CHU GIAI 2022 CHUONG 84 4
ông cắt.
(3) Máy để gia công dây, ví dụ để sản xuất những mặt hàng dây như lò
xo, dây thép gai, dây xích, đinh ghim, đinh dây hoặc ghim dập và
móc. Nhóm này bao gồm những máy móc loại được thiết kế đặc biệt
để làm lưới sắt, khác với khung cửi dệt vải thông thường cả về
nguyên lý hoạt động và cấu tạo của chúng. Tổ hợp khung cửi sử dụng
dây thép đã uốn thì không được phân loại vào nhóm này (nhóm
Máy móc để bện dây thừng, cáp tao bằng dây kim loại hoặc sợi tổng
hợp cũng không được xếp vào nhóm này (nhóm 84.79).
(4) Máy dùng để xoắn dây kim loại mỏng thành hình lò xo trong việc
sản xuất dây tóc bóng đèn.
(5) Máy tán đinh loại trừ máy ép của nhóm 84.62.
(6) Máy rèn, trong đó các ống hoặc thanh phải qua khuôn nền quay để
thu nhỏ đường kính.
(7) Máy tiện ép. Những máy này khác máy tiện thuộc nhóm 84.58 vì
trên thực tế, chúng làm việc bằng việc biến dạng kim loại.
(8) Máy sản xuất những ống mềm bằng dải kim loại xoắn ốc.
(9) Máy tạo hình kim loại bằng xung điện từ, sử dụng lực của dòng
điện từ để tạo hình một phôi kim loại (thường dạng ống) mà không
cắt bỏ vật liệu với sự hỗ trợ của một khuôn dập.
BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo như những qui định chung liên quan đến việc phân loại các bộ
phận (xem chú giải tổng quát phần XVI), các bộ phận và phụ tùng (trừ
các dụng cụ thuộc Chương 82) của các loại máy công cụ thuộc nhóm
này được xếp vào nhóm 84.66.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Dụng cụ cầm tay (nhóm 82.05).
(b) Máy bó dùng để bó các kiện lại với nhau, máy đóng nắp đồ hộp hoặc
đồ chứa khác (nhóm 84.22).
(c) Trung tâm gia công, máy kết cấu nguyên khối (một vị trí gia công) và
máy gia công chuyển dịch đa vị trí, để gia công kim loại (nhóm 84.57).
(d) Dụng cụ thao tác bằng tay hoạt động bằng khí nén, thủy lực hoặc gắn
động cơ dùng hoặc không dùng điện (nhóm 84.67).
(e) Máy móc và các thiết bị kiểm tra (nhóm 90.24).
84.64- Máy công cụ để gia công đá, gốm, bê tông, xi măng - amiăng
hoặc các loại khoáng vật tương tự hoặc máy dùng để gia công
nguội thủy tinh (+).
8464.10 - Máy cưa
8464.20 - Máy mài hoặc máy đánh bóng
8464.90 - Loại khác
Nhìn chung, các loại máy công cụ được vận hành bằng điện nhưng
những máy tương tự, vận hành bằng tay hoặc đạp chân cũng được xếp
vào nhóm này. Loại máy công cụ nhưng vận hành bằng tay hoặc đạp
chân có thể phân biệt với dụng cụ cầm tay của nhóm 82.05 và dụng cụ
cầm tay của nhóm 84.67 ở đặc điểm, trên thực tế những loại máy này
thường được thiết kế để đặt trên sàn, trên giá máy, gắn tường hoặc trên
máy móc khác, và vì vậy những máy này thường có bệ, khung, giá đỡ
(I) MÁY CÔNG CỤ ĐỂ GIA CÔNG ĐÁ, GỐM, BÊ TÔNG, XI
MĂNG - AMIĂNG HOẶC CÁC LOẠI KHOÁNG VẬT
TƯƠNG TỰ
Nhóm này bao gồm không chỉ những loại máy để gia công đá tự nhiên,
mà còn cả những máy để gia công những nguyên liệu cứng tương tự
(gốm, bê tông, đá nhân tạo, xi măng amiăng v.v..). Mặc dù hầu hết các
máy để gia công đá quý hoặc đá bán quý có những đặc tính riêng biệt
(độ chính xác cao hơn v.v..) tuy nhiên chúng vẫn được phân loại vào
nhóm này.
Nhóm này bao gồm :
(A) Máy cưa hoặc máy cắt, như:
(1) Máy cưa theo đúng nghĩa (cưa đĩa, cưa vòng và cưa chuyển
động qua lại, kể cả những loại dùng lưỡi không có răng cưa..).
(2) Máy cắt bằng đĩa (bằng vật liệu mài,…), kể cả những máy để xẻ
rãnh hoặc cắt những chỗ nối hỏng trên bề mặt bê tông hoặc trên
mặt đá xây dựng.
(3) Máy cắt bằng dây hình xoắn ốc. Những máy này hoạt động
bằng những dây thép liên tục bao gồm những tao của dây được
xoắn theo hình xoắn ốc và được điều khiển bằng một hệ thống
puly có rãnh. Dây này, được hỗ trợ bằng hỗn hợp bào mòn của sa
thạch bột và nước, cắt vào đá bằng lực ma sát.
(B) Các máy để rạch hoặc chẻ.
(C) Các máy nghiền, làm nhẵn, đánh bóng, tạo vân,...
(D) Các máy khoan, phay.
(E) Các máy tiện, chạm khắc, tạc, khuôn cắt,…
(F) Các máy dùng cắt hoặc sửa đá mài.
(G) Các máy công cụ dùng để gia công những sản phẩm bằng gốm
(khoan, cắt, phay, đánh bóng v.v..) trừ những máy để gia công bột
gốm nhão hoặc những vật phẩm chưa nung bằng nguyên liệu gốm (ví
dụ, những máy tạo khuôn và tạo hình bột gốm nhão, nhóm 84.74).
(II) MÁY CÔNG CỤ GIA CÔNG NGUỘI THỦY TINH
Loại này bao gồm các loại máy công cụ dùng để gia công nguội thủy
tinh, loại trừ những loại máy dùng để gia công nóng thuỷ tinh (tức là
thủy tinh nung nóng đến khi trở thành thể lỏng hoặc dẻo) (nhóm 84.75).
Tuy nhiên trên thực tế một số trường hợp, thủy tinh được nung nóng nhẹ
để phục vụ cho những quá trình nhất định thì không loại trừ những máy
đó khỏi nhóm này, nếu chúng gia công thủy tinh mà vẫn còn giữ được
tính cứng chắc của vật liệu cứng.
Nhiều máy trong số những loại máy này thực hiện những hoạt động
giống như những hoạt động của máy được đề cập ở phần (I) gắn với đá
hoặc những vật liệu tương tự.
Những loại khác được sử dụng cho những công việc cụ thể hơn, ví dụ như
trang trí hoàn thiện hoặc sử dụng vào những mục đích đặc biệt (ví dụ chế tạo
thiết bị quang học hoặc đồng hồ đeo tay). Đặc biệt, với những loại sau:
(1) Máy cắt thủy tinh, loại dùng bánh xe hoặc dùng kim cương.
(2) Máy cắt (tạo hình) thủy tinh, dùng để vát cạnh hoặc dùng để cắt
những vật phẩm bằng thủy tinh.
(3) Máy mài chỉnh hình, mài bóng,... được dùng chủ yếu để làm nhẵn
các góc cạnh, các mặt đế phẳng, hoặc đẽo gọt những hình khuôn.
(4) Máy đánh bóng. Đôi khi việc đánh bóng được thực hiện theo sau
bởi một quá trình hoàn thiện đặc biệt hơn nữa, như làm nhẵn bằng
máy có đĩa bọc nỉ; những máy đó cũng được xếp vào nhóm này.
(5) Máy chạm khắc loại dùng đá mài hoặc dùng kim cương; Tuy nhiên,
máy chạm khắc bằng phun cát thì không thuộc nhóm này (nhóm
(6) Máy công cụ được dùng để hoàn thiện hoặc đánh bóng kính
quang học, kính đeo mắt, kính đồng hồ treo tường, kính đồng hồ
đeo tay. Những máy này bao gồm cắt kính tròn đặc biệt được dùng
để cắt ra những mắt kính và cả những máy tạo hình hoặc đánh bóng
quang học, bằng việc làm mòn bề mặt thấu kính, lăng kính,… (hình
cầu, hình tròn, hình trụ, nhiều tiêu cự v.v...), ...
BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo như những qui định chung liên quan đến việc phân loại các bộ
phận (xem chú giải tổng quát phần XVI), các bộ phận và phụ tùng (trừ
các dụng cụ thuộc Chương 82) của các loại máy công cụ thuộc nhóm
này được xếp vào nhóm 84.66.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Dụng cụ cầm tay hoặc đá mài quay tay hoặc hoạt động bằng bàn đạp
(nhóm 82.05).
(b) Máy dùng để xe sợi thủy tinh thành sợi, máy dệt, và các loại máy
khác thuộc nhóm 84.45 hoặc 84.46.
(c) Máy công cụ dùng để gia công bất kỳ loại vật liệu nào bằng cắt gọt,
bằng quy trình công nghệ tia lade hoặc tia sáng khác hoặc chùm phô-
tông, siêu âm hoặc hồ quang plasma và các loại máy công cụ khác
nhóm 84.56.
(d) Dụng cụ thao tác bằng tay hoạt động bằng khí nén, thủy lực hoặc gắn
động cơ dùng hoặc không dùng điện (nhóm 84.67).
(e) Máy nghiền, mài, trộn, làm khuôn, kết tụ, đúc, làm gạch v.v.. (nhóm
(f) Máy cưa, máy gạch đường kẻ, tạo rãnh tấm hoặc tấm bán dẫn mỏng
(như là “tấm bán dẫn mỏng cắt nhỏ ngang dọc vuông góc“), và máy
công cụ dùng để nghiền, làm bóng hoặc mài các tấm hoặc khối bán
dẫn mỏng hoặc các tấm màn hình dẹt (nhóm 84.86).
Chú giải phân nhóm
Phân nhóm 8464.10
Phân nhóm này bao gồm máy cắt và máy cưa được mô tả trong đoạn A
của phần I của chú giải nhóm 84.64.
84.65 - Máy công cụ (kể cả máy đóng đinh, đóng ghim, dán hoặc lắp
ráp bằng cách khác) dùng để gia công gỗ, lie, xương, cao su
cứng, plastic cứng hoặc các vật liệu cứng tương tự.
8465.10 - Máy có thể thực hiện các nguyên công gia công cơ khác
nhau mà không cần thay dụng cụ giữa các nguyên công
8465.20 - Trung tâm gia công
- Loại khác:
8465.91 - - Máy cưa
8465.92 - - Máy bào, máy phay hoặc máy tạo khuôn (bằng phương
pháp cắt)
8465.93 - - Máy mài, máy chà nhám hoặc máy đánh bóng
8465.94 - - Máy uốn hoặc máy lắp ráp
8465.95 - - Máy khoan hoặc đục mộng
8465.96 - - Máy xẻ, lạng hoặc máy bóc tách
8465.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các máy công cụ dùng để tạo hình hoặc để gia công
bề mặt (kể cả cắt, tạo hình và lắp ráp) gỗ (và các vật liệu từ gỗ), lie,
xương, cao su cứng, nhựa cứng và các vật liệu cứng tương tự (chất sừng,
dừa ngà, xà cừ, ngà voi v.v…).
Nhóm này loại trừ những loại máy dùng để gia công nguyên liệu mặc
dù được đề cập đến trong nhóm này nhưng không có những đặc tính của
những nguyên liệu cứng tại thời điểm gia công. Vì vậy, những máy để
cắt, cắt lát nhựa dễ uốn hoặc cao su không cứng không thuộc nhóm này
(nhóm 84.77). Hơn nữa, nhóm này không bao gồm những máy móc để
làm những sản phẩm từ những các hạt nhỏ hoặc bột, như những máy đúc
khuôn nhựa (nhóm 84.77), những máy để kết tụ hoặc đúc các tấm hoặc
sợi từ gỗ hoặc các vật liệu từ gỗ khác (nhóm 84.79) hoặc các máy tương
tự khác. Nhóm này cũng loại trừ những máy móc thiết bị có chức năng
không phải để gia công vật liệu hoặc bề mặt của vật liệu, ví dụ những
máy dùng để sấy khô gỗ hoặc làm già hoá bằng việc sấy khô (nhóm
84.19), những máy dùng để làm nở nắp chai (lie) (nhóm 84.19) hoặc
những máy dùng để ép, kết tụ hoặc ngâm tẩm gỗ (nhóm 84.79) mặc dù
chúng có thể được coi như máy xử lý những vật liệu được đề cập trong
nhóm này.
Nhìn chung, các loại máy công cụ vận hành bằng động cơ nhưng những
máy tương tự, vận hành bằng tay hoặc bàn đạp chân cũng được xếp vào
nhóm này. Loại máy công cụ vận hành bằng tay hoặc bàn đạp chân có
thể phân biệt với dụng cụ cầm tay của nhóm 82.05 và dụng cụ thao tác
bằng tay của nhóm 84.67, bởi thực tế là những loại máy này được thiết
kế đặt trên sàn, trên giá máy, gắn tường hoặc trên máy móc khác, và vì
vậy những máy này thường có bệ, khung gắn, giá đỡ,...
(A) NHỮNG MÁY MÓC KHÔNG CHUYÊN DÙNG CHO MỘT
NGÀNH CÔNG NGHIỆP CỤ THỂ
Nhóm này bao gồm:
(1) Máy cưa các loại. Những máy này hoạt động bằng lưỡi cưa hoặc dây
xích có răng cưa. Những máy này bao gồm:
(a) Máy cưa với những dụng cụ chuyển động qua lại, ví dụ máy cưa có
răng cưa được thiết kế để cắt dọc khúc gỗ với những lưỡi cưa có
răng bên phải, cưa chích và cưa dọchoặcngang để cắt những cây gỗ
cứng thành những tấm ván.
(b) Máy cưa với dụng cụ quay tròn. Loại cưa này bao gồm cưa xích và
cưa vòng như cưa vòng dọchoặcngang, cưa vòng một nửahoặcmột
phần tư, cưa vòng bàn hoặc có hai bánh và các máy chuyên dụng
khác như vòng đa chức năng dùng để sản xuất khối, dải dài, ván cho
ván sàn gỗ (parquet strips) và cưa vòng dùng cho công nghiệp giấy.
(c) Máy cưa với dụng cụ có chuyển động xoay. Nhóm máy này có
phạm vi rộng lớn bao gồm tẩt cả những máy cắt bằng một hoặc hơn
một lưỡi có răng cưa chuyển động theo một cung tròn. Ví dụ, bao
gồm cưa lắc, cưa cắt phôi với hành trình chuyển động thẳng, cưa
quay tròn, cưa xẻ với đường cắt dài, cưa cắt khúc vòng tròn, cưa
đĩa, cưa bàn, cưa thợ mộc, cưa cắt khung tròn.
(2) Máy làm khuôn và máy bào, gia công bề mặt cho các mặt của vật
gia công bằng cách dùng lưỡi sắc để loại bỏ những mảnh vật liệu.
Những loại máy này bao gồm những máy gia công trên một hoặc hai
mặt và máy bào có thể gia công tới tất cả bốn mặt.
(3) Máy dùng để phay và làm khuôn, những máy này tạo hình dạng
cho vật gia công nhờ các dụng cụ quay tròn để cắt bỏ những mảnh
vật liệu. Ví dụ, máy dập trục khuôn, máy cắt mộng một đầu (single -
end), máy làm mộng đuôi én, máy cắt rãnh, máy bắt ốc, máy tạo hốc
và máy phay, máy copying (trừ máy tiện), máy làm khuôn 1,2, 3 hoặc
4 mặt, máy chép hình, với vật gia công quay tròn, máy xọc, máy phay
gỗ. Nhóm này cũng bao gồm các máy phay CNC.
(4) Trung tâm gia công (xem Chú giải phân nhóm 1 Chương này),
thường được gọi là trung tâm gia công CNC. Những máy này thực
hiện một vài nguyên công và có chức năng đổi công cụ tự động từ
một ổ chứa hoặc các dạng tương tự phù hợp với chương trình máy.
Do đó, nhóm này bao gồm các máy công cụ thực hiện nhiều nguyên
công bởi chức năng đổi dụng cụ tự động từ một ổ chứahoặctương tự,
ngược lại máy công cụ thực hiện 1 nguyên công sử dụng một công cụ
đơn hoặc vài công cụ làm việc đồng thời hoặc liên tục (như máy
khoan nhiều trục quayhoặcmáy phay nhiều dao cắt) thì phân loại vào
phân nhóm tương ứng của chúng như máy khoan hoặc máy phay.
(5) Máy mài, máy chà nhám và máy đánh bóng. Máy mài sử dụng đá
mài, được dùng chủ yếu cho các sản phẩm cứng như dừa ngà, cao su
cứng, sừng và ngà voi.
Máy chà nhám dùng các vật liệu mài mòn để gia công hoàn thiện bề
mặt cũng như đảm bảo kích thước chính xác của chi tiết. Nhóm này
bao gồm các máy hoạt động dao động, như máy mài dùng đai mài,
máy mài đĩa mài, máy mài dùng trống và con lăn mài. Những máy
được coi như máy làm nhẵn cũng được xếp vào nhóm này.
Máy đánh bóng tạo ra độ bóng bằng đai, trống hoặc những con lăn
linh hoạt, để chi tiết đạt được độ bóng yêu cầu.
(6) Máy uốn làm thay đổi hình dạng hoặc các tính chất vật lý của chi tiết
bằng tác động cơ khí vào cấu trúc của vật gia công.
(7) Máy lắp ráp.
Những máy này bao gồm:
(a) Những máy lắp ráp hai hoặc nhiều chi tiết bằng các chất liên kết,
chất kết dính hoặc giấy dán bằng keo. Nhóm này bao gồm máy
ghép các lớp mặt ngoài, máy dán tấm ván, máy tạo hình panel, kẹp
khung, máy ép gỗ cán mỏng và gỗ dán, máy ép lớp gỗ mặt ngoài.
Những loại máy này có thể lắp kèm những dụng cụ để trải hồ trên
bề mặt của gỗ.
(b) Những máy để ghép nối, dùng dính, dính kẹp, dây thép...
(c) Những máy để ghép nối không dùng chất dính hoặc chốt, ví dụ
như ép siết.
(8) Máy khoan. Loại máy này chỉ dùng để khoan một lỗ tròn dùng một
dụng cụ quay tròn (trục chính hoặc mũi khoan). Tâm của dụng cụ và
của lỗ được khoan nằm trên tâm của trục chính. Nhóm này bao gồm
máy khoan một trục chính và nhiều trục chính, máy khoan nút mắt gỗ
và máy khoan đóng chốt. Máy khoan CNC cũng thuộc nhóm này.
(9) Máy đục mộng. Những máy này cắt những hốc không phải là hình
trụ bằng cách dùng một cái đục, một chuôi lỗ mộng hoặc đường mũi
khoan,… ví dụ như máy đục hàng, khía rãnh hoặc máy làm mộng.
(10) Máy xẻ, dập nổi, chia nhỏ, xén và cắt mỏng. Tất cả những máy
chuyển đổi một vật cần gia công bằng cơ học mà không loại bỏ
những mẩu gỗ.
Bao gồm:
(a) Máy xẻ, chẻ những thớ bằng cách nêm. Những máy này bao gồm
máy chẻ khúc gỗ, máy chẻ củi, máy chẻ rễ cây, và máy chẻ gỗ cây
liễn, tre và song mây.
(b) Máy dập nổi, tạo hình bằng việc dập cắt, ví dụ như máy dập lớp
gỗ bề ngoài.
(c) Máy chia nhỏ, tạo ra những miếng gỗ nhỏ có cùng kích cỡ và hình
dạng. Những máy này bao gồm máy cắt mảnh vụn, máy tạo ra
những miếng nhỏ, máy làm sợi gỗ và máy chặt khúc và cắt lát.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm máy nghiền xơ dùng để sản
xuất bột giấy, loại máy này được xếp vào nhóm 84.39.
(d) Máy xén hoặc cắt mỏng dùng cạnh lưỡi dao cắt thẳng để tạo ra
những tấm mỏng hoặc bằng cách bóc tách (những máy để sản xuất
ra những tấm ván mỏng) hoặc bằng cách lạng (những máy dùng để
sản xuất những tấm gỗ bọc ngoài hoặc những tấm gỗ mỏng dùng
cho việc sản xuất gỗ dán).
Nhóm này cũng bao gồm những máy để cắt sửa tấm vỏ ngoài dùng
lưỡi dao cắt thẳng, máy cắt mộng vuông góc và máy cắt thanh
song gỗ.
(11) Máy tiện, được dùng để tiện các chi tiết, bằng sự chuyển động
quanh trục của nó, dụng cụ không quay tròn. Nhóm này bao gồm tất
cả các loại máy tiện, bao gồm máy tiện chép hình.
(12) Máy cắt cưa tỉa cành cây hoặc máy bucking machines.
(13) Máy móc bóc vỏ gỗ (máy tróc vỏ gỗ, v.v..), trừ máy bóc vỏ bằng
tia nước phun thuộc nhóm 84.24 và trống bóc vỏ thuộc nhóm
(14) Máy khoan mắt gỗ để chế biến gỗ (ví dụ, dùng để làm bột giấy).
Nhóm này cũng bao gồm những máy mà có thể thực hiện được những
hoạt động khác nhau của máy mà không phải thay đổi dụng cụ giữa các
hoạt động đó.
Ví dụ như:
(1) Máy kết hợp chế tạo đồ gỗ tập hợp trên cùng một đơn vị nhiều máy
móc với các chức năng khác nhau, sử dụng độc lập với nhau. Với loại
máy này, cần thiết phải có những trợ giúp thủ công đối với vật gia
công giữa mỗi hoạt động. Loại này bao gồm những máy để bào mặt
kết hợp một hoặc nhiều hoạt động khác và máy cưa - đúc khuôn - đục
mộng.
(2) Máy đa năng, không giống như loại trên, trong đó không đòi hỏi sự
trợ giúp thủ công nào sau khi đưa vật chưa thành phẩm vào. Loại này
bao gồm máy ghép mộng đơn với một vài trục, máy ghép mộng hai
đầu, máy để định vị, chốt hốc v.v.. những máy lắp ráp, dùng chất kết
dính và hoàn thiện (dùng để sản xuất những dải mặt ngoài hoặc làm
khung từ máy tiện).
(B) MÁY CÔNG CỤ CHUYÊN DÙNG CHO NGÀNH CÔNG
NGHIỆP ĐẶC BIỆT
Nhóm này bao gồm:
(1) Máy đóng thùng (ví dụ máy khớp nối ván cong, máy bào ván cong,
máy uốn ván cong, máy cắt rãnh ván cong hoặc cắt rãnh thùng ton nô,
máy lắp ráp thùng ton nô, máy lắp vòng, …). Nhưng nhóm này không
bao gồm thiết bị làm bay hơi của ván cong và thung ton nô (nhóm
(2) Máy móc được sử dụng trong công nghiệp sản xuẩt bút chì.
(3) Máy dùng để đục mộng hoặc khoan các tà vẹt đường sắt.
(4) Máy chạm gỗ, máy khắc, kể cả máy sao chép.
(5) Máy nghiền bột gỗ. Nhưng nhóm này không bao gồm máy nghiền
xơ dùng trong công nghiệp bột giấy (nhóm 84.39).
(6) Máy dùng để đóng đinh, đóng ghim, dán hồ hoặc máy lắp ráp
hộp, thùng thưa, hòm, thùng ton nô, v.v.. khác.
(7) Máy làm cúc gỗ.
(8) Máy dùng để làm guốc, để hoặc gót giấy bằng gỗ, hoặc khuôn
giầy.
(9) Máy dùng để gia công cây liễu gai, mây,... (bóc vỏ, chẻ, gọt tròn,
v.v.. ), trừ những máy để sản xuất những vật đan lát (như rổ, giỏ,
thúng...) và đồ đan từ liễu gai (nhóm 84.79).
Nhóm này bao gồm máy công cụ dùng để gia công lie (ví dụ, bằng
cách cưa, loại bỏ, cắt, đánh bóng), xương, cao su cứng, nhựa cứng và
các nguyên liệu cứng tương tự. Nhìn chung, những máy này được thiết
kế theo cùng một nguyên tắc như máy công cụ để gia công gỗ.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo như những quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ
phận (xem Chú giải tổng quát Phần XVI), các bộ phận và phụ tùng (trừ
các dụng cụ thuộc Chương 82 ) của các loại máy công cụ thuộc nhóm
này được xếp vào nhóm 84.66.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Máy nghiền tre, máy cắt miếng gỗ mỏng và máy nghiền khúc gỗ
được dùng trong sản xuất bột gỗ (nhóm 84.39).
(b) Máy công cụ dùng để gia công bất kỳ loại vật liệu bằng cách tách,
loại bỏ một phần vật liệu, bằng các quy trình công nghệ tia lade hoặc
tia sáng khác hoặc chùm phô-tông, siêu âm, phóng điện, điện hóa, tia
điện tử, tia ion hoặc hồ quang plasma và các loại máy công cụ khác
thuộc nhóm 84.56.
(c) Dụng cụ cầm tay hoạt động bằng khí nén, thủy lực hoặc gắn động cơ
dùng hoặc không dùng điện (nhóm 84.67).
(d) Máy làm nguội dùng để làm sạch và loại bỏ tạp chất từ đầu kim loại
trong khối bán dẫn (nhóm 84.86)
84.66 - Bộ phận và phụ kiện chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với các
máy thuộc các nhóm từ 84.56 đến 84.65, kể cả bộ phận kẹp sản
phẩm hoặc kẹp dụng cụ, đầu cắt ren tự mở, đầu chia độ và
những bộ phận phụ trợ chuyên dùng khác dùng cho các máy
này; bộ phận kẹp dụng cụ dùng cho mọi loại dụng cụ cầm tay.
8466.10 - Bộ phận kẹp dụng cụ và đầu cắt ren tự mở
8466.20 - Bộ phận kẹp sản phẩm
8466.30 - Đầu chia độ và những bộ phận phụ trợ chuyên dùng khác
dùng cho máy
- Loại khác:
8466.91 - - Dùng cho máy thuộc nhóm 84.64
8466.92 - - Dùng cho máy thuộc nhóm 84.65
8466.93 - - Dùng cho máy thuộc các nhóm 84.56 đến 84.61
8466.94 - - Dùng cho máy thuộc nhóm 84.62 hoặc 84.63
Loại trừ các dụng cụ thuộc Chương 82 và các bộ phận chịu sự điều
chỉnh của các điều khoản chung liên quan đến việc phân loại của các bộ
phận (xem Chú giải tổng quát Phần XVI), nhóm này bao gồm:
(A) Các bộ phận của máy thuộc nhóm từ 84.56 đến 84.65.
(B) Các phụ kiện của các loại máy này là các thiết có chức năng bổ trợ được
kết nối với các máy chẳng hạn như những dụng cụ có thể tháo lắp thay thế
mà có thể cải biến máy để máy có thể có thể thực hiện được một phạm vi
hoạt động rộng hơn; các thiết bị làm tăng độ chính xác; các thiết bị mà
thực hiện một công việc đặc biệt liên quan đến chức năng chính của máy.
