PROJECT

CHU GIAI 2022 CHUONG 84 3

CHU GIAI 2022 CHUONG 84 3

MÁY HOÀN THIỆN GIẤY HOẶC BÌA GIẤY 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Máy cuộn. Một số máy kéo dài và làm phẳng giấy và khử tĩnh điện 
cùng một lúc 
(B) Máy (trừ máy cán) dùng để tráng các lớp phủ bề mặt khác nhau, 
lớp màu vô cơhoặchữu cơ, hồ, chất gôm, silicon, sáp v.v..; để phủ lên 
bề mặt giấy than hoặc giấy ảnh; để phủ lên bề mặt giấy bụi vải, bột 
lie hoặc bột mica, v.v.. đối với giấy dán tường. 
(C) Máy tẩm giấy hoặc giấy bìa bằng dầu, nhựa, v.v.. và máy sản xuất 
giấy dầu nhựa đường hắc ín để lợp mái 
(D) Máy kẻ dòng hoạt động bằng các đĩa nhỏ hoặc bút thép được cung 
cấp từ một khoang mực, nhưng trừ máy in thuộc nhóm 84.43. 
(E) Máy sản xuất giấy kếp. Những máy này thông thường bao gồm bộ 
phận làm nhẵn bằng kim loại hoặc thiết bị ép giấy vào xi lanh nhiệt, 
nhờ vậy các nếp sóng của giấy xuất hiện. Tuy nhiên, giấy kếp thường 
được làm trong máy sản xuất giấy 
(F) Máy làm ẩm giấy (còn gọi là "máy điều hòa giấy") trong đó toàn bộ 
bề mặt của giấy hoặc bìa giấy được phơi ra không khí ẩm. 
(G) Máy tạo hạt nổi và máy trang trí bề mặt bằng hình nổi (tuy 
nhiên, các máy cán được dùng cho cùng mục đích thì thuộc nhóm 
(H) Máy tạo nếp gấp thường được kết hợp với thiết bị cán mỏng. 
Một số máy hoàn thiện giấy (ví dụ dùng để bọc, cán mỏng hoặc cuộn), 

cũng có thể phù hợp để sử dụng trong sản xuất lá kim loại, tấm nhựa, 
vải dệt, v.v.. nhưng chúng vẫn thuộc nhóm này với điều kiện những 
máy này thuộc loại chủ yếu dùng để sản xuất giấy hoặc bìa giấy. 
Máy liên hợp thuộc nhóm này đôi khi kết hợp một số máy rơi vào các 
nhóm khác của chương này (ví dụ, máy lọc để thu hồi sợi và vật liệu 
mang từ khối nước thải (nhóm 84.21), máy cán các loại (để làm mịn 
giấy, tráng giấy, trang trí giấy bằng hình nổi...) (nhóm 84.20), máy cắt 
giấy (nhóm 84.41)). Với điều kiện chúng được hiện diện cùng trong 
một tổ hợp, các máy phụ trợ như vậy được phân loại cùng với các máy 
liên hợp trong nhóm này, nhưng nếu chúng được hiện diện riêng rẽ thì 
những máy này được phân vào các nhóm tương ứng của chúng. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Nồi hơi nấu vải vụn, rơm,... ; nồi hơi (máy đun sôi) để chế biến bột 
gỗ hóa chất; trục làm nóng bằng hơi và các máy làm khô khác (nhóm  
(b) Máy bóc vỏ cây bằng tia nước (nhóm 84.24) và máy bóc tách gỗ 
(nhóm 84.65 hoặc 84.79). 
(c) Máy in (nhóm 84.43). 
(d) Máy thu lượm vải vụn, máy kéo hoặc máy chế biến vải vụn thành sợi 
(nhóm 84.45). 
(e) Máy chế biến sợi lưu hóa (nhóm 84.77). 
(f) Máy phủ chất mài mòn lên trên giấy, vải, gỗ,... (nhóm 84.79). 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải tổng 
quát của Phần XVI), các bộ phận của máy móc thuộc nhóm này cũng 
được phân loại ở đây, ví dụ: 
Bộ phận tạo nếp nhăn; phiến đế và thanh đập của máy đập; trục lăn dài; 
khoang hút; trục của máy kiểu thùng; trục lăn tạo bóng mờ. 
Tuy nhiên, các bộ phận sau không được coi như là các bộ phận thuộc 
nhóm này: 

(a) Những dây đai vô tận bằng vật liệu dệt cho máy xeo giấy sàng dọc 
hoặc máy xeo đôi, bọc ngoài trục lăn bằng nỉ (nhóm 59.11). 
(b) Đá nghiền, đá mài, phiến đế và bộ phận tạo nếp nhăn và các bộ phận 
khác bằng đá bazan, đá nham thạch hoặc đá tự nhiên (nhóm 68.04 
hoặc 68.15). 
(c) Dây đai vô tận của dây đồng dệt hoặc dây bạc (ví dụ dây của máy 
xeo giấy sàng dọc) (nhóm 74.19).  
(d) Dao máy hoặc lưỡi dao cắt (nhóm 82.08). 
(e) Trục cán (nhóm 84.20). 
84.40 - Máy đóng sách, kể cả máy khâu sách. 
       8440.10 - Máy 
       8440.90 -  Bộ phận 
Nhóm này bao gồm các máy được sử dụng trong sản xuất sách (kể cả 
cuốn sách nhỏ, cuốn sách mỏng, tạp chí định kỳ, vở viết và những loại 
tương tự như vậy). 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy gấp giấy để đóng sách. Những máy này gấp tờ giấy lớn nhiều 
lần để tạo ra một kích cỡ phù hợp đối với các trang. Những máy đó 
vẫn thuộc nhóm này ngay cả khi chúng được sử dụng cho các hoạt 
động gấp khác. 
(2) Máy đóng ghim và máy khâu bằng dây kim loại, kể cả những máy 
có thể sử dụng trong sản xuất hộp bìa cứng hoặc những cái tương tự. 
(3) Máy gom và khâu. Trong những máy này, tờ giấy được xếp bằng 
tay trên một băng chuyền, được gom lại thành các phần, được sắp 
cho thẳng đầu và sau đó được chuyển tới đầu của máy khâu. 
(4) Máy cán hoặc đóng sách. Những máy này ép những tờ giấy đã được 
gấp của những tập chưa được đóng trước khi khâu. 
(5) Máy được dùng để "viền" gáy của những quyển sách chưa được 
khâu, tức là thực hiện những vết cắt nông ở gáy sách để thu nhận 

những sợi chỉ bắt qua. 
(6) Máy khâu sách kể cả hai loại đơn giản là chỉ khâu thôi, và những 
máy phức hợp bao gồm một giá đỡ để đặt những tờ giấy đã được gấp 
vào máy, một thiết bị khâu được trang bị để khâu các tờ giấy vào với 
nhau và thường đặt một miếng vải dệt để làm chắc gáy sách. 
(7) Máy làm phẳng hoặc làm tròn gáy sách trước khi bọc bìa. 
(8) Máy dùng để dán những dải giấy hoặc vải dệt len trên những 
trang rời, những trang này được kết hợp thành một cuốn sách, hoặc 
lên trên những tấm bản đồ được gắn vào thành một cuốn át lát, để 
làm cho việc kết hợp lại được dễ dàng. 
(9) Máy để dán những bìa giấy lên trên những quyển sách, cuốn 
sách nhỏ, v.v.. rẻ tiền. 
(10) Máy sản xuất bìa sách. Những máy này thường bao gồm những 
giá đỡ để đưa vào những tờ giấy, tờ bìa, tờ vải sách,... cần thiết, một 
thiết bị dán và một thiết bị ép, và đôi khi cũng bao gồm cả thiết bị 
làm nóng và làm khô. 
(11) Máy làm phẳng những bìa sách đã hoàn thiện. Những máy này 
bao gồm một hệ thống trục lăn và những cái bàn. 
(12) Máy dùng để gắn những tập sách, v.v.. đã được khâu vào những 
tấm bìa bằng cách dán và ép. Một số máy được trang bị một thiết bị 
để chèn những bức tranh, những thiết kế, bản đồ rời hoặc những cái  
tương tự. 
(13) Máy mạ vàng hoặc sơn màu gờ sách. 
(14) Máy dập nổi hoặc mạ chữ hoặc mẫu thiết kế lên trên bìa sách và 
đôi khi còn lên cả những mặt hàng khác (ví dụ: những mặt hàng da), 
nhưng loại trừ những máy nén có công dụng thông thường (nhóm 
84.79) và máy nén in sử dụng những ký tự có thể thay đổi cho nhau 
được ghép thành các khối (nhóm 84.43). 

(15) Máy đánh số trang (ví dụ, dùng để đánh số trang sổ đăng ký và  
sổ cái). 
(16) Máy ghép trang và cố định bằng đường xoắn ốc nhiềuhoặcít 
(hoặc đường vòng tròn) kim loại hoặc nhựa xuyên qua các lỗ 
được đục trong các trang. Thông thường chúng bao gồm một thiết 
bị đục lỗ và một thiết bị xoáy theo hình xoắn ốc. 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo những điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải 
tổng quát của Phần XVI), các bộ phận của máy móc thuộc nhóm này 
cũng được phân loại ở đây. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Bàn, thường bằng gỗ, với một thiết bị đinh vít để giữ các sợi chỉ vắt 
ngang, được sử dụng trong việc khâu sách bằng tay (nhóm 44.21). 
(b) Dao của máy cắt (nhóm 82.08). 
(c) Máy gấp giấy hoặc bìa cứng (trừ máy gấp trang cho sách); máy cắt 
hoặc tạo thành khe giấy hoặc bìa cứng; máy xén sách, tạp chi định 
kỳ, cuốn sách nhỏ,... đã được đóng gáy hoặc đã được khâu; máy xén 
gờ hoặc góc sách hoặc máy gắn phụ lục rời; máy xếp tờ giấy; máy 
dập đinh ghim thích hợp chỉ để sản xuất hộp bìa cứng (nhóm 84.41). 
(d) Máy tạo lề, gấp hoặc đánh dấu chữ ký lên trang dùng cùng với máy 
in (nhóm 84.43) 
(e) Máy cắt vải dệt (nhóm 84.51). 
(f) Kim của máy khâu (nhóm 84.52). 

(g) Máy may da được sử dụng trong đóng gáy sách (nhóm 84.53) 
 (h) Máy dập ghim loại dùng trong các văn phòng để gắn tài liệu vào với 
nhau (nhóm 84.72). 
84.41 - Các máy khác dùng để sản xuất bột giấy, giấy hoặc bìa, kể cả 
máy cắt xén các loại. 
       8441.10 - Máy cắt xén các loại 
       8441.20 - Máy làm túi, bao hoặc phong bì  
        8441.30 - Máy làm thùng bìa, hộp, hòm, thùng hình ống, hình trống 
hoặc đồ chứa tương tự, trừ loại máy sử dụng phương 
pháp đúc khuôn  
       8441.40 - Máy làm các sản phẩm từ bột giấy, giấy hoặc bìa bằng 
phương pháp đúc khuôn  
       8441.80 - Máy khác  
       8441.90 - Bộ phận 
Nhóm này bao gồm tất cả máy móc được sử dụng để cắt và (trừ máy 
đóng gáy sách) tất cả máy móc để làm bột giấy, giấy hoặc bìa sau khi nó 
được chế biến, phạm vi từ máy cắt thành độ rộng cần thiết hoặc thành 
các tờ có kích cỡ thương mại tới những máy dùng để sản xuất các vật 
phẩm bổ sung khác. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy cắt xén giấy (kể cả máy cắt nhiều lưỡi) để cắt rời các tờ 
giấy. Những máy này bao gồm các máy cắt thành cuộn và máy cắt 
thành hình vuông được sử dụng cùng với máy sản xuất giấy, máy cắt 
xén sách hoặc cuốn sách nhỏ, máy xén tròn các góc sách hoặc máy 
tạo phụ lục rời, và kéo cắt giấy lớn, "máy xén", và thiết bị cắt ảnh in 
trên khuôn hình giấy hoặc khuôn hình bìa giấy để tạo thành ảnh, trừ 
máy và thiết bị cắt phim thuộc loại được sử dụng trong các phòng 
làm ảnh hoặc phòng điện ảnh (nhóm 90.10).  

