CHU GIAI 2022 CHUONG 85 1
Chương 85
Máy điện và thiết bị điện và các bộ phận của chúng; máy ghi và tái
tạo âm thanh, máy ghi và tái tạo hình ảnh và âm thanh truyền hình,
bộ phận và phụ kiện của các loại máy trên
Chú giải.
1. Chương này không bao gồm:
(a) Chăn, đệm giường, bao ủ chân hoặc các sản phẩm tương tự sưởi ấm
bằng điện; quần áo, giày dép hoặc đệm lót tai hoặc các mặt hàng khác
được sưởi ấm bằng điện để mặc hoặc sử dụng cho người;
(b) Các sản phẩm thủy tinh thuộc nhóm 70.11;
(c) Máy và thiết bị của nhóm 84.86;
(d) Thiết bị hút chân không sử dụng trong lĩnh vực y tế, phẫu thuật, nha
khoa hoặc thú y (nhóm 90.18); hoặc
(e) Đồ nội thất được gia nhiệt bằng điện thuộc Chương 94.
2. Các nhóm từ 85.01 đến 85.04 không áp dụng cho các loại hàng hóa đã
mô tả trong các nhóm 85.11, 85.12, 85.40, 85.41 hoặc 85.42.
Tuy nhiên, thiết bị chỉnh lưu hồ quang thuỷ ngân vỏ kim loại vẫn được
xếp vào nhóm 85.04.
3. Theo mục đích của nhóm 85.07, khái niệm "ắc qui điện" bao gồm cả
các loại ắc qui có thành phần phụ trợ đóng góp vào chức năng lưu điện
và cấp điện hoặc bảo vệ ắc qui khỏi sự hư hại, như đầu nối điện, thiết bị
kiểm soát nhiệt độ (ví dụ, điện trở nhiệt) và thiết bị bảo vệ mạch điện.
Chúng cũng có thể gồm phần vỏ bảo vệ của hàng hóa mà trong đó chúng
được sử dụng.
4. Nhóm 85.09 chỉ gồm những máy cơ điện loại thông thường được sử
dụng cho mục đích gia dụng sau đây:
(a) Máy đánh bóng sàn, máy nghiền và trộn thực phẩm, và máy ép rau
hoặc quả, với trọng lượng bất kỳ;
(b) Các loại máy khác có trọng lượng không quá 20 kg.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm quạt hoặc nắp chụp hút tuần hoàn
gió hoặc thông gió có kèm theo quạt, có hoặc không lắp bộ phận lọc
(nhóm 84.14), máy làm khô quần áo bằng ly tâm (nhóm 84.21), máy rửa
bát đĩa (nhóm 84.22), máy giặt gia đình (nhóm 84.50), các loại máy cán
hoặc máy là khác (nhóm 84.20 hoặc 84.51), máy khâu (nhóm 84.52),
kéo điện (nhóm 84.67) hoặc các dụng cụ nhiệt điện (nhóm 85.16).
5. Theo mục đích của nhóm 85.17, thuật ngữ "điện thoại thông minh" có
nghĩa là điện thoại dùng cho mạng di động tế bào, được trang bị hệ điều
hành di động được thiết kế để thực hiện các chức năng của máy xử lý dữ
liệu tự động như tải xuống và chạy nhiều ứng dụng đồng thời, kể cả ứng
dụng của bên thứ ba, và có hoặc không tích hợp các tính năng khác như
camera kỹ thuật số và hệ thống hỗ trợ điều hướng.
6. Theo mục đích của nhóm 85.23:
(a) "Các thiết bị lưu trữ bền vững, thể rắn (sản phẩm lưu trữ bán dẫn
không bị xoá dữ liệu khi không còn nguồn điện cung cấp)" (ví dụ, “thẻ
nhớ flash (flash memory cards)” hoặc “thẻ lưu trữ điện tử flash (flash
electronic storage cards)”) là thiết bị lưu trữ gắn với đầu kết nối (đầu
cắm nối), có chứa trong cùng một vỏ một hoặc nhiều linh kiện nhớ flash
(ví dụ, “FLASH E2PROM”) dưới dạng mạch tích hợp lắp ghép trên tấm
mạch in. Chúng có thể gồm phần điều khiển dưới dạng mạch tích hợp và
phần tử thụ động riêng biệt, như tụ điện và điện trở;
(b) Khái niệm “thẻ thông minh” nghĩa là thẻ được gắn bên trong một
hoặc nhiều mạch điện tử tích hợp (bộ vi xử lý, bộ nhớ truy cập ngẫu
nhiên (RAM) hoặc bộ nhớ chỉ đọc (ROM)) ở dạng các chip. Các thẻ này
có thể bao gồm các tiếp điểm, dải từ tính hoặc ăng ten gắn bên trong
nhưng không chứa bất cứ phần tử chủ động hoặc thụ động nào khác.
7. Theo mục đích của nhóm 85.24, “mô-đun màn hình dẹt” dùng để chỉ
các thiết bị hoặc dụng cụ để hiển thị thông tin, được trang bị tối thiểu
một màn hiển thị, được thiết kế để lắp vào các sản phẩm thuộc các nhóm
khác trước khi sử dụng. Màn hình hiển thị cho các mô-đun màn hình dẹt
bao gồm, nhưng không giới hạn ở dạng dẹt, cong, linh hoạt, ở dạng có
thể gập lại hoặc co giãn. Mô-đun màn hình dẹt có thể kết hợp thêm các
chi tiết, bao gồm cả những chi tiết cần thiết để nhận tín hiệu video và
phân bổ các tín hiệu đó đến các điểm ảnh trên màn hiển thị. Tuy nhiên,
nhóm 85.24 không bao gồm các mô-đun hiển thị được trang bị các thành
phần để chuyển đổi tín hiệu video (ví dụ, IC điều chỉnh tỷ lệ, IC giải mã
hoặc bộ xử lý ứng dụng) hoặc mang đặc tính của hàng hóa thuộc các
nhóm khác.
Để phân loại mô-đun màn hình dẹt được định nghĩa trong Chú giải này,
nhóm 85.24 sẽ được ưu tiên hơn bất kỳ nhóm nào khác trong Danh mục.
8. Theo mục đích của nhóm 85.34 “mạch in” là mạch được tạo ra trên
một tấm cách điện bằng một quy trình in mạch nào đó (ví dụ, rập nổi,
mạ, khắc axit) hoặc bằng kỹ thuật tạo “mạch điện màng”, các phần tử
dẫn điện, các tiếp điểm hoặc các thành phần dùng cho mạch in khác (ví
dụ, cuộn cảm, điện trở, tụ điện) đơn lẻ hoặc được liên kết theo sơ đồ mẫu
đã thiết kế trước, trừ các phần tử có thể phát (tạo ra), chỉnh lưu, điều
biến hoặc khuếch đại tín hiệu điện (ví dụ, các phần tử bán dẫn).
Thuật ngữ “mạch in” không bao gồm mạch đã tổ hợp với các phần tử trừ
các phần tử đã được hình thành trong quá trình in mạch, và cũng không
bao gồm điện trở, tụ điện hoặc cuộn cảm đơn lẻ hoặc bố trí ghép nối
riêng biệt. Tuy nhiên, những mạch in này có thể gắn với phần tử kết nối
không qua quá trình in mạch.
Mạch điện màng mỏng hoặc dày bao gồm phần tử chủ động và thụ động
hợp thành trong cùng một qui trình công nghệ được phân loại trong
nhóm 85.42.
9. Theo mục đích của nhóm 85.36, “đầu nối dùng cho sợi quang, bó sợi
quang hoặc cáp quang” nghĩa là đầu nối chỉ dùng để ghép nối đối đầu
một cách cơ học các sợi quang trong hệ thống đường truyền kỹ thuật số.
Chúng không có chức năng khác, như khuếch đại, tái tạo hoặc biến đổi
tín hiệu.
10. Nhóm 85.37 không gồm các thiết bị không dây hồng ngoại dùng cho
điều khiển từ xa của máy thu truyền hình hoặc các thiết bị điện khác
(nhóm 85.43).
11. Theo mục đích của nhóm 85.39, khái niệm “nguồn sáng đi-ốt phát
quang (LED)” bao gồm:
(a) “Mô-đun đi-ốt phát quang (LED)” là nguồn sáng điện dựa trên các
đi-ốt phát quang (LED) được bố trí trong các mạch điện và chứa thêm
các phần tử như phần tử điện, cơ, nhiệt hoặc quang học. Chúng cũng
chứa các phần tử chủ động riêng biệt, phần tử thụ động riêng biệt, hoặc
các sản phẩm thuộc nhóm 85.36 hoặc 85.42 nhằm mục đích cung cấp
nguồn điện hoặc điều khiển nguồn điện. Mô-đun đi-ốt phát quang (LED)
không có đầu đèn được thiết kế để cho phép dễ dàng lắp đặt hoặc thay
thế trong đèn điện và đảm bảo tiếp xúc cơ và điện.
(b) “Đèn đi-ốt phát quang (LED)” là nguồn sáng điện gồm một hoặc
nhiều mô-đun LED có chứa thêm các phần tử như phần tử điện, cơ, nhiệt
hoặc quang học. Sự khác biệt giữa mô-đun đi-ốt phát quang (LED) và
bóng đèn đi-ốt phát quang (LED) là đèn (lamp) có đầu đèn được thiết kế
để cho phép dễ dàng lắp đặt hoặc thay thế trong đèn (luminaire) và đảm
bảo tiếp xúc cơ và điện.
12. Theo mục đích của nhóm 85.41 và 85.42:
(a) (i) “Thiết bị bán dẫn” là các thiết bị bán dẫn mà hoạt động của nó phụ
thuộc vào sự thay đổi của điện trở suất khi áp dụng điện trường hoặc các
bộ chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn.
Các thiết bị bán dẫn cũng có thể bao gồm nhiều phần tử được lắp ráp, có
hoặc không được trang bị các chức năng phụ trợ của thiết bị chủ động và
thụ động.
Theo mục đích của định nghĩa này, “Bộ chuyển đổi dựa trên chất bán
dẫn” là cảm biến dựa trên chất bán dẫn, bộ truyền động dựa trên chất bán
dẫn, bộ cộng hưởng dựa trên chất bán dẫn và bộ tạo dao động dựa trên
chất bán dẫn, là các loại thiết bị dựa trên chất bán dẫn riêng biệt, thực
hiện một chức năng theo bản chất của nó, có thể chuyển đổi bất kỳ loại
hiện tượng vật lý hoặc hóa học hoặc hoạt động nào thành tín hiệu điện
hoặc tín hiệu điện thành bất kỳ loại hiện tượng vật lý hoặc hoạt động
nào.
Tất cả các phần tử trong bộ chuyển đổi dựa trên chất bán dẫn được kết
hợp một cách không thể tách rời và cũng có thể bao gồm các vật liệu cần
thiết được gắn một cách không thể tách rời, nó đảm bảo cho cấu trúc
hoặc chức năng của chúng.
Các thuật ngữ sau đây có nghĩa là:
(1) “Dựa trên chất bán dẫn” có nghĩa là được chế tạo hoặc sản xuất trên
nền bán dẫn hoặc làm bằng vật liệu bán dẫn, được sản xuất bằng công
nghệ bán dẫn, trong đó chất nền hoặc vật liệu bán dẫn đóng vai trò quan
trọng và không thể thay thế đối với chức năng và hiệu suất của bộ
chuyển đổi và hoạt động của nó dựa trên các đặc tính bán dẫn bao gồm
các đặc tính vật lý, điện, hóa học và quang học.
(2) “Đại lượng vật lý hoặc đại lượng hóa học” liên quan đến các đại
lượng như áp suất, sóng âm thanh, gia tốc, rung, chuyển động, phương
hướng, sức căng, cường độ từ trường, cường độ điện trường, ánh sáng,
phóng xạ, độ ẩm, dòng chảy, nồng độ hóa chất…
(3) “Cảm biến dựa trên chất bán dẫn” là một loại thiết bị bán dẫn, bao
gồm các cấu trúc vi điện tử hoặc cấu trúc cơ khí được chế tạo trong khối
hoặc trên bề mặt chất bán dẫn và có chức năng dò tìm đại lượng vật lý
hoặc hóa học và chuyển đổi thành các tín hiệu điện nhờ vào kết quả của
sự thay đổi những thuộc tính điện hoặc sự dịch chuyển một cấu trúc cơ
khí.
(4) “Cơ cấu chấp hành dựa trên chất bán dẫn” là một loại thiết bị bán
dẫn, bao gồm các cấu trúc vi điện tử hoặc cấu trúc cơ khí được chế tạo
trong khối hoặc trên bề mặt chất bán dẫn và có chức năng chuyển đổi tín
hiệu điện thành chuyển động vật lý.
(5) “Thiết bị cộng hưởng dựa trên chất bán dẫn” là một loại thiết bị bán
dẫn, bao gồm các cấu trúc vi điện tử hoặc cấu trúc cơ khí được chế tạo
trong khối hoặc trên bề mặt chất bán dẫn và chúng có chức năng tạo ra
dao động điện hoặc dao động cơ với một tần số xác định trước phụ thuộc
vào hình dạng vật lý của các cấu trúc đó để đáp ứng với một đầu vào bên
ngoài.
(6) “Thiết bị dao động dựa trên chất bán dẫn” là một loại thiết bị bán
dẫn, bao gồm bao gồm các cấu trúc vi điện tử hoặc cấu trúc cơ khí được
chế tạo trong khối hoặc trên bề mặt chất bán dẫn và chúng có chức năng
tạo ra dao động điện hoặc dao động cơ với một tần số xác định trước phụ
thuộc vào hình dạng vật lý của các cấu trúc đó.
(ii) “Đi-ốt phát quang (LED)” là thiết bị bán dẫn dựa trên vật liệu bán
dẫn chuyển đổi năng lượng điện thành các tia có thể nhìn thấy, tia hồng
ngoại hoặc tia cực tím, có hoặc không kết nối điện với nhau và có hoặc
không kết hợp với đi-ốt bảo vệ. Đi-ốt phát quang (LED) thuộc nhóm
85.41 không kết hợp các phần tử với mục đích cung cấp nguồn hoặc điều
khiển nguồn;
(b) “Mạch điện tử tích hợp” là:
(i) Mạch tích hợp đơn khối trong đó các phần tử của mạch điện (đi-ốt,
tranzito, điện trở, tụ điện, cuộn cảm...) được tạo (chủ yếu) trong khối đó
và trên bề mặt của một vật liệu bán dẫn hoặc vật liệu bán dẫn kết hợp (ví
dụ, silic đã kích tạp, gali asenua, silic-germani, indi photphua) và ở dạng
liên kết chặt chẽ (không tách biệt);
(ii) Mạch tích hợp lai trong đó các phần tử thụ động (điện trở, tụ điện,
cuộn cảm...), được tạo thành từ công nghệ màng mỏng hoặc màng dày
và các phần tử chủ động (đi-ốt, tranzito, mạch tích hợp đơn khối ...),
được tạo thành nhờ công nghệ bán dẫn, các phần tử này được kết nối
không tách rời, bằng việc gắn kết với nhau hoặc bằng dây liên kết, trên
một tấm cách điện đơn (thủy tinh, gốm sứ...). Những mạch này cũng có
thể kể cả các linh kiện bố trí riêng biệt;
(iii) Mạch tích hợp đa chíp bao gồm hai hoặc nhiều mạch tích hợp đơn
khối gắn với nhau không tách rời, có hoặc không gắn một hoặc nhiều
tấm cách điện, có hoặc không có khung dây, nhưng không gắn phần tử
mạch chủ động hoặc thụ động khác.
(iv) Mạch tích hợp đa thành phần (MCOs): sự kết hợp một hoặc nhiều
mạch tích hợp đơn khối, lai hoặc đa chíp có ít nhất một trong những
thành phần sau: cảm biến, cơ cấu chấp hành, bộ dao động, bộ cộng
hưởng nền silic, hoặc kết hợp giữa chúng, hoặc các thành phần thực hiện
chức năng của hàng hóa thuộc nhóm 85.32, 85.33, 85.41, hoặc cuộn cảm
thuộc nhóm 85.04, được định hình với mọi mục đích thành một khối duy
nhất không thể tách rời giống một bảng mạch tích hợp, như thành phần
được lắp ráp trên tấm mạch in (PCB) hoặc trên vật mang khác, thông qua
việc kết nối các chân cắm, dây dẫn (leads), khớp nối cầu (balls), dải nối
(lands), mấu nối (bumps), hoặc đế/đệm nối (pads).
Theo mục đích của định nghĩa này:
1. “Thành phần” có thể riêng biệt, được chế tạo độc lập, sau đó được lắp
ráp lên mạch tích hợp đa thành phần (MCO), hoặc được tích hợp trong
những thành phần khác.
2. “Nền silic” nghĩa là được đặt trên một nền silic, hoặc được làm bằng
vật liệu silic, hoặc được chế tạo trên khuôn mạch tích hợp (integrated
3. (a) “Cảm biến nền silic” bao gồm những cấu trúc vi điện tử hoặc cấu
trúc cơ khí được chế tạo trong khối hoặc trên bề mặt bán dẫn và chúng
có chức năng dò tìm đại lượng vật lý hoặc đại lượng hóa học và chuyển
đổi thành những tín hiệu điện nhờ vào kết quả của sự thay đổi những
thuộc tính điện hoặc sự dịch chuyển một cấu trúc cơ khí. “Đại lượng vật
lý hoặc đại lượng hóa học” liên quan đến các đại lượng như áp suất,
sóng âm thanh, gia tốc, rung, chuyển động, phương hướng, sức căng,
cường độ từ trường, cường độ điện trường, ánh sáng, phóng xạ, độ ẩm,
dòng chảy, nồng độ hóa chất...
(b) “Cơ cấu chấp hành nền silic” bao gồm những cấu trúc vi điện tử và
cấu trúc cơ khí được chế tạo trong khối hoặc trên bề mặt chất bán dẫn và
chúng có chức năng chuyển đổi tín hiệu điện thành chuyển động vật lý.
(c) “Bộ cộng hưởng nền silic” là thành phần bao gồm những cấu trúc vi
điện tử hoặc cấu trúc cơ khí được chế tạo trong khối hoặc trên bề mặt
chất bán dẫn và chúng có chức năng tạo ra dao động điện hoặc dao động
cơ với một tần số xác định trước phụ thuộc vào hình dạng vật lý của các
cấu trúc đó để đáp ứng với một đầu vào bên ngoài.
(d) “Bộ dao động nền silic” là thành phần chủ động bao gồm những cấu
trúc vi điện tử hoặc cấu trúc cơ khí được chế tạo trong khối hoặc trên bề
mặt chất bán dẫn và chúng có chức năng tạo ra sự dao động điện hoặc
dao động cơ với một tần số xác định trước phụ thuộc vào hình dạng vật
lý của các cấu trúc đó.
Để phân loại những mặt hàng được định nghĩa trong Chú giải này, các
nhóm 85.41 và 85.42 được ưu tiên xem xét trước hết so với bất kỳ nhóm
nào khác trong Danh mục hàng hóa, trừ các mặt hàng thuộc nhóm 85.23.
Chú giải phân nhóm.
1. Phân nhóm 8525.81 chỉ bao gồm camera truyền hình, camera kỹ
thuật số và camera ghi hình ảnh tốc độ cao có một hoặc nhiều đặc
điểm sau:
⦁ tốc độ ghi trên 0,5 mm mỗi micro giây;
⦁ độ phân giải thời gian từ 50 nano giây trở xuống;
⦁ tốc độ khung hình trên 225.000 khung hình mỗi giây.
2. Đối với phân nhóm 8525.82, camera truyền hình, camera kỹ thuật số
và camera ghi hình ảnh được làm cứng bức xạ hoặc chịu bức xạ
được thiết kế hoặc được che chắn để có thể hoạt động trong môi
trường bức xạ cao. Các camera này được thiết kế để chịu được tổng
lượng bức xạ ít nhất là 50 × 103 Gy(silic) (5 × 106 RAD (silic)) mà
không bị suy giảm hoạt động.
3. Phân nhóm 8525.83 bao gồm camera truyền hình, camera kỹ thuật
số và camera ghi hình ảnh nhìn ban đêm sử dụng một ca-tốt quang
điện (photocathode) để chuyển đổi ánh sáng có sẵn thành các điện tử
(electrons), có thể được khuếch đại và chuyển đổi để mang lại hình
ảnh nhìn thấy được. Phân nhóm này loại trừ camera ảnh nhiệt
(thường thuộc phân nhóm 8525.89).
4. Phân nhóm 8527.12 chỉ gồm các loại máy cát sét có bộ khuếch đại
lắp sẵn, không có loa lắp sẵn, có khả năng hoạt động không cần
nguồn điện ngoài và kích thước không quá 170 mm x 100 mm x 45
5. Theo mục đích của phân nhóm 8549.11 đến 8549.19, “các loại pin,
bộ pin và ắc qui điện đã sử dụng hết” là các loại pin và ắc qui không
sử dụng được nữa do bị hỏng, bị vỡ, cắt phá, mòn hoặc do các
nguyên nhân khác, cũng không có khả năng nạp lại.
TỔNG QUÁT
(A) PHẠM VI VÀ CẤU TRÚC CỦA CHƯƠNG
Chương này bao gồm tất cả các máy móc và thiết bị điện, ngoại trừ:
(a) Các loại máy móc và thiết bị được mô tả ở Chương 84, chúng
vẫn được xếp ở chương 84 mặc dù chúng chạy bằng điện (xem
chú giải chi tiết tổng quát của chương 84).
và (b) Một số máy móc và thiết bị cụ thể được loại trừ khỏi Phần này
(xem chú giải chi tiết tổng quát phần XVI).
Trái với các quy tắc trong chương 84, các hàng hóa vẫn được phân loại ở
chương này dù nó được làm từ chất liệu bằng sứ hoặc bằng thuỷ tinh,
ngoại trừ các phần vỏ bóng đèn thuỷ tinh (kể cả bóng dạng bầu và dạng
ống) thuộc nhóm 70.11.
Chương này bao gồm :
(1) Máy móc và thiết bị để sản xuất, biến đổi hoặc lưu trữ điện năng, ví
dụ như máy phát điện, máy biến áp, v.v... (từ nhóm 85.01 đến
85.04) và các pin (nhóm 85.06) và ắc-quy (nhóm 85.07).
(2) Một số thiết bị gia dụng cụ thể (nhóm 85.09) và máy cạo, tông đơ và
dụng cụ loại bỏ râu, lông, tóc (nhóm 85.10).
(3) Các máy móc và thiết bị cụ thể có hoạt động phụ thuộc vào đặc tính
và hiệu ứng của điện, như các hiệu ứng điện-từ, đặc tính nhiệt, v.v...
(nhóm 85.05, 85.11 đến 85.18, 85.25 đến 85.31 và 85.43).
(4) Các thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh; các thiết bị ghi hoặc tái tạo
hình ảnh; bộ phận và phụ kiện của các thiết bị này (từ nhóm 85.19
đến 85.22).
(5) Các phương tiện ghi âm hoặc các phương tiện tương tự để ghi các
hiện tượng khác (bao gồm cả các phương tiện ghi hình ảnh, nhưng
ngoại trừ phim để tạo ảnh hoặc phim dùng trong điện ảnh của
Chương 37) (nhóm 85.23).
(6) Mô-đun màn hình dẹt (nhóm 85.24).
(7) Các mặt hàng điện loại thường không được sử dụng độc lập, nhưng
được thiết kế như những thành phần có chức năng cụ thể trong các
thiết bị điện,… ví dụ như tụ điện (nhóm 85.32), công tắc điện, cầu
chì, hộp đấu nối, v.v… (nhóm 85.35 hoặc 85.36), bóng đèn (nhóm
85.39), đèn điện tử và ống điện tử dùng nhiệt điện tử, v.v… (nhóm
85.40), các điốt, tranzito và các thiết bị bán dẫn tương tự (nhóm
85.41), điện cực than (nhóm 85.45).