(C) Bộ phận kẹp dụng cụ dùng cho mọi loại dụng cụ để làm việc bằng
Một số lượng lớn các bộ phận và phụ kiện được phân loại trong nhóm
này bao gồm:
(1) Bộ phận kẹp dụng cụ dùng để giữ, định hướng hoặc điều khiển
dụng cụ hoạt động và cho phép thay đổi các chi tiết của các dụng
cụ tương tự. Có rất nhiều loại, ví dụ:
Mâm cặp; ống kẹp mũi khoan; giá dao máy tiện; đầu cắt ren tự mở;
giá kẹp đá mài; bộ phận giữ đá dùng cho máy mài khôn; chuôi doa,
mâm tiện dùng cho máy tiện v.v..
Nhóm này cũng bao gồm bộ phận kẹp dụng cụ dùng cho mọi loại
dụng cụ được thiết kế để hoạt động bằng tay. Những bộ phận kẹp này
thường được thiết kế cho các dụng cụ thuộc nhóm 82.05 hoặc 84.67,
nhưng nhóm này cũng bao gồm bộ phận kẹp dụng cụ cho bộ đồ nghề
có trục linh hoạt (xem những quy định của Chú giải chi tiết nhóm
84.67 và 85.01).
(2) Bộ phận kẹp sản phẩm được thiết kế để giữ và đôi khi để điều
khiển (khi được yêu cầu cho một hoạt động đặc biệt) các chi tiết đang
được gia công. Những bộ phận kẹp này bao gồm:
Mũi tâm máy tiện; mâm cặp cơ khí hoặc khí nén các loại của máy
tiện và má kẹp (vấu) của chúng; bàn và mâm cặp phôi (có hoặc
không lắp thiết bị cài đặt hoặc điều chỉnh thước micromét); bàn kẹp
và tấm đỡ góc; vật chèn và nêm; êtô cố định, hoặc ê tô xoay hoặc ê tô
điều chỉnh được; thiết bị giữ hướng (các dụng cụ hình vòng tròn được
thiết kế để trợ giúp chi tiết dài trong quá trình quay, để tránh bị uốn
cong hoặc dao động quá mức do lực của dụng cụ).
(3) Phụ kiện gắn thêm để cắt rãnh, để tiện cầu,...
(4) Dụng cụ chép hình (kể cả dụng cụ này hoạt động bằng điệnhoặcđiện
tử) dùng để tạo hình sản phẩm tự động theo một mẫu.
(5) Dụng cụ gắn thêm để hoàn thiện bề mặt dùng cho máy tiện, máy
bào, máy tạo hình v.v..
(6) Những thiết bị bằng cơ khí hoặc bằng khí nén được sử dụng để
điều khiển tự động tiến trình của công việc hoặc dụng cụ trong quá
trình gia công.
(7) Những thiết bị phụ trợ đặc biệt khác, được thiết kế để tăng độ
chính xác của máy mà không ảnh hưởng đến sự vận hành của máy.
Chúng bao gồm những dụng cụ chỉnh tâm hoặc độ cao; đầu chia; bàn
chia độ; bàn trượt; các thiết bị chặn có gắn thước micromet; bảng chỉ
dẫn: các thiết bị micro mét thiết bị phụ trợ điều chỉnh khoảng cách
v.v... Những thiết bị trên vẫn được xếp vào nhóm này khi chúng được
lắp với một dụng cụ quang học để trợ giúp việc đọc thước chia độ
hoặc trong việc thực hiện những điều chỉnh (ví dụ, đầu chia “quang
học”). Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các thiết bị mà bản thân
chúng chính là các thiết bị quang học, ví dụ kính hiển vi định tâm
(nhóm 90.11), kính ngắm sắp thẳng hàng hoặc nằm ngang và thiết bị
kiểm tra chiếu hình (nhóm 90.31) v.v..
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Đá mài và các dụng cụ mài mòn tương tự thuộc nhóm 68.04.
(b) Bộ lọc dầu bằng từ hoặc điện từ (nhóm 84.21).
(c) Thiết bị phụ kiện dùng để nâng hoặc đỡ (ví dụ, kích đôi khi được
dùng để trợ giúp cho những vật rất nặng và rất lớn trong quá trình gia
công) (nhóm 84.25 v.v..).
(d) Hộp số và bộ phận thay đổi tốc độ, khớp nối và thiết bị truyền động
tương tự (nhóm 84.83).
(e) Bộ phận và phụ kiện, bao gồm bộ phận kẹp sản phẩmhoặcbộ phận
kẹp dụng cụ và các loại kẹp đặc biệt khác dùng cho máy công cụ
hoặc máy cắt bằng tia nước, thích hợp để chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng
cho máy móc, thiết bị thuộc nhóm 84.86 (nhóm 84.86).
(f) Các bộ phận và phụ kiện hoạt động bằng điện (kể cả điện tử) (ví dụ
bàn kẹp từ và bảng điều khiển số) (Chương 85).
(g) Thiết bị đo lường và kiểm tra (nhóm 90.31).
(h) Máy đếm số vòng quay và máy đếm sản phẩm (nhóm 90.29).
(ij) Bàn chải lắp trong máy (nhóm 96.03).
84.67- Dụng cụ cầm tay, hoạt động bằng khí nén, thủy lực hoặc có gắn
động cơ dùng điện hoặc không dùng điện.
- Hoạt động bằng khí nén:
8467.11 - - Dạng quay (kể cả dạng kết hợp chuyển động quay và
chuyển động va đập)
8467.19 - - Loại khác
- Có động cơ điện gắn liền:
8467.21 - - Khoan các loại
8467.22 - - Cưa
8467.29 - - Loại khác
- Dụng cụ khác:
8467.81 - - Cưa xích
8467.89 - - Loại khác
- Bộ phận:
8467.91 - - Của cưa xích
8467.92 - - Của dụng cụ hoạt động bằng khí nén
8467.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm những dụng cụ có tích hợp động cơ điện, động cơ
khí nén (hoặc piston hoạt động bằng khí nén), động cơ đốt trong hoặc
bất kỳ động cơ khác (ví dụ, tua bin thủy lực nhỏ); động cơ khí nén
thường được vận hành bằng nguồn khí nén bên ngoài, và trong trường
hợp động cơ đốt trong kiểu đốt cháy bằng tia lửa điện thường tách biệt.
Hoạt động của khí nén trong các cụ khí nén đôi khi được cung cấp bởi
các khớp nối thủy lực.
Nhóm này chỉ bao gồm các dụng cụ cầm tay. Thuật ngữ “dụng cụ cầm
tay” có nghĩa là dụng cụ được thiết kế để cầm trong tay trong khi sử
dụng, và cả các dụng cụ nặng hơn (như búa đóng cọc) có thể xách tay
được, có nghĩa là các dụng cụ này có thể được nâng lên và di chuyển
bằng tay của người sử dụng đặc biệt trong khi làm việc, và các dụng cụ
này được thiết kế để được điều khiển và trực tiếp sử dụng bằng tay trong
khi hoạt động. Để không tốn sức khi nâng toàn bộ trọng lượng của dụng
cụ trong quá trình hoạt động, chúng có thể được dùng cùng các thiết bị
phụ trợ (ví dụ: giá ba chân, chân kích, kết cấu nâng trên không).
Tuy nhiên, một số dụng cụ cầm tay trong nhóm này có phụ kiện ghép
nối cho phép chúng cố định một cách tạm thời với thiết bị phụ trợ.
Chúng vẫn được phân loại ở đây cùng với thiết bị phụ trợ nếu được xuất
trình cùng nhau, với điều kiện về cơ bản dụng cụ “hoạt động bằng tay”
như mô tả ở trên.
Một số dụng cụ thuộc nhóm này có thể được trang bị thiết bị phụ trợ (ví
dụ như quạt hút và túi đựng bụi của nó để loại bỏ và đựng bụi trong quá
trình hoạt động).
Nhóm này không bao gồm các dụng cụ mà do trọng lượng hoặc kích
cỡ... của chúng rõ ràng không thể được sử dụng bằng tay như miêu tả ở
trên. Nhóm này cũng không bao gồm các dụng cụ (có hoặc không xách
tay được) được gắn với đế hoặc thiết bị khác để cố định vào tường, bàn
làm việc, sàn, v.v.. , và những dụng cụ chạy trên đường ray (ví dụ máy
tạo rãnh và khoan tà vẹt đường sắt) và các máy đẩy sau hoặc thao tác
trực tiếp bằng tay tương tự khác có lắp bánh xe, ví dụ máy khoan sàn,
dùng để khoan bê tông, đá cẩm thạch hoặc gỗ,…
Nhóm này cũng không bao gồm tổ hợp gồm một bộ phận giữ dụng cụ
với một hoặc nhiều dụng cụ, và một động cơ piston đốt trong đốt cháy
bằng tia lửa điện hoặc, động cơ điện riêng biệt có trục linh hoạt; Trong
trường hợp có thể, bộ phận giữ dụng cụ được xếp vào nhóm 84.66, động
cơ có trục linh hoạt được xếp vào nhóm 84.07 hoặc 85.01, các dụng cụ
được phân vào các nhóm tương ứng của chúng.
Dụng cụ ở nhóm này bao gồm các dụng cụ gia công trên các vật liệu
khác nhau và được sử dụng trong các ngành công nghiệp khác nhau.
Theo các điều kiện ở trên, ngoài các dụng cụ khác, nhóm này còn bao
gồm:
Máy khoan, máy taro hoặc máy doa lỗ
Máy khoan, máy khoan đá và các máy tương tự.
Chìa vặn (cờ lê), tua vít, dụng cụ vặn đai ốc.
Bào, dưỡng, bàn máp và các thiết bị tương tự.
Máy dũa, máy mài, máy đánh ráp, máy đánh bóng bề mặt và các
máy tương tự,...
Máy bàn chải thép.
Cưa đĩa, cưa xích và các thiết bị tương tự.
Búa các loại, như búa sửa mối hàn, búa cạo, búa xảm, búa tán
đinh, búa phá bê tông.
Dụng cụ dập đinh tán (rivet); dụng cụ gỡ đinh tán (rivet) và các
dụng cụ dung để đục, chạm khác.
(10) Dụng cụ cắt tấm kim loại (kiểu kéo hoặc kiểu kìm)
(11) Máy đầm nền, dụng cụ tháo lõi của các máy đúc, dụng cụ để rung
khuôn đúc.
(12) Máy đầm nén để làm đường hoặc bảo dưỡng đường, v.v..
(13) Dụng cụ đào tự động.
(14) Máy đầm rung bê tông để làm dòng lưu thông và tạo hình của bê tông.
(15) Máy tỉa, xén hàng rào (máy tỉa lá)
(16) Búa đánh cặn nồi hơi hoạt động bằng thủy lực.
(17) Máy bơm mỡ hoạt động bằng khí nén dùng trong garage, v.v..
(18) Máy tỉa cỏ cầm tay ví dụ như cắt cỏ góc vườn, dọc tường, hàng
rào, hoặc dưới bụi cây. Những máy này có động cơ gắn liền có
khung đỡ bằng kim loại nhẹ và dụng cụ cắt thường bao gồm
mộthoặcnhiều sợi nylon mỏng.
(19) Máy cắt cây bụi loại xách tay có gắn động cơ, trục điều khiển động
cơ (cố định hoặc linh hoạt) và bộ phận giữ dụng cụ, cùng với nhiều
dụng cụ cắt có thể thay thế được cho nhau được để trong bộ phận
giữ dụng cụ.
(20) Máy cắt vải dùng trong công nghiệp may.
(21) Các dụng cụ khắc, trảm trổ.
(22) Kéo tay điện gồm một lưỡi cắt cố định và một lưỡi cắt di động
hoạt động bằng động cơ điện tích hợp, được dùng trong các xưởng
may và xưởng làm mũ và trang phục nữ, trong hộ gia đình …
BỘ PHẬN
Theo quy định chung liên quan đến việc phân loại bộ phận (xem Chú
giải tổng quát Phần XVI), nhóm này bao gồm các bộ phận (trừ bộ phận
giữ dụng cụ thuộc nhóm 84.66) của dụng cụ thuộc nhóm này.
Nhóm này cũng không bao gồm:
Đá nghiền, đá mài, đá đánh bóng, đá cắt dạng hình tròn và các loại
tương tự bằng đá, gốm hoặc bằng các vật liệu mài đã được kết khối
(nhóm 68.04).
Dụng cụ thuộc Chương 82.
Máy nén khí (nhóm 84.14)
Bình phun chất lỏng hoặc chất bột, súng phun điều khiển bằng tay,
máy phun bắn cát và các loại thiết bị tương tự (nhóm 84.24).
Máy cắt cỏ chạy điện (nhóm 84.33).
Thiết bị cơ điện gia dụng (nhóm 85.09).
Máy cạo, tông đơ và các dụng cụ loại bỏ râu, lông, tóc chạy điện
(nhóm 85.10).
Thiết bị cơ điện cầm tay dùng cho mục đích y tế hoặc nha khoa
(nhóm 90.18).
84.68 – Thiết bị và dụng cụ dùng để hàn thiếc, hàn đồng hoặc hàn
khác, có hoặc không có khả năng cắt, trừ các loại thuộc nhóm 85.15;
máy và thiết bị dùng để tôi bề mặt sử dụng khí ga.
8468.10 - Ống xì cầm tay
8468.20 - Thiết bị và dụng cụ sử dụng khí ga khác
8468.80 - Máy và thiết bị khác
8468.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm:
(A) Thiết bị và dụng cụ dùng để hàn thiếc, hàn đồng hoặc hàn khác, có
hoặc không có khả năng cắt, hoạt động bằng khí ga hoặc các quy
trình khác trừ các loại thuộc nhóm 85.15. Những máy được thiết
kế chỉ dùng để cắt được phân loại vào những nhóm tương ứng của
chúng.
(B) Máy và thiết bị dùng gas để tôi bề mặt.
(I) THIẾT BỊ HOẠT ĐỘNG BẰNG GAS DÙNG ĐỂ GIA CÔNG
KIM LOẠI V.V..
Các thiết bị của nhóm này hoạt động bằng ngọn lửa có nhiệt độ rất cao
được tạo ra bởi sự đốt cháy của một loại khí ga dễ cháy trong một luồng
khí oxi hoặc luồng không khí.
Nhìn chung, những thiết bị này có thể được sử dụng không những cho
các hoạt động được đề cập trong nhóm này, mà còn cho các hoạt động
khác đòi hỏi nhiệt độ cao tương tự (ví dụ: đốt nóng ban đầu cho một số
hoạt động, hoặc đổ đầy kim loại vào những phần mòn hoặc chỗ trống);
trên thực tế một số thiết bị chuyên dùng cho các hoạt động tương tự
khác, nhưng vẫn được xếp vào trong nhóm này với điều kiện các thiết bị
này hoạt động theo cùng một cách thức và cùng một nguyên lý như
những thiết bị khác của nhóm này.
Tất cả các thiết bị của nhóm này có một sự sắp xếp để đưa hai loại gas
đến vòi có hai lối ra, hoặc tập trung hoặc từng vòi một; một trong hai
loại gas dễ cháy (axêtylen, butan, prô pan, khí than, hydrô,v.v..) và loại
còn lại là không khí hoặc khí oxy nén.
Nhóm này bao gồm các thiết bị hoạt động bằng tay và cả máy.
(A) CÁC THIẾT BỊ HÀN SỬ DỤNG KHÍ GAS , HOẠT ĐỘNG
BẰNG TAY,... (ỐNG HÀN)
Các ống hàn được chia ra thành loại áp lực cao hoặc loại áp lực thấp phụ
thuộc vào việc chúng được thiết kế để nối với nguồn ga dễ cháy áp suất
caohoặcthấp. Trong loại áp lực cao, sức nén tạo gas với tốc lực cần để
tạo ra vòi lửa; với loại áp lực thấp đòi hỏi phải có máy nén.
Mặt khác, cả hai loại ống hàn ít nhiều có cấu trúc tương tự nhau. Theo
thiết kế, các loại ống hàn này gồm tay cầm hoặc thân được gắn với ống
nguồn, tại đầu ra của ống hàn (vòi phun) gas được đốt cháy; những ống
hàn này cũng thường có van điều chỉnh,v.v.. Thiết bị được nối với một
nguồn gas bên ngoài bằng ống mềm.
Để các thiết bị này có thể đáp ứng được các công việc có liên quan (ví
dụ, rút từ lò cao, gỡ đinh tán, tạo rãnh hoặc nung nóng đơn giản) ống và
vòi phun thường có thể thay thế cho nhau (vòi mở thay đổi, lỗ nhiều đầu
phun, vòi tách lửa v.v.. ). Một số ống hàn được thiết kế đặc biệt cho các
hoạt động cụ thể, ví dụ ống hàn được trang bị cùng một hệ thống làm
lạnh bằng nước, cho những mối hàn lớn.
(B) MÁY HÀN,...
Những máy này dựa trên cùng nguyên lý hoạt động với các thiết bị hoạt
động bằng tay nêu ở phần (A) trên đây, và bao gồm cơ bản là các ống
hàn cố định hoặc có thể điều chỉnh được. Các bộ phận khác của máy (ví
dụ bàn cặp, ngoàm, rãnh trượt, tay nối...) giúp cố định, dẫn hướng hoặc
di chuyển vật đang được hàn về phía trước, hoặc cho phép các vòi phun
chuyển động hoặc điều chỉnh theo tiến trình của công việc.
(C) MÁY TÔI BỀ MẶT
Những máy này bao gồm một số lượng các vòi được sắp xếp theo hình
của vật được gia công; những ngọn lửa từ những vòi này tác động vào bề
mặt được tôi bằng nhiệt với một cường độ cho phép nhanh chóng đem
lại một nhiệt độ theo yêu cầu, nhưng nhiệt này không thâm nhập sâu vào
dưới bề mặt. Khi bề mặt đã đủ nhiệt độ tôi như yêu cầu, thì phun dung
dịch làm lạnh trực tiếp vào vật hoặc đem vật đó nhúng vào một dung
dịch.
(II) THIẾT BỊ HOẠT ĐỘNG BẰNG GAS
ĐỂ HÀN NHỰA DẺO NÓNG
Nhóm này cũng bao gồm một số thiết bị để hàn hoặc gắn các nguyên
liệu nhựa dẻo nóng hoặc các sản phẩm của chúng. Các thiết bị của nhóm
này hoạt động bằng ngọn lửa hoặc luồng không khí, khí nitơ hoặc khí trơ
nóng từ ngọn đuốc hàn. Không khí hoặc khí ga khác cũng có thể được
làm nóng bằng cách đưa qua một ống đốt nóng bằng ga.
(III) MÁY VÀ THIẾT BỊ ĐỂ HÀN TRỪ THIẾT BỊ HOẠT ĐỘNG
BẰNG GAS
Nhóm này bao gồm:
Máy móc và thiết bị cơ khí để hàn bằng cách dùng bánh xe có rãnh
hoặc bàn là được nung nóng, trừ mỏ hàn bằng tay (nhóm 82.05)
và trừ các thiết bị điện thuộc nhóm 85.15.
Máy hàn ma sát.
BỘ PHẬN
Theo những quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận
(xem chú giải tổng quát phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ
phận của máy và thiết bị thuộc nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm phụ tùng phụ trợ như những vật đỡ (vòng bi,
con lăn v.v.. ).
Nhóm này không bao gồm:
Đèn xì và đèn hàn thuộc nhóm 82.05.
Máy và thiết bị để phun kim loại nấu chảy (nhóm 84.24)
Thiết bị để cắt hoặc khoan đá hoặc bê tông, dùng nhiệt độ cao tạo
ra từ việc đốt cháy sắt hoặc thép trong luồng khí oxy (nhóm
Máy và dụng cụ hàn đồng, hàn thiếc, dùng cả gas và điện (nhóm
84.70 - Máy tính và các máy ghi, tái tạo và hiển thị dữ liệu loại bỏ túi
có chức năng tính toán; máy kế toán, máy đóng dấu bưu phí, máy
bán vé và các loại máy tương tự, có gắn bộ phận tính toán; máy tính
tiền.
8470.10 - Máy tính điện tử có thể hoạt động không cần nguồn điện
ngoài và máy ghi, tái tạo và hiển thị dữ liệu, loại bỏ túi có chức
năng tính toán
- Máy tính điện tử khác:
8470.21 - - Có gắn bộ phận in
8470.29 - - Loại khác
8470.30 - Máy tính khác
8470.50 - Máy tính tiền
8470.90 - Loại khác
Tất cả các máy thuộc nhóm này, trừ một số máy tính tiền nhất định, có
đặc tính chung là chúng bao gồm một thiết bị tính toán có thể cộng ít
nhất 2 con số với nhau, mỗi số gồm vài chữ số. Lưu ý rằng các thiết bị
chỉ đếm hoặc cộng từng bước một không được coi như các thiết bị tính
toán (ví dụ bộ phận được gắn vào một số máy dán tem, máy đếm vòng
quay, máy đếm sản lượng). Những máy của nhóm này có thể hoạt động
bằng điện hoặc thủ công. Việc tính toán được thực hiện bằng máy móc
hoặc bằng điện từ, điện tử hoặc thiết bị lưu thể.
(A) MÁY TÍNH VÀ CÁC MÁY GHI, TÁI TẠO VÀ HIỂN THỊ DỮ
LIỆU LOẠI BỎ TÚI CÓ CHỨC NĂNG TÍNH TOÁN
Nhóm này bao gồm một loạt các loại máy tính khác nhau từ loại đơn
giản nhất chỉ có thể cộng, trừ đến loại phức tạp hơn có thể thực hiện
được bốn phép tính số học và một số các phép tính khác (ví dụ: khai căn
bậc 2, luỹ thừa một số đến mức cho trước, và thực hiện các phép tính
lượng giác). Đặc biệt, nhóm này bao gồm máy tính điện tử bỏ túi và máy
tính điện tử văn phòng, có hoặc không có khả năng lập trình được.
Nhóm này cũng bao gồm các máy ghi, tái tạo và hiển thị dữ liệu có bỏ
túi chức năng tính toán (xem chú giải 9 của chương này)
Máy tính điện tử có khả năng lập trình khác với máy xử lý dữ liệu tự
động, đặc biệt ở chỗ không có sự tác động của con người, chúng không
thể thực hiện được một chương trình xử lý mà đòi hỏi để thay đổi việc
thực hiện của chúng bằng quyết định lôgíc trong quá trình xử lý. Những
máy tính này được tích hợp bộ vi xử lý để thực hiện các phép tính toán
học phức tạp.
Các máy tính này bao gồm các bộ phận chính sau đây:
Bộ nhập dữ liệu thủ công (cái chặn hoặc con trỏ, bàn phím, v.v.. ).
Tuy nhiên, các máy này có thể bao gồm các thiết bị phụ trợ để nhập
tự động các dữ liệu lặp lại hoặc đặt sẵn (đầu đọc phiếu hoặc băng
đục lỗ, băng từ,v.v.. )
Bộ phận tính toán hoạt động bằng một loạt các phím hoặc bằng
một chương trình có thể được cố định hoặc được sửa đổi bằng việc
thay thế phần tử lập trình hoặc thay đổi chỉ dẫn chương trình.
Bộ phận xuất thể hiện các kết quả dưới dạng hiển thị trên màn
hình hoặc in ra. “Máy in" tích hợp thiết bị để in ra kết quả và đôi
khi cũng là dữ liệu ban đầu. Tuy nhiên, máy tính vẫn được xếp vào
nhóm này dù có hoặc không bao gồm thiết bị đó.
Máy tính với thiết bị in sử dụng một số hoặc một phạm vi giới hạn các
biểu tượng. Tuy nhiên, các máy tính này khác với máy kế toán ở chỗ
chúng chỉ in theo chiều dọc, trên băng giấy hoặc cuộn giấy. Một số máy
có thiết bị phụ trợ để ghi kết quả theo mã trong phương tiện dữ liệu.
Một số bộ phận của những máy này (bộ phận tính toán, các bộ phận phụ
trợ, v.v.. ) có thể được lắp, gắn thành một khối duy nhất của máy hoặc có
thể là những bộ phận riêng biệt kết nối với nhau bằng cáp điện.
(B) MÁY KẾ TOÁN
Những máy này được thiết kế để xử lý sổ sách kế toán, chứng từ kế toán,
v.v.. Chúng kết hợp chức năng kế toán (như, cộng một loạt các mục) với
chức năng in chữ hoặc ký hiệu cùng với các số liệu để cung cấp mô tả
đầy đủ về hoạt động kế toán đã thực hiện.
Cấu trúc của máy kế toán gần giống như cấu trúc của máy tính. Ngoài
sắp xếp thủ công dữ liệu như máy tính (ví dụ, các hoạt động ghi nợ, có),
các máy này có thể được gắn với thiết bị để đọc các phiếu hoặc băng đục
lỗ, thẻ hoặc băng từ v.v.. để nhập dữ liệu lặp lại (số tài khoản, tên và địa
chỉ của khách hàng, v.v.. ) hoặc dữ liệu đặt sẵn (ví dụ, bảng cân đối).
Máy kế toán có bộ phận in số hoặc ký tự số có thể in cả ngang lẫn dọc.
Đây là một trong những đặc điểm để phân biệt chúng với máy tính.
Trong hầu hết các trường hợp, những máy này được thiết kế dùng với
các mẫu in đặc biệt như phiếu thanh toán, hóa đơn, tờ rơi của nhật ký,
tạp chí, sổ kế toán v.v.. hoặc phích phiếu. Một số máy có thể đánh máy
đồng thời vào haihoặcnhiều mẫu (ví dụ, trên hóa đơn và sổ nhật ký
tương ứng và sổ cái).
Những máy này thường được trang bị các thiết bị để chuyển đổi lại dữ
liệu thành thông tin dữ liệu ở dạng được mã hóa. Một số máy in ra trên
thẻ và đồng thời ghi lại kết quả ở dạng mã hóa trên một rãnh từ trên mặt
của thẻ. Những kết quả này sau đó có thể coi như cơ sở dữ liệu cho việc
xử lý cao hơn trong máy.
Giống như máy tính, những máy này có thể ở dạng độc lập hoặc gồm
các bộ phận riêng biệt được kết nối với nhau bằng điện.
(C) MÁY TÍNH TIỀN
Nhóm này bao gồm máy tính tiền có hoặc không có bộ phận tính toán.
Những máy này được dùng trong các cửa hàng, văn phòng, v.v.. để ghi
lại các giao dịch đã thực hiện (bán hàng, cung cấp dịch vụ, v.v.. ) về số
lượng, tổng số tiền, và trong một số trường hợp, ghi lại mã sản phẩm, số
lượng hàng đã bán, thời điểm giao dịch v.v..
Số liệu có thể được nhập hoặc thủ công bằng bàn phím và cần gạt, tay
quay hoặc tự động, ví dụ như bằng máy đọc mã vạch. Giống như máy
tính và máy kế toán, một số máy tính tiền cũng có những thiết bị phụ trợ
để nhập số liệu lặp lại hoặc đặt sẵn (ví dụ đầu đọc băng hoặc thẻ).