(2) Máy cắt dập (hoa giấy, nhãn hiệu, bộ phiếu thư mục, phong bì có 
cửa sổ, hình hộp,.v.v..). 
(3) Máy cắt, kẻ hoặc rạch thành khe bìa giấy đối với hộp bằng giấy 
bìa, hộp, kẹp tài liệu,.v.v.. 
(4) Máy làm túi giấy.  
(5) Máy làm phong bì (cắt, gấp, kẻ,.v.v..). 
(6) Máy gấp hộp bằng bìa. 
(7) Máy dập ghim hộp và các sản phẩm tương tự, trừ máy dập dây 
kim loại đơn giản có thể được sử dụng để đóng sách hoặc để làm hộp 
(nhóm  84.40) 
(8) Máy khác dùng để làm hộp bằng bìa giấy và hộp khác. 
(9) Máy cuốn để sản xuất ống giấy, cuộn giấy, bìa cứng bọc đĩa hát, hộp 
hình ống cách điện, hộp đựng phim,.v.v.. 
(10) Máy làm thành các tách, hộp đựng, ... bằng giấy sáp, thường có 
một thiết bị khâu và dán rìa. 
(11) Máy tạo các sản phẩm bằng bột giấy, giấy hoặc bìa giấy (đóng 
gói trứng, đĩa đựng bánh kẹo hoặc cắm trại, đồ chơi,.v.v..); mặc dù 
thường được gắn kèm theo một thiết bị làm nóng, những máy này 
vẫn thuộc mục này. 
(12) Máy cuộn (máy cuộn cắt), để tháo các cuộn giấy, cắt giấy thành các 
dải (đường rạch) có độ rộng thích hợp và cuộn lại nó. 
(13) Máy xếp thành chồng để xếp các tờ giấy, thẻ,... thành các chồng 
theo trật tự. 
(14) Máy đục lỗ, kể cả những máy đục lỗ thành hàng (đục lỗ kim, đục 
lỗ hình chữ nhật (hoặc khe,.v.v..) đối với tem, giấy vệ sinh,.v.v.. 
(15) Máy gấp, trừ máy gấp trang thuộc nhóm 84.40. 

(16) Máy liên hợp dùng để cắt, gấp, nhét tờ rời vào giữa các trang và 
cuốn giấy thuốc lá. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm máy ép thủy lực hoặc cơ khí đơn 
giản là những máy mà thường được sử dụng vì mục đích này (nhóm 
Một số máy thuộc nhóm này, đặc biệt máy làm túi giấy hoặc gấp hộp, có 
thể được trang bị một thiết bị in. Theo Chú giải 3 của phần XVI những 
máy như vậy cũng được phân vào nhóm này với điều kiện chức năng in 
không phải là chức năng chủ yếu của máy. 
Cũng cần phải chú ý rằng một số máy được mô tả ở trên (như máy cắt, 
gấp hoặc làm túi) cũng có thể thích hợp để sử dụng trong sản xuất những 
đồ nhựa hoặc kim loại dạng tấm mỏng. Những máy như vậy cũng thuộc 
nhóm này với điều kiện chúng thuộc loại thường được sử dụng để làm 
giấy hoặc bìa giấy. 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải tổng 
quát của phần XVI), các bộ phận của máy móc thuộc nhóm này cũng 
được phân loại ở đây. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Lò sấy để sấy các sản phẩm bằng bìa cứng đã được làm (nhóm 
(b) Máy gói (ví dụ, để gói sô cô la) cũng để làm và in hộp đựng bằng 
giấy bìa (hộp bìa cứng,...) (nhóm 84.22). 

(c) Máy kết các dải giấy thành sợi (nhóm 84.45). 
(d) Máy khâu dùng để sản xuất túi giấy (nhóm 84.52).  
(e) Máy đột lỗ được sử dụng để đột lỗ thẻ hoặc tài liệu bằng giấy và máy 
cắt vụn giấy thuộc loại được sử dụng trong các văn phòng để huỷ các 
tài liệu mật (nhóm 84.72). 
(f) Máy đục khung lỗ và máy để làm tách và hộp đựng bằng giấy sáp.... 
bằng phương pháp nhúng (nhóm 84.79). 
84.42 - Máy, thiết bị và dụng cụ (trừ loại máy thuộc các nhóm từ 
84.56 đến 84.65) dùng để đúc chữ hoặc chế bản, làm khuôn in 
(bát chữ), ống in và các bộ phận in ấn khác; khuôn in (bát chữ), 
ống in và các bộ phận in khác; khuôn in, ống in và đá in ly tô, 
được chuẩn bị cho các mục đích in (ví dụ, đã được làm phẳng, 
nổi vân hạt hoặc đánh bóng). 
       8442.30 - Máy, thiết bị và dụng cụ 
       8442.40 - Bộ phận của các máy, thiết bị hoặc dụng cụ kể trên 
8442.50 - Khuôn in (bát chữ), ống in và các bộ phận in khác; khuôn 
in, ống in và đá in ly tô, được chuẩn bị cho các mục đích 
in (ví dụ, đã được làm phẳng, nổi vân hạt hoặc đánh 
bóng).  
Trừ những loại được đề cập đến sau này, nhóm này bao gồm: 
(1) Các bộ phận in của máy in, ví dụ khuôn in và ống in, được chạm 
khắc hoặc nếu không thì được chuẩn bị để in, được dùng để in phần 
chữ hoặc phần minh họa (bằng tay hoặc bằng máy thuộc nhóm 
84.43); và đá in li tô, ống in và khuôn in đã được chuẩn bị (ví dụ, 
những máy được chuẩn bị phù hợp để chạm khắc hoặc ngược lại để 
tạo một ảnh khắc được sử dụng sau đó trong in ấn). 
(2) Máy, thiết bị và đồ phụ tùng được sử dụng để tạo mẫu hoặc các phần 
in ấn khác được đề cập ở trên, hoặc được sử dụng để lắp ráp (sắp 
xếp) nó để sử dụng trong in ấn, hoặc bằng tay hoặc bằng cơ khí. 
Nhóm này bao gồm thiết bị được sử dụng trong in ấn phần chữ, phần 

minh họa hoặc bản thiết kế mẫu lặp lại, v.v.. hoặc trên giấy, vải dệt, tấm 
phủ sàn, da hoặc trên các vật liệu khác, bằng các quá trình in, nghĩa là: 
(I) In nổi: Bằng cách sử dụng tấm bản khắc nổi. Trong quá trình này, 
các phần nổi của ký tự hoặc hình ảnh được bôi mực. 
(II) In phẳng: Bằng cách in đá lito, in đá ảnh lito hoặc bằng cách in 
offset. Mực in được sử dụng chỉ để đưa vào phần được chuẩn bị sẵn 
của bề mặt phẳng của bản in, v.v.. Loại in này cũng bao gồm cả in 
bằng giấy nến. 
(III) In lõm: Bằng cách in quay, hoặc bằng cách khắc hoặc khắc axit tấm 
kim loại. Mực in tụ lại trong các phần được chạm khắc hoặc khắc 
(A) MÁY, THIẾT BỊ VÀ DỤNG CỤ (TRỪ CÁC LOẠI MÁY 
CÔNG CỤ THUỘC NHÓM 84.56 ĐẾN 84.65) DÙNG ĐỂ ĐÚC 
CHỮ HOẶC CHẾ BẢN, LÀM KHUÔN IN (BÁT CHỮ), ỐNG IN 
VÀ CÁC BỘ PHẬN IN ẤN KHÁC 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy dùng để chế tạo tấm in bằng việc tái tạo trực tiếp từ một tài 
liệu. Trong những máy này, một tế bào quang điện quét tài liệu, và 
các xung điện được truyền bởi một thiết bị điện tử từ tế bào đó làm 
kích hoạt một công cụ, công cụ này khắc lên một tấm nhựa 
(2) Máy dùng để khắc axit tấm hoặc ống in. Những máy này bao gồm 
các khoang đặc biệt được gắn các thiết bị khuấy. 
(3) Máy làm cho tấm kẽm in offset nhạy sáng (các cuộn ngang), nhìn 
chung được gắn với một thiết bị làm nóng hoạt động bằng điện. 
Nhóm này chỉ bao gồm máy sắp chữ bằng bản chụp hoặc máy sắp đặt, 
những máy mà thực sự sắp mẫu in, thậm chí nếu mẫu in được chụp sau 
khi đã được sắp. Tuy nhiên, nhóm này loại trừ các camera chụp ảnh, 
máy phóng to hoặc thu nhỏ ảnh, máy rửa ảnh bằng phương pháp rọi sáng 

trực tiếp và các thiết bị chụp ảnh tương tự để chuẩn bị các tấm hoặc các 
ống in (Chương 90), ví dụ: 
(a) camera chụp thẳng hoặc ngang được đặt lên một khung (bàn) treo 
hoặc một bàn kéo, những camera dùng để in 3 màu. 
(b) thiết bị phóng to và thu nhỏ ảnh, thiết bị tái tạo và khung in. 
(c) bàn sáng dùng để sắp xếp bản mẫu hoặc dùng để in tiếp xúc. 
Một số trong những thiết bị này sử dụng kính trung gian hoặc kính kẻ ô 
hoặc màn nhựa, bộ lọc màu bằng nhựa hoặc thủy tinh cho in màu hoặc 
bộ phận giữ màn hoặc lọc. 
(B) KHUÔN IN (BÁT CHỮ), ỐNG IN VÀ CÁC BỘ PHẬN IN ẤN 
KHÁC; KHUÔN IN (BÁT CHỮ), ỐNG IN VÀ ĐÁ IN LITO, 
ĐƯỢC CHUẨN BỊ CHO CÁC MỤC ĐÍCH IN (VÍ DỤ, ĐÃ ĐƯỢC 
LÀM PHẲNG, ĐÃ ĐƯỢC LÀM NỔI HẠT HOẶC ĐÃ ĐƯỢC 
ĐÁNH BÓNG) 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Khuôn in bản chạm nổi hoặc bản khắc được chạm khắc bằng 
tay, bằng máy hoặc bằng khắc axit. Những bản, khuôn này có thể 
bằng gỗ, vải dầu, đồng thau, thép,.v.v 
(2) Đá in li tô. Phần hình ảnh hoặc là được vẽ bằng tay hoặc là được 
chuyền bằng hình ảnh và được chế bản bằng axit. 
(3) Khuôn in offset bằng các tấm kẽm, nhôm hoặc kim loại dẻo tương 
tự mà trên đó bản thiết kế được tái tạo trên mặt phẳng,... không chạm 
nổi mà cũng không chạm lõm. 
(4) Ống in được chạm khắc hoặc khắc axit. 
(5) Khuôn in và cái dập để in nổi, ví dụ của máy trang trí bề mặt bằng 
hình nổi, có hoặc không tẩm mực, giấy văn phòng có in tiêu đề,  
danh thiếp. 
Với điều kiện chúng được xử lý để thích hợp cho việc chạm khắc 
hoặc in đá li tô, khuôn in và ống in bằng kim loại, mặc dù không 

được chạm khắc hoặc in, cũng thuộc nhóm này: (Thêm dấu hai chấm 
ở cuối câu để đảm bảo như bên tiếng anh).  
(6) Đá in litô nhẵn hoặc nổi hạt. 
(7) Đĩa hoặc tấm kim loại được chế tạo để chạm khắc (bằng cách bào, 
làm nổi hạt hoặc đánh bóng). 
(8) Ống in bằng kim loại có bề mặt được đánh bóng hoặc làm nổi 
hạt. Những trục lăn này, thường bằng gang, được mạ đồng thau, hoặc 
có một vỏ bọc bằng đồng thau gồm nhiều lớp có thể tháo dỡ được. 
(9) Bản gốc bằng nhựa hoặc kim loại để dùng đối với máy in offset 
loại dùng trong văn phòng. Mép đỉnh của các tấm thường được chế 
tạo để cho phép gắn vào những trống của máy. 
Loại trừ khuôn in phim, giấy ảnh,... nhạy với ánh sáng (ví dụ, gồm có 
kim loại hoặc nhựa, được phủ bằng chất nhạy ánh sáng, hoặc bằng một 
tấm nhựa nhạy sáng, được gắn hoặc không được gắn với giá đỡ bằng 
kim loại hoặc bằng vật liệu khác) (nhóm 37.01). 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải tổng 
quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của các máy 
móc thuộc nhóm này. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Giấy nến bằng kẽm, nhựa, bìa cứng,.v.v.., dùng trong các máy in giấy 
nến (được phân loại theo vật liệu cấu thành). 
(b) Giấy copy hoặc sao chép, chứa đựng các văn bản và các mẫu thiết kế 
phục vụ cho mục đích tái tạo (nhóm 48.16). 
(c) Màn lụa phục vụ cho việc in trên màn lụa, có hoặc không được tráng 
phủ (nhóm 59.11); vải kim loại, được gắn trên một cái khung, đã 

