CHU GIAI 2022 CHUONG 90 1
PHẦN XVIII
DỤNG CỤ VÀ THIẾT BỊ QUANG HỌC, NHIẾP ẢNH,
ĐIỆN ẢNH, ĐO LƯỜNG, KIỂM TRA, CHÍNH XÁC,
Y TẾ HOẶC PHẪU THUẬT; ĐỒNG HỒ THỜI GIAN VÀ
ĐỒNG HỒ CÁ NHÂN; NHẠC CỤ; CÁC BỘ PHẬN VÀ
PHỤ KIỆN CỦA CHÚNG
Chương 90
Dụng cụ và thiết bị quang học, nhiếp ảnh, điện ảnh, đo lường,
kiểm tra, chính xác, y tế hoặc phẫu thuật; các bộ phận và phụ
kiện của chúng
Chú giải.
1.- Chương này không bao gồm:
(a) Các mặt hàng sử dụng trong máy, thiết bị hoặc cho các mục đích
kỹ thuật khác, bằng cao su lưu hoá trừ cao su cứng (nhóm
40.16), bằng da thuộc hoặc da tổng hợp (nhóm 42.05) hoặc bằng
vật liệu dệt (nhóm 59.11);
(b) Băng, đai hoặc các sản phẩm trợ giúp khác bằng vật liệu dệt, có
tính đàn hồi được dùng làm dụng cụ để nâng hoặc giữ bộ phận
cơ thể (ví dụ, đai nâng dùng cho phụ nữ có thai, băng nâng ngực,
băng giữ bụng, băng nẹp khớp hoặc cơ) (Phần XI);
(c) Hàng hóa chịu lửa của nhóm 69.03; đồ gốm sứ dùng trong
phòng thí nghiệm, cho ngành hoá chất hoặc các mục đích kỹ
thuật khác, thuộc nhóm 69.09;
(d) Gương thủy tinh, chưa gia công quang học, thuộc nhóm 70.09,
hoặc gương bằng kim loại cơ bản hoặc gương bằng kim loại quý,
không phải là bộ phận quang học (nhóm 83.06 hoặc Chương
(e) Hàng hoá thuộc nhóm 70.07, 70.08, 70.11, 70.14, 70.15 hoặc
(f) Các bộ phận có công dụng chung, như đã định nghĩa trong Chú
giải 2 của Phần XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV) hoặc các
loại hàng hóa tương tự bằng plastic (Chương 39); tuy nhiên, các
mặt hàng được thiết kế đặc biệt để sử dụng riêng cho cấy ghép
trong y tế, phẫu thuật, nha khoa hoặc thú y được xếp vào nhóm
(g) Bơm có gắn các thiết bị đo lường, thuộc nhóm 84.13; máy đếm
hoặc máy kiểm tra hoạt động bằng nguyên lý cân, hoặc cân
thăng bằng (nhóm 84.23); máy nâng hoặc hạ (từ nhóm 84.25 đến
84.28); các loại máy cắt xén giấy hoặc bìa (nhóm 84.41); bộ
phận điều chỉnh hoặc dụng cụ lắp trên máy công cụ hoặc máy
cắt bằng tia nước, thuộc nhóm 84.66, bao gồm các bộ phận có
lắp các dụng cụ quang học để đọc thang đo (ví dụ, đầu chia độ
"quang học") nhưng thực tế chúng không phải là dụng cụ quang
học (ví dụ, kính thiên văn thẳng); máy tính (nhóm 84.70); van
hoặc các thiết bị khác thuộc nhóm 84.81; máy và các thiết bị (kể
cả các thiết bị dùng để chiếu hoặc vẽ mạch điện lên vật liệu bán
dẫn có độ nhạy) thuộc nhóm 84.86;
(h) Đèn pha hoặc đèn rọi loại dùng cho xe đạp hoặc xe có động cơ
(nhóm 85.12); đèn điện xách tay thuộc nhóm 85.13; máy ghi âm,
máy tái tạo âm thanh hoặc máy ghi lại âm thanh dùng trong điện
ảnh (nhóm 85.19); đầu từ ghi âm (nhóm 85.22); camera truyền
hình, camera kỹ thuật số và camera ghi hình ảnh (nhóm 85.25);
thiết bị ra đa, các thiết bị dẫn đường bằng sóng vô tuyến hoặc
các thiết bị điều khiển từ xa bằng sóng vô tuyến (nhóm 85.26);
đầu nối sợi quang, bó hoặc cáp sợi quang (nhóm 85.36); các thiết
bị điều khiển số thuộc nhóm 85.37; đèn pha gắn kín của nhóm
85.39; cáp sợi quang thuộc nhóm 85.44;
(ij) Đèn pha hoặc đèn rọi thuộc nhóm 94.05;
(k) Các mặt hàng thuộc Chương 95;
(l) Chân đế loại một chân (monopod), hai chân (bipod), ba chân
(tripod) và các mặt hàng tương tự của nhóm 96.20
(m) Dụng cụ đo dung tích, được phân loại theo vật liệu cấu thành
chúng; hoặc
(n) Suốt chỉ, ống hoặc các loại lõi tương tự (được phân loại theo vật
liệu cấu thành của chúng, ví dụ, nhóm 39.23 hoặc Phần XV).
2.- Theo Chú giải 1 ở trên, các bộ phận và phụ kiện cho các máy, thiết
bị, dụng cụ hoặc các mặt hàng của Chương này được phân loại theo
các nguyên tắc sau:
(a) Các bộ phận và phụ kiện là hàng hoá thuộc nhóm bất kỳ trong
Chương này hoặc Chương 84, 85 hoặc 91 (trừ các nhóm 84.87,
85.48 hoặc 90.33) trong mọi trường hợp được phân loại vào các
nhóm riêng của chúng;
(b) Các bộ phận và phụ kiện khác, nếu chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng
cho một loại máy, thiết bị hoặc dụng cụ riêng biệt, hoặc với một
số loại máy, thiết bị hoặc dụng cụ trong cùng một nhóm (kể cả
máy, thiết bị hoặc dụng cụ của nhóm 90.10, 90.13 hoặc 90.31)
được phân loại theo máy, thiết bị hoặc dụng cụ cùng loại đó;
(c) Tất cả các bộ phận và phụ kiện khác được phân loại trong nhóm
3.- Các quy định trong Chú giải 3 và 4 của Phần XVI cũng áp dụng đối
với Chương này.
4.- Nhóm 90.05 không áp dụng cho kính ngắm dùng để lắp vào vũ khí,
kính ngắm tiềm vọng để lắp vào tàu ngầm hoặc xe tăng, hoặc kính
viễn vọng dùng cho máy, thiết bị, dụng cụ hoặc đồ dùng của Chương
này hoặc của Phần XVI; kính ngắm và kính viễn vọng như vậy được
phân loại vào nhóm 90.13.
5.- Tuy nhiên, theo Chú giải này, những dụng cụ, thiết bị hoặc máy
quang học dùng để đo hoặc kiểm tra, có thể phân loại ở cả 2 nhóm
90.13 và 90.31 thì phải xếp vào nhóm 90.31.
6.- Theo mục đích của nhóm 90.21, thuật ngữ "các dụng cụ chỉnh hình"
được hiểu là các dụng cụ dùng để:
Ngăn ngừa hoặc điều chỉnh một số biến dạng của cơ thể; hoặc
⦁ Trợ giúp hoặc nẹp giữ các bộ phận cơ thể sau khi bị bệnh, phẫu
thuật hoặc bị thương.
Các dụng cụ chỉnh hình bao gồm cả giày, dép và các đế đặc biệt bên
trong của giày, dép được thiết kế để cố định tình trạng sau khi chỉnh
hình, với điều kiện là chúng hoặc (1) được làm theo số đo hoặc (2)
được sản xuất hàng loạt, dưới hình thức độc dạng và không theo đôi
và được thiết kế để dùng cho cả hai chân.
7.- Nhóm 90.32 chỉ áp dụng với:
(a) Các thiết bị và dụng cụ dùng để điều khiển tự động dòng chảy,
mức, áp suất hoặc các biến số khác của chất lỏng hoặc chất khí,
hoặc dùng để điều khiển tự động nhiệt độ, cho dù các hoạt động
của chúng có hoặc không phụ thuộc vào sự biến đổi của một
hiện tượng điện mà hiện tượng điện đó biến đổi theo yếu tố được
điều khiển tự động, chúng được thiết kế để điều chỉnh, và duy trì
yếu tố này ở một giá trị mong muốn, được thiết lập để chống lại
các yếu tố bất thường, thông qua việc định kỳ hoặc thường
xuyên đo lường giá trị thực của nó; và
(b) Các thiết bị điều chỉnh tự động các đại lượng điện, và các thiết bị
hoặc dụng cụ điều khiển tự động các đại lượng phi điện, mà hoạt
động của chúng phụ thuộc vào một hiện tượng điện biến đổi theo
yếu tố được điều khiển, chúng được thiết kế để điều chỉnh và
duy trì yếu tố này ở một giá trị mong muốn, được thiết lập để
chống lại các yếu tố bất thường thông qua việc định kỳ hoặc
thường xuyên đo lường giá trị thực của nó.
TỔNG QUÁT
(I) NỘI DUNG VÀ BỐ CỤC CỦA CHƯƠNG
Chương này bao gồm các loại dụng cụ và thiết bị, theo nguyên tắc, được đặc
trưng bởi mức độ hoàn thiện và chính xác cao. Hầu hết chúng được sử dụng
chủ yếu cho mục đích khoa học (nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, phân
tích, thiên văn học…), cho công nghiệp hoặc kỹ thuật chuyên ngành (đo
lường hoặc kiểm tra, quan sát…) hoặc cho các mục đích y học.
Chương này bao gồm, cụ thể:
(A) Một nhóm có phạm vi lớn, không chỉ gồm các bộ phận quang học
đơn giản thuộc các nhóm 90.01 và 90.02, mà còn bao gồm các dụng
cụ và thiết bị quang học, từ kính đeo mắt nhóm 90.04 đến các dụng
cụ phức tạp hơn sử dụng trong thiên văn, nhiếp ảnh, điện ảnh hoặc
quan sát hiển vi.
(B) Những dụng cụ và thiết bị được thiết kế cho một số mục đích sử
dụng nhất định (trắc địa học, khí tượng, đồ hoạ, tính toán, ...).
(C) Các dụng cụ và thiết bị dùng trong y học, phẫu thuật, nha khoa hoặc
thú y hoặc cho các mục đích liên quan (chụp X quang, liệu pháp vận
động, liệu pháp oxy, khoa chỉnh hình, lắp bộ phận giả, ...)
(D) Những máy móc, dụng cụ và thiết bị dùng để kiểm tra vật liệu.
(E) Dụng cụ và thiết bị phòng thí nghiệm.
(F) Một nhóm có phạm vi lớn bao gồm những dụng cụ và máy móc đo
lường, kiểm tra hoặc điều chỉnh tự động, sử dụng hoặc không sử
dụng các phương pháp quang học hoặc điện và đặc biệt cả những
máy móc, dụng cụ thuộc nhóm 90.32 như định nghĩa ở Chú giải 7
của Chương này.
Một số dụng cụ và thiết bị này được nêu rõ trong một số nhóm như các
kính hiển vi quang học phức hợp (nhóm 90.11), kính hiển vi điện tử
(nhóm 90.12), các dụng cụ và thiết bị khác thuộc loại này do những mô
tả chung tại các nhóm có liên quan đến một ngành khoa học, ngành công
nghiệp đặc thù,… (ví dụ, các dụng cụ thiên văn thuộc nhóm 90.05, các
dụng cụ và thiết bị dùng để quan trắc thuộc nhóm 90.15, các máy tia
X,..., các thiết bị thuộc nhóm 90.22). Chương này cũng bao gồm thiết bị
chân không sử dụng trong y học, phẫu thuật, nha khoa hoặc thú y (nhóm
Có một số ngoại lệ đối với nguyên tắc chung là các dụng cụ và thiết bị
thuộc Chương này là những loại có độ chính xác cao. Ví dụ, Chương này
cũng bao gồm những kính bảo hộ thông thường (nhóm 90.04), các kính
lúp và các kính tiềm vọng không phóng to (nhóm 90.13), các thước chia
độ và thước học sinh (nhóm 90.17), các ẩm kế có tính chất trang trí
không kể đến độ chính xác của chúng (nhóm 90.25).
Ngoại trừ những loại trừ tại Chú giải 1 Chương này (như vòng đệm và
miếng đệm bằng cao su hoặc bằng da, và các màng bằng da dùng trong
đồng hồ đo), thiết bị, dụng cụ và các bộ phận của chúng thuộc Chương
này có thể bằng bất kỳ vật liệu nào (kể cả kim loại quý hoặc kim loại bọc
dát kim loại quý, các đá quý hoặc đá bán quý (đá tự nhiên, tổng hợp
hoặc tái tạo)).
(II) MÁY MÓC, THIẾT BỊ CHƯA HOÀN CHỈNH HOẶC CHƯA
HOÀN THIỆN…
(Xem Quy tắc 2(a))
Với điều kiện máy móc, thiết bị đã có đặc trưng cơ bản của sản phẩm
hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện, khi đó máy móc, thiết bị hoặc dụng cụ chưa
hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện được phân loại cùng với những sản
phẩm đã hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện (ví dụ, một máy ảnh hoặc một kính
hiển vi không có bộ phận quang học của nó hoặc một thiết bị đo lượng
điện được cung cấp không có thiết bị đếm tổng của nó).
(III) BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
(Chú giải 2 của Chương)
Theo Chú giải 1 của Chương này, các bộ phận hoặc phụ tùng được xác
định là chỉ sử dụng hoặc sử dụng chủ yếu cho máy móc, thiết bịhoặc
dụng cụ của Chương này được phân loại cùng với máy móc, thiết bị
đó,…
Tuy nhiên, quy tắc này không áp dụng với:
(1) Các bộ phận hoặc phụ tùng mà bản thân chúng tạo thành những mặt
hàng thuộc nhóm cụ thể của Chương này hay các Chương 84,
Chương 85 hoặc Chương 91 (trừ các nhóm 84.87, 85.48 hoặc
90.33). Ví dụ, bơm chân không cho kính hiển vi điện tử vẫn được
phân loại là bơm thuộc nhóm 84.14; máy biến điện, nam châm điện,
tụ điện, điện trở, rơle, đèn hoặc van đèn điện... vẫn được phân loại
vào Chương 85; những bộ phận quang học thuộc nhóm 90.01 hoặc
90.02 vẫn thuộc các nhóm đã nêu bất kể chúng được sử dụng cho
dụng cụ hoặc thiết bị nào; máy đồng hồ thời gian và đồng hồ cá
nhân luôn được phân loại vào Chương 91; máy ảnh thuộc nhóm
90.06 dù chúng thuộc loại được thiết kế để sử dụng với một dụng cụ
khác (hiển vi, stroboscope (tần kế, máy hoạt nghiệm)...).
(2) Các bộ phận hoặc phụ tùng có thể sử dụng cho nhiều loại máy móc,
dụng cụ hoặc thiết bị ở các nhóm khác nhau thuộc Chương này đều
được phân loại vào nhóm 90.33, trừ khi đó là những dụng cụ hoàn
chỉnh được nêu trong một nhóm khác (xem đoạn (1) ở trên).
(IV) MÁY MÓC, THIẾT BỊ ĐA CHỨC NĂNG HOẶC TỔ HỢP
MÁY MÓC, THIẾT BỊ,..; BỘ PHẬN CHỨC NĂNG
(Chú giải 3 của Chương)
Chú giải 3 nêu rõ các quy định của Chú giải 3 và 4 Phần XVI cũng áp
dụng cho Chương này (xem các Phần (VI) và (VII) của Chú giải tổng
quát Phần XVI).
Thông thường, máy móc đa chức năng được phân loại theo chức năng
chính của máy đó.
Máy móc đa chức năng có thể thực hiện nhiều thao tác khác nhau.
Theo Chú giải 3 Phần XVI khi không thể xác định chức năng chính, và
khi không có yêu cầu khác, thì phải áp dụng Quy tắc 3 (c).
Tổ hợp máy móc hoặc thiết bị gồm từ 2 máy móc hoặc thiết bị khác
nhau trở lên, được lắp ráp cùng với nhau để tạo thành một tổng thể, lần
lượt hoặc đồng thời thực hiện chức năng riêng lẻ mà chức năng này bổ
trợ và được mô tả ở các nhóm khác nhau của Chương này, thì được phân
loại theo chức năng chính của tổ hợp máy móc hoặc thiết bị.
Theo mục đích của các nội dung trên, máy móc hoặc thiết bị khác nhau
được lắp ráp cùng nhau để thành một tổ hợp khi lắp ráp một máy này
vào máy móc khác hoặc gắn một máy này vào một máy khác hoặc gắn
trên cùng một nền chung hoặc một khung chung hoặc trong một buồng
chứa chung.
Bộ phận lắp ráp của máy móc hoặc thiết bị không được lắp cùng nhau để
tạo thành một tổ hợp trừ khi máy móc hoặc thiết bị được thiết kế để gắn
cố định với nhau hoặc gắn với một đế, khung, buồng chung.
Điều này loại trừ bộ phận lắp ráp mang tính chất tạm thời hoặc không
được thường xuyên lắp ráp thành máy móc, thiết bị tổ hợp,...
Đế, khung hoặc buồng chứa có thể được kèm theo bánh để tổ hợp máy
móc hoặc thiết bị có thể di chuyển theo yêu cầu khi sử dụng, với điều
kiện chúng không mang đặc trưng của một sản phẩm (ví dụ, xe cộ) được
mô tả cụ thể hơn tại một nhóm khác của Danh mục.
Sàn, đế cứng, tường, vách ngăn, trần,… thậm chí được lắp ghép đặc biệt
để chứa máy móc hoặc thiết bị thì không được xem xét như một đế
chung kết nối những máy móc hoặc thiết bị đó để tạo thành một tổng
thể.
Chú giải 3, Phần XVI không áp dụng đối với tổ hợp máy móc hoặc
thiết bị thuộc một nhóm cụ thể nào đó.
Chương này bao gồm, như các bộ phận chức năng, dụng cụ hoặc thiết bị
điện (bao gồm cả điện tử) tạo thành một hệ thống đo từ xa bằng kỹ thuật
tương tự hay bằng kỹ thuật số. Những thiết bị chủ yếu đó bao gồm:
(I) Các thiết bị ở đầu truyền:
(i) Một máy dò chính (bộ chuyển đổi, máy phát, máy biến đổi điện
liên biến số, v.v...) biến đổi một đại lượng nào đó cần phải đo,
không phụ thuộc tính chất, thành một tín hiệu số, điện áp hoặc
thành một dòng điện.
(ii) Một thiết bị khuếch đại đo lường, phát và thu tín hiệu cơ bản
mà (nếu cần) có thể nâng dòng điện, điện áp hoặc tín hiệu số lên
mức yêu cầu nhờ thiết bị phát bằng xung động hoặc bộ điều biến
tần số.
(iii) Một thiết bị phát xung động hoặc bộ điều biến tần số truyền
tín hiệu tương tự hoặc tín hiệu số đến trạm khác.
(II) Các thiết bị ở đầu nhận:
(i) Một thiết bị nhận xung động, điều biến tần số hoặc tín hiệu
số: biến đổi thông tin truyền đến thành tín hiệu tương tự hoặc tín
hiệu số.
(ii) Một thiết bị khuếch đại hoặc biến đổi đo lường để, nếu cần,
thì khuyếch đại tín hiệu tương tự hoặc tín hiệu số.
(iii) Những thiết bị báo hoặc thiết bị ghi đã định cỡ tuỳ theo đại
lượng ban đầu và được gắn thiết bị báo cơ học hoặc biểu thị
quang điện tử.
Những hệ thống đo từ xa được ứng dụng chủ yếu trong các đường ống
sản xuất dầu, khí đốt, nước và các hệ thống xử lý chất thải và trong các
hệ thống quản lý môi trường.
Các thiết bị truyền và thu nhận có dây hoặc vụ tuyến để đo từ xa vẫn
được phân loại trong các nhóm tương ứng của chúng (nhóm 85.17,
85.25hoặc85.27 tuỳ trường hợp) trừ khi chúng được kết hợp như một
thiết bị đơn lẻ với những thiết bị nêu ở mục (I) và (II) trên hoặc nếu cả tổ
hợp tạo thành một bộ phận chức năng theo nội dung Chú giải 3 của
Chương 90; thiết bị hoàn chỉnh được phân loại trong Chương này.
Ngoài các loại trừ được nêu trong nội dung của Chú giải Chi tiết,
Chương này không bao gồm các sản phẩm sau đây:
(a) Các loại sản phẩm sử dụng trong các máy móc, thiết bị hoặc các ứng
dụng kỹ thuật khác làm bằng cao su lưu hoá trừ cao su cứng (nhóm
40.16), bằng da thuộc hay da thuộc tổng hợp (nhóm 42.05) hoặc
bằng vật liệu dệt (nhóm 59.11).
(b) Các bộ phận có công dụng chung, được định nghĩa trong Chú giải 2
của Phần XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV) hoặc các mặt hàng
tương tự bằng plastic (Chương 39).
c) Các máy nâng hạ (từ nhóm 84.25 đến 84.28 và 84.86); phụ kiện để
điều chỉnh thao tác hoặc các công cụ ở các máy công cụ hoặc máy
cắt bằng tia nước, thuộc nhóm 84.66, gồm cả các phụ kiện có đầu
đọc quang học dùng để đọc chỉ số cân (ví dụ các đầu phân chia
“quang học”) nhưng không gồm các bộ phận mà bản thân đã là các
thiết bị quang học (ví dụ như các kính thiên văn thẳng); các thiết bị
ra đa, các máy liên lạc vô tuyến trợ giúp trong hàng hải hoặc các máy
vô tuyến điều khiển từ xa (nhóm 85.26).
(d) Tàu vũ trụ có trang bị các dụng cụ hoặc thiết bị thuộc Chương này
(nhóm 88.02).
(e) Đồ chơi, thiết bị trò chơi, dụng cụ thể thao và các sản phẩm khác của
Chương 95, và các bộ phận, phụ tùng của chúng.
(f) Các dụng cụ đo công suất được phân loại theo vật liệu cấu thành.
(g) Các cuộn, lõi hoặc các lõi cuốn tương tự (được phân loại theo vật
liệu cấu thành, ví dụ trong nhóm 39.23hoặc Phần XV).
90.01 - Sợi quang và bó sợi quang; cáp sợi quang trừ các loại thuộc
nhóm 85.44; vật liệu phân cực dạng tấm và lá; thấu kính (kể
cả thấu kính áp tròng), lăng kính, gương và các bộ phận
quang học khác, bằng vật liệu bất kỳ, chưa lắp ráp, trừ loại
bằng thủy tinh chưa gia công về mặt quang học.
9001.10 - Sợi quang, bó sợi quang và cáp sợi quang
9001.20 - Vật liệu phân cực dạng tấm và lá
9001.30 - Thấu kính áp tròng
9001.40 - Thấu kính thuỷ tinh làm kính đeo mắt
9001.50- Thấu kính bằng vật liệu khác làm kính đeo mắt
9001.90 - Loại khác
Nhóm này gồm:
(A) Sợi quang học và bó sợi quang học, cũng như cáp sợi quang loại
trừ các loại thuộc nhóm 85.44.
Các sợi quang học được làm bằng những lớp thuỷ tinh đồng tâm
hoặc bằng plastic với các chỉ số khúc xạ khác nhau. Loại bằng thuỷ
tinh được phủ một lớp plastic rất mỏng, mắt thường không nhìn
thấyvàkhiến cho các sợi ít bị gãy hơn. Các sợi quang học thường ở
dưới dạng cuộn và có thể có độ dài nhiều cây số. Chúng được dùng
để làm các bó sợi quanghọcvà các cáp sợi quang học.