Thông thường, kết quả được hiển thị trên màn hình và được in cùng một
lúc trên 1 liên hóa đơn giao cho khách hàng và 1 liên cuộn lại, định kỳ
lấy ra khỏi máy nhằm mục đích kiểm tra.
Những máy này thường có ngăn để tiền hoặc ngăn kéo để giữ tiền.
Những máy này cũng có thể kết hợp hoặc thao tác kết nối với các thiết bị
như bộ nhân để tăng khả năng tính toán, bộ phận tính tiền trả lại, thiết bị
trả lại tiền tự động, máy trả tem tự động, bộ phận đọc thẻ tín dụng, thiết
bị xác nhận kiểm tra số, hoặc thiết bị chuyển đổi toàn bộ hoặc một phần
dữ liệu giao dịch thành dữ liệu ở dạng mã hóa. Nếu được xuất trình riêng
biệt, các thiết bị này sẽ được phân loại vào nhóm tương ứng của chúng.
Nhóm này cũng bao gồm máy tính tiền có kết nối trực tuyến hoặc ngoại
tuyến với một máy xử lý dữ liệu tự động và những máy tính tiền khác, ví
dụ, sử dụng bộ nhớ hoặc bộ vi xử lý của máy tính tiền khác (kết nối bằng
cáp) để thực hiện cùng những chức năng giống nhau.
Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị đầu cuối dùng cho thanh toán điện
tử bằng thẻ tín dụnghoặcthẻ ghi nợ. Những thiết bị đầu cuối này sử dụng
mạng viễn thông để kết nối tới tổ chức tài chính để được cho phép và
hoàn thành giao dịch, và để ghi nhớ và phát hành các hóa đơn thông báo
tổng số tiền ghi nợ và ghi có.
(D) CÁC MÁY KHÁC CÓ KẾT HỢP THIẾT BỊ TÍNH TOÁN
Những máy này bao gồm:
Máy in dấu đã trả tem bưu điện; những máy này in lên trên
phong bì một họa tiết thay thế vào chỗ tem thư. Máy này có một
thiết bị ghi tổng một chiều cho phép cộng tổng số tiền bưu phí đã
in. Ngoài ra, máy này có thể được sử dụng để in ấn khác trên
phong bì (ví dụ, khẩu hiệu quảng cáo)
Máy phát hành vé được sử dụng để phát hành vé (ví dụ, vé xem
phim, vé tàu hỏa) đồng thời ghi dữ liệu và tổng các khoản tiền liên
quan; một số loại nhất định cũng dùng để in vé.
(3) Máy dùng trong các trường đua. Những máy này dùng để phát
hành vé, ghi lại và tổng cộng số lượng tiền đặt cược và trong một
số máy phức hợp nhất định còn tính cả tỷ lệ cược.
Những loại máy chỉ đếm số hóa đơn,v.v.. được phát hành mà không tính
tổng số tiền, không được xếp vào nhóm này (nhóm 84.72 hoặc nếu máy
hoạt động bằng cách bỏ đồng xu vào vào thì xếp vào nhóm 84.76).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo quy định liên quan đến việc phân loại bộ phận (xem chú giải tổng
quát của Phần XVI), các bộ phận và phụ tùng của máy thuộc nhóm này
được phân loại vào nhóm 84.73.
Nhóm này không bao gồm:
Máy xử lý dữ liệu thuộc nhóm 84.71.
Cân tổng trọng lượng (nhóm 84.23 hoặc 90.16)
Thước logarit, bàn tính dùng đĩa, bàn tính hình trụ và các thiết bị
tinh toán dựa trên nguyên tắc của thước logarit hoặc dụng cụ tính
toán toán học khác, ví dụ như thiết bị cộng và trừ bỏ túi hoạt động
bằng việc chọn lọc các con số với một dấu vạch theo một quy trình
đã được đưa ra (nhóm 90.17).
Các thiết bị đếm từng đơn vị một như máy đếm vòng quay, máy
đếm sản lượng v.v.. thuộc nhóm 90.29.
84.71 - Máy xử lý dữ liệu tự động và các khối chức năng của chúng;
đầu đọc từ tính hoặc đầu đọc quang học, máy truyền dữ liệu lên
các phương tiện truyền dữ liệu dưới dạng mã hóa và máy xử lý
những dữ liệu này, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác (+).
8471.30 - Máy xử lý dữ liệu tự động loại xách tay, có khối lượng
không quá 10 kg, gồm ít nhất một đơn vị xử lý dữ liệu
trung tâm, một bàn phím và một màn hình
- Máy xử lý dữ liệu tự động khác:
8471.41- - Chứa trong cùng một vỏ có ít nhất một đơn vị xử lý trung
tâm, một đơn vị nhập và một đơn vị xuất, kết hợp hoặc
không kết hợp với nhau
8471.49 - - Loại khác, ở dạng hệ thống
8471.50 - Bộ xử lý trừ loại của phân nhóm 8471.41 hoặc 8471.49,
có hoặc không chứa trong cùng vỏ của một hoặc hai thiết
bị sau: bộ lưu trữ, bộ nhập, bộ xuất
8471.60 - Bộ nhập hoặc bộ xuất, có hoặc không chứa bộ lưu trữ
trong cùng một vỏ
8471.70 - Bộ lưu trữ
8471.80 - Các bộ khác của máy xử lý dữ liệu tự động
8471.90 - Loại khác
(I) MÁY XỬ LÝ DỮ LIỆU TỰ ĐỘNG VÀ CÁC KHỐI CHỨC
NĂNG CỦA CHÚNG
Xử lý dữ liệu là việc xử lý tất cả các loại thông tin, theo chuỗi lôgíc thiết
lập trước và cho một hoặc nhiều mục đích cụ thể.
Máy xử lý dữ liệu tự động là máy thực hiện theo những chỉ dẫn (chương
trình) được thiết lập trước bằng những hoạt động liên kết lôgíc, cung cấp
dữ liệu có thể được sử dụng, trong một số trường hợp cung cấp trở lại
các số liệu cho các hoạt động xử lý dữ liệu khác.
Nhóm này bao gồm những máy xử lý dữ liệu mà trong đó chuỗi lôgic
các hoạt động có thể bị thay đổi từ hoạt động này tới hoạt động khác, và
trong đó hoạt động có thể tự động, có nghĩa là không có sự tham gia thủ
công trong quá trình hoạt động. Những máy này chủ yếu sử dụng tín
hiệu điện tử nhưng cũng có thể sử dụng công nghệ khác. Chúng có thể là
một khối, tất cả những bộ phận cần thiết để xử lý dữ liệu chứa trong
cùng một vỏ, hoặc có thể ở dạng hệ thống bao gồm một loạt các đơn vị
riêng biệt.
Nhóm này cũng bao gồm những khối chức năng cấu thành riêng biệt của
những hệ thống xử lý dữ liệu tự động được mô tả ở trên.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm máy, dụng cụ hoặc thiết bị kết
hợp hoặc làm việc cùng với máy xử lý dữ liệu tự động và thực hiện một
chức năng cụ thể. Những máy móc, dụng cụ hoặc thiết bị đó được phân
loại vào những nhóm phù hợp với chức năng tương ứng hoặc nếu không
được thì xếp vào những nhóm còn lại (Xem Phần E của Chú giải tổng
quát của Chương này).
(A) MÁY XỬ LÝ DỮ LIỆU TỰ ĐỘNG
Máy xử lý dữ liệu tự động của nhóm này phải có khả năng đáp ứng đồng
thời các điều kiện của Chú giải 6 (A) chương này. Có nghĩa là, chúng
phải có khả năng:
(1) Lưu trữ một hoặc nhiều chương trình xử lý và ít nhất là dữ liệu cần
thiết ngay lập tức cho việc thực hiện chương trình.
(2) Được cài đặt chương trình một cách tự do theo yêu cầu của người sử
dụng.
(3) Thực hiện các phép tính số học cụ thể bởi người sử dụng và
(4) Thực hiện chương trình xử lý đòi hỏi phải thay đổi tiến trình thực
hiện bằng quyết định lôgic trong quá trình xử lý mà không có sự tác
động của con người.
Do đó, những máy chỉ hoạt động theo những chương trình cố định,
không thể thay đổi bởi người sử dụng, bị loại trừ ngay cả khi người sử
dụng có thể chọn giữa các chương trình cố định đó.
Những máy này có khả năng lưu trữ và các chương trình đã được lưu trữ
có thể bị thay đổi từ việc này đến việc khác.
Những máy xử lý dữ liệu tự động xử lý dữ liệu ở dạng mã hóa. Một mã
bao gồm một bộ ký tự hữu hạn (mã nhị phân, mã 6 bit tiêu chuẩn ISO,...)
Bộ nhập dữ liệu thường tự động, bằng cách sử dụng các phương tiện dữ
liệu như băng từ hoặc bằng cách đọc trực tiếp tài liệu gốc... Cũng có sự
sắp xếp để nhập thủ công bằng bàn phím hoặc việc nhập có thể được
trang bị trực tiếp bằng một số thiết bị (ví dụ, thiết bị đo).
Dữ liệu đầu vào được chuyển đổi thành tín hiệu mà máy có thể sử dụng
được và được lưu trữ trong bộ lưu trữ.
Phần dữ liệu và một hoặc nhiều chương trình có thể được lưu trữ tạm
thời trong những bộ nhớ phụ trợ như đĩa từ, , băng từ... Nhưng máy xử lý
dữ liệu tự động này phải có một bộ lưu trữ chính có thể truy cập trực tiếp
để thực hiện một chương trình cụ thể và ít nhất có khả năng đủ để lưu trữ
những phần của việc xử lý và thay đổi chương trình và dữ liệu cần thiết
ngay cho việc chạy chương trình xử lý hiện tại.
Máy xử lý dữ liệu tự động có thể chứa trong cùng 1 vỏ gồm: bộ xử lý
trung tâm, một đơn vị nhập (như bàn phím, máy quét) và một đơn vị
xuất (ví dụ màn hình), hoặc có thể bao gồm một số bộ phận riêng biệt
được kết nối với nhau. Trong trường hợp sau, các bộ phận tạo nên 1 “hệ
thống” khi nó gồm ít nhất 1 bộ xử lý trung tâm, một bộ nhập và một bộ
xuất, (xem Chú giải phân nhóm 2 chương này). Sự kết hợp giữa các bộ
phận với nhau có thể bằng dây hoặc không dây.
Một hệ thống xử lý dữ liệu tự động hoàn chỉnh phải bao gồm, ít nhất:
(1) Một bộ xử lý trung tâm thường tích hợp với bộ nhớ chính, những
chi tiết lôgíc và số học và những chi tiết kiểm soát; tuy nhiên, trong
một số trường hợp những chi tiết này có thể ở dạng những bộ phận
riêng biệt.
(2) Bộ nhập tiếp nhận dữ liệu đầu vào và chuyển đổi chúng thành những
tín hiệu có thể được xử lý bằng máy.
(3) Bộ xuất chuyển đổi những tín hiệu do máy tạo ra thành dạng có thể
hiểu được (văn bản in, đồ thị, hiển thị, v.v.. ) hoặc thành dữ liệu ở
dạng mã hóa để sử dụng ở các bước tiếp theo (xử lý, kiểm tra, v.v.. )
Hai trong số những bộ phận này (ví dụ như bộ nhập hoặc bộ xuất) có thể
được kết hợp trong một khối.
Một hệ thống xử lý dữ liệu tự động hoàn chỉnh được phân loại vào nhóm
này ngay cả khi một hoặc một vài bộ phận có thể được phân loại ở nhóm
khác khi được xuất trình (trình bày) riêng lẻ (xem Phần B Các bộ phận
được xuất trình riêng rẽ dưới đây).
Những hệ thống này có thể bao gồm bộ nhập và bộ xuất từ xa ở dạng các
thiết bị đầu cuối.
Ngoài bộ nhập và bộ xuất ra, những hệ thống như thế còn có thể bao
gồm các bộ phận ngoại vi, được thiết kế để tăng dung lượng của hệ
thống, bằng cách mở rộng mộthoặcnhiều chức năng của bộ xử lý trung
tâm (xem Phần B dưới đây). Những thiết bị đó được chèn vào giữa bộ
nhập và bộ xuất (đầu hoặc cuối của hệ thống), mặc dù bộ thích ứng
(adaptor) hoặc chuyển đổi (bộ tiếp hợp kênh và thiết bị chuyển đổi tín
hiệu) đôi khi có thể được nối trước bộ nhập vào hoặc sau bộ xuất.
Máy và hệ thống xử lý dữ liệu tự động được sử dụng đa dạng, trong
nhiều ngành nghề, như trong công nghiệp, thương mại, nghiên cứu khoa
học, quản lý công hoặc tư nhân. (Xem phần (E) của Chú giải tổng quát
chương 84 đối với việc phân loại các máy kết hợp hoặc hoạt động phối
hợp cùng với máy xử lý dữ liệu tự động và thực hiện 1 chức năng riêng
biệt (Chú giải 6 (E) Chương này)).
(B) THIẾT BỊ ĐƯỢC XUẤT TRÌNH RIÊNG RẼ
Theo điều khoản Chú giải 6 (D) và 6 (E) chương này, nhóm này cũng
bao gồm các thiết bị cấu thành của hệ thống xử lý dữ liệu tự động được
xuất trình (trình bày) riêng lẻ. Chúng có thể ở dạng các thiết bị có vỏ
riêng hoặc ở dạng thiết bị không có vỏ riêng và được thiết kế để lắp vào
một máy (ví dụ như lắp lên bảng mạch chính của bộ xử lý trung tâm).
Các thiết bị cấu thành là những thiết bị được định nghĩa ở phần (A) bên
trên và trong đoạn dưới đây, như là các bộ phận của một hệ thống hoàn
chỉnh.
Thiết bị chỉ có thể được phân loại ở nhóm này như một bộ phận của hệ
thống xử lý dữ liệu tự động nếu nó:
(a) Thực hiện chức năng xử lý dữ liệu;
(b) Đáp ứng với các tiêu chí đặt ra ở chú giải 6 (C) chương này:
(i) Thiết bị là loại chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng trong hệ thống xử lý
dữ liệu tự động;
(ii) Thiết bị có thể kết nối với bộ xử lý dữ liệu trung tâm hoặc trực
tiếp hoặc gián tiếp qua một hoặc một vài thiết bị khác; và
(iii) Thiết bị có thể chấp nhận hoặc phân phối dữ liệu ở dạng mà hệ
thống có thể sử dụng (như dạng mã hóa hoặc tín hiệu)
(c) Thiết bị không bị loại trừ bởi các điều khoản trong Chú giải 6 (D) và
(E) Chương này.
Theo đoạn cuối của chú giải 6 (C) chương này, bàn phím, thiết bị nhập
tọa độ X-Y và thiết bị lưu trữ thỏa mãn điều kiện của mục (b) (ii) và (iii)
nêu trên, trong mọi trường hợp được phân loại như là các bộ phận cấu
thành của hệ thống xử lý dữ liệu.
Nếu thiết bị thực hiện một chức năng riêng biệt ngoài xử lý dữ liệu, nó
sẽ được phân loại vào nhóm phù hợp với chức năng đó hoặc, phân loại
vào nhóm còn lại (xem chú giải 6 (E) chương này). Nếu thiết bị không
thỏa mãn các điều kiện tại chú giải 6 (C) chương này, hoặc không thực
hiện chức năng xử lý dữ liệu, thì được phân loại theo đặc điểm của nó
bằng cách áp dụng Quy tắc 1, hoặc nếu cần thì kết hợp thêm Quy tắc
Các thiết bị được xuất trình riêng rẽ như thiết bị đo hoặc kiểm tra được
gắn thêm các thiết bị tiếp hợp (như thiết bị chuyển đổi tín hiệu), để có
thể kết nối trực tiếp với máy xử lý dữ liệu, thì không được coi là bộ
phận của hệ thống xử lý dữ liệu tự động. Các thiết bị này được phân loại
tùy theo nhóm tương ứng của chúng.
Ngoài bộ xử lý trung tâm và bộ nhập, bộ xuất, còn có các bộ phận khác
như:
(1) Bộ lưu trữ bổ sung bên ngoài bộ xử lý trung tâm (bộ phận chuyển
thẻ từ, bộ lưu trữ đĩa từ hoặc đĩa quang, bộ tải tự động dạng băng và
thư viện lưu trữ, thư viện ổ đĩa quang (đôi khi được biết đến như ổ đĩa
quang)...) Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị lưu trữ dữ liệu bổ sung
như “định dạng lưu trữ độc quyền hoặc dùng cho cài đặt bên trong của
máy xử lý dữ liệu tự động hoặc để sử dụng bên ngoài.Những thiết bị
này có thể dưới dạng bộ cài cho đĩa hoặc băng.
(2) Bộ phận bổ sung nâng cao khả năng xử lý của bộ xử lý trung tâm
(ví dụ bộ xử lý dấu chấm động).
(3) Bộ điều khiển và bộ thích ứng (adaptor), thực hiện việc kết nối bộ
xử lý trung tâm với bộ nhập hoặc bộ xuất (ví du: bộ chia cổng usb ).
Tuy nhiên, bộ điều khiển và thích ứng dùng trong viễn thông nối mạng
hữu tuyến hoặc không dây (như mạng máy tính cục bộ LAN hoặc
mạng diện rộng WAN) thì bị loại trừ (nhóm 85.17).
(4) Bộ chuyển đổi tín hiệu. Tại bộ nhập, bộ chuyển đổi tín hiệu có thể
làm cho tín hiệu bên ngoài được nhận biết bằng máy, trong khi đó tại
bộ xuất, chúng chuyển đổi tín hiệu đầu ra từ quá trình xử lý được thực
hiện bằng máy thành tín hiệu có thể được sử dụng ở ngoài.
(5) Bộ nhập các tọa độ X - Y, đó là những thiết bị để nhập dữ liệu vào
máy xử lý dữ liệu tự động. Những thiết bị này bao gồm con chuột, bút
quang, cần điều khiển, track ball và màn hình cảm ứng .Đặc tính chung
của chúng là đầu vào bao gồm, hoặc được hiểu là, vị trí xác định dữ
liệu liên quan đến một số điểm cố định. Cách sử dụng chung của chúng
là để điều khiển vị trí của con trỏ trên màn hình, như là một sự thay thế
cho hoặc một sự bổ sung cho phím di con trỏ trên bàn phím.
Mục này cũng bao gồm bảng đồ họa, là bộ nhập các tọa độ X – Y làm
cho nó có thể nắm bắt và tìm ra tọa độ của đường conghoặcbất cứ dạng
hình đồ thị nào khác. Thiết bị này thường được kết hợp bởi 1 bảng hình
chữ nhật có bề mặt nhậy động, một thanh hoặc bút dùng để vẽ, và một
bộ phận thu phát nối tới một mảnh dọc, làm cho chúng có thể đưa dữ
liệu vào.
Mục này cũng bao gồm thêm bộ số hóa (bàn số hóa) có đặc điểm tương
tự như chức năng của bảng đồ họa. Tuy nhiên, trong khi bảng đồ họa
được sử dụng để tạo ra các bản vẽ, bản minh họa gốc, cũng như để ứng
dụng trong việc lựa chọn menu và điều khiển những vật thể trên màn
hình thì bộ số hóa thường được sử dụng để lưu giữ những bản vẽ đã tồn
tại cái mà chỉ tồn tại ở dạng hard-copy (bản cứng). Thiết bị số hóa điểm
có thể mang bất cứ hình dáng nào nhưng phải đủ nhỏ để cầm bằng tay và
di chuyển quanh các vùng nhậy động của bàn số hóa. Con chỏ chữ thập
là dạng thường thấy nhất.
(II) ĐẦU ĐỌC TỪ TÍNH HOẶC QUANG HỌC, MÁY TRUYỀN
DỮ LIỆU LÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN DỮ LIỆU DƯỚI
DẠNG MÃ HÓA VÀ MÁY ĐỂ XỬ LÝ NHỮNG DỮ LIỆU NÀY,
CHƯA ĐƯỢC CHI TIẾT HOẶC GHI Ở NƠI KHÁC.
Nhóm này bao gồm một loạt các máy, nhiều loại là điện tử hoặc điện từ,
thường bổ trợ lẫn nhau và thường được sử dụng trong hệ thống để thu
thập thống kê hoặc kế toán hoặc các hoạt động khác. Nhóm này bao gồm
đầu đọc từ tínhhoặcquang học, máy truyền dữ liệu lên các phương tiện
truyền dữ liệu dưới dạng mã hóa và những máy xử lý dữ liệu và giải mã
kết quả.
Nhóm này chỉ bao gồm những máy chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi
khác. Do đó, nhóm này không bao gồm:
(a) Máy xử lý dữ liệu tự động và những bộ phận của chúng được mô tả ở
Phần I trên đây, trừ máy đọc mã vạch.
(b) Máy tính, máy kế toán, máy tính tiền thuộc nhóm 84.70 chúng khác
hoàn toàn những máy mà trong đó chúng không có bộ phận nhập thủ
công mà chỉ nhận dữ liệu ở dạng mã hóa (băng từ, đĩa, CD-ROm v.v..
(c) Máy chữ tự động và máy soạn thảo văn bản (nhóm 84.72).
(A) ĐẦU ĐỌC TỪ TÍNH HOẶC QUANG HỌC
Đầu đọc từ tínhhoặcquang học đọc những ký tự, thường ở dạng đặc biệt,
và chuyển đổi chúng thành tín hiệu điện (các xung) mà có thể được máy
dùng trực tiếp để truyền hoặc xử lý những thông tin được mã hóa.
(1) Đầu đọc từ tính. Đối với thiết bị này, các chữ, được in bằng mực
"từ" đặc biệt, được từ tính hóa và sau đó được chuyển đổi thành xung
điện bằng một đầu đọc từ. Sau đó chúng được nhận dạng bằng việc
so sánh với dữ liệu được ghi trong những bộ lưu trữ của máy hoặc
bằng mã số, thường là mã nhị phân.
(2) Đầu đọc quang học. Máy này không yêu cầu sử dụng mực đặc biệt.
Các ký tự được đọc trực tiếp bởi một loạt các tế bào quang điện và
được dịch trên nguyên tắc mã nhị phân. Nhóm này bao gồm cả máy
đọc mã vạch. Những máy này thường sử dụng thiết bị bán dẫn cảm
quang, ví dụ như đi ốt laze, và được sử dụng như bộ nhập để kết nối
với máy xử lý dữ liệu tự động hoặc các máy khác, như máy tính tiền.
Chúng được thiết kế để hoạt động bằng tay (có thể cầm nắm được),
để đặt trên bàn hoặc để gắn cố định vào một máy.
Đầu đọc được mô tả trên đây chỉ được phân loại trong nhóm này nếu ở
dạng xuất trình tách biệt. Khi kết hợp với các máy khác (ví dụ, máy để
chuyển dữ liệu vào băng dữ liệu ở dạng mã hóa và những máy để xử lý
dữ liệu đó ở dạng mã hóa) chúng được phân loại cùng với những máy đó
với điều kiện chúng được đi kèm với những máy đó.
(B) MÁY TRUYỀN DỮ LIỆU LÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN
TRUYỀN DỮ LIỆU DƯỚI DẠNG MÃ HÓA
Nhóm này bao gồm:
(1) Máy để truyền thông tin được mã hóa từ môi trường này sang
môi trường khác. Những máy này có thể được sử dụng hoặc để
truyền thông tin đã được mã hóa từ một dạng của môi trường dữ liệu
sang một môi trường dữ liệu dạng khác hoặc để truyền sang một môi
trường dữ liệu khác cùng loại. Nhóm hàng sau bao gồm máy tái tạo
được dùng để tái tạo lại toàn bộ hoặc một phần dữ liệu vào băng, đĩa
từ hoặc quang gốc bằng cách làm đĩa hoặc băng mới.
(2) Máy đưa chương trình cố định vào mạch tích hợp (máy lập
chương trình). Những máy này được thiết kế để truyền, ở dạng mã
hóa, dữ liệu trong bộ nhớ trong của máy lập trình vào mạch tích hợp.
Máy lập chương trình "đưa" thông tin vào mộthoặcnhiều mạch tích
hợp theo các công nghệ đa dạng phù hợp với mạch tích hợp có thể
lập trình được sử dụng.
Một số máy lập trình có một đặc tính bổ trợ (bộ mô phỏng) cho phép
người sử dụng phác họa hoặc mô phỏng kết quả của chương trình trước
khi cài chương trình vào mạch tích hợp.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các quy định chung liên quan đến phân loại các bộ phận (xem chú
giải tổng quát của phần XVI), các bộ phận và phụ kiện của những máy
thuộc nhóm này được phân loại vào nhóm 84.73
Nhóm này không bao gồm:
(a) Bộ nguồn (thuộc nhóm 85.04).
(b) Bộ điều biến-giải biến (modem), dùng để điều biến những thông tin
thu thập được từ một máy xử lý dữ liệu tự động có thể được truyền
phát qua mạng điện thoại, và chuyển đổi lại thành dạng số (nhóm
(c) Mạch điện tử tích hợp (nhóm 85.42).
(d) Thiết bị mô phỏng bay (ví dụ nhóm 88.05).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 8471.30
Phân nhóm này bao gồm các máy xử lý dữ kiện tự động xách tay trọng
lượng không quá 10 kg. Được trang bị một màn hình phẳng, các máy
này có khả năng hoạt động không cần nguồn điện ngoài và thường có 1
modem hoặc phương tiện khác để thiết lập một mối liên kết thông qua 1
hệ thống mạng.
Phân nhóm 8471.90
Ngoài những mặt hàng khác, phân nhóm này bao gồm những hệ thống
ghi đĩa quang học, thường gồm bàn phím, màn hình, ổ đĩa quang học,
máy quét và máy in, Những hệ thống này có thể bao gồm một máy xử lý
dữ liệu tự động như là máy điều khiển hoặc đạt cấu hình mà chúng có
thể sử dụng được hoặc điều khiển được bằng một máy xử lý dữ liệu tự
động. Những hệ thống này thường thực hiện những chức năng sau :
- ghi hình ảnh bằng việc quét điện tử
- gưu trữ
- khôi phục lại
- hiển thị
- in trên giấy thông thường
84.72 - Máy văn phòng khác (ví dụ, máy nhân bản in keo hoặc máy
nhân bản sử dụng giấy sáp, máy ghi địa chỉ, máy rút tiền giấy
tự động, máy phân loại tiền kim loại, máy đếm hoặc đóng gói
tiền kim loại, máy gọt bút chì, máy đột lỗ hoặc máy dập ghim).
8472.10 - Máy nhân bản
8472.30 - Máy phân loại hoặc gấp thư hoặc cho thư vào phong bì
hoặc băng giấy, máy mở, gấp hoặc gắn kín và máy đóng
dán tem hoặc hủy tem bưu chính
8472.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả các loại máy văn phòng không thuộc hai
nhóm trước hoặc được mô tả chi tiết hơn tại nhóm khác của Danh mục
Thuật ngữ "máy văn phòng" được đặt trong một ngữ cảnh chung rộng
bao gồm tẩt cả các loại máy được dùng trong các văn phòng, cửa hàng,
nhà máy, công xưởng, trường học, nhà ga, khách sạn v.v.. để làm "công
việc văn phòng" (như công việc liên quan đến viết, ghi chép, phân loại,
lưu trữ v.v.., thư từ, tài liệu, tờ khai, hồ sơ, kế toán v.v..)
Máy văn phòng được phân loại ở đây chỉ khi chúng có đế gắn cố định
hoặc đặt trên bàn v.v.. Nhóm này không bao gồm các dụng cụ cầm tay,
không có đế như nêu trên, của Chương 82.
Những máy móc của nhóm này có thể vận hàng bằng tay, vận hành bằng
cơ khí hoặc vận hành bằng điện (kể cả những máy hoạt động bằng rơ le
điện từ hoặc vận hành bằng điện tử).
Không kể những thứ khác, nhóm này bao gồm:
(1) Máy nhân bản loại in bản viết (ví dụ nhân bản dùng gelatin hoặc
rượu), và máy nhân bản giấy sáp hoạt động bằng giấy nến có lớp
sáp được cắt trước bằng một bút trâm hoặc trong một máy chữ.
Nhóm này bao gồm những máy in nhỏ được thiết kế để sử dụng với
các thiết bị máy in sao.
Nhưng nhóm này không bao gồm những máy in nhỏ (ví dụ, máy in
nổi, in litô hoặc máy in off-set) ngay cả khi ý định dùng cho văn
phòng, và máy nhân bản dùng những tấm kim loại hoặc nhựa dập
nổi (kể cả những máy đó có thể hoạt động với giấy nến), và thiết bị
phô tô copy hoặc sao chụp nhiệt (nhóm 84.43) và thiết bị vi phim
(Chương 90).
(2) Máy in địa chỉ. Những máy này in nhanh các địa chỉ trên hóa đơn,
thư phong bì v.v.. Những máy này thường hoạt động bằng một loại
thẻ nhỏ hoặc giấy nến kim loại hoặc những tấm kim loại in nổi.
Nhóm này cũng bao gồm những máy đặc biệt được dùng để cắt
những giấy nến hoặc dập nổi những tấm kim loại, và những máy để
chọn một số địa chỉ hoặc giấy nến.
(3) Máy phát hành vé (trừ những máy kết hợp một thiết bị tính toán
(nhóm 84.70) và máy hoạt động khi bỏ tiền xu vào (nhóm 84.76)).
Nhóm bao gồm những máy xách tay nhỏ để bấm lỗ trên vé tầu, hoặc
phát hành và in vé từ cuộn giấy (ví dụ, được dùng bởi người soát vé
ô tô buýt hoặc xe điện); nhóm này cũng bao gồm những máy để dập
ngày trên vé.
(4) Máy phân loại hoặc đếm tiền xu kim loại (kể cả máy đếm và rút
tiền giấy). Nhóm này bao gồm những máy như vậy có hoặc không
gắn một thiết bị để gói tiền kim loại hoặc tiền giấy, hoặc trong một
số trường hợp có hoặc không gắn thiết bị để in số lượng trên giấy
gói.
Máy đếm tiền xu hoạt động bằng cân thuộc nhóm 84.23 hoặc nhóm
(5) Máy chi phiếu tự động, hoạt động kết hợp với một máy xử lý dữ
liệu tự động, có kết nối mạng hoặc không.
(6) Máy rút tiền tự động mà khách hàng có thể gửi, rút và chuyển tiền,
cũng như xem số dư tài khoản mà không cần liên hệ trực tiếp với
nhân viên ngân hàng.
(7) Máy gọt bút chì kể cả máy hoạt động bằng tay.
Nhóm này không bao gồm những cái gọt bút chì không có hoạt
động cơ khí; những loại này sẽ thuộc nhóm 82.14 hoặc nếu chúng
có đặc điểm của đồ chơi thì xếp vào Chương 95.
(8) Máy đục lỗ được sử dụng để đục lỗ trên thẻ bằng giấy hoặc tài liệu
(ví dụ, dùng cho mục đích lưu giữ tờ rời hoặc để phân loại đơn
giản).
Nhóm này không bao gồm những máy để đục hàng lỗ nhỏ (như
trong tờ in tem thư) (nhóm 84.41).
(9) Máy dùng để đục lỗ những băng giấy để chúng có thể được dùng
trong những máy chữ tự động.
(10) Máy hoạt động nhờ băng đục lỗ, bản thân chúng không bao gồm
bất kỳ cơ chế đánh máy nào, nhưng là những bộ phận riêng biệt
được dùng kết hợp với các máy chữ thường để đánh máy tự động.
Một số loại của máy này có thể chọn một số phần từ băng đục lỗ
theo yêu cầu của một chữ hoặc tài liệu cụ thể.
(11) Máy dập ghim (được dùng để đóng các tài liệu lại với nhau bằng
một cái ghim) và máy tháo ghim.
Nhưng nhóm này không bao gồm:
(a) Súng bắn ghim (nhóm 82.05)
(b) Máy dập ghim loại dùng để đóng sách (nhóm 84.40).
(c) Máy dập ghim loại dùng trong việc sản xuất hộp cát tông (nhóm
(12) Máy gấp thư, đôi khi được kết hợp với một thiết bị để nhét thư vào
trong phong bì hoặc để gói thư trong một dải giấy.
(13) Máy mở thư và máy đóng thư hoặc đóng dấu thư.
(14) Máy đóng dấu hủy tem.
(15) Máy phân loại thư được dùng trong các trạm bưu điện, kể cả
những máy chủ yếu bao gồm một nhóm những bàn mã hóa, hệ
thống kênh phân loại trước, máy phân loại ngay, máy phân loại sau,
tất cả được điều khiển bằng một máy xử lý dữ liệu tự động và tạo
thành một bộ phận chức năng theo nghĩa của chú giải 4 của Phần
XVI (xem Chú giải tổng quát của Phần XVI).
(16) Máy để phát giấy gói hoặc giấy tráng keo.
(17) Máy dùng để làm ướt giấy hoặc tem tráng keo (kể cả loại lăn
tròn đơn giản ).
(18) Máy xé vụn giấy loại dùng trong văn phòng để hủy tài liệu mật.
(19) Máy viết séc; loại máy này thường là loại máy nhỏ được thiết kế
đặc biệt dùng cho viết séc. Ngoài chức năng đánh máy từng chữ
một, những máy này có thể đánh máy đồng thời cả từ hoặc cụm từ
(ví dụ khi chèn tổng số tiền bằng chữ). Những máy này thường
dùng mực không thể tẩy xoá được và đậm nét, và đôi khi là những
lỗ nhỏ hoặc nổi.
(20) Máy ký séc: những máy này tự động viết chữ ký trên séc với mẫu
không thể xóa được, và cũng thường chụp lại những nền chi tiết khó
sao chụp.
(21) Máy trả tiền lẻ tự động được dùng kết hợp với máy đếm tiền để trả
tiền lẻ tự động dành cho khách hàng.
(22) Máy hoạt động độc lập loại sử dụng trong văn phòng để phân
loại và đối chiếu văn bản và các bản in.
(23) Máy chữ (trừ các loại máy in thuộc nhóm 84.43). Nhìn chung, đặc
trưng của chúng là có một bàn phím để ấn bằng tay, khi ấn các phím
xuống thì các ký tự tương ứng được in trực tiếp lên giấy. Trong một
số trường hợp, chúng hoạt động bằng một dãy các tay đòn và búa,
ký tự được khắc nổi lên trên các bề mặt của những chiếc búa; trong
các trường hợp khác, các ký tự được khắc nổi lên trên một quả cầu,
một trục, một bánh xe hoa cúc hoặc trên các chi tiết hình trụ
(shuttles) để sau đó in ra các ký tự theo yêu cầu lên giấy. Văn bản
được tạo ra từng chữ cái một, mặc dù trong trường hợp đặc biệt, có
thể sử dụng kết hợp nhiều chữ cái (ví dụ: các mẫu, các từ hoặc các
chữ viết tắt).
Các máy chữ được phân loại ở đây bất kể các ký tự nào được sử dụng
(ví dụ: chữ cái và con số thường, ký hiệu tốc ký, ký hiệu âm nhạc hoặc
ký tự chữ nổi). Các máy để viết mã hoặc để mã hóa, hoạt động theo
cách tương tự như các máy đánh chữ thông thường, cũng nằm trong
nhóm này.
Máy đánh chữ dùng điện, cho dù hoạt động bằng động cơ điện,
bằng rơle điện từ hoặc với các thiết bị điện tử trong trường hợp một
số máy đánh chữ tự động nhất định thì cũng được phân loại trong
nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm :
(i) Máy chữ tự động. Những máy này bao gồm:
(a) Các máy có một dải giấy được đục lỗ từ trước chạy qua, vì vậy
làm cho chúng gõ một đoạn văn bản hoặc một chữ cái hoàn
chỉnh lặp lại nhiều lần.
(b) Các máy có dung lượng bộ nhớ hạn chế, có thể sử dụng các
phím chức năng bổ sung để tự động ghi nhớ, sửa và gõ lại văn
bản.
(c) Các máy không bàn phím (máy in) in từng ký tự bằng cách sử
dụng các bánh xe con chữ có thể hoán đổi cho nhau. Các máy
này, bằng một giao diện kết nối thích hợp, được thiết kế để kết
nối với các máy chữ khác, như máy xử lý văn bản, máy xử lý
dữ liệu tự động, v.v.. . Theo Chú giải 6 (B) của Chương này,
các máy in đáp ứng các điều kiện của Chú giải 6 (D) (i) của
Chương này sẽ được phân loại là máy in thuộc nhóm 84.43.
(ii) Các máy dùng để gõ các ký tự nhận dạng (và đôi khi cũng gắn
nhãn hiệu với các ký tự được làm nóng) lên ống cách điện cho hệ
thống dây điện.
(iii) Các máy chữ, không kết hợp bất kỳ thiết bị tính toán nào
nhưng được đặc biệt thiết kế cho mục đích kế toán (ví dụ: để
nhập vào các mẫu được soạn riêng, như: hóa đơn, sổ cái tờ rời,
sổ ngày hoặc thẻ hồ sơ).
(iv) Máy chữ kết hợp một thiết bị để chuyển các số liệu được nhập
tới một máy tính riêng biệt hoặc kết hợp một thiết bị đếm để sử
dụng trong các bài kiểm tra nhanh.
(24) Máy xử lý văn bản. Những máy này ngoài bàn phím còn bao gồm
một hoặc nhiều bộ nhớ dung lượng lớn (ví dụ: đĩa, đĩa mini, hoặc
băng cassette), đơn vị hiển thị hình ảnh và máy in. Các thành phần
có thể nằm trong cùng một khối hoặc trong các khối riêng biệt
được kết nối bằng cáp. Máy xử lý văn bản có thể được trang bị các
giao diện cho phép, ví dụ, chuyển tiếp đến các máy xử lý văn bản
khác, đến thiết bị cài đặt kiểu chữ, đến máy xử lý dữ liệu tự động
hoặc đến các hệ thống viễn thông. Khả năng sửahoặcsoạn thảo văn
bản của chúng tốt hơn so với máy đánh chữ tự động. Khả năng xử
lý các phép tính số học không so sánh được với máy xử lý dữ liệu
tự động (như định nghĩa tại Chú giải 6 của Chương này) và do đó
không bị mất đi đặc trưng của máy xử lý văn bản. Máy xử lý văn
bản khác với máy xử lý dữ liệu tự động của nhóm 84.71 đặc biệt ở
chỗ chúng không đưa ra được các quyết định logic trong quá trình
xử lý để thay đổi việc thực hiện một chương trình (xem Chú giải 6
của Chương này).
Những máy móc được đề cập ở đề mục số (19) và (20) ở trên cũng có
thể được dùng để điền hoặc ký những tài liệu khác.
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận (xem chú
giải tổng quát Phần XVI), các bộ phận và phụ kiện của máy thuộc nhóm
này được phân loại vào nhóm 84.73.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Máy phân loại, là bộ phận hoặc phụ kiện của máy thuộc nhóm 84.43.
(b) Máy kế toán (nhóm 84.70).
(c) Máy xử lý dữ liệu tự động (nhóm 84.71).
(d) Máy điện báo (nhóm 85.17).
(e) Máy đọc chính tả và các thiết bị ghi âm hoặc tái tạo âm thanh khác
(nhóm 85.19 ).
(f) Thiết bị sử dụng tia X-quang để kiểm tra tiền giấy và các tài liệu khác
(nhóm 90.22).
(g) Máy ghi thời gian (nhóm 91.06).
(h) Máy chữ đồ chơi (nhóm 95.03).
(ij) Con dấu ngày, con dấu niêm phong và các loại tương tự thực hiện
bằng tay (nhóm 96.11).
84.73 – Bộ phận và phụ kiện (trừ vỏ, hộp đựng và các loại tương tự)
chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với các máy thuộc các nhóm từ 84.70
đến 84.72.
- Bộ phận và phụ kiện của máy thuộc nhóm 84.70:
8473.21 - - Của máy tính điện tử thuộc phân nhóm 8470.10, 8470.21
hoặc 8470.29
8473.29 - - Loại khác
8473.30 - Bộ phận và phụ kiện của máy thuộc nhóm 84.71
8473.40 - Bộ phận và phụ kiện của máy thuộc nhóm 84.72
8473.50 - Bộ phận và phụ kiện thích hợp dùng cho máy thuộc hai hoặc
nhiều nhóm của các nhóm từ 84.70 đến 84.72
Theo những quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận
(xem chú giải Tổng quát của phần XVI), nhóm này bao gồm các bộ phận
và phụ kiện phù hợp để chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho các máy thuộc
nhóm 84.70 đến 84.72.
Các phụ kiện thuộc nhóm này là những bộ phận và chi tiết có thể thay
thế được hoặc được thiết kế để phù hợp với máy có vận hành riêng biệt,
hoặc để thực hiện một chức năng cụ thể liên quan đến chức năng chính
của máy, hoặc để mở rộng phạm vi hoạt động.
Nhóm này bao gồm:
Thiết bị cấp giấy để cung cấp liên tục giấy cho máy chữ, máy kế
toán, v.v..
Thiết bị giãn cách tự động dùng cho máy chữ, máy kế toán, v.v..
Thiết bị lập danh sách để đi kèm với máy in địa chỉ.
Thiết bị in phụ trợ dùng cho máy lập bảng.
Giá đỡ bản sao để gắn với máy chữ.
Bản ghi địa chỉ bằng kim loại, có hoặc không cắt hoặc in nổi, được
coi như để dùng trong máy in địa chỉ.
Bộ phận tính toán kết hợp máy chữ, máy kế toán, máy tính, v.v..
Đĩa mềm dùng để làm sạch ổ đĩa trong máy xử lý dự liệu tự động,
Các mô-đun ghi nhớ điện tử (ví dụ SIMM, Mô đun ghi nhớ nội
dòng đơn) và DIMMs (mô đun ghi nhớ nội dòng kép)) thích hợp
chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với máy xử lý dữ liệu tự động, không
bao gồm các thành phần cấu thành phân lập, riêng biệt như yêu cầu
tại Chú giải 12 (b) (ii) Chương 85, không phù hợp với định nghĩa
về mạch tích hợp đa thành phần (MCOs) (xem Chú giải 12 (b) (iv)
Chương
và
không
có
một
chức
năng
đơn lẻ.
Nhưng nhóm này không bao gồm thùng để vận chuyển và miếng lót
(pad) nỉ, những thứ này được phân loại vào các nhóm thích hợp. Nhóm
này cũng không bao gồm đồ nội thất (ví dụ tủ để cốc, bàn) thiết kế đặc
biệthoặckhông cho văn phòng (nhóm 94.03). Tuy nhiên, chân đứng của
những máy thuộc các nhóm từ 84.70 đến 84.72 thường không thể sử
dụng tách rời khỏi các máy này vẫn được xếp vào nhóm này.
Nhóm này cũng không bao gồm:
Ống suốt hoặc những thiết bị phụ trợ tương tự, dùng cho các máy
thuộc nhóm 84.70, 84.71 hoặc 84.72 (được phân loại theo vận liệu
cấu thành, ví dụ, vào nhóm 39.23 hoặc Phần XV) .
Tấm lót chuột (được phân loại theo chất liệu hợp thành)
Giấy nến nhân bản (nhóm 48.16) hoặc các nguyên liệu nhân bản
khác (được phân loại theo vật liệu cấu thành).
Thẻ thống kê đã in (nhóm 48.23).
Hộp đĩa từ và phương tiện khác dùng để ghi từ (nhóm 85.23).
Mạch điện tử tích hợp (nhóm 85.42).
Máy đếm vòng quay (ví dụ gắn với máy chữ để kiểm tra tốc độ)
(nhóm 90.29).
Ruy băng máy chữ và tương tự, đã hoặc chưa cuộn thành ống hoặc
để trong vỏ ruy băng (được phân loại dựa trên vật liệu cấu thành,
hoặc nhóm 96.12 nếu đã có mực hoặc các thứ khác được chuẩn bị
để in.
(ij) Chân đế loại một chân (monopod), hai chân (bipod), ba chân
(tripod) và các mặt hàng tương tự của nhóm 96.20.
84.74 - Máy dùng để phân loại, sàng lọc, phân tách, rửa, nghiền, xay,
trộn hoặc nhào đất, đá, quặng hoặc các khoáng vật khác, dạng rắn
(kể cả dạng bột hoặc dạng nhão); máy dùng để đóng khối, tạo hình
hoặc đúc khuôn các nhiên liệu khoáng rắn, bột gốm nhão, xi măng
chưa đông cứng, thạch cao hoặc các sản phẩm khoáng khác ở dạng
bột hoặc dạng nhão; máy để tạo khuôn đúc bằng cát.
8474.10 - Máy phân loại, sàng lọc, phân tách hoặc rửa
8474.20 - Máy nghiền hoặc xay
- Máy trộn hoặc nhào:
8474.31 - - Máy trộn bê tông hoặc nhào vữa
8474.32 - - Máy trộn khoáng vật với bi-tum
8474.39 - - Loại khác
8474.80 - Máy khác
8474.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm:
(I) Máy các loại được dùng, chủ yếu cho công nghiệp khai thác, để xử lý
(phân loại, sàng lọc, tách, rửa, nghiền, xay, trộn hoặc nhào) các sản
phẩm khoáng chất rắn (nói chung là các sản phẩm thuộc Phần V của
Danh mục) như đất (kể cả đất mầu), đất sét, đá, quặng, nhiên liệu
khoáng, phân bón khoáng, xi măng xỉ hoặc bê tông.
(II) Máy làm kết tụ, tạo hình hoặc tạo khuôn các sản phẩm khoáng rắn
ở dạng bột, bột nhão (ví dụ kết tụ nhiên liệu khoáng rắn; tạo khuôn
hình cho bột gốm nhão, xi măng chưa đóng cứng, nguyên liệu thạch
cao,v.v.. đã hoặc chưa cho thêm chất kết dính hoặc chất độn).
(III) Máy để tạo khuôn đúc bằng cát.
Nhiều máy của nhóm này bao gồm hai hoặc nhiều chức năng (ví dụ,
phân loại và rửa bằng thủy lực, nghiền và phân loại, nghiền và trộn, trộn
và tạo khuôn).
Một số máy loại thường được sử dụng để xử lý các sản phẩm khoáng,
như là một công dụng thứ hai, cũng xử lý các sản phẩm phi khoáng (ví
dụ, gỗ hoặc xương); những máy này cũng xếp vào nhóm này. Tuy nhiên,
nhóm này không mở rộng đến máy móc được thiết kế đặc biệt để thực
hiện các hoạt động tương tự đối với các nguyên liệu phi khoáng (ví dụ,
dùng để phân loại hoặc sàng lọc mẩu gỗ; để xay bột gỗ; để xay hoặc trộn
hóa chất hoặc các nguyên liệu mầu hữu cơ; dùng để nghiền xương, ngà,
v.v.. để kết tụ hoặc tạo khuôn bột lie).
(I) NHỮNG MÁY LIÊN QUAN ĐẾN TIÊU CHÍ (I) Ở TRÊN (MÁY
CHỦ YẾU DÙNG CHO CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC)
Nhóm này bao gồm:
(A) Máy phân loại, sàng lọc, tách hoặc rửa dùng để tách các nguyên
liệu, thường là theo kích cỡ hoặc trọng lượng của các cục, miếng
nguyên liệu, hoặc để rửa các nguyên liệu khỏi tạp chất. Những máy
này bao gồm:
(1) Máy phân loại dạng con lăn. Những máy này bao gồm một số
con lăn song song quay tròn theo cùng một hướng tiếp xúc ở
khoảng cách ít hoặc nhiều với nhau. Mỗi một con lăn có một số
rãnh nhỏ vì thế, với một con lăn kế cận, nó tạo ra một khe mà
qua khe này nguyên liệu đi qua con lăn có thể rơi nếu như
chúng đủ nhỏ để lọt qua. Những khe này tăng về cỡ dọc theo
chiều dài của máy, vì vậy những nguyên liệu rơi qua khe và
được tập hợp lại vào một bộ phận chứa bên dưới theo kích cỡ
của hạt.
(2) Máy sàng lọc dùng lưới thép hoặc tấm đục lỗ. Vật liệu đi qua
một cái sàng nghiêng dốc mà mắt lưới hoặc lỗ đục có kích cỡ
tăng dần về phía đầu thấp hơn. Những loại máy này gồm hai
loại: loại thứ nhất, lưới hoặc tấm đục lỗ được đặt trong một
trống nghiêng quay tròn, thường là hình trụ hoặc hình lục giác
(sàng quay); loại thứ hai, sàng lưới hoặc tấm đục lỗ nghiêng
phẳng được rung hoặc dao động bởi máy.
(3) Máy phân loại kiểu cào. Vật liệu được phân loại bằng dãy cào
mà răng của chúng cách xa nhau với những khoảng cách thích
hợp.
(4) Máy chuyên dùng các loại dùng để tách đá, v.v.. khỏi than.
(5) Máy rửa, tách hoặc gạn bằng thủy lực. Một số loại đơn giản
là rửa sạch các tạp chất; một số loại khác tách ra khỏi hoặc gạn
phần nặng hơn không nổi lên trên mặt nước.
(6) Máy tuyển nổi, chủ yếu dùng để làm giàu quặng. Quặng được
trộn với nước và một số chất hoạt động bề mặt (dầu hoặc nhiều
hóa chất khác). Một màng tạo ra trên một số hạt chất khoáng và
sau đó chúng nổi trên bề mặt và được tách ra; trong một số
trường hợp, phản ứng này được thực hiện nhanh hơn bằng cách
thổi không khí vào hỗn hợp
Nhóm này cũng bao máy phân loại hoặc tách có lắp các thiết bị điện
hoặc từ (ví dụ, máy tách tĩnh điện), và những máy sử dụng những
thiết bị phát hiện điện từ hoặc quang điện, ví dụ thiết bị phân loại
quặng uranium và thorium, hoạt động bằng việc đo cường độ phóng
xạ.
Nhóm này không bao gồm máy phân loại li tâm, tức là những máy
mà trong đó việc tách phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên lý li tâm là
các hạt có trọng lượng riêng khác nhau có thể được tập hợp tại các
khoảng cách khác nhau từ trung tâm quay nhanh (nhóm 84.21). Tuy
nhiên, những máy mà trong đó lực li tâm được dùng để ném vật liệu
vào sàng lưới được xếp vào nhóm này.
Băng tải được dùng kết hợp với thiết bị phân loại hoặc sàng được
xếp vào những nhóm thích hợp của chúng trừ khi tạo thành một
phần không thể thiếu của một máy phân loại hoặc sàng, hoặc trừ
khi bản thân băng tải hoạt động như một thiết bị sàng hoặc phân
loại (ví dụ, có những lỗ đục để phân loại hoặc sàng).
(B) Máy nghiền hoặc xay. Nhóm này bao gồm:
(1) Máy nghiền quay theo hướng thẳng đứng. Về cơ bản, những
máy này bao gồm một thùng đựng trong đó một chóp nón quay
tròn, đôi khi chuyển động không đồng tâm, vật liệu được
nghiền giữa chóp nón và thành của thùng đựng.
(2) Máy nghiền hàm các loại. Vật liệu được nghiền rơi giữa hai
hàm rãnh thẳng đứng, một hàm cố định và hàm còn lại có thể
chuyển động.
(3) Máy nghiền trống. Vật liệu được nâng lên đỉnh của một trống
và bị vỡ ra khi rơi xuống đáy.
(4) Máy nghiền hoặc xay bằng con lăn, Vật liệu được nghiền
giữa các con lăn song song quay tròn theo hướng ngược nhau,
khoảng cách giữa con lăn thay đổi theo yêu cầu của độ mịn.
Trong nhiều trường hợp máy bao gồm một số đôi con lăn.
(5) Máy xay kiểu va chạm. Vật liệu được văng mạnh (ví dụ, bằng
tay quay nhanh) vào thành của máy.
(6) Máy nghiền loại búa
(7) Máy nghiền bằng bi hoặc thanh. Những máy này bao gồm một
trống quay có một số vật tròn hoặc thanh ngắn (ví dụ, bằng thép
hoặc sứ). Vật liệu được đặt trong trống quay và được nghiền hoặc
xay bởi tác động của bi nghiền hoặc thanh.
(8) Máy xay loại thớt cối.
(9) Máy nghiền búa thả (được biết đến như máy nghiền dập):
được sử dụng chủ yếu để nghiền quặng. Một dãy búa thả hoạt
động bằng trục cam, thường được sắp xếp theo mức tăng dần,
đập vật liệu tới độ mịn yêu cầu.
(10) Máy dùng để cắt và nhào đất sét trước khi gia công thêm
trong công nghiệp gốm.
(C) Máy trộn hoặc nhào. Những máy này cơ bản bao gồm một thùng
chứa, được thiết kế với những mái chèo hoặc các thiết bị để khuấy
khác, trong đó haihoặcnhiều vật liệu được trộn hoặc nhào bằng việc
khuấy hoặc lắc. Những máy này bao gồm:
(1) Máy trộn bê tông hoặc vữa. Tuy nhiên, máy trộn bê tông được
gắn cố định vào xe goòng hoặc trên khung gầm xe tải không được
xếp vào nhóm này (nhóm 86.04 hoặc 87.05).
(2) Máy móc dùng để trộn những chất khoáng (đá, sỏi, đá
vôi,v.v.. đã vỡ hoặc nghiền) với nhựa đường, để làm ra vật
liệu trải mặt đường. Ví dụ, chúng có thể ở dạng lắp đặt bao
gồm một nhóm các bộ phận riêng biệt (phễu cấp, máy làm khô,
máy hút bụi, máy trộn, máy nâng, v.v..) được gắn vào một cái
khung chung, hoặc các bộ chức năng mà trong đó các bộ phận
được đặt cạnh nhau (thiết bị dải nhựa đường cố định hoặc di
động).
(3) Máy trộn quặng.
(4) Máy dùng để trộn bụi than v.v.. với các chất dính trong quá
trình sản xuất nhiên liệu kết tụ.
(5) Những máy dùng trong công nghiệp gốm (ví dụ để trộn đất
sét với vật liệu màu, hoặc để nhào bột nhão gốm).
