Vì vậy, khi trình bày
dưới dạng riêng lẻ, những mặt hàng này phải được phân loại vào các
nhóm tương ứng của chúng. Ví dụ các mặt hàng này bao gồm:
(a) Bơm chân không (nhóm 84.14), vòi nước hoặc van (nhóm
84.81), các bánh răng (nhóm 84.83).
(b) Mô tơ điện (nhóm 85.01), biến thế (nhóm 85.04), nam châm
vĩnh cửu hoặc nam châm điện (nhóm 85.05), pin thường (nhóm
85.06), thiết bị điện khuếch đại âm tần (nhóm 85.18), tụ điện
thuộc nhóm 85.32, điện trở (nhóm 85.33), rơ le (nhóm 85.36),
đèn điện tử hoặc ống điện tử (nhóm 85.40), tế bào quang điện
(nhóm 85.41), khuyếch đại trung tần hoặc cao tần (nhóm
(c) Các bộ phận quang học của nhóm 90.01 hoặc 90.02.
(d) Máy ảnh (nhóm 90.06), nhiệt kế và ẩm kế (nhóm 90.25).
(e) Máy đồng hồ cá nhân hoặc đồng hồ thời gian (nhóm 91.08 hoặc
(3) Các loại dễ được nhận biết thích hợp chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng
riêng cho một máy, một thiết bị, một dụng cụ hoặc dùng chung cho
nhiều máy, thiết bị, dụng cụ trong cùng một nhóm của Chương này
thì vẫn được phân loại trong cùng nhóm với các máy, khí cụ, dụng cụ
có liên quanđó, bằng cách áp dụng Chú giải 2 (b) của Chương,
phế quản, tinh dầu, v.v...).
Một số thiết bị này cũng có thể là dụng cụ cá nhân (ống phun) lắp trực
tiếp vào bình oxy hay không khí nén hoặc lắp trong các lồng thở oxy
được mô tả ở Phần (V) trên đây. Một số khác cũng có thể là máy phun
xông khí trong các phòng khám bệnh hay bệnh viện, chủ yếu gồm một
khoang chứa một máy nén có động cơ, thiết bị đo, bản thân máy phun và
các thiết bị ứng dụng khác (mặt nạ, các vòi phun thuộc mũi, miệng, phụ
khoa, v.v...). Nhóm bao gồm loại xông khí xịt bằng tay để xịt vào răng
hoặc lợi, loại này hoạt động bằng khí gas nén trong một hộp có nắp vặn;
loại thuốc sử dụng để làm sạch miệng và điều trị bệnh chẳng hạn như
viêm quanh răng.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các
bộ phận và phụ kiện cho các dụng cụ hoặc thiết bị nhóm này cũng được
phân loại trong nhóm. Những bộ phận và phụ kiện này bao gồm lồng
chụp và các thiết bị gắn lồng chụpcho các máy trị liệu ôxy.
90.20 - Thiết bị thở và mặt nạ phòng khí khác, trừ các mặt nạ bảo hộ
mà không có bộ phận cơ khí hoặc không có phin lọc có thể
thay thế được.
(I) CÁC THIẾT BỊ THỞ
Nhóm này bao gồm các thiết bị thở được sử dụng bởi các phi công, thợ
lặn, người leo núi hay nhân viên cứu hoả. Đó có thể là các máy độc lập
(có bình oxy hay bình không khí nén mang theo) hoặc trong những
trường hợp khác, máy có thể có ống mềm nối với bộ nén khí, ống dẫn
không khí nén, bình chứa hoặc là thông với không khí bên ngoài (đối với
một số thiết bị sử dụng ở cự li ngắn).
Nhóm này cũng bao gồm mũ của thợ lặn, được gắn chặt vào áo lặn cho
kín nước và bộ đồ bảo vệ chống bức xạ hay nhiễm xạ, kết hợp với các
thiết bị thở.
(II) MẶT NẠ PHÒNG KHÍ
Thiết bị loại này cho phép người đeo hít thở an toàn trong các môi trư-
ờng bị ô nhiễm do bụi, khí độc, khói, v.v..,. và vì vậy, được sử dụng
trong một số ngành công nghiệp nhất định, hoặc trong chiến tranh
(chống hơi độc).
Đặc điểm của mặt nạ phòng độc là không khí thở được đi trực tiếp từ
bên ngoài vào, qua bộ lọc có tác dụng hấp thu khí độc hoặc cản bụi. Do
đó, chúng cần có một mặt nạ cấu tạo sao cho người đeo vẫn có thể nhìn
được, một khung bằng kim loại có các van thở ra, hít vào và một lỗ để
lắp bộ lọc hay ống mềm nối với hệ thống lọc đặt trên lưng hay trước
ngực. Cũng có những kiểu mặt nạ đơn giản hơn chỉ để che miệng và
mũi; nó được giữ bằng một hoặc nhiều ruy-băng đàn hồi và chứa vật liệu
lọc hay vật liệu hấp thu (bằng sợi a-mi-ăng, cao su xốp, bông, v.v..,. có
tẩm thuốc hay không) dễ thay thế sau khi sử dụng.
Những loại thiết bị thở hoặc mặt nạ phòng khí sau đây không thuộc
nhóm này:
(a) Mặt nạ chống bụi, mùi khó chịu, v.v..,. không được trang bị một bộ
lọc có thể thay thếnhưng lại gồm một vài lớp vải dệt tết lại với nhau,
có hoặc không phủ than hoạt tính hoặc ở giữa có lớp sợi tổng hợp,
cũng như các mặt nạ bằng vật liệu dệt mà các phẫu thuật viên, y tá,
v.v... thường dùng trong khi mổ hay chăm sóc bệnh nhân (nhóm
(b) Mặt nạ chống bụi hay các hạt bụi từ nguyên liệu, gồm một mảnh
đơn giản bằng lưới thép sợi không có bộ lọc ngoại trừ một miếng gạc
(Phần XV).
(c) Mặt nạ để tiến hành gây mê (nhóm 90.18).
(d) Mặt nạ hô hấp của thợ lặn mà không có bình ôxy hay không khí nén
cũng như các ống thở dưới nước đơn giản (thường gọi là "ống thở")
cho người lặn hay bơi (nhóm 95.06).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện của các máy móc hay dụng cụ nói trên cũng vẫn được
phân loại vào nhóm này.
90.21 - Dụng cụ chỉnh hình, kể cả nạng, băng dùng trong phẫu thuật và
băng cố định; nẹp và các dụng cụ cố định vết gẫy khác; các bộ
phận nhân tạo của cơ thể người; thiết bị trợ thính và dụng cụ
khác được lắp hoặc mang theo, hoặc cấy vào cơ thể, để bù đắp
khuyết tật hay sự suy giảm của một bộ phận cơ thể.
9021.10 - Các dụng cụ chỉnh hình hoặc nẹp xương
⦁ Răng giả và chi tiết gắn dùng trong nha khoa:
9021.21 - - Răng giả
9021.29 - - Loại khác
- Các bộ phận nhân tạo khác của cơ thể:
9021.31 - - Khớp giả
9021.39 - - Loại khác
9021.40 - Thiết bị trợ thính, trừ các bộ phận và phụ kiện
9021.50 - Thiết bị điều hoà nhịp tim dùng cho việc kích thích cơ
tim, trừ các bộ phận và phụ kiện
9021.90 - Loại khác
(I) DỤNG CỤ CHỈNH HÌNH
Được định nghĩa trong Chú giải 6 của Chương này. Các dụng cụ này
dùng để:
⦁ Phòng ngừa hay chỉnh lại những bộ phận cơ thể dị dạng; hoặc
⦁ Để trợ giúp hay giữ các bộ phận cơ thể sau khi ốm dậy, sau khi phẫu
thuật hoặc chấn thương.
Chúng bao gồm:
(1) Dụng cụ cho người bị bệnh về hông (bệnh đau khớp háng, ...).
(2) Dụng cụ nẹp xương cánh tay (để cho phép sử dụng một tay sau
khi cắt bỏ), (nẹp khi kéo giãn)
(3) Dụng cụ cho xương hàm.
(4) Các dụng cụ kéo giãn, v.v... để nắn xương ngón tay.
(5) Dụng cụ điều trị bệnh Pott (nắn đầu và cột sống) (bệnh lao cột
sống).
(6) Giày chỉnh hình và các đế giày chuyên dụng được thiết kế để
chỉnh đúng các dạng chỉnh hình, với điều kiện chúng hoặc có
thể được sản xuất ra (1) để đo hoặc (2) sản xuất hàng loạt, ở
dạng chỉ có 1 chiếc và không theo đôi và được thiết kế để vừa
với cả hai chân như nhau.
(7) Dụng cụ nha khoa dùng để chỉnh hàm răng dị dạng (niềng răng,
vành cung, v.v...).
(8) Các dụng cụ chỉnh hình bàn chân (cho người chân vẹo, nẹp
châncó hoặc không có bộ đệm cho bàn chân, ủng dùng sau phẫu
thuật, v.v...).
(9) Băng giữ (bẹn, đùi, rốn, v.v...) và thiết bị dùng cho người thoát
vị.
(10) Dụng cụ nắn cho người bị vẹo xương sống và lệch thân, cũng
như các loại áo nịt và thắt lưng nội-ngoại khoa (bao gồm cả một
số thắt lưng chống sa) được đặc trưng bởi:
(a) Các miếng đệm và lò xo chuyên dụng, v.v... có thể điều chỉnh
cho phù hợp với từng bệnh nhân.
(b) Chất liệu cấu thành (bằng da, kim loại, plastic…); hoặc
(c) Sự có mặt của các bộ phận được gia cố, các miếng vải hay băng
cứng với chiều rộng khác nhau.
Sự thiết kế chuyên dụng của các sản phẩm này cho riêng mục
đích chỉnh hình làm cho chúng khác biệt với các áo nịt hay thắt
lưng thông thường, dù các sản phẩm thông thường đó có hoặc
không có tác dụng nâng hay giữ.
(11) Băng treo chỉnh hình (không kể những loại băng treo đơn giản
bằng chất liệu dệt, đan hoặc móc...).
Cũng thuộc nhóm này còn có các loại nạng và gậy chống nạng. (Tuy
nhiên, lưu ý rằngkhông kể những loại gậy đi dạo thông thường, thậm chí
được làm đặc biệt cho người tàn tật (nhóm 66.02)).
Nhóm này còn bao gồm các thiết bị hỗ trợ đi bộ, hay còn gọi là “khung
tập đi” hỗ trợ người sử dụng khi họ đẩy lên khung này. Thiết bị này
thường gồm một khung kim loại hình ống trên 3 hoặc 4 bánh xe (một vài
hoặc tất cả các bánh xe có thể xoay được), tay cầm và phanh tay.
“Khung tập đi” có thể điều chỉnh được độ cao và có thể được lắp thêm
một ghế ngồi giữa các tay cầm và một giỏ để đựng đồ cá nhân. Ghế ngồi
giúp người sử dụng có thể ngồi nghỉ ngơi khi cần thiết.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Tất dài cho người bị giãn tĩnh mạch (nhóm 61.15).
(b) Các dụng cụ hay vật bảo vệ đơn giản để làm giảm sức ép lên một số
bộ phận nhất định của bàn chân (thuộc nhóm 39.26 khi chúng được
làm bằng plastic hay nhóm 40.14 khi chúng được làm bằng cao su
xốp gắn trên gạc có chất kết dính).
(c) Thắt lưng và các vật dụng hỗ trợ khác thuộc loại như đã đề cập ở
Chú giải 1 (b) của Chương này, ví dụ thắt lưng cho người có thai hay
trước khi sinh (thường thuộc các nhóm 62.12 hay 63.07).
d) Giày dép được sản xuất hàng loạt có chỗ gồ lên ở đế để đỡ vòm cong
ở gan bàn chân (Chương 64).
Nhóm này cũng bao gồm các dụng cụ chỉnh hình cho súc vật, như
băng thoát vị, đai thoát vị; các dụng cụ để cố định bàn chân hay cẳng
chân; dây curoa và ống đặc biệt để ngăn không cho súc vật cắn vào cũi;
băng chống sa (chống sa trực tràng, dạ con, v.v...); dụng cụ bảo vệ
sừng... Tuy nhiên, những thiết bị bảo vệ có tính chất của các vật dụng
yên cương thông thường cho súc vật (ví dụ, miếng lót bảo vệ chân cho
ngựa) khôngthuộc nhóm này (nhóm 42.01).
(II) NẸP VÀ CÁC DỤNG CỤ CỐ ĐỊNH VẾT GÃY KHÁC
Dụng cụcố định vết gãy được dùng hoặc để cố định phần bị thương tổn
của cơ thể người (để kéo giãn hoặc bảo vệ) hoặc cố định vết gãy. Chúng
cũng được sử dụng để điều trị khi sai khớp hay chấn thương khớp khác.
Một số loại được thiết kế để đặt trên cơ thể bệnh nhân (ví dụ là trường
hợp các khung nẹp bằng dây kim loại, bằng kẽm, gỗ... để cố định các
chi, nẹp bằng băng đắp thạch cao, các dụng cụ chữa gãy xương sườn, giá
đỡ lồng ngực, v.v...); những loại khác được thiết kế để gắn vào giường,
bàn hay dụng cụ hỗ trợ khác (khung bảo vệ gắn trên giường, những dụng
cụ gọi là "giãn cơ" có nẹp đứng hình ống thay thế cho khung nẹp, v.v...).
Tuy nhiên, những dụng cụ mà không thể tách rời với giường, bàn hoặc
dụng cụ hỗ trợ khác thì không thuộc nhóm này.
Theo Chú giải 1 (f) của Chương này, nhóm này còn có các phiến, đinh
ghép, v.v... do các nhà phẫu thuật đưa vào cơ thể ngườiđể ghép hai phần
xương gẫy hay những trường hợp gãy tương tự.
(III) CHI GIẢ, RĂNG GIẢ, MẮT GIẢ HAY NHỮNG BỘ PHẬN
NHÂN TẠO KHÁC CỦA CƠ THỂ
Đó là những dụng cụ để thay thế toàn bộ hay một phần cho bộ phận bị
khuyết của cơ thể và nói chung làm giống như thật. Trong số những
dụng cụ này có thể kể:
(A) Đồ dùng làm mắt nhân tạo:
(1) Mắt giả: thường làm bằng plastic hay thuỷ tinh có thêm một
lượng nhỏ ôxit kim loại để mô phỏng các đặc tính và màu sắc
của các bộ phận khác nhau ở mắt người (củng mạc, mống mắt,
con ngươi). Chúng có thể là loại đơn hay hai lớp.
(2) Thấu kính trong mắt:
Mắt giả cho ma-nơ-canh, thú, v.v...bị loại trừ (thường được
phân loại trong nhóm 39.26 hay 70.18); mắt giả được nhận dạng
là bộ phận của búp bê hoặc của con thú đồ chơi thì thuộc nhóm
95.03 hoặc thuộc nhóm 70.18 nếu làm bằng thuỷ tinh.
(B) Răng giả và các phụ kiện nha khoa, ví dụ:
(1) Răng giả đặc, thường bằng sứ hay plastic (cụ thể là nhựa
polymer acrylic). Chúng có thể là răng gắn có một số lỗ nhỏ để
đổ chất có tác dụng cố định (thông thường đó là răng hàm) hoặc
răng có móc, tức là ở mặt sau có hai móc kim loại để giữ răng
(thường là răng cửa hoặc răng nanh), hoặc răng có rãnh, còn gọi
là răng kép, tức là ở mặt sau có rãnh để có thể gài một phiến kim
loại (thông thường đó cũng là răng cửa hay răng nanh).
(2) Răng giả rỗng, cũng bằng sứ hay plastic, bên ngoài có hình răng
(răng cửa, răng nanh hay răng hàm), nhưng bên trong rỗng.
Theo cách lắp, loại này được gọi là “răng có trụ” (vì được đặt
trên một trụ kim loại nhỏ vừa khớp với chân răng cũ) hay các
“mũ răng” (được gắn chặt bằng keo nhân tạo, trên một chân răng
cụt đã sửa trước cho ăn khớp).
(3) Hàm răng giả từng phần hay toàn bộ, gồm có một tấm gắn bằng
cao su lưu hoá, plastic hay kim loại, để lắp răng giả.
(4) Các loại răng khác như: các mũ răng giả bằng kim loại đúc sẵn
(bằng vàng, thép không gỉ...) để bọc răng tự nhiên nhằm mục
đích bảo vệ; các mảnh bằng thiếc nấu chảy gọi là "thỏi răng" để
làm cho hàm răng giả nặng thêm, do đó ổn định hơn; thỏi bằng
thiếc không gỉ để gia cố tấm gán bằng cao su lưu hóa; các phụ
tùng khác dễ nhận biết là những thứ mà nha sĩ dùng để làm mũ
răng bằng kim loại và hàm răng giả (ổ, vòng, trụ, móc, lỗ...).
Lưu ý rằng, xi măng hàn răngvà các chất hàn răngkhác thuộc
nhóm 30.06; các chế phẩm gọi là "xi nha khoa" hoặc “các hợp
chất tạo khuôn răng” đã đóng gói thành bộ để bán lẻ hoặc ở dạng
phiến, dạng móng ngựa, dạng thanh hoặc các dạng tương tự; các
chế phẩm khác dùng trong nha khoa, với thành phần cơ bản là
thạch cao plaster (thạch cao nung hoặc canxi sulphat nung)thuộc
nhóm 34.07.
(C) Các dụng cụ và đồ giả khác, và như cánh tay, cẳng tay, bàn tay,
cẳng chân, bàn chân, mũi, khớp giả (ví dụ cho hông, đầu gối) và các
ống bằng sợi tổng hợp để thay thế cho các mạch máu và van tim.
Nhóm này loại trừ các mẩu xương hay da để cấy ghép, trong vật
đựng vô trùng (nhóm 30.01) và xi măng gắn xương (nhóm 30.06).
(IV) MÁY TRỢ THÍNH
Thông thường, những máy này là những thiết bị điệncó một mạch gồm
có một hay nhiều microphone (có hay không có thiết bị tăng âm), một
máy thu (ống nghe) và một bộ pin. Ống nghe có thể đặt trong tai, sau tai
hoặc có thể được thiết kế đểdùng tay áp vào tai.
Chỉ có những máy giúp những người kém thính lực thực sự mới được
phân loại vào nhóm này, vì vậy các loại máy khác như tai nghe, máy
tăng âm và các máy tương tự, sử dụng trong các phòng hội nghị hay
dùng cho điện thoại viên để nghe rõ hơn các cuộc đàm thoại, không
thuộc nhóm này.
(V) DỤNG CỤ KHÁC ĐƯỢC ĐEO, HOẶC MANG THEO, HOẶC
CẤY VÀO CƠ THỂ ĐỂ BÙ ĐẮP KHUYẾT TẬT HAY SỰ SUY
GIẢM CỦA MỘT BỘ PHẬN CƠ THỂ.
Nhóm này gồm có:
(1) Máy trợ giúp phát âm cho người bị mất dây thanh âm do bị chấn
thương hay sau khi phẫu thuật. Những máy này chủ yếu gồm một
máy phát xung điện tử. Ví dụ,khi tỳ trên vách ngoài của cổ, chúng
tạo ra bên trong yết hầu những độ rung mà bệnh nhân có thể điều
biến và tạo ra tiếng nói có thể nghe được.
(2) Các thiết bị điều hoà nhịp tim có tác dụng kích thích cơ tim trong
trường hợp tim co bóp yếu. Những máy này có kích cỡ và trọng l-
ượng chỉ nặng bằng một chiếc đồng hồ bỏ túi, thường được cấy vào
dưới da ở vùng ngực bệnh nhân. Chúng có một bộ pin điện được liên
kết với tim bằng các điện cực để phát xung kích thích tim. Các máy
điều hoà khác được sử dụng để kích thích các cơ quan khác (phổi,
trực tràng, bóng đái...).
(3) Các thiết bị điện tử để dẫn đường cho người mù. Các thiết bị này chủ
yếu gồm một máy thu - phát siêu âm có nguồn pin cung cấp điện.
Những dao động tần số theo thời gian cho phép chùm sóng siêu âm
vượt qua chướng ngại và có thể được phản hồi lại người sử dụng qua
một thiết bị thuthích hợp (ví dụ, tai nghe đặt trong) giúp cho người
mù phát hiện vật chướng ngại và ước tính khoảng cách.
(4) Các thiết bị cấy vào cơ thể để trợ lực hoặc thay thế chức năng hoá
học của một số cơ quan nhất định (ví dụ, chức năng bài tiết insulin).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện của các dụng cụ và thiết bị của nhóm này vẫn được
phân loại vào trong nhóm.
90.22 - Thiết bị sử dụng tia X hoặc tia phóng xạ alpha, beta, gamma
hoặc các bức xạ ion hóa khác, có hoặc không dùng cho mục
đích y học, phẫu thuật, nha khoa hay thú y, kể cả thiết bị
chụp hoặc thiết bị điều trị bằng các tia đó, ống phát tia X và
thiết bị tạo tia X khác, thiết bị tạo tia cường độ cao, bảng và
bàn điều khiển, màn hình, bàn, ghế và các loại tương tự,
dùng để khám hoặc điều trị (+).
⦁ Thiết bị sử dụng tia X, có hoặc không dùng cho
mục đích y học, phẫu thuật, nha khoa hay thú y, kể
cả thiết bị chụp hoặc thiết bị điều trị bằng tia X:
9022.12 - - Thiết bị chụp cắt lớp điều khiển bằng máy tính
9022.13- - Loại khác, sử dụng trong nha khoa
9022.14 - - Loại khác, sử dụng cho mục đích y học, phẫu thuật
hoặc thú y
9022.19 - - Cho các mục đích khác
⦁ Thiết bị sử dụng tia alpha, beta, gama hoặc các bức
xạ ion hóa khác, có hoặc không dùng cho mục đích
y học, phẫu thuật, nha khoa hay thú y, kể cả thiết bị
chụp hoặc điều trị bằng các loại tia đó:
9022.21 -- Dùng cho mục đích y học, phẫu thuật, nha khoa hay
thú y
9022.29 - - Dùng cho các mục đích khác
9022.30 - Ống phát tia X
9022.90 - Loại khác, kể cả bộ phận và phụ kiện
(I) THIẾT BỊ SỬ DỤNG TIA X
Yếu tố cơ bản của các máy này là bộ phận chứa một hay nhiều ống phát
tia X. Bộ phận này, thường được treo hay lắp trên một cột hay giá đỡ có
cơ cấu nâng và chỉnh hướng khác, được nạp đầy hiệu điện thế thích hợp
từ một thiết bị đặc biệt chứa một bộ lắp ráp các máy biến áp, các chỉnh
lưu, v.v.... Ngoài ra, ở hầu hết các chi tiết khác thì những đặc điểm về
cấu trúc của các máy tia X thay đổi theo mục đích sử dụng, ví dụ:
(A) Các máy Tia X để chẩn đoán bệnh. Các máy này dựa trên thực tế
về đặc tính của tia X là có thể xuyên qua các vật thể mà ánh sáng
thông thường không xuyên qua được và bị hấp thụ càng nhiều cùng
tỷ trọng của vật thể được chiếu có tỉ trọng càng lớn, gồm:
(1) Máy soi tia X (phép nghiệm huỳnh quang), trong đó, tia X
được sử dụng để soi chiếu bộ phận để kiểm tra, thì được chế tạo
để chiếu một cái bóng lên trên màn ảnh; khi mật độ hình ảnh
bóng thay đổi sẽ biểu thị tình trạng của bộ phận đó.
(2) Máy chụp tia X, sau khi các tia X ra khỏi vùng được chiếu thì
tác động vào một tấm kính ảnh hay phim ảnh và được ghi lại
trên đó. Các máy tương tự cũng có thể dùng để soi hay chụp tia
(3) Các thiết bị bao gồm máy tia X kết hợp với một máy ảnh
được thiết kế đặc biệt. Những bức ảnh mà hình ảnh của chúng
được tạo lên trên màn hình tia X, bản thân chúng cũng đã được
đặt trong máy ảnh. Nếu thiết bị và máy ảnh chuyên dụng được
trình diện đồng thời thì chúng được phân loại cùng nhau trong
nhóm này ngay cả nếu chúng được đóng gói riêng lẻ cho tiện
vận chuyển. Tuy nhiên, các máy ảnh được trình bày riêng biệt lại
được phân loại vào nhóm 90.06.