Các bó sợi quang học có thể cứng, trong đó các sợi kết tụ bởi một
chất kết dính dọc theo chiều dài của chúng, hoặc chúng được nới
lỏng và chỉ được thắt ở đầu nút. Nếu các sợi được xếp một cách liên
kết chặt, thì chúng được dùng để chuyển hình ảnh, nhưng nếu ngẫu
nhiên bó lại thì chỉ có thể dùng để chuyển ánh sáng để thắp sáng.
Các cáp sợi quang học của nhóm này (có thể gắn với các đầu nối)
gồm một vỏ trong đó có xếp một hoặc nhiều bó sợi quang học,
những sợi này không có vỏ riêng từng sợi.
Các bó và cáp sợi quang học chủ yếu được sử dụng trong các thiết
bị quang học, nhất là trong đèn nội soi thuộc nhóm90.18.
(B) Các vật liệu phân cực dạng lá và tấm gồm tấm hoặc lá plastic
được chế tạo đặc biệt, hoặc làm bằng các tấm hoặc lá trong đó có
một lớp plastic “hoạt tính” được hỗ trợ trên một hoặc hai mặt bằng
tấm plastics khác hoặc bằng thủy tinh. Các lá hoặc tấm này được cắt
thành hình để tạo ra các bộ phận phân cực được mô tả tại Mục (6)
dưới đây.
(C) Các bộ phận quang học bằng thủy tinh, đã gia công về mặt
quang học, chưa lắp ráp vĩnh cửu. Muốn phân biệt các bộ phận
quang học bằng thủy tinh thuộc nhóm này với các bộ phận của
Chương 70, thì cần xác định xem chúng đã được gia công hay chưa
gia công về mặt quang học.
Gia công quang học bằng thủy tinh được thực hiện bởi hai giai đoạn
chủ yếu: sản xuất bề mặt cho đến khi đạt được hình dáng cần có (tức
là, với độ cong cần thiết, những góc nhị diện...), và đánh bóng bề
mặt này. Công việc này bao gồm việc làm mòn các bề mặt bằng sự
can thiệp của các chất mài thô, sau đó bằng các hạt càng ngày càng
mịn thông qua các hoạt động gia công thô, giũa, làm mịn và đánh
bóng. Cuối cùng, trong trường hợp các thấu kính phải đạt được đến
đường kính chính xác đòi hỏi bằng sự mài các cạnh, đó là thao tác
xén và gọt. Nhóm này chỉ áp dụng cho những bộ phận quang học
mà toàn bộ hoặc một phần bề mặt được đánh bóng để mang lại
những hiệu quả quang học cần có. Do vậy, nó được áp dụng cho
những bộ phận được mài và đánh bóng như đã mô tả ở trên, và cũng
áp dụng cho những bộ phận được đánh bóng sau khi đổ khuôn.
Nhóm này không áp dụng đối với những bộ phận chưa được đánh
bóng mới chỉ qua một hoặc hai công đoạn gia công trở lên trước khi
được đánh bóng. Những bộ phận như vậy thuộc Chương 70.
(D) Các bộ phận quang học bằng mọi chất liệu trừ thủy tinh, đã
hoặc chưa được gia công về mặt quang học, chưa được lắp ráp
vĩnh viễn(ví dụ, các bộ phận bằng thạch anh (trừ, thạch anh nóng
chảy), bằng fluorit, bằng plastic hoặc kim loại; các bộ phận quang
học ở dạng tinh thể cấy của ôxít magiê hay của halogenua kim loại
kiềmhoặc kim loại kiềm thổ).
Các bộ phận quang học được sản xuất theo cách trên để chúng có thể
đạt được hiệu ứng quang học cần thiết. Một bộ phận quang học không
chỉ đơn thuần cho phép ánh sáng đi qua (ánh sáng rõ nét, tia cực tím
hoặc tia hồng ngoại), mà đường đi của ánh sáng còn phải biến đổi bằng
một cách nào đó, ví dụ bằng cách bị phản chiếu, được làm mờ dần, được
lọc, bị nhiễu xạ, được chuẩn trực,…
Các bộ phận quang học được gắn một khung tạm thời chỉ có một mục
đích để bảo vệ khi chuyên chở đều được xem là chưa được lắp ráp.
Căn cứ vào việc áp dụng các tiêu chuẩn đã được xác định trên đây, liên
quan đến các bộ phận quang học bằng thủy tinh, nhóm này gồm:
(1) Lăng kính và thấu kính (bao gồm cảhỗn hợp lăng kính và thấu kính kết
hợp lại bằng xi măng kết dính), mép thô hoặc đã hoàn thiện.
(2) Tấm và đĩa có mặt phẳng hoặc phẳng song song (ví dụ, các
miếng chèn phẳng hoặc phẳng quang học để kiểm tra tính phẳng của
bề mặt).
(3) Kính đeo mắt y học. Các loại kính này có thể là mặt không cầu,
mặt cầu, mặt cầu-hình trụ, có một tiêu điểm, hai tiêu điểm hoặc
nhiều tiêu điểm. Cũng bao gồm ở đây các kính áp tròng.
(4) Gương được tạo thành bởi nhiều bộ phận quang học. Chúng
được sử dụng trong chế tạo kính viễn vọng, các thiết bị chiếu, kính
hiển vi, các dụng cụ y tế, nha khoa, hoặc phẫu thuật, và đôi khi cả
gương hậu cho xe cộ.
(5) Các bộ lọc màu (ví dụ, cho máy ảnh).
(6) Các thành phần phân cực (dùng cho kính hiển vi hoặc các dụng cụ
khoa học khác; kính râm; kính dùng để xem phim điện ảnh không
gian 3 chiều, v.v...).
(7) Các mạng nhiễu xạ, có thể gồm:
(a) Kính đã được mài nhẵn ở độ chính xác cao, trên đó đã vạch
những đường song song cách đều nhau và rất sát nhau (cỡ 100
đường trên 1 mm).
(b) Mạng “bản sao” nhiễu xạ gồm một tấm màng mỏng bằng plastic
hoặc gelatin, có giá đỡ như tấm kính. Trong màng mỏng này, các nét
của màng gốc được đơn giản tái hiện lại bằng in lên màng mỏng.
Các mạng nhiễu xạ được sử dụng theo kiểu lăng kính để nghiên cứu
quang phổ.
(8) Bộ lọc bằng giao thoa, gồm các màng cực mỏng xếp so le nhau, ví
dụ như florua magiê và bạc được đặt xen kẽ và ép giữa hai tấm kính
hoặc giữa hai lăng kính thủy tinh tạo với nhau góc 45o (làm thành
một khối lập phương). Chúng được dùng làm bộ lọc màu hoặc để
tách một chùm tia sáng thành hai thành phần.
(9) Ảnh bán sắc hoặc tấm in tương tự, thường là hình tròn hoặc
hình chữ nhật (bao gồm cả hình vuông), của thủy tinh đã được
đánh bóng kỹ (màn hình gốc cho thuật khắc ảnh chìm hoặc quá
trình khắc hình), gồm có:
(i) hai tấm kính được khắc rất tinh vi với đường nét song song đã được
làm mờ đục bằng vécni đặc biệt, những tấm này sau đó được dính
với nhau sao cho các đường nét đó vuông góc với nhau; hoặc
(ii) một tấm kính đơn trên đó đã khắc những lõm nhỏ, thường có hình
vuông, đã được khắc và được làm mờ đục bằng vécni đặc biệt.
Một trong những bộ phận quang học nêu trên (thấu kính, lăng kính,
v.v...) có thể đã được nhuộm màu hoặc phủ một màng chống phản xạ
bằng criolit, florua canxi hoặc florua magiê, v.v... Điều này không ảnh
hưởng tới việc phân loại chúng vào nhóm này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các tinh thể nuôi cấy, không hình thành các bộ phận quang học
(thường thuộc nhóm 38.24).
(b) Gương thuộc nhóm 70.09, nghĩa là gương bằng thủy tinh chưa gia
công về mặt quang học. Gương thường, phẳng hoặc cong (ví dụ,
gương cạo râu và gương hộp phấn) đều được phân loại vào nhóm
(c) Các bộ phận quang học bằng thủy tinh thuộc nhóm 70.14, nghĩa là
những bộ phận chưa gia công về mặt quang học, thường được đúc
(xem Chú giải nhóm 70.14).
(d) Thủy tinh thuộc nhóm 70.15, chưa gia công về mặt quang học (ví
dụ, phôi của kính áp tròng hoặc kính mắt y tế, kính bảo hộ, kính bảo
vệ các mặt đồng hồ dụng cụ đo, v.v...).
(e) Gương, không phải là phần cấu thành các bộ phận quang học, bằng
kim loại quý (Chương 71), hoặc bằng kim loại cơ bản (nhóm
(f) Đầu nối cho sợi quang học, bó hoặc cáp sợi quang học (nhóm
(g) Cáp sợi quang được làm từ những sợi đơn có vỏ bọc (nhóm 85.44).
90.02 - Thấu kính, lăng kính, gương và các bộ phận quang học khác,
bằng vật liệu bất kỳ, đã lắp ráp, là các bộ phận hoặc phụ kiện
để lắp ráp cho các dụng cụ hoặc thiết bị, trừ loại làm bằng
thuỷ tinh chưa được gia công quang học.
- Vật kính:
9002.11 - - Dùng cho camera, máy chiếu hoặc máy phóng to
hoặc máy thu nhỏ ảnh
9002.19 - - Loại khác
9002.20 - Kính lọc ánh sáng
9002.90 - Loại khác
Trừ thấu kính để chữa bệnh về mắt (khi đã lắp ráp tạo ra kính mắt, kính
cầm tay hoặc các mặt hàng tương tự thuộc nhóm 90.04), nhóm này bao
gồm những mặt hàng ở các Mục (B), (C) và (D) thuộc Chú giải Chi tiết
nhóm 90.01, nhưng đã lắp ráp cố định (nghĩa là đã được đóng vào một
giá đỡ hoặc khung,…), thích hợp để lắp vào thiết bị hoặc dụng cụ.
Những mặt hàng thuộc nhóm này là những mặt hàng được thiết kế chủ
yếu để gắn vào các bộ phận khác nhằm tạo ra một dụng cụ nhất định
hoặc bộ phận của một dụng cụ. Nhóm này không bao gồm bộ phận
quang học đã được tạo khung mà bản thân chúng đã hình thành các dụng
cụ riêng biệt, ví dụ, kính lúp cầm tay (nhóm 90.13), và gương dùng
trong y tế hoặc nha khoa (nhóm 90.18).
Theo những điều kiện trên, nhóm này bao gồm:
(1) Các vật kính, thấu kính bổ sung, các bộ lọc màu, các ống ngắm,
v.v... dùng cho máy ảnh hoặc máy quay phim hoặc máy chiếu.
(2) Các bộ lọc phân cực cho kính hiển vi hay các phân cực kế.
(3) Các thị kính và vật kính (kể cả kính phân cực) cho dụng cụ thiên
văn, ống nhòm hoặc kính viễn vọng khúc xạ, kính hiển vi, v.v...
(4) Các lăng kính đã lắp ráp, dùng cho thiết bị hoặc dụng cụphân tích lý
học hoặc hoá học (phân cực kế, v.v...).
(5) Các gương đã lắp ráp cho kính thiên văn, máy chiếu, kính hiển vi,
dụng cụ y tế hoặc phẫu thuật, v.v...
(6) Các bộ phận quang học (thấu kính và lăng kính) cho hải đăng hoặc
đèn hiệu, lắp trên panen hoặc khung hình trống.
(7) Các thấu kính có khung được xác định rõ ràng là phụ kiện của bàn
quang học.
(8) Các ảnh bán sắchoặc tấm in tương tự, đã lắp ráp.
Trong một dụng cụ quang học, vật kính là hệ thống thấu kính hướng về
phía đồ vật, cho hình ảnh của đồ vật này. Vật kính có thể gồm một thấu
kính nhưng thường thì gồm một tập hợp những thấu kính đặt trong cùng
một khung.
Thị kính là hệ thống quang học (đặt ở trước mắt) và qua đó, người ta có
thể quan sát một hình ảnh phóng to.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các bộ phận quang học được gắn một khung tạm thời chỉ có một
mục đích để bảo vệ khi chuyên chở (nhóm 90.01).
(b) Gương bằng thủy tinh đã được đóng khung, đã gia công quang học,
không phù hợp để lắp vào các thiết bị hoặc dụng cụ (ví dụ, một số
gương hậu, gương để xem xét ống khói, xem xét các kênh dẫn, và
gương đặc biệt để quan sát luồng gió) (nhóm 90.13).
(c) Các bộ thấu kính đựng trong hộp dùng để lắp vào gọng đặc biệt dùng
trong việc kiểm tra thị lực (được các bác sĩ nhãn khoa sử dụng)
(nhóm 90.18).
90.03 - Khung và gọng cho kính đeo, kính bảo hộ hoặc các loại
tương tự, và các bộ phận của chúng.
- Khung và gọng:
9003.11 - - Bằng plastic
9003.19 - - Bằng vật liệu khác
9003.90 – Các bộ phận
Nhóm này bao gồm khung, gọng và bộ phận của chúng dành chokính
mắt hoặc các mặt hàng khác thuộc nhóm 90.04 (xem Chú giải Chi tiết
của nhóm đó). Các mặt hàng này thường bằng kim loại cơ bản, bằng kim
loại quý, bằng kim loại dát hoặc phủ kim loại quý, bằng plastic, bằng đồi
mồi hoặc xà cừ. Chúng cũng có thể bằng da, cao su hoặc vải dệt, ví dụ
như gọng kính bảo hộ.
Bộ phận của gọng kính bao gồm các càng kính và cốt càng kính, các bản
lề hoặc khớp nối, các vành mắt kính, cầu, miếng lót mũi, các thiết bị làm
lò xo cho kính kẹp mũi, các cán của kính cầm tay, v.v...
Đinh vít, sợi xích bộ (không có thiết bị móc) và lò xo bằng kim loại cơ
bảnkhông được xem là bộ phận của gọng kính nhưng thuộc các nhóm
tương ứng của chúng (xem Chú giải 1( f) của Chương này).
Nhóm này cũng không bao gồm các gọng kính và bộ phận của gọng
kính, đôi khi cũng gọi là “kính mắt” nhưng không thuộc nhóm 90.04, ví
dụ, kính đặc biệt do các bác sĩ nhãn khoa dùng để kiểm tra thị giác
(nhóm 90.18).
90.04 - Kính đeo, kính bảo hộ và các loại tương tự, kính thuốc, kính
bảo vệ mắt hoặc loại khác.
9004.10 - Kính râm
9004.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm những sản phẩm (thường gồm một gọng kính có gắn
các thấu kính hoặc những tấm chắn bằng thủy tinh hay bằng chất liệu khác),
dùng để đặt ở phía trước của mắt, thường để hiệu chỉnh một số khuyết tật
của thị giác, hoặc để bảo vệ chống bụi bặm, khói, khí, v.v... hoặc để tránh
chói nắng; nhóm này cũng bao gồm kính để xem ảnh nổi (ba chiều).
Các kính mắt, kính kẹp mũi, kính cầm tay, kính một mắt, v.v... dùng với
mục đích hiệu chỉnh tầm nhìn, thường gồm các mắt kính đã gia công về
mặt quang học.
Các kính bảo hộ và các kính an toàn đều thường gồm những đĩa dẹt hoặc
khum, bằng thủy tinh thông thường (đã hoặc chưa gia công quang học,
hoặc nhuộm màu), bằng thủy tinh an toàn, bằng plastic (poly(methyl
methacrylate) polystyrene, v.v...), bằng mica, hoặc bằng kim loại (lưới
hoặc tấm đục rãnh). Các mặt hàng này gồm kính râm, kính sử dụng để
leo núi hoặc chơi thể thao mùa đông, kính bảo hộ cho phi công, lái xe
ôtô, xe mô tô, nhà hoá học, thợ hàn, thợ đúc, thợ đổ khuôn, thợ máy
phun cát, thợ vận hành máy móc,thợ điện, công nhân sửa đường, thợ
khai thác đá...
Nhóm này cũng bao gồm kính bảo hộ đeo dưới nước; kính có thể tháo
được (ví dụ kính râm) để lắp vào kính khác (thường là kính thuốc) và
được sử dụng như là bộ lọc bảo vệ hoặc trong một số trường hợp có vai
trò như kính thuốc bổ sung; kính phân cực được lắp thấukính bằng
plastic để xem phim ba chiều (có hoặc không có gọng bằng bìa).
BỘ PHẬN
Các gọng và khung kính, và bộ phận của chúng dành cho kính đeo
mắthoặc các sản phẩm tương tự đều được phân loại vào nhóm 90.03.
Các thị kính, bằng thủy tinh thuộc nhóm 90.01 nếu chúng đã được gia
công về mặt quang học, hoặc thuộc nhóm 70.15 khi chưa được gia công
về mặt quang học; còn đối với thị kính mà bằng các chất liệu khác với
thủy tinh thì thuộc nhóm 90.01 nếu tạo thành bộ phận quang học; nếu
không chúng được phân loại vào nhóm này../../HS toan tap moi -
word/HS 2002_VN_Chi Hường/HS toan tap/HS toan tap/V9001.HTM.
Do nhóm này chỉ bao gồm các mặt hàng kính mắt, được thiết kế để đeo mắt,
nhóm này không bao gồm những sản phẩm được thiết kế để che phủ hoặc
bảo vệ phần lớn khuôn mặt (ví dụ, các tấm chắn cầm tay của thợ hàn, các tấm
chắn và tấm che mắt cho người đi mô tô, các mặt nạ để lặn dưới nước).
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Thấu kính áp tròng, thuộc nhóm 90.01.
(b) Ống nhòm dùng trong rạp hát hoặc ống nhòm theo dõi các cuộc đua,
và các sản phẩm tương tự, được lắp với khung kính (nhóm 90.05).
(c) Kính mắt trong đồ chơi (nhóm 95.03).
(d) Các kính mắt dùng cho lễ hội hóa trang (nhóm 95.05).
90.05 -Ống nhòm loại hai mắt, ống nhòm đơn, kính viễn vọng quang
học khác, và khung giá của các loại trên; các dụng cụ thiên
văn khác và khung giá của chúng, trừ các dụng cụ dùng cho
thiên văn học vô tuyến..
9005.10 - Ống nhòm loại hai mắt
9005.80 - Dụng cụ khác
9005.90 - Bộ phận và phụ kiện (kể cả khung giá)
Nhóm này bao gồm:
(1) Ống nhòm loại hai mắt, như ống nhòm dùng trong nhà hát, ống
nhòm dùng khi đi du lịch hoặc săn bắn, ống nhòm quân sự (kể cả
kính dùng ban đêm và ống nhòm viễn vọng đặc biệt) và ống nhòm
được thiết kế ở dạng kính đeo mắt.
(2) Kính viễn vọng dùng trong săn bắn, du lịch, đi biển, ở trường bắn,
ở các nơi nghỉ dưỡng (dùng để quan sát phong cảnh hoặc bầu trời)
v.v... Chúng có thể là loại chỉ trong một khối (loại bỏ túi hoặc loại
khác) hoặc có các ống tiếp trượt theo rãnh để lấy tiêu điểm; chúng
có thể được thiết kế để đặt trên một chân đế. Một số kính viễn vọng
có thể bao gồm một thiết bị để chúng có thể sử dụng được chỉ sau
khi đã nhét vào đó một đồng tiền xu.
(3) Các kính thiên văn. Khác với kính viễn vọng phản xạ, mà vật kính
là một gương, các kính thiên văn khúc xạ dùng một hệ thống thấu
kính làm vật kính, mà một số thấu kính có thể có đường kính rộng.
Loại này không có gắn thị kính lật hình do thiết bị này làm tiêu hao
độ sáng.
Nhóm này bao gồm các kính viễn vọng khúc xạ được thiết kế hoặc
để quan sát bằng mắt, hoặc để quan sát chụp ảnh, hoặc cho cả hai
mục đích. Khi có máy ảnh là bộ phận không thể thiếu của kính thiên
văn, thì tập hợp đó được phân loại vào nhóm này; tuy nhiên, các
máy ảnh mà không là bộ phận không thể thiếu của kính thiên văn thì
phân loại vào nhóm 90.06.
(4) Kính viễn vọng phản xạ. Là những dụng cụ có mục đích chủ yếu
dùng trong thiên văn. Vật kính, bộ phận tạo nên h́ình ảnh đầu tiên,
bao gồm một gương parabol lõm, có đường kính tương đối lớn; bề
mặt phản chiếu được mạ bạc hoặc phủ nhôm.
Các kính viễn vọng phản xạ thường được thiết kế để lắp ráp vào
chân đế, thường là những chân đế có kết cấu lớn với những thiết bị
quan trọng kèm theo. Khi chúng có thêm máy ảnh làm bộ phận
không tách rời của kính viễn vọng thì tập hợp này được phân loại
vào nhóm này. Tuy nhiên, các máy ảnh mà không là bộ phận không
tách rời của kính viễn vọng thì phân loại vào nhóm 90.06.
Nhóm này bao gồm kính viễn vọng phản xạ Schmidt, còn gọi là máy
ảnh Schmidt. Nó chỉ sử dụng trong thiên văn để quan sát chụp ảnh.
Thiết bị này sử dụng một gương hình cầu và một tấm điều chỉnh đặt
song song với gương ở tâm. Hình ảnh được thu nhận ở tiêu điểm
trên một phim lồi.
(5) Các kính viễn vọng điện tử, được lắp với những bộ ống tăng bội
hình ảnh hoặc những ống biến đổi hình ảnh. Trong loại kính viễn
vọng này, năng lượng ánh sáng tới được sử dụng để giải phóng
những điện tử từ bề mặt quang điện nơi mà thị kính đã được đặt.
Các điện tử có thể, hoặc được nhân lên và đo để xác định số lượng
ánh sáng tiếp nhận ban đầu bởi kính viễn vọng, hoặc được hội tụ (ví
dụ, bởi một thấu kính từ tính) nhằm tạo hình ảnh trên tấm ảnh hoặc
trên màn huỳnh quang.
(6) Máy đo vận động, là những dụng cụ dùng để quan sát việc đi qua
biểu kiến (do sự quay vòng của quả đất) của những thiên thể bên
trên kinh tuyến của nơi quan sát. Loại máy này chủ yếu gồm có một
kính viễn vọng đặt trên một trục nằm ngang hướng từ đông sang tây
và, do đó, có khả năng chuyển động trong mặt phẳng của kinh
tuyến.
(7) Kính viễn vọng xích đạo là thuật ngữ chỉ các loại kính đặt trên
chân xích đạo cho phép kính này chuyển động quanh một trục song
song với trục của quả đất (trục địa cực) và quanh một trục khác
thẳng đứng với trục trước (trục độ lệch).
(8) Kính thiên đỉnh, là những kính lắp để quay xung quanh một trục
thẳng đứng và một trục nằm ngang.
(9) Kính phương vị hoặc vòng phương vị, là những kính quay quanh
một trục nằm ngang trong khi khung của nó lại quay quanh một trục
thẳng đứng. Các dụng cụ này được sử dụng để đo đồng thời cả độ
cao lẫn phương vị. Máy kinh vĩ được thiết kế theo cùng một nguyên
lý, nhưng cỡ nhỏ hơn, được dùng trong trắc địa bị loại trừ (nhóm
(10) Kính thiên văn, là những thiết bị để tạo thuận lợi cho quan sát thiên
văn, nhất là bằng cách phản chiếu lại một phần nhất định của bầu trời
trong một dụng cụ cố định, nằm ngang hoặc thẳng đứng (kính viễn
vọng, phổ ký mặt trời). Các kính thiên văn chủ yếu gồm hai gương
phẳng, mà một trong hai gương được điều khiển bởi sự chuyển động
của bộ máy đồng hồ và quay một vòng đầy đủ trong 48 giờ.
Các kính định vị mặt trời và các kính định tính dùng trong thiên
văn là hình thức đặc biệt của kính thiên văn. Cũng có những kính
định vị mặt trời dùng trong trắc địa bị loại trừ (nhóm 90.15).
(11) Các phổ ký mặt trời và các kính quang phổ mặt trời, là những
dụng cụ sử dụng để nghiên cứu mặt trời. Các phổ ký mặt trời dùng
để chụp ảnh mặt trời bằng cách sử dụng ánh sáng với bước sóng bất
kỳ nào của phổ. Thiết bị này gồm có một kính quang phổ mà thị
kính được thay bằng một khe chỉ để lọt qua ánh sáng của một bước
sóng nhất định, ánh sáng được ghi lại trên một phim kính chụp ảnh.
Kính quang phổ mặt trời cũng dựa trên cùng nguyên lý, nhưng nó có
một rãnh dao động nhanh cho phép nhìn trực tiếp mặt trời bằng mặt
thường; người ta cũng đạt được những kết quả tương tự bằng việc
sử dụng một lăng kính quay được bằng thủy tinh có rãnh cố định.
(12) Các nhật kế, là những dụng cụ gồm một kính viễn vọng mà vật
kính được chia đôi theo bán kính, có thể di chuyển được; dùng để đo
đường kính biểu kiến của mặt trời, cũng như khoảng cách biểu kiến
giữa hai thiên thể.
(13) Các nhật họa ký và dụng cụ tương tự, được thiết kế để có thể
quan sát ánh hào quang của mặt trời, không phải là ánh hào quang
của nhật thực toàn phần.
Nhóm này cũng bao gồm những kính viễn vọng, kính thiên văn và cụ
thể hơn là các ống nhòm, dùng tia hồng ngoại và kết hợp với các ống
chuyển đổi hình ảnh để biến đổi hình ảnh tia hồng ngoại phóng to thành
hình ảnh mắt thường có thể nhìn thấy được; các dụng cụ tia hồng ngoại
này được dùng vào ban đêm, đặc biệt được dùng cho lực lượng vũ trang.
Cũng thuộc nhóm này là các kính viễn vọng, ống nhòm và các thiết bị
tương tự sử dụng bộ khuyếch đại ánh sáng (thường được gọi là thiết bị
khuyếch đại hình ảnh) để tăng độ sáng của hình ảnh có mức độ dưới
mức nhìn được tới một mức độ có thể nhìn được.
Tuy nhiên, theo Chú giải 4 của Chương này, nhóm này không bao gồm
các kính ngắm của vũ khí, các kính tiềm vọng dùng cho tàu ngầm hoặc
xe tăng, cũng như kính viễn vọng cho máy móc, thiết bị hoặc dụng cụ
của Chương này (ví dụ,kính viễn vọng có trongmáy kinh vĩ, dụng cụ đo
cân bằng, dụng cụ trắc địa khác) hoặc của Phần XVI (nhóm 90.13).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các quy định của Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải
tổng quát), nhóm này cũng gồm các bộ phận và phụ kiện của các mặt
hàng thuộc nhóm này. Trong số này, có thể kể đến các khung, lồng, ống,
giá đỡ; các vi kế vạch dùng ở các kính xích đạo để đo đường kính các
hành tinh (các thiết bị này bao gồm một đĩa chia độ được gắn trên thị
kính của kính và khớp với hai dây cố định và một dây di động); các thiết
bị Gerrish có động cơ để làm chuyển động các thiết bị thiên văn.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các phần công trình bên trên dùng để lắp đặt dụng cụ hoặc tạo thuận
lợi để tiếp cận các dụng cụ đó (các vòm, sàn, bàn điều khiển, v.v...)
được phân loại trong các nhóm thích hợp của nó (ví dụ, trong Phần
(b) Các bộ phận quang họcnhư gương, thấu kính và lăng kính ở dạng
riêng lẻ (nhóm 90.01hoặc90.02 tuỳ trường hợp).
(c) Các kính hiển vi thiên thực, dùng trong thiên văn học để phát hiện
những ngôi sao mới bằng so sánh các tấm ảnh bầu trời (nhóm
(d) Thiết bị ngắm qua cửa (nhóm 90.13).
(e) Các dụng cụ (ví dụ kính lục phân) dùng để xác định một vị trí trên
mặt đất so với các tinh thể vũ trụ (nhóm 90.14).
(f) Các vi quang kế hoặc các vi tỷ trọng kế dùng trong nghiên cứu các
ảnh phổ (nhóm 90.27).
(g) Các đồng hồ thiên văn (Chương 91).
90.06 -Máy ảnh (trừ máy quay phim); thiết bị đèn chớp và đèn flash
máy ảnh trừ đèn phóng điện thuộc nhóm 85.39..
9006.30 -Máy ảnh được thiết kế đặc biệt để dùng dưới nước, để
thám không (aerial survey) hoặc dùng trong y tế hoặc
trong phẫu thuật nội tạng; máy ảnh đối chiếu dùng cho
ngành pháp y hoặc khoa học hình sự
9006.40 - Máy chụp lấy ảnh ngay
- Máy ảnh loại khác:
9006.53 - - Sử dụng phim cuộn khổ rộng 35 mm
9006.59 - - Loại khác
- Thiết bị đèn chớp và đèn flash máy ảnh:
9006.61 - - Thiết bị đèn flash loại dùng đèn phóng điện ("điện tử")
9006.69 - - Loại khác
- Bộ phận và phụ kiện:
9006.91 - - Sử dụng cho máy ảnh
9006.99 - - Loại khác
(I)MÁY ẢNH (TRỪ MÁY QUAY PHIM)
Nhóm này bao gồm các loại máy ảnh (trừ máy quay phim) sử dụng theo
các mục đích chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư, các máy này có thể có hay
không các bộ phận quang học (vật kính, ống ngắm, v.v...). Máy ảnh là
những máy mà trong đó sự phơi sáng củaphim được tráng nền chất hóa
học (như hợp chất halogenua bạc), tấm kẽm hoặc giấy tới hình ảnh hoặc
ánh sáng từ hệ thống quang học của máy ảnh, đã tạo ra sự thay đổi hóa
học trên phim, tấm kẽm hoặc giấy. Công đoạn tiếp theo là để tạo ra hình
ảnh có thể nhìn thấy được.
Máy ảnh có rất nhiều loại khác nhau, nhưng kiểu cổ điển gồm chủ yếu
một buồng tối, một thấu kính, một màn chập, một cửa điều sáng, một giá
đỡ tấm kẽm hoặcphim và một kính ngắm. Sự khác nhau của những đặc
tính cơ bản nàytạo nên các loại máy ảnh khác nhau, như:
(A) Máy ảnh dạng hộp; là loại đơn giản nhất.
(B) Máy ảnh có hộp xếp nếp, sử dụng trong các phòng chụp ảnh hoặc
dùng để chụp nghiệp dư.
(C) Các máy ảnh phản xạ. Đa số trong các máy này, hình ảnh mà thấu
kính tiếp nhận được phản chiếu lại từ một cái gương tới phía ống
ngắm nhờ một lăng kính đặc biệt (ống kính phản xạ đơn). Một số
máy khác (kiểu phản xạ ống kính đúp) thuộc kiểu này có thêm một
thấu kính thứ hai, từ thấu kính này, hình ảnh được phản chiếu từ
thấu kính lên một màn ở phần trên của máy.
(D) Các máy ảnh bỏ túi thường dùng phim cuộn; tuy nhiên, một số loại
dùng các đĩa.
Máy ảnh loại này cũng có thể tích hợp một hệ thống lấy tiêu cự tự động, một
động cơ kéo dùng để cuốn phim, một đèn flash cố địnhvà màn hình tinh thể
lỏng, tất cả bộ phận đó có thể được điều khiển bởi một bộ chíp vi xử lý.
Các máy thuộc nhóm này bao gồm:
(1) Các máy chụp ảnh ba chiều, có hai thấu kính giống nhau và một
cửa chập cho phép chụp đồng thời hai hình ảnh nhìn nổi.
(2) Các máy chụp ảnh toàn cảnh, dùng để chụp ảnh cảnh tầm rộng
hoặc một hàng dài đông người. Máy quay theo một tốc độ đều
quanh một trục thẳng đứng, việc phơi sáng được thực hiện qua một
khe dọc chuyển động ngang qua tấm kẽm hoặc phim.
(3) Các máy ảnh ghi. Các máy này thường không có cửa chập mà
phim di chuyển liên tục sau thấu kính. Các máy này thường dùng để
kết hợp với các thiết bị khác (ví dụ, những máy hiện sóng tia catốt)
nhằm ghi lại những hiện tượng nhất thời và cực nhanh.
(4) Các máy ảnh rửa và in ngay (loại xách tay hoặc cố định) trong
đó việc xử lý được thực hiện tự động sau phơi sáng cho phép có
ảnh trong thời gian rất ngắn. Loại máy ảnh trong tủ hộp chụp ảnh
lấy ngay được hoạt động bằng đồng xu, thẻ bài hoặc thẻ từ được
phân loại ở nhóm này và không phải thuộc nhóm 84.76.
(5) Các máy ảnh với thấu kính góc rộng bao phủ một vùng rất rộng.
Việc sử dụng những thấu kính đặc biệt, cho phép có quang cảnh của
đường chân trời. Máy ảnh với góc nhìn rộng xoay ống kính trong
khi mở màn chập để ánh sáng vào.
(6) Máy ảnh “rác”, hay còn gọi là “máy ảnh sử dụng một lần”, thường
được lắp phim trước và phim này thườngkhông thay được sau khi đã
sử dụng.
(7) Máy ảnh chuyên để ngắm. Loại máy này gồm một ống đèn xếp
linh hoạt được gắn vào mặt trước và mặt sau và những tấm này có
thể xoay trên một bệ cứng. Tấm phía trước giữ ống kính gắn chặt
vào một bảng và tấm sau đựng thiết bị đựng phim. Ống đèn xếp máy
ảnh kết nối bảng ống kính với thiết bị đựng phim và cho phép chúng
di chuyển tự do với các bộ phận khác.
(8) Các máy ảnh có hộp không thấm nước để chụp ảnh dưới nước.
(9) Các máy ảnh mở tự động (có khả năng mở màn chập tự động)
được điều khiển bởi một máy đồng hồ, cho phép chụp một loạt ảnh
trong những quãng thời gian đều nhau. Loại này bao gồm các máy
ảnh được thiết kế để chụp ảnh các vật thể một cách bí mật, do có
một tế bào quang điện đặt trong mỗi màn chập tự động, và một số
có hình dạng của đồng hồ đeo taynhỏ.
(10) Các máy ảnh chụp trên không, được thiết kế để ghi những hình
ảnh liên tiếp với quãng thời gian nhất định để có thể bao trùm một
diện tích lãnh thổ nhất định bằng những hình ảnh trùng nhau. Phần
lớn các máy này có nhiều thấu kính để chụp ảnh chiều thẳng đứng
cũng như chiều nghiêng. Nhóm này bao gồm các máy trắc lượng
chụp ảnh trên không.
(11) Các máy chụp ảnh mặt đất gồm hai máy chụp ảnh nối liền nhau
và gắn cố định vào một giá ba chân, chụp ảnh cùng một lúc. Các
máy ảnh này được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu khảo cổ học,
bảo tồn các công trình hoặc khi có tai nạn giao thông.
(12) Các máy ảnh đối chiếu dùng trong mục đích pháp y hoặc tội
phạm. Với máy ảnh này có thể chụp đồng thời hai vật thể và những
hình ảnh được so sánh (chúng được sử dụng để xác minh dấu vân
tay, kiểm tra giấy tờ giả mạo, v.v...).
(13) Các máy ảnh dùng trong y tế hoặc phẫu thuật, ví dụ máy đưa
vào dạ dày để kiểm tra và chẩn đoán.
Nhóm này không bao gồm máy quay camera được sử dụng trong
những mục đích trên (nhóm 85.25).
(14) Các máy ảnh dùng chụp hiển vi.
(15) Các máy ảnh dùng để sao tài liệu, (thư từ, biên lai, séc, hối phiếu,
phiếu đặt hàng, v.v....) bao gồm tài liệu ghi trên vi phim, vi thẻ, vi
khổ khác hoặc trên giấy phủ chất nhạy.
(16) Máy chụp laser để tạo ra hình ảnh “tấm mạch in” ẩn trên phim
nhạy, thường từ các định dạng số (thường được sử dụng để sản
xuất các tấm mạch in) bằng các tia laser. Thiết bị này bao gồm bàn
phím, một màn hình (ống tia âm cực), bộ xử lý hình ảnh quét và một
bộ tái tạo hình ảnh.
(17) Các máy ảnh dùng trong sắp chữ hoặc chuẩn bị khuôn in hoặc
trục in, bằng phương thức chụp ảnh. Những máy này có thể có kích
thước lớn và thường có cấu trúc khá khác biệt với các máy ảnh kiểu
đã được nêu ở trên. Nhóm này gồm có:
(i) Máy ảnh xử lý ngang và xử lý dọc, máy chụp hình ba màu, v.v...
(ii) Máy ảnh sao chụp các khối chữ in nổiđược sắp xếp bằng tay
hoặc bằng máy.
(iii)Máy để chọn lọc màu cơ bản trong các tranh ảnh minh hoạ (ảnh,
phim dương bản, v.v...) chủ yếu gồm một thiết bị quang học và
một máy tính điện tửđược thiết kế để tạo ra các phim âm bản đã
được chiếu và sửa qua phương thức chụp ảnh, sẽ được sử dụng
để chuẩn bị khuôn in.
(iv) Máy chụp laser để tạo ra hình ảnh ẩn trên phim nhạy, thường từ
định dạng số (ví dụ, hình ảnh phim đèn chiếu màu, được sử dụng
để tái tạo các ảnh số với các tác động liên tục về sắc tố) bằng các
tia laser. Để tái tạo hình ảnh, các màu cơ bản (như màu lục lam,
màu đỏ tươi, màu vàng) được chọn đầu tiên, ngay lúc đó,từng
màu được chuyển thành dữ liệu đã được quét bởi máy xử lý dữ
liệu tự động hoặc máy quét hình ảnh. Máy quét hình ảnh có thể
được ghép vào máy chụp laser.
Các máy để chuẩn bị khuôn in hoặc trục in dùng phương pháp sao chụp
hoặc nhiệt sao không thuộc nhóm này, mà thuộc nhóm 84.43. Các máy
thu nhỏ hay phóng to thuộc nhóm 90.08.
(II) THIẾT BỊ ĐÈN CHỚP VÀ ĐÈN FLASH MÁY ẢNH
Nhóm này bao gồm thiết bị đèn chớp và đèn flash máy ảnh sử dụng cho
mục đích chụp ảnh chuyên nghiệp hoặc không chuyên, trong các phòng
thí nghiệm nhiếp ảnh hoặc trong khắc ảnh.
Các máy móc và thiết bị tạo ra ánh chớprất sáng, trong thời gian rất ngắn
(flash) và được phân biệt với các loại máy dùng ánh sáng thường để
chụp ảnh thuộc nhóm 94.05.
Ánh chớp trong nhiếp ảnh có được nhờ các máy móc thiết bị đánh lửa
bằng điện hoặc bằng cơ, hoặc đèn phóng điện (xem Chú giải chi tiết của
nhóm 85.39).
Trong số này bao gồm:
(1) Đèn flash máy ảnh dạng rời.
Trong loại đèn này, ánh sáng được tạo ra bằng một phản ứng hoá
học mồi bởi một dòng điện. Các đèn này chỉ dùng được một lần. Nó
gồm có một bóng đèn chứa chất hoạt tính và thiết bị đốt (dây tóc
hoặc điện cực).
Những loại đèn thông dụng nhất là:
(i) Đèn có khí oxy, chứa một dây hay một dải mỏng, ví dụ bằng
nhôm, ziriconi, hợp kim nhôm - magiê hoặc hợp kim nhôm -
(ii) Đèn đổ đầy chất nhão, gồm một hoặc nhiều bột kim loại (ví dụ,
ziriconi) trộn với một tác nhân oxy hoá, gắn với mỗi điện cực.
(2) Các đèn hộp - chớp.
Các thiết bị hình lập phương này chứa 4 đèn và 4 phản chiếu. Mỗi
bóng đèn được kích hoạt mồi bằng điện, hoặc bằng cơ do sự va đập
bởi một chất gây cháy.
(3) Đèn chiếu để chụp ảnh chạy bằng pin.
Đèn này được lắp một pin điện và được trang bị một đèn hay hộp
chớp bằng điện, đèn được vận hành bởi một máy đồng bộ gắn với
cửa chập của máy ảnh.
Các máy móc thiết bị dùng đèn phóng điện có cấu trúc phức tạp hơn. Dù
là liền khối hay nhiều bộ phận, thiết bị này thường gồm:
(A) Một thiết bị phát điện, pin hoặc bộ tích điện; hoạt động theo nguyên
tắc tích điện và phóng điện của một tụ điện và thường được điều
khiển bằng một thiết bị đồng bộ gắn với cửa chập máy ảnh. Một số
loại máy ảnh có thể tạo ra sự khác nhau về cường độ và thời lượng
của chớp.
(B) Đèn phóng điện có giá đỡ và bộ phận phản chiếu.
(C) Đèn điều khiển (control lamp).
(D) Một phích điện để nối các đèn chiếu chụp ảnh.
Bộ đèn không có giá đỡ đèn và bộ phận phản chiếu nhưng có các chi tiết
để phóng điện, thiết bị phóng ánh sáng và (có thể) thiết bị phụ trợ giúp
điều chỉnh cường độ và thời lượng của chớp, thì được phân loại vào
nhóm này như là một thiết bị chưa hoàn thiện có đặc trưng cơ bản của
sản phẩm hoàn thiện.
BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các quy định của Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải
tổng quát), nhóm này còn gồm các bộ phận và phụ kiện của các máy
móc thiết bị trong nhóm. Trong số này có thể kể: thân máy ảnh, các hộp
xếp nếp, các đầu chụp quay (có khớp cầu,,,,), các cửa chập, các cửa điều
sáng, bộ phận nhả cửa chập (để chụp hình ảnh chậm lấy nét);ổ đựng
phim; nắplens, chân đứng hoặc giá đỡ đặc biệt dùng để chụp ảnh trong
pháp y, máy ảnh được lắp vào chân đứng này (thường bao gồm đèn
phóng điện và một cột được hiệu chỉnh có thể điều chỉnh được độ cao
của máy ảnh).
“Mặt khác, chân đế loại một chân (monopods), hai chân (bipods), ba
chân (tripods) và các sản phẩm tương tự không được bao gồm (nhóm
Nhóm này không áp dụng đối với các dụng cụ được gắn vào một máy
hoặc thiết bị nào cho phép chụp các ảnh, nhưng được thiết kế chủ yếu
nhằm các mục đích khác, như các kính viễn vọng, kính hiển vi, các phổ
kế, máy hoạt nghiệm. Tuy nhiên, là máy ảnh ở dạng riêng lẻ, dù đó là
một kiểu thiết kế đặc biệt để trang bị cho một dụng cụ khác (kính viễn
vọng, kính hiển vi, phổ kế, máy hoạt nghiệm, máy kinh vĩ...), vẫn được
phân loại vào nhóm này và không được xem là bộ phận hay phụ tùng
của dụng cụ đó.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Ảnh bán sắc hoặc tấm in tương tự(tuỳ theo trường hợp có thể là các
nhóm 37.05, 90.01, 90.02...).
(b) Thiết bị sao chụp hoặc sao nhiệt (nhóm 84.43).
(c) Máy ảnh kỹ thuật số (nhóm 85.25).
(d) Bộ phận đỡ/cầm máy ảnh kỹ thuật số (nhóm 85.29).
(e) Đèn điện phóng điện để gây ánh sáng chớp (nhóm 85.39).
(f) Máy phóng to hay thu nhỏ ảnh của nhóm 90.08.
(g) Máy ghi nhiễu xạ điện tử (nhóm 90.12).
(h) Máy đo xa dùng trong nhiếp ảnh (nhóm 90.15), đo độ phơi sáng
(nhóm 90.27), có thể hoặc không được thiết kế để gắn vào một máy
ảnh.
(ịj) Các máy ảnh nhiễu xạ bằng tia X (dùng cùng lúc với các máy tia X,
để xem xét các tinh thể) các máy chụp ảnh tia X (nhóm 90.22).
90.07 - Máy quay phim và máy chiếu phim, có hoặc không kèm thiết
bị ghi hoặc tái tạo âm thanh.
9007.10 - Máy quay phim
9007.20 - Máy chiếu phim
- Bộ phận và phụ kiện:
9007.91 - - Dùng cho máy quay phim
9007.92 - - Dùng cho máy chiếu phim
Nhóm này bao gồm:
(A) Các máy quay phim (kể cả máy quay dùng cho chụp hiển vi).
Cũng tương tự về mặt nguyên lý với các máy chụp ảnh thuộc nhóm
90.06, nhưng có một số đặc tính riêng cho phép ghi lại nhanh chuỗi
hình ảnh liên tiếp nhau.
(B) Các máy quay phim cho phép ghi đồng thời hình ảnh và âm thanh
trên một phim.
(C) Các máy chiếu phim điện ảnh, là những máy cố định hay xách tay
dùng để chiếu một loạt hình ảnh vận động có hay không có băng âm
thanh trên cùng một phim. Các máy này gồm một hệ thống quang
học dựa chủ yếu vào một nguồn sáng, một máy phản chiếu, một
thấu kính tụ ảnh và một thấu kính chiếu ảnh. Máy chiếu hoạt động
theo cơ chế chuyển động chữ thập Malte là cơ chế hoạt động cách
quãng kéo phim qua hệ thống quang học nói chung theo tốc độ ghi
và gạt bỏ nguồn sáng vào lúc phim đi ngang qua trước cửa sổ chiếu.
Nguồn sáng của máy chiếu ảnh thường là một đèn hồ quang nhưng
đôi khi người ta dùng một đèn nóng sáng trong một số máy. Các
máy chiếu ảnh thường được trang bị một thiết bị để cuộn lại bộ
phim và một quạt gió. Một số máy chiếu có thể được lắp kèm theo
hệ thống làm mát từ nước.
Nhóm này cũng bao gồm các máy chiếu phim đặc biệt, ví dụ, máy
chiếu những hình ảnh được phóng to với mức độ khác nhaulên
mộtbề mặt quang học phẳng, điều này cho phép nghiên cứu khoa
học các hiện tượng đã chụp được. Các “khung” hình ảnh có thể đư-
ợc xem xét riêng biệt hoặc liên tục với số lượng khác nhau các
khung hình xem được trong một giây. Mặt khác, những máy soi
cảnh "hoạt động", được thiết kế đặc biệt để hiệu chỉnh hoặc dựng
phim thì bị loại trừ (nhóm 90.10).
Các máy chiếu phim điện ảnh có thể được kết hợp với một máy
thu hoặc tái tạo âm thanh, chúng được trang bị một đầu đọc tiếng
quang điện và một thiết bị kép. Phần âm thanh trong hầu hết các bộ
phim thương mại thường được ghi ở dạng ghi kép, nghĩa là dạng
tương tự và dạng số. Phần âm thanh theo dạng tương tự được in giữa
khung và phần đục lỗ có bánh xe, trong khi đó phần âm thanh ở
dạng số thì được in trên mép của phim, bên ngoài phần đục lỗ có
bánh xe, hoặc giữa các phần đục lỗ. Một số bộ phim thương mại
thường được làm với phần âm thanh dạng tương tự và thông tin mã
thời gian dạng số chỉ ở trên mép của phim, trong khi phần âm thanh
kỹ thuật số không được in trên phim nhưng được ghi riêng trên đĩa
CD-ROM. Khi phim chạy qua đầu đọc, đầu âm thanh quang điện
đọc phần âm thanh kỹ thuật tương tự và thiết bị kép đọc âm thanh
kỹ thuật số, hoặc trong trường hợp thứ hai, thiết bị kép này đọc âm
thanh kỹ thuật số thìthông tin mã thời gian để đảm bảo sự đồng bộ
của âm thanh từ CD-ROM với hình ảnh đang được trình chiếu. Việc
in phần âm thanh theo dạng kép cho phép âm thanh được tái hiện
nếu một trong những định dạng âm thanh bị hỏng hoặc khi thiết bị
phát âm thanh không có khả năng đọc định dạng âm thanh kép.
Loại máy chiếu phim khác có thể được trang bị kèm theo hoặc một
đầu âm thanh số quang điện hoặc một đầu âm thanh từ tính tùy
thuộc vào quá trình ghi âm, hoặc với cả hai loại đầu âm thanh trên
để thay đổi khi sử dụng.
Nhóm này cũng bao gồm các máy được sử dụng trong công nghiệp điện
ảnh cũng như máy của những người nghiệp dư. Nhóm này cũng bao gồm
các loại máy quay phim đặc biệt, ví dụ các máy chuyên dụng lắp trên
máy bay (quay trên không), các máy trong hộp không thấm nước, dùng
trong các cuộc thám sát dưới biển, các máy ghi hình hoặc chiếu phim
màu, phim ba chiều (lập thể) hoặc phim "chụp quay toàn cảnh".
Các thiết bị trong điện ảnh không có bộ phận quang học kèm theo vẫn
thuộc vào nhóm này.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các quy định của Chú giải 1 và 2 của chương này (xem Chú giải
tổng quát), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận và phụ kiện của các
máy thuộc nhóm này. Trong số này có thể kể đến: các thân máy và chân
máy, các đầu chụp quay (có khớp cầu ...), các thùng để triệt âm dùng để
bao quanh các máy ghi hình với tác dụng giảm bớt tiếng động cơ (trừ
những loại làm bằng chất liệu dệt; loại này thuộc nhóm 59.11); các hộp
cho máy chiếu phim xách tay được thiết kế làm giá đỡ; các thiết bị lau
chùi phim (trừ các máy trong phòng thí nghiệm; loại này thuộc nhóm
90.10); cuộn quay phim nhiều lớp được thiết kế để phim quay đi và tua
lại từ máy chiếu điện ảnh.
Mặt khác, chân đế loại một chân (monopods), hai chân (bipods), ba chân
(tripods) và các sản phẩm tương tự không được bao gồm trong nhóm này
(nhóm 96.20)
Đối với các dụng cụ (như các kính hiển vi, các máy hoạt nghiệm ...),
được lắp để ghi hình ảnh thì cần tham khảo phần tương ứng của Chú giải
nhóm 90.06.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các máy nâng hạ(ví dụ, bệ quay phim di động (camera dolly)) trong
Chương 84.
(b) Các micro, loa và amply (bộ tăng âm điện của tần số nghe được),
ngoài các loại được gắn hoặc tạo thành 1 bộ phận không tách rờicủa
những máy thuộc nhóm này (nhóm 85.18).
(c) Các máy ghi âm hoặc tái tạo âm thanh và các máy ghi hình và tái tạo
hình ảnh và âm thanh ở vô tuyến truyền hình (nhóm 85.19 hoặc
(d) Các đầu đọc âm thanh quang điện (nhóm 85.22).
(e) Các máy quay phim vô tuyến truyền hình (nhóm 85.25).
(f) Máy chiếu video (nhóm 85.28).
(g) Máy và thiết bị dùng cho phòng điện ảnh, như thiết bị để nối hai
đoạn băng từ, bàn biên tập ….(nhóm 90.10).
(h) Các máy chiếu điện ảnh đồ chơi (nhóm 95.03).
90.08 - Máy chiếu hình ảnh, trừ máy chiếu phim; máy phóng và máy
thu nhỏ ảnh (trừ máy chiếu phim).
9008.50 - Máy chiếu hình ảnh, máy phóng và thu nhỏ ảnh
9008.90 - Bộ phận và phụ kiện
(A) Trong khi các thiết bị thuộc nhóm trước được thiết kế để chiếu các
hình ảnh động được phóng to lên màn hình thì các thiết bị thuộc
nhóm này được thiết kế để chiếu các hình ảnh tĩnh. Kiểu phổ biến
nhất là đèn chiếu để chiếu hình ảnh của một vật trong suốt
(hoặcphim chiếu dương bản). Máy này có hai thấu kính: một là thấu
kính tụ, tạo ảnh của nguồn sáng lên thấu kính thứ hai còn gọi là thấu
kính chiếu hình. Hình ảnh trong suốt đặt ở giữa hai thấu kính và đ-
ược chiếu lên màn hình bởi thấu kính chiếu hình. Ánh sáng phát ra
từ một nguồn sáng mạnh được tập trung lại bằng một bộ phận phản
chiếu. Việc chuyển phim chiếu có thể thực hiện bằng tay, bán tự
động (nhờ một nam châm điện hoặc một máy do người điều khiển)
hoặc tự động (nhờ một bộ phận hẹn giờ).
Một số máy chiếu có vùng chiếu rộng và cho phép chiếu các văn
bản đã được viết chữ hoặc đã in trên các phim dương bản trong suốt.
Đèn chiếu phản xạ là một máy chiếu hình ảnh dùng để chiếu lên
một màn ảnh hình ảnh phóng to của một vật mờ đục được chiếu rất
sáng. Một nguồn sáng được chiếu trực tiếp lên bề mặt của vật thể và
ánh sáng phản chiếu từ bề mặt đó được chiếu lên màn ảnh qua một
thấu kính.
Đèn chiếu lưỡng dụng được dùng để chiếu vừa bằng phản chiếu
những hình ảnh mờ đục vừa chiếu bằng màn ảnh trong suốt những
hình ảnh dương bản, những mặt cắt ...
Cũng thuộc nhóm này là những máy chiếu slide và các máy chiếu
hình ảnh tĩnh khácthường dùng trong các trường học, các phòng
học,...; các máy chiếu quang phổ; các máy chiếu chụp tia X; và các
máy phóng to để đọc vi phim, vi thẻ hoặc các vi bản khác, có hoặc
không được sử dụng như là một chức năng phụ để sao chụp các tài
liệu đó; và những máy chiếu dùng trong việc chuẩn bị khuôn in hoặc
trục in.
Nhóm này cũng bao gồm các máy chiếu có thêm một màn hình cỡ
nhỏ trên đó hình ảnh phóng to của slide được chiếu.
(B) Nhóm này cũng gồm các máy phóng to và thu nhỏ ảnh (trừ máy
phóng to và thu nhỏ trong làm phim). Chúng thường gồm một
nguồn sáng, một màn lọc khuyếch tán hoặc một thấu kính tụ sáng,
một giá đỡ cho âm bản, một hoặc nhiều vật kính với thiết bị hội
tụ(thường là tự động), và một cái bàn trên đó có đặt tờ giấy đã được
tăng cường độ nhạy;tất cả các bộ phận đó được lắp trên một giá nằm
ngang hoặc đứng có thể điều chỉnh được.
Loại máy phóng to và thu nhỏ ảnh được sử dụng trong quá trình
chuẩn bị khuôn in hoặc trục in trong ngành in cũng được phân loại
vào nhóm này.
Các máy được mô tả trên đây có thể có hoặc không có bộ phận quang
học vẫn thuộc nhóm này. Các bộ phận quang học được trình bày riêng lẻ
thì bị loại trừ (nhóm 90.01hoặc90.02, tuỳ trường hợp).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo quy định của Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng
quát), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận và phụ kiện của các máy
thuộc nhóm này. Trong số này, có thể kể đến các thân máy, khung và giá
đỡ máy, các khung chữa lề của máy phóng to, bộ đọc vi thẻ hoặc vi
Nhóm này không bao gồm:
(a) Màn lưới bán sắc hoặc màn in tương tự (nhóm 37.05, 90.01, 90.02,
v.v .. tuỳ trường hợp).
(b) Các máy sao chụp vi phim kết hợp với hệ thống quang học, với một
màn hình tạo hình ảnh bằng thủy tinh nhỏ (nhóm 84.43).
(c) Thiết bị dùng để chiếu các mẫu bảng mạch trên chất liệu bán dẫn có
độ nhạy sáng (“đồng chỉnh mạng che”) (nhóm 84.86).
(d) Máy chiếu, tấm chiếu, màn hình (nhóm 85.28).
(e) Các máy điện ảnh để thu nhỏ và phóng to (ví dụ, để sao chụp lên một
phim kích thước khác với phim gốc) (nhóm 90.10).
(f) Máy vi chiếu quang học phức hợp để chiếu hình ảnh (nhóm 90.11).
(g) Các máy soi dương bản có một cặp thấu kính phóng to, cho phép
kiểm tra các dương bản hình ảnh (nhóm 90.13).
(h) Máy điều chỉnh dùng trong quang trắc (“phục hồi”) (nhóm 90.15).
(ij) Các máy chiếu biên dạng (nhóm 90.31).
(k) Các đèn chiếu đồ chơi (nhóm 95.03).
90.10 -Máy và thiết bị dùng trong phòng làm ảnh (kể cả điện ảnh),
chưa được ghi hay chi tiết ở nơi nào khác thuộc Chương này;
máy xem âm bản; màn ảnh của máy chiếu.
9010.10 - Máy và thiết bị sử dụng cho việc tráng tự động phim
hoặc giấy ảnh (kể cả điện ảnh) dạng cuộn hoặc dùng
cho việc phơi sáng tự động các phim đã tráng lên các
cuộn giấy ảnh
9010.50 - Máy và thiết bị khác sử dụng trong phòng làm ảnh (kể
cả điện ảnh); máy xem âm bản
9010.60 - Màn ảnh của máy chiếu
9010.90 - Bộ phận và phụ kiện
I) MÁY VÀ THIẾT BỊ CHO CÁC PHÒNG LÀM ẢNH (KỂ CẢ
ĐIỆN ẢNH) CHƯA ĐƯỢC CHI TIẾT HAY GHI Ở NƠI KHÁC
TRONG CHƯƠNG NÀY
Nhóm này gồm có:
(A) Máy tự động rửa cuộn phim hoặc phơi (A) Máy tự động rửa
cuộn phim hoặc phơi sáng phim đã rửa lên cuộn giấy chuyên
dùng trong nghề ảnh.
(B) Các chậu tráng phim đặc biệt. Chúng có thể được làm bằng kim
loại, plastic, gốm, v.v ...; thường kết hợp theo những thiết bị như -
thanh hỗ trợ, các sọt đựng phim sau khi tráng. Một số các chậu này,
ngoài việc tráng phim, cũng được dùng để tráng, định hình và rửa
(C) Các khay chuyên dụng (bằng plastic, thép không gỉ, bằng tôn tráng
men,...) rõ ràngdùng cho các công việc nhiếp ảnh, nhưng không bao
gồm các mặt hàng cũng có thểđược dùng cho các mục đích khác (ví
dụ như dùng trong phòng thí nghiệm hay dùng trong bệnh viện).
(D) Các chậu để rửa âm bản, gồm cả các máy rửa quay.
(E) Các máy sấy, máy láng ảnh và máy sấy láng (một mặt, hai mặt,
các loại quay,...); các máy làm khô (vận hành bằng tay,...);các rulô
làm khô; các tấm bằng thép không gỉ đã đượcđánh bóng, và các tấm
mạ crôm rõ ràng được thiết kế để phù hợp với các mặt hàng này
hoặc để sử dụng riêng biệt.
(F) Các khung inkể cả khung in chân không (bằng kim loại hoặc
bằng gỗ và kim loại), dùng cho việc in tiếp xúc; các máy in, (cho
các nhà nhiếp ảnh không chuyên hoặc chuyên nghiệp,...); và các
khung chiếu sáng không có máy tráng phim, chỉ dùng để phơi sáng.
(G) Các máy móc và thiết bị cắt phim sử dụng trong các phòng nhiếp
ảnh (kể cảphòngđiện ảnh).
(H) Các khung giữ chuyên dụng để tiếp xúc lại với âm bản.
(IJ) Máy ép ráp khô sử dụng cho nhiếp ảnh.
(K) Các máy móc và thiết bị chuyên dụngsử dụng trong phòng điện
ảnh như:
(1) Máy tráng phim tự động hoặc không.
(2) Máy tách hoặc cắt phim (chẳng hạn cắt từ một cuộn phim dài
35 mm thành 2 cuộn 16mm).
(3) Máy in ảnh và các máy thu nhỏ và phóng to của điện ảnh
(các máy in quang học).
(4) Các máy hiệu ứng quang học.
(5) Các thiết bị điều khiển âm thanh để biên tập và đồng bộ hoá
các phim có âm thanh.
(6) Thiết bị ghi để sao chép lại hình ảnh trên giấy đã được phóng to
và “làm chậm” theo nền âm thanh của bộ phim để sử dụng trong
việc đồng bộ hóa và lồng tiếng.
(7) Các máy làm sạch phim; máy xử lý các phim âm bản bị mờ
trước khi in lại; máy kết hợp làm sạch và xử lý phim; máy
làm sạch các âm bản.
(8) Các máy tráng sáp, cho phép tự động phủ một lớp sáp mỏng
lên hai cạnh của mặt phim có phủ nhũ tương.
(9) Máy dán (hoạt động bằng tayhoặcbằng bàn đạp ...).
(10) Các bàn đồng bộ để dựng phim. Chúng được làm khớp với
một đầu đọc ảnh và một đầu đọc âm thanh. Chẳng hạn các thiết
bị ấy có thể được sử dụng để đồng bộ các hình ảnh với phần âm
thanh đã thu.
Các đầu đọc hình ảnh trình bày riêng biệt cũng như các thiết bị
được trang bị đầu đọc âm thanh mà được sử dụng cùng các bộ
nhìn qua khung trên các bàn đồng bộ cũng thuộc nhóm này. Tuy
nhiên, các đầu đọc tiếng được trình bày riêng bị loại trừ (nhóm
(11) Các máy đánh số các phiên bản phim bằng hình thức đục lỗ.
(12) Các bàn dựng phim để thao tác các cuộn phim được khớp
với thiết bị cuốn lại phim. Các máy cuốn lại phim chuyên
dụng sử dụng để cuốn phim âm bản (ví dụ sau khi in); các máy
đo và đếm phim để kiểm tra độ dài của các bộ phim (các máy
đếm được trình bày riêng biệt thì bị loại trừ, xem nhóm 90.29).
(13) Các thiết bị lồng phụ đề cho phim.
(14) Các bộ nhìn dùng cho việc biên tập phim điện ảnh sau khi
in. Chúng có thể được sử dụng kết hợp với một máy ghi hoặc
một máy sao lại âm thanh.
(L) Các bộ nhìn cho hình ảnh tĩnh được sử dụng để xem xét các bản
in âm bản ảnh trong các phòng nhiếp ảnh.
(M) Thiết bị chuyên dụng được dùng trong công việc sao lại (trừ các
máy sao chép thuộc nhóm 84.43), như thiết bị để in tráng giấy có độ
nhạy đặc biệt bằng phương pháp dùng hơi amoniac.
(II) MÁY XEM ÂM BẢN
Máy xem âm bản chủ yếu dùng cho việc kiểm tra các phim chụp X
quang hoặc ảnh chụp bằng vô tuyến trong y tế. Chúng có rất nhiều loại
khác nhau, từ các hộp ánh sáng treo tường cho tới các bộ nhìn tự động
phim X quang đã được nạp đầy trong ổ đựng phim.
(III) MÀN ẢNH CỦA MÁY CHIẾU
Các màn ảnh này được sử dụng trong các rạp chiếu phim, trường học,
phòng thuyết trình, v.v.... Chúng gồm có các màn ảnh chiếu ảnh ba chiều,
cũng như các màn ảnh di động được cuộn trong ống hoặc đựng trong hộp
và có thể để treo trên giá ba chân, đặt trên bàn hoặc treo lên trần nhà.
Các màn ảnh này thường được làm từ vải được phủ màu trắng, màu bạc
hoặc nạm các hạt thuỷ tinh (các hạt siêu nhỏ), hoặc làm từ các tấm
plastic mỏng; những màn vải hoặc những tấm này nhìn chung đều được
đục lỗ. Tuy nhiên, để được phân loại vào nhóm này, chúng phải được
nhận dạng một cách dễ dàng (ví dụ nhận biết qua các đường viền hoặc
các mép, các lỗ luồn dây).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các bộ
phận và phụ kiện có thể nhận biết được khi chỉ hoặc chủ yếu được sử
dụng cùng các máy móc và thiết bị của nhóm này thì cũng được phân
loại vào đây.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Thiết bị của phòng nhiếp ảnh (có cả trường quay phim) như các thiết
bị chiếu sáng, bộ gương phản xạ, đèn chiếu, bóng điện và đèn ống
các loại, thiết bị hiệu ứng âm thanh, giá đỡ micro, phông cảnh v.v...
thì thuộc các nhóm tương ứng.
(b) Màn bán sắc hoặc màn in tương tự (nhóm 37.05, 90.01, 90.02 v.v...
tuỳ trường hợp).
(c) Các loại máy cắt giấy hoặc bìa (nhóm 84.41).
(d) Thiết bị dành cho máy chiếu hoặc vẽ mẫu bảng mạch lên chất liệu
bán dẫn được phủ độ nhạy sáng (nhóm 84.86).
(e) Các bộ loa, micro và các bộ khuếch đại âm tần chạy bằng điện
trừcác loại đã trình bày còn tạo thành một bộ phận không tách rời
của bất kỳ dụng cụ nào thuộc nhóm này (nhóm 85.18).
(f) Các máy ảnh ghi tài liệu lên vi phim, vi thẻ hoặc các vi bản khác
(nhóm 90.06).
(g) Các màn hình huỳnh quang tia X và màn tăng sáng (nhóm 90.22).
(h) Các đĩa và thước đo thời gian phơi sáng (nhóm 90.17); các bộ đo
phơi sáng hoặc chỉ báo thời gian phơi sáng, các quang kế, các quang
mật độ kế, các nhiệt sắc kế (nhóm 90.27).
(ij) Các con dấu dùng tay để đánh số (nhóm 96.11).
90.11 - Kính hiển vi quang học phức hợp, kể cả loại để xem vi ảnh, vi
phim quay hay vi chiếu.
9011.10 - Kính hiển vi soi nổi
9011.20 - Kính hiển vi khác để xem vi ảnh, vi phim quay hoặc vi
chiếu
9011.80 - Các loại kính hiển vi khác
9011.90 - Bộ phận và phụ kiện
Trong khi các bộ khuyếch đại nhóm 90.13 chỉ có một bước khuyếch đại
với công suất tương đối thấp thì kính hiển vi quang học phức hợp của
nhóm này thực hiện khuyếch đại bước thứ hai để quan sát hình ảnh đã đ-
ược phóng to của một vật.
Kính hiển vi quang học phức hợp thường gồm có:
(I) Một hệ thống quang học cần có một vật kính được thiết kế để phóng
to hình ảnh của vật; và một thị kính khuếch đại hình ảnh được quan
sát. Hệ thống quang học cũng thường cho phépviệc chiếu sáng đối
tượng từ bên dưới (qua một cái gương chiếu từ ngoại cảnh hoặc một
nguồn sáng đầy đủ), và một bộ thấu kính hội tụ để chiếu trực tiếp tia
sáng từ gương lên vật thể.
(II) Một bàn soi mẫu có một hoặc hai ống mang thị kính (tuỳ theo kính
hiển vi là loại một thị kính hay hai thị kính), và một thiết bị mang vật
kính (thường là quay được).
Tất cả được cố định trên một giá đỡ (gọi là thân kính hiển vi), trên đó có
thể được gắn thêm một chân hoặc chân đế và các loại phụ tùng dùng cho
việc cân chỉnh.
Nhóm này gồm các kính hiển vi được sử dụng bởi những người không
chuyên, các giáo viên, v.v... và cả loại dùng trong công nghiệp hoặc các
phòng nghiên cứu; các kính hiển vi có hoặc không kèm theo bộ phận
quang học (thị kính, vật kính, gương, v.v...) thì vẫn thuộc nhóm này.
Nhóm này gồm kính hiển vi thông dụng; kính hiển vi phân cực; kính
hiển vi thuộc ngành luyện kim; kính hiển vi soi nổi; kính hiển vi giao
thoa và tương phản về pha; kính hiển vi phản xạ; kính hiển vi có thiết bị
vẽ; kính hiển vi chuyên dụng để kiểm tra các chân kính đồng hồ thời
gian hoặc đồng hồ cá nhân; kính hiển vi có bàn soi làm nóng hoặc lạnh.
Các kính hiển vi dùng cho mục đích chuyên dụng gồm có:
(1) Các kính soi giun sán, một loại kính hiển vi chiếu dùng để kiểm tra
thịt lợn nghi bị bệnh giun sán.
(2) Các kính hiển vi dùng để thực hiện việc đo hoặc kiểm tra trong
một số quá trình sản xuất nhất định; và gồm hoặc những loại thông
dụng, hoặc những mẫu riêng biệt có thể lắp vào máy. Trong số các
máy trên có thể kể ra: các kính hiển vi so sánh (dùng để kiểm tra sự
hoàn thiện bề mặtcủasản phẩm chính xác so với sản phẩm chuẩn);
các kính hiển vi đọc tọa độ(để định vị các bộ phận của đồng hồ đeo
tay hoặc đồng hồ thời gian); kính hiển vi của những người làm công
cụ hoặc các kính hiển vi đo đạc khác (để kiểm tra các đường ren, các
mặt cắt của các bộ phận đã gia công bằng máy, những dao phay để
cắt gọt các khớp răng...), các kính hiển vi xách tay nhỏ dùng để đặt
trực tiếp lên vật cần xem xét (những bộ phận mang dấu in các hòn bi
của máy Brinen (thử độ cứng), các con chữ in, các bản in,…);các
kính hiển vi định tâm (được làm vừa với các trục của công cụ gia
công chứ không phải vừa với công cụ, để đưa vật cần làm đến đúng
vị trí trước khi bắt đầu gia công, v.v...
Một số các dụng cụ vừa được đề cập đến trước đó (ví dụ, dụng cụ
kiểm tra mặt cắt của các bộ phận được gia công), có thể được gắn với
những thiết bị chiếu, thường ở dạng một màn hình tròn nhỏ gắn vào
phần trên của kính hiển vi.
(3) Các kính hiển vi để đo trong các phòng thí nghiệm, chẳng hạn các
kính hiển vi đo sự tách dòng trong các ảnh phổ.
(4) Kính hiển vi dùng trong phẫu thuật được các bác sỹ phẫu thuật sử
dụng khi thực hiện phẫu thuật trên một bộ phận rất nhỏ của cơ thể.
Nguồn sáng của kính này tạo ra một đường sáng độc lập từ đó tạo ra
hình ảnh 3 chiều.
Nhóm này cũngbao gồm:
(A) Các kính hiển vi dùng cho việc chụp hiển vi và các kính hiển vi
dùng để quay điện ảnh hiển vi. Ngoài việc quan sát bằng mắt, còn
có thể ghi lại bằng ảnh những hình ảnh khuếch đại của vật. Chúng có
thể bao gồm hoặc là một kính hiển vi có gắn cố định một máy ảnh
hay máy quay phim (thườngđược thiết kế chuyên dụng cho mục đích
này), hoặc là một kính hiển vi thông thường trên đó một máy ảnh
hoặc máy quay phim thông dụng có thể được gắn tạm thời theo cách
thức của một phụ tùng đơn giản.
Các máy chụp ảnh hoặc quay phim ở dạng riêng lẻ dùng để chụp ảnh
hiển vi hay để quay phim hiển vi bị loại trừ (chúng lần lượt thuộc
các nhóm 90.06 hoặc 90.07).
(B) Các kính hiển vi dùng cho việc chiếu hiển vi có độ phóng đại
phức hợp, cho phép chiếu theo chiều ngang hoặc chiều thẳng đứng
những hình ảnh phóng to bởi kính hiển vi có sẵn trong thiết bị đó.
Chúng được trang bị các kính hiển vi chuyên dụng cho phép thay đổi
nhanh tiêu điểm và được sử dụng trong giáo dục, trong các phòng
thuyết minh khoa họcvà y học, các phòng thí nghiệm về kỹ thuật,
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo quy định của Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải Tổng
quát), các bộ phận và phụ kiện có thể nhận biết được khi đứng tách biệt
hoặc được sử dụng chủ yếu cùng các kính hiển vi thì cũng được phân
loại ở đây. Chúng bao gồm:
Các khung (giá treo, chân đế,...); các ống lắp thị kính và các ống lắp vật
kính (có hoặc không có thấu kính); các bàn soi mẫu (bao gồm cả các bàn
soi làm nóng hoặc làm lạnh); các thanh dẫn mẫu; các phụ tùng quang
học cho phép vẽ phác thảo hình ảnh; các cần điều chỉnhtấm ngăn;...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các con trượt hoặc nắp mẫu, bằng thuỷ tinh (nhóm 70.17).
(b) Các "kính hiển vi" kiểu ống nhòm dùng trong nhãn khoa (nhóm
(c) Các con trượt được chuẩn bị cho nghiên cứu bằng kính hiển vi
(nhóm 90.23).
(d) Máy vi phẫu; khúc xạ kế (nhóm 90.27).
(e) Các máy chiếu biên dạng và các thiết bị khác có dụng cụ quang học
để kiểm tra các bộ phận cơ khí, không phải là kính hiển vi hoặc máy
chiếu hiển vi, ví dụ: máy so sánh quang học, các bàn đo v.v... (nhóm
90.12 - Kính hiển vi trừ kính hiển vi quang học; thiết bị nhiễu xạ.
9012.10 - Kính hiển vi trừ kính hiển vi quang học; thiết bị nhiễu
xạ
9012.90 - Bộ phận và phụ kiện
Nhóm này bao gồm:
(A) Các kính hiển vi điện tử, khác với kính hiển vi quang học ở chỗ
chúng dùng những chùm điện tử thay vì các tia sáng.
Kính hiển vi điện tử kiểu thông thường là một tập hợp của các bộ
phận, thường được chứa trong cùng một khung tạo thành một thiết
bị, liệt kê dưới đây:
(1) Một thiết bị phóng và gia tốc các điện tử (gọi là súng điện tử).
(2) Một hệ thống (là một phần trong hệ thống quang học của một
kính hiển vi thường) bao gồm các “thấu kính” tĩnh điện (các
phiến được tích điện) hoặc điện từ (các cuộn dây mang dòng
điện) hoạt động như tụ điện, vật kính và máy chiếu. Cũng luôn
có thêm một thấu kính nữa gọi là “thấu kính” trườngnằm giữa
vật kính và máy chiếu và được sử dụng để thay đổi phạm vi độ
phóng mà vẫn giữ nguyên bề rộng của trường được quét.
(3) Một bàn soi mẫu.
(4) Một thiết bị bơm chân không dùng để duy trì chân không trong
đèn điện tử; các bơm này đôi khi tự kết nối với thiết bị.
(5) Những thiết bị giúp cho việc quan sát bằng mắt trên màn huỳnh
quang và ghi lại hình ảnh.
(6) Các giá và bảng điều khiển gồm các cơ quan kiểm soát và điều
chỉnh chùm điện tử.
Nhóm này bao gồm các kính hiển vi điện tử quét trong đó một chùm
điện tử rất mịn được nhiều lần hướng trực tiếp đến những điểm khác
nhau của mẫu cần xem xét. Thông tin đạt được bằng cách đo, chẳng
hạn như các hạt điện tử đã truyền đi, các hạt điện tử thứ cấp phát ra
hoặc các tia quang học. Sau đó kết quả có thể được đưa lên màn hình
điều khiển mà có thể được đặt trong kính hiển vi.
Kính hiển vi điện tử có nhiều ứng dụng cả trong lĩnh vực khoa học
thuần tuý (nghiên cứu sinh vật họchoặc y tế, cấu tạo của chất,...),và
trong lĩnh vực kỹ thuật công nghiệp (phân tích khói, bụi, sợi dệt, chất
keo,...; khảo sát cấu trúc các kim loại, giấy ...).
(B) Các kính hiển vi Proton trong đó các điện tử được thay thế bằng
các proton có bước sóng ngắn hơn 40 lần so với các điện tử. Năng
lượng phân tách tương ứng thu được do đó cao hơn, điều này cho
phép tạo ra những hình ảnh có độ phóng đại lớn hơn nhiều.
Cấu trúc và chức năng của kính hiển vi proton khác biệt không đáng
kể so với kính hiển vi điện tử; chỉ có súng bắn điện tử được thay thế
bằng súng bắn proton và nguồn sử dụng là hydro.
(C) Các thiết bị ghi nhiễu xạ điện tử bằng cách thức hướng trực tiếp
một chùm điện tử vào một mẫu, những thiết bị này sẽ vẽ ra các biểu
đồ ghi nhiễu xạ và được chụp ảnh. Dựa vào đường kính, cường độ
và sự sắp xếp nguyên tử, người ta có thể tính toán các kích thước, sự
định hướng và cách bố trí nguyên tử của những tinh thể của những
mẫu vật đã được xem xét.
Các máy này, được sử dụng chủ yếu cho công việc nghiên cứu sự ăn
mòn, sự bôi trơn, sự xúc tác..., không khác mấy về nguyên lý so với
các kính hiển vi điện tử,và cũng bao gồm những bộ phận chủ yếu
giống như vậy (súng bắn điện tử, ống catốt, các cuộn điện từ, vật
chứa mẫu,...). Ngoài ra, cần chú ý là một số kính hiển vi điện tử nhất
định có thể được trang bị một buồng nhiễu xạ mà do đó sẽ có một
chức năng kép (xem xét bằng mắt và ghi lại một biểu đồ nhiễu xạ).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các quy định của Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải
tổng quát), các bộ phậnvà phụ kiện thích hợp chỉ sử dụng hoặc chủ yếu
sử dụng cùng các kính hiển vi, ngoại trừ kính hiển vi quang học, hay các
thiết bị ghi nhiễu xạ cũng được phân loại ở đây; ví dụ như khung và các
khoang cấu thành của chúng và bàn soi mẫu. Mặt khác, nhóm này không
bao gồm bơm chân không (nhóm 84.14), thiết bị điện (ắc quy, chỉnh l-
ưu...) (Chương 85), và các dụng cụ đo điện (vôn kế, miliampe kế, ...)
(nhóm 90.30).
90.13 - Thiết bị tạo tia laser, trừ điốt laser; các thiết bị và dụng cụ
quang học khác, chưa được nêu hay chi tiết ở nơi nào khác
trong Chương này.
9013.10 - Kính ngắm để lắp vào vũ khí; kính tiềm vọng; kính
viễn vọng được thiết kế là bộ phận của máy, thiết bị,
dụng cụ hoặc bộ dụng cụ của Chương này hoặc Phần
9013.20 - Thiết bị tạo tia laser, trừ điốt laser
9013.80 - Các bộ phận, thiết bị và dụng cụ khác
9013.90 - Bộ phận và phụ kiện
Theo Chú giải 5 của Chương này, các máy móc, thiết bị và dụng cụ
quang học để đo hoặc để kiểm tra bị loại trừ khỏi nhóm này và thuộc
nhóm 90.31.Tuy nhiên, theo Chú giải 4 của Chương, một số kính thiên
văn có tính khúc xạ nhất định thuộc nhóm này, và không thuộc nhóm
90.05. Hơn nữa, cần lưu ý rằng, những máy móc vàdụng cụ quang học
không chỉ thuộc các nhóm từ 90.01 đến 90.12, mà còn có thể thuộc các
nhóm khác của Chương này (cụ thể,nhóm 90.15, 90.18 hoặc 90.27).
Nhóm này gồm:
(1) Các thiết bị laser, là những máy tạo ra hoặc khuếch đại một bức xạ
điện từ trong dải bước sóng trong khoảng giữa 1 nanomet và một
milimet (tia cực tím, ánh sáng nhìn bằng mắt thường và các miền
hồng ngoại quang phổ), bằng quá trình phát xạ có kích thích và được
kiểm soát. Khi môi trường kích hoạt laser (ví dụ các tinh thể, khí,
chất lỏng, hoá chất) bị kích hoạt bởi ánh sáng từ một nguồn điện
hoặc bằng việc phản ứng từ một nguồn năng lượng khác, các chùm
ánh sáng sản sinh ra bên trong môi trường kích hoạt laser được phản
xạ và khuếch đại nhiều lần làm phát ra, từ một đầu mút có một phần
trong suốt, một chùm ánh sáng liên kết (thấy được hoặc không thấy
được).
Ngoài môi trường kích hoạt laser, nguồn năng lượng (hệ thống kích
thích) và các hốc quang học cộng hưởng (hệ thống phản xạ), tức là
các thành phần cơ bản được kết hợp trong đầu laser (có thể với
những giao thoa kế Fabry - Perot, những bộ lọc giao thoa và các kính
quang phổ), các thiết bị laser nhìn chung còn gồm có một số các linh
kiện phụ nhất định (ví dụ : một nguồn cung cấp điện, một thiết bị làm
lạnh, một thiết bị điều khiển, và trong trường hợp laser khí, cần một
hệ thống cung cấp khí hoặc, trong trường hợp các bộ laser lỏng, cần
một bình chứa có trang bị bơm cho các dung dịch màu). Một số linh
kiện phụ này có thể cùng được đặt trong cùng một bọc như đầu laser
(bộ laser nén) hoặc ở dạng những thiết bị riêng biệt được nối liền với
đầu laser bằng những cáp điện,... (hệ thống laser). Ở trường hợp cuối
cùng, các thiết bị được phân loại trong nhóm này miễn là chúng
được trình bày cùng với nhau.
Các thiết bị laser thuộc nhóm này không chỉ là để đưa vào các máy
móchoặc thiết bị, mà còn để sử dụng riêng rẽ, như là laser compact
hoặc các hệ thống laser sử dụng vào những mục đích khác nhau như
để nghiên cứu, giảng dạyhoặcthí nghiệm, ví dụ bút chỉ laser.
Tuy vậy, bị loại trừ khỏi nhóm này là các thiết bị laser đã được lắp
đặt để thực hiện các chức năng khá là chuyên dụng bằng cách thêm
một thiết bị phụ gồm nhiều chi tiết chuyên dụng (ví dụ,bàn cố định,
bộ phận mang vật, thiết bị cung cấp hoặc đưa vào vị trí các vật cần
gia công trên máy, thiết bị để quan sát và kiểm tra tiến độ của quá
trình hoạt động, v.v...) và do đó chúng có thể được nhận biết như
những máy gia công, dụng cụ y tế, các thiết bị điều khiển, thiết bị
đo... Những máy móc và thiết bị mà được đưa vào trong các bộ laser
cũng bị loại trừkhỏi nhóm này. Đến lúc nào đó khi mà việc phân
loại chúng chưa được xác định rõ ràng trong Danh mục, thì nên phân
loại chúng theo những máy móc hoặc thiết bị có chức năng tương tự.
Các ví dụ như:
(i) Máy dụng cụ để gia công bất kỳ vật liệu nào bằng cách dùng tia
laser để cắt bỏ vật liệu (ví dụ, kim loại, thuỷ tinh, sản phẩm gốm,
sứ hoặc plastic) (nhóm 84.56).
(ii) Máy móc và thiết bị để hàn vảy hoặc hàn hoạt động bằng laser
có hoặc không thể cắt (nhóm 85.15)
(iii) Thiết bị cân bằng mức của các ống thuỷ (căn mức) bằng chùm
laser (nhóm 90.15).
(iv) Thiết bị laser đặc dụng trong y tế (ví dụ trong các phẫu thuật về
mắt) (nhóm 90.18).
Theo các quy định của Chú giải 1 và 2 của Chương này, các bộ phận
và phụ kiện của các thiết bị laser, ví dụ ống laser, cũng thuộc nhóm
này. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồmcác đèn flash điện dùng
để bơm, như các đèn xenon, các đèn iot và các đèn thuỷ ngân (nhóm
85.39), các điot laser (nhóm 85.41) và các tinh thể laser (ví dụ các
viên hồng ngọc), gương và thấu kính cho laser (nhóm 90.01 hoặc
(2) Các kính lúp và kính phóng đại cầm tay (ví dụ, loại bỏ túi hay sử
dụng trong văn phòng), vàcác máy đếm dây (thiết bị phóng đại này
có thể được lắp hoặc kết hợp với một đèn chiếu sáng, chúng vẫnđược
phân loại vào nhóm này nếu đèn tăng cường sử dụng chức năng của
thiết bị phóng đại); các kính lúp hai mặt (thường là trên giá đỡ)
không giống với các kính hiển vi soi nổi phân loại ở nhóm 90.11,
chúng được lắp thêm những thị kính nhưng không có vật kính.
(3) “Những mắt kính gắn lên cửa” để nhìn ra bên ngoài; cũng tương tự
như các mặt hàng được cung cấp hệ thống quang học.
(4) Các kính ngắm và các bộ ngắm bằng khúc xạ hoặc phản xạ dùng
cho vũ khí ở dạng riêng lẻ; các thiết bị quang học thích hợp dùng để
lắp trên vũ khí, hoặc được thiết kế để lắp trên súng ngắn thì được
phân loại theo vũ khí, xem Chú giải 1(d) của Chương 93.
(5) Các loại kính thiên văn được thiết kế thành các bộ phận cho các
thiết bị và dụng cụ thuộc các nhóm khác trong Chương này (ví
dụ, các kính thiên văn là bộ phận của dụng cụ quan trắc) hoặc cho
các máy móc thuộc Phần XVI.
(6) Ống nội soi sợi quang học dùng trong công nghiệp. Ống nội soi
sợi quang học dùng trong y tế (đèn nội soi) bị loại trừ (nhóm 90.18)
(7) Các kính lập thể, kể cả các kính lập thể vận hành bằng tay, để nhìn
nổi theo ba chiều các bản in ảnh chụp nhiều màu dương bản, dưới dạng
một thân bằng plastic và gồm hai thấu kính cố định và một cơ cấu xoay
hoạt động bằng cần (bảo đảm việc thay đổi các cảnh xếp hàng loạt thành
các bộ trên mỗi đĩa quay có thể thay thế cho nhau được).
(8) Các kính vạn hoa,trừ các kính vạn hoa đồ chơi (Chương 95).
(9) Các kính ngắm tiềm vọng khuếch đại quang học dùng cho tầu
ngầm hoặc xe tăng chiến đấu; và các kính tiềm vọng không có
khuếch đại quang học (ví dụ kính ngắm tiềm vọng ở các chiến hào).
(10) Các gương kính, đã gia công về quang học và không phù hợp để
lắp ghép vào các thiết bị hoặc dụng cụ, (ví dụ, một số gương hậu
cố định, gương để quan sát ống khói hoặc các hệ thống thoát nước,
và các gương chuyên dụng để quan sát các bễ lò).
Các gương hậu hoặc các gương khác, chưa gia công quang học (kể
cả các gương cạo râu, dù có hoặc không có khả năng phóng to), bị
loại trừ (nhóm 70.09 hoặc 83.06).
(11) Các máy quang học để chuyển tín hiệu bằng ánh sáng, dùng để
chuyển từ khoảng cách xa những tín hiệu quang học (ví dụ, bằng mã
(12) Các máy soi phim dương bản chỉ có một thấu kính để phóng to,
cho phép xem xét các phim dương bản.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các quy định của Chú giải 1 và 2 thuộc Chương này (xem Chú giải
tổng quát), các bộ phận và phụ kiện cho các thiết bị hoặc dụng cụ trong
nhóm này thì vẫn được phân loại vào nhóm.
90.14 - La bàn xác định phương hướng; các thiết bị và dụng cụ dẫn
đường khác.
9014.10 - La bàn xác định phương hướng
9014.20 - Thiết bị và dụng cụ dẫn đường hàng không hoặc hàng
hải (trừ la bàn)
9014.80 - Thiết bị và dụng cụ khác
9014.90- Bộ phận và phụ kiện
(I) LA BÀN XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG
Nhóm này bao gồm các loại la bàn xác định phương hướng khác nhau,
từ những la bàn đơn giản dùng cho người đi bộ đường dài, đi xe đạp,
v.v... cho đến những la bàn thiết kế chuyên dụng để sử dụng trong hầm
mỏ, hàng hải,... (kể cả la bàn từ tính, la bàn con quay hồi chuyển, la bàn
hộp, la bàn xác định vị trí,...).
(II) CÁC THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ KHÁC
DÙNG ĐỂ DẪN ĐƯỜNG
Trong nhóm này gồm có:
(A) Các dụng cụ xác định vị trí các con tàu, như các kính lục phân,
dụng cụ đo độ octan, máy phương vị,...
(B) Các dụng cụ dẫn đường chuyên dụng khác dùng trong đi lại
trên sônghoặc trên biển như :
(1) Hoa tiêu tự động (hoa tiêu hồi chuyển) là những thiết bị phức
tạp điều khiển bánh lái của con tàu kết hợp với bộ đọc của các la
bàn con quay hồi chuyển.
(2) Các thiết bị đọc hướng di chuyển ghi lại chính xác phương
hướng (và bất kỳ sự thay đổi nào của hướng đi) trong suốt hành
trình của con tàu.
(3) Các thiết bị gọi là “nghiêng kế“ để đánh giá độ nghiêng của tàu
(nghiêng một bên và độ lắc của tàu).
(4) Các máy đo tốc độ, là những máy dùng để đo vận tốc của con
tàu bằng cách đo đường đi chính xác mà con tàu đã đi trong một
khoảng thời gian cho trước. Những dụng cụ này, ngày nay đều là
tự động. Một loại hoạt động theo phương cách của chân vịthoặc
chong chóng (một chong chóng được đặt trong dòng nước
chuyển động xung quang tàu và được nối với một mặt đồng hồ
trên tàu). Các loại khác hoạt động chủ yếu theo nguyên lý thay
đổi áp lực, mà bản thân áp lựclại tuỳ thuộc vào vận tốc của nước
ở lằn tàu (thường chúng có một ống Pilot làm cơ quan thu áp
lực); khoảng cách cũng như vận tốc được đọc ở trên tàu qua các
thiết bị chỉ báo.
Nhóm này cũng bao gồm các máy đo tốc độ có một công tơ ghi
lại số lần một mạch điện bị ngắt (tức là vòng đo tốc độ), do đó
chỉ ra quãng đường mà con tàu đã đi cũng nằm trong nhóm này.
(5) Các dây dò độ sâu, (dây dò bằng tay và dây dò độ sâu của biển
hoạt động bằng ròng rọc) để xác định độ sâu của nước và tính
chất của đáy biển.
(6) Các thiết bị dò âm vang, sử dụng tiếng dội vang truyền trở lại
từ đáy biển và được dò bởi một mirco rất nhạy đặt trên boong
tàu rồi được ghi lại bởi một điện kế.
(7) Các máy dò hoặc máy dò siêu âm, ví dụ kiểu máy dò định vị
bằng sóng âm hoặc thiết bị giống như vậy dùng để dò thông
thường, vẽ bản đồ đáy biển, để phát hiện các tàu ngầm hoặc xác
tàu đắm, các đàn cá,...
(C) Các thiết bị chỉ đường chuyên dụng trong hàng không, như:
(1) Các cao kế, kiểu phong vĩ biểu có chia độ cao theo quy luật
càng lên cao áp suất khí quyển càng giảm.
(2) Các chỉ báo vận tốc máy bay, hoạt động bằng các dụng cụ đo
hiệu số áp suất, đo áp lực hoặc sự hạ thấp khí áp do các luồng
không khí gây ra khi máy bay di chuyển, và dùng để chỉ vận tốc
của máy bay so với không khí xung quanh.
(3) Các biến tốc kế, chỉ tốc độ thẳng đứng của máy bay khi xuống
hoặc khi lên, bằng hình thức đo hiệu số các áp suất.
(4) Các chân trời nhân tạo hoặc các chân trời theo con quay hồi
chuyển và các chỉ báo các vòng ngoặt và các “nghiêng kế”
dựa trên quy luật con quay hồi chuyển, mà chỉ ra độ nghiêng của
máy bay so với trục nằm ngang hoặc nằm dọc (các máy thứ
nhất) và so với trục thẳng đứng (các máy thứ hai).
(5) Các Mach kế, để chỉ ra tỷ lệ giữa vận tốc của máy bay với vận
tốc cục bộ của âm thanh.Tỷ lệ đó được biểu diễn bằng đơn vị gọi
là “số Mach”.
(6) Các gia tốc kế, được dùng để xác định giới hạn tối đa (không
được vượt quá) của các lực quán tính gây ra bởi các gia tốc trong
suốt các vòng quay với tốc độ cao.
(7) Hoa tiêu tự động. Thiết bị có tính tạm thời thay thế cho phi
công để kiểm soát và làm thăng bằng trong hành trình bay của
máy bay để phù hợp với quá trình được đặt trước (về độ cao,
hướng,….). Nó cũng gồm chủ yếu là hoạt động trực tiếp hoặc
kiểm soát bằng môtơ phụ (thường là môtơ thuỷ lực để thay thế
điều khiển của phi công), và nó là thiết bị hoạt động tự động
(con quay chuyển động với tốc độ cao), là thiết bị phối hợp giữa
thiết bị ghi và hoạt động của môtơ phụ.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các quy định của Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải
tổng quát), các bộ phận và phụ kiện cho các thiết bị hoặc dụng cụ trong
nhóm này thì vẫn được phân loại vào nhóm.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Thiết bị ra đa, thiết bị dẫn đường bằng sóng vô tuyến, ví dụ, hệ thống
định vị toàn cầu (GPS), thiết bị điều khiển từ xa bằng sóng vô
tuyến(nhóm 85.26).
(b) Máy vẽ truyền và máy thu phóng tranh vẽ, sử dụng trong các khoá
học hoa tiêu hàng hải (nhóm 90.17).
(c) Thiết bị đo khí ápvà nhiệt kế (bao gồm cảnhiệt kế đổi chiều dùng
trong việc nghiên cứu dưới nước) (nhóm 90.25).
(d) Máy đo áp suất, máy đo mực nước và các thiết bị đo đạc khác thuộc
nhóm 90.26.
(e) Máy đếm vòng quay (nhóm 90.29).
(f) Thiết bị đo ampe, đo volt và các thiết bị khác để đo hoặc kiểm tra số
điện thuộc nhóm 90.30.
(g) Đồng hồ bấm giờ dùng trong hàng hải và dụng cụ bấm giờ (Chương
90.15 -Thiết bị và dụng cụ dùng để quan trắc (kể cả quan trắc ảnh),
dùng cho thủy văn học, hải dương học, thủy học, khí tượng
học hoặc địa lý học, trừ la bàn; máy đo xa.