(6) Máy trộn dùng trong việc chuẩn bị đúc khuôn cát.
(II) MÁY DÙNG ĐỂ KẾT TỤ TẠO HÌNH HOẶC TẠO KHUÔN
Nhìn chung những máy này là một trong ba loại sau đây:
(i) Các loại máy ép khác nhau hoạt động với các khuôn trong đó
vật liệu chuẩn bị trước được kết tụ và ép thành hình theo yêu
cầu.
(ii) Các hình trụ lớn mà bề mặt của chúng được gắn với dãy lỗ
rỗng hoặc khuôn mà vật liệu được ép theo hình dạng yêu cầu.
hoặc (iii) Máy ép đùn.
Nhóm này bao gồm:
(A) Máy dùng để kết tụ các nhiên liệu khoáng rắn (bụi than, sợi than
bùn, v.v..) thành hình gạch, hình bi, hình trứng,…
(B) Máy dùng để kết tụ hoặc tạo hình bột gốm nhão. Những máy này
bao gồm:
(1) Máy làm gạch loại ép hoặc loại đùn, kể cả máy cắt những thanh
nguyên liệu đã được đùn thành gạch.
(2) Máy đúc khuôn ngói, kể cả những máy dùng để xén rìa ngoài.
(3) Máy dùng để tạo khuôn hoặc đùn ra những ống bằng đất
(4) Máy sản xuất Bricanion lati. Trong máy này, lưới thép được
chuyền qua các con lăn và được trải ra ở điểm giao cắt với đất sét.
(5) Bàn xoay gốm và các máy tương tự trong đó bột nhão gốm được
quay tròn và được tạo khuôn thành hình nhờ bàn tay người, hoặc
với sự trợ giúp của các công cụ.
(6) Máy dùng để tạo khuôn răng nhân tạo bằng sứ.
(C) Máy móc dùng để kết tụ chất để mài mòn, trong việc sản xuất đá
mài dạng hình tròn.
(D) Máy móc dùng để làm các sản phẩm bê tông tiền chế (ví dụ, đá
lát, cột trụ, trụ hàng lan can, cột cao), kể cả máy đúc khuôn li tâm
để đúc ống.
(E) Máy móc dùng để đúc khuôn các sản phẩm từ thạch cao, vữa,...
(ví dụ, đồ chơi, tượng và đồ trang trí trần nhà).
(F) Máy móc dùng đúc khuôn các sản phẩm bằng xi măng - amiăng
(ví dụ, chum, máng xối nước, ống khói), và máy để làm ống hoặc
ống dẫn bằng xi măng - amiăng bằng cách cuộn tròn quanh trục
tâm.
(G) Máy móc dùng để đúc khuôn điện cực than chì.
(H) Máy móc dùng để ép đùn chì bút chì từ than chì.
(IJ) Máy móc dùng để đúc khuôn phấn viết bảng.
(III) MÁY DÙNG ĐỂ TẠO KHUÔN ĐÚC BẰNG CÁT
Những máy này, có thể ở nhiều dạng, được thiết kế để ép cát đã chuẩn bị
từ trước hoặc vào trong khuôn để tạo lõi đúc, hoặc quấn quanh một
khuôn mẫu trong một hộp khuôn để tạo ra khuôn. Những máy này
thường lắp với một cơ chế dằn để làm cát chắc chắn trong khuôn.
Nhóm này bao gồm nhiều loại trong đó khí nén hoặc tác động lên một
piston hoặc động trực tiếp lên bề mặt của cát; nhưng các máy trong đó
cát được phun bằng một luồng khí nén không được xếp vào nhóm này
(nhóm 84.24). Lò làm khô lõi hoặc khuôn cũng không xếp vào nhóm
này (nhóm 84.19).
BỘ PHẬN
Theo các quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận (xem
chú giải tổng quát phần XVI), các bộ phận của máy thuộc nhóm này
cũng được phân loại ở nhóm này. Tuy nhiên, bi cho máy nghiền bi được
phân loại theo vật liệu cấu thành chúng.
Nhóm này cũng không bao gồm:
Đầu đốt dùng nhiên liệu đã tán; máy nạp nhiên liệu cơ khí, có gắn
thiết bị nghiền hoặc thiết bị tán (nhóm 84.16).
Máy cán là hoặc máy cán ép phẳng kiểu trục lăn (nhóm 84.20).
Máy nén lọc (nhóm 84.21).
Máy công cụ để gia công đá hoặc các nguyên liệu khoáng khác,
hoặc để gia công thủy tinh nguội (nhóm 84.64).
Đầm rung bê tông (nhóm 84.67 hoặc 84.79 tùy trường hợp).
Máy dùng để đúc khuôn hoặc ép thủy tinh (nhóm 84.75).
Máy dùng để đúc khuôn nhựa (nhóm 84.77).
Máy ép cho mục đích chung (nhóm 84.79).
Máy dàn bê tông (nhóm 84.79 hoặc Chương 87).
Hộp khuôn dùng đúc khuôn kim loại; khuôn dùng cho các máy
thuộc nhóm này (nhóm 84.80).
84.75 - Máy để lắp ráp đèn điện hoặc đèn điện tử, đèn ống hoặc đèn
điện tử chân không hoặc đèn flash, với vỏ bọc bằng thủy tinh;
máy để chế tạo hoặc gia công nóng thủy tinh hoặc đồ thủy tinh.
8475.10 - Máy để lắp ráp đèn điện hoặc đèn điện tử, đèn ống hoặc
đèn điện tử chân không hoặc đèn flash, với vỏ bọc bằng
thủy tinh
- Máy để chế tạo hoặc gia công nóng thủy tinh hoặc đồ
thủy tinh:
8475.21 - - Máy sản xuất sợi quang học và phôi tạo hình trước của
chúng
8475.29 - - Loại khác
8475.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm những máy để lắp ráp đèn điện hoặc đèn điện tử, đèn
ống, đèn điện tử chân không hoặc đèn flash có vỏ bọc bằng thủy tinh.
Nhóm này cũng bao gồm những máy để sản xuất hoặc gia công nóng thuỷ
tinh hoặc đồ thủy tinh (trừ lò nung thuộc nhóm 84.17 hoặc 85.14).
(I) MÁY ĐỂ LẮP RÁP ĐÈN ĐIỆN hoặc ĐÈN ĐIỆN TỬ, ĐÈN ỐNG
HOẶC ĐÈN ĐIỆN TỬ CHÂN KHÔNG HOẶC ĐÈN FLASH, VỚI
VỎ BỌC BẰNG THỦY TINH
Nhóm này bao gồm :
(A) Máy hàn kín chân không của bóng đèn và gắn lại.
(B) Máy quay dùng để tự động lắp ráp đèn sợi đốt hoặc đèn điện tử
chân không không dây.
Những máy này thường bao gồm cả thiết bị để xử lý nhiệt của thủy tinh
(ví dụ, ống thổi hoặc thiết bị để thổi, ép, làm kín vỏ bọc thủy tinh),
nhưng phân loại ở nhóm này ngay cả khi nếu không có các thiết bị gia
công thủy tinh đó.
Nhóm này cũng bao gồm máy móc để lắp ráp bóng đèn điện có dây tóc
mà trong đó các bộ phận cấu thành được liên kết bằng băng chuyền, và
chúng bao gồm thiết bị để xử lý nhiệt thủy tinh, bơm và bộ phận kiểm tra
đèn (xem chú giải 4 của phần XVI).
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm những máy chỉ dùng cho gia công
các bộ phận kim loại cấu thành của bóng đèn hoặc bóng đèn điện tử chân
không (ví dụ, máy dùng để cắt hoặc kéo dài tấm chắn, cực dương hoặc
phần phụ trợ (nhóm 84.62), máy dùng để xoắn lò xo các dây kim loại
trong quá trình sản xuất dây tóc bóng đèn điện (nhóm 84.63), và máy
dùng để hàn tấm chắn và điện cực (nhóm 84.68 hoặc nhóm 85.15)).
(II) MÁY ĐỂ CHẾ TẠO HOẶC GIA CÔNG NÓNG THỦY TINH
HOẶC ĐỒ THỦY TINH
Những máy gia công thủy tinh của nhóm này là những máy gia công
thủy tinh (kể cả thạch anh nấu chảy hoặc silic nấu chảy khác) được làm
nóng cho tới khi trở nên mềm hoặc lỏng. Những máy này hoạt động chủ
yếu bằng đúc, kéo, lăn, xe, thổi, làm mô hình, mẫu hình, v.v.. Những
máy để gia công thủy tinh ở thể rắn (thậm chí nếu nung ở nhiệt độ thấp
để tạo điều kiện gia công thuận lợi) thì không được xếp vào nhóm này
(nhóm 84.64).
(A) MÁY DÙNG ĐỂ GIA CÔNG TẤM THỦY TINH PHẲNG
Nhóm này bao gồm :
(1) Máy dùng để làm thủy tinh tấm bằng cách kéo dài các dải phẳng.
Tấm thủy tinh đã được tạo hình thô được nâng lên bằng một thiết bị
đặc biệt; sau đó được giữ chặt bằng các con lăn và được kéo theo
chiều dọc hoặc chiều ngang khi nó đi qua một lò luyện. Dải liên tục
được cắt thành các tấm (bằng cơ cấu cơ khí hoặc bằng một dây thép
nung điện)
(2) Máy dùng để sản xuất thủy tinh nổi. Trong quá trình làm nổi, thủy
tinh được làm nổi theo phương ngang trên một môi trường nóng
chảy, để tạo ra ruy băng thủy tinh vô tận, cái mà sau đó theo quy
trình được cắt thành từng miếng.
(B) MÁY KHÁC DÙNG ĐỂ GIA CÔNG NÓNG THỦY TINH
Nhóm này bao gồm :
(1) Máy làm chai, lọ, v.v.. Những máy này được sắp xếp từ những thiết
bị cơ khí đơn giản để thu thập và thổi (hoạt động bằng cách hút hoặc
khí nén và dùng khuôn tách biệt), cho đến máy cung cấp tự động liên
tục (với hai mâm quay tròn, một mâm với khuôn đúc thô, một mâm
với khuôn hoàn thiện).
(2) Máy đặc biệt và máy ép dùng để tạo khuôn cho các sản phẩm các
loại bằng thủy tinh (ví dụ, khối lát, ngói, chất cách điện, phôi kính
quang học và cốc chén), nhưng không bao gồm máy ép thông dụng
(nhóm 84.79).
(3) Máy dùng để kéo, tạo hình hoặc thổi ống, ống dẫn bằng thủy tinh
và máy đặc biệt để kéo ống silic nấu chảy.
(4) Máy dùng để làm hạt thủy tinh, cụ thể máy mà trong đó cắt miếng
ống đã được mài tròn bằng cách được quay trong những trống nhiệt
(5) Máy để làm xơ và sợi thủy tinh. Những máy này rơi vào ba nhóm
chính sau :
(i) Máy để làm sợi thủy tinh liên tục để dệt. Những máy này bao
gồm một lò nung điện nhỏ nấu thủy tinh được nạp nguyên liệu là
bi thủy tinh. Đáy của lò nấu bao gồm một tấm kéo có hàng trăm
hoặc nhiều hơn các lỗ rất mịn; những sợi thủy tinh được bôi trơn
khi chúng chui ra khỏi các lỗ này, và được tụ hợp lại với nhau
bằng thiết bị đặc biệt để tạo thành một tao đơn, tao này được cuộn
lại trong ống quay tròn đảm bảo các sợi được kéo ra liên tục.
(ii) Máy dùng để làm sợi ngắn. Những máy này được trang bị một
lò nung điện và một đĩa kéo như được đề cập ở trên, nhưng cũng
có các bộ đầu phun khí nén tập trung ở hai bên sườn. Những luồng
khí này thực hiện cả hai mục đích đó là kéo dài và làm đứt sợi. Sợi
được đi qua bộ phận phun dầu và rơi vào trống đục lỗ quay tròn;
một bộ phận hút trong trống kéo sợi với nhau tạo ra ở nhiều phía
và được cuộn lại trong một ống suốt.
(iii) Máy đặc biệt dùng để sản xuất bông thủy tinh. Thủy tinh nấu
chảy được đổ lên trên một đĩa quay nóng, nó được gắn với những
sóng của đĩa và được kéo thành sợi bởi các hoạt động ly tâm.
(6) Máy dùng để thổi bóng hoặc để làm các bộ phận khác của bóng
đèn điện hoặc đèn ống hoặc đèn điện tử chân không hoặc đèn
điện tử dạng ống,... bằng thủy tinh (ví dụ, khối nền, cọc, dây tóc,
ống hút).
(7) Các máy để sản xuất sợi quang học và phôi của chúng.
BỘ PHẬN
Theo quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận (xem chú
giải tổng quát phần XVI), các bộ phận của máy thuộc nhóm này được
phân loại ở đây.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Ống thổi loại cầm tay dùng để thổi thủy tinh (nhóm 82.05).
(b) Một số máy dùng để sản xuất thủy tinh tôi cứng, trong đó tấm thủy
tinh thường được đặt vào giữa hai đĩa nhiệt và sau đó được làm lạnh
đột ngột (nhóm 84.19).
(c) Khuôn để làm thủy tinh bằng thủ công hoặc cơ khí (nhóm 84.80).
84.76 - Máy bán hàng hóa tự động (ví dụ, máy bán tem bưu điện, máy
bán thuốc lá, máy bán thực phẩm hoặc đồ uống), kể cả máy đổi tiền.
- Máy bán đồ uống tự động:
8476.21 - - Có kèm thiết bị làm nóng hoặc làm lạnh
8476.29 - - Loại khác
- Máy khác:
8476.81 - - Có lắp thiết bị làm nóng hoặc làm lạnh
8476.89 - - Loại khác
8476.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm các loại máy khác nhau cung cấp một số loại hàng
hóa khi một hoặc nhiều tiền kim loại, thẻ hoặc thẻ từ được đưa vào khe
của máy (loại trừ những máy đó được mô tả chi tiết hơn bởi nhóm khác
của Danh mục hoặc bị loại trừ khỏi Chương bởi Chú giải Chương hoặc
Phần). Khái niệm “bán hàng” trong nhóm này chỉ việc trao đổi “tiền
tệ” giữa người mua và máy nhằm có một sản phẩm. Nhóm này không
bao gồm các máy cung cấp hàng hóa nhưng không có thiết bị để chấp
nhận việc thanh toán.
Máy cung cấp đồ uống nóng hoặc lạnh tự động mà không có thiết bị
chấp nhận thanh toán bị loại trừ (nhóm 84.19)
Nhóm này không chỉ bao gồm những máy cấp phát tự động, mà còn bao
gồm những máy có một số khoang chứa mà từ đó hàng hóa có thể được
rút ra sau khi đưa tiền xu vào, máy kèm một thiết bị để nhả khóa của
khoang tương ứng (ví dụ, bằng việc ấn vào một nút tương ứng).
Tủ hoặc thùng đựng đơn giản với khóa hoạt động bằng đồng xu, như loại
được dùng trong ga, trạm gửi hàng hóa hoặc trong rạp hát để cung cấp
(cho thuê) ống nhòm không thuộc nhóm này mà rơi vào, ví dụ, thuộc
Phần XV hoặc Chương 94.
Nhóm này bao gồm các máy được trang bị thiết bị làm nóng hoặc làm
lạnh, hoặc các thiết bị để chuẩn bị các sản phẩm được bán (như máy ép
nước hoa quả, máy khuấy cà phê và sữa, máy trộn kem), với điều kiện
chức năng và mục đích cơ bản của máy là bán hàng tự động.
Nhóm này bao gồm những máy hoạt động bằng tiền xu để bán tem bưu
điện, vé tầu hỏa, sô cô la, kẹo, kem, thuốc lá, xì gà, đồ uống (như bia,
rượu vang, rượu mạnh, cà phê hoặc nước trái cây), các sản phẩm vệ sinh
(kể cả máy xịt hương thơm), tất, phim chụp ảnh, báo,v.v..; cả những máy
mà trên đó tấm biển tên có thể được in dập trên dải kim loại.
Nhóm này cũng bao gồm máy đổi tiền.
BỘ PHẬN
Theo các điều khoản chung về việc phân loại các bộ phận (xem chú giải
tổng quát phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các cơ cấu cơ khí bán
hàng tự động của loại được dùng để đặt trước cửa hàng, và bộ phận của
các máy thuộc nhóm này.
Những máy và thiết bị hoạt động bằng tiền xu sau đây không thuộc
nhóm này:
Khóa chặn tiền xu (như dùng trong các tủ chén hoặc các nhà vệ
sinh công cộng) (nhóm 83.01).
Bơm để bơm nhiên liệu và dầu bôi trơn, loại sử dụng trong trạm
xăng hoặc trong gara (nhóm 84.13).
Cân máy (nhóm 84.23).
Máy chữ (nhóm 84. 72).
Máy đánh giầy dùng tiền xu (nhóm 84.79).
Máy cạo râu hoạt động bằng điện (nhóm 85.10).
Thiết bị điện thoại (nhóm 85.17).
Máy thu sóng vô tuyến (nhóm 85.28).
Kính thiên văn, máy ảnh, máy chiếu phim (Chương 90).
Đồng hồ đo điện hoặc đo lượng ga được cung ứng (nhóm 90.28).
Trò chơi may rủi (nhóm 95.04) và các máy khác của Chương 95.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 8476.21 và 8476.29
Khái niệm „máy bán đồ uống tự động“ chỉ tất cả các máy tự động bán đồ
uống (cà phê, chè, nước hoa quả, đồ uống có cồn...) được phân phối ở
dạng sẵn sàng sử dụng trong cốchoặctrong bất cứ đồ chứa nào khác (ví
dụ như hộp, chai hoặc hộp bìa cứng), hoặc phân phối riêng phần bột sử
dụng ngay“ và nước (nónghoặclạnh).
84.77- Máy dùng để gia công cao su hoặc plastic hoặc dùng trong việc 84.77 - Machinery for working rubber or plastics or for the
sản xuất các sản phẩm từ những vật liệu trên, chưa được chi tiết hoặc
ghi ở nơi khác trong Chương này.
8477.10 - Máy đúc phun
8477.20 - Máy đùn
8477.30 - Máy đúc thổi
8477.40 - Máy đúc chân không và các loại máy đúc nhiệt khác
- Máy đúc hoặc tạo hình khác:
8477.51 - - Để đúc hoặc đắp lại lốp hơi hoặc để đúc hoặc tạo hình loại
săm khác
8477.59 - - Loại khác
8477.80 - Máy khác
8477.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm máy móc để gia công cao su hoặc plastic hoặc dùng
trong việc sản xuất ra các sản phẩm làm từ các vật liệu này, chưa được
chi tiết hoặc ghi ở nơi khác trong chương này.
Nhóm này bao gồm :
Máy đúc lốp hoặc các sản phẩm khác làm từ cao su hoặc plastic
loại trừ những khuôn như ở các nhóm 68.15, 69.03 và 84.80).
Máy cắt lỗ van của săm.
Máy và thiết bị cắt chỉ cao su đặc biệt.
Máy ép tạo hình cao su và plastic.
Máy ép đặc biệt dùng để đúc bột nhựa dẻo nóng.
Máy ép dùng để làm bản ghi âm dùng cho máy hát đĩa.
Máy dùng để sản xuất sợi lưu hóa.
Máy ép đùn.
CÁC BỘ PHẬN
Theo các quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận (xem
Chú giải Tổng quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm những bộ
phận của máy móc thuộc nhóm này.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các các thiết bị bọc nhựa để lắp
ráp các thiết bị bán dẫn (nhóm 84.86).
84.78 - Máy chế biến hoặc đóng gói thuốc lá, chưa được chi tiết hoặc
ghi ở nơi khác trong Chương này.
8478.10 - Máy
8478.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm những máy chưa được chi tiếthoặcghi ở nơi khác
thuộc chương này, dùng để chế biếnhoặcđóng gói thuốc lá.
Việc tước cọng được thực hiện trong thiết bị tách đập. Một luồng khí đi
qua một hệ thống của những búa đập quay tròn và lưới kim (dạng rổ) có
nhiều kích cỡ khác nhau để tách lá thuốc thành mảnh, những phần lá nhẹ
hơn được tách biệt khỏi gân lá và sống lá nặng hơn.
Nhóm này bao gồm:
(1) Máy tước cọng lá thuốc lá hoặc thái lá.
(2) Máy chế biến thuốc lá hoặc xì gà, có hoặc không thiết bị đóng gói
phụ trợ.
CÁC BỘ PHẬN
Theo những quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận
(xem chú giải tổng quát của phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ
phận của máy thuộc nhóm này.
84.79 - Máy và thiết bị cơ khí có chức năng riêng biệt, chưa được chi 84.79 -Machines and mechanical appliances having individual
tiết hoặc ghi ở nơi khác thuộc Chương này.
8479.10 - Máy dùng cho các công trình công cộng, công trình xây dựng
hoặc các mục đích tương tự
8479.20 - Máy dùng để chiết xuất hoặc chế biến dầu hoặc mỡ động vật
hoặc dầu hoặc chất béo không bay hơi của thực vật hoặc vi
sinh vật
8479.30 - Máy ép dùng để sản xuất tấm, ván ép từ xơ sợi hoặc dăm gỗ
hoặc từ các vật liệu bằng gỗ khác và các loại máy khác dùng
để xử lý gỗ hoặc lie
8479.40 - Máy sản xuất dây cáp hoặc dây chão
8479.50 - Rô bốt công nghiệp, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác
8479.60 - Máy làm mát không khí bằng bay hơi
- Cầu vận chuyển hành khách:
8479.71 - - Loại sử dụng ở sân bay
8479.79 - - Loại khác
- Máy và thiết bị cơ khí khác:
8479.81 - - Để gia công kim loại, kể cả máy cuộn ống dây điện
8479.82 - - Máy trộn, máy nhào, máy xay, máy nghiền, máy sàng, máy
rây, máy trộn đồng hóa, máy tạo nhũ tương hoặc máy khuấy
8479.89 - - Loại khác
8479.90 - Bộ phận
Nhóm này được giới hạn đối với máy móc có các chức năng riêng biệt, mà:
(a) Không bị loại trừ khỏi Chương này bởi bất kỳ chú giải của phần
hoặc Chương
và (b) Không được mô tả chi tiết hơn bởi một nhóm trong bất kỳ
Chương nào khác của Danh mục
và (c) Không thể phân loại trong bất kỳ một nhóm cụ thể nào khác
của chương này, vì:
(i) Không thể phân loại vào nhóm nào khi xét theo cách thức
hoạt động, đặc điểm hoặc chủng loại của máy.
và (ii) Không thể phân loại vào nhóm nào khác khi xét theo công
dụng hoặc ngành công nghiệp mà nó được sử dụng.
hoặc (iii) Máy đó có thể cùng được xếp vào hai (hoặc nhiều) nhóm
khác (những máy có công dụng chung).
Máy móc thuộc Nhóm này được phân biệt với các bộ phận của máy,
v.v.. các bộ phận đó được phân loại theo những quy định chung về việc
phân loại bộ phận, bởi thực tế máy có chức năng riêng biệt.
Theo mục đích này, các máy sau đây được coi là có chức năng riêng
biệt:
(A) Thiết bị cơ khí, có hoặc không có động cơ hoặc lực dẫn động khác,
chức năng của chúng có thể được thực hiện riêng biệt hoặc độc lập
với bất kỳ máy hoặc thiết bị nào khác.
Ví dụ : Làm ẩm và hút ẩm không khí là những chức năng riêng biệt bởi
vì chúng có thể được thực hiện bằng những thiết bị hoạt động
độc lập với bất kỳ máy móchoặcthiết bị khác.
Một thiết bị hút ẩm không khí được trình bày riêng lẻ, thậm chí
được thiết kế để gắn vào máy sinh ra ôzon, được phân loại vào
nhóm này vì có chức năng riêng biệt.
(B) Những thiết bị cơ khí mà không thể thực hiện chức năng của chúng
trừ khi chúng được gắn vào máy hoặc thiết bị khác, hoặc được kết
hợp trong tổ hợp máy, với điều kiện là chức năng này:
(i) Được tách bạch khỏi chức năng của máy hoặc thiết bị mà
chúng được lắp đặt vào hoặc của tổ hợp máy chúng được kết
hợp, và
(ii) Không đóng vai trò là một bộ phận không thể thiếu được và
không thể tách rời được trong hoạt động của máy, thiết bị hoặc
tổ hợp máy đó.
Ví dụ: Một bộ cắt chỉ là một thiết bị được gắn vào một máy khâu
công nghiệp và tự động cắt chỉ để máy có thể chạy mà
không có sự gián đoạn. Thiết bị này thực hiện một chức
năng riêng biệt bởi vì nó không đóng vai trò nào trong chức
năng "may" của máy; khi không có một nhóm cụ thể hơn
khác, thì bộ cắt chỉ được phân loại ở đây.
Mặt khác, chức năng của một bộ chế hòa khí của một động
cơ đốt trong khác biệt với chức năng của động cơ nhưng nó
không phải là một "chức năng riêng biệt" như định nghĩa ở
trên vì hoạt động của bộ chế hòa khí là không thể tách rời
khỏi động cơ. Vì vậy, một bộ chế hòa khí hiện diện riêng rẽ
được phân loại như một các bộ phận của động cơ thuộc
nhóm 84.09.
Tương tự, thiết bị giảm xóc bằng cơ khí hoặc bằng thủy lực
là một bộ phận không thể thiếu được của máy và thiết bị mà
chúng được kết hợp. Khi giảm xóc hiện diện riêng rẽ được
phân loại như bộ phận của máy móc hoặc thiết bị mà chúng
được gắn vào (giảm xóc xe cộ hoặc máy bay xếp vào Phần
Không kể những máy khác, có nhiều máy khác nhau được phân loại ở
nhóm này bao gồm:
(I) MÁY CÓ CÔNG DỤNG CHUNG
Nhóm này bao gồm, ví dụ :
(1) Bể chứa và các đồ chứa khác (ví dụ, bể chứa hoặc bồn chứa để điện
phân), có gắn thiết bị cơ khí (máy khuấy, v.v..) và không thể xác định
được dùng cho bất kỳ một ngành công nghiệp cụ thể nào và không là
thiết bị đun nóng, nấu ăn, v.v.., của nhóm 84.19. Bể chứa hoặc các
đồ chứa khác này được gắn đơn giản với vòi, dụng cụ đo mức hoặc
áp suất hoặc các loại tương tự được phân loại theo vật liệu cấu thành
của chúng.
(2) Máy ép, máy nghiền, máy xay, máy trộn, v.v.., không được thiết kế
cho hàng hóa hoặc ngành công nghiệp cụ thể nào.
(3) Thiết bị phân phối theo thể tích ( ví dụ phễu cấp cơ khí) và bộ phân
phối cơ khí để liên tục phân phối các vật cần gia công trong cùng một
hàng thẳng sẵn sàng cho việc gia công, không chuyên cho bất kỳ
ngành công nghiệp nào.
(4) Máy tán khoen hoặc tán đinh rivê thích hợp cho việc dập khoen hoặc
đinh rivê lên bất kỳ loại vật liệu nào như vải, giấy bìa, plastic hoặc da
thuộc; và máy dập ghim để nối đai truyền bằng vải, cao su hoặc các
vật liệu khác.