(B) Máy trị liệu bằng tia X: Người ta sử dụng đồng thời cả khả năng
xuyên thấu của tia X và tác dụng phá huỷ của nó đối với một số mô
sống để điều trị một số loại bệnh như các bệnh về da hay khối u nhất
định. Tuỳ theo chiều sâu mà tia có thể xuyên tới, để xem đó là liệu
pháp tia X bề mặt, còn gọi là "liệu pháp tia X tiếp xúc", hay “liệu
pháp tia X xuyên”.
(C) Các thiết bị tia X dùng trong công nghiệp: tia X có rất nhiều ứng
dụng trong công nghiệp. Ví dụ như chúng được sử dụng trong luyện
kim để phát hiện vị trí của những chỗ bị phồng lên trong các sản
phẩm hay để đảm bảo tính đồng nhất của hợp kim; trong ngành kỹ
thuật, để kiểm tra độ chính xác của việc lắp ráp; trong công nghiệp
điện để kiểm tra tính toàn vẹn của các dây cáp lớn hay đèn bằng thuỷ
tinh mờ; trong công nghiệp cao su để kiểm tra sự phản ứng của lớp
trong của lốp (ví dụ mức độ co giãn củavải bạt); trong các ngành
công nghiệp khác là để đo lường hay kiểm tra độ dày của vật liệu.
Đối với tất cả những ứng dụng khác nhau này, các thiết bị chủ yếu
được lắp ghép để sử dụng cho các mục đích chẩn đoán đã được mô tả
phía trên, trừ khi nó được đem trang bị với các bộ phối hợp và thiết
bị hỗ trợ cho các mục đích cụ thể.
Nhóm này bao gồm:
(1) Các thiết bị đặc biệt (máy nhiễu xạ kế tia X, phổ kế tia X) dùng
để phân tích cấu trúc tinh thể hay cấu tạo hoá học của vật chất.
Tia X bị nhiễu xạ bởi các tinh thể rồi đập vào phim ảnh hay máy
đếm điện tử.
(2) Thiết bị để kiểm tra bằng phương pháp soi tia X các loại tiền
giấy hay các chứng từ khác.
(II) CÁC THIẾT BỊ SỬ DỤNG BỨC XẠ ALPHA, BETA,
HOẶC GAMMA
Các bức xạ alpha, beta hay gamma phát ra từ một chất phóng xạ có đặc
tính phát ra các bức xạ do sự biến đổi tự phát của các nguyên tử. Chất
phóng xạ này được đặt trong một vật đựng thường là bằng thép bọc chì
(bom) có khe hở bố trí sao cho bức xạ chỉ thoát ra theo một hướng nhất
định. Bức xạ gamma có nhiều ứng dụng rất giống với tia X.
Tuỳ theo các bức xạ được sử dụng và mục đích sử dụng, cần phân biệt
một số loại sau:
(1) Các thiết bị trị liệu, trong đó nguồn phóng xạ là sự tích điện của
radium hay cobalt phóng xạ hoặc một vài đồng vị phóng xạ khác
(liệu pháp gamma).
(2) Các thiết bị để thử nghe phóng xạ, chủ yếu sử dụng trong công
nghiệp, để kiểm tra các sản phẩm kim loại mà không làm hư hại cấu
trúc của chúng.
(3) Các thiết bị gồm một dụng cụ đo như dụng cụ đo độ dàybằng tia
beta và gamma để đo dộ dày của các vật liệu (dạng lá mỏng, lớp phủ
và loại tương tự), các máy để kiểm tra các sản phẩm rất khác nhau
chứa trong các thùng hàng (dược phẩm, thực phẩm, đạn súng thể
thao, nước hoa...) hay các tốc phong kế ion hoá. Trong các thiết bị
này, những thông tin được yêu cầu thường đạt được bằng cách đo sự
thay đổi lượng phóng xạ chiếu vào vật thể khi khám xét.
(4) Các máy báo động cháy gồm một thiết bị phát hiện khói chứa một
chất phóng xạ.
Những dụng cụ và thiết bị dù có được chia độ theo thang tuỳ ý, nhưng
không có nguồn phóng xạ và chỉ đơn thuần dùng để đo hay phát hiện các
bức xạ không được phân loạivào nhóm này (nhóm 90.30).
(III) ỐNG PHÁT TIA X, THIẾT BỊ TẠO TIA X KHÁC, THIẾT BỊ
TẠO TIA CƯỜNG ĐỘ CAO, BẢNG VÀ BÀN ĐIỀU KHIỂN, MÀN
HÌNH, BÀN, GHẾ VÀ CÁC LOẠI TƯƠNG TỰ DÙNG ĐỂ KHÁM
HOẶC ĐIỀU TRỊ
Nhóm này bao gồm:
(A) Ống phát tia X:là thiết bị trong đó năng lượng điện được biến đổi
thành tia X.
Những đặc điểm của chúng thay đổi tuỳ theo mục đích sử dụng. Về
nguyên lý, chúng gồm có một catốt (cực âm) phóng ra các điện tử,
và một mục tiêu (chống lại cực âm hoặc cực dương) trên đó các hạt
điện tử va đập vào nhau và làm nó phát ra tia X. Trong một vài
trường hợp, những ống này còn có thêm các điện cực trung gian có
tác dụng làm tăng tốc độ chùm điện tử. Tất cả điện cực được đặt
trong ống hoặc đồ chứa, thường là bằng thuỷ tinh có lắp công tắc
điện phù hợp. Thông thường, bản thân ống được lồng trong một vỏ
kim loại cách điện có chứa đầy dầu nhờn. Đôi khi ống chứa khí
(gas) nhưng phần lớn là ống có độ chân không cao.
Những vỏ bằng thuỷ tinh để làm ống tia X không thuộc nhóm này
(nhóm 70.11).
(B) Các thiết bị phát tia X khác, ví dụ, những thiết bị bao gồm một
"máy gia tốc cảm ứng" để tạo nên một gia tốc cực mạnh cho chùm
điện tử, do đó sinh ra tia X có khả năng xuyên thấu rất cao. Nhưng
các "máy gia tốc cảm ứng" và các máy gia tốc "điện tử" khác, không
thích hợp để tạo ra tia X hoặc không được lắp trong thiết bị tia X thì
bị loại trừ (nhóm 85.43).
(C) Màn hình tia X. Các màn hình của máy soi tia X là các màn hình
huỳnh quang có khả năng nhận các tia phóng xạ. Lớp hoạt chất trên
bề mặtthường là bằng xianua platin - bari, sunfua - catmi hay
vonframat catmi. Thông thường, chúng cũng được bọc một lớp thuỷ
tinh - chì. Cũng có những màn hình gọi là "màn hình tăng cường",
tạo ra hình ảnhnhờ được thêm vào đèn quang hóa để làm tăng độ
sáng của hình ảnh từ các bản chụp tia X.
(D) Thiết bị tạo tia X cường độ cao, các máy này có một biến áp và
các van chỉnh lưu được đặt trong màn hình làm bằng chất cách điện,
chúng cũng có các "công tắc" cao áp có thể tháo lắp được để nối với
ống đèn tia X. Tuy nhiên, nhóm này chỉ giới hạn cho các máy thuộc
loại chuyên dụng cho các thiết bị tia X.
(E) Các bảng và bàn điều khiển tia X, thường kết hợp các dụng cụ để
kiểm soát độ dài thời gian lộ sáng và điện áp, và cũng thường gồm
cả một xạ lượng kế,tạo thành một bộ phận hoàn chỉnh của thiết bị.
Lưu ý, chỉ được phân loại vào nhóm này các bảng và bàn thuộc
loại chuyên dụng cho các thiết bị tia X.
(F) Bàn, ghế trị liệu hoặc thăm khám và các thiết bị tương tự chuyên
dùng cho các công việc liên quan đến tia X, dù là thiết bị bổ trợ
lắp vào các máy tia X hay là ở dạng sản phẩm tách biệt. Nếu chúng
được thiết kế dành riêng hoặc chủ yếu để sử dụng với thiết bị tia X,
thì những loại bàn, ghế này được phân loại thuộc nhóm này mặc dù
chúng được trình bày riêng biệt; nhưng bàn, ghế không chuyên dụng
cho các công việc liên quan tia X thì bị loại trừ (thường thuộcnhóm
Nhóm này cũng bao gồm các cột thu lôi dựa trên nguyên tắc của chất
phóng xạ.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này, (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện được công nhận là chỉ dùng hay chủ yếu dùngcho các
thiết bị tia X... cũng được phân loạivào nhóm này, có thể kể ra:
(1) Chất gắn thường là chì sợi/sợi chì để gắn vào cửa của ống đèn tia X
hay bom phóng xạ; những thiết bị này đôi khi được gọi là "thiết bị
định vị".
(2) Dụng cụ chỉnh tâm sáng: được sử dụng riêng trong trị liệu bằng tia
phóng xạ, để kiểm tra vùng điều trị bằng cách chiếu trực tiếp vào da.
Thiết bị này, cũng như các phụ kiện trước, thường được lắp ở cửa
của ống đèn tia X hay bom chứa chất phóng xạ.
(3) Bao bảo vệ là lớp vỏ bọc bằng thuỷ tinh pha chì hay các chất khác
mà cơ sở là một số loại muối cản quang. Các lớp bảo vệ này được đặt
xung quanh ốngtia X để bảo vệ cho người điều khiển khỏi bị nhiễm
xạ.
(4) Màn hay tấm chắn bảo vệ bằng thủy tinh pha chì hoặc có phủ chì
đặt giữa người điều khiển và ống tia X.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các thiết bị bảo vệ để đeo cho
người điều khiển như áo choàng và bao tay bằng cao su dát chì (nhóm
40.15) và kính bảo hộ bằng thuỷ tinh pha chì (nhóm 90.04).
Nhóm này cũng không bao gồm:
a) Kim bằng radium, và các loại ống, kim và loại tương tự chứa các
chất phóng xạ khác (Chương 28).
(b) Các tấm và phim ảnh (Chương 37).
(c) Các ống hoặc van nắn dòng, kiểu hai cực hay các kiểu khác, dùng
trong các thiết bị cung cấp điện cho thiết bị tia X (nhóm 85.40).
(d) Các thiết bị rửa âm bản chụp tia X hay chụp ảnh X quang (nhóm
90.10), và cả các thiết bị kiểm tra các âm bản đó (gồm các máy chiếu
ảnh) (nhóm 90.08 hay 90.10).
(e) Các thiết bị y tế sử dụng tia cực tímhay hồng ngoại (thiết bị trị liệu
quang hoá) (nhóm 90.18).
(f) Các dụng cụ để đo hay phát hiện phóng xạ tia X hay alpha, beta,
gamma; các dụng cụ này thuộc nhóm 90.30, trừ trường hợp chúng
được lắp vào các máy X quang.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 9022.12
Phân nhóm này bao gồm máy chụp cắt lớp vi tính do một bộ phận tự
động xử lý thông tin vi tính điều khiển để chẩn đoán toàn bộ cơ thể con
người. Đó là các hệ thống chẩn đoán qua hiển thị bằng X quang và điện
tử các lớp cắt ngang cơ thể. Các vùng cơ thể được chùm tia X quét lần
lượt từng lớp và sự biến thiên giảm dầncủa tia X chiếu vào cơ thể được
đo bằng hàng trăm thiết bị phát hiện đặt vòng quanh lồng khám, trong đó
bệnh nhân được đặt nằm trên một chiếc bàn.
Dữ liệu đo được từ bộ phận cảm biếnsẽ được bộ phận tự động xử lý
thông tin chuyển thành hình ảnh hiện trên màn hình của hệ thống. Thông
thường, các hình ảnh chụp cắt lớp được chụp bằng một camera chuyên
dụng lắp trong hệ thống và có thể ghi nhớ bằng điện từ.
90.23- Các dụng cụ, máy và mô hình, được thiết kế cho mục đích
trưng bày (ví dụ, dùng trong giáo dục hoặc triển lãm), không
sử dụng được cho các mục đích khác.
Nhóm này bao gồm một tập hợp rộng các dụng cụ, thiết bị, hay mô hình
được thiết kế không sử dụng cho mục đích nào khác ngoài mục đích
trưng bày (trong nhà trường, phòng học, triển lãm...).
Theo điều kiện này thì nhóm này bao gồm:
(1) Các máy móc và dụng cụ chuyên dụng để trưng bày, như máy
Wimshurst (cho các thí nghiệm về điện), máy Atwood (để chứng
minh các định luật về trọng lực), các bán cầu Magdebourg (để
chứng minh hiệu ứng của áp suất khí quyển), vòng Gravesande (để
thí nghiệm về sự giãn nở của nhiệt), đĩa Newton (để chỉ ra sự cấu
thành màu sắc từ ánh sáng trắng).
(2) Các mô hình giải phẫu người hay động vật (dù được hay không
đượcnối với hay lắp thêm thiết bị chiếu sáng bằng điện), các mô
hình vật thể hình học không gian, các tinh thể, v.v..., Các mô hình
loại này thường được làm từ plastic hoặc từ thành phần chủ yếu là
thạch cao.
(3) Hình nộm để tập luyện, là mô hình có thể bơm phồng lên, to bằng
người thật, có các bộ phận hô hấp nhân tạo, với những đặc tính
tương tự ở người thật, dùng để huấn luyện phương pháp cấp cứu hà
hơi thổi ngạt.
(4) Các mô hình mặt cắt ngang của những con tàu, động cơ, đầu máy,...
được cắt ra để cho thấy sự vận hành bên trong của chúng hay hoạt
động của một bộ phận quan trọng; các bảng điều khiển và sơ đồ
giảng dạy, hình nổi, có hoặc không có thiết bị chiếu sáng bằng điện,
ví dụ để tái hiện quá trình lắp ráp một đài vô tuyến điện (cho trường
huấn luyện điện báo viên vô tuyến), sự phân phối dầu bôi trơn trong
mô tơ (động cơ)...
(5) Các tủ kính, panel triển lãm, v.v..., trưng bày các mẫu nguyên liệu
thô (sợi dệt, gỗ...) hay chỉ ra các giai đoạn khác nhau của việc chế
tạo hoặc chế biến một sản phẩm (để giảng dạy trong các trường kỹ
thuật).
(6) Các mô hình... cho đào tạo pháo binh, sử dụng trong các khoá học
đào tạo được tổ chức trong phòng học.
(7) Các tiêu bản được chuẩn bị cho nghiên cứu kính hiển vi.
(8) Các hình mẫu quy hoạch đô thị, công trình kỷ niệm công cộng, nhà
cửa...(bằng thạch cao, bìa, gỗ, v.v...)
(9) Các mô hình trưng bày thu nhỏ (máy bay, tàu thuỷ, máy móc, v.v...),
thường làm bằng kim loại hay bằng gỗ (ví dụ, cho mục đích quảng
cáo, ...). Tuy nhiên cần lưu ý đến các mô hình mà chỉ thích hợp cho
các mục đích trang trí thì lại được phân loại lần lượt theo các nhóm
tương ứng của chúng.
(10) Bản đồ nổi (về các tỉnh, thành phố, các dãy núi, v.v...) các quy
hoạch nổi của các thành phố cũng như địa cầu hay bầu trời nổi, có
hoặc không được in.
(11) Các thiết bị mô phỏng xe tăng quân sự để đào tạo (cả đào tạo cao
cấp) cho người lái xe tăng. Thiết bị này cần có những thành phần
⦁ một ca bin (buồng lái) lắp trên một bệ cơ động,
⦁ một hệ thống quan sát gồm một mô hình tỷ lệ về địa hình và một
máy quay truyền hình gắn trên một cần cẩu di động,
⦁ bảng điện chỉ dẫn cho người điều khiển,
⦁ một đơn vị máy tính,
⦁ một trung tâm thuỷ lực, và
⦁ một trạm cung cấp điện.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), nhóm
này bao gồm cả các các bộ phận và phụ kiện của các dụng cụ và thiết bị
của nhóm này được phân loại trong nhóm.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các quy hoạch, bảng, biểu đồ được in ra, v.v..., dù là để giảng dạy,
để quảng cáo, v,v... (Chương 49).
(b) Các thiết bị huấn luyện bay mặt đấtthuộc nhóm 88.05.
(c) Những đồ dùngvừa để giải trí vừa trưng bày(như một số bộ mẫu
nhất định của các bộ phận cơ khí, một số đồ chơi cơ khí hay điện,
nồi hơi, cần cẩu, máy bay, đầu máy xe lửa, v.v...) (Chương 95).
(d) Mô hình tự động, v.v...của nhóm 96.18.
(e) Các vật phẩm sưu tậpthuộc nhóm 97.05.
(f) Các đồ cổ (ví dụ, sa bàn, địa cầu nổi, v.v...) đã có tuổi trên 100 năm
(nhóm 97.06).
90.24 - Máy và thiết bị thử độ cứng, độ bền, độ nén, độ đàn hồi hoặc
các tính chất cơ học khác của vật liệu (ví dụ, kim loại, gỗ,
hàng dệt, giấy, plastic).
9024.10 - Máy và thiết bị thử kim loại
9024.80 - Máy và thiết bị khác
9024.90 - Bộ phận và phụ kiện
Nhóm này gồm nhiều các loại máy móc hay dụng cụ để thử độ cứng, độ
đàn hồi, độ bền khi bị kéo, bị nén, hay các đặc tính cơ học khác của các
loại nguyên vật liệu khác nhau (ví dụ: kim loại, gỗ, bê-tông, sợi dệt và
vải, giấy hoặc bìa, cao su, plastic, da thuộc). Vì vậy, nhóm này không
bao gồm:
(a) Các dụng cụ hoặc máy móc để kiểm tra cấu trúc vật chất vi thể (ví
dụ,thiết bị nghiên cứu kết cấu kim loại và hợp kim hoặc kính hiển vi
khác - nhóm 90.11 hay 90.12) hoặc phân tích vật liệu, hay đo đạc
các đặc tính như độ xốp, sự giãn nở nhiệt,... (nhóm 90.27).
(b) Các dụng cụ hoặc thiết bị chỉ để tiến hành những công việc đo kích
thước hoặc kiểm định thông thường về chiều rộng, độ dày, v.v... (ví
dụ như các bộ phận được gia công, dây dẫn, đồ kim loại) (nhóm
(c) Các máy phát hiện lỗi, chỗ rạn nứt hay những khiếm khuyết khác
trong vật liệu (nhóm 90.31).
Các máy móc và dụng cụ thuộc nhóm này thường được sử dụng để kiểm
tra sản phẩm sau khi chế tạo trong các phòng thí nghiệm công nghiệp
hoặc trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu (thường được lựa chọn kỹ
lưỡng hoặc đúng tiêu chuẩn (mẫu thử). Chúng cũng có thể được sử dụng
trong quá trình chế tạo, khi thi công (trong các xưởng, công trường...)
hoặc kiểm tra khi giao hàng trong các kho, v.v...
Phạm vi của chúng bao gồm từ những máy móc nặng hàng tấn, hoạt
động bằng cơ, thuỷ lực hay điện cho đến những dụng cụ nhỏ xách tay,
thậm chí bỏ túi. Một số loại thông dụng(ví dụ để thử kim loại) bằng các
thiết bị đi kèm có thể tháo rời, có thể sử dụng để kiểm tra độ cứng, sức
bền khi bị kéo, uốn, v.v.... Mặc dù chúng thường vận hành theo nguyên
tắc “bắt đầu-kết thúc” (start-stop principle) nhưng một số máy có thể
làm việc theo chế độ tự động hoặc bán tự động (chẳng hạn trong trường
hợp kiểm tra sản lượng lớn đầu ra của dây chuyền lắp ráp).
Các kết quả kiểm tra có thể được xác định bằng cách đọc trực tiếp (đôi
khi cần có sự trợ giúp của thiết bịquang học đơn giản như một kính lúp,
hoặc thậm chí kính hiển vi hay một máy chiếu được gắn liền), hoặc bằng
cách kiểm tra kỹ lưỡng qua kính hiển vi mẫu vật thử nghiệm (chẳng hạn
quan sát dấu vết của viên bi trên các mẫu kim loại). Ngoài ra, một số
máy nhất định có thể cóthiết bị ghi sức căng, độ biến dạng, v.v... do vật
thử nghiệm sinh ra.
(I) CÁC MÁY MÓC VÀ DỤNG CỤ THỬ NGHIỆM KIM LOẠI.
Nhóm này đề cập đến các thiết bị và máy móc dùng cho các mục đích sau:
(A) Thử sức bền khi bị kéo đối với các mẫu thử, thanh, sợi hay cáp, lò-
xo, v.v... Việc thử này cho phép xác định tính đàn hồi và ngưỡng
đứt gẫy cũng như rất nhiều các đặc tính quan trọng khác của một
kim loại. Các máy dùng cho những thử nghiệm đó có nhiều loại
khác nhau (ví dụ vít vô tận loại dọc hay nằm ngang, hoặc các loại có
tải trọng thuỷ lực), tuy nhiên, về cơ bản mỗi thiết bị gồm có các kẹp
hay mỏ kẹp để giữ vật mẫu trong khi thử nghiệm.
(B) Thử độ cứng trên các mẫu thử, thanh (kim loại), máy đã gia công,
v.v..., độ cứng của một kim loại thể hiện ở khả năng chống sức
xuyên. Các cuộc thử nghiệm này bao gồm:
(1) Thử bằng độ lõm của bi thép (bi bằng thép cứng hay bằng các-
bua kim loại) hay thử độ cứng Brinell. Tuỳ theo máy,vết lõm
được tạo nên nhờ một đòn bẩy, một lò xohoặc một piston tạo ra
các áp lực liên tục tác động vào viên bi thép, (chứ không phải
gây va đập hoặc va đập lặp đi lặp lại); đường kính của vết bi
được đo bằng kính hiển vi.
(2) Thử độ lõm bằng mũi kim cương. Cuộc thử nghiệm này có thể
tiến hành theo phương pháp Rockwell (sử dụng máy so có mặt
số để đo độ sâu của vết lõm do mũi kim cương tạo nên), hoặc
bằng phương pháp Vickers (xác định kích thước vết lõm bằng
kính hiển vi). Ngoài ra còn có các phương pháp thử nghiệm khác
(Monotron, Shore, Knoop,.v.v...) cũng như các dụng cụ thử các
kim loại nhẹ, sử dụng các công cụ xuyên bằng thép (chẳng hạn
trường hợp áp dụng phương pháp Rockwell). Ba phương pháp
nêu trên có thể được tiến hành trên cùng một máy.
(3) Thử bằng độ nảy được thực hiện dưới sự giúp đỡ của các dụng
cụ đo độ cứng hay ghi lại độ cứng dựa vào nguyên lý kim loại
càng rắn thì độ nảy của búa càng cao khi dùng một chiếc búa
nhỏ (đầu thường là hình chóp có mũi kim cương), cho rơi từ một
độ cao đã được xác định xuống bề mặt vật mẫu thử nghiệm.
(4) Thử độ cứng bằng con lắc, dựa trên sự quan sát dao động của
một con lắc (con lắc gồm có một vật thể bằng gang đúc hình chữ
U úp ngược, ở chính giữa có treo một viên bi thép) đặt trên vật
thử nghiệm.
(C) Thử độ uốn
(1) Bằng va đập, đối với các thanh nhỏ (có hay không được xẻ
rãnh), đặt trên hai điểm tựa chịu va đập tuần hoàn do một búa
nện gây nên cho đến khi bị gãy. Sức chịu đựng tới hạn của nó
sau đó sẽ được xác định.
(2) Bằng áp lực (chủ yếu đối với các thanh), bằng cách làm biến
dạng (trong trường hợp lò-xo).