hoặc chưa được chuẩn bị sẵn, được sử dụng trong công nghệ in màn 
(được phân loại theo vật liệu cấu thành). 
(d) Tạo dấu bằng sắt của máy mạ vàng (nhóm 84.40). 
(e) Máy công cụ dùng để gia công gỗ, đá hoặc kim loại và máy cắt bằng 
tia nước (ví dụ, máy bào và hoàn thiện khuôn đúc; máy dùng để bào 
và cắt thước gập; máy tạo vân hình đĩa hoặc hình quả bóng; máy 
chạm; máy khắc cạnh; máy khắc; cưa xén cắt) (từ nhóm 84.56 đến 
(f) Con chữ và các bộ phận in ấn khác của máy chữ, máy tính hoặc các 
máy khác thuộc các nhóm 84.70 tới 84.72 (nhóm 84.73). 
(g) Các khuôn (nhóm 84.80). 
(h) Máy vẽ quang laze để tạo ra các hình ảnh âm bản, trên phim nhạy 
sáng, thường từ những định dạng kỹ thuật số, bằng phương pháp 
chùm tia laze (nhóm 90.06). 
(ij) Các thiết bị đo đạc hoặc kiểm tra (nhóm 90.17 hoặc 90.31). 
84.43 - Máy in sử dụng các bộ phận in như khuôn in (bát chữ), ống 
in và các bộ phận in khác của nhóm 84.42; máy in khác, máy 
copy (copying machines) và máy fax, có hoặc không kết hợp với 
nhau; bộ phận và các phụ kiện của chúng (+). 
                     - Máy in sử dụng các bộ phận in như khuôn in (bát chữ), 
ống in và các bộ phận in khác thuộc nhóm 84.42: 
       8443.11 - - Máy in offset, in cuộn 
       8443.12 - - Máy in offset, in theo tờ, loại sử dụng trong văn phòng 
(sử dụng giấy với kích thước giấy ở dạng không gấp một 
chiều không quá 22 cm và chiều kia không quá 36 cm) 
      8443.13 - - Máy in offset khác 
      8443.14 - - Máy in letterpress, in cuộn, trừ loại máy in flexo 
      8443.15 - - Máy in letterpress, trừ loại in cuộn, trừ loại máy in flexo 

      8443.16 - - Máy in flexo 
      8443.17 - - Máy in ống đồng 
      8443.19 - - Loại khác 
                     - Máy in khác, máy copy và máy fax, có hoặc không kết 
hợp với nhau: 
       8443.31 - - Máy kết hợp hai hoặc nhiều chức năng in, copy hoặc 
fax, có khả năng kết nối với máy xử lý dữ liệu tự động 
hoặc kết nối mạng 
 8443.32 - - Loại khác, có khả năng kết nối với máy xử lý dữ liệu tự 
động hoặc kết nối mạng 
      8443.39 - - Loại khác 
                    - Bộ phận và phụ kiện: 
      8443.91 - - Bộ phận và phụ kiện của máy in sử dụng các bộ phận in 
như khuôn in (bát chữ), ống in và các bộ phận in khác của 
nhóm 84.42 
      8443.99 - - Loại khác 
Nhóm này gồm (1) tất cả các máy in sử dụng các bộ phận in như khuôn 
in hoặc ống in của các nhóm trước, và (2) máy in khác, máy copy và 
máy fax, có hoặc không kết hợp với nhau. 
Nhóm cũng bao gồm máy dùng để in một bản thiết kế lặp lại, từ (chữ) 
lặp lại hoặc toàn bộ mầu trên các tấm vải dệt, giấy dán tường, giấy gói, 
cao su, tấm nhựa, tấm phủ sàn, tấm da,.v.v. 
(I) MÁY IN SỬ DỤNG CÁC BỘ PHẬN IN NHƯ KHUÔN IN (BÁT 
CHỮ), ỐNG IN VÀ CÁC BỘ PHẬN IN KHÁC CỦA NHÓM 84.42 
Loại phổ biến nhất của những máy này là máy in ép xoay. Ở dạng đơn 
giản nhất, những máy in ép thường bao gồm một ống in có hai tấm bán 
trụ (in letterpress), hoặc bằng các trục, những trục này có thể hoặc được 
khắc (in ống đồng) hoặc được ép (in offset); máy in ép xoay dùng để in 

mầu được trang bị một vài ống in, các con lăn mực của những máy in 
này được đặt cạnh nhau. Khi tất cả các bộ phận in, ép và tô mực đều 
xoay, những máy in ép này có thể được sử dụng cho cả in liên tục và in 
từng tờ một, đen trắng hoặc mầu, trên một mặt hoặc trên cả hai mặt của 
tờ giấy. Máy in ép xoay có thể được chia làm 02 loại: 
(1) Máy in cuộn, trong đó một số máy in ép xoay lớn, kết hợp một vài 
bộ phận in trên một khung đơn, cho phép in tất cả các trang của một 
tờ báo hoặc tạp chí trong một chuỗi các công đoạn, do đó, cuối cùng 
tất cả các trang đều được phân phối, cắt, gấp, gắn, kẹp và xếp chồng 
bằng các máy phụ trợ khác nhau hoạt động cùng với máy in. 
(2) Máy in tờ, trong đó tờ giấy được chuyển qua bộ phận in bằng kẹp. 
Máy in tờ có giá đỡ, một hoặc nhiều bộ phận in và một cơ cấu phân 
bổ. Tại giá đỡ, giấy được rút ra từ một chồng, sắp thành hàng rồi 
chuyển tới bộ phận in. Trong cơ cấu phân bổ, tờ giấy đã được in được 
xếp thành chồng. 
Nhóm này cũng bao gồm các máy in ép sử dụng tấm chạy (hoặc platen), 
và máy in trục. 
Những máy in ép nêu trên (đặc biệt những máy in ép xoay cỡ nhỏ và 
trung bình) có thể được gắn với một loạt các bộ phận chế tạo được sắp 
xếp cạnh nhau với các bộ phận in, do đó, bắt đầu từ một cuộn giấy đơn, 
các sản phẩm phức hợp (ví dụ, các khối hình hộp, bao gói, nhãn hiệu, vé 
xe lửa) có thể được hoàn thành trong một công đoạn đơn và liên tục. 
Ngoài những loại máy in thông thường, nhóm này cũng bao gồm các 
máy đặc biệt như: 
(i) Máy dùng để in hộp thiếc hoặc các vật chứa khác. 
(ii) Máy dùng để in mặt đồng hồ treo tường và đồng hồ đeo tay hoặc các 
vật khác có hình dạng đặc biệt. 

(iii) Máy dùng để in trên nút lie, ống cao su, nến,.v.v.. 
(iv) Máy dùng để in mác vải vóc. 
(v) Máy dùng để in chữ ký trang sách. 
(vi) Máy in số, ngày, v,v... (trừ những con dấu đóng ngày bằng tay và 
những con dấu tương tự thuộc nhóm 96.11) hoạt động với bàn sắt, 
băng chữ hoặc hình, v.v.. đã hoặc chưa tô mực. 
(vii) Một số máy in văn phòng loại nhỏ, hoạt động theo kiểu in hoặc theo 
kiểu in offset, và các máy in này thường được gọi không đúng là 
"máy sao chụp" vì các nguyên lý hoạt động và vẻ bề ngoài của 
chúng tương tự như máy sao chụp. 
Nhóm này cũng bao gồm các máy in mầu, được dùng để tô màu, sau 
khi chúng đã được in đen trắng lần đầu, những tác phẩm nghệ thuật đặc 
biệt, bộ bài lá, sách tranh cho trẻ em, v.v.. bằng các khuôn tô hoặc các 
tấm khuôn tô, mầu được tô bằng bàn chải, con lăn hoặc bằng cách phun 
mầu. 
Máy dùng để in một bản thiết kế lặp lại, những từ lặp lại hoặc tô màu 
toàn bộ trên tấm vải, giấy dán tường, giấy gói, vải sơn lót sàn, da,.v.v.., 
bao gồm: 
(1) Máy in khối, trong đó các khối đã được khắc theo mẫu, thường là 
khắc nổi, được ép lặp lại trên tấm vải, giấy dán tường, v.v.. khi nó đi 
qua máy, sau đó tạo ra một mẫu vẽ liên tiếp; các máy giống như vậy 
cũng được sử dụng để in mẫu vẽ riêng (ví dụ, trên các khăn quàng 
hoặc khăn tay). 
(2) Máy in lăn, thường bao gồm một trục trung tâm lớn (trục lăn ép), 
quanh trục đặt một loạt các con lăn màu đã được khắc, mỗi con lăn 
có khe mầu của nó, con lăn trang trí, dao gạt màu,.v.v.. 
(3) Máy in mành (in lưới). Vật liệu được in đi qua máy này cùng với 
một băng màn khuôn tô, mầu được tô xuyên qua khuôn tô này. 

(4) Máy in dọc, trước khi dệt, in một mẫu vẽ trên tấm sợi dọc song song 
được tháo từ ống sợi. 
(5) Máy in sợi dệt. Những máy này tạo ra các tác động màu sắc trên sợi 
dệt (hoặc đôi khi trên sợi thô trước khi được xe thành sợi dệt). 
(II) MÁY IN KHÁC, MÁY COPY VÀ MÁY FAX, CÓ HOẶC 
KHÔNG KẾT HỢP VỚI NHAU 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Máy in. 
Loại trừ các loại đã được mô tả tại phần (I) ở trên, nhóm này bao 
gồm các thiết bị in chữ,  ký tự hoặc hình ảnh, để in các ấn phẩm. 
Các máy này chấp nhận dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau (ví dụ như 
máy xử lý dữ liệu tự động, máy scan để bàn phẳng, các mạng máy 
tính). Phần lớn các máy này kết hợp một bộ nhớ để lưu trữ dữ liệu đó. 
Mặt hàng của nhóm này có thể tạo ra các ký tự hoặc hình ảnh bằng 
các phương tiện như máy thực hiện quá trình in laze, in phun, in kim 
hoặc in nhiệt. Hai loại máy in phổ biến nhất là: 
     (1) Máy in tĩnh điện, loại sử dụng một quy trình in đòi hỏi các điện 
tích, mực và ánh sáng. Một nguồn sáng (như là nguồn sáng laze, 
nguồn phát sáng điot (2 cực)) được sử dụng để khử điện tích tại 
điểm cụ thể trên một bề mặt quang dẫn điện tích dương (thường là 
một trống tang) để lại một bản sao của hình ảnh tích điện dương. 
Phần mực tích điện âm được hút tĩnh điện tới bề mặt quang dẫn, 
tái tạo ảnh gốc. Mực được truyền tĩnh điện tới phương tiện in, 
phương tiện in này có một lương điện tích dương lớn hơn bề mặt 
quang dẫn, và hình ảnh sau đó được hợp nhất tới phương tiện in 
bởi áp suất và nhiệt cung ứng. 
     (2) Máy in phun. Những máy này phun những giọt mực in tới 

phương tiện in để tạo ra hình ảnh. 
Nhóm này bao gồm các máy in được hiện diện riêng rẽ với các mặt hàng 
được nối hoặc để kết hợp khác của Danh mục (ví dụ máy in hóa đơn tại 
quầy thu ngân thuộc nhóm 84.70) 
(B) Máy copy. 
Nhóm này bao gồm các máy để tạo ra các bản sao từ bản gốc như là: 
Máy copy kỹ thuật số mà trong nó các bản gốc được quét và một 
bề mặt nhạy sáng (như một thiết bị điện tích kép (CCD) hoặc 
mạng nhạy ảnh 02 cực) sẽ chuyển ảnh quang học thành các ký 
hiệu mã hóa kỹ thuật số mà được lưu giữ trong bộ nhớ. Động cơ 
in, vận hành kiểu tương tự như các máy in được mô tả trong 
phần (II) (A) của chú giải, sau đó sử dụng dữ liệu để tạo ra số 
lượng bản copy theo yêu cầu. Bản gốc chỉ cần được quét 1 lần 
để tạo ra nhiều bản copy, như sự đại diện của các hình ảnh được 
lưu giữ trong bộ nhớ. Phần (D) dưới đây miêu tả các máy có thể 
kết nối với một máy xử lý dữ liệu tự động hoặc kết nối mạng. 
(2) Máy photocopy mà trong đó ảnh quang học của bản gốc được 
chiếu lên một bề mặt nhạy sáng cho mỗi bản copy. Những loại 
thường thấy là: 
(a) Máy photocopy tĩnh điện loại vận hành hoặc bằng cách tái tạo 
ảnh gốc trực tiếp lên bản copy (quy trình trực tiếp) hoặc tái tạo 
ảnh gốc qua một vật trung gian lên trên bản copy (quy trình 
gián tiếp). 
Trong quy trình trực tiếp, ảnh quang học được chiếu lên một 
chất nền (thường là giấy) được tráng phủ, ví dụ như với: oxit 
kẽm hoặc antraxen, được tích điện với các điện tĩnh. Sau khi 
ảnh âm được tạo ra bởi một màu nhuộm dạng bột, nó được gắn, 
dán vào chất nền bởi quá trình xử lý nhiệt.  
Trong quy trình gián tiếp, ảnh quang học được chiếu lên một 
cái trống (hoặc đĩa) được tráng phủ Selen hoặc các chất bán 