9015.10 - Máy đo xa
9015.20 - Máy kinh vĩ và tốc kế góc (máy toàn đạc -
9015.30 - Dụng cụ đo cân bằng (levels)
9015.40 - Thiết bị và dụng cụ quan trắc ảnh
9015.80 - Thiết bị và dụng cụ khác
9015.90 - Bộ phận và phụ kiện
(I) DỤNG CỤ VÀ THIẾT BỊ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG KHOA
HỌC HÌNH THỂ ĐỊA CẦU, ĐỊA HÌNH, QUAN TRẮC HOẶC ĐO
CÂN BẰNG
Những máy móc và dụng cụ này nói chung được sử dụng trong lĩnh vực
như, trong nghiên cứu bản đồ (bản đồ địa hình hay thuỷ văn); lập bản
thiết kế; phép đo đạc tam giác; việc tính diện tích đất đai; xác định độ
cao hay thấp của địa thế trên một mặt phẳng ngang; và để tiến hành tất
cả các công việc tương tự phục vụ cho các công trình xây dựng (xây
dựng đường xá, cầu cống, đập nước, v.v...), khai thác mỏ, trong các hoạt
động quân sự,...
Nhóm này gồm:
(1) Các máy kinh vĩ quang học hayquang điện tử (có du tiêu, hiển vi,
treo, vạn năng, khai thác mỏ v.v...), máy đo tốc độ góc quang học
hay quang điện tử (máy kinh vĩ có một thước ngắm), máy dóng đ-
ường thẳng, máy kinh vĩ con quay, máy đo độ dốc la bàn và máy
đo độ dốc trắc nghiệm dùng trong trắc địa hay pháo binh, v.v....
(2) Dụng cụ đo cân bằng quang học (ống thuỷ, dụng cụ làm đông tự
động, kính thiên văn, ống chuẩn trực, laser, v.v...) thông thường được
chế tạo theo kiểu có thể đặt trên giá ba chân.
(3) Các vòng (ngắm) chuẩn (có hay không có kính thiên văn), thước ê ke
quang học và cọc tiêu chữ thập (có hay không có lăng kính) và thước
đo vạn năng (có hay không có kính thăm dò), máy đo độ dốc (có một
ống chuẩn trực hay kính thiên văn thăm dò) để xác định độ dốc và độ
nghiêng của địa hình, mặt số thuỷ lôi, thước đo độ dốc, kính phản xạ
ánh sáng mặt trời (kính định mặt trời) để đo theo phép tam giác đạc.
(4) Bàn đạc, xích đạc và các dụng cụ đo chuyên dụng sử dụng trong
đo vẽ địa hình hay kỹ thuật đo đạc (bao gồm cả đo bằng ruy băng
và con quay để đo giếng mỏ,...), cọc tiêu hoặc thước mia, đã hoặc
chưa chia độ (bằng kim loại, gỗ, v.v...), cột nhắm (tự ghi chỉ số, có
kính thiên văn, gấp được,...), các lăng kính và các cực phản xạ của
thiết bị đo khoảng cách bằng điện từ (EDM).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Thiết bị thu của hệ thống định vị toàn cầu (GPS) (nhóm 85.26).
(b) Các dụng cụ đo gồm có thước đo dây bằng thép, thước dây không
thấm nước, v.v... và những dụng cụ tương tự kiểu không chuyên
dụng để đo chiều dài (nhóm 90.17).
(c) Máy đếm vòng quay, đồng hồ đo dặm (của ô tô) và các thiết bị tương
tự (nhóm 90.29).
(d) Dụng cụ đo cân bằng (levels) (loại dùng bọt không khí v.v...) được
sử dụng trong xây dựng (chẳng hạn nivô của thợ mộc, thợ nề, thợ
máy) và dây dọi (nhóm 90.31).
(II) DỤNG CỤ VÀ THIẾT BỊ QUAN TRẮC ẢNH
Là những dụng cụ sử dụng chủ yếu cho việc vẽ địa hình, khảo cổ học,
v.v..., bản đồ, nhưng cũng có thể được sử dụng trong các lĩnh vực khác
(như nghiên cứu thuỷ triều hay những gò đất, v.v…) và cũng có thể được
sử dụng trong các lĩnh vực khác (như nghiên cứu thuỷ triều hay những
gò đất). Những bản đồ, v.v... được vẽ qua các bức ảnh chụp hoặc ảnh kỹ
thuật số từ hai điểm khác nhau với vị trí biết trước mà những ảnh này
sau đó phải được “phục hồi” (để đạt được những thông tin chính xác đến
từng chi tiết của hình dạng, kích thước và cả toạ độ của vật được chụp).
Thiết bị này chủ yếu bao gồm:
(1) Các dụng cụ "dựng lại" gồm một buồng chiếu (có một nguồn
sáng), một khay để âm bản, một vật kính và một bàn chiếu. Thiết bị
này cho phép thay đổi tỷ lệ và sửa âm bản phim của những ảnh chụp
từ trên cao mà khi chụp mắc phải những lỗi trong quá trình phối
cảnh, ... do sự thay đổi của địa hình.
(2) Các dụng cụ khôi phục (máy đo địa hình lập thể) còn gọi là máy đo
vẽ địa hình lập thể, máy chụp phẳng lập thể, “máy tự ghi”, máy đo
địa hình lập thể, máy so sánh tọa độ lập thể, … .Những máy phức
hợp này dùng để vẽ những chi tiết họa đồ và các đường vẽ ranh giới
tạo thành một bản đồ hoặc sơ đồ hoạt động này được thực liên tục và
không tính toán riêng.
(3) Đồ hình tọa độ, những loại được sử dụng cùng với các dụng cụ khôi
phục; máy này có bản đồ kèm theo, trên đó bút vẽ được điều khiển
theo máy ghi vẽ địa hình lập thể hoặc máy vẽ bản đồ lập thểtheo sự
chỉ dẫn.
(4) Các hệ thống đo phối cảnh giải tích, gồm một dụng cụ quang - cơ
học hoạt động quan trắc ảnh, và một máy tính đã cài đặt chương
trình. Hệ thống này được sử dụng để giải thích các bức ảnh được
chụp bằng kỹ thuật nhiếp ảnh hoặc kỹ thuật số.
Nhưng nhóm này không bao gồm các máy chụp ảnh từ trên không
(nhóm 90.06), và các đồ hình tọa độkhông phải để dùng cho công việc
khảo sát qua ảnh (nhóm 90.17).
(III) DỤNG CỤ THUỶ VĂN
Thuỷ văn là ngành khoa học nhằm mục đích lập các bản đồ mô tảvà
đánh dấu dòng nước, độ sâu, các mức thuỷ triều, v.v.... Do đó phần lớn
những dụng cụ sử dụng cho những mục đích như vậy đã được mô tả ở
trong các đoạn trước.
(IV) DỤNG CỤ CỦA NGÀNH HẢI DƯƠNG HỌC HAY THUỶ
VĂN HỌC
(1) Máy đo và ghi mực nước chuyên dụng, là những máy móc dùng để
ghi lại sự dao động của mức nước trên các sông hoặc hồ;chúng chủ
yếu gồm một cái phao và bộ phận ghi.
(2) Các máy đo lưu tốc thuỷ học dùng để đo tốc độ dòng chảy của
sông, kênh v.v...
(3) Các dụng cụ ghi sóng lừng hay thuỷ triều.
Tuy nhiên, những dụng cụ công nghiệp dựa trên cùng nguyên tắc hoạt
động như những dụng cụ nêu ở các đoạn (IV) (1) và (2) ở trên (ví dụ,
một số đồng hồ thuỷ chuẩn, lưu lượng kế v.v... ) bị loại trừ khỏi nhóm
này (nhóm 90.26).
(V) DỤNG CỤ KHÍ TƯỢNG HỌC
Cần lưu ý rằng nhóm này không bao gồmcác loại nhiệt kế, khí áp kế,
ẩm kế, dù có hay không ở dạng kết hợp với nhau (nhóm 90.25).
Tuy nhiên, nhóm này bao gồm:
1. Dụng cụ chỉ hướng gió, có hay không có mặt số.
(2) Phong kế, tức là các dụng cụ khí tượng học để đo tốc độ gió. Trong
đó có một loại thường cấu tạo dưới dạng một rôto quay có ba
cánhhình cốclắp trên một trục dọc, việc ghi tốc độ được thực hiện
bằng một máy đếm. Một loại dụng cụ thông dụng khác gồm có một
cái chong chóng gió được lắp trong một ống, ở đó áp lực của gió sẽ
được đo bằng hai thước tính áp suất vi sai chia theo đơn vị vận tốc.
Nhóm này cũng kể đến những phong kế mà trong đó một máy phát
sẽ tạo ra một điện áp biến thiên mà sau đó sẽ được chỉ ra trên một
vôn kế có đơn vị đo theo đơn vị vận tốc gió.
Lưu ý rằng, các loại phong kế chuyên dụng để ghi tốc độ luồng gió
trong các đường hầm dưới mỏ, các đường ống, ống khói, lò hoặc các
đường ống dẫn khí khác, cần có một quạt có cánh và một mặt số, bị
loại trừ (nhóm 90.26).
(3) Các dụng cụ đo sự bay hơi (loại Piche, cân bằng bay hơi v.v...).
(4) Đồng hồ đo ánh sáng mặt trời (các loại bằng quả cầu thuỷ tinh,
bằng giấy phủ chất nhạy v.v...)
(5) Máy trắc vân, để xác định tốc độ và hướng di chuyển của các đám
mây.
(6) Máy đo trần mây, dùng để xác định độ cao của các đám mây so với
mặt đất, bằng cách dùng kính chiếu của điểm sáng tạo thành ở chỗ
một chùm sáng mạnh chạm đám mây để tính toán tự động độ cao
bằng phép đo tam giác.
(7) Dụng cụ đo tầm nhìn xa, để đo tầm nhìn trong khí tượng hoặc khả
năng truyền ánh sáng của không khí.
(8) Các đồng hồ chỉ báo và dụng cụ đo lượng mưa, để đo lượng mưa
rơi xuống một nơi nhất định. Dụng cụ đơn giản nhất gồm một phễu
tròn có đường kính đã biết được gắn vào một bình để hứng nước mưa
và sau đó lượng mưa này sẽ được đo trong một ống chia độ.
(9) Các nhật xạ kế, dụng cụ đo năng lượng mặt trời và các trực xạ
kế, dùng để đo cường độ của các tia bức xạ mặt trời hay bức xạ toàn
cầu từ tất cả các thiên thể trên vòm trời.
Lưu ý rằng, các nhiệt kế đơn giản hay phức tạp có cùng mục đích, bị
loại trừ (nhóm 90.25).
(10) Các máy thăm dò của ngành khí tượng hàng không (máy thám
sát vô tuyến) để gắn vào trong một cái dù hoặc khí cầu thám không.
Các thiết bị như vậy thường có các dụng cụ (nhiệt kế, khí áp kế và
ẩm kế) để phục vụ cho công việc nghiên cứu trên cao, kết hợp với
một máy phát tín hiệu không dây cho phép tự động ghi lại ở mặt đất
những thông tin do các dụng cụ này cung cấp. Khi ở dạng riêng lẻ thì
các khí cầu và dù sẽ bị loại trừ (Chương 88).
(11) Các máy kinh vĩ dùng để ghi lại các vị trí liên tiếp của các khí cầu
thám trắc.
(VI) DỤNG CỤ ĐỊA VẬT LÝ HỌC
Trong mục này, nhiều máy móc và dụng cụ sử dụng trong địa-vật lý học
bị loại trừ, như các thiết bị phân tích khí đốt, bùn hoặc đất, huỳnh quang
kế và huỳnh quang nghiệm (các dụng cụ sử dụng ánh sáng cực tím để dò
tìm hoặc chỉ ra lượng lớn các chất) (nhóm 90.27); các dụng cụ đo điện
hay điện tử (ví dụ dụng cụ đo điện trở suất, đồng hồ đo phóng xạ, dụng
cụ nhiệt ngẫu) (nhóm 90.30), v.v...
Những dụng cụ sau đây thuộc nhóm này:
(1) Các địa chấn kế và máy ghi địa chấn để ghi giờ, khoảng thời gian
và cường độ chấn động ở một điểm của vỏ trái đất và các địa chấn kế
và máy ghi chấn động không những được sử dụng để ghi lại các hiện
tượng thay đổi xảy ra trong các vụ động đất mà còn được sử dụng để
thăm dò giếng dầu thô. Trong những máy móc loại sau các sóng địa
chấn do động đất hoặc do một vụ nổđược chuyển thành các xung
điện.
(2) Các dụng cụ từ tính hoặc đo trọng lực địa vật lý được sử dụng
trong việc thăm dò quặng, dầu mỏ, .... Những dụng cụ có độ nhạy
cao này bao gồm cântừ, từ kế, máy kinh vĩ từ, dụng cụ đo trọng lực,
cânxoắn...,
(3) Dụng cụ đo trọng sai từ tính điện tử (còn gọi là dụng cụ đo
proton) dùng để đo gradien (độ dốc) của từ trường trái đất.
(4) Dụng cụ quét âm thanh theo hình tròn tạo ra hình ảnh của một lỗ
khoan bằng cách đo thời gian di chuyển của âm thanh của tín hiệu
siêu âm được phát ra từ một thiết bị.
(5) Dụng cụ để đo độ dốc của lỗ khoan.
(VII) KÍNH ĐO XA
Nhóm này giới thiệu tất cả các loại kính đo xa quang học hay quang điện
tử để xác định khoảng cách giữa người quan sát đến một vật đã định ở
xa. Chúng được sử dụng trong trắc địa hoặc trong các lực lượng vũ
trang, hoặc trong nhiếp ảnh hay kỹ thuật điện ảnh, v.v....
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo quy định của Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng
quát), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận và phụ kiện của các mặt
hàng trong nhóm này, như các mũi tên chỉ đường.
Mặt khác, chân đế loại một chân (monopods), hai chân (bipods), ba chân
(tripods) và các sản phẩm tương tự mặc dù được thiết kế riêng biệt cho
các thiết bị và dụng cụ không được bao gồm trong nhóm này, (nhóm
90.16 -Cân với độ nhậy 5cg (50mg) hoặc chính xác hơn, có hoặc
không có quả cân.
Nhóm này bao gồm tất cả các loại cân, kể cả cân điện tử, miễn là độ
nhạy của chúng là 5cg hoặc chính xác hơn. Các quả cân được lắp
trong những cái cân đó thì thuộc nhóm này, còn những quả cân ở dạng
riêng lẻ, mà ngay cả nếuđược làm bằng kim loại quý, thì bị loại trừ
(nhóm 84.23).
Phần lớn cân thuộc nhóm này được chế tạo để cân trong những trường
hợp đòi hỏi rất chính xác, đều làm bằng kim loại không gỉ hay hợp kim
nhẹ, với dao cân, vòng đệm và mặt cân bằng đá mã não. Để ngăn không
khí và bụi, cân thường được để trong vỏ hoàn toàn hay đa phần bằng
thuỷ tinh hay plastic hoặc lắp đặt trong một buồng bằng thủy tinh hoặc
plastic; trong trường hợp này, cân được sử dụng bằng cơ cấu điều khiển
bố trí bên ngoài. Cân còn có thể được lắp thiết bị quang học (như kính
lúp chẳng hạn) và một thiết bị chiếu sáng nhân tạo để dễ nhìn mặt cân,
hoặc được gắn với thiết bị cân bằng (giá ba chân, vít hãm, thanh đo cân
bằng...)
Ở một số cân gọi là cân xoắn, trọng lượng cân đo được đối trọng bằng
lực xoắn của một dây kim loại.
Một số loại cân điện tử được sử dụng trong môi trường chân không
hoặc dưới áp suất được kiểm soát để ghi lại sự biến thiên trọng lượng
của vật chất, các chất được xử lý bằng một hình thức đặc biệt (nung
nóng, làm lạnh, tác động của một loại khí, xử lý trong chân không, phơi
sáng v.v...). Những biến thiên của trọng lượng được xác định bằng cách
ghi lại dòng điện đi qua cuộn (bô-bin) cân bằng từ tính.
Nhóm này bao gồm:
(1) Cân phân tích (ví dụ, cân hiển vi hoá học, cân vi tiểu, cân phân tích
không chu kỳ...) để sử dụng chủ yếu cho phân tíchhóa học định
lượng.
(2) Cân thử nghiệm, để phân tích kim loại quý.
(3) Cân đá quý, chia thành ca-ra.
(4) Cân tiểu ly của dược sỹ, cân sợi, cân mẫu (được dùng để xác định
trọng lượng qua mẫu của vải dệt, giấy, v.v...)
(5) Cân (để đo trọng lượng riêng) thuỷ tĩnh học, để xác định trọng
lượng riêng của các chất rắn hay lỏng.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo quy định tại Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng
quát), các bộ phận và phụ kiện (bao gồm cả dao cân, vòng đệm và mặt
cân bằng mã não, đã lắp ráp hay không) có thể xác định là phù hợp để
chỉ dùng hoặc chủ yếu dùngtrong các cân trong Chương này cũng được
phân loại vào nhóm này (ví dụ như đòn cân, đĩa cân, hộp cân, mặt số, bộ
phận giảm rung).
Mặt khác, chân đế loại một chân (monopods), hai chân (bipods), ba chân
(tripods) và các sản phẩm tương tự mặc dù được thiết kế riêng biệt cho
các máy của nhóm,không được bao gồm trong nhóm này, (nhóm
Cân có độ nhậy trên5cg bị loại trừ (nhóm 84.23).
90.17 -Dụng cụ vẽ, vạch mức dấu hay dụng cụ tính toán toán học (ví
dụ, máy vẽ phác, máy vẽ truyền, thước đo góc, bộ đồ vẽ,
thước logarit, bàn tính dùng đĩa); dụng cụ đo chiều dài, dùng
tay (ví dụ, thước thanh và thước dây, thước micromet, thước
cặp), chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác trong Chương
này.
9017.10 - Bảng và máy vẽ phác, tự động hoặc không tự động
9017.20 - Dụng cụ vẽ, vạch mức hay dụng cụ tính toán toán học
khác
9017.30 - Thước micromet, thước cặp và dụng cụ đo có thể điều
chỉnh được
9017.80 - Các dụng cụ khác
9017.90 - Bộ phận và phụ kiện
Nhóm này gồm các dụng cụ vẽ, vạch mức đánh dấu hay tính toán toán
học, cũng như những dụng cụ đo chiều dài để sử dụng bằng tay.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Bộ dao trổ và những dụng cụ sử dụng trong nghệ thuật họa hình
(ví dụ, cái đục, đục máng, mũi đột nhọn) (Chương 82).
(b) Máy tính bảng đồ họa và thiết bị số hóa (nhóm 84.71).
(c) Thiết bị tạo mẫu được thiết kế để sản xuất mạng chắn và dây chữ
thập từ tấm nền được phủ lớp cảm quang (như thiết bị quang học,
chùm ánh sáng điện tử, chùm ánh sáng hội tụ ion, X quang hoặc ánh
sáng laser (nhóm 84.86).
(d) Đồ hình tọa độ loại sử dụng cho mục đích quan trắc ảnh(nhóm
Có thể kể tới:
(A) Dụng cụ vẽ:
(1) Máy vẽ truyền và máy thu phóng tranh vẽ, để vẽ lại theo tỷ lệ
nhỏ hơn, lớn hơn hay tương đương của các bản đồ, sơ đồ, bản vẽ
chi tiết máy .v.v..., kể cả những dụng cụ dùng trong hàng hải để
vẽ hải trình.
(2) Máy vẽ phác, nhìn chung sử dụng nguyên tắc hệ thống hình
bình hành có hoặc không kèm theo bảng hay bàn vẽ.
Cũng thuộc nhóm này các máy vẽ phác kết hợp một máy xử lý
dữ liệu tự động hay làm việc liên kết với một máy kiểu đó.
(3) Com pa các loại để vẽ, bộ chia, các compa thu nhỏ, kẻ đường
song song, bút vẽ toán học, kẻ đường tròn chấm chấm v.v…, để
trong hộp dụng cụ (ví dụ bộ đồ vẽ) hay để riêng.
(4) Bộ ê ke các loại (bao gồm cả ê ke mẫu, ê ke kẻ nét gạch gạch và
ê ke sử dụng trên gỗ hay kim loại), êke cân chỉnh, thước chữ T
(tiêu chuẩn hay có khớp nối), thước lượn (để vẽ đường cong),
các loại thước không chia ly (dẹt, vuông, thước kẻ nét gạch gạch
kẻ đường song song, thước mẫu…)
(5) Thước đo góc, từ các kiểu thông thường có trong bộ đồ vẽ, đến
những dụng cụ phức tạp hơn, ví dụ như sử dụng trong thiết kế
chế tạo máy.
(6) Khuôn trổ, những dụng cụ kẻ vẽ chuyên dụng rất dễ nhận biết.
Những khuôn trổ không chuyên dụng khác được phân loại theo
vật liệu cấu thành của chúng.
(B) Dụng cụ vạch mức đánh dấu.
(Dụng cụ đánh dấu bao gồm việc đánh dấu các đường thiết kế, vv…,
trên bề mặt của một bộ phận được gia công, cưa, vv…).
(1) Dụng cụ vạch đường song song (của thợ gia công kim loại, thợ
mộc…) có chia độ .
(2) Mũi nhọn để vạch đường và dùi để đánh dấu.
(3) Bàn, còn gọi là “bàn khuôn”, được sử dụng làm mốc đo mặt phẳng
để vạch mức đánh dấu hoặc để kiểm tra mặt phẳng, v.v.. Thước kẻ
và ê ke dựng (bằng gang, đá…) với bề mặt phẳng thực.
(4) Thước chữ V và chữ X để đỡ các chi tiết hình ống.
Nhóm này không bao gồm dụng cụ khắc trổ dùng bằng tay có động
cơ kèm theo (nhóm 84.67).
(C) Dụng cụ tính toán toán học.
Thước logarit, bàn tính dùng đĩa, cũng như các dụng cụ tính
toán khác dựa trên nguyên tắc thước logarit hay các dụng cụ bỏ
túi có thể dùng để thực hiện các phép tính cộng hay trừ bằng cách
di chuyển thước số này bằng một mũi nhọn. Nhóm này cũng bao
bồm cả bàn tính đĩa để tính thời gian phơi sáng trong kỹ thuật chụp
ảnh, xác định bằng cách điều chỉnh theo trạng thái thời tiết, giờ, độ
mở của cửa điều sáng, tính chất của vật thể và độ nhạy của phim.
Tuy nhiên, máy tính và máy kế toán bị loại trừ (nhóm 84.70).
(D) Dụng cụ đo chiều dài để sử dụng bằng tay.
Thiết bị này có thể xác định được độ dài, nghĩa là đường thẳng, của
vật thể được đo, ví dụ vẽ một đường kẻ hoặc hình ảnh (thẳng hoặc
cong) trên vật thể. Do đó, thiết bị có thể đo kích thước như đường
kính, độ sâu, độ dầy và độ cao được chỉ ra như một đơn vị độ dài (ví
dụ milimet). Thiết bị này phải có những đặc trưng (kích cỡ, trọng
lượng …) để có thể cầm trong tay thực hiện việc đo đạc.
Những dụng cụ được thiết kế đặc biệt để chỉ lắp cố định trên giá hoặc
vật hỗ trợ khác hoặc nối với các máy móc hoặc các dụng cụ khác
bằng cáp, hệ thống ống mềm...để tiến hành đo bị loại trừ (nhóm
Trong nhóm này có thể kể tới:
(1) Vi kế (thước panme), dụng cụ có một đầu đo vi lượng, có hoặc
không có vít (loại mà không có vít kết hợp với một cơ cấu phim
và thường là điện tử). Các vi kế này được sử dụng để đo, ví dụ,
đường kính bên trong hay bên ngoài, chiều dày hay bước ren.
Phép đo có thể được đọc trên bước ren của nó, trên một bảng
chia độ hoặc trên một màn hình kỹ thuật số.
(2) Com pa trượt (có vạch, mặt số hay com pa điện tử), để đo
đường kính, độ dày, chiều sâu v.v...
(3) Dụng cụ đo, có cơ cấu điều chỉnh.
Các dụng cụ đo không có cơ cấu điều chỉnh chỉ được sử dụng để
đo kích cỡ các bộ phận hoặc để kiểm tra các góc, hình dạng,
v.v...(ví dụ, dụng cụ đo cỡ chốt, dụng cụ đo cỡ vòng), bị loại trừ
(nhóm 90.31).
(4) Máy so mẫu (loại có mặt số) để kiểm tra dung sai của các kích
thước bên trong hay bên ngoài (ví dụ, kiểm tra đường kính trong,
rà soát lỗi, v.v...). Chúng kết hợp với một thước thanh, mặt số
khuyếch đại và hệ thống truyền động (thanh giằng, khớp, cần, lò
xo, khí động, thuỷ lực, v.v...).
(5) Các thước thanh (có hay không chia độ, thẳng hoặc gấp), và
các thước dây (ví dụ: thước cuộn có lò xo, thước vải, thước
cuộn tròn) gồm có thước chuẩn, thước thanh và những thước
tương tự.
Nhóm này không bao gồm các dụng cụ đo được thiết kế đặc
biệt cho quan trắc (thước xích đo đất đai, thước đo cao trình, cột
mốc, ...) và dụng cụ đo loại con quay cho các ống thông hầm mỏ
(nhóm 90.15).
(6) Thước chia độ (thước trong học tập, v.v...) kể cả thước chữ V
có chia độ để đo đường kính các vật cong và dụng cụ đo thẳng
đứng với con trượt (crosshead) có thể di chuyển.
(7) Dụng cụ đo biểu đồ (thước đo đường cong); những dụng cụ
nhỏ, có hay không có mặt số để đo khoảng cách trên bản đồ, sơ
đồ, v.v...
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), nhóm
này cũng bao gồm các bộ phận và phụ kiện thích hợp để chỉ sử dụng
hoặc chủ yếu sử dụng cho các thiết bị, dụng cụ và máy móc đã được mô
tả phía trên,ví dụ, vi kế đo giãn nở của cái đe; giá đỡ cho dụng cụ đo trư-
ợt; giá đỡ vi kế; bản lề hoặc vật nối cho thước gấp.
90.18 - Thiết bị và dụng cụ dùng cho ngành y, phẫu thuật, nha khoa
hoặc thú y, kể cả thiết bị ghi biểu đồ nhấp nháy, thiết bị điện
y học khác và thiết bị kiểm tra thị lực(+).
- Thiết bị điện chẩn đoán (kể cả thiết bị kiểm tra thăm
dò chức năng hoặc kiểm tra thông số sinh lý):
9018.11 - - Thiết bị điện tim
9018.12 - - Thiết bị siêu âm
9018.13 - - Thiết bị chụp cộng hưởng từ
9018.14 - - Thiết bị ghi biểu đồ nhấp nháy
9018.19 - - Loại khác
9018.20 - Thiết bị tia cực tím hay tia hồng ngoại
- Bơm tiêm, kim tiêm, ống thông, ống dẫn lưu và loại
tương tự:
9018.31 - - Bơm tiêm, có hoặc không có kim tiêm
9018.32 - - Kim tiêm bằng kim loại và kim khâu vết thương
9018.39 - - Loại khác
- Các thiết bị và dụng cụ khác, dùng trong nha khoa:
9018.41 - - Khoan dùng trong nha khoa, có hoặc không gắn
liền cùng một giá đỡ với thiết bị nha khoa khác
9018.49 - - Loại khác
9018.50 - Thiết bị và dụng cụ nhãn khoa khác
9018.90 - Thiết bị và dụng cụ khác
Nhóm này bao gồm một tập hợp rất rộng những dụng cụ và thiết bị mà
hầu như trong mọi trường hợp, chỉ dành để sử dụng cho công việc
chuyên môn (ví dụ, sử dụng bởi các thầy thuốc, nhà phẫu thuật, nha sĩ,
bác sĩ thú y, nữ hộ sinh), dù đó là việc chẩn đoán, phòng ngừa hay điều
trị một chứng bệnh hoặc để mổ, v.v.... Nhóm này cũng bao gồm cả
những dụng cụ và máy móc sử dụng cho công việc giải phẫu hay phẫu
tích, mổ tử thi, v.v..., và trong một số điều kiện nhất định, bao gồm cả
những dụng cụ và máy móc cho các phòng thí nghiệm nha khoa (xem
Phần (II) bên dưới). Thiết bị thuộc nhóm này có thể làm từ bất cứ
nguyên vật liệu nào (kể cả kim loại quý).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Chỉ catgut và những sản phẩm vô trùng khác để khâu vết mổ, tảo
nong và nút tảo nong vô trùng (nhóm 30.06).
(b) Chất thử chẩn đoán hoặc chất thử thí nghiệm thuộc nhóm 38.22
(c) Các sản phẩm vệ sinh hoặc y tế thuộc nhóm 40.14.
(d) Đồ thủy tinh dùng cho phòng thí nghiệm, cho vệ sinh hoặc dược
phẩm thuộc nhóm 70.17.
(e) Các dụng cụ vệ sinh bằng kim loại cơ bản (cụ thể là các nhóm 73.24,
74.18, và 76.15).
(f) Các dụng cụ và bộ dụng cụ sửa móng tay hay móng chân (nhóm
(g) Các loại xe dành cho người tàn tật (nhóm 87.13)
(h) Kính đeo, kính bảo hộ và các loại tương tự, kính hiệu chỉnh, kính bảo
vệ mắt hoặc loại khác (nhóm 90.04).
(ij) Máy ảnh (nhóm 90.06) trừ khi được gắn liền với thiết bị hoặc dụng
cụ thuộc nhóm này.
(k) Kính hiển vi, v.v... thuộc nhóm 90.11 hay 90.12.
(l) Bàn tính đĩa dùng để đo lường chức năng phổi, chỉ số cơ thể, …
thuộc nhóm 90.17.
(m) Các dụng cụ trị liệu bằng vận động, trị liệu bằng oxy, ôzôn, hô hấp
nhân tạo, trị liệu bằng xông khí, thiết bị xoa bóp,... thuộc nhóm
(n) Các dụng cụ chỉnh hình, lắp bộ phận giả hay chỉnh lại những chỗ
giập, gẫy cho người, kể cả cho súc vật (nhóm 90.21).
(o) Các máy chụp X quang,… (có hoặc không phục vụ trong y học)
thuộc nhóm 90.22.
(p) Nhiệt kế trong y tế (nhóm 90.25).
(q) Các dụng cụ và máy móc sử dụng trong phòng xét nghiệm máu, dịch
tế bào, nước tiểu, v.v... dù các cuộc kiểm tra đó là để chẩn đoán bệnh
hay không chẩn đoán bệnh (thường thuộc nhóm 90.27).
(r) Đồ nội thất trong ngành yhoặc giải phẫu, kể cả thú y (bàn mổ, bàn
khám, giường bệnh), ghế nha khoa không gắn với các dụng cụ nha
khoa trong nhóm này,... (nhóm 94.02).
Mặt khác, nhóm này gồm có các dụng cụ đo rất chuyên dụng được dùng
riêng cho công việc chuyên môn như thước đo đầu, compa đo mức độ
tổn thương não, thước đo khung chậu của khoa sản, v.v..
Ngoài ra, cần lưu ý rằng rất nhiều các công cụ được dùng trong y tế hoặc
phẫu thuật (cho người cũng nhưthú ý) thực tế chỉ là những dụng cụ (như búa,
chuỳ, cưa, dao, đục, kẹp, kìm, cái đè lưỡi,...) hay đồ khâu (kéo, dao, kẹp,...).
Những đồ dùng này được phân loại vào nhóm này chỉ khi chúng có thể được
nhận biết rõ ràng là để sử dụng cho ngành y hay phẫu thuật, do hình dạng đặc
biệt của chúng, do dễ tháo lắp để khử trùng, phải kỹ lưỡng hơn trong chế tạo,
tính chất của kim loại sử dụng, hoặc do luôn luôn được tập hợp thành bộ
dụng cụ (thường là được bọc kín trong hộp với đầy đủ dụng cụ cho một công
việc nhất định: hộp dụng cụ hộ sinh, mổ tử thi, phụ khoa, phẫu thuật mắt hay
tai, hộp dụng cụ đỡ đẻ cho súc vật,...).
Những dụng cụ và thiết bị được phân loại ở nhóm này có thể được trang
bị cả thiết bị quang học; chúng có thể sử dụng điện hoặc như vai trò
động lực hay truyền động hoặc như tác nhân có tác dụng trong việc
phòng ngừa, điều trị hay để chẩn đoán.
Nhóm này cũng bao gồm những dụng cụ và thiết bị sử dụng tia laser hay
tia sáng kháchoặc chùm photonvàcác máy móc và dụng cụ siêu âm.
(I) DỤNG CỤ VÀ MÁY MÓC SỬ DỤNG TRONG NGÀNH Y HAY
PHẪU THUẬT CHO NGƯỜI
Nhóm này gồm:
(A) Những dụng cụ có thể được sử dụng dưới cùng tên gọi cho một
số mục đích, ví dụ:
(1) Kim (sử dụng cho khâu vết mổ, nối vết thương, tiêm chủng,
lấy máu, tiêm dưới da, v.v...).
(2) Lưỡi (mũi) trích (để tiêm chủng, trích máu, v.v...).
(3) Dùi chọc (để chích hút)(lấy mật, nhiều mục đích, v.v...).
Dao mổ và dao phẫu thuật các loại.
(5) Ống (dây) thông (tuyến tiền liệt, bọng đái, niệu đạo...).
(6) Banh (soi mũi, miệng, thanh quản, âm đạo, trực tràng, v.v…).
(7) Gương và gương phản xạ (để khám mắt, thanh quản, tai,
(8) Kéo, kẹp, kìm nhổ răng, dao cắt đục máng, chuỳ, búa, cưa,
dao, thìa nạo, dao phết.
(9) Ống thông dò, ống thông đường tiểu, ống hút v.v….
(10) Mũi đốt (dao đốt nhiệt, mũi đốt điện, mũi vi đốt, v.v…).
(11) Nhíp, các túi đựng bông, băng, gạc, nút gạc cao su, kim
khâu(bao gồm cả túi đựng kim radium).
(12) Banh miệng vết mổ (môi, hàm, bụng, amiđan, gan, v.v…).
(13) Panh – xơ (thanh quản, niệu đạo, thực quản, tử cung, v.v…).
(14) Rãnh dẫn dây được sử dụng cho các vị trí của ống thông, kim
tiêm, nong mô, nội soi và các máy khoan có những lưỡi dao
nhỏ ở đầu để cạo sạch màng xơ vữa ra khỏi mạch máu.
(15) Cặp mép (để khâu, v.v…)
(16) Các loại bơm tiêm (thuỷ tinh, kim loại, hỗn hợp thuỷ tinh và
kim loại, nhựa, v.v...),ví dụ để tiêm, chọc hút, gây mê, rửa vết
thương, hút (có hay không có bơm), mắt, tai, thanh quản, tử
cung, phụ khoa, v.v...
(17) Ghim bấm dùng trong phẫu thuật để đóng kín vết mổ.
(B) Thiết bị và dụng cụ chuyên dụng để chẩn đoán
Bao gồm:
(1) Ống nghe.
(2) Dụng cụ đo tỷ lệ trao đổi hô hấp (để xác định sự chuyển hoá
cơ sở).
(3) Máy đo áp lực động mạch, huyết áp kế và dao động kế (để
đo huyết áp).
(4) Phế dung kế (để xác định dung lượng của phổi).
(5) Thước đo đầu.
(6) Thước đo khung chậu.
(C) Dụng cụ nhãn khoa, có thể có nhiều loại:
(1) Dụng cụ phẫu thuật như khoan trephine cho giác mạc, dụng
cụ mổ giác mạc.
(2) Dụng cụ chẩn đoán như kính soi đáy mắt; kính lúp hai mắt có
vòng giữ quanh đầu và kính hiển vi hai mắt, gồm một kính hiển
vi, một đèn điện có khe và một cái tựa đầu, tất cả đặt trên một
giá điều chỉnh được, để khám mắt; nhãn áp kế (để đo áp lực máu
trong nhãn cầu); banh mắt.
(3) Các dụng cụ thử mắt, bao gồm cả máy đo thị lực, máy soi
màng lưới, máy soi bóng con ngươi, máy đo độ lác, máy đo giác
mạc, kính soi mành sừng, hộp mắt kính các loại để lắp vào các
gọng chuyên dụng để kiểm tra khoảng cách giữa các đồng tử,
gọng để lắp các mắt kính này, thước đo thị lực, bảng kiểm tra thị
lực. Tuy nhiên, các thước tỷ lệ và bảng thị lực, để nhận biết mầu
sắc, in trên giấy, bìa hay plasticbị loại trừ (Chương 49).
Nhóm này cũng bao gồm các loại gạc sấy điện cho mắt cũng như
nam châm điện để lấy các dị vật kim loại ra khỏi mắt.
(D) Dụng cụ khoa tai,ví dụ dụng cụ soi tai. Tuy nhiên, các máy âm
thoa, có hoặc không dùng trong y tếbị loại trừ (nhóm 92.09).
(E) Thiết bị và dụng cụ gây mê (mặt nạ, thiết bị giữ mặt nạ, ống nội
thôngkhí quản, v.v...)
(F) Dụng cụ khám chữa mũi, thanh quản hay cắt amiđan: cặp phẫu
thuật (để nâng thẳng vách ngăn mũi), máy soi (để kiểm tra xoang và
hố mũi), dao cắt amiđan; máy soi thanh quản trực tiếp, panh-xô
thanh quản, v.v...
(G) Những dụng cụ dùng cho yết hầu, thực quản, dạ dày hay phẫu
thuật mở khí quản như: máy soi thực quản, máy soi cuống phổi,
bơm dạ dày (để rửa dạ dày), ống luồn vào khí quản, v.v....
(H) Những dụng cụ cho đường tiết niệu hay bọng đái: dao rạch bọng
đái, dụng cụ nghiền sỏi thận, máy hút sỏi trong bọng đái, dụng cụ
cắt tuyến tiền liệt, v.v...
(IJ) Thiết bị (thẩm tách) cho thận nhân tạo.
(K) Dụng cụ phụ khoa hay sản phụ khoa: dụng cụ mở tử cung; dụng
cụcắt bỏ tử cung; ống nghe khoa sản, dụng cụ quang học chuyên
dụng để khám bộ phận sinh dục; cái cặp thai; máy khoan; dao cắt
thai (để giải phẫu bào thai); cái kẹp đầu và kẹp đáy sọ (dụng cụ để
làm nát đầu thai nhi chết trong tử cung); dụng cụ đo nội tạng, v.v.
(L) Dụng cụ xách tay chữa chứng tràn khí ngực, dụng cụ truyền
máu toàn phần, các thành phần của máu và các dẫn xuất máu,
con đỉa nhân tạo.
Thuộc nhóm này còn có những vật đựng bằng plastic vô trùng được
gắn kín, đã rút hết không khí ra nhưng còn chứa một lượng nhỏ chất
chống đông, có một ống lấy máu cùng với kim chích máu, để sử
dụng cho việc lấy máu, bảo quản và tiếp máu. Tuy nhiên, các chai
thuỷ tinh chuyên dùng để bảo quản máu bị loại trừ(nhóm 70.10).
(M) Máy phay điện để chữa bệnh da chân.
(N) Kim châm cứubằng vàng, bạc, thép.
(O) Đèn soi trong: đèn soi dạ dày, đèn soi ngực, đèn soi cổ tử cung,
kính soi phế quản, ống soi bọng đái, kính soi ống đái,kính soi đáy
mắt, dụng cụ soi tim, nội soi đại tràng, ống soi thận, ống soi thanh
quảnv.v... Nhiều loại trong số này có một ống đủ lớn để thực hiện
phẫu thuật bằng thiết bị điều khiển từ xa. Tuy nhiên, các loại đèn
nội soi không sử dụng trong y tế bị loại trừ (nhóm 90.13).
(P) Dụng cụ gắn vào một máy tự động xử lý thông tin và được thiết
kế chỉ để tính toán liều lượng và phân bố bức xạ để chữa bệnh.
(Q) Khoang có áp suất cao hơn áp suất không khí (thường được biết
đến là khoang giảm áp) được gắn chuyên dụng với bình chịu áp để
kiểm soát oxy ở mức độ áp suất không khí được bốc hơi. Thiết bị
này được sử dụng để điều trị trong trường hợp bệnh giảm áp, bệnh
tắc mạch, bệnh hoại thư sinh hơi, nhiễm độc khí CO, viêm tủy
xương khó chữa, ghép và cấy da, bệnh do khuẩn tia và bệnh thiếu
máu nghiêm trọng.
(R) Đèn được thiết kế đặc biệt để chẩn đoán bệnh, lấy mẫu thử, chiếu
xạ,... Đèn chiếu có dạng bút bị loại trừ (nhóm 85.13) và đèn mà
không xác định được rõ ràng dùng trong y tế hoặc phẫu thuật (nhóm
(II) THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ NHA KHOA
Ngoài những dụng cụ thông thường thuộc phần này và phần trước (như
các khẩu trang và các dụng cụ gây tê cho răng khác), những dụng cụ và
thiết bị chủ yếu có trong phần này là:
(1) Găng tay của các bác sĩ phẫu thuật (nối với nhau hay không) và
cái banh miệng;banh má hay môi, đè lưỡi, kẹp kéo lưỡi.
(2) Kìm nhổ răng các loại, các cơ nâng, kẹp các loại (để lấy răng đã
nhổ, kẹp chỉnh thẳng răng giả đã trồng, v.v...), các dụng cụ
cắt
(để phẫu tích, đắp thuốc, để giũa và khoét, v.v...), kìm có chân.
(3) Dụng cụ sử dụng cho dây thần kinh (que thăm, kim nạo ống tủy,
cây dũa, cây nhồi chất chám, cây chám, v.v...)
(4) Kéo và giũa xương; đục và chuỳ để cắt hàm hoặc xoang hàm;
thìa nạo; dao mổ, các loại dao và kéo chuyên dụng; các loại kìm
chuyên dùng cho nha sĩ; các dụng cụ để đào và thông răng.
(5) Các dụng cụ chuyên dụng để cọ rửa lợi hay ổ răng; dụng cụ
nạo cao răng, dụng cụ nạo và nạy men răng.
(6) Các loại ống thông dò; kim (chích ap-xe, tiêm dưới da, khâu,
đặt bông, v.v...); khay đựng bông và nút gạc; quả bơm hơi;
gương nha khoa.
(7) Dụng cụ hàn răng vàng (dụng cụ trám răng, đục răng, v.v...);
những dụng cụ để hàn (dao phết xi-măng hay dao hàn xi măng,
dụng cụ trám và đục, khay trộn, v.v...); khay ấn dấu.
(8) Đĩa, mài, khoan và bàn chải cho nha khoa được thiết kế
chuyên dụng cho sử dụng cùng với một động cơ khoan răng hoặc
khoan bằng tay.
Nhóm này cũng bao gồm những dụng cụ sử dụng trong các xưởng làm
răng giả do chính nha sĩ hay thợ cơ khí nha khoa làm như: dao, dao phết
và những dụng cụ để nặn, đắp, các loại kẹp (để đặt móc, chụp răng, cắt
trụ răng, v.v...); cưa, kéo, chuỳ, giũa, dao cắt, các dụng cụ để nạo, đánh
bóng, cốt bằng kim loại để gia công, chụp răng bằng kim loại, v.v....
Nhóm này cũng gồm máy tạo khuôn nha khoa, máy khoan nha khoa và
máy gọt giũa dùng để gọt giũa mẫu răng. Tuy nhiên, nhóm này không
bao gồm dụng cụ hoặc đồ dùng thông thường khác (lò, khuôn, dụng cụ
hàn, nồi nấu chảy, v.v...); những dụng cụ này thì được phân loại lần lượt
theo nhóm riêng của chúng.
Cũng thuộc nhóm này còn có:
(i) Các động cơ khoan răng có tay quay đặt trên một chân đế riêng để
treo trên tường, hoặc để lắp vào thiết bị được mô tả ở điểm (ii) bên
dưới.
(ii) Thiết bị chữa răng hoàn chỉnh trên bệ (trên bệ cố định hay có
bánh xe di chuyển). Các đặc trưng thông thường gồm một giá
chung, trên có lắp một máy nén, một biến áp, một bảng điều khiển
và các thiết bị điện khác; trên đó có thể lắp các thiết bị sau: máy
khoan tay quay, ống nhổ, máy sấy điện, máy thổi khí nóng, máy
phun, mũi đốt, khay để dụng cụ, ống phun ánh sáng khuyếch tán,
dụng cụ chiếu sáng không có bóng, quạt, thiết bị thấu nhiệt, máy
chụp X quang, v.v...
Một số trong những thiết bị này để chữa răng không phải bằng
phương pháp khoan mà bằng cách phun các chất có tác dụng mài
mòn (thường là ô xít nhôm) nhờ khí nén (như CO2).
(iii) Ống nhổ trên bệ, giá đỡ hoặc ống nhổ cầm tay lưu động,
thường kết hợp với một bộ phận cung cấp nước ấm và một xi lanh
nước ấm.
(iv) Thiết bị polimer hóa (ánh sáng hoặc hơi nóng), máy hỗn hống,
máy siêu âm, thiết bị phẫu thuật điện v.v…
(v) Thiết bị dùng để điều trị trong nha khoa hoạt động bằng
(vi) Ghế của nha sĩ gắn theo thiết bị nha khoa hay bất cứ dụng cụ
nha khoa nào khác đều được phân loại vào nhóm này.
Tuy nhiên, nhóm này không tính những ghế của nha sĩ mà không gắn
theo các dụng cụ nha khoa thuộc nhóm này; các ghế đó thuộc nhóm
94.02 dù có hoặc không được lắp thiết bị như dụng cụ chiếu sáng.
Cũng nên lưu ý rằng một số thiết bị chữa răng trong đoạn (ii) ở trên,
được trình bày riêng lẻ không thuộc nhóm này mà được phân loại lần
lượt trong nhóm của chúng, chẳng hạn trường hợp các máy nén (nhóm
84.14) và các máy chụp X quang... (nhóm 90.22). Nhóm 90.22 cũng
gồm các máy chụp tia X quang... được thiết kế để lắp trên một giá đỡ
riêng hoặc gắn trên tường dùng trong các phòng nha khoa. Các máy thấu
nhiệt ở dạng riêng lẻ được phân loại cùng với các dụng cụ điện y tế của
nhóm này (xem Phần (IV) dưới đây).
Cần lưu ý rằng xi-măng và các chất hàn răng khác thuộc nhóm 30.06;
các chế phẩm gọi là “xi nha khoa” (hoặc hợp chất gắn răng) được trình
bày thành bộ, đóng gói để bán lẻ hay thành từng vỉ, hình móng ngựa,
thành từng thanh hoặc dưới các dạng tương tự cũng như các hợp chất
khác cho sử dụng trong nha khoa mà cơ bản là thạch cao (từ cao vôi hay
sulphate canxi), thuộc nhóm 34.07.
(III) DỤNG CỤ VÀ THIẾT BỊ TRONG THÚ Y
Nhóm này bao gồm nhiều mặt hàng, dù được chế tạo để sử dụng trong
thú y, nhưng chúng cũng tương tự như các thiết bị và dụng cụ ở các Phần
(I) và (II) nói trên, ví dụ như:
(A) Những dụng cụ sử dụng cho mục đích chung (ví dụ như: kim,
lưỡi chích, ống chọc, dao mổ, banh (mỏ vịt), ống thông, kéo, kẹp,
búa, thìa nạo, banh, ống tiêm)
(B) Các dụng cụ và máy móc chuyên dụng, như kính soi đáy mắt,
dụng cụ banh mắt, đèn soi thanh quản, ống nghe, kẹp thai, dao
cắt thai.
(C) Dụng cụ nha khoa.
Nhóm này cũng bao gồm những dụng cụ và thiết bị chuyên dụng cho
ngành thú y, ví dụ:
(1) Dụng cụ và đồ dùng cho vú: dụng cụ mở núm vú và ống thông (để
mở núm vú bò cho dễ vắt sữa); dụng cụ điều trị bệnh sốt sản (sốt khi
đẻ) của bò.
(2) Dụng cụ và máy móc để thiến: dụng cụ thiến, e-tô và kẹp, que vặn
(để làm teo tinh hoàn), mỏ cặp và kìm, dụng cụ cắt buồng trứng,
(3) Dụng cụ và đồ chuyên dụng cho đỡ đẻ: dây, băng buộc và vòng
cổ, kẹp và móc đỡ đẻ, máy đỡ bò đẻ, v.v…
(4) Các dụng cụ khác: bơm phụt để thụ tinh nhân tạo; dao cắt đuôi;
dao cắt sừng; ống phun để chữa các bệnh đường hô hấp, tiêu hoá,
tiết niệu, sinh dục, v.v..., các bộ phận ở súc vật; các dụng cụ chuyên
dùng để giữ chặt, tức là những dụng cụ làm cho con vật bất động
trong quá trình phẫu thuật (như dụng cụ vành mõm, xích chân,
v.v...); bơm tiêm chuyên dụng để bơm thuốc và bơm chứa thuốc gây
mê hay thuốc khác (huyết thanh, văcxin, v.v...) để phun từ xa vào
súc vật đang thả bằng súng trường hay súng ngắn dùng khí nén, máy
viên thuốc (dụng cụ cho uống thuốc viên); bộ cương đặc biệt để cho
uống; cặp móc cho vết nẻ móng (để chữa móng bị nứt cho trâu, bò);
kính soi giới tính để xác định giới tính của gà con, v.v...
Nhóm này loại trừ: Kính soi giun xoắn (dụng cụ quang học để kiểm tra
thịt lợn) (nhóm 90.11), các dụng cụ chỉnh hình cho súc vật (nhóm
90.21), bàn mổ hay khám cho súc vật (nhóm 94.02,xem các Chú giải chi
tiết tương ứng).
Những dụng cụ thuộc các loại sử dụng chung cho các bác sỹ thú y và thợ
rèn thì được phân loại ở Chương 82 (như dao gọt móng, kéo cắt vuốt
hay móng guốc, kìm, kẹp, búa…);Chương 82cũng bao gồm những dụng
cụ dùng để đánh dấu gia súc (kẹp, dụng cụ đặt lỗ, sắt đốt móng guốc,
v.v...) hay để cắt lông.
(IV) THIẾT BỊ GHI BIỂU ĐỒ NHẤP NHÁY
Những thiết bị này quét các bộ phận của cơ thể và tạo ra hình ảnh của cơ
quan nội tạng hoặc ghi lại chức năng của cơ quan đó. Nó bao gồm thiết
bị gắn một bộ đếm nhấp nháy dữ liệu từ đó được chuyển sang tín hiệu kỹ
thuật tương tự dùng để đưa ra chuẩn đoán về y học (như máy soi gamma,
máy quét biểu đồ nhấp nháy).
(V) THIẾT BỊ ĐIỆN Y HỌC KHÁC
Nhóm này cũng bao gồm các máy móc điện y, dùng để phòng ngừa, trị
bệnh hoặc chẩn đoán, trừ những máy X quang .v.v… thuộcnhóm 90.22.
Nhóm này gồm:
(1) Máy điện chẩn đoán, bao gồm:
(i) Máy ghi điện tâm đồ (những máy này cho phép ghi lại sự co
bóp của tim dưới hình thức điện tâm đồ, bằng cách sử dụng
dòng điện tạo nên bởi sự co thắt của cơ tim).
(ii) Máy ghi nhịp đập của tim (được thiết kế đặc biệt để ghi lại
tiếng đập của tim và cũng có thể sử dụng như máy ghi điện tâm
đồ).
(iii) Máy soi tim (được sử dụng cùng hai loại dụng cụ nêu trên để
quan sát đồng thời biểu đồ tim và biểu đồ tiếng tim).
(iv) Máy ghi dòng tim (dụng cụ điện để ghi những biến thiên của
điện trở do hoạt động của tim gây ra).
(v) Máy ghi điện não đồ (để kiểm tra não).
(vi) Máy ghi điện mạch đồ (để ghi áp lực và lưu lượng động
mạch).
(vii) Máy ghi nhịp đập động mạch bằng điện (để ghi những biến
đổi của áp lực động mạch, tĩnh mạch hay nội tim).
(viii) Máy ghi điện võng mạc (để ghi sự căng của võng mạc).
(ix) Thính lực kế và các máy móc tương tự (để kiểm tra thính lực
dựa trên sự dao động tần số).
(x) Những dụng cụ chẩn đoán kết hợp hay hoạt động liên kết
với một máy tự động xử lý thông tin để xử lý và hiển thị
những dữ liệu lâm sàng, v.v...
(xi) Những thiết bị chẩn đoán bằng siêu âm để hiển thị các bộ
phận, chẳng hạn trên màn ảnh, bằng sóng siêu âm.
(xii) Những thiết bị chẩn đoán bằng cộng hưởng từ hạt
nhân(NMR) để hiển thị nét đặc trưng của các mô và bộ phận
bên trong cơ thể dựa vào những đặc tính từ của các nguyên tử
của cơ thể, chẳng hạn như các nguyên tử hyđrô.
(2) Các máy điều trị dùng điện. Khác với các máy chẩn đoán, các máy
này chủ yếu dùng để điều trị các chứng bệnh như viêm dây thần
kinh, đau dây thần kinh, liệt nửa người, viêm tĩnh mạch, tuyến nội
tiết kém. Một số trong những máy này đôi khi được dùng kết hợp
với các thiết bị phẫu thuật điện ở đoạn (7) dưới đây.
(3) Các máy điều trị bằng ion, sử dụng trong việc điều trị tích cực
bằng cách đưa thuốc hoạt tính (salicylate natri hay lithium, iodide
kali, histamine, v.v...) qua da, nhờ sự trợ giúp của dòng điện.
(4) Các máy thấu nhiệt sử dụng dòng cao tần (bằng sóng ngắn, siêu
âm, sóng cực ngắn) để hoạt động và nhờ các điện cực hình dạng rất
khác nhau (tấm, vòng, ống, v.v...) để chữa một số bệnh cần nhiệt (ví
dụ: thấp khớp, đau dây thần kinh, đau răng)
(5) Các máy sốc điện, để chữa các bệnh tâm thần hay thần kinh.
(6) Máy khử rung tim dùng để phục hồi nhịp đập bình thường của tim
bằng cách sử dụng dòng điện.
(7) Các máy phẫu thuật điện, dùng dòng cao tần và những dụng cụ
thích hợp (kim, que thăm...) để làm một trong các điện cực. Chúng
có thể được dùng để cắt các mô (gọi là dao mổ điện) cùng một lưỡi
trích điện, hoặc để làm đông máutrong các mạch ở vùng đang mổ.
Một số trong những máy móc này được kết hợp với nhau bằng cách
sử dụng các cần điều khiển, chúng có thể được làm để hoạt động
thay thế cho nhau như máy cắt bằng điện hay máy làm đông máu
bằng điện.
(8) Các máy liệu pháp quang hoá, sử dụng bức xạ trong hoặc thường
nhiều hơn là từ bên ngoài dải quang phổ có thể nhìn bằng mắt
thường (hồng ngoại, tử ngoại) để chữa một số bệnh, và cũng để chẩn
đoán (chiếu sáng đặc biệt để phát hiện các bệnh về da). Các máy này
thường sử dụng đèn, mặc dù các thiết bị tia hồng ngoại cũng có thể
bao gồm các điện trở đốt nóng hay panô đốt nóng với bộ phản xạ.
(9) Lồng ấp nhân tạo cho trẻ em, chủ yếu gồm một buồng ngủ nhỏ
bằng plastic trong suốt, các thiết bị điện để sưởi ấm, các dụng cụ
đảm bảo an toàn và báo động cũng như các máy lọc và điều chỉnh
oxy và không khí; chúng thường được lắp trên xe đẩy và thường
gồm cả một cân trẻ em.
Các hộp có chứa các điện cực hay các dụng cụ khác để sử dụng cùng
thiết bị nêu trên cũng thuộc nhóm này.
Nhóm này cũngkhông bao gồm thiết bị nghe trước khi sinh không dùng
cho mục đích y tế thuộc nhóm 85.18 (xem Chú giải chi tiết nhóm này).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), những
bộ phận và phụ kiện của các dụng cụ và thiết bị thuộc nhóm này cũng
được phân loại trong nhóm này.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 9018.12
Các thiết bị điện chẩn đoán bằng cách quét siêu âm thuộc phân nhóm
này. Thiết bị này hoạt động theo nguyên tắc đưa sóng âm cao tần vào cơ
thể con người nhờ một bộ chuyển đổi. Bộ chuyển đổi được đặt tiếp xúc
với cơ thể, phát luân phiên các xung siêu âm ngắn và "nghe" tiếng dội
của chúng. Tiếng dội được tạo ra từ sóng âm được phản hồi lại bởi các
cơ quan trong cơ thể và những đặc trưng của chúng được giải thích để
nhận biết những thông tin về vị trí, kích thước, hình dạng và cấu trúc của
các mô. Việc giải thích này thường được thực hiện bằng một máy tự
động xử lý thông tin, kết quả được hiển thị dưới dạng hình ảnh video của
các mô.
Phương pháp này được sử dụng để kiểm tra thai ở những phụ nữ có
mang và cũng đặc biệt thích hợp với việc kiểm tra vú, tim, gan và túi
mật.
Phân nhóm 9018.13
Hiển thị bằng cộng hưởng từ (MRI) dựa theo nguyên lý là các hạt nhân
nguyên tử hydro xếp thành hàng khi chịu tác động của một từ trường
mạnh: khi một tần số vô tuyến được hướng vào các nguyên tử này thì
hàng lối của các hạt nhân sẽ thay đổi. Khi sóng vô tuyến không phát ra
nữa, các hạt nhân trở lại vị trí cũ đồng thời phát ra một tín hiệu điện nhỏ.
Vì cơ thể con người về cơ bản được cấu tạo bởi các nguyên tử hydro, các
xung phản hồi cơ thể tạo nên hình ảnh ảo của hầu như mọi vùng của cơ
thể. Hydro thể hiện hàm lượng nước, nên có thể dùng xung phản hồi để
xác định những khác biệt giữa các mô. Do vậy, điều này sẽ giúp người ta
có thể thu được một hình ảnh của tuỷ và mô.
Các máy điện tạo ảnh chẩn đoán bằng cộng hưởng từ hạt nhân thuộc
phân nhóm này gồm có một nam châm điện lớn, một máy phát tần số vô
tuyến và một máy tự động xử lý thông tin để đánh giá. Chúng phải được
đặt trong một phòng hoàn toàn cách biệt với các nguồn phát tần số vô
tuyến từ bên ngoài. Để thu được từ trường mạnh cần thiết, các nam châm
điện được làm chậm đông bằng hêli lỏng.
Hydro được chọn làm thành phần cơ bản cho việc tạo ảnh bằng cộng
hưởng từ vì nó có nhiều trong cơ thể con người và vì những đặc tính từ
rõ rệt của nó. Cũng có thể sử dụng các nguyên tố khác như natri hay
phôt-pho chẳng hạn.
Phân nhóm 9018.14
Các máy điện chẩn đoán thuộc phân nhóm này cho phép thu được hình
ảnh của sự phân bố các tia gamma trong cơ thể con người. Hình ảnh này
thu được nhờ sử dụng các máy thích hợp như máy hấp thu phóng xạ
bằng phương pháp quét, và nhất là máy ảnh tia gamma.
Khi sử dụng bộ quét (scanner) hạt nhân này, bệnh nhân phải uống hay
tiêm một hợp chất phóng xạ (chất phóng xạ "đánh dấu") mà chất này sẽ
được cơ quan cần nghiên cứu hấp thụ nhanh chóng. Sau đó việc kiểm tra
được thực hiện bằng một máy đếm tia gamma ghi lại số lượng bức xạ mà
chất phóng xạ "đánh dấu" phát ra khi nó thấm qua cơ quan mục tiêu (như
não chẳng hạn), để xác định nơi hấp thụ đồng vị phóng xạ.
Việc phân tích bức xạ được tách sóng qua thiết bị tự động xử lý dữ liệu
sẽ cung cấp một hình ảnh video. Hình ảnh này là sự ghép các vùng sáng
và vùng tối hay các màu tương phản cho thấy đồng vị phóng xạ được
hấp thụ ở chỗ nào trong bộ phận. Các lần quét như vậy sẽ cung cấp
thông tin cả về cấu trúc và chức năng của bộ phận có liên quan.
Ví dụ về máy tạo ảnh xạ là bộ phận quét chụp xạ hình cắt
lớpPositron(PET). Máy này kết hợp cả nguyên lý y học hạt nhân với kỹ
thuật tạo ảnh đã sử dụng trong bộ quét chụp cắt lớpvi tính (CT). (Xem
Chú giải phân nhóm 9022.12).
90.19 - Thiết bị trị liệu cơ học; máy xoa bóp; máy thử nghiệm trạng
thái tâm lý; máy trị liệu bằng ôzôn, bằng oxy, bằng xông,
máy hô hấp nhân tạo hoặc máy hô hấp trị liệu khác.
9019.10 - Máy trị liệu cơ học; máy xoa bóp; máy thử nghiệm
trạng thái tâm lý
9019.20 - Máy trị liệu bằng ôzôn, bằng oxy, bằng xông, máy hô
hấp nhân tạo hoặc máy hô hấp trị liệu khác
(I) MÁY TRỊ LIỆU CƠ HỌC
Các thiết bị này được sử dụng chủ yếu để chữa các bệnh về khớp hay cơ
bắp, bởi sự lặp lại cơ học các cử động khác nhau của các khớp hay cơ
bắp đó. Chú ý rằng cách điều trị này thường được tiến hành dưới sự
giám sát của cán bộ y tế; do đó thiết bị nhóm này nên được phân biệt với
các máy thông thường để rèn luyện thể lực, hay thể dục y học, sử dụng ở
nhà hay trong các phòng tập (nhóm 95.06) (ví dụ, các bài tập hoặc bài
kéo giãn cơ bằng cáp đàn hồi; các loại tay hãm có lò xo; các dụng cụ
"bơi chèo" cho phép thực hiện trong phòng những động tác của người
chèo thuyền; một số xe đạp lắp cố định chỉ có một bánh để luyện tập hay
phát triển các cơ bắp ở chân).
Vì liệu pháp cơ học chỉ đề cập tới phương pháp điều trị vận động của
khớp, v.v... nên nhóm này loại trừ những dụng cụ hoàn toàn cố định
(như bậc leo, thang, xà) ngay cả khi chúng dùng để phục hồi chức năng
các chi; những sản phẩm như vậy được phân loại lần lượt trong các
nhóm của chúng. Tuy nhiên, đối với các mục đích sử dụng cho nhóm
này, các thiết bị có thể được xem là mang tính cơ học ngay cả khi nó chỉ
có những dụng cụ tương đối đơn giản, chẳng hạn như các lò xo, bánh xe,
ròng rọc, v.v....
Theo những điều kiện ở trên, nhóm này bao gồm:
(1) Những dụng cụ cho các bài tập quay cổ tay.
(2) Những dụng cụ để luyện tập các ngón tay.
(3) Những dụng cụ cho các bài tập quay cổ chân.
Phần lớn trong số ba loại dụng cụ này đều chủ yếu gồm một bộ tay hãm
liên kết với các cần đẩy, lực đối trọng có thể điều chỉnh, thiết bị cố định
tay chân, tất cả được lắp trên một đế, vận hành bằng tay.
(4) Dụng cụ luyện tập để đồng thời uốn và duỗi đầu gối hay khớp háng.
(5) Dụng cụ cho các bài tập toàn thân.
(6) Dụng cụ cho các bài luyện tập đi bộ, đặt trên nhiều bánh xe và bao
gồm một khung cùng nối với nạng chống và tay nắm.
(7) Dụng cụ để cải thiện chức năng tuần hoàn, tăng cường cơ tim và
luyện tập chức năng chi dưới, gồm một bộ bàn đạp (không có bánh
xe) đặt trên một khung để có thể nằm hay ngồi đạp tại chỗ.
(8) Các dụng cụ gọi là đa chức năng, vận hành bằng điện, bằng việc sử
dụng các phụ tùng có thể thay đổi cho nhau để sử dụng cho các mục
đích trị liệu cơ học khác nhau (ví dụ điều trị đối với các chứng bệnh
về khớp hay các cơ cổ, vai, khuỷu tay, cổ tay, ngón tay, hông, đầu
gối, v.v...).
(II) MÁY XOA BÓP
Các máy xoa bóp các bộ phận cơ thể (cho bụng, bàn chân, cẳng chân,
lưng, cánh tay, bàn tay, mặt, v.v...) thường hoạt động bằng dạng xoa,
rung, v.v... Những máy này có thể vận hành bằng tay hoặc bằng mô-tơ,
hoặc có thể là loại dụng cụ cơ điện, trong đó, mô-tơ gắn liền với thiết bị
xoa bóp (máy rung xoa bóp). Loại vận hành bằng cơ điện này có thể bao
gồm những phụ tùng có thể thay thế cho nhau (thường là bằng cao su) để
thực hiện các chức năng ứng dụng khác nhau (bàn chải, bọt biển, đĩa
phẳng hay đĩa có răng, v.v...).
Nhóm này bao gồm các trục lăn đơn giản bằng cao su hoặc những thiết
bị xoa bóp tương tự. Nhóm này cũng gồm thiết bị xoa bóp thủy lực trên
khắp cơ thể hoặc một phần của cơ thể, dùng sự chuyển động của nước
hoặc sự kết hợp giữa nước và không khí chịu áp lực. Ví dụ cho loại thiết
bị này bao gồm bồn tắm spa, ở dạng hoàn thiện có gắn kèm theo bơm,
tuabin hoặc quạt gió, ống dẫn, bộ điều khiển và tất cả các phụ kiện; dụng
cụ xoa bóp vú dùng tác động của nước trong một loạt các ống phun nhỏ
được gắn bên trong một chiếc cốc, ôm khít vào vú, và được làm quay
dưới sức ép của một luồng nước được dẫn tới bằng ống mềm.
Những dụng cụ sau cũng được coi như dụng cụ xoa bóp theo đúng nghĩa
của nhóm này: những tấm nệm được thiết kế để tránh hoặc để chữa trị
những chỗ hoại thử bằng cách làm thay đổi liên tục các điểm tì (tựa) của
cơ thể bệnh nhân và đồng thời tạo ra một tác động xoa bóp bề mặt trên
các mô dễ bị hoại tử.
(III) THIẾT BỊ THỬ NGHIỆM TRẠNG THÁI TÂM LÝ
Thiết bị này được sử dụng bởi các bác sĩ, ...; để thử nghiệm tốc độ của
hoạt động phản xạ, sự phối hợp các động tác hoặc những phản ứng tâm
lý hoặc phản ứng cơ thể khác. Cụ thể, nó được sử dụng để thử nghiệm
cho những người mà nghề nghiệp của họ đòi hỏi phải có những khả năng
chuyên môn (như các phi công, lái xe, v.v...), hoặc để thử nghiệm những
năng lực định hướng nghề nghiệp hoặc học tập cho trẻ.
Nhóm này đề cập đến nhiều loại khác nhau của các thiết bị tương tự (ví
dụ, các thiết bị thử nghiệm năng lực cơ học hoặc sự khéo léo của đôi tay;
riêng những loại ghế quay tròn được thiết kế với tốc độ quay có thể thay
đổi được và dừng lại đột ngột để thử nghiệm những phản ứng của các
phi công máy bay).
Tuy nhiên, cần chú ý rằng nhóm này không bao gồm những thiết bị
thuộc loại thông thường dùng cho chẩn đoán trong y tế để khám mắt, tai,
tim, v.v... (nhóm 90.18). Cũng tương tự như vậy, những vật dụng có đặc
tính của các nhóm xây dựng hay lắp ráp và tương đối thích hợp cho giải
trí hay để thử nghiệm khả năng được phân loại như các trò chơi hoặc đồ
chơi (Chương 95).
(IV) THIẾT BỊ TRỊ LIỆU BẰNG ÔZÔN
Thiết bị này được sử dụng để chữa trị các bệnh về cơ quan hô hấp bằng
trị liệu ôzôn (công thức hóa học O3), ví dụ, bằng cách hít vào.
(V) THIẾT BỊ TRỊ LIỆU BẰNG OXY, BẰNG HÔ HẤP NHÂN
TẠO HOẶC BẰNG CÁC THIẾT BỊ TRỊ LIỆU HÔ HẤP KHÁC
Các thiết bị loại này được sử dụng trong các trường hợp như cứu người
bị chết đuối, bị điện giật, bị nhiễm độc nghiêm trọng (ví dụ, oxit carbon),
trẻ em đẻ non, bệnh nhân bị ngất sau hậu phẫu, trẻ em bị mắc bệnh bại
liệt, bệnh hen suyễn cấp tính hay có dung lượng phổi nhỏ, v.v...
Các thiết bị này bao gồm:
(A) Thiết bị thay thế cho phương pháp hô hấp nhân tạo bằng tay, ví
dụ, thiết bị cơ học có tác dụng ấn ngực, lắc mạnh bệnh nhân, thổi
không khí (hà hơi), v.v...
(B) Thiết bị trị liệu bằng oxy riêng. Các thiết bị này hoạt động bằng
cách hà hơi oxy hay hỗn hợp oxy và carbon dioxide (CO2) qua một
mặt nạ, hoặc bằng cách nạp đầy oxy vào một khoang hô hấp bao
gồm một lồng oxy bằng plastic trong suốt đượclắpvào giường bệnh.
C) Thiết bị được gọi là "phổi nhân tạo" và các thiết bị tương tự.
Những thiết bị này cơ bản gồm:
(1) Một lồng làm bằng kim loại, gỗ hay sợi thuỷ tinh, để đặt bệnh
nhân nằm trong đó (riêng đầu vẫn thò ra ngoài), hoặc một lồng
nhỏ hơn bằng plastic trong suốt chỉ vừa cho phần ngực.
(2) Một thiết bị độc lập gồm một hệ thống hút không khí và một
máy thổi cấp cứu, có thể vận hành bằng máy hay bằng tay.
(3) Một ống kín chứa đầy khí nối máy thổi với lồng phổi nhân tạo.
Một số thiết bị trị liệu bằng oxy được mô tả trên đây (cụ thể là các lồng
oxy) cũng có thể được dùng để tiến hành liệu pháp xông khí, bệnh nhân
nhận được đồng thời oxy để thở và thuốc chữa bệnh được tán nhỏ dưới
dạng vi sương (xem Phần (VI) dưới đây).
Nhóm này không bao gồm khoang có áp suất cao hoặc khoang giảm áp
(nhóm 90.18).
(VI) THIẾT BỊ TRỊ LIỆU BẰNG XÔNG KHÍ
Các thiết bị này được ứng dụng cho phương pháp dùng một tác nhân
chữa bệnh trong điều trị các bệnh về phổi, ngoài da, tai-mũi-họng, phụ
khoa, v.v... bằng cách phun, dưới dạng sương, hỗn hợp cực nhỏ các dung
dịch thuốc khác nhau (