(D) Thử độ dẻo, chủ yếu áp dụng đối với kim loại dạng phiến (lá) bằng
cách đặt vào giữa mẫu thử một chiếc dùi ở đầu thường có một viên bi
thép, ấn mạnh dần vào phiến cho đến khi thủng, người ta ghi lại sự
biến dạng đầu tiên xuất hiện, qua đó đo ứng suất và độ võng tương
ứng.
(E) Thử độ gấp (đối với các phiến, thanh hay dây kim loại), thử nén
vàcắt (áp dụng chủ yếu đối với gang đúc)
(F) Thử độ mỏi các vật thử nghiệm, không chỉ chịu các lực tác động đơn
giảnnhư trong các trường hợp nêu trênmà còn chịu nhiều lực tác
động kép và thay đổi. Các cuộc thử nghiệm này được tiến hành bằng
cách sử dụng các công cụ "uốn quay" (trong đó các vật thử quay
với tốc độ lớn), máy xoắn hai chiều (trong đó hướng xoắn lần lượt
đổi chiều) hay các máy thử độ mỏivận hành bằng điện từ…
(II) CÁC MÁY MÓC VÀ DỤNG CỤ KIỂM TRA SỢI DỆT
Máy móc nhóm này thường tiến hành các cuộc kiểm tra chính như sau:
(1) Thử độ dai, độ dãn trước khi đứt, tính đàn hồi, độ bền khi bị kéo
và các thử nghiệm tương tự (các loại thử khác nhau này có thể kết
hợp được với nhau), đối với nguyên liệu như sợi thô hoặc chỉ, dây
chão hay cáp, hoặc đối với hàng dệt thông thường, đai, thắt lưng,
Những công việc thử nghiệm này được tiến hành bằng các kiểu lực
kế rất khác nhau, được đặt tên theo nguyên lý hoạt động (ví dụ lực kế
đòn bẩy cân bằng, đòn bẩy con lắc) hoặc theo nguyên liệu thường
được sử dụng nhất (ví dụ lực kế cho sợi đơn, sợi xe hay bện, cho sợi
thuỷ tinh, cuộn chỉ, vải, v.v...); hay bằng cách sử dụng các máy đo
độ giãn. Một số lực kế có thiết bị bi để thử mức độ dễ bị xuyên
thủng của vải.
(2) Các cuộc kiểm tra để phát hiện những thay đổi về kích thước của
các mẫu vải, đo độ kéo giãn hay co lại của một mẫu vải bị kéo căng
ở trạng thái khô và ở trạng thái ẩm.
(3) Thử độ sờn và độ rách, thực hiện đối với mọi thứ hàng dệt bằng
cách cọ sát (khăn trải giường, vải, khăn trải bàn, v.v...) hoặc đôi khi
thử chính bản thân sợi dệt.
Công việc thử nghiệm này được tiến hành bằng máy đo độ mòn,
máy đo độ sờn, v.v... trong đó một băng vải căng ở mức vừa phải bị
cứa mạnh bởi một dụng cụ mài (đĩa có chất mài mòn, xilanh quay có
mặt bích bằng kim loại, đĩa phay bằng thép... ). Khả năng chống sờn
và rách được xác định bằng số vòng quay cần thiết của dụng cụ mài
để làm rách vải.
Nhóm này không bao gồm các dụng cụ sử dụng để kiểm tra vật liệu dệt
(ví dụ nhất là những dụng cụ kiểm tra xem sợi có đều không, các máy đo
sức căng bề mặt để xác định độ căng của sợi khi chúng được đặt trên
khung mắc cửi, máy cuốn sợi, v.v...; các máy đo độ xoắn (xoắn kế) và
máy ghi độ xoắn của sợi (nhóm 90.31).
(III) CÁC MÁY MÓC VÀ DỤNG CỤ ĐỂ THỬ NGHIỆM GIẤY,
BÌA , THẢM LINOLEUM, PLASTIC CO DẴN
HAY CAO SU CO DÃN
Chủ yếu để thử độ bền khi bị kéo (đo khả năng kéo dài, khả năng chịu
tải, v.v...) hay mức độ dễ bị xuyên thủng. Việc thử nghiệm được thực
hiện bằng lực kế theo nguyên lý tương tự thử nghiệm hàng dệt.
Nhóm này bao gồm các thiết bị thử nghiệm khả năng chống bục, nát;
máy thử độ gấp, v.v... (ví dụ, đối với giấy); và có các đàn hồi kế, máy
đo độ nảy, thử độ bền, thử độ mòn, độ dẻo (ví dụ: đối với cao su và
nhựa).
(IV) CÁC MÁY MÓC VÀ DỤNG CỤ THỬ CÁC VẬT LIỆU KHÁC
Phần lớn các vật liệu này (như gỗ, bêtông, plastic cứng, v.v...) đều được
trải qua các cuộc thử nghiệm bằng cách kéo, uốn, đập, ép, cắt, mài ... bởi
các phương tiện máy móc và dụng cụ có nguyên lý hoạt động tương tự
những loại dùng để thử kim loại (bằng vết in bi, va đập...)
Nhóm này cũng bao gồm một số lớn dụng cụ thường là cỡ nhỏ để xác
định độ bền kéo, uốn, ép, v.v... của các vật mẫu được đúc từ cát đúc
khuôn. Nó cũng bao gồm các thiết bị để đo độ cứng của mặt khuôn hay
lõi khuôn đúc đã hoàn chỉnh.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện của các dụng cụhoặc thiết bị thuộc nhóm này cũng
được phân loại trong nhóm.
90.25 - Tỷ trọng kế và các dụng cụ đo dạng nổi tương tự, nhiệt kế, 90.25- Hydrometers
hoả kế, khí áp kế, ẩm kế, có hoặc không ghi, và tổ hợp của
chúng.
⦁ Nhiệt kế và hỏa kế, không kết hợp với các dụng cụ
khác:
9025.11 - - Chứa chất lỏng, để đọc trực tiếp
9025.19 - - Loại khác
9025.80 - Dụng cụ khác
9025.90 - Bộ phận và phụ kiện
(A) TỶ TRỌNG KẾ VÀ DỤNG CỤ ĐO DẠNG NỔI TƯƠNG TỰ
Các dụng cụ này được sử dụng để xác định, thường bằng cách đọc trực
tiếp trên một thanh chia vạch, khối lượng riêng của các chất rắn hoặc
chất lỏng hoặc một vài giá trị tuỳ ý liên quan tới khối lượng riêng (ví dụ
như nồng độ của các chất lỏng tinh khiết). Đôi lúc kết quả đọc được sẽ bị
chuyển đổi sang các đơn vị đo khác nhờ có một bảng hoán đổi.
Các công cụ loại trên thường làm bằng thủy tinh (mặc dù đôi khi có thể
bằng kim loại, ví dụ bạc niken, bạc, v.v...), một đầu nặng đựng thủy
ngân hoặc bột hạt chì. Các trọng lượng này nói chung không đổi nhưng
công cụ dùng để xác định tỷ khối của các chất lỏng có khối lượng riêng
khác nhau, đôi khi được thiết kế để các trọng lượng đó có thể bị thay đổi
hoặc một số trọng lượng phụ được thêm vào. Một số dụng cụ đo tỷ trọng
(như loại dùng để đo độ axit trong ắc quy), thì được cho vào trong một
ống thuỷ tinh. Một số dụng cụ khác kết hợp với một nhiệt kế.
Phần lớn các dụng cụ nói trên được gọi tên theo mục đích sử dụng mà
chúng đã được thiết kế, ví dụ tửu kế, thước đo đường saccharo (dùng cho
nhà máy đường, rượu, bia); dụng cụ đo độ mặn; tỷ trọng kế sữa hay
nghiệm nhã kế, các axit kế (xác định trọng lượng riêng của axít bình ắc
quy hoặc các axit khác); các tiết niệu kế. Một số khác được gọi theo tên
người phát minh (như Beaumé, Brix, Balling, Bates, Gray - Lussac,
Richter, Tralle, Sikes, Stippani ...). Tỷ trọng kế Nicholson được dùng
cho chất rắn.
Nhóm này không bao gồm:
inventor (e.g., Baumé, Brix, Balling, Bates, Gay-Lussac, Richter, Tralle,
(a) Những dụng cụ xác định trọng lượng riêng bằng các phương pháp
khác, ví dụ: kế pyknomet (các bình tỷ trọng) (nhóm 70.17), các cân
tỷ trọng hoặc thuỷ tĩnh (nhóm 90.16).
(b) Một số dụng cụ phân giải nhất định như bơ kế (để đo hàm lượng chất
béo của bơ), ure kế (đo liều lượng ure) mà không là dụng cụ nổi thì
thuộc nhóm 70.17.
(B) NHIỆT KẾ, MÁY GHI NHIỆT VÀ HOẢ KẾ
Trong những dụng cụ của nhóm này, có thể kể ra:
(1) Nhiệt kế bằng thuỷ tinh, loại có một ống bằng thuỷ tinh được
chứa đầy chất lỏng. Loại này bao gồm: Nhiệt kế dùng ở gia đình
(nhiệt kế trong phòng, ngoài trời...), nhiệt kế nổi (cho bồn tắm...),
nhiệt kế trong y tế, nhiệt kế công nghiệp (cho nồi hơi, lò, nồi hấp..),
...nhiệt kế phòng thí nghiệm (sử dụng trong calo kế,...), nhiệt kế
chuyên dụng cho khí tượng học (ví dụ như đo bức xạ mặt trời, hoặc
bức xạ đất), nhiệt kế dùng trong thuỷ văn (ví dụ như nhiệt kế đảo
dùng cho thăm dò sâu dưới biển). Nhóm này gồm một số nhiệt kế
thuỷ tinh được gọi là nhiệt kế cực đại hay cực tiểu vì chúng được
thiết kế để chỉ ra các nhiệt độ cao nhất và thấp nhấtghi được.
(2) Nhiệt kế kim loại (cụ thể là nhiệt biểu lưỡng kim sử dụng hai lưỡi
kim loại được hàn với nhau, có hệ số giãn nở khác nhau). Loại này
được dùng chủ yếu trong khí tượng học, điều hoà không khí hoặc
dùng cho mục đích khoa học hoặc công nghiệp khác; những nhiệt kế
thiết kế đặt trên xe cộ để chỉ nhiệt độ của nước trong bộ tản nhiệt th-
ường thuộc loại trên.
(3) Nhiệt kế đo độ giãn nở hoặc áp suất, với các hệ thống bằng kim
loại. Trong thiết bị này, môi trường giãn nở (lỏng, hơi hoặc khí) làm
tăng áp lực và kích thích một ống Bourdon hoặc dụng cụ đo áp suất
tương tự, sau đó làm quay một kim trên mặt chỉ báo. Phần lớn các
nhiệt kế đó được dùng trong công nghiệp.
(4) Nhiệt kế tinh thể lỏng có chứa các tinh thể chất lỏng làm biến đổi
các thuộc tính vật lý của chúng (ví dụ về màu) theo nhiệt độ.
(5) Nhiệt kế và hoả kế điện gồm:
(i) Nhiệt kế và hoả kếđiện trởvận hành theo những thay đổi điện
trở của một loại kim loại (chủ yếu là bạch kim) hoặc của vật bán
dẫn.
(ii) Nhiệt kế và hoả kế cặp nhiệt điện dựa trên nguyên tắc: đun
nóng mối hàn của hai vật dẫn điện khác nhau tạo ra một sức điện
động tỷ lệ thuận với nhiệt độ. Các hợp kim này chủ yếu là bạch
kim với bạch kim rhodium (Rh); đồng với đồng niken; sắt với
đồng niken; crôm niken với nhôm nicken.
(iii) Hoả kế bức xạ (gồm cả “quang học”) gồm nhiều loại, chẳng
hạn như:
(a) Các hoả kế, trong đó có một gương lồi hội tụ các bức xạ từ
một vật phát, ví dụ vào mối nối nóng của một cặp nhiệt
điện đặt ở tiêu điểm của tấm gương.
(b) Các hoả kế "biến dây tóc" trong đó việc đo nhiệt độ được
thực hiện bằng cách làm thay đổi độ sáng của dây tóc bóng
đèn, nhờ thiết bị có biến trở, cho đến khi độ sáng đó trùng
với độ chói của hình ảnh của nguồn kiểm soát.
Nhiệt kế và hoả kế điện đôi khi được kết hợp với một cơ cấu
điều chỉnh tự động để điều khiển hoạt động cho các lò nung, lò
vi sóng, bể lên men, v.v..., những kết hợp đó thuộc nhóm 90.32.
(6) Hoả kế lập phương trắc quang. Vùng trung tâm thị giới được tạo
nên bởi một lăng kính được một đèn dây tóc tiêu chuẩn, còn vùng
ngoài thì được vật bị nung chiếu sáng. Một đĩa thuỷ tinh có nhũ
bọccó tỷ trọng thay đổi, quay xung quanh để thay đổi cường độ ánh
sáng phát xuất từ vật bị nung nóng. Nhiệt độ được thể hiện bằng số
độ mà đĩa phải quay để cân bằng độ sáng vùng trong và vùng ngoài
của thị giới.
(7) Hoả kế quang học biến dây tóc, trong đó việc cân bằng cường độ
của hình ảnh từ lò nung và cường độ của đèn chuẩn được thực hiện
bằng cách cài vào thiết bị này một số nhíp kính màu, hoặc bằng cách
quay một lăng kính hút nhiệt có thang độtương ứng với nhiệt độ
nhất định.
(8) Kính trắc nhiệt dựa trên hiện tượng phân cực quang gồm hai
lăng kính Nicol ở giữa đặt một tinh thể thạch anh đã định cỡ. Cho
quay một trong hai lăng kính đến khi đạt được độ màu riêng biệt tại
một góc quay mà ở đó nhiệt độ được tính toán.
(9) Hoả kế dựa trên nguyên lý co lại của chất rắn (của đất sét chẳng
hạn), gồm có một đòn bẩy dao động, một tay cầm của nó di chuyển
trước một mặt số, còn tay kia tiếp xúc với một thanh truyền dùng để -
ước tính nhiệt độ.
Nhóm này cũng bao gồm những nhiệt kế "tiếp xúc" chỉ báo nhiệt độ,
và còn có một phần cơ cấu phụ có thể kích hoạt được tín hiệu điện hoặc
tín hiệu báo động, các rơle hoặc các ngắt mạch.
Hơn nữa nó còn bao gồm các nhiệt kế kim loại hoặc áp suất hơi cũng đôi
khi được gọi là hoả kế, cho phép đo được các nhiệt độ tối đa lên tới 500
đến 600oC.
Các nhiệt kế tự ký cũng thuộc nhóm này. Chúng gồm có một nhiệt kế
kết hợp với công cụ chỉ báo ghi lại các biến đổi nhiệt độ trên một tang
trống; và được điều khiển bởi chuyển động của đồng hồ cơ, điện hoặc
động cơ đồng bộ.
Nhóm này không tính các hoả kế, những công cụ loại compa, dùng để
đo độ co của một mẫu nghiệm bằng đất sét v.v... lấy ra từ lò gốm trong
quá trình nung để xác định đặc tính nung (nhóm 90.17 hoặc 90.31).
(C) KHÍ ÁP KẾ VÀ KHÍ ÁP KÝ
Đây là những công cụ dùng để đo áp suất khí quyển; những công cụ
tương tự (áp kế) dùng để đo áp suất các chất lỏng hoặc khí (lực kế) bị
loại trừ (nhóm 90.26).
Hai loại thông dụng là khí áp kế thuỷ ngân và khí áp kế dạng hộp.
Khí áp kế thuỷ ngân thông thường gồm có một ống thuỷ tinhcó chứa
thủy ngân bịt đầu trên. Một loại thì có đầu dưới ngập trong một khay đầy
thuỷ ngân, còn loại khác thì có đầu dưới của ống bị bẻ thành siphon, khi
đó áp lực không khí sẽ hoạt động ở phần mở, ngắn của ống. Trong cả
hai trường hợp, độ cao của cột thuỷ ngân trong ống thay đổi theo áp suất
khí quyển được chỉ báo bằng kim di động trên một tấm khắc thang độ,
hoặc trên một đồng hồ. Loại này bao gồm khí áp kế Fortin (khay di
động) khí áp kế siphon(có mặt đồng hồ tháo lắp được) và khí áp kế
cardan đường biển(được gắn vào các-đăng).
Trong khí áp kế dạng hộp, áp suất khí quyển tác động lên một hay
nhiều hộp kim loại cuốn sóng được xả khí hoặc trên một ống kim loại
cong vách mỏng đã hút chân không. Sự biến dạng các hộp hoặc ống
được khuyếch đại và truyền tới một cái kim chỉ để chỉ áp suất khí quyển
trên thang chia độ, hoặc biến đổi thành tín hiệu điện.
Nhóm này còn gồm:
(1) Khí áp kế đo độ cao không những dùng để chỉ báo áp suất khí
quyển mà còn cả độ cao; tuy nhiên cần lưu ý rằng nhóm này không
bao gồm các đồng hồ đo độ cao (đặc biệt là dùng cho hàng không)
chỉ dùng để báo độ cao (nhóm 90.14).
(2) Các khí áp kế, trong đó thuỷ ngân được thay bằng một chất lỏng, ví
dụ như dầu dùng nén khí chứa trong ống.
Khí áp ký là công cụ để ghi áp suất khí quyển theo cách tương tự như
nhiệt kế tự ký ghi nhiệt (xem Phần (B) ở trên).
(D)ẨM KẾ VÀ ẨM KẾ KÝ
Chúng được dùng để đánh giá độ ẩm của không khí hoặc các khí khác.
Các loại chính gồm:
(1) Ẩm kế hoá học, hoạt động dựa trên việc hấp thụ độ ẩm của các chất
hoá học và sau đó được cân lên.
(2) Ẩm kế ngưng tụ hay ẩm kế đọng sươngdùng phương pháp gọi là
"đọng sương" (tức là nhiệt độ mà tại đó hơi nước bắt đầu ngưng tụ).
(3) Ẩm kế tóc dựa trên các biến đổi chiều dài của một hay nhiều sợi
tóc hoặc thanh nhựa tuỳ theo chúng khô hay ẩm. Tóc hoặc thanh
plastic được treo trên một khung, được cân bằng một đối trọng và
được gắn trên một ròng rọc có trục mang kim di động trên mặt
đồng hồ. Trong một số dụng cụ, chuyển động đó được chuyển
thành tín hiệu điện.
(4) Ẩm kế hình xuyến lắc gồm có một ống thuỷ tinh hình xuyến, chứa
một phần thuỷ ngân, bịt một đầu bằng một màng ngăn bán thấm khi
gặp hơi nước trong khí quyển. Áp lực của hơi nước tác động trên
thuỷ ngân làm di chuyển ống thuỷ ngân xung quanh trục của một cây
kim di động trên mặt đồng hồ. Trong một số áp kế sự di động đó
được chuyển thành tín hiệu điện.
(5) Ẩm kế dây kim loại, các dây đó được cuốn theo kiểu xoáy trôn ốc
(hêlicôit) và được phủ bên ngoài bằng một chất phản ứng với độ ẩm.
Phản ứng ẩm làm thay đổi độ dài các dây kim loại. Chuyển động đó
được truyền đến một trục gắn cố định với đầu cuối của dải kim loại
và có một kim di động trên mặt đồng hồ. Trong một số áp kế, chuyển
động trên được chuyển thành tín hiệu điện.
(6) Ẩm kế điện hoạt động chủ yếu trên nguyên lý thay đổi tính dẫn điện
của các muối hấp thụ đặc biệt (ví dụ, clorua lithium) hoặc trên
nguyên lý thay đổi công suất của một dụng cụ điện theo độ ẩm.
(Những công cụ này đôi khi có thang độ để chỉ điểm đọng sương của
yếu tố được đo).
Các ẩm nghiệm được yêu thích chủ yếu có nhiều hoặc ít các đồ vật
trang trí (ví dụ các nhà gỗ, toà tháp, v.v...) với những bức tượng nhỏ
đi vào hoặc đi ra theo thời tiết dự báo tốt hay xấu, cũng được phân
loại vào nhóm này. Mặt khác, những tờ giấy thấm chất hoá học có
màu thay đổi theo độ ẩm khí quyển bị loại trừ (nhóm 38.22).
Những ẩm kế tự ký thuộc nhóm này thì giống như các ẩm kế tóc,
nhưng lại ghi các thay đổi của độ ẩm có liên quan giống như những nhiệt
kế tự ký ghi nhiệt độ (xem Phần (B) ở trên).
Nhóm này không bao gồm thiết bị xác định độ ẩm của chất cứng (nhóm
(E) THƯỚC ĐO ẨM
Thước đo ẩm là một loại ẩm kế đặc biệt, xác định dung lượng độ ẩm
theo độ chênh lệch về nhiệt độ được chỉ ra bởi (a) một nhiệt kế khô dùng
để ghi nhiệt độ không khí và (b) một nhiệt kế ẩm có bóng đèn được giữ
ẩm liên tục bằng một vật liệu thấm nước, bóng đèn này sẽ hấp thụ nhiệt
trong quá trình bốc hơi.
Các thước đo ẩm điện nói chung sử dụng những nhiệt kế trở kháng hoặc
bán dẫn thay thế các nhiệt kế không dùng điện được trang bị cho các ẩm
kế thông dụng.
Ẩm kế và hoả kế được dùng cho nhiều mục đích: trong ngành khí tượng
học (trong các đài quan trắc, trong nhà ...), trong phòng thí nghiệm, trong
các nhà máy đông lạnh, trong ấp trứng nhân tạo, điều hoà không khí (đặc
biệt trong các nhà máy dệt).
SỰ KẾT HỢP CỦA CÁC DỤNG CỤ
Nhóm này cũng gồm những sự kết hợp của các dụng cụ được đề cập
đến ở trên (ví dụ như sự kết hợp của các tỷ trọng kế, nhiệt kế, khí áp kế,
ẩm kế, thước đo ẩm), trừ khi sự bổ sung thêm một hoặc nhiều các dụng
cụ khác làm cho tổ hợp có đặc tính của thiết bị hay dụng cụ thuộc nhóm
được mô tả chi tiết hơn (ví dụ, nhóm 90.15, giống các dụng cụ đo khí t-
ượng học). Cụ thể, thiết bị sau vẫnđược phân loại vào nhóm này:
(1) Thiết bị ghi nhiệt độ - độ ẩm, các thiết bị ghi khí áp - nhiệt độ -
độ ẩm; các quang hoá kế (các dụng cụ đơn giản gồm có hai nhiệt kế
chuyên dụng được kết hợp với nhau).
(2) Thấp khí kế, tức là các dụng cụ cảnh báo băng giá, do đó được sử
dụng đặc biệt trong nghề làm vườn. Chúng chủ yếucũng gồm có hai
nhiệt kế phối hợp.
Mặt khác, nhóm này không bao gồmdụng cụ dò vô tuyến dùng để thăm
dò khí quyển (xem Chú giải chi tiết nhóm 90.15).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát) các bộ
phận và phụ kiện của những dụng cụ thuộc nhóm này cũng được phân
loại trong nhóm khi đứng riêng lẻ (ví dụ, mặt số, kim, vỏ, hoặc thước
chia độ).
90.26- Dụng cụ và máy đo hoặc kiểm tra lưu lượng, mức, áp suất
hoặc biến số của chất lỏng hoặc chất khí (ví dụ, dụng cụ đo
lưu lượng, dụng cụ đo mức, áp kế, nhiệt kế), trừ các dụng cụ
và thiết bị thuộc nhóm 90.14, 90.15, 90.28 hoặc 90.32.