(8) Một số sản phẩm và vật liệu dùng trong các dụng cụ và thiết bị điện
nhờ tính dẫn điện hoặc cách điện, chẳng hạn như dây điện cách điện
và phụ kiện của chúng (nhóm 85.44), vật liệu cách điện (nhóm
85.46), phụ kiện cách điện và các ống dẫn dây điện bằng kim loại đã
được lót vật liệu cách điện bên trong (nhóm 85.47).
Ngoài các thiết bị được nêu ở trên, Chương này cũng bao gồm các nam
châm vĩnh cửu, kể cả loại chưa được từ hóa và các nam châm vĩnh cửu
dùng làm dụng cụ giữ (nhóm 85.05).
Tuy nhiên, cũng phải chú ý rằng, Chương này chỉ bao gồm một số thiết
bị nhiệt điện nhất định như lò nung v.v… (nhóm 85.14), và các thiết bị
làm nóng không gian, và các thiết bị nhiệt gia dụng v.v... (nhóm 85.16).
Cũng phải chú ý thêm rằng một số mô đun nhớ điện tử (ví dụ SIMMs và
DIMMs), nó không thể được xem như sản phẩm của nhóm 85.23
hoặc mạch tích hợp đa thành phần (MCOs) của nhóm 85.42 (xem
Chú giải 12 (b) (iv) của Chương này), và không có chức năng riêng
biệt khác sẽ được phân loại bằng cách áp dụng Chú giải 2 Phần XVI
như sau:
(a) mô đun thích hợp để chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với các máy xử lý
dữ liệu tự động được phân loại vào nhóm 84.73 như bộ phận của
các máy này,
(b) mô đun thích hợp để chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với các máy cụ thể
khác hoặc với một số các máy móc trong cùng nhóm thì được phân
loại như bộ phận của máy hoặc nhóm máy đó, và
(c) trường hợp không thể xác định được công dụng chính thì các mô
đun này phân loại vào nhóm 85.48.
Tuy nhiên, nhìn chung các thiết bị nhiệt điện rơi vào chương khác (chủ
yếu ở Chương 84), ví dụ: nồi hơi tạo ra hơi nước và nồi hơi nước quá
nhiệt (nhóm 84.02), máy điều hòa không khí (nhóm 84.15), thiết bị
rang, chưng cất hay thiết bị khác của nhóm 84.19, các loại máy cán là
hay máy cán ép phẳng kiểu trục con lăn khác và các loại trục cán của
chúng (nhóm 84.20), máy ấp trứng gia cầm và thiết bị sưởi ấm gia cầm
mới nở (nhóm 84.36), các loại máy in nhãn có mục đích dùng chung cho
gỗ, lie, da… (nhóm 84.79) và thiết bị y khoa (nhóm 90.18).
(B) CÁC BỘ PHẬN
Liên quan đến các bộ phận nói chung, xem chú giải chi tiết tổng quát
Phần XVI
Các bộ phận không dùng điện của máy móc hoặc thiết bị trong Chương
này được phân loại như sau :
(i) Trên thực tế, rất nhiều bộ phận thuộc các sản phẩm của chương này
được phân loại vào chương khác (đặc biệt là Chương 84), ví dụ như
máy bơm và quạt (nhóm 84.13 hoặc 84.14), van, vòi v.v… (nhóm
84.81), vòng bi (nhóm 84.82), trục truyền động, bánh răng v.v…
(nhóm 84.83).
(ii) Các bộ phận không dùng điện khác thích hợp để chỉ dùng hoặc chủ
yếu dùng cho các máy hoặc thiết bị điện cụ thể... của Chương này
(hoặc với một số máy của cùng nhóm) thì được phân loại cùng với
máy đó (hoặc các máy đó), hoặc nếu phù hợp thì được xếp vào
nhóm 85.03, 85.22, 85.29 hoặc 85.38.
(iii) Các bộ phận không dùng điện khác xếp vào nhóm 84.87.
85.01 - Động cơ điện và máy phát điện (trừ tổ máy phát điện).
8501.10 - Động cơ có công suất không quá 37,5 W
8501.20 - Động cơ vạn năng một chiều/xoay chiều có công suất
trên 37,5 W
⦁ Động cơ một chiều khác; máy phát điện một chiều, trừ
máy phát quang điện:
8501.31 - - Công suất không quá 750 W
8501.32 - - Công suất trên 750 W nhưng không quá 75 kW
8501.33 - - Công suất trên 75 kW nhưng không quá 375 kW
8501.34 - - Công suất trên 375 kW
8501.40 - Động cơ xoay chiều khác, một pha
⦁ Động cơ điện xoay chiều khác, đa pha :
8501.51 - - Công suất không quá 750 W
8501.52 - - Công suất trên 750 W nhưng không quá 75 kW
8501.53 - - Công suất trên 75 kW
⦁ Máy phát điện xoay chiều (máy dao điện) :
8501.61 - - Công suất không quá 75 kVA
8501.62 - - Công suất trên 75 kVA nhưng không quá 375 kVA
8501.63 - - Công suất trên 375 kVA nhưng không quá 750 kVA
8501.64 - - Công suất trên 750 kVA
- Máy phát quang điện một chiều:
8501.71 - - Công suất không quá 50 W
8501.72 - - Công suất trên 50 W
8501.80 - Máy phát quang điện xoay chiều
(I) ĐỘNG CƠ ĐIỆN
Các động cơ điện là các loại máy chuyển điện năng sang cơ năng. Nhóm
này bao gồm các động cơ quay tròn và các động cơ tuyến tính.
(A) Các động cơ quay tròn sinh ra cơ năng ở dạng chuyển động xoay
tròn. Có nhiều chủng loại và kích cỡ khác nhau tuỳ theo việc chúng
được thiết kế để hoạt động
trên dòng một chiều hay xoay
chiều, cũng như theo công dụng mà chúng được thiết kế. Vỏ của
động cơ được chế tạo để phù hợp với môi trường mà nó hoạt động
(như chống bụi hoặc chống ẩm hoặc phòng nổ, động cơ vỏ mềm để
điều khiển dây đai, động cơ chịu được rung động mạnh).
Nhiều động cơ có thể gắn với 1 quạt hoặc thiết bị khác để làm mát
động cơ trong suốt quá trình hoạt động.
Ngoại trừ các động cơ khởi động sử dụng trong các động cơ đốt
trong (nhóm 85.11), nhóm này còn bao gồm tất cả các loại động cơ
điện, từ các động cơ công suất thấp sử dụng trong các dụng cụ đo,
đồng hồ, công tắc thời gian, máy khâu, đồ chơi... cho tới các động
cơ có công suất lớn, thí dụ như cho các máy cán,...
Các động cơ vẫn được xếp vào nhóm này ngay cả khi chúng được
gắn với puli, bánh răng, hoặc hộp số, hoặc với trục linh hoạt để vận
hành các dụng cụ cầm tay.
Nhóm này còn bao gồm các động cơ gắn ngoài, dùng làm động cơ
đẩy cho thuyền, xuồng, ở dạng một tổ hợp bao gồm một động cơ
điện, trục, cánh quạt và một bánh lái.
Động cơ đồng bộ dùng cho các chuyển động của đồng hồ được phân
loại ở đây ngay cả khi nó được gắn với bánh răng; tuy nhiên loại trừ
những động cơ đồng bộ như vậy mà đã được lắp ráp với hệ thống
truyền động của đồng hồ (nhóm 91.09)
(B) Động cơ tuyến tính, tạo ra cơ năng dưới dạng chuyển động tuyến tính.
Các động cơ cảm ứng tuyến tính cơ bản bao gồm một hoặc nhiều
các bộ phận sơ cấp của được làm từ mạch từ, thường được cán
mỏng (thành cụm các lớp từ tính), trên đó có bố trí các cuộn dây và
bộ phận thứ cấp thường có dạng là các tấm hoặc thanh dẫn bằng
đồng hay nhôm.
Những động cơ này tạo ra lực đẩy khi các bộ phận sơ cấp được
truyền động bằng cách cho dòng điện xoay chiều đi qua các bộ phận
thứ cấp. Hai bộ phận sơ cấp và thứ cấp được cách nhau bởi một khe
hở không khí, và lực điện động tạo nên sự chuyển động (một bộ
phận vẫn đang đứng im trong khi bộ phận kia chuyển động) được
thực hiện mà không có sự tiếp xúc về mặt cơ học.
Các đặc tính của động cơ cảm ứng tuyến tính sẽ thay đổi tuỳ thuộc
vào mục đích sử dụng mà chúng được thiết kế: tàu đệm từ (phần tử
sơ cấp được đặt trên tàu và nó sẽ kẹp chặt hai bên thanh ray (phần tử
thứ cấp) được gắn chặt xuống đường); thiết bị nâng hạ tải trọng lớn
(phần tử thứ cấp được đặt ngay sát phía dưới các bánh xe goòng di
chuyển trên một loạt các cuộn sơ cấp đặt giữa các thanh ray); băng
tải hoạt động trên cao (giá chuyển hướng được gắn với phẩn tử sơ
cấp chạy ngay sát phía dưới của phần tử thứ cấp); các thiết bị sắp
xếp vị trí sử dụng trong các nhà giữ xe, nhà kho (các phần tử thứ cấp
⦁ pallet chứa hàng được di chuyển vào vị trí bởi các phần tử sơ cấp
đặt dưới sàn), lĩnh vực điều khiển, ví dụ các bơm kiểu piston và các
van điện từ thông qua điều khiển các cuộn dây điện từ và ở đó trục
(phần thứ cấp) chuyển động tương ứng bên trong phần sơ cấp); phần
định vị trong các máy công cụ,v.v...
Các động cơ tuyến tính 1 chiều, hoạt động của chúng được thực hiện
nhờ sự tương tác giữa các nam châm điện với nhau hoặc giữa các
nam châm điện với các nam châm vĩnh cửu, chúng có thể được sử
dụng như các động cơ xoay chiều hoặc động cơ dao động (ví dụ như
trong các máy bơm kiểu tịnh tiến, trong bộ truyền động con thoi
trong máy dệt); động cơ bước (ví dụ như trong các cơ cấu chuyển
động nhỏ), v.v....
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Các động cơ secvo, được trình bày riêng lẻ, bao gồm chủ yếu là
một động cơ điện có gắn bộ giảm tốc độ và thiết bị truyền lực
(đòn bẩy,
ròng rọc...) được thiết kế để điều khiển các vị trí
khác nhau của một thiết bị điều tiết của nồi hơi, một lò nung
hoặc các thiết bị khác
(và có thể kết hợp với một bánh lái
điều khiển bằng tay dự phòng).
(2) Các cụm tự đồng bộ, bao gồm một Stato có 3 cuộn dây đặt
lệch 120 độ và một Rôto có một cuộn dây nối với hai vành trượt
được dùng từng cặp (truyền và tiếp nhận đồng bộ), chủ yếu
trong các thiết bị đo đạc từ xa hoặc hệ thống điều khiển từ xa.
(3) Thiết bị điều khiển van, bằng điện, bao gồm một động cơ điện
có gắn một bộ giảm tốc độ và một trục truyền động, trong một
số trường hợp cũng có thể có các thiết bị phụ đi kèm (bộ khởi
động, biến thế, tay lái vận hành ...) để vận hành đóng mở van.
(II) MÁY PHÁT ĐIỆN
Máy móc sản sinh điện năng từ nhiều nguồn năng lượng khác nhau (cơ
năng, năng lượng mặt trời...) được phân loại vào nhóm này, với điều
kiện là chúng không được mô tả cụ thể hơn ở bất kỳ một nhóm nào khác
trong danh mục.
Có hai loại máy phát điện chính là máy phát một chiều (dynamos) và
máy phát xoay chiều (alternators). Nhìn chung, cả hai đều có cấu tạo
gồm phần tĩnh (stator) được lắp ráp bên trong 1 vỏ, và một bộ phận
chuyển động quay (rotor) đặt bên trong stator và được gắn một trục
truyền động, trục này được kéo quay tròn bởi một lực bên ngoài. Máy
phát một chiều còn có thêm vành góp (vành đổi chiều), với các chi
tiết dẫn điện bằng đồng được lắp ráp trên trục rotor. Dòng điện sinh ra
được đưa qua hệ thống chổi than, thông qua các phiến góp trên vành
góp và được truyền ra mạch bên ngoài. Các máy phát xoay chiều hầu
hết đều không có chổi than và dòng điện phát ra được đưa trực tiếp ra
mạch bên ngoài. Trong một số kiểu máy phát điện xoay chiều khác,
dòng điện phát ra được đưa ra các vành trượt, đặt trên trục quay, và
được truyền ra bên ngoài thông qua hệ thống chổi than tiếp xúc với
các vành trượt này.
Stator thường bao gồm một hệ thống các nam châm điện từ, nhưng ở các
máy phát điện 1 chiều (máy phát ma-nhê-tô), sử dụng một hệ thống nam
châm vĩnh cửu. Rotor thường bao gồm hệ thống các cuộn dây được đặt
trong rãnh lõi sắt, người ta gọi hệ thống này là phần ứng. Trong một số
loại máy phát điện xoay chiều, phần quay là hệ thống từ trường.
Các máy phát điện có thể hoạt động bằng tay hoặc đạp chân nhưng thông
thường chúng được kéo bằng các nguồn lực sơ cấp (ví dụ tua bin thuỷ
lực, tua bin hơi, động cơ sức gió, máy hơi nước, động cơ đốt trong). Tuy
nhiên, nhóm này chỉ bao gồm các máy phát điện khi xuất trình không có
nguồn lực sơ cấp.
Nhóm này cũng bao gồm các máy phát quang điện, chúng bao gồm các
tấm tế bào quang điện kết hợp với các thiết bị khác, ví dụ như ắc quy, bộ
điều khiển điện tử (bộ ổn áp, nghịch lưu,...) cũng như các tấm hoặc các
mô-đun gắn các thiết bị đơn giản (ví dụ điôt để điều khiển chiều của
dòng điện), cho phép cung cấp điện năng trực tiếp, ví dụ cho động cơ
điện, một bình điện phân.
Trong các thiết bị này, điện năng được sản xuất bởi các pin mặt trời, các
pin mặt trời này chuyển trực tiếp quang năng thành năng lượng điện
(chuyển hoá quang điện).
Nhóm này bao gồm tất cả các loại máy phát điện kể cả gồm các máy
phát điện công suất lớn dùng cho nhà máy điện; các máy phát điện nhỏ
dùng kích từ cho các máy phát điện khác; các loại máy phát với các kích
thước và chủng loại khác nhau sử dụng để cấp nguồn điện cho nhiều
mục đích khác nhau (dùng trên tàu biển, trong các trang trại riêng lẻ
không kết nối với nguồn cấp điện ngoài, trong công nghiệp hóa chất để
điện phân, và trong tầu chạy động cơ diesel-điện).
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Trống hoặc con lăn kết hợp với mô tơ điện dùng cho băng tải hoặc
băng truyền (nhóm 84.31).
(b) Các động cơ rung và các thiết bị rung điện từ thuộc nhóm 84.79
(xem chú giải chi tiết nhóm 84.79).
(c) Các máy phát điện kết hợp với phần kéo sơ cấp (nhóm 85.02).
(d) Các máy phát điện cao thế (nhóm 85.04)
(e) Các pin và bộ pin (nhóm 85.06)
(f) Các máy phát (đinamô và xoay chiều) được sử dụng chung với động
cơ đốt trong, hoặc cho thiết bị phát ánh sáng hoặc thiết bị phát tín
hiệu dùng cho xe đạp hoặc xe có động cơ (nhóm 85.11 và 85.12
tương ứng).
(g) Các pin mặt trời, đã hoặc chưa lắp ráp thành môđun hoặc làm thành
dạng tấm nhưng không gắn với các linh kiện dù là đơn giản, nó cung
cấp năng lượng trực tiếp, ví dụ, cho động cơ, cho thiết bị điện phân
(nhóm 85.41).
(h) Các thiết bị điện, đôi khi cũng được biết như là máy phát mặc dù nó
không sản sinh ra năng lượng điện, ví dụ như máy phát các tín hiệu
(nhóm 85.43).
(ij) Các máy phát của Chương 90 chẳng hạn như máy phát tia X (nhóm
90.22); các máy phát được thiết kế cho mục đích trưng bày và
không thích hợp cho mục đích sử dụng khác (nhóm 90.23).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), các bộ phận của máy móc thuộc nhóm này được phân
loại vào nhóm 85.03.
85.02 - Tổ máy phát điện và máy biến đổi điện quay.
- Tổ máy phát điện với động cơ đốt trong kiểu piston
cháy do nén (động cơ diesel hoặc bán diesel).
8502.11 - - Công suất không quá 75 kVA
8502.12 - - Công suất trên 75 kVA nhưng không quá 375 kVA
8502.13 - - Công suất trên 375 kVA
8502.20 - Tổ máy phát điện với động cơ đốt trong kiểu piston đốt
cháy bằng tia lửa điện
⦁ Tổ máy phát điện khác:
8502.31 - - Chạy bằng sức gió
8502.39 - - Loại khác
8502.40 - Máy biến đổi điện quay
(I) CÁC TỔ MÁY PHÁT ĐIỆN
Thuật ngữ ‘các tổ máy phát điện’ được áp dụng vào tổ hợp một máy phát
điện và bất kỳ máy kéo sơ cấp ngoại trừ động cơ điện (ví dụ, tua-bin
thuỷ lực, tua-bin hơi nước, bánh xe gió, máy hơi nước, động cơ đốt
trong). Tổ máy phát điện bao gồm máy phát điện và phần kéo sơ cấp
được gắn với nhau (hoặc được thiết kế để gắn với nhau) thành một khối
hoặc được gắn trên một bệ chung (xem các chú giải chi tiết tổng quát
phần XVI), được phân loại ở đây với điều kiện chúng đi cùng nhau
(ngay cả khi chúng được đóng gói riêng rẽ vì mục đích vận chuyển).
Các tổ máy phát điện cho thiết bị hàn được phân loại trong nhóm này khi
hiện diện riêng rẽ, không có đầu kẹp que hàn hoặc thiết bị hàn. Tuy
nhiên, chúng được loại trừ (nhóm 85.15) khi mà hiện diện cùng đầu kẹp
que hàn hoặc thiết bị hàn.
(II) MÁY BIẾN ĐỔI ĐIỆN QUAY
Các máy loại này chủ yếu bao gồm một máy phát điện kết hợp một phần
kéo sơ cấp có động cơ điện, chúng được gắn cố định trên cùng một bệ,
dù trong các trường hợp cụ thể hai chức năng được kết hợp thành một tổ
hợp với những cuộn dây dùng chung. Chúng được dùng để biến đổi các
tính chất của dòng điện (biến đổi dòng điện xoay chiều thành dòng điện
một chiều hoặc ngược lại) hoặc để thay đổi các đặc tính cụ thể như là
điện áp, tần số hoặc pha của dòng xoay chiều (chẳng hạn tần số từ 50 lên
200 chu kỳ hoặc biến một dòng một pha thành ba pha). Loại máy biến
đổi quay khác (đôi khi gọi là máy biến thế quay) được sử dụng để biến
đổi dòng một chiều từ điện áp này sang điện áp khác.
BỘ PHẬN
Theo các quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của máy móc thuộc nhóm này được phân loại
vào nhóm 85.03.
85.03 - Các bộ phận chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho các loại máy
thuộc nhóm 85.01 hoặc 85.02.
Theo các quy tắc chung về việc phân loại các bộ phận (xem chú giải chi
tiết tổng quát phần XVI), nhóm này bao gồm các bộ phận của máy móc
nêu tại hai nhóm trước. Trong số các bộ phận nêu trên, có thể kể ra:
(1) Khung và hộp, sta-to, rô-to, các vành góp, các phiến đổi chiều,
các giá đỡ chổi than, các cuộn kích từ.
(2) Các lá thép kỹ thuật điện và các miếng thép ở hình dạng bất kỳ trừ
trường hợp hình vuông hoặc hình chữ nhật.
85.04 – Máy biến điện (máy biến áp và máy biến dòng), máy biến đổi
điện tĩnh (ví dụ, bộ chỉnh lưu) và cuộn cảm.
8504.10 - Chấn lưu dùng cho đèn phóng hoặc ống phóng.
⦁ Máy biến điện sử dụng điện môi lỏng:
8504.21 - - Có công suất danh định không quá 650 kVA
8504.22 - - Có công suất danh định trên 650 kVA nhưng không
quá 10.000 kVA
8504.23 - - Có công suất danh định trên 10.000 kVA
⦁ Máy biến điện khác:
8504.31 - - Có công suất danh định không quá 1 kVA
8504.32 - - Công suất danh định trên 1 kVA nhưng không quá 16
8504.33 - - Có công suất danh định trên 16 kVA nhưng không
quá 500 kVA
8504.34 - - Có công suất danh định trên 500 kVA
8504.40 - Máy biến đổi tĩnh điện
8504.50 - Cuộn cảm khác
8504.90 - Bộ phận
(I) CÁC MÁY BIẾN ĐIỆN
Các máy biến điện là các thiết bị, không có phần chuyển động, sử dụng
hiện tượng cảm ứng của hệ thống thiết lập trước hoặc có thể điều chỉnh
được, để biến đổi dòng điện xoay chiều này thành dòng điện xoay chiều
khác ở cấp điện áp, trở kháng… khác. Các thiết bị này thường bao gồm
hai hay nhiều cuộn dây cách điện được quấn nhiều vòng trên các lõi thép
kỹ thuật, mặc dù trong một vài trường hợp đặc biệt (ví dụ như các máy
biến đổi tần số vô tuyến) không có lõi từ, hoặc là lõi của nó được ép từ
bột sắt, ferrite… Một dòng điện xoay chiều ở trong một cuộn (dòng sơ
cấp) cảm ứng ra một dòng điện xoay chiều thường ở cường độ và điện
áp khác ở cuộn bên kia (dòng thứ cấp). Trong một số trường hợp (máy
biến áp tự ngẫu) chỉ có 1 cuộn dây, và cuộn dây này vừa làm nhiệm vụ
của cuộn sơ cấp vừa làm nhiệm vụ của cuộn thứ cấp. Còn đối với các
biến thế điện kiểu trụ bọc, có lớp vỏ sắt từ bao tròn máy biến áp.
Có những máy biến điện được thiết kế cho mục đích riêng biệt, ví dụ
như các máy biến áp thích ứng để phối hợp trở kháng tương ứng của
dòng điện này với dòng điện khác, máy biến đổi đo lường (máy biến
dòng hoặc biến áp, máy biến điện kết hợp) thường được sử dụng để điều
chỉnh mức điện áp hoặc cường độ dòng điện ở mức phù hợp với thiết bị
kết nối, ví dụ, thiết bị đo lường, công tơ điện, rơle bảo vệ.
Nhóm này cũng bao gồm tất cả các loại máy biến điện. Từ các chấn lưu
để điều khiển dòng qua đèn phóng hoặc ống phóng, các loại nhỏ được sử
dụng trong các thiết bị không dây, thiết bị đo lường, đồ chơi v.v… đến
các loại to được đặt trong các thùng dầu hoặc các thiết bị tản nhiệt, quạt,
… để làm mát. Các máy biến thế điện công suất lớn sử dụng trong các
nhà máy điện, trạm truyền tải, trạm phân phối hoặc các trạm phụ khác.
Tần số có thể thay đổi từ tần số cơ bản đến mức rất cao như tần số sóng
radio. Nhóm này bao gồm các thiết bị cân bằng mà làm giảm các nhiễu
điện từ bằng cách cân bằng cảm kháng trên đường dây đôi.
Công suất biểu kiến của máy biến thế điện được tính bằng kilovolt-
ampeme (kVA), được xác định ở đầu ra trong chế độ làm việc liên tục tại
mức điện áp làm việc ở cuộn thứ cấp (hoặc dòng điện định mức tương
ứng) và tần số định mức mà không vượt quá giới hạn nhiệt độ làm việc
cho phép.
Máy biến điện để hàn điện được phân loại trong nhóm này khi hiện diện
riêng rẽ, không có đầu kẹp que hàn hoặc thiết bị hàn. Tuy nhiên, chúng
được loại trừ (nhóm 85.15) khi mà hiện diện cùng đầu kẹp que hàn
hoặc thiết bị hàn.
Nhóm này cũng bao gồm các cuộn cảm, một dạng máy biến điện mà
trong đó sự gián đoạn hoặc dao động của dòng điện 1 chiều trong cuộn
sơ cấp sẽ cảm ứng ra dòng điện tương ứng bên cuộn thứ cấp. Chúng
được sử dụng để tăng điện áp, hoặc trường hợp ứng dụng trong điện
thoại, để tái tạo trong mạch thứ cấp một dòng dao động nhỏ tương ứng
với sự dao động được áp vào dòng một chiều ổn định ở cuộn sơ cấp.
Nhóm này cũng bao gồm tất cả các loại cuộn cảm, chỉ trừ loại thiết bị
đánh lửa dùng cho động cơ đốt trong (nhóm 85.11)
(II) CÁC THIẾT BỊ BIẾN ĐỔI TĨNH ĐIỆN
Các thiết bị trong nhóm này được sử dụng để biến đổi điện năng thành
dạng phù hợp cho mục đích sử dụng sau đó. Chứng được gắn với các
loại thiết bị biến đổi khác nhau (ví dụ như các van). Chúng cũng có thể
được gắn với các thiết bị phụ trợ khác (ví dụ như: các máy biến điện, các
cuộn cảm, các điện trở, các bộ điều chỉnh, v.v...). Hoạt động của chúng
dựa trên nguyên lý mà các phần tử biến đổi trạng thái luân phiên như
thiết bị bán dẫn và không bán dẫn
Trên thực tế thì các thiết bị này thường gắn với mạch bổ trợ dùng để
điều chỉnh điện áp của các dòng nhấp nhô thì không ảnh hưởng đến việc
phân loại trong nhóm này, cũng không ảnh hưởng đến việc phân loại
chúng ngay cả khi các thiết bị phụ trợ này được coi như thiết bị điều
chỉnh điện áp hoặc dòng điện.
Nhóm này gồm :
(A) Bộ chỉnh lưu, cho phép biến đổi dòng xoay chiều (một pha hay
nhiều pha) sang dòng điện một chiều, thường điện áp sau chỉnh lưu
có thay đổi so với trước đó.
(B) Thiết bị nghịch lưu cho phép biến đổi dòng điện một chiều sang
dòng xoay chiều.
(C) Thiết bị biến đổi dòng điện và tần số nguồn xoay chiều, cho phép
biến đổi một dòng xoay chiều (một pha hoặc nhiều pha) thành dòng
xoay chiều có tần số hoặc điện áp khác.
(D) Thiết bị biến đổi dòng điện một chiều, cho phép biến đổi một dòng
điện một chiều thành một dòng điện một chiều ở mức điện áp khác.
Các thiết bị biến đổi tĩnh điện có thể được phân chia theo các tiêu chí cơ
bản dưới đây theo các loại thiết bị biến đổi mà nó được gắn kèm:
(1) Thiết bị biến đổi bán dẫn, dựa trên nguyên lý dẫn điện một chiều
của tinh thể bán dẫn. Chúng bao gồm một linh kiện bán dẫn như là
yếu tố biến đổi và các thiết bị khác (ví dụ như cánh tản nhiệt, các
giải băng dẫn, thiết bị điều chỉnh, ổn áp, mạch điều khiển).
Các thiết bị này bao gồm:
(a) Bộ chỉnh lưu bán dẫn đơn tinh thể sử dụng thiết bị chứa tinh thể
silicon hoặc gec ma ni, như là yếu tố biến đổi (đi ốt, thyrystor,
(b) Bộ chỉnh lưu bán dẫn đa tinh thể sử dụng linh kiện kiểu đĩa sê lê
(2) Các thiết bị biến đổi, phóng điện khí, ví dụ:
(a) Bộ chỉnh lưu hồ quang thuỷ ngân. Các yếu tố biến đổi của chúng
gồm vỏ bằng thuỷ tinh, hoặc vỏ bằng kim loại đã hút chân
không và bao chứa ca tốt bằng thuỷ ngân và một hay nhiều a
nốt mà dòng điện chỉnh lưu sẽ đi qua. Chúng còn được gắn với
các bộ phận phụ, chẳng hạn để mồi, kích, tản nhiệt và các thiết
bị duy trì chân không.
Tuỳ theo cơ chế mồi, có hai cơ chế chỉnh lưu có thể được xác
định, đó là “excitron” (với tích điện a nốt) và “ignitron” (với bộ
phận đánh lửa).
(b) Các thiết bị chỉnh lưu kiểu nhiệt ion hoá với ca tốt nóng. Phần
biến đổi của nó (ví dụ thyratrong) là tương tự với thiết bị biến
đổi phóng điện hơi thủy ngân ngoại trừ nó chứa ca tốt nóng thay
vào vị trí của ca tốt thuỷ ngân.
(3) Thiết bị biến đổi sử dụng yếu tố biến đổi cơ học hoạt động dựa
trên truyền dẫn một chiều của những tiếp xúc khác nhau như là:
(a) Bộ chỉnh lưu tiếp xúc (ví dụ sử dụng trục cam) với một thiết bị
mà các tiếp xúc kim loại mở và đóng đồng bộ với tần số của
dòng điện xoay chiều được chỉnh lưu.
(b) Các bộ chỉnh lưu tua bin tia thuỷ ngân với tia thủy ngân quay
tròn đồng bộ với tần số của dòng điện xoay chiều mà nó chạm
vào một điểm tiếp xúc cố định.
(c) Các bộ chỉnh lưu kiểu rung trong đó một lưỡi kim loại mỏng dao
động tại tần số của dòng xoay chiều mà chạm vào một điểm tiếp
xúc mà ở đó dòng điện được lấy ra từ nguồn.
(4) Bộ chỉnh lưu kiểu điện phân, dựa trên nguyên lý có sự kết hợp của
một số sản phẩm cụ thể được sử dụng làm các điện cực trong sự kết
hợp với các chất lỏng cụ thể được sử dụng như chất điện phân sẽ chỉ
cho phép dòng điện chạy theo một chiều.
Các thiết bị biến đổi tĩnh điện có thể được sử dụng cho nhiều mục đích
khác nhau, ví dụ :
(1) Các thiết bị biến đổi nhằm cung cấp điện để điều khiển các máy tĩnh (cố
định) hoặc phương tiện kéo hoạt động bằng điện (ví dụ đầu máy xe lửa).
(2) Các thiết bị biến đổi cấp nguồn như các máy sạc ác quy (cơ bản bao
gồm một máy biến áp gắn với một cầu chỉnh lưu và các thiết bị điều
khiển dòng sạc), các thiết bị biến đổi dùng để mạ, điện phân, thiết bị
cấp nguồn dự phòng trong khi vận hành, thiết bị biến đổi dùng cho
các nguồn sử dụng dòng điện một chiều điện áp cao, các thiết bị
biến đổi dùng cho việc đốt nóng hoặc cấp dòng cho nam châm điện.
Cũng phân loại ở đây là các thiết bị biến đổi được gọi là "máy phát
điện áp cao" (chủ yếu cho thiết bị Radio, cho các ống phát, các ống
vi sóng, ống tia ion) chúng biến đổi dòng điện từ nguồn bất kỳ,
thông thường là các nguồn chính, thành nguồn một chiều điện áp
cao cần thiết để cung cấp cho các thiết bị được kết nối bằng phương
pháp chỉnh lưu, biến điện…
Nhóm này cũng bao gồm các nguồn ổn áp (thiết bị chỉnh lưu kết hợp với
thiết bị ổn áp) ví dụ các nguồn cấp liên tục cho các thiết bị điện tử.
Tuy nhiên, các máy phát cao áp (hay các máy biến điện) được thiết kế
đặc biệt cho các thiết bị phát phóng xạ thuộc nhóm 90.22. Cũng vậy, các
máy điều chỉnh điện áp tự động được xếp vào nhóm 90.32.
(III) CUỘN CẢM
Các thiết bị này bao gồm về căn bản là một cuộn dây đặt vào trong một
mạch điện xoay chiều mà tính từ cảm kháng của nó nhằm giới hạn hoặc
hạn chế dòng điện xoay chiều. Có nhiều loại cuộn kháng khác nhau, từ
các cuộn kháng nhỏ sử dụng trong mạch không dây, dụng cụ đo… đến
các cuộn kháng lớn thường được gắn vào bê tông sử dụng trong các
mạch nguồn (ví dụ dùng để hạn chế dòng điện khi có hiện tượng ngắn
mạch).
Các cuộn kháng, cuộn cảm thu được dưới dạng các cấu thành riêng qua
quá trình in cũng được xếp trong nhóm này.
Các cuộn lái tia sử dụng cho các ống phóng tia ca tốt được xếp vào
nhóm 85.40.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của hàng hóa thuộc nhóm này cũng được phân
loại ở đây. Trường hợp điển hình là trường hợp vỏ bình bằng kim loại
của bộ chỉnh lưu hồ quang hơi thủy ngân có hay không có bơm luôn
được phân loại như bộ phận.
Tuy nhiên phần lớn các thành phần điện của nhóm này sẽ được xếp
trong nhóm khác của Chương này, ví dụ:
(a) Các chuyển mạch của nhóm 85.36 (ví dụ chuyển mạch nhiều vị trí sử
dụng trong các máy biến áp).
(b) Các van và ống chỉnh lưu chân không hoặc hơi thủy ngân và các đèn
điện tử (ngoại trừ các vỏ bằng kim loại) và các đèn thyraton
(nhóm 85.40).
(c) Các đi ốt bán dẫn, transistor và thyristor (nhóm 85.41).
(d) Các sản phẩm của nhóm 85.42.
85.05 - Nam châm điện; nam châm vĩnh cửu và các mặt hàng được
dùng làm nam châm vĩnh cửu sau khi từ hóa; bàn cặp, giá kẹp
và các dụng cụ để giữ tương tự, hoạt động bằng nam châm điện
hoặc nam châm vĩnh cửu; các khớp nối, khớp ly hợp và phanh
hoạt động bằng điện từ; đầu nâng hoạt động bằng điện từ.
⦁ Nam châm vĩnh cửu và các mặt hàng được dùng làm
nam châm vĩnh cửu sau khi từ hóa:
8505.11 - - Bằng kim loại.
8505.19 - - Loại khác.
8505.20 - Các khớp nối, ly hợp và phanh hoạt động bằng điện từ
8505.90 - Loại khác, kể cả bộ phận
Nhóm này bao gồm các nam châm điện, các thiết bị điện từ này với mục
đích sử dụng riêng, được liệt kê trong danh mục của nhóm, các nam
châm vĩnh cửu và dụng cụ để giữ bằng nam châm vĩnh cửu.
(1) Nam châm điện
Các nam châm điện với hình dạng và kích thước đa dạng tuỳ theo
mục đích sử dụng. Chúng bao gồm chủ yếu là một cuộn dây dẫn
điện quấn quanh một lõi sắt mềm, có thể là một khối hoặc nhiều lớp
ghép lại. Dòng điện chạy trong cuộn dây tạo ra từ tính cho lõi mà từ
trường này sau đó sẽ tạo lực hút hoặc lực đẩy.
(2) Nam châm vĩnh cửu và các mặt hàng được dùng làm nam châm
vĩnh cửu sau khi từ hoá.
Các nam châm vĩnh cửu bao gồm các miếng thép cứng, bằng hợp
kim đặc biệt hoặc bằng các vật liệu khác (ví dụ Fe rít đơ be ri kết tụ
với nhựa hoặc cao su tổng hợp) mà nó đã được từ hoá thành nam
châm vĩnh cửu. Hình dạng của chúng được thiết kế đa dạng tuỳ theo
mục đích sử dụng. Để giảm sự tổn thất từ tính, các nam châm hình
móng ngựa thông thường gắn kèm với một thanh sắt (bộ kẹp) nối
hai cực. Các nam châm vĩnh cửu vẫn được phân loại ở đây cho dù
chúng dùng với mục đích gì, bao gồm cả các nam châm nhỏ được
dùng như đồ chơi.
Các mặt hàng được dùng làm nam châm vĩnh cửu sau khi được từ
hoá có thể được nhận biết qua hình dạng và thành phần của chúng,
thông thường là các khối hoặc đĩa bằng kim loại hoặc bằng quặng
ferrite (ví dụ ferrite barium).
(3) Mâm cặp, kẹp bằng nam châm điện hoặc bằng nam châm vĩnh
cửu và các thiết bị giữ tương tự.
Đây là các thiết bị nhiều loại mà trong đó các nam châm được sử
dụng để giữ cố định vật liệu trong khi chúng được gia công. Nhóm
này cũng bao gồm các thiết bị giữ dùng cho máy móc ngoài các máy
công cụ (ví dụ thiết bị từ tính để giữ các bản in trong các máy in).
(4) Các khớp nối và ly hợp điện từ.
Các thiết bị này gồm nhiều loại khác nhau. Một số loại bao gồm một
cuộn dây cố định quấn trên phần ứng di động, phần ứng này bị kéo
vào cuộn dây khi dòng điện đi qua và bị kéo ra bằng một lò xo khi
dòng điện bị ngắt. Nhóm này còn bao gồm các khớp nối điều tốc
hoạt động theo nguyên lý động cơ không đồng bộ.
(5) Phanh điện từ.
Những phanh này thường gồm các guốc hãm dưới ảnh hưởng của
điện từ, tác động lên thanh ray hoặc trên vành bánh xe. Những loại
khác hoạt động trên nguyên lý cảm ứng điện từ, một đĩa thép mềm
được gắn trên trục được phanh lại do tác dụng của dòng điện xoáy
được tạo ra bởi nam châm điện. Tuy nhiên, nhóm này không bao
gồm hệ thống phanh thuỷ lực hoặc khí nén cơ khí điều khiển bằng
các thiết bị điện từ.
(6) Đầu nâng hoạt động bằng điện từ.
Nhóm này bao gồm các nam châm điện, thường hình tròn, được sử
dụng để kết hợp với cần trục (ví dụ để nâng các đống sắt vụn). Một
số loại được thiết kế cho một mục đích đặc biệt (ví dụ trên các tàu
cứu hộ để thu hồi các miếng kim loại từ xác tàu).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của hàng hóa thuộc nhóm này cũng được phân
loại ở đây.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Fe rít từ tính có bổ sung thêm một chất gắn kết ở dạng bột hoặc dạng
viên (nhóm 38.24).
(b) Các nam châm điện, nam châm vĩnh cửu hoặc các thiết bị từ tính của
nhóm này, khi hiện diện cùng với máy, thiết bị, đồ chơi, trò chơi….
trong đó chúng đã được thiết kế để trở thành bộ phận (được phân loại
theo máy, thiết bị...).
(c) Những phương tiện để ghi từ tính, như các thẻ được làm từ các vật
liệu từ tính nhưng chưa từ hóa được ép giữa hai tấm nhựa và đặc biệt
được dùng để mở khóa từ (nhóm 85.23).
(d) Các nam châm điện được thiết kế để sử dụng cho bác sĩ mắt hoặc bác
sĩ phẫu thuật (nhóm 90.18).
85.06 - Pin và bộ pin (+).
8506.10 - Bằng dioxit mangan
8506.30 - Bằng oxit thủy ngân
8506.40 - Bằng oxit bạc
8506.50 - Bằng liti
8506.60 - Bằng kẽm-khí
8506.80 - Pin và bộ pin khác
8506.90 - Bộ phận
Các pin điện phát ra điện năng bằng các phản ứng hoá học.
Về cơ bản, pin sơ cấp gồm một vỏ chứa một chất điện phân kiềm hoặc
không phải kiềm (hiđrôxit kali hoặc hiđrôxit natri, clorua amôniac hoặc
hỗn hợp của clorua liti, clorua amôniac, clorua kẽm và nước), trong đó,
có hai điện cực được nhúng vào. A-nốt thông thường là kẽm, magie hoặc
liti, còn ca-tốt (điện cực khử cực) bằng, ví dụ, đi ô xit măng gan (trộn lẫn
với bột than), ô xit thuỷ ngân hoặc ô xit bạc. Trong các pin li ti, a-nốt
làm bằng li ti, còn ca-tốt làm bằng các chất như là clorua ti-ô-nin, đi-ô-
xit lưu huỳnh, đi ô xit măng gan, hoặc sun-phit sắt. Một điện phân khô
được sử dụng bởi độ hòa tan và phản ứng của liti trong dung dịch lỏng.
Trong pin sơ cấp kẽm khí, một điện phân kiềm hoặc trung tính thường
được sử dụng. Kẽm được dùng như a-nốt, còn ô xi khuếch tán vào trong
pin được dùng như là ca-tốt. Mỗi điện cực được cung cấp một đầu nối
hoặc được sắp xếp khác để nối với mạch điện bên ngoài. Đặc điểm chính
của pin sơ cấp là không sạc được hoặc sạc không hiệu quả.
Các pin sơ cấp được sử dụng để cấp nguồn cho nhiều mục đích khác
nhau (chuông điện, các thiết bị điện thoại, máy trợ thính, camera, đồng
hồ, máy tính bỏ túi, máy tạo nhịp tim, đài, đồ chơi, đèn xách tay, roi điện
để đuổi gia súc… ) Chúng có thể tập hợp lại thành một bộ pin, bằng cách
nối tiếp, song song hay kết hợp cả hai cách. Pin và bộ pin vẫn được phân
loại ở đây không cần xét đến mục đích sử dụng, (ví dụ, các pin mẫu, sử
dụng cho các phòng thí nghiệm, các pin này tạo ra một điện áp không
đổi chính xác thuộc nhóm này).
Các loại khác nhau của pin bao gồm:
(1) Các pin ướt, trong đó chất điện phân ở dạng lỏng, và rất dễ bị chảy.
Do vậy, pin ướt rất nhạy cảm với hướng đặt pin.
(2) Các pin khô trong đó chất điện phân được giữ cố định trong các vật
liệu thấm hút hoặc dạng gel (ví dụ trộn với một chất đóng rắn giống
như là thạch hoặc bột để tạo thành dạng nhão). Chất điện phân sử
dụng có thể là chất lỏng nhưng không chảy. Pin khô được sử dụng
chủ yếu trong các thiết bị cầm tay.
(3) Pin trơ hoặc pin dự trữ hoặc bộ pin mà phải cho nước hoặc phần
điện phân vào trước khi sử dụng, hoặc trong đó, chất điện phân phải
được làm nóng trước khi trở thành chất dẫn ion.
(4) Các pin nồng độ, chất điện phân ở các nồng độ khác nhau ở mỗi
điện cực.
Pin và bộ pin có thể được sản xuất dưới nhiều hình dạng và kích cỡ. Loại
phổ biến là loại có dạng hình trụ hoặc hình nút áo.
Các pin (ví dụ pin ướt và một vài pin trơ) thường được hiện diện mà
không có chất điện phân nhưng vẫn được phân loại ở đây.
Nhóm này không bao gồm các pin và bộ pin có thể sạc lại, thông
thường chứng được phân loại vào nhóm 85.07 như ắc quy điện.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú chi tiết giải tổng
quát phần XVI), nhóm này cũng bao gồm bộ phận của pin và bộ pin, kể
cả vỏ pin.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Phần đầu nối điện (nhóm 85.36).
(b) Pin mặt trời (nhóm 85.41)
(c) Điện cực cacbon (nhóm 85.45).
(d) Pin và bộ pin đã sử dụng hết và các chất phế liệu, phế thải của nó
(nhóm 85.49)
(e) Cặp nhiệt điện (ví dụ nhóm 85.03, 85.48, 90.33)
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Các phân nhóm 8506.10, 8506.30 và 8506.40
Mặt hàng được phân loại vào phân nhóm này được căn cứ vào thành
phần của ca-tốt (điện cực khử cực). Tuy nhiên, pin với ca-tốt bằng
đioxit mangan và a-nốt là liti được xếp vào phân nhóm 8506.50 như là
pin liti (xem chú giải chi tiết phân nhóm dưới đây).
Phân nhóm 8506.50
Pin được phân loại trong phân nhóm này được xác định bởi thành phần
của a-nốt.
85.07 - Ắc qui điện, kể cả tấm vách ngăn của nó, có hoặc không ở 85.07 - Electric accumulators, including separators therefor,
dạng hình chữ nhật (kể cả hình vuông).
8507.10 - Bằng axit - chì, loại dùng để khởi động động cơ piston
8507.20 - Ắc qui axit - chì khác
8507.30 - Bằng niken-cađimi
8507.50 - Bằng Nikel - hydrua kim loại
8507.60 - Bằng ion liti
8507.80 - Ắc qui khác
8507.90 - Bộ phận
Ắc quy điện (các pin sạc hoặc pin thứ cấp) được đặc trưng bởi các phản
ứng điện hóa học có thể đảo ngược dẫn đến ắc quy có thể nạp được.
Chúng được sử dụng để lưu trữ điện và cung cấp khi có yêu cầu. Dòng
điện một chiều đi qua ắc quy sản sinh biến đổi hóa học nhất định (sạc);
khi các đầu nối của ắc quy được nối với mạch bên ngoài thì các biến đổi
hóa chất này sẽ được đảo ngược và sinh ra dòng điện một chiều trong
mạch ngoài (xả). Chu kỳ sạc và xả này có thể được lặp đi lặp lại trong
suốt thời gian sử dụng ắc quy.
Các ắc quy về cơ bản bao gồm một hộp chứa chất điện phân mà trong đó
nhúng hai điện cực có được gắn chặt với đầu nối để dùng nối với mạch
ngoài. Trong nhiều trường hợp, hộp chứa chia thành các ngăn, mỗi ngăn
lại đóng vai trò là một ắc quy; những ngăn này thường được nối tiếp với
nhau để tạo ra mức điện áp cao hơn. Một loạt các ngăn khi được nối với
nhau được gọi là ắc quy. Một loạt các ắc quy cũng có thể được lắp ráp
trong một hộp lớn. Các ắc quy này có thể là loại khô hoặc ướt.
Các loại ắc qui chủ yếu là:
(1) Ắc qui axit chì, trong đó chất điện phân là a-xít sun-phu-ríc và các
điện cực chì dạng tấm hoặc lưới chì có bổ trợ vật liệu hoạt tính.
(2) Ắc qui kiềm, trong đó chất điện phân thông thường là hi-đrô-xít kali
hoặc hi-đrô-xít li-ti hoặc clorua thionyl và điện cực là, ví dụ:
(i) Điện cực dương làm từ Niken hoặc một hợp chất của niken và
điện cực âm làm từ sắt, cadimi hoặc hydride kim loại;
(ii) Điện cực đương làm từ oxit coban liti và điện cực âm làm từ
hỗn hợp graphite;
(iii) Điện cực dương làm từ cacbon và điện cực âm làm từ liti kim
loại hoặc hợp kim liti;
(iv) Điện cực dương làm từ oxit bạc và điện cực âm làm từ kẽm.
Các điện cực có thể bao gồm các tấm, lưới, que… đơn giản, hoặc các
lưới hoặc ống được bao phủ hay nhồi với một chất nhão đặc biệt của vật
liệu hoạt tính. Các hộp chứa dùng cho ắc quy chì thường làm bằng thủy
tinh hoặc, trong trường hợp ắc quy xe ô tô thì được đúc từ nhựa, cao su
cứng, hoặc vật liệu hỗn hợp. Trong các ắc quy cố định lớn, được gia cố
chì hoặc thủy tinh, hộp nhựa hoặc gỗ được sử dụng, trong hộp chứa cho
các ắc quy kiềm thường dùng sắt hoặc plastic. Ắc quy kiềm có thể có
kích thước hoặc hình dạng đặc biệt, được thiết kế để gắn vào các thiết bị
mà chúng là nguồn điện. Chúng có thể trong các hộp chống nước. Nhiều
ắc quy kiềm có thể có hình dạng bên ngoài của pin hoặc bộ pin của
nhóm 85.06.