dẫn khác được tích điện tĩnh. Sau khi được tạo ra bởi một màu 
nhuộm dạng bột, ảnh âm được chuyển lên trên một giấy gốc 
bằng việc sử dụng một trường tĩnh điện và gắn, dán vào giấy 
bởi quá trình xử lý nhiệt. 
 (b) Các máy sử dụng chất phủ hóa học dạng nhũ tương, trong đó, 
bề mặt nhạy sáng bao gồm một nhũ tương thường chứa muối 
bạc hoặc hợp chất diazonium (loại sau thường được sử dụng 
cho phơi sáng với ánh sáng có hàm lượng tia cực tím lớn). Quy 
trình hiện ảnh và in thay đổi tùy theo tính chất của nhũ tương 
và loại máy in (hiện ảnh ướt hoặc khô, bộ xử lý nhiệt, bay hơi 
ammoniac, kỹ thuật chuyển đổi v…v…) 
Nhóm này cũng bao gồm các loại máy photo kiểu tiếp xúc và máy photo 
nhiệt. 
(C) Máy fax. 
Máy fax được dùng để chuyển tải và tiếp nhận các bản ký tự hoặc 
hình ảnh thông qua một mạng và được sử dụng để in lại một bản ký 
tự hoặc hình ảnh gốc. Phần (D) dưới đây mô tả các máy có thể thực 
hiện các chức năng copy. 
(D) Máy kết hợp máy in, máy copy và máy fax. 
Những máy mà có thể thực hiện 02 chức năng trở lên trong số các chức 
năng in, sao chụp hoặc fax thì được xem là máy đa chức năng. Những 
máy này có thể kết nối tới một máy xử lý dữ liệu tự động hoặc một 
mạng. 
Tiêu chuẩn “có thể kết nối tới một máy xử lý dữ liệu tự động hoặc một 
mạng” được mô tả trong chú giải phân nhóm dưới đây. 
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Theo các điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải tổng 

quát thuộc phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của máy 
móc thuộc nhóm này. 
Ví dụ, nhóm sẽ bao gồm các máy (có hoặc không được hiện diện riêng 
rẽ) để dùng phụ trợ cho việc in ấn được thiết kế chuyên dùng để vận 
hành với máy in và được sử dụng trong suốt quá trình in hoặc sau quá 
trình in để cấp giấy, sắp xếphoặccác bước sau liên quan tới các tờ giấy 
hoặc cuộn giấy. Những máy này thường tách rời khỏi máy in, bao gồm: 
(1) Khay nâng giấy hoặc nâng chồng giấy và  khay hoặc ngăn kéo 
giấy, giữ các tờ giấy trắng sẵn sàng để in. 
(2) Bộ phận cấp giấy tự động, được sử dụng cho in từng tờ. Chức năng của 
máy này là cấp giấy từng tờ một vào máy, ở chính giữa một cách tuyệt đối. 
(3) Cơ cấu phân phối tờ giấy, thiết kế tương tự như bộ phận cấp giấy, 
nhưng thực hiện quy trình ngược lại (tức là chúng chia và xếp chồng 
các tờ giấy đã được in) 
(4) Bộ phận phân loại, sắp xếp và kiểm tra thứ tự của các tờ giấy in 
trong những tài liệu nhiều trang. 
(5) Bộ phận gấp giấy, dán giấy, đục lỗ giấy và ghim giấy. Những vật, 
bộ phận này thường được sử dụng tại đầu phân bổ của máy in, để gấp 
và ghim hoặc khâu những trang đã được in (của báo, thư mụchoặccác 
ấn bản định kỳ,v..v..). 
Tuy nhiên, nếu chúng không được thiết kế chuyên dùng để sử dụng 
kết nối với máy in, chúng sẽ bị loại trừ khỏi nhóm này (khi đó sẽ 
thuộc nhóm 84.40 hoặc 84.41 tùy trường hợp cụ thể). 
(6) Máy đánh số thứ tự, máy phụ nhỏ hoạt động bằng việc quay, lăn lần 
lượt các con số. 
(7) Máy mạ đồng dùng trong công nghiệp in. Bột kim loại lắng đọng 
trên các tờ giấy khi chúng nổi lên từ máy in, khi trong máy in, chúng 
đã được in cẩn màu. 
Nhóm này cũng bao gồm trống và đĩa dùng trong máy photocopy tĩnh 
điện, thanh lăn dẫn và các “miếng” được viền, tẩm dầu. 

Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Tấm phủ ống in và các vật phủ bằng vải dệt, vải dệt cao su hóa, nỉ, 
cao su, ... (được phân loại theo vật liệu cấu thành). 
(b) Máy dán nhãn chai, đồ hộp, hộp, túi hoặc các vật chứa đựng khác, và 
các máy bao gói (nhóm 84.22) 
(c) Máy với một thiết bị in phụ trợ, ví dụ, các máy rót đóng bao hoặc 
máy đóng gói (nhóm 84.22); các máy dùng để làm giấy hoặc bìa 
giấy (nhóm 84.41). Nếu được hiện diện riêng, thiết bị in này vẫn 
được phân loại trong nhóm này với điều kiện nó in bằng một trong 
các quá trình của các máy thuộc nhóm này. 
(d) Máy phun chống nhòe (nhóm 84.24). 
(e) Máy nhân bản in keo hoặc máy nhân bản sử dụng giấy sáp, máy ghi 
địa chỉ (nhóm 84.72) 
(f) Máy tạo ra hình mẫu, ảnh mẫu (nhóm 84.86) 
(g) Máy chụp ảnh dùng để ghi các dữ liệu trên film nhỏ, thẻ nhỏ hoặc 
các vật dạng nhỏ khác (nhóm 90.06) 
(h) Khung in ảnh thông thường (nhóm 90.10) 
(ij) Dụng cụ vẽ thuộc nhóm 90.17 
(k) Máy dập nổi nhãn, vận hành bằng tay thuộc nhóm 96.11. 
Chú giải phân nhóm. 
Các phân nhóm 8443.11, 8443.12 và 8443.13 
Những phân nhóm này bao gồm máy in, trong đó việc in được thực hiện 
bằng một khuôn in, trên khuôn in đó mẫu vẽ được tái tạo trên bề mặt 

bằng phẳng, nói cách khác, không phải khắc chìm mà cũng không phải 
khắc nổi (quy trình in offset). Cấu hình của hình ảnh được in cơ bản dựa 
trên nguyên lý lực đẩy lẫn nhau giữa nước và chất béo. Việc in, luôn 
luôn được thực hiện trên một máy xoay, không thể đạt được bằng cách 
tiếp xúc trực tiếp phương tiện in trên vật liệu được in, mà qua việc 
truyền trung gian lên trên một trục cao su được gọi là tấm phủ, tấm phủ 
này lại truyền hình ảnh lên trên chất liệu được in. Máy móc thuộc các 
phân nhóm này được đặc trưng bởi sự xuất hiện của tấm phủ và một thiết 
bị được sử dụng để làm ẩm liên tục các bộ phận không in của đĩa in mà 
được cố định vào một trục lăn kim loại. Máy in offset có thể được dùng 
với cuộn hoặc tờ giấy. 
Các phân nhóm 8443.14 và 8443.15 
In letterpress là một quá trình mà nhờ đó mực được truyền dưới áp lực 
tới bề mặt in từ các bộ phận nhô lên của mẫu in. Mẫu in bao gồm các ký 
tự, các dòng hoặc các khuôn mang hình ảnh rời, tất cả đều có cùng  
độ cao. 
Tuy nhiên, những phân nhóm này không bao gồm máy in flexo. 
Phân nhóm 8443.16 
In flexo là một quá trình sử dụng nguyên lý in nổi cho các công việc đơn 
giản (in bao gói, mẫu mã, tờ rơi,...), và trong thao tác này khuôn in bằng 
cao su hoặc vật liệu nhiệt dẻo được gắn trực tiếp với ống in. Những máy 
này đơn giản hơn và nhẹ hơn những máy in ép khác; chúng in các cuộn 
giấy liên tiếp bằng một hoặc nhiều màu, sử dụng mực gốc cồn hoặc chất 
lỏng bay hơi khác. 
Phân nhóm 8443.17 
Trong in ống đồng, mực tích tụ theo lượng khác nhau trong các phần 
được chạm hoặc được khắc của khuôn in được truyền bằng áp lực lên 
trên bề mặt được in. Hình thức in này có nguồn gốc từ các đường được 
chạm hoặc khắc, nơi mà vật chạm hoặc axit được sử dụng để khắc các 
đường có độ sâu khác nhau trong một khuôn in đồng thau được đánh 

bóng. Bề mặt của khuôn này vẫn chưa được tô mực, mực trong các 
đường với số lượng đủ để in. 
Nguyên lý in ống đồng tương tự như nguyên lý chạm và khắc. Một ống 
in xoay được sử dụng để thay thế khuôn in. Hình ảnh hoặc ký hiệu được 
truyền lên trên tấm hình trụ được mạ đồng bằng phương pháp cơ khí 
hoặc quang hoá. 
Phân nhóm 8443.31 và 8443.32 
Tiêu chí “có thể kết nối tới một máy xử lý dữ liệu tự động hoặc vào 
mạng” chỉ rõ rằng thiết bị bao gồm tất cả các thành phần cần thiết cho 
việc kết nối tới mạng hoặc một máy xử lý dữ liệu tự động được thực 
hiện một cách đơn giản bằng việc nối, cắm 1 dây cáp. Khả năng để chấp 
nhận thêm một thành phần (ví dụ như “thẻ”) mà thành phần này cho 
phép kết nối với dây cáp là không đủ điều kiện để xếp vào phân nhóm 
này. Ngược lại, những thành phần mà dây cáp có thể được kết nối được 
nhưng không truy cập được hoặc không thể tạo kết nối ngay (ví dụ như 
trước hết bộ chuyển đổi phải được cài đặt) thì không đủ điều kiện để loại 
trừ mặt hàng ra khỏi phân nhóm này. 
84.44 - Máy ép đùn, kéo chuỗi, tạo dún hoặc máy cắt vật liệu dệt 
nhân tạo. 
Nhóm này bao gồm các máy dùng để sản xuất  sợi nhân tạo, kể cả các 
máy dùng để cắt sợi. 
Những máy này bao gồm: 
(1) Máy dùng để ép đùn sợi nhân tạo dưới hình thức sợi đơn hoặc sợi 
đa. Những máy này trong thực tế, được tạo thành bởi một dãy các bộ 
kéo sợi y hệt nhau được đặt cạnh nhau. Mỗi bộ chủ yếu bao gồm một 
bơm đo và một bộ lọc, cấp (nguyên liệu) cho ống định hình hoặc vòi 
kéo sợi. Tuỳ vào quy trình được dùng, một hoặc nhiều sợi rời miệng 
vòi hoặc qua một bể chứa tác nhân hóa học kết đông (ví dụ, quy trình 
sản xuất tơ viscose), hoặc qua một khoang kín hơi có hệ  thống phun 
nước (ví dụ, quy trình amoniac - đồng) hoặc một luồng khí nóng (ví 

dụ, quy trình acetat hóa xenlulo), hoặc qua một khoang làm mát. Các 
miệng vòi có thể một hoặc rất nhiều lỗ (đôi khi hàng nghìn lỗ) tùy 
theo mục đích để sản xuất sợi đơn, hoặc sợi đa hoặc tô dùng để cắt 
thành xơ staple. Trong một số máy các xơ nổi lên từ miệng vòi được 
đưa lại gần nhau và được kết hợp với nhau bằng cách xoắn nhẹ được 
thực hiện bằng một thiết bị chuyên dụng, tạo thành một sợi dệt. 
Trong những máy khác, các xơ rời các bộ kéo sợi khác nhau được kết 
hợp thành một dây lớn (tô), đôi khi gồm hàng trăm nghìn xơ, dùng để 
cắt thành xơ staple sau đó. 
(2) Máy kéo chuỗi, máy này kéo dài các sợi gấp ba hoặc bốn lần độ dài 
ban đầu của chúng, là quy trình định hướng các phân tử theo hướng 
của các sợi, do đó tăng đáng kể độ bền của nó. 
(3) Máy dùng để tạo dún sợi dệt tổng hợp. Hầu hết các quy trình tạo 
dún sợi (phương pháp không liên tục truyền thống; xoắn nhân tạo, 
gấp mép, tạo nếp, vòi khí nóng hoặc vòi hơi, dệt -không dệt) điều 
chỉnh các tính năng vật lý của sợi dệt để sản xuất sợi gấp nếp, sợi 
"xốp" dẻo,.v.v.. 
(4) Máy cắt xơ staple dùng để cắt tô thành các đoạn ngắn 
(5) Máy chuyển tô thành cúi ("tow-to-top"). Những máy này cũng cắt 
tô thành xơ staple, nhưng chúng không làm rối sự sắp xếp song song 
của xơ trong tô. Cho nên, những máy này sản xuất cúi, sẵn sàng để 
kéo sợi (không cần chải thô cũng như chải kỹ), không phải là một 
khối không chặt các sợi như các máy cắt của đoạn (4). Đôi khi chúng 
kết hợp một máy kéo sợi và do vậy được gọi là máy "chuyển tô thành 
sợi" (xem Chú giải nhóm 84.45). 
(6) Máy cắt đứt sợi dùng để cắt sợi xơ. Phần lớn (nhưng không phải 
tất cả) các sợi này bị đứt tại các khoảng cách sao cho, mặc dù một vài 
sợi vẫn còn liên tục nhưng sợi dệt có được từ xơ này có các đặc điểm 
của một sợi chuẩn. 

CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ TÙNG 
Theo những điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải 
tổng quát của phần XVI), các bộ phận và phụ kiện của các máy thuộc 
nhóm này được phân loại ở nhóm 84.48. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Máy dùng để chuẩn bị các vật liệu thô cho việc kéo đùn sau đó thành 
sợi dệt nhân tạo (thường thuộc nhóm 84.19 hoặc 84.77). 
(b) Máy kéo sợi và thiết bị chải sợi thuộc nhóm 84.45. 
(c) Máy dùng để kéo sợi thủy tinh liên tục hoặc không liên tục (nhóm 
84.45 - Máy chuẩn bị xơ sợi dệt; máy kéo sợi, máy đậu sợi hoặc máy 
xe sợi và các loại máy khác dùng cho sản xuất sợi dệt; máy guồng 
hoặc máy đánh ống sợi dệt (kể cả máy đánh suốt sợi ngang) và 
các loại máy chuẩn bị sợi dệt dùng cho máy thuộc nhóm 84.46 
hoặc 84.47. 
                   - Máy chuẩn bị xơ sợi dệt:: 
     8445.11 - - Máy chải thô 
     8445.12 - - Máy chải kỹ 
     8445.13 - - Máy ghép cúi hoặc máy sợi thô 
     8445.19 - - Loại khác 
     8445.20 - Máy kéo sợi  
     8445.30 - Máy đậu hoặc máy xe sợi 
8445.40 - Máy đánh ống (kể cả máy đánh suốt sợi ngang) hoặc máy 
guồng sợi 
     8445.90 - Loại khác 

Theo những loại trừ được nêu dưới đây, nhóm này bao gồm các máy 
được sử dụng trong công nghiệp dệt đối với các quy trình sau: 
(I) Việc chuẩn bị hoặc xử lý sơ bộ các sợi dệt để làm cho chúng phù hợp 
với: 
            (i)  Việc kéo thành sợi dệt, sợi tết,... 
hoặc (ii)  Chế biến thành lót bông, nỉ, vật liệu nhồi, ... 
(II) Gia công các loại sợi khác nhau thành sợi dệt bằng cách kéo, xoắn, 
đậu, giăng,.. (kể cả chế biến sợi giấy từ các dải giấy) nhưng loại trừ 
các quy trình làm sợi lớn chuyên dùng (nhóm 84.79). 
(III) Cuộn cúi hoặc sợi thô, sợi, sợi đôi...  ,và chuẩn bị sợi dệt để sử dụng 
trên các máy thuộc nhóm 84.46 hoặc 84.47. 
(A) MÁY CHUẨN BỊ XƠ SỢI TỰ NHIÊN HOẶC SỢI NHÂN TẠO 
NGẮN TỚI GIAI ĐOẠN KÉO SỢI, VÀ CÁC MÁY TƯƠNG TỰ  
CHUẨN BỊ  SỢI DÙNG ĐỂ NHỒI HOẶC LÀM NỈ HOẶC  
LÓT BÔNG 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy phân loại bằng cách thổi, dùng để lựa chọn lông động vật theo 
độ dài. Những máy này bao gồm một hộp dài được phân chia qua 
chiều rộng của nó theo đó lông được thổi vào nhờ một luồng gió. 
Lông được xếp vào các khoang khác nhau theo kích cỡ của chúng. 
(2) Máy dùng để tách sợi cotton từ các hạt, vỏ hạt và các tạp chất 
khác (ví dụ, máy tỉa hột bông) và các máy tương tự dùng để tách 
xơ bông ra khỏi hạt. 
(3) Máy đập lanh hoặc máy tương tự dùng để tách sợi ra khỏi thân cây 
(cây lanh, cây gai dầu,.v.v..) sau khi ngâm. 
(4) Máy dùng để xé quần áo rách, dây thừng cũ hoặc vải vụn tương 
tự để biến chúng thành dạng sợi phù hợp cho việc chải thô (ví dụ, 
máy biến vải vụn thành dạng sợi để có thể tái sử dụng và máy thu 
lượm vải vụn), nhưng loại trừ máy cắt vải vụn được sử dụng trong 

chế biến giấy (nhóm 84.39). 
(5) Máy mở kiện bông, được sử dụng để mở các khối từ kiện bông  
được nén. 
(6) Máy cung cấp nguyên liệu tự động, được gắn với một thiết bị trải 
để đảm bảo nguồn cấp đều cho máy mở. 
(7) Máy đập và máy trải dùng để làm sạch và mở cuộn sợi bông; máy 
chuẩn bị cho mở len. 
(8) Máy chà sạch len bằng các cơ cấu cơ khí để cấp và bơm len vào 
nước nóng; và máy giặt len thô (ví dụ, Levithans) được trang bị cơ 
cấu khuấy và đôi khi các phương tiện dùng để làm khô. 
(9) Máy nhuộm nguyên liệu thô dùng để nhuộm sợi len chưa được xe 
trong đống len. 
(10) Máy ngâm tẩm len, sợi gai, v.v.. bằng dầu hoặc các sản phẩm 
hóa chất để tạo thuận lợi cho chải thô và chải kỹ. 
(11) Máy than hóa len, được trang bị một thùng axit, lắp đặt để loại bỏ 
chất lỏng thừa, để làm khô và loại bỏ các bụi than hóa. 
(12) Máy chải thô bông, len, sợi nhân tạo ngắn, sợi vỏ (lanh, gai 
dầu,.v.v..) các loại. Những máy này tiếp tục việc làm sạch, đã được 
bắt đầu bằng máy mở và máy đập, chia tách và làm thẳng sợi. Về 
nguyên tắc chúng bao gồm các con lăn lớn được bao phủ bằng dây 
thép có răng cưa hoặc bằng vải được gắn răng kim loại (bộ chải); 
những con lăn lớn này quay ngược với các tấm được gắn cố định 
hoặc trên các con lăn khác, các tấm và các con lăn này cũng được bao 
phủ bằng bộ chải. Một thiết bị làm sạch giữ cho các răng này không 
bị kẹt do sợi, và trong các máy chải thô len có một thiết bị để loại trừ 
gai. Các máy chải khác nhau được sử dụng ở các giai đoạn khác nhau 
cho các vật liệu khác nhau (ví dụ, bàn chải xé, bàn chải ở giai đoạn 
trung gian, bàn chải ở giai đoạn kết thúc, bàn chải tụ). Các sợi rời 
máy chải dưới dạng một cuộn hoặc vòng rộng, hoặc có thể được kết 

tụ lại thành cúi, và sau đó được cuộn trên các cuộn hoặc các ống suốt 
hoặc được cuộn thành các thùng lớn quay. 
Nhóm này cũng bao gồm máy chải thô để chuẩn bị sợi làm nỉ hoặc sử 
dụng làm bông lót hoặc nhồi; những máy này thường là loại đơn giản 
hơn bao gồm một đoạn hình trụ được bao phủ bởi bộ chải, bộ chải 
này dao động trên một bàn phẳng có bộ chải trên mặt. 
(13) Hộp kéo sợi, chải sợi, v.v..  Những hộp này kéo cúi ra thành tiết 
diện nhỏ hơn, kết hợp và kéo lại chúng để tạo ra một sản phẩm đều 
đặn, những máy này được sử dụng sau khi chải thô và trong trường 
hợp chải len; đôi khi còn sau khi chải kỹ. 
(14) Máy chải kỹ. Chức năng chính của máy này là chải ra các sợi ngắn; 
cúi được giữ giữa các kẹp trong khi vẫn bị tác động bởi hoạt động 
của máy chải kỹ hoặc kim. Những máy chải kỹ này được sử dụng ở 
các giai đoạn sản xuất khác nhau; để xử lý vật liệu trong trạng thái 
thô (ví dụ, lanh cắt), hoặc sau khi chải thô hoặc kéo. Các loại phổ 
biến nhất là máy chải kỹ dùng cho sợi lanh, sợi gai dầu hoặc các sợi 
tương tự, máy chải kỹ từng hồi (loại Pháp hoặc loại thẳng) dùng cho 
bông, và máy chải kỹ tròn dùng cho len. 
(15) Máy chải sợi lanh, sợi đay, v.v.. Những máy này kết hợp các bó 
sợi lanh hoặc các sợi khác, và kéo chúng ra thành một cúi liên tục. 
(16) Máy giặt đảo chiều dùng để loại bỏ dầu và tạp chất khác ra khỏi 
len sau khi chải thô hoặc chải kỹ. Những máy này bao gồm một loạt 
các thùng đựng nước xà phòng ấm, có trang bị các trục lăn dẫn hướng 
và con lăn ép, trục lăn sấy khô và chải sợi để mở len lại. 
(17) Máy kéo sợi hoặc kết hợp sợi dùng để kéo cuối cùng và xoắn nhẹ 
các cúi hoặc sợi thô để chúng sẵn sàng cho kéo sợi. 
(18) Máy cuộn. Những máy này bao gồm một bàn quay được thiết kế để 
làm quay một cái thùng, trong thùng này các cúi hoặc sợi thô được 
tập hợp lại khi chúng ra khỏi các máy khác; chúng thường có một 

thiết bị cuộn ở trên đỉnh. 
(B) MÁY CHUẨN BỊ TƠ TRƯỚC KHI XE (TƠ) 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy dùng để loại bỏ các phần bên ngoài của kén tằm, và máy 
dùng để loại bỏ các sợi bên ngoài mà không thể cuộn được bằng 
cách đập kén tằm. 
(2) Chậu dùng để tháo các sợi tơ ra khỏi kén tằm bằng tay, được 
trang bị với một thiết bị dùng để gắn và xoắn nhẹ cùng với một vài 
sợi và đôi khi với cuộn mà tơ thô được cuộn trên đó; cuộn này đôi khi 
tách rời khỏi chậu nhưng với điều kiện cuộn và chậu này được hiện 
diện cùng với toàn bộ bộ phận vẫn được phân loại ở đây. 
(3) Máy dùng để loại bỏ các cục, các phần dầy hơn, v.v.. ra khỏi sợi tơ thô. 
(C) MÁY KÉO SỢI DÙNG ĐỂ CHẾ BIẾN CÁC SỢI THÔ THÀNH 
SỢI DỆT; MÁY XE SỢI VÀ MÁY ĐẬU ĐỂ TẠO THÀNH CÁC 
SỢI DỆT PHỨC HỢP HOẶC SỢI CÁP 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Khung kéo sợi, khung này chế biến các sợi thô thành sợi dệt bằng 
việc kéo và xoắn. Đặc điểm chủ yếu của một khung xe là cơ chế xe 
(nồi và khuyên,.v.v..) được kết hợp với một con suốt quay nghiêng 
hoặc thẳng đứng; một khung xe hoàn chỉnh bao gồm một số các yếu 
tố này được lắp đặt bên cạnh nhau. Nhóm này bao gồm máy xe sợi 
lanh, sợi gai dầu, sợi đay,.v.v.., khung xe sợi từng hồi (máy xe sợi mà 
kết hợp rút, kéo dài và xoắn sợi đồng thời,.v.v..) và khung xe sợi liên 
tục (con thoi, vòng xe,.v.v..). Nó cũng bao gồm các guồng xe sợi 
bằng tay. 
(2) Máy chế biến "tô thành sợi". Những máy này hoàn thành toàn bộ 

quá trình làm đứt các tơ của tô, kéo dài ra thành một sợi thô và kéo 
thành sợi dệt. 
(3) Máy xe hoặc đậu sợi dùng để xoắn bổ sung một đầu các sợi dệt, 
hoặc dùng để xoắn hai hoặc nhiều sợi với nhau để tạo thành một sợi 
phức hoặc sợi cáp hoặc để tạo thành dây bện; tuy nhiên, loại trừ các 
máy chuyên dùng để làm dây thừng (nhóm 84.79). Một số máy thuộc 
nhóm này có thể bao gồm các thiết bị dùng để chế biến sợi cầu kỳ (ví 
dụ, sợi thắt vòng). 
Nhóm này cũng bao gồm máy xe sợi để xoắn các sợi tơ hoặc sợi 
nhân tạo liên tiếp vào với nhau. 
(4) Máy dùng để thắt nút các đầu sợi lông đuôi ngựa với nhau. 
(D) MÁY GUỒNG HOẶC CUỘN SỢI 
Những máy này được sử dụng để đưa các sợi dệt (hoặc sợi thô), đơn 
hoặc bện, lên trên các cuộn, ống, cuộn hình nón, hình bánh, cuộn trên 
tấm bìa, v.v.. hoặc trong các cuộn, nùi len hoặc cuộn chỉ, v.v.. cho mục 
đích sản xuất hoặc kinh doanh hoặc bán lẻ. Việc phân loại máy dệt sợi 
dọc, xem phần (E) dưới đây. Máy dùng để cuộn dây thừng và dây cáp 
được phân vào nhóm 84.79. 
Nhóm này cũng bao gồm máy móc dùng để khắc phục và cuộn lại sợi từ 
những hàng hóa đan móc hoặc dệt bị lỗi. Nhóm này cũng bao gồm máy 
cuộn sợi ngang được thiết kế chuyên dùng để cuộn sợi ngang lên trên 
các cuộn chuẩn bị để dệt. 
(E) MÁY CHUẨN BỊ SƠ SỢI DỆT DÙNG CHO MÁY THUỘC 
NHÓM 84.46 HOẶC 84.47 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy mắc sợi dọc dùng để chuẩn bị một loạt các sợi song song, cùng 
một độ căng, và đúng trật tự (về màu sắc và loại sợi) dùng để dệt. 
Toàn bộ số sợi ngang cần thiết có thể được chuẩn bị toàn bộ, hoặc 

chúng có thể được chuẩn bị từng phần (dệt từng phần); chúng có thể 
được cuộn trực tiếp trên thanh cuộn sợi dọc để sử dụng trên máy dệt, 
hoặc tạm thời được cuộn trên con lăn của máy cuộn hoặc trên các giá 
đỡ khác (ví dụ, ống sợi). 
Máy này bao gồm một khung dùng để giữ nhiều ống sợi, một loạt các 
bộ phận chải và ống chỉ dẫn hướng và một cơ cấu cuộn hình trống 
chính; các bộ phận khác nhau của máy này thường tách rời hoàn toàn, 
nhưng khi được hiện diện cùng nhau chúng vẫn được phân loại ở đây. 
(2) Máyhồ sợi dọc. Trong những máy này các sợi dọc, hoặc từng phần 
hoặc như một tấm sợi song song, được bao phủ tạm thời để ngăn sợi 
không bị xước trên máy dệt và để làm cho sợi mịn hơn, và như vậy 
tạo điều kiện cho việc dệt. Những máy này nhìn chung bao gồm một 
bồn đựng hồ, một hệ thống các con lăn dẫn hướng, một trục làm nóng 
hoặc thiết bị sấy khô bằng không khí nóng và một thiết bị cuộn, và 
đôi khi một thiết bị dùng để cắt đánh dấu (ví dụ, dùng những dấu 
nhuộm tại các thời điểm ngừng trên các sợi dệt đường biên vải). 
Nhóm này không bao gồm các máy hồ bột cỡ khác, ví dụ, dùng để 
hồ bột sợi khác (kể cả sợi ngang) trong các nùi chỉ hoặc như các sợi 
rời (nhóm 84.51). 
(3) Máy rút và máy cuộn dùng để rút các sợi dọc qua các thiết bị giữ 
sợi song song của máy dệt, và qua các thanh cuộn hoặc bàn chải kỹ. 
(4) Máy nối hoặc xoắn sợi dọc dùng để kết hợp các sợi chỉ của một sợi 
dọc mới với những phần còn lại từ sợi dọc cũ. 
Nhóm này không bao gồm máy nối sợi dọc được sử dụng để nối các 
sợi chỉ dọc bị đứt trong khi dệt (nhóm 84.48). 
(5) Máy để gắn các sợi dọc trên trục cuốn chỉ từ những cái trống. 
(6) Máy dùng để xoắn và cung cấp các sợi liên tục trong quá trình 

dệt. 
(7) Máy xâu sợi dùng cho việc thêu thùa. 
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Theo các điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải tổng 
quát của phần XVI), các bộ phận và phụ tùng của máy móc thuộc nhóm 
này được phân loại ở nhóm 84.48. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Máy xử lý kén tằm bằng nhiệt để giết con tằm (nhóm 84.19). 
(b) Máy dùng sấy khô vật liệu dệt (nhóm 84.19 hoặc 84.51, tùy từng 
trường hợp). 
(c) Máy chiết xuất nước bằng ly tâm (nhóm 84.21). 
(d) Máy móc thuộc nhóm 84.44. 
(e) Máy móc dùng để sản xuất hoặc hoàn thiện nỉ hoặc các sản phẩm 
không dệt (nhóm 84.49). 
(f) Máy đánh bóng, làm láng, máy đốt lông hoặc các máy hoàn thiện 
khác và máy cuộn vải (nhóm 84.51). 
(g) Máy cắt lông dùng để cắt lông động vật ra khỏi da (nhóm 84.53). 
(h) Máy mài răng và máy mài răng bàn chải kỹ (nhóm 84.60). 
(ij) Máy dùng để lắp răng trong bộ chải vải (nhóm 84.63). 
(k) Máy dùng để gắn bộ chải lên trên trục chải, v.v.. (nhóm 84.79). 
84.46 - Máy dệt. 

      8446.10 - Cho vải dệt có khổ rộng không quá 30cm 
                    - Cho vải dệt có khổ rộng trên 30 cm, loại dệt thoi: 
      8446.21 - - Máy dệt khung cửi có động cơ 
      8446.29 - - Loại khác 
      8446.30 - Cho vải dệt có khổ rộng trên 30 cm, loại dệt không thoi 
Nhóm này bao gồm máy dệt vải dùng để sản xuất vải bằng cách dệt, sử 
dụng các sợi dệt (kể cả sợi xơ thực vật) hoặc các sợi khác (ví dụ, sợi kim 
loại, sợi thủy tinh hoặc sợi amiăng). 
Trong những máy này sợi dọc và sợi ngang được kết lại với nhau ở các 
góc phải để tạo thành một mảnh vải. 
Trong những máy dệt đơn giản nhất, các tấm sợi dọc từ các đòn cân sợi 
dọc phân thành hai nhóm sợi thay đổi, mỗi nhóm sợi được điều khiển 
bởi một thiết bị giữ sợi song song: những thiết bị giữ sợi này thay nhau 
nâng và hạ sợi dọc để tạo thành một góc (được biết đến như là miệng 
vải) giữa hai nhóm sợi mà qua góc này sợi ngang đi qua (trong các máy 
dệt thoi thông thường), sợi ngang này ngay lập tức được đánh vắt qua 
sợi ngang trước đó bằng go; sau đó việc nâng hoặc hạ các nhóm sợi dọc 
được đảo ngược bằng thiết bị làm thay đổi các sợi dọc song song, đón 
các sợi ngang và tạo thành một miệng vải mới của dòng sợi ngang 
tiếp đó. Trên các máy dệt thoi thông thường, dùng đến tám thiết bị 
làm thay đổi các sợi dọc song song để sắp xếp trật tự mà trong đó các 
sợi dọc được nâng lên và do vậy tạo ra một sự khác nhau nhất định 
trong kiểu dệt. 
Các máy dệt thoi phức tạp hơn có thể thực hiện được những kiểu dệt 
phức tạp hơn. Ví dụ, một số máy dệt thoi có một hệ thống chuyên dùng 
điều khiển việc nâng sợi dọc (dobbies, Jacquards,.v.v..) để điều khiển 
một số lớn hơn các nhóm sợi dọc hoặc thậm chí các sợi dọc đơn, hoặc 
các thiết bị chuyên dụng có thể được sử dụng để sản xuất các loại vải 
đặc biệt (cơ cấu leno, cơ cấu tạo nhung (hoặc Terry), các bộ phận con 
pile (or Terry) attachments, swivel shuttle attachments for broché work).  

thoi quay dùng cho việc móc). Các máy dệt thoi khác có các thiết bị 
dùng để thay đổi con thoi (hoặc các cuộn trong các con thoi), do vậy tạo 
ra các sợi ngang có màu sắc khác nhau hoặc các sợi dệt khác nhau. Các 
máy dệt con thoi thường bao gồm các thiết bị điện hoặc cơ khí khác (ví 
dụ, dùng để làm đầy cuộn trong các con thoi khi cần thiết, hoặc ngừng 
máy dệt thoi nếu một sợi dọc hoặc một sợi ngang đứt). 
Hầu hết các thiết bị đặc biệt này có thể hoặc tạo thành một bộ phận hợp 
nhất của máy dệt con thoi, hoặc được gắn trên một máy dệt thoi thông 
thường như các phụ tùng phụ trợ có thể tháo rời, loại phụ tùng sau được 
phân loại ở nhóm này với điều kiện nó được hiện diện cùng với máy dệt 
con thoi mà nó phụ trợ, nhưng phụ tùng này bị loại trừ nếu nó được 
hiện diện riêng rẽ (nhìn chung thuộc nhóm 84.48). 
Các máy dệt con thoi thường sản xuất ra vải phẳng nhưng có máy dệt 
con thoi vòng tròn sản xuất ra vải có hình ống; trong những máy dệt này 
một hoặc nhiều con thoi, được chuyển động hoặc bằng cơ khí hoặc bằng 
điện từ, kết nối một sợi ngang với một loạt các sợi dọc thẳng đứng được 
sắp xếp trong một vòng tròn. 
Các loại máy dệt thoi khác nhau có thể được gọi tên theo loại máy hoặc 
theo loại vải mà chúng sản xuất, ví dụ, máy dệt dobby, máy dệt 
Jacquard, máy dệt có bộ chuyển động hộp tự động, máy dệt không thoi 
trong đó sợi ngang được chèn hoặc bằng khí nén hoặc bằng tia nước 
hoặc bằng một kim dài, hoặc được rút qua từ một cuộn được gắn cố định 
bằng một loạt đầu nhọn, máy dệt ruy băng (ví dụ, máy dệt thanh ngang, 
máy dệt Zurich và máy dệt khoang), máy dệt vải nhung, máy dệt thảm 
kể cả máy dệt thảm nhung. 
Nhóm này cũng bao gồm: 
(1) Khung cửi dệt tay. 
(2) Máy dệt dùng để dệt vải lưới kim loại hoặc sợi được kim loại hóa với 
điều kiện chúng cùng loại với máy dệt vải. Những máy dệt như vậy 
phải có tất cả các đặc điểm của các bộ phận máy móc cần thiết của 
máy dệt vải, tức là, một trục sợi dọc,  khung go để tạo thành miệng 

vải, cơ cấu mà chuyển sợi kim loại ngang đi qua khoang miệng vải ở 
góc phải và giữ lại trong các sợi dọc và một ống vải dùng để cuộn vải 
khi nó đã được tạo thành. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm máy móc được thiết kế dùng để 
kết hợp dây kim loại, bằng các quá trình khác nhau, để tạo thành lưới 
kim loại nặng (xem Chú giải chi tiết nhóm 84.63). 
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Theo các điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải tổng 
quát của phần XVI), các bộ phận và phụ kiện của máy dệt thuộc nhóm 
này được phân loại trong nhóm 84.48. 
84.47 - Máy dệt kim, máy khâu đính và máy tạo sợi quấn, sản xuất 
vải tuyn, ren, thêu, trang trí, dây tết hoặc lưới và máy tạo búi. 
                    - Máy dệt kim tròn: 
      8447.11 - - Có đường kính trục cuốn không quá 165mm 
      8447.12 - - Có đường kính trục cuốn trên 165mm 
      8447.20 - Máy dệt kim phẳng; máy khâu đính 
      8447.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm tất cả máy dùng để sản xuất vải hoặc những dải vải 
bằng dệt kim, khâu đính, viền, mạng, tết, v.v.. hoặc máy dùng để thêu 
trên bất cứ một nền nào, hoặc sử dụng sợi chưa được xe, hoặc sử dụng 
sợi dệt (kể cả sợi peat), hoặc sử dụng sợi khác (ví dụ, sợi kim loại, sợi 
thủy tinh hoặc sợi amiăng) hoặc dây kim loại. 
(A) MÁY DỆT KIM 
Những máy dệt kim này bao gồm hai nhóm chính: 
(1) Máy dệt kim tròn dùng để sản xuất vải hình ống thẳng hoặc các 
miếng hình ống (bít tất dài, bít tất ngắn, ống tay áo của hàng may mặc, 

mũ nồi, mũ đuôi seo hoặc mũ lưỡi trai được dệt kim tương tự,.v.v..) 
bằng cách bố trí kích cỡ của mũi khâu khác nhau trong các hàng. 
(2) Máy dệt kim phẳng dùng để sản xuất vải dẹt với độ rộng phẳng 
hoặc bằng cách tăng hoặc giảm số mũi khâu trong các hàng, những 
mảnh vải dẹt nhưng có hình khối được sản xuất sau đó bằng cách khâu 
(ví dụ, thành bít tất dài hoặc bít tất ngắn). Máy dệt kim phẳng bao gồm 
máy dệt kim thông thường (ví dụ, khung dệt chất cotton) và máy dệt 
kim sợi dọc (máy dệt thoi Rasechel, milanese, locknit, v.v..). Những 
máy này bao gồm một loạt từ máy rất đơn giản tới máy lớn với nhiều 
hàng kim, trong một số trường hợp được trang bị cơ cấu Jacquard hoặc 
tương tự để sản xuất các mẫu thiết kế khác nhau. 
Nhóm này cũng bao gồm máy dệt kim gia dụng loại nhỏ, và máy được 
thiết kế để dệt kim chỉ những khâu cần thiết cho việc chữa bít tất dài. 
Máy dùng để nối hai mảnh vải dệt kim bằng cách khâu đơn giản các móc 
nút với nhau tạo thành các viền được dệt kim, được phân loại ở nhóm 
(B) MÁY KHÂU ĐÍNH 
Nhóm này bao gồm tất cả các loại máy khâu đính sản xuất ra vải bằng 
một quy trình khâu dây chuyền. Bao gồm các máy sau: 
(1) Máy kết hợp một cơ cấu kim để gắn các sợi "dọc" và các sợi "ngang" 
bằng cách khâu dây chuyền. 
(2) Máy dùng để chèn các móc nút của sợi ở vải nền trước khi được sản 
xuất trên một máy dệt thoi thông thường, và gắn chúng với vải nền 
bằng các mũi khâu. 
(3) Máy kết hợp dệt và khâu hoạt động bằng cách khâu các đường nối 
trong vải sợi lỏng đã được tạo ra bằng máy khác (ví dụ, máy chải sợi 
và máy chế biến sợi tái sử dụng) và do vậy tạo ra một tấm vật liệu dệt 
hợp nhất được sử dụng như là vật liệu lọc, lớp lót thảm, vật liệu cách 

(C) MÁY SẢN XUẤT MẠNG THẮT NÚT, TUYN, REN, DÂY TẾT, 
HOẶC TRANG TRÍ, ĐỐI VỚI SỢI VIỀN, ĐỒ THÊU, DÂY TẾT,... 
Những máy này gồm có: 
(1) Máy dùng để sản xuất lưới hoặc máy mạng dùng cho bất kỳ một 
mục đích nào, dạng từng miếng hoặc tạo dạng hàng hóa đã hoàn chỉnh 
(bộ lưới đánh cá). 
(2) Máy sản xuất tuyn thường. 
(3) Máy sản xuất tuyn hình thoi, ren, v.v..  
(4) Máy sản xuất tuyn bobinot, màn bobinot và ren máy bobinot, 
những máy mà sản xuất mạng phẳng hoặc màn lưới phẳng, cũng như 
ren máy (đã được dệt) từ sợi tơ dọc và ngang. Tuy nhiên, các sợi tơ 
dọc và ngang không được tết ở góc phải khi đang dệt, nhưng được 
bao quanh và được thắt lại, nhờ sự chuyển động qua lại của một con 
thoi, bằng một loạt các sợi tơ dọc (sợi cuộn) được sắp xếp trên các 
cuộn nhỏ. 
(5) Máy thêu, bao gồm máy thêu tay (máy thêu với các con thoi vẽ 
truyền), cái mà nhờ các kim khâu, thêu các mẫu khác nhau với một 
hoặc nhiều sợi chỉ trên một nền vải dệt hoặc nền vật liệu khác. Những 
máy này, trừ loại hoạt động bằng tay, có thể được trang bị cơ cấu 
Jacquard hoặc tương tự. Nhóm này cũng bao gồm máy rút sợi chỉ, 
máy mà rút và kết hợp các sợi chỉ còn lại thành sản phẩm thêu có lỗ 
trang trí. 
Nhóm này không bao gồm máy khâu mắt xích hoặc khâu viền (chủ 
yếu được sử dụng để viền các sản phẩm dệt, nhưng máy này cũng có 
thể thực hiện công việc thêu đơn giản), và cũng không bao gồm máy 
khâu mà có thể thực hiện công việc thêu đơn giản phụ trợ việc khâu 
thông thường (nhóm 84.52). 
(6) Máy viền. Những máy này cuốn một sợi theo hình xoắn trôn ốc khép 
kín quanh một lõi thông thường dầy hơn (ví dụ, bằng dây kim loại, 
chỉ cao su, sợi chưa được xe, hoặc bằng một hoặc nhiều sợi dệt thô). 

Những máy này cũng có thể được sử dụng để viền dây điện tinh xảo. 
(7) Máy sản xuất đồ trang trí khác nhau bằng cách tết, bằng những 
cách phức hợp khác nhau, các sợi dệt hoặc các sợi chưa được xe (đôi 
khi được viền) của vật liệu dệt khác nhau (máy dệt viền, máy dệt 
móc,.v.v..). 
Nhóm này cũng bao gồm máy tết một dây bọc ngoài các ống cao su, 
ống nhựa, v.v.. hoặc máy bện các sản phẩm tết hình ống từ dây, với 
điều kiện những máy này có đặc tính cơ khí cần thiết của các máy 
dệt được đề cập trong đoạn trước. 
(8) Máy bọc cúc, lõi tua chỉ, v.v.. bằng sợi dệt. 
(9) Máy tết, dùng để chèn các vòng hoặc các chùm của sợi dệt ở mặt sau 
của vải để tạo thành các tấm thảm, chiếu hoặc các sản phẩm nhẹ (trải 
giường, khăn tắm,.v.v..). 
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Theo các điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải tổng 
quát của phần XVI), các bộ phận và phụ tùng của máy dệt thuộc nhóm 
này được phân loại trong nhóm 84.48. 
84.48 - Máy phụ trợ dùng với các máy thuộc nhóm 84.44, 84.45, 
84.46 hoặc 84.47 (ví dụ, đầu tay kéo, đầu Jacquard, cơ cấu tự 
dừng, cơ cấu thay thoi); các bộ phận và phụ kiện phù hợp để chỉ 
dùng hoặc chủ yếu dùng cho các máy thuộc nhóm này hoặc của 
nhóm 84.44, 84.45, 84.46 hoặc 84.47 (ví dụ, cọc sợi và gàng, kim 
chải, lược chải kỹ, phễu đùn sợi, thoi, go và khung go, kim dệt). 
                   - Máy phụ trợ dùng cho các loại máy thuộc nhóm 84.44, 
84.45, 84.46 hoặc 84.47: 
      8448.11 - - Đầu tay kéo và đầu Jacquard; máy thu nhỏ bìa, máy sao 

bìa, máy đục lỗ hoặc các máy ghép bìa được sử dụng cho 
mục đích trên 
      8448.19 - - Loại khác 
      8448.20  -   Bộ phận và phụ kiện của máy thuộc nhóm 84.44 hoặc 
các máy phụ trợ của chúng 
                     -   Bộ phận và phụ kiện của máy thuộc nhóm 84.45 hoặc 
các máy phụ trợ của chúng: 
     8448.31 - - Kim chải 
     8448.32 - - Của máy chuẩn bị xơ sợi dệt, trừ kim chải 
     8448.33 - - Cọc sợi, gàng, nồi và khuyên 
     8448.39 - - Loại khác 
                   -  Bộ phận và phụ kiện của máy dệt (khung cửi), hoặc  máy 
phụ trợ của chúng: 
     8448.42 - - Lược dệt, go và khung go 
     8448.49 - - Loại khác 
                    -  Bộ phận và phụ kiện của máy thuộc nhóm 84.47 hoặc 
máy phụ trợ của chúng: 
     8448.51 - - Platin tạo vòng (sinker), kim dệt và các chi tiết tạo vòng 
khác 
     8448.59 - - Loại khác. 
Nhóm này bao gồm: 
(I) Tất cả máy móc và thiết bị phụ trợ thực hiện riêng rẽ hoặc đồng thời, 
một chức năng phụ trợ đối với các máy thuộc nhóm 84.44, 84.45, 
84.46 hoặc 84.47 (trong các máy xe sợi, máy dệt, máy dệt kim hoặc 
máy thêu). Những máy phụ trợ này hoặc có thể mở rộng các khả 
năng của các máy chính (như trường hợp cơ cấu dobbie và Jacquard), 
hoặc có thể thực hiện một cách cơ khí một công việc cụ thể cần thiết 
cho hoạt động phù hợp của máy chính (như trong trường hợp có bộ 
ngừng sợi dọc, bộ ngừng sợi ngang, máy thắt nút sợi dọc). 

(II) Các bộ phận của máy thuộc nhóm này và các bộ phận của máy thuộc 
các nhóm 84.44, 84.45, 84.46 hoặc 84.47 (xem Chú giải tổng quát 
của phần XVI). 
(III) Các phụ kiện khác nhau được sử dụng cùng với máy của nhóm 
84.44, 84.45, 84.46 hoặc 84.47 hoặc máy móc của nhóm này; nhìn 
chung, thuật ngữ "phụ kiện" đề cập đến các chi tiết được trang bị, 
không tạo thành một bộ phận cấu thành của máy, mà có thể được 
thay thế lẫn nhau và phải thường xuyên được thay thế (ví dụ, bởi vì 
chúng bị mòn nhanh, hoặc bởi vì các loại khác nhau cần thiết cho các 
loại công việc khác nhau). 
(A) MÁY PHỤ TRỢ 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy móc phụ trợ dùng với máy kéo sợi dệt, ví dụ, các thiết bị tự 
động có thể lấy ra các cuộn đã được cuộn đầy và thay thế chúng 
bằng các cuộn chưa cuốn, và các thiết bị di động sắp xếp các hàng 
của các cuộn chưa cuốn. 
(2) Giá đỡ hoặc khung đỡ trục sợi dọc. Những giá đỡ và khung đỡ này 
giữ các trục sợi dọc trong quá trình hồ sợi, hoặc trong quá trình 
cuộn của trục sợi dọc; trong trường hợp cụ thể, những khung và giá 
đỡ này giữ thanh guồng sợi dọc trong quá trình dệt. 
(3) Cơ cấu dobbie và Jacquard, được sử dụng lắp vào cho máy dệt thoi 
để sản xuất các sản phẩm dệt phức tạp hơn nó có thể thực hiện. 
Dobbie điều khiển việc nâng riêng rẽ một số lớn các khung go, và 
cơ cấu Jacquard nâng từng sợi dọc. Chúng hoạt động bằng một loạt 
chi tiết làm trễ với các trục vặn nhô ra, mà hình thành một dây 
chuyền, hoặc trong nhiều trường hợp (đặc biệt là trường hợp cơ cấu 
Jacquard), bằng một loạt thẻ đục lỗ phù hợp được buộc lỏng các 
mép lại với nhau để hình thành một dây chuyền liên tục. Những trục 
vặn hoặc kim khâu, mà một vài cái trong đó hoạt động theo các 
hàng lỗ răng cưa khác nhau của thẻ đục lỗ, tác động vào cơ cấu cơ 
khí nâng sợi dọc. Các cơ cấu tương tự (máy Verdol) được vận hành 
bằng các băng giấy đục lỗ liên tiếp. 

(4) Máy gắn trên Jacquard để giữ cho một số thẻ vẫn ở nguyên vị trí 
trong khi nhiều hơn một sợi ngang được chèn vào. Việc này làm 
giảm số thẻ cần thiết và làm tăng tốc độ dệt. 
(5) Máy buộc thẻ dùng để gắn các thẻ trong một dây chuyền lỏng sẵn 
sàng để sử dụng trên Jacquard. 
(6) Bộ phận ngưng sợi dọc và bộ phận ngưng sợi ngang. Những bộ 
phận này làm cho máy dệt dừng ngay khi một sợi dọc hoặc một sợi 
ngang bị đứt; cũng như cơ cấu điều khiển bô bin dung để cung cấp 
liên tục sợi ngang bằng cách làm đầy cuộn khi cần thiết. Nhóm này 
bao gồm các thiết bị của máy móc thuộc loại này có hoặc không 
hoạt động bằng điện. 
(7) Máy thắt sợi dọc; những máy nhỏ được đặt trên một máy dệt thoi 
bên trên tấm sợi dọc, và được sử dụng để nối các sợi dọc nếu chúng 
đứt trong khi dệt. 
Nhóm này không bao gồm máy tết hoặc máy xoắn sợi thuộc nhóm 
(8) Thiết bị Leno, trong khi dệt, vắt qua một số sợi dọc để tạo thành các 
vùng nút mà qua đó các sợi ngang đi qua. Những thiết bị kèm theo 
này được sử dụng trong sản xuất vải dệt lưới và vải xoắn sợi khác. 
(9) Thiết bị con thoi quay; những thiết bị kèm theo này tạo điều kiện cho 
con thoi được đi qua giữa một số sợi dọc để tạo thành các mẫu dệt nổi. 
(10) Bộ phận dệt tuyết (nhung thảm) trên sợi dọc, bằng các chuyển 
động khác nhau của bàn chải, tạo tuyết (nhung) ở một hoặc cả hai 
bề mặt (vải Terry,.v.v..). 
(11) Máy phân chia đường biên vải. Khi một máy dệt khổ rộng được 
sử dụng để sản xuất đồng thời một số vải khổ hẹp, những máy này 
tạo ra một sản phẩm dệt sợi dọc xoắn hoặc chèn một mẫu may nối 
vắt chỗ mà các sợi ngang được cắt thành các vải khổ hẹp. 
(12) Thiết bị kèm theo tế bào quang điện, thiết bị phát hiện lỗi trong 
vải đang được dệt, các sợi đang được cuộn trên một khung sợi 
passed between certain warps to produce broché designs. 

dệt dọc, v.v.. và ngừng máy mà chúng được sử dụng cùng ngay khi 
chúng phát hiện một lỗi. 
(13) Bộ phận thay đổi ống cuộn chỉ tự động cho máy dệt. 
(14) Máy đặt các tấm mỏng trong bộ phận ngưng tự động. 
(15) Bộ bảo vệ sợi dọc của máy mắc sợi dọc, máy hồ sợi dọc và máy dệt 
(16) Bộ phận đỡ ống cuộn. 
(17) Màn và thiết bị đập (cánh đập) của thiết bị mở và thiết bị đập 
của máy khâu cơ khí. 
(18) Ống hình trụ và trống của máy khâu cơ khí, máy chải thô hoặc 
chải kỹ. 
(19) Máy trộn, trống và ống hình trụ của máy tẩy dầu mỡ ở len hoặc 
của máy tra dầu mỡ bôi trơn. 
(20) Thiết bị kéo căng sợi của giá kéo, giá quay hoặc máy xâu vòng sợi 
liên tục và các ống trục của nó. 
(21) Cơ cấu tách sợi cơ khí đơn giản, của máy cuộn, được thiết kế để 
tháo nút và các lỗi khác từ sợi. 
Một vài máy móc được liệt kê trên đây có thể được thiết kế để tạo thành 
các bộ phận hợp thành của các máy dệt thoi đặc biệt (máy dệt Jacquard, 
máy dệt thoi tự động,.v.v..). Khi được hiện diện riêng rẽ những máy móc 
này được phân loại trong nhóm này, không phải với vai trò là máy móc 
phụ trợ, mà với vai trò là các bộ phận của máy móc thuộc nhóm 84.44, 
84.45, 84.46 hoặc 84,47. 
(B) CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Giá dùng để giữ cuộn sợi trong khi mắc sợi dọc. 
(2) Con suốt và bánh đà con suốt của khung xe sợi. 

(3) Bình ly tâm (hộp Topham) (thường bằng nhựa) mà bên trong bình 
này sợi dệt nhân tạo được cuộn dưới dạng bánh khi chúng được sản 
xuất. 
 (4) Bàn chải của máy chải kỹ; thanh mang kim hoặc “móc ghim”, là 
thanh có răng được sử dụng trong hộp móc ghim. 
(5) Dải ghim chải (kể cả những dải hẹp được biết đến như là những dải 
chải), tạo thành bộ với các răng của chúng, và dải ghim chải toàn bộ 
bằng thép dưới dạng dây kim loại có răng cưa. 
(6) Khuyên vòng hở, những vòng mở được đặt trên con lăn của khung 
kéo sợi tạo ra sự xoắn cần thiết để tạo hình sợi. 
(7) Bộ phận rút sợi, bộ phận xe chỉ, v.v.. được sử dụng để rút các sợi 
nhân tạo, kể cả những sợi bằng kim loại quý nhưng loại trừ sợi 
gốm (nhóm 69.09) hoặc sợi thủy tinh (nhóm 70.20). 
(8) Ống dẫn sợi (nhưng không phải thủy tinh hoặc gốm, xem các nhóm 
70.20 và 69.09, mà cũng không phải bằng đá mã não hoặc bằng các 
loại đá quý và đá bán quý khác, xem nhóm 71.16). 
(9) Trục sợi dọc, mà từ trục đó các sợi dọc được tháo ra trong khi dệt. 
(10) Lược dệt (kể cả bàn chải kỹ to có thể điều chỉnh). Những lược này 
đập mỗi dòng sợi ngang với một dòng kế tiếp tạo thành sản phẩm 
dệt. 
(11) Khung mà trong đó go của máy dệt được gắn vào. 
(12) Con thoi, nhưng loại trừ các bo bin mà trên đó sợi dệt được cuộn. 
(13) Go kim loại, phẳng hoặc dài bằng hai dây xoắn, với một mắt điều 
khiển mà qua đó sợi dọc đi qua, và bộ dây đai bằng kim loại mà nối 
các khung go với cơ cấu nâng. 
Nhóm này không bao gồm go và bộ dây đai của sợi dệt hoặc dây 
dệt (nhóm 59.11). 
(14) Quả căng go, những vật nặng bằng kim loại mỏng với các mắt ở 
các góc phía trên của chúng được gắn liền với mỗi dây của một bộ 

khung go máy dệt thoi. 
(15) Bìa châm kim và bìa đáy, ví dụ, bìa được đục lỗ (thường bằng sợi 
xơ gỗ hoặc sợi xơ lưu hóa cao su) được sử dụng kèm với Jacquard 
hoặc máy tương tự. 
(16) Móc Jacquard. Phần lớn các móc nối được gài khít chuyên dùng 
này được sử dụng trên Jacquard để gắn liền dây của Jacquard với 
các dây của bộ dây khung go. 
(17) Kim của máy dệt kim, ví dụ, kim có móc, kể cả các đầu nhọn và 
kim của máy vặn khớp với nhau, kim ráp bằng bản lề (còn được 
gọi là kim van hoặc kim đĩa), được trang bị với một hoặc nhiều 
lưỡi, kim có khe mà lưỡi của chúng được thay thế bằng một khe cơ 
động trên máy, kim ống, kim móc của máy thêu bằng kim móc. 
(18) Bộ phận trượt, bàn chải, thanh trượt, v.v.. của máy sản xuất 
tuyn, máy ren và máy thêu. 
(19) Thanh trượt của máy dệt kim. 
(20) Ống bọc kéo sợi bằng nhựa. 
(21) Con thoi của máy dệt (con thoi dệt), máy thêu và máy làm lưới. 
(22) Tấm kim loại của máy dệt kim, ví dụ: tấm hãm, tấm tạo hình, tấm 
hạ thấp và tấm nổi, tấm hai lưỡi, tấm dẫn chỉ, tấm chuyển đổi, tấm 
của máy khâu Jacquard. Những tấm kim loại này là những mặt hàng 
được làm bằng tấm thép mỏng có độ dầy khoảng 0,1 tới 2mm với 
những hình dáng rất khác nhau, những tấm mà hỗ trợ kim (nhìn 
chung là kim có móc hoặc kim được ráp bằng bản lề) để tạo thành 
các mũi khâu. 
(23) Các phụ kiện để tạo thành các mũi khâu, ví dụ, chi tiết uốn, bộ 
dẫn hướng chi tiết uốn, các kết cấu kiểu griff, khung căng, khe dài 
hẹp, đinh ghim và cần đẩy. 
(24) Trục sợi dọc, trục sợi dọc chia và khay trục, bộ hãm và và bộ ổn 
định tốc độ quay của các trục quay tự động. 

(25) Tấm kim loại và các móc nối treo của đĩa và răng của bàn chải kỹ. 
(26) Tamplet của máy dệt. 
(27) Hộp con thoi. 
(28) Các bộ phận bằng sắt dùng trong máy dệt, để tạo thành một 
khung, kể cả các bộ phận có phần cắt. 
(29) Các móc nối của máy thêu bằng kim móc ( không có con thoi) 
(30) Các thanh kim của máy sản xuất hàng bít tất, tấm kim loại 
trượt, cam và các tấm kim của máy dệt kim thẳng, cam kim và 
trục kim của máy dệt kim tròn. 
(31) Kim của máy sản xuất tuyn bobinot và các móc nối của máy dệt 
lưới. 
(32) Kim và khung thêu của máy thêu. 
(33) Con suốt của máy viền và máy cuộn. 
(34) Bộ hãm sợi (máy điều chỉnh độ căng) và bàn chải kỹ của máy 
dệt sợi dọc và máy hồ sợi dọc. 
(35) Kim, tấm kim loại, "dao" và griff dung cho dobbie hoặc 
(36) Ngăn chứa (hộp nâng, hộp quay... ) của máy thay thoi tự động. 
(37) Ngăn chứa của máy tự động thay đổi các cuộn sợi ngang. 
(38) Lamellac (tấm kim loại mỏng) của bộ bảo vệ sợi dọc tự động. 
Không kể những cái khác, nhóm này cũng không bao gồm,: 
(a) Máy bơm được sử dụng trong ép đùn sợi nhân tạo (nhóm 84.13). 
(b) Bộ lọc được sử dụng trong ép đùn sợi nhân tạo (nhóm 84.21). 
(c) Kim thuộc loại được sử dụng trên máy khâu (nhóm 84.52). 
(d) Phương tiện ghi dùng để điều khiển Jacquard hoặc các máy tương tự 

(nhóm 85.23). 
(e) Thùng cúi (được phân loại theo vật liệu cấu thành). 
(f) Thanh tách sợi dọc (bằng các thanh gỗ hoặc kim loại đơn giản, được 
sử dụng trên máy dệt để giới hạn miệng vải) (được phân loại theo vật 
liệu cấu thành). 
(g) Cuộn, cuộn của vòng xe sợi, ống cuộn sợi hình nón, cuộn hình nón, 
ống chỉ và các vật cuốn sợi tương tự (được phân loại theo vật liệu cấu 
thành). 
84.49 - Máy dùng để sản xuất hoặc hoàn tất phớt hoặc các sản phẩm 
không dệt dạng mảnh hoặc dạng hình, kể cả máy làm mũ 
phớt; cốt làm mũ. 
Nhóm này bao gồm máy dùng để sản xuấthoặchoàn thiện  các loại phớt 
hoặc các sản phẩm không dệt hoặc các mặt hàng làm từ phớt hoặc vải 
không dệt, nhưng loại trừ máy móc dùng để sản xuất vải nỉ dệt. Nhóm 
này cũng bao gồm các cốt dùng để làm mũ. 
Máy móc dùng trong các thao tác ban đầu trước khi làm nỉ (phớt) (ví dụ, 
máy phân loại bằng ống thổi dùng để lựa chọn lông, máy mở sợi dệt, 
máy đập và máy chải thô ) cũng như những máy được sử dụng trong các 
thao tác ban đầu để chuẩn bị sợi để xe, và vẫn được phân loại trong 
nhóm 84.45. 
(A) MÁY DÙNG ĐỂ SẢN XUẤThoặcHOÀN TẤT PHỚT(NỈ) 
HOẶC SