CHU GIAI 2022 CHUONG 85 2
ản khuôn mẫu và bản gốc để sản xuất băng
đĩa, nhưng không bao gồm các sản phẩm của Chương 37.
- Phương tiện lưu trữ thông tin từ tính:
8523.21 - - Thẻ có dải từ
8523.29 - - Loại khác
⦁ Phương tiện lưu trữ thông tin quang học:
8523.41 - - Loại chưa ghi
8523.49 - - Loại khác
⦁ Phương tiện lưu trữ thông tin bán dẫn:
8523.51 - - Các thiết bị lưu trữ bền vững, thể rắn
8523.52 - - "Thẻ thông minh"
8523.59 - - Loại khác
8523.80 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại phương tiện lưu trữ thông tin khác nhau, đã
hoặc chưa được ghi, dùng để ghi dữ liệu âm thanh hoặc các dữ liệu khác
(ví dụ, dữ liệu số; văn bản; hình ảnh, video hoặc các dữ liệu đồ họa khác;
phần mềm). Những phương tiện này thông thường được đưa vào hoặc
đưa ra từ thiết bị thu hay đọc và có thể được chuyển từ thiết bị ghi hay
đọc này đến thiết bị ghi hay đọc khác.
Các phương tiện lưu trữ thông tin thuộc nhóm này có thể được xuất trình
ở dạng đã ghi, chưa ghi hoặc với một vài thông tin đã được ghi trước,
nhưng còn có khả năng ghi thêm thông tin.
Nhóm này bao gồm các phương tiện ở dạng trung gian (ví dụ, bản đúc,
đĩa chủ, đĩa cái, đĩa khuôn) dùng trong sản xuất hàng loạt các phương
tiện ghi hoàn thiện.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các thiết bị ghi dữ liệu trên
phương tiện lưu trữ hoặc lấy dữ liệu từ phương tiện.
Cụ thể, nhóm này bao gồm:
(A) CÁC PHƯƠNG TIỆN LƯU TRỮ THÔNG TIN TỪ TÍNH
Sản phẩm của nhóm này thường ở dạng đĩa, thẻ hoặc băng. Chúng được
chế tạo từ nhiều vật liệu khác nhau (thông thường từ nhựa, giấy hoặc bìa,
hoặc kim loại), đã có sẵn chất từ tính hoặc được phủ vật liệu từ tính. Ví
dụ, nhóm này bao gồm băng cát sét và băng khác dùng cho máy ghi
băng, băng cho máy quay và thiết bị ghi video khác (ví dụ VHS, Hi-8™,
mini-DV), đĩa mềm và thẻ có dải từ tính.
Nhóm này không bao gồm các phương tiện lưu trữ thông tin dạng từ -
(B) PHƯƠNG TIỆN LƯU TRỮ THÔNG TIN QUANG HỌC
Sản phẩm nhóm này thường ở dạng đĩa làm bằng thủy tinh, kim loại
hoặc nhựa với một hoặc nhiều lớp phản chiếu ánh sáng. Bất kỳ dữ liệu
nào (âm thanh hay hiện tượng dữ liệu khác) được lưu trữ trên những đĩa
này được đọc bằng tia laze. Nhóm này bao gồm các đĩa đã được ghi hoặc
chưa được ghi, có hoặc không thể ghi lại.
Nhóm này bao gồm, ví dụ, đĩa compact (ví dụ, CDs, V-CDs, CD-ROMs,
CD-RAMs), đĩa đa năng số (DVDs).
Nhóm này cũng bao gồm các phương tiện lưu trữ thông tin dạng từ-
(C) PHƯƠNG TIỆN LƯU TRỮ THÔNG TIN BÁN DẪN
Sản phẩm thuộc nhóm này chứa một hoặc nhiều mạch tích hợp điện tử.
Như vậy, nhóm này bao gồm:
(1) Thiết bị lưu trữ bán dẫn không xóa để ghi dữ liệu từ nguồn bên
ngoài (xem Chú giải 6 (a) chương này). Các thiết bị này (còn được
gọi là “thẻ nhớ flash” hoặc “thẻ lưu trữ điện tử flash”) được sử dụng
để ghi dữ liệu từ nguồn bên ngoài, hoặc cung cấp dữ liệu cho các
thiết bị như hệ thống điều hướng và định vị toàn cầu, thiết bị đầu
cuối thu nhập dữ liệu, máy quét di động, dụng cụ theo dõi y tế, thiết
bị ghi âm, thiết bị truyền thông cá nhân, điện thoại di động, camera
kỹ thuật số và máy xử lý dữ liệu tự động. Nói chung, các dữ liệu
được lưu trữ vào và được đọc từ thiết bị chỉ khi được kết nối tới các
thiết bị cụ thể, nhưng cũng có thể được tải lên hoặc tải về từ một
máy xử lý dữ liệu tự động.
Các phương tiện lưu trữ thông tin chỉ sử dụng điện từ các thiết bị mà
nó kết nối, và không cần pin.
Các thiết bị lưu trữ dữ liệu không xóa này bao gồm một hoặc nhiều
bộ nhớ flash (“FLASH E2PROM /EEPROM”) ở dạng mạch tích hợp
gắn trên một bảng mạch in đặt trong cùng một vỏ, và kết hợp với
một ổ cắm để kết nối tới máy chủ. Chúng có thể bao gồm tụ điện,
điện trở và bộ vi điều khiển ở dạng một mạch tích hợp. Ví dụ của
thiết bị lưu trữ bán dẫn không xóa là ổ chớp USB.
(2) “Thẻ thông minh” (xem Chú giải 6 (b) chương này), là loại có một
hay nhiều mạch tích hợp điện tử trong chúng (một bộ vi xử lý, bộ
nhớ truy cập ngẫu nhiên (RAM) hoặc bộ nhớ chỉ đọc (ROM)) dưới
dạng con chip. “Thẻ thông minh” có thể chứa các điểm tiếp xúc, dải
từ hoặc ăng ten đã được đặt vào trong nhưng không chứa bất cứ các
phần tử mạch chủ động hay bị động nào khác.
Những “Thẻ thông minh” này cũng bao gồm một số sản phẩm được
biến đến như “thẻ cảm ứng (proximity card) hoặc thẻ HTML (tag)”
nếu đáp ứng điều kiện Chú giải 6 (b) của Chương này. Các thẻ này
thường bao gồm một mạch tích hợp với bộ nhớ chỉ đọc (ROM),
được kết nối với một ăng ten gắn. Thẻ hoạt động bằng cách tạo ra
một trường giao tiếp (bản chất của nó được xác định bởi mã chứa
trong bộ nhớ chỉ đọc) lên ăng ten để tác động đến tín hiệu được
truyền và phản hồi lại từ đầu đọc. Loại thẻ này không truyền tải
dữ liệu.
(D) LOẠI KHÁC
Nhóm này bao gồm các đĩa hát.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Phim ảnh hoặc phim điện ảnh với một hoặc một vài rãnh âm thanh
(Chương 37)
(b) Phim có phủ lớp chất nhạy để ghi quang điện (nhóm 37.02).
(c) Sản phẩm dùng như phương tiện lưu trữ để ghi âm thanh hay các nội
dung khác nhưng chưa sẵn sàng để ghi; các mặt hàng này được phân
loại tại nhóm tương ứng (ví dụ Chương 39 hoặc 48 hoặc Phần
(d) Băng giấy chứa dữ liệu hoặc các thẻ đục lỗ, phần ghi của chúng
thường được thực hiện bởi việc đục lỗ (Chương 48).
(e) Một số module ghi điện tử (ví dụ SIMMs (Single In-Line Memory
Modules - Môđun bộ nhớ nội tuyến đơn) và DIMMs (Dual In-Line
Memory Modules - Môđun bộ nhớ nội tuyến kép)) được phân loại
áp dụng Chú giải 2 Phần XVI (xem Chú giải Chi tiết Tổng quát của
Chương này).
(f) Hộp chứa của máy chơi game (nhóm 95.04).
85.24 - Mô-đun màn hình dẹt, có hoặc không tích hợp màn hình cảm
ứng.
- Không có trình điều khiển (driver) hoặc mạch điều
khiển:
8524.11 - - Bằng tinh thể lỏng
8524.12 - - Bằng đi-ốt phát quang hữu cơ (OLED)
8524.19 - - Loại khác
- Loại khác:
8524.91 - - Bằng tinh thể lỏng
8524.92 - - Bằng đi-ốt phát quang hữu cơ (OLED)
8524.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các mô-đun màn hình dẹt, có hoặc không kết hợp
với màn cảm ứng, được định nghĩa trong Chú giải 7 của Chương này.
Các mặt hàng thuộc nhóm này được trang bị tối thiểu một màn hình hiển
thị sử dụng màn hình tinh thể lỏng (LCD), điốt phát quang hữu cơ
(OLED), điốt phát sáng (LED) hoặc các công nghệ hiển thị khác.
Các loại màn của mô-đun màn hình dẹt bao gồm, nhưng không giới hạn,
những loại ở dạng dẹt, cong, linh hoạt, có thể gập lại, co giãn hoặc cuộn
lại.
Nhóm này bao gồm:
(1) Mô-đun màn hình dẹt không có trình điều khiển hoặc mạch điều
khiển, thường được gọi là “tế bào”. Trong trường hợp tế bào LCD,
tinh thể lỏng được đặt giữa hai miếng hoặc tấm thủy tinh hoặc nhựa
như nền TFT và nền lọc màu. Trong trường hợp tế bào OLED,
chúng có vật liệu hữu cơ lắng đọng trên nền TFT. Các tế bào này
không chứa các bộ phận điện như trình điều khiển hoặc mạch điều
khiển, có hoặc không có kết nối điện hoặc được gắn với các tấm
phân cực.
(2) Mô-đun màn hình dẹt có trình điều khiển hoặc mạch điều khiển:
Trình điều khiển hoặc bộ điều khiển được thêm vào ‘tế bào’ của
mục (1). Các mô-đun có thể chứa trình điều khiển nhận tín hiệu
video hoặc dữ liệu khác (ví dụ, văn bản, hình ảnh, tín hiệu ADP,
hoặc dữ liệu đồ họa khác) và chuyển đổi từng pixel của màn hình
(thường bao gồm IC trình điều khiển và PCB kết nối tín hiệu video
với IC trình điều khiển) hoặc mạch điều khiển nguồn điện cho mô-
đun hiển thị hoặc điều khiển thời gian. Chúng có thể kết hợp với bộ
đèn nền (đối với màn hình LCD) hoặc khung (khung máy).
(3) Mô-đun màn hình dẹt có màn cảm ứng: Màn cảm ứng được gắn
vào mô-đun màn hình dẹt hoặc nhúng trong tế bào. Chúng cho phép
đầu vào cũng như đầu ra (hiển thị) thông tin như hình ảnh.
Các mặt hàng thuộc nhóm này được thiết kế để gắn hoặc kết hợp với
nhiều loại thiết bị (ví dụ, tủ lạnh, máy xử lý dữ liệu tự động, điện thoại di
động và các thiết bị truyền hoặc nhận hình ảnh hoặc dữ liệu, camera kỹ
thuật số và camera ghi hình ảnh, màn hình và thiết bị thu cho tivi và
phương tiện có động cơ để chở người).
Tuy nhiên, mô-đun màn hình dẹt không được tích hợp vào thiết bị khác
và được trình bày riêng biệt sẽ được phân loại vào nhóm này thay vì
phân loại vào nhóm của các sản phẩm hoàn thiện có mô-đun màn hình
dẹt.
Các mô-đun màn hình dẹt đã được tích hợp vào thiết bị khác phải được
phân loại vào nhóm thích hợp cho toàn bộ thiết bị đó.
CÁC BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết Tổng
quát Phần XVI), bộ phận của thiết bị thuộc nhóm này được phân loại vào
nhóm 85.29.
Nhóm này loại trừ, không kể những đề cập khác:
(a) Mô-đun màn hình dẹt có bộ phận chuyển đổi video (thường là các
sản phẩm thuộc các nhóm 85.17, 85.28 và 85.29).
(b) Thiết bị phát tín hiệu bằng hình ảnh (bảng chỉ báo) kết hợp với mô-
đun màn hình dẹt (nhóm 85.31).
(c) Thiết bị đo hoặc kiểm tra có gắn mô-đun màn hình dẹt (thường thuộc
Chương 90).
(d) Nhạc cụ, có gắn mô-đun màn hình dẹt (Chương 92).
(e) Tất cả hàng hóa thuộc Chương 95 có chứa mô-đun màn hình dẹt (ví
dụ thiết bị trò chơi điện tử video, đồ chơi, trò chơi, thiết bị tập luyện
và dụng cụ thể thao, v.v...).
85.25 – Thiết bị phát dùng cho phát thanh sóng vô tuyến hoặc
truyền hình, có hoặc không gắn với thiết bị thu hoặc ghi hoặc
tái tạo âm thanh; camera truyền hình, camera kỹ thuật số và
camera ghi hình ảnh.
8525.50 - Thiết bị phát
8525.60 – Thiết bị phát có gắn với thiết bị thu
⦁ Camera truyền hình, camera kỹ thuật số và camera ghi
hình ảnh:
8525.81 - - Loại tốc độ cao nêu tại Chú giải Phân nhóm 1 của
Chương này
8525.82 - - Loại khác, được làm cứng bức xạ hoặc chịu bức xạ
nêu tại Chú giải Phân nhóm 2 của Chương này
8525.83 - - Loại khác, loại nhìn ban đêm nêu tại Chú giải Phân
nhóm 3 của Chương này
8525.89 - - Loại khác
(A) THIẾT BỊ PHÁT DÙNG CHO PHÁT THANH SÓNG VÔ
TUYẾN HOẶC TRUYỀN HÌNH, CÓ HOẶC KHÔNG GẮN VỚI
THIẾT BỊ THU HOẶC GHI HOẶC TÁI TẠO ÂM THANH
Thiết bị phát thanh thuộc nhóm này phải có chức năng phát tín hiệu
thông qua sóng điện từ được truyền trong không khí mà không cần bất
cứ kết nối có dây nào. Mặt khác, thiết bị truyền hình thuộc nhóm này có
thể phát tín hiệu bằng sóng điện từ hoặc bằng dây dẫn.
Nhóm thiết bị này bao gồm:
(1) Thiết bị truyền dẫn dùng cho phát thanh vô tuyến hoặc truyền hình.
(2) Thiết bị chuyển tiếp sử dụng để nhận sóng và phát lại chúng và do đó
tăng phạm vi lan truyền (kể cả thiết bị chuyển tiếp truyền hình để
gắn vào phương tiện bay).
(3) Các thiết bị truyền dẫn truyền hình chuyển tiếp để phát, thông qua
một ăngten và phản xạ parabol, từ một phòng thu hoặc từ vị trí của
một đài phát thanh ngoài tới máy phát chính.
(4) Các máy phát truyền hình dùng cho mục đích công nghiệp (ví dụ, để
đọc các máy móc/thiết bị ở khoảng cách xa, hoặc để quan sát các vị
trí nguy hiểm). Các thiết bị truyền dẫn này thường sử dụng dây để
truyền dữ liệu.
(B) CAMERA TRUYỀN HÌNH, CAMERA KỸ THUẬT SỐ VÀ
CAMERA GHI HÌNH ẢNH
Nhóm này bao gồm các camera chụp hình ảnh và chuyển đổi chúng
thành tín hiệu điện tử mà:
(1) được phát như hình ảnh video đến một thiết bị bên ngoài camera để
quan sát hoặc ghi từ xa (ví dụ, máy ảnh truyền hình); hoặc
(2) được ghi trong camera như một hình ảnh tĩnh hoặc động (ví dụ, máy
camera kỹ thuật số và camera ghi hình ảnh).
Nhiều loại camera của nhóm này có thể có hình dáng vật lý giống như
máy chụp ảnh của nhóm 90.06 hoặc các loại máy camera điện ảnh của
nhóm 90.07. Camera trong nhóm 85.25 và camera ở Chương 90 điển
hình bao gồm các thấu kính quang học để tập trung hình ảnh lên một môi
trường nhạy sáng và điều chỉnh để thay đổi lượng ánh sáng đi vào
camera. Tuy nhiên, các máy chụp ảnh và máy camera điện ảnh của
Chương 90 thì hiện ảnh trên các tấm phim lưu hình ảnh thuộc Chương
37 trong khi máy ảnh của nhóm 85.25 thì chuyển đổi hình ảnh thành dữ
liệu tương tự hoặc dữ liệu kỹ thuật số.
Camera của nhóm này ghi nhận hình ảnh bằng cách tập trung ảnh lên
một thiết bị nhạy sáng, ví dụ như là một thiết bị bán dẫn oxit kim loại
(CMOS) hoặc thiết bị tích điện kép (CCD). Thiết bị nhạy sáng gửi đi
một dữ liệu hình ảnh dạng điện để dữ liệu đó tiếp tục được xử lý thành
dạng ghi tương tự hoặc kỹ thuật số của các hình ảnh.
Camera truyền hình có thể có hoặc không có thiết bị đi kèm để điều
khiển từ xa các thấu kính và khẩu độ cũng như là điều khiển từ xa sự di
chuyển của camera theo chiều dọc và chiều ngang (ví dụ, camera truyền
hình cho hãng phim truyền hình hoặc tường thuật truyền hình, các loại
sử dụng cho mục đích công nghiệp hoặc khoa học, trong truyền hình
mạch kín (giám sát) hoặc giám sát giao thông). Những camera này
không có bất kỳ khả năng ghi hình ảnh nào ở trong nó.
Một số camera loại này cũng được sử dụng với máy xử lý dữ liệu tự
động (ví dụ webcam).
“Thiết bị di chuyển”, thiết bị cơ học di động dùng cho camera truyền
hình, có hoặc không xuất trình riêng rẽ, được loại trừ khỏi nhóm này
(nhóm 84.28).
Cũng loại trừ khỏi nhóm này là các thiết bị điện dùng để điều khiển từ
xa và lấy nét cho camera truyền hình, khi xuất trình riêng rẽ (nhóm
Trong camera kỹ thuật số và camera ghi video, hình ảnh được ghi lên
một thiết bị lưu trữ bên trong hoặc lên các phương tiện lưu trữ khác (ví
dụ, băng từ, phương tiện quang học, phương tiện bán dẫn hoặc phương
tiện khác của nhóm 85.23). Chúng có thể bao gồm một bộ biến đổi tín
hiệu tương tự/ kỹ thuật số (ADC) và một cổng đầu ra cung cấp phương
tiện để gửi hình ảnh tới các đơn vị chức năng của máy xử lý dữ liệu tự
động, máy in, ti vi, hoặc các máy quan sát khác. Một vài camera kỹ thuật
số và camera ghi hình ảnh gồm các kết nối đầu vào để chúng có thể ghi
các file hình ảnh kỹ thuật số hoặc tương tự từ các máy bên ngoài vào bên
Nhìn chung, các camera của nhóm này được trang bị với một kính ngắm
quang học hoặc màn tinh thể lỏng (LCD), hoặc cả hai. Một số camera
gắn với màn tinh thể lỏng có thể sử dụng màn hình hiển thị vừa như một
kính ngắm để chụp hình vừa như một màn hình để hiển thị hình ảnh
nhận được từ các nguồn khác hoặc tái tạo hình ảnh đã được ghi lại.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết Tổng
quát Phần XVI), bộ phận của các thiết bị thuộc nhóm này được phân loại
vào nhóm 85.29.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Thiết bị của nhóm 85.17.
(b) Các thiết bị thu phát sóng vô tuyến để kết hợp với thiết bị chuyển
tiếp nhưng được xuất trình riêng (nhóm 85.27).
(c) Thiết bị thu truyền hình vệ tinh và hệ thống nhận truyền hình vệ tinh
(nhóm 85.28).
(d) Các xe chuyên dụng được trang bị cố định với máy phát thanh hoặc
truyền hình của nhóm này (thường thuộc nhóm 87.05).
(e) Vệ tinh viễn thông (nhóm 88.02).
85.26 - Ra đa, các thiết bị dẫn đường bằng sóng vô tuyến và các
thiết bị điều khiển từ xa bằng vô tuyến.
8526.10 - Rađa
⦁ Loại khác:
8526.91 - - Thiết bị dẫn đường bằng sóng vô tuyến
8526.92 - - Thiết bị điều khiển từ xa bằng sóng vô tuyến
Nhóm này bao gồm:
(1) Thiết bị dẫn đuờng bằng sóng vô tuyến (ví dụ: đèn tín hiệu dẫn
đường vô tuyến, phao vô tuyến có gắn ăn-ten cố định hoặc ăn-ten
xoay; các thiết bị thu tín hiệu, kể cả la bàn vô tuyến được trang bị
ăn-ten phức hợp hoặc ăn-ten có khung định hướng). Nó cũng bao
gồm các hệ thống thu định vị toàn cầu (GPS).
(2) Thiết bị rađa định vị cho tàu biển hoặc phương tiện bay (hoặc để gắn
trên tàu biển, phương tiện bay v.v... hoặc đặt trên mặt đất), kể cả
thiết bị rađa ở cảng, thiết bị nhận dạng đặt trên phao, đèn hiệu v.v....
(3) Các thiết bị điều khiển hạ cánh hoặc các thiết bị giám sát giao thông
cho sân bay khi không thể nhìn thấy. Thiết bị này rất phức tạp. Một
số loại kết hợp radio, rađa và các thiết bị truyền hình thường thấy
cho biết vị trí và tầm cao của máy bay trong vùng lân cận tại điểm
kiểm soát, và truyền đến phương tiện bay cả hướng dẫn cần thiết
để hạ cánh và những hình ảnh định vị của máy bay khác trong
vùng lân cận.
(4) Các thiết bị đo độ cao bằng rađa (thiết bị đo độ cao bằng sóng vô
tuyến).
(5) Rađa khí tượng dò tìm các đám mây hình thành bão hoặc các bóng
bay khí tượng.
(6) Thiết bị dẫn đường ném bom.
(7) Các thiết bị rađa dùng để xác định kíp nổ bom hoặc đạn ở khoảng
cách gần.
Các kíp nổ hoàn chỉnh có gắn chất nổ nằm trong nhóm 93.06.
(8) Các thiết bị rađa cảnh báo tấn công bằng đường hàng không.
(9) Các thiết bị rađa để định hướng và xác định phạm vi dùng cho hải
quân hoặc cho súng phòng không.
(10) Các máy thu phát ra đa; chúng nhận các xung rađa và truyền các
xung này, các xung này thường mang các dữ liệu được xếp chồng để
phản hồi lại những xung mà nó nhận được. Máy thu phát được sử
dụng trên máy bay để chúng có thể được xác định bởi người điều
khiển rađa, và trong bóng thám không để xác định phạm vi và
hướng và truyền các thông tin khí tượng.
(11) Các thiết bị radio để điều khiển từ xa các tàu thuyền, hoặc máy bay
không người lái, các tên lửa hành trình, đạn pháo, đạn đồ chơi, các
mô hình tàu và máy bay, v.v...
(12) Các thiết bị radio để kích nổ mìn hoặc để điều khiển máy móc từ xa.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết Tổng
quát Phần XVI), bộ phận của các thiết bị thuộc nhóm này được phân loại
vào nhóm 85.29.
Các xe chuyên dùng được lắp cố định với các rađa hoặc thiết bị khác của
nhóm này thì được loại trừ (thường thuộc nhóm 87.05).
85.27- Thiết bị thu dùng cho phát thanh sóng vô tuyến, có hoặc
không kết hợp với thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh hoặc với
đồng hồ, trong cùng một khối.
⦁ Máy thu thanh sóng vô tuyến có thể hoạt động không
cần dùng nguồn điện ngoài:
8527.12 - - Radio cát sét loại bỏ túi
8527.13 - - Thiết bị khác kết hợp với thiết bị ghi hoặc tái tạo âm
8527.19 - - Loại khác
- Máy thu thanh sóng vô tuyến không thể hoạt động
khi không có nguồn điện ngoài, loại dùng cho xe có
động cơ:
8527.21 - - Kết hợp với thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh
8527.29 - - Loại khác
- Loại khác :
8527.91 - - Kết hợp với thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh
8527.92 - - Không kết hợp với thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh
nhưng gắn với đồng hồ
8527.99 - - Loại khác
Thiết bị phát thanh sóng vô tuyến xếp vào trong nhóm này phải được
dùng để nhận các tín hiệu bằng sóng điện từ được truyền qua không
trung mà không có bất kỳ sự kết nối dây dẫn nào.
Nhóm này bao gồm :
(1) Thiết bị thu thanh vô tuyến các loại dùng trong gia đình (kiểu để bàn,
thiết bị nhận để gắn lên đồ nội thất, tường,…, các kiểu xách tay,
thiết bị nhận có hoặc không kết hợp các thiết bị ghi hoặc tái tạo âm
thanh hoặc một đồng hồ, gắn trong cùng một vỏ).
(2) Các thiết bị thu sóng vô tuyến trên xe ô tô.
(3) Khi xuất trình riêng rẽ, các thiết bị thu dùng để gắn với thiết bị
chuyển tiếp thuộc nhóm 85.25.
(4) Radio catset bỏ túi (xem Chú giải Phân nhóm 4 Chương này).
(5) Hệ thống âm thanh nổi (hệ thống hi-fi) chứa một thiết bị thu sóng vô
tuyến, đóng bộ để bán lẻ, bao gồm các đơn vị module trong các vỏ
bọc riêng của chúng, ví dụ, trong sự kết hợp với một máy quay đĩa
CD, máy ghi âm cát sét, một bộ khuếch đại với một bộ cân chỉnh tần
số, loa… Thiết bị thu sóng vô tuyến cung cấp cho hệ thống các đặc
tính cơ bản của nó.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết Tổng
quát Phần XVI), bộ phận của các thiết bị thuộc nhóm này được phân loại
vào nhóm 85.29.
Nhóm này không bao gồm, không kể những cái khác:
(a) Các sản phẩm của nhóm 85.17 hoặc 85.25.
(b) Các xe chuyên dùng được lắp cố định với các thiết bị thu sóng vô
tuyến của nhóm này (thường thuộc nhóm 87.05).
85.28 - Màn hình và máy chiếu, không gắn với thiết bị thu dùng
trong truyền hình; thiết bị thu dùng trong truyền hình, có
hoặc không gắn với máy thu thanh sóng vô tuyến hoặc thiết
bị ghi hoặc tái tạo âm thanh hoặc hình ảnh.
- Màn hình sử dụng ống đèn hình tia ca-tốt:
8528.42 - - Có khả năng kết nối trực tiếp và được thiết kế để
dùng cho máy xử lý dữ liệu tự động thuộc nhóm 84.71
8528.49 - - Loại khác
⦁ Màn hình khác:
8528.52 - - Có khả năng kết nối trực tiếp và được thiết kế để
dùng cho máy xử lý dữ liệu tự động thuộc nhóm 84.71
8528.59 - - Loại khác.
⦁ Máy chiếu:
8528.62 - - Có khả năng kết nối trực tiếp và được thiết kế để
dùng cho máy xử lý dữ liệu tự động thuộc nhóm 84.71
8528.69 - - Loại khác
⦁ Thiết bị thu dùng trong truyền hình, có hoặc không
gắn với thiết bị thu thanh sóng vô tuyến hoặc thiết bị
ghi hoặc tái tạo âm thanh hoặc hình ảnh:
8528.71 - - Không thiết kế để gắn với thiết bị hiển thị video hoặc
màn ảnh
8528.72 - - Loại khác, màu
8528.73 - - Loại khác, đơn sắc
Nhóm này bao gồm:
(1) Màn hình và máy chiếu, không gắn các thiết bị thu sóng truyền hình.
(2) Máy thu truyền hình, có hoặc không gắn với máy thu phát sóng vô
tuyến hoặc máy ghi hoặc tái tạo video hoặc âm thanh, cho việc hiển
thị các tín hiệu (tivi).
(3) Thiết bị để thu tín hiệu truyền hình, không có khả năng hiển thị (ví
dụ, thiết bị thu sóng truyền hình vệ tinh).
Màn hình, máy chiếu và tivi sử dụng các công nghệ khác nhau, như CRT
(ống tia catot), LCD (màn hình tinh thể lỏng), DMD (thiết bị vi ảnh kỹ
thuật số), OLED (điot phát quang hữu cơ) và plasma, để hiển thị hình
ảnh.
Màn hình và máy chiếu có thể năng nhận nhiều tín hiệu từ các nguồn
khác nhau. Tuy nhiên, nếu chúng kết nối với bộ dò tín hiệu truyền hình
thì được xem như thiết bị thu dùng trong truyền hình.
(A) MÀN HÌNH (MONITOR) CÓ KHẢ NĂNG KẾT NỐI TRỰC
TIẾP VÀ ĐƯỢC THIẾT KẾ ĐỂ DÙNG CHO MÁY XỬ LÝ DỮ
LIỆU TỰ ĐỘNG THUỘC NHÓM 84.71
Nhóm này bao gồm các màn hình có khả năng nhận tín hiệu từ bộ xử lý
trung tâm của máy xử lý dữ liệu tự động và hiển thị các hình ảnh của các
dữ liệu đã được xử lý. Các màn hình này có thể được phân biệt với các
loại màn hình monitor khác (xem phần (B) bên dưới) và các máy thu
truyền hình.
Các màn hình của nhóm này có thể có các đặc tính sau:
(i) Chúng thường hiển thị các tín hiệu hình ảnh tương thích (đơn sắc
hoặc đa sắc) được tổng hợp trong bộ xử lý dữ liệu tự động của máy xử lý
dữ liệu tự động;
(ii) Chúng không được gắn với một bộ lọc kênh hoặc bộ thu tín hiệu
(iii) Chúng được gắn với các đầu nối đặc trưng của các hệ thống xử lý
dự liệu (ví dụ như, cống nối tiếp RS-232C, đầu nối DIN, D-SUB, VGA,
DVI, HDMI hoặc DP (cổng kết nối);
(iv) Kích cỡ hình ảnh hiển thị có thể nhìn thấy của các màn hình này
thường không quá 76cm (30inches);
(v) Chúng có kích thước bước hiển thị ( thường nhỏ hơn 0.3mm) phù
hợp cho tầm nhìn gần;
(vi) Chúng có thể có một mạch âm thanh và các loa trong (thông thường,
tổng công suất 2 watts hoặc ít hơn);
(vii) Chúng thường có các nút điều chỉnh đặt ở mặt trước;
(viii) Chúng thường không thể hoạt động bằng một điều khiển từ xa;
(ix) Chúng có thể gắn với cơ cấu điều chỉnh độ nghiêng, xoay và chiều
cao, bề mặt ánh sáng chống lóa, màn hình hiển thị không rung, và các
đặc tính thiết kế tiện dụng khác để làm cho có thể xem trong thời gian
dài ở cự li gần màn hình;
(x) Chúng có thể kết nối không dây để hiển thị dữ liệu từ máy xử lý dữ
liệu tự động thuộc nhóm 84.71.
(B) MÀN HÌNH KHÁC TRỪ LOẠI CÓ KHẢ NĂNG KẾT NỐI
TRỰC TIẾP VÀ ĐƯỢC THIẾT KẾ ĐỂ DÙNG CHO MÁY XỬ LÝ
DỮ LIỆU TỰ ĐỘNG THUỘC NHÓM 84.71
Nhóm này bao gồm các màn hình có thể nhận các tín hiệu khi được kết
nối trực tiếp với camera hình ảnh hoặc thiết bị ghi bằng cáp composite
video, s- video hoặc cáp đồng trục, do đó tất cả các mạch tần số vô tuyến
được loại trừ. Chúng thường được sử dụng bởi các công ty truyền hình
hoặc truyền hình mạch kín (sân bay, nhà ga, nhà máy, bệnh viện…)..
Hơn thế, chúng có thể có các đầu vào riêng biệt màu đỏ ® , màu xanh lá
cây (G) và xanh da trời (B), hoặc được mã hóa phù hợp với một tiêu
chuẩn cụ thể (NTSC, SECAM, PAL, D-MAC…). Để tiếp nhận tín hiệu
đã được mã hóa, màn hình phải được trang bị một thiết bị giải mã (bộ
tách) các tín hiệu R,G và B. Chúng không được gắn với các đầu nối đặc
trưng của hệ thống xử lý tự động, và chúng không gắn với cơ cấu điều
chỉnh độ nghiêng, xoay và chiều cao, bề mặt ánh sáng chống lóa, màn
hình hiển thị không rung, và các đặc tính thiết kế tiện dụng khác để làm
cho có thể xem trong thời gian dài ở cự li gần màn hình. Chúng không
gắn với bộ lọc kênh hoặc bộ thu tín hiệu video.
(C) MÁY CHIẾU
Máy chiếu cho phép các hình ảnh được tái tạo bình thường trên màn ảnh
của máy thu truyền hình hoặc của màn hình monitor được chiếu trên một
bề mặt bên ngoài. Chúng có thể dựa trên công nghệ CRT hoặc màn hình
dẹt (ví dụ DMD, LCD, plasma).
(D) MÁY THU DÙNG CHO TRUYỀN HÌNH
Nhóm này bao gồm thiết bị có hoặc không được thiết kế để gắn với màn
hình hiển thị hình ảnh hoặc màn hình, như là:
(1) Máy thu sóng truyền hình (mặt đất, truyền hình cáp hoặc vệ tinh) mà
không bao gồm thiết bị hiển thị (CRT, LCD…). Các thiết bị này
nhận các tín hiệu và chuyển đổi chúng thành các tín hiệu thích hợp
cho hiển thị. Chúng cũng có thể gắn với một modem để kết nối
Những máy thu này được thiết kế để sử dụng với máy ghi video
hoặc các thiết bị tái tạo hình ảnh, màn hình monitor, máy chiếu hoặc
TV. Tuy nhiên, các thiết bị mà chỉ đơn giản là tách các tín hiệu
truyền hình tần số cao (đôi khi gọi là bộ chỉnh hình) được phân loại
như là bộ phận của nhóm 85.29.
(2) Máy thu truyền hình dùng trong công nghiệp (ví dụ để đọc dụng cụ
từ xa, hoặc để quan sát vùng nguy hiểm). Với các thiết bị này, việc
truyền dẫn thường là bằng dây dẫn.
(3) Máy thu truyền hình các loại (LCD, plasma, CRT…) được sử dụng
trong nhà (TV), có hoặc không gắn máy thu sóng phát thanh, máy
ghi video cassette, máy DVD, máy ghi DVD, đầu thu vệ tinh…
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), các bộ phận của các thiết bị thuộc nhóm này được
phân loại vào nhóm 85.29.
Nhóm này loại trừ, không kể những mặt hàng khác:
(a) Máy ghi hoặc tái tạo hình ảnh (nhóm 85.21).
(b) Xe chuyên dùng (ví dụ xe van cho phát thanh truyền hình) được gắn
cố định với thiết bị thu truyền hình hoặc các thiết bị khác của nhóm
này (thường thuộc nhóm 87.05).
(c) Máy chiếu phim (nhóm 90.07) và máy chiếu hình ảnh nhóm 90.08.
85.29 - Bộ phận chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với các thiết bị thuộc
các nhóm từ 85.25 đến 85.28.
8529.10 - Ăng ten và bộ phản xạ của ăng ten; các bộ phận sử
dụng kèm
8529.90 - Loại khác
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), nhóm này bao gồm các bộ phận của các thiết bị
của năm nhóm trước. Phạm vi các bộ phận được phân loại vào nhóm này
bao gồm:
(1) Ăng ten các loại và các bộ phản xạ ăng ten, phát và thu.
(2) Các hệ thống xoay hướng sử dụng cho ăng ten để thu sóng truyền
thanh hoặc sóng truyền hình, cơ bản bao gồm một động cơ điện
được gắn trên cột ăng ten nhằm mục tiêu xoay hướng và một hộp
điều khiển độc lập để xoay hướng và định vị ăng ten.
(3) Các hộp hoặc tủ được thiết kế đặc biệt để lắp đặt các thiết bị thuộc
nhóm 85.25 đến 85.28.
(4) Các bộ chia và lọc tín hiệu ăng ten.
(5) Khung (khung vỏ).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các cột ăng ten (nhóm 73.08)
(b) Các máy phát cao áp (nhóm 85.04).
(c) Pin cho điện thoại di động tế bào (nhóm 85.07).
(d) Các bộ phận hoàn toàn phù hợp để sử dụng chủ yếu cho hàng hóa
thuộc nhóm 85.17 và nhóm 85.25 đến 85.28 (nhóm 85.17).
(e) Tai nghe không có khung chụp qua đầu và tai nghe có khung chụp
qua đầu, có hoặc không nối với một micrô, dùng cho điện thoại hoặc
điện báo, cũng như tai nghe không có khung chụp qua đầu hoặc tai
nghe có khung chụp qua đầu có thể được nối tới với máy thu thanh
hoặc máy thu hình (nhóm 85.18).
(f) Ống đèn tia âm cực và các bộ phận của chúng (ví dụ, cuộn lái tia)
(nhóm 85.40).
(g) Bộ khuếch đại ăng-ten và bộ dao động tần số vô tuyến (nhóm
(h) Các thấu kính và các bộ lọc quang học dùng cho camera truyền hình
(nhóm 90.02).
(ij) Chân đế loại một chân (monopod), hai chân (bipod), ba chân
(tripod) và các mặt hàng tương tự (nhóm 96.20).
85.30 - Thiết bị điện phát tín hiệu thông tin, bảo đảm an toàn hoặc
điều khiển giao thông, dùng cho đường sắt, đường tàu điện,
đường bộ, đường thủy nội địa, điểm dừng đỗ, cảng hoặc sân
bay (trừ loại thuộc nhóm 86.08).
8530.10 - Thiết bị dùng cho đường sắt hay đường tàu điện
8530.80 - Thiết bị khác
8530.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm tất cả các thiết bị điện dùng để điều khiển giao thông
đường sắt, các hệ thống tàu chạy trên đệm không khí, đường bộ hoặc
đường thủy nội địa. Một thiết bị tương tự mở rộng cũng được sử dụng để
điều khiển tầu, thuyền (ở những hải cảng), máy bay (ở cảng hàng
không), điểm dừng đỗ xe, và các thiết bị này cũng thuộc trong nhóm
này. Tuy vậy, nhóm này không bao gồm những thiết bị có tính năng
tương tự hoạt động cơ học, thậm chí những thiết bị này có những tính
năng nhỏ hoạt động bằng điện (ví dụ, các tín hiệu cơ với phương tiện
chiếu sáng bằng điện, hoặc điều khiển thuỷ lực hoặc khí nén chuyển
động bằng điện); chúng được xếp vào nhóm 86.08.
Những tín hiệu tĩnh, thậm chí nếu được thắp sáng bằng điện (ví dụ: các
bảng hiệu chiếu sáng sử dụng như tín hiệu chỉ hướng), không được xem
là các thiết bị điều khiển giao thông. Do vậy, chúng không thuộc nhóm
này, nhưng được xếp riêng vào các nhóm thích hợp (nhóm 83.10, 94.05
(A) Các dụng cụ cho đường sắt hoặc đường tàu điện (kể cả các thiết
bị đường sắt sử dụng trong hầm mỏ) và các thiết bị thuộc hệ
thống vận tải trên đệm không khí. Phân loại vào hai nhóm này là:
(1) Thiết bị phát tín hiệu hoặc thiết bị bảo đảm an toàn. Chúng bao
gồm các tín hiệu chấp hành (thường là những đèn mầu, hoặc là các
đĩa, các cần di chuyển gắn trên trụ hoặc khung của một số loại), các
thiết bị chấp hành và các thiết bị điều khiển (hoạt động thủ công
hoặc tự động).
Các thiết bị phát tín hiệu thuộc loại này thường được dùng để điều
khiển giao thông tại các nhà ga, đầu nút giao thông, các điểm chắn
nút giao thông giữa đường sắt và đường bộ v.v.... hoặc để điều khiển
các chuyến tàu trên cùng một tuyến. Loại thiết bị này bao gồm thiết
bị phát tín hiệu phân tuyến tự động, một chiếc tầu di chuyển từ
tuyến đường này sang tuyến kế tiếp được thực hiện tự động nhờ các
tín hiệu cần thiết.
Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị dùng để phát tín hiệu tới các
nhà ga hoặc các hộp tín hiệu (bằng chuông cảnh báo hoặc một thiết
bị chỉ thị có thể nhìn thấy được) từ vị trí của tầu hoặc vị trí gần với
tàu, hoặc từ vị trí phát tín hiệu v.v....
Những kiểu thiết bị phát tín hiệu nhất định được gắn với những bộ
phận truyền tín hiệu trực tiếp tới cabin đầu máy. Các tiếp điểm hoặc
cảm biến gắn trên đường truyền tác động lên một cơ cấu trên đầu máy
khi mà nó đi qua, và hoặc tạo ra các cảnh báo có thể nhìn thấy được
hoặc có thể nghe thấy được tới người lái ngồi trong cabin, hoặc trong
một vài trường hợp, thực hiện điều khiển đầu máy làm dừng tàu. Các
bộ phận của thiết bị gắn vào đầu máy không thuộc nhóm này.
(2) Thiết bị điều khiển tuyến đường, ví dụ: thiết bị điều khiển từ xa
của các điểm nút. Thực chất, thiết bị này bao gồm thiết bị thao tác
cơ khí (trong nhiều trường hợp bao gồm các thiết bị khóa) được gắn
trên tuyến đường gần mỗi một điểm nút, và bảng điều khiển và thiết
bị được gắn tại một vài nút điều khiển tập trung (hộp tín hiệu...).
Nhóm này bao gồm các thiết bị khá phức tạp dùng để điều khiển tự
động các xe goòng trong khu vực nối toa, ví dụ; các thiết bị điều
khiển chuyển động của xe goòng được lắp đặt trong một số khu vực
nối toa lớn (“rô bốt bi”).
(B) Các thiết bị dùng cho đường thuỷ nội địa, đường bộ hoặc các bãi
đỗ xe. Nhóm này bao gồm:
(1) Các tín hiệu tự động tại các điểm giao nhau, ví dụ như đèn
nháy, chuông, các tín hiệu dừng được phát sáng.
Nhóm này cũng bao gồm những thiết bị điện dùng để vận hành
cổng chắn hoặc barie.
2) Đèn giao thông. Thông thường, chúng là một hệ thống các đèn
mầu được lắp đặt tại các điểm đường giao nhau, đầu nút giao
thông v.v.... chúng gồm một hệ thống lắp đặt đèn ánh sáng thấy
được, các thiết bị điều khiển và các phương tiện để điều khiển.
Những đèn này có thể vận hành bằng tay (đèn được vận hành
bởi cảnh sát giao thông hoặc, tại các nút sang đường dành cho
người đi bộ, chúng được vận hành bởi khách bộ hành) hoặc tự
động (đèn được vận hành nhờ các thiết bị định giờ, và đèn được
vận hành bởi sự qua lại của các phương tiện, hoặc sử dụng các
pin quang điện hoặc bằng các tiếp điểm đặt trên đường).
(C) Các thiết bị điện điều khiển giao thông lắp đặt ở cảng hoặc sân
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại bộ phận (xem các Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), các bộ phận của hàng hóa thuộc nhóm này cũng
được phân loại trong nhóm này.
Nhóm này không bao gồm các thiết bị điện phát tín hiệu hoặc chiếu
sáng gắn trên xe đạp hoặc xe có động cơ (nhóm 85.12).
85.31 - Thiết bị báo hiệu bằng âm thanh hoặc hình ảnh (ví dụ,
chuông, còi báo, bảng chỉ báo, báo động chống trộm hoặc báo
cháy), trừ các thiết bị thuộc nhóm 85.12 hoặc 85.30.
8531.10 - Báo động chống trộm hoặc báo cháy và các thiết bị
tương tự
8531.20 - Bảng chỉ báo có gắn màn hình tinh thể lỏng (LCD)
hoặc điốt phát quang (LED)
8531.80 - Thiết bị khác
8531.90 - Bộ phận
Trừ các thiết bị phát tín hiệu sử dụng trên xe đạp hoặc xe có động cơ
(nhóm 85.12) và các thiết bị dùng cho điều khiển giao thông trên đường
bộ, đường sắt v.v... (nhóm 85.30), nhóm này bao gồm tất cả các thiết bị
điện dùng cho mục đích phát tín hiệu, hoặc sử dụng âm thanh để truyền
tín hiệu (chuông, còi, v.v...) hoặc sử dụng những chỉ dẫn có thể nhìn thấy
được (đèn, cờ, các con số phát sáng, v.v...). Các thiết bị này hoặc có thể
vận hành bằng tay (ví dụ, chuông cửa) hoặc tự động (ví dụ, chuông báo
trộm).
Những tín hiệu tĩnh, thậm chí nếu được thắp sáng bằng dòng điện (ví dụ:
đèn, đèn lồng, các bảng hiệu được phát sáng v.v...) không được xem là
các thiết bị phát tín hiệu. Do vậy, chúng không thuộc nhóm này, được
phân loại vào các nhóm thích hợp với chúng (nhóm 83.10, 94.05 v.v...)
Nhóm này bao gồm, không kể những mặt hàng khác:
(A) Chuông điện, còi điện, chuông cửa điện có nhạc, v.v... Thực chất,
các chuông điện bao gồm một chi tiết hoạt động bằng điện-từ, làm
rung một cái búa nhỏ và gõ vào thành chuông. Còi điện cũng tương
tự nhưng không có thành chuông. Cả hai loại đều rất phổ biến trong
các mục đích gia dụng (ví dụ: chuông cửa) và trong văn phòng,
khách sạn v.v... Nhóm này cũng bao gồm các loại chuông cửa điện
có nhạc, loại có một hoặc nhiều ống kim loại được gõ vào để phát ra
một hay nhiều nốt nhạc và các chuông nhà thờ hoạt động bằng điện,
ngoại trừ các chuông chùm thích hợp cho việc chơi nhạc (Chương
Các chuông điện và các chuông cửa điện có nhạc thường được thiết
kế để vận hành với nguồn điện áp thấp (dùng pin sơ cấp hoặc ắc
quy), nhưng trong một số trường hợp cụ thể, chúng thường gắn với
một máy biến điện để giảm điện áp nguồn điện thế chính.
(B) Các thiết bị điện báo hiệu bằng hiệu âm thanh, còi điện, còi báo
điện… Âm thanh sinh ra bởi một lưỡi gà rung, bởi một đĩa xoay
chạy bằng điện hoặc máy phát âm thanh điện tử; chúng bao gồm còi
nhà máy, còi báo động phòng không, còi tàu thuỷ…
(C) Các thiết bị điện báo hiệu khác (đèn nhấp nháy hoặc đèn sáng gián
đoạn,…) cho máy bay, tàu thuỷ, tàu hoả hoặc các phương tiện khác
(ngoại trừ các thiết bị dùng cho xe đạp hoặc xe có động cơ thuộc
nhóm 85.12), không bao gồm các thiết bị sóng vô tuyến hoặc rađa
của nhóm 85.26.
(D) Các bảng chỉ báo hoặc các dạng tương tự. Các thiết bị này được
dùng (ví dụ: trong các khách sạn, văn phòng, nhà máy) để gọi
người, để chỉ dẫn vị trí của một người hoặc một nơi dịch vụ được
yêu cầu, để báo hiệu một phòng còn trống hay không. Chúng bao
gồm:
(1) Bảng chỉ báo phòng. Các bảng này là các bảng lớn có các con
số tương ứng với số phòng. Khi nhấn nút tại phòng có yêu cầu,
thì số tương ứng trên bảng sẽ sáng lên, hoặc được thể hiện bằng
cách mở cửa chớp hoặc lật nắp che.
(2) Các chỉ báo bằng con số. Các tín hiệu xuất hiện dưới dạng các
con số được chiếu sáng trên bề mặt của một hộp nhỏ; trong một
vài thiết bị kiểu này, cơ chế gọi hoạt động được thực hiện bởi
việc quay số của một điện thoại. Cũng như các chỉ báo kiểu
đồng hồ trong đó các con số được chỉ dẫn bởi một kim quay
tròn quanh đĩa số.
(3) Bảng chỉ báo văn phòng, ví dụ như, được dùng để chỉ báo
người ngồi làm việc trong đó có thể tiếp khách hay không. Một
vài kiểu bảng chỉ báo đơn giản hiển thị dòng chữ "xin mời vào"
hoặc "bận" được phát sáng theo ý của người ngồi trong phòng.
(4) Chỉ báo thang máy. Các chỉ báo này, được hiển thị trên một
bảng phát sáng, chỉ vị trí thang máy và hướng đi lên xuống của
thang máy.
(5) Các thiết bị điện báo trong phòng máy dùng cho tàu biển.
(6) Các bảng chỉ báo dùng trong các nhà ga để chỉ báo thời gian
và sân ga đến và đi của tàu.
(7) Các chỉ báo dùng trên trường đua ngựa, sàn chơi bowling và
sân bóng đá…
Một số bảng chỉ báo này, v.v. cũng được gắn với chuông hoặc các
thiết bị tín hiệu âm thanh khác.
Nhóm này không bao gồm các bản đồ đường bộ hoặc đường sắt đặt
nơi công cộng, trong đó một vị trí, một con đường, một khu vực,
một tuyến đường cụ thể được chiếu sáng khi ấn một nút thích hợp,
cũng như không bao gồm các tín hiệu quảng cáo dùng điện.
(E) Các báo động chống trộm. Những thiết bị này gồm có 2 phần: phần
phát hiện, và phần phát tín hiệu (chuông, còi, bộ chỉ báo có thể nhìn
thấy được v.v...) là bộ phận sẽ tự động báo động khi bộ phận phát
hiện được kích hoạt. Những báo động chống trộm hoạt động theo
một số cách thức sau, ví dụ:
(1) Bằng tiếp điểm điện, chúng được kích hoạt bởi việc giẩm lên
một phần nhất định của sàn nhà, bằng việc mở cửa, phá vỡ hoặc
chạm vào đường dây mảnh được cài đặt…
(2) Bằng hiệu ứng điện dung. Chúng thường được nối với két bạc;
lúc này két bạc đóng vai trò như một bản cực của tụ điện, dung
kháng của nó sẽ thay đổi khi tiếp xúc với cơ thể người, do đó nó
sẽ tác động lên một mạch điện và bật bộ báo động.
(3) Các thiết bị quang điện. Một tia (thường là ánh sáng hồng
ngoại) được tập trung vào một tế bào quang điện; khi tia này bị
gián đoạn, nó sẽ làm dòng điện trong mạch quang điện thay đổi
dẫn đến bật bộ báo động.
(F) Báo cháy. Báo cháy tự động cũng gồm có hai phần: phần dò tìm và
phần phát tín hiệu (chuông, còi, bộ chỉ báo có thể nhìn thấy được
v.v...). Chúng bao gồm:
(1) Các thiết bị hoạt động nhờ các vật liệu dễ nóng, chảy (sáp
hoặc hợp kim đặc biệt). Các vật liệu này sẽ tan chảy khi nhiệt
độ vượt quá một ngưỡng nào đó, do đó các tiếp điểm điện sẽ
đóng và kích hoạt báo động.
(2) Các thiết bị hoạt động dựa trên sự giãn nở của miếng lưỡng
kim, chất lỏng hoặc chất khí. Khi chúng giãn nở vượt quá một
ngưỡng nhất định sẽ kích hoạt báo động. Đối với một kiểu thiết
bị, sự giãn nở của chất khí sẽ ép cho piston chuyển động trong
xi lanh; một van được gắn vào để việc giãn nở chậm sẽ không
kích hoạt báo động, nhưng khi nhiệt độ tăng bất thường khiến
cho sự giãn nở đột ngột làm cho van này tác động lên bộ báo
động.
(3) Các thiết bị hoạt động dựa trên sự thay đổi về trở kháng của
một phần tử trong mạch điện, trở kháng của phần tử này thay
đổi theo nhiệt độ.
(4) Các thiết bị hoạt động nhờ các tế bào quang điện. Một tia
sáng được tập trung vào tế bào quang điện và, nếu như nó bị
che khuất tới một mức xác định bởi khói, nó sẽ kích hoạt bộ báo
động. Những thiết bị tương tự được gắn với bộ chỉ báo mức độ
hoặc với hệ thống ghi âm được xếp phân loại vào Chương 90.
Ngoài các thiết bị báo cháy tự động, nhóm này cũng bao gồm các
thiết bị báo cháy không tự động, chẳng hạn những thiết bị được lắp
đặt trên các tuyến phố, để gọi đội cứu hoả.
(G) Các thiết bị điện báo động rò ga hoặc rò hơi, bao gồm một bộ
phận dò tìm và một bộ phận báo hiệu bằng âm thanh hoặc bằng dấu
hiệu có thể nhìn thấy, được dùng để báo cho biết có sự hiện diện của
hỗn hợp khí độc hại (khí tự nhiên, mê tan...).
(H) Báo lửa (phát hiện ngọn lửa) gắn với một tế bào quang điện, nó tác
động lên thiết bị báo động qua một rơle khi ngọn lửa cháy lên hay
tắt đi. Các thiết bị dò không gắn kèm các bộ phận điện báo hiệu
bằng âm thanh hoặc bằng dấu hiệu có thể nhìn thấy được xếp phân
loại vào nhóm 85.36.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), các bộ phận của các sản phẩm thuộc nhóm này
cũng được phân loại trong nhóm này.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Các bộ đóng ngắt mạch điện và các bảng đóng ngắt mạch điện, có
hoặc không gắn kèm các đèn chỉ báo đơn giản (nhóm 85.36 hoặc
(b) Các thiết bị báo cháy gắn kèm bộ phận dò tìm khói có chứa chất
phóng xạ (nhóm 90.22).
(c) Màn hình LCD hoặc máy thu truyền hình (nhóm 85.28).
85.32 - Tụ điện, loại có điện dung cố định, biến đổi hoặc điều chỉnh
được (theo mức định trước) (+).
8532.10 - Tụ điện cố định được thiết kế dùng trong mạch có tần
số 50/60 Hz và có giới hạn công suất phản kháng cho
phép không dưới 0,5 kvar (tụ nguồn)
- Tụ điện cố định khác:
8532.21 - - Tụ tantan (tantalum)
8532.22 - - Tụ nhôm
8532.23 - - Tụ gốm, một lớp
8532.24 - - Tụ gốm, nhiều lớp
8532.25 - - Tụ giấy hay plastic
8532.29 - - Loại khác
8532.30 - Tụ điện biến đổi hay tụ điện điều chỉnh được (theo
mức định trước)
8532.90 - Bộ phận
Về mặt nguyên lý, các tụ điện (hoặc bộ điện dung) bao gồm hai bề mặt
dẫn, được cách ly bằng vật liệu cách điện (điện môi), ví dụ không khí,
giấy, mica, dầu nhờn, nhựa và cao su, gốm sứ hoặc thuỷ tinh...
Chúng được dùng vào nhiều mục đích trong nhiều lĩnh vực của công
nghiệp điện (ví dụ: để cải thiện hệ số công suất trong mạch điện xoay
chiều, để tạo ra các dòng điện lệch pha cho từ trường quay của động cơ
cảm ứng, để bảo vệ tiếp điểm điện khỏi hiệu ứng hồ quang, để lưu trữ và
tái sử dụng điện năng, trong các mạch dao động, trong các mạch lọc tần
số, và được sử dụng rất rộng rãi trong phát thanh, truyền hình hoặc công
nghiệp điện thoại hoặc cho các thiết bị điện tử công nghiệp).
Đặc điểm của chúng (hình dạng, kích thước, dung kháng, bản chất của
điện môi,...) thay đổi tuỳ theo mục đích sử dụng. Tuy nhiên, nhóm này
bao gồm tất cả các tụ điện mà không xét đến kiểu tụ, phương pháp chế
tạo, và với mọi mục đích sử dụng (kể cả những tụ tiêu chuẩn dùng trong
phòng thí nghiệm hoặc trong một số lượng lớn các thiết bị đo, được chế
tạo đặc biệt với dung sai nhỏ và được thiết kế sao cho vẫn duy trì chất
lượng tốt trong suốt quá trình sử dụng).
Nhóm này cũng bao gồm các nhóm tụ trên cùng một khung hoặc trong
cùng một vỏ (ví dụ các tụ có hệ số công suất lớn và các hộp tụ bao gồm
một số các tụ tiêu chuẩn có khả năng kết nối với nhau, theo kiểu song
song hoặc nối tiếp, để thu được bất kỳ điện dung cần thiết nào).
(A) CÁC TỤ ĐIỆN CỐ ĐỊNH
Là các loại tụ có dung kháng không thay đổi được. Các loại chính bao
gồm: tụ khô, tụ thấm dầu, tụ khí, tụ chứa dầu và tụ điện hoá.
(1) Trong các tụ điện khô, các bản cực và điện môi thường dưới dạng
các phiến xếp chồng lên nhau, hoặc các băng cuốn tròn hoặc dưới
dạng lá. Trong một số tụ điện khô nhất định, lớp điện môi phủ lên
kim loại thường được xử lý hoá học hoặc xử lý nhiệt. Các tụ khô có
thể được đóng kín trong hộp có kẹp hoặc không có hộp.
(2) Các tụ thấm dầu có cấu trúc gần với tụ khô trừ chất điện môi, thông
thường bằng phim nhựa hoặc phim nhựa và giấy, được tẩm dầu hoặc
chất lỏng khác.
(3) Các tụ khí bao gồm hai hoặc nhiều điện cực được cách ly bằng khí,
khác với không khí, làm thành chất điện môi.
(4) Trong một số trường hợp, tụ điện (“tụ chứa dầu”) được khép kín
trong một vỏ đổ đầy dầu hoặc chất lỏng thích hợp khác, và được gắn
nhiều phụ kiện như đồng hồ đo áp suất và các van an toàn.
(5) Trong các tụ điện hoá, một trong số các bản cực thường bằng
nhôm hoặc tantan, trong khi vai trò của các bản cực khác được
thực hiện nhờ chất điện phân thích hợp, mà nhờ nó dòng điện
được dẫn bằng một điện cực, đôi khi điện cực này có dạng tương
tự như bản cực bằng nhôm hoặc tantan. Phản ứng điện phân tạo
ra trên bản cực nhôm hoặc tantan một lớp mỏng hợp chất hoá học
phức tạp mà sau đó hình thành lớp điện môi. Tụ điện này đôi khi
được đóng trong một vỏ, , nhưng thông thường thì bản thân lớp
vỏ bên ngoài của điện cực chính là vỏ; những tụ này thường được
gắn với một pin cơ sở tương tự như pin cơ sở của van. Những tụ
cụ thể của kiểu này thường có chất điện phân nhão còn được gọi
là “tụ điện hoá khô”.
(B) TỤ BIẾN ĐỔI
Là loại tụ mà dung kháng có thể thay đổi được. Trong phần lớn các tụ,
chất điện môi được sử dụng là không khí, và các bản cực thường bao
gồm 2 nhóm bản cực kim loại, một nhóm được gắn cố định trong khi đó
nhóm kia, được gắn trên một trục, có thể được xoay sao cho các bản cực
của nó có thể di chuyển giữa các bản cực của nhóm cố định. Góc xoay
và sự xen kẽ giữa các tấm chuyển động (phần quay) và các tấm cố định
(phần tĩnh) làm thay đổi dung kháng của tụ điện.
(C) TỤ ĐIỆN ĐIỀU CHỈNH ĐƯỢC HOẶC CÁC TỤ ĐIỆN CÓ
MỨC ĐỊNH TRƯỚC
Các tụ điện loại này (bao gồm cả các tụ điện tinh chỉnh) có thể điều
chỉnh được dung kháng trong những giới hạn hẹp để có được một giá trị
chính xác. Việc điều chỉnh này có thể tiến hành theo nhiều cách khác
nhau. Trong một số kiểu nhất định, khoảng cách giữa các bản cực có thể
thay đổi nhờ một đinh vít. Ở các kiểu khác bao gồm 2 xi lanh kim loại,
một cái di chuyển được tới một vị trí thay đổi so với cái còn lại hoặc cả
hai di chuyển tương đối theo hình bán nguyệt. Thông thường, chất điện
môi được sử dụng là, ví dụ: mica, gốm sứ, nhựa hoặc không khí.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), các bộ phận của tụ điện cũng được phân loại trong
nhóm này.
Nhóm này không bao gồm các động cơ đồng bộ được dùng để cải thiện
hệ số công suất, mặc dù chúng thường được gọi là “các tụ đồng bộ”
(nhóm 85.01).
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Phân nhóm 8532.23
Phân nhóm này bao gồm tất cả những tụ điện cố định với chất điện môi
bằng gốm sứ một lớp, có dạng đĩa hoặc ống.
Phân nhóm 8532.24
Phân nhóm này bao gồm tất cả những tụ điện cố định với chất điện môi
bằng gốm sứ nhiều lớp, có nhiều chân nối hoặc có hình dạng giống một
85.33 - Điện trở (kể cả biến trở và chiết áp), trừ điện trở nung nóng.
8533.10 - Điện trở than cố định, dạng kết hợp hay dạng màng
- Điện trở cố định khác:
8533.21 - - Có công suất danh định không quá 20 W
8533.29 - - Loại khác
- Điện trở biến đổi kiểu dây quấn, kể cả biến trở và
chiết áp:
8533.31 - - Có công suất danh định không quá 20 W
8533.39 - - Loại khác
8533.40 - Điện trở biến đổi khác, kể cả biến trở và chiết áp
8533.90 - Bộ phận
(A) Điện trở (trở kháng). Chúng đều là những vật dẫn có chức năng
cung cấp mức trở kháng đã định vào mạch điện (ví dụ: hạn chế dòng
điện chạy qua). Chúng khác nhau nhiều về hình dáng và kích cỡ và
vật liệu chế tạo. Chúng có thể được làm từ kim loại (dưới dạng
thanh, dạng hình hoặc dạng dây, thường được cuốn trên lõi) hoặc từ
than dưới dạng thanh hoặc bằng cacbon, cuabua silic, kim loại hoặc
phim oxit kim loại. Chúng có thể được thu ở dạng các thành phần
riêng biệt bởi quá trình in. Các điện trở có thể được gắn với một số
đầu cực, cho phép toàn bộ hoặc một phần được trở thành một phần
trong mạch điện.
Nhóm này bao gồm:
(1) Điện trở ngâm dầu.
(2) Các đèn điện trở than, hình dáng giống đèn sợi đốt với một sợi
cacbon đặc biệt; tuy nhiên, đèn sợi đốt cácbon nhằm mục đích
chiếu sáng bị loại trừ (nhóm 85.39).
(3) Điện trở ổn dòng gồm nhiều sợi sắt được lắp đặt trong một ống
thuỷ tinh đổ đầy hydro hoặc heli; tính chất của chúng thay đổi
một cách tự động trong những giới hạn nhất định và vì vậy giữ
cho dòng điện luôn không đổi.
(4) Các điện trở tiêu chuẩn mẫu dùng cho những mục đích đo
lường và so sánh (ví dụ, trong các phòng thí nghiệm); những
hộp điện trở bao gồm một số điện trở tiêu chuẩn được lắp ghép
trong cùng một hộp, sao cho khi đóng ngắt hoặc sắp xếp các
đầu ra cực để kết hợp những điện trở cần thiết dùng trong mạch
điện.
(5) Các điện trở phi tuyến: phụ thuộc vào nhiệt độ (điện trở nhiệt)
với hệ số nhiệt độ dương hoặc âm (thường được gắn vào những
ống thuỷ tinh), và các điện trở phi tuyến phụ thuộc vào điện áp
nhưng không bao gồm các điốt biến đổi theo điện áp
(varistor), thuộc nhóm 85.41.
(6) Những điện trở gọi là "thiết bị đo sức căng" là những phần tử
nhạy cảm dùng trong các dụng cụ đo sức căng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các điện trở nung nóng (nhóm 85.16 hoặc 85.45).
(b) Các quang trở (nhóm 85.41).
(B) Biến trở: là những điện trở biến đổi với một tiếp điểm trượt hoặc
bằng cách khác để có thể làm thay đổi hệ số điện trở trong mạch
điện theo ý muốn. Chúng bao gồm, biến trở dây quấn kiểu trượt sử
dụng con trượt trên toàn bộ cuộn dây điện trở; biến trở thay đổi từng
cấp; biến trở hydro có điện cực động được nhúng toàn bộ trong chất
dẫn lỏng; biến trở tự động (ví dụ, làm việc nhờ cơ chế hoạt động cực
tiểu hoặc cực đại dòng điện hoặc điện áp); các biến trở ly tâm.
Một số biến trở được thiết kế cho những mục đích cụ thể (ví dụ, bộ
điều chỉnh ánh sáng trong rạp hát sử dụng trong các mạch điện chiếu
sáng, có tác dụng thay đổi mức độ sáng từ từ; và các bộ điều khiển
và khởi động động cơ bao gồm một số các điện trở được sắp xếp nối
với nhau ở mức độ cần thiết để có thể đóng thêm vào hoặc bỏ bớt
một hoặc nhiều điện trở trong mạch). Tuy vậy, chúng vẫn được phân
loại trong nhóm này.
(C) Chiết áp: Chúng có một điện trở cố định với 2 đầu nối và một điểm
trượt ở giữa có tác dụng tạo ra điểm tiếp xúc bất kỳ trên điện trở.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), các bộ phận của điện trở thuộc nhóm này cũng
được phân loại trong nhóm này.
85.34- Mạch in.
Theo Chú giải 8 của Chương này, nhóm này bao gồm tất cả các mạch
được tạo ra trên một tấm cách điện, bằng một quy trình in nào đó (in
thông thường hoặc rập nổi, mạ, khắc axít...), các phần tử dẫn điện (dây
dẫn), các tiếp điểm hoặc các thành phần c dùng cho mạch in khác, chẳng
hạn cuộn cảm, điện trở và tụ điện (các phần tử ”thụ động”), trừ các phần
tử có thể phát (tạo ra), chỉnh lưu, dò tìm, điều biến hoặc khuếch đại tín
hiệu điện, ví dụ như điốt, triốt hoặc các phần tử “chủ động” khác. Một số
mạch cơ bản hoặc “trắng” có thể chỉ gồm những phần tử dẫn điện đã
được in, thông thường là những dải mảnh đồng nhất hoặc tấm mỏng với
các đầu nối hoặc thiết bị tiếp xúc nếu thích hợp.. Một số kết hợp khác
của những phần tử trên phụ thuộc vào mẫu đã được thiết lập trước đó.
Tấm vật liệu cách điện cơ sở thường có dạng phẳng tuy nhiên cũng có
thể dưới dạng trụ, nón...Mạch điện có thể được in lên một mặt hoặc cả
hai mặt (mạch in 2 lớp). Một vài mạch in có thể cấu tạo gồm nhiều lớp
và được nối với nhau (mạch in nhiều lớp).
Nhóm này cũng bao gồm những mạch in trên phim mỏng hoặc dầy chỉ
có những phần tử thụ động.
Những mạch in phim mỏng được hình thành nhờ sự kết tủa lên trên
những tấm vật liệu bằng thủy tinh hoặc trên những tấm vật liệu bằng
gốm theo mẫu riêng của phim kim loại hoặc phim điện môi, bằng sự bốc
hơi chân không, các phương pháp phun âm cực hoặc phương pháp hóa
học. Các mẫu này có thể được định dạng bởi sự kết tủa qua lưới hoặc bởi
sự kết tủa liên tục của một tấm với sự ăn mòn axit có chọn lọc tiếp theo.
Các mạch phim dày được tạo thành bởi in lưới trên các tấm gốm theo
các mẫu tương tự, sử dụng bột nhão (hoặc mực) có chứa hỗn hợp bột
thủy tinh, gốm và kim loại với dung môi thích hợp. Các tấm này sau đó
được nung trong lò.
Các mạch in có thể được tạo lỗ hoặc để gắn với các phần tử kết nối
không được in hoặc để gắn những phần tử cơ khí hoặc để nối các linh
kiện dẫn điện không được hình thành trong quá trình in. Thông thường,
những mạch phim có vỏ bọc bằng chất dẻo, gốm hoặc kim loại, chúng
gắn với những dây dẫn hoặc các đầu cực.
Các linh kiện thụ động riêng lẻ, như cuộn cảm, tụ điện và điện trở có
được nhờ quá trình in bất kỳ nào đó mà không được xem là những mạch
in thuộc nhóm này, nhưng chúng được phân loại vào những nhóm thích
hợp riêng của chúng. (ví dụ các nhóm 85.04, 85.16, 85.32 hoặc 85.33).
Các mạch mà trên đó những phần tử cơ khí hoặc những linh kiện điện đã
được gắn hoặc được nối không được xem như những mạch in theo đúng
nghĩa của nhóm này. Nói chung, chúng được phân loại theo Chú giải 2
phần XVI hoặc chú giải 2 của chương 90, tùy trường hợp cụ thể.
85.35- Thiết bị điện để đóng ngắt mạch hay bảo vệ mạch điện, hoặc
dùng để đấu nối hay lắp trong mạch điện (ví dụ, cầu dao,
công tắc, cầu chì, bộ chống sét, bộ khống chế điện áp, bộ triệt
xung điện, phích cắm và đầu nối khác, hộp đấu nối), dùng
cho điện áp trên 1.000 V.
8535.10 - Cầu chì
⦁ Bộ ngắt mạch tự động :
8535.21 - - Có điện áp dưới 72,5 kV
8535.29 - - Loại khác
8535.30 - Cầu dao cách ly và thiết bị đóng - ngắt điện
8535.40 - Bộ chống sét, bộ khống chế điện áp và bộ triệt xung
điện
8535.90 - Loại khác
Nói chung, nhóm này bao gồm các thiết bị điện dùng trong hệ thống
phân phối điện năng. Các điều khoản của Chú giải chi tiết nhóm
85.36 áp dụng, một cách tương tự, về khía cạnh các đặc điểm kỹ thuật
và chức năng của các thiết bị, đóng ngắt mạch hay bảo vệ dòng điện,
hoặc dùng để đấu nối hay lắp trong mạch điện. Nhóm này bao gồm
các thiết bị đã được mô tả trong phần Chú giải chi tiết nhóm 85.36 khi
điện áp trên 1000V.
Nhóm này bao gồm:
(A) Cầu chì và các bộ ngắt mạch tự động, ngắt dòng điện một cách tự
động khi cường độ dòng điện hoặc điện áp vượt quá một giới hạn
nhất định.
(B) Các thiết bị đóng ngắt điện được thiết kế đặc biệt cho mạch cao áp.
Chúng thường là những thiết bị đặc biệt có cấu trúc phức tạp và bền
vững để ngăn hồ quang, và chúng thường có nhiều tiếp điểm hoặc
được điều khiển từ xa với nhiều cách khác nhau (ví dụ: động cơ
secvo, cánh tay đòn bẩy). Các thiết bị này thường được gắn trong vỏ
bằng kim loại hoặc vật liệu cách điện, được đổ đầy môi chất (ví dụ:
dầu) hoặc khí hoặc trong chân không.
(C) Bộ chống sét. Chúng là những thiết bị bảo vệ, được thiết kế để bảo
vệ các cáp cao thế hoặc các hệ thống điện không bị ảnh hưởng của
sét; chúng bao gồm một thiết bị thường cách điện đối với với đường
dây cao áp những sẽ không cách điện và tạo nên một đường dẫn
điện xuống đất trong trường hợp điện áp vượt quá một ngưỡng nhất
định, nếu không đường dây và các hệ thống điện sẽ bị hỏng do sét.
Có nhiều kiểu chống sét như chống sét bằng oxít kim loại, chống sét
bằng các hạt carbon, chống sét có khe hẹp phóng điện hoặc tấm bảo
vệ gắn trên phần cách điện hoặc một dây chuỗi cách điện, chống sét
điện phân v.v...Tuy nhiên, bộ chống sét hoạt động theo nguyên lý
phóng xạ được phân loại vào nhóm 90.22.
(D) Các bộ khống chế điện áp. Các thiết bị này sử dụng nhằm mục đích
đảm bảo hiệu điện thế giữa hai vật dẫn hoặc giữa các vật dẫn với đất
không vượt quá giá trị đặt trước. Đôi khi những thiết bị này có cấu
trúc giống với kiểu đèn phóng điện, nhưng không sử dụng cho
những mục đích chiếu sáng, chúng không được xem như là đèn
chiếu sáng.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm những bộ điều chỉnh điện áp
tự động (nhóm 90.32).
(E) Cầu dao cách ly, được dùng để tạo một khoảng cách cách điện của
dây; chúng thuộc loại ngắt mạch chậm, nhưng không giống với các
thiết bị đóng - ngắt điện khác, nói chung chúng không được tạo ra
để dùng đóng ngắt mạch có dòng tải.
(F) Bộ triệt xung điện hoặc đột biến. Những thiết bị này được lắp ráp
từ các cuộn dây hoăc tụ điện, v.v.... được mắc nối tiếp hoặc song
song trên đường dây hoặc thiết bị điện nhằm mục đích thu các xung
tần số cao. Các tụ điện hoặc cuộn dây đơn giản sử dụng cho mục
đích này vẫn được phân loại vào nhóm tương ứng.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), các bộ phận của các thiết bị thuộc nhóm này được
phân loại ở nhóm 85.38.
Nhóm này ngoại trừ những cụm chi tiết lắp ráp của những thiết bị kể
trên (trừ các cụm đóng ngắt đơn giản) (nhóm 85.37).
85.36 - Thiết bị điện để đóng ngắt mạch hay bảo vệ mạch điện, hoặc
dùng để đấu nối hay lắp trong mạch điện (ví dụ, cầu dao, rơ
le, công tắc, chi tiết đóng ngắt mạch, cầu chì, bộ triệt xung
điện, phích cắm, ổ cắm, đui đèn và các đầu nối khác, hộp đấu
nối), dùng cho điện áp không quá 1.000V; đầu nối dùng cho
sợi quang, bó sợi quang hoặc cáp quang.
8536.10 - Cầu chì
8536.20 - Bộ ngắt mạch tự động
8536.30 - Thiết bị bảo vệ mạch điện khác
⦁ Rơ le:
8536.41 - - Dùng cho điện áp không quá 60 V
8536.49 - - Loại khác
8536.50 - Thiết bị đóng ngắt mạch khác
- Đui đèn, phích cắm và ổ cắm:
8536.61 - - Đui đèn
8536.69 - - Loại khác
8536.70 - Đầu nối dùng cho sợi quang, bó sợi quang hoặc cáp
8536.90 - Thiết bị khác
Nói chung, nhóm này bao gồm các thiết bị điện dùng cho điện áp không
quá 1000v dùng cho các thiết bị gia dụng hoặc công nghệp. Tuy nhiên,
các thiết bị dùng cho điện áp trên 1000v thuộc vào nhóm 85.35. Nhóm
này cũng bao gồm các nối dùng cho sợi quang, bó sợi quang hoặc cáp
Nhóm này bao gồm:
(I) THIẾT BỊ ĐIỆN DÙNG CHO ĐÓNG NGẮT MẠCH ĐIỆN
Những thiết bị này thường gồm chủ yếu những thiết bị đóng và ngắt một
hoặc nhiều mạch chúng đang kết nối hoặc dùng để kết nối hoặc ngắt một
mạch điện này với một mạch điện khác; chúng được xem là những thiết
bị đơn cực, 2 cực, 3 cực.v..v... tuỳ thuộc số lượng mạch đóng cắt mà
thiết bị tham gia vào. nhóm này cũng bao gồm những rơle và những
chuyển mạch.
(A) Các thiết bị đóng ngắt trong nhóm này bao gồm những bộ đóng
ngắt nhỏ dùng trong radio, các thiết bị đo điện v.v... các thiết bị
đóng ngắt sử dụng trong lắp đặt điện gia dụng ( ví dụ; các công tắc
lật, các công tắc gạt, các chuyển mạch xoay, các công tắc đạp chân,
các công tắc kiểu nút ấn) và các thiết bị đóng cắt sử dụng trong công
nghiệp ( ví dụ: các công tắc hành trình, các công tắc kiểu cam, các
công tắc siêu nhỏ và các chuyển mạch gần)
Các công tắc hoạt động khi đóng và mở cửa và các công tắc điện-
nhiệt tự đông (tắcte) dùng để mồi ban đầu cho đèn huỳnh quang
được phân loại vào đây.
Các thiết bị khác cũng được xếp vào đây bao gồm các bộ đổi nối
xoay chiều (AC) điện tử, chúng gồm có một đầu vào là bộ ghép
quang và đầu ra là mạch điện (các công tắc AC dùng thyristor cách
ly); các công tắc điện tử, bao gồm các công tắc điện tử bảo vệ nhiệt,
chúng gồm có một transistor và một chip logic (công nghệ chip-on-
chip) dùng cho điện áp không quá 1000 vôn; và các công tắc tác
động nhanh bằng cơ điện tử dùng cho dòng điện không quá 11amps
(công tắc lật).
Công tắc điện tử mà nó hoạt động không cần tiếp xúc sử dụng thành
phần bán dẫn (ví dụ, dùng transistor, thyristo, mạch tích hợp).
Chốt cửa có gắn công tắc không nằm trong nhóm này (nhóm 83.01).
(B) Bộ chuyển mạch được dùng để kết nối một hoặc nhiều đường dây
tới một hoặc nhiều đường dây khác.
Trong loại đơn giản nhất, một dây được nối với một điểm trung tâm,
điểm trung tâm này được nối tới một tay gạt để nối tới bất kỳ một
trong số các đường dây khác. Bộ chuyển mạch phức tạp hơn bao
gồm các bộ khống chế dùng để khởi động động cơ điện và một cơ
cấu điều khiển các hộp số cho phương tiện chạy bằng điện. Những
thiết bị này không những có cơ cấu đóng cắt, mà còn có nhiều điện
trở để đóng hoặc ngắt mạch điện theo yêu cầu (xem phần chú giải
của nhóm 85.33).
Nhóm này cũng bao gồm những bộ đóng ngắt phức tạp dùng trong
thiết bị truyền hình và thiết bị truyền thanh v.v....
(C) Rơ le là những thiết bị điện điều khiển tự động mạch điện bằng sự
thay đổi trên cùng mạch điện đó hoặc mạch điện khác. Ví dụ chúng
đuợc sử dụng trong các thiết bị viễn thông, các thiết bị phát tín hiệu
trên đường ray hoặc đường bộ, để điều khiển hoặc bảo vệ các máy
công cụ. v.v....
Các loại khác nhau có thể được phân biệt bởi, ví dụ :
(1) Theo cách điều khiển điện: các rơ le điện từ, rơ le nam châm
vĩnh cửu, rơ le nhiệt, rơ le cảm ứng, rơ le tĩnh điện, rơ le quang
điện, rơ le điện tử ...
(2) Theo điều kiện hoạt động được thiết kế từ trước: Các rơ le
dòng điện cực đại, rơ le điện áp cực đại hoặc cực tiểu, rơ le vi
sai, rơ le tác động nhanh, rơ le thời gian trễ...
Công tắc tơ là những thiết bị cũng được xem là các rơle dùng để
đóng và ngắt mạch điện, tự động khởi động lại mà không cần chốt
cơ khí hoặc thao tác bằng tay. Nói chung, những thiết bị này luôn ở
trạng thái làm việc (có dòng điện chạy qua tiếp điểm).
(II) CÁC THIẾT BỊ BẢO VỆ MẠCH ĐIỆN
Nhóm này bao gồm các cầu chì. Những cầu chì này đều có dây chảy
trong, chúng được lắp vào mạch điện, nếu dòng điện trong mạch tăng tới
một ngưỡng nguy hiểm thì dây chảy sẽ bị tan ra và ngắt mạch điện.
Chúng được thiết kế tùy thuộc vào kiểu mạch và dòng điện chạy qua nó.
Hộp cầu chì bao gồm một ống có chứa dây chảy bên trong tiếp xúc với
nắp kim loại ở 2 đầu ống; các cầu chì khác bao gồm một đầu nối có chân
đưa ra hoặc một ổ cắm (để nối với đường dây), và một phần kết nối đó
có thể được bắt vít vào ổ hoặc được chèn vào giữa các tiếp xúc bằng lò
xo) trên đó có gắn dây chảy. Nhóm này bao gồm tất cả những cầu chì đã
hoàn chỉnh, có dây hoặc không dây. các ổ cắm hoặc các đầu nối được
xuất trình riêng rẽ cũng được xếp vào đây, ngoại trừ các vật liệu cách
điện (trừ những chi tiết kim loại nhỏ chỉ dùng hỗ trợ cho việc gá nhằm
mục tiêu lắp ráp) (nhóm 85.47). Dây chảy được xếp loại căn cứ vào vật
liệu chế tạo, tuy nhiên loại dây chảy có chiều dài ngắn tạo thành với các
vòng hoặc phương tiện kết nối khác mà sẵn sàng để sử dụng thì vẫn
được phân loại trong nhóm này.
Nhóm này bao gồm cả những thiết bị khác nhằm ngăn ngừa sự quá tải
trong mạch điện (ví dụ: các thiết bị điện-từ tự động cắt mạch khi dòng
điện vượt quá một giá trị nhất định).
Nhóm này cũng không bao gồm các máy biến áp (nhóm 85.04) và các
bộ điều chỉnh điện áp tự động (nhóm 90.32)
(III) CÁC THIẾT BỊ DÙNG ĐỂ ĐẤU NỐI HOẶC LẮP TRONG
MẠCH ĐIỆN.
Các thiết bị này được dùng để nối các bộ phận khác nhau của một mạch
điện. Thiết bị này bao gồm:
(A) Các phích cắm, ổ cắm và các loại tiếp xúc khác dùng để nối dây
dẫn mềm hoặc một thiết bị tới một hệ thống lắp đặt cố định. nhóm
này bao gồm:
(1) Các phích cắm và ổ cắm (kể cả những phích cắm, ổ cắm nối tới
2 dây dẫn mềm). Một phích cắm có thể có một hoặc nhiều cực
hoặc có cạnh tiếp xúc phù hợp với các lỗ tương ứng hoặc các
cạnh tương ứng trong ổ cắm, vỏ hoặc một trong số các cực phải
được dùng cho mục đích nối đất.
(2) Các tiếp xúc trượt chẳng hạn như các chổi than dùng trong
động cơ và các bộ đưa điện vào dùng cho các phương tiện có hệ
thống truyền động bằng điện, thiết bị nâng hạ, v.v.. (các bộ lấy
điện trên không hoặc lắp trên ray- kiểu trolley) trừ các tiếp xúc
như vậy bằng “than” hoặc than chì (nhóm 85.45). Chúng có thể
gồm miếng kim loại, dây vải hoặc các dải đã được tráng phủ
vẫn được phân loại ở nhóm này ngay cả khi chúng được phủ
bên ngoài bằng lớp bôi trơn làm từ than chì.
(3) Đèn hoặc các ổ cắm và các đui đèn. Các đui đèn thường có
dạng hình cây nến gắn vào giá đỡ hoặc được thiết kế dưới dạng
gắn vào tường; những thiết bị này vẫn được xếp vào đây với
điều kiện chức năng chính của chúng đóng vai trò như những
đui đèn.
Những phích cắm và ổ cắm đi kèm dây dẫn không nằm trong nhóm
này (thuộc nhóm 85.44).
(B) Các khối đấu nối, dải đấu nối và bộ nối điện khác,… Chúng gồm
những mảnh vật liệu hình vuông nhỏ cách điện được gắn với các bộ
phận nối điện (domino), các đầu nối làm bằng kim loại được thiết kế
phù hợp với vật dẫn và những phần kim loại nhỏ được thiết kế gắn
chặt lên đoạn cuối của dây dẫn để nối điện (các đầu nối dài, các kẹp
cá sấu v.v...).
Các dải đầu nối gồm có những dải vật liệu cách điện gắn với một số
các đầu nối kim loại hoặc đầu nối mà hệ thống đây điện có thể được
gắn vào đó. Nhóm này cũng bao gồm những dải hoặc tấm đầu cuối;
chúng gồm những đầu bịt kim loại gắn vào vật liệu cách điện để
những dây điện có thể hàn vào chúng. Những dải đầu cuối được sử
dụng trong radio hoặc trong những thiết bị điện khác.
(C) Các hộp đấu nối. Chúng bao gồm nhiều hộp gắn bên trong là các
đầu nối hoặc những bộ phận khác dùng để nối các dây dẫn điện. Các
hộp đấu nối chưa được gắn nối điện hoặc phần dự trữ nối điện thì bị
loại trừ và được phân loại theo vật liệu cấu thành.
(IV) ĐẦU NỐI DÙNG CHO SỢI QUANG, BÓ SỢI HOẶC CÁP
Theo mục đích của nhóm 85.36, « đầu nối dùng cho sợi quang, bó sợi
quang hoặc cáp quang » có nghĩa là các đầu nối và chỉ sắp xếp một cách
cơ học đơn giản các sợi quang đầu đối đầu trong một hệ thống dây kỹ
thuật số. Chúng không thực hiện chức năng khác, như là khuyêch đại, tái
tạo hoặc hiệu chỉnh tín hiệu. Các đầu nối không có cáp dùng cho sợi
quang vẫn được phân loại ở nhóm này nhưng các đầu nối có cáp dùng
cho sợi quang thì bị loại trừ (nhóm 85.44 hoặc 90.01).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần chú giải chung
thuộc phần XVI), các bộ phận của thiết bị của nhóm này được phân loại
vào nhóm 85.38.
Nhóm này không bao gồm :
(a) Các điện trở phi tuyến được dùng như bộ điều khiển điện áp (nhóm
(b) Sự lắp ráp (ngoại trừ các lắp ráp đóng-ngắt đơn giản) của các thiết bị
được nêu ở trên (nhóm 85.37).
(c). Các đi ốt bán dẫn được dùng như bộ điều khiển điện áp (nhóm
85.37 - Bảng, panel, giá đỡ, bàn, tủ và các loại hộp và đế khác, được
lắp với hai hay nhiều thiết bị thuộc nhóm 85.35 hoặc 85.36,
dùng để điều khiển hoặc phân phối điện, kể cả các loại trên
có lắp các dụng cụ hay thiết bị thuộc Chương 90, và các thiết
bị điều khiển số, trừ các thiết bị chuyển mạch thuộc nhóm
8537.10 - Dùng cho điện áp không quá 1.000V
8537.20 - Dùng cho điện áp trên 1.000V
Chúng gồm một hệ thống các thiết bị thuộc hai nhóm nêu ở trên (ví dụ,
các thiết bị đóng ngắt và cầu chì) được lắp ráp lại với nhau trên một
bảng, panel, giá đỡ v.v… hoặc được gá trên tủ, bàn v.v.. Chúng cũng
được gắn các đồng hồ đo, và đôi khi có thêm thiết bị phụ trợ như máy
biến điện, các valve, các bộ điều chỉnh điện áp, biến trở hoặc các sơ đồ
mạch sáng.
Nhóm này bao gồm rất nhiều loại bảng chuyển mạch, từ những bảng nhỏ
chỉ có vài chuyển mạch, cầu chì vv... (ví dụ: cho những hệ thống lắp đặt
chiếu sáng), cho đến những bảng điều khiển phức tạp dùng cho các máy
công cụ, máy cán, nhà máy điện, trạm truyền thanh v.v... kể cả các hàng
hóa đã được nêu ở đoạn trên của nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Các bảng điều khiển số được gắn kết hợp máy xử lý dữ liệu tự động,
nói chung thường được dùng để điều khiển máy công cụ.
(2) Các bảng chuyển mạch được lập trình để điều khiển các thiết bị; thiết
bị này cho phép thay đổi các thao tác có lựa chọn. Thường thì chúng
được sử dụng trong những thiết bị điện gia dụng như máy giặt và
máy rửa bát.
(3) “Các bộ điều khiển có khả năng lập trình” là các thiết bị số sử dụng
bộ nhớ có khả năng lập trình để lưu trữ những câu lệnh nhằm thực
hiện những hàm cụ thể như logic, trình tự, thời gian, đếm và số học,
để điều khiển, nhờ các module vào/ra tương tự hoặc số , các kiểu
máy khác nhau.
Nhóm này không bao gồm các thiết bị điều khiển tự động thuộc nhóm
BỘ PHẬN
Theo quy định chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Tổng quát
Phần XVI), các bộ phận của sản phẩm thuộc nhóm này được phân loại
vào nhóm 85.38.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các tổng đài điện thoại (nhóm 85.17).
(b) Các bộ phận chuyển mạch đơn giản, chẳng hạn những bộ phận có hai
chuyển mạch và một đầu nối (nhóm 85.35 hoặc nhóm 85.36).
(c) Các thiết bị hồng ngoại không dây dùng để điều khiển từ xa thiết bị
thu truyền hình, máy ghi video hoặc các thiết bị điện khác (nhóm
(d) Thiết bị đóng ngắt định giờ có đồng hồ cá nhân hoặc máy đồng hồ
thời gian hoặc có động cơ đồng bộ (nhóm 91.07).
85.38 - Bộ phận chuyên dùng hay chủ yếu dùng với các thiết bị thuộc
nhóm 85.35, 85.36 hoặc 85.37.
8538.10 - Bảng, panel, giá đỡ, bàn, tủ và các loại hộp và đế khác
dùng cho các mặt hàng thuộc nhóm 85.37, chưa được
lắp đặt các thiết bị của chúng
8538.90 - Loại khác
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải Tổng
quát Phần XVI), nhóm này gồm bộ phận của hàng hóa thuộc ba nhóm
trên.
Lấy ví dụ, nhóm này bao gồm các tấm dùng cho những bảng chuyển
mạch, thường làm từ plastic hoặc kim loại, không lắp đặt thiết bị, với
điều kiện chúng có thể được nhận biết một cách rõ ràng như những bộ
phận của bảng chuyển mạch.
85.39 – Bóng đèn dây tóc hoặc bóng đèn phóng điện, kể cả đèn pha
gắn kín và bóng đèn tia cực tím hoặc tia hồng ngoại; bóng
đèn hồ quang; đèn đi-ốt phát quang (LED) .
8539.10 - Đèn pha gắn kín (sealed beam lamp units)
⦁ Các loại bóng đèn dây tóc khác, trừ bóng đèn tia cực
tím hoặc tia hồng ngoại:
8539.21 - - Bóng đèn ha-lo-gien vonfram
8539.22 - - Loại khác, có công suất không quá 200 W và điện áp
trên 100 V
8539.29 - -Loại khác
⦁ Bóng đèn phóng, trừ đèn tia cực tím:
8539.31 - - Bóng đèn huỳnh quang, ca-tốt nóng
8539.32 - - Bóng đèn hơi thuỷ ngân hoặc natri; bóng đèn ha-lo-
gien kim loại
8539.39 - - Loại khác
⦁ Bóng đèn tia cực tím hoặc bóng đèn tia hồng ngoại;
đèn hồ quang:
8539.41 - - Đèn hồ quang
8539.49 - - Loại khác
⦁ Nguồn sáng đi-ốt phát quang (LED):
8539.51 - - Mô-đun đi-ốt phát quang (LED)
8539.52 - - Bóng đèn đi-ốt phát quang (LED)
8539.90 - Bộ phận
Những đèn điện có vỏ bọc bằng thuỷ tinh hoặc thạch anh với những hình
dạng khác nhau, chứa những bộ phận cần thiết để biến đổi năng lượng
điện thành ánh sáng (kể cả tia cực tím hoặc tia hồng ngoại).
Nhóm này bao gồm tất cả các đèn điện, có hoặc không có thiết kế đặc
biệt cho những ứng dụng đặc trưng (kể cả những đèn phóng điện chớp
sáng).
Nhóm này bao gồm những đèn dây tóc, đèn phóng điện hơi hoặc khí,
đèn hồ quang và bóng đèn đi-ốt phát quang (LED).
(A) ĐÈN PHA GẮN KÍN
Bộ Đèn pha gắn kín đôi khi được thiết kế để gắn vào thân xe ôtô; chúng
gồm một thấu kính và phản xạ và sợi đốt nằm kín bên trong đèn nạp khí
hoặc đèn kiểu chân không.
(B) CÁC LOẠI ĐÈN DÂY TÓC KHÁC, TRỪ CÁC ĐÈN TIA CỰC
TÍM HOẶC TIA HỒNG NGOẠI (XEM PHẦN (D))
Khi có dòng điện đi qua sợi đốt (bằng kim loại hoặc carbon), sợi đốt sẽ
nóng lên tới mức phát sáng, do vậy ánh sáng được tạo ra từ chính sợi đốt
này, phần vỏ thuỷ tinh (thường được tạo màu) được rút hết khí hoặc
được đổ đầy khí trơ trong điều kiện áp suất thấp; trong phần đui đèn, mà
có thể ở dạng xoắn vít hoặc lưỡi lê để giữ cố định bóng đèn trong đui
đèn, đui là phần tiếp xúc điện cần thiết.
Những đèn kiểu này thường có nhiều hình dáng khác nhau; ví dụ, hình
cầu (có hoặc không có cổ); có dạng củ hành hoặc quả lê; dạng ngọn lửa;
dạng ống (thẳng hoặc cong); có hình dạng đặc biệt cho chiếu sáng, trang
trí, cây noen, v.v.....
Nhóm này cũng bao gồm các đèn halogen.
(C) ĐÈN PHÓNG ĐIỆN, TRỪ CÁC ĐÈN TIA CỰC TÍM (xem
Phần D)
Loại đèn này có vỏ bằng thuỷ tinh (thường có hình ống) hoặc một vỏ
bằng thạch anh (thường được bao quanh bằng một vỏ thuỷ tinh) có gắn
các điện cực và chứa, ở áp suất thấp, một chất khí có khả năng phát
quang dưới ảnh hưởng của sự phóng điện, hoặc một chất có khả năng
bốc hơi, có đặc tính tương tự; một số đèn có thể chứa cả khí và chất tạo
hơi. Một số đèn có các van để loại bỏ các hợp chất sinh ra từ sự tác động
của khí lên các điện cực; loại khác có thể có vỏ chân không hoặc được
làm mát bằng nước. Trong một số trường hợp, thành vỏ bên trong của
đèn được phủ những chất đặc biệt, có tác dụng chuyển các tia cực tím
thành ánh sáng nhìn thấy được như vậy làm tăng hiệu suất của đèn (đèn
huỳnh quang). Một số đèn làm việc ở điện áp cao, số khác lại làm việc ở
điện áp thấp.
Các kiểu đèn chính của loại này bao gồm:
(1) Đèn ống phóng điện trong môi trường khí có chứa các loại khí như
neon, heli, agon, nitơ hoặc di-oxit carbon, kể cả những đèn phóng
điện chớp sáng dùng trong chụp ảnh hoặc trong chụp xét nghiệm.
(2) Các đèn hơi natri.
(3) Các đèn hơi thủy ngân.
(4) Đèn kép chứa khí, trong đó ánh sáng được tạo ra nhờ sợi đốt phát
sáng và sự phóng điện trong môi trường khí.
(5) Các đèn halogen kim loại.
(6) Các đèn ống xenon và đèn ống chữ số.
(7) Đèn phóng điện quang phổ và đèn phóng điện phát sáng.
Các đèn này đuợc dùng với nhiều mục đích, như chiếu sáng đường phố,
nhà ở, phòng làm việc, xưởng, nhà máy, cửa hàng, v.v... hoặc dùng cho
chiếu sáng, chiếu sáng máy móc; và chiếu sáng cho trang trí hoặc cho
những mục đích chung. Nhóm này bao gồm các ống thẳng hoặc cong
đơn giản, và các ống có những hình dạng phức tạp khác nhau (ví dụ,
thanh cuộn, chữ, các hình vẽ và các ngôi sao).
(D) ĐÈN TIA CỰC TÍM HOẶC TIA HỒNG NGOẠI
Đèn tia cực tím dùng trong y học, các phòng thí nghiệm, diệt khuẩn
hoặc cho các mục đích khác. Loại đèn này thường được cấu tạo dạng
ống bằng thạch anh nấu chẩy có chứa thuỷ ngân; đôi khi có vỏ bọc bên
ngoài bằng thủy tinh. Một số khác được gọi là đèn cho ánh sáng đen (ví
dụ, dùng trong rạp hát).
Đèn tia hồng ngoại là loại đèn sợi đốt được thiết kế đặc biệt để tạo ra
các tia hồng ngoại. Trong nhiều trường hợp, mặt trong của đèn được
tráng đồng hoặc bạc để tạo ra mặt phản xạ. Chúng được sử dụng, ví dụ,
cho mục đích y khoa hoặc như là nguồn nhiệt trong công nghiệp.
(E) ĐÈN HỒ QUANG
Trong những kiểu đèn này ánh sáng được phát ra bởi hồ quang hoặc bởi
hồ quang và sự phát sáng của một hoặc cả hai điện cực, giữa hai điện
cực này hồ quang được duy trì. Nói chung các điện cực này thường được
làm từ carbon hoặc von-fram. Một số đèn có một thiết bị tự động có tác
dụng đưa các điện cực lại gần nhau để tạo hồ quang, và sau đó duy trì
chúng ở một khoảng cách hợp lý mặc dù quá trình này làm cho các điện
cực bị hao mòn. Đối với những đèn thiết kế ra để dùng cho mạng điện
xoay chiều đều có các điện cực phụ dùng cho mục đích khởi động. Đối
với những đèn hồ quang hở, hồ quang sẽ cháy tự do trong không khí; với
loại khác thì hồ quang chảy trong một lớp vỏ thuỷ tinh có những mạng
ngăn thích hợp tiếp xúc với không khí.
Lưu ý rằng đèn hồ quang là những thiết bị phức tạp, và không đơn thuần
làm những phần tử chiếu sáng như những mặt hàng khác trong
nhóm này.
(F) MÔ-ĐUN ĐI-ỐT PHÁT QUANG (LED)
Ánh sáng từ các mô-đun này được tạo ra bởi một hoặc nhiều điốt phát
quang (LED) gắn trên bảng mạch in hoặc được kết nối theo cách khác.
Các mô-đun này không có đầu đèn (đuôi) (ví dụ, đuôi xoáy, chốt cài
hoặc loại hai chân) để gắn vào đui đèn. Các mô-đun này có thể có đầu
nối điện.
Các mô-đun này có mạch điện để điều khiển điện áp và dòng điện một
chiều (DC) đến mức có thể sử dụng được cho các đi-ốt phát quang
(LED) (bộ điều khiển nguồn). Các mô-đun này có thể có mạch điện để
điều chỉnh nguồn điện xoay chiều AC (nguồn điện) bằng bộ điều khiển
nguồn.
(G) ĐÈN ĐI ỐT PHÁT QUANG (LED)
Ánh sáng của những đèn này được tạo ra bởi một hoặc nhiều đi ốt phát
quang (LED). Những đèn này gồm lớp vỏ bằng thủy tinh hoặc plastic,
một hoặc nhiều đi ốt phát quang (LEDs), mạch để chuyển đổi điện áp tới
mức các đi-ốt phát quang có thể sử dụng được, và đầu đèn (đuôi đèn) (ví
dụ, đuôi xoáy, chốt cài hoặc loại hai chân) để gắn vào đui đèn. Các đèn
này có thể có tấm tản nhiệt hoặc một bộ chỉnh lưu để điều chỉnh nguồn.
Những đèn này có nhiều hình dạng, ví dụ, hình cầu (có hoặc không có
cổ); hình quả lê hoặc hình củ hành; hình ngọn lửa; hình ống (thẳng hoặc
cong); hình dạng đặc biệt để chiếu sáng, trang trí, cây giáng sinh,…
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Tổng quát của
Phần XVI), các bộ phận của các hàng hóa thuộc nhóm này cũng được
phân loại ở đây. Chúng bao gồm:
(1) Đui dùng cho đèn huỳnh quang và đèn phóng điện và bóng đèn.
(2) Điện cực kim loại cho bóng và ống đèn phóng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các vỏ bằng thủy tinh và các chi tiết bằng thủy tinh có tính chất đặc
trưng dùng cho đèn. (ví dụ, bộ phản xạ bóng đèn rọi) (nhóm 70.11)
(b) Các đèn điện trở có sợi đốt bằng carbon hoặc các đèn khác có sợi đốt
bằng sắt trong hydro (nhóm 85.33).
(c) Các chuyển mạch nhiệt điện tự động (tắc te) dùng để mồi cho đèn
huỳnh quang (nhóm 85.36)
(d) Các đèn điện tử và ống điện tử dùng nhiệt điện tử (nhóm 85.40)
(e) Đi ốt phát quang (LED) của nhóm 85.41
(f) Các thiết bị phát quang điện, thường ở dạng dải, tấm hoặc panel, và
dựa trên các chất phát quang điện (như sulphit kẽm) đặt giữa hai
tầng của vật liệu dẫn (nhóm 85.43).
(g) Carbon của đèn hồ quang và các sợi đốt bằng carbon (nhóm 85.45)
85.40 - Đèn điện tử và ống điện tử dùng nhiệt điện tử, ca tốt lạnh
hoặc ca tốt quang điện (ví dụ, đèn điện tử và ống đèn chân
không hoặc nạp khí hoặc hơi, đèn và ống điện tử chỉnh lưu hồ
quang thuỷ ngân, ống điện tử dùng tia âm cực, ống điện tử
camera truyền hình).
⦁ Ống đèn hình vô tuyến dùng tia âm cực, kể cả ống đèn
hình của màn hình video dùng tia âm cực:
8540.11 - - Loại màu
8540.12 - - Loại đơn sắc
8540.20 - Ống camera truyền hình; bộ chuyển đổi hình ảnh và bộ
tăng cường hình ảnh; ống đèn âm cực quang điện khác
8540.40 - Ống hiển thị dữ liệu/đồ họa, đơn sắc; ống hiển thị/đồ
họa, loại màu, với điểm lân quang có bước nhỏ hơn
8540.60 - Ống tia ca-tốt khác
- Ống đèn vi sóng (ví dụ, magnetrons, klytrons, ống đèn
sóng lan truyền, carcinotrons), trừ ống đèn điều khiển
lưới:
8540.79 - - Loại khác
- Đèn điện tử và ống điện tử khác:
8540.81 - - Đèn điện tử và ống điện tử của máy thu hay máy
khuếch đại
8540.89 - - Loại khác
- Bộ phận:
8540.91 - - Của ống đèn tia ca-tốt
8540.99 - - Loại khác
Nhóm này chỉ bao gồm những đèn điện tử và ống điện tử sử dụng cho
nhiều mục đích khác nhau nhờ ảnh hưởng của các điện tử phát ra từ cực
âm (catốt) hoặc trong môi trường chân không hoặc khí.
Có 3 loại: các đèn và ống nhiệt điện tử, trong đó cực âm phải được nung
nóng trước khi phát ra electron; các đèn điện tử và ống điện tử catốt
lạnh; và các đèn điện tử và ống điện tử catốt quang điện, trong đó catốt
được kích thích nhờ tác động của ánh sáng. Tuỳ thuộc vào số lượng các
điện cực của nó mà có tên là đèn 2 cực, ba cực, bốn cực, v.v….Với cùng
một vỏ có thể có hai hoặc nhiều hệ thống có các chức năng khác nhau
(các đèn điện tử hỗn hợp). Vỏ của chúng có thể là thuỷ tinh, gốm hoặc
kim loại hoặc là kết hợp của những vật liệu này và có thể gắn với
phương thức làm mát (tản nhiệt kiểu cánh, tản nhiệt nhờ hệ thống nước
tuần hoàn, v.v..)
Có nhiều loại đèn điện tử và ống điện tử, trong đó, một số được thiết kế
cho những mục đích đặc biệt như các ống đèn vi sóng (ví dụ, magnetron,
klystron, đèn sóng lan truyền, carcinotron), đèn ống đĩa gắn kín (đèn hải
đăng), đèn điện tử ổn áp, thyratron, ignitron,….
Nhóm này bao gồm:
(1) Các đèn điện tử và ống điện tử chỉnh lưu. Chúng được thiết kế để
chỉnh lưu dòng xoay chiều AC thành dòng một chiều DC. Có thể
phân loại chúng thành kiểu chân không, kiểu khí hoặc hơi (ví dụ,
hơi thuỷ ngân) và nói chung có hai điện cực. Các kiểu cụ thể (ví dụ,
thyraton) có lưới điều khiển để thay đổi chế độ làm việc và thậm chí
đôi khi còn dùng để biến đổi ngược (chuyển từ DC sang AC).
(2) Các ống tia catốt.
(a) Các ống điện tử dùng cho camera truyền hình (các ống thu hình,
ví dụ orthicon hình ảnh hoặc vidicon hình ảnh). Chúng là các
ống tia điện tử dùng để chuyển đổi một hình ảnh quang học
thành một tín hiệu điện tương ứng, thường là bằng phương pháp
quét.
(b) Các ống điện tử chuyển đổi hình ảnh. Chúng là những ống chân
không, trong đó một hình ảnh (thường là bức xạ hồng ngoại)
được chiếu lên một bề mặt phát quang tạo ra một hình ảnh
tương ứng nhìn thấy được trên một bề mặt phát sáng.
(c) Các ống điện tử tăng cường độ nét là những đèn ống điện tử,
trong đó một hình ảnh được chiếu lên một bề mặt phát quang
tạo ra một hình ảnh tương ứng được tăng cường độ nét trên một
bề mặt phát sáng.
(d) Các ống điện tử tia catốt khác mà trong nó các tín hiệu điện được
biến đổi thành hình ảnh nhìn thấy được một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp. Ví dụ của loại này là ống điện tử lưu thông tin. Trong
các ống điện tử thu truyền hình hoặc màn hình video, các điện
tử phát sinh từ catốt, sau khi được tập trung, làm lệch, v.v...,
dưới dạng một chùm tia trên phần trong của thành ống (thường
là phần cuối của ống điện tử) được bao phủ chất huỳnh quang
và làm xuất hiện hình ảnh trên màn hình.
Đèn ống tia catốt cũng thường được sử dụng trong rađa, trong các
máy hiện sóng và trong các thiết bị đầu cuối của hệ thống xử lý dữ
liệu tự động (ống đèn hiển thị).
(3) Các ống điện tử phát quang, chân không hoặc được đổ đầy khí (cũng
được gọi là các phần tử phát quang). Chúng gồm có một ống bằng
thuỷ tinh hoặc thạch anh trong đó có 2 điện cực, một trong số 2 điện cực
là catốt được phủ một lớp vật liệu cảm quang (thường là kim loại kiềm);
dưới tác động của ánh sáng, lớp này phát ra các electron hình thành khả
năng dẫn điện giữa các điện cực và đến tập trung tại anốt.
Các bộ nhân quang là các ống chân không cảm quang, chúng gồm
một catốt phát quang và một bộ nhân điện tử.
(4) Các ống điện tử và các đèn điện tử khác. Thông thường chúng đều
thuộc kiểu chân không, và một số thuộc loại có nhiều điện cực.
Chúng được dùng để tạo ra dao động tần số cao, như trong các bộ
khuyếch đại, các bộ dò, các thiết bị quét hình (không sử dụng catốt
quang điện), v.v....
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại bộ phận (xem Chú giải Tổng quát Phần
XVI), bộ phận của các mặt hàng thuộc nhóm này cũng được phân loại ở
đây, ví dụ, các điện cực (catốt, lưới, anốt), các loại vỏ (bằng các vật liệu
trừ thuỷ tinh) dùng cho các ống điện tử, các vỏ chống nổ cho các ống tia
catốt, các cuộn dây lái tia được đặt xung quanh cổ ống tia catốt cho mục
đích quét hình.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các tấm chắn và vật hình nón bằng thủy tinh của vỏ các ống tia catốt
(nhóm 70.11).
(b) Các thiết bị chỉnh lưu hồ quang thuỷ ngân vỏ kim loại (nhóm 85.04).
(c) Các ống phát tia X (nhóm 90.22)
85.41 – Thiết bị bán dẫn (ví dụ, đi-ốt, bóng bán dẫn (tranzito), bộ
chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn); thiết bị bán dẫn cảm
quang, kể cả tế bào quang điện đã hoặc chưa lắp ráp thành
các mảng mô-đun hoặc thành bảng; đi-ốt phát quang (LED),
đã hoặc chưa lắp ráp với đi-ốt phát quang (LED) khác; tinh
thể áp điện đã lắp ráp (+).
8541.10 – Đi-ốt, trừ đi-ốt cảm quang hoặc đi-ốt phát quang
- Tranzito, trừ tranzito cảm quang:
8541.21 - - Có tỷ lệ tiêu tán năng lượng dưới 1 W
8541.29 - - Loại khác
8541.30 - Thyristors, diacs và triacs, trừ thiết bị cảm quang
⦁ Thiết bị bán dẫn cảm quang, kể cả tế bào quang điện
đã hoặc chưa lắp ráp thành các mảng module hoặc
thành bảng; đi-ốt phát quang (LED):
8541.41 - - Đi-ốt phát quang (LED)
8541.42 - - Tế bào quang điện chưa lắp ráp thành các mảng mô-
đun hoặc thành bảng
8541.43 - - Tế bào quang điện đã lắp ráp thành các mảng mô-đun
hoặc thành bảng
8541.49 - - Loại khác
⦁ Thiết bị bán dẫn khác:
8541.51 - - Thiết bị chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn
8541.59 - - Loại khác
8541.60 - Tinh thể áp điện đã lắp ráp
8541.90 - Bộ phận
(A) THIẾT BỊ BÁN DẪN (VÍ DỤ ĐI-ỐT, TRANZITO, CÁC
THIẾT BỊ CHUYỂN ĐỔI DỰA TRÊN CHẤT BÁN DẪN)
Chúng được định nghĩa ở Chú giải 8 (a) của Chương này.
Hoạt động của các thiết bị thuộc nhóm này dựa trên các đặc tính điện tử
của một số vật liệu “bán dẫn” nhất định hoặc, đối với mục đích của các
thiết bị chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn, dựa trên các đặc tính bán dẫn
của chúng bao gồm đặc tính vật lý (ví dụ: cơ, nhiệt), điện, quang và hóa
học.
Đặc điểm chính của các vật liệu này là ở nhiệt độ phòng thì điện trở
động của chúng nằm trong phạm vi giữa điện trở của vật dẫn (kim loại)
và điện trở của vật liệu cách điện. Lấy ví dụ, chúng bao gồm những
quặng cụ thể (như galen tinh thể), các nguyên tố hoá học có hoá trị 4
(gecmani, silic, v.v...) hoặc hợp chất của các nguyên tố hoá học (ví dụ,
các nguyên tố hoá trị 3 và hoá trị 5, chẳng hạn asenua gali, antimonua
Các vật liệu bán dẫn gồm một nguyên tố hoá học hoá trị 4 thường là đơn
tinh thể. Chúng không được dùng ở trạng thái nguyên chất, nhưng
thường sau khi được kích thích nhẹ (tỷ lệ với phần triệu) với mức độ
“không tinh khiết” nào đó (tạp chất).
Đối với nguyên tố hoá trị 4, độ "không tinh khiết" có thể do nguyên tố
hoá học hoá trị 5 (phốt pho, asen, antimon, v.v...), hoặc một nguyên tố
hoá trị 3 (bo, nhôm, gali, indi, v.v...). Trong trường hợp thứ nhất, người
ta có được bán dẫn kiểu n, có đặc điểm là dư thừa điện tử (tích điện âm);
trong trường hợp thứ hai, tạo thành một bán dẫn kiểu p, có đặc điểm là
thiếu điện tử, nghĩa là có nhiều các lỗ trống hơn (tích điện dương).
Các chất bán dẫn kết hợp với các nguyên tố hoá học hoá trị 3 và các
nguyên tố hoá học hoá trị 5 cũng được pha tạp.
Đối với các chất bán dẫn được tạo ra từ một số quặng, độ không tinh
khiết được chứa một cách tự nhiên trong quặng thì đóng vai trò như tạp
chất.
Các linh kiện bán dẫn của nhóm này thông thường bao gồm một hoặc
nhiều “lớp tiếp giáp” giữa các chất bán dẫn kiểu p và kiểu n.
Chúng bao gồm:
(I) Các đi-ốt là loại linh kiện có 2 đầu nối với một lớp tiếp giáp p-n;
chúng cho dòng điện đi theo một hướng (thuận) nhưng có điện trở
rất lớn theo hướng ngược lại (ngược). Chúng thường dùng để dò,
chỉnh lưu, đóng ngắt, v.v.....
Các loại đi-ốt chính là đi-ốt tín hiệu, điốt chỉnh lưu công suất, đi-ốt
điều điện áp chuẩn, đi-ốt ổn áp.
(II) Tranzito là các linh kiện có 3 hoặc 4 cực, có khả năng khuyếch đại,
dao động, chuyển đổi tần số, hoặc đóng ngắt mạch điện. Hoạt động
của tranzito phụ thuộc vào sự thay đổi điện trở động giữa hai cực
bằng cách đưa một trường điện vào cực thứ 3. Tín hiệu hoặc trường
điều khiển đưa vào yếu hơn các kết quả tác động bởi sự thay đổi trở
kháng và do đó dẫn đến sự khuyếch đại.
Tranzito bao gồm các loại sau:
(1) Tranzito luỡng cực, thuộc loại linh kiện 3 cực, có hai lớp tiếp
giáp kiểu đi-ốt, và hoạt động của tranzito phụ thuộc cả vào các
phần tử mang điện tích dương và âm (do đó gọi là lưỡng cực).
(2) Tranzito hiệu ứng trường (cũng được gọi là linh kiện bán dẫn
oxít kim loại (MOS)), có thể có hoặc không có lớp tiếp giáp,
nhưng nó phụ thuộc vào khả năng làm nghèo (hoặc làm giàu)
các phần tử mang điện tích sẵn có giữa hai cực. Trong tranzito
hiệu ứng trường, hoạt động của nó chỉ phụ thuộc vào một phần
tử mang điện tích (do đó gọi là đơn cực). Một thân diode ký
sinh, được tạo ra trong một tranzito loại MOS (còn được gọi là
MOSFET), có thể hoạt động như một diode quay tự do trong
quá trình chuyển mạch tải cảm ứng. MOSFET mà có 4 cực
được gọi là ống 4 cực.
(3) Tranzito lưỡng cực có cổng cách ly (IGBT IGBT), là thiết bị ba
cực bao gồm một cực cổng và hai cực tải (cực phát và cực thu).
Bằng cách áp điện áp thích hợp trên cực cổng và cực phát, dòng
điện theo một chiều có thể được kiểm soát, tức là được bật và
được tắt. Chip IGBT có thể được kết hợp với các điốt trong một
thiết bị duy nhất (thiết bị IGBT kết hợp), giúp bảo vệ thiết bị
IGBT và cho phép nó tiếp tục hoạt động như một tranzito.
(III) Thiết bị chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn
Như đã nêu trong Chú giải 12 (a) (i) của Chương này, đây là những
thiết bị trong đó vật liệu hoặc nền bán dẫn đóng vai trò quan trọng và
không thể thay thế trong việc thực hiện chức năng của chúng là
chuyển đổi bất kỳ loại hiện tượng vật lý hoặc hóa học nào hoặc hoạt
động nào thành tín hiệu điện, hoặc tín hiệu điện thành bất kỳ loại
hiện tượng vật lý hoặc hoạt động nào.
Các thiết bị chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn có đặc tính của một sản
phẩm kỹ thuật độc lập, và có thể được trình bày dưới dạng sản phẩm
khuôn trần hoặc đã được đóng gói. Các thành phần tạo thành bộ
chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn, bao gồm các thành phần chủ động
hoặc thụ động riêng biệt được gắn không thể tách rời để tạo nên cấu
trúc hoặc chức năng của chúng, phải được kết hợp hầu như không thể
tách rời, tức là, mặc dù về mặt lý thuyết, một số thành phần có thể
được loại bỏ và thay thế, điều này sẽ không có hiệu quả kinh tế như
trong điều kiện sản xuất bình thường. Các thành phần dựa trên chất
không phải là chất bán dẫn mà không đóng vai trò chính trong bộ
chuyển đổi được phép trở thành một phần của bộ chuyển đổi trong
các tình huống khi chúng đóng góp vào chức năng của bộ chuyển đổi
như một cảm biến, bộ truyền động, bộ cộng hưởng hoặc bộ tạo dao
động. Các ví dụ điển hình, nhưng không giới hạn, về các thành phần
như vậy là:
(i) gói, thường bao gồm các dây kim loại để kết nối với nhau (kết
nối dây bên trong hoặc bên ngoài), khung chì, vỏ bọc, nền,..;
hoặc
(ii) các thành phần cho phép hoặc hỗ trợ chức năng như nam châm,
bộ phận quang học,...
Thuật ngữ “dựa trên chất bán dẫn” cũng bao gồm các phần tử trong
đó vật liệu bán dẫn cung cấp chức năng cho bộ chuyển đổi nhờ các
đặc tính của nó, không phải chỉ bao gồm riêng chất bán dẫn. Các
đặc tính như vậy có thể bao gồm độ bền cơ học, tính linh hoạt, độ
dẫn nhiệt, độ phản xạ quang học, độ bền hóa,..., kết hợp với khả
năng được sản xuất với độ chính xác cao trên quy mô micromet
bằng cách sử dụng công nghệ bán dẫn (gia công vi mô). Các phần
tử như vậy có thể bao gồm, ví dụ, màng, thanh, giá đỡ, khoang,
gương, rãnh,.., cho phép bộ chuyển đổi hoạt động theo độ dày hoặc
tính linh hoạt đàn hồi).
Các vật liệu được sử dụng trong các thiết bị chuyển đổi dựa trên chất
bán dẫn bao gồm ví dụ: Silicon (Si), Germanium (Ge), Carbon (C),
Gallium Phosphide (GaP), Indium Phosphide (InP), Thiếc Telluride
(SnTe), Zinc Oxide (ZnO) và Gallium Oxide (Ga2O3).
Khái niệm “được sản xuất bằng công nghệ bán dẫn” có nghĩa là ứng
dụng của việc xử lý vùng ở cấp độ tấm bán dẫn có thể bao gồm mài,
đánh bóng, pha tạp, phủ quay, tạo ảnh, CVD, PVD, mạ điện, tráng men,
tước, khắc, nung, in.
(1) Cảm biến dựa trên chất bán dẫn, được định nghĩa tại Chú giải
Một ví dụ về cảm biến là phần tử Hệ thống vi cơ điện tử
(MEMS) được sử dụng trong micrô silic làm cảm biến âm thanh
dựa trên chất bán dẫn. Phần tử MEMS được tạo thành từ một tấm
ốp cứng được đục lỗ và một màng linh hoạt trên đế silic, chức
năng của nó là chuyển đổi sóng âm thanh thành đầu ra điện thay
đổi (variable electrical output). Sóng âm là đại lượng vật lý tác
động lên màng và khiến nó rung động qua đó tạo ra dòng điện
khác nhau.
Một loại cảm biến khác là cảm biến khí, sử dụng sự hấp phụ của
các chất cho/nhận điện tử để thay đổi điện trở trong graphene với
diện tích bề mặt cực cao.
(2) Cơ cấu chấp hành dựa trên chất bán dẫn, được định nghĩa tại
Chú giải 12 (a) (i) (4), ví dụ, các gương Hệ thống vi cơ điện tử
(MEMS) được kích hoạt bằng nhiệt điện, thường được sử dụng
để làm chệch hướng chùm tia laze trong nhiều ứng dụng, chẳng
hạn như chuyển mạch quang từ sợi quang sang sợi quang, máy
chiếu laser, Phát hiện và đo khoảng cách ánh sáng (LIDAR)
trong lái xe tự động, theo dõi bằng laser và đo vị trí, v.v. Gương
được kích hoạt bằng nhiệt điện được di chuyển bởi các bộ phận
làm nóng, hoạt động trên các cấu trúc dựa trên chất bán dẫn có
độ giãn nở nhiệt khác nhau.
(3) Thiết bị cộng hưởng dựa trên chất bán dẫn, được định nghĩa
trong Chú thích 12 (a) (i) (5), ví dụ, bộ cộng hưởng sóng âm
thanh màng (FBAR), được sử dụng trong công nghệ RF để
ghép kênh hoặc chọn kênh trong các thiết bị không dây.
(4) Thiết bị dao động dựa trên chất bán dẫn, được định nghĩa
trong Chú giải 12 (a) (i) (6), chuyển đổi các hiện tượng vật lý
(năng lượng được lưu trữ của trường điện từ bên trong bộ cộng
hưởng) thành tín hiệu điện (điện áp đầu ra có tần số tùy thuộc
vào điện áp điều chỉnh).
(IV) Các linh kiện bán dẫn khác.
Chúng bao gồm:
(1) Thyristors, là loại linh kiện có 4 vùng dẫn bằng vật liệu bán dẫn
(có 3 hoặc nhiều hơn 3 lớp tiếp giáp p-n), qua đó sẽ có dòng
một chiều đi theo chiều xác định trước khi có một xung điều
khiển cho phép dẫn. Chúng được sử dụng như là chỉnh lưu có
điều khiển, đóng cắt hoặc khuyếch đại và có chức năng như 2
tranzito bù kiểu khoá chéo với lớp tiếp giáp góp/nền chung.
(2) Triacs (các thysisto 3 cực hai hướng) gồm 5 vùng dẫn bằng vật
liệu bán dẫn (4 lớp tiếp giáp p-n), qua đó có dòng xoay chiều đi
qua khi có xung điều khiển cho phép dẫn.
(3) Diacs, gồm 3 vùng dẫn bằng vật liệu bán dẫn (2 lớp tiếp giáp p-
n) và được dùng để cung cấp các xung điều khiển triac.
(4) Varactors (hoặc đi-ốt dung kháng thay đổi).
(5) Các linh kiện có hiệu ứng trường, như các griditors.
(6) Các thiết bị có hiệu ứng "Gunn".
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các linh kiện bán dẫn khác với
các linh kiện bán dẫn mô tả trên, hoạt động của chúng phụ thuộc chủ yếu
vào nhiệt độ, áp suất, v.v..., chẳng hạn như các điện trở bán dẫn phi
tuyến (thermistors, varistors, điện trở từ, v.v...) (nhóm 85.33).
Về các linh kiện cảm quang hoạt động phụ thuộc tác động của các tia
sáng (đi-ốt quang điện, v.v...), xem nhóm (B).
Các linh kiện mô tả ở trên thuộc nhóm này hoặc được hiện diện ở dạng
đã gắn với các cực hoặc các chân (ví dụ: ghim, dây dẫn, quả bóng,
miếng đất, miếng đệm hoặc miếng đệm được gắn trên giá đỡ, ví dụ, chất
nền hoặc khung chì) hoặc bọc (thành phần), chưa gắn (các phần tử) hoặc
thậm chí dưới dạng các đĩa nguyên (tấm mỏng). Tuy nhiên, vật liệu bán
dẫn tự nhiên (ví dụ, galen) được xếp vào nhóm này chỉ khi chúng đã
được gắn trong linh kiện bán dẫn.
Tuy nhiên, các bộ chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn thuộc nhóm này
không bao gồm các cảm biến, bộ dẫn động, bộ cộng hưởng, bộ tạo dao
động và tổ hợp chúng dựa trên silic, chứa một hoặc nhiều mạch tích hợp
nguyên khối, lai, đa chip hoặc đa thành phần như được định nghĩa trong
Chú giải 12 ( b) (iv) (3) của Chương này (nhóm 85.42).
Nhóm này cũng loại trừ:
(a) Các nguyên tố hóa học (ví dụ, silic và selen) đã được kích tạp để sử
dụng trong điện tử, ở dạng không gia công như kéo, hoặc ở dạng
hình trụ hoặc dạng thanh (Chương 28), khi được cắt ở dạng đĩa, tấm
mỏng hoặc các dạng tương tự (nhóm 38.18).
(b) Các hợp chất hóa học như cadimi selenua và sulphua, indi arsenua,..,
có chứa một số chất phụ gia nhất định (ví dụ, germani, iốt) thường
ở tỷ lệ vài phần trăm, nhằm mục đích sử dụng chúng trong điện tử,
dù trong dạng hình trụ, thanh,.., hoặc cắt thành đĩa, tấm mỏng hoặc
các dạng tương tự (nhóm 38.18).
(c) Các tinh thể được kích tạp dùng trong điện tử, dưới dạng đĩa, tấm
mỏng, hoặc các dạng tương tự, được đánh bóng hoặc không, có phủ
hoặc không phủ lớp epitaxy đồng nhất, với điều kiện chúng không
được pha trộn có chọn lọc hoặc khuếch tán để tạo ra vùng riêng biệt
(nhóm 38.18).
(d) Mạch điện tử tích hợp (nhóm 85.42).
(B) CÁC LINH KIỆN BÁN DẪN CẢM QUANG
Nhóm này bao gồm các linh kiện bán dẫn cảm quang trong đó dưới sự
tác động của tia sáng trông thấy được, tia hồng ngoại hay tia cực tím tạo
ra sự thay đổi trong điện trở suất hoặc làm xuất hiện sức điện động nhờ
hiệu ứng quang điện bên trong.
Các ống điện tử phát quang (tế bào phát quang), hoạt động của chúng
dựa trên hiệu ứng quang điện bên ngoài (sự xạ quang), thuộc nhóm
Các kiểu thiết bị bán dẫn cảm quang chính là:
(1) Các tế bào quang dẫn (quang điện trở), thường gồm hai điện cực ở
giữa là một chất bán dẫn (sunfua cadimi, sunfua chì, v.v...) mà trở
kháng của chúng thay đổi theo cường độ ánh sáng chiếu vào tế bào
Các tế bào này được sử dụng trong các thiết bị phát hiện lửa, dùng
cho máy đo độ phơi sáng của máy ảnh tự động, để đếm các đồ vật
đang chuyển động, dùng trong các thiết bị đo chính xác tự động,
trong các hệ thống mở cửa tự động.
(2) Các pin quang điện trực tiếp biến đổi ánh sáng thành năng lượng
điện, mà không cần một nguồn cung cấp dòng điện từ bên ngoài.
Các pin quang điện chế tạo từ selen thường được sử dụng chủ yếu
trong các luxơ kế và các bộ đo độ phơi sáng. Các pin quang điện chế
tạo từ silic có đầu ra cao hơn và đặc biệt sử dụng trong các thiết bị
điều chỉnh và điều khiển, để phát hiện các xung ánh sáng trong các
hệ thống truyền thông sử dụng cáp quang, v.v...
Các loại tế bào quang điện đặc biệt:
(i) Các pin mặt trời, các tế bào quang điện silic biến đổi trực tiếp
ánh sáng mặt trời thành năng lượng điện. Chúng thường sử
dụng thành nhóm để cung cấp năng lượng cho các tên lửa hoặc
các vệ tinh nghiên cứu không gian, cho các đài phát cấp cứu
trên núi, v.v...
Nhóm này cũng bao gồm các loại pin mặt trời, đã hoặc chưa lắp
thành môdun hoặc lập thành bảng. Tuy nhiên nhóm này không
bao gồm các bảng hoặc các môdun có gắn thiết bị, dù đơn giản
(đi-ốt để chỉnh lưu dòng điện, chẳng hạn) cho phép cung cấp
điện trực tiếp tới, ví dụ, một động cơ, một thiết bị điện phân
(nhóm 85.01).
(ii) Các đi-ốt quang (gecmani, silic, v.v...), đặc trưng bởi sự thay
đổi điện trở suất khi các tia sáng đập vào lớp tiếp giáp p-n của
chúng. Các đi-ốt quang điện được sử dụng trong việc xử lý dữ
liệu tự động (đọc các dữ liệu lưu trữ), làm catốt quang trong
một số ống điện tử, trong các hỏa kế bức xạ, v.v.... Các
tranzito quang và các thyritors quang thuộc về nhóm các
thiết bị thu quang điện này.
Khi được đóng vỏ, các thiết bị này được phân biệt với các đi-ốt,
tranzito và thyritors thuộc phần A ở trên bởi vỏ của nó, vỏ này
có một phần trong suốt để cho phép ánh sáng đi qua.
(iii) Các linh kiện ghép quang và các rơle quang, bao gồm các đi-
ốt phát quang kết hợp với đi-ốt quang điện, tranzito quang hoặc
Các kinh kiện bán dẫn cảm quang thuộc nhóm này, dù đã lắp ráp, (nghĩa
là đã có gắn các dây dẫn hoặc các cực), đã đóng vỏ hoặc chưa lắp ráp.
(C) CÁC ĐI-ỐT PHÁT QUANG (LED)
Các đi-ốt phát quang (LED) hoặc đi-ốt quang điện (dựa trên, không kể
những cái khác, axenua gali, phốtphua gali hoặc gallium nitrua) là
những linh kiện biến đổi điện năng thành ánh sáng nhìn thấy được, tia
hồng ngoại hoặc tia cực tím. Chúng thường được sử dụng, ví dụ để hiển
thị hoặc truyền dữ liệu trong các hệ thống điều khiển hoặc cho các ứng
dụng chiếu sáng và phát sáng.
Các đi-ốt lade phát ra một chùm sáng kết hợp và được sử dụng, ví dụ,
để dò tìm các phần tử hạt nhân, trong thiết bị đo độ cao hoặc đo xa, trong
các hệ thống truyền thông bằng sợi quang.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Gói đi-ốt phát quang (LED)
Đây là các linh kiện điện đơn lẻ chủ yếu bao bọc một hoặc nhiều chip
(khuôn) điốt phát quang (LED) và có thể bao gồm các phần tử quang
học và các giao diện nhiệt, cơ và điện (ví dụ, đầu nối điện bao gồm
dây để kết nối với mạch điều khiển bên ngoài).
Điốt bảo vệ (ví dụ, điốt Zener) có thể được kết nối song song với
chip Điốt phát sáng (GaN LED) dựa trên Gallium-nitrua để bảo vệ
chip LED GaN khỏi hiện tượng phóng tĩnh điện đối với một số gói
đèn LED GaN.
Có hai loại gói LED trắng cơ bản. Loại đầu tiên bao gồm sự kết hợp
giữa (các) chip LED và vật liệu huỳnh quang (phospho).
Loại gói LED trắng thứ hai bao gồm sự kết hợp của (các) chip LED
màu đỏ, (các) chip LED màu xanh lá cây và (các) chip LED màu
xanh lam. Gói LED trắng được sử dụng cho các ứng dụng chiếu sáng
thông thường và đèn nền.
(2) Cụm đi-ốt phát quang (LED)
Đây là các cụm bao gồm các gói điốt phát quang (LED) được gắn
trên bảng mạch in, có thể bao gồm các phần tử quang học và các giao
diện nhiệt, cơ và điện (ví dụ, đầu nối điện bao gồm dây để kết nối với
mạch điều khiển bên ngoài).
Các cụm LED không có mạch điều khiển loại cần thiết để điều chỉnh
nguồn AC và điều khiển dòng điện DC để các điốt phát quang (LED)
có thể sử dụng được.
Số lượng các điốt phát quang (LED) không làm thay đổi chức năng
của các điốt phát quang (LED) mà chỉ góp phần vào cường độ ánh
sáng.
Một số cụm LED sử dụng chip LED thay vì gói LED. Các con chip
được gắn trên một bảng mạch in và được bao phủ tổng thể hoặc từng
phần, có thể với phospho.
(D) CÁC TINH THỂ ÁP ĐIỆN ĐÃ LẮP RÁP
Đây chủ yếu là các bari titanat (bao gồm cả yếu tố đa tinh thể phân cực
của bari titanat), chì zinconat tinanat hoặc các tinh thể khác thuộc nhóm
38.24 (xem Chú giải Chi tiết tương ứng), hoặc các tinh thể thạch anh hoặc
tinh thể tuocmalin. Chúng được sử dụng trong các micro, loa, các thiết bị
siêu âm, các mạch dao động có tần số ổn định, v.v... Chúng được xếp vào
đây chỉ khi đã được lắp ráp. Thường chúng có dạng các tấm, thanh, đĩa,
vòng, v.v... và ít nhất phải có các điện cực hoặc các chân nối điện. Chúng
có thể được phủ graphit, vecni, v.v..., hoặc đặt trên giá đỡ và chúng
thường được đặt trong một vỏ bọc (ví dụ, hộp kim loại, bóng thủy tinh
v.v....) Tuy nhiên, nếu do bổ sung thêm các phần tử khác, một đối tượng
hoàn chỉnh (được gắn thêm tinh thể) có thể không còn được xem thuần
tuý là một tinh thể được lắp ráp nhưng lại trở thành một bộ phận đặc biệt
có thể nhận biết được của một máy móc hoặc thiết bị, phần lắp ráp được
phân loại như là bộ phận của máy thiết bị nếu đáp ứng: ví dụ, pin áp điện
dùng cho micro hoặc loa (nhóm 85.18), đầu âm (nhóm 85.22), các phần
tử thu thông tin (phần tử thăm dò) dùng cho các thiết bị đo độ dày hoặc
công cụ phát hiện bằng siêu âm (thường được phân loại theo Chú giải 2(b)
Chương 90 hoặc thuộc nhóm 90.33, tùy trường hợp cụ thể), bộ dao động
bằng thạch anh dùng cho đồng hồ điện tử (nhóm 91.14).
Nhóm này không bao gồm các tinh thể áp điện chưa lắp ráp (nói chung
thuộc nhóm 38.24, 71.03 hoặc 71.04).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Tổng quát của
Phần XVI), các bộ phận của sản phẩm thuộc nhóm này cũng được xếp
vào đây.
Chú giải Phân nhóm.
Phân nhóm 8541.21
Tỷ lệ tiêu tán của một tranzito được đo bởi việc áp dụng một điện áp làm
việc cụ thể đặt lên các thiết bị và đo công suất làm việc liên tục trong khi
giới hạn nhiệt độ vỏ ở 25º C. Lấy ví dụ, nếu một tranzito có khả năng
dẫn liên tục một dòng tải 0,2 A ở điện áp 5V trong khi duy trì nhiệt độ
vỏ ở 25º C, thì mức độ tiêu tán là 1 W (Ampe x Vôn = Oát).
Đối với các tranzito có các phương pháp tản nhiệt (ví dụ, một tab, một
vỏ kim loại), nhiệt độ tham khảo ở 25o C là nhiệt độ ở đáy vỏ hoặc của
vỏ, trong trường hợp của các tranzito khác (ví dụ, với vỏ bằng plastic)
thì lấy ở nhiệt độ phòng.
85.42 - Mạch điện tử tích hợp.
- Mạch điện tử tích hợp:
8542.31 - - Đơn vị xử lý và đơn vị điều khiển, có hoặc không kết
hợp với bộ nhớ, bộ chuyển đổi, mạch logic, khuếch
đại, đồng hồ thời gian và mạch định giờ, oặc các mạch
khác
8542.32 - - Bộ nhớ
8542.33 - - Mạch khuếch đại
8542.39 - - Loại khác
8542.90 - Bộ phận
Các mặt hàng thuộc nhóm này được xác định tại Chú giải 12 (b) của
Chương này.
Các mạch điện tử tích hợp là các linh kiện có một bộ phận chủ động và
một bộ phận bị động cao hoặc mật độ các phần tử cao, được xem như là
đơn vị duy nhất (coi như là các phần tử hoặc các linh kiện “chủ động”
hoặc “bị động”, xem đoạn đầu trên phần Chú giải Chi tiết nhóm 85.34).
Tuy nhiên, các mạch điện tử chỉ có các bộ phận bị động thì bị loại khỏi
nhóm này.
Không giống như mạch điện tử tích hợp, các thành phần rời rạc có thể có
một chức năng điện chủ động duy nhất (thiết bị bán dẫn được quy định
trong chú giải 12 (a) Chương 85 hoặc một chức năng điện bị động duy
nhất (điện trở, tụ điện, cuộn cảm,…). Các thành phần rời rạc không thể
phân chia và là các thành phần cấu trúc điện tử cơ bản trong một hệ
thống.
Tuy nhiên, các thành phần bao gồm một vài các yếu tố mạch điện và có
nhiều chức năng điện, như là mạch tích hợp, không được xem như thành
phần rời rạc.
Mạch tích hợp điện tử bao gồm các bộ nhớ (ví dụ, DRAMS, SRAMs,
PROMS, EPROMS, EEPROMS (hoặc E2PROMS)), vi điều khiển, mạch
điều khiển, mạch logic, mảng cổng, mạch giao diện,….
Mạch tích hợp điện tử bao gồm:
(I) Các mạch tích hợp đơn khối.
Các mạch tích hợp đơn khối là các vi mạch, trong đó các linh kiện
của mạch (điốt, transistor, điện trở, tụ điện, cuộn cảm, v.v...) đều
được tạo thành một khối (là chủ yếu) và trên bề mặt của vật liệu bán
dẫn (ví dụ, vật liệu silic đã được pha tạp) và do đó, chúng được kết
hợp lại thành một thể thống nhất. Các mạch tích hợp đơn khối có thể
dưới dạng kỹ thuật số, tuyến tính (tín hiệu tương tự) hoặc kỹ thuật
số - tương tự.
Các mạch tích hợp đơn khối có thể được trình bày:
(i) Đã lắp ráp có nghĩa là các mối nối hoặc chân đã hoặc chưa được
đóng vào vỏ gốm, kim loại hoặc nhựa. Vỏ có thể dưới dạng trụ,
dưới dạng hộp, v.v...
(ii) Ở dạng chưa lắp ráp, nghĩa là các chíp, thường là hình chữ nhật,
với các cạnh thường chỉ vài millimét.
(iii) Ở dạng nguyên tấm (nghĩa là vẫn chưa cắt thành các chíp riêng
rẽ).
Các mạch tích hợp đơn khối bao gồm:
(i) Các bán dẫn bằng ô xít kim loại (công nghệ MOS)
(ii) Các mạch tích hợp dựa trên công nghệ lưỡng cực.
(iii) Các mạch tích hợp dựa trên sự kết hợp các công nghệ MOS và
lưỡng cực (công nghệ BIMOS).
Bán dẫn bằng ô xít kim loại (MOS), đặc biệt là bán dẫn ôxit kim
loại bổ sung (CMOS), và các công nghệ lưỡng cực gọi là công nghệ
“GEN” liên quan đến việc chế tạo transistor. Đóng vai trò một nhân
tố cơ bản của mạch tích hợp đơn khối, các transistor này tạo cho
mạch tích hợp tính đồng nhất của nó. các mạch lưỡng cực ưa dùng
trong các hệ có tốc độ lôgic tối đa. Mặt khác, các mạch MOS lại ưa
dùng trong các hệ trong đó mong muốn có mật độ linh kiện cao
năng lượng tiêu thụ ít. Xa hơn, các mạch CMOS sử dụng trong nơi
cần năng lượng tiêu thụ thấp nhất. Do đó, chúng ưa dùng trong các
ứng dụng có nguồn công suất giới hạn hoặc ở đó vấn đề làm mát bị
hạn chế. Mối quan hệ bổ sung giữa công nghệ lưỡng cực và công
nghệ MOS xuất hiện nhiều trong công nghệ BICMOS, công nghệ
này kết hợp giữa tốc độ của mạch lưỡng cực với khả năng tích hợp
cao và tiêu thụ năng lượng thấp của các mạch CMOS.
(II) Các mạch tích hợp lai.
Chúng là những vi mạch được chế tạo trên một đế cách điện, trên đó
có các mạch phim mỏng hoặc dày được hình thành. Quá trình này
cho phép tạo ra các bộ phận bị động (điện trở, tụ điện, cuộn cảm,
v.v...) cùng một lúc. Tuy nhiên, để tạo thành một mạch lai như trong
nhóm này, các chất bán dẫn phải được kết hợp và được gắn trên
cùng một bề mặt, dưới dạng các chip, có hoặc không bọc, hoặc như
các bán dẫn bọc vỏ (ví dụ, đặc biệt trong thiết kế vỏ bọc thu nhỏ).
Các mạch tích hợp lai có thể có các bộ phận bị động được tạo ra
riêng rẽ được gắn trên cùng một mạch phim cơ sở theo cùng một
cách như các chất bán dẫn. Thường thì các bộ phận bị động này là
các phần tử dưới dạng các chíp như tụ điện, điện trở hoặc cuộn cảm.
Các đế cách điện có cấu tạo nhiều lớp, thường là gốm cùng với keo
chịu nhiệt tạo thành một kết cấu nhỏ gọn, tạo thành một đế đơn theo
Chú giải 8 (b) (ii) của Chương này.
Các phần tử tạo thành mạch tích hợp lai phải được kết hợp như một
thể thống nhất, có nghĩa là mặc dù một số bộ phận về mặt lý thuyết
có thể tháo rời hoặc thay thế, việc này sẽ mất nhiều thời gian và là
một công việc tinh xảo nên không kinh tế trong điều kiện sản xuất
bình thường.
(III) Mạch tích hợp đa chíp.
Những mạch này gồm hai hay nhiều mạch tích hợp đơn khối nối lẫn
với nhau kết hợp để như một thể thống nhất, có hay không trên một
hoặc nhiều chất nền cách điện, có hoặc không có khung chân nối,
nhưng không có các bộ phận mạch chủ động hoặc bị động khác.
Mạch tích hợp đa chíp nói chung có cấu tạo như sau:
Hai hoặc nhiều hơn mạch tích hợp đơn khối được gắn bên nhau;
Hai hay nhiều mạch tích hợp đơn khối xếp chồng lên nhau;
Sự kết hợp của các kiểu trên bao gồm ba hay nhiều hơn các
mạch tích hợp đơn khối.
Các mạch tích hợp đơn khối này được kết hợp và nối lẫn trong cùng
một thể và được đóng trong một vỏ hoặc bằng cách khác. Chúng
được kết hợp như một thể thống nhất, tức là mặc dù có một vài bộ
phận có thể được tháo rời hoặc thay thế về mặt lý thuyết, nhưng việc
này sẽ mất thời gian và đòi hỏi công việc tinh xảo mà nó sẽ không
kinh tế trong điều kiện sản xuất bình thường.
Chất nền cách điện của các mạch tích hợp đa chip có thể kết hợp
điện với môi trường dẫn điện. Các môi trường này có thể bao gồm
các vật liệu cụ thể hoặc được tạo thành dạng cụ thể để cung cấp
chức năng bị động bằng các phương tiện trừ các bộ phận mạch rời
rạc. Chất nền hiện diện trong môi trường dẫn điện, nhờ các môi
trường này, các mạch tích hợp đơn khối được kết nối với nhau.
Những chất nền này có thể đề cập đến như là “vật trung gian” hoặc
“miếng đệm” khi được đặt ở trên chip hoặc khuôn ở cuối cùng.
Mạch tích hợp đơn khối được nối lẫn bằng các phương tiện khác
nhau như chất kết dính, nối ghép dây, công nghệ “chip lật”.
(IV) Mạch tích hợp đa thành phần (MCOs).
Mạch tích hợp đa thành phần là sự kết hợp của mạch với các thành phần
được nêu ở Chú giải 12 (b) (iv) của Chương này.
Mạch tích hợp đa thành phần (MCOs) là sự kết hợp của một hoặc nhiều
mạch tích hợp đơn khối, lai hoặc đa chíp có ít nhất một trong những
thành phần sau: cảm biến, cơ cấu chấp hành, bộ dao động, bộ cộng
hưởng nền silic, và kết hợp giữa chúng, hoặc một hay nhiều thành phần
thực hiện chức năng của hàng hóa thuộc nhóm 85.32, 85.33, 85.41, hoặc
cuộn cảm thuộc nhóm 85.04
Mạch tích hợp đa thành phần (MCOs) cũng có thể chứa các mạch tích
hợp đa thành phần (MCOs) khi nó đáp ứng điều kiện của Chú giải 12 (b)
(iv) Chương 85.
Tất cả các đơn vị riêng biệt (có thể trao đổi được) mà không được phân
loại trong nhóm 85.04, 85.32, 85.33, 85.41 hoặc không nằm trong định
nghĩa của cảm biến, cơ cấu chấp hành, bộ dao động, bộ cộng hưởng nền
silic và các kết hợp của chúng được loại trừ khỏi định nghĩa của mạch
tích hợp đa thành phần (MCO) (ví dụ, máy biến điện (nhóm 85.04) hoặc
nam châm (nhóm 85.05).
Tuy nhiên, những thành phần khác không được đề cập nhưng là bộ phận
quan trọng của mạch tích hợp đa thành phần (MCO) (hoặc hệ mạch tích
hợp), ví dụ như bản mạch có hoặc không có chức năng như một tấm
mạch in, dây điện vàng hoặc môi trường dẫn điện, hoặc cần thiết trong
quá trình tạo lập và vận hành, ví dụ, như vật liệu đúc hoặc khung dẫn
điện, là thành phần/bộ phận của mạch tích hợp đa thành phần (MCO).
Mạch tích hợp và các bộ phận cấu thành mạch tích hợp đa thành phần
(MCO) kết hợp và kết nối về mặt vật lý, điện tử hoặc quang học thành
một bộ phận đơn nhất (một bộ phận tồn tại như là một bộ phận kỹ thuật
độc lập trong việc kết nối với các thiết bị khác thông qua chân cắm, dây
dẫn, bi, bumps, hoặc miếng đệm) có hoặc không đặt trên một hoặc nhiều
tấm để cách điện, có hoặc không có khung dẫn điện, và có thể được đóng
gói thông qua bọc hoặc cách khác.
Các bộ phận này phải được kết hợp như một thể thống nhất, có nghĩa là
mặc dù một số bộ phận về mặt lý thuyết có thể loại bỏ và thay thế, điều
này có thể lãng phí trong điều kiện sản xuất thông thường.
Mạch tích hợp đa thành phần thường được dùng để lắp vào các mối nối
hoặc dây dẫn, hoặc vật chứa hỗ trợ (ví dụ, tấm mạch in (PCBs) hoặc các
vật chứa khác, ví dụ như film mỏng, film dầy, tấm nền kim loại cách
điện,…) hoặc với một kết nối điện. Các vật bao ngoài của mạch tích hợp
đa thành phần (MCOs) có thể được tạo từ các nguyên liệu, có các thiết
kế và hình dạng khác nhau, và có thể bảo vệ bộ này khỏi tác động cơ khí
và môi trường.
MCOs có thể có các tính năng khác nhau (ví dụ, vỏ bao ngoài có thể ở
thể rắn, hoặc có lỗ, cửa sổ hoặc màng) hoặc vật gắn kèm cần thiết cho
các chức năng cụ thể. MCOs sử dụng các tính năng và vật bộ phận đính
kèm khác nhau để nhận tín hiệu vào từ các đại lượng vật lý hoặc hóa học
bên ngoài và xử lý những dữ hiệu này để cho ra đầu ra phù hợp với cảm
biến, cơ cấu chấp hành, bộ dao động, bộ cộng hưởng nền silic.
Mạch này được sử dụng trong nhiều ứng dụng, kể cả máy tính, thông tin
(ví dụ như điện thoại mạng tế bào), tiêu dùng, công nghiệp hoặc công
nghiệp ô tô.
Nhóm này không bao gồm các mạch phim chỉ có bộ phận bị động
(nhóm 85.34).
Nhóm này không gồm các thiết bị lưu trữ không xóa ở thể rắn, “các thẻ
thông minh” và các phương tiện khác dùng để ghi âm hoặc các hiện
tượng khác (xem nhóm 85.23 và Chú giải 6 Chương này).
Ngoại trừ sự kết hợp (không thể chia tách) được đề cập đến trong Phần
(II), (III) và (IV) ở trên liên quan đến hệ thống mạch lai, mạch tích hợp
đa chip và mạch tích hợp đa thành phần (MCOs), phân nhóm này cũng
không bao gồm các yếu tố tạo thành bởi:
(a) Gắn kết một hoặc nhiều thành phần rời rạc trên một nền đỡ, ví dụ,
được tạo nên bởi một mạch in;
(b) Thêm một hoặc nhiều thiết bị khác, chẳng hạn như điốt, máy biến
điện, hoặc điện trở vào một vi mạch điện tử;
(c) Kết hợp của các thành phần rời rạc hoặc kết hợp của vi mạch điện tử
trừ loại mạch tích hợp đa chip hoặc đa thành phần; hoặc bởi
(d) Kết hợp một hoặc nhiều mạch tích hợp đơn khối, lai, đa chíp hoặc đa
thành phần có các thành phần không được đề cập trong Chú giải 12 (b)
(iv) của Chương này (ví dụ, máy biến điện (nhóm 85.04) hoặc nam châm
(nhóm 85.05)). ".
Các lắp ráp này được phân loại như sau:
(i) Các phần lắp ráp mà tạo thành máy hoặc thiết bị hoàn chỉnh (hoặc
được phân loại như sản phẩm hoàn chỉnh), vào nhóm tương tứng với
máy hoặc thiết bị đó;
(ii) Các lắp ráp khác theo điều khoản phân loại bộ phận của máy ( đặc
biệt Chú giải 2 (b) và 2 (c) Phần XVI).
Đặc biệt, đây là trường hợp phân loại cho một số module nhớ điện tử (ví
dụ, SIMMs (Single In-line Memory Modules) và DIMMs (Dual In-line
Memory Modules)). Các module này được phân loại bằng việc áp dụng
Chú giải 2 Phần XVI. (Xem Chú giải tổng quát Chương này).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại bộ phận (xem Chú giải tổng quát Phần
XVI), bộ phận của hàng hóa thuộc nhóm này cũng được phân loại ở đây.
85.43 - Máy và thiết bị điện, có chức năng riêng, chưa được chi tiết
hay ghi ở nơi khác trong Chương này.
8543.10 - Máy gia tốc hạt
8543.20 - Máy phát tín hiệu
8543.30 - Máy và thiết bị dùng trong mạ điện, điện phân hay điện
8443.40 - Thiết bị điện tử dùng cho thuốc lá điện tử và các thiết
bị điện hóa hơi cá nhân tương tự
8543.70 - Máy và thiết bị khác
8543.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm tất cả các thiết bị điện và dụng cụ điện, không nằm
trong bất kỳ nhóm nào khác của Chương này, cũng không nằm trong
một nhóm của bất kỳ Chương nào khác của Danh mục này, cũng không
có trong Chú giải Pháp lý của Phần XVI hoặc của Chương này. Các
hàng hoá chủ yếu dùng điện được mô tả cụ thể ở các Chương khác hơn
như các thiết bị điện thuộc Chương 84, các dụng cụ và thiết bị cụ thể
thuộc Chươncg 90.
Các thiết bị và dụng cụ điện của nhóm này phải có những chức năng
riêng. Các điều khoản giới thiệu ở phần Chú giải Chi tiết nhóm 84.79 có
liên quan đến máy móc và các thiết bị cơ khí khi có các chức năng riêng
dùng cho các thiết bị và dụng cụ của nhóm này.
Phần lớn các thiết bị thuộc nhóm này bao gồm việc lắp ráp các mặt hàng
điện hoặc các bộ phận (đèn điện tử, biến áp, tụ điện, cuộn cảm, điện trở,
v.v....) hoạt động hoàn toàn bằng điện. Tuy nhiên, nhóm này cũng bao
gồm các mặt hàng điện có các tính năng thuộc về cơ học, với điều kiện
các tính năng này phụ trợ cho các chức năng về điện của máy hoặc thiết
bị này.
Nhóm này bao gồm, không kể những cái khác:
(1) Máy gia tốc hạt. Đây là những thiết bị dùng để truyền động năng
cao cho các hạt tích điện (electron, proton, v v ..).
Các máy gia tốc hạt phần lớn được sử dụng trong các nghiên cứu về
hạt nhân, nhưng cũng dùng cho việc sản suất các vật liệu phóng xạ,
chụp tia X trong y học hoặc trong công nghiệp, dùng để tiệt trùng
một số sản phẩm, vv ...
Các máy gia tốc hạt thường bao gồm các hệ thống lắp đặt lớn (khối
lượng có thể lên tới hàng nghìn tấn). Chúng gồm có một nguồn hạt,
một buồng gia tốc và các thiết bị tạo điện áp có tần số cao, tạo sự
thay đổi về dòng hoặc tần số radio dùng để gia tốc cho các hạt. Các
máy này có thể dùng cho một hoặc nhiều mục đích.
Sự gia tốc, sự tập trung và sự lệch của các hạt được thực hiện bằng
những thiết bị tĩnh điện hoặc điện từ sử dụng máy phát cao áp hoặc
cao tần. Máy gia tốc và các máy phát thường được bao quanh bởi
màn chắn chống bức xạ.
Trong số các máy gia tốc hạt có thể kể tới, Máy gia tốc Van de
Graaff, máy gia tốc của Cockeroft và Walton, các máy gia tốc tuyến
tính, xiclotron, betatron, xincloxiclotron, xincroton v.v ...
Các betatron và các máy gia tốc hạt khác đặc biệt thích hợp để tạo ra
tia X, kể cả những máy có khả năng phát ra các tia beta hoặc tia
gamma, theo yêu cầu, thuộc nhóm 90.22.
(2) Các máy phát tín hiệu, là các thiết bị tạo ra các tín hiệu điện có
dạng sóng và biên độ, ở tần số nhất định (ví dụ, ở tần số cao hoặc
thấp). Chúng bao gồm, ngoài những cái khác: các máy phát xung,
các máy phát xung chuẩn, các máy phát quét.
(3) Các máy dò mìn, hoạt động dựa trên sự thay đổi từ thông được tạo
ra trong thiết bị khi đưa máy lại gần đồ vật bằng kim loại. Các máy
dò tìm tương tự được sử dụng, ví dụ, để phát hiện các vật kim loại
ngoại lai trong thùng thuốc lá, thực phẩm, gỗ, v.v ...,, và cũng để
định vị những ống dẫn đã chôn chìm dưới đất.
(4) Các bộ trộn, được dùng trong ghi âm bằng cách kết hợp đường tín
hiệu ra từ hai hoặc nhiều micro; đôi khi chúng được kết hợp với bộ
khuyếch đại. Các bộ trộn và bộ điều chỉnh tần số cũng được phân
loại trong nhóm này. Nhưng bộ trộn được thiết kế đặc biệt dùng cho
điện ảnh thì bị loại trừ (nhóm 90.10).
(5) Các bộ giảm nhiễu, dùng cùng các máy ghi âm.
(6) Các thiết bị xông kính và chống sương mờ với điện trở điện dùng
cho phương tiện bay, tầu thuỷ, tầu hoả hay các loại phương tiện
khác, (ngoại trừ xe đạp hoặc các phương tiện sử dụng động cơ
nhóm 85.12).
(7) Các thiết bị đồng bộ, được dùng khi một số máy phát cấp nguồn cho
một mạch điện chung.
(8) Các thiết bị kích nổ mìn bằng điện bao gồm một máy phát hoạt
động thủ công (dynamo) và một tụ điện.
(9) Các máy khuyếch đại trung tần hoặc cao tần (kể cả bộ khuyếch
đại đo lường và bộ khuyếch đại ăng ten)
(10) Máy và thiết bị dùng cho mạ điện, điện phân hoặc điện di (trừ
các máy và thiết bị của nhóm 84.86 và các dụng cụ đo điện di thuộc
nhóm 90.27).
(11) Thiết bị điện tử dùng cho thuốc lá điện tử và các thiết bị điện
hóa hơi cá nhân tương tự.
Nhóm này bao gồm:
(i) Các thiết bị thường được gọi là “thuốc lá điện tử” làm nóng và
làm bay hơi chất lỏng hoặc dung dịch mà người dùng hít trực
tiếp của phân nhóm 2404.12 hoặc 2404.19, có hoặc không có
nicotin; và
(ii) Các thiết bị điện hóa hơi cá nhân tương tự khác, chẳng hạn như
hệ thống làm nóng thuốc lá bằng điện (EHTS), thiết bị rung
siêu âm,.., tạo ra sol khí (aerosol) từ các sản phẩm thuốc lá (sản
phẩm thuộc phân nhóm 2404.11) hoặc các sản phẩm khác có
chứa nicotin, hoặc các nguyên liệu thay thế lá thuốc lá hoặc các
nguyên liệu thay thế nicotin (sản phẩm thuộc phân nhóm
2404.12 hoặc 2404.19) dùng để hít mà không cần đốt cháy.
Đây là những thiết bị hoạt động bằng điện, hoạt động không sử
dụng quá trình đốt cháy, để tạo ra sol khí (aerosol) để người dùng hít
trực tiếp qua đầu ngậm. Chúng kết hợp các linh kiện điện hoặc điện
tử cụ thể, chẳng hạn như bộ phận làm nóng (ví dụ, bộ phận phun)
hoặc máy rung siêu âm,..., cho phép thiết bị tạo ra sol khí (aerosol)
từ chất lỏng, dung dịch, gel, đầu cắm thuốc lá hoặc sản phẩm khác
được thiết kế để được sử dụng trong thiết bị. Chúng có thể trông
giống các sản phẩm hút có hình dạng khác nhau (ví dụ, thuốc lá, xì
gà, tẩu thuốc hoặc tẩu nước) hoặc có thể giống các vật dụng hàng
ngày như bút viết hoặc ổ flash USB,... Các sản phẩm này được thiết
kế để nạp lại hoặc sử dụng cùng với hộp chứa (cartridge) có thể thay
thế, đầu cắm (plug) thuốc lá hoặc tương tự.
(12) Các thiết bị phát tia cực tím, thường được sử dụng trong công
nghiệp.
(13) Các thiết bị phát và khuếch tán ôzôn, bằng điện, không nhằm
mục đích y học (ví dụ, dùng cho công nghiệp, ôzôn hoá của các cơ
sở).
(14) Các modun nhạc điện tử, dùng để gài vào các mặt hàng thiết thực
hoặc các hàng hóa khác, như đồng hồ đeo tay, tách chén và các thiếp
chúc mừng. Các modun này thường gồm có một mạch điện tử tích
hợp, một điện trở, một loa và một pin thuỷ ngân. Chúng đã được
tích hợp những chương trình nhạc.
(15) Máy cung cấp năng lượng cho hàng rào điện.
(16) Các thiết bị hồng ngoại không dây để điều khiển từ xa của máy
thu hình, máy ghi video hoặc các thiết bị điện khác.
(17) Thiết bị điện phát quang, thường ở dạng dải, tấm hoặc bảng, và
dựa trên chất điện-phát quang (ví dụ, kẽm sulphua) đặt giữa 2 lớp
vật liệu dẫn điện.
(18) Máy ghi dữ liệu chuyến bay kỹ thuật số (máy ghi bay) ở dạng
một thiết bị điện tử chống lửa, chống va chạm để ghi liên tục các dữ
liệu đặc biệt của chuyến bay.
Nhóm này loại trừ:
(a) Thuốc lá điện tử dùng một lần (disposable e-cigarettes) và các thiết
bị điện hóa hơi cá nhân tương tự dùng một lần, có chứa sản phẩm
dùng để hít mà không cần đốt cháy (ví dụ, dạng lỏng, gel dùng cho
thuốc lá điện tử) trong vỏ và bị bỏ đi sau khi dùng hết sản phẩm
hoặc hết pin (không được thiết kế để nạp lại hoặc sạc lại) (nhóm
(b) Hộp chứa (cartridge) hoặc bình chứa chất lỏng hoặc dung dịch, có
hoặc không kèm theo các bộ phận khác (ví dụ, bộ phận làm nóng
hoặc “đầu đốt” (atomiser)), được thiết kế để sử dụng trong thuốc lá
điện tử hoặc các thiết bị điện hóa hơi cá nhân tương tự (nhóm
(c) Thiết bị cấy ion cho các vật liệu bán dẫn pha tạp hoặc tấm phẳng
(nhóm 84.86).
(d) Thiết bị lắng đọng hơi vật lý dùng để sản xuất tấm bán dẫn mỏng,
thiết bị bán dẫn, mạch tích hợp điện tử, hoặc màn hình hiển thị tấm
phẳng (nhóm 84.86).
(e) “Thẻ thông minh” (kể cả thẻ không tiếp xúc hoặc tag) được định
nghĩa trong Chú giải 6 (b) Chương này (nhóm 85.23).
(f) Các loại tẩu thuốc không dùng điện (kể cả tẩu calumet, tẩu chibouks
hoặc tẩu Thổ Nhĩ Kỳ, hookah...) (nhóm 96.14).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại bộ phận (xem Chú giải tổng quát Phần
XVI), bộ phận của các mặt hàng thuộc nhóm này cũng được phân loại ở
đây.
85.44 – Dây điện, cáp điện (kể cả cáp đồng trục) có cách điện (kể cả
loại đã tráng men cách điện hoặc mạ lớp cách điện) và dây
dẫn có cách điện khác, đã hoặc chưa gắn với đầu nối; cáp sợi
quang, làm bằng các bó sợi đơn có vỏ bọc riêng biệt từng sợi,
có hoặc không gắn với dây dẫn điện hoặc gắn với đầu nối.
⦁ Dây đơn dạng cuộn:
8544.11 - - Bằng đồng
8544.19 - - Loại khác
8544.20 - Cáp đồng trục và các dây dẫn điện đồng trục khác
8544.30 - Bộ dây đánh lửa và bộ dây khác loại sử dụng cho xe,
phương tiện bay hoặc tàu thuyền
⦁ Dây dẫn điện khác, dùng cho điện áp không quá 1.000
8544.42 - - Đã lắp với đầu nối điện
8544.49 - - Loại khác.
8544.60 - Các dây dẫn điện khác, dùng cho điện áp trên 1000 V
8544.70 - Cáp sợi quang
Với điều kiện chúng được cách điện, nhóm này bao gồm dây dẫn điện,
cáp điện và các vật dẫn khác (ví dụ, dây điện, dải, thanh) sử dụng như
dây dẫn trong máy điện, thiết bị điện hoặc các hệ thống lắp đặt điện.
Theo điều kiện này, nhóm này cũng gồm cả hệ thống dây để sử dụng
bên trong hoặc bên ngoài (ví dụ, đi ngầm dưới đất, đi dưới biển hoặc
đường dây hoặc cáp ăngten). Các mặt hàng này rất đa dạng từ dây được
cách điện rất tốt đến những cáp dầy với những kiểu phức tạp hơn.
Những dây dẫn phi kim loại cũng nằm trong nhóm này.
Những mặt hàng của nhóm này bao gồm những bộ phận sau:
(A) Một dây dẫn điện, có thể là sợi xoắn đơn hoặc nhiều sợi xoắn bện
lại, và có thể tất cả các sợi đều cùng một kim loại hoặc từ những
kim loại khác nhau.
(B) Một hoặc nhiều dây dẫn được bọc vật liệu cách điện nhằm mục đích
ngăn không để hở điện và cũng để bảo vệ dây dẫn điện không bị
hỏng. Vật liệu cách điện thường dùng nhất là cao su, giấy, plastic,
amiăng, mica, bột mica, sợi thủy tinh, sợi dệt (có hoặc không được
tẩm sáp hoặc ngâm tẩm), vecni, men, hắc ín, dầu, v.v.... Trong vài
trường hợp, người ta sử dụng phương pháp anot hóa để tạo cách
điện hoặc bằng quá trình tương tự (ví dụ, tạo trên bề mặt một lớp
phủ oxít kim loại hoặc muối kim loại).
(C) Trong nhiều trường hợp một vỏ bọc kim loại (ví dụ, chì, đồng thau,
nhôm hoặc thép); vỏ này đóng vai trò như một lớp phủ bảo vệ cho
cách điện, như một kênh dẫn cho cách điện bằng khí hoặc dầu, hoặc
như một dây dẫn bổ trợ trong một số cáp đồng trục cụ thể.
(D) Đôi khi để bảo vệ cáp ngầm dưới đất hoặc dưới biển người ta thường
dùng vỏ bọc cứng bằng kim loại (ví dụ, dùng sợi hoặc dải sắt hoặc
thép cuốn theo hình xoắn ốc).
Các dây và cáp, … được cách điện của nhóm này có thể có những dạng
dưới đây:
(i) Dây cách điện đơn hoặc nhiều sợi
(ii) Hai hoặc nhiều sợi cách điện xoắn lại với nhau
(iii) Hai hoặc nhiều sợi cách điện ghép lại với nhau trong cùng một vỏ
bọc cách điện.
Nhóm này bao gồm, không kể những cái khác:
(1) Các dây sơn hay dây tráng men, thường rất mỏng và dùng chủ yếu
cho cuộn dây quấn.
(2) Các dây anốt,…
(3) Các dây và cáp viễn thông (kể cả cáp ngầm dưới biển và dây, cáp
truyền dữ liệu) nói chung có cấu tạo thành cặp, 4 lõi hoặc một lõi
cáp, chúng đều có vỏ bọc. Một lõi đôi hoặc 4 lõi tương ứng 2 hoặc 4
sợi cách điện (mỗi một sợi là một dây dẫn điện đơn bằng đồng hoặc
được cách điện bằng plastic có mầu với độ dầy không quá 0,5 mm),
xoắn lại với nhau. Một lõi cáp gồm một lõi đôi hoặc 4 lõi hoặc nhiều
lõi đôi hoặc 4 lõi bện lại với nhau.
(4) Cáp ăngten được cách điện.
(5) Các cáp dùng cho liên lạc cố định đường dài, thường cách điện
bằng khí hoặc dầu.
(6) Các cáp ngầm dưới đất có vỏ bọc kim loại chống ăn mòn.
(7) Các cáp dùng trong hầm mỏ; các cáp này có vỏ bọc kim loại theo
chiều dọc chống lại những ảnh hưởng của ứng lực.
Hơn nữa, nhóm này bao gồm dây điện được tết lại, phủ sơn hoặc lắp vào
vỏ bọc cách điện.
Nhóm này cũng bao gồm dải được cách điện thường dùng trong các máy
điện lớn hoặc thiết bị điều khiển lớn.
Dây, cáp, v.v... vẫn được xếp vào nhóm này nếu được cắt theo chiều dài
hoặc đã gắn các đầu nối (ví dụ, phích cắm, ổ cắm, giá đỡ, giắc, măng
sông hoặc các đầu cực) ở một hoặc cả hai đầu. Nhóm này cũng gồm dây
dẫn, v.v... thuộc các loại mô tả ở trên được làm thành bộ (ví dụ, cáp
nhiều sợi dùng để nối bộ phận đánh lửa của các phương tiện chạy bằng
động cơ tới bộ chia).
Nhóm này cũng bao gồm các cáp sợi quang làm từ những sợi được bọc
vỏ riêng, đã hoặc chưa lắp ráp với dây dẫn điện hoặc với các đầu nối
điện. Các vỏ bọc thường có màu sắc khác nhau để dễ dàng nhận diện
các sợi ở đầu dây cáp. Các cáp sợi quang chủ yếu được sử dụng trong
viễn thông do khả năng truyền tải dữ liệu lớn hơn khả năng dẫn điện của
chúng.
Loại trừ khỏi nhóm này các điện trở đốt nóng bằng điện có vỏ bọc cách
điện (ví dụ, các dây hợp kim đặc biệt quấn xoắn ốc xung quanh một lõi
bằng các sợi thuỷ tinh hay các sợi amiăng) thuộc nhóm 85.16; các đầu
nối dùng cho sợi quang học, bó hoặc sợi cáp quang của nhóm 85.36.
85.45 - Điện cực than, chổi than, carbon cho chế tạo bóng đèn,
carbon cho chế tạo pin, ắc qui và các sản phẩm khác làm
bằng graphit hoặc carbon khác, có hoặc không có thành phần
kim loại, dùng cho kỹ thuật điện.
- Điện cực:
8545.11 - - Dùng cho lò nung, luyện
8545.19 - - Loại khác
8545.20 - Chổi than
8545.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm toàn bộ những mặt hàng làm từ graphit hoặc carbon
khác, có thể nhận biết được nhờ hình dạng, kích thước hoặc bằng cách
khác, dùng cho các mục đích về điện, có hoặc không có kim loại.
Nói chung, các mặt hàng này được chế tạo bằng cách ép đùn hoặc đúc
(thường dưới áp lực) và xử lý kết cấu bằng nhiệt, bổ sung các thành phần
cơ bản (carbon tự nhiên, bồ hóng, than lò cất, than cốc, graphit tự nhiên
hoặc nhân tạo, v.v....) và các chất kết dính cần thiết (nhựa đường, hắc
ín,...), cũng có thể có những chất khác như bột kim loại.
Trong một vài trường hợp, các mặt hàng của nhóm này có thể được phủ
một lớp vật liệu bằng điện phân hoặc phun (ví dụ, với đồng) để tăng khả
năng dẫn điện và giảm tốc độ mài mòn của chúng. Chúng vẫn được xếp
vào đây thậm chí nếu chúng được gắn lỗ xuyên, các đầu nối hoặc các
phương pháp nối khác.
Nhóm này bao gồm :
(A) Các điện cực than cho các lò nung.
Nói chung các điện cực này ở dạng hình trụ hoặc thỏi, và đôi khi
được ren hoặc khoan ở đáy để có thể vặn chặt vào đúng vị trí.
(B) Các điện cực than dùng để hàn.
Thường chúng ở dạng que.
(C) Các điện cực than dùng để điện phân.
Có thể ở dạng tấm, thanh (kể cả các thanh có mặt cắt hình tam giác),
trụ, v.v... Chúng được thiết kế để gá hoặc treo trong các bể điện
phân, và có thể trang bị thêm một số đồ dùng như móc hoặc vòng.
Một số kiểu được khoét lỗ hoặc tạo đường rãnh tạo thuận lợi cho
thoát khí phát sinh trong quá trình điện phân.
(D) Các chổi than.
Chổi than được sử dụng làm tiếp xúc trượt cho các máy phát và
động cơ v.v, ..., làm thiết bị thu dòng điện cho các đầu máy điện,
v.v.... Mặc dù một số được chế tạo nhờ tạo khuôn trực tiếp, song
phần lớn được cắt từ các tấm hoặc các khối “than” như đã mô tả
trong phần chú giải thuộc nhóm 38.01. Chúng được chế tạo rất
chính xác về độ lớn và bề mặt của chúng được gia công rất cẩn thận
với dung sai vài phần trăm của milimet. Do vậy, có thể phân biệt
chúng nhờ kích thước, hình dáng và bề mặt hoàn thiện tinh xảo;
trong nhiều trường hợp, chúng có thể được phủ toàn bộ hoặc một
phần kim loại hoặc được gắn các đầu nối (công son, cáp, đầu nối, lò
Các chổi than như vậy có thể được phân loại theo mô tả trong phần
chú giải thuộc nhóm 38.01, hoặc có thể có chứa bạc.
Nhóm này không bao gồm các chổi kim loại phủ bên ngoài bằng
một lớp bôi trơn than chì (nhóm 85.35 hoặc 85.36). Bộ phận giữ
chổi than (đã hoặc chưa phù hợp với chổi than) được phân loại như
các bộ phận của máy (ví dụ nhóm 85.03).
(E) Carbon dùng làm sợi đèn hồ quang hoặc đèn khác
Chúng thường có dạng que hoặc bút chì; đôi khi chúng có lõi với
một thành phần đặc biệt để nâng cao khả năng ổn định của hồ quang
và để tạo ra một cuờng độ ánh sáng đầu ra lớn, hoặc tạo ra ngọn lửa
có mầu sắc đặc biệt. Nhóm này cũng bao gồm các sợi đốt bằng
carbon dùng cho đèn điện sợi đốt.
(F) Carbon dùng cho pin
Tuỳ theo loại pin sử dụng, chúng có thể có các dạng: các que, tấm,
ống ...
(G) Các bộ phận bằng than dùng cho micro.
Chúng gồm các đĩa hoặc các chi tiết khác có khả năng nhận dạng.
(H) Các mặt hàng khác bằng graphit hoặc carbon khác như :
(1) Các mảnh nối (mối nối) dùng để liên kết than lò nung lại với
(2) Các anot, các điện cực lưới và tấm chắn cho các đèn điện tử
chỉnh lưu.
(3) Các điện trở đốt nóng, có dạng que, thanh, v.v ..., cho nhiều loại
thiết bị đốt nóng khác nhau.
(4) Các đĩa và các tấm điện trở dùng trong các bộ điều chỉnh điện áp
tự động.
(5) Các tiếp xúc hoặc các điện cực carbon khác.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Graphit hoặc carbon khác dưới dạng bột hoặc hạt (Chương 38).
(b) Các điện trở than (nhóm 85.33).
85.46 - Vật cách điện làm bằng vật liệu bất kỳ.
8546.10 - Bằng thuỷ tinh
8546.20 - Bằng gốm, sứ
8546.90 - Loại khác
Vật cách điện thuộc nhóm này được dùng để cố định, đỡ hoặc dẫn hướng
các dây dẫn điện, đồng thời cách ly chúng về điện với các dây dẫn khác
hoặc với đất, v.v.... Nhóm này không bao gồm các bộ phận cách điện để
gắn (trừ vật cách điện) cho máy, thiết bị hoặc đồ dùng điện; các bộ phận
lắp ráp này được xếp vào nhóm 85.47 nếu chúng bao gồm toàn bộ vật
liệu cách điện (trừ bất kỳ chi tiết nhỏ nào bằng kim loại được gắn trong
suốt quá trình đúc chỉ nhằm cho mục đích lắp ráp).
Thường có mối liên hệ giữa kích thước của vật cách điện và điện áp
(kích thước lớn khi điện áp cao, kích thước nhỏ hơn khi điện áp thấp).
Tương tự như vậy, hình dạng của nhiều kiểu vật liệu cách điện bị ảnh
hưởng bởi các điều kiện về điện, nhiệt và cơ. Bề mặt bên ngoài rất nhẵn
để ngăn không cho lắng đọng những chất dẫn điện như nước, muối, bụi,
oxit và khói. Vật cách điện thường có dạng chuông, dạng xếp nếp, hình
vại, hình trụ hoặc có dạng khác. Một số loại có cấu trúc theo cách mà khi
ở trong vị trí, chúng có thể chứa dầu để ngăn sự nhiễm bẩn bề mặt bởi
vật liệu dẫn điện.
Vật cách điện có thể được làm từ bất kỳ vật liệu cách điện nào, thường
rất cứng và không xốp, ví dụ, vật liệu gốm (sứ, steatite), thuỷ tinh, bazan
nóng chảy, cao su cứng, plastic hoặc vật liệu cách điện tổng hợp. Chúng
có thể gồm những thiết bị gắn cố định (ví dụ, công son kim loại, đinh vít,
bu lông, kẹp, dây buộc, dây móc, chốt, mẫu chữ thập, đầu bọc, que, kìm
để treo hoặc móc). Vật cách điện có gắn các sừng kim loại hoặc các tấm
bảo vệ hoặc các bộ phận khác tạo thành thiết bị chống sét bị loại trừ
(nhóm 85.35).
Vật liệu cách điện được dùng cho các cáp lộ thiên, ví dụ, trong hệ thống
viễn thông, hệ thống điện, hệ thống truyền động bằng điện (tầu hoả, tàu
điện, xe điện, ....), và cũng cho các hệ thống lắp đặt trong nhà hoặc cho
máy và thiết bị điện nhất định.
Các vật cách điện thuộc nhóm này bao gồm :
(A) Vật cách điện treo, chẳng hạn :
(1) Các vật cách điện kiểu chuỗi treo. Chúng được dùng chủ yếu
cho các hệ thống ngoài trời và có nhiều phần tử cách điện. Dây
hoặc cáp dẫn điện được gắn cố định tại cuối mỗi điểm lắp đặt,
được treo trên một thiết bị đỡ phù hợp (tay cột, cáp treo,..).
Chúng gồm cả các cách điện kiểu chụp hoặc nắp, cách điện kiểu
vại kép, kiểu xích liên tục; kiểu thanh nối.
(2) Các vật cách điện treo khác (ví dụ, dưới dạng cầu, chuông,
ròng rọc, v.v... ) dùng cho những đuờng dây trên không ứng
dụng vào tàu hoả, xe điện, cần trục,..., hoặc cho ăng ten.
(B) Các vật cách điện cứng.
Loại này có thể được gắn với giá đỡ (ví dụ, móc kim loại, chốt hoặc
tương tự); hoặc chúng có thể không gắn kèm thiết bị đỡ, nhưng
được thiết kế ra để gắn vào các cột điện hoặc các cột điện báo,...,
hoặc gắn vào tường, gắn trên trần, đặt dưới sàn nhà,...., bằng đinh,
vít, bulông,.... Các cách điện có gắn thiết bị đỡ cố định có thể được
tạo thành từ 2 hay nhiều bộ phận; các loại không có thiết bị đỡ
thường là những bộ đơn. Chúng có nhiều hình dạng khác nhau (ví
dụ, chuông, nón, trụ, nút ấn, ròng rọc).
(C) Các vật cách điện xuyên.
Được dùng để đưa dây hoặc cáp điện xuyên tường,.... Chúng
thường có nhiều dạng (ví dụ, dạng nón hoặc nón kép, dạng đĩa, dạng
măng sông, dạng ống và dạng ống bẻ)
Nhóm này không bao gồm ống dẫn dây điện và các khớp nối của chúng
được cách điện (nhóm 85.47).
85.47- Phụ kiện cách điện dùng cho máy điện, dụng cụ điện hay thiết
bị điện, được làm hoàn toàn bằng vật liệu cách điện trừ một
số phụ kiện thứ yếu bằng kim loại (ví dụ, phần ống có ren) đã
làm sẵn khi đúc chủ yếu để lắp, trừ cách điện thuộc nhóm
85.46; ống dẫn dây điện và các khớp nối của chúng, bằng kim
loại cơ bản được lót lớp vật liệu cách điện.
8547.10 - Phụ kiện cách điện bằng gốm sứ
8547.20 - Phụ kiện cách điện bằng plastic
8547.90 - Loại khác
(A) PHỤ KIỆN CÁCH ĐIỆN DÙNG CHO MÁY ĐIỆN, DỤNG CỤ
ĐIỆN HAY THIẾT BỊ ĐIỆN, ĐƯỢC LÀM HOÀN TOÀN BẰNG
VẬT LIỆU CÁCH ĐIỆN TRỪ MỘT SỐ PHỤ KIỆN THỨ YẾU
BẰNG KIM LOẠI (VÍ DỤ, PHẦN ỐNG CÓ REN) ĐÃ LÀM SẴN
KHI ĐÚC CHỦ YẾU ĐỂ LẮP, TRỪ CÁCH ĐIỆN THUỘC
NHÓM 85.46
Ngoại trừ các cách điện như vậy (nhóm 85.46), nhóm này bao gồm toàn bộ
các bộ phận dùng cho máy điện, dụng cụ điện hoặc thiết bị điện với điều kiện:
(i) Chúng hoàn toàn bằng vật cách điện hoặc hoàn toàn bằng chất
cách điện (như plastic) trừ những thành phần nhỏ bằng kim loại
(đinh vít, ổ có ren, măng sông, v.v...) được gắn vào trong quá
trình đúc chỉ cho mục tiêu lắp ráp.
và (ii) Chúng được thiết kế nhằm mục đích cách điện kể cả khi chúng có
thực hiện chức năng khác cùng lúc (ví dụ, bảo vệ).
Nói chung, các bộ phận thuộc nhóm này được chế tạo bằng cách đổ
khuôn hoặc đúc, hoặc bằng cưa, cắt hoặc bằng cách gia công khác trên
vật liệu thô. Chúng có thể được khoan, ren, xâu lỗ, tạo rãnh, v.v...
Chúng có thể làm từ bất kỳ vật liệu cách điện nào (ví dụ: thủy tinh, gốm,
steatit, cao su cứng, nhựa, giấy hoặc bìa thấm nhựa, ximăng amiăng hoặc
Những phụ kiện này mang hình dáng rất đa dạng. Nhóm này bao gồm,
không kể những cái khác, các tấm phủ, đế và các bộ phận khác của
chuyển mạch, cầu dao,….; đế và giá đỡ cho cầu chì; vòng đai và các bộ
phận khác cho đui đèn; khung của điện trở hoặc cuộn dây; các kẹp nối
và domino chưa gắn các đầu nối; lõi cuộn dây và dây quấn các loại;
thân bugi đánh lửa.
Nhóm này không bao gồm những phụ kiện, mặc dù được làm hoàn toàn
từ vật liệu cách điện (hoặc làm hoàn toàn từ vật liệu cách điện trừ các
thành phần nhỏ bằng kim loại được gắn vào trong quá trình đúc chỉ
nhằm mục đích lắp ráp), không có cấu trúc đặc biệt cho mục đích cách
điện, chẳng hạn các vỏ bọc, các tấm phủ và các tấm vách ngăn ắc quy
(nhóm 85.07).
(B) CÁC ỐNG DẪN DÂY ĐIỆN VÀ CÁC KHỚP NỐI CỦA
CHÚNG, BẰNG KIM LOẠI CƠ BẢN ĐƯỢC LÓT BÊN TRONG
BẰNG VẬT LIỆU CÁCH ĐIỆN
Nhóm này bao gồm ống kim loại dùng trong các hệ thống lắp đặt điện cố
định (ví dụ, các ống đi dây điện trong nhà) làm nhiệm vụ cách điện và
bảo vệ dây dẫn, với điều kiện chúng có một lớp lót bên trong bằng
vật liệu cách điện. Các ống kim loại không được cách điện, thường
được dùng với cùng mục đích thì bị loại trừ (Phần XV)
Những ống thuộc nhóm này có một dải kim loại cuốn hình xoắn ốc lên
ống bên trong làm bằng vật liệu cách điện hoặc là ống kim loại cứng
(thường bằng sắt hoặc bằng thép) được phủ hay lót một lớp vật liệu cách
điện vào bên trong. Vật liệu cách điện có thể là chất cách điện đặc biệt
như vecni, giấy hoặc bìa, cao su, nhựa.... Ống kim loại chỉ được phủ đơn
giản bằng vecni để tránh ăn mòn bị loại trừ (Phần XV).
Nhóm này cũng bao gồm các khớp nối được sử dụng để nối các ống của
nhóm này với điều kiện chúng cũng làm từ kim loại cơ bản và được phủ
hoặc lót với vật liệu cách điện (ví dụ, khớp thẳng, khuỷu nối, khớp chữ T
và chữ thập).
Các khớp nối chữ T, chữ thập, v.v..., gắn với các đầu nối điện bị loại trừ
(nhóm 85.35 hoặc 85.36).
Nhóm này cũng không bao gồm các ống làm toàn bộ bằng vật liệu cách
điện (ví dụ, cao su, plastic, sợi dệt tết hoặc sợi thuỷ tinh); chúng đựoc
phân loại tuỳ theo vật liệu cấu thành, trừ khi tạo thành một chất cách
điện thuộc nhóm 85.46.
85.48 - Các bộ phận điện của máy móc hoặc thiết bị, chưa được chi
tiết hoặc ghi ở nơi khác trong Chương này.
Nhóm này cũng bao gồm tất cả các bộ phận điện trong máy, hoặc thiết bị
trừ:
(a) Các bộ phận chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với máy móc hoặc thiết bị
cụ thể.
(b) Các bộ phận nằm trong nhóm trước của Chương này hoặc bị loại trừ
theo Chú giải 1 của Phần XVI.
Do đó nhóm này bao gồm các mặt hàng có thể nhận biết được là các bộ
phận điện của máy hoặc thiết bị, nhưng không phải là những bộ phận
của máy hoặc thiết bị cụ thể, và gắn với nối điện, các phần cách điện,
các cuộn dây, các tiếp điểm hoặc các yếu tố điện đặc biệt khác.
85.49 - Phế liệu và phế thải điện và điện tử (+).
⦁ Phế liệu và phế thải của các loại pin, bộ pin và ắc qui
điện; các loại pin, bộ pin và ắc qui điện đã sử dụng
hết:
8549.11 - - Phế liệu và phế thải của ắc qui axit chì; ắc qui axit
chì đã sử dụng hết
8549.12 - - Loại khác, có chứa chì, cađimi hoặc thủy ngân
8549.13 - - Được phân loại theo loại hóa chất và không chứa chì,
cađimi hoặc thủy ngân
8549.14 - - Chưa được phân loại và không chứa chì, cađimi hoặc
thủy ngân
8549.19 - - Loại khác
⦁ Loại được sử dụng chủ yếu để thu hồi kim loại quý:
8549.21 - - Chứa pin, bộ pin, ắc qui điện, công tắc thủy ngân,
thủy tinh từ ống tia ca-tốt hoặc thủy tinh hoạt hóa
khác, hoặc các thành phần điện hoặc điện tử có chứa
cađimi, thủy ngân, chì hoặc polychlorinated biphenyls
8549.29 - - Loại khác
⦁ Các cụm điện và điện tử đã lắp ráp và tấm mạch in
khác:
8549.31 - - Chứa pin, bộ pin, ắc qui điện, công tắc thủy ngân,
thủy tinh từ ống tia ca-tốt hoặc thủy tinh hoạt hóa
khác, hoặc các thành phần điện hoặc điện tử có chứa
cadmium, thủy ngân, chì hoặc polychlorinated
8549.39 - - Loại khác
⦁ Loại khác:
8549.91 - - Chứa pin, bộ pin, ắc qui điện, công tắc thủy ngân,
thủy tinh từ ống tia ca-tốt hoặc thủy tinh hoạt hóa
khác, hoặc các thành phần điện hoặc điện tử có chứa
cadmium, thủy ngân, chì hoặc polychlorinated
8549.99 - - Loại khác
Phế liệu và phế thải điện và điện tử (“rác điện tử”- e-waste) thuộc nhóm
này bao gồm nhiều loại hàng hóa, và bất kỳ hàng hóa nào có phích cắm
hoặc cần pin thường sẽ là rác thải điện tử khi hết vòng đời của chúng.
Rác điện tử theo mục đích của nhóm này là hàng hóa chỉ thích hợp cho
việc thu hồi, tái chế hoặc thải bỏ, chứ không phải để sửa chữa, tân trang,
cải tạo, tái sử dụng hoặc tái sử dụng theo mục đích khác để làm cho
chúng phù hợp với mục đích ban đầu hoặc cho mục đích sử dụng tiếp
theo. Hàng hóa chỉ đơn giản đã qua sử dụng là chưa đủ để trở thành rác
điện tử. Rác điện tử có thể còn nguyên vẹn về mặt vật lý (nhưng không
hoạt động được) hoặc ở tình trạng bị loại bỏ, chẳng hạn như bị vỡ, bị cắt
rời hoặc bị mòn hoặc bị phá hủy.
Rác điện tử bao gồm, nhưng không giới hạn ở:
(1) phế thải, phế liệu hoặc pin, bộ pin hoặc ắc quy điện đã qua sử dụng;
(2) điện tử dân dụng;
(3) thiết bị văn phòng, công nghệ thông tin và truyền thông;
(4) thiết bị gia dụng;
(5) dụng cụ điện;
(6) các bộ phận điện hoặc điện tử, bao gồm cả tấm mạch in.
Vì hàng hóa thuộc nhóm này không nhằm mục đích tái sử dụng dưới
dạng các mặt hàng riêng lẻ, nên chúng thường được vận chuyển với số
lượng lớn và thường được giao dịch theo trọng lượng hơn là theo số
lượng sản phẩm. Việc đóng gói hàng hóa từng sản phẩm để tránh hư
hỏng thường là dấu hiệu rằng chúng không nhằm mục đích thu hồi, tái
chế hoặc tiêu hủy, và hàng hóa được trình bày theo cách như vậy không
được phân loại là rác điện tử. Ví dụ, tivi, điện thoại di động hoặc pin
được bọc riêng trong bao bì bảo vệ và đóng hộp không được coi là lô
hàng rác điện tử.
Các lô hàng hỗn hợp gồm rác điện tử và các loại phế thải, phế liệu khác
vẫn được phân loại trong nhóm này.
Cụm từ “mục đích ban đầu” trong Chú giải 6 của Phần XVI, đề cập đến
việc sử dụng chức năng như một hàng hóa điện hoặc điện tử.
Nhóm này không bao gồm:
(a) chất thải phóng xạ (nhóm 28.44).
(b) rác thải đô thị chưa được phân loại (nhóm 38.25).
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Các phân nhóm từ 8549.11 đến 8549.19
Các phân nhóm này bao gồm phế liệu và phế thải của pin, bộ pin và ắc
quy điện thuộc nhóm 85.06 và 85.07, kể cả pin và bộ pin đã sử dụng hết
cũng như ắc quy điện đã sử dụng hết như được mô tả trong Chú giải
phân nhóm 5 của Chương này.
Theo mục đích của các phân nhóm này, các thuật ngữ “pin đã sử dụng
hết”, “bộ pin đã sử dụng hết” và “ắc quy điện đã sử dụng hết” có nghĩa là
các mặt hàng, dù còn nguyên vẹn về mặt vật lý hoặc ở tình trạng đã bị
loại bỏ, ví dụ, bị vỡ, bị cắt rời hoặc các dạng khác, bị mòn hoặc bị phá
hủy, chỉ phù hợp để thu hồi, tái chế hoặc thải bỏ hoặc, trong trường hợp
ắc quy điện đã qua sử dụng, không có khả năng nạp lại hoặc tích điện.
Các sản phẩm này thường từ: các nhà sản xuất pin, bộ pin và ắc qui điện;
những khách hàng mua đồ thải loại của các nhà sản xuất hoặc những
người thu gom và tháo dỡ các ắc qui điện hoặc thu gom pin và bộ pin.
Các lô hàng từ các nhà sản xuất pin có thể gồm cả những bản cực dương và
những bản cực âm với tỷ lệ khác nhau hoặc các chi tiết bán phần đã lắp ráp
(half-assembled elements) (ví dụ, các ống tạo thành từ một bản cực âm và
một bản cực dương được phân cách nhờ “vách ngăn” bằng vải và được
cuộn lại). Các ống có thể đã được lắp sẵn bên trong vỏ chứa hoặc lẫn với
các pin đã hoàn thiện nhưng bị lỗi không thể sử dụng được.
Các lô hàng do tháo dỡ hoặc cải tạo các pin cũ có thể chứa một hỗn hợp
các tấm điện cực dương và điện cực âm, có hoặc không có vách ngăn,
như các bộ, các tấm hoặc các ống.
Các pin, bộ pin và ắc quy đã sử dụng hết thường được xử lý để thu hồi
lại kim loại (chì, niken, cadimi, coban,...), các hợp chất kim loại, hoặc xỉ.
Các phân nhóm 8549.21 và 8549.29
Các phân nhóm này bao gồm rác điện tử có chứa kim loại quý hoặc hợp
chất của kim loại quý và thuộc loại được sử dụng chủ yếu để thu hồi các
kim loại quý này.
Các phân nhóm 8549.21, 8549.31 và 8549.91
Theo mục đích của các phân nhóm này, thuật ngữ “chứa pin, bộ pin, ắc
quy điện” có nghĩa là pin, bộ pin và ắc quy điện, đã sử dụng hết hay còn
hoạt động, và còn nguyên vẹn về mặt vật lý hoặc ở tình trạng đã bị loại
bỏ (ví dụ, bị vỡ, bị cắt rời, hoặc bị mòn hoặc bị phá hủy), được chứa
trong hoặc cùng với rác điện tử.
đĩa, nhưng không bao gồm các sản phẩm của Chương 37.
- Phương tiện lưu trữ thông tin từ tính:
8523.21 - - Thẻ có dải từ
8523.29 - - Loại khác
⦁ Phương tiện lưu trữ thông tin quang học:
8523.41 - - Loại chưa ghi
8523.49 - - Loại khác
⦁ Phương tiện lưu trữ thông tin bán dẫn:
8523.51 - - Các thiết bị lưu trữ bền vững, thể rắn
8523.52 - - "Thẻ thông minh"
8523.59 - - Loại khác
8523.80 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại phương tiện lưu trữ thông tin khác nhau, đã
hoặc chưa được ghi, dùng để ghi dữ liệu âm thanh hoặc các dữ liệu khác
(ví dụ, dữ liệu số; văn bản; hình ảnh, video hoặc các dữ liệu đồ họa khác;
phần mềm). Những phương tiện này thông thường được đưa vào hoặc
đưa ra từ thiết bị thu hay đọc và có thể được chuyển từ thiết bị ghi hay
đọc này đến thiết bị ghi hay đọc khác.
Các phương tiện lưu trữ thông tin thuộc nhóm này có thể được xuất trình
ở dạng đã ghi, chưa ghi hoặc với một vài thông tin đã được ghi trước,
nhưng còn có khả năng ghi thêm thông tin.
Nhóm này bao gồm các phương tiện ở dạng trung gian (ví dụ, bản đúc,
đĩa chủ, đĩa cái, đĩa khuôn) dùng trong sản xuất hàng loạt các phương
tiện ghi hoàn thiện.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các thiết bị ghi dữ liệu trên
phương tiện lưu trữ hoặc lấy dữ liệu từ phương tiện.
Cụ thể, nhóm này bao gồm:
(A) CÁC PHƯƠNG TIỆN LƯU TRỮ THÔNG TIN TỪ TÍNH
Sản phẩm của nhóm này thường ở dạng đĩa, thẻ hoặc băng. Chúng được
chế tạo từ nhiều vật liệu khác nhau (thông thường từ nhựa, giấy hoặc bìa,
hoặc kim loại), đã có sẵn chất từ tính hoặc được phủ vật liệu từ tính. Ví
dụ, nhóm này bao gồm băng cát sét và băng khác dùng cho máy ghi
băng, băng cho máy quay và thiết bị ghi video khác (ví dụ VHS, Hi-8™,
mini-DV), đĩa mềm và thẻ có dải từ tính.
Nhóm này không bao gồm các phương tiện lưu trữ thông tin dạng từ -
(B) PHƯƠNG TIỆN LƯU TRỮ THÔNG TIN QUANG HỌC
Sản phẩm nhóm này thường ở dạng đĩa làm bằng thủy tinh, kim loại
hoặc nhựa với một hoặc nhiều lớp phản chiếu ánh sáng. Bất kỳ dữ liệu
nào (âm thanh hay hiện tượng dữ liệu khác) được lưu trữ trên những đĩa
này được đọc bằng tia laze. Nhóm này bao gồm các đĩa đã được ghi hoặc
chưa được ghi, có hoặc không thể ghi lại.
Nhóm này bao gồm, ví dụ, đĩa compact (ví dụ, CDs, V-CDs, CD-ROMs,
CD-RAMs), đĩa đa năng số (DVDs).
Nhóm này cũng bao gồm các phương tiện lưu trữ thông tin dạng từ-
(C) PHƯƠNG TIỆN LƯU TRỮ THÔNG TIN BÁN DẪN
Sản phẩm thuộc nhóm này chứa một hoặc nhiều mạch tích hợp điện tử.
Như vậy, nhóm này bao gồm:
(1) Thiết bị lưu trữ bán dẫn không xóa để ghi dữ liệu từ nguồn bên
ngoài (xem Chú giải 6 (a) chương này). Các thiết bị này (còn được
gọi là “thẻ nhớ flash” hoặc “thẻ lưu trữ điện tử flash”) được sử dụng
để ghi dữ liệu từ nguồn bên ngoài, hoặc cung cấp dữ liệu cho các
thiết bị như hệ thống điều hướng và định vị toàn cầu, thiết bị đầu
cuối thu nhập dữ liệu, máy quét di động, dụng cụ theo dõi y tế, thiết
bị ghi âm, thiết bị truyền thông cá nhân, điện thoại di động, camera
kỹ thuật số và máy xử lý dữ liệu tự động. Nói chung, các dữ liệu
được lưu trữ vào và được đọc từ thiết bị chỉ khi được kết nối tới các
thiết bị cụ thể, nhưng cũng có thể được tải lên hoặc tải về từ một
máy xử lý dữ liệu tự động.
Các phương tiện lưu trữ thông tin chỉ sử dụng điện từ các thiết bị mà
nó kết nối, và không cần pin.
Các thiết bị lưu trữ dữ liệu không xóa này bao gồm một hoặc nhiều
bộ nhớ flash (“FLASH E2PROM /EEPROM”) ở dạng mạch tích hợp
gắn trên một bảng mạch in đặt trong cùng một vỏ, và kết hợp với
một ổ cắm để kết nối tới máy chủ. Chúng có thể bao gồm tụ điện,
điện trở và bộ vi điều khiển ở dạng một mạch tích hợp. Ví dụ của
thiết bị lưu trữ bán dẫn không xóa là ổ chớp USB.
(2) “Thẻ thông minh” (xem Chú giải 6 (b) chương này), là loại có một
hay nhiều mạch tích hợp điện tử trong chúng (một bộ vi xử lý, bộ
nhớ truy cập ngẫu nhiên (RAM) hoặc bộ nhớ chỉ đọc (ROM)) dưới
dạng con chip. “Thẻ thông minh” có thể chứa các điểm tiếp xúc, dải
từ hoặc ăng ten đã được đặt vào trong nhưng không chứa bất cứ các
phần tử mạch chủ động hay bị động nào khác.
Những “Thẻ thông minh” này cũng bao gồm một số sản phẩm được
biến đến như “thẻ cảm ứng (proximity card) hoặc thẻ HTML (tag)”
nếu đáp ứng điều kiện Chú giải 6 (b) của Chương này. Các thẻ này
thường bao gồm một mạch tích hợp với bộ nhớ chỉ đọc (ROM),
được kết nối với một ăng ten gắn. Thẻ hoạt động bằng cách tạo ra
một trường giao tiếp (bản chất của nó được xác định bởi mã chứa
trong bộ nhớ chỉ đọc) lên ăng ten để tác động đến tín hiệu được
truyền và phản hồi lại từ đầu đọc. Loại thẻ này không truyền tải
dữ liệu.
(D) LOẠI KHÁC
Nhóm này bao gồm các đĩa hát.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Phim ảnh hoặc phim điện ảnh với một hoặc một vài rãnh âm thanh
(Chương 37)
(b) Phim có phủ lớp chất nhạy để ghi quang điện (nhóm 37.02).
(c) Sản phẩm dùng như phương tiện lưu trữ để ghi âm thanh hay các nội
dung khác nhưng chưa sẵn sàng để ghi; các mặt hàng này được phân
loại tại nhóm tương ứng (ví dụ Chương 39 hoặc 48 hoặc Phần
(d) Băng giấy chứa dữ liệu hoặc các thẻ đục lỗ, phần ghi của chúng
thường được thực hiện bởi việc đục lỗ (Chương 48).
(e) Một số module ghi điện tử (ví dụ SIMMs (Single In-Line Memory
Modules - Môđun bộ nhớ nội tuyến đơn) và DIMMs (Dual In-Line
Memory Modules - Môđun bộ nhớ nội tuyến kép)) được phân loại
áp dụng Chú giải 2 Phần XVI (xem Chú giải Chi tiết Tổng quát của
Chương này).
(f) Hộp chứa của máy chơi game (nhóm 95.04).
85.24 - Mô-đun màn hình dẹt, có hoặc không tích hợp màn hình cảm
ứng.
- Không có trình điều khiển (driver) hoặc mạch điều
khiển:
8524.11 - - Bằng tinh thể lỏng
8524.12 - - Bằng đi-ốt phát quang hữu cơ (OLED)
8524.19 - - Loại khác
- Loại khác:
8524.91 - - Bằng tinh thể lỏng
8524.92 - - Bằng đi-ốt phát quang hữu cơ (OLED)
8524.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các mô-đun màn hình dẹt, có hoặc không kết hợp
với màn cảm ứng, được định nghĩa trong Chú giải 7 của Chương này.
Các mặt hàng thuộc nhóm này được trang bị tối thiểu một màn hình hiển
thị sử dụng màn hình tinh thể lỏng (LCD), điốt phát quang hữu cơ
(OLED), điốt phát sáng (LED) hoặc các công nghệ hiển thị khác.
Các loại màn của mô-đun màn hình dẹt bao gồm, nhưng không giới hạn,
những loại ở dạng dẹt, cong, linh hoạt, có thể gập lại, co giãn hoặc cuộn
lại.
Nhóm này bao gồm:
(1) Mô-đun màn hình dẹt không có trình điều khiển hoặc mạch điều
khiển, thường được gọi là “tế bào”. Trong trường hợp tế bào LCD,
tinh thể lỏng được đặt giữa hai miếng hoặc tấm thủy tinh hoặc nhựa
như nền TFT và nền lọc màu. Trong trường hợp tế bào OLED,
chúng có vật liệu hữu cơ lắng đọng trên nền TFT. Các tế bào này
không chứa các bộ phận điện như trình điều khiển hoặc mạch điều
khiển, có hoặc không có kết nối điện hoặc được gắn với các tấm
phân cực.
(2) Mô-đun màn hình dẹt có trình điều khiển hoặc mạch điều khiển:
Trình điều khiển hoặc bộ điều khiển được thêm vào ‘tế bào’ của
mục (1). Các mô-đun có thể chứa trình điều khiển nhận tín hiệu
video hoặc dữ liệu khác (ví dụ, văn bản, hình ảnh, tín hiệu ADP,
hoặc dữ liệu đồ họa khác) và chuyển đổi từng pixel của màn hình
(thường bao gồm IC trình điều khiển và PCB kết nối tín hiệu video
với IC trình điều khiển) hoặc mạch điều khiển nguồn điện cho mô-
đun hiển thị hoặc điều khiển thời gian. Chúng có thể kết hợp với bộ
đèn nền (đối với màn hình LCD) hoặc khung (khung máy).
(3) Mô-đun màn hình dẹt có màn cảm ứng: Màn cảm ứng được gắn
vào mô-đun màn hình dẹt hoặc nhúng trong tế bào. Chúng cho phép
đầu vào cũng như đầu ra (hiển thị) thông tin như hình ảnh.
Các mặt hàng thuộc nhóm này được thiết kế để gắn hoặc kết hợp với
nhiều loại thiết bị (ví dụ, tủ lạnh, máy xử lý dữ liệu tự động, điện thoại di
động và các thiết bị truyền hoặc nhận hình ảnh hoặc dữ liệu, camera kỹ
thuật số và camera ghi hình ảnh, màn hình và thiết bị thu cho tivi và
phương tiện có động cơ để chở người).
Tuy nhiên, mô-đun màn hình dẹt không được tích hợp vào thiết bị khác
và được trình bày riêng biệt sẽ được phân loại vào nhóm này thay vì
phân loại vào nhóm của các sản phẩm hoàn thiện có mô-đun màn hình
dẹt.
Các mô-đun màn hình dẹt đã được tích hợp vào thiết bị khác phải được
phân loại vào nhóm thích hợp cho toàn bộ thiết bị đó.
CÁC BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết Tổng
quát Phần XVI), bộ phận của thiết bị thuộc nhóm này được phân loại vào
nhóm 85.29.
Nhóm này loại trừ, không kể những đề cập khác:
(a) Mô-đun màn hình dẹt có bộ phận chuyển đổi video (thường là các
sản phẩm thuộc các nhóm 85.17, 85.28 và 85.29).
(b) Thiết bị phát tín hiệu bằng hình ảnh (bảng chỉ báo) kết hợp với mô-
đun màn hình dẹt (nhóm 85.31).
(c) Thiết bị đo hoặc kiểm tra có gắn mô-đun màn hình dẹt (thường thuộc
Chương 90).
(d) Nhạc cụ, có gắn mô-đun màn hình dẹt (Chương 92).
(e) Tất cả hàng hóa thuộc Chương 95 có chứa mô-đun màn hình dẹt (ví
dụ thiết bị trò chơi điện tử video, đồ chơi, trò chơi, thiết bị tập luyện
và dụng cụ thể thao, v.v...).
85.25 – Thiết bị phát dùng cho phát thanh sóng vô tuyến hoặc
truyền hình, có hoặc không gắn với thiết bị thu hoặc ghi hoặc
tái tạo âm thanh; camera truyền hình, camera kỹ thuật số và
camera ghi hình ảnh.
8525.50 - Thiết bị phát
8525.60 – Thiết bị phát có gắn với thiết bị thu
⦁ Camera truyền hình, camera kỹ thuật số và camera ghi
hình ảnh:
8525.81 - - Loại tốc độ cao nêu tại Chú giải Phân nhóm 1 của
Chương này
8525.82 - - Loại khác, được làm cứng bức xạ hoặc chịu bức xạ
nêu tại Chú giải Phân nhóm 2 của Chương này
8525.83 - - Loại khác, loại nhìn ban đêm nêu tại Chú giải Phân
nhóm 3 của Chương này
8525.89 - - Loại khác
(A) THIẾT BỊ PHÁT DÙNG CHO PHÁT THANH SÓNG VÔ
TUYẾN HOẶC TRUYỀN HÌNH, CÓ HOẶC KHÔNG GẮN VỚI
THIẾT BỊ THU HOẶC GHI HOẶC TÁI TẠO ÂM THANH
Thiết bị phát thanh thuộc nhóm này phải có chức năng phát tín hiệu
thông qua sóng điện từ được truyền trong không khí mà không cần bất
cứ kết nối có dây nào. Mặt khác, thiết bị truyền hình thuộc nhóm này có
thể phát tín hiệu bằng sóng điện từ hoặc bằng dây dẫn.
Nhóm thiết bị này bao gồm:
(1) Thiết bị truyền dẫn dùng cho phát thanh vô tuyến hoặc truyền hình.
(2) Thiết bị chuyển tiếp sử dụng để nhận sóng và phát lại chúng và do đó
tăng phạm vi lan truyền (kể cả thiết bị chuyển tiếp truyền hình để
gắn vào phương tiện bay).
(3) Các thiết bị truyền dẫn truyền hình chuyển tiếp để phát, thông qua
một ăngten và phản xạ parabol, từ một phòng thu hoặc từ vị trí của
một đài phát thanh ngoài tới máy phát chính.
(4) Các máy phát truyền hình dùng cho mục đích công nghiệp (ví dụ, để
đọc các máy móc/thiết bị ở khoảng cách xa, hoặc để quan sát các vị
trí nguy hiểm). Các thiết bị truyền dẫn này thường sử dụng dây để
truyền dữ liệu.
(B) CAMERA TRUYỀN HÌNH, CAMERA KỸ THUẬT SỐ VÀ
CAMERA GHI HÌNH ẢNH
Nhóm này bao gồm các camera chụp hình ảnh và chuyển đổi chúng
thành tín hiệu điện tử mà:
(1) được phát như hình ảnh video đến một thiết bị bên ngoài camera để
quan sát hoặc ghi từ xa (ví dụ, máy ảnh truyền hình); hoặc
(2) được ghi trong camera như một hình ảnh tĩnh hoặc động (ví dụ, máy
camera kỹ thuật số và camera ghi hình ảnh).
Nhiều loại camera của nhóm này có thể có hình dáng vật lý giống như
máy chụp ảnh của nhóm 90.06 hoặc các loại máy camera điện ảnh của
nhóm 90.07. Camera trong nhóm 85.25 và camera ở Chương 90 điển
hình bao gồm các thấu kính quang học để tập trung hình ảnh lên một môi
trường nhạy sáng và điều chỉnh để thay đổi lượng ánh sáng đi vào
camera. Tuy nhiên, các máy chụp ảnh và máy camera điện ảnh của
Chương 90 thì hiện ảnh trên các tấm phim lưu hình ảnh thuộc Chương
37 trong khi máy ảnh của nhóm 85.25 thì chuyển đổi hình ảnh thành dữ
liệu tương tự hoặc dữ liệu kỹ thuật số.
Camera của nhóm này ghi nhận hình ảnh bằng cách tập trung ảnh lên
một thiết bị nhạy sáng, ví dụ như là một thiết bị bán dẫn oxit kim loại
(CMOS) hoặc thiết bị tích điện kép (CCD). Thiết bị nhạy sáng gửi đi
một dữ liệu hình ảnh dạng điện để dữ liệu đó tiếp tục được xử lý thành
dạng ghi tương tự hoặc kỹ thuật số của các hình ảnh.
Camera truyền hình có thể có hoặc không có thiết bị đi kèm để điều
khiển từ xa các thấu kính và khẩu độ cũng như là điều khiển từ xa sự di
chuyển của camera theo chiều dọc và chiều ngang (ví dụ, camera truyền
hình cho hãng phim truyền hình hoặc tường thuật truyền hình, các loại
sử dụng cho mục đích công nghiệp hoặc khoa học, trong truyền hình
mạch kín (giám sát) hoặc giám sát giao thông). Những camera này
không có bất kỳ khả năng ghi hình ảnh nào ở trong nó.
Một số camera loại này cũng được sử dụng với máy xử lý dữ liệu tự
động (ví dụ webcam).
“Thiết bị di chuyển”, thiết bị cơ học di động dùng cho camera truyền
hình, có hoặc không xuất trình riêng rẽ, được loại trừ khỏi nhóm này
(nhóm 84.28).
Cũng loại trừ khỏi nhóm này là các thiết bị điện dùng để điều khiển từ
xa và lấy nét cho camera truyền hình, khi xuất trình riêng rẽ (nhóm
Trong camera kỹ thuật số và camera ghi video, hình ảnh được ghi lên
một thiết bị lưu trữ bên trong hoặc lên các phương tiện lưu trữ khác (ví
dụ, băng từ, phương tiện quang học, phương tiện bán dẫn hoặc phương
tiện khác của nhóm 85.23). Chúng có thể bao gồm một bộ biến đổi tín
hiệu tương tự/ kỹ thuật số (ADC) và một cổng đầu ra cung cấp phương
tiện để gửi hình ảnh tới các đơn vị chức năng của máy xử lý dữ liệu tự
động, máy in, ti vi, hoặc các máy quan sát khác. Một vài camera kỹ thuật
số và camera ghi hình ảnh gồm các kết nối đầu vào để chúng có thể ghi
các file hình ảnh kỹ thuật số hoặc tương tự từ các máy bên ngoài vào bên
Nhìn chung, các camera của nhóm này được trang bị với một kính ngắm
quang học hoặc màn tinh thể lỏng (LCD), hoặc cả hai. Một số camera
gắn với màn tinh thể lỏng có thể sử dụng màn hình hiển thị vừa như một
kính ngắm để chụp hình vừa như một màn hình để hiển thị hình ảnh
nhận được từ các nguồn khác hoặc tái tạo hình ảnh đã được ghi lại.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết Tổng
quát Phần XVI), bộ phận của các thiết bị thuộc nhóm này được phân loại
vào nhóm 85.29.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Thiết bị của nhóm 85.17.
(b) Các thiết bị thu phát sóng vô tuyến để kết hợp với thiết bị chuyển
tiếp nhưng được xuất trình riêng (nhóm 85.27).
(c) Thiết bị thu truyền hình vệ tinh và hệ thống nhận truyền hình vệ tinh
(nhóm 85.28).
(d) Các xe chuyên dụng được trang bị cố định với máy phát thanh hoặc
truyền hình của nhóm này (thường thuộc nhóm 87.05).
(e) Vệ tinh viễn thông (nhóm 88.02).
85.26 - Ra đa, các thiết bị dẫn đường bằng sóng vô tuyến và các
thiết bị điều khiển từ xa bằng vô tuyến.
8526.10 - Rađa
⦁ Loại khác:
8526.91 - - Thiết bị dẫn đường bằng sóng vô tuyến
8526.92 - - Thiết bị điều khiển từ xa bằng sóng vô tuyến
Nhóm này bao gồm:
(1) Thiết bị dẫn đuờng bằng sóng vô tuyến (ví dụ: đèn tín hiệu dẫn
đường vô tuyến, phao vô tuyến có gắn ăn-ten cố định hoặc ăn-ten
xoay; các thiết bị thu tín hiệu, kể cả la bàn vô tuyến được trang bị
ăn-ten phức hợp hoặc ăn-ten có khung định hướng). Nó cũng bao
gồm các hệ thống thu định vị toàn cầu (GPS).
(2) Thiết bị rađa định vị cho tàu biển hoặc phương tiện bay (hoặc để gắn
trên tàu biển, phương tiện bay v.v... hoặc đặt trên mặt đất), kể cả
thiết bị rađa ở cảng, thiết bị nhận dạng đặt trên phao, đèn hiệu v.v....
(3) Các thiết bị điều khiển hạ cánh hoặc các thiết bị giám sát giao thông
cho sân bay khi không thể nhìn thấy. Thiết bị này rất phức tạp. Một
số loại kết hợp radio, rađa và các thiết bị truyền hình thường thấy
cho biết vị trí và tầm cao của máy bay trong vùng lân cận tại điểm
kiểm soát, và truyền đến phương tiện bay cả hướng dẫn cần thiết
để hạ cánh và những hình ảnh định vị của máy bay khác trong
vùng lân cận.
(4) Các thiết bị đo độ cao bằng rađa (thiết bị đo độ cao bằng sóng vô
tuyến).
(5) Rađa khí tượng dò tìm các đám mây hình thành bão hoặc các bóng
bay khí tượng.
(6) Thiết bị dẫn đường ném bom.
(7) Các thiết bị rađa dùng để xác định kíp nổ bom hoặc đạn ở khoảng
cách gần.
Các kíp nổ hoàn chỉnh có gắn chất nổ nằm trong nhóm 93.06.
(8) Các thiết bị rađa cảnh báo tấn công bằng đường hàng không.
(9) Các thiết bị rađa để định hướng và xác định phạm vi dùng cho hải
quân hoặc cho súng phòng không.
(10) Các máy thu phát ra đa; chúng nhận các xung rađa và truyền các
xung này, các xung này thường mang các dữ liệu được xếp chồng để
phản hồi lại những xung mà nó nhận được. Máy thu phát được sử
dụng trên máy bay để chúng có thể được xác định bởi người điều
khiển rađa, và trong bóng thám không để xác định phạm vi và
hướng và truyền các thông tin khí tượng.
(11) Các thiết bị radio để điều khiển từ xa các tàu thuyền, hoặc máy bay
không người lái, các tên lửa hành trình, đạn pháo, đạn đồ chơi, các
mô hình tàu và máy bay, v.v...
(12) Các thiết bị radio để kích nổ mìn hoặc để điều khiển máy móc từ xa.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết Tổng
quát Phần XVI), bộ phận của các thiết bị thuộc nhóm này được phân loại
vào nhóm 85.29.
Các xe chuyên dùng được lắp cố định với các rađa hoặc thiết bị khác của
nhóm này thì được loại trừ (thường thuộc nhóm 87.05).
85.27- Thiết bị thu dùng cho phát thanh sóng vô tuyến, có hoặc
không kết hợp với thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh hoặc với
đồng hồ, trong cùng một khối.
⦁ Máy thu thanh sóng vô tuyến có thể hoạt động không
cần dùng nguồn điện ngoài:
8527.12 - - Radio cát sét loại bỏ túi
8527.13 - - Thiết bị khác kết hợp với thiết bị ghi hoặc tái tạo âm
8527.19 - - Loại khác
- Máy thu thanh sóng vô tuyến không thể hoạt động
khi không có nguồn điện ngoài, loại dùng cho xe có
động cơ:
8527.21 - - Kết hợp với thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh
8527.29 - - Loại khác
- Loại khác :
8527.91 - - Kết hợp với thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh
8527.92 - - Không kết hợp với thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh
nhưng gắn với đồng hồ
8527.99 - - Loại khác
Thiết bị phát thanh sóng vô tuyến xếp vào trong nhóm này phải được
dùng để nhận các tín hiệu bằng sóng điện từ được truyền qua không
trung mà không có bất kỳ sự kết nối dây dẫn nào.
Nhóm này bao gồm :
(1) Thiết bị thu thanh vô tuyến các loại dùng trong gia đình (kiểu để bàn,
thiết bị nhận để gắn lên đồ nội thất, tường,…, các kiểu xách tay,
thiết bị nhận có hoặc không kết hợp các thiết bị ghi hoặc tái tạo âm
thanh hoặc một đồng hồ, gắn trong cùng một vỏ).
(2) Các thiết bị thu sóng vô tuyến trên xe ô tô.
(3) Khi xuất trình riêng rẽ, các thiết bị thu dùng để gắn với thiết bị
chuyển tiếp thuộc nhóm 85.25.
(4) Radio catset bỏ túi (xem Chú giải Phân nhóm 4 Chương này).
(5) Hệ thống âm thanh nổi (hệ thống hi-fi) chứa một thiết bị thu sóng vô
tuyến, đóng bộ để bán lẻ, bao gồm các đơn vị module trong các vỏ
bọc riêng của chúng, ví dụ, trong sự kết hợp với một máy quay đĩa
CD, máy ghi âm cát sét, một bộ khuếch đại với một bộ cân chỉnh tần
số, loa… Thiết bị thu sóng vô tuyến cung cấp cho hệ thống các đặc
tính cơ bản của nó.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết Tổng
quát Phần XVI), bộ phận của các thiết bị thuộc nhóm này được phân loại
vào nhóm 85.29.
Nhóm này không bao gồm, không kể những cái khác:
(a) Các sản phẩm của nhóm 85.17 hoặc 85.25.
(b) Các xe chuyên dùng được lắp cố định với các thiết bị thu sóng vô
tuyến của nhóm này (thường thuộc nhóm 87.05).
85.28 - Màn hình và máy chiếu, không gắn với thiết bị thu dùng
trong truyền hình; thiết bị thu dùng trong truyền hình, có
hoặc không gắn với máy thu thanh sóng vô tuyến hoặc thiết
bị ghi hoặc tái tạo âm thanh hoặc hình ảnh.
- Màn hình sử dụng ống đèn hình tia ca-tốt:
8528.42 - - Có khả năng kết nối trực tiếp và được thiết kế để
dùng cho máy xử lý dữ liệu tự động thuộc nhóm 84.71
8528.49 - - Loại khác
⦁ Màn hình khác:
8528.52 - - Có khả năng kết nối trực tiếp và được thiết kế để
dùng cho máy xử lý dữ liệu tự động thuộc nhóm 84.71
8528.59 - - Loại khác.
⦁ Máy chiếu:
8528.62 - - Có khả năng kết nối trực tiếp và được thiết kế để
dùng cho máy xử lý dữ liệu tự động thuộc nhóm 84.71
8528.69 - - Loại khác
⦁ Thiết bị thu dùng trong truyền hình, có hoặc không
gắn với thiết bị thu thanh sóng vô tuyến hoặc thiết bị
ghi hoặc tái tạo âm thanh hoặc hình ảnh:
8528.71 - - Không thiết kế để gắn với thiết bị hiển thị video hoặc
màn ảnh
8528.72 - - Loại khác, màu
8528.73 - - Loại khác, đơn sắc
Nhóm này bao gồm:
(1) Màn hình và máy chiếu, không gắn các thiết bị thu sóng truyền hình.
(2) Máy thu truyền hình, có hoặc không gắn với máy thu phát sóng vô
tuyến hoặc máy ghi hoặc tái tạo video hoặc âm thanh, cho việc hiển
thị các tín hiệu (tivi).
(3) Thiết bị để thu tín hiệu truyền hình, không có khả năng hiển thị (ví
dụ, thiết bị thu sóng truyền hình vệ tinh).
Màn hình, máy chiếu và tivi sử dụng các công nghệ khác nhau, như CRT
(ống tia catot), LCD (màn hình tinh thể lỏng), DMD (thiết bị vi ảnh kỹ
thuật số), OLED (điot phát quang hữu cơ) và plasma, để hiển thị hình
ảnh.
Màn hình và máy chiếu có thể năng nhận nhiều tín hiệu từ các nguồn
khác nhau. Tuy nhiên, nếu chúng kết nối với bộ dò tín hiệu truyền hình
thì được xem như thiết bị thu dùng trong truyền hình.
(A) MÀN HÌNH (MONITOR) CÓ KHẢ NĂNG KẾT NỐI TRỰC
TIẾP VÀ ĐƯỢC THIẾT KẾ ĐỂ DÙNG CHO MÁY XỬ LÝ DỮ
LIỆU TỰ ĐỘNG THUỘC NHÓM 84.71
Nhóm này bao gồm các màn hình có khả năng nhận tín hiệu từ bộ xử lý
trung tâm của máy xử lý dữ liệu tự động và hiển thị các hình ảnh của các
dữ liệu đã được xử lý. Các màn hình này có thể được phân biệt với các
loại màn hình monitor khác (xem phần (B) bên dưới) và các máy thu
truyền hình.
Các màn hình của nhóm này có thể có các đặc tính sau:
(i) Chúng thường hiển thị các tín hiệu hình ảnh tương thích (đơn sắc
hoặc đa sắc) được tổng hợp trong bộ xử lý dữ liệu tự động của máy xử lý
dữ liệu tự động;
(ii) Chúng không được gắn với một bộ lọc kênh hoặc bộ thu tín hiệu
(iii) Chúng được gắn với các đầu nối đặc trưng của các hệ thống xử lý
dự liệu (ví dụ như, cống nối tiếp RS-232C, đầu nối DIN, D-SUB, VGA,
DVI, HDMI hoặc DP (cổng kết nối);
(iv) Kích cỡ hình ảnh hiển thị có thể nhìn thấy của các màn hình này
thường không quá 76cm (30inches);
(v) Chúng có kích thước bước hiển thị ( thường nhỏ hơn 0.3mm) phù
hợp cho tầm nhìn gần;
(vi) Chúng có thể có một mạch âm thanh và các loa trong (thông thường,
tổng công suất 2 watts hoặc ít hơn);
(vii) Chúng thường có các nút điều chỉnh đặt ở mặt trước;
(viii) Chúng thường không thể hoạt động bằng một điều khiển từ xa;
(ix) Chúng có thể gắn với cơ cấu điều chỉnh độ nghiêng, xoay và chiều
cao, bề mặt ánh sáng chống lóa, màn hình hiển thị không rung, và các
đặc tính thiết kế tiện dụng khác để làm cho có thể xem trong thời gian
dài ở cự li gần màn hình;
(x) Chúng có thể kết nối không dây để hiển thị dữ liệu từ máy xử lý dữ
liệu tự động thuộc nhóm 84.71.
(B) MÀN HÌNH KHÁC TRỪ LOẠI CÓ KHẢ NĂNG KẾT NỐI
TRỰC TIẾP VÀ ĐƯỢC THIẾT KẾ ĐỂ DÙNG CHO MÁY XỬ LÝ
DỮ LIỆU TỰ ĐỘNG THUỘC NHÓM 84.71
Nhóm này bao gồm các màn hình có thể nhận các tín hiệu khi được kết
nối trực tiếp với camera hình ảnh hoặc thiết bị ghi bằng cáp composite
video, s- video hoặc cáp đồng trục, do đó tất cả các mạch tần số vô tuyến
được loại trừ. Chúng thường được sử dụng bởi các công ty truyền hình
hoặc truyền hình mạch kín (sân bay, nhà ga, nhà máy, bệnh viện…)..
Hơn thế, chúng có thể có các đầu vào riêng biệt màu đỏ ® , màu xanh lá
cây (G) và xanh da trời (B), hoặc được mã hóa phù hợp với một tiêu
chuẩn cụ thể (NTSC, SECAM, PAL, D-MAC…). Để tiếp nhận tín hiệu
đã được mã hóa, màn hình phải được trang bị một thiết bị giải mã (bộ
tách) các tín hiệu R,G và B. Chúng không được gắn với các đầu nối đặc
trưng của hệ thống xử lý tự động, và chúng không gắn với cơ cấu điều
chỉnh độ nghiêng, xoay và chiều cao, bề mặt ánh sáng chống lóa, màn
hình hiển thị không rung, và các đặc tính thiết kế tiện dụng khác để làm
cho có thể xem trong thời gian dài ở cự li gần màn hình. Chúng không
gắn với bộ lọc kênh hoặc bộ thu tín hiệu video.
(C) MÁY CHIẾU
Máy chiếu cho phép các hình ảnh được tái tạo bình thường trên màn ảnh
của máy thu truyền hình hoặc của màn hình monitor được chiếu trên một
bề mặt bên ngoài. Chúng có thể dựa trên công nghệ CRT hoặc màn hình
dẹt (ví dụ DMD, LCD, plasma).
(D) MÁY THU DÙNG CHO TRUYỀN HÌNH
Nhóm này bao gồm thiết bị có hoặc không được thiết kế để gắn với màn
hình hiển thị hình ảnh hoặc màn hình, như là:
(1) Máy thu sóng truyền hình (mặt đất, truyền hình cáp hoặc vệ tinh) mà
không bao gồm thiết bị hiển thị (CRT, LCD…). Các thiết bị này
nhận các tín hiệu và chuyển đổi chúng thành các tín hiệu thích hợp
cho hiển thị. Chúng cũng có thể gắn với một modem để kết nối
Những máy thu này được thiết kế để sử dụng với máy ghi video
hoặc các thiết bị tái tạo hình ảnh, màn hình monitor, máy chiếu hoặc
TV. Tuy nhiên, các thiết bị mà chỉ đơn giản là tách các tín hiệu
truyền hình tần số cao (đôi khi gọi là bộ chỉnh hình) được phân loại
như là bộ phận của nhóm 85.29.
(2) Máy thu truyền hình dùng trong công nghiệp (ví dụ để đọc dụng cụ
từ xa, hoặc để quan sát vùng nguy hiểm). Với các thiết bị này, việc
truyền dẫn thường là bằng dây dẫn.
(3) Máy thu truyền hình các loại (LCD, plasma, CRT…) được sử dụng
trong nhà (TV), có hoặc không gắn máy thu sóng phát thanh, máy
ghi video cassette, máy DVD, máy ghi DVD, đầu thu vệ tinh…
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), các bộ phận của các thiết bị thuộc nhóm này được
phân loại vào nhóm 85.29.
Nhóm này loại trừ, không kể những mặt hàng khác:
(a) Máy ghi hoặc tái tạo hình ảnh (nhóm 85.21).
(b) Xe chuyên dùng (ví dụ xe van cho phát thanh truyền hình) được gắn
cố định với thiết bị thu truyền hình hoặc các thiết bị khác của nhóm
này (thường thuộc nhóm 87.05).
(c) Máy chiếu phim (nhóm 90.07) và máy chiếu hình ảnh nhóm 90.08.
85.29 - Bộ phận chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với các thiết bị thuộc
các nhóm từ 85.25 đến 85.28.
8529.10 - Ăng ten và bộ phản xạ của ăng ten; các bộ phận sử
dụng kèm
8529.90 - Loại khác
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), nhóm này bao gồm các bộ phận của các thiết bị
của năm nhóm trước. Phạm vi các bộ phận được phân loại vào nhóm này
bao gồm:
(1) Ăng ten các loại và các bộ phản xạ ăng ten, phát và thu.
(2) Các hệ thống xoay hướng sử dụng cho ăng ten để thu sóng truyền
thanh hoặc sóng truyền hình, cơ bản bao gồm một động cơ điện
được gắn trên cột ăng ten nhằm mục tiêu xoay hướng và một hộp
điều khiển độc lập để xoay hướng và định vị ăng ten.
(3) Các hộp hoặc tủ được thiết kế đặc biệt để lắp đặt các thiết bị thuộc
nhóm 85.25 đến 85.28.
(4) Các bộ chia và lọc tín hiệu ăng ten.
(5) Khung (khung vỏ).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các cột ăng ten (nhóm 73.08)
(b) Các máy phát cao áp (nhóm 85.04).
(c) Pin cho điện thoại di động tế bào (nhóm 85.07).
(d) Các bộ phận hoàn toàn phù hợp để sử dụng chủ yếu cho hàng hóa
thuộc nhóm 85.17 và nhóm 85.25 đến 85.28 (nhóm 85.17).
(e) Tai nghe không có khung chụp qua đầu và tai nghe có khung chụp
qua đầu, có hoặc không nối với một micrô, dùng cho điện thoại hoặc
điện báo, cũng như tai nghe không có khung chụp qua đầu hoặc tai
nghe có khung chụp qua đầu có thể được nối tới với máy thu thanh
hoặc máy thu hình (nhóm 85.18).
(f) Ống đèn tia âm cực và các bộ phận của chúng (ví dụ, cuộn lái tia)
(nhóm 85.40).
(g) Bộ khuếch đại ăng-ten và bộ dao động tần số vô tuyến (nhóm
(h) Các thấu kính và các bộ lọc quang học dùng cho camera truyền hình
(nhóm 90.02).
(ij) Chân đế loại một chân (monopod), hai chân (bipod), ba chân
(tripod) và các mặt hàng tương tự (nhóm 96.20).
85.30 - Thiết bị điện phát tín hiệu thông tin, bảo đảm an toàn hoặc
điều khiển giao thông, dùng cho đường sắt, đường tàu điện,
đường bộ, đường thủy nội địa, điểm dừng đỗ, cảng hoặc sân
bay (trừ loại thuộc nhóm 86.08).
8530.10 - Thiết bị dùng cho đường sắt hay đường tàu điện
8530.80 - Thiết bị khác
8530.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm tất cả các thiết bị điện dùng để điều khiển giao thông
đường sắt, các hệ thống tàu chạy trên đệm không khí, đường bộ hoặc
đường thủy nội địa. Một thiết bị tương tự mở rộng cũng được sử dụng để
điều khiển tầu, thuyền (ở những hải cảng), máy bay (ở cảng hàng
không), điểm dừng đỗ xe, và các thiết bị này cũng thuộc trong nhóm
này. Tuy vậy, nhóm này không bao gồm những thiết bị có tính năng
tương tự hoạt động cơ học, thậm chí những thiết bị này có những tính
năng nhỏ hoạt động bằng điện (ví dụ, các tín hiệu cơ với phương tiện
chiếu sáng bằng điện, hoặc điều khiển thuỷ lực hoặc khí nén chuyển
động bằng điện); chúng được xếp vào nhóm 86.08.
Những tín hiệu tĩnh, thậm chí nếu được thắp sáng bằng điện (ví dụ: các
bảng hiệu chiếu sáng sử dụng như tín hiệu chỉ hướng), không được xem
là các thiết bị điều khiển giao thông. Do vậy, chúng không thuộc nhóm
này, nhưng được xếp riêng vào các nhóm thích hợp (nhóm 83.10, 94.05
(A) Các dụng cụ cho đường sắt hoặc đường tàu điện (kể cả các thiết
bị đường sắt sử dụng trong hầm mỏ) và các thiết bị thuộc hệ
thống vận tải trên đệm không khí. Phân loại vào hai nhóm này là:
(1) Thiết bị phát tín hiệu hoặc thiết bị bảo đảm an toàn. Chúng bao
gồm các tín hiệu chấp hành (thường là những đèn mầu, hoặc là các
đĩa, các cần di chuyển gắn trên trụ hoặc khung của một số loại), các
thiết bị chấp hành và các thiết bị điều khiển (hoạt động thủ công
hoặc tự động).
Các thiết bị phát tín hiệu thuộc loại này thường được dùng để điều
khiển giao thông tại các nhà ga, đầu nút giao thông, các điểm chắn
nút giao thông giữa đường sắt và đường bộ v.v.... hoặc để điều khiển
các chuyến tàu trên cùng một tuyến. Loại thiết bị này bao gồm thiết
bị phát tín hiệu phân tuyến tự động, một chiếc tầu di chuyển từ
tuyến đường này sang tuyến kế tiếp được thực hiện tự động nhờ các
tín hiệu cần thiết.
Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị dùng để phát tín hiệu tới các
nhà ga hoặc các hộp tín hiệu (bằng chuông cảnh báo hoặc một thiết
bị chỉ thị có thể nhìn thấy được) từ vị trí của tầu hoặc vị trí gần với
tàu, hoặc từ vị trí phát tín hiệu v.v....
Những kiểu thiết bị phát tín hiệu nhất định được gắn với những bộ
phận truyền tín hiệu trực tiếp tới cabin đầu máy. Các tiếp điểm hoặc
cảm biến gắn trên đường truyền tác động lên một cơ cấu trên đầu máy
khi mà nó đi qua, và hoặc tạo ra các cảnh báo có thể nhìn thấy được
hoặc có thể nghe thấy được tới người lái ngồi trong cabin, hoặc trong
một vài trường hợp, thực hiện điều khiển đầu máy làm dừng tàu. Các
bộ phận của thiết bị gắn vào đầu máy không thuộc nhóm này.
(2) Thiết bị điều khiển tuyến đường, ví dụ: thiết bị điều khiển từ xa
của các điểm nút. Thực chất, thiết bị này bao gồm thiết bị thao tác
cơ khí (trong nhiều trường hợp bao gồm các thiết bị khóa) được gắn
trên tuyến đường gần mỗi một điểm nút, và bảng điều khiển và thiết
bị được gắn tại một vài nút điều khiển tập trung (hộp tín hiệu...).
Nhóm này bao gồm các thiết bị khá phức tạp dùng để điều khiển tự
động các xe goòng trong khu vực nối toa, ví dụ; các thiết bị điều
khiển chuyển động của xe goòng được lắp đặt trong một số khu vực
nối toa lớn (“rô bốt bi”).
(B) Các thiết bị dùng cho đường thuỷ nội địa, đường bộ hoặc các bãi
đỗ xe. Nhóm này bao gồm:
(1) Các tín hiệu tự động tại các điểm giao nhau, ví dụ như đèn
nháy, chuông, các tín hiệu dừng được phát sáng.
Nhóm này cũng bao gồm những thiết bị điện dùng để vận hành
cổng chắn hoặc barie.
2) Đèn giao thông. Thông thường, chúng là một hệ thống các đèn
mầu được lắp đặt tại các điểm đường giao nhau, đầu nút giao
thông v.v.... chúng gồm một hệ thống lắp đặt đèn ánh sáng thấy
được, các thiết bị điều khiển và các phương tiện để điều khiển.
Những đèn này có thể vận hành bằng tay (đèn được vận hành
bởi cảnh sát giao thông hoặc, tại các nút sang đường dành cho
người đi bộ, chúng được vận hành bởi khách bộ hành) hoặc tự
động (đèn được vận hành nhờ các thiết bị định giờ, và đèn được
vận hành bởi sự qua lại của các phương tiện, hoặc sử dụng các
pin quang điện hoặc bằng các tiếp điểm đặt trên đường).
(C) Các thiết bị điện điều khiển giao thông lắp đặt ở cảng hoặc sân
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại bộ phận (xem các Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), các bộ phận của hàng hóa thuộc nhóm này cũng
được phân loại trong nhóm này.
Nhóm này không bao gồm các thiết bị điện phát tín hiệu hoặc chiếu
sáng gắn trên xe đạp hoặc xe có động cơ (nhóm 85.12).
85.31 - Thiết bị báo hiệu bằng âm thanh hoặc hình ảnh (ví dụ,
chuông, còi báo, bảng chỉ báo, báo động chống trộm hoặc báo
cháy), trừ các thiết bị thuộc nhóm 85.12 hoặc 85.30.
8531.10 - Báo động chống trộm hoặc báo cháy và các thiết bị
tương tự
8531.20 - Bảng chỉ báo có gắn màn hình tinh thể lỏng (LCD)
hoặc điốt phát quang (LED)
8531.80 - Thiết bị khác
8531.90 - Bộ phận
Trừ các thiết bị phát tín hiệu sử dụng trên xe đạp hoặc xe có động cơ
(nhóm 85.12) và các thiết bị dùng cho điều khiển giao thông trên đường
bộ, đường sắt v.v... (nhóm 85.30), nhóm này bao gồm tất cả các thiết bị
điện dùng cho mục đích phát tín hiệu, hoặc sử dụng âm thanh để truyền
tín hiệu (chuông, còi, v.v...) hoặc sử dụng những chỉ dẫn có thể nhìn thấy
được (đèn, cờ, các con số phát sáng, v.v...). Các thiết bị này hoặc có thể
vận hành bằng tay (ví dụ, chuông cửa) hoặc tự động (ví dụ, chuông báo
trộm).
Những tín hiệu tĩnh, thậm chí nếu được thắp sáng bằng dòng điện (ví dụ:
đèn, đèn lồng, các bảng hiệu được phát sáng v.v...) không được xem là
các thiết bị phát tín hiệu. Do vậy, chúng không thuộc nhóm này, được
phân loại vào các nhóm thích hợp với chúng (nhóm 83.10, 94.05 v.v...)
Nhóm này bao gồm, không kể những mặt hàng khác:
(A) Chuông điện, còi điện, chuông cửa điện có nhạc, v.v... Thực chất,
các chuông điện bao gồm một chi tiết hoạt động bằng điện-từ, làm
rung một cái búa nhỏ và gõ vào thành chuông. Còi điện cũng tương
tự nhưng không có thành chuông. Cả hai loại đều rất phổ biến trong
các mục đích gia dụng (ví dụ: chuông cửa) và trong văn phòng,
khách sạn v.v... Nhóm này cũng bao gồm các loại chuông cửa điện
có nhạc, loại có một hoặc nhiều ống kim loại được gõ vào để phát ra
một hay nhiều nốt nhạc và các chuông nhà thờ hoạt động bằng điện,
ngoại trừ các chuông chùm thích hợp cho việc chơi nhạc (Chương
Các chuông điện và các chuông cửa điện có nhạc thường được thiết
kế để vận hành với nguồn điện áp thấp (dùng pin sơ cấp hoặc ắc
quy), nhưng trong một số trường hợp cụ thể, chúng thường gắn với
một máy biến điện để giảm điện áp nguồn điện thế chính.
(B) Các thiết bị điện báo hiệu bằng hiệu âm thanh, còi điện, còi báo
điện… Âm thanh sinh ra bởi một lưỡi gà rung, bởi một đĩa xoay
chạy bằng điện hoặc máy phát âm thanh điện tử; chúng bao gồm còi
nhà máy, còi báo động phòng không, còi tàu thuỷ…
(C) Các thiết bị điện báo hiệu khác (đèn nhấp nháy hoặc đèn sáng gián
đoạn,…) cho máy bay, tàu thuỷ, tàu hoả hoặc các phương tiện khác
(ngoại trừ các thiết bị dùng cho xe đạp hoặc xe có động cơ thuộc
nhóm 85.12), không bao gồm các thiết bị sóng vô tuyến hoặc rađa
của nhóm 85.26.
(D) Các bảng chỉ báo hoặc các dạng tương tự. Các thiết bị này được
dùng (ví dụ: trong các khách sạn, văn phòng, nhà máy) để gọi
người, để chỉ dẫn vị trí của một người hoặc một nơi dịch vụ được
yêu cầu, để báo hiệu một phòng còn trống hay không. Chúng bao
gồm:
(1) Bảng chỉ báo phòng. Các bảng này là các bảng lớn có các con
số tương ứng với số phòng. Khi nhấn nút tại phòng có yêu cầu,
thì số tương ứng trên bảng sẽ sáng lên, hoặc được thể hiện bằng
cách mở cửa chớp hoặc lật nắp che.
(2) Các chỉ báo bằng con số. Các tín hiệu xuất hiện dưới dạng các
con số được chiếu sáng trên bề mặt của một hộp nhỏ; trong một
vài thiết bị kiểu này, cơ chế gọi hoạt động được thực hiện bởi
việc quay số của một điện thoại. Cũng như các chỉ báo kiểu
đồng hồ trong đó các con số được chỉ dẫn bởi một kim quay
tròn quanh đĩa số.
(3) Bảng chỉ báo văn phòng, ví dụ như, được dùng để chỉ báo
người ngồi làm việc trong đó có thể tiếp khách hay không. Một
vài kiểu bảng chỉ báo đơn giản hiển thị dòng chữ "xin mời vào"
hoặc "bận" được phát sáng theo ý của người ngồi trong phòng.
(4) Chỉ báo thang máy. Các chỉ báo này, được hiển thị trên một
bảng phát sáng, chỉ vị trí thang máy và hướng đi lên xuống của
thang máy.
(5) Các thiết bị điện báo trong phòng máy dùng cho tàu biển.
(6) Các bảng chỉ báo dùng trong các nhà ga để chỉ báo thời gian
và sân ga đến và đi của tàu.
(7) Các chỉ báo dùng trên trường đua ngựa, sàn chơi bowling và
sân bóng đá…
Một số bảng chỉ báo này, v.v. cũng được gắn với chuông hoặc các
thiết bị tín hiệu âm thanh khác.
Nhóm này không bao gồm các bản đồ đường bộ hoặc đường sắt đặt
nơi công cộng, trong đó một vị trí, một con đường, một khu vực,
một tuyến đường cụ thể được chiếu sáng khi ấn một nút thích hợp,
cũng như không bao gồm các tín hiệu quảng cáo dùng điện.
(E) Các báo động chống trộm. Những thiết bị này gồm có 2 phần: phần
phát hiện, và phần phát tín hiệu (chuông, còi, bộ chỉ báo có thể nhìn
thấy được v.v...) là bộ phận sẽ tự động báo động khi bộ phận phát
hiện được kích hoạt. Những báo động chống trộm hoạt động theo
một số cách thức sau, ví dụ:
(1) Bằng tiếp điểm điện, chúng được kích hoạt bởi việc giẩm lên
một phần nhất định của sàn nhà, bằng việc mở cửa, phá vỡ hoặc
chạm vào đường dây mảnh được cài đặt…
(2) Bằng hiệu ứng điện dung. Chúng thường được nối với két bạc;
lúc này két bạc đóng vai trò như một bản cực của tụ điện, dung
kháng của nó sẽ thay đổi khi tiếp xúc với cơ thể người, do đó nó
sẽ tác động lên một mạch điện và bật bộ báo động.
(3) Các thiết bị quang điện. Một tia (thường là ánh sáng hồng
ngoại) được tập trung vào một tế bào quang điện; khi tia này bị
gián đoạn, nó sẽ làm dòng điện trong mạch quang điện thay đổi
dẫn đến bật bộ báo động.
(F) Báo cháy. Báo cháy tự động cũng gồm có hai phần: phần dò tìm và
phần phát tín hiệu (chuông, còi, bộ chỉ báo có thể nhìn thấy được
v.v...). Chúng bao gồm:
(1) Các thiết bị hoạt động nhờ các vật liệu dễ nóng, chảy (sáp
hoặc hợp kim đặc biệt). Các vật liệu này sẽ tan chảy khi nhiệt
độ vượt quá một ngưỡng nào đó, do đó các tiếp điểm điện sẽ
đóng và kích hoạt báo động.
(2) Các thiết bị hoạt động dựa trên sự giãn nở của miếng lưỡng
kim, chất lỏng hoặc chất khí. Khi chúng giãn nở vượt quá một
ngưỡng nhất định sẽ kích hoạt báo động. Đối với một kiểu thiết
bị, sự giãn nở của chất khí sẽ ép cho piston chuyển động trong
xi lanh; một van được gắn vào để việc giãn nở chậm sẽ không
kích hoạt báo động, nhưng khi nhiệt độ tăng bất thường khiến
cho sự giãn nở đột ngột làm cho van này tác động lên bộ báo
động.
(3) Các thiết bị hoạt động dựa trên sự thay đổi về trở kháng của
một phần tử trong mạch điện, trở kháng của phần tử này thay
đổi theo nhiệt độ.
(4) Các thiết bị hoạt động nhờ các tế bào quang điện. Một tia
sáng được tập trung vào tế bào quang điện và, nếu như nó bị
che khuất tới một mức xác định bởi khói, nó sẽ kích hoạt bộ báo
động. Những thiết bị tương tự được gắn với bộ chỉ báo mức độ
hoặc với hệ thống ghi âm được xếp phân loại vào Chương 90.
Ngoài các thiết bị báo cháy tự động, nhóm này cũng bao gồm các
thiết bị báo cháy không tự động, chẳng hạn những thiết bị được lắp
đặt trên các tuyến phố, để gọi đội cứu hoả.
(G) Các thiết bị điện báo động rò ga hoặc rò hơi, bao gồm một bộ
phận dò tìm và một bộ phận báo hiệu bằng âm thanh hoặc bằng dấu
hiệu có thể nhìn thấy, được dùng để báo cho biết có sự hiện diện của
hỗn hợp khí độc hại (khí tự nhiên, mê tan...).
(H) Báo lửa (phát hiện ngọn lửa) gắn với một tế bào quang điện, nó tác
động lên thiết bị báo động qua một rơle khi ngọn lửa cháy lên hay
tắt đi. Các thiết bị dò không gắn kèm các bộ phận điện báo hiệu
bằng âm thanh hoặc bằng dấu hiệu có thể nhìn thấy được xếp phân
loại vào nhóm 85.36.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), các bộ phận của các sản phẩm thuộc nhóm này
cũng được phân loại trong nhóm này.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Các bộ đóng ngắt mạch điện và các bảng đóng ngắt mạch điện, có
hoặc không gắn kèm các đèn chỉ báo đơn giản (nhóm 85.36 hoặc
(b) Các thiết bị báo cháy gắn kèm bộ phận dò tìm khói có chứa chất
phóng xạ (nhóm 90.22).
(c) Màn hình LCD hoặc máy thu truyền hình (nhóm 85.28).
85.32 - Tụ điện, loại có điện dung cố định, biến đổi hoặc điều chỉnh
được (theo mức định trước) (+).
8532.10 - Tụ điện cố định được thiết kế dùng trong mạch có tần
số 50/60 Hz và có giới hạn công suất phản kháng cho
phép không dưới 0,5 kvar (tụ nguồn)
- Tụ điện cố định khác:
8532.21 - - Tụ tantan (tantalum)
8532.22 - - Tụ nhôm
8532.23 - - Tụ gốm, một lớp
8532.24 - - Tụ gốm, nhiều lớp
8532.25 - - Tụ giấy hay plastic
8532.29 - - Loại khác
8532.30 - Tụ điện biến đổi hay tụ điện điều chỉnh được (theo
mức định trước)
8532.90 - Bộ phận
Về mặt nguyên lý, các tụ điện (hoặc bộ điện dung) bao gồm hai bề mặt
dẫn, được cách ly bằng vật liệu cách điện (điện môi), ví dụ không khí,
giấy, mica, dầu nhờn, nhựa và cao su, gốm sứ hoặc thuỷ tinh...
Chúng được dùng vào nhiều mục đích trong nhiều lĩnh vực của công
nghiệp điện (ví dụ: để cải thiện hệ số công suất trong mạch điện xoay
chiều, để tạo ra các dòng điện lệch pha cho từ trường quay của động cơ
cảm ứng, để bảo vệ tiếp điểm điện khỏi hiệu ứng hồ quang, để lưu trữ và
tái sử dụng điện năng, trong các mạch dao động, trong các mạch lọc tần
số, và được sử dụng rất rộng rãi trong phát thanh, truyền hình hoặc công
nghiệp điện thoại hoặc cho các thiết bị điện tử công nghiệp).
Đặc điểm của chúng (hình dạng, kích thước, dung kháng, bản chất của
điện môi,...) thay đổi tuỳ theo mục đích sử dụng. Tuy nhiên, nhóm này
bao gồm tất cả các tụ điện mà không xét đến kiểu tụ, phương pháp chế
tạo, và với mọi mục đích sử dụng (kể cả những tụ tiêu chuẩn dùng trong
phòng thí nghiệm hoặc trong một số lượng lớn các thiết bị đo, được chế
tạo đặc biệt với dung sai nhỏ và được thiết kế sao cho vẫn duy trì chất
lượng tốt trong suốt quá trình sử dụng).
Nhóm này cũng bao gồm các nhóm tụ trên cùng một khung hoặc trong
cùng một vỏ (ví dụ các tụ có hệ số công suất lớn và các hộp tụ bao gồm
một số các tụ tiêu chuẩn có khả năng kết nối với nhau, theo kiểu song
song hoặc nối tiếp, để thu được bất kỳ điện dung cần thiết nào).
(A) CÁC TỤ ĐIỆN CỐ ĐỊNH
Là các loại tụ có dung kháng không thay đổi được. Các loại chính bao
gồm: tụ khô, tụ thấm dầu, tụ khí, tụ chứa dầu và tụ điện hoá.
(1) Trong các tụ điện khô, các bản cực và điện môi thường dưới dạng
các phiến xếp chồng lên nhau, hoặc các băng cuốn tròn hoặc dưới
dạng lá. Trong một số tụ điện khô nhất định, lớp điện môi phủ lên
kim loại thường được xử lý hoá học hoặc xử lý nhiệt. Các tụ khô có
thể được đóng kín trong hộp có kẹp hoặc không có hộp.
(2) Các tụ thấm dầu có cấu trúc gần với tụ khô trừ chất điện môi, thông
thường bằng phim nhựa hoặc phim nhựa và giấy, được tẩm dầu hoặc
chất lỏng khác.
(3) Các tụ khí bao gồm hai hoặc nhiều điện cực được cách ly bằng khí,
khác với không khí, làm thành chất điện môi.
(4) Trong một số trường hợp, tụ điện (“tụ chứa dầu”) được khép kín
trong một vỏ đổ đầy dầu hoặc chất lỏng thích hợp khác, và được gắn
nhiều phụ kiện như đồng hồ đo áp suất và các van an toàn.
(5) Trong các tụ điện hoá, một trong số các bản cực thường bằng
nhôm hoặc tantan, trong khi vai trò của các bản cực khác được
thực hiện nhờ chất điện phân thích hợp, mà nhờ nó dòng điện
được dẫn bằng một điện cực, đôi khi điện cực này có dạng tương
tự như bản cực bằng nhôm hoặc tantan. Phản ứng điện phân tạo
ra trên bản cực nhôm hoặc tantan một lớp mỏng hợp chất hoá học
phức tạp mà sau đó hình thành lớp điện môi. Tụ điện này đôi khi
được đóng trong một vỏ, , nhưng thông thường thì bản thân lớp
vỏ bên ngoài của điện cực chính là vỏ; những tụ này thường được
gắn với một pin cơ sở tương tự như pin cơ sở của van. Những tụ
cụ thể của kiểu này thường có chất điện phân nhão còn được gọi
là “tụ điện hoá khô”.
(B) TỤ BIẾN ĐỔI
Là loại tụ mà dung kháng có thể thay đổi được. Trong phần lớn các tụ,
chất điện môi được sử dụng là không khí, và các bản cực thường bao
gồm 2 nhóm bản cực kim loại, một nhóm được gắn cố định trong khi đó
nhóm kia, được gắn trên một trục, có thể được xoay sao cho các bản cực
của nó có thể di chuyển giữa các bản cực của nhóm cố định. Góc xoay
và sự xen kẽ giữa các tấm chuyển động (phần quay) và các tấm cố định
(phần tĩnh) làm thay đổi dung kháng của tụ điện.
(C) TỤ ĐIỆN ĐIỀU CHỈNH ĐƯỢC HOẶC CÁC TỤ ĐIỆN CÓ
MỨC ĐỊNH TRƯỚC
Các tụ điện loại này (bao gồm cả các tụ điện tinh chỉnh) có thể điều
chỉnh được dung kháng trong những giới hạn hẹp để có được một giá trị
chính xác. Việc điều chỉnh này có thể tiến hành theo nhiều cách khác
nhau. Trong một số kiểu nhất định, khoảng cách giữa các bản cực có thể
thay đổi nhờ một đinh vít. Ở các kiểu khác bao gồm 2 xi lanh kim loại,
một cái di chuyển được tới một vị trí thay đổi so với cái còn lại hoặc cả
hai di chuyển tương đối theo hình bán nguyệt. Thông thường, chất điện
môi được sử dụng là, ví dụ: mica, gốm sứ, nhựa hoặc không khí.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), các bộ phận của tụ điện cũng được phân loại trong
nhóm này.
Nhóm này không bao gồm các động cơ đồng bộ được dùng để cải thiện
hệ số công suất, mặc dù chúng thường được gọi là “các tụ đồng bộ”
(nhóm 85.01).
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Phân nhóm 8532.23
Phân nhóm này bao gồm tất cả những tụ điện cố định với chất điện môi
bằng gốm sứ một lớp, có dạng đĩa hoặc ống.
Phân nhóm 8532.24
Phân nhóm này bao gồm tất cả những tụ điện cố định với chất điện môi
bằng gốm sứ nhiều lớp, có nhiều chân nối hoặc có hình dạng giống một
85.33 - Điện trở (kể cả biến trở và chiết áp), trừ điện trở nung nóng.
8533.10 - Điện trở than cố định, dạng kết hợp hay dạng màng
- Điện trở cố định khác:
8533.21 - - Có công suất danh định không quá 20 W
8533.29 - - Loại khác
- Điện trở biến đổi kiểu dây quấn, kể cả biến trở và
chiết áp:
8533.31 - - Có công suất danh định không quá 20 W
8533.39 - - Loại khác
8533.40 - Điện trở biến đổi khác, kể cả biến trở và chiết áp
8533.90 - Bộ phận
(A) Điện trở (trở kháng). Chúng đều là những vật dẫn có chức năng
cung cấp mức trở kháng đã định vào mạch điện (ví dụ: hạn chế dòng
điện chạy qua). Chúng khác nhau nhiều về hình dáng và kích cỡ và
vật liệu chế tạo. Chúng có thể được làm từ kim loại (dưới dạng
thanh, dạng hình hoặc dạng dây, thường được cuốn trên lõi) hoặc từ
than dưới dạng thanh hoặc bằng cacbon, cuabua silic, kim loại hoặc
phim oxit kim loại. Chúng có thể được thu ở dạng các thành phần
riêng biệt bởi quá trình in. Các điện trở có thể được gắn với một số
đầu cực, cho phép toàn bộ hoặc một phần được trở thành một phần
trong mạch điện.
Nhóm này bao gồm:
(1) Điện trở ngâm dầu.
(2) Các đèn điện trở than, hình dáng giống đèn sợi đốt với một sợi
cacbon đặc biệt; tuy nhiên, đèn sợi đốt cácbon nhằm mục đích
chiếu sáng bị loại trừ (nhóm 85.39).
(3) Điện trở ổn dòng gồm nhiều sợi sắt được lắp đặt trong một ống
thuỷ tinh đổ đầy hydro hoặc heli; tính chất của chúng thay đổi
một cách tự động trong những giới hạn nhất định và vì vậy giữ
cho dòng điện luôn không đổi.
(4) Các điện trở tiêu chuẩn mẫu dùng cho những mục đích đo
lường và so sánh (ví dụ, trong các phòng thí nghiệm); những
hộp điện trở bao gồm một số điện trở tiêu chuẩn được lắp ghép
trong cùng một hộp, sao cho khi đóng ngắt hoặc sắp xếp các
đầu ra cực để kết hợp những điện trở cần thiết dùng trong mạch
điện.
(5) Các điện trở phi tuyến: phụ thuộc vào nhiệt độ (điện trở nhiệt)
với hệ số nhiệt độ dương hoặc âm (thường được gắn vào những
ống thuỷ tinh), và các điện trở phi tuyến phụ thuộc vào điện áp
nhưng không bao gồm các điốt biến đổi theo điện áp
(varistor), thuộc nhóm 85.41.
(6) Những điện trở gọi là "thiết bị đo sức căng" là những phần tử
nhạy cảm dùng trong các dụng cụ đo sức căng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các điện trở nung nóng (nhóm 85.16 hoặc 85.45).
(b) Các quang trở (nhóm 85.41).
(B) Biến trở: là những điện trở biến đổi với một tiếp điểm trượt hoặc
bằng cách khác để có thể làm thay đổi hệ số điện trở trong mạch
điện theo ý muốn. Chúng bao gồm, biến trở dây quấn kiểu trượt sử
dụng con trượt trên toàn bộ cuộn dây điện trở; biến trở thay đổi từng
cấp; biến trở hydro có điện cực động được nhúng toàn bộ trong chất
dẫn lỏng; biến trở tự động (ví dụ, làm việc nhờ cơ chế hoạt động cực
tiểu hoặc cực đại dòng điện hoặc điện áp); các biến trở ly tâm.
Một số biến trở được thiết kế cho những mục đích cụ thể (ví dụ, bộ
điều chỉnh ánh sáng trong rạp hát sử dụng trong các mạch điện chiếu
sáng, có tác dụng thay đổi mức độ sáng từ từ; và các bộ điều khiển
và khởi động động cơ bao gồm một số các điện trở được sắp xếp nối
với nhau ở mức độ cần thiết để có thể đóng thêm vào hoặc bỏ bớt
một hoặc nhiều điện trở trong mạch). Tuy vậy, chúng vẫn được phân
loại trong nhóm này.
(C) Chiết áp: Chúng có một điện trở cố định với 2 đầu nối và một điểm
trượt ở giữa có tác dụng tạo ra điểm tiếp xúc bất kỳ trên điện trở.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), các bộ phận của điện trở thuộc nhóm này cũng
được phân loại trong nhóm này.
85.34- Mạch in.
Theo Chú giải 8 của Chương này, nhóm này bao gồm tất cả các mạch
được tạo ra trên một tấm cách điện, bằng một quy trình in nào đó (in
thông thường hoặc rập nổi, mạ, khắc axít...), các phần tử dẫn điện (dây
dẫn), các tiếp điểm hoặc các thành phần c dùng cho mạch in khác, chẳng
hạn cuộn cảm, điện trở và tụ điện (các phần tử ”thụ động”), trừ các phần
tử có thể phát (tạo ra), chỉnh lưu, dò tìm, điều biến hoặc khuếch đại tín
hiệu điện, ví dụ như điốt, triốt hoặc các phần tử “chủ động” khác. Một số
mạch cơ bản hoặc “trắng” có thể chỉ gồm những phần tử dẫn điện đã
được in, thông thường là những dải mảnh đồng nhất hoặc tấm mỏng với
các đầu nối hoặc thiết bị tiếp xúc nếu thích hợp.. Một số kết hợp khác
của những phần tử trên phụ thuộc vào mẫu đã được thiết lập trước đó.
Tấm vật liệu cách điện cơ sở thường có dạng phẳng tuy nhiên cũng có
thể dưới dạng trụ, nón...Mạch điện có thể được in lên một mặt hoặc cả
hai mặt (mạch in 2 lớp). Một vài mạch in có thể cấu tạo gồm nhiều lớp
và được nối với nhau (mạch in nhiều lớp).
Nhóm này cũng bao gồm những mạch in trên phim mỏng hoặc dầy chỉ
có những phần tử thụ động.
Những mạch in phim mỏng được hình thành nhờ sự kết tủa lên trên
những tấm vật liệu bằng thủy tinh hoặc trên những tấm vật liệu bằng
gốm theo mẫu riêng của phim kim loại hoặc phim điện môi, bằng sự bốc
hơi chân không, các phương pháp phun âm cực hoặc phương pháp hóa
học. Các mẫu này có thể được định dạng bởi sự kết tủa qua lưới hoặc bởi
sự kết tủa liên tục của một tấm với sự ăn mòn axit có chọn lọc tiếp theo.
Các mạch phim dày được tạo thành bởi in lưới trên các tấm gốm theo
các mẫu tương tự, sử dụng bột nhão (hoặc mực) có chứa hỗn hợp bột
thủy tinh, gốm và kim loại với dung môi thích hợp. Các tấm này sau đó
được nung trong lò.
Các mạch in có thể được tạo lỗ hoặc để gắn với các phần tử kết nối
không được in hoặc để gắn những phần tử cơ khí hoặc để nối các linh
kiện dẫn điện không được hình thành trong quá trình in. Thông thường,
những mạch phim có vỏ bọc bằng chất dẻo, gốm hoặc kim loại, chúng
gắn với những dây dẫn hoặc các đầu cực.
Các linh kiện thụ động riêng lẻ, như cuộn cảm, tụ điện và điện trở có
được nhờ quá trình in bất kỳ nào đó mà không được xem là những mạch
in thuộc nhóm này, nhưng chúng được phân loại vào những nhóm thích
hợp riêng của chúng. (ví dụ các nhóm 85.04, 85.16, 85.32 hoặc 85.33).
Các mạch mà trên đó những phần tử cơ khí hoặc những linh kiện điện đã
được gắn hoặc được nối không được xem như những mạch in theo đúng
nghĩa của nhóm này. Nói chung, chúng được phân loại theo Chú giải 2
phần XVI hoặc chú giải 2 của chương 90, tùy trường hợp cụ thể.
85.35- Thiết bị điện để đóng ngắt mạch hay bảo vệ mạch điện, hoặc
dùng để đấu nối hay lắp trong mạch điện (ví dụ, cầu dao,
công tắc, cầu chì, bộ chống sét, bộ khống chế điện áp, bộ triệt
xung điện, phích cắm và đầu nối khác, hộp đấu nối), dùng
cho điện áp trên 1.000 V.
8535.10 - Cầu chì
⦁ Bộ ngắt mạch tự động :
8535.21 - - Có điện áp dưới 72,5 kV
8535.29 - - Loại khác
8535.30 - Cầu dao cách ly và thiết bị đóng - ngắt điện
8535.40 - Bộ chống sét, bộ khống chế điện áp và bộ triệt xung
điện
8535.90 - Loại khác
Nói chung, nhóm này bao gồm các thiết bị điện dùng trong hệ thống
phân phối điện năng. Các điều khoản của Chú giải chi tiết nhóm
85.36 áp dụng, một cách tương tự, về khía cạnh các đặc điểm kỹ thuật
và chức năng của các thiết bị, đóng ngắt mạch hay bảo vệ dòng điện,
hoặc dùng để đấu nối hay lắp trong mạch điện. Nhóm này bao gồm
các thiết bị đã được mô tả trong phần Chú giải chi tiết nhóm 85.36 khi
điện áp trên 1000V.
Nhóm này bao gồm:
(A) Cầu chì và các bộ ngắt mạch tự động, ngắt dòng điện một cách tự
động khi cường độ dòng điện hoặc điện áp vượt quá một giới hạn
nhất định.
(B) Các thiết bị đóng ngắt điện được thiết kế đặc biệt cho mạch cao áp.
Chúng thường là những thiết bị đặc biệt có cấu trúc phức tạp và bền
vững để ngăn hồ quang, và chúng thường có nhiều tiếp điểm hoặc
được điều khiển từ xa với nhiều cách khác nhau (ví dụ: động cơ
secvo, cánh tay đòn bẩy). Các thiết bị này thường được gắn trong vỏ
bằng kim loại hoặc vật liệu cách điện, được đổ đầy môi chất (ví dụ:
dầu) hoặc khí hoặc trong chân không.
(C) Bộ chống sét. Chúng là những thiết bị bảo vệ, được thiết kế để bảo
vệ các cáp cao thế hoặc các hệ thống điện không bị ảnh hưởng của
sét; chúng bao gồm một thiết bị thường cách điện đối với với đường
dây cao áp những sẽ không cách điện và tạo nên một đường dẫn
điện xuống đất trong trường hợp điện áp vượt quá một ngưỡng nhất
định, nếu không đường dây và các hệ thống điện sẽ bị hỏng do sét.
Có nhiều kiểu chống sét như chống sét bằng oxít kim loại, chống sét
bằng các hạt carbon, chống sét có khe hẹp phóng điện hoặc tấm bảo
vệ gắn trên phần cách điện hoặc một dây chuỗi cách điện, chống sét
điện phân v.v...Tuy nhiên, bộ chống sét hoạt động theo nguyên lý
phóng xạ được phân loại vào nhóm 90.22.
(D) Các bộ khống chế điện áp. Các thiết bị này sử dụng nhằm mục đích
đảm bảo hiệu điện thế giữa hai vật dẫn hoặc giữa các vật dẫn với đất
không vượt quá giá trị đặt trước. Đôi khi những thiết bị này có cấu
trúc giống với kiểu đèn phóng điện, nhưng không sử dụng cho
những mục đích chiếu sáng, chúng không được xem như là đèn
chiếu sáng.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm những bộ điều chỉnh điện áp
tự động (nhóm 90.32).
(E) Cầu dao cách ly, được dùng để tạo một khoảng cách cách điện của
dây; chúng thuộc loại ngắt mạch chậm, nhưng không giống với các
thiết bị đóng - ngắt điện khác, nói chung chúng không được tạo ra
để dùng đóng ngắt mạch có dòng tải.
(F) Bộ triệt xung điện hoặc đột biến. Những thiết bị này được lắp ráp
từ các cuộn dây hoăc tụ điện, v.v.... được mắc nối tiếp hoặc song
song trên đường dây hoặc thiết bị điện nhằm mục đích thu các xung
tần số cao. Các tụ điện hoặc cuộn dây đơn giản sử dụng cho mục
đích này vẫn được phân loại vào nhóm tương ứng.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết
Tổng quát phần XVI), các bộ phận của các thiết bị thuộc nhóm này được
phân loại ở nhóm 85.38.
Nhóm này ngoại trừ những cụm chi tiết lắp ráp của những thiết bị kể
trên (trừ các cụm đóng ngắt đơn giản) (nhóm 85.37).
85.36 - Thiết bị điện để đóng ngắt mạch hay bảo vệ mạch điện, hoặc
dùng để đấu nối hay lắp trong mạch điện (ví dụ, cầu dao, rơ
le, công tắc, chi tiết đóng ngắt mạch, cầu chì, bộ triệt xung
điện, phích cắm, ổ cắm, đui đèn và các đầu nối khác, hộp đấu
nối), dùng cho điện áp không quá 1.000V; đầu nối dùng cho
sợi quang, bó sợi quang hoặc cáp quang.
8536.10 - Cầu chì
8536.20 - Bộ ngắt mạch tự động
8536.30 - Thiết bị bảo vệ mạch điện khác
⦁ Rơ le:
8536.41 - - Dùng cho điện áp không quá 60 V
8536.49 - - Loại khác
8536.50 - Thiết bị đóng ngắt mạch khác
- Đui đèn, phích cắm và ổ cắm:
8536.61 - - Đui đèn
8536.69 - - Loại khác
8536.70 - Đầu nối dùng cho sợi quang, bó sợi quang hoặc cáp
8536.90 - Thiết bị khác
Nói chung, nhóm này bao gồm các thiết bị điện dùng cho điện áp không
quá 1000v dùng cho các thiết bị gia dụng hoặc công nghệp. Tuy nhiên,
các thiết bị dùng cho điện áp trên 1000v thuộc vào nhóm 85.35. Nhóm
này cũng bao gồm các nối dùng cho sợi quang, bó sợi quang hoặc cáp
Nhóm này bao gồm:
(I) THIẾT BỊ ĐIỆN DÙNG CHO ĐÓNG NGẮT MẠCH ĐIỆN
Những thiết bị này thường gồm chủ yếu những thiết bị đóng và ngắt một
hoặc nhiều mạch chúng đang kết nối hoặc dùng để kết nối hoặc ngắt một
mạch điện này với một mạch điện khác; chúng được xem là những thiết
bị đơn cực, 2 cực, 3 cực.v..v... tuỳ thuộc số lượng mạch đóng cắt mà
thiết bị tham gia vào. nhóm này cũng bao gồm những rơle và những
chuyển mạch.
(A) Các thiết bị đóng ngắt trong nhóm này bao gồm những bộ đóng
ngắt nhỏ dùng trong radio, các thiết bị đo điện v.v... các thiết bị
đóng ngắt sử dụng trong lắp đặt điện gia dụng ( ví dụ; các công tắc
lật, các công tắc gạt, các chuyển mạch xoay, các công tắc đạp chân,
các công tắc kiểu nút ấn) và các thiết bị đóng cắt sử dụng trong công
nghiệp ( ví dụ: các công tắc hành trình, các công tắc kiểu cam, các
công tắc siêu nhỏ và các chuyển mạch gần)
Các công tắc hoạt động khi đóng và mở cửa và các công tắc điện-
nhiệt tự đông (tắcte) dùng để mồi ban đầu cho đèn huỳnh quang
được phân loại vào đây.
Các thiết bị khác cũng được xếp vào đây bao gồm các bộ đổi nối
xoay chiều (AC) điện tử, chúng gồm có một đầu vào là bộ ghép
quang và đầu ra là mạch điện (các công tắc AC dùng thyristor cách
ly); các công tắc điện tử, bao gồm các công tắc điện tử bảo vệ nhiệt,
chúng gồm có một transistor và một chip logic (công nghệ chip-on-
chip) dùng cho điện áp không quá 1000 vôn; và các công tắc tác
động nhanh bằng cơ điện tử dùng cho dòng điện không quá 11amps
(công tắc lật).
Công tắc điện tử mà nó hoạt động không cần tiếp xúc sử dụng thành
phần bán dẫn (ví dụ, dùng transistor, thyristo, mạch tích hợp).
Chốt cửa có gắn công tắc không nằm trong nhóm này (nhóm 83.01).
(B) Bộ chuyển mạch được dùng để kết nối một hoặc nhiều đường dây
tới một hoặc nhiều đường dây khác.
Trong loại đơn giản nhất, một dây được nối với một điểm trung tâm,
điểm trung tâm này được nối tới một tay gạt để nối tới bất kỳ một
trong số các đường dây khác. Bộ chuyển mạch phức tạp hơn bao
gồm các bộ khống chế dùng để khởi động động cơ điện và một cơ
cấu điều khiển các hộp số cho phương tiện chạy bằng điện. Những
thiết bị này không những có cơ cấu đóng cắt, mà còn có nhiều điện
trở để đóng hoặc ngắt mạch điện theo yêu cầu (xem phần chú giải
của nhóm 85.33).
Nhóm này cũng bao gồm những bộ đóng ngắt phức tạp dùng trong
thiết bị truyền hình và thiết bị truyền thanh v.v....
(C) Rơ le là những thiết bị điện điều khiển tự động mạch điện bằng sự
thay đổi trên cùng mạch điện đó hoặc mạch điện khác. Ví dụ chúng
đuợc sử dụng trong các thiết bị viễn thông, các thiết bị phát tín hiệu
trên đường ray hoặc đường bộ, để điều khiển hoặc bảo vệ các máy
công cụ. v.v....
Các loại khác nhau có thể được phân biệt bởi, ví dụ :
(1) Theo cách điều khiển điện: các rơ le điện từ, rơ le nam châm
vĩnh cửu, rơ le nhiệt, rơ le cảm ứng, rơ le tĩnh điện, rơ le quang
điện, rơ le điện tử ...
(2) Theo điều kiện hoạt động được thiết kế từ trước: Các rơ le
dòng điện cực đại, rơ le điện áp cực đại hoặc cực tiểu, rơ le vi
sai, rơ le tác động nhanh, rơ le thời gian trễ...
Công tắc tơ là những thiết bị cũng được xem là các rơle dùng để
đóng và ngắt mạch điện, tự động khởi động lại mà không cần chốt
cơ khí hoặc thao tác bằng tay. Nói chung, những thiết bị này luôn ở
trạng thái làm việc (có dòng điện chạy qua tiếp điểm).
(II) CÁC THIẾT BỊ BẢO VỆ MẠCH ĐIỆN
Nhóm này bao gồm các cầu chì. Những cầu chì này đều có dây chảy
trong, chúng được lắp vào mạch điện, nếu dòng điện trong mạch tăng tới
một ngưỡng nguy hiểm thì dây chảy sẽ bị tan ra và ngắt mạch điện.
Chúng được thiết kế tùy thuộc vào kiểu mạch và dòng điện chạy qua nó.
Hộp cầu chì bao gồm một ống có chứa dây chảy bên trong tiếp xúc với
nắp kim loại ở 2 đầu ống; các cầu chì khác bao gồm một đầu nối có chân
đưa ra hoặc một ổ cắm (để nối với đường dây), và một phần kết nối đó
có thể được bắt vít vào ổ hoặc được chèn vào giữa các tiếp xúc bằng lò
xo) trên đó có gắn dây chảy. Nhóm này bao gồm tất cả những cầu chì đã
hoàn chỉnh, có dây hoặc không dây. các ổ cắm hoặc các đầu nối được
xuất trình riêng rẽ cũng được xếp vào đây, ngoại trừ các vật liệu cách
điện (trừ những chi tiết kim loại nhỏ chỉ dùng hỗ trợ cho việc gá nhằm
mục tiêu lắp ráp) (nhóm 85.47). Dây chảy được xếp loại căn cứ vào vật
liệu chế tạo, tuy nhiên loại dây chảy có chiều dài ngắn tạo thành với các
vòng hoặc phương tiện kết nối khác mà sẵn sàng để sử dụng thì vẫn
được phân loại trong nhóm này.
Nhóm này bao gồm cả những thiết bị khác nhằm ngăn ngừa sự quá tải
trong mạch điện (ví dụ: các thiết bị điện-từ tự động cắt mạch khi dòng
điện vượt quá một giá trị nhất định).
Nhóm này cũng không bao gồm các máy biến áp (nhóm 85.04) và các
bộ điều chỉnh điện áp tự động (nhóm 90.32)
(III) CÁC THIẾT BỊ DÙNG ĐỂ ĐẤU NỐI HOẶC LẮP TRONG
MẠCH ĐIỆN.
Các thiết bị này được dùng để nối các bộ phận khác nhau của một mạch
điện. Thiết bị này bao gồm:
(A) Các phích cắm, ổ cắm và các loại tiếp xúc khác dùng để nối dây
dẫn mềm hoặc một thiết bị tới một hệ thống lắp đặt cố định. nhóm
này bao gồm:
(1) Các phích cắm và ổ cắm (kể cả những phích cắm, ổ cắm nối tới
2 dây dẫn mềm). Một phích cắm có thể có một hoặc nhiều cực
hoặc có cạnh tiếp xúc phù hợp với các lỗ tương ứng hoặc các
cạnh tương ứng trong ổ cắm, vỏ hoặc một trong số các cực phải
được dùng cho mục đích nối đất.
(2) Các tiếp xúc trượt chẳng hạn như các chổi than dùng trong
động cơ và các bộ đưa điện vào dùng cho các phương tiện có hệ
thống truyền động bằng điện, thiết bị nâng hạ, v.v.. (các bộ lấy
điện trên không hoặc lắp trên ray- kiểu trolley) trừ các tiếp xúc
như vậy bằng “than” hoặc than chì (nhóm 85.45). Chúng có thể
gồm miếng kim loại, dây vải hoặc các dải đã được tráng phủ
vẫn được phân loại ở nhóm này ngay cả khi chúng được phủ
bên ngoài bằng lớp bôi trơn làm từ than chì.
(3) Đèn hoặc các ổ cắm và các đui đèn. Các đui đèn thường có
dạng hình cây nến gắn vào giá đỡ hoặc được thiết kế dưới dạng
gắn vào tường; những thiết bị này vẫn được xếp vào đây với
điều kiện chức năng chính của chúng đóng vai trò như những
đui đèn.
Những phích cắm và ổ cắm đi kèm dây dẫn không nằm trong nhóm
này (thuộc nhóm 85.44).
(B) Các khối đấu nối, dải đấu nối và bộ nối điện khác,… Chúng gồm
những mảnh vật liệu hình vuông nhỏ cách điện được gắn với các bộ
phận nối điện (domino), các đầu nối làm bằng kim loại được thiết kế
phù hợp với vật dẫn và những phần kim loại nhỏ được thiết kế gắn
chặt lên đoạn cuối của dây dẫn để nối điện (các đầu nối dài, các kẹp
cá sấu v.v...).
Các dải đầu nối gồm có những dải vật liệu cách điện gắn với một số
các đầu nối kim loại hoặc đầu nối mà hệ thống đây điện có thể được
gắn vào đó. Nhóm này cũng bao gồm những dải hoặc tấm đầu cuối;
chúng gồm những đầu bịt kim loại gắn vào vật liệu cách điện để
những dây điện có thể hàn vào chúng. Những dải đầu cuối được sử
dụng trong radio hoặc trong những thiết bị điện khác.
(C) Các hộp đấu nối. Chúng bao gồm nhiều hộp gắn bên trong là các
đầu nối hoặc những bộ phận khác dùng để nối các dây dẫn điện. Các
hộp đấu nối chưa được gắn nối điện hoặc phần dự trữ nối điện thì bị
loại trừ và được phân loại theo vật liệu cấu thành.
(IV) ĐẦU NỐI DÙNG CHO SỢI QUANG, BÓ SỢI HOẶC CÁP
Theo mục đích của nhóm 85.36, « đầu nối dùng cho sợi quang, bó sợi
quang hoặc cáp quang » có nghĩa là các đầu nối và chỉ sắp xếp một cách
cơ học đơn giản các sợi quang đầu đối đầu trong một hệ thống dây kỹ
thuật số. Chúng không thực hiện chức năng khác, như là khuyêch đại, tái
tạo hoặc hiệu chỉnh tín hiệu. Các đầu nối không có cáp dùng cho sợi
quang vẫn được phân loại ở nhóm này nhưng các đầu nối có cáp dùng
cho sợi quang thì bị loại trừ (nhóm 85.44 hoặc 90.01).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần chú giải chung
thuộc phần XVI), các bộ phận của thiết bị của nhóm này được phân loại
vào nhóm 85.38.
Nhóm này không bao gồm :
(a) Các điện trở phi tuyến được dùng như bộ điều khiển điện áp (nhóm
(b) Sự lắp ráp (ngoại trừ các lắp ráp đóng-ngắt đơn giản) của các thiết bị
được nêu ở trên (nhóm 85.37).
(c). Các đi ốt bán dẫn được dùng như bộ điều khiển điện áp (nhóm
85.37 - Bảng, panel, giá đỡ, bàn, tủ và các loại hộp và đế khác, được
lắp với hai hay nhiều thiết bị thuộc nhóm 85.35 hoặc 85.36,
dùng để điều khiển hoặc phân phối điện, kể cả các loại trên
có lắp các dụng cụ hay thiết bị thuộc Chương 90, và các thiết
bị điều khiển số, trừ các thiết bị chuyển mạch thuộc nhóm
8537.10 - Dùng cho điện áp không quá 1.000V
8537.20 - Dùng cho điện áp trên 1.000V
Chúng gồm một hệ thống các thiết bị thuộc hai nhóm nêu ở trên (ví dụ,
các thiết bị đóng ngắt và cầu chì) được lắp ráp lại với nhau trên một
bảng, panel, giá đỡ v.v… hoặc được gá trên tủ, bàn v.v.. Chúng cũng
được gắn các đồng hồ đo, và đôi khi có thêm thiết bị phụ trợ như máy
biến điện, các valve, các bộ điều chỉnh điện áp, biến trở hoặc các sơ đồ
mạch sáng.
Nhóm này bao gồm rất nhiều loại bảng chuyển mạch, từ những bảng nhỏ
chỉ có vài chuyển mạch, cầu chì vv... (ví dụ: cho những hệ thống lắp đặt
chiếu sáng), cho đến những bảng điều khiển phức tạp dùng cho các máy
công cụ, máy cán, nhà máy điện, trạm truyền thanh v.v... kể cả các hàng
hóa đã được nêu ở đoạn trên của nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Các bảng điều khiển số được gắn kết hợp máy xử lý dữ liệu tự động,
nói chung thường được dùng để điều khiển máy công cụ.
(2) Các bảng chuyển mạch được lập trình để điều khiển các thiết bị; thiết
bị này cho phép thay đổi các thao tác có lựa chọn. Thường thì chúng
được sử dụng trong những thiết bị điện gia dụng như máy giặt và
máy rửa bát.
(3) “Các bộ điều khiển có khả năng lập trình” là các thiết bị số sử dụng
bộ nhớ có khả năng lập trình để lưu trữ những câu lệnh nhằm thực
hiện những hàm cụ thể như logic, trình tự, thời gian, đếm và số học,
để điều khiển, nhờ các module vào/ra tương tự hoặc số , các kiểu
máy khác nhau.
Nhóm này không bao gồm các thiết bị điều khiển tự động thuộc nhóm
BỘ PHẬN
Theo quy định chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Tổng quát
Phần XVI), các bộ phận của sản phẩm thuộc nhóm này được phân loại
vào nhóm 85.38.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các tổng đài điện thoại (nhóm 85.17).
(b) Các bộ phận chuyển mạch đơn giản, chẳng hạn những bộ phận có hai
chuyển mạch và một đầu nối (nhóm 85.35 hoặc nhóm 85.36).
(c) Các thiết bị hồng ngoại không dây dùng để điều khiển từ xa thiết bị
thu truyền hình, máy ghi video hoặc các thiết bị điện khác (nhóm
(d) Thiết bị đóng ngắt định giờ có đồng hồ cá nhân hoặc máy đồng hồ
thời gian hoặc có động cơ đồng bộ (nhóm 91.07).
85.38 - Bộ phận chuyên dùng hay chủ yếu dùng với các thiết bị thuộc
nhóm 85.35, 85.36 hoặc 85.37.
8538.10 - Bảng, panel, giá đỡ, bàn, tủ và các loại hộp và đế khác
dùng cho các mặt hàng thuộc nhóm 85.37, chưa được
lắp đặt các thiết bị của chúng
8538.90 - Loại khác
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải Tổng
quát Phần XVI), nhóm này gồm bộ phận của hàng hóa thuộc ba nhóm
trên.
Lấy ví dụ, nhóm này bao gồm các tấm dùng cho những bảng chuyển
mạch, thường làm từ plastic hoặc kim loại, không lắp đặt thiết bị, với
điều kiện chúng có thể được nhận biết một cách rõ ràng như những bộ
phận của bảng chuyển mạch.
85.39 – Bóng đèn dây tóc hoặc bóng đèn phóng điện, kể cả đèn pha
gắn kín và bóng đèn tia cực tím hoặc tia hồng ngoại; bóng
đèn hồ quang; đèn đi-ốt phát quang (LED) .
8539.10 - Đèn pha gắn kín (sealed beam lamp units)
⦁ Các loại bóng đèn dây tóc khác, trừ bóng đèn tia cực
tím hoặc tia hồng ngoại:
8539.21 - - Bóng đèn ha-lo-gien vonfram
8539.22 - - Loại khác, có công suất không quá 200 W và điện áp
trên 100 V
8539.29 - -Loại khác
⦁ Bóng đèn phóng, trừ đèn tia cực tím:
8539.31 - - Bóng đèn huỳnh quang, ca-tốt nóng
8539.32 - - Bóng đèn hơi thuỷ ngân hoặc natri; bóng đèn ha-lo-
gien kim loại
8539.39 - - Loại khác
⦁ Bóng đèn tia cực tím hoặc bóng đèn tia hồng ngoại;
đèn hồ quang:
8539.41 - - Đèn hồ quang
8539.49 - - Loại khác
⦁ Nguồn sáng đi-ốt phát quang (LED):
8539.51 - - Mô-đun đi-ốt phát quang (LED)
8539.52 - - Bóng đèn đi-ốt phát quang (LED)
8539.90 - Bộ phận
Những đèn điện có vỏ bọc bằng thuỷ tinh hoặc thạch anh với những hình
dạng khác nhau, chứa những bộ phận cần thiết để biến đổi năng lượng
điện thành ánh sáng (kể cả tia cực tím hoặc tia hồng ngoại).
Nhóm này bao gồm tất cả các đèn điện, có hoặc không có thiết kế đặc
biệt cho những ứng dụng đặc trưng (kể cả những đèn phóng điện chớp
sáng).
Nhóm này bao gồm những đèn dây tóc, đèn phóng điện hơi hoặc khí,
đèn hồ quang và bóng đèn đi-ốt phát quang (LED).
(A) ĐÈN PHA GẮN KÍN
Bộ Đèn pha gắn kín đôi khi được thiết kế để gắn vào thân xe ôtô; chúng
gồm một thấu kính và phản xạ và sợi đốt nằm kín bên trong đèn nạp khí
hoặc đèn kiểu chân không.
(B) CÁC LOẠI ĐÈN DÂY TÓC KHÁC, TRỪ CÁC ĐÈN TIA CỰC
TÍM HOẶC TIA HỒNG NGOẠI (XEM PHẦN (D))
Khi có dòng điện đi qua sợi đốt (bằng kim loại hoặc carbon), sợi đốt sẽ
nóng lên tới mức phát sáng, do vậy ánh sáng được tạo ra từ chính sợi đốt
này, phần vỏ thuỷ tinh (thường được tạo màu) được rút hết khí hoặc
được đổ đầy khí trơ trong điều kiện áp suất thấp; trong phần đui đèn, mà
có thể ở dạng xoắn vít hoặc lưỡi lê để giữ cố định bóng đèn trong đui
đèn, đui là phần tiếp xúc điện cần thiết.
Những đèn kiểu này thường có nhiều hình dáng khác nhau; ví dụ, hình
cầu (có hoặc không có cổ); có dạng củ hành hoặc quả lê; dạng ngọn lửa;
dạng ống (thẳng hoặc cong); có hình dạng đặc biệt cho chiếu sáng, trang
trí, cây noen, v.v.....
Nhóm này cũng bao gồm các đèn halogen.
(C) ĐÈN PHÓNG ĐIỆN, TRỪ CÁC ĐÈN TIA CỰC TÍM (xem
Phần D)
Loại đèn này có vỏ bằng thuỷ tinh (thường có hình ống) hoặc một vỏ
bằng thạch anh (thường được bao quanh bằng một vỏ thuỷ tinh) có gắn
các điện cực và chứa, ở áp suất thấp, một chất khí có khả năng phát
quang dưới ảnh hưởng của sự phóng điện, hoặc một chất có khả năng
bốc hơi, có đặc tính tương tự; một số đèn có thể chứa cả khí và chất tạo
hơi. Một số đèn có các van để loại bỏ các hợp chất sinh ra từ sự tác động
của khí lên các điện cực; loại khác có thể có vỏ chân không hoặc được
làm mát bằng nước. Trong một số trường hợp, thành vỏ bên trong của
đèn được phủ những chất đặc biệt, có tác dụng chuyển các tia cực tím
thành ánh sáng nhìn thấy được như vậy làm tăng hiệu suất của đèn (đèn
huỳnh quang). Một số đèn làm việc ở điện áp cao, số khác lại làm việc ở
điện áp thấp.
Các kiểu đèn chính của loại này bao gồm:
(1) Đèn ống phóng điện trong môi trường khí có chứa các loại khí như
neon, heli, agon, nitơ hoặc di-oxit carbon, kể cả những đèn phóng
điện chớp sáng dùng trong chụp ảnh hoặc trong chụp xét nghiệm.
(2) Các đèn hơi natri.
(3) Các đèn hơi thủy ngân.
(4) Đèn kép chứa khí, trong đó ánh sáng được tạo ra nhờ sợi đốt phát
sáng và sự phóng điện trong môi trường khí.
(5) Các đèn halogen kim loại.
(6) Các đèn ống xenon và đèn ống chữ số.
(7) Đèn phóng điện quang phổ và đèn phóng điện phát sáng.
Các đèn này đuợc dùng với nhiều mục đích, như chiếu sáng đường phố,
nhà ở, phòng làm việc, xưởng, nhà máy, cửa hàng, v.v... hoặc dùng cho
chiếu sáng, chiếu sáng máy móc; và chiếu sáng cho trang trí hoặc cho
những mục đích chung. Nhóm này bao gồm các ống thẳng hoặc cong
đơn giản, và các ống có những hình dạng phức tạp khác nhau (ví dụ,
thanh cuộn, chữ, các hình vẽ và các ngôi sao).