9026.10 - Để đo hoặc kiểm tra lưu lượng hoặc mức của chất lỏng
9026.20 - Để đo hoặc kiểm tra áp suất
9026.80 - Thiết bị hoặc dụng cụ khác
9026.90 – Bộ phận và phụ kiện
Ngoại trừ các dụng cụ hoặc thiết bị được quy định cụ thể hơn trong các
nhóm khác của Danh mục, như:
(a) Van điều chỉnh nhiệt tĩnh và van giảm áp (nhóm 84.81);
(b) Phong tốc kế (dụng cụ đo gió) và thiết bị thuỷ học (nhóm 90.15);
(c) Nhiệt kế, hoả kế, áp kế, ẩm kế và thước đo ẩm (nhóm 90.25);
(d) Thiết bị và dụng cụ để phân tích lý, hoá... (nhóm 90.27),
nhóm này gồm các công cụ, thiết bị để đo đạc hoặc kiểm tra lưu lượng,
mức độ, áp suất, động năng hoặc các tính chất biến đổi khác của chất
lỏng hoặc khí.
Những thiết bị thuộc nhóm này có thể có các cơ cấu ghi, báo tín hiệu
hoặc cơ cấu quang học để đọc tỷ lệ, hoặc có các máy phát có thiết bị đầu
ra chạy bằng điện, khí nén hoặc thuỷ lực.
Các thiết bị đo hoặc kiểm tra thường được trang bị một bộ phận nhạy
cảm với các biến đổi của đại lượng cần đo (ví dụ như ống Bourdon,
màng ngăn, ống gió, bán dẫn) làm dịch chuyển một kim hoặc chỉ báo. Ở
một số thiết bị, các biến đổi này được biến đổi thành tín hiệu điện.
Những dụng cụ và thiết bị đo hay kiểm tra của nhóm này được kết hợp
với các vòi và van... sẽ được phân loại theo Chú giải chi tiết nhóm
(I) THIẾT BỊ ĐO HOẶC KIỂM TRA LƯU LƯỢNG HOẶC TỐC
ĐỘ DÒNG CHẢY CỦA CÁC CHẤT LỎNG HOẶC KHÍ
(A) Lưu lượng kế, là công cụ chỉ báo tốc độ dòng chảy (về thể tích hoặc
trọng lượng trên một đơn vị thời gian) dùng trong đo đạc dòng chảy
lộ thiên (sông, kênh rạch,...) và cả dòng chảy kín trong ống dẫn
(đường ống ...).
Một số lưu lượng kế sử dụng nguyên tắc của đồng hồ chất lỏng nhóm
90.28 (loại có tuabin, loại có pít tông, ...), song đa phần các thiết bị
đó đều dựa trên nguyên lý áp suất vi sai. Những thiết bị này bao
gồm:
(1) Lưu lượng kế áp suất vi sai (có độ mở cố định) chủ yếu gồm:
(i) Một dụng cụ chính nhằm tạo áp suất vi sai (ống Pitot hoặc
Venturi, màng chắnđơn giản, màng ngăn khoang tròn, ống
đã tạo dạng ...) và
(ii) Một áp kế vi sai (phao nổi, màng chắn, lực kế vòng dao
động, áp suất vi sai, thiết bị chuyển đổi lưu lượng...).
(2) Thiết bị đo lưu lượng có tiết diện thay đổi (độ mở thay đổi)
nhìn chung được tạo bởi một ống hình nón có thang chia độ chứa
phao nổi nặng mà bị dòng cuốn theo cho đến khi lưu lượng của
chất lỏng chảy qua giữa phao với thành ống đạt mức cân bằng.
Với những chất lỏng áp suất cao, sẽ sử dụng các thiết bị hoặc
thuộc loại từ tính (vị trí của phao bằng sắt trong ống không từ
tính được chỉ báo ra ngoài nhờ một nam châm), hoặc dưới dạng
supáp (một màng ngăn cầu vồng đặt trong ống được tiếp xúc
song song với một lưu lượng kế nhỏ).
(3) Lưu lượng kế sử dụng từ trường, siêu âm hoặc nhiệt.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Bánh guồng thủy văn để đo tốc độ dòng chảy trên sông, rạch,
v.v… thuộc nhóm 90.15 được xem như các dụng cụ thuỷ văn.
(b) Thiết bị chỉ báo tổng lưu lượng chất lỏng chảy trong một thời
gian đã định và được xem nhưcác thiết bị đo chất lỏng được
cung cấpthuộc nhóm 90.28.
(B) Các phong tốc kế của các loại chuyên dụng dùng ghi tốc độ lưu
lượng của các dòng không khí trong các hầm mỏ, đường hầm, ống
khói, lò nung và các đường ống nói chung, và thường gồm một quạt
cánh và một mặt đồng hồ có thang độ. Trong một số thiết bị, các trị
số đo được chuyển thành tín hiệu điện.
(II) THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ ĐO HOẶC KIỂM TRA MỨC ĐỘ
CHẤT LỎNG HOẶC KHÍ
Các dụng cụ chỉ báo mức độ chất lỏng hoặc hàm lượng của khí kế.
Các dụng cụ chỉ báo mức độ chất lỏnggồm có:
(1) Chỉ báo loại phao nổi, có thể cho biết kết quả trực tiếp trên cột chia
độ lắp trên phao nổi hoặc kết quả có thể được dẫn tới một kim đồng
hồ đo bằng dây cáp và tang trống hoặc được chuyển sang tín hiệu
điện.
(2) Loại có phao hơi và thuỷ tĩnh dùng để đo mức trong các thùng
chứa dưới áp suất nhờ một lực kế vi sai.
(3) Loại có ánh sáng hai màu, cho các nồi hơi, dựa trên sự chênh lệch
các chỉ báo khúc xạ của nước và hơi, chúng gồm một bộ bóng đèn,
màn hình màu, một hệ thống quang học và một dụng cụ chỉ báo chỉ
ra các màu khác nhau tương ứng với các độ khúc xạ khác nhau của
nước và hơi.
(4) Loại dùng điện, ví dụ dựa trên những biến đổi về điện trở, điện dung
hoặc dùng siêu âm...
Nhóm này không chỉ đề cập đến các chỉ báo mức trong các bể chứa kín
mà còn trong cả các bể hoặc kênh lộ (nhà máy thuỷ điện, hệ thống tưới
tiêu...)
Để xác định dung lượng của một khí kế, người ta đo mức của bình khí
hoặc trực tiếp, hoặc từ một kim chỉ số kết nối với bình khí bằng dây cáp
và tang trống.
Các thiết bị đo hoặc kiểm tra mức độ các chất rắn bị loại trừ (các nhóm
90.22 hoặc 90.31 tuỳ theo từng trường hợp).
(III) THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ ĐO HOẶC KIỂM TRA ÁP SUẤT
CHẤT LỎNG HOẶC KHÍ
Các dụng cụ đo áp suất (ví dụ các áp kế) là những thiết bị để đo áp suất
một chất lỏng hoặc một chất khí. Khác với khí áp kế ở chỗ khí áp kế đo
áp suất khí quyển tự do, còn áp kế đo áp suất chất lỏng hoặc khí chứa
trong không gian kín. Có những loại áp kế chính sau đây:
(1) Áp kế chất lỏng (thuỷ ngân, nước hoặc chất lỏng khác, hoặc cả hai
chất lỏng không thể hoà tan với nhau). Chất lỏng chứa trong ống
thuỷ tinh hoặc kim loại; áp kế nàycó thể là loại chỉ có một cột, loại
ống hình chữ U, loại cột nghiêng, hoặc có nhiều cột, hoặc lực kế
vòng dao động.
(2) Áp kế kim loại, cũng giống như khí áp kế hộp, có thể có một màng
đơn hay nhiều màng, một vỏ bọc, một ống Bourdon hoặc một ống
kim loại hình xoắn ốc hoặc một thành phần nhạy cảm với áp suất.
Thành phần đó có thể làm chuyển động trực tiếp một kim hoặc thay
đổi một tín hiệu điện.
(3) Áp kế piston, trong đó áp suất tác động hoặc trực tiếp, hoặc có khi
thông qua màng ngăn lên một piston được gắn hoặc nén bằng một lò
(4) Áp kế điện dựa trên các biến đổi hiện tượng điện (ví dụ điện trở hoặc
công suất) hoặc dùng siêu âm.
Các thước chân không để đo các áp suất rất thấp, gồm cả loại thước
ion hoá có ống chân không nhiệt (triode). Trong đó ion dương được
sinh ra do va chạm các điện tử với các phân tử khí còn lại đều bị hút
về phía bản âm. Nếu được trình bày tách rời, các ống nhiệt chân
không (triode) bị loại trừ (nhóm 85.40).
Nhóm này cũng bao gồm các áp kế cực đại và cực tiểu. Trong các áp
kế vi sai dùng để đo chênh lệch về áp suất, bao gồm các loại: áp kế hai
chất lỏng, áp kế phao nổi, lực kế vòng lắc, màng, vỏ bọc, bi (không có
chất lỏng),v.v...
(IV) CÔNG TƠ NHIỆT
Các công tơ nhiệt dùng để đo các đại lượng nhiệt tiêu thụ trong một
thiết bị (ví dụ hệ thống đun nước nóng). Gồm chủ yếu một thiết bị đo
chất lỏng được cung cấp, hai nhiệt kế được đặt lần lượt tại đầu vào và
đầu ra của ống dẫn và một cơ cấu đếm và tính tổng. Công tơ ngẫu nhiệt
cũng thuộc nhóm này.
Các công tơ nhiệt nhỏ dùng trong các nhà tập thể và được lắp trên các bộ
toả nhiệt để chia đều chi phí đun chung giống như một nhiệt kế và chứa
một chất lỏng bốc hơi dưới tác dụng của nhiệt.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các
bộ phận và phụ kiện của các thiết bị hoặc dụng cụ được trình bày tách
rời vẫnđược phân loại ở đây. Ví dụ của các thiết bị ghi đồ họa riêng
biệt(kể cả khi việc ghi được tiến hành theo chỉ số của nhiều dụng cụ đo
hoặc kiểm tra và các máy ghi), có hay không được gắn với thiết bị phát
tín hiệu, chọn lọc sơ bộ hay điều khiển.
90.27 - Dụng cụ và thiết bị phân tích lý hoặc hóa học (ví dụ, máy đo
phân cực, đo khúc xạ, quang phổ kế, máy phân tích khí hoặc
khói); dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra độ nhớt, độ xốp,
độ giãn nở, sức căng bề mặt hoặc các loại tương tự; dụng cụ
và thiết bị đo hoặc kiểm tra nhiệt lượng, âm lượng hoặc ánh
sáng (kể cả máy đo độ phơi sáng); thiết bị vi phẫu.
9027.10 - Thiết bị phân tích khí hoặc khói
9027.20 - Máy sắc ký và điện di
9027.30 - Quang phổ kế, ảnh phổ và quang phổ ký sử dụng bức
xạ quang học (tia cực tím, tia có thể nhìn thấy được, tia
hồng ngoại)
9027.50 - Dụng cụ và thiết bị khác sử dụng bức xạ quang học (tia
cực tím, tia có thể nhìn thấy được, tia hồng ngoại)
- Dụng cụ và thiết bị khác:
9027.81 - - Khối phổ kế
9027.89 - - Loại khác
9027.90 - Thiết bị vi phẫu; các bộ phận và phụ kiện
Nhóm này bao gồm:
(1) Các phân cực kế, dùng để đo góc quay của mặt phẳng phân cực
một tia sáng khi xuyên qua một chất hoạt động quang học. Chúng
thường có một nguồn sáng, một dụng cụ quang học gồm lăng kính
phân cực và lăng kính phân tích, một giá đựng ống để chứa vật
chất cần phân tích, một kính quan sát và một thang đo.
Phân cực kế điện tử ngoài những chi tiết quang học cần thiết của
một phân cực kế truyền thống, còn có một tế bào quang điện.
(2) Dụng cụ phân tích bản ảnh để phân tích ánh sáng bị phân cực
thẳng hoặc theo hình ê-líp.
(3) Dụng cụ đo nồng độ đường, những phân cực kế đặc biệt dùng để
xác định hàm lượng đường trong các dung dịch ngọt.
(4) Khúc xạ kế dùng để xác định chỉ số khúc xạ của các chất lỏng
hoặc rắn (là một trong những hằng số quan trọng nhất để đánh giá
độ tinh khiết các chất). Gồm chủ yếu một hệ thống lăng kính, kính
quan sát và đọc, một thiết bị điều chỉnh nhiệt độ (vì nhiệt độ có
ảnh hưởng rất lớn đến chỉ số khúc xạ). Chúng được sử dụng rộng
rãi, cụ thể là trong các ngành công nghiệp thực phẩm (kiểm tra các
loại dầu, bơ và chất béo khác, phân tích các loại mứt và nước hoa
quả, v.v...), trong công nghiệp thuỷ tinh, lọc dầu, trong sinh học
(đo hàm lượng prôtêin trong huyết tương hoặc các chất tiết ra,...).
Phần lớn các khúc xạ kế đều đặt trên một giá đỡ hoặc đế; những
loại khác thì để cầm tay, một số cấu tạo để gắn vào các thành của
các bể chế tạo.
(5) Các phổ kế để đo bước sóng của các tia phổ phát xạ hoặc phổ hấp
thụ. Chúng cần có một ống chuẩn trực có khe điều chỉnh được (là
nơi mà ánh sáng cần phân tích sẽ đi qua), một hay nhiều lăng kính
thuỷ tinh định hướng được, một kính quan sát và một bàn lăng trụ.
Một số quang phổ kế (cụ thể được dùng để phân tích tia hồng
ngoại hoặc cực tím) dùng các lăng kính hoặc mạng nhiễu xạ.
Nhóm này bao gồm: kính quang phổ để quan sát phổ; các quang
phổ kýđể ghi phổ trên một tấm ảnh hoặc phim (phổ đồ); các đơn
sắc kế, dùng chủ yếu để tách một tia nào đó của phổ hoặc để tách
các phần nhất định trong phổ liên tục.
Nhưng nhóm này không bao gồm các kính thiên văn quang phổ
và các quang phổ ký dùng trong quan sát mặt trời (nhóm 90.05);
các máy chiếu quang phổ để kiểm tra một quang phổ đã được
khuyếch đại chiếu, trên màn hình (nhóm 90.08); các kính hiển vi
vi kế và các máy so sánh quang phổ có các kính hiển vi (để nghiên
cứu so sánh các phổ ký bằng quan sát quang học) (nhóm 90.11) và
các dụng cụ phân tích phổ để đo hoặc kiểm tra các đại lượng điện
(nhóm 90.30).
(6) Các phổ ký trọng lượng và các thiết bị tương tự dùng chủ yếu để
phân tích cấu tạo đồng vị v.v... của các chất. Song các thiết bị để
tách đồng vị bị loại trừ (nhóm 84.01).
(7) Các dụng cụ đo màu - sắc kế. Từ này áp dụng cho hai loại dụng
cụ khác nhau. Loại thứ nhất dùng để xác định màu của một chất
(lỏng hoặc rắn), bằng cách ghép trùng hợp màu của chất đó với
màu của một hỗn hợp đạt được bằng những tỷ lệ biến đổi nhưng
đo được của ba màu cơ bản (đỏ, lục và xanh). Loại thứ hai dùng
trong các phân tích hoá học hoặc sinh hoá để xác định nồng độ
(đậm đặc) của một chất có trong một dung dịch bằng cách so sánh
màu của chất (hoặc màu của chất đó sau khi xử lý bằng một thuốc
thử) với màu các tấm chuẩn hoặc chất lỏng chuẩn. Trong một loại
sắc kế thuộc loại thứ hai, một dung dịch để thử nghiệm và một
dung dịch chuẩn được chứa trong 2 ống nghiệm, mà có thể được
xem xét nhờ hai lăng kính qua một thị kính. Một số sắc kế nhất
định thì dựa trên việc sử dụng các tế bào quang điện. Một vài công
cụ khác của loại đó dùng một dải giấy, nhúng thuốc thử làm thay
đổi màu sau khi phản ứng với một loại khí. Những công cụ đó gồm
hai tế bào quang điện, một để đo màu trước và một đo màu sau
phản ứng với khí.
Nhóm này cũng bao gồm các sắc kế có thể kèm theo những thiết bị
phân tích quang học khác như: máy đo độ đục (xác định độ đục
trong các dung dịch), hấp thụ kế, huỳnh quang kế (để xác định
huỳnh quang được dùng rộng rãi cho việc phân tích hàm lượng
vitamin, alkaloid...), khí cụ đo độ trắng và khí cụ đo độ mờ
(chuyên dùng để đo độ trắng, độ mờ và độ sáng chói trong bột
giấy, giấy...).
(8) Các thiết bị phân tích khí hoặc khói để phân tích khí đốt hoặc sản
phẩm phụ (khí đã đốt) cụ thể là trong các lò than cốc, máy chế khí
than, các lò cao... để xác định hàm lượng của các axit carbon
dioxit/khí carbonic, carbon monoxit, oxy, hydro, nitơ hoặc các hợp
chất hữu cơ. Các thiết bị điện phân tích khí và khói được dùng chủ
yếu trong các nhà máy để đo thành phần các khí sau đây: khí
cacbonic (carbon dioxit), carbonmonoxit và hydro, oxy, hydro,
sunphurơ, amoniac.
Một vài thiết bị đó hoạt động bằng cách xác định phân lượng thể
tích các khí đã đốt hoặc bị hấp thụ bởi những chất hoá học thích
hợp, chủ yếu gồm:
(i) Dụng cụ orsat, gồm chủ yếu một chai/lọ hút khí, một hoặc
nhiều ống hút hoặc ống đo.
(ii) Dụng cụ đốt hoặc nổ gồm thêm một ống đốt hoặc nổ (ống
nhỏ bằng bạch kim, ống bằng sợi bạch kim hoặc palladium
(Pd) có bộ phận đánh lửa cảm ứng...)
Các loại đó còn có thể phối hợp với nhau.
Trong những kiểu khác, người ta thao tác theo tỷ trọng hoặc bằng
ngưng tụ và chưng cất từng phần, hoặc còn dựa trên các nguyên lý
sau đây:
(i) Tính chất dẫn nhiệt của một khí
(ii) Hiệu ứng nhiệt của các khí đốt trên một điện cực (ví dụ hỗn
hợp carbon monoxit với hydro trong các khí thải).
(iii) Hấp thụ có chọn lọc các tia cực tím, quang phổ nhìn được,
hồng ngoại hoặc vi sóng bằng một khí cần nghiên cứu.
(iv) Chênh lệch độ thấm từ của các khí.
(v) Phản ứng phát quang hoá học giữa khí với một thành phần của
khí phụ thích hợp.
(vi) Ion hoá hydrocarbon bằng ngọn lửa hydro.
(vii) Chênh lệch giữa độ dẫn điện của một thuốc thử chất lỏng
thích hợp trước khi và sau khi phản ứng với chất khí.
(viii) Phản ứng điện hoá trong các tế bào với dung dịch điện phân
hoặc chất rắn (đặc biệt ôxit zircon để phân tích oxy).
Lưu ý rằng, nhóm này gồm có các thiết bị phân tích khí hoặc
khói để sử dụng trong sản xuất công nghiệp (tức là được nối trực
tiếp với các lò nung, các lò chế khí đốt, v.v...) Nhưng những
dụng cụ phân tích khí chỉ giản đơn bằng thuỷ tinh trong phòng thí
nghiệm thuộc nhóm 70.17.
(9) Các máy dò khói điện tử, dùng cho lò nung, lò đốt ... ví dụ những
máy mà trong đó, một chùm tia sáng (hoặc hồng ngoại) được chiếu
trực tiếp lên trên một tế bào quang điện. Tuỳ theo mật độ của làn
khói, sự di chuyển của chùm tia này qua làn khói sẽ gây ra những
thay đổi trong dòng của mạch tế bào quang điện, do đó làm vận
hành một dụng cụ chỉ báo có thang chia độ hoặc một hệ thống ghi
và trong một số trường hợp nhất định thì là van điều chỉnh. Những
khí cụ đó có thể được trang bị một thiết bị báo động.
Các máy dò khói bằng điện chỉ trang bị một cơ cấu báo động duy
nhất thuộc nhóm 85.31.
(10) Máy đo khí nổ mỏ than và dụng cụ phát hiện khí khác (ví dụ
cho khí CO2). Các thiết bị này có thể mang theo được để dò khí
khác trong các hầm mỏ, đường hầm, để phát hiện rò rỉ trong đường
ống,...
(11) Thiết bị đo bụi trong các khí. Các thiết bị này hoạt động bằng
cách đưa một lượng khí nhất định qua một đĩa lọc được cân đo
trước và sau khi kiểm tra. Nhóm này bao gồm các bụi kế/ thiết bị
đo bụi, để đo hàm lượng bụi trong không khí và để kiểm tra các
mặt nạ chống bụi, bộ lọc..., chúng gồm có chủ yếu một khoang bụi
bọc kính đen, một nguồn sáng, một đầu quang kế có cơ cấu lăng
kính đo và vòng tròn thang độ để đọc các góc quay.
(12) Thiết bị đo hàm lượng oxy để xác định oxy đã hoà tan trong các
chất lỏng bằng việc sử dụng một tế bào phân cực hoặc bằng phản
ứng hoá học giữa tali (Tl) với oxy hoà tan (đo sự thay đổi trong độ
dẫn điện phân giải).
(13) Dụng cụ phân cực để xác định các thành phần của chất lỏng,
ví dụ cặn kim loại hoà tan trong nước bằng việc đo và đánh giá
hệ thức dòng điện/điện trở của các điện cực nhúng trong dung
dịch.
(14) Dụng cụ phân tích bằng hoá ẩm để xác định các thành phần hữu
cơ hoặc vô cơ của chất lỏng, ví dụ cặn kim loại, phosphate, nitrat,
clorua, hoặc các tham số tổng hợp như "nhu cầu oxy hóa
học(COD)" hoặc "tổng hàm lượng của carbon hữu cơ (TOC)".
Thiết bị phân tích gồm một máy chuẩn bị mẫu phân tích, máy phân
tích có các điện cực nhạy cảm với ion, các quang kế hoặc phân cực
ký và một cơ cấu điều chỉnh trong các dụng cụ phân tích tự động.
(15) Các thước đo nhớt và loại tương tự dùng để xác định độ nhớt
(tức là: ma sát trong của chất lỏng).
Chúng có thể dựa trên:
(i) Nguyên lý của ống mao quản, việc đo thời gian yêu cầu khi chất
lỏng chảy qua ống dưới áp lực không đổi (thiết bị đo độ nhớt
(ii) Hiệu ứng ma sát giữa một chất rắn và một chất lỏng.
hoặc (iii) Bằng phương pháp đo thời gian rơi của viên bi qua một môi
trường lỏng.
(16) Các phân cực nghiệm(thiết bị quan sát biến dạng) để đo các
biến dạng bên trong của thuỷ tinh (các biến dạng là kết quả của các
quá trình làm dai, tôi, hàn..., mà dễ làm cho thuỷ tinh vỡ ra).
Chúng cần có một khoang trong đó có chứa một đèn điện, một
thiết bị phát tán ánh sáng, một bộ phân cực và một kính quan sát
phân cực. Các ứng suất trong thuỷ tinh được chỉ ra như các màu
sắc sáng chói.
(17) Dụng cụ đo độ giãn nở để đo các giãn nở hoặc co ngót của các
vật liệu như thép, hợp kim, than luyện ..., xảy ra theo các thay đổi
của nhiệt độ. Các dụng cụ đó thường là loại tự ghi (việc ghi cơ học
trên đồ thị hoặc bằng chụp ảnh).
(18) Dụng cụ xác định độ xốp hoặc độ thấm (đối với nước, không khí
hoặc các chất khí khác, v.v...), được gọi là máy đo độ xốp hoặc
máy đo độ thấm (không nên nhầm với các dụng cụ đo độ từ thẩm
của các chất). Chúng được dùng cho các chất như giấy, sợi dệt,
vải, plastic, da thuộc, cát, v.v...
(19) Dụng cụ để đo sức căng bề mặt hoặc mặt tiếp xúc của các chất
lỏng (ví dụ, cân xoắn). Sức căng bề mặt hoặc mặt tiếp xúc của
chất lỏng được xác định bằng một trong ba yếu tố sau: trọng lượng
một giọt nước rơi từ một ống mao quản cho trước (hoặc một số
giọt có thể tích đã biết) (phương pháp trọng lượng giọt); chiều cao
tăng lên tự do của chất lỏng trong ống mao quản có đường kính đã
định(phương pháp chiều cao mao dẫn); hoặc lực cần thiết để kéo
một vòng nhẫn ra khỏi mặt chất lỏng ngâm nó.
(20) Các dụng cụ (thẩm thấu kế) xác định áp suất thẩm thấu, có
nghĩa là áp suất xuất hiện khi hai chất lỏng có thể hoà trộn được
tách khỏi nhau bằng một màng ngăn có độ thẩm thấu theo từng
phần nhưng không đều với hai chất lỏng đó.
(21) Dụng cụ thử dầu mỏ và các dẫn xuất từ dầu (cũng như các nhựa
đường, bitum, asphalt). Chúng bao gồm các thiết bị để xác định
điểm chớp cháy, điểm đông, điểm thành keo, điểm chảy, điểm
rơi..., của dầu khoáng, điểm chảy của sáp paraphin, hàm lượng
nước, hàm lượng cặn, hàm lượng lưu huỳnh, độ quánh mỡ và nhựa
đường, điểm đục, điểm đông lạnh,...
(22) Thước đo nồng độ pH và các khí cụ đo thế năng oxy hoá khử
(thước rH). Thước pH thường để đo một đại lượng trong đó đánh
giá tính chất axit hay kiềm của một dung dịch hoặc hỗn hợp (nước
tinh khiết biểu hiện tiêu chuẩn trung tính). Thước rH dùng để đo
khả năng oxy hoá hoặc giảm oxy hoá của một dung dịch. Các khí
cụ trên sử dụng nhiều nguyên lý khác nhau; trong đó thường dùng
nhất là loại dùng hệ thống đo điện, dựa trên việc dùng các điện cực
tạo ra các hiệu điện thế tỷ lệ thuận với nồng độ pH hoặc rH của
dung dịch. Những khí cụ đó không những dùng để đo mà còn làm
chức năng điều chỉnh tự động.
(23) Dụng cụ sử dụng hiện tượng điện di, dựa trên sự thay đổi nồng
độ được tạo ra trong một dung dịch khi một dòng điện một chiều
đi qua. Các hạt tích điện di chuyển theo các tốc độ khác nhau tuỳ
theo từng loại sản phẩm.
Các công cụ đó thường tích hợp một dụng cụ quang trắc, dụng cụ
quang trắc này có một tế bào quang điện, và một vi ampe kế được
chia thang độ trực tiếp theo đơn vị của mật độ quang học. Dùng
chủ yếu cho phân tích các dung dịch khác nhau (protein, axit
amin,...), nghiên cứu các chất như plasma, hormone, virut,
enzyme…hoặc nghiên cứu các hiện tượng polyme hoá.
(24) Các sắc ký (ở thể lỏng, thể khí, thể ion hoặc từng lớp mỏng) dùng
để xác định các thành phần của khí hoặc chất lỏng. Khí hoặc chất
lỏng được phân tích thì đi qua những cột hoặc lớp mỏng của một
chất hấp thụ, sau đó được đo bởi một máy dò. Thời gian truyền
qua các cột hoặc các lớp mỏng của chất hấp thụ chỉ ra các đặc tính
của các khí hoặc chất lỏng cần phân tích, trong khi cường độ tín
hiệu đầu ra của máy dò chỉ ra định lượng của các thành phần khác
nhau cần phân tích.
25) Các công cụ chuẩn độ điện tử sử dụng các điện cực đo để chuẩn
độ nước, muối bạc, halogen, v.v....
(26) Các công cụ phân tích - đôi khi được gọi là "ẩm kế dùng cho chất
rắn” dựa trên hằng số điện môi các chất, truyền dẫn điện, năng
lượng điện từ hấp thụ hoặc tia hồng ngoại của các chất.
(27) Dụng cụ đo tính dẫn điện để xác định độ dẫn điện phân giải hoặc
nồng độ muối, axit hoặc bazơ hoà tan trongcác chất lỏng.
(28) Các vi quang kế và mật độ kế tế vi bằng tế bào quang điện để
đo mật độ các phim phổ ký và để phân tích tất cả các hiện tượng
được ghi trên một nhũ tương ảnh.
(29) Các quang kế dùng để đo cường độ ánh sáng. Đặt ánh sáng cần đo
và nguồn ánh sáng chuẩn sao cho chúng chiếu lên một mặt phẳng
cho trước với cùng một cường độ - thay vì so sánh cường độ hai
ánh sáng, người ta so sánh các phổ tương ứngcủa chúng bằng cách
sử dụng quang phổ kế.
Quang kế được sử dụng rất nhiều trong các quá trình quang học
hoặc các phân tích khác nhau (để xác định nồng độ, độ sáng, độ
trong suốt của các chất rắn; độ phơi sáng của các tấm hoặc phim
ảnh (vi quang kế); độ đậm nét màu sắc trong suốt hoặc đục của các
chất rắn hoặc của các dung dịch.
Một số quang kế dùng trong nhiếp ảnh hoặc làm phim được biết
đến như các dụng cụ đo thời gian lộ sáng và được dùng để đo
thời gian phơi sáng hoặc xác định độ mở ống kính máy ảnh.
(30) Các lux kế (dùng để đo độ sáng, bằng đơn vị “lux”, của một
nguồn phát sáng).
(31) Các nhiệt lượng kế dùng để đo các số lượng nhiệt bị hấp thụ hoặc
thoát ra bởi một chất rắn, lỏng hoặc khí. Trong đó có các loại
chính sau:
(A) Nhiệt lượng kế nước đá (Nhiệt lượng kế Bunsen) dựa trên
các biến đổi thể tích được tạo ra khi nước đá tan chảy. Gồm có
một ống thử được bao quanh bằng nước đá, ngâm trong một
bể đầy nước và một ống nhỏ có thang độ chứa thuỷ ngân.
(B) Nhiệt lượng kế nung (Nhiệt lượng kế Berthelot) dựa trên
nguyên lý chuyển đổi các đại lượng nhiệt. Chúng gồm chủ yếu
một bình đo nhiệt lượng bên trong có chứa đầy nước đặt trong một
chậu cũng chứa nước; chúng được lắp với những nhiệt kế và thiết
bị quấy. Dựa trên nguyên lý đó, có hai loại nhiệt lượng kế:
(i) Nhiệt lượng kế xác định nhiệt đặc biệt của các khí hoặc
nhiên liệu chất lỏng. Trong các dụng cụ này người ta cho
nước chảy qua một khoang ở đó đốt cháy một lượng khí
hoặc chất lỏng và đo chênh lệch nhiệt độ của nước lúc vào
và lúc ra.
(ii) Nhiệt lượng kế bom, dùng để xác định lượng nhiệt đốt vật
liệu, gồm một bình thép (bom), chứa một chất rắn hoặc
lỏng được xác định dùng để thử nghiệm và cả oxy dưới áp
suất. Bằng một dụng cụ thích hợp, người ta tạo ra việc đốt
mẫu thử trong oxy và lượng nhiệt thoát ra được xác định
bằng cách đặt bom đó trong một nhiệt lượng kế nước.
Cùng nằm trong các nhóm này là các nhiệt lượng kế sử dụng
trong công nghiệp; chúng được lắp vào các lò sản suất khí với
công suất calo đã được xác định. Tuy nhiên, nếu các dụng cụ đó
được nối với những thiết bị điều chỉnh có chức năng duy trì hỗn
hợp khí ở mức công suất calo theo mong muốn thì bị loại trừ
(thường thuộc nhóm 90.32).
(32) Khí cụ nghiệm lạnh và khí cụ nghiệm sôi, trừ loại có đặc tính của
đồ thuỷ tinh dùng trong phòng thí nghiệm (nhóm 70.17).
(33) Dụng cụ và thiết bị dùng trong phòng thí nghiệm lâm sàng để xét
nghiệm chẩn đoán in vitro.
Nhóm này cũng gồm các dao vi cắt dùng để cắt thành mảnh cực mỏng
trong thực hành kính hiển vi, có độ dày đã định theo các mẫu của các
chất cần nghiên cứu. Trong số đó có dao vi cắt thủ công (kiểu lưỡi dao
cạo), dao vi cắt quay, dao vi cắt lạng (trên mặt phẳng hoặc mặt phẳng
nghiêng).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các
bộ phận hay phụ kiện của những dụng cụ hay máy móc nói trên cũng
được phân loại vào nhóm này miễn là có thể nhận biết rõ là chúng được
dùng hoàn toàn hay chủ yếu cho những dụng cụ hay máy móc đã được
kể ở trên.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Những thiết bị dùng trong phòng thí nghiệm (bình pha lê có vòi, lọ,
ống thổi, tách, chậu,... và tương tự) bằng vật liệu chịu lửa (nhóm
69.03) và những mặt hàng tương tự bằng vật liệu gốm khác (nhóm
(b) Dụng cụ thuỷ tinh trong phòng thí nghiệm (nhóm 70.17) (xem thêm
các miêu tả chi tiết dưới đây).
(c) Các kính hiển vi (nhóm 90.11 hoặc 90.12).
(d) Các cân chính xác (nhóm 90.16).
(e) Máy tia X, v.v... (nhóm 90.22).
(f) Các thiết bị trưng bày (nhóm 90.23).
(g) Máy và thiết bị để thử một số vật liệu (nhóm 90.24).
(h) Các tỷ trọng kế, nhiệt kế, ẩm kế và các dụng cụ tương tự khác thuộc
nhóm 90.25, có hoặc không dùng trong các phòng thí nghiệm.
(ij) Các thiết bị thuộc nhóm 90.26.
Việc phân loại các mặt hàng có khả năng nằm trong phạm vi của
nhóm này và cả nhóm 70.17 (dụng cụ thuỷ tinh trong phòng thí
nghiệm).
Trong những trường hợp như vậy để xác định thuộc nhóm nào trong hai
nhóm, nên xem xét những nhận xét sau:
(1) Nếu một thiết bị có các đặc tính cần thiết của thuỷ tinh (dù có hoặc
không được chia độ, có hoặc không có chất gắn và các kết nối phụ,...
từ cao su, v.v...) thì không được phân loại trong nhóm này ngay cả
khi nó được gọi thông thường như các thiết bị hoặc dụng cụ riêng
biệt.
(2) Nói chung, các dụng cụ dễ dàng mất đi các đặc tính cần thiết của
thuỷ tinh khi chúng có một phần là thuỷ tinh còn đa phần làm từ
nguyên liệu khác; hoặc nếu chúng có các bộ phận làm từ thuỷ tinh
được lắp hoặc gắn cố định trên các khung, giá, hộp hoặc các dạng
tương tự.
(3) Việc kết hợp các bộ phận thuỷ tinh với các công cụ đo đạc (ví dụ áp
kế, nhiệt kế...) thực tế có thể cung cấp những cơ sở để xem các khí cụ
như vậy phù hợp được phân loại trong nhóm này.
Trên cơ sở đó, sẽ đưa các công cụ sau đây vào nhóm 70.17 - khi chúng
hình thành từ thuỷ tinh và có thang chia độ đơn giản:
Thiết bị đo hàm lượng chất béo trong sữa và dụng cụ tương tự trong thử
nghiệm các sản phẩm sữa; các thiết bị đo albumin và urê; các ống đo
khí; thể tích; nitơ, dụng cụ Kipps hoặc Kjeldahl và các công cụ tương tự,
các canxi kế, các nghiệm lạnh và sôi kế để xác định trọng lượng phân
tử...
Nhóm này cũng loại trừ các máy móc và thiết bị (có hoặc không dùng
điện) của loại được phân loại trong Phần XVI, có hoặc không được xét
đến các công cụ hiệu suất thấp, kích thước thu nhỏ và cả về cấu tạo
chung như đã biết chúng rõ ràng được sử dụng trong các phòng thí
nghiệm (chủ yếu để chuẩn bị và xử lý các vật mẫu). Do đó, trường hợp
các lò đốt; nồi hấp; tủ sấy hoặc máy sấy khô; máy nghiền trộn; máy li
tâm; nồi chưng cất; máy ép, lọc, lọc ép và máy khuấy… không thuộc
nhóm này.
Tương tự như vậy, các thiết bị đun nhiệt (đèn Bunsen, bồn tắm hơi ...),
các công cụ, đồ nội thất dùng cho các phòng thí nghiệm (bàn thí nghiệm,
giá kính hiển vi, tủ xông khói) và các bàn chải sẽ được phân loại theo
nhóm riêng phù hợpcủa chúng (Phần XV, Chương 94 hoặc Chương
90.28 - Thiết bị đo khí, chất lỏng hoặc lượng điện được sản xuất
hoặc cung cấp, kể cả thiết bị kiểm định các thiết bị trên.
9028.10 - Thiết bị đo khí
9028.20 - Thiết bị đo chất lỏng
9028.30 - Công tơ điện
9028.90 - Bộ phận và phụ kiện
Các thiết bị đo này nhìn chung, gồm một thiết bị chuyển động theo tốc
độ tỷ lệ thuận với lưu lượng chất lỏng hoặc đại lượng điện được đo. Các
thiết bị thường lắp trên một đường vòng, hoặc chệch trục chính, hoặc kết
nối với các bộ đo biến áp sao cho chỉ một phần lưu lượng qua chúng, tuy
nhiên, chúng được định cỡ để chỉ báo tổng lưu lượng qua ống hoặc qua
mạch chính.
Các thiết bị đo khí, chất lỏng hoặc lượng điện sản xuất hoặc cung cấp
vẫn thuộc nhóm này dù chúng có hay không một cơ cấu ghi ký theo
chuyển động đồng hồ hoặc có một dụng cụ cơ hoặc điện giản đơn để
kích hoạt các dụng cụ báo tín hiệu, các bộ phận điều khiển,... đi vào
hoạt động.
(I) THIẾT BỊ ĐO KHÍ HOẶC CHẤT LỎNG ĐƯỢC SẢN XUẤT
HOẶC CUNG CẤP
Phần này, nói về những dụng cụ dùng để đo theo đơn vị thể tích, lượng
chất lỏng chảy qua một ống. Lưu lượng kế đo tốc độ lưu lượng bị loại
trừ(nhóm 90.26).
Thuộc nhóm này còn gồm các công tơ cung cấp tại các hộ gia đình (công
tơ thuê bao), công tơ sản suất (nhà máy) hoặc cung cấp, và các công tơ
chuẩn (để kiểm tra độ chính xác của các công tơ thông thường). Ngoài
các công tơ giản đơn, nhóm này còn có những công tơ chuyên dụng như
công tơ cực đại, công tơ trả trước, công tơ tính giá, v.v...
Những công tơ được sản xuất hoặc cung cấp thuộc nhóm này chủ yếu
gồm một dụng cụ đo (tuabin, piston, màng chắn ...) một cơ cấu điều
chỉnh sự dẫn chất lỏng (nói chung có van lá), một cơ cấu truyền dẫn (vít
vô tận, trục khuỷu, bánh răng hoặc các hệ thống khác), một dụng cụ ghi
hoặc một bộ phận chỉ báo (loại kim chỉ hoặc tang trống), hoặc cả hai.
(A) Thiết bị đo khí được sản xuất hoặc được cung cấp
(1) Công tơ ẩm.
Thường bao gồm một tang trống hay một bánh lái được phân
chia vào các khoang; nó sẽ quay trong một hộp hình trụ, chứa
trên một nửa hộp đó là chất lỏng (nước, dầu….). Tang trống
quay được là nhờ khí đi vào công tơ, làm đầy các khoang chìm
và do đó đẩy chúng lên khỏi mặt nước. Chuyển động quay của
tang trống được chỉ ra trên cơ cấu đếm.
Ở một loại khác (công tơ đo nhờ chuông động), gồm một cái
chuông qua đó khí đi vào và ra khỏi một chuỗi các khoang;
chuông được để ở vị trí trung tâm khi đó được thiết kế để quay
xung quanh một trục nghiêng, điều này kích hoạt cánh tay quay
được gắn với trục quay lái của cơ cấu đếm.
(2) Công tơ khô.
Có nhiều loại công tơ khô, cơ cấu đo có thể gồm piston, màng
chắn hoặc cánh quạt do áp suất khí kích hoạt và được nối với cơ
cấu đếm. Loại công tơ thông thường có một hộp chia làm hai
khoang bởi một tấm ngăn, mỗi khoang lại bị chia bởi một màng
chắn chính giữa; bốn ngăn tạo nên đó lần lượt cho khí đi vào rồi
đi ra. Chuyển động thay đổi của màng ngăn sẽ làm hoạt động cơ
cấu đếm.
(B) Công tơ đo chất lỏng sản xuất hoặc cung cấp (nước nóng, nước
lạnh, dầu mỏ, cồn, bia, rượu, sữa...), trừ các bơm chất lỏng (ngay cả
khi nó có một cơ cấu đo) của nhóm 84.13.
Gồm:
(1) Công tơ tuabin.
Những công tơ này còn được gọi là công tơ suy luận vì thể tích
của chất lỏng được suy ra từ tốc độ của nó. Cơ cấu đo là một
cánh quạt hoặc một chong chóng quay ở tốc độ tỷ lệ thuận với
lưu lượng chất lỏng. Chuyển động quay kích hoạt cơ cấu đếm.
(2) Công tơ khoang giãn (công tơ theo chiều dương)
Những công tơ này giống như công tơ đo khí khô đã nói ở trên.
Một trục hình trụ rỗng bằng gang chia đôi thành hai khoang, có
màng cơ động ngăn cách phồng lên hoặc dẹp xuống khi các khoang
lần lượt rỗng hay đầy. Chuyển động này làm vận hành cơ cấu đếm.
(3) Công tơ piston tịnh tiến (công tơ theo chiều dương)
Những công tơ này có thể gồm một hoặc nhiều piston chuyển
động tịnh tiến trong các trụ. Giống như các động cơ hơi nước,
một hệ thống các van lá điều khiển dòng chất lỏng trong quá
trình đo để dẫn chất lỏng liên tiếp lên và xuống các bên của
piston và mở hoặc đóng các vòi nút. Chuyển động của piston
được truyền đến cơ cấu đếm.
(4) Công tơ piston đĩa (công tơ bán dương)
Trong các công tơ này, piston được thay bằng một đĩa quay và
chia một buồng hình cầu thành hai khoang bằng nhau. Các
khoang đó lần lượt vơi và đầy chất lỏng. Kết quả chuyển động
dao động được chuyển đến cơ cấu đếm.
(5) Công tơ piston quay (công tơ bán dương)
Trong một loại công tơ này, gồm có một khoang hoạt động hình
trụ có lắp một màng ngăn toả tròn, cơ cấu đo là một piston hình
trụ bị sẻ rãnh sao cho khớp với màng ngăn. Khi các khoang vơi
hay đầy sẽ truyền một chuyển động dao động (bán quay) tới trục
lăn và chuyển động này được chuyển động bởi các bánh răng tới
cơ cấu đếm.
Ở một loại khác mà khoang hoạt động không có các vách ngăn,
một piston hình elip sẽ chuyển động vòng tròn khép kín. Đôi khi
công tơ được cấu tạo theo kiểu đĩa hình côn quay trong một
khoang hình cầu có vách ngăn.
Thiết bị đo được nhắc đến từ mục (2) đến (5) bên trên được biết
đến là loại dịch chuyển dương.
(II) THIẾT BỊ ĐO LƯỢNG ĐIỆN ĐƯỢC SẢN XUẤT HOẶC
CUNG CẤP
Công tơ điện dùng để đo lượng điện tiêu thụ (thường có đơn vị là
ampe/giờ, hoặc kilô ampe/giờ,..) (công tơ số lượng), hoặc năng lượng
tiêu thụ (bằng oát giờ, hectô oát giờ, kilô oát giờ, kilôvôn ampe giờ)
(công tơ năng lượng có khi gọi là công tơ công suất). Khi điện áp không
thay đổi, công tơ số lượng có thể được đo bằng oát/giờ (hoặc một trong
các bội số oát/giờ). Người ta phân biệt các công tơ điện một chiều và
công tơ điện xoay chiều để sử dụng cho phù hợp.
Nhóm này loại trừ các thiết bị như vôn kế, ampe kế, oát kế,...không
dùng để đo tổng số lượng điện hay năng lượng tiêu thụ mà để đo đơn
giản những đại lượng điện khác (nhóm 90.30).
Nhóm này bao gồm các loại công tơ cung cấp điện chính sau:
(A) Công tơ động cơ.
Các công tơ này gồm chủ yếu một hoặc nhiều cuộn cảm, một bộ
phận quay (phần ứng) với tốc độ quay tỷ lệ thuận với số lượng điện
hoặc năng lượng tiêu thụ, một cơ cấu đếm và một kim chỉ hoặc thiết
bị chỉ báo trống tang (hoặc cả hai kết hợp).
Công tơ động cơ thường được cung cấp một bộ hãm dòng xoáy, một
đĩa phanh kim loại, ở đó, các dòng xoáy được tạo ra khi đĩa quay
giữa các cực của một hoặc nhiều nam châm vĩnh cửu.
(B) Công tơ tĩnh.
Các công tơ này gồm chủ yếu những bán tổ hợp tĩnh điện tử như các
số nhân, các bộ lượng tử hoá được trang bị một thiết bị chỉ báo.
Trong các bán tổ hợp đó, phát ra một dòng điện hay điện trở có giá
trị tỷ lệ thuận với lượng điện tiêu thụ. Thiết bị chỉ báo có thể là thiết
bị cơ (được cung cấp một con trở hoặc một thiết bị chỉ báo trống
tang), hoặc điện tử.
Loại này bao gồm:
(1) Công tơ trả trước.
(2) Công tơ nhiều biểu giá (tính toán năng lượng điện được cung
cấp tại hai hoặc nhiều giá cước khác nhau).
(3) Công tơ cực đại (chỉ giá trị cực đại đạt được của tải trung bình
trong một thời gian nhất định).
(4) Công tơ trần (chỉ lượng năng lượng tiêu thụ vượt trên một giá
trị trần nào đó).
(5) Công tơ vượt mức (tương tự như công tơ trần, nhưng nó còn chỉ
rõ thêm tổng năng lượng đã tiêu thụ).
(6) Công tơ xung (có một máy phát xung).
(7) Công tơ phản lực.
(8) Công tơ chứng minh.
(9) Công tơ dòng một chiều (công tơ đo theo Vôn/giờ, Ampe/giờ,
Oát/giờ).
(10) Công tơ có xung đầu vào để kết nối với các công tơ xung, có
một dụng cụ chỉ báo tiêu thụ và một cơ cấu tổng hợp hoặc cực
đại (để chỉ hoặc ghi) hoặc thiết bị vượt mức, v.v...
(11) Công tơ chuẩn để kiểm tra và kiểm định các công tơ khác.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát) các bộ
phận và phụ kiện của những công tơ thuộc nhóm này cũng được phân
loại vào nhóm này.
90.29 -Máy đếm vòng quay, máy đếm sản lượng, máy đếm cây số để
tính tiền taxi, máy đếm dặm, máy đo bước và máy tương tự;
đồng hồ chỉ tốc độ và máy đo tốc độ gốc, trừ các loại máy
thuộc nhóm 90.14 hoặc 90.15; máy hoạt nghiệm.
9029.10 - Máy đếm vòng quay, máy đếm sản lượng, máy đếm
cây số để tính tiền taxi, máy đếm dặm, máy đo bước và
máy tương tự
9029.20 - Đồng hồ chỉ tốc độ và máy đo tốc độ góc; máy hoạt
nghiệm
9029. 90 - Bộ phận và phụ kiện
Nhóm này gồm:
(A) Các thiết bị đếm chỉ ra tổng số những đơn vị nhất định (vòng, sản
phẩm, độ dài, v.v...) hoặc chỉ một số tiền phải trả. Song không kể
đến ở đây, những dụng cụ tính tổng các loại thuộc nhóm 84.73, các
thiết bị đo khí, thiết bị đo chất lỏng hoặc thiết bị đo lượng điện được
sản xuất hoặc cung cấp, thuộc nhóm 90.28, và dụng cụ đo độ cong
và đo diện tích thuộc nhóm 90.17 hoặc 90.31.
(B) Các dụng cụ chỉ tốc độ quay hoặc tốc độ tuyến tính theo thời gian
(tốc độ kế và chỉ báo tốc độ) trừ các công tơ của nhóm 90.14 hoặc
(C) Máy hoạt nghiệm các loại.
Những dụng cụ trên đây vẫn thuộc nhóm này cho dù có hay không có cơ
cấu ghi theo chuyển động đồng hồ và có hay không có một dụng cụ cơ
hoặc điện giản đơn để kích hoạt các thiết bị báo tín hiệu, bộ phận điều
khiển máy, hãm phanh, v.v... trong chuyển động.
(A) THIẾT BỊ ĐẾM
(1) Máy đếm vòng.
Các công tơ này tính tổng các vòng quay của một bộ phận cơ nào đó,
(trục máy chẳng hạn) gồm chủ yếu một trục điều khiển được truyền
động tới các dụng cụ chỉ báo con trỏ hay trống tang. Nói chung,
chúng có một bộ phận đưa máy đếm quay về "0". Các công tơ hoặc
lắp trực tiếp với bộ phận quay (có khi bộ phận đó tự điều khiển các
bánh răng), hoặc được điều khiển từ xa. Trục điều khiển được kích
hoạt bằng chuyển động quay, chuyển động qua lại hoặc bằng xung
(ví dụ: bộ mã hoá) của bộ phận đang quay.
Lưu ý là các guồng quay kiểm định, xoắn kế và dụng cụ kiểm tra
hoặc thử nghiệm tương tự có công tơ vòng bị loại trừ (nhóm 90.31).
(2) Công tơ đo lượng sản xuất.
Các công tơ này có cấu tạo tương tự như máy đếm vòng.Chúng chủ
yếu để đo các độ dài (ví dụ trên máy xe chỉ hoặc xe sợi), để đếm các
chuyển động của máy (cân bằng tự động, bơm, sợi canh của máy dệt,
v.v...) hoặc số sản phẩm (tờ giấy in của một máy in quay, sản phẩm
do băng truyền chuyển ra, tiền giấy, v.v...). Thực tế, người ta còn
dùng cả những công tơ vòng để chỉ báo các độ dài hoặc số lượng sản
phẩm theo số vòng quay của trục điều khiển.
Các công tơ sản xuất điện tử, dựa trên nguyên lý các vật cần đếm
làm gián đoạn các tia chiếu lên một tế bào quang điện và một thiết bị
ghi sẽ tính số lượng hàng hoá đi qua tia.
Nhóm này có những đa công tơ (ví dụ được sử dụng cho phép kiểm
tra sản lượng của nhiều công nhân thực hiện trên cùng một máy).
Cũng thuộc vào nhóm này, có các công tơ điện từ, được dùng trong
các tổng đài điện thoại tự động để tính số các lần gọi của một máy
thuê bao, các công tơ này gồm một nam châm điện làm chuyển động
cơ cấu ghi tới một vị trí (công tơ cuộn mã hoá, v.v...) mỗi khi có
xung điện chạy qua các cuộn của nó.
(3) Công tơ đếm giờ làm việc cho máy, môtơ, v.v... (công tơ tính giờ
hoặc thời gian)
Thực tế, đó là những công tơ vòng định cỡ theo giờ làm việc.
(4) Công tơ nhập.
Đó là những công tơ được kích hoạt nhờ cánh cửa xoay trọng hoặc
các bộ phận khác đặt tại lối vào các bảo tàng, công viên, sân vận
động, v.v..., ở đó chúng ghi lại tổng số quan khách hoặc khán giả.
(5) Công tơ bi-a.
Đây là những công tơ cơ học (loại rulô hoặc tương tự), thường dùng
tay điều khiển để tính điểm.
Nhóm này loại trừ những công tơ chuyển động kiểu đồng hồ chỉ báo
thời gian thi đấu, hoặc tiền phải trả theo thời gian chơi (nhóm 91.06).
Công tơ tính điểm bi-a loại bi lăn hoặc trượt, thuộc nhóm 95.04.
(6) Dụng cụ và thiết bị để đo những khoảng thời gian ngắn bằng cách
đếm, không thuộc Chương 91, không có chuyển động kiểu đồng hồ
thời gian hoặc đồng hồ đeo tay (gồm có môtơ đồng bộ). Nhóm này
cũng bao gồm công tơ xung điện tử (máy đếm gộp) (ví dụ công tơ
đếm khách xe ca, tàu hoả, v.v...).
(7) Đồng hồ tính tiền xe taxi (máy đếm cây số để tính tiền taxi).
Thông thường theo chuyển động kiểu đồng hồ và chỉ ra số tiền phải
trả hoặc theo thời gian và theo hành trình đã chạy.
(8) Công tơ hành trình (công tơ cây số).
Là những công tơ vòng, dùng cho xe cộ nói chung, chia thang độ
theo đơn vị chiều dài (kilômét, dặm, v.v...). Song, phần lớn các công
tơ đó được phối hợp với một dụng cụ chỉ báo tốc độ.
(9) Lộ trình kế (cũng gọi là thước đếm bước, máy đo đường đi, công
tơ bước).
Là những công cụ dưới dạng đồng hồ đo dùng để đo các khoảng cách
gần đúng, gồm một con lắc cứ mỗi bước đi, quay một đơn vị. Từ số
bước đi và độ dài của bước, tính ra hành trình đã đi.
(10) Công tơ cầm tay.
Các công tơ này chỉ ghi tối đa bốn số, theo các đơn vị cố định sẵn.
Người dùng bấm một nút tương ứng với loại đơn vị đã chọn để
hiệntổng số trên cơ cấu chỉ báo.
(B) ĐỒNG HỒ CHỈ TỐC ĐỘ VÀ MÁY ĐO TỐC ĐỘ GÓC
Những dụng cụ đó khác với các công tơ vòng và các công tơ đo lượng
sản xuấttrong Phần (A) ở trên, ở chỗ chúng chỉ ra số vòng, tốc độ, sản
lượng, v.v... theo đơn vị thời gian (ví dụ, vòng/phút, kilômét/giờ,
dặm/giờ, mét/phút). Thông thường hầu hết đều được lắp trên xe cộ (ôtô,
môtô, xe đạp, đầu tàu hoả, v.v...) hoặc trên các máy (môtơ, tua bin, máy
làm giấy, máy in, máy dệt, v.v...).
Đồng hồ chỉ tốc độ và đồng hồ tốc độ góc thuộc nhóm này vận hành
theo các nguyên lý sau:
(1) Hệ thống đo thời gian.
Cơ cấu đo được phối hợp với máy kiểu đồng hồ. Đôi khi, việc đo
thời gian được thực hiện nhờ một máy ghi thời gian riêng, thường
trong trường hợp đó, hai thiết bị được phân loại theo các nhóm thích
hợp của chúng.
(2) Hệ thống ly tâm.
Một tay quay điều chỉnh nằm dọc, được gắn bởi lò xo,quay xung
quanh trục điều khiển. Do lực li tâm, tay quay điều chỉnh mang hai
quả cân chuyển động xa khỏi đường thẳng đứng tỷ lệ thuận với tốc
độ. Sự dịch chuyển đó được truyền đến dụng cụ chỉ báo.
(3) Hệ thống rung.
Loại này được dùng cho các máy tốc độ nhanh như tua bin hơi nước,
bơm, máy nén, động cơ điện, v.v... Sự cộng hưởng rung cơ học của
khung hoặc các ổ trục của máy tạo nên các dao động của khung go
chia độ với tốc độ tương ứng với số vòng quay của máy.
(4) Hệ thống từ tính (cảm ứng).
Một hệ thống nam châm vĩnh cửu xoay xung quanh trục truyền động,
tạo ra các dòng xoáy (dòng phu-cô) trên một đĩa đồng hoặc nhôm
nằm trong từ trường, dòng điện này tỷ lệ thuận với tốc độ quay của
các nam châm, do đó kéo hoặc đẩy đĩa, nhưng chuyển động quay của
nó bị một lò xo phản cản lại. Đĩa đó được nối với một kim chỉ báo
tốc độ.
(5) Các hệ thống điện.
Các hệ thống này hoặc có một tế bào quang điện, hoặc được vận
hành bởi một máy phát xung lắp trên máy điều khiển.
Đồng hồ chỉ tốc độ và máy đo tốc độ góc trong nhóm này có thể là
cố định hoặc xách tay có chức năng đơn giản hoặc đa năng (ví dụ cho
cực đại hoặc cực tiểu), vi sai (tính hệ số % chênh lệch giữa hai tốc
độ) kết hợp với một công tơ tổng hợp hoặc tính giờ hoặc một cơ cấu
ghi đồ họa (tốc ký), v.v... Một số dụng cụ thuộc nhóm này, ghi đồng
thời cả tốc độ, hành trình, thời gian chạy và ngừng nghỉ, v.v...
(C) CÁC MÁY HOẠT NGHIỆM
Các máy hoạt nghiệm là những dụng cụ cho phép chỉ ra tốc độ lúc chạy
chậm hoặc ngừng, chúng cũng được dùng để đo tốc độ các bộ phận quay
hoặc đang chuyển động xoay chiều. Trong trường hợp sau cùng này,
chúng được gọi riêng là tốc kế hoạt nghiệm. Nguyên lý của hoạt
nghiệm là thực hiện đứng im tương đối hoặc chuyển động chậm dần của
bộ phận cần quan sát bằng các tia sáng lần lượt tại các khoảng cách cố
định. Hoặc bằng cách chiếu sáng thường xuyên vào bộ phận cần quan sát
để kiểm nghiệm qua một công cụ quang học (đĩa có một hoặc nhiều rãnh
dạng toả tia) làm gián đoạn tia thị giác, hoặc đặt vật đó trong bóng tối và
chiếu sáng định kỳ trong những thời gian rất ngắn. Tốc độ của cơ cấu
chuyển động quay tròn hay qua lại khi quan sát có thể đạt được bằng
cách điều chỉnh tốc độ đĩa hoặc tần số của các ánh sáng cho đến khi đạt
được sự dừng chuyển động hoàn toàn.
Các máy hoạt nghiệm dựa trên nguyên lý chiếu sáng liên tục chủ yếu
gồm một cơ cấu điều khiển hoạt động như đồng hồ với một hoặc nhiều
rãnh và một cơ cấu điều chỉnh tốc độ, một thị kính và một tang trống có
thang chia độ (bằng vòng/phút).
Những máy hoạt nghiệm vận hành theo phương pháp chiếu sáng
theo chu kỳ khác nhau tuỳ theo cơ cấu tạo tia sáng. Những loại giản
đơn nhất gồm một bóng đèn thường, một môtơ có bộ điều chỉnh tốc
độ điều khiển tần suất các tia, và một bề mặt có thang chia độ. Một
phương pháp khác tạo ra các tia sáng nhờ một đèn phóng điện qua
khí. Máy hoạt nghiệm xả phóng điện qua khí thì có cấu tạo phức tạp
hơn nhiều, cho phép chụp ảnh hoặc quay phim, đôi khi được lắp trên
bánh xe hoặc con lăn. Các tia sáng cần để quan sát một cơ cấu đang
quay hoặc chuyển động qua lại có thể được điều khiển bởi chính cơ
cấu đó. Sự đồng bộ đó đạt được nhờ bộ phận ngắt loại lò xo, một tế
bào quang điện, một rơle điện từ, v.v...
Ngoại trừ khi được đưa cố định vào trong các máy hoạt nghiệm, thì các
máy chụp ảnh hoặc quay phim sẽ được phân loại theo nhóm thích hợp
của chúng.
Cụ thể thì các máy hoạt nghiệm chủ yếu quan sát hoặc để đo tốc độ của
các động cơ, cơ cấu truyền động, máy dệt (các bộ phận như kim đan chỉ,
cuộn quấn chỉ, máy chải len, con thoi) các máy làm giấy, máy in, máy
gia công. Chúng cũng được sử dụng trong y học để kiểm tra độ rung của
dây thanh đới.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát) các bộ
phận và phụ kiện của những máy móc thuộc nhóm này khi được trình
bày riêng biệt cũng được phân loại trong nhóm.
90.30 - Máy hiện sóng, máy phân tích phổ và các dụng cụ và thiết bị
khác để đo hoặc kiểm tra đại lượng điện, trừ các loại máy
thuộc nhóm 90.28; các thiết bị và dụng cụ đo hoặc phát hiện
tia alpha, beta, gamma, tia X, bức xạ vũ trụ hoặc các bức xạ
ion khác (+).
9030.10 - Dụng cụ và thiết bị để đo hoặc phát hiện các bức xạ ion
9030.20 - Máy hiện sóng và máy ghi dao động
⦁ Dụng cụ và thiết bị khác, để đo hoặc kiểm tra điện
áp, dòng điện, điện trở hoặc công suất (trừ những
dụng cụ và thiết bị để đo hoặc kiểm tra các vi mạch
hoặc linh kiện bán dẫn):
9030.31 - - Máy đo đa năng không bao gồm thiết bị ghi
9030.32 - - Máy đo đa năng bao gồm thiết bị ghi
9030.33 - - Loại khác, không bao gồm thiết bị ghi
9030.39 - - Loại khác, có gắn thiết bị ghi
9030.40 - Thiết bị và dụng cụ khác, chuyên dụng cho viễn thông
(ví dụ máy đo xuyên âm, thiết bị đo độ khuếch đại,
máy đo hệ số biến dạng âm thanh, máy đo tạp âm)
⦁ Dụng cụ và thiết bị khác:
9030.82 - - Để đo hoặc kiểm tra các vi mạch hoặc linh kiện bán
dẫn (kể cả mạch tích hợp)
9030.84 - - Loại khác, có kèm thiết bị ghi
9030.89 - - Loại khác
9030.90 - Bộ phận và phụ kiện
(A) DỤNG CỤ VÀ THIẾT BỊ ĐO HOẶC PHÁT HIỆN CÁC
BỨC XẠ ALPHA, BÊTA, GAMMA, TIA X, BỨC XẠ VŨ
TRỤ HOẶC CÁC BỨC XẠ ION KHÁC
Chúng được sử dụng trong nghiên cứu khoa học, cho các mục đích công
nghiệp (luyện kim, thăm dò dầu hoả, v.v...), hoặc trong sinh học hoặc y
học (kết nối với bộ phận quét phát xạ). Chúng báo gồm:
(1) Các thiết bị dò tìm có các buồng ion hoá. Một hiệu điện thế được
tạo ra giữa hai điện cực chứa trong buồng ion hoá. Các ion đã hình
thành khi một tia phóng xạ chạy vào buồng này được hút về các điện
cực và những thay đổi cuối cùng về hiệu điện thế có thể được khuếch
đại và đo.
(2) Ống đếm Geiger. Một hiệu điện thế lớn được duy trì giữa các điện
cực của thiết bị đo; các ion được tạo ra khi tia phóng xạ đến được gia
tốc rất nhanh và sau đó ion hoá luôn khí chứa trong ống và các xung
hình thành có thể được đếm.
Các thiết bị buồng ion hoá và ống đếm Geiger thuộc nhóm này thường
gồm nhiều thành phần như một buồng, hoặc một công tơ, một máy
khuếch đại, một đơn vị cung cấp điện áp cho buồng hoặc công tơ và một
mạch đếm hoặc một công cụ chỉ báo. Các thành phần trên thường được
chứa trong một hộp chung. Có khi, các thành phần (trừ buồng ion hoá và
công tơ ra), được kết hợp trong cùng một hộp, những thiết bị loại đó
(muốn hoàn chỉnh phải có buồng ion hoá hoặc một công tơ) vẫn được
phân loại vào nhóm này (như một công cụ cần hoàn chỉnh). Khi các
thành phần cá thể trên được tách rời thì sẽ được phân loại theo các điều
khoản của Chú giải tổng quát của Chương này.
Một số buồng ion hoá sử dụng để đo tổng các số lượng bức xạ phát ra
trong một khoảng thời gian đáng kể (ví dụ, 24 giờ) thì không cần thiết bị
khuếch đại phụ trợ, v.v... mà gồm một con trỏ di động rất nhẹ, đưa vào
kính hiển vi để đọc kết quả và chỉ ra tổng số các bức xạ đã đi qua buồng.
Các buồng này (chúng trông giống như một bút máy), bản thân chúng là
những công cụ đo hoàn chỉnh và được phân loại vào nhóm này.
Nhóm này cũng kể đến các công tơ nhấp nháy. Chúng gồm một dụng
cụ (bộ nhân quang điện) mà bộ này cần được trang bị một tế bào quang
điện và một bộ nhân electron. Chúng hoạt động theo nguyên lý mà theo
đó phóng xạ có thể được dò hoặc đo bằng hiệu ứng của nó khi kích thích
huỳnh quang của một tinh thể cố định (như sulphide kẽm, iođua natri kết
hợp với Tali, anthracene, plastic thấm tetraphenyl-butadiene...). Người ta
đặt các tinh thể vào giữa nguồn tia bức xạ và một trong các điện cực của
công tơ.
Cùng nhóm này còn có:
(1) Các xạ lượng kế và dụng cụ tương tự để đo và kiểm tra cường độ
và khả năng xuyên thấu của các tia X.
(2) Các dụng cụ đo bức xạ của vũ trụ hoặc bức xạ tương tự
(3) Các máy phát hiện nơtrôn gọi là "pin nhiệt", cũng như các dụng
cụ để dò hoặc đo có lắp các ống dò nơtrôn (các loại Bo, trifluoride
Bo, hydro, hoặc các thành phần phóng xạ có thể phân hạch).
(4) Các dụng cụ dò hoặc đo bức xạ gồm các máy phát hiện bức xạ
qua các chất phát sáng dạng chất lỏng hay rắn.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Những dụng cụ gồm công tơ nhấp nháy có các thông số đã được
chuyển thành tín hiệu tương tự nhằm phục vụ cho mục đích chẩn
đoán bệnh (ví dụ máy soi gamma, máy quét biểu đồ nhấp nháy)
(nhóm 90.18).
(b) Những dụng cụ dùng để đo hoặc kiểm tra được thiết kế để đưa vào
một nguồn phóng xạ (chủ yếu các chất đồng vị nhân tạo) ví dụ như
đo độ dày vật liệu (tấm, lớp lót hoặc những vật tương tự), những
dụng cụ để kiểm tra nội dung các lớp vỏ bọc để đo dòng không khí
có vận tốc thấp (phong tốc kế, máy đo sự ion hoá) ... (nhóm 90.22).
(B) MÁY HIỆN SÓNG, MÁY PHÂN TÍCH PHỔ VÀ CÁC
DỤNG CỤ VÀ CÁC THIẾT BỊ KHÁC ĐỂ ĐO HOẶC KIỂM TRA
ĐẠI LƯỢNG ĐIỆN
Các máy hiện sóng và máy ghi dao động được sử dụng chủ yếu để
quan sát hoặc ghi mọi biến đổi nhanh của một đại lượng điện (hiệu điện
thế, cường độ, v.v...). Các máy này có thể được phân ra ba loại chính:
(a) Máy ghi dao động Duddell, bên trong là một cuộn dây thường có
một vòng dây điện quấn căng gắn chặt với mặt gương chuyển động
trong môi trường nam châm điện. Hiện tượng cần nghiên cứu định kỳ
có thể được quan sát trực tiếp trên một mắt kính nhám hoặc được ghi
trên một dải phim.
(b) Máy ghi dao động loại sắt mềm và dao khắc với một cuộn dây trên
một dải sắt mềm đặt trong môi trường không thay đổi. Một kim nhẹ
đầu nhọn nối với dải và ghi vạch lại hiện tượng (ví dụ bằng việc cắt
một dải được tráng phủ cellulose acetate).
(c) Các máy ghi dao động và máy hiện sóng tự kí tia catốt; hoạt động
bằng cách ghi lại việc các chùm tia catốt bị làm lệch như thế nào bởi
lực tĩnh điện hoặc điện từ. Những khí cụ đó, dưới dạng một hay
nhiều bộ phận, chủ yếu gồm ống tia catốt, các cơ cấu nạp và các máy
biến thế, bộ khuếch đại, một cơ cấu quét, nhiều cơ cấu phụ và đôi
khi, một chuyển mạch điện tử. Các máy hiện sóng có bộ nhớ được
dùng trong nghiên cứu các hiện tượng chuyển tiếp quá nhanh được
cách điện và được trang bị hoặc một ống catốt nhớ, hoặc một bộ nhớ
số kết hợp với một ống catốt. Trong loại thứ nhất, hình ảnh của tín
hiện thu được được lưu giữ trong ống catốt. Trong loại thứ hai, tín
hiệu được ghi trong bộ nhớ và có thể lấy ra tuỳ ý để xem trên màn
hình.
Máy phân tích phổ là những dụng cụ nhằm xác định các thành phần tần
số khác nhau của một tín hiệu điện đi vào, chủ yếu cho phép phân tích
các đại lượng điện, cũng có thể dùng để phân tích một bức xạ ion, sóng
âm thanh hoặc các đại lượng không liên quan đến điện khác khi nối với
một máy dò bức xạ hoặc thiết bị khác cho phép phát hiện các đại lượng
không mang điện và biến đổi chúng thành tín hiệu điện.
Nhóm này gồm các máy ghi các hiện tượng nhất thời/ngắn hạn là những
dụng cụ được thiết kế nhằm thu một tín hiệu và ghi lại để truyền đến, dư-
ới một hình thức thích hợp, một thiết bị màn hình sau đó (ví dụ, màn
hình tivi). Các máy "phân tích lôgic", là những dụng cụ để nghiên cứu
các mạch điện bao gồm hầu hết các bộ phậncấu thành nên các dụng cụ
bán dẫn, cũng thuộc nhóm này.
Những công cụ và máy đo hoặc kiểm tra các đại lượng điện có thể gồm
những máy chỉ báo hoặc dụng cụ ghi.
Dưới góc độ nguyên lý vận hành, các công cụ và máy đó được chia
thành một số nhóm như:
(1) Máy điện từ: trong đó, dòng điện phải đo được chạy qua một cuộn
dây tự do để di chuyển trong một từ trường do một nam châm vĩnh
cửu tạo ra. Kim chỉ báo được gắn vào cuộn dây.
(2) Dụng cụ sắt từ: trong đó từ trường do một lõi solenoid tạo nên tác
động lên một mảnh sắt mềm đính trục kim và làm cho kim chạy.
(3) Dụng cụ điện động: trong đó, dòng điện cần đo chạy qua các cuộn
dây cố định và cuộn di động, cuộn di động hoạt động trong từ trường
phát sinh bởi các cuộn cố định và kim được đính vào các cuộn di
động.
(4) Dụng cụ cảm ứng: gồm một trục kim trên đó lắp một đĩa dẹt hoặc
một xilanh di chuyển trong khe hở khí của một nam châm điện từ, có
một cuộn hoặc nhiều cuộn dây.
(5) Dụng cụ cặp nhiệt ngẫu: trong đó dòng điện được đo đi qua một sợi
đốt sử dụng cho mối hàn của cặp nhiệt ngẫu kim loại mà sức điện
động của chúng sau đó sẽ được đo.
(6) Dụng cụ vận hành điện tử: dựa trên kỹ thuật các bán dẫn, có dụng
cụ chỉ báo hoặc màn hình quang điện tử cho các kết quả tương tự
hoặc kỹ thuật số.
Bên cạnh các dụng cụ và thiết bị kể trên thuộc loại trực tiếp đo đó, còn
có những dụng cụ cung cấp cho người quan sát một số thông số nhất
định cho phép tính đại lượng cần đo (phương pháp so sánh). Nhóm này
chủ yếu có các cầu đo và các chiết áp thường được gắn vào hộp hoặc
tủ nhỏ chứa một hoặc nhiều điện kế, điện trở chuẩn, các tụ chuẩn, cuộn
cảm chuẩn, pin chuẩn, máy biến áp, biến đổi, chuyển mạch, v.v... Các
cầu đo được gọi theo tên người sáng chế (Wheatstone, Thomson,
Anderson, Maxwell, Sauty, Schering, Kohlrausch, Wien, v.v...), hoặc
theo các tên gọi chỉ ra hệ thống tổ hợp các đơn vị so sánh (cầu thập tiến,
cầu đôi, cầu chì T, v.v...) hoặc theo công dụng riêng (trở kháng, cầu điện
trở, đo điện dung hoặc cầu kết nối, cầu đo vạn năng, v.v...).