Các ắc qui được sử dụng cho việc cung cấp dòng điện cho một số mục
đích, như, xe có động cơ, xe chạy trong sân gôn, xe nâng hàng, dụng cụ
cầm tay hoạt động bằng điện, điện thoại di động, máy xử lý dữ liệu tự
động xách tay, đèn xách tay.
Một vài ắc quy axit-chì được gắn với tỉ trọng kế dùng để đo tỉ trọng của
chất điện phân và chỉ báo mức độ làm việc của ắc quy một cách tương
đối.
Các ắc qui vẫn được phân loại vào nhóm này ngay cả khi chúng không
có chứa chất điện phân .
Ắc quy chứa một hoặc nhiều pin và mạch điện để nối các pin với nhau,
thường được nhắc đến như là “bộ nguồn ắc quy”, cũng thuộc nhóm này,
dù chúng có hay không bất kỳ thành phần bổ sung nào mà tạo nên chức
năng của ắc quy để lưu giữ và cung cấp năng lượng, hoặc bảo vệ khỏi bị
hư hại, như là các bộ nối điện, thiết bị điều khiển nhiệt độ, (ví dụ các
điện trở nhiệt) thiết bị bảo vệ mạch điện, và các vỏ bảo vệ. Chúng được
phân loại trong nhóm này ngay cả khi chúng được thiết kế sử dụng với
một dụng cụ đặc biệt.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), nhóm này còn bao gồm các bộ phận của ắc qui: thí dụ
như hộp đựng, vỏ bọc, các tấm và lưới bằng chì, được bao phủ với bột
nhão hay không; các vách ngăn bằng mọi vật liệu (trừ bằng cao su lưu
hoá không cứng hoặc bằng vật liệu dệt), kể cả các loại xuất hiện dưới
dạng tấm, bản phẳng đơn giản cắt theo hình chữ nhật (bao gồm cả hình
vuông), đáp ứng các đặc tính kỹ thuật rất chính xác (độ hổng, kích
thước...) và ở trạng thái sẵn sàng sử dụng được.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Phần đầu nối điện (nhóm 85.36).
(b) Ắc qui đã sử dụng hết và các chất phế liệu, phế thải của nó (nhóm
85.08 - Máy hút bụi.
⦁ Có động cơ điện gắn liền:
8508.11 - - Công suất không quá 1.500 W và có túi hứng bụi hay
đồ chứa khác với sức chứa không quá 20 lít
8508.19 - - Loại khác
8508.60 - Máy hút bụi loại khác
8508.70 - Bộ phận
Theo chú giải 1(d) chương 85, nhóm này bao gồm các máy hút bụi các
loại, dù có hay không là loại cầm tay, bao gồm cả máy hút bụi loại khô
và ướt, có hay không kèm theo đồ phụ trợ như chổi xoay, thiết bị làm
sạch thảm, đầu hút đa chức năng…
Máy hút bụi thực hiện 2 chức năng chính: hút các vật liệu, bao gồm cả
bụi bẩn, và lọc luồng không khí. Chức năng hút được thực hiện bởi một
tua bin cố định trực tiếp trên trục quay mô tơ, quay ở tốc độ cao. Bụi và
các thứ khác được thu lại vào bên trong hoặc một túi đựng rác bên ngoài
hoặc đồ chứa khác, luồng không khí hút vào và được lọc cũng được
dùng để làm mát mô tơ.
Nhóm này bao gồm cả, không kể những cái khác, máy hút bụi loại để
chải lông dùng cho ngựa hoặc gia súc khác.
Loại trừ khỏi nhóm này là các thiết bị làm sạch thảm bằng cách phun
chất lỏng làm sạch lên trên mặt thảm, dung dịch làm sạch sau đó được
hút ra mà không có sự kết hợp máy hút bụi khô hay ướt (nhóm 84.51
hoặc 85.09).
Nhóm này cũng loại trừ các thiết bị chân không loại được sử dụng trong
y tế, phẫu thuật, nha khoa và thú y khác (nhóm 90.18).
THIẾT BỊ ĐI KÈM CÙNG VỚI MẶT HÀNG CỦA NHÓM NÀY
Máy hút bụi của nhóm này có thể được đi kèm với các thiết bị phụ trợ
(phụ kiện) (cho việc chải, đánh bóng, phun thuốc diệt côn trùng…) hoặc
các bộ phận có thể thay đổi (thiết bị dùng hút thảm, chải quay, đầu hút
đa chức năng….). Các thiết bị này được phân loại ở đây cùng với các bộ
phận và phụ kiện đi kèm với máy hút bụi, với điều kiện chúng là loại
thường được sử dụng với máy hút bụi. Khi xuất trình riêng rẽ, chúng
được phân loại theo bản chất của mặt hàng.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của các máy nhóm này cũng được phân loại ở
đây.
85.09 - Thiết bị cơ điện gia dụng có động cơ điện gắn liền, trừ máy 85.09 - Electro-mechanical domestic appliances, with self-contained
hút bụi của nhóm 85.08.
8509.40 - Máy nghiền và trộn thức ăn; máy ép quả hay rau
8509.80 - Thiết bị khác
8509.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm một số các thiết bị điện gia dụng được tích hợp
động cơ điện. Thuật ngữ “thiết bị gia dụng” trong nhóm này có nghĩa là
các thiết bị thường được sử dụng trong gia đình. Các thiết bị này có thể
xác định, tùy theo từng loại, theo một hay nhiều chức năng đặc trưng
như kích thước tổng thể, thiết kế, công suất, thể tích. Tiêu chuẩn để đánh
giá các đặc trưng này là các thiết bị trong nhóm này phải hoạt động ở
mức không vượt quá nhu cầu sử dụng trong gia đình.
Theo các điều kiện loại trừ và các trường hợp hạn chế về trọng lượng
nêu trong Chú giải 4 của Chương, nhóm này bao gồm các thiết bị đáp
ứng đầy đủ các tiêu chí trên. Nhóm này không bao gồm các thiết bị điều
khiển bởi động cơ điện riêng (cho dù nó được điều khiển bằng các trục
linh hoạt, đai truyền tải hoặc thiết bị truyền dẫn khác), cũng không áp
dụng với các thiết bị tương tự sử dụng trong xây dựng và các thiết bị có
mục đích rõ ràng là chỉ dùng trong công nghiệp (ví dụ công nghiệp thực
phẩm, hút khói, thiết bị làm sạch máy hoặc làm sạch đường) ; nhìn
chung chúng được phân loại vào nhóm 82.10 hoặc chương 84.
Các thiết bị gia dụng ở trong nhóm này được chia làm 2 nhóm (xem chú
giải 4 của Chương):
(A) Một số giới hạn các hàng hóa được phân loại ở đây mà không
tính đến trọng lượng của nó.
Nhóm này chỉ bao gồm :
(1) Máy đánh bóng sàn (có hay không có chất đánh bóng đi kèm,
có hoặc không có các chi tiết làm nóng để làm chảy sáp).
(2) Máy xay và trộn thực phẩm, ví dụ, xay thịt, cá, rau, hoặc trái
cây; máy xay đa chức năng (dùng cho cà phê, gạo, lúa mạch,
đậu Hà Lan…); máy lắc sữa; máy trộn kem; máy trộn kem trái
cây; máy nhào trộn bột; máy đánh nước sốt mayonne; và các
máy xay và trộn tương tự khác (bao gồm cả các bộ phận có thể
thay lắp lẫn được, cũng có thể được sử dụng để cắt hoặc các
thao tác khác).
(3) Các máy ép trái cây, ép rau.
(B) Nhóm không hạn chế các thiết bị mà trọng lượng của chúng
không vượt quá 20kg.
Nhóm này bao gồm, không kể những cái khác:
(1) Máy chà sàn, cạo hoặc tẩy sàn, và các thiết bị dùng để hút nước
bẩn hoặc xà phòng sau khi cọ rửa sàn
(2) Các thiết bị để phun chất làm bóng lên sàn trước khi đánh bóng.
Thiết bị này thường được gắn với chi tiết làm nóng để làm chảy sáp.
(3) Các thiết bị hủy rác trong nhà bếp. Các thiết bị này được thiết kế
gắn kèm vào trong chậu rửa và được sử dụng để xay các chất thải
nhà bếp.
(4) Máy bóc vỏ, máy cắt miếng, máy cắt… dùng để cắt khoai tây
hoặc các loại rau khác.
(5) Máy cắt lát các loại (ví dụ, dùng cho thịt, xúc xích, thịt xông khói,
pho mát, bánh mỳ, trái cây hoặc rau).
(6) Máy mài và làm sạch dao.
(7) Bàn chải đánh răng chạy bằng điện.
(8) Các máy tạo ẩm và hút (khử) ẩm không khí.
CÁC THIẾT BỊ ĐƯỢC ĐI KÈM CÙNG VỚI MÁY MÓC CỦA
NHÓM NÀY
Nhiều thiết bị được liệt kê ở trên có thể được đi kèm cùng với các bộ
phận có thể thay thế lẫn nhau hoặc các thiết bị phụ trợ để làm cho chúng
phù hợp với nhiều mục đích. Ví dụ, máy trộn thực phẩm có thể được sử
dụng để cắt, nghiền, đánh, xay…; máy cắt lát với các thiết bị mài và dũa;
mày chà sàn với bộ bàn chải đánh bóng; máy cọ rửa sàn với bộ phun và
hút chất bẩn hoặc bọt xà phòng. Các thiết bị như vậy được phân loại ở
đây cùng với bộ phận và phụ kiện đi kèm cùng với nó, với điều kiện là
chúng thuộc chủng loại và số lượng thường được sử dụng với thiết bị đó.
Trọng lượng của bộ phận thay thế lẫn hoặc các thiết bị phụ trợ có thể
tháo rời không được tính tới khi xác định trọng lượng của thiết bị để xếp
vào nhóm này theo điều khoản đã nêu ở phần (B) bên trên.
Các thiết bị của nhóm này có thể được gắn trên đế ngoài, bánh xe hoặc
các thiết bị tương tự để dễ sử dụng.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của các máy nhóm này cũng được phân loại ở
đây.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các quạt gió hoặc quạt thông gió hoặc chụp hút có gắn quạt, đã hoặc
chưa gắn với thiết bị lọc (nhóm 84.14).
(b) Các tủ lạnh (nhóm 84.18).
(c) Các máy cán hoặc máy là khác (nhóm 84.20 hay 84.51).
(d) Các máy sấy khô quần áo bằng li tâm (nhóm 84.21) và các máy giặt
gia đình (nhóm 84.50).
(e) Các máy rửa bát đĩa (nhóm 84.22).
(f) Các máy cắt cỏ (nhóm 84.33).
(g) Các máy đánh kem tươi từ sữa (nhóm 84.34).
(h) Máy ép trái cây hoặc rau, máy nghiền và trộn thực phẩm, hoặc tương
tự, dùng trong công nghiệp hoặc thương mại, loại sử dụng trong nhà
hàng hoặc cơ sở tương tự (nhóm 84.35 hoặc 84.38 tương ứng)
(ij) Các dụng cụ để làm sạch thảm tại chỗ bằng cách phun trực tiếp dung
dịch chất lỏng làm sạch vào thảm, các dung dịch sau đó được hút ra,
được thiết kế để sử dụng trong các cơ sở (trừ loại dùng trong gia
đình) như khách sạn, nhà nghỉ, bệnh viện, văn phòng, nhà hàng và
trường học (nhóm 84.51)
(k) Các máy khâu (nhóm 84.52).
(l) Các thiết bị để cắt tóc (nhóm 85.10).
(m) Các thiết bị nhiệt điện gia dụng (nhóm 85.16).
(n) Các máy mát xa (nhóm 90.19).
85.10 - Máy cạo, tông đơ và các dụng cụ loại bỏ râu, lông, tóc, có
động cơ điện gắn liền.
8510.10 - Máy cạo
8510.20 - Tông đơ
8510.30 - Dụng cụ loại bỏ râu, lông, tóc
8510.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm các máy cạo và tông đơ điện có lắp kèm theo một
động cơ hay máy rung, được sử dụng cho người, hoặc để xén lông cừu
hoặc chải lông ngựa, cắt lông gia súc…
Trong các máy cạo điện (máy cạo khô), dao cắt quay hoặc cắt tịnh tiến
qua lại hoặc lưỡi dao trượt dọc bên trong một tấm được đục lỗ hoặc tạo
rãnh, do đó cắt những lông (tóc) nhô ra qua các lỗ và khe rãnh. Trong
trường hợp tông đơ, lưỡi dao cắt giống như một lược trượt qua lại trên
lược kim loại cố định do đó cắt tóc (lông) được cài giữa các răng của
lược. Tông đơ được hoạt động trên nguyên lý tương tự như dao cắt lông
cừu, bờm ngựa… nhưng khác nhau về kích cỡ.
Nhóm này cũng bao gồm các dụng cụ cơ điện để cắt lông (tóc) với động
cơ điện gắn trong; các thiết bị này, nắm lông (tóc) và nhổ đến tận gốc, có
thể hoạt động cùng với một con lăn rất nhỏ hay một trục xoắn kim loại
mà nó quay xung quanh chính trục của nó, hoặc một cái chắn, một đầu
nhổ lông và một bộ bánh nhổ lông.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của máy cạo điện, tông đơ hoặc dụng cụ loại
bỏ râu, lông, tóc cũng được phân loại ở đây. Chúng bao gồm, không kể
những cái khác, các đầu cắt, dao cắt, lưỡi dao và lưỡi lược.
Tông đơ được hoạt động bằng một trục linh hoạt điều khiển bởi một
động cơ điện riêng rẽ được phân loại ở nhóm 82.14, động cơ điện (có
hay không có trục linh hoạt) được phân loại ở nhóm 85.01.
85.11 - Thiết bị đánh lửa hoặc khởi động bằng điện loại dùng cho
động cơ đốt trong đốt cháy bằng tia lửa điện hoặc cháy do
nén (ví dụ, magneto đánh lửa, dynamo magneto, cuộn dây
đánh lửa, bugi đánh lửa và bugi sấy, động cơ khởi động);
máy phát điện (ví dụ, dynamo, alternator) và thiết bị ngắt
mạch loại được sử dụng cùng các động cơ nêu trên.
8511.10 - Bugi đánh lửa
8511.20 - Magneto đánh lửa; dynamo magneto; bánh đà từ tính
8511.30 - Bộ phân phối điện; cuộn dây đánh lửa
8511.40 - Động cơ khởi động và máy tổ hợp hai tính năng khởi
động và phát điện
8511.50 - Máy phát điện khác
8511.80 - Thiết bị khác
8511.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm các thiết bị khởi động điện hoặc thiết bị đánh lửa
điện và các thiết bị dùng cho các loại động cơ đốt trong (piston hoặc các
loại khác), hoặc được sử dụng cho động cơ ô tô, phương tiện bay, tàu
thủy, hoặc các dạng tương tự, hoặc các động cơ tĩnh. Nó cũng bao gồm
các máy phát và máy cắt điện được sử dụng kết hợp với các động cơ đốt
Nhóm này bao gồm :
(A) Các bugi đánh lửa.
Các bugi này bao gồm một cực điện cách điện trung tâm và một
(hoặc đa điểm) đã được gắn với thân. Thân bu gi được ren răng một
phần để lắp vào đầu xi lanh, và có một điểm nối ở đỉnh của cực giữa
để nối với nguồn điện. Khi một điện thế cao được cung cấp vào cực
giữa, một tia lửa sẽ phát sinh giữa điện cực và điểm hay đa điểm và
được sử dụng để đốt cháy hỗn hợp nổ trong xi lanh.
(B) Các magneto đánh lửa (kể cả các dynamo magneto).
Các dụng cụ này được dùng để cung cấp một điện áp cao cần thiết
để cung cấp cho bugi trong động cơ đốt trong; chúng được sử dụng
chủ yếu cho các động cơ xe đua, các máy kéo, các phương tiện bay,
tàu thuyền hoặc động cơ xe máy. Chúng gồm các loại chủ yếu sau:
(1) Các magneto có phần ứng xoay. Các magneto này kết hợp ở
dạng máy phát xoay chiều mà trong đó phần ứng được cuốn
bằng 1 cuộn dây sơ cấp điện áp thấp, quay giữa các cực của một
nam châm vĩnh cửu. Cuộn sơ cấp nối với một thiết bị đóng ngắt
và với một tụ điện, và sự đóng, ngắt đột ngột của dòng điện
trong cuộn dây này, làm phát sinh ra một điện áp cao ở cuộn thứ
cấp. Toàn bộ được lắp trên một vỏ, trên nắp vỏ có một cần phân
phối để cung cấp điện áp lần lượt cho các bugi.
(2) Các magneto có phần ứng cố định. Có hai loại. Trong cả hai
loại dây phần ứng, phần đóng ngắt và tụ điện là tĩnh; nhưng
trong đó có một loại là nam châm quay, trong khi đó ở loại còn
lại, nam châm cũng tĩnh và vật dẫn bằng thép mềm sẽ quay giữa
nam châm và cuộn dây phần ứng.
(3) Các dynamo magneto. Chúng kết hợp một magneto và một
dinamo trong một tổ hợp chung với một truyền động chung và
thường được sử dụng trên các xe gắn máy.
(C) Các bánh đà (bánh xe) từ tính.
Chúng bao gồm một bộ phận từ tính gắn vào bánh đà của động cơ
để tạo ra một dòng điện áp thấp để đánh lửa.
(D) Các bộ phân phối điện.
Các bộ này phân phối dòng đánh lửa cho các bugi lần lượt, và cũng
được liên kết với một bộ ngắt để đóng ngắt mạch trong cuộn dây
đánh lửa sơ cấp; cả hai chức năng được đồng bộ hóa với chu kỳ của
piston trong xi lanh được điều khiển bằng cơ cấu cam của động cơ.
(E) Các cuộn dây đánh lửa.
Chúng bao gồm các cuộn dây cảm ứng đặc biệt, thường bọc trong
một vỏ hình trụ. Bằng cách nối cuộn sơ cấp với một đóng ngắt tới ắc
quy, thì một điện áp cao sẽ sinh ra trong cuộn thứ cấp và được dẫn
đến bugi qua bộ phân phối điện.
Trong một vài hệ thống đánh lửa, một cuộn dây đánh lửa bugi kép
được nối trực tiếp với 2 bugi và cuộn dây phát ra tia lửa trong mỗi
bugi một cách đồng thời, với tia lửa từ một bugi sản sinh ra chu kỳ
nổ trong xi lanh và một tia lửa từ bugi khác không tác động đến
xilanh bởi nó đang ở thì xả. Hệ thống như vậy không đòi hỏi hệ
phân chia vì cuộn đánh lửa được nối trực tiếp với bugi. Trong hệ
thống này các cuộn dây được cấp điện bởi một mô-đun cuộn dây
điện tử (bán dẫn).
(F) Các động cơ khởi động.
Các thiết bị này là các động cơ điện nhỏ, thường là động cơ một
chiều kiểu cuốn. Chúng được gắn với một bánh răng nhỏ để có thể
chuyển động lên xuống một trục ren, hoặc khớp tạm thời với một số
thiết bị cơ khí khác để động cơ đốt trong được khởi động.
(G) Các máy phát điện (dynamo, alternator)
Chúng được điều khiển bằng động cơ, và sử dụng để sạc pin và
cung cấp dòng cho thiết bị phát sáng, tín hiệu, thiết bị nhiệt và các
thiết bị điện khác của xe có động cơ, máy bay… Máy phát điện
xoay chiều được sử dụng với một bộ chỉnh lưu.
(H) Cuộn tăng áp
Đây là những cuộn cảm ứng nhỏ được dùng chủ yếu trên các máy
bay, để cho các magneto có thể hoạt động khi tốc độ quay ở thời
điểm khởi động là quá thấp.
(IJ) Các bugi sấy nóng
Đây là loại tương tự như các bugi, nhưng thay vì các điện cực và các
điểm để tạo ra các tia lửa, chúng có một điện trở nhỏ nên khi dòng
điện đi qua, chúng được gia nhiệt. Chúng được sử dụng để làm nóng
không khí trong xi lanh của động cơ diesel trước và trong suốt quá
trình khởi động
(K) Các cuộn xông nóng
Đây là các bộ phận được lắp trong ống dẫn hút không khí của động
cơ điesel cho mục đích khởi động.
(L) Các thiết bị dynamo đóng cắt
Thiết bị này ngăn chặn việc dynamo hoạt động như một động cơ,
tiêu thụ nguồn ắc quy, khi mà động cơ tĩnh hoặc quay ở tốc độ thấp.
Các thiết bị này kết hợp với ổn áp hoặc một bộ ổn dòng trong cùng
một vỏ vẫn được phân loại ở đây. Bên cạnh việc bảo vệ pin và
dynamo, những thiết bị này đảm bảo giữ dòng điện không đổi hoặc
giới hạn cường độ của dòng điện này.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của các sản phẩm thuộc nhóm này cũng được
phân loại ở đây.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các khởi động động cơ sử dụng trong sân bay, trạm xe buýt…, để
khởi động động cơ đốt trong và bao gồm chủ yếu là máy biến thế và
bộ chỉnh lưu (nhóm 85.04).
(b) Các ắc qui điện (nhóm 85.07).
(c) Các dynamo cho xe đạp, chỉ dùng để chiếu sáng (nhóm 85.12).
85.12 - Thiết bị chiếu sáng hoặc thiết bị tín hiệu hoạt động bằng điện (trừ
loại thuộc nhóm 85.39), gạt nước, gạt và chống tạo sương và tuyết
trên kính chắn, loại dùng cho xe đạp hoặc xe có động cơ.
8512.10 - Thiết bị chiếu sáng hoặc tạo tín hiệu trực quan dùng
cho xe đạp
8512.20 - Thiết bị chiếu sáng hoặc tạo tín hiệu trực quan khác
8512.30 - Thiết bị tín hiệu âm thanh
8512.40 - Cái gạt nước, gạt và chống tạo sương và tuyết
8512.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm các thiết bị điện và các thiết bị chuyên dùng sử dụng
cho xe đạp hoặc xe có động cơ để phát ánh sáng hoặc phát tín hiệu. Tuy
nhiên, nhóm không bao gồm pin khô (nhóm 85.06), ắc quy điện (nhóm
85.07) hoặc các dynamo và các dynamo magneto của nhóm 85.11.
Nhóm này cũng bao gồm các gạt nước, gạt và chống tạo sương và tuyết
trên kính chắn hoạt động bằng điện của xe có động cơ.
Nhóm này bao gồm, không kể những cái khác:
(1) Các dynamo phát ra các dòng điện bằng bánh ma sát quay trên lốp
xe hoặc vành xe của một xe đạp, hoặc trong một vài trường hiếm,
của xe đạp có động cơ.
(2) Các hộp đựng ắc quy, gắn với công tắc, các đầu nối, các bộ phận
tiếp xúc… dùng cho đèn của xe đạp; các đèn hoạt động bằng ắc
quy được thiết kế để gắn trên xe đạp
(3) Đèn pha (headlamps) các loại bao gồm các đèn được gắn với các
thiết bị làm mờ hoặc thiết bị khúc xạ; đèn xe khuếch tán; đèn chống
sương mù; đèn rọi; đèn pha (search-lamps) loại sử dụng trong xe
cảnh sát hoặc loại tương tự (bao gồm cả các loại đã được gắn kèm
một dây cáp dài, có thể được sử dụng như đèn cầm tay hoặc có thể
được đặt ở trên đường).
(4) Đèn hông xe; đèn đuôi xe; đèn tín hiệu đỗ; đèn chiếu sáng biển
số xe.
(5) Đèn phanh, đèn chỉ hướng, đèn đảo chiều và loại tương tự.
(6) Sự kết hợp của một vài loại đèn nêu trên được lắp ráp chung
trong một vỏ.
(7) Đèn chiếu sáng nội thất, như là đèn mái vòm, đèn tường, đèn chỉ lối
đi, đèn cho khung cửa và đèn cho bảng điều khiển.
(8) Đèn báo hiệu vượt (đôi khi có tế bào quang điện), tự động truyền
cho lái xe một tín hiệu cho lái xe biết có một xe vượt qua.
(9) Các thiết bị điện phát tín hiệu trực quan khác, ví dụ biển tam giác
phản quang cho rơ-móc, các tín hiệu phát quang (của kiểu ụ xoay
tròn hoặc kiểu “thanh sáng”) dùng cho tắc xi, xe cảnh sát, xe chữa
cháy...
(10) Các thiết bị đỗ xe được hoạt động bằng cảm biến bên ngoài mà khi
xe chạm vào lề đường hoặc vật thể khác, tạo ra ánh sáng hoặc tín
hiệu để cảnh báo người lái xe.
(11) Thiết bị cảnh báo chống trộm mà phát ra tín hiệu hình ảnh hoặc
âm thanh để cảnh báo ý định đột nhập vào xe.
(12) Còi, còi báo hiệu và các thiết bị báo tín hiệu âm thanh bằng điện
khác.
(13) Thiết bị điện phát ra tín hiệu âm thanh để cảnh báo người lái xe
khi có sự tiến gần của xe khác hoặc các vật khác phía sau xe khi xe
lùi. Các thiết bị này thường sử dụng cảm biến siêu âm và bộ điều
khiển điện tử, máy rung âm hoặc thiết bị phát tiếng “bíp” và dây
điện để nối.
(14) Các thiết bị điện sử dụng trong xe có động cơ để cảnh báo người
lái xe bằng tín hiệu hình ảnh hoặc âm thanh, một thiết bị phát hiện
tốc độ, như là súng rada hoặc súng laze đang hoạt động trong vùng
lân cận của xe đó.
(15) Cần gạt nước, bao gồm cần gạt nước kép, được điều khiển bằng
một động cơ điện.
(16) Gạt và chống tạo sương và tuyết. Chúng bao gồm một dây điện
trở được lồng vào trong khung để gắn vào kính chắn gió.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của các hàng hóa thuộc nhóm này cũng được
phân loại ở đây.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các gương xe bằng thuỷ tinh (nhóm 70.14)
(b) Máy hoặc thiết bị điều hòa không khí (nhóm 84.15).
(c) Bộ tăng âm điện, bao gồm micrô, âm li, loa được dùng để truyền cho
lái xe các tiếng kêu cảnh báo hoặc âm thanh khác trên đường phía
sau rơ-móc của xe kéo (nhóm 85.18).
(d) Bảng, panel và các loại khác, được lắp với hai hay nhiều hơn các
thiết bị của nhóm 85.36 (ví dụ, lắp ráp các thiết bị chuyển mạch để
gắn trên tay lái) (nhóm 85.37).
(e) Các đèn điện, bộ đèn gắn kín nhóm 85.39.
(f) Các dây và cáp cách điện, có hay không được cắt theo chiều dài hoặc
gắn với đầu nối hoặc làm thành bộ (ví dụ, bộ dây đánh lửa) (nhóm
(g) Các thiết bị sưởi ấm xe hơi không hoạt động bằng điện mà cũng hoạt
động như thiết bị gạt và chống tạo sương, tuyết (nhóm 73.22 hay
85.13 - Đèn điện xách tay được thiết kế để hoạt động bằng nguồn
năng lượng riêng của nó (ví dụ, pin khô, ắc qui, magneto), trừ
thiết bị chiếu sáng thuộc nhóm 85.12.
8513.10 - Đèn
8513.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm các đèn điện xách tay, được thiết kế để hoạt động
bằng nguồn điện chứa trong cùng vỏ (như pin khô, ắc quy, magneto).
Chúng gồm hai phần (đèn tương thích và nguồn điện) chúng thường
được gắn và nối trực tiếp với nhau, thường trong cùng một vỏ. Tuy
nhiên, trong một số loại, các yếu tố này được xếp riêng rẽ và được nối
bằng dây dẫn điện.
Thuật ngữ “đèn xách tay” chỉ đề cập đến các loại đèn (bao gồm cả đèn
và phần cung cấp điện cho nó), được thiết kế để sử dụng khi xách tay
hoặc mang theo người, hoặc được thiết kế để gắn với các đồ vật có thể
cầm tay. Chúng thường có tay cầm hoặc các thiết bị để buộc và có thể
được nhận biết bởi hình dáng đặc biệt và trọng lượng nhẹ của nó. Do đó,
khái niệm này không bao gồm thiết bị chiếu sáng cho xe có động cơ
hoặc xe đạp (nhóm 85.12), và đèn được nối với một bộ gá cố định
(nhóm 94.05).
Đèn của nhóm này bao gồm:
(1) Các đèn bỏ túi. Một số (đèn dynamo) được hoạt động bằng
magneto, điều khiển bằng tay bởi một lò xo đòn bẩy.
(2) Các đèn cầm tay khác (bao gồm các loại có điều chỉnh tia). Đèn
cầm tay thường được gắn với các thiết bị đơn giản để treo tạm thời
trên tường,…, trong khi các đèn khác được thiết kế để đặt trên mặt
đất.
(3) Đèn, đèn pin, đèn flash ở dạng bút, thường gắn với một cái ghim
kẹp để đảm bảo đèn không rơi khỏi túi khi không sử dụng.
(4) Đèn tín hiệu mật mã morse.
(5) Đèn an toàn thợ mỏ; thiết bị chiếu sáng thường được thiết kế để gắn
với mũ của thợ mỏ trong khi phần nguồn điện (ắc quy) thường được
gắn trên đai thắt lưng.
(6) Đèn kiểm tra có công dụng chung, gắn cố định với một dải băng
đầu (nó thường bao gồm một dải cong bằng kim loại). Những đèn
này chỉ được phân loại ở đây nếu chúng có nguồn điện riêng của
chúng (ví dụ pin khô trong túi của người sử dụng). Đèn của nhóm
này được sử dụng bởi các bác sỹ, thợ sửa đồng hồ, thợ kim hoàn…
Đèn chuyên dùng cho y tế (ví dụ khám họng, khám tai) thì bị loại
trừ (nhóm 90.18).
(7) Đèn pin dạng đặc biệt có hình dạng súng, thỏi son… Sản phẩm hỗn
hợp bao gồm một đèn hoặc đuốc và một bút, tuốc nơ vít, vòng chìa
khóa… chỉ được phân loại ở đây nếu chức năng chính của nó là cấp
ánh sáng.
(8) Đèn đọc sách lắp với một kẹp hoặc tương tự để gắn vào sách hoặc
tạp chí
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của đèn thuộc nhóm này cũng được phân loại ở
đây.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Đèn flash của máy ảnh (nhóm 90.06).
(b) Con trỏ laze kết hợp với một điot laze (nhóm 90.13).
85.14 - Lò luyện, nung và lò sấy điện dùng trong công nghiệp hoặc
trong phòng thí nghiệm (kể cả các loại hoạt động bằng cảm
ứng điện hoặc tổn hao điện môi); các thiết bị khác dùng trong
công nghiệp hoặc trong phòng thí nghiệm để xử lý nhiệt các
vật liệu bằng cảm ứng điện hoặc tổn hao điện môi.
⦁ Lò luyện, nung và lò sấy gia nhiệt bằng điện trở
8514.11 - - Lò ép nóng đẳng tĩnh
8514.19 - - Loại khác
8514.20 - Lò luyện, nung và lò sấy hoạt động bằng cảm ứng điện
hoặc tổn hao điện môi
⦁ Lò luyện, nung và lò sấy khác
8514.31 - - Lò tia điện tử (tia electron)
8514.32 - - Lò hồ quang plasma và chân không
8514.39 - - Loại khác
8514.40 - Thiết bị khác để xử lý nhiệt các vật liệu bằng cảm ứng
điện hoặc tổn hao điện môi
8514.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm một số máy móc và dụng cụ điện nhiệt kiểu công
nghiệp hoặc loại dùng trong phòng thí nghiệm, trong đó năng lượng điện
được dùng để tạo ra nhiệt, (ví dụ bằng hiệu ứng nhiệt của dòng điện chạy
trong vật dẫn; từ hồ quang điện). Nhóm này bao gồm các lò nung và lò
sấy hoạt động bằng cảm ứng điện hoặc tổn hao điện môi và các thiết bị
công nghiệp hoặc dùng trong phòng thí nghiệm khác để xử lý nhiệt của
vật liệu bằng cảm ứng điện hoặc tổn hao điện môi (ví dụ, lò nung vi sóng
công nghiệp, lò sấy và thiết bị công nghiệp). Nhóm này không bao gồm
các máy móc và thiết bị điện nhiệt dùng trong gia đình (nhóm 85.16).
(I) CÁC LÒ NUNG VÀ LÒ SẤY HOẠT ĐỘNG BẰNG ĐIỆN
DÙNG TRONG CÔNG NGHIỆP HOẶC PHÒNG THÍ NGHIỆM
(BAO GỒM CẢ LOẠI HOẠT ĐỘNG BỞI CẢM ỨNG HOẶC TỔN
HAO ĐIỆN MÔI)
Các lò điện và lò sấy chủ yếu bao gồm không gian khép kín lớn hoặc bé
hay vật chứa đóng kín mà trong đó thu được một nhiệt độ tương đối cao.
Chúng được sử dùng cho nhiều mục đích (nóng chảy, luyện kim, nhiệt,
tráng men, hàn, xử lý nhiệt các mối hàn…). Các loại chủ yếu bao gồm lò
chưng cất, lò kiểu chuông, lò nung đáy, lò nấu, lò kiểu hầm… Một vài lò
nung này có thể có gắn kèm cơ cấu lật nghiêng đặc biệt, hoặc được cung
cấp với một thùng ở bên trong để xử lý kim loại trong chất khí đặc biệt
để tránh oixi hóa.
Các lò nung và lò sấy nhóm này bao gồm cả, không kể những cái khác:
(A) Các lò nung và sấy nhiệt điện trở trong đó nhiệt được sản sinh bởi
dòng điện chạy qua các điện trở nung nóng. Các yếu tố làm nóng
này (điện trở nung nóng) truyền nhiệt để lưu giữ hoặc sang vật mang
bằng bức xạ và đối lưu.
(B) Lò nung dùng điện trở để nung nóng thanh kim loại hoặc vật
liệu dạng hạt mà ở đó vật liệu được làm nóng này đóng vai trò như
điện trở nung nóng. Chúng bao gồm một vật chứa mà trong đó dòng
điện sẽ chạy qua chính vật liệu đó; tính điện trở của vật liệu sản sinh
ra nhiệt cần thiết.
(C) Lò nung bằng điện trở dạng lỏng bao gồm một bể ngâm được gắn
các điện cực. Trong quá trình hoạt động, bể ngâm này chứa kim loại
nóng chảy, muối nóng chảy hoặc các loại dầu đặc biệt, được duy trì
ở nhiệt độ cần thiết bởi sự đi qua của dòng điện qua các điện cực,
qua chất lỏng; vật được làm nóng bằng cách nhúng vào trong bể
chất lỏng.
(D) Lò điện phân để luyện hoặc tinh chế kim loại. Những lò này cũng
là các lò nung bằng điện trở dạng lỏng lắp với các điện cực được
ngâm trong bể điện phân nóng chảy. Bể này chứa các vòng kim loại
cấu thành từ quặng hòa tan trong muối nóng chảy. Điện ly được tạo
ra bởi dòng điện đi qua chất điện phân qua các điện cực, kết quả là
kim loại nóng chảy tinh khiết thu được tại cực âm trong khi khí ga
thoát ra từ cực dương.
(E) Lò nung cảm ứng tần số thấp. Tần số xoay chiều thấp ở cuộn sơ
cấp được liên kết từ tính bởi một lõi sắt mềm với vật mang được làm
nóng, và cảm ứng dòng điện trong vật mang đó làm cho nó được
nung nóng. Trong một số loại lò nung này, vật mang nóng chảy tuần
hoàn từ nồi nấu chính chảy sang các ống vòng thẳng đứng mà trong
đó các dòng nhiệt cảm ứng từ mạch sơ cấp.
(F) Lò nung cảm ứng tần số cao. Một dòng xoay chiều tần số cao (thường
là tần số sóng radio) trong cuộn sơ cấp cảm ứng các dòng điện xoáy
trong vật cần được nung nóng. Loại lò này không có lõi sắt
(G) Lò nung và lò sấy dung kháng chất điện môi. Các vật liệu, phải là
vật không dẫn điện được đặt giữa 2 miếng kim loại nối trực tiếp với
nguồn điện xoay chiều. Sự sắp xếp này hoạt động như là tụ điện, và
tổn hao điện môi trong vật liệu sẽ tạo ra nhiệt gia tăng trong nó.
Nhóm này bao gồm cả lò vi sóng công nghiệp, trong đó sản phẩm
điện môi được làm nóng chịu tác động của sóng điện từ. Bằng sự
tổn hao điện môi, năng lượng sóng được biến đổi đồng thời thành
nhiệt xuyên qua cả khối sản phẩm, đảm bảo làm nóng đồng bộ. Các
lò này được sử dụng để sấy khô, rã đông, đúc nhựa, nung gốm…
(H) Lò hồ quang trong đó nhiệt được phát ra bởi hồ quang điện, xảy ra
giữa các điện cực và vật liệu được làm nóng. Các lò nóng dùng cho
việc sản xuất gang, các hợp kim sắt, cacbua canxi, để tinh giảm
quặng sắt, để ổn định nito trong không khí… Một số lò hồ quang
điện nhiệt độ thấp cũng được sử dụng để chưng cất vật liệu có điểm
sôi tương đối thấp (ví dụ kẽm hoặc photpho); tuy nhiên, nếu chúng
được trang bị thiết bị ngưng tụ để thu các sản phẩm chưng cất thì sẽ
bị loại trừ (nhóm 84.19).
(IJ) Lò nướng bức xạ hồng ngoại được làm nóng bởi một số các đèn
hồng ngoại hoặc tấm bức xạ.
Các lò nung và lò nướng loại này sử dụng nhiều hơn một phương pháp
để làm nóng (ví dụ, cảm ứng tần số cao và thấp hoặc điện trở để nóng
chảy và nung nóng kim loại…; lò nướng bánh bích quy tia hồng ngoại
và tần số cao; các lò nướng hồng ngoại, điện trở và dung kháng chất điện
môi (lò vi sóng) để làm nóng).
Các lò nung và lò nướng được mô tả trong nhóm này bao gồm cả, không
kể những cái khác:
(1) Lò nướng bánh mì, bánh ngọt, bánh bích quy.
(2) Lò nha khoa
(3) Lò hỏa táng
(4) Lò đốt chất phế thải.
(5) Lò nung hoặc lò nướng để ủ hoặc tôi kính.
Nhóm này loại trừ các thiết bị nhiệt điện dùng cho sấy, khử trùng hoặc
các hoạt động tương tự (nhóm 84.19).
(II) CÁC THIẾT BỊ KHÁC SỬ DỤNG TRONG CÔNG NGHIỆP
HOẶC PHÒNG THÍ NGHIỆM ĐỂ XỬ LÝ NHIỆT CÁC VẬT
LIỆU BẰNG CẢM ỨNG HOẶC BẰNG TỔN HAO ĐIỆN MÔI.
Nhóm này cũng bao gồm các cảm ứng điện hoặc thiết bị nhiệt điện môi
(ví dụ thiết bị vi sóng), ngay cả khi không ở dạng của một lò nung hoặc
lò nướng. Các thiết bị này (được sử dụng chủ yếu để xử lý nhiệt cho các
vật thể nhỏ) chủ yếu bao gồm thiết bị điện để tạo ra dao động tần số cao,
gắn cùng với các bảng hoặc cuộn dây thích hợp, thường được thiết kế
đặc biệt cho các sản phẩm đặc biệt để điều trị.
Chúng bao gồm cả, không kể những cái khác:
(1) Các máy với cuộn dây cảm ứng để làm nóng bằng vật cảm ứng làm
từ vật liệu là các chất dẫn điện tốt, bằng nguồn điện tần số thấp,
trung bình hoặc cao (ví dụ, máy được sử dụng để làm cứng bề mặt
trục khuỷu, xi lanh, bánh răng hoặc các bộ phận kim loại khác; máy
để làm nóng chảy, thiêu kết, luyện kim, gia nhiệt hoặc làm nóng sơ
bộ các bộ phận kim loại).
(2) Các máy với các điện cực đóng vai trò như là một tụ điện (ví dụ ở
dạng tấm, thanh) cho việc làm nóng bằng điện môi (điện dung) của
các vật làm từ các vật liệu không dẫn điện hoặc dẫn điện kém, bởi
các nguồn tần số cao (ví dụ máy sấy gỗ; máy sấy sơ bộ các vật liệu
đúc tôi cứng bằng nhiệt ở dưới dạng viên hoặc bột…)
Một vài loại thiết bị đặc biệt được thiết kế để xử lý nhiệt liên tục các
thanh được đi qua cuộn dây, hoặc để lặp lại việc xử lý cho một loạt các
sản phẩm.
Máy biến đổi điện xoay và các máy phát điện tần số cao khi đi kèm cùng
với các thiết bị xử lý nhiệt cũng được phân loại vào nhóm này. Còn khi
xuất trình riêng rẽ chúng được phân loại vào nhóm 85.02 hoặc 85.43,
tùy trường hợp cụ thể.
Tuy nhiên, các máy móc xử lý cảm ứng dùng cho hàn hoặc hàn thau kim
loại và máy xử lý nhiệt bằng hao tổn điện môi được sử dụng để hàn nhựa
hoặc vật liệu khác (ví dụ máy ép tần số cao để hàn và máy hàn dòng tần
số cao) xếp vào nhóm 85.15. Máy ép kết hợp với các thiết bị làm nóng
thì được loại trừ khỏi chương này (Chương 84).
Nhóm này cũng bao gồm các lò nung và các thiết bị khác được thiết kế
đặc biệt để tách nhiên liệu hạt nhân phóng xạ, thiết bị xử lý chất thải
phóng xạ bằng quá trình nhiệt luyện (ví dụ nung đất sét hoặc thủy tinh có
chứa phần dư của chất phóng xạ hoặc đốt than chì hoặc lọc phóng xạ)
hoặc các loại dùng để thiêu kết hoặc xử lý nhiệt của vật liệu phân hạch
được thu hồi để tái chế. Tuy nhiên, các thiết bị dùng để tách đồng vị thì
được phân loại vào nhóm 84.01.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của sản phẩm thuộc nhóm này cũng được phân
loại ở đây (ví dụ cốt thép, cửa ra vào, lỗ kiểm tra, các tấm và mái vòm,
giá giữ điện cực và các điện cực kim loại).
Tuy nhiên, nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Gạch, khối và các gạch chịu lửa tương tự hoặc các sản phẩm gốm
dùng trong xây dựng hoặc lót nền của lò nung điện (Chương 69).
(b) Các lò nung và lò nướng bằng điện dùng để sản xuất các tấm bán dẫn
mỏng hoặc các màn hình dẹt (nhóm 84.86)
(c) Điện trở đốt nóng bằng điện (nhóm 85.16 hoặc 85.45, tùy trường
hợp cụ thể).
(d) Các điện cực làm bằng graphit hoặc carbon khác, có hoặc không có
thành phần kim loại (nhóm 85.45).
85.15 - Máy và thiết bị hàn các loại dùng điện (kể cả khí ga nung
nóng bằng điện), dùng chùm tia laser hoặc chùm tia sáng
khác hoặc chùm phô-tông, siêu âm, chùm electron, xung từ
hoặc hồ quang, có hoặc không có khả năng cắt; máy và thiết
bị dùng điện để xì nóng kim loại hoặc gốm kim loại.
- Máy và thiết bị để hàn chảy (nguyên lý hàn thiếc, chỉ có
phần nguyên liệu hàn được làm nóng chảy, đối tượng
được hàn không bị nóng chảy):
8515.11 - - Mỏ hàn sắt và súng hàn
8515.19 - - Loại khác
- Máy và thiết bị để hàn kim loại bằng nguyên lý điện trở:
8515.21 - - Loại tự động hoàn toàn hoặc một phần
8515.29 - - Loại khác
- Máy và thiết bị hàn hồ quang kim loại (kể cả hồ quang
8515.31 - - Loại tự động hoàn toàn hoặc một phần
8515.39 - - Loại khác
8515.80 - Máy và thiết bị khác
8515.90 - Bộ phận
(I) MÁY VÀ THIẾT BỊ HÀN CÁC LOẠI
Nhóm này bao gồm các máy và thiết bị cụ thể để hàn (welding), hàn
thiếc (soldering), hàn thau (brazing), có thể xách tay hoặc cố định.
Chúng cũng được phân loại ở đây nếu chúng có khả năng cắt.
Hoạt động hàn có thể được thực hiện hoặc bằng tay hoặc tự động hoàn
toàn hay bán tự động.
Nhóm này bao gồm:
(A) Máy và dụng cụ để hàn thiếc hoặc hàn thau
Nhiệt thường được tạo ra bởi cảm ứng điện hoặc nguồn điện.
Hàn thiếc hoặc hàn thau là hoạt động mà trong đó các phần kim loại
được nối bởi kim loại độn hàn ở điểm nóng chảy thấp hơn mà nó
làm ướt các kim loại cần hàn. Các kim loại cần hàn không tham gia
vào quá trình làm đầy mối hàn. Chất kim loại độn hàn thường được
phân phối vào bề mặt của mối hàn qua các mao dẫn. Hàn thau có thể
được phân loại với hàn thiếc thông qua nhiệt độ nóng chảy của chất
độn hàn được sử dụng. Hàn thau thường khoảng trên 450 °C, trong
khi hàn thiếc thì điểm nóng chảy đạt được ở nhiệt độ thấp hơn.
Chỉ các máy và thiết bị mà được nhận biết để chỉ dùng hoặc chủ yếu
dùng cho hàn thau hoặc hàn thiếc thuộc nhóm này bởi các thiết bị
đặc biệt của chúng (ví dụ hệ thống để cung cấp dây hàn). Các thiết
bị khác được xem như là lò nung, lò nướng hoặc thiết bị làm nóng
theo nghĩa của nhóm 85.14.
Nhóm này cũng bao gồm các mỏ hàn điện cầm tay và súng hàn
thiếc.
(B) Máy và thiết bị để hàn kim loại bằng nguyên lý điện trở.
Nhiệt độ cần thiết để tạo nên điểm hàn được tạo ra bởi điện trở của
một dòng điện chạy qua các phần được nối (nhiệt Jun). Trong quá
trình hàn, các phần được liên kết với nhau dưới áp suất và chất trợ
dung hoặc chất độn kim loại không được sử dụng.
Các máy này có nhiều loại khác nhau tùy theo vật được hàn. Ví dụ,
chúng bao gồm máy hàn ghép mối hoặc hàn ghép mối cực nhanh;
máy chấm hàn bao gồm súng có hay không nguồn công suất lắp bên
trong; máy hàn đa điểm và các thiết bị gắn kèm; máy hàn nổi; máy
hàn mối; thiết bị hàn điện trở nóng chảy tần số cao.
(C) Các máy và thiết bị để hàn hồ quang hoặc hồ quang plasma kim
loại, có hay không có khả năng cắt.
(1) Hàn hồ quang.
Nguồn nhiệt được tạo ra từ hồ quang điện giữa 2 điện cực hoặc
giữa 1 điện cực với vật cần hàn.
Có nhiều máy loại này, ví dụ, máy hàn hồ quang nóng chảy thủ
công với các điện cực được phủ; máy hàn hồ quang yếm khí;
máy hàn hoặc máy cắt với điện cực tiêu thụ hoặc không tiêu thụ
hoặc máy hàn với hồ quang phủ (máy hàn hồ quang trong khí
trơ (MIG); hàn hồ quang trong khí hoạt tính (MAG); hàn bằng
điện cực không nóng chảy trong khí trơ (TIG); hàn hồ quang
đặt chìm (SA), hàn xỉ điện hoặc hàn khí điện…).
(2) Hàn hồ quang plasma
Nguồn nhiệt là hồ quang ép mà chuyển khí phụ trợ thành trạng
thái plasma bằng sự ion hóa và sự phân ly (tia plasma). Khí có
thể là khí trơ (như acgon, heli), đa nguyên tử (nito, hydro) hoặc
hỗn hợp 2 loại trên.
(D) Máy và thiết bị để hàn kim loại bằng cảm ứng.
Nguồn nhiệt được sinh ra bởi dòng điện đi qua một hoặc nhiều cuộn
cảm.
(E) Máy và thiết bị để hàn chùm tia điện tử, có hoặc không có khả
năng cắt.
Nguồn nhiệt được sinh ra trong các vật được hàn hay cắt bằng tác
động của các điện tử của một chùm tia điện tử tập trung được tạo ra
trong môi trường chân không.
(F) Các máy và thiết bị dùng cho máy hàn khuếch tán trong chân không.
Nguồn nhiệt thường được sinh ra bởi cảm ứng nhưng có thể được
sinh ra bởi chùm tia electron hoặc điện trở.
Các thiết bị này bao gồm buồng chân không, bơm chân không, các
thiết bị tạo áp suất và thiết bị gia nhiệt.
(G) Máy và thiết bị sử dụng cho hàn chùm tia photon có hay không
có khả năng cắt.
Hàn bằng chùm phô-tông có thể chia ra thành:
(1) Hàn bằng tia lade.
Nguồn nhiệt được tạo ra từ một nguồn chủ yếu là bức xạ đều,
đơn sắc, mà có thể tập trung một chùm tia có cường độ cao. Nó
có thể được sinh ra bởi sự tác động của chùm tia này lên vật cần
hàn.
(2) Hàn bằng chùm tia sáng.
Nhiệt được sinh ra bởi sự tác động của chùm tia sáng tập trung
không đều.
(H) Các máy và thiết bị để hàn các vật liệu chất nhiệt dẻo.
(1) Hàn với khí được làm nóng bằng điện (hàn khí nóng).
Các bề mặt cần nối được làm nóng bởi khí ga nung nóng bằng
điện (thường là không khí) và được nối dưới áp lực mà có hoặc
không có chất phụ gia.
(2) Hàn với các yếu tố làm nóng bằng điện (làm nóng vật hàn).
Các bề mặt cần nối được làm nóng bằng các yếu tố nhiệt điện
và được liên kết dưới áp suất có hoặc không có chất phụ gia.
(3) Máy hàn cao tần.
Bề mặt của các vật liệu nhiệt dẻo (ví dụ polymer acrylic,
polyetylen, poly (vinyl-clorua), polyamide (ví dụ nilong)), với
tổn thất điện môi tương đối cao được gia nhiệt ở trong từ trường
xoay chiều tần số cao và sau đó được kết hợp dưới sức ép. Chất
phụ gia có thể được sử dụng.
(IJ) Các máy và thiết bị để hàn bằng siêu âm.
Các phần cần nối được giữ cùng và đưa vào dao động siêu âm. Quá
trình này làm nó có thể gắn kết kim loại hoặc hợp kim mà không
dùng được các kỹ thuật hàn thông thường, và để hàn thép lá, bộ
phận của hai hay nhiều kim loại khác nhau hoặc phim nhựa.
Máy hàn điện các loại thường được cung cấp bởi dòng điện một chiều
điện áp thấp từ một máy phát một chiều, hoặc với dòng xoay chiều điện
áp thấp từ máy hạ áp. Máy biến điện, …, thông thường được gắn trong
máy, nhưng trong vài trường hợp (ví dụ trong máy di động), mỏ hàn
hoặc thiết bị hàn được nối với máy biến điện… bằng dây cáp điện. Ngay
cả trong các trường hợp sau nhóm này cũng bao gồm toàn bộ các thiết bị
với điều kiện các máy biến điện…, được xuất trình cùng với các mỏ hàn
hay các thiết bị hàn; khi được xuất trình riêng rẽ, máy biến điện hoặc
máy phát điện được phân loại theo các nhóm thích hợp của chúng
(nhóm 85.02 hoặc 85.04).
Nhóm này còn bao gồm các rô-bốt công nghiệp thiết kế đặc biệt cho việc
hàn.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Máy đóng gói được gắn cùng với các thiết bị hàn (nhóm 84.22).
(b) Máy ép nóng chảy (nhóm 84.51)
(c) Máy được thiết kế riêng cho việc cắt (thông thường là nhóm 84.56)
(d) Máy hàn ma sát (nhóm 84.68).
(e) Máy và thiết bị hàn loại chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho việc lắp ráp
các vật liệu bán dẫn (nhóm 84.86).
(II) MÁY, THIẾT BỊ DÙNG ĐIỆN ĐỂ XÌ NÓNG KIM LOẠI
HOẶC GỐM KIM LOẠI
Đây là các thiết bị hồ quang điện mà chúng làm chảy kim loại hoặc gốm
kim loại và đồng thời phun chúng bằng khí nén.
Nhóm này không bao gồm các súng phun kim loại được trình bày riêng
rẽ của nhóm 84.24.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của sản phẩm thuộc nhóm này cũng được phân
loại ở đây
Nhóm này bao gồm cả, không kể những cái khác, mỏ hàn và đầu kẹp
hàn, giá đỡ điện cực và các điện cực tiếp xúc bằng kim loại (ví dụ, điểm
tiếp xúc, con lăn và cơ cấu kẹp) cũng như là các đuốc hàn và bộ đầu
phun dùng cho thiết bị hàn hydro nguyên tử cầm tay.
Tuy nhiên, những mặt hàng sau đây được loại trừ khỏi nhóm này:
(a) Các điện cực nóng chảy làm từ kim loại cơ bản hoặc cacbua kim loại
(phân loại theo vật liệu cấu thành hoặc trong nhóm 83.11, tùy
trường hợp cụ thể).
(b) Các điện cực bằng graphit hoặc carbon khác, có hoặc không có thành
phần kim loại (thuộc nhóm 85.45).
85.16 - Dụng cụ điện đun nước nóng tức thời hoặc đun nước nóng có
dự trữ và đun nước nóng kiểu nhúng; dụng cụ điện làm nóng
không gian và làm nóng đất; dụng cụ nhiệt điện làm tóc (ví
dụ, máy sấy tóc, máy uốn tóc, dụng cụ kẹp uốn tóc) và máy
sấy làm khô tay; bàn là điện; dụng cụ nhiệt điện gia dụng
khác; các loại điện trở đốt nóng bằng điện, trừ loại thuộc
nhóm 85.45.
8516.10 - Dụng cụ điện đun nước nóng tức thời hoặc đun nước
nóng có dự trữ và đun nước nóng kiểu nhúng
⦁ Dụng cụ điện làm nóng không gian và làm nóng đất:
8516.21 - - Loại bức xạ giữ nhiệt
8516.29 - - Loại khác.
⦁ Dụng cụ làm tóc hoặc máy sấy làm khô tay nhiệt điện:
8516.31 - - Máy sấy khô tóc
8516.32 - - Dụng cụ làm tóc khác
8516.33 - - Máy sấy làm khô tay
8516.40 - Bàn là điện
8516.50 - Lò vi sóng
8516.60 - Các loại lò khác; nồi nấu, bếp đun dạng tấm đun, vòng
đun sôi, thiết bị kiểu vỉ nướng và lò nướng
⦁ Dụng cụ nhiệt điện khác:
8516.71 - - Dụng cụ pha chè hoặc cà phê
8516.72 - - Lò nướng bánh (toasters)
8516.79 - - Loại khác
8516.80 - Điện trở đốt nóng bằng điện
8516.90 - Bộ phận
(A) DỤNG CỤ ĐUN NÓNG TỨC THỜI HOẶC ĐUN NƯỚC
NÓNG CÓ DỰ TRỮ VÀ ĐUN NƯỚC NÓNG KIỂU NHÚNG
Nhóm này bao gồm:
(1) Thiết bị đun nước nóng trong đó nước được làm nóng khi chảy qua
nó.
(2) Thiết bị đun nước nóng có dự trữ (có hay không thuộc loại chịu áp
lực), là bình cách nhiệt với các bộ phận làm nóng được nhúng bên
trong. Trong thiết bị này nước được đun nóng từ từ.
(3) Thiết bị làm nóng hệ thống kép trong đó nước được làm nóng hoặc
bằng điện hoặc được nối tới một hệ thống đun nước dùng nhiên liệu;
chúng thường được trang bị với bộ điều khiển nhiệt độ để vận hành
chỉ bằng điện chỉ khi mà nhiên liệu thay thế không đủ.
(4) Nồi đun nước nóng bằng điện cực trong đó một dòng xoay chiều đi
qua nước giữa hai điện cực.
(5) Thiết bị đun nóng kiểu nhúng có nhiều hình dáng khác nhau tùy
theo mục đích sử dụng, thường được sử dụng ở trong thùng, bể
chứa, …, để làm nóng chất lỏng, chất bán lỏng (trừ chất rắn) hoặc
khí. Chúng cũng được thiết kế để sử dụng trong nồi, chảo, vại, ly,
buồng tắm, cốc thí nghiệm…, thường có tay cầm cách nhiệt và một
móc để treo phần làm nóng ở trong thùng.
Chúng có một vỏ bọc bảo vệ được gia cố mà có khả năng chống đỡ
cao đối với các va đập cơ học và để chống rò rỉ từ chất lỏng, bán
lỏng (ngoại trừ chất rắn) và chất khí. Một loại bột (thường là oxi
magie) với tính chất điện môi tốt và tính chất nhiệt học giữ cho dây
điện trở (kháng trở) ở nguyên vị trí trong vỏ bọc và cách điện.
Các thiết bị bao gồm thiết bị làm nóng kiểu nhúng gắn cố định trong
một thùng, bể hoặc các vật chứa khác được phân loại trong nhóm
84.19 trừ khi chúng được thiết kế chỉ làm nóng nước hoặc dùng
trong gia đình, trong trường hợp này chúng vẫn được phân loại
trong nhóm này. Thiết bị làm nóng nước bằng năng lượng mặt trời
được phân loại ở nhóm 84.19.
(6) Thiết bị điện để đun nước.
Nồi đun nước nóng trung tâm dùng điện được phân loại trong nhóm 84.03.
(B) THIẾT BỊ ĐIỆN LÀM NÓNG KHÔNG GIAN
VÀ LÀM NÓNG ĐẤT
Nhóm này bao gồm:
(1) Các thiết bị giữ nhiệt hoạt động bằng điện, mà trong đó các bộ
phận điện gia nhiệt cho một vật rắn (ví dụ gạch) hoặc một chất lỏng
mà nó giữ nhiệt được sinh ra và giải phóng nó ra môi trường xung
quanh khi cần thiết.
(2) Thiết bị sưởi bằng điện (quạt sưởi và máy sưởi bức xạ), bao gồm
loại di chuyển với tấm phản xạ parabol và đôi khi được gắn quạt bên
trong. Rất nhiều loại thiết bị sưởi này được gắn với đèn màu và thiết
bị nhấp nháy để làm cho giống ngọn lửa đốt than hoặc gỗ.
(3) Thiết bị bức xạ điện. Đây là các thiết bị mà trong đó bộ phận điện
làm nóng một chất lỏng (ví dụ dầu) mà nó tuần hoàn trong thiết bị
bức xạ và sau đó bức xạ nhiệt ra môi trường xung quanh.
(4) Các thiết bị nhiệt đối lưu. Chúng tuần hoàn không khí bởi dòng đối
lưu, đôi khi được hỗ trợ bởi một quạt.
(5) Các tấm làm nóng dùng để gắn trên trần hoặc trên tường bao gồm
các tấm tạo ra bức xạ hồng ngoại để làm nóng khu vực công cộng,
đường phố….
(6) Các thiết bị làm nóng dùng cho xe ô tô, xe lửa, phương tiện
bay…., ngoại trừ thiết bị gạt và chống tạo sương và tuyết.
(7) Thiết bị làm nóng đường để ngăn chặn sự hình thành của băng và
thiết bị làm nóng đất, đặc biệt sử dụng để kích thích tăng trưởng
của cây trồng, các thành phần của thiết bị này thường được chôn
dưới đất.
(8) Thiết bị làm nóng động cơ để đặt dưới xe ô tô để dễ dàng khởi
động.
Nồi đun nóng trung tâm hoạt động bằng điện được xếp vào nhóm 84.03.
(C) CÁC THIẾT BỊ LÀM TÓC VÀ THIẾT BỊ LÀM KHÔ TAY
BẰNG NHIỆT-ĐIỆN
Các thiết bị này bao gồm:
(1) Máy sấy tóc, bao gồm cả loại sấy chụp đầu và những loại khác đi
kèm với một thân dạng súng và quạt gắn bên trong.
(2) Thiết bị cuộn tóc và thiết bị uốn tóc cố định dùng điện.
(3) Thiết bị làm nóng kiểu kẹp tóc.
(4) Máy làm khô tay.
(D) BÀN LÀ ĐIỆN
Nhóm này bao gồm bàn là các loại, dù sử dụng trong gia đình hay tiệm
may…, bao gồm cả bàn là không dây. Những bàn là không dây này bao
gồm một miếng sắt gắn với thiết bị làm nóng và một giá đặt có thể được
nối với điện. Bàn là chỉ được tiếp xúc với nguồn điện khi mà được đặt ở
giá đó. Nhóm này cũng bao gồm các bàn là hơi mà được gắn với bộ
phận chứa nước hoặc được thiết kế để nối với một ống hơi.
(E) THIẾT BỊ NHIỆT ĐIỆN KHÁC LOẠI SỬ DỤNG CHO MỤC
ĐÍCH GIA DỤNG
Nhóm này bao gồm tất cả các máy và thiết bị nhiệt điện với điều kiện
chúng thường được sử dụng trong gia đình. Một số loại này đã được
nêu ở phần trước của chú giải (ví dụ máy sưởi điện, bình đun nước nóng,
máy sấy tóc, bàn là…). Loại khác bao gồm:
(1) Lò vi sóng.
(2) Các loại lò nướng và nồi nấu khác, đĩa nấu, vòng đun sôi, vỉ quay và
nướng (ví dụ kiểu đối lưu, kiểu điện trở, kiểu hồng ngoại, cảm ứng
cao tần và các thiết bị điện khí).
(3) Máy pha chè hoặc cà phê (bao gồm cả bình pha cà phê).
(4) Lò nướng bánh, bao gồm cả lò nướng được thiết kế chủ yếu để
nướng bánh mỳ nhưng có thể nướng các loại nhỏ như là khoai tây.
(5) Ấm, chảo, nồi hơi; bình ủ để làm nóng sữa, súp và các loại tương tự
(6) Máy làm bánh crep.
(7) Máy làm bánh quế.
(8) Máy sấy đĩa và máy hâm nóng thức ăn
(9) Chảo rán và chảo chao dầu mỡ (chảo sâu).
(10) Thiết bị rang cà phê.
(11) Chai gia nhiệt.
(12) Máy làm sữa chua và pho mát.
(13) Thiết bị khử trùng trước khi bảo quản.
(14) Thiết bị làm bắp rang bơ.
(15) Thiết bị sấy khô mặt và các thiết bị tương tự.
(16) Thiết bị xông hơi mặt kết hợp với mặt nạ mà ở trong đó nước sẽ
được làm bay hơi dùng để xử lý da mặt.
(17) Giá để khăn và các thanh làm nóng các khăn này.
(18) Thiết bị làm nóng giường.
(19) Thiết bị làm nóng nước hoa hoặc xông hương, và thiết bị làm nóng
để khuếch tán thuốc diệt côn trùng.
(20) Nồi hơi rửa không có cơ chế cơ khí.
Nhóm này loại trừ:
(a) Chăn sưởi bằng điện, đệm giường, đệm chân hoặc các thiết bị tương
tự; quần áo, giầy dép, tai nghe được làm ấm bằng điện hoặc các thiết
bị làm ấm khác được sử dụng cho người (được phân loại vào nhóm
thích hợp của nó, xem Chú giải 1 của Chương).
(b) Máy cán là (nhóm 84.20), máy là quần áo hoặc máy ép là khác
(nhóm 84.51).
(c) Máy pha cà phê dùng cho quầy hàng, máy ủ sữa hoặc trà, chảo rán và
chảo chao dầu mỡ, ví dụ, trong các cửa hàng bán đồ rán, và các thiết
bị nhiệt điện khác mà không thường được sử dụng trong gia đình
(nhóm 84.19…).
(d) Lò nung, nóng vi sóng công nghiệp và các thiết bị tương tự (ví dụ lò
nướng vi sóng loại thiết kế sử dụng trong nhà hàng) (nhóm 85.14).
(e) Thiết bị điện tử dùng cho thuốc lá điện tử và các thiết bị điện hóa hơi
cá nhân tương tự (nhóm 85.43).
(9) Sauté pans and chip pans (deep fryers).
(c) Counter-type coffee percolators, tea or milk urns, sauté pans and chip
(f) Đồ nội thất (ví dụ tủ chén bát, xe đẩy phục vụ), đã gắn với thiết bị
nhiệt điện (Chương 94).
(f) Bật lửa châm thuốc lá, bật lửa châm ga và các loại tương tự (nhóm
(F) CÁC ĐIỆN TRỞ NUNG NÓNG BẰNG ĐIỆN
Ngoại trừ các loại làm từ cacbon (nhóm 85.45), tất cả các điện trở làm
nóng được phân loại vào đây không phụ thuộc vào các máy móc hoặc
thiết bị mà nó sẽ được sử dụng ở trong.
Chúng bao gồm các thỏi, thanh, tấm… hoặc đoạn dây dài (thường là
được làm xoắn), làm từ chất liệu đặc biệt mà trở nên rất nóng khi dòng
điện chạy qua nó. Vật liệu được sử dụng rất đa dạng (hợp kim đặc biệt,
hỗn hợp dựa trên thành phần chủ yếu là cacbua silic …). Chúng có thể
thu được ở dạng các thành phần riêng biệt bởi quá trình in ấn.
Dây điện trở thường được gắn trên đế cách điện (ví dụ bằng gốm,
khoáng chất, mica hoặc nhựa) hoặc gắn trên các lõi cách điện mềm (ví
dụ sợi thủy tinh hoặc amiăng). Nếu không được gắn, loại dây này chỉ
được phân loại ở đây nếu được cắt theo chiều dài và làm xoắn hoặc hình
dáng của nó được nhận biết như một yếu tố điện trở nhiệt. Quy định này
cũng áp dụng cho các thanh, que, tấm cũng được phân loại ở đây, phải
được cắt theo chiều dài hoặc kích cỡ sẵn sàng để sử dụng.
Các điện trở vẫn được phân loại ở đây nếu như nó được thiết kế đặc biệt
cho các máy móc chuyên dùng, nhưng nếu được lắp với các phần khác
ngoại trừ một cách điện đơn giản hoặc các kết nối điện thì được phân
loại như các bộ phận hoặc máy móc mà nó đáp ứng (ví dụ, tấm đế dùng
cho bàn là và tấm đun dùng cho nồi cơm điện).
Nhóm này cũng loại trừ thiết bị gạt và chống tạo sương và tuyết. Những
mặt hàng này gồm các dây điện trở được gắn trong khung cố định trên
kính chắn gió (nhóm 85.12).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của sản phẩm thuộc nhóm này cũng được phân
loại ở đây.
85.17 - Bộ điện thoại, kể cả điện thoại thông minh và điện thoại khác
cho mạng di động tế bào hoặc mạng không dây khác; thiết bị
khác để truyền hoặc nhận tiếng, hình ảnh hoặc dữ liệu khác,
kể cả các thiết bị viễn thông nối mạng hữu tuyến hoặc không
dây (như loại sử dụng trong mạng nội bộ hoặc mạng diện
rộng), trừ loại thiết bị truyền hoặc thu của nhóm 84.43, 85.25,
85.27 hoặc 85.28.
⦁ Bộ điện thoại, kể cả điện thoại thông minh và điện
thoại khác cho mạng di động tế bào hoặc mạng không
dây khác:
8517.11 - - Bộ điện thoại hữu tuyến với điện thoại cầm tay không
dây
8517.13 - - Điện thoại thông minh
8517.14 - - Điện thoại khác cho mạng di động tế bào hoặc mạng
không dây khác
8517.18 - - Loại khác
⦁ Thiết bị khác để phát hoặc nhận tiếng, hình ảnh hoặc
dữ liệu khác, kể cả thiết bị thông tin hữu tuyến hoặc
không dây (như loại sử dụng trong mạng nội bộ hoặc
mạng diện rộng):
8517.61 - - Thiết bị trạm gốc
8517.62 - - Máy thu, đổi và truyền hoặc tái tạo âm thanh, hình
ảnh hoặc dạng dữ liệu khác, kể cả thiết bị chuyển
mạch và thiết bị định tuyến
8517.69 - - Loại khác
8517.70 - Bộ phận:
8517.71 - - Ăng ten và bộ phản xạ của ăng ten; các bộ phận sử
dụng kèm
8517.79 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các thiết bị truyền hoặc nhận lời nói hoặc các âm
thanh khác, hình ảnh hoặc các dữ liệu khác giữa hai điểm bởi sự biến đổi
của một dòng điện hoặc sóng quang lan truyền trong mạng hữu tuyến
hay là các sóng điện từ trong mạng không dây. Tín hiệu có thể là tín hiệu
tương tự hoặc là tín hiệu số. Các mạng, có thể được nối với nhau, bao
gồm điện thoại, điện báo, vô tuyến điện thoại, vô tuyến điện báo, mạng
cục bộ hoặc mạng diện rộng.
(I) BỘ ĐIỆN THOẠI, BAO GỒM ĐIỆN THOẠI CHO MẠNG DI
ĐỘNG HOẶC CÁC LOẠI MẠNG KHÔNG DÂY KHÁC.
Nhóm này bao gồm:
(A) Bộ điện thoại hữu tuyến
Bộ điện thoại hữu tuyến là các thiết bị viễn thông mà chuyển đổi
giọng nói thành tín hiệu để truyền sang thiết bị khác. Sau khi nhận
được 1 tín hiệu, một bộ điện thoại hữu tuyến sẽ chuyển đổi tín hiệu
trở lại thành giọng nói. Chúng bao gồm:
(1) Thiết bị phát, một micro mà chuyển đổi các sóng âm thanh
thành một dòng điều biến.
(2) Thiết bị thu (tai nghe có khung chụp qua đầu và tai nghe không
có khung chụp qua đầu), chuyển đổi lại dòng điều biến thành
các sóng âm thanh. Trong hầu hết các trường hợp, thiết bị phát
và thiết bị thu được kết hợp trong cùng một khối đơn được biết
như là một tay cầm điện thoại. Trong các trường hợp khác, thiết
bị phát và thiết bị thu được kết hợp trong tai nghe chụp đầu và
một micro, được thiết kế để mang trên đầu người sử dụng.
(3) Các mạch chống nhiễu âm, tránh âm thanh sinh ra trong thiết
bị phát khỏi bị tái lặp trong thiết bị thu trong cùng một tay cầm
điện thoại.
(4) Bộ chuông báo, đưa ra thông báo có cuộc gọi. Những thiết bị
này có thể là chuông âm thanh mà sinh ra âm thanh chuông điện
tử hoặc cơ khí như là một cái chuông hay chuông điện. Một vài
bộ điện thoại gắn với đèn mà hoạt động nối với chuông để cung
cấp tín hiệu khả kiến chỉ báo có cuộc gọi đến.
(5) Thiết bị chuyển mạch hoặc “móc chuyển mạch”, ngắt hoặc
cho phép sự di chuyển dòng từ mạng. Nó thường được hoạt
động bởi tay cầm điện thoại mà được nhấc ra khỏi hoặc gắn trở
lại giá để ống nghe.
(6) Thiết bị chọn quay số, mà cho phép người gọi thu được một kết
nối. Bộ chọn có thể là các nút nhấn hoặc kiểu bàn phím hoặc
loại quay số kiểu trống hoặc quay tròn.
Khi xuất trình riêng rẽ, micro và bộ thu (có hay không kết hợp thành
tay cầm điện thoại), và loa được phân loại trong nhóm 85.18 trong
khi chuông hoặc chuông điện được phân loại trong nhóm 85.31.
Bộ điện thoại có thể kết hợp hoặc gắn: một bộ nhớ để lưu trữ và gọi
lại các số điện thoại; màn hình hiển thị số được gọi, số gọi đến, ngày
và giờ, thời gian cuộc gọi; một bộ loa thêm và micro để cho phép
nói chuyện mà không cần sử dụng tay cầm điện thoại; thiết bị trả lời
tự động, truyền một thông điệp đã được nhớ sẵn, ghi các thông điệp
đến hoặc cho xem lại các thông điệp đã được ghi theo yêu cầu; thiết
bị để giữ kết nối khi đang giao tiếp với một người trên một điện
thoại khác. Bộ điện thoại kết nối các thiết bị này cũng có thể có các
phím hoặc nút bấm để cho phép chúng hoạt động, bao gồm cả một
phím chuyển cho phép điện thoại hoạt động mà không cần nhấc ống
nghe điện thoại ra khỏi giá để điện thoại. Nhiều các thiết bị này sử
dụng một bộ vi xử lý hoặc IC kỹ thuật số để hoạt động.
Nhóm này bao gồm tất cả các loại bộ điện thoại kể cả:
(i) Bộ điện thoại không dây bao gồm thiết bị cầm tay thu phát tần số
radio chạy bằng pin bao gồm một bàn phím số, phím chuyển mạch
và một thiết bị gốc thu phát tần số sóng radio được nối với đường
dây của mạng điện thoại (các bộ điện thoại không dây khác có thể
không có thiết bị cầm tay nhưng bao gồm một tai nghe chụp đầu kết
hợp một micro kết nối với một bộ tích hợp di động được cấp nguồn
bởi pin bao gồm bộ thu phát tần số sóng radio, bộ chọn số và phím
chuyển mạch).
(ii) Bộ điện thoại mà nó kết hợp bộ chọn số và phím chuyển mạch
(nối bằng dây tới mạng điện thoại) và tai nghe chụp đầu kết hợp
micro, đi cùng nhau.
(B) Điện thoại cho mạng di động tế bào hoặc mạng không dây khác.
Nhóm này bao gồm các điện thoại để sử dụng cho bất cứ mạng
không dây nào. Những điện thoại này nhận và phát sóng radio mà
được nhận và truyền trở lại, ví dụ, bằng các trạm thu phát gốc hay
vệ tinh.
Nhóm này bao gồm, không kể những cái khác:
(1) Điện thoại di động tế bào hoặc điện thoại di động.
(2) Điện thoại vệ tinh.
(II) CÁC THIẾT BỊ KHÁC ĐỂ PHÁT HOẶC NHẬN ÂM THANH,
HÌNH ẢNH HOẶC DỮ LIỆU KHÁC BAO GỒM THIẾT BỊ
TRUYỀN THÔNG TRONG MẠNG HỮU TUYẾN HOẶC KHÔNG
DÂY (NHƯ LÀ MẠNG CỤC BỘ HOẶC MANG TOÀN CỤC)
(A) Trạm thu phát gốc
Các loại trạm thu phát gốc thông thường nhất là các loại dùng cho
mạng di động tế bào, nó nhận và phát sóng radio đến và từ các điện
thoại di động tế bào hay tới các mạng hữu tuyến hoặc không dây
khác. Mỗi trạm thu phát gốc phủ sóng trong một khu vực địa lý (một
khu vực). Nếu người sử dụng từ một khu vực này đến khu vực khác
khi đang gọi điện thoại thì các cuộc gọi sẽ tự động truyền từ khu vực
này sang khu vực khác mà không bị gián đoạn.
(B) Hệ thống điện thoại nội bộ tòa nhà.
Hệ thống này thường bao gồm một thiết bị điện thoại cầm tay và
bàn phím hoặc loa, một micro và các phím. Hệ thống này thường
được gắn tại lối vào của tòa nhà có nhiều hộ dân. Với hệ thống này,
khách có thể gọi tới các hộ dân cụ thể bằng cách nhấn vào các phím
tương ứng để liên lạc.
(C) Điện thoại truyền hình
Điện thoại truyền hình dùng cho các tòa nhà, nó là một sự kết hợp
bao gồm chủ yếu một bộ điện thoại dùng cho đường dây điện thoại,
một camera truyền hình và một thiết bị thu hình (được truyền bởi
đường dây).
(D) Thiết bị truyền tin điện báo trừ máy fax của nhóm 84.43.
Các thiết bị này được chủ yếu thiết kế để chuyển đổi ký tự, đồ thị,
hình ảnh hoặc các dữ liệu khác thành các xung điện tương ứng, để
truyền các xung điện này và ở đầu nhận, sẽ nhận các xung điện và
chuyển chúng thành ký tự quy ước hoặc hiển thị đại diện cho các ký
tự, đồ họa, hình ảnh hoặc các dữ liệu khác hoặc chuyển thành chữ,
đồ họa, hình ảnh hoặc dữ liệu khác.
Ví dụ :
(1) Thiết bị truyền tin, như là các thiết bị truyền dạng quay số hoặc
bàn phím và các thiết bị truyền tự động (ví dụ máy telex hoặc
máy chữ điện báo).
(2) Thiết bị nhận tin nhắn (ví dụ thiết bị nhận tín hiệu điện báo
đánh chữ). Trong một số trường hợp thiết bị thu và thiết bị phát
có thể tạo thành một tổ hợp máy thu-phát.
(3) Thiết bị điện báo hình ảnh. Các thiết bị chụp ảnh phụ trợ với
các thiết bị này (ví dụ thiết bị rửa ảnh) thuộc Chương 90.
(E) Thiết bị chuyển mạch điện thoại hoặc điện báo.
(1) Bảng chuyển mạch và tổng đài tự động.
Nó gồm nhiều loại. Tính năng chính của hệ thống chuyển mạch
là khả năng cung cấp, đáp ứng việc mã hóa tín hiệu, tạo kết nối
tự động giữa những người sử dụng. Bảng chuyển mạch và tổng
đài tự động có thể hoạt động bằng cách chuyển mạch, chuyển
đổi tin nhắn hoặc chuyển đổi gói thông tin, dựa vào việc nó sử
dụng bộ vi xử lý để kết nối những người sử dụng bằng phương
tiện điện tử. Nhiều các bảng chuyển mạch và tổng đài tự động
tích hợp bộ biến đổi tín hiệu tương tự thành tín hiệu kỹ thuật số,
hoặc tín hiệu kỹ thuật số sang tín hiệu tương tự, thiết bị nén/giải
nén dữ liệu (bộ giải mã), bộ điều biến (modem), bộ dồn kênh,
thiết bị xử lý dữ liệu tự động và các thiết bị khác mà cho phép
truyền tải đồng thời cả tín hiệu tương tự và tín hiệu kỹ thuật số
qua mạng, nó cho phép kết hợp cho việc truyền tải lời nói, âm
thanh, ký tự, đồ họa, hình ảnh hoặc dữ liệu khác.
Một số loại tổng đài tự động bao gồm chủ yếu là bộ chọn, nó
chọn các dòng tương ứng với xung điện được nhận từ các bộ
gọi điện thoại và thiết lập kết nối. Chúng hoạt động tự động,
hoặc được vận hành trực tiếp bởi các xung động từ bộ gọi điện
thoại hoặc thông qua thiết bị phụ trợ như là bộ điều khiển.
Các loại khác của bộ chọn (chọn trước, chọn trung gian, chọn
cuối cùng) và, khi được sử dụng, bộ điều khiển thường được lắp
ráp hàng loạt và trong các nhóm của cùng loại trên khung mà
sau đó được gắn vào trong trạm trên giá kim loại. Tuy nhiên,
đặc biệt trong việc lắp đặt tổng đài kích thước nhỏ hơn, chúng
có thể được gắn toàn bộ trên một giá đơn để chúng tạo thành
một trạm tự động độc lập.
Tổng đài điện thoại và trạm điện thoại tự động cũng có thể kết
hợp với các tiện ích như quay số nhanh, chờ cuộc gọi, chuyển
hướng cuộc gọi, gọi nhóm, hộp thư thoại … Các tiện ích này
được truy cập từ điện bộ điện thoại của người sử dụng thông
qua mạng điện thoại.
Chúng được sử dụng cho các mạng công cộng hoặc cá nhân mà
nó sử dụng trạm nhánh riêng (PBX), các trạm này được kết nối
với mạng công cộng. Tổng đài tự động và các trạm tự động
cũng có thể được trang bị với thiết bị giao tiếp tương tự như bộ
điện thoại để người điều khiển can thiệp khi cần thiết.
(2) Tổng đài và trạm điện thoại không tự động.
Chúng bao gồm một khung mà trên đó gắn rất nhiều thiết bị
chuyển mạch thủ công. Nó đòi hỏi người điều khiển kết nối thủ
công mỗi cuộc gọi được nhận bởi tổng đài hoặc trạm điện thoại.
Chúng bao gồm các hiển thị “cuộc gọi” hoặc “xóa” để báo hiệu
rằng cuộc gọi đang được thực hiện hoặc đã hoàn thành; bộ điện
thoại của người điều khiển (đôi khi được gắn đặc biệt); các thiết
bị chuyển mạch (gắn với ổ cắm hoặc phích cắm và được kết nối
tới một dây); và phím chuyển mạch được kết nối điện tới phích
cắm và dây để cho phép người điều khiển trả lời cuộc gọi, giám
sát quá trình cuộc gọi và ghi nhận sự hoàn thành của cuộc gọi.
(F) Thiết bị phát và nhận dùng cho điện thoại radio và điện báo
Nhóm này bao gồm:
(1) Các thiết bị cố định dùng cho điện thoại radio hoặc điện báo
radio (ví dụ bộ phát, bộ thu và bộ thu phát). Các loại này, được
sử dụng chủ yếu trong việc lắp đặt trên diện rộng, bao gồm các
thiết bị đặc biệt như thiết bị bảo mật (ví dụ biến tần phổ), thiết
bị ghép kênh (được sử dụng để gửi nhiều hơn hai tin nhắn cùng
một lúc) và thiết bị thu thông thường, được gọi là “thiết bị thu
phân lập”, sử dụng nhiều kỹ thuật thu để khắc phục sự giảm âm.
(2) Thiết bị phát và thu sóng vô tuyến để phiên dịch trực tiếp tại các
hội nghị sử dụng nhiều thứ tiếng.
(3) Thiết bị phát tự động và thu đặc biệt dùng cho tín hiệu cầu cứu
từ tàu, thuyền, phương tiện bay…
(4) Bộ phát, bộ thu hoặc bộ thu phát dùng do các tín hiệu đo từ xa
(viễn trắc).
(5) Các thiết bị điện thoại radio bao gồm cả bộ thu điện thoại radio
dùng cho xe có động cơ, tàu, phương tiện bay, tàu hỏa…
(6) Thiết bị thu xách tay, thường hoạt động bằng pin, ví dụ thiết bị
thu xách tay dùng để gọi, báo hiệu hoặc nhắn tin.
(G) Thiết bị thông tin liên lạc khác.
Nhóm này bao gồm các thiết bị cho phép kết nối tới mạng có dây
hoặc không dây hoặc phát hoặc thu tiếng nói hoặc âm thanh khác,
hình ảnh hoặc các dữ liệu khác trong một mạng lưới như vậy.
Mạng thông tin liên lạc bao gồm cả hệ thống dây dẫn sóng mang, hệ
thống dây dẫn kỹ thuật số và kết hợp của chúng. Ví dụ, chúng có thể
được định hình như mạng điện thoại chuyển mạch công cộng, mạng
cục bộ (LAN), mạng đô thị (MAN) và mạng diện rộng (WAN) có
cấu trúc độc quyền hoặc cấu trúc mở.
Nhóm này bao gồm:
(1) Thẻ giao diện mạng (ví dụ thẻ giao diện Ethernet).
(2) Modem (kết hợp điều biến-giải biến).
(3) Bộ định tuyến, cầu, “hub”, bộ lặp và bộ điều hợp kênh.
(4) Bộ ghép kênh và các thiết bị dây liên quan (ví dụ, bộ phát, bộ
thu hoặc máy chuyển đổi quang điện).
(5) Bộ mã hóa và giải mã (nén/giải nén dữ liệu) nó có khả năng
truyền tải và thu nhận thông tin kỹ thuật số.
(6) Xung để chuyển đổi âm thanh mà xung này chuyển đổi các tín
hiệu được quay thành các tín hiệu âm thanh.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem chú giải chi tiết tổng
quát phần XVI), bộ phận của sản phẩm thuộc nhóm này cũng được phân
loại ở đây.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Máy fax (nhóm 84.43).
(b) Máy đục lỗ, có hoặc không hoạt động bằng điện, được sử dụng để
đục lỗ các dải giấy sẵn sàng sử dụng cho thiết bị điện báo tự động
(nhóm 84.72).
(c) Cuộn dây cảm ứng để chèn vào các mạch điện thoại hoặc điện báo
(nhóm 85.04).
(d) Pin, bộ pin và ắc quy (nhóm 85.06 hoặc 85.07).
(e) Máy trả lời điện thoại được thiết kế để hoạt động với một bộ điện
thoại nhưng không phải là một bộ phận không thể tách rời của bộ
điện thoại (nhóm 85.19).
(f) Thiết bị truyền hoặc nhận sóng phát thanh hoặc tín hiệu truyền hình
(nhóm 85.25, 85.27 hoặc 85.28).
(g) Chuông hoặc các chỉ báo bằng điện (ví dụ các chỉ dẫn báo sáng hoạt
động khi quay điện thoại) (nhóm 85.31).
(h) Rơle và các thiết bị chuyển mạch như bộ chọn cho trạm điện thoại tự
động, thuộc nhóm 85.36.
(ij) Các dây, cáp cách điện…, cũng như các sợi cáp quang, có vỏ bọc
riêng cho từng sợi, có hoặc chưa gắn với đầu nối, bao gồm dây và
phích cắm cho tổng đài điện thoại (nhóm 85.44).
(k) Vệ tinh viễn thông (nhóm 88.02).
(l) Quầy tính và đăng ký cuộc gọi điện thoại (Chương 90).
(m) Thiết bị phát và thu sóng mang hoặc loại khác mà nó tạo thành một
tổ hợp duy nhất với thiết bị viễn trắc kỹ thuật số hoặc tín hiệu tương
tự hoặc các các thiết bị, hoặc kết hợp với các thiết bị khác để tạo nên
tổ hợp chức năng theo chú giải 3 của Chương 90 (chương 90).
(n) Máy đếm thời gian (ghi thời gian) (nhóm 91.06).
(o) Chân đế loại một chân (monopod), hai chân (bipod), ba chân (tripod)
và các mặt hàng tương tự (nhóm 96.20).
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Phân nhóm 8517.62
Phân nhóm này bao gồm các thiết bị cầm tay không dây hoặc bộ thiết bị
gốc khi mà được trình bày riêng rẽ
85.18 - Micro và giá đỡ micro; loa, đã hoặc chưa lắp ráp vào trong
vỏ loa; tai nghe có khung chụp qua đầu và tai nghe không có
khung chụp qua đầu, có hoặc không ghép nối với một micro,
và các bộ gồm có một micro và một hoặc nhiều loa; thiết bị
điện khuếch đại âm tần; bộ tăng âm điện.
8518.10 - Micro và giá đỡ micro
⦁ Loa, đã hoặc chưa lắp vào vỏ loa:
8518.21 - - Loa đơn, đã lắp vào vỏ loa
8518.22 - - Bộ loa, đã lắp vào cùng một vỏ loa
8518.29 - - Loại khác
8518.30 - Tai nghe có khung chụp qua đầu và tai nghe không có
khung chụp qua đầu, có hoặc không nối với một micro,
và các bộ gồm một micro và một hoặc nhiều loa
8518.40 - Thiết bị điện khuyếch đại âm tần
8518.50 - Bộ tăng âm điện
8518.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm micrô, loa, tai nghe chụp đầu, tai nghe và các bộ
thiết bị điện khuyếch đại âm tần ở tất cả các dạng được xuất trình riêng
rẽ, không quan tâm đến việc các thiết bị nêu trên được thiết kế cho mục
đích sử dụng chuyên dùng (ví dụ, micro điện thoại, tai nghe chụp đầu và
tai nghe, và loa nhận tín hiệu vô tuyến).
Nhóm này cũng bao gồm các bộ tăng âm điện.
(A) MICRO VÀ GIÁ ĐỠ MICRO
Các micro chuyển đổi dao động âm thanh thành các biến thể tương ứng
hoặc các dao động của dòng điện, từ đó có thể làm cho các dao động âm
thanh được truyền đi, phát ra hoặc ghi lại. Căn cứ theo nguyên lý hoạt
động, chúng bao gồm :
(1) Các micro than. Chúng hoạt động dựa trên sự thay đổi điện trở của
các hạt than, tạo ra bởi sự thay đổi áp suất tác động lên chúng khi có
sự thay đổi sóng âm đưa tới từ màng rung. Các hạt (bột) than này
được nhét đầy vào trong một vỏ giữa 2 điện cực, một trong hai điện
cực này tạo thành hoặc được gắn vào tấm màng rung.
(2) Các micro áp điện, trong đó áp lực của các sóng âm được truyền bởi
màng rung, sẽ tác động lên một miếng tinh thể được cắt đặc biệt (ví
dụ như tinh thể thạch anh hoặc tinh thể đá), dẫn tới tạo ra sự tích
điện trên các tinh thể đó. Những yếu tố loại này thường được sử
dụng trong micro "tiếp xúc" mà nó được gắn trong các nhạc cụ như
đàn ghi ta, piano, kèn đồng và các nhạc cụ thuộc bộ dây …
(3) Các micro điện động hoặc micro dải băng (cũng được biết như
micro điện động), trong đó các dao động âm thanh được đưa tới để
tác động lên một cuộn dây hoặc lên một dải băng bằng nhôm đặt
trong từ trường, từ đó sản sinh ra xung điện bằng cảm ứng.
(4) Các micro điện dung hoặc điện tĩnh (điện kháng), chứa 2 tấm
(hoặc điện cực) mà một tấm được cố định (tấm lưng) và một tấm có
thể rung (màng), với một khe không khí giữa 2 tấm. Sóng âm sản
sinh ra sự khác nhau về điện dung giữa 2 tấm.
(5) Các micro nhiệt hoặc micro dây nóng, bao gồm một dây điện trở
đốt nóng, mà nhiệt độ của nó, tùy thuộc điện trở kháng được thay
đổi bởi tác động của sóng âm thanh.
Nhóm này cũng bao gồm các bộ micro không dây, mỗi bộ bao gồm một
hoặc nhiều micro không dây và một bộ thu không dây. Các micro không
dây truyền tín hiệu tương ứng với sóng âm thanh mà nó nhận được, bằng
mạch truyền tải sóng âm thanh và ăngten trong hoặc ngoài. Bộ thu có
một hoặc nhiều ăngten để nhận sóng radio được truyền và mạch bên
trong để biến đổi sóng radio thành tín hiệu âm điện, và có thể có một
hoặc nhiều bộ điều chỉnh âm lượng và nhiều cổng đầu ra.
Có nhiều ứng dụng khác nhau của micro (ví dụ trong các thiết bị công
cộng, trong điện thoại; máy ghi âm; máy phát hiện tàu ngầm hoặc
phương tiện bay; thiết bị nghe lén; nghiên cứu nhịp tim).
Nói chung đầu ra của dòng điện từ micro có dạng tín hiệu tương tự, tuy
nhiên một vài micro tích hợp bộ chuyển tín hiệu tương tự sang tín hiệu
số, do vậy có đầu ra ở dạng tín hiệu kỹ thuật số. Micro đôi khi được
làm cho nhạy hơn bằng việc thêm vào bộ khuyếch đại (thường gọi là
bộ tiền khuyếch đại). Tụ điện đôi khi được gắn vào để chỉnh âm. Một
số micro đòi hỏi phải có nguồn điện để hoạt động. Nguồn điện này có
thể được cung cấp từ một bộ điều chỉnh hỗn hợp hoặc từ các thiết bị
ghi âm hoặc nó có thể ở dạng bộ cấp điện riêng lẻ. Các bộ cấp điện
được xuất trình riêng không được phân loại trong nhóm này (thường
vào nhóm 85.04). Micro đôi khi cũng được gắn với các thiết bị để tập
trung sóng âm thanh và có thể có các giá đỡ chuyên dùng để đặt trên
bàn, trên bục, v.v... hoặc trên nền đất, hay nơi treo micro trong trường
hợp được sử dụng nơi công cộng. Các giá đỡ hoặc thiết bị như trên sẽ
được phân loại trong nhóm này ngay cả khi nó được xuất trình riêng rẽ
với điều kiện chúng được thiết kế đặc biệt để sử dụng với hoặc gắn với
Mặt khác, chân đế loại một chân (monopod), hai chân (bipod), ba chân
(tripod) và các mặt hàng tương tự bị loại trừ (nhóm 96.20).
(B) LOA, ĐÃ HOẶC CHƯA LẮP VÀO VỎ LOA
Chức năng của loa ngược lại với micro: nó tái tạo âm thanh bằng cách
chuyển đổi các biến điện và dao động từ bộ khuếch đại thành các dao
động cơ học được truyền vào không khí. Chúng bao gồm các loại sau
đây :
(1) Loa điện từ hoặc điện động. Trong loa điện từ phần phần ứng hoặc
lưỡi gà bằng sắt mềm được đặt trong từ trường của một nam châm
vĩnh cửu dưới sự tác động của cuộn dây mà dòng điện đi qua. Từ
trường thay đổi tương ứng với dòng điện này, và một màng rung
gắn cố định với phần ứng hoặc bộ lưỡi gà sẽ tạo ra rung động tương
ứng trong không khí. Loa điện động về cơ bản bao gồm một cuộn
dây đặt trong từ trường của nam châm vĩnh cửu hoặc nam châm
điện mà nó được kích hoạt bởi dòng điện biến thiên. Cuộn dây được
nối cố định với một màng rung.
(2) Loa áp điện hoạt động trên nguyên lý của một số tinh thể tự nhiên
hoặc nhân tạo nhất định sẽ có sự biến dạng cơ học khi cho dòng điện
chạy qua chúng. Các loa này thường được biết đến với tên “loa tinh
thể”.
(3) Loa tĩnh điện (cũng được biết như một loa loại điện dung). Các loa
này dựa trên tương tác tĩnh điện giữa 2 tấm (hoặc điện cực), một
tấm đóng vai trò như một màng rung.
Máy biến áp thích ứng và bộ khuếch đại đôi khi được gắn cùng với loa.
Thông thường các tín hiệu điện đầu vào được thu bởi loa ở dạng tín hiệu
tương tự, tuy nhiên trong một vài trường hợp tín hiệu đầu vào có dạng
tín hiệu kỹ thuật số. Những loa này tích hợp bộ biến đổi tín hiệu số sang
tín hiệu tương tự và bộ khuếch đại, từ đó các rung động cơ học được
truyền trong không khí.
Loa có thể được gắn ở trên khung, giàn hoặc trong các tủ khác nhau
(thường được thiết kế âm học), hoặc thậm chí trong các bộ phận của đồ
nội thất. Chúng vẫn được phân loại ở nhóm này với điều kiện chức năng
chính của của chúng là hoạt động như loa phóng thanh. Các khung, giàn,
tủ,... được xuất trình riêng rẽ cũng được phân loại vào nhóm này nếu nó
được thiết kế để chủ yếu lắp vào loa; các sản phẩm nội thất của Chương
94 được thiết kế để đựng, đỡ loa ngoài chức năng bình thường của chúng
thì phân loại vào Chương 94.
Nhóm này bao gồm các loa được thiết kế để nối với các máy xử lý dữ
liệu tự động, khi được xuất trình riêng.
(C) TAI NGHE CHỤP ĐẦU VÀ TAI NGHE, CÓ HOẶC KHÔNG
KẾT HỢP VỚI MICRO, VÀ BỘ BAO GỒM MỘT MICRO VÀ
MỘT HAY NHIỀU LOA
Các tai nghe chụp đầu và tai nghe là các thiết bị nhận âm điện và được
sử dụng để tạo ra tín hiệu âm thanh cường độ thấp. Như các loa được mô
tả ở trên, chúng chuyển đổi hiệu ứng điện thành hiệu ứng âm thanh;
phương thức hoạt động của cả hai loại tai nghe trên tương tự nhau, sự
khác biệt duy nhất là công suất.
Nhóm này bao gồm tai nghe chụp đầu và tai nghe, có hoặc không kết
hợp với micro, dùng cho điện thoại hoặc điện báo; bộ tai nghe chụp đầu
kèm micro (headsets) bao gồm một micro họng đặc biệt và một tai nghe
gắn cố định (ví dụ được sử dụng trong ngành hàng không); bộ tay cầm
nghe – nói điện thoại có dây là bộ thiết bị kết hợp của micro/loa dùng
trong ngành điện thoại và thường được sử dụng cho nhân viên tổng đài;
tai nghe chụp đầu và tai nghe dùng để cắm vào trong thiết bị thu truyền
hình hoặc radio, thiết bị tái tạo âm thanh hoặc máy xử lý dữ liệu tự động.
Nhóm này cũng bao gồm các bộ có một micro và một hay nhiều loa có thể
gắn với nhau. Tai nghe chụp đầu hoặc tai nghe có thể nằm trong một bộ
thiết bị phục vụ nhu cầu nghe riêng tư. Các bộ này được thiết kế để cắm vào
hoặc kết nối với hệ thống điều khiển trung tâm bao gồm cả bộ khuyếch đại.
Những thiết bị này có thể được sử trong các cuộc họp hoặc hội nghị.
Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị nghe thai, thông thường gồm có
một micro, tai nghe chụp đầu, loa, ống nghe, bộ điều khiển tắt/bật/âm
lượng và ngăn chứa pin. Thiết bị này làm nó có thể nghe được các âm
thanh của 1 thai nhi cũng như nhịp tim của người mẹ. Thiết bị này không
gồm máy ghi âm. Thiết bị này không được thiết kế cho mục đích y tế.
Tuy nhiên, các thiết bị chuẩn đoán bằng điện loại được thiết kế để sử
dụng bởi các chuyên gia trong ngành y tế, phẫu thuật hoặc thú y thì được
xếp vào nhóm 90.18.
(D) THIẾT BỊ ĐIỆN KHUẾCH ĐẠI ÂM TẦN.
Thiết bị điện khuếch đại âm tần được sử dụng để khuếch đại tín hiệu
điện nằm trong tần số mà tai người có thể nghe được. Phần lớn các thiết
bị hoạt động dựa trên các linh kiện bán dẫn (transistor) hoặc bộ vi mạch
(IC), nhưng một số vẫn hoạt động dựa trên các đèn nhiệt điện tử
(thermionic valve). Chúng thường được cung cấp điện từ nguồn điện
lưới thông qua bộ nguồn được thiết kế nằm trong thiết bị hoặc, đặc biệt
trong trường hợp của máy khuếch đại di động thì điện sẽ được cung cấp
từ các ắc quy hoặc bộ pin điện.
Tín hiệu đầu vào bộ khuếch đại âm tần có thể được bắt nguồn từ một
micro, một đầu đọc đĩa quang laze, một đầu đọc băng từ, đầu băng từ,
một bộ cung cấp tín hiệu radio, một đầu đọc âm thanh phim hoặc một
vài nguồn khác của tín hiệu điện âm tần. Nói chung, tín hiệu đầu ra
thường được đưa trực tiếp vào loa, nhưng không phải luôn luôn như vậy
(bộ tiền khuếch đại có thể chuyển tiếp tín hiệu cho bộ khuếch đại kế tiếp
hoặc đi cùng với bộ khuếch đại).
Bộ khuếch đại âm tần có thể gồm bộ điều chỉnh âm lượng để thay đổi
âm lượng của bộ khuếch đại, và cũng thường đi kèm các bộ điều khiển
(bass, treble…) để thay đổi tần số tương ứng của nó.
Nhóm này bao gồm bộ khuếch đại âm tần sử dụng như bộ lặp trong điện
thoại hoặc như bộ khuếch đại đo lường.
Bộ khuếch đại cao tần hoặc trung tần được phân loại vào nhóm 85.43
như các thiết bị điện có chức năng riêng. Bộ trộn âm thanh và bộ cân
bằng tần số âm thanh cũng (Audio mixers and equalisers) được phân loại
vào nhóm 85.43.
(E) BỘ TĂNG ÂM ĐIỆN
Nhóm này cũng bao gồm bộ tăng âm gồm micro, bộ khuếch đại âm tần
và loa. Loại thiết bị này được sử dụng rộng rãi trong giải trí công cộng,
hệ thống âm thanh công cộng, xe quảng cáo, xe cảnh sát hoặc với các
dụng cụ âm nhạc nhất định …. Các hệ thống tương tự cũng được sử
dụng trên xe tải lớn (đặc biệt với xe rơ-mooc) cho phép lái xe có thể
nghe các tiếng động bất thường hoặc tín hiệu âm thanh từ phía sau,
những tiếng động mà bình thường lái xe không thể nghe được do tiếng
của động cơ.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết Tổng
quát Phần XVI), các bộ phận của sản phẩm thuộc nhóm này cũng được
phân loại ở đây.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Mũ chụp đầu của nhân viên hàng không có gắn tai nghe có hoặc
không có micro (nhóm 65.06).
(b) Bộ điện thoại (nhóm 85.17).
(c) Máy trợ thính nhóm 90.21.
85.19 - Thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh (+).
8519.20 - Thiết bị hoạt động bằng tiền xu, tiền giấy, thẻ ngân
hàng, token hoặc bằng phương tiện thanh toán khác
8519.30 - Đầu quay đĩa (có thể có bộ phận lưu trữ) nhưng không
có bộ phận khuếch đại và không có bộ phận phát âm
⦁ Thiết bị khác:
8519.81 - - Thiết bị truyền thông sử dụng công nghệ từ tính,
quang học hoặc bán dẫn
8519.89 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các thiết bị để ghi âm, thiết bị để tái tạo lại âm thanh
và các thiết bị mà có cả 2 chức năng trên. Thông thường, âm thanh được
ghi hoặc tái tạo từ một thiết bị lưu trữ bên trong hoặc phương tiện lưu trữ
(ví dụ, băng từ, phương tiện lưu trữ quang, phương tiện lưu trữ bán dẫn
hoặc các phương tiện lưu trữ khác thuộc nhóm 85.23).
Thiết bị ghi âm làm biến đổi các âm thanh trong môi trường ghi âm
thành tập hợp dữ liệu tín hiệu phù hợp cho các thiết bị tái tạo âm thanh
sau đó có thể tái tạo sau đó lại sóng âm thanh ban đầu (tiếng nói,
nhạc…). Thiết bị này bao gồm phần ghi hoạt động trên việc ghi nhận
sóng âm thanh hoặc bởi các phương pháp khác, ví dụ, bằng cách ghi các
file dữ liệu âm thanh, được tải về từ trang Internet hoặc từ một đĩa
compact bởi một máy xử lý dữ liệu tự động, lên các bộ nhớ trong (ví dụ,
bộ nhớ flash) của một thiết bị âm thanh kỹ thuật số (ví dụ, máy MP3).
Các thiết bị ghi âm theo mã kỹ thuật số thường không có khả năng tái
tạo âm thanh ngoại trừ khi chúng đi kèm với một phương tiện để biến
đổi bản ghi âm từ dạng kỹ thuật số sang dạng tín hiệu tương tự.
(I) THIẾT BỊ HOẠT ĐỘNG BẰNG TIỀN XU, TIỀN GIẤY, THẺ
NGÂN HÀNG, TOKEN HOẶC BẰNG CÁC PHƯƠNG TIỆN
THANH TOÁN KHÁC
Các thiết bị này hoạt động bằng tiền xu, tiền giấy, thẻ ngân hàng, token
hoặc các phương tiện thanh toán khác và cho phép lựa chọn cũng như
phát các bản ghi âm theo thứ tự được chọn hoặc ngẫu nhiên. Chúng
thường được biết đến như là “juke box- máy hát tự động”.
(II) ĐẦU QUAY ĐĨA (RECORD-DECKS)
Các thiết bị này làm quay đĩa bằng cơ học hoặc bằng điện. Chúng có thể
được gắn hoặc không gắn với một đầu đọc âm thanh, nhưng chúng
không bao gồm một thiết bị âm học hoặc phương tiện khuếch đại âm
thanh hoạt động bằng điện (xem “các máy ghi âm” phía dưới). Chúng
có thể được gắn với thiết bị tự động cho phép một chuỗi các bản ghi âm
được phát lần lượt.
(III) MÁY TRẢ LỜI ĐIỆN THOẠI
Thiết bị này được thiết kế để hoạt động cùng với một bộ điện thoại
(nhưng không phải là một bộ phận tích hợp của điện thoại). Chúng
truyền một dữ liệu được ghi trước đó và có thể có khả năng ghi âm các
tin nhắn thoại đến của người gọi.
(IV) CÁC THIẾT BỊ KHÁC SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TỪ TÍNH,
QUANG HỌC HOẶC BÁN DẪN
Các thiết bị của nhóm này có thể là loại xách tay. Chúng cũng có thể
được trang bị, hoặc thiết kế để được gắn kèm với các thiết bị âm thanh
(loa, tai nghe, tai nghe chụp đầu) và một bộ khuếch đại.
(A) Thiết bị sử dụng phương tiện từ tính
Nhóm này bao gồm các thiết bị sử dụng băng hoặc phương tiện từ
tính. Âm thanh được ghi lại thông qua sự thay đổi các đặc tính từ
trường của phương tiện. Âm thanh được tái tạo bằng cách cho băng
từ hoặc phương tiện chứa dữ liệu âm thanh đi qua đầu đọc âm từ
tính. Ví dụ bao gồm máy cát sét, máy ghi âm băng và máy cát sét
ghi âm.
(B) Các thiết bị sử dụng phương tiện quang học
Nhóm này gồm các thiết bị sử dụng phương tiện quang học. Âm
thanh được ghi dưới dạng mã số hóa được chuyển đổi từ các tín hiệu
khuếch đại cường độ khác nhau (tín hiệu tương tự) lên trên bề mặt
của môi trường ghi. Âm thanh được tái tạo sử dụng một tia laze để
đọc môi trường này. Ví dụ bao gồm máy CD, máy quay đĩa mini.
Các loại này cũng bao gồm các thiết bị sử dụng phương tiện kết hợp
kỹ thuật từ tính và quang học. Một ví dụ của thiết bị này là loại sử
dụng đĩa quang từ, mà trong thiết bị đó các vùng có hệ số phản xạ
khác nhau được tạo ra nhờ công nghệ từ tính nhưng được đọc sử
dụng tia quang học (ví dụ, tia laze).
(C) Thiết bị sử dụng phương tiện bán dẫn
Nhóm này bao gồm các thiết bị sử dụng các chất bán dẫn (ví dụ, các
chất bán dẫn không xóa). Âm thanh được ghi dưới dạng mã kỹ
thuật số sau khi đã chuyển đổi từ các tín hiệu khuyếch đại có cường
độ khác nhau (tín hiệu tương tự) trong môi trường ghi âm. Âm thanh
được tái tạo bằng cách đọc môi trường này. Môi trường bán dẫn có
thể được thiết lập cố định trong thiết bị hoặc ở dạng phương tiện lưu
trữ không xóa. Ví dụ bao gồm các máy phát âm thanh sử dụng bộ
nhớ chớp (flash memory) (ví dụ, máy MP3) là loại thiết bị di động
hoạt động bằng pin về cơ bản bao gồm một vỏ gắn với bộ nhớ chớp
(gắn trong hoặc có thể tháo rời), một bộ vi xử lý, một hệ thống điện
tử bao gồm một khuếch đại âm tần, một màn hình LCD và các phím
điều khiển. Bộ vi xử lý được lập trình để sử dụng file định dạng
MP3 hay các file định dạng tương tự. Thiết bị này cũng có thể được
nối với máy xử lý dữ liệu tự động để tải các dữ liệu MP3 hoặc tương
tự.
(D) Thiết bị sử dụng sự kết hợp bất kỳ phương tiện từ tính, quang
học hoặc bán dẫn
Các thiết bị này kết hợp các thiết bị có khả năng ghi hoặc tái tạo âm
thanh bằng cách sử dụng 2 loại hoặc tất cả các phương tiện từ tính,
quang học hoặc bán dẫn.
(V) CÁC THIẾT BỊ GHI VÀ TÁI TẠO ÂM THANH KHÁC
Nhóm này bao gồm:
(1) Máy hát/máy quay đĩa (Record player). Những thiết bị này tạo ra
âm thanh từ bản ghi (đĩa có rãnh) bởi bộ khuếch đại và loa điện, các
dao động cơ học được biến đổi thành dao động điện thông qua một
đầu đọc âm (đầu kim máy quay đĩa). Chúng có thể được gắn với
một thiết bị tự động cho phép phát một loạt các bản ghi một cách
lần lượt.
(2) Thiết bị ghi âm phim chiếu bóng mà nó ghi âm bằng phương pháp
quang điện. Âm thanh có thể được ghi lại bằng hiệu ứng quang
điện lên phim dưới dạng dải tại (a) các vị trí khác nhau hoặc (b) mật
độ khác nhau.
Các thiết bị ghi âm chiếu bóng bao gồm, bên cạnh đầu ghi âm
thanh, một ổ đựng để giữ cuộn phim, một máy dẫn động bằng động
cơ để đồng bộ hoá tốc độ của phim với tốc độ của camera quay
phim làm việc cùng nó, và một thiết bị dịch chuyển phim.
(3) Thiết bị tái tạo âm thanh quay phim. Các thiết bị này được trang bị
với một bộ đọc gắn với đầu đọc âm quang điện và một thiết bị ghép
điện tích (CCD).
(4) Thiết bị ghi âm lại, cho quay phim, được sử dụng, ví dụ, cho việc
ghi âm lại bằng kỹ thuật quang điện hoặc kỹ thuật số các bản ghi âm
thanh đã được ghi bởi các cách khác, ví dụ, từ tính, quang học hay
điện tử.
BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết Tổng
quát Phần XVI), bộ phận và phụ kiện của các thiết bị thuộc nhóm này
được phân loại ở nhóm 85.22.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Máy đúc ép hoặc phun dùng để sản xuất hàng loạt các đĩa ghi âm
quang học bằng plastic (nhóm 84.77).
(b) Máy trả lời điện thoại có dạng một bộ phận tích hợp trong bộ điện
thoại (nhóm 85.17).
(c) Micro, loa, bộ khuếch đại âm tần và các bộ khuếch đại âm tần điện
được xuất trình riêng rẽ (nhóm 85.18).
(d) Thiết bị ghi hoặc tái tạo hình ảnh (nhóm 85.21).
(e) Các thiết bị ghi và tái tạo âm thanh kết hợp trong cùng một vỏ với
thiết bị thu sử dụng trong phát thanh sóng vô tuyến (nhóm 85.27).
(f) Thiết bị ghi và tái tạo âm thanh kết hợp với bộ thu hình (nhóm
(g) Máy quay phim và máy chiếu kết hợp với thiết bị ghi hoặc tái tạo âm
thanh (nhóm 90.07).
Chú giải Chi tiết Phân nhóm.
Phân nhóm 8519.81
Phân nhóm này bao gồm các thiết bị sử dụng một hoặc nhiều các
phương tiện sau đây: từ tính, quang học hoặc bán dẫn.
85.21 - Thiết bị ghi hoặc tái tạo video, có hoặc không gắn bộ phận
thu tín hiệu video.
8521.10 – Loại dùng băng từ
8521.90 – Loại khác
(A) CÁC THIẾT BỊ GHI VÀ KẾT HỢP GHI VỚI TÁI TẠO
Đây là các thiết bị mà khi được kết nối với một máy quay hình, hoặc
một máy thu hình, ghi trên môi trường xung điện (tín hiệu tương tự)
hoặc các tín hiệu tương tự đã biến đổi thành mã kỹ thuật số (hoặc sự kết
hợp của những thứ này) mà tương ứng với hình ảnh và âm thanh thu
được bởi máy quay hình hoặc được nhận bởi một bộ ghi hình. Nhìn
chung các hình ảnh và âm thanh được ghi lên cùng một phương tiện.
Phương pháp ghi có thể bằng từ tính hoặc quang học và phương tiện ghi
thường là băng hoặc đĩa.
Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị ghi, thường là trên đĩa từ, mã kỹ
thuật số tương ứng với hình ảnh video và âm thanh, bằng cách chuyển
đổi các mã kỹ thuật số từ một máy xử lý dữ liệu tự động (ví dụ, máy ghi
video kỹ thuật số).
Trong máy ghi từ tính trên băng, hình ảnh và âm thanh được ghi trên các
rãnh khác nhau trên băng trong khi máy ghi từ tính trên đĩa hình ảnh và
âm thanh được ghi dưới dạng đường từ tính hoặc vết từ trong các rãnh
xoắn ốc trên bề mặt của đĩa.
Trong các thiết bị ghi quang học, dữ liệu kỹ thuật số tương ứng với hình
ảnh và âm thanh được mã hoá bằng tia laze chiếu lên đĩa.
Thiết bị ghi video nhận tín hiệu từ các bộ thu truyền hình cũng được gắn
một thiết bị dò sóng có khả năng chọn lựa các tín hiệu (hoặc kênh) mong
muốn (kênh) từ dải tần số của tín hiệu được truyền bởi trạm phát sóng
truyền hình.
Khi được sử dụng để tái tạo video, các thiết bị biến đổi bản ghi thành tín
hiệu video. Các tín hiệu này được chuyển trên trạm phát sóng hoặc qua
thiết bị thu hình.
(B) THIẾT BỊ TÁI TẠO
Thiết bị này được thiết kế chỉ để tái tạo hình ảnh và âm thanh trực tiếp
trên thiết bị thu truyền hình. Các phương tiện truyền thông được sử dụng
trong những thiết bị này được ghi trước đó bằng phương pháp cơ học
khí, bằng từ tính hoặc quang học lên các thiết bị ghi đặc biệt. Ví dụ:
(1) Thiết bị sử dụng các đĩa mà trong đó dữ liệu hình ảnh âm thanh đuợc
lưu trữ trên đĩa bởi các cách khác nhau và được đọc bằng hệ thống
đọc laze quang học, cảm ứng điện dung, cảm ứng áp lực hoặc đầu
từ. Theo Chú giải 3 Phần XVI, thiết bị mà có thể tái tạo cả hình ảnh
và âm thanh được phân loại ở nhóm này.
(2) Các thiết bị giải mã và biến đổi dữ liệu hình ảnh được ghi trên phim
nhạy sáng thành tín hiệu video (âm thanh được ghi bằng phương
pháp từ tính trên cùng một phim).
BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết Tổng
quát Phần XVI), bộ phận và phụ kiện của sản phẩm thuộc nhóm này
được phân loại ở ở nhóm 85.22.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Phương tiện ghi âm của nhóm 85.23.
(b) Camera video (nhóm 85.25).
(c) Thiết bị thu dùng cho truyền hình (có hoặc không gắn với thiết bị thu
sóng đài phát thanh, thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh hoặc hình
ảnh) và các màn hình video và máy chiếu video (nhóm 85.28).
85.22 - Bộ phận và đồ phụ trợ chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho các
thiết bị của nhóm 85.19 hoặc 85.21.
8522.10 - Cụm đầu đọc-ghi
8522.90 – Loại khác
Theo quy tắc chung phân loại các bộ phận (xem Chú giải Chi tiết Tổng
quát Phần XVI), nhóm này bao gồm các bộ phận và thiết bị phụ trợ thích
hợp để chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với các thiết bị của nhóm 85.19
hoặc 85.21.
Các bộ phận và thiết bị phụ trợ được phân loại ở đây bao gồm:
(1) Cụm đầu đọc-ghi sử dụng cho đĩa hoặc cho các cuộn phim âm thanh
được ghi bằng kỹ thuật cơ học. Chúng biến đổi các rung động cơ
học (thu được bằng cách cho đầu kim của thiết bị chạy theo đường
rãnh trên môi trường ghi) thành các xung điện.
(2) Hệ thống đọc quang học bằng tia lade.
(3) Đầu đọc âm thanh bằng từ (đầu từ) được dùng để ghi, phát lại hoặc
xóa âm thanh.
(4) Thiết bị chuyển đổi âm thanh có hình dạng như cát-sét cho phép
âm thanh được tái tạo từ một máy đọc đĩa quang di động tới một
máy đọc băng từ.
(5) Đầu đọc âm thanh quang điện.
(6) Thiết bị để cuộn băng hoặc để nhả băng. Về cơ bản thiết bị này
thường có 2 giá đỡ trục, có ít nhất một trong hai cái gắn với một bộ
phận truyền chuyển động quay.
(7) Cần máy đĩa hát, mâm đỡ mặt quay đĩa hát.
(8) Kim đầu đọc có hoặc không gắn xaphia và kim cương.
(9) Thiết bị tạo rãnh. Chúng là những bộ phận của máy thu. Chúng làm
nhiệm vụ biến các rung động âm thành các rung động cơ học và làm
thay đổi hình dạng các rãnh.
(10) Đồ nội thất có thiết kế và cấu trúc đặc biệt cho các thiết bị ghi và
tái tạo âm thanh.
(11) Các băng cát sét để làm sạch đầu từ của thiết bị ghi hoặc tái tạo
âm thanh hoặc hình ảnh, có hoặc không được đóng gói để bán lẻ với
dung dịch làm sạch.
(12) Các bộ phận và đồ phụ trợ chuyên dụng khác sử dụng cho thiết
bị thu và tái tạo âm thanh bằng từ tính, ví dụ như các đầu xoá và
thanh xoá và máy xóa bằng từ; các mũi kim từ; mặt chia mức chỉ vị
trí đạt được trong việc đọc.
(13) Các bộ phận và đồ phụ trợ đặc biệt khác sử dụng cho thiết bị
ghi và tái tạo hình ảnh, ví dụ, trống ghi tín hiệu video; thiết bị chân
không để giữ băng từ tiếp xúc với đầu ghi hoặc đầu đọc; thiết bị
cuộn băng…
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các ống cuốn, trục hoặc các bộ phận đỡ tuơng tự, bao gồm cả hộp cát
sét hình ảnh hoặc âm thanh mà chưa có băng từ (được phân loại theo
vật liệu cấu thành, ví dụ, trong Chương 39 hoặc Phần XV)
(b) Các động cơ điện cho thiết bị ghi hoặc tái tạo âm thanh, mà không
kết hợp với các bộ phận hoặc đồ phụ trợ của các thiết bị ghi hoặc tái
tạo âm thanh này (nhóm 85.01).
(c) Phương tiện lưu trữ thông tin để ghi của nhóm 85.23.
(d) Các thiết bị có gắn đầu đọc âm thanh được sử dụng cùng với khung
quan sát trên các bàn đồng bộ hoá. (nhóm 90.10).
85.23 – Đĩa, băng, các thiết bị lưu trữ bền vững, thể rắn, “thẻ thông
minh” và các phương tiện lưu trữ thông tin khác để ghi âm
thanh hoặc các nội dung, hình thức thể hiện khác, đã hoặc
chưa ghi, kể cả b