(D) ĐÈN TIA CỰC TÍM HOẶC TIA HỒNG NGOẠI
Đèn tia cực tím dùng trong y học, các phòng thí nghiệm, diệt khuẩn
hoặc cho các mục đích khác. Loại đèn này thường được cấu tạo dạng
ống bằng thạch anh nấu chẩy có chứa thuỷ ngân; đôi khi có vỏ bọc bên
ngoài bằng thủy tinh. Một số khác được gọi là đèn cho ánh sáng đen (ví
dụ, dùng trong rạp hát).
Đèn tia hồng ngoại là loại đèn sợi đốt được thiết kế đặc biệt để tạo ra
các tia hồng ngoại. Trong nhiều trường hợp, mặt trong của đèn được
tráng đồng hoặc bạc để tạo ra mặt phản xạ. Chúng được sử dụng, ví dụ,
cho mục đích y khoa hoặc như là nguồn nhiệt trong công nghiệp.
(E) ĐÈN HỒ QUANG
Trong những kiểu đèn này ánh sáng được phát ra bởi hồ quang hoặc bởi
hồ quang và sự phát sáng của một hoặc cả hai điện cực, giữa hai điện
cực này hồ quang được duy trì. Nói chung các điện cực này thường được
làm từ carbon hoặc von-fram. Một số đèn có một thiết bị tự động có tác
dụng đưa các điện cực lại gần nhau để tạo hồ quang, và sau đó duy trì
chúng ở một khoảng cách hợp lý mặc dù quá trình này làm cho các điện
cực bị hao mòn. Đối với những đèn thiết kế ra để dùng cho mạng điện
xoay chiều đều có các điện cực phụ dùng cho mục đích khởi động. Đối
với những đèn hồ quang hở, hồ quang sẽ cháy tự do trong không khí; với
loại khác thì hồ quang chảy trong một lớp vỏ thuỷ tinh có những mạng
ngăn thích hợp tiếp xúc với không khí.
Lưu ý rằng đèn hồ quang là những thiết bị phức tạp, và không đơn thuần
làm những phần tử chiếu sáng như những mặt hàng khác trong
nhóm này.
(F) MÔ-ĐUN ĐI-ỐT PHÁT QUANG (LED)
Ánh sáng từ các mô-đun này được tạo ra bởi một hoặc nhiều điốt phát
quang (LED) gắn trên bảng mạch in hoặc được kết nối theo cách khác.
Các mô-đun này không có đầu đèn (đuôi) (ví dụ, đuôi xoáy, chốt cài
hoặc loại hai chân) để gắn vào đui đèn. Các mô-đun này có thể có đầu
nối điện.
Các mô-đun này có mạch điện để điều khiển điện áp và dòng điện một
chiều (DC) đến mức có thể sử dụng được cho các đi-ốt phát quang
(LED) (bộ điều khiển nguồn). Các mô-đun này có thể có mạch điện để
điều chỉnh nguồn điện xoay chiều AC (nguồn điện) bằng bộ điều khiển
nguồn.
(G) ĐÈN ĐI ỐT PHÁT QUANG (LED)
Ánh sáng của những đèn này được tạo ra bởi một hoặc nhiều đi ốt phát
quang (LED). Những đèn này gồm lớp vỏ bằng thủy tinh hoặc plastic,
một hoặc nhiều đi ốt phát quang (LEDs), mạch để chuyển đổi điện áp tới
mức các đi-ốt phát quang có thể sử dụng được, và đầu đèn (đuôi đèn) (ví
dụ, đuôi xoáy, chốt cài hoặc loại hai chân) để gắn vào đui đèn. Các đèn
này có thể có tấm tản nhiệt hoặc một bộ chỉnh lưu để điều chỉnh nguồn.
Những đèn này có nhiều hình dạng, ví dụ, hình cầu (có hoặc không có
cổ); hình quả lê hoặc hình củ hành; hình ngọn lửa; hình ống (thẳng hoặc
cong); hình dạng đặc biệt để chiếu sáng, trang trí, cây giáng sinh,…
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Tổng quát của
Phần XVI), các bộ phận của các hàng hóa thuộc nhóm này cũng được
phân loại ở đây. Chúng bao gồm:
(1) Đui dùng cho đèn huỳnh quang và đèn phóng điện và bóng đèn.
(2) Điện cực kim loại cho bóng và ống đèn phóng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các vỏ bằng thủy tinh và các chi tiết bằng thủy tinh có tính chất đặc
trưng dùng cho đèn. (ví dụ, bộ phản xạ bóng đèn rọi) (nhóm 70.11)
(b) Các đèn điện trở có sợi đốt bằng carbon hoặc các đèn khác có sợi đốt
bằng sắt trong hydro (nhóm 85.33).
(c) Các chuyển mạch nhiệt điện tự động (tắc te) dùng để mồi cho đèn
huỳnh quang (nhóm 85.36)
(d) Các đèn điện tử và ống điện tử dùng nhiệt điện tử (nhóm 85.40)
(e) Đi ốt phát quang (LED) của nhóm 85.41
(f) Các thiết bị phát quang điện, thường ở dạng dải, tấm hoặc panel, và
dựa trên các chất phát quang điện (như sulphit kẽm) đặt giữa hai
tầng của vật liệu dẫn (nhóm 85.43).
(g) Carbon của đèn hồ quang và các sợi đốt bằng carbon (nhóm 85.45)
85.40 - Đèn điện tử và ống điện tử dùng nhiệt điện tử, ca tốt lạnh
hoặc ca tốt quang điện (ví dụ, đèn điện tử và ống đèn chân
không hoặc nạp khí hoặc hơi, đèn và ống điện tử chỉnh lưu hồ
quang thuỷ ngân, ống điện tử dùng tia âm cực, ống điện tử
camera truyền hình).
⦁ Ống đèn hình vô tuyến dùng tia âm cực, kể cả ống đèn
hình của màn hình video dùng tia âm cực:
8540.11 - - Loại màu
8540.12 - - Loại đơn sắc
8540.20 - Ống camera truyền hình; bộ chuyển đổi hình ảnh và bộ
tăng cường hình ảnh; ống đèn âm cực quang điện khác
8540.40 - Ống hiển thị dữ liệu/đồ họa, đơn sắc; ống hiển thị/đồ
họa, loại màu, với điểm lân quang có bước nhỏ hơn
8540.60 - Ống tia ca-tốt khác
- Ống đèn vi sóng (ví dụ, magnetrons, klytrons, ống đèn
sóng lan truyền, carcinotrons), trừ ống đèn điều khiển
lưới:
8540.79 - - Loại khác
- Đèn điện tử và ống điện tử khác:
8540.81 - - Đèn điện tử và ống điện tử của máy thu hay máy
khuếch đại
8540.89 - - Loại khác
- Bộ phận:
8540.91 - - Của ống đèn tia ca-tốt
8540.99 - - Loại khác
Nhóm này chỉ bao gồm những đèn điện tử và ống điện tử sử dụng cho
nhiều mục đích khác nhau nhờ ảnh hưởng của các điện tử phát ra từ cực
âm (catốt) hoặc trong môi trường chân không hoặc khí.
Có 3 loại: các đèn và ống nhiệt điện tử, trong đó cực âm phải được nung
nóng trước khi phát ra electron; các đèn điện tử và ống điện tử catốt
lạnh; và các đèn điện tử và ống điện tử catốt quang điện, trong đó catốt
được kích thích nhờ tác động của ánh sáng. Tuỳ thuộc vào số lượng các
điện cực của nó mà có tên là đèn 2 cực, ba cực, bốn cực, v.v….Với cùng
một vỏ có thể có hai hoặc nhiều hệ thống có các chức năng khác nhau
(các đèn điện tử hỗn hợp). Vỏ của chúng có thể là thuỷ tinh, gốm hoặc
kim loại hoặc là kết hợp của những vật liệu này và có thể gắn với
phương thức làm mát (tản nhiệt kiểu cánh, tản nhiệt nhờ hệ thống nước
tuần hoàn, v.v..)
Có nhiều loại đèn điện tử và ống điện tử, trong đó, một số được thiết kế
cho những mục đích đặc biệt như các ống đèn vi sóng (ví dụ, magnetron,
klystron, đèn sóng lan truyền, carcinotron), đèn ống đĩa gắn kín (đèn hải
đăng), đèn điện tử ổn áp, thyratron, ignitron,….
Nhóm này bao gồm:
(1) Các đèn điện tử và ống điện tử chỉnh lưu. Chúng được thiết kế để
chỉnh lưu dòng xoay chiều AC thành dòng một chiều DC. Có thể
phân loại chúng thành kiểu chân không, kiểu khí hoặc hơi (ví dụ,
hơi thuỷ ngân) và nói chung có hai điện cực. Các kiểu cụ thể (ví dụ,
thyraton) có lưới điều khiển để thay đổi chế độ làm việc và thậm chí
đôi khi còn dùng để biến đổi ngược (chuyển từ DC sang AC).
(2) Các ống tia catốt.
(a) Các ống điện tử dùng cho camera truyền hình (các ống thu hình,
ví dụ orthicon hình ảnh hoặc vidicon hình ảnh). Chúng là các
ống tia điện tử dùng để chuyển đổi một hình ảnh quang học
thành một tín hiệu điện tương ứng, thường là bằng phương pháp
quét.
(b) Các ống điện tử chuyển đổi hình ảnh. Chúng là những ống chân
không, trong đó một hình ảnh (thường là bức xạ hồng ngoại)
được chiếu lên một bề mặt phát quang tạo ra một hình ảnh
tương ứng nhìn thấy được trên một bề mặt phát sáng.
(c) Các ống điện tử tăng cường độ nét là những đèn ống điện tử,
trong đó một hình ảnh được chiếu lên một bề mặt phát quang
tạo ra một hình ảnh tương ứng được tăng cường độ nét trên một
bề mặt phát sáng.
(d) Các ống điện tử tia catốt khác mà trong nó các tín hiệu điện được
biến đổi thành hình ảnh nhìn thấy được một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp. Ví dụ của loại này là ống điện tử lưu thông tin. Trong
các ống điện tử thu truyền hình hoặc màn hình video, các điện
tử phát sinh từ catốt, sau khi được tập trung, làm lệch, v.v...,
dưới dạng một chùm tia trên phần trong của thành ống (thường
là phần cuối của ống điện tử) được bao phủ chất huỳnh quang
và làm xuất hiện hình ảnh trên màn hình.
Đèn ống tia catốt cũng thường được sử dụng trong rađa, trong các
máy hiện sóng và trong các thiết bị đầu cuối của hệ thống xử lý dữ
liệu tự động (ống đèn hiển thị).
(3) Các ống điện tử phát quang, chân không hoặc được đổ đầy khí (cũng
được gọi là các phần tử phát quang). Chúng gồm có một ống bằng
thuỷ tinh hoặc thạch anh trong đó có 2 điện cực, một trong số 2 điện cực
là catốt được phủ một lớp vật liệu cảm quang (thường là kim loại kiềm);
dưới tác động của ánh sáng, lớp này phát ra các electron hình thành khả
năng dẫn điện giữa các điện cực và đến tập trung tại anốt.
Các bộ nhân quang là các ống chân không cảm quang, chúng gồm
một catốt phát quang và một bộ nhân điện tử.
(4) Các ống điện tử và các đèn điện tử khác. Thông thường chúng đều
thuộc kiểu chân không, và một số thuộc loại có nhiều điện cực.
Chúng được dùng để tạo ra dao động tần số cao, như trong các bộ
khuyếch đại, các bộ dò, các thiết bị quét hình (không sử dụng catốt
quang điện), v.v....
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại bộ phận (xem Chú giải Tổng quát Phần
XVI), bộ phận của các mặt hàng thuộc nhóm này cũng được phân loại ở
đây, ví dụ, các điện cực (catốt, lưới, anốt), các loại vỏ (bằng các vật liệu
trừ thuỷ tinh) dùng cho các ống điện tử, các vỏ chống nổ cho các ống tia
catốt, các cuộn dây lái tia được đặt xung quanh cổ ống tia catốt cho mục
đích quét hình.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các tấm chắn và vật hình nón bằng thủy tinh của vỏ các ống tia catốt
(nhóm 70.11).
(b) Các thiết bị chỉnh lưu hồ quang thuỷ ngân vỏ kim loại (nhóm 85.04).
(c) Các ống phát tia X (nhóm 90.22)
85.41 – Thiết bị bán dẫn (ví dụ, đi-ốt, bóng bán dẫn (tranzito), bộ
chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn); thiết bị bán dẫn cảm
quang, kể cả tế bào quang điện đã hoặc chưa lắp ráp thành
các mảng mô-đun hoặc thành bảng; đi-ốt phát quang (LED),
đã hoặc chưa lắp ráp với đi-ốt phát quang (LED) khác; tinh
thể áp điện đã lắp ráp (+).
8541.10 – Đi-ốt, trừ đi-ốt cảm quang hoặc đi-ốt phát quang
- Tranzito, trừ tranzito cảm quang:
8541.21 - - Có tỷ lệ tiêu tán năng lượng dưới 1 W
8541.29 - - Loại khác
8541.30 - Thyristors, diacs và triacs, trừ thiết bị cảm quang
⦁ Thiết bị bán dẫn cảm quang, kể cả tế bào quang điện
đã hoặc chưa lắp ráp thành các mảng module hoặc
thành bảng; đi-ốt phát quang (LED):
8541.41 - - Đi-ốt phát quang (LED)
8541.42 - - Tế bào quang điện chưa lắp ráp thành các mảng mô-
đun hoặc thành bảng
8541.43 - - Tế bào quang điện đã lắp ráp thành các mảng mô-đun
hoặc thành bảng
8541.49 - - Loại khác
⦁ Thiết bị bán dẫn khác:
8541.51 - - Thiết bị chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn
8541.59 - - Loại khác
8541.60 - Tinh thể áp điện đã lắp ráp
8541.90 - Bộ phận
(A) THIẾT BỊ BÁN DẪN (VÍ DỤ ĐI-ỐT, TRANZITO, CÁC
THIẾT BỊ CHUYỂN ĐỔI DỰA TRÊN CHẤT BÁN DẪN)
Chúng được định nghĩa ở Chú giải 8 (a) của Chương này.
Hoạt động của các thiết bị thuộc nhóm này dựa trên các đặc tính điện tử
của một số vật liệu “bán dẫn” nhất định hoặc, đối với mục đích của các
thiết bị chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn, dựa trên các đặc tính bán dẫn
của chúng bao gồm đặc tính vật lý (ví dụ: cơ, nhiệt), điện, quang và hóa
học.
Đặc điểm chính của các vật liệu này là ở nhiệt độ phòng thì điện trở
động của chúng nằm trong phạm vi giữa điện trở của vật dẫn (kim loại)
và điện trở của vật liệu cách điện. Lấy ví dụ, chúng bao gồm những
quặng cụ thể (như galen tinh thể), các nguyên tố hoá học có hoá trị 4
(gecmani, silic, v.v...) hoặc hợp chất của các nguyên tố hoá học (ví dụ,
các nguyên tố hoá trị 3 và hoá trị 5, chẳng hạn asenua gali, antimonua
Các vật liệu bán dẫn gồm một nguyên tố hoá học hoá trị 4 thường là đơn
tinh thể. Chúng không được dùng ở trạng thái nguyên chất, nhưng
thường sau khi được kích thích nhẹ (tỷ lệ với phần triệu) với mức độ
“không tinh khiết” nào đó (tạp chất).
Đối với nguyên tố hoá trị 4, độ "không tinh khiết" có thể do nguyên tố
hoá học hoá trị 5 (phốt pho, asen, antimon, v.v...), hoặc một nguyên tố
hoá trị 3 (bo, nhôm, gali, indi, v.v...). Trong trường hợp thứ nhất, người
ta có được bán dẫn kiểu n, có đặc điểm là dư thừa điện tử (tích điện âm);
trong trường hợp thứ hai, tạo thành một bán dẫn kiểu p, có đặc điểm là
thiếu điện tử, nghĩa là có nhiều các lỗ trống hơn (tích điện dương).
Các chất bán dẫn kết hợp với các nguyên tố hoá học hoá trị 3 và các
nguyên tố hoá học hoá trị 5 cũng được pha tạp.
Đối với các chất bán dẫn được tạo ra từ một số quặng, độ không tinh
khiết được chứa một cách tự nhiên trong quặng thì đóng vai trò như tạp
chất.
Các linh kiện bán dẫn của nhóm này thông thường bao gồm một hoặc
nhiều “lớp tiếp giáp” giữa các chất bán dẫn kiểu p và kiểu n.
Chúng bao gồm:
(I) Các đi-ốt là loại linh kiện có 2 đầu nối với một lớp tiếp giáp p-n;
chúng cho dòng điện đi theo một hướng (thuận) nhưng có điện trở
rất lớn theo hướng ngược lại (ngược). Chúng thường dùng để dò,
chỉnh lưu, đóng ngắt, v.v.....
Các loại đi-ốt chính là đi-ốt tín hiệu, điốt chỉnh lưu công suất, đi-ốt
điều điện áp chuẩn, đi-ốt ổn áp.
(II) Tranzito là các linh kiện có 3 hoặc 4 cực, có khả năng khuyếch đại,
dao động, chuyển đổi tần số, hoặc đóng ngắt mạch điện. Hoạt động
của tranzito phụ thuộc vào sự thay đổi điện trở động giữa hai cực
bằng cách đưa một trường điện vào cực thứ 3. Tín hiệu hoặc trường
điều khiển đưa vào yếu hơn các kết quả tác động bởi sự thay đổi trở
kháng và do đó dẫn đến sự khuyếch đại.
Tranzito bao gồm các loại sau:
(1) Tranzito luỡng cực, thuộc loại linh kiện 3 cực, có hai lớp tiếp
giáp kiểu đi-ốt, và hoạt động của tranzito phụ thuộc cả vào các
phần tử mang điện tích dương và âm (do đó gọi là lưỡng cực).
(2) Tranzito hiệu ứng trường (cũng được gọi là linh kiện bán dẫn
oxít kim loại (MOS)), có thể có hoặc không có lớp tiếp giáp,
nhưng nó phụ thuộc vào khả năng làm nghèo (hoặc làm giàu)
các phần tử mang điện tích sẵn có giữa hai cực. Trong tranzito
hiệu ứng trường, hoạt động của nó chỉ phụ thuộc vào một phần
tử mang điện tích (do đó gọi là đơn cực). Một thân diode ký
sinh, được tạo ra trong một tranzito loại MOS (còn được gọi là
MOSFET), có thể hoạt động như một diode quay tự do trong
quá trình chuyển mạch tải cảm ứng. MOSFET mà có 4 cực
được gọi là ống 4 cực.
(3) Tranzito lưỡng cực có cổng cách ly (IGBT IGBT), là thiết bị ba
cực bao gồm một cực cổng và hai cực tải (cực phát và cực thu).
Bằng cách áp điện áp thích hợp trên cực cổng và cực phát, dòng
điện theo một chiều có thể được kiểm soát, tức là được bật và
được tắt. Chip IGBT có thể được kết hợp với các điốt trong một
thiết bị duy nhất (thiết bị IGBT kết hợp), giúp bảo vệ thiết bị
IGBT và cho phép nó tiếp tục hoạt động như một tranzito.
(III) Thiết bị chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn
Như đã nêu trong Chú giải 12 (a) (i) của Chương này, đây là những
thiết bị trong đó vật liệu hoặc nền bán dẫn đóng vai trò quan trọng và
không thể thay thế trong việc thực hiện chức năng của chúng là
chuyển đổi bất kỳ loại hiện tượng vật lý hoặc hóa học nào hoặc hoạt
động nào thành tín hiệu điện, hoặc tín hiệu điện thành bất kỳ loại
hiện tượng vật lý hoặc hoạt động nào.
Các thiết bị chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn có đặc tính của một sản
phẩm kỹ thuật độc lập, và có thể được trình bày dưới dạng sản phẩm
khuôn trần hoặc đã được đóng gói. Các thành phần tạo thành bộ
chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn, bao gồm các thành phần chủ động
hoặc thụ động riêng biệt được gắn không thể tách rời để tạo nên cấu
trúc hoặc chức năng của chúng, phải được kết hợp hầu như không thể
tách rời, tức là, mặc dù về mặt lý thuyết, một số thành phần có thể
được loại bỏ và thay thế, điều này sẽ không có hiệu quả kinh tế như
trong điều kiện sản xuất bình thường. Các thành phần dựa trên chất
không phải là chất bán dẫn mà không đóng vai trò chính trong bộ
chuyển đổi được phép trở thành một phần của bộ chuyển đổi trong
các tình huống khi chúng đóng góp vào chức năng của bộ chuyển đổi
như một cảm biến, bộ truyền động, bộ cộng hưởng hoặc bộ tạo dao
động. Các ví dụ điển hình, nhưng không giới hạn, về các thành phần
như vậy là:
(i) gói, thường bao gồm các dây kim loại để kết nối với nhau (kết
nối dây bên trong hoặc bên ngoài), khung chì, vỏ bọc, nền,..;
hoặc
(ii) các thành phần cho phép hoặc hỗ trợ chức năng như nam châm,
bộ phận quang học,...
Thuật ngữ “dựa trên chất bán dẫn” cũng bao gồm các phần tử trong
đó vật liệu bán dẫn cung cấp chức năng cho bộ chuyển đổi nhờ các
đặc tính của nó, không phải chỉ bao gồm riêng chất bán dẫn. Các
đặc tính như vậy có thể bao gồm độ bền cơ học, tính linh hoạt, độ
dẫn nhiệt, độ phản xạ quang học, độ bền hóa,..., kết hợp với khả
năng được sản xuất với độ chính xác cao trên quy mô micromet
bằng cách sử dụng công nghệ bán dẫn (gia công vi mô). Các phần
tử như vậy có thể bao gồm, ví dụ, màng, thanh, giá đỡ, khoang,
gương, rãnh,.., cho phép bộ chuyển đổi hoạt động theo độ dày hoặc
tính linh hoạt đàn hồi).
Các vật liệu được sử dụng trong các thiết bị chuyển đổi dựa trên chất
bán dẫn bao gồm ví dụ: Silicon (Si), Germanium (Ge), Carbon (C),
Gallium Phosphide (GaP), Indium Phosphide (InP), Thiếc Telluride
(SnTe), Zinc Oxide (ZnO) và Gallium Oxide (Ga2O3).
Khái niệm “được sản xuất bằng công nghệ bán dẫn” có nghĩa là ứng
dụng của việc xử lý vùng ở cấp độ tấm bán dẫn có thể bao gồm mài,
đánh bóng, pha tạp, phủ quay, tạo ảnh, CVD, PVD, mạ điện, tráng men,
tước, khắc, nung, in.
(1) Cảm biến dựa trên chất bán dẫn, được định nghĩa tại Chú giải
Một ví dụ về cảm biến là phần tử Hệ thống vi cơ điện tử
(MEMS) được sử dụng trong micrô silic làm cảm biến âm thanh
dựa trên chất bán dẫn. Phần tử MEMS được tạo thành từ một tấm
ốp cứng được đục lỗ và một màng linh hoạt trên đế silic, chức
năng của nó là chuyển đổi sóng âm thanh thành đầu ra điện thay
đổi (variable electrical output). Sóng âm là đại lượng vật lý tác
động lên màng và khiến nó rung động qua đó tạo ra dòng điện
khác nhau.
Một loại cảm biến khác là cảm biến khí, sử dụng sự hấp phụ của
các chất cho/nhận điện tử để thay đổi điện trở trong graphene với
diện tích bề mặt cực cao.
(2) Cơ cấu chấp hành dựa trên chất bán dẫn, được định nghĩa tại
Chú giải 12 (a) (i) (4), ví dụ, các gương Hệ thống vi cơ điện tử
(MEMS) được kích hoạt bằng nhiệt điện, thường được sử dụng
để làm chệch hướng chùm tia laze trong nhiều ứng dụng, chẳng
hạn như chuyển mạch quang từ sợi quang sang sợi quang, máy
chiếu laser, Phát hiện và đo khoảng cách ánh sáng (LIDAR)
trong lái xe tự động, theo dõi bằng laser và đo vị trí, v.v. Gương
được kích hoạt bằng nhiệt điện được di chuyển bởi các bộ phận
làm nóng, hoạt động trên các cấu trúc dựa trên chất bán dẫn có
độ giãn nở nhiệt khác nhau.
(3) Thiết bị cộng hưởng dựa trên chất bán dẫn, được định nghĩa
trong Chú thích 12 (a) (i) (5), ví dụ, bộ cộng hưởng sóng âm
thanh màng (FBAR), được sử dụng trong công nghệ RF để
ghép kênh hoặc chọn kênh trong các thiết bị không dây.
(4) Thiết bị dao động dựa trên chất bán dẫn, được định nghĩa
trong Chú giải 12 (a) (i) (6), chuyển đổi các hiện tượng vật lý
(năng lượng được lưu trữ của trường điện từ bên trong bộ cộng
hưởng) thành tín hiệu điện (điện áp đầu ra có tần số tùy thuộc
vào điện áp điều chỉnh).
(IV) Các linh kiện bán dẫn khác.
Chúng bao gồm:
(1) Thyristors, là loại linh kiện có 4 vùng dẫn bằng vật liệu bán dẫn
(có 3 hoặc nhiều hơn 3 lớp tiếp giáp p-n), qua đó sẽ có dòng
một chiều đi theo chiều xác định trước khi có một xung điều
khiển cho phép dẫn. Chúng được sử dụng như là chỉnh lưu có
điều khiển, đóng cắt hoặc khuyếch đại và có chức năng như 2
tranzito bù kiểu khoá chéo với lớp tiếp giáp góp/nền chung.
(2) Triacs (các thysisto 3 cực hai hướng) gồm 5 vùng dẫn bằng vật
liệu bán dẫn (4 lớp tiếp giáp p-n), qua đó có dòng xoay chiều đi
qua khi có xung điều khiển cho phép dẫn.
(3) Diacs, gồm 3 vùng dẫn bằng vật liệu bán dẫn (2 lớp tiếp giáp p-
n) và được dùng để cung cấp các xung điều khiển triac.
(4) Varactors (hoặc đi-ốt dung kháng thay đổi).
(5) Các linh kiện có hiệu ứng trường, như các griditors.
(6) Các thiết bị có hiệu ứng "Gunn".
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các linh kiện bán dẫn khác với
các linh kiện bán dẫn mô tả trên, hoạt động của chúng phụ thuộc chủ yếu
vào nhiệt độ, áp suất, v.v..., chẳng hạn như các điện trở bán dẫn phi
tuyến (thermistors, varistors, điện trở từ, v.v...) (nhóm 85.33).
Về các linh kiện cảm quang hoạt động phụ thuộc tác động của các tia
sáng (đi-ốt quang điện, v.v...), xem nhóm (B).
Các linh kiện mô tả ở trên thuộc nhóm này hoặc được hiện diện ở dạng
đã gắn với các cực hoặc các chân (ví dụ: ghim, dây dẫn, quả bóng,
miếng đất, miếng đệm hoặc miếng đệm được gắn trên giá đỡ, ví dụ, chất
nền hoặc khung chì) hoặc bọc (thành phần), chưa gắn (các phần tử) hoặc
thậm chí dưới dạng các đĩa nguyên (tấm mỏng). Tuy nhiên, vật liệu bán
dẫn tự nhiên (ví dụ, galen) được xếp vào nhóm này chỉ khi chúng đã
được gắn trong linh kiện bán dẫn.
Tuy nhiên, các bộ chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn thuộc nhóm này
không bao gồm các cảm biến, bộ dẫn động, bộ cộng hưởng, bộ tạo dao
động và tổ hợp chúng dựa trên silic, chứa một hoặc nhiều mạch tích hợp
nguyên khối, lai, đa chip hoặc đa thành phần như được định nghĩa trong
Chú giải 12 ( b) (iv) (3) của Chương này (nhóm 85.42).
Nhóm này cũng loại trừ:
(a) Các nguyên tố hóa học (ví dụ, silic và selen) đã được kích tạp để sử
dụng trong điện tử, ở dạng không gia công như kéo, hoặc ở dạng
hình trụ hoặc dạng thanh (Chương 28), khi được cắt ở dạng đĩa, tấm
mỏng hoặc các dạng tương tự (nhóm 38.18).
(b) Các hợp chất hóa học như cadimi selenua và sulphua, indi arsenua,..,
có chứa một số chất phụ gia nhất định (ví dụ, germani, iốt) thường
ở tỷ lệ vài phần trăm, nhằm mục đích sử dụng chúng trong điện tử,
dù trong dạng hình trụ, thanh,.., hoặc cắt thành đĩa, tấm mỏng hoặc
các dạng tương tự (nhóm 38.18).
(c) Các tinh thể được kích tạp dùng trong điện tử, dưới dạng đĩa, tấm
mỏng, hoặc các dạng tương tự, được đánh bóng hoặc không, có phủ
hoặc không phủ lớp epitaxy đồng nhất, với điều kiện chúng không
được pha trộn có chọn lọc hoặc khuếch tán để tạo ra vùng riêng biệt
(nhóm 38.18).
(d) Mạch điện tử tích hợp (nhóm 85.42).
(B) CÁC LINH KIỆN BÁN DẪN CẢM QUANG
Nhóm này bao gồm các linh kiện bán dẫn cảm quang trong đó dưới sự
tác động của tia sáng trông thấy được, tia hồng ngoại hay tia cực tím tạo
ra sự thay đổi trong điện trở suất hoặc làm xuất hiện sức điện động nhờ
hiệu ứng quang điện bên trong.
Các ống điện tử phát quang (tế bào phát quang), hoạt động của chúng
dựa trên hiệu ứng quang điện bên ngoài (sự xạ quang), thuộc nhóm
Các kiểu thiết bị bán dẫn cảm quang chính là:
(1) Các tế bào quang dẫn (quang điện trở), thường gồm hai điện cực ở
giữa là một chất bán dẫn (sunfua cadimi, sunfua chì, v.v...) mà trở
kháng của chúng thay đổi theo cường độ ánh sáng chiếu vào tế bào
Các tế bào này được sử dụng trong các thiết bị phát hiện lửa, dùng
cho máy đo độ phơi sáng của máy ảnh tự động, để đếm các đồ vật
đang chuyển động, dùng trong các thiết bị đo chính xác tự động,
trong các hệ thống mở cửa tự động.
(2) Các pin quang điện trực tiếp biến đổi ánh sáng thành năng lượng
điện, mà không cần một nguồn cung cấp dòng điện từ bên ngoài.
Các pin quang điện chế tạo từ selen thường được sử dụng chủ yếu
trong các luxơ kế và các bộ đo độ phơi sáng. Các pin quang điện chế
tạo từ silic có đầu ra cao hơn và đặc biệt sử dụng trong các thiết bị
điều chỉnh và điều khiển, để phát hiện các xung ánh sáng trong các
hệ thống truyền thông sử dụng cáp quang, v.v...
Các loại tế bào quang điện đặc biệt:
(i) Các pin mặt trời, các tế bào quang điện silic biến đổi trực tiếp
ánh sáng mặt trời thành năng lượng điện. Chúng thường sử
dụng thành nhóm để cung cấp năng lượng cho các tên lửa hoặc
các vệ tinh nghiên cứu không gian, cho các đài phát cấp cứu
trên núi, v.v...
Nhóm này cũng bao gồm các loại pin mặt trời, đã hoặc chưa lắp
thành môdun hoặc lập thành bảng. Tuy nhiên nhóm này không
bao gồm các bảng hoặc các môdun có gắn thiết bị, dù đơn giản
(đi-ốt để chỉnh lưu dòng điện, chẳng hạn) cho phép cung cấp
điện trực tiếp tới, ví dụ, một động cơ, một thiết bị điện phân
(nhóm 85.01).
(ii) Các đi-ốt quang (gecmani, silic, v.v...), đặc trưng bởi sự thay
đổi điện trở suất khi các tia sáng đập vào lớp tiếp giáp p-n của
chúng. Các đi-ốt quang điện được sử dụng trong việc xử lý dữ
liệu tự động (đọc các dữ liệu lưu trữ), làm catốt quang trong
một số ống điện tử, trong các hỏa kế bức xạ, v.v.... Các
tranzito quang và các thyritors quang thuộc về nhóm các
thiết bị thu quang điện này.
Khi được đóng vỏ, các thiết bị này được phân biệt với các đi-ốt,
tranzito và thyritors thuộc phần A ở trên bởi vỏ của nó, vỏ này
có một phần trong suốt để cho phép ánh sáng đi qua.
(iii) Các linh kiện ghép quang và các rơle quang, bao gồm các đi-
ốt phát quang kết hợp với đi-ốt quang điện, tranzito quang hoặc
Các kinh kiện bán dẫn cảm quang thuộc nhóm này, dù đã lắp ráp, (nghĩa
là đã có gắn các dây dẫn hoặc các cực), đã đóng vỏ hoặc chưa lắp ráp.
(C) CÁC ĐI-ỐT PHÁT QUANG (LED)
Các đi-ốt phát quang (LED) hoặc đi-ốt quang điện (dựa trên, không kể
những cái khác, axenua gali, phốtphua gali hoặc gallium nitrua) là
những linh kiện biến đổi điện năng thành ánh sáng nhìn thấy được, tia
hồng ngoại hoặc tia cực tím. Chúng thường được sử dụng, ví dụ để hiển
thị hoặc truyền dữ liệu trong các hệ thống điều khiển hoặc cho các ứng
dụng chiếu sáng và phát sáng.
Các đi-ốt lade phát ra một chùm sáng kết hợp và được sử dụng, ví dụ,
để dò tìm các phần tử hạt nhân, trong thiết bị đo độ cao hoặc đo xa, trong
các hệ thống truyền thông bằng sợi quang.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Gói đi-ốt phát quang (LED)
Đây là các linh kiện điện đơn lẻ chủ yếu bao bọc một hoặc nhiều chip
(khuôn) điốt phát quang (LED) và có thể bao gồm các phần tử quang
học và các giao diện nhiệt, cơ và điện (ví dụ, đầu nối điện bao gồm
dây để kết nối với mạch điều khiển bên ngoài).
Điốt bảo vệ (ví dụ, điốt Zener) có thể được kết nối song song với
chip Điốt phát sáng (GaN LED) dựa trên Gallium-nitrua để bảo vệ
chip LED GaN khỏi hiện tượng phóng tĩnh điện đối với một số gói
đèn LED GaN.
Có hai loại gói LED trắng cơ bản. Loại đầu tiên bao gồm sự kết hợp
giữa (các) chip LED và vật liệu huỳnh quang (phospho).
Loại gói LED trắng thứ hai bao gồm sự kết hợp của (các) chip LED
màu đỏ, (các) chip LED màu xanh lá cây và (các) chip LED màu
xanh lam. Gói LED trắng được sử dụng cho các ứng dụng chiếu sáng
thông thường và đèn nền.
(2) Cụm đi-ốt phát quang (LED)
Đây là các cụm bao gồm các gói điốt phát quang (LED) được gắn
trên bảng mạch in, có thể bao gồm các phần tử quang học và các giao
diện nhiệt, cơ và điện (ví dụ, đầu nối điện bao gồm dây để kết nối với
mạch điều khiển bên ngoài).
Các cụm LED không có mạch điều khiển loại cần thiết để điều chỉnh
nguồn AC và điều khiển dòng điện DC để các điốt phát quang (LED)
có thể sử dụng được.
Số lượng các điốt phát quang (LED) không làm thay đổi chức năng
của các điốt phát quang (LED) mà chỉ góp phần vào cường độ ánh
sáng.
Một số cụm LED sử dụng chip LED thay vì gói LED. Các con chip
được gắn trên một bảng mạch in và được bao phủ tổng thể hoặc từng
phần, có thể với phospho.
(D) CÁC TINH THỂ ÁP ĐIỆN ĐÃ LẮP RÁP
Đây chủ yếu là các bari titanat (bao gồm cả yếu tố đa tinh thể phân cực
của bari titanat), chì zinconat tinanat hoặc các tinh thể khác thuộc nhóm
38.24 (xem Chú giải Chi tiết tương ứng), hoặc các tinh thể thạch anh hoặc
tinh thể tuocmalin. Chúng được sử dụng trong các micro, loa, các thiết bị
siêu âm, các mạch dao động có tần số ổn định, v.v... Chúng được xếp vào
đây chỉ khi đã được lắp ráp. Thường chúng có dạng các tấm, thanh, đĩa,
vòng, v.v... và ít nhất phải có các điện cực hoặc các chân nối điện. Chúng
có thể được phủ graphit, vecni, v.v..., hoặc đặt trên giá đỡ và chúng
thường được đặt trong một vỏ bọc (ví dụ, hộp kim loại, bóng thủy tinh
v.v....) Tuy nhiên, nếu do bổ sung thêm các phần tử khác, một đối tượng
hoàn chỉnh (được gắn thêm tinh thể) có thể không còn được xem thuần
tuý là một tinh thể được lắp ráp nhưng lại trở thành một bộ phận đặc biệt
có thể nhận biết được của một máy móc hoặc thiết bị, phần lắp ráp được
phân loại như là bộ phận của máy thiết bị nếu đáp ứng: ví dụ, pin áp điện
dùng cho micro hoặc loa (nhóm 85.18), đầu âm (nhóm 85.22), các phần
tử thu thông tin (phần tử thăm dò) dùng cho các thiết bị đo độ dày hoặc
công cụ phát hiện bằng siêu âm (thường được phân loại theo Chú giải 2(b)
Chương 90 hoặc thuộc nhóm 90.33, tùy trường hợp cụ thể), bộ dao động
bằng thạch anh dùng cho đồng hồ điện tử (nhóm 91.14).
Nhóm này không bao gồm các tinh thể áp điện chưa lắp ráp (nói chung
thuộc nhóm 38.24, 71.03 hoặc 71.04).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Tổng quát của
Phần XVI), các bộ phận của sản phẩm thuộc nhóm này cũng được xếp
vào đây.
Chú giải Phân nhóm.
Phân nhóm 8541.21
Tỷ lệ tiêu tán của một tranzito được đo bởi việc áp dụng một điện áp làm
việc cụ thể đặt lên các thiết bị và đo công suất làm việc liên tục trong khi
giới hạn nhiệt độ vỏ ở 25º C. Lấy ví dụ, nếu một tranzito có khả năng
dẫn liên tục một dòng tải 0,2 A ở điện áp 5V trong khi duy trì nhiệt độ
vỏ ở 25º C, thì mức độ tiêu tán là 1 W (Ampe x Vôn = Oát).
Đối với các tranzito có các phương pháp tản nhiệt (ví dụ, một tab, một
vỏ kim loại), nhiệt độ tham khảo ở 25o C là nhiệt độ ở đáy vỏ hoặc của
vỏ, trong trường hợp của các tranzito khác (ví dụ, với vỏ bằng plastic)
thì lấy ở nhiệt độ phòng.
85.42 - Mạch điện tử tích hợp.
- Mạch điện tử tích hợp:
8542.31 - - Đơn vị xử lý và đơn vị điều khiển, có hoặc không kết
hợp với bộ nhớ, bộ chuyển đổi, mạch logic, khuếch
đại, đồng hồ thời gian và mạch định giờ, oặc các mạch
khác
8542.32 - - Bộ nhớ
8542.33 - - Mạch khuếch đại
8542.39 - - Loại khác
8542.90 - Bộ phận
Các mặt hàng thuộc nhóm này được xác định tại Chú giải 12 (b) của
Chương này.
Các mạch điện tử tích hợp là các linh kiện có một bộ phận chủ động và
một bộ phận bị động cao hoặc mật độ các phần tử cao, được xem như là
đơn vị duy nhất (coi như là các phần tử hoặc các linh kiện “chủ động”
hoặc “bị động”, xem đoạn đầu trên phần Chú giải Chi tiết nhóm 85.34).
Tuy nhiên, các mạch điện tử chỉ có các bộ phận bị động thì bị loại khỏi
nhóm này.
Không giống như mạch điện tử tích hợp, các thành phần rời rạc có thể có
một chức năng điện chủ động duy nhất (thiết bị bán dẫn được quy định
trong chú giải 12 (a) Chương 85 hoặc một chức năng điện bị động duy
nhất (điện trở, tụ điện, cuộn cảm,…). Các thành phần rời rạc không thể
phân chia và là các thành phần cấu trúc điện tử cơ bản trong một hệ
thống.
Tuy nhiên, các thành phần bao gồm một vài các yếu tố mạch điện và có
nhiều chức năng điện, như là mạch tích hợp, không được xem như thành
phần rời rạc.
Mạch tích hợp điện tử bao gồm các bộ nhớ (ví dụ, DRAMS, SRAMs,
PROMS, EPROMS, EEPROMS (hoặc E2PROMS)), vi điều khiển, mạch
điều khiển, mạch logic, mảng cổng, mạch giao diện,….
Mạch tích hợp điện tử bao gồm:
(I) Các mạch tích hợp đơn khối.
Các mạch tích hợp đơn khối là các vi mạch, trong đó các linh kiện
của mạch (điốt, transistor, điện trở, tụ điện, cuộn cảm, v.v...) đều
được tạo thành một khối (là chủ yếu) và trên bề mặt của vật liệu bán
dẫn (ví dụ, vật liệu silic đã được pha tạp) và do đó, chúng được kết
hợp lại thành một thể thống nhất. Các mạch tích hợp đơn khối có thể
dưới dạng kỹ thuật số, tuyến tính (tín hiệu tương tự) hoặc kỹ thuật
số - tương tự.
Các mạch tích hợp đơn khối có thể được trình bày:
(i) Đã lắp ráp có nghĩa là các mối nối hoặc chân đã hoặc chưa được
đóng vào vỏ gốm, kim loại hoặc nhựa. Vỏ có thể dưới dạng trụ,
dưới dạng hộp, v.v...
(ii) Ở dạng chưa lắp ráp, nghĩa là các chíp, thường là hình chữ nhật,
với các cạnh thường chỉ vài millimét.
(iii) Ở dạng nguyên tấm (nghĩa là vẫn chưa cắt thành các chíp riêng
rẽ).
Các mạch tích hợp đơn khối bao gồm:
(i) Các bán dẫn bằng ô xít kim loại (công nghệ MOS)
(ii) Các mạch tích hợp dựa trên công nghệ lưỡng cực.
(iii) Các mạch tích hợp dựa trên sự kết hợp các công nghệ MOS và
lưỡng cực (công nghệ BIMOS).
Bán dẫn bằng ô xít kim loại (MOS), đặc biệt là bán dẫn ôxit kim
loại bổ sung (CMOS), và các công nghệ lưỡng cực gọi là công nghệ
“GEN” liên quan đến việc chế tạo transistor. Đóng vai trò một nhân
tố cơ bản của mạch tích hợp đơn khối, các transistor này tạo cho
mạch tích hợp tính đồng nhất của nó. các mạch lưỡng cực ưa dùng
trong các hệ có tốc độ lôgic tối đa. Mặt khác, các mạch MOS lại ưa
dùng trong các hệ trong đó mong muốn có mật độ linh kiện cao
năng lượng tiêu thụ ít. Xa hơn, các mạch CMOS sử dụng trong nơi
cần năng lượng tiêu thụ thấp nhất. Do đó, chúng ưa dùng trong các
ứng dụng có nguồn công suất giới hạn hoặc ở đó vấn đề làm mát bị
hạn chế. Mối quan hệ bổ sung giữa công nghệ lưỡng cực và công
nghệ MOS xuất hiện nhiều trong công nghệ BICMOS, công nghệ
này kết hợp giữa tốc độ của mạch lưỡng cực với khả năng tích hợp
cao và tiêu thụ năng lượng thấp của các mạch CMOS.
(II) Các mạch tích hợp lai.
Chúng là những vi mạch được chế tạo trên một đế cách điện, trên đó
có các mạch phim mỏng hoặc dày được hình thành. Quá trình này
cho phép tạo ra các bộ phận bị động (điện trở, tụ điện, cuộn cảm,
v.v...) cùng một lúc. Tuy nhiên, để tạo thành một mạch lai như trong
nhóm này, các chất bán dẫn phải được kết hợp và được gắn trên
cùng một bề mặt, dưới dạng các chip, có hoặc không bọc, hoặc như
các bán dẫn bọc vỏ (ví dụ, đặc biệt trong thiết kế vỏ bọc thu nhỏ).
Các mạch tích hợp lai có thể có các bộ phận bị động được tạo ra
riêng rẽ được gắn trên cùng một mạch phim cơ sở theo cùng một
cách như các chất bán dẫn. Thường thì các bộ phận bị động này là
các phần tử dưới dạng các chíp như tụ điện, điện trở hoặc cuộn cảm.
Các đế cách điện có cấu tạo nhiều lớp, thường là gốm cùng với keo
chịu nhiệt tạo thành một kết cấu nhỏ gọn, tạo thành một đế đơn theo
Chú giải 8 (b) (ii) của Chương này.
Các phần tử tạo thành mạch tích hợp lai phải được kết hợp như một
thể thống nhất, có nghĩa là mặc dù một số bộ phận về mặt lý thuyết
có thể tháo rời hoặc thay thế, việc này sẽ mất nhiều thời gian và là
một công việc tinh xảo nên không kinh tế trong điều kiện sản xuất
bình thường.
(III) Mạch tích hợp đa chíp.
Những mạch này gồm hai hay nhiều mạch tích hợp đơn khối nối lẫn
với nhau kết hợp để như một thể thống nhất, có hay không trên một
hoặc nhiều chất nền cách điện, có hoặc không có khung chân nối,
nhưng không có các bộ phận mạch chủ động hoặc bị động khác.
Mạch tích hợp đa chíp nói chung có cấu tạo như sau:
Hai hoặc nhiều hơn mạch tích hợp đơn khối được gắn bên nhau;
Hai hay nhiều mạch tích hợp đơn khối xếp chồng lên nhau;
Sự kết hợp của các kiểu trên bao gồm ba hay nhiều hơn các
mạch tích hợp đơn khối.
Các mạch tích hợp đơn khối này được kết hợp và nối lẫn trong cùng
một thể và được đóng trong một vỏ hoặc bằng cách khác. Chúng
được kết hợp như một thể thống nhất, tức là mặc dù có một vài bộ
phận có thể được tháo rời hoặc thay thế về mặt lý thuyết, nhưng việc
này sẽ mất thời gian và đòi hỏi công việc tinh xảo mà nó sẽ không
kinh tế trong điều kiện sản xuất bình thường.
Chất nền cách điện của các mạch tích hợp đa chip có thể kết hợp
điện với môi trường dẫn điện. Các môi trường này có thể bao gồm
các vật liệu cụ thể hoặc được tạo thành dạng cụ thể để cung cấp
chức năng bị động bằng các phương tiện trừ các bộ phận mạch rời
rạc. Chất nền hiện diện trong môi trường dẫn điện, nhờ các môi
trường này, các mạch tích hợp đơn khối được kết nối với nhau.
Những chất nền này có thể đề cập đến như là “vật trung gian” hoặc
“miếng đệm” khi được đặt ở trên chip hoặc khuôn ở cuối cùng.
Mạch tích hợp đơn khối được nối lẫn bằng các phương tiện khác
nhau như chất kết dính, nối ghép dây, công nghệ “chip lật”.
(IV) Mạch tích hợp đa thành phần (MCOs).
Mạch tích hợp đa thành phần là sự kết hợp của mạch với các thành phần
được nêu ở Chú giải 12 (b) (iv) của Chương này.
Mạch tích hợp đa thành phần (MCOs) là sự kết hợp của một hoặc nhiều
mạch tích hợp đơn khối, lai hoặc đa chíp có ít nhất một trong những
thành phần sau: cảm biến, cơ cấu chấp hành, bộ dao động, bộ cộng
hưởng nền silic, và kết hợp giữa chúng, hoặc một hay nhiều thành phần
thực hiện chức năng của hàng hóa thuộc nhóm 85.32, 85.33, 85.41, hoặc
cuộn cảm thuộc nhóm 85.04
Mạch tích hợp đa thành phần (MCOs) cũng có thể chứa các mạch tích
hợp đa thành phần (MCOs) khi nó đáp ứng điều kiện của Chú giải 12 (b)
(iv) Chương 85.