Tuy nhiên, những thiết bị sau bị loại trừ (Chương 85) khi chúng tách
riêng lẻ như các máy biến thế, điện trở chuẩn, các tụ chuẩn, cuộn cảm
chuẩn, pin chuẩn, v.v... cũng như các tai nghe (ống nghe) (được sử dụng
thay thế máy chỉ báo số 0 có thể nhìn thấy trong một số loại cầu đo).
Các loại dụng cụ đo điện chính là:
(I) Dụng cụ đo cường độ dòng: công việc này được thực hiện riêng
bằng điện kế hoặc ampe kế (ammeters).
(II) Đo điện thế: bằng vôn kế, chiết áp, tĩnh điện kế, v.v...Tĩnh điện kế
dùng để đo điện áp rất lớn, là các vôn kế tĩnh điện. Chúng khác loại
vôn kế thông thường ở chỗ chúng có bi hoặc đĩa trên các cột cách
điện làm giá đỡ.
(III) Đo các điện trở và độ dẫn điện: cụ thể là bằng ôm kế hoặc cầu đo.
(IV) Đo công suất: bằng oát kế.
(V) Đo điện dung và điện cảm: bằng cầu đo theo các đại lượng farad
hoặc henry.
(VI) Đo tần số: bằng tần số kế theo thang độ Hertz (số chu kỳ/một
giây).
(VII) Đo bước sóng hoặc tần số vô tuyến: bằng dụng cụ đo bước sóng
(sóng kế) hoặc công cụ dựa trên ăng ten kẽ hở hoặc ống dẫn sóng
có kẽ.
(VIII)Đo góc pha hoặc các thừa số công suất: nhờ các pha kế cho biết
ngay thừa số công suất (cos phi).
(IX) Đo các tỷ lệ giữa hai đại lượng điện: bằng các dụng cụ gọi là
máy đo tỉ số hoặc tỷ lệ kế.
(X) Đo các từ trường hoặc từ thông bằng các điện kế hoặc các từ
thông kế.
(XI) Đo đặc tính điện hoặc từ của các vật liệu: được thực hiện bằng
các từ trì kế/máy đo độ trễ của từ, từ thẩm kế, hoặc các dụng cụ
tương tự.
(XII) Xác định tính đồng bộ: nhờ các thiết bị tạo đồng bộ, các công cụ
này dùng để chỉ ra pha liên quan và mức chênh lệch giữa các tần
số của hai hiện tượng theo chu kỳ. Dụng cụ loại đó được nhận
dạng qua các từ chỉ báo “Fast” và “Slow” ("gia tốc", "giảm tốc")
(có mũi tên tương ứng) trên mặt đồng hồ chỉ báo.
(XIII)Đo và ghi các trị số tức thì của các đại lượng điện bằng các máy
hiện sóng hoặc máy ghi dao động được mô tả ở trên.
Một số dụng cụ đo điện có thể được sử dụng đa năng. Ví dụ, có những
dụng cụ (điện hoặc điện tử) được biết đến như các máy kiểm tra thông
dụng (ví dụ đa năng kế) cho phép thực hiện nhanh việc đo điện áp (một
chiều hoặc xoay chiều), dòng điện (một chiều hoặc xoay chiều), các điện
trở và điện dung.
Nhóm này cũng bao gồm một số lượng lớn các dụng cụ điện hoặc điện
tử dùng trong thông tin vô tuyến, hoặc trong viễn thông. Ngoài các vôn
kế (vôn kế, micro vôn kế, milivôn kế), các chiết áp, các cầu đo, ampe kế,
oát kế, pha kế, tần số kế như đã giới thiệu, có thể kể ra:
Dụng cụ kiểm tra trở kháng và các cầu đo trở kháng để xác định
mô đun trở kháng trong mạch và cả đo điện dung hoặc cảm ứng.
(ii) Dụng cụ kiểm tra độ tự cảm và các dụng cụ tương tự để xác
định cuộn cảm theo nguyên lý Wheatstone.
(iii) Nepe kế và các máy đo decibel, để đo độ suy giảm trong các
mạch điện thoại đường dài. Các dụng cụ và thiết bị đo đại lượng
âm thanh thuộc nhóm 90.27.
(iv) Các chỉ báo mức giảm âm: trái với các nepe kế (việc đo dựa trên
một hệ thống cân bằng), chúng chỉ ra trực tiếp mức giảm.
(v) Máy đo độ xuyên âm sử dụng cho các mạch điện thoại để đo các
đại lượng khác nhau.
(vi) Chỉ báo mức truyền dẫn.
(vii) Dụng cụ đo mức ồn: để sử dụng trên tuyến cao tần.
(viii) Dụng cụ đo hệ số khuyếch đại, để đo khuyếch đại qua các bộ
tăng âm chuyển tiếp trên mạch điện thoại đường dài.
(ix) Dụng cụ đo nhiễu: dùng để đo hiệu thế ồn trong lắp đặt điện thoại
đường dài hoặc các dòng nhiễu trong các mạch điện áp cao gần kề.
(x) Máy đo tạp âm, để đo độ nhiễu, tức là sức điện động của một
nguồn điện sẽ tạo ra cùng độ nhiễu nếu chúng thay thế các hiệu
điện thế bị cảm ứng trong mạch điện thoại.
(xi) Chỉ báo đỉnh để ghi lại các đỉnh điện áp ngắn, khi xảy ra trong các
hệ thống truyền dẫn (chẳng hạn các cáp điện thoại đường dài, các
mạch truyền phát thanh, liên lạc sóng ngắn).
(xii) Thước đo tiếng dội để nghiên cứu sự ổn định của các đường
truyền bằng các bộ đọc trực tiếp tiếng dội theo đơn vị nêpe hoặc
(xiii) Máy đo biến dạng, để đo biến dạng điều hoà được đưa vào các bộ
truyền động phức hợp.
Một số dụng cụ nói trên, cụ thể các loại dùng để đo điện thanh đều theo
thang độ đơn vị nepe hoặc decibel.
Nhóm này cũng bao gồm những dụng cụ và thiết bị khác mà thực hiện
các hoạt động của một loại thiết bị đã được mô tả trong nhóm, bao gồm
các dụng cụ đo hoặc kiểm tra đèn điện tử, cụ thể như kiểm tra đèn
điện tử ở radio. Đôi khi những dụng cụ để đo hoặc kiểm tra đèn điện tử
này được thiết kế để tạo ra các đường cong đặc thù của đèn trên màn
hình của máy hiện sóng.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện được trình bày riêng biệt của những dụng cụ và thiết bị
thuộc nhóm này cũng được phân loại trong nhóm. Ví dụ trường hợp các
máy móc điện tử trùng hợp để sử dụng cùng với các máy đếm Geiger-
Muller hoặc máy đếm tỷ lệ, các chất nhấp nháy dạng rắn (các chất đặc
biệt nhạy với bức xạ ion-hóa như tia X, sẽ nhấp nháy khi được chiếu xạ)
ở dạng tinh thể hoặc thành phần bằng plastic được lắp hoặc bọc kim loại
chỉ để trang bị cho các máy dò báo và các ống dò neutron, dùng Bo, tri
fluôma Bo, hydro hoặc các nguyên tố phân hạch.
Phân nhóm 9030.82
Phân nhóm này cũng bao gồm các dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra
mạch tích hợp.
90.31- Máy, thiết bị và dụng cụ đo lường hoặc kiểm tra, chưa được
ghi hay chi tiết ở nơi khác trong Chương này; máy chiếu biên
dạng (+).
9031.10 - Máy đo để cân chỉnh các bộ phận cơ khí
9031.20 - Bàn kiểm tra
⦁ Các thiết bị và dụng cụ quang học khác
9031.41 - - - - Để kiểm tra các vi mạch hoặc linh kiện bán dẫn
(kể cả mạch tích hợp) hoặc kiểm tra mạng che quang
hoặc lưới carô sử dụng trong sản xuất các linh kiện
bán dẫn (kể cả mạch tích hợp)
9031.49 - - Loại khác
9031.80 - Dụng cụ, thiết bị và máy khác
9031.90 - Bộ phận và phụ kiện
Ngoài các máy chiếu biên dạng, nhóm này gồm các dụng cụ, thiết bị
và máy quang học hoặc không quang học để đo hoặc kiểm tra. Tuy
nhiên, cũng cần lưu ý rằng nhóm này không bao gồm bất cứ các dụng
cụ, thiết bị hoặc máy... thuộc các nhóm từ 90.01 đến 90.12 hoặc từ 90.15
đến 90.30; cụ thể, các máy sau bị loại trừ:
(a) Dụng cụ thiên văn thuộc nhóm 90.05.
(b) Kính hiển vi (nhóm 90.11 hoặc 90.12)
(c) Dụng cụ và thiết bị về quan trắc... thuộc nhóm 90.15.
(d) Dụng cụ đo chiều dài, dùng tay (nhóm 90.17).
(e) Dụng cụ và thiết bị y học, giải phẫu, v.v... thuộc nhóm 90.18.
(f) Máy hoặc thiết bị kiểm tra các tính chất cơ của vật liệu (nhóm
(g) Dụng cụ, thiết bị đo lưu lượng... thuộc nhóm 90.26.
(h) Dụng cụ, thiết bị đo và kiểm tra các đại lượng điện và đểđo hoặc phát
hiện bức xạ ion thuộc nhóm 90.30.
(ij) Dụng cụ và thiết bị để điều chỉnh hoặc kiểm soát tự động (nhóm
(I) DỤNG CỤ, THIẾT BỊ VÀ MÁY ĐO ĐẠC
HOẶC KIỂM TRA
Bao gồm:
(1) Các máy đo để cân chỉnh các bộ phận cơ khí (động lực,tĩnh hoặc
gồm có một cơ cấu cân bằng điện tử) ví dụ, chất cảm ứng, rôto,
trục khuỷu, thanh truyền, trục chong chóng, bánh xe, bánh lái.
Trên các máy động lực, các bộ phận được quay trên hai chân trụ đỡ
hoặc giữa hai lõi, sự mất cân bằng sẽ được đo theo cơ học (vạch các
biểu đồ trên một tấm ghi, nguyên lý cân lò xo, v.v...).
Các máy cân bằng kiểu tĩnh hoạt động trên nguyên lý làm nghiêng, độ
lệch (sự mất cân bằng) được đo trên thước đo tỷ lệ hoặc thang độ.
Chúng khác với máy động lực ở chỗ vật cần cân bằng không chuyển
động quay tròn.
Người ta bù độ lệch hoặc bằng đối trọng hoặc bỏ bớt chất liệu.
Trên các máy có một cơ cấu cân bằng điện tử, các độ rung do độ lệch
gây ra được một bộ phận có độ nhạy đặc biệt phát hiện và sau đó
khuếch đại.
Những máy cân bằng được trang bị một máy công cụ (ví dụ, máy
khoan) và chỉ chuyên dùng để điều chỉnh sự mất cân bằng vẫn thuộc
nhóm này.
(2) Các bàn kiểm tra cho các động cơ và môtơ, máy phát điện, bơm, chỉ
báo tốc độ hoặc tốc kế, v.v... gồm một khung và một khí cụ đo hoặc
điều chỉnh.
(3) Các dụng cụ trong các phòng thí nghiệm loại dùng để thử các chất
đốt và cụ thể là để xác định chỉ số ốc tan trong xăng hoặc chỉ số
cetane trong các loại dầu cho động cơ diesel. Các dụng cụ đó thường
gồm một động cơ đốt trong, một dynamo, một máy phát mồi cho
động cơ, các điện trở nhiệt, các dụng cụ đo (nhiệt kế, áp kế, vôn kế,
ampe kế, v.v...).
(4) Các thiết bị kiểm tra và hiệu chỉnh động cơ xe cộ dùng để kiểm tra
tất cả các bộ phận của hệ thống mồi cho động cơ (cuộn dây, bugi, ắc
qui, tụ điện, v.v...), để xác định việc tạo dựng một bộ chế hoà khí tốt
nhất (thông qua việc phân tích các khí xả), hoặc để đo các khí nén
trong các xilanh.
(5) Các dụng cụ đo diện tích, để đo diện tích các bề mặt phẳng (ví dụ,
trên sơ đồ, đồ thị, da sống). Một điểm đánh dấu được gắn với một
thiết bị đo theo các đường bao của bề mặt được đo.
Các máy tích phân, các máy phân tích hài hoà và các dụng cụ
khác đều dựa trên nguyên lý của phép đo diện tích và có thể thực
hiện đo lường các yếu tố khác (ví dụ, thể tích, mômen của quán tính).
(6) Các thiết bị đo lường đồng mức của đầu được những người làm
mũ sử dụng để đục lỗ lên một tờ giấy.
(7) Các máy so sánh chỉ báo có mặt số, dụng cụ đo vi, bộ cảm biến điện
tử, quang điện, và cảm biến khí nén, tự động hoặc không tự động,
cũng như tất cả các dụng cụ, thiết bị dùng để đo các chiều dài, góc
hoặc đại lượng hình học khác mà dùng các bộ cảm biến như thế.
Cũng thuộc Nhóm này còn có các máy so sánh ghi ký và các máy so
sánh có một dụng cụ cơ học nhằm đưa các bộ phận chế tạo hàng loạt
vào máy so sánh và loại bỏ các bộ phận hỏng.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các máy so sánh có mặt đồng
hồ được sử dụng bằng tay và đã được miêu tả tại mục (4) phần (D)
trong Chú giải nhóm 90.17 (xem phần loại trừ (d) trên đây).
(8) Đồng hồ đo dạng cột để kiểm tra sự chính xác của các bộ êke, dùng
để kiểm tra các độ cao hoặc kiểm tra khác trong các quá trình chế
tạo.
(9) Các thanh hình sin và các thanh hình sin cho bàn điều chỉnh để
kiểm tra các góc.
(10) Các ống thuỷ chuẩn bằng bọt khí dùng trong rất nhiều ngành
nghề, gồm các ống thuỷ chuẩn có thể cân chỉnh vi kế (thuỷ chuẩn
bằng bọt khí có lắp vi kế), các thuỷ chuẩn đĩa khối (một khung kim
loại có hai thuỷ chuẩn) dùng trong ngành kỹ thuật, và các thuỷ
chuẩn chất lỏng dựa trên nguyên lý các bình thông nhau.
Chú ý rằng nhóm này loại trừ thuỷ chuẩn được dùng chuyên dụng
cho các công việc quan trắc (nhóm 90.15).
(11) Các nghiêng kế (bằng kim chỉ, mặt lưới, thước đo nghiêng, thước
đo góc nghiêng) cho phép kiểm tra một mức nào đó so với mặt phẳng
ngang hoặc đo các độ nghiêng bề mặt.
Tuy nhiên, các công cụ, cũng được gọi là nghiêng kế, dùng để quan
trắc độ cao đất liền bị loại trừ (nhóm 90.15).
(12) Dây quả dọi.
(13) Các cầu thể kế để đo đường cong các bề mặt hình cầu (thấu kính,
gương, kính mắt...) gồm một đế với 3 mũi nhọn (tại các góc của một
tam giác đều), một thước kẻ và vít vi kế có calip đo chiều dày, các
loại khác (dụng cụ thấu kính của các nhà quang học) có thể có mặt
đồng hồ để chỉ trực tiếp đường cong.
(14) Các tiêu chuẩn kiểm tra.
(15) Các thiết bị đo đa chiều gồm có các máy đo tọa độ (CMMS) dùng
để thực hiện bằng tay hoặc cơ học công việc kiểm tra kích thước đa
chiều cho nhiều thành phần hoặc bộ phận của máy.
(16) Các dụng cụ đặt tâm điểm kính mắt dùng cho các nhà quang
học để xác định và đánh dấu trục và tâm của thấu kính.
(17) Máy đo chuẩn vi kế dựa trên nguyên lý các vi kế, có một ụ sau cố
định (có chỉ báo tiếp xúc) và một ụ trước có thể cân chỉnh có vít
vi kế.
(18) Các thiết bị đo hoặc dò các độ rung, độ giãn, độ xóc hoặc lắc, sử
dụng trên máy móc, cầu, đập, v.v....
(19) Những thiết bị kiểm tra chất liệu vải như: các guồng quay kiểm
định(guồng sợi dọc) cho phép lấy một đoạn chỉ, hoặc sợi đã định (kể
cả có hay không có cơ cấu điều chỉnh độ căng, máy đếm, chuông
báo); máy đo mômen xoắn, ghi mômen xoắn để xác định độ xoắn
của chỉ; các căng kế để đo độ căng của chỉ trên máy dệt (mắc cửi,
cho chỉ vào suốt, xe chỉ...); các máy kiểm tra độ đều của chỉ bằng
cách cuộn trên một tang trống hoặc mâm, thường có cơ cấu kiểm tra
khoảng cách giữa các cuộn chỉ.
(20) Các dụng cụ đo độ nhám và máy để kiểm tra tình trạng các bề
mặt.
Trong các loại thiết bị cơ khí hoặc hơi nén, việc kiểm tra được thực
hiện bằng mũi nhọn tiếp xúc cứng hoặc tia khí nén.
Trong những máy dùng điện, các mũi kim bằng kim cương hoặc
ngọc sa-phia di chuyển ngang qua bề mặt cần được kiểm tra và
chuyển đổi bất kỳ sự bất thường nào của bề mặt đó thành điện thế.
Những chuyển động theo chiều dọc của mũi kim thì được chuyển đổi
thành điện thế nhờ có một tinh thể áp điện hoặc chuyển đổi gián tiếp
bằng cách biến đổi giá trị của tụ điện hoặc cuộn cảm. Điện thế sau đó
sẽ được khuếch đại và được đo. Việc so sánh các kết quả đo được
bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn đã chọn lựa về độ nhám của bề mặt
(các phiến kim loại nhỏ được áp dụng cho các công việc này), sẽ cho
chúng ta biết kết quả về trạng thái của bề mặt cần đo.
(21) Các máy kiểm tra cơ cấu bánh răng, chẳng hạn, dùng một bộ
khuếch đại kiểu đòn bẩy để kiểm tra hình dáng các mặt nghiêng,
đường kính của tuyến bánh răng, khoảng cách các răng, khoảng cách
tiếp xúc khi quay,... (bánh răng trụ thẳng và bánh răng nón), đầu
bánh răng,... (trên bánh răng xoắn trôn ốc và bánh vít)
(22) Các công cụ đo độ co của một mẫu kiểm tra làm từ đất sét, v.v...
lấy ra khỏi lò nung gốm trong khi nung để xác định tiến trình nung
(bằng hoả nghiệm). Công cụ đó thường giống các compa nhưng được
kẻ thang độ theo đơn vị giả định.
(23) Các dụng cụ đo bề mặt không đều (như da sống) bằng phương
pháp quang điện (hiệu số dòng điện của tế bào quang điện phụ thuộc
vào số phần của một tấm thuỷ tinh chiếu sáng đồng đều bị che khuất
bởi một bề mặt mờ đục trong khi tiến hành đo).
(24) Các dụng cụ đo đường kính của sợi chỉ bằng phương pháp quang
điện đã được miêu tả tại mục (23) trên đây.
(25) Các dụng cụ đo và kiểm tra liên tục độ dày các tấm hoặc dải kim
loại trong các máy cán, v.v....
(26) Các thiết bị đo độ dày bằng siêu âm cho phép xác định độ dày
bằng các quan sát được thực hiện chỉ từ một bên của vật liệu.
(27)Các dụng cụ soát lỗi, chỗ nứt, mẻ hoặc các sai sót, khuyết tật
khác trong vật liệu (thanh, ống, mặt nghiêng, bộ phận làm máy như
các ốc vít, kim chỉ báo,...) bằng cách quan sát biểu đồ trên màn hình
tia catốt có được từ các thay đổi từ tính, hoặc bằng cách đọc trực tiếp
trên mặt đồng hồ đã kẻ thang độ các thay đổi độ thẩm từ, hoặc sử
dụng các sóng siêu âm. Nhóm sau cũng gồm có các máy siêu âm để
kiểm tra các mối hàn, dựa trên nguyên lý mọi ngắt quãng trong trư-
ờng truyền mà sóng siêu âm đi qua sẽ khúc xạ tia. Các sai sót có thể
được kiểm tra hoặc bằng cách quan sát sự yếu dần của tia, hoặc bằng
phương pháp tiếng dội. Việc quan sát thực hiện trên màn hình ống tia
catốt.
(28)Các dụng cụ chuyên dụng để kiểm tra đồng hồ hoặc các bộ phận
của đồng hồ. Bao gồm:
(i) Các dụng cụ để kiểm tra các dây tóc.
(ii) Các máy đo biên độ để kiểm tra biên độ các dao động của bánh
xe quả lắc. Một tế bào quang điện sẽ nhận một chùm ánh sáng bị
chuyển động của con lắc làm gián đoạn và do đó sẽ đo biên độ
dao dộng.
(iii) Các máy đo dao động để thử và kiểm tra các chuyển động của
đồng hồ đã hoàn chỉnh, trong đó chuyển động của đồng hồ được
đặt trên microphone, mỗi tích của đồng hồ tạo ra một điện thế
được khuếch đại sẽ tác động vào hai điện cực trong đó, một điện
cực được khớp nối với các mũi kim, vì vậy mà chúng sẽ đột lỗ
một kí tự (record) trên băng giấy.
(iv) Các máy đo biên độ để kiểm tra lần cuối đồng hồ dựa trên
nguyên lý của các máy đo dao động (ghi lại tiếng tích tắc của
đồng hồ đặt trên một microphon), nhưng cũng có thể được lắp
máy hiện dao động tia catốt.
(29) Các dụng cụ điện chuyên dụng đo ứng lực, ứng suất và biến dạng
của vật liệu. Chúng hoạt động, ví dụ, dựa trên các nguyên lý sau:
(i) Sự biến thiên điện trở của một dây chịu tác dụng của ứng suất
(dây đo biến dạng). Tuy nhiên, các điện trở được biết như “các
dây đo biến dạng” thuộc nhóm 85.33.
(ii) Các biến thiên công suất giữa hai điện cực được thiết kế đặc biệt.
(iii) Các điện thế được sinh ra bởi các tinh thể thạch anh hoặc loại
tương tự dưới tác động của áp lực.
Nhóm này cũng bao gồm các động lực kế, cho phép đo các lực nén
hoặc kéo trong các máy ép thuỷ lực, các máy cán, các máy thử
nghiệm vật liệu, v.v.. và để cân tải trọng (chủ yếu cho máy bay).
Chúng thường gồm một bộ phận kim loại (xilanh, vòng...) trên đó khi
có một áp lực hoặc lực kéo và một thiết bị đo có thang độ với đơn vị
trọng lượng, sẽ ghi lại các thay đổi về hình dạng của vật thể kim loại.
Tuy nhiên, các động lực kế để thử các đặc tính của vật liệu bị loại
trừ (nhóm 90.24).
(30) Các tế bào đo điện biến đổi các thay đổi về lực (gồm cả trọng
lượng) thành các biến đổi tỷ lệ thuận của điện áp. Các biến đổi của
điện áp thường được xác định bởi các công cụ đo, điều khiển, cân ...
sẽ biểu hiện theo đại lượng cần tìm.
(31) Các máy ghi thời gian và thời kế điện tử để đo khoảng thời hạn
của một công tắc điện. Chúng gồm có một tụ được nạp điện nạp qua
một điện trở lớn khi công tắc đóng lại, việc đo đạc được thực hiện
trên một vôn kế điện tử có đơn vị đo tính theo đơn vị thời gian.