(5) Động cơ rung gồm động cơ điện với đĩa lệch tâm được gắn vào
những đầu nhô ra của trục, tạo ra chấn động xuyên tâm, được truyền
tới thiết bị hoặc dụng cụ (máng xối, sàng, phễu, băng truyền, thiết bị
dầm, v.v..) mà động cơ rung được gắn vào.
(6) Máy rung điện từ để gắn với các thiết bị truyền, sàng, nén, v.v bao
gồm một bàn đế mang một nam châm điện và hai thanh kim loại đỡ
một trọng lượng được giữ vào vị trí bằng hai thanh kim loại đỡ một
khối nặng xác định, được cố định vào vị trí bởi hai bộ lò xo cách nam
châm với một khoảng cách thích hợp từ; khối nặng lần lượt được hút
bởi từ tính và đẩy lại bằng lò xo.
(7) Robot công nghiệp đa năng. Robot công nghiệp là những máy móc tự
động được lập trình để lặp đi lặp lại một chu trình chuyển động. Bằng
cách sử dụng cảm biến, robot công nghiệp có thể lấy thông tin về môi
trường hoạt động của chúng và phân tích thông tin đó nhằm điều
chỉnh cách thức hoạt động cho phù hợp với những biến động trong
môi trường hoạt động đó.
Robot công nghiệp có thể bao gồm một cấu trúc khớp nối, tương tự
cánh tay người, gắn trên một bàn đế theo vị trí dọc hoặc ngang, tại
điểm mút có một tay nắm di động dùng để nắm giữ dụng cụ (vì vậy
được gọi là robot theo chiều thẳng đứng). Chúng có thể cũng gồm
một cấu trúc đường thẳng thường chuyển động trên một trục dọc, trên
đó tay nắm đóng vai trò điểm cuối của cơ cấu hoạt động thường
chuyển động trên trục ngang (robot theo chiều ngang). Những robot
này cũng có thể đặt trên một xà treo (robot xà treo).
Các phần khác nhau của cấu trúc hoạt động bằng động cơ điện hoặc
bằng hệ thống thủy lực hoặc khí nén .
Rô bốt công nghiệp có nhiều công dụng : hàn, sơn, nâng hạ, xếp, dỡ
hàng, cắt, lắp ráp, gọt kim loại, v.v.. Chúng thay thế con người thực
hiện công việc trong môi trường độc hại (với sản phẩm độc hại, bụi,
v.v..) hoặc công việc nặng nhọc (di chuyển những vật nặng, lặp đi lặp
lại những công việc nhàm chán). Với những ứng dụng đa dạng này,
rô bốt được trang bị một tay cầm dụng cụ và các dụng cụ được thiết
kế một cách đặc biệt để hoàn thiện công việc (ví dụ như kìm, gắp,
mũi hàn).
Nhóm này chỉ bao gồm những rô bốt công nghiệp có khả năng thực
hiện nhiều chức năng đơn giản bằng việc sử dụng những dụng cụ
khác nhau. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm những rô bốt công
nghiệp được thiết kế đặc biệt để thực hiện một chức năng cụ thể;
những rô bốt công nghiệp đó được phân loại vào trong nhóm bao gồm
chức năng của chúng (ví dụ, nhóm 84.24, 84.28 hoặc 85.15).
(II) MÁY MÓC CHO MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CỤ THỂ
Nhóm này bao gồm:
(A) Máy dùng cho các công trình công cộng, công trình xây dựng
hoặc các mục đích tương tự, ví dụ:
(1) Máy rải vữa, bê tông (loại trừ máy trộn bê tông hoặc nhào vữa
– nhóm 84.74 hoặc 87.05).
(2) Máy làm đường loại rung đầm bê tông để làm chắc và khum lại
bề mặt đường, đôi khi cũng để trải bê tông.
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm máy san đất thuộc nhóm
(3) Máy rải sỏi trên đường hoặc các bề mặt tương tự có hoặc không
tự hành và máy tự hành để trải và đầm chặt vật liệu trên bề mặt
đường nhựa. Bộ phận rải sỏi được gắn vào phương tiện có gắn
động cơ không thuộc nhóm này (nhóm 87.05).
(4) Máy và dụng cụ cơ khí để làm nhẵn, tạo rãnh, kẻ ô vuông,... lên
bề mặt bê tông tươi, nhựa đường và trên những bề mặt mềm
tương tự.
Thiết bị làm nóng nhựa đường,... không thuộc nhóm này
(nhóm 84.19).
(5) Thiết bị cơ giới nhỏ được sử dụng bởi người đẩy để bảo dưỡng
đường (ví dụ, thiết bị gắn chổi quét và sơn vạch trắng phần
tuyến đường).
Chổi quay tròn cơ học, có thể được gắn với một phễu chứa bụi
và một hệ thống phun nước trên một xe khung gầm có bánh kéo
bằng một đầu máy kéo thuộc nhóm 87.01, cũng được phân loại
vào nhóm này như một thiết bị có thể thay đổi được, thậm chí
nếu chúng đi kèm với một máy kéo.
(6) Máy rải muối và cát để dọn tuyết, được thiết kế gắn với một xe
tải, bao gồm một bồn chứa cát và muối, được trang bị bộ khuấy
trộn phá vỡ các tảng, hệ thống nghiền/xay các tảng (cục) muối
và hệ thống rải thủy lực với một đĩa rải rộng. Các chức năng đa
dạng của máy được vận hành từ cabin xe tải, bằng điều khiển từ
(B) Máy móc dùng trong công nghiệp dầu, xà phòng hoặc chất béo
ăn được, ví dụ :
(1) Máy nghiền, đập, xay, hoặc ép đối với những hạt dầu hoặc quả
có dầu.
(2) Bồn chứa được trang bị máy khuấy cơ học, được thiết kế đặc
biệt để lọc dầu.
(3) Thiết bị tẩy sạch mỡ động vật.
(4) Thiết bị cán mỡ động vật để nghiền phần tử rỗng trước khi nấu
chảy.
(5) Máy khuấy và trộn các nguyên liệu của margarine (bơ thực
vật).
(6) Máy cắt và đúc khuôn xà phòng.
(C) Máy dùng để xử lý gỗ hoặc các vật liệu tương tự, ví dụ:
(1) Trống bóc vỏ cây trong đó các khúc gỗ được tước vỏ bằng cách
chà xát vào nhau.
(2) Máy ép đặc biệt dùng để liên kết những sợi gỗ, mẩu gỗ, mùn
cưa hoặc mùn lie với nhau.
(3) Máy ép cứng gỗ.
(4) Máy tẩm gỗ bằng áp lực.
(D) Máy làm chão, cáp (máy bện dây, xoắn hoặc làm cáp, v.v..) từ
hoặc sợi vải hoặc dây kim loại hoặc cả hai loại trên, kể cả máy dùng
để xoắn dây dẫn điện co giãn, trừ khung xoắn dùng trong xe sợi dệt
(nhóm 84.45).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Máy guồng sợi vải, sợi xe, v.v.. thành quả tròn (nhóm 84.45).
(b) Máy dùng để hoànt thiện (làm láng, đánh bóng) sợi vải, sợi xe,
v.v.. (nhóm 84.51).
(E) Máy xử lý kim loại, kể cả máy cuốn dây điện, ví dụ:
(1) Máy kẹp kim loại để hàn nhiệt nhôm thanh ray, các bộ phận
của máy, v.v..
(2) Máy làm sạch hoặc đánh rỉ kim loại (bằng axít,
trichloroethylene, v.v..) kể cả thiết bị cạo rỉ cho máy cán tôn,
nhưng trừ thiết bị phun hơi nước hoặc cát thuộc nhóm 84.24.
(3) Trống quay dùng để loại bỏ cát, cặn hoặc đánh bóng các đồ kim
loại (ví dụ, ốc, bu lông hoặc ổ bi).
(4) Máy mạ kẽm bằng cách nhúng.
(5) Máy phá gang và máy dập đặc biệt để đập vụn phế thải gang.
(6) Máy đặc biệt dùng để cuốn hoặc bọc cáp điện với một lớp vải,
băng giấy đã được thấm tẩm, băng amiăng hoặc vật liệu cách
điện hoặc bảo vệ khác; nhưng loại trừ các loại máy quấn sợi
thuộc nhóm 84.47.
(7) Máy cuốn dây điện (ví dụ, dùng cho động cơ, biến thế hoặc
cuộn cảm).
(F) Máy làm rổ, giá, các đồ đựng bằng mây tre đan và các máy loại
khác để tết, bện liễu gai, mây, song, rơm, mảnh gỗ, plastic, v.v..
Ví dụ :
(1) Máy dùng để làm rổ, giá, hòm mây hoặc những vật tương tự.
(2) Máy dùng để làm khuôn nắp bình lớn, chai, v.v..
(3) Máy dùng để làm đồ đựng bảo vệ chai bằng rơm.
(4) Máy dùng để tết mũ hoặc dải viền và băng để làm mũ.
Nhóm này không bao gồm máy xẻ gỗ, bóc vỏ liễu gai, vót tròn song,
v.v.. (nhóm 84.65).
(G) Máy làm chổi quét sơn hoặc các loại bàn chải khác, ví dụ :
(1) Máy xử lý (kể cả tỉa và cắt) lông, lông cứng, sợi, v.v.. để làm
chổi/bàn chải.
(2) Máy dùng để cấy lông, lông cứng, sợi, v.v.. vào các hốc, khung
hoặc tay cầm của bàn chải.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Máy sát trùng lông cứng hoặc sợi (nhóm 84.19).
(b) Máy làm khung bàn chải hoặc tay cầm bàn chải bằng gỗ, lie,
xương, cao su cứng hoặc các vật liệu cứng tương tự (nhóm
(III) MÁY MÓC KHÁC
Nhóm này bao gồm :
Máy tạo ẩm hoặc hút ẩm không khí, trừ thiết bị thuộc nhóm 84.15,
84.24 hoặc 85.09.
Bộ phận khởi động động cơ (bằng cơ khí, thủy lực, khí nén, v.v..)
nhưng không phải là thiết bị điện thuộc nhóm 85.11.
Bộ tích thủy lực, nhằm dự trữ một lượng chất lỏng dưới áp suất để
tạo ra một tỷ lệ cân bằng của dòng chảy hoặc áp suất đường ống
đối với máy thủy lực. Thông thường, các bộ tích này bao gồm một
xi lanh dạng ống bơm đặt theo chiều thẳng đứng (vertical pump-
fed cylinder) đi kèm với một piston gia tải (weighted) được điều
chỉnh với một áp suất nhất định.
Máy tra dầu mỡ tự động dạng bơm.
Máy nhúng diêm.
Máy sơn hoặc phủ nhựa vào thùng trừ những thiết bị phun thuộc
nhóm 84.24.
Máy phủ điện cực hàn.
Máy làm sạch hoặc phủ lại trục lăn mực làm từ gelatin.
Máy phủ chất nhạy sáng lên nền trừ loại thuộc nhóm 84.86.
(10) Máy làm mờ kính bằng quá trình axít.
(11) Máy vặn bu lông hoặc tháo bu lông và máy tách lõi kim loại (trừ
dụng cụ cầm tay thuộc Chương 82 và dụng cụ nhỏ cầm tay hoạt
động bằng khí nén, thuỷ lực hoặc gắn động cơ dùnghoặckhông
dùng điện (nhóm 84.67).
(12) Máy bảo dưỡng đường ống dẫn hoặc các ống cứng (non-flexible)
khác (ví dụ, máy tự hành loại nhỏ dùng làm sạch đường ống dẫn
dầu, phủ nhựa đường hoặc chất bảo vệ khác; máy móc, được
chuyển qua ống bằng chính dòng chất lỏng, dùng để làm sạch bên
trong ống dẫn).
(13) Máy cuốn ruy băng cạc vào trục cạc.
(14) Máy đế giầy bằng dây thừng (giầy vải đế cói đen).
(15) Máy giặt, chà sạch hoặc tẩy bụi lông vũ nhồi đệm.
(16) Máy nhồi chăn lông vịt hoặc nhồi đệm
(17) Máy quét chất mài mòn trên bất kỳ loại nền nào (vải, giấy, v.v..)
(18) Máy cuốn đối với những loại cáp và ống mềm (ví dụ, dùng cho cáp
hoặc chão bằng vải hoặc kim loại, cáp điện, ống chì).
(19) Các thiết bị máy móc dùng để cắt cỏ dại dưới nước. Các thiết bị
này bao gồm một lưỡi hái ngang, nằm dưới mặt nước, quay tròn
trên một trục dọc được đỡ bởi một cái khung gắn vào thuyền.
Chúng có thể hoạt động bằng tay hoặc bằng động cơ.
(20) Chuông lặn hoặc bộ quần áo thợ lặn bằng kim loại, ... có các cơ
chế máy cơ khí.
(21) Con quay thăng bằng hồi chuyển dùng cho tầu thủy hoặc cho các
ứng dụng tương tự; nhưng không bao gồm các thiết bị hồi chuyển
dùng cho các dụng cụ thuộc Chương 90 (la bàn hồi chuyển, v.v..)
và ngư lôi (nhóm 93.06).
(22) Thiết bị dùng cho tay lái và bánh lái dùng cho tầu thủy, trừ chính
bánh lái (thường xếp vào nhóm 73.25 hoặc 73.26); và hoa tiêu tự
động (hoa tiêu hồi chuyển) thuộc nhóm 90.14.
(23) Bộ lau kính chắn gió bằng điện, thủy lực, khí nén, v.v.. dùng cho
máy bay, tầu thủy và tất cả các loại phương tiện trừ những máy
móc đó dùng cho xe đạp hoặc xe có động cơ (nhóm 85.12). Nhóm
này cũng bao gồm bộ phận gắn thanh lau và thanh lau được gắn
vào, với điều kiện chúng được nhận biết là dùng để lau được mô
tả ở trên; những bộ phận tương tự dùng cho máy lau kính chắn gió
của xe có động cơ không được xếp vào nhóm này (nhóm 85.12).
(24) Thiết bị siêu âm dùng để làm sạch các bộ phận bằng kim loại và
nhiều vật khác; bao gồm ở dạng đầy đủ (có gắn trong cùng một bộ
hoặc được coi như bộ phận riêng biệt) gồm một máy phát tần số
cao, một hoặc một vài bộ chuyển đổi và bình chứa cho những vật
được làm sạch, có thể được xem xét dưới dạng có hoặc không bình
chứa. Nhóm này cũng bao gồm bộ chuyển đổi siêu âm cho những
thiết bị đó. Thiết bị siêu âm và bộ chuyển đổi chỉ dùng hoặc chủ
yếu dùng để làm sạch tấm bán dẫn mỏng hoặc màn hình dẹt không
được xếp vào Nhóm này (nhóm 84.86)
(25) Ống thổi dưới nước, thường được gắn với một thiết bị đánh lửa
đặc biệt, và thiết bị cung cấp bổ sung khí nén hoặc ôxy qua một
cửa thoát hình tròn quanh miệng vòi, để tạo ra một khoang trong
nước làm ngọn lửa có thể bốc cháy.
(26) Thiết bị dùng để cắt, đục thủng đá hoặc bê tông, sử dụng nhiệt độ
cao, bằng việc đốt cháy sắt hoặc thép trong một tia khí ôxy.Thiết
bị sử dụng thường là đơn giản, bao gồm một tay cầm hoặc một cái
chuôi chịu nhiệt được lắp với một van và có ống nguồn để nối cả
hai với nguồn ôxy và với một ống sắt hoặc thép dài. Trong thao
tác, ôxy đi qua ống sắt hoặc thép, đầu của chúng, đã được nung
nóng đỏ trước, vì thế được tiếp tục cháy tạo ra một nhiệt độ rất cao
đủ để làm chảy đá hoặc bê tông.
(27) Máy đánh giầy tự động.
(28) Máy dùng để bôi sáp cốc giấy hoặc hộp đựng giấy, v.v.. bằng cách
nhúng.
(29) Máy đánh bóng sàn nhà công nghiệp.
(30) Máy làm mát không khí bằng cách cho bay hơi.
(31) Cầu vận chuyển hành khách. Những cầu này cho phép hành khách
và các cá nhân khác đi bộ từ nhà chờ đến điểm máy bay đỗ, tàu
thủy đỗhoặcphà dừng, mà không phải đi ra ngoài trời, Cầu này
thường bao gồm một tổ hợp mái vòm, 02hoặcnhiều hơn các đường
dẫn hình chữ nhật lồng vào nhau, các cột nâng thẳng đứng với các
bánh goòng để chuyển hướng, và một cabin được đặt ở phần trước
của cầu. Chúng bao gồm các thiết bị điện cơ hoặc thủy lực được
thiết kế để di động cầu theo chiều ngang, dọc và tỏa tròn (tức là
các phần lồng vào nhau, cabin, cột nâng thẳng đứng,….) nhằm
mục đích điều chỉnh cầu tới vị trí phù hợp với các cửa máy bay cụ
thể hoặc tới cầu cảng (lối vào) của tàu thủy hoặc phà. Cầu vận
chuyển hành khách loại sử dụng ở hải cảng có thể được trang bị
thêm một thiết bị được cài đặt phía trước cầu để kéo dài, mở rộng
tới tận cầu cảng của tàu thủyhoặcphà. Những cầu này bản thân
chúng không nâng, giữhoặctải hoặc dỡ tải bất cứ thứ gì.
Các thiết bị để chùi thảm theo trình tự, không phải loại chùi khô, và thiết
kế để dùng trong các công trình tập thể (ngoài phạm vi gia đình) như
khách sạn, bệnh viện, văn phòng, quán ăn và trường học được xếp vào
nhóm 84.51.
Nhóm này cũng loại trừ máy để bọc (đóng vỏ) trong quá trình lắp ráp,
kết tạo thiết bị bán dẫn (nhóm 84.86).
BỘ PHẬN
Theo những quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận
(Xem chú giải tổng quát của phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ
phận của máy móc thuộc nhóm, kể cả khuôn trừ những bộ phận đã được
ghi ở nơi khác (đặc biệt, nhóm 84.80).
84.80 - Hộp khuôn đúc kim loại; đế khuôn; mẫu làm khuôn; khuôn
dùng cho kim loại (trừ khuôn đúc thỏi), carbua kim loại, thủy tinh,
khoáng vật, cao su hoặc plastic.
8480.10 - Hộp khuôn đúc kim loại
8480.20 - Đế khuôn
8480.30 - Mẫu làm khuôn
- Khuôn dùng để đúc kim loại hoặc carbide kim loại:
8480.41 - - Loại phun hoặc nén
8480.49 - - Loại khác
8480.50 - Khuôn đúc thủy tinh
8480.60 - Khuôn đúc khoáng vật
- Khuôn đúc cao su hoặc plastic:
8480.71 - - Loại phun hoặc nén
8480.79 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm những hộp khuôn được dùng trong việc đúc kim
loại, đế khuôn và mẫu đúc khuôn, với một số trường hợp ngoại lệ được
đề cập sau đây, nhóm này cũng bao gồm tất cả các khuôn (đã hoặc chưa
được lắp bản lề, và có thể được dùng tay hoặc trong máy ép hoặc trong
máy đúc khuôn) loại được dùng cho việc đúc các vật liệu sau thành
những sản phẩm dạng phôi hoặc hoàn thiện:
Kim loại và carbide kim loại.
(II) Thủy tinh (kể cả thạch anh nóng chảy hoặc silic điôxít nóng chảy
khác) hoặc các vật liệu khoáng như bột gốm nhão, xi măng, thạch
cao hoặc bê tông.
(III) Cao su hoặc plastic.
Nói chung, chức năng chủ yếu của khuôn là duy trì vật liệu theo hình
dạng được thiết kế trước; một vài dạng khuôn cũng tăng cường áp suất
lên vật liệu đúc. Tuy nhiên, Nhóm này loại trừ các khuôn dập thuộc
nhóm 82.07 vì những khuôn này tạo hình vật liệu chỉ dùng lực thổi hoặc
nén (ví dụ, khuôn để dập miếng kim loại).
(A) HỘP KHUÔN DÙNG ĐỂ ĐÚC KIM LOẠI
Những hộp khuôn này là những chiếc khung thường bằng gang hoặc
thép và thường có hình chữ nhật hoặc hình tròn. Chúng giữ khuôn cát
được tạo ra bằng việc ép cát xung quanh một mẫu.
(B) ĐẾ KHUÔN
Những đế khuôn này là những tấm được đặt dưới đáy của khuôn.
(C) MẪU KHUÔN
Những mẫu khuôn này bao gồm những mẫu đúc, lõi đúc, hộp lõi, bảng
khuôn, đĩa mẫu, v.v.. được dùng trong việc tạo ra khuôn cát (thường là
bằng gỗ).
(D) KHUÔN DÙNG CHO KIM LOẠI (TRỪ KHUÔN ĐÚC THỎI)
HOẶC CHO CARBIDE KIM LOẠI
Nhóm này bao gồm :
Khuôn lạnh kim loại. Những khuôn này tạo ra hình của một hộp
kim loại bao gồm mộthoặcnhiều bộ phận có thể điều chỉnh được,
tái tạo ra hình của vật yêu cầu, trong một hình rỗng.
Khuôn đúc ép, trong đó kim loại nấu chảy được đặt dưới sức ép.
Chúng thường bao gồm hai khuôn lạnh kim loại bổ sung, với
những chỗ rỗng tương ứng với những hình dáng của sản phẩm yêu
cầu trong mặt đối diện của chúng; trong một số trường hợp các nửa
của khuôn nén kim loại nóng chảy đến một nhiệt độ nhất định.
Khuôn dùng để thiêu kết bột kim loại. Những khuôn này được
nung nóng. Đôi khi những khuôn này cũng dùng để thiêu kết bột
carbide kim loại hoặc bột gốm.
Khuôn hình trụ dùng cho máy đúc khuôn ly tâm (ví dụ, dùng để
đúc ống sắt, nòng súng).
(E) KHUÔN ĐÚC THỦY TINH
Nhóm này bao gồm :
Khuôn dùng cho đúc đá lát, gạch hoặc phiến bằng thủy tinh,
và khuôn nén dùng cho ngói thủy tinh.
Khuôn chai dùng để gia công bằng máy hoặc thủ công, kể cả
khuôn hoạt động bằng cách đạp chân (ví dụ, khuôn phôi hoặc
khuôn hoàn thiện, khuôn vòng).
Khuôn dùng cho các đồ thủy tinh rỗng bên trong, dùng cho
những đồ cách nhiệt, cách điện,...
Khuôn hình làm kính cho thợ tiện.
Khuôn làm bằng thép hoặc gang, dùng để làm thấu kính hoặc
gọng kính đeo mắt,...
(F) KHUÔN ĐÚC KHOÁNG VẬT
Nhóm này bao gồm :
Khuôn dùng cho bột gốm nhão (ví dụ, khuôn gạch, khuôn dùng
cho ống hoặc cho các vật bằng gốm khác, kể cả khuôn dùng cho
răng giả).
Khuôn dùng để đúc bê tông, xi măng hoặc các vật bằng xi
măng amiăng (các ống, bình, đá lát, phiến lát đường, ống khói, trụ
đỡ lan can, đồ trang trí kiến trúc, tường, sàn nhà hoặc tấm lợp mái,
v.v.. ). Cũng gồm các khuôn dùng để chế tạo các vật liệu xây dựng
được làm từ bê tông đúc sẵn gia cố hoặc tạo ứng suất trước (khung
cửa sổ, các bộ phận của dầm mái nhà, tà vẹt đường sắt,...).
Khuôn để liên kết chất mài mòn thành đá mài dạng hình tròn.
Khuôn dùng cho vật liệu bằng thạch cao, các vật cứng hoặc
xtucô (ví dụ, đồ chơi, tượng và đồ trang trí trần nhà).
(G) KHUÔN ĐÚC CAO SU HOẶC PLASTIC
Nhóm này bao gồm:
Khuôn đúc lốp cao su lưu hoá. Những khuôn này bao gồm 02
khuôn lạnh kim loại có thể điều chỉnh được, làm nóng bằng hơi
nước hoặc bằng điện, gồm một loại túi hình tròn chứa khí (túi khí)
hoặc túi chứa đầy nước nóng (túi nước), túi này ép lốp vào bề mặt
khuôn một cách chắc chắn.
Khuôn để đúc hoặc lưu hóa các sản phẩm cao su khác.
Khuôn để sản xuất các sản phẩm nhựa (plastic), có hoặc không
được làm nóng bằng điệnhoặccách khác; chúng có thể hoạt động
bởi trọng lực, hoặc bằng phunhoặcnén.
Nhóm cũng bao gồm các khuôn dập hình viên có sẵn. Những khuôn
này sử dụng một quy trình làm lạnh để tăng độ chắc chắn từ bột khuôn
sang dạng viên, mỗi viên chứa lượng phù hợp nguyên liệu (và ở hình
dạng và thể tích thích hợp) sẵn sàng cho công đoạn đúc cuối cùng vào
các sản phẩm theo mong muốn.
Nhóm này cũng loại trừ:
Khuôn hình sử dụng trong sản xuất sản phẩm (như găng tay) bằng
cách nhúng khuôn vào trong cao su lỏng, nhựa dạng lỏng…. (phân
loại theo vật liệu cấu thành).
Khuôn làm từ than chìhoặccác loại carbon khác (nhóm 68.15).
Khuôn bất kỳ làm bằng gốm (nhóm 69.03 hoặc 69.09 tùy trường
hợp).
Khuôn làm bằng thủy tinh (nhóm 70.20).
Khuôn đúc thỏi (nhóm 84.54).
Khuôn dùng để sản xuất thiết bị bán dẫn ( nhóm 84.86).
Bản khuôn mẫu và bản gốc dùng để sản xuất bản ghi (nhóm
Theo các điều loại trừ ở trên, khuôn sử dụng trong in ấn và các
máy khác, đối với khuôn của vật liệu ngoại trừ loại được trích dẫn
trong nội dung nhóm này (phân loại theo bộ phận của máy mà
chúng được thiết kế).
84.81. Vòi, van và các thiết bị tương tự dùng cho đường ống, thân
nồi hơi, bể chứa hoặc các loại tương tự, kể cả van giảm áp và van
điều chỉnh bằng nhiệt.
8481.10 - Van giảm áp
8481.20 - Van dùng trong truyền động dầu thuỷ lực hoặc khí nén:
8481.30 - Van kiểm tra (van một chiều)
8481.40 - Van an toàn hoặc van xả
8481.80 - Thiết bị khác
8481.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm vòi, van, và các loại vật dụng tương tự, được dùng
trên hoặc trong đường ống, bể chứa, bình chứa hoặc những đồ tương tự
để điều chỉnh lưu lượng (để cung cấp, xả ra,...), của lưu chất (dạng lỏng,
dạng sền sệt hoặc khí), hoặc trong một số trường hợp là của chất rắn (ví
dụ, cát). Nhóm này bao gồm những thiết bị được thiết kế để điều chỉnh
áp lực hoặc vận tốc dòng chảy của chất lỏng hoặc khí.
Các thiết bị này điều chỉnh dòng chảy bằng cách mở hoặc đóng khe hở
(ví dụ cửa, đĩa, hòn bi, chốt, kim hoặc màng chắn). Chúng có thể được
điều chỉnh bằng tay (bằng một chìa khoá, bánh lái, nút bấm,...), hoặc
dùng một động cơ, sôlênôit, chuyển động theo chiều kim đồng hồ,...hoặc
một thiết bị tự động như một lò xo, đối trọng, cần nổi, bộ phận ổn nhiệt
hoặc bao nén.
Vòi, van,..., kết hợp với những cơ cấu hoặc những thiết bị đó vẫn được
phân loại vào nhóm này. Nguyên tắc này, ví dụ, cũng được áp dụng đối
với loại van được lắp với một thiết bị ổn nhiệt (lá đôi, nắp, bóng đèn,...).
Nhóm này cũng bao gồm van,..., được nối với một thiết bị ổn nhiệt bằng
các thiết bị, ví dụ như, một ống dẫn mao mạch.
Sự kết hợp bao gồm một vòi, van, v.v.. và một bộ điều chỉnh nhiệt, bộ ổn
áp, hoặc bất kỳ một dụng cụ hoặc thiết bị đo, kiểm tra khác hoặc điều
khiển tự động thuộc nhóm 90.26 hoặc 90.32 được xếp vào nhóm này nếu
dụng cụ hoặc thiết bị được gắn vào hoặc được thiết kế để gắn trực tiếp
vào vòi, van, v.v., và với điều kiện thiết bị kết hợp đó có đặc tính chủ
yếu của một hàng hóa thuộc nhóm này. Nếu không thoả mãn những điều
kiện đó, chúng được phân vào nhóm 90.26 (ví dụ, đồng hồ đo áp suất chất
lỏng được gắn với một khoá dòng chảy) hoặc nhóm 90.32.
Trong trường hợp các hệ thống điều khiển từ xa, chỉ có vòi,
van,.v.v.được xếp vào nhóm này.
Nói chung, vòi, van.v.v. trong nhóm này được làm từ kim loại cơ bản
hoặc plastic, nhưng những vật đó được làm bằng các vật liệu khác (trừ
cao su được lưu hoá không cứng, gốm hoặc thuỷ tinh) cũng được phân
vào nhóm này.
Vòi, van,.v.v., được phân loại ở đây ngay cả khi kết hợp với các vật phụ
trợ khác (ví dụ, vách hai lớp dùng cho mục đích làm nóng hoặc làm
lạnh; đoạn ống ngắn gắn cuối vòi hoa sen; vòi nước uống công cộng
nhỏ; các thiết bị khoá).
Vòi, van, v.v.., được xếp vào nhóm này ngay cả khi được chuyên môn hoá
để dùng trong những máy hoặc thiết bị riêng biệt, hoặc trên xe có gắn
động cơ hoặc máy bay. Tuy nhiên, một số bộ phận máy mà kết hợp với
một van hoàn chỉnh, hoặc điều chỉnh dòng chảy của lưu chất bên trong
một máy mặc dù bản thân chúng không tạo ra một van hoàn chỉnh, được
phân loại như những bộ phận của những máy liên quan, ví dụ, ống
dẫn, van xả cho những động cơ đốt trong (nhóm 84.09), van trượt cho
động cơ hơi nước (nhóm 84.12), van hút hoặc van nén dùng cho máy nén
không khí hoặc khí khác (nhóm 84.14), máy kích thích dùng cho máy vắt
sữa (nhóm 84.34) và núm bơm mỡ không tự động (nhóm 84.87).
Ngoài những đề cập khác, nhóm này bao gồm:
Van giảm áp suất dùng để giảm áp suất của khí ga và duy trì áp
suất được giảm tại một mức độ tương đối ổn định bằng các chốt và
bộ phận ngắt mà thường được điều khiển bởi một thiết bị áp suất
(màng chắn, bể thổi, nắp đậy,v.v.. ) được hãm bằng một lò xo căng
có thể điều chỉnh được. Các thiết bị này điều chỉnh trực tiếp áp
suất của khí ga đi qua bản thân chúng; ví dụ, chúng được gắn vào
xi lanh khí nén, trên một bình áp suất hoặc trên những hệ thống
ống dẫn của các thiết bị mà chúng nối vào.
Nhóm này cũng bao gồm van giảm áp suất (đôi khi được goi là bộ
điểu chỉnh áp suất, bộ giảm áp suất hoặc bộ điều chỉnh-giảm áp
suất), cũng được gắn tại cửa thoát của bình áp suất, của nồi hơi,
trên hệ thống ống nối cung ứng hoặc gần những thiết bị mà chúng
gắn vào, để thực hiện cùng một chức năng trên khí nén, hơi nước,
hyđro các bon hoặc các lưu chất khác.
Nếu được kết hợp với một đồng hồ đo áp suất, van giảm áp suất
được xếp hoặc vào nhóm này hoặc vào nhóm 90.26 phụ thuộc vào
việc thiết bị kết hợp có giữ lạihoặckhông đặc tính cơ bản của vòi,
van, v.v.. (xem đoạn 4 của Chú giải này).
Van dùng trong truyền động dầu thuỷ lực hoặc khí nén (xem Chú
giải phân nhóm 3 của Chương này). Những van này có thể ở bất cứ
loại nào (loại giảm áp, loại kiểm tra….) được sử dụng đặc biệt
trong việc truyền “áp lực lưu chất ” trong hệ thống thủy lực hoặc
khí nén, ở nơi mà nguồn năng lượng được cung cấp dưới dạng lưu
chất có áp suất (chất lỏng hoặc khí).
(3) Van một chiều (ví dụ, van một chiều dạng lá lật và van bi).
(4) Van an toàn, van xả, v.v.., có hoặc không đi kèm với một còi báo.
Đĩa nổ (đĩa mỏng bằng plastic hoặc kim loại) được dùng trong
những trường hợp nhất định như những thiết bị an toàn thay van;
chúng được gắn với một vật mang đặc biệt trên hệ thống ống dẫn
hoặc thiết bị áp lực và nổ tại một mức áp lực nhất định. Chúng
được phân loại theo vật liệu cấu thành (nhóm 39.26, 71.15, 73.26,
Van nhiều cửa (ví dụ, van ba cửa và van kiểu "cây nô en").
Khoá vòi điều khiển, khoá nổ và van đóng,v.v.. dùng cho đồng hồ
đo mức độ.
(7) Vòi tháo nước của bộ tản nhiệt.
Van săm.
Van điều khiển bằng phao.
(10) Bẫy hơi nước trong đó nước ngưng đọng được gom từ một ống
dẫn hơi nước và chúng được đổ ra tự động (ví dụ, bằng hoạt động
của một phao). Nhóm này cũng bao gồm bẫy hơi trong đó chốt
hoặc bộ ngắt được hoạt động bằng một thiết bị ổn nhiệt (hai lá
hoặc nắp) được gắn bên trong bẫy (bẫy hơi nước được ổn nhiệt tự
động).
(11) Họng nước dập tắt lửa (ống đứng), khoá vòi dập lửa, miệng vòi và
những đồ tương tự, có gắn với khoá hoặc với van để tạo ra tia nước
hoặc bụi nước.
Đầu vòi phun dạng quay (sprinkler) dùng cho việc lắp đặt hệ thống
chống cháy, đầu vòi phun dạng quay tưới vườn cơ học và những
thứ tương tự không thuộc nhóm này (nhóm 84.24).
(12) Van và vòi có khoang pha trộn lưu chất, với hai hoặc nhiều nguồn
cấp và một khoang trộn (ví dụ: vòi nước nóng lạnh sử dụng trong
nhà tắm, có hai đường nước vào và một đường nước ra). Nhóm
này cũng bao gồm các van trộn được điều chỉnh ổn nhiệt có lắp với
một thiết bị ổn nhiệt co giãn có thể điều chỉnh được, chúng kích
hoạt chốt hoặc bộ ngắt điều chỉnh việc nhận lưu chất ở những nhiệt
độ khác nhau vào trong khoang trộn.
(13) Lỗ tháo chất thải với chốt (trừ những lỗ tháo chất thải đơn giản
với những chốt được đưa vào bằng tay, được phân loại theo vật
liệu cấu thành của chúng).
(14) Khoá vòi của các thiết bị đường biển và các van, khoá vòi dưới
nước,v.v.. dùng cho tầu thuỷ.
(15) Vòi bôi trơn với những ống mềm hoặc lồng vào nhau để bơm mỡ
vào trục của tàu thuỷ chạy bằng hơi nước,v.v..
(16) Van chai nước sô đa.
(17) Nắp bình xịt dùng cho những bình được đổ đầy thuốc trừ sâu lỏng
hoặc dạng khí, chất tẩy uế,v.v.. , dưới áp lực, bao gồm một đầu
kim loại được gắn với một nút ấn thay thế một kim mở hoặc đóng
lỗ phun.
(18) Vòi và khoá vòi để gắn trong lỗ đổ vào hoặc rót ra của thùng rượu
hoặc thùng tròn.
(19) Vòi của máy đóng chai, được thiết kế để đóng tự động khi mực
chất lỏng đầy lên miệng chai.
(20) Thiết bị cấp gas cho bộ rót bia ở các quầy bar, bao gồm chủ yếu
một hoặc hai cái khoá vòi hoạt động thủ công cung cấp đi ô xit cac
bon nén nối với thùng bia.
BỘ PHẬN
Theo những quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận
(xem Chú giải tổng quát của Phần XVI), các bộ phận của những thiết bị
thuộc nhóm này cũng được phân loại ở đây.
Nhóm này cũng không bao gồm:
Vòi, khoá vòi, van và những thiết bị tương tự được làm bằng cao
su lưu hoá không cứng (nhóm 40.16), gốm (nhóm 69.03 hoặc
69.09), hoặc bằng thuỷ tinh (nhóm 70.17 hoặc 70.20).
Thiết bị hình chữ U dùng để dẫn nước thải trong bồn rửa, nhà vệ
sinh, phòng tắm hoặc những đồ tương tự, và cả những bình xối
nước có hoặc không lắp thiết bị cơ khí, chúng được phân loại theo
vật liệu cấu thành (ví dụ, nhóm 39.22, 69.10, 73.24).
Máy điều tốc li tâm dùng cho động cơ hơi nước (nhóm 84.12).
Máy bơm hơi nước hoặc bơm phun (nhóm 84.13).
Thiết bị phun không khí,v.v.. (nhóm 84.24).
Ống bơm mỡ hoạt động bằng khí nén (nhóm 84.67).
Ống thổi để hàn bằng gas (nhóm 84.68).
Vòi có kết hợp với một thiết bị đo để chia kem, rượu, sữa,v.v..
(nhóm 84.79).
84. 82 - Ổ bi hoặc ổ đũa.
8482.10 - Ổ bi
8482.20 - Ổ đũa côn, kể cả cụm linh kiện vành côn và đũa côn
8482.30 - Ổ đũa cầu
8482.40 - Ổ đũa kim, kể cả lồng (cage) và đũa kim đã lắp ráp
8482.50 - Các loại ổ đũa hình trụ khác, kể cả lồng (cage) và đũa đã lắp
rắp
8482.80 - Loại khác, kể cả ổ kết hợp bi cầu/bi đũa
- Bộ phận:
8482.91 - - Bi, kim và đũa
8482.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả ổ bi, ổ đũa, ổ đũa hình kim. Chúng được sử
dụng thay thế ổ trục kim loại trơn và để giảm đáng kể lực ma sát. Chúng
thường được gắn vào giữa gối đỡ và trục chuyển động, và có thể được
thiết kế để chịu lực hướng tâm (ổ trục hướng tâm) hoặc chịu đựng lực
đẩy (ổ trục đẩy). Một số ổ có thể được thiết kế chịu cả lực hướng tâm và
lực đẩy.
Thông thường, ổ trục bao gồm hai vòng tròn đồng tâm (vòng rế) bao
quanh bi hoặc đũa, và một lồng để giữ chúng tại vị trí và đảm bảo
khoảng cách của chúng không đổi.
Ổ bi được phân loại vào nhóm này bao gồm :
(A) Ổ bi, loại một dãy hoặc hai dãy bi. Nhóm này cũng bao gồm cơ
chế trượt với ổ bi của vòng bi, ví dụ:
(1) ổ bi bao gồm một vòng bên ngoài bằng thép được lắp chặt với
một vòng bên trong bằng đồng có 6 rãnh được sắp xếp theo
chiều dọc và theo hình elip trải dài có chứa những viên bi nhỏ
bằng thép.
(2) Loại không tự lựa (restricted-travel), bằng thép, bao gồm một
hình trụ có rãnh, một lồng cố định bi và một gối đỡ.
(3) Loại tự lựa, bằng thép, bao gồm một xéc-măng, một ổ đỡ bao
gồm các viên bi, và một đường dẫn hướng với một rãnh khía
tiết diện hình tam giác.
(B) Ổ bi đũa, với mộthoặchai hàng đũa ở bất kỳ hình thù (hình trụ,
hình nón, hình thùng tròn, v.v..)
(C) Ổ đũa kim. Loại này khác những ổ bi đũa thông thường vì nó là
loại ổ bi đũa hình trụ với một đường kính thống nhất không quá
5mm và có chiều dài tối thiểu gấp 3 lần đường kính. Đầu của đũa
có thể được làm tròn(xem chú giải phân nhóm 4 của chương này).
Những đũa này được điều chỉnh cho vừa giữa hai vòng của ổ trục
và và trong hầu hết các trường hợp không sử dụng lồng cố định.
Do khả năng chịu lực cao lên những phần tiếp xúc, vật liệu làm ổ bi
thường làm bằng thép (đặc biệt là thép crôm), mặc dù trong một số
trường hợp cụ thể có thể dùng đồng thiếc, đồng hoặc nhựa.
BỘ PHẬN
Nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của ổ bi, ổ đũa, ổ đũa kim, ví dụ :
(1) Bi bằng thép đã đánh bóng (dùng hoặc không dùng cho ổ bi thuộc
nhóm này), có dung sai lớn nhất và nhỏ nhất so với đường kính danh
nghĩa lớn hơn 1% hoặc hơn 0,05mm tùy theo cái nhỏ hơn; bi không phù
hợp theo định nghĩa này được phân loại vào nhóm 73.26 (xem Chú giải
7của Chương).
Bi của ổ bi bằng đồng, đồng thiếc, plastic,...
Kim hoặc con lăn dùng cho ổ bi, bất kỳ dạng hình gì.
Vòng, lồng cố định, ống lót cố định,...
Nhóm này không bao gồm các bộ phận máy móc có lắp ổ bi, ổ đũa hoặc
ổ đũa hình kim; những bộ phận này được phân loại vào các nhóm tương
ứng với chúng, ví dụ :
Thân ổ và giá đỡ ổ bi (nhóm 84.83).
Moay ơ xe đạp (nhóm 87.14).
84.83 - Trục truyền động (kể cả trục cam và trục khuỷu) và tay biên;
thân ổ và gối đỡ trục dùng ổ trượt; bánh răng và cụm bánh răng; vít
bi hoặc vít đũa; hộp số và các cơ cấu điều tốc khác, kể cả bộ biến đổi
mô men xoắn; bánh đà và ròng rọc, kể cả khối puli; ly hợp và khớp
nối trục (kể cả khớp nối vạn năng).
8483.10 - Trục truyền động (kể cả trục cam và trục khuỷu) và tay biên
8483.20 - Thân ổ, lắp ổ bi hoặc ổ đũa
8483.30 - Thân ổ, không lắp ổ bi hoặc ổ đũa; gối đỡ trục dùng ổ trượt
8483.40 - Bộ bánh răng và cụm bánh răng ăn khớp, trừ bánh xe có
răng, đĩa xích và các bộ phận truyền chuyển động ở dạng riêng
biệt; vít bi hoặc vít đũa; hộp số và các cơ cấu điều tốc khác, kể
cả bộ biến đổi mô men xoắn
8483.50 - Bánh đà và ròng rọc, kể cả khối puli
8483.60 - Ly hợp và khớp nối trục (kể cả khớp nối vạn năng)
8483.90 - Bánh xe có răng, đĩa xích và các bộ phận truyền chuyển
động riêng biệt; các bộ phận
Những mặt hàng được xếp ở nhóm này chủ yếu là :
Các bộ phận cơ khí chuyên biệt, được dùng để truyền lực từ nguồn
ngoại lực vào mộthoặcnhiều máy.
Các bộ phận chuyên biệt bên trong một loại máy móc, được dùng
để truyền lực tới các bộ phận khác nhau của chính máy đó.
(A) TRỤC TRUYỀN ĐỘNG (KỂ CẢ TRỤC CAM VÀ TRỤC
KHUỶU) VÀ TAY QUAY
Những trục này thường truyền một lực chuyển động quay tròn. Chúng
bao gồm:
Trục chính và trục chuyển động được kéo trực tiếp bằng động cơ.
Trục đối (counter shafts – trục truyền chung) dùng để nối với trục
chính bằng dây chuyền và ròng rọc hoặc bằng bánh răng, v.v.. ;
chúng được sử dụng để chuyển lực từ trục chính của máy tới một
số máy khác hoặc tới các bộ phận khác trong cùng một máy.
Trục nối (hoặc trục khớp), bao gồm hai hoặc nhiều trục nối với
nhau bằng bi và khớp nối, ...
Trục linh hoạt truyền chuyển động của một bộ phận chuyển động
tới, ví dụ, dụng cụ cầm tay, thiết bị đo (máy đo vòng quay, công tơ
mét, v.v.. ).
Tay quay và trục khuỷu. Những bộ phận này có thể hoặc được
làm thành một khối hoặc được lắp ráp từ một số bộ phận. Chúng
nhận một chuyển động tịnh tiến (ví dụ từ một động cơ piston) và
chuyển đổi chuyển động đó thành chuyển động quay tròn, hoặc
ngược lại.
Trục cam và trục không đồng tâm.
Nhóm này không bao gồm những trục đơn giản không truyền lực mà
chỉ dùng cho một bánh xe hoặc bộ phận quay khác.
Nhóm này cũng không bao gồm :
Những thanh bằng sắt hoặc thép có mặt cắt ngang đồng đều (nhóm
72.14 hoặc 72.15).
Những đoạn dây thép xoắn dùng để tạo ra những lực kéo co dãn,
không gắn với những vật nối (nhóm 73.12).
Thanh kết nối dao động dùng để truyền chuyển động đến những
thanh cắt của những máy cắt cỏ dùng cho bãi cỏ hoặc máy cắt cỏ
(nhóm 84.33).
(B) THÂN Ổ VÀ GỐI ĐỠ TRỤC DÙNG Ổ TRƯỢT
Thân ổ bao gồm một khung hoặc một khối được thiết kế để đựng ổ
trượt, ổ bi, ổ đũa… mà trong đó (hoặc, ngược lại trong trường hợp của ổ
đẩy) các đầu mút của một trục hoặc trục nghiêng, quay. Chúng thường
bao gồm hai bộ phận, được gắn với nhau, tạo ra một vòng để giữ ổ bi.
Chúng có thể kết hợp với các phương tiện bôi trơn ổ bi.
Chúng cũng thường gắn với các miếng đệm, đĩa hoặc giá đỡ công xôn,
v.v.. để có thể được cố định vào với máy, hoặc gắn vào tường hoặc vào
các bộ phận khác của một tòa nhà; nhưng miếng đệm, đĩa hoặc giá đỡ
công xon , v.v.., không được gắn với một thân ổ dùng ổ lăn(hoặc bản
thân chúng cũng không thiết kế để chứa một ổ bi) được phân loại theo
vật liệu cấu thành (thường phân vào nhóm 73.25 hoặc 73.26)
Thân ổ dùng ổ lăn gắn ổ bi, ổ đũa hoặc ổ đũa kim cũng được phân loại
vào nhóm này; nhưng ổ bi, ổ đũa hoặc ổ đũa kim riêng lẻ thì được phân
loại vào nhóm 84.82.
Mặt khác, gối đỡ trục dùng ổ trượt được phân loại vào nhóm này ngay
cả khi chúng hiện diện mà không có gối đỡ (thân ổ). Chúng bao gồm
những vòng kim loại chống ma sát hoặc các vật liệu khác chống ma sát
(ví dụ kim loại thiêu kết hoặc plastics). Chúng có thể ở dạng một cục
hoặc nhiều cặp lại với nhau, và tạo ra một ổ trục trơn trong đó có một
trục hoặc trục quay.
Nhóm này không bao gồm ổ bằng than chì hoặc các bon khác (nhóm
(C) BÁNH RĂNG VÀ CỤM BÁNH RĂNG KỂ CẢ BÁNH RĂNG
TRUYỀN ĐỘNG MA SÁT VÀ ĐĨA XÍCH
Cơ cấu bánh răng cơ bản là bánh xe có răng, xi lanh, côn, giá đỡ hoặc
trục vít,… Trong chuyển động của Bộ bánh răng, bánh răng được lắp sao
cho chúng ăn khớp trong với nhau tạo thành chuyển động quay của bộ
phận đầu tiên được truyền cho bộ phận tiếp theo và tiếp tục như vậy.
Tùy theo số lượng bánh răng, chuyển động quay có thể tịnh tiến ở mức
độ tương ứng hoặc là nhanh hoặc chậm hơn; theo loại bánh răng và góc
tại nơi khớp nối mà hướng của truyền động có thể thay đổi, hoặc một
chuyển động quay có thể chuyển đổi thành một chuyển động thẳng hoặc
ngược lại (như giá đỡ và trục răng).
Nhóm bao gồm mọi kiểu bánh răng bao gồm bánh xe bánh răng đơn
giản, bánh răng hình nón, bánh răng côn, bánh răng xoắn ốc, bánh vít,
trục vít, thanh răng và bánh răng, các bánh răng khác, v.v..và dây chuyền
của những bánh răng đó. Nhóm này cũng bao gồm bánh xích và các loại
tương tự được sử dụng trong chuỗi truyền động.
Nhóm này cũng bao gồm bộ truyền động bánh ma sát. Bao gồm những
bánh, đĩa hoặc xi lanh, được gắn với một đầu với trục dẫn động và đầu
kia với trục bị dẫn, truyền chuyển động bằng ma sát giữa chúng. Chúng
thường được làm bằng gang, trong một số trường hợp được phủ bằng da
thuộc, gỗ, sợi bện hoặc vật liệu khác để tăng ma sát.
(D) VÍT BI HOẶC VÍT ĐŨA
Vít bi hoặc vít đũa bao gồm một trục vít và một đai ốc chứa các viên bi
được phân bố theo chiều dọc giữa ống luồn và mặt bên trong của trục;
những thiết bị này có thể chuyển động quay tròn để được chuyển đổi
thành chuyển động thẳng và ngược lại.
(E) HỘP SỐ VÀ CƠ CẤU ĐIỀU TỐC KHÁC, KỂ CẢ BỘ BIẾN
ĐỔI MÔ MEN XOẮN
Những thiết bị này đóng vai trò thay đổi tốc độ bằng tay hoặc tự động
tùy thuộc vào yêu cầu của máy. Không kể những thứ khác, chúng bao
gồm:
Hộp số là một cơ cấu gồm rất nhiều các bánh răng có thể được lựa
chọn bất kỳ; vì vậy tốc độ truyền động có thể thay đổi theo sự sắp
xếp của bộ bánh răng.
Khớp nối đĩa ma sát hoặc côn ma sát và các khớp nối với xích
hoặc dây đai truyền chuyển động, dùng để chuyển đổi tự động
và kiểm soát tốc độ truyền động quay, cấu tạo gồm một đĩa, một
mặt côn, một dây xích hoặc một dây curoa tiếp xúc với một bánh
đà ma sát có vị trí cân đối với tâm đĩa hoặc đầu mút của mặt côn.
Biến mô thủy lực, bao gồm cả bộ chuyển đổi mô men xoắn
thủy lực. Việc điều tốc được tiến hành thông qua chuyển động
quay tròn của các cánh quạt của bộ phận truyền chuyển động bằng
chất lỏng (thường là dầu), tương tác với các cánh quạt cố định
hoặc có thể di chuyển được của bộ phận được truyền chuyển động.
Lực được truyền hoặc bằng áp lực (bộ điều chỉnh thủy lực tĩnh)
hoặc bằng dòng chảy (bộ điều chỉnh hoặc bộ biến đổi mô men
xoắn thủy lực động).
Nhóm này không bao gồm hộp số và bộ điều tốc khác gắn liền với một
động cơ; chúng được phân loại trong cùng nhóm với động cơ.
(F) BÁNH ĐÀ
Bánh đà là một thiết bị tương đối to, nặng, thường được thiết kế để trọng
lượng tập trung gần vành. Mô men quán tính của bánh đà thường lớn,
chống lại sự thay đổi tốc độ quay của động cơ và duy trì tốc độ bất biến.
Đôi khi bánh đà có vành khía rãnh và răng, hoặc được gắn với những
thanh nối, và vì vậy trong một số trường hợp cụ thể chúng có thể giữ vai
trò là động cơ truyền lực (Ví dụ như một ròng rọc chuyển động hoặc
bánh xe có khía răng).
(G) PULI, BAO GỒM CỤM PULI
Puli (ròng rọc) bao gồm những bánh xe, đôi khi cùng với một vành có
khía rãnh, chúng truyền chuyển động quay tròn từ bộ phận này đến bộ
phận khác bằng một dây curoa liên tục hoặc một dây chão chuyển động
liên kết chúng. Nhóm này gồm những puli đơn giản, trống (puli rộng),
puli hình nón, puli có bậc, v.v..
Nhóm này cũng bao gồm các cụm puli dùng cho tời nâng/cần trục, v.v..
và puli tự do không tự truyền bất cứ một lực nào nhưng hoạt động đơn
giản như một trục dẫn hướng hoặc một trục quay cho dây chão hoặc cáp
truyền (ví dụ, một bánh xe không tải và xoay được dùng để điều chỉnh
độ căng của dây curoa truyền).
Tuy nhiên một hệ haihoặcnhiều khối puli (ví dụ một tời) không được
phân loại vào nhóm này (thuộc nhóm 84.25).
(H) LY HỢP
Khớp ly hợp được sử dụng trong một thiết bị để nối và tách hai trục quay
với nhau.Chúng bao gồm:
Các bộ ly hợp ma sát trong đó bao gồm đĩa quay, vòng, côn, v.v.. có thể
được ghép vào hoặc tách ra với bề mặt tạo ma sát; Ly hợp vấu (dog
clutches hoặc claw clutches) trong đó vật đối diện có khía và rãnh nhô ra
tương ứng; Ly hợp ly tâm tự động có thể ghép vào hoặc tách rời theo tốc
độ quay; ly hợp khí nén; ly hợp thủy lực v.v..
Tuy nhiên, ly hợp nam châm điện không được phân loại vào nhóm này
(thuộc nhóm 85.05).
(IJ) KHỚP NỐI TRỤC (KỂ CẢ KHỚP TRỤC VẠN NĂNG)
Khớp nối trục này bao gồm những khớp nối ống, khớp nối vành, khớp
nối mềm, khớp nối thủy lực, v.v.. và khớp nối vạn năng (như khớp nối
các đăng (Cardan) và cơ cấu nối trục Ôn đam( Oldham)).
BỘ PHẬN
Theo những quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận
(xem chú giải tổng quát phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ
phận của hàng hóa được phân loại trong nhóm này.
Nhóm này cũng không bao gồm:
Vật tạo hình thô bằng phương pháp rèn thuộc nhóm 72.07.
Thiết bị truyền động, loại được mô tả ở trên (hộp số, trục truyền, ly
hợp, vi sai, v.v..), nhưng chúng được thiết kế để dùng độc lập hoặc
chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng trong xe có lắp động cơ hoặc máy bay
(Phần XVII); tuy nhiên, cũng lưu ý rằng việc loại trừ này không áp
dụng đối với những bộ phận bên trong của động cơ xe hoặc động cơ
máy bay - những bộ phận này vẫn được xếp vào nhóm này.
Vì vậy một trục khuỷu hoặc một trục cam vẫn được xếp vào nhóm
này ngay cả khi chúng được thiết kế riêng cho một động cơ xe ôtô,
nhưng trục truyền của động cơ xe ôtô, hộp số và vi sai được phân
loại vào nhóm 87.08.
Cũng nên lưu ý thêm rằng bộ phận truyền động của các vật được
mô tả trong nhóm này vẫn được phân loại ở đây ngay cả khi chúng
được thiết kế dành riêng cho tầu thủy.
Các bộ phận của đồng hồ treo tường và đồng hồ đeo tay (nhóm
84.84 - Đệm và gioăng tương tự làm bằng tấm kim loại mỏng kết hợp
với các vật liệu khác hoặc bằng hai hoặc nhiều lớp kim loại; bộ hoặc
một số chủng loại đệm và gioăng tương tự, thành phần khác nhau,
được đóng trong các túi, bao hoặc đóng gói tương tự; bộ làm kín kiểu
cơ khí.
8484.10 - Đệm và gioăng tương tự làm bằng tấm kim loại mỏng kết
hợp với các vật liệu khác hoặc bằng hai hoặc nhiều lớp kim
loại
8484.20 - Bộ làm kín kiểu cơ khí
8484.90 - Loại khác.
(A) ĐỆM VÀ GIOĂNG TƯƠNG TỰ LÀM BẰNG TẤM KIM LOẠI
MỎNG KẾT HỢP VỚI CÁC VẬT LIỆU KHÁC HOẶC BẰNG
HAIhoặcNHIỀU LỚP KIM LOẠI
Chúng bao gồm:
(i) Lõi amiăng (hoặc đôi khi bằng nỉ, bìa, hoặc vật liệu phi kim
khác) được kẹp vào giữa hai tấm kim loại.
hoặc (ii) Amiăng hoặc các vật liệu phi kim khác cắt thành hình, và với
tấm kim loại mỏng được gập dọc theo cạnh ngoài và xung
quanh cạnh ngoài của bất cứ lỗ nào được đục trên tấm đệm
hoặc gioăng.
hoặc (iii) Các lớp hoặc lá kim loại (cùng hoặc khác loại kim loại) được
ép với nhau.
Chúng được dùng chủ yếu trong một số động cơ hoặc máy bơm xác
định, hoặc dùng cho một số gioăng ống.
Nhưng nhóm này loại trừ tấm đệm và gioăng bằng tấm amiăng được gia
cố bằng dây kim loại hoặc lưới kim loại (nhóm 68.12), trừ khi tạo ra
một phần của một bộ hoặc tổ hợp trong phần thứ 2 của nhóm này).
(B) BỘ HOẶC MỘT SỐ CHỦNG LOẠI ĐỆM VÀ GIOĂNG
TƯƠNG TỰ
Các bộ hoặc tổ hợp này, bằng bất cứ vật liệu gì (lie liên kết, da thuộc,
cao su, vải, giấy bìa, amiăng, v.v..) được phân loại ở đây khi chúng được
đóng gói trong túi, bao bì, hộp v.v.., với điều kiện tấm đệm hoặc gioăng
không phải tất cả làm bằng cùng một loại vật liệu.
Để được phân loại ở đây, bộ và tổ hợp đó phải bao gồm ít nhất hai tấm
đệm hoặc gioăng làm bằng vật liệu khác nhau. Vì vậy, một túi, một bao
bì, hộp, ... ví dụ bao gồm 5 tấm đệm tất cả làm bằng giấy bìa, không
được phân loại ở nhóm này mà được phân loại vào nhóm 48.23; nhưng
nếu bộ tấm đệm đó bao gồm một tấm đệm bằng cao su thì bộ tấm đệm
đó được phân loại vào nhóm này.
(C) BỘ LÀM KÍN KIỂU CƠ KHÍ
Các bộ làm kín kiểu cơ khí (ví dụ, các đệm hình vòng trượt và các đệm
vòng lò xo) bao gồm các hệ thống cơ khí - hình thành một đệm gioăng
chống rò rỉ giữa các bề mặt phẳng, hoặc bề mặt quay để ngăn rò rỉ khi có
áp lực cao trong máy hoặc thiết bị mà chúng gắn vào, để chống sức ép
và lực tác động từ các bộ phận chuyển động hoặc do rung động.
Cấu trúc của bộ làm kín này nhìn chung khá phức tạp. Chúng bao gồm:
Các bộ phận cố định, khi lắp bộ làm kín, trở thành bộ phận hợp
thành với máy hoặc thiết bị, và
Các bộ phận di động được : Các bộ quay tròn, các bộ phận lò xo...
Đặc biệt, vì các bộ phận có thể di động này, nên các vật trong mục được
gọi là "bộ làm kín kiểu cơ khí".
Chúng đóng vai trò các thiết bị chống rung, ổ trục, đệm bịt, và trong một
số trường hợp là các khớp nối. Chúng có nhiều ứng dụng kể cả trong
máy bơm, máy nén, máy trộn, máy khuấy và tua bin, chúng được sản
xuất từ nhiều loại chất liệu và nhiều hình dáng.
Nhóm này không bao gồm :
Đệm và gioăng, trừ loại hỗn hợp liên kết với tấm hoặc lá kim loại,
không phù hợp với điều kiện đặt ra trong phần B ở trên; chúng
nhìn chung được phân loại theo vật liệu cấu thành.
Bao bì máy (ví dụ, bằng sợi amiăng nhóm 68.12)
Các vòng bịt dầu của nhóm 84.87.
84.85 Máy móc sử dụng công nghệ sản xuất bồi đắp.
8485.10 - Bằng lắng đọng kim loại
8485.20 - Bằng lắng đọng plastic hoặc cao su
8485.30 - Bằng lắng đọng thạch cao, xi măng, gốm hoặc thủy tinh
8485.80 - Loại khác
8485.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm các loại máy sử dụng công nghệ sản xuất bồi đắp
(còn được gọi là in 3D) là một quá trình hình thành các vật thể hữu hình
dựa trên mô hình kỹ thuật số. Máy tạo ra vật thể dựa trên tệp thiết kế
được cung cấp cho máy từ vật liệu bằng cách đắp chồng và tạo lớp liên
tiếp, và hợp nhất (consolidation) và đóng rắn (solidification). Máy sử
dụng ứng dụng có chọn lọc từ nguồn năng lượng, ví dụ: laser, điện trở,
chùm tia điện tử hoặc tia UV, để tạo ra vật thể 3 chiều từ các vật liệu như
kim loại, nhựa, cao su, thạch cao, xi măng, gốm sứ, thủy tinh, gỗ, giấy
hoặc tế bào hạt. Tùy thuộc vào loại máy và vật liệu được sử dụng, nhiều
loại vật thể có thể được tạo ra theo kiểu này, bao gồm các thiết bị y tế,
chân tay giả, tác phẩm nghệ thuật, súng cầm tay, tòa nhà và các bộ phận
của chúng, quần áo và các bộ phận.
Nhóm này bao gồm nhiều loại máy sử dụng công nghệ sản xuất bồi đắp
khác nhau, ví dụ:
(1) Máy phun chất kết dính sử dụng bột và chất kết dính lỏng để tạo ra
các vật thể. Bột (ví dụ: kim loại, plastic, cao su hoặc thủy tinh) được
trải thành từng lớp và mỗi lớp được thêm chất kết dính lỏng để dán
bột lại với nhau. Bằng cách này, các lớp được làm cứng và liên kết
với nhau để tạo thành vật thể, sau đó vật thể này được làm sạch và xử
lý.
(2) Máy công nghệ stereolithography tạo lớp vật liệu lỏng (ví dụ: nhựa
photopolyme hoặc plastic). Tia laser UV quét và làm cứng lớp plastic
đầu tiên, sau đó lớp nền nổi lên cho phép các lớp plastic tiếp theo
được làm cứng.
(3) Máy phun vật liệu tạo lớp nhựa như Polypropylene (PP), Polyetylen
mật độ cao (HDPE), Polystyren (PS), Polymethyl methacrylat
Polystyren tác động cao (HIPS) và Plastic phân hủy môi trường
(ED). Vật liệu nhỏ giọt ra khỏi vòi và sau đó được làm cứng bằng tia
(4) Máy ép đùn vật liệu làm nóng các sợi filament bên trong vòi đùn di
chuyển theo chuyển động thẳng đứng và ngang, lắng đọng vật liệu
nóng chảy sau đó cứng lại.
(5) Máy nung chảy bột sử dụng quét laser hoặc chùm tia điện tử để làm
tan chảy từng lớp vật liệu bột để tạo thành vật thể.
(6) Máy sản xuất bồi đắp tạo ra các lớp tấm (thường là plastic) và kết
hợp các lớp đó lại với nhau theo mô hình kỹ thuật số để tạo ra các vật
thể ba chiều cụ thể. Chúng khác với các máy cán tấm, liên kết hai
hoặc nhiều tấm lại với nhau để tạo thành vật liệu ghép.
(7) Máy lắng đọng năng lượng định hướng, sử dụng chùm tia điện tử (tia
electron) để làm tan chảy vật liệu khi chúng được lắng đọng để tạo
thành vật thể.
BỘ PHẬN
Theo các quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận (xem
Chú giải tổng quát Phần XVI), các bộ phận của hàng hóa thuộc nhóm này
cũng được phân loại ở đây, bao gồm các hộp mực máy in được thiết kế
đặc biệt để chứa các vật liệu và được giới hạn sử dụng với một máy in 3D
cụ thể, trừ loại không có linh kiện điện tử hoặc cơ cấu cơ khí.
84.86 - Máy và thiết bị chỉ sử dụng hoặc chủ yếu sử dụng để sản xuất
các khối bán dẫn hoặc tấm bán dẫn mỏng, linh kiện bán dẫn, mạch
điện tử tích hợp hoặc màn hình dẹt; máy và thiết bị nêu ở Chú giải
11 (C) của Chương này; bộ phận và phụ kiện.
8486.10 - Máy và thiết bị để sản xuất khối hoặc tấm bán dẫn mỏng
8486.20 - Máy và thiết bị để sản xuất linh kiện bán dẫn hoặc mạch điện
tử tích hợp
8486.30 - Máy và thiết bị dùng để sản xuất màn hình dẹt
8486.40 - Máy và thiết bị nêu tại Chú giải 11 (C) Chương này
8486.90 - Bộ phận và phụ kiện
Nhóm này bao gồm các máy và thiết bị, loại chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng
để sản xuất khối bán dẫn hoặc tấm bán dẫn mỏng, thiết bị bán dẫn, mạch
điện tử tích hợp hoặc tấm màn hình dẹt. Tuy nhiên, nhóm này loại trừ
các máy và thiết bị để đo, kiểm tra, kiểm soát, phân tích hóa học….
(Chương 90).
(A) MÁY VÀ THIẾT BỊ ĐỂ SẢN XUẤT CÁC KHỐI BÁN DẪN
HOẶC TẤM BÁN DẪN MỎNG
Nhóm này bao gồm các máy và thiết bị để sản xuất khối bán dẫn hoặc
tấm bán dẫn mỏng như là:
Lò nung “one-melt” dùng để làm nóng chảy và tinh lọc thanh
silic, lò oxi hóa dùng để oxi hóa bề mặt của tấm bán dẫn mỏng và
lò khuếch tán để tăng độ tinh khiết của tấm bán dẫn mỏng.
Thiết bị làm phát triển và kéo giãn tinh thể dùng để sản xuất
những khối bán dẫn đơn tinh thể cực kỳ tinh khiết, để từ đó các
tấm bán dẫn mỏng có thể được tạo ra bằng cách lát mỏng.
Máy mài tinh thể, mài khối bán dẫn tinh thể tới đường kính chính xác
theo yêu cầu cho tấm bán dẫn mỏng và mài các mặt phẳng trên khối
bán dẫn, để xác định suất dẫn điện và suất điện trở của tinh thể.
Máy cưa lát mỏng, tạo tấm bán dẫn mỏng từ khối bán dẫn hoặc
vật liệu bán dẫn đơn tinh thể.
Máy nghiền, mài và đánh bóng, chuẩn bị tấm bán dẫn mỏng cho
quá trình gia công. Quá trình này gia công tấm bán dẫn đạt tới
dung sai cho phép về kích cỡ. Đặc biệt quan trọng là độ phẳng của
bề mặt.
Thiết bị đánh bóng bằng cơ hóa (CMP) làm phẳng và đánh bóng
tấm bán dẫn bằng việc kết hợp việc làm sạch bằng hóa học và đánh
bóng cơ học.
(B) MÁY VÀ THIẾT BỊ ĐỂ SẢN XUẤT THIẾT BỊ BÁN DẪN
HOẶC MẠCH ĐIỆN TỬ TÍCH HỢP
Nhóm này bao gồm máy và thiết bị để sản xuất thiết bị bán dẫn hoặc
mạch điện tử tích hợp như là:
(1) Thiết bị định hình các tấm màng phim, hoặc để sản xuất các loại
tấm màng phim khác nhau, để phủ lên bề mặt của tấm bán dẫn trong
quá trình gia công. Các tấm màng phim này có vai trò như chất dẫn,
chất cách điện, hoặc chất bán dẫn trong sản phẩm cuối cùng. Chúng
có thể gồm ôxít và nitrua trên bề mặt chất nền, kim loại và các lớp
ghép. Các quy trình gia công và thiết bị dưới đây không nhất thiết bị
giới hạn bởi loại màng phim cụ thể nào.
(a) Lò nung oxi hóa, tạo ra một “màng” ôxít trên bề mặt tấm bán
dẫn. Ôxít được tạo nên bởi phản ứng hóa học của các lớp
nguyên tử ở bên trên của tấm bán dẫn với ôxi được cung cấp
hoặc bay hơi dưới tác dụng nhiệt.
(b) Thiết bị ngưng tụ hơi hóa học, dùng để ngưng tụ các loại
màng phim khác nhau. Những màng phim đó thu được bằng
cách kết hợp các loại khí thích hợp trong một buồng phản ứng
ở nhiệt độ cao. Điều này tạo nên một phản ứng hóa nhiệt ở giai
đoạn bay hơi. Phản ứng có thể xảy ra ở áp suất khí quyển hoặc
áp suất thấp (LPCVD) và có thể sử dụng sự tăng cường plasma
(c) Thiết bị ngưng tụ hơi vật lý, dùng để ngưng tụ các loại màng
phim khác nhau, thu được bằng cách làm bay hơi một loại chất
rắn. Ví dụ:
(1) Thiết bị tạo màng phim bằng phương pháp bay hơi, dùng
để chế tạo màng phim bằng cách gia nhiệt cho vật liệu nguồn.
(2) Thiết bị tạo màng phim bằng phương pháp phun phủ,
dùng để chế tạo màng phim bằng cách bắn phá các vật liệu
nguồn (mục tiêu) bằng ion.
(d) Thiết bị epitaxy chùm phân tử, cho phép phát triển tầng (lớp)
epitaxy từ một chất nền đơn tinh thể được làm nóng trong một
môi trường chân không siêu cao sử dùng chùm phân tử. Quy
trình tương tự như quy trình PVD.
(2) Thiết bị pha phụ gia, dùng để đưa chất phụ gia vào bề mặt tấm bán
dẫn nhằm cải thiện tính dẫn điện hoặc các đặc tính khác của lớp bán
dẫn, như:
(a) Thiết bị khuếch tán nhiệt, dùng để đưa chất phụ gia vào bề
mặt của tấm bán dẫn bằng cách sử dụng khí dưới nhiệt độ cao.
(b) Thiết bị cấy ion, dùng để cấy chất phụ gia vào trong cấu trúc
mạng tinh thể của bề mặt tấm bán dẫn dưới dạng một chùm tia
ion được gia tốc.
(c) Buồng điều chỉnh, dùng để sửa chữa các cấu trúc mạng tinh
thể của tấm bán dẫn, bị ảnh hưởng bởi quá trình cấy ion.
(3) Thiết bị tẩy rửa và khắc axít, dùng để tẩy hoặc làm sạch bề mặt
của tấm bán dẫn, như:
(a) Thiết bị khắc axit ướt, trong đó tấm bán dẫn được phun hoặc
nhúng trong chất tẩy hóa học. Phương pháp phun cho kết quả
đồng đều hơn phương pháp nhúng, bởi vì chúng hoạt động trên
tấm bán dẫn cùng một lúc.
(b) Thiết bị khắc khô plasma, dùng chất tẩy là khí gas trong
trường năng lượng plasma, ứng dụng cách tẩy không đẳng
hướng. Thiết bị tẩy khô dùng vài cách khác nhau để dùng
plasma ở dạng khí loại bỏ các màng mỏng khỏi tấm bán dẫn.
(c) Máy phay bằng chùm tia ion hội tụ, trong đó, các nguyên tử
khí ion hóa được gia tốc bắn về bề mặt tấm bán dẫn. Kết quả là
lớp trên cùng của tấm bán dẫn bị tách một cách vật lý khỏi bề
mặt của nó.
(d) Thiết bị tách, đốt, sử dụng các kỹ thuật tương tự như khắc
axit. Thiết bị này loại bỏ lớp cảm quang đã được sử dụng sau
khi nó hoàn thành vai trò như là một “khuôn” khỏi bề mặt tấm
bán dẫn. Thiết bị này cũng có thể loại bỏ các chất nitrua, oxit
và silic đa tinh thể, ứng dụng cách ăn mòn đẳng hướng.
(4) Thiết bị in ly tô, in mẫu thiết kế mạch tới bề mặt được phủ chất
cảm quang của tấm bán dẫn, như:
(a) Thiết bị để phủ chất cản quang lên tấm bán dẫn. Chúng bao
gồm bộ phận quay cảm quang, cho phép phủ chất cảm quang
dạng lỏng trên khắp bề mặt của tấm bán dẫn.
(b) Thiết bị để phơi các tấm bán dẫn đã được phủ chất cảm
quang với các thiết kế mạch xác định (hoặc bộ phận)
(i) Sử dụng màn hoặc lưới quang và phơi chất cản quang ra ánh
sáng (tia cực tím nói chung) hoặc, trong một vài trường hợp
là tia X:
(a) Máy tiếp xúc, nơi mà màn hoặc lưới quang tiếp xúc
với tấm bán dẫn suốt quá trình phơi sáng.
(b) Máy xếp hàng không tiếp xúc, tương tự loại trên,
nhưng màn hoặc lưới quang không tiếp xúc với tấm bán
dẫn
(c) Máy xếp quét. sử dụng kỹ thuật chiếu sáng để phơi
sáng qua một khe hở chuyển động liên tục qua lưới chắn
và tấm bán dẫn
(d) Thiết bị hiệu chỉnh vị trí mẫu theo bước và lặp lại, sử
dụng kỹ thuật chiếu sáng từng phần tấm bán dẫn. Cường
độ phơi sáng có thể giảm dần từ màng chắn tới tấm bán
dẫn, hoặc duy trì tỉ lệ 1:1. Có thể sử dụng tia laser để
tăng cường độ.
(ii) Thiết bị in trực tiếp lên tấm bán dẫn. Những thiết bị
này vận hành mà không có màn hoặc lưới quang. Chúng sử
dụng một máy xử lý dữ liệu tự động điều khiển (như một
dòng tia electron (E- beam), tia ion hoặc laser) để vẽ mạch
trực tiếp lên tấm bán dẫn đã được phủ chất cản quang.
(5) Thiết bị xử lý các tấm bán dẫn mỏng đã được phơi sáng hiện
ảnh. Những thiết bị này bao gồm cả các bồn đựng hóa chất tương
tự như loại được sử dụng trong phòng ảnh
Nhóm này cũng bao gồm:
Máy ly tâm để phủ bằng cách xoay các chất nền cách điện hoặc
các tấm bản dẫn cảm quang.
Máy in màn ảnh dùng để in các chất nền cách điện bằng mực
không tẩy.
(iii) Máy cắt laser dùng để chia tấm bán dẫn thành những tấm mạch
nhỏ hơn (lát)
(iv) Máy cưa để chia mỏng tấm bán dẫn.
(C) MÁY VÀ THIẾT BỊ DÙNG ĐỂ SẢN XUẤT TẤM
MÀN HÌNH DẸT
Nhóm này bao gồm máy móc thiết bị để chế tạo, gia công chất nền vào
tấm màn hình dẹt. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm máy móc thiết
bị chế biến thủy tinh, hoặc tấm mạch in hoặc các thành phần điện tử
khác lên trên tấm màn hình dẹt.
Nhóm này bao gồm máy và thiết bị để sản xuất tấm màn hình dẹt, cụ thể:
Thiết bị khắc axit, xử lý, tẩy rửa hoặc làm sạch.
Thiết bị chiếu, vẽ hoặc mạ mẫu mạch.
Thiết bị sấy khô bằng phương pháp xoay ly tâm và các thiết bị
sấy khô khác.
Máy (máy xoay) được thiết kế để phủ nhũ tương ảnh.
Thiết bị cấy ion để pha thêm phụ gia.
Lò nung, lò và các thiết bị khác để khuếch tán, oxi hóa, nung
hoặc gia nhiệt nhanh.
Thiết bị kết tủa khí hóa và thiết bị kết tủa vật lý.
Máy nghiền và đánh bóng.
Máy cưa, khía hoặc rạch.
(D) MÁY VÀ THIẾT BỊ NÊU TẠI CHÚ GIẢI 11 (C) CHƯƠNG
NÀY
Nhóm này bao gồm các máy và thiết bị loại chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng
sản xuất hoặc sửa chữa màn hoặc lưới quang (ví dụ, thiết bị
(máy vẽ ảnh) dùng để chế tạo màn chắn quang học và máy tán ion
dùng để sửa chữa màn hoặc lưới quang)
thiết bị lắp ráp linh kiện bán dẫn hoặc mạch tích hợp điện tử,
ví dụ:
(a) Máy khắc laze dùng để khắc vỏ nhựa của mạch tích hợp liền
khối hoàn thiện hoặc linh kiện bán dẫn rời rạc.
(b) Thiết bị bọc nhựa, như máy ép để tạo màng vỏ nhựa cho
con chíp bằng cách ép nhựa xung quanh chíp đó.
(c) Thiết bị nối dây, dùng để hàn các dây vàng tới điểm kết nối
của mạch tích hợp liền khối, bằng cách hàn ép siêu âm hoặc
hàn ép điện.
(d) Thiết bị ghép nối bán dẫn, cho phép hoàn thành tất cả kết nối
trên tấm bán dẫn, trước khi chia nhỏ tấm bán dẫn đó.
nâng, sắp xếp, tải hoặc dỡ tải khối bán dẫn, tấm bán dẫn, thiết
bị bán dẫn, mạch tích hợp điện tử và tấm màn hình dẹt (ví dụ
như máy xử lý vật liệu tự động để dịch chuyển, xử lý và kẹp giữ
các tấm bán dẫn mỏng, hộp tấm bán dẫn, hộp đựng vật liệu và các
vật liệu khác cho linh kiện bán dẫn).
(E) BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các quy tắc chung về phân loại bộ phận (xem chú giải tổng quát
phần XVI), nhóm này cũng bao gồm bộ phận và phụ kiện của các máy
và thiết bị thuộc nhóm. Bộ phận và phụ kiện phân loại vào nhóm này, vì
vậy bao gồm, không kể những cái khác, bộ phận kẹp hoặc giữ và các
thiết bị gá (phụ) đặc biệt chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho máy và thiết bị
thuộc nhóm này.
84.87 - Phụ tùng máy móc, không bao gồm đầu nối điện, màng ngăn,
cuộn, công tắc điện hoặc các phụ tùng điện khác, không được ghi
hoặc chi tiết ở nơi khác trong Chương này.
8487.10 - Chân vịt của tàu hoặc thuyền và cánh của chân vịt
8487.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả các bộ phận của máy móc không hoạt động
bằng điện, ngoại trừ:
Các máy được thiết kể để chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với một
máy cụ thể (bao gồm cả một máy bất kỳ của nhóm 84.79 hoặc
85.43, của Phần XVII, Chương 90…) và do đó được phân loại
vào cùng nhóm với máy cụ thể đó (hoặc được phân loại ở một
nhóm riêng, nếu nhóm riêng đó được quy định cụ thể)
Bộ phận thuộc nhóm 84.81 tới 84.84.
Bộ phận đã được quy định cụ thể hơn tại các nhóm khác trong
Danh mục hoặc bị loại trừ bởi Chú giải 1 Phần XVI hoặc chú giải
1 chương 84, ví dụ, băng chuyền hoặc băng tải hoặc đai truyền
động, làm bằng nhựa (Chương 39); băng chuyền hoặc băng truyền
động làm bằng cao su lưu hóa (nhóm 40.10), và các bộ phận khác
làm từ cao su lưu hóa không cứng (nhóm 40.16); bộ phận làm từ
da hoặc làm từ da tổng hợp (nhóm 42.05); băng truyền và băng
truyền động làm từ vật liệu dệt (nhóm 59.10), và các bộ phận máy
khác làm từ vật liệu dệt (nhóm 59.11); bộ phận làm từ gốm hoặc
từ thủy tinh (Chương 69hoặc70); bộ phận của máy làm hoàn toàn
từ đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, nhân tạohoặctái tạo)
(Chương 71); vít, xích, lò xo và các bộ phận khác có công dụng
chung như nêu tại Chú giải 2 Phần XV; bàn chải (nhóm 96.03).
Do đó, nhìn chung, hàng hóa thuộc nhóm này là những thứ có thể được
nhận biết như bộ phận của máy, nhưng không phải là bộ phận của bất kỳ
máy cụ thể nào. Theo những điều kiện này, nhóm bao gồm các thiết bị
bôi trơn không tự động; núm mỡ; tay quay điều khiển, tay quay và tay
gạt; tấm lót và vật chắn đảm bảo an toàn; và các vòng làm kín dầu.
Những vòng này thường có tiết diện tròn, có cấu trúc đơn giản (ví dụ
như một vòng cao su co giãn và một cốt kim loại được gia cố bởi quá
trình lưu hóa), với đặc điểm là không có các bộ phận di động. Chúng
được sử dụng trong rất nhiều máy và thiết bị để ngăn chặn rò rỉ dầu hoặc
khí hoặc để ngăn chặn bụi bẩn… thâm nhập vào, bằng cách làm kín các
bề mặt được nối với nhau.
Nhóm này cũng bao gồm chân vịt và guồng của tàu thủy .