Tất cả các đơn vị riêng biệt (có thể trao đổi được) mà không được phân
loại trong nhóm 85.04, 85.32, 85.33, 85.41 hoặc không nằm trong định
nghĩa của cảm biến, cơ cấu chấp hành, bộ dao động, bộ cộng hưởng nền
silic và các kết hợp của chúng được loại trừ khỏi định nghĩa của mạch
tích hợp đa thành phần (MCO) (ví dụ, máy biến điện (nhóm 85.04) hoặc
nam châm (nhóm 85.05).
Tuy nhiên, những thành phần khác không được đề cập nhưng là bộ phận
quan trọng của mạch tích hợp đa thành phần (MCO) (hoặc hệ mạch tích
hợp), ví dụ như bản mạch có hoặc không có chức năng như một tấm
mạch in, dây điện vàng hoặc môi trường dẫn điện, hoặc cần thiết trong
quá trình tạo lập và vận hành, ví dụ, như vật liệu đúc hoặc khung dẫn
điện, là thành phần/bộ phận của mạch tích hợp đa thành phần (MCO).
Mạch tích hợp và các bộ phận cấu thành mạch tích hợp đa thành phần
(MCO) kết hợp và kết nối về mặt vật lý, điện tử hoặc quang học thành
một bộ phận đơn nhất (một bộ phận tồn tại như là một bộ phận kỹ thuật
độc lập trong việc kết nối với các thiết bị khác thông qua chân cắm, dây
dẫn, bi, bumps, hoặc miếng đệm) có hoặc không đặt trên một hoặc nhiều
tấm để cách điện, có hoặc không có khung dẫn điện, và có thể được đóng
gói thông qua bọc hoặc cách khác.
Các bộ phận này phải được kết hợp như một thể thống nhất, có nghĩa là
mặc dù một số bộ phận về mặt lý thuyết có thể loại bỏ và thay thế, điều
này có thể lãng phí trong điều kiện sản xuất thông thường.
Mạch tích hợp đa thành phần thường được dùng để lắp vào các mối nối
hoặc dây dẫn, hoặc vật chứa hỗ trợ (ví dụ, tấm mạch in (PCBs) hoặc các
vật chứa khác, ví dụ như film mỏng, film dầy, tấm nền kim loại cách
điện,…) hoặc với một kết nối điện. Các vật bao ngoài của mạch tích hợp
đa thành phần (MCOs) có thể được tạo từ các nguyên liệu, có các thiết
kế và hình dạng khác nhau, và có thể bảo vệ bộ này khỏi tác động cơ khí
và môi trường.
MCOs có thể có các tính năng khác nhau (ví dụ, vỏ bao ngoài có thể ở
thể rắn, hoặc có lỗ, cửa sổ hoặc màng) hoặc vật gắn kèm cần thiết cho
các chức năng cụ thể. MCOs sử dụng các tính năng và vật bộ phận đính
kèm khác nhau để nhận tín hiệu vào từ các đại lượng vật lý hoặc hóa học
bên ngoài và xử lý những dữ hiệu này để cho ra đầu ra phù hợp với cảm
biến, cơ cấu chấp hành, bộ dao động, bộ cộng hưởng nền silic.
Mạch này được sử dụng trong nhiều ứng dụng, kể cả máy tính, thông tin
(ví dụ như điện thoại mạng tế bào), tiêu dùng, công nghiệp hoặc công
nghiệp ô tô.
Nhóm này không bao gồm các mạch phim chỉ có bộ phận bị động
(nhóm 85.34).
Nhóm này không gồm các thiết bị lưu trữ không xóa ở thể rắn, “các thẻ
thông minh” và các phương tiện khác dùng để ghi âm hoặc các hiện
tượng khác (xem nhóm 85.23 và Chú giải 6 Chương này).
Ngoại trừ sự kết hợp (không thể chia tách) được đề cập đến trong Phần
(II), (III) và (IV) ở trên liên quan đến hệ thống mạch lai, mạch tích hợp
đa chip và mạch tích hợp đa thành phần (MCOs), phân nhóm này cũng
không bao gồm các yếu tố tạo thành bởi:
(a) Gắn kết một hoặc nhiều thành phần rời rạc trên một nền đỡ, ví dụ,
được tạo nên bởi một mạch in;
(b) Thêm một hoặc nhiều thiết bị khác, chẳng hạn như điốt, máy biến
điện, hoặc điện trở vào một vi mạch điện tử;
(c) Kết hợp của các thành phần rời rạc hoặc kết hợp của vi mạch điện tử
trừ loại mạch tích hợp đa chip hoặc đa thành phần; hoặc bởi
(d) Kết hợp một hoặc nhiều mạch tích hợp đơn khối, lai, đa chíp hoặc đa
thành phần có các thành phần không được đề cập trong Chú giải 12 (b)
(iv) của Chương này (ví dụ, máy biến điện (nhóm 85.04) hoặc nam châm
(nhóm 85.05)). ".
Các lắp ráp này được phân loại như sau:
(i) Các phần lắp ráp mà tạo thành máy hoặc thiết bị hoàn chỉnh (hoặc
được phân loại như sản phẩm hoàn chỉnh), vào nhóm tương tứng với
máy hoặc thiết bị đó;
(ii) Các lắp ráp khác theo điều khoản phân loại bộ phận của máy ( đặc
biệt Chú giải 2 (b) và 2 (c) Phần XVI).
Đặc biệt, đây là trường hợp phân loại cho một số module nhớ điện tử (ví
dụ, SIMMs (Single In-line Memory Modules) và DIMMs (Dual In-line
Memory Modules)). Các module này được phân loại bằng việc áp dụng
Chú giải 2 Phần XVI. (Xem Chú giải tổng quát Chương này).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại bộ phận (xem Chú giải tổng quát Phần
XVI), bộ phận của hàng hóa thuộc nhóm này cũng được phân loại ở đây.
85.43 - Máy và thiết bị điện, có chức năng riêng, chưa được chi tiết
hay ghi ở nơi khác trong Chương này.
8543.10 - Máy gia tốc hạt
8543.20 - Máy phát tín hiệu
8543.30 - Máy và thiết bị dùng trong mạ điện, điện phân hay điện
8443.40 - Thiết bị điện tử dùng cho thuốc lá điện tử và các thiết
bị điện hóa hơi cá nhân tương tự
8543.70 - Máy và thiết bị khác
8543.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm tất cả các thiết bị điện và dụng cụ điện, không nằm
trong bất kỳ nhóm nào khác của Chương này, cũng không nằm trong
một nhóm của bất kỳ Chương nào khác của Danh mục này, cũng không
có trong Chú giải Pháp lý của Phần XVI hoặc của Chương này. Các
hàng hoá chủ yếu dùng điện được mô tả cụ thể ở các Chương khác hơn
như các thiết bị điện thuộc Chương 84, các dụng cụ và thiết bị cụ thể
thuộc Chươncg 90.
Các thiết bị và dụng cụ điện của nhóm này phải có những chức năng
riêng. Các điều khoản giới thiệu ở phần Chú giải Chi tiết nhóm 84.79 có
liên quan đến máy móc và các thiết bị cơ khí khi có các chức năng riêng
dùng cho các thiết bị và dụng cụ của nhóm này.
Phần lớn các thiết bị thuộc nhóm này bao gồm việc lắp ráp các mặt hàng
điện hoặc các bộ phận (đèn điện tử, biến áp, tụ điện, cuộn cảm, điện trở,
v.v....) hoạt động hoàn toàn bằng điện. Tuy nhiên, nhóm này cũng bao
gồm các mặt hàng điện có các tính năng thuộc về cơ học, với điều kiện
các tính năng này phụ trợ cho các chức năng về điện của máy hoặc thiết
bị này.
Nhóm này bao gồm, không kể những cái khác:
(1) Máy gia tốc hạt. Đây là những thiết bị dùng để truyền động năng
cao cho các hạt tích điện (electron, proton, v v ..).
Các máy gia tốc hạt phần lớn được sử dụng trong các nghiên cứu về
hạt nhân, nhưng cũng dùng cho việc sản suất các vật liệu phóng xạ,
chụp tia X trong y học hoặc trong công nghiệp, dùng để tiệt trùng
một số sản phẩm, vv ...
Các máy gia tốc hạt thường bao gồm các hệ thống lắp đặt lớn (khối
lượng có thể lên tới hàng nghìn tấn). Chúng gồm có một nguồn hạt,
một buồng gia tốc và các thiết bị tạo điện áp có tần số cao, tạo sự
thay đổi về dòng hoặc tần số radio dùng để gia tốc cho các hạt. Các
máy này có thể dùng cho một hoặc nhiều mục đích.
Sự gia tốc, sự tập trung và sự lệch của các hạt được thực hiện bằng
những thiết bị tĩnh điện hoặc điện từ sử dụng máy phát cao áp hoặc
cao tần. Máy gia tốc và các máy phát thường được bao quanh bởi
màn chắn chống bức xạ.
Trong số các máy gia tốc hạt có thể kể tới, Máy gia tốc Van de
Graaff, máy gia tốc của Cockeroft và Walton, các máy gia tốc tuyến
tính, xiclotron, betatron, xincloxiclotron, xincroton v.v ...
Các betatron và các máy gia tốc hạt khác đặc biệt thích hợp để tạo ra
tia X, kể cả những máy có khả năng phát ra các tia beta hoặc tia
gamma, theo yêu cầu, thuộc nhóm 90.22.
(2) Các máy phát tín hiệu, là các thiết bị tạo ra các tín hiệu điện có
dạng sóng và biên độ, ở tần số nhất định (ví dụ, ở tần số cao hoặc
thấp). Chúng bao gồm, ngoài những cái khác: các máy phát xung,
các máy phát xung chuẩn, các máy phát quét.
(3) Các máy dò mìn, hoạt động dựa trên sự thay đổi từ thông được tạo
ra trong thiết bị khi đưa máy lại gần đồ vật bằng kim loại. Các máy
dò tìm tương tự được sử dụng, ví dụ, để phát hiện các vật kim loại
ngoại lai trong thùng thuốc lá, thực phẩm, gỗ, v.v ...,, và cũng để
định vị những ống dẫn đã chôn chìm dưới đất.
(4) Các bộ trộn, được dùng trong ghi âm bằng cách kết hợp đường tín
hiệu ra từ hai hoặc nhiều micro; đôi khi chúng được kết hợp với bộ
khuyếch đại. Các bộ trộn và bộ điều chỉnh tần số cũng được phân
loại trong nhóm này. Nhưng bộ trộn được thiết kế đặc biệt dùng cho
điện ảnh thì bị loại trừ (nhóm 90.10).
(5) Các bộ giảm nhiễu, dùng cùng các máy ghi âm.
(6) Các thiết bị xông kính và chống sương mờ với điện trở điện dùng
cho phương tiện bay, tầu thuỷ, tầu hoả hay các loại phương tiện
khác, (ngoại trừ xe đạp hoặc các phương tiện sử dụng động cơ
nhóm 85.12).
(7) Các thiết bị đồng bộ, được dùng khi một số máy phát cấp nguồn cho
một mạch điện chung.
(8) Các thiết bị kích nổ mìn bằng điện bao gồm một máy phát hoạt
động thủ công (dynamo) và một tụ điện.
(9) Các máy khuyếch đại trung tần hoặc cao tần (kể cả bộ khuyếch
đại đo lường và bộ khuyếch đại ăng ten)
(10) Máy và thiết bị dùng cho mạ điện, điện phân hoặc điện di (trừ
các máy và thiết bị của nhóm 84.86 và các dụng cụ đo điện di thuộc
nhóm 90.27).
(11) Thiết bị điện tử dùng cho thuốc lá điện tử và các thiết bị điện
hóa hơi cá nhân tương tự.
Nhóm này bao gồm:
(i) Các thiết bị thường được gọi là “thuốc lá điện tử” làm nóng và
làm bay hơi chất lỏng hoặc dung dịch mà người dùng hít trực
tiếp của phân nhóm 2404.12 hoặc 2404.19, có hoặc không có
nicotin; và
(ii) Các thiết bị điện hóa hơi cá nhân tương tự khác, chẳng hạn như
hệ thống làm nóng thuốc lá bằng điện (EHTS), thiết bị rung
siêu âm,.., tạo ra sol khí (aerosol) từ các sản phẩm thuốc lá (sản
phẩm thuộc phân nhóm 2404.11) hoặc các sản phẩm khác có
chứa nicotin, hoặc các nguyên liệu thay thế lá thuốc lá hoặc các
nguyên liệu thay thế nicotin (sản phẩm thuộc phân nhóm
2404.12 hoặc 2404.19) dùng để hít mà không cần đốt cháy.
Đây là những thiết bị hoạt động bằng điện, hoạt động không sử
dụng quá trình đốt cháy, để tạo ra sol khí (aerosol) để người dùng hít
trực tiếp qua đầu ngậm. Chúng kết hợp các linh kiện điện hoặc điện
tử cụ thể, chẳng hạn như bộ phận làm nóng (ví dụ, bộ phận phun)
hoặc máy rung siêu âm,..., cho phép thiết bị tạo ra sol khí (aerosol)
từ chất lỏng, dung dịch, gel, đầu cắm thuốc lá hoặc sản phẩm khác
được thiết kế để được sử dụng trong thiết bị. Chúng có thể trông
giống các sản phẩm hút có hình dạng khác nhau (ví dụ, thuốc lá, xì
gà, tẩu thuốc hoặc tẩu nước) hoặc có thể giống các vật dụng hàng
ngày như bút viết hoặc ổ flash USB,... Các sản phẩm này được thiết
kế để nạp lại hoặc sử dụng cùng với hộp chứa (cartridge) có thể thay
thế, đầu cắm (plug) thuốc lá hoặc tương tự.
(12) Các thiết bị phát tia cực tím, thường được sử dụng trong công
nghiệp.
(13) Các thiết bị phát và khuếch tán ôzôn, bằng điện, không nhằm
mục đích y học (ví dụ, dùng cho công nghiệp, ôzôn hoá của các cơ
sở).
(14) Các modun nhạc điện tử, dùng để gài vào các mặt hàng thiết thực
hoặc các hàng hóa khác, như đồng hồ đeo tay, tách chén và các thiếp
chúc mừng. Các modun này thường gồm có một mạch điện tử tích
hợp, một điện trở, một loa và một pin thuỷ ngân. Chúng đã được
tích hợp những chương trình nhạc.
(15) Máy cung cấp năng lượng cho hàng rào điện.
(16) Các thiết bị hồng ngoại không dây để điều khiển từ xa của máy
thu hình, máy ghi video hoặc các thiết bị điện khác.
(17) Thiết bị điện phát quang, thường ở dạng dải, tấm hoặc bảng, và
dựa trên chất điện-phát quang (ví dụ, kẽm sulphua) đặt giữa 2 lớp
vật liệu dẫn điện.
(18) Máy ghi dữ liệu chuyến bay kỹ thuật số (máy ghi bay) ở dạng
một thiết bị điện tử chống lửa, chống va chạm để ghi liên tục các dữ
liệu đặc biệt của chuyến bay.
Nhóm này loại trừ:
(a) Thuốc lá điện tử dùng một lần (disposable e-cigarettes) và các thiết
bị điện hóa hơi cá nhân tương tự dùng một lần, có chứa sản phẩm
dùng để hít mà không cần đốt cháy (ví dụ, dạng lỏng, gel dùng cho
thuốc lá điện tử) trong vỏ và bị bỏ đi sau khi dùng hết sản phẩm
hoặc hết pin (không được thiết kế để nạp lại hoặc sạc lại) (nhóm
(b) Hộp chứa (cartridge) hoặc bình chứa chất lỏng hoặc dung dịch, có
hoặc không kèm theo các bộ phận khác (ví dụ, bộ phận làm nóng
hoặc “đầu đốt” (atomiser)), được thiết kế để sử dụng trong thuốc lá
điện tử hoặc các thiết bị điện hóa hơi cá nhân tương tự (nhóm
(c) Thiết bị cấy ion cho các vật liệu bán dẫn pha tạp hoặc tấm phẳng
(nhóm 84.86).
(d) Thiết bị lắng đọng hơi vật lý dùng để sản xuất tấm bán dẫn mỏng,
thiết bị bán dẫn, mạch tích hợp điện tử, hoặc màn hình hiển thị tấm
phẳng (nhóm 84.86).
(e) “Thẻ thông minh” (kể cả thẻ không tiếp xúc hoặc tag) được định
nghĩa trong Chú giải 6 (b) Chương này (nhóm 85.23).
(f) Các loại tẩu thuốc không dùng điện (kể cả tẩu calumet, tẩu chibouks
hoặc tẩu Thổ Nhĩ Kỳ, hookah...) (nhóm 96.14).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại bộ phận (xem Chú giải tổng quát Phần
XVI), bộ phận của các mặt hàng thuộc nhóm này cũng được phân loại ở
đây.
85.44 – Dây điện, cáp điện (kể cả cáp đồng trục) có cách điện (kể cả
loại đã tráng men cách điện hoặc mạ lớp cách điện) và dây
dẫn có cách điện khác, đã hoặc chưa gắn với đầu nối; cáp sợi
quang, làm bằng các bó sợi đơn có vỏ bọc riêng biệt từng sợi,
có hoặc không gắn với dây dẫn điện hoặc gắn với đầu nối.
⦁ Dây đơn dạng cuộn:
8544.11 - - Bằng đồng
8544.19 - - Loại khác
8544.20 - Cáp đồng trục và các dây dẫn điện đồng trục khác
8544.30 - Bộ dây đánh lửa và bộ dây khác loại sử dụng cho xe,
phương tiện bay hoặc tàu thuyền
⦁ Dây dẫn điện khác, dùng cho điện áp không quá 1.000
8544.42 - - Đã lắp với đầu nối điện
8544.49 - - Loại khác.
8544.60 - Các dây dẫn điện khác, dùng cho điện áp trên 1000 V
8544.70 - Cáp sợi quang
Với điều kiện chúng được cách điện, nhóm này bao gồm dây dẫn điện,
cáp điện và các vật dẫn khác (ví dụ, dây điện, dải, thanh) sử dụng như
dây dẫn trong máy điện, thiết bị điện hoặc các hệ thống lắp đặt điện.
Theo điều kiện này, nhóm này cũng gồm cả hệ thống dây để sử dụng
bên trong hoặc bên ngoài (ví dụ, đi ngầm dưới đất, đi dưới biển hoặc
đường dây hoặc cáp ăngten). Các mặt hàng này rất đa dạng từ dây được
cách điện rất tốt đến những cáp dầy với những kiểu phức tạp hơn.
Những dây dẫn phi kim loại cũng nằm trong nhóm này.
Những mặt hàng của nhóm này bao gồm những bộ phận sau:
(A) Một dây dẫn điện, có thể là sợi xoắn đơn hoặc nhiều sợi xoắn bện
lại, và có thể tất cả các sợi đều cùng một kim loại hoặc từ những
kim loại khác nhau.
(B) Một hoặc nhiều dây dẫn được bọc vật liệu cách điện nhằm mục đích
ngăn không để hở điện và cũng để bảo vệ dây dẫn điện không bị
hỏng. Vật liệu cách điện thường dùng nhất là cao su, giấy, plastic,
amiăng, mica, bột mica, sợi thủy tinh, sợi dệt (có hoặc không được
tẩm sáp hoặc ngâm tẩm), vecni, men, hắc ín, dầu, v.v.... Trong vài
trường hợp, người ta sử dụng phương pháp anot hóa để tạo cách
điện hoặc bằng quá trình tương tự (ví dụ, tạo trên bề mặt một lớp
phủ oxít kim loại hoặc muối kim loại).
(C) Trong nhiều trường hợp một vỏ bọc kim loại (ví dụ, chì, đồng thau,
nhôm hoặc thép); vỏ này đóng vai trò như một lớp phủ bảo vệ cho
cách điện, như một kênh dẫn cho cách điện bằng khí hoặc dầu, hoặc
như một dây dẫn bổ trợ trong một số cáp đồng trục cụ thể.
(D) Đôi khi để bảo vệ cáp ngầm dưới đất hoặc dưới biển người ta thường
dùng vỏ bọc cứng bằng kim loại (ví dụ, dùng sợi hoặc dải sắt hoặc
thép cuốn theo hình xoắn ốc).
Các dây và cáp, … được cách điện của nhóm này có thể có những dạng
dưới đây:
(i) Dây cách điện đơn hoặc nhiều sợi
(ii) Hai hoặc nhiều sợi cách điện xoắn lại với nhau
(iii) Hai hoặc nhiều sợi cách điện ghép lại với nhau trong cùng một vỏ
bọc cách điện.
Nhóm này bao gồm, không kể những cái khác:
(1) Các dây sơn hay dây tráng men, thường rất mỏng và dùng chủ yếu
cho cuộn dây quấn.
(2) Các dây anốt,…
(3) Các dây và cáp viễn thông (kể cả cáp ngầm dưới biển và dây, cáp
truyền dữ liệu) nói chung có cấu tạo thành cặp, 4 lõi hoặc một lõi
cáp, chúng đều có vỏ bọc. Một lõi đôi hoặc 4 lõi tương ứng 2 hoặc 4
sợi cách điện (mỗi một sợi là một dây dẫn điện đơn bằng đồng hoặc
được cách điện bằng plastic có mầu với độ dầy không quá 0,5 mm),
xoắn lại với nhau. Một lõi cáp gồm một lõi đôi hoặc 4 lõi hoặc nhiều
lõi đôi hoặc 4 lõi bện lại với nhau.
(4) Cáp ăngten được cách điện.
(5) Các cáp dùng cho liên lạc cố định đường dài, thường cách điện
bằng khí hoặc dầu.
(6) Các cáp ngầm dưới đất có vỏ bọc kim loại chống ăn mòn.
(7) Các cáp dùng trong hầm mỏ; các cáp này có vỏ bọc kim loại theo
chiều dọc chống lại những ảnh hưởng của ứng lực.
Hơn nữa, nhóm này bao gồm dây điện được tết lại, phủ sơn hoặc lắp vào
vỏ bọc cách điện.
Nhóm này cũng bao gồm dải được cách điện thường dùng trong các máy
điện lớn hoặc thiết bị điều khiển lớn.
Dây, cáp, v.v... vẫn được xếp vào nhóm này nếu được cắt theo chiều dài
hoặc đã gắn các đầu nối (ví dụ, phích cắm, ổ cắm, giá đỡ, giắc, măng
sông hoặc các đầu cực) ở một hoặc cả hai đầu. Nhóm này cũng gồm dây
dẫn, v.v... thuộc các loại mô tả ở trên được làm thành bộ (ví dụ, cáp
nhiều sợi dùng để nối bộ phận đánh lửa của các phương tiện chạy bằng
động cơ tới bộ chia).
Nhóm này cũng bao gồm các cáp sợi quang làm từ những sợi được bọc
vỏ riêng, đã hoặc chưa lắp ráp với dây dẫn điện hoặc với các đầu nối
điện. Các vỏ bọc thường có màu sắc khác nhau để dễ dàng nhận diện
các sợi ở đầu dây cáp. Các cáp sợi quang chủ yếu được sử dụng trong
viễn thông do khả năng truyền tải dữ liệu lớn hơn khả năng dẫn điện của
chúng.
Loại trừ khỏi nhóm này các điện trở đốt nóng bằng điện có vỏ bọc cách
điện (ví dụ, các dây hợp kim đặc biệt quấn xoắn ốc xung quanh một lõi
bằng các sợi thuỷ tinh hay các sợi amiăng) thuộc nhóm 85.16; các đầu
nối dùng cho sợi quang học, bó hoặc sợi cáp quang của nhóm 85.36.
85.45 - Điện cực than, chổi than, carbon cho chế tạo bóng đèn,
carbon cho chế tạo pin, ắc qui và các sản phẩm khác làm
bằng graphit hoặc carbon khác, có hoặc không có thành phần
kim loại, dùng cho kỹ thuật điện.
- Điện cực:
8545.11 - - Dùng cho lò nung, luyện
8545.19 - - Loại khác
8545.20 - Chổi than
8545.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm toàn bộ những mặt hàng làm từ graphit hoặc carbon
khác, có thể nhận biết được nhờ hình dạng, kích thước hoặc bằng cách
khác, dùng cho các mục đích về điện, có hoặc không có kim loại.
Nói chung, các mặt hàng này được chế tạo bằng cách ép đùn hoặc đúc
(thường dưới áp lực) và xử lý kết cấu bằng nhiệt, bổ sung các thành phần
cơ bản (carbon tự nhiên, bồ hóng, than lò cất, than cốc, graphit tự nhiên
hoặc nhân tạo, v.v....) và các chất kết dính cần thiết (nhựa đường, hắc
ín,...), cũng có thể có những chất khác như bột kim loại.
Trong một vài trường hợp, các mặt hàng của nhóm này có thể được phủ
một lớp vật liệu bằng điện phân hoặc phun (ví dụ, với đồng) để tăng khả
năng dẫn điện và giảm tốc độ mài mòn của chúng. Chúng vẫn được xếp
vào đây thậm chí nếu chúng được gắn lỗ xuyên, các đầu nối hoặc các
phương pháp nối khác.
Nhóm này bao gồm :
(A) Các điện cực than cho các lò nung.
Nói chung các điện cực này ở dạng hình trụ hoặc thỏi, và đôi khi
được ren hoặc khoan ở đáy để có thể vặn chặt vào đúng vị trí.
(B) Các điện cực than dùng để hàn.
Thường chúng ở dạng que.
(C) Các điện cực than dùng để điện phân.
Có thể ở dạng tấm, thanh (kể cả các thanh có mặt cắt hình tam giác),
trụ, v.v... Chúng được thiết kế để gá hoặc treo trong các bể điện
phân, và có thể trang bị thêm một số đồ dùng như móc hoặc vòng.
Một số kiểu được khoét lỗ hoặc tạo đường rãnh tạo thuận lợi cho
thoát khí phát sinh trong quá trình điện phân.
(D) Các chổi than.
Chổi than được sử dụng làm tiếp xúc trượt cho các máy phát và
động cơ v.v, ..., làm thiết bị thu dòng điện cho các đầu máy điện,
v.v.... Mặc dù một số được chế tạo nhờ tạo khuôn trực tiếp, song
phần lớn được cắt từ các tấm hoặc các khối “than” như đã mô tả
trong phần chú giải thuộc nhóm 38.01. Chúng được chế tạo rất
chính xác về độ lớn và bề mặt của chúng được gia công rất cẩn thận
với dung sai vài phần trăm của milimet. Do vậy, có thể phân biệt
chúng nhờ kích thước, hình dáng và bề mặt hoàn thiện tinh xảo;
trong nhiều trường hợp, chúng có thể được phủ toàn bộ hoặc một
phần kim loại hoặc được gắn các đầu nối (công son, cáp, đầu nối, lò
Các chổi than như vậy có thể được phân loại theo mô tả trong phần
chú giải thuộc nhóm 38.01, hoặc có thể có chứa bạc.
Nhóm này không bao gồm các chổi kim loại phủ bên ngoài bằng
một lớp bôi trơn than chì (nhóm 85.35 hoặc 85.36). Bộ phận giữ
chổi than (đã hoặc chưa phù hợp với chổi than) được phân loại như
các bộ phận của máy (ví dụ nhóm 85.03).
(E) Carbon dùng làm sợi đèn hồ quang hoặc đèn khác
Chúng thường có dạng que hoặc bút chì; đôi khi chúng có lõi với
một thành phần đặc biệt để nâng cao khả năng ổn định của hồ quang
và để tạo ra một cuờng độ ánh sáng đầu ra lớn, hoặc tạo ra ngọn lửa
có mầu sắc đặc biệt. Nhóm này cũng bao gồm các sợi đốt bằng
carbon dùng cho đèn điện sợi đốt.
(F) Carbon dùng cho pin
Tuỳ theo loại pin sử dụng, chúng có thể có các dạng: các que, tấm,
ống ...
(G) Các bộ phận bằng than dùng cho micro.
Chúng gồm các đĩa hoặc các chi tiết khác có khả năng nhận dạng.
(H) Các mặt hàng khác bằng graphit hoặc carbon khác như :
(1) Các mảnh nối (mối nối) dùng để liên kết than lò nung lại với
(2) Các anot, các điện cực lưới và tấm chắn cho các đèn điện tử
chỉnh lưu.
(3) Các điện trở đốt nóng, có dạng que, thanh, v.v ..., cho nhiều loại
thiết bị đốt nóng khác nhau.
(4) Các đĩa và các tấm điện trở dùng trong các bộ điều chỉnh điện áp
tự động.
(5) Các tiếp xúc hoặc các điện cực carbon khác.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Graphit hoặc carbon khác dưới dạng bột hoặc hạt (Chương 38).
(b) Các điện trở than (nhóm 85.33).
85.46 - Vật cách điện làm bằng vật liệu bất kỳ.
8546.10 - Bằng thuỷ tinh
8546.20 - Bằng gốm, sứ
8546.90 - Loại khác
Vật cách điện thuộc nhóm này được dùng để cố định, đỡ hoặc dẫn hướng
các dây dẫn điện, đồng thời cách ly chúng về điện với các dây dẫn khác
hoặc với đất, v.v.... Nhóm này không bao gồm các bộ phận cách điện để
gắn (trừ vật cách điện) cho máy, thiết bị hoặc đồ dùng điện; các bộ phận
lắp ráp này được xếp vào nhóm 85.47 nếu chúng bao gồm toàn bộ vật
liệu cách điện (trừ bất kỳ chi tiết nhỏ nào bằng kim loại được gắn trong
suốt quá trình đúc chỉ nhằm cho mục đích lắp ráp).
Thường có mối liên hệ giữa kích thước của vật cách điện và điện áp
(kích thước lớn khi điện áp cao, kích thước nhỏ hơn khi điện áp thấp).
Tương tự như vậy, hình dạng của nhiều kiểu vật liệu cách điện bị ảnh
hưởng bởi các điều kiện về điện, nhiệt và cơ. Bề mặt bên ngoài rất nhẵn
để ngăn không cho lắng đọng những chất dẫn điện như nước, muối, bụi,
oxit và khói. Vật cách điện thường có dạng chuông, dạng xếp nếp, hình
vại, hình trụ hoặc có dạng khác. Một số loại có cấu trúc theo cách mà khi
ở trong vị trí, chúng có thể chứa dầu để ngăn sự nhiễm bẩn bề mặt bởi
vật liệu dẫn điện.
Vật cách điện có thể được làm từ bất kỳ vật liệu cách điện nào, thường
rất cứng và không xốp, ví dụ, vật liệu gốm (sứ, steatite), thuỷ tinh, bazan
nóng chảy, cao su cứng, plastic hoặc vật liệu cách điện tổng hợp. Chúng
có thể gồm những thiết bị gắn cố định (ví dụ, công son kim loại, đinh vít,
bu lông, kẹp, dây buộc, dây móc, chốt, mẫu chữ thập, đầu bọc, que, kìm
để treo hoặc móc). Vật cách điện có gắn các sừng kim loại hoặc các tấm
bảo vệ hoặc các bộ phận khác tạo thành thiết bị chống sét bị loại trừ
(nhóm 85.35).
Vật liệu cách điện được dùng cho các cáp lộ thiên, ví dụ, trong hệ thống
viễn thông, hệ thống điện, hệ thống truyền động bằng điện (tầu hoả, tàu
điện, xe điện, ....), và cũng cho các hệ thống lắp đặt trong nhà hoặc cho
máy và thiết bị điện nhất định.
Các vật cách điện thuộc nhóm này bao gồm :
(A) Vật cách điện treo, chẳng hạn :
(1) Các vật cách điện kiểu chuỗi treo. Chúng được dùng chủ yếu
cho các hệ thống ngoài trời và có nhiều phần tử cách điện. Dây
hoặc cáp dẫn điện được gắn cố định tại cuối mỗi điểm lắp đặt,
được treo trên một thiết bị đỡ phù hợp (tay cột, cáp treo,..).
Chúng gồm cả các cách điện kiểu chụp hoặc nắp, cách điện kiểu
vại kép, kiểu xích liên tục; kiểu thanh nối.
(2) Các vật cách điện treo khác (ví dụ, dưới dạng cầu, chuông,
ròng rọc, v.v... ) dùng cho những đuờng dây trên không ứng
dụng vào tàu hoả, xe điện, cần trục,..., hoặc cho ăng ten.
(B) Các vật cách điện cứng.
Loại này có thể được gắn với giá đỡ (ví dụ, móc kim loại, chốt hoặc
tương tự); hoặc chúng có thể không gắn kèm thiết bị đỡ, nhưng
được thiết kế ra để gắn vào các cột điện hoặc các cột điện báo,...,
hoặc gắn vào tường, gắn trên trần, đặt dưới sàn nhà,...., bằng đinh,
vít, bulông,.... Các cách điện có gắn thiết bị đỡ cố định có thể được
tạo thành từ 2 hay nhiều bộ phận; các loại không có thiết bị đỡ
thường là những bộ đơn. Chúng có nhiều hình dạng khác nhau (ví
dụ, chuông, nón, trụ, nút ấn, ròng rọc).
(C) Các vật cách điện xuyên.
Được dùng để đưa dây hoặc cáp điện xuyên tường,.... Chúng
thường có nhiều dạng (ví dụ, dạng nón hoặc nón kép, dạng đĩa, dạng
măng sông, dạng ống và dạng ống bẻ)
Nhóm này không bao gồm ống dẫn dây điện và các khớp nối của chúng
được cách điện (nhóm 85.47).
85.47- Phụ kiện cách điện dùng cho máy điện, dụng cụ điện hay thiết
bị điện, được làm hoàn toàn bằng vật liệu cách điện trừ một
số phụ kiện thứ yếu bằng kim loại (ví dụ, phần ống có ren) đã
làm sẵn khi đúc chủ yếu để lắp, trừ cách điện thuộc nhóm
85.46; ống dẫn dây điện và các khớp nối của chúng, bằng kim
loại cơ bản được lót lớp vật liệu cách điện.
8547.10 - Phụ kiện cách điện bằng gốm sứ
8547.20 - Phụ kiện cách điện bằng plastic
8547.90 - Loại khác
(A) PHỤ KIỆN CÁCH ĐIỆN DÙNG CHO MÁY ĐIỆN, DỤNG CỤ
ĐIỆN HAY THIẾT BỊ ĐIỆN, ĐƯỢC LÀM HOÀN TOÀN BẰNG
VẬT LIỆU CÁCH ĐIỆN TRỪ MỘT SỐ PHỤ KIỆN THỨ YẾU
BẰNG KIM LOẠI (VÍ DỤ, PHẦN ỐNG CÓ REN) ĐÃ LÀM SẴN
KHI ĐÚC CHỦ YẾU ĐỂ LẮP, TRỪ CÁCH ĐIỆN THUỘC
NHÓM 85.46
Ngoại trừ các cách điện như vậy (nhóm 85.46), nhóm này bao gồm toàn bộ
các bộ phận dùng cho máy điện, dụng cụ điện hoặc thiết bị điện với điều kiện:
(i) Chúng hoàn toàn bằng vật cách điện hoặc hoàn toàn bằng chất
cách điện (như plastic) trừ những thành phần nhỏ bằng kim loại
(đinh vít, ổ có ren, măng sông, v.v...) được gắn vào trong quá
trình đúc chỉ cho mục tiêu lắp ráp.
và (ii) Chúng được thiết kế nhằm mục đích cách điện kể cả khi chúng có
thực hiện chức năng khác cùng lúc (ví dụ, bảo vệ).
Nói chung, các bộ phận thuộc nhóm này được chế tạo bằng cách đổ
khuôn hoặc đúc, hoặc bằng cưa, cắt hoặc bằng cách gia công khác trên
vật liệu thô. Chúng có thể được khoan, ren, xâu lỗ, tạo rãnh, v.v...
Chúng có thể làm từ bất kỳ vật liệu cách điện nào (ví dụ: thủy tinh, gốm,
steatit, cao su cứng, nhựa, giấy hoặc bìa thấm nhựa, ximăng amiăng hoặc
Những phụ kiện này mang hình dáng rất đa dạng. Nhóm này bao gồm,
không kể những cái khác, các tấm phủ, đế và các bộ phận khác của
chuyển mạch, cầu dao,….; đế và giá đỡ cho cầu chì; vòng đai và các bộ
phận khác cho đui đèn; khung của điện trở hoặc cuộn dây; các kẹp nối
và domino chưa gắn các đầu nối; lõi cuộn dây và dây quấn các loại;
thân bugi đánh lửa.
Nhóm này không bao gồm những phụ kiện, mặc dù được làm hoàn toàn
từ vật liệu cách điện (hoặc làm hoàn toàn từ vật liệu cách điện trừ các
thành phần nhỏ bằng kim loại được gắn vào trong quá trình đúc chỉ
nhằm mục đích lắp ráp), không có cấu trúc đặc biệt cho mục đích cách
điện, chẳng hạn các vỏ bọc, các tấm phủ và các tấm vách ngăn ắc quy
(nhóm 85.07).
(B) CÁC ỐNG DẪN DÂY ĐIỆN VÀ CÁC KHỚP NỐI CỦA
CHÚNG, BẰNG KIM LOẠI CƠ BẢN ĐƯỢC LÓT BÊN TRONG
BẰNG VẬT LIỆU CÁCH ĐIỆN
Nhóm này bao gồm ống kim loại dùng trong các hệ thống lắp đặt điện cố
định (ví dụ, các ống đi dây điện trong nhà) làm nhiệm vụ cách điện và
bảo vệ dây dẫn, với điều kiện chúng có một lớp lót bên trong bằng
vật liệu cách điện. Các ống kim loại không được cách điện, thường
được dùng với cùng mục đích thì bị loại trừ (Phần XV)
Những ống thuộc nhóm này có một dải kim loại cuốn hình xoắn ốc lên
ống bên trong làm bằng vật liệu cách điện hoặc là ống kim loại cứng
(thường bằng sắt hoặc bằng thép) được phủ hay lót một lớp vật liệu cách
điện vào bên trong. Vật liệu cách điện có thể là chất cách điện đặc biệt
như vecni, giấy hoặc bìa, cao su, nhựa.... Ống kim loại chỉ được phủ đơn
giản bằng vecni để tránh ăn mòn bị loại trừ (Phần XV).
Nhóm này cũng bao gồm các khớp nối được sử dụng để nối các ống của
nhóm này với điều kiện chúng cũng làm từ kim loại cơ bản và được phủ
hoặc lót với vật liệu cách điện (ví dụ, khớp thẳng, khuỷu nối, khớp chữ T
và chữ thập).
Các khớp nối chữ T, chữ thập, v.v..., gắn với các đầu nối điện bị loại trừ
(nhóm 85.35 hoặc 85.36).
Nhóm này cũng không bao gồm các ống làm toàn bộ bằng vật liệu cách
điện (ví dụ, cao su, plastic, sợi dệt tết hoặc sợi thuỷ tinh); chúng đựoc
phân loại tuỳ theo vật liệu cấu thành, trừ khi tạo thành một chất cách
điện thuộc nhóm 85.46.
85.48 - Các bộ phận điện của máy móc hoặc thiết bị, chưa được chi
tiết hoặc ghi ở nơi khác trong Chương này.
Nhóm này cũng bao gồm tất cả các bộ phận điện trong máy, hoặc thiết bị
trừ:
(a) Các bộ phận chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với máy móc hoặc thiết bị
cụ thể.
(b) Các bộ phận nằm trong nhóm trước của Chương này hoặc bị loại trừ
theo Chú giải 1 của Phần XVI.
Do đó nhóm này bao gồm các mặt hàng có thể nhận biết được là các bộ
phận điện của máy hoặc thiết bị, nhưng không phải là những bộ phận
của máy hoặc thiết bị cụ thể, và gắn với nối điện, các phần cách điện,
các cuộn dây, các tiếp điểm hoặc các yếu tố điện đặc biệt khác.
85.49 - Phế liệu và phế thải điện và điện tử (+).
⦁ Phế liệu và phế thải của các loại pin, bộ pin và ắc qui
điện; các loại pin, bộ pin và ắc qui điện đã sử dụng
hết:
8549.11 - - Phế liệu và phế thải của ắc qui axit chì; ắc qui axit
chì đã sử dụng hết
8549.12 - - Loại khác, có chứa chì, cađimi hoặc thủy ngân
8549.13 - - Được phân loại theo loại hóa chất và không chứa chì,
cađimi hoặc thủy ngân
8549.14 - - Chưa được phân loại và không chứa chì, cađimi hoặc
thủy ngân
8549.19 - - Loại khác
⦁ Loại được sử dụng chủ yếu để thu hồi kim loại quý:
8549.21 - - Chứa pin, bộ pin, ắc qui điện, công tắc thủy ngân,
thủy tinh từ ống tia ca-tốt hoặc thủy tinh hoạt hóa
khác, hoặc các thành phần điện hoặc điện tử có chứa
cađimi, thủy ngân, chì hoặc polychlorinated biphenyls
8549.29 - - Loại khác
⦁ Các cụm điện và điện tử đã lắp ráp và tấm mạch in
khác:
8549.31 - - Chứa pin, bộ pin, ắc qui điện, công tắc thủy ngân,
thủy tinh từ ống tia ca-tốt hoặc thủy tinh hoạt hóa
khác, hoặc các thành phần điện hoặc điện tử có chứa
cadmium, thủy ngân, chì hoặc polychlorinated
8549.39 - - Loại khác
⦁ Loại khác:
8549.91 - - Chứa pin, bộ pin, ắc qui điện, công tắc thủy ngân,
thủy tinh từ ống tia ca-tốt hoặc thủy tinh hoạt hóa
khác, hoặc các thành phần điện hoặc điện tử có chứa
cadmium, thủy ngân, chì hoặc polychlorinated
8549.99 - - Loại khác
Phế liệu và phế thải điện và điện tử (“rác điện tử”- e-waste) thuộc nhóm
này bao gồm nhiều loại hàng hóa, và bất kỳ hàng hóa nào có phích cắm
hoặc cần pin thường sẽ là rác thải điện tử khi hết vòng đời của chúng.
Rác điện tử theo mục đích của nhóm này là hàng hóa chỉ thích hợp cho
việc thu hồi, tái chế hoặc thải bỏ, chứ không phải để sửa chữa, tân trang,
cải tạo, tái sử dụng hoặc tái sử dụng theo mục đích khác để làm cho
chúng phù hợp với mục đích ban đầu hoặc cho mục đích sử dụng tiếp
theo. Hàng hóa chỉ đơn giản đã qua sử dụng là chưa đủ để trở thành rác
điện tử. Rác điện tử có thể còn nguyên vẹn về mặt vật lý (nhưng không
hoạt động được) hoặc ở tình trạng bị loại bỏ, chẳng hạn như bị vỡ, bị cắt
rời hoặc bị mòn hoặc bị phá hủy.
Rác điện tử bao gồm, nhưng không giới hạn ở:
(1) phế thải, phế liệu hoặc pin, bộ pin hoặc ắc quy điện đã qua sử dụng;
(2) điện tử dân dụng;
(3) thiết bị văn phòng, công nghệ thông tin và truyền thông;
(4) thiết bị gia dụng;
(5) dụng cụ điện;
(6) các bộ phận điện hoặc điện tử, bao gồm cả tấm mạch in.
Vì hàng hóa thuộc nhóm này không nhằm mục đích tái sử dụng dưới
dạng các mặt hàng riêng lẻ, nên chúng thường được vận chuyển với số
lượng lớn và thường được giao dịch theo trọng lượng hơn là theo số
lượng sản phẩm. Việc đóng gói hàng hóa từng sản phẩm để tránh hư
hỏng thường là dấu hiệu rằng chúng không nhằm mục đích thu hồi, tái
chế hoặc tiêu hủy, và hàng hóa được trình bày theo cách như vậy không
được phân loại là rác điện tử. Ví dụ, tivi, điện thoại di động hoặc pin
được bọc riêng trong bao bì bảo vệ và đóng hộp không được coi là lô
hàng rác điện tử.
Các lô hàng hỗn hợp gồm rác điện tử và các loại phế thải, phế liệu khác
vẫn được phân loại trong nhóm này.
Cụm từ “mục đích ban đầu” trong Chú giải 6 của Phần XVI, đề cập đến
việc sử dụng chức năng như một hàng hóa điện hoặc điện tử.
Nhóm này không bao gồm:
(a) chất thải phóng xạ (nhóm 28.44).
(b) rác thải đô thị chưa được phân loại (nhóm 38.25).
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Các phân nhóm từ 8549.11 đến 8549.19
Các phân nhóm này bao gồm phế liệu và phế thải của pin, bộ pin và ắc
quy điện thuộc nhóm 85.06 và 85.07, kể cả pin và bộ pin đã sử dụng hết
cũng như ắc quy điện đã sử dụng hết như được mô tả trong Chú giải
phân nhóm 5 của Chương này.
Theo mục đích của các phân nhóm này, các thuật ngữ “pin đã sử dụng
hết”, “bộ pin đã sử dụng hết” và “ắc quy điện đã sử dụng hết” có nghĩa là
các mặt hàng, dù còn nguyên vẹn về mặt vật lý hoặc ở tình trạng đã bị
loại bỏ, ví dụ, bị vỡ, bị cắt rời hoặc các dạng khác, bị mòn hoặc bị phá
hủy, chỉ phù hợp để thu hồi, tái chế hoặc thải bỏ hoặc, trong trường hợp
ắc quy điện đã qua sử dụng, không có khả năng nạp lại hoặc tích điện.
Các sản phẩm này thường từ: các nhà sản xuất pin, bộ pin và ắc qui điện;
những khách hàng mua đồ thải loại của các nhà sản xuất hoặc những
người thu gom và tháo dỡ các ắc qui điện hoặc thu gom pin và bộ pin.
Các lô hàng từ các nhà sản xuất pin có thể gồm cả những bản cực dương và
những bản cực âm với tỷ lệ khác nhau hoặc các chi tiết bán phần đã lắp ráp
(half-assembled elements) (ví dụ, các ống tạo thành từ một bản cực âm và
một bản cực dương được phân cách nhờ “vách ngăn” bằng vải và được
cuộn lại). Các ống có thể đã được lắp sẵn bên trong vỏ chứa hoặc lẫn với
các pin đã hoàn thiện nhưng bị lỗi không thể sử dụng được.
Các lô hàng do tháo dỡ hoặc cải tạo các pin cũ có thể chứa một hỗn hợp
các tấm điện cực dương và điện cực âm, có hoặc không có vách ngăn,
như các bộ, các tấm hoặc các ống.
Các pin, bộ pin và ắc quy đã sử dụng hết thường được xử lý để thu hồi
lại kim loại (chì, niken, cadimi, coban,...), các hợp chất kim loại, hoặc xỉ.
Các phân nhóm 8549.21 và 8549.29
Các phân nhóm này bao gồm rác điện tử có chứa kim loại quý hoặc hợp
chất của kim loại quý và thuộc loại được sử dụng chủ yếu để thu hồi các
kim loại quý này.
Các phân nhóm 8549.21, 8549.31 và 8549.91
Theo mục đích của các phân nhóm này, thuật ngữ “chứa pin, bộ pin, ắc
quy điện” có nghĩa là pin, bộ pin và ắc quy điện, đã sử dụng hết hay còn
hoạt động, và còn nguyên vẹn về mặt vật lý hoặc ở tình trạng đã bị loại
bỏ (ví dụ, bị vỡ, bị cắt rời, hoặc bị mòn hoặc bị phá hủy), được chứa
trong hoặc cùng với rác điện tử.