Nhóm này cũng bao gồm máy móc và dụng cụ quang học để đo hoặc
kiểm tra như:
(1) Các so kế quang học có kính vạt hoặc có thang độ, để cho phép
kiểm tra kích thước của một bộ phận được sản xuất so với vật chuẩn,
trong đó chuyển động của một calip đo chiều dày được khuếch đại
nhờ một dụng cụ quang học (nguyên lý gương quay).
(2) Các bàn so để kiểm tra độ kéo dài, các chiều dài, các mặt phẳng,....
Chúng bao gồm bàn và khung, bàn trượt và hai kính hiển vi vi kế
được gắn với nhau.
(3) Các bàn đo dùng cho các vật có kích thước lớn, calíp đo ren, phay
bánh răng, trục có ren cho các máy tiện, thanh dằn ngang... có khung
và bàn, kính hiển vi quan sát, hai kính hiển vi vi kế và dụng cụ chiếu.
(4) Các giao thoa kế để kiểm tra độ phẳng các bề mặt dựa trên nguyên
lý giao thoa ánh sáng, gồm một mặt phẳng quang học chuẩn với các
thấu kính cùng các dây chữ thập vi kế để đo các đám vân giao thoa.
Nhưng nhóm này loại trừ các mặt phẳng quang học chuẩn (nhóm
90.01), và các giao thoa kế dùng để đo các chỉ số khúc xạ (nhóm
(5) Các máy quang học đo bề mặt (đôi khi được gọi là thước hộp) để
kiểm tra điều kiện của các bề mặt nhờ sự phối hợp của một lăng kính
và một thấu kính.
(6) Các dụng cụ được trang bị một calíp đo chiều dày xung vi phân
nhanh có kính quan sát để chụp lại và đo các mặt cắt hoặc dạng các
bề mặt.
(7) Các kính gióng thẳng để kiểm tra độ thẳng của các bàn hoặc bàn
trượt trong các máy và để đo các cấu tạo kim loại..., chúng hoạt động
theo nguyên lý chuẩn trực hoặc chuẩn trực tự động, và gồm có một
kính viễn vọng, một ống chuẩn trực hoặc một gương soi.
(8) Các thước quang học để đo các độ lệch của mặt phẳng; gồm có một
thước rỗng mà ở hai đầu có một lăng kính và một thấu kính và một vi
kế thị kính có calíp đo chiều dày.
(9) Các thước đọc vi kế để kiểm tra di lệch của các bàn máy công cụ;
gồm có một thiết bị vi kế để đọc các thang độ milimet trên các thước
chia độ cá nhân.
(10) Các máy quang học đo góc dùng để kiểm tra các góc sắc nhọn của
răng hoặc lưỡi dao (mặt trước) trong quá trình mài; gồm một cơ cấu
thấu kính quang học với các gương chiếu và một mặt đồng hồ để đọc
góc tới, hoặc một hệ thống tấm cửa hình thành gương soi và một thị
kính có thể điều chỉnh được.
(11) Các thước đo hội tụ để đo kính mắt
Những công cụ và thiết bị nói trên vẫn được phân loại trong nhóm này
kể cả khi chúng có phù hợp để lắp trên máy hay không.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, nhóm 84.66 bao gồm những thành phần để
cân chỉnh các máy hoặc công cụ trên máy công cụ hoặc máy cắt bằng tia
nước, kể cả các phụ tùng "quang học" (ví dụ: các đầu chia “quang học”
hoặc các bàn tròn “quang học”) gắn cho các dụng cụ quang để trợ giúp
trong việc đọc các thang độ, hay thực hiện sự cân chỉnh, v.v....
(II) CÁC MÁY CHIẾU BIÊN DẠNG
Các máy chiếu này để kiểm tra hình dáng hoặc các kích thước của một
tập hợp các vật khác nhau (sản phẩm cắt gọt, bánh răng và pinhông cho
máy móc loại nhỏ, như vít, ốc vít, dao cắt ren, v.v...) hoặc để kiểm tra
các bề mặt. Trong phần lớn các máy chiếu đó, ánh sáng từ một bóng đèn
được tập trung thành tia bởi một tụ điện trước khi chiếu trực tiếp vào vật
được xem xét đặt trên một bàn soi. Mẫu kiểm tra sẽ được soi bóng lên
chùm ánh sáng mà sau khi được phản xạ vài lần sẽ được chiếu lên màn
hình nhờ một tổ hợp lăng trụ được lắp trong máy chiếu. Một số những
máy đó được trang bị một bàn soi trung gian trên đó có đặt một bộ phận
mẫu.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), nhóm
này cũng bao gồm các bộ phận và phụ kiện có thể chỉ ra là thích hợp chỉ
dùnghoặc chủ yếu dùng cùng với các máy móc, thiết bị được mô tả ở
trên; ví dụ: các tay của thước đo mặt phẳng, giá đỡ và bàn kiểm tra của
các so kế có mặt số.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm này cũng bao gồm các dụng cụ và thiết bị quang học để kiểm
tra mạch tích hợp cũng như các dụng cụ và thiết bị quang học để kiểm
tra mặt nạ quang hoặc lưới quang được sử dụng trong sản xuất mạch tích
hợp.
Phân nhóm 9031.49
Phân nhóm này không chỉ bao gồm các công cụ và thiết bị trợ giúp trực
tiếp hoặc tăng cường thị giác con người mà còn bao gồm cả những công
cụ và thiết bị khác vận hành bằng các thành phần hoặc phương pháp
quang học.
90.32 - Dụng cụ và thiết bị điều chỉnh hoặc điều khiển tự động.
9032.10 - Bộ ổn nhiệt
9032.20 - Bộ điều chỉnh áp lực
- Dụng cụ và thiết bị khác:
9032.81 - - Loại dùng thuỷ lực hoặc khí nén
9032.89 - - Loại khác
9032.90 - Bộ phận và phụ kiện
Theo Chú giải 7 của Chương này, nhóm này bao gồm:
(A) Các công cụ và thiết bị tự động kiểm soát lưu lượng, mức, áp suất
hoặc những thay đổi khác của các khí hoặc chất lỏng, hoặc kiểm tra
tự động nhiệt độ, mặc dù sự vận hành của chúng phụ thuộc hay
không phụ thuộc vào hiện tượng điện biến thiên theo hệ số được
kiểm tra tự động. Chúng được thiết kế để đưa hệ số này tới và duy
trì nó ở giá trị mong muốn, được giữ ổn định để chống lại sự nhiễu
loạn, bằng cách đo liên tục hoặc định kỳ các giá trị thực; và
(B) Các bộ điều chỉnh tự động các đại lượng điện, và các bộ điều chỉnh
tự động các đại lượng không thuộc điện khác và vận hành của chúng
phụ thuộc vào môi trường điện biến thiên theo hệ số được kiểm tra.
Chúng được thiết kế để đưa hệ số này tới và duy trì nó ở giá trị
mong muốn, được giữ ổn định để chống lại sự nhiễu loạn, bằng cách
đo liên tục hoặc định kỳ các giá trị thực.
(I) CÔNG CỤ VÀ THIẾT BỊ TỰ ĐỘNG ĐIỀU CHỈNH LƯU
LƯỢNG, MỨC, ÁP SUẤT HOẶC CÁC ĐẠI LƯỢNG KHÁC CỦA
CÁC CHẤT KHÍ HOẶC CHẤT LỎNG, HOẶC ĐỂ ĐIỀU KHIỂN
TỰ ĐỘNG NHIỆT ĐỘ
Những thiết bị tự động điều chỉnh cho chất khí, hoặc chất lỏng và
những thiết bị để điều chỉnh tự động nhiệt độ là một bộ phận trong
các hệ thống kiểm tra hoàn toàn tự động. Chủ yếu gồm những thiết bị
sau đây:
(A) Một thiết bị đo những biến số cần được điều chỉnh (áp lực hoặc
mức trong bể, nhiệt độ trong phòng,..). Trong một số trường hợp,
khí cụ đó có thể thay thế bằng một thiết bị giản đơn nhạy cảm với
các thay đổi của biến số (cọc kim loại hoặc lưỡng kim, khoang hoặc
ống quạt chứa chất lỏng có thể giãn nở được, phao...)
(B) Một thiết bị kiểm soát để, so sánh trị số đo với trị số danh định và
theo đó tác động lên thiết bị được nêu ở mục (C) dưới đây.
(C) Một thiết bị khởi động, tắt hoặc vận hành.
Các thiết bị dùng để điều chỉnh tự động các chất lỏng, khí hoặc kiểm tra
tự động nhiệt độ theo Chú giải 7(a) của Chương này gồm bộ ba thiết bị
này tạo thành một vật thể đơn hoặc theo Chú giải 3 của Chương này
thành một máy có chức năng.
Một số các công cụ và thiết bị này không có bộ phận so sánh trị số đo
với trị số danh định và được làm chuyển động trực tiếp qua một công tắc
khi mà trị số đã xác định ban đầu được đạt tới.
Các công cụ và thiết bị để điều chỉnh tự động lưu lượng, mức, áp suất và
các biến số khác của các chất khí hoặc chất lỏng hoặc để tự động điều
chỉnh nhiệt độ được nối với một thiết bị vận hành (bơm, máy nén, van,
đầu đốt cho lò luyện, nung, ...) phục hồi lại biến số (Ví dụ: chất lỏng
được đo trong bể, nhiệt độ trong phòng) tới trị số dự định, hoặc trong
trường hợp của một hệ thống an toàn, ví dụ dụng cụ này sẽ dừng hoạt
động của thiết bị hoặc máy móc được điều khiển. Nhìn chung, dụng cụ
đo thường được điều khiển từ xa bởi một thiết bị điều khiển cơ học, thuỷ
lực, khí nén, hoặc điện; chúng cũng được phân loại theo nhóm riêng phù
hợp (ví dụ bơm, hoặc máy nén khí: nhóm 84.13 hoặc 84.14;còn van:
nhóm 84.81,...). Nếu thiết bịđiều chỉnh tự động kết hợp với một thiết bị
vận hành thì sự phân loại của tất cả phải áp dụng hoặc là Quy tắc 1, hoặc
Quy tắc 3(b) (xem Phần (III) Chú giải tổng quát của Phần XVI và Chú
giải chi tiết nhóm 84.81).
Trong nhóm này gồm :
(A) Các thiết bị kiểm tra hoặc điều chỉnh áp lực còn gọi là ổn áp hoặc
điều áp kế, gồm chủ yếu một thành phần cảm ứng với áp suất, một
dụng cụ điều chỉnh để so sánh (ví dụ, nhờ một lò xo có thể điều
chỉnh) áp suất thực phải điều chỉnh, với áp suất danh định, và một
công tắc điện hoặc một van nhỏ vận hành mạch trợ động.
Những thiết bị này có thể được sử dụng để điều khiển một bơm hoặc
máy nén khí có mô tơ để nạp cho các bể áp suất hoặc để vận hành
các bộ phận định vị van khí nén, hoặc kết hợp với một van để điều
chỉnh lưu lượng, áp suất, v.v... của các chất lỏng hoặc khí.
Những dụng cụ điều khiển áp suất được mô tả trên đây khác với các
van giảm áp thuộc nhóm 84.81(vì đôi khi các van này cũng được
gọi là “điều áp”).
(B) Các bộ điều chỉnh hoặc kiểm tra mức dùng để tự động kiểm tra
mức.
Trong dụng cụ điều chỉnh mức loại phao, phao hoạt động trên
một màng ngăn, hoặc một bộ phận từ hoặc khác từ, để vận hành một
công tắc điện, lần lượt làm bật và tắt bơm, van...
Trong hệ thống điện cực, chất lỏng được để tiếp nối với đất tạo
thành một phần của mạch điện. Một cực của biến áp cũng được tiếp
đất. Khi bề mặt của chất lỏng tiếp xúc với điện cực, mạch điện đóng
và một rơ le bắt đầu hoạt động.
(C) Các bộ điều tiết độ ẩm, đôi khi còn gọi là ổn ẩm, dùng để điều
chỉnh tự động độ ẩm trong các buồng hơi, nồi hơi, lò nung, phân
xưởng, kho...
Sự vận hành các thiết bị đó phụ thuộc vào sự biến đổi độ dài một bó
tóc hoặc một số thành phần nhạy cảm với độ ẩm và vận hành một
dụng cụ phát tín hiệu hoặc điều khiển một thiết bị có khả năng thay
đổi độ ẩm mà đã được xác định (van nạp hơi, máy làm ẩm hoặc máy
tiêu ẩm, quạt ...).
(D) Các bộ điều chỉnh nhiệt dùng để kiểm tra tự động nhiệt độ, gồm
chủ yếu các linh kiện sau:
(1) Một thành phần nhạy cảm với những thay đổi nhiệt độ, chúng
hoạt động phụ thuộc vào:
Sự biến dạng của một lá lưỡng kim (thẳng, hình chữ U,
xoáy trôn ốc...);
Áp suất hơi của một chất lỏng;
Sự giãn nở của một chất lỏng hoặc thanh kim loại;
Điện trở hoặc một ngẫu nhiệt.
Trong các bộ điều chỉnh nhiệt loại lá lưỡng kim, các lá này được gắn
trong một ống piston hoặc một hộp, còn trong loại thanh kim loại thì
thanh được đặt trong ống piston. Trong các bộ điều chỉnh nhiệt theo
áp suất hơi nước hoặc chất lỏng, thì bộ phận nhạy cảm có thể gồm
một màng gấp chứa chất lỏng hoặc gồm một hệ thống chứa một
màng ngăn, ống mao quản, và bóng hoặc một ống khuỷu.
(2) Một tang trống, đĩa hoặc bất cứ một cơ cấu khác để tạo sẵn
nhiệt độ danh định.
(3) Một cơ cấu khởi động hay truyền động gồm, chủ yếu tuỳ theo
tính chất truyền động (cơ, chất lỏng trợ động, điện), một hệ
thống đòn bẩy, lò xo ... và một van hoặc một chuyển mạch điện.
Cơ cấu đó kích hoạt các tín hiệu hoặc điều khiển từ xa một thiết
bị điều chỉnh nhiệt độ như van nạp hơi hoặc nước nóng, đánh lửa
nồi hơi, thiết bị điều hoà không khí, quạt ...
Cụ thể các bộ điều chỉnh nhiệt dùng để điều chỉnh nhiệt độ trong các
ngôi nhà, toà nhà, các lò nung, bếp điện, nồi hơi, ấm đun nước, thiết
bị đông lạnh, lò sưởi hay ống khói, các thiết bị hoặc buồng hơi và
thiết bị khác dùng trong công nghiệp hoặc cho các phòng thí
nghiệm.
(E) Các bộ điều chỉnh nhiệt cho phép tạo và duy trì nhiệt độ định sẵn
của các dụng cụ nấu bằng điện (các bếp điện, dàn nướng, bình đun
cà phê ...) chủ yếu gồm một lá lưỡng kim, mà khi bị biến dạng dưới
tác động nhiệt của một điện trở sun trên mạch điện sẽ vận hành một
công tắc điện để đóng, mở mạch. Các giai đoạn “Ngắt” hay “Mở”
(và cuối cùng là nhiệt độ của bộ phận đốt) được xác định theo các vị
trí khác nhau của một mặt số điều khiển bằng tay. Vị trí “Đủ” trả lại
tình trạng không hoạt động cho bộ lưỡng kim, do vậy riêng ở các
giai đoạn bắt đầu của quá trình đốt nóng, sẽ cho phép bộ phận đốt
nóng hoạt động liên tục.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các lò hấp hơi, buồng “tĩnh nhiệt” hoặc “điều chỉnh nhiệt”, trong
đó nhiệt độ được giữ ở mức không thay đổi nhờ một bộ điều
chỉnh nhiệt và được phân loại lần lượt theo các nhóm tương ứng.
(b) Các van điều chỉnh bằng nhiệt (nhóm 84.81).
(F) Các bộ điều chỉnh kéo bằng lò được sử dụng, ví dụ như trong các
thiết bị đun trung tâm hoặc điều hoà không khí để tự động điều
chỉnh không khí nạp vào bằng cách tham chiếu nhiệt độ, áp suất, ....
(II) CÁC BỘ ĐIỀU CHỈNH TỰ ĐỘNG CÁC ĐẠI LƯỢNG ĐIỆN
VÀ CÁC THIẾT BỊ HOẶC DỤNG CỤ ĐIỀU CHỈNH TỰ ĐỘNG
CÁC ĐẠI LƯỢNG KHÔNG THUỘC ĐIỆN, CHÚNG VẬN HÀNH
PHỤ THUỘC VÀO HIỆN TƯỢNG BIẾN ĐỔI ĐIỆN THEO HỆ SỐ
ĐIỀU CHỈNH
Những bộ điều chỉnh tự động được nêu trong nhóm này nhằm sử dụng
cho các hệ thống điều chỉnh hoàn toàn tự động có chức năng đưa một đại
lượng thuộc điện hoặc không thuộc điện đến một trị số đã định và duy trì
trị số đó, được ổn định khi bị nhiễu loạn, bằng cách đo liên tục hoặc định
kỳ trị số thực tế của nó. Chúng chủ yếu gồm những dụng cụ sau:
(A) Một dụng cụ đo (bộ phận nhạy cảm, bộ chuyển đổi, máy dò điện
trở, cặp nhiệt điện, v.v...) xác định giá trị thực của đại lượng phải đo
và biến nó thành tín hiệu điện tương ứng.
(B) Một dụng cụ kiểm tra điện để so sánh trị số đo được với trị số
danh định và phát ra một tín hiệu (thường dưới dạng một dòng điện
điều biến).
(C) Một thiết bị khởi động, ngắt hoặc vận hành (thường là các công
tắc, cầu chì hoặc cầu dao, công tắc đảo hoặc đôi khi là công tắc rơ
le) cho phép dòng điện đi vào bộ khởi động theo tín hiệu nhận được
từ bộ phận điều khiển.
Một thiết bị điều chỉnh tự động đúng nghĩa của Chú giải 7(b) của
Chương này bao gồm các dụng cụ được mô tả ở mục (A), (B), (C) ở
trên, cho dù lắp ráp với nhau như một thiết bị duy nhất hoặc phù hợp với
Chú giải 3 của Chương này, thành một máy có chức năng.
Nếu không đáp ứng các mô tả được chỉ ra ở đoạn trên, thì các thiết bị
này được phân loại như sau:
(1) Thiết bị đo bằng điện nói chung thuộc các nhóm 90.25, 90.26 hoặc
(2) Thiết bị kiểm tra bằng điện được phân loại trong nhóm này khi chúng
là thiết bị hoặc dụng cụ điều chỉnh không hoàn toàn tự động.
(3) Thiết bị khởi động, ngắt hoặc vận hành nói chung thuộc nhóm 85.36
(ngắt mạch, chuyển mạch, rơ le...).
Các bộ điều chỉnh tự động được nối với một cơ cấu kích hoạt bằng điện,
khí nén hoặc thuỷ lực luôn đưa đại lượng phải đo về giá trị danh định.
Cơ cấu kích hoạt này có thể là những vật nối điều chỉnh khoảng cách các
điện cực của một lò nung hồ quang điện vòm, van động cơ nạp nước
hoặc hơi của nồi hơi, lò nung, máy tước xơ...
Thiết bị kích hoạt được phân loại vào nhóm thích hợp (kẹp điều chỉnh
thuộc nhóm 84.25; van động cơ hoặc van ruột gà vào nhóm 84.81; cơ
cấu định vị điện từ thuộc nhóm 85.05...). Trong trường hợp mà bộ điều
chỉnh tự động được phối hợp với một cơ cấu kích hoạt, toàn bộ cơ cấu
này phải được xếp theo Quy tắc 1 hoặc theo Quy tắc 3(b). (xem thêm
Phần (III) các Chú giải tổng quát cho Phần XVI và Chú giải nhóm
Các bộ điều chỉnh điện tử vận hành chặt chẽ theo nguyên lý điện chứ
không theo nguyên lý cơ điện. Những đặc trưng tiêu biểu của chúng là
các chất bán dẫn (transito) hoặc các mạch tổ hợp.
Chúng dùng không chỉ điều chỉnh các đại lượng điện như điện áp, cường
độ, tần số và công suất, mà còn để điều chỉnh các đại lượng khác như
vòng quay/phút, lực xoắn, lực kéo, mức, áp suất, lưu lượng hoặc nhiệt
độ.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các thiết bị ngắt mạch kết hợp sử dụng trong nhà riêng kết hợp với
một dụng cụ điều chỉnh điện áp hoặc dòng điện để sử dụng trong kết
nối với các động cơ piston đốt trong (nhóm 85.11).
(b) Các dụng cụ điều khiển theo lập trình gọi là cơ cấu kiểm tra lập trình
thuộc nhóm 85.37.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện của những dụng cụ hay thiết bị thuộc nhóm này cũng
đều được phân loại vào nhóm này.
90.33- Bộ phận và phụ kiện (chưa được chi tiết hoặc ghi ở các nhóm
khác thuộc Chương này) dùng cho máy, thiết bị, dụng cụ
hoặc đồ dùng thuộc Chương 90.
Nhóm này bao gồm tất cả các bộ phận và phụ kiện của máy móc, thiết
bị, dụng cụ hoặc các mặt hàng của Chương này, trừ những mặt hàng sau
đây:
(1) Những mặt hàng nêu trong Chú giải 1 của Chương này như:
(a) Các bộ phận quang học, bằng thuỷ tinh, chưa gia công về mặt
quang học (Chương 70).
(b) Các mặt hàng thuộc loại sử dụng cho máy móc, dụng cụ, sản
phẩm hay thiết bị làm từ cao su lưu hoá trừ cao su cứng (ví dụ
các đệm lót, vòng đệm và những vật tương tự bằng cao su)
(nhóm 40.16), bằng da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp (gồm cả
các màng bằng da thuộc của dụng cụ đo khí) (nhóm 42.05) hoặc
bằng vật liệu dệt (nhóm 59.11).
(c) Các bộ phận có công dụng chungtheo nghĩa của Chú giải 2 Phần
XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV) hoặc các mặt hàng tương
tự bằng plastic (Chương 39).
(2) Những mặt hàng trong Chú giải 2(a), bản thân chúng tạo thành các
mặt hàng thiết bị, máy móc, dụng cụ thuộc bất cứ nhóm riêng nào
của Chương 90 hoặc của Chương 84, Chương 85 hoặc Chương 91
(ngoại trừ các nhóm 84.87, 85.48 hoặc 90.33). Vì vậy, khi trình bày
dưới dạng riêng lẻ, những mặt hàng này phải được phân loại vào các
nhóm tương ứng của chúng. Ví dụ các mặt hàng này bao gồm:
(a) Bơm chân không (nhóm 84.14), vòi nước hoặc van (nhóm
84.81), các bánh răng (nhóm 84.83).
(b) Mô tơ điện (nhóm 85.01), biến thế (nhóm 85.04), nam châm
vĩnh cửu hoặc nam châm điện (nhóm 85.05), pin thường (nhóm
85.06), thiết bị điện khuếch đại âm tần (nhóm 85.18), tụ điện
thuộc nhóm 85.32, điện trở (nhóm 85.33), rơ le (nhóm 85.36),
đèn điện tử hoặc ống điện tử (nhóm 85.40), tế bào quang điện
(nhóm 85.41), khuyếch đại trung tần hoặc cao tần (nhóm
(c) Các bộ phận quang học của nhóm 90.01 hoặc 90.02.
(d) Máy ảnh (nhóm 90.06), nhiệt kế và ẩm kế (nhóm 90.25).
(e) Máy đồng hồ cá nhân hoặc đồng hồ thời gian (nhóm 91.08 hoặc
(3) Các loại dễ được nhận biết thích hợp chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng
riêng cho một máy, một thiết bị, một dụng cụ hoặc dùng chung cho
nhiều máy, thiết bị, dụng cụ trong cùng một nhóm của Chương này
thì vẫn được phân loại trong cùng nhóm với các máy, khí cụ, dụng cụ
có liên quanđó, bằng cách áp dụng Chú giải 2 (b) của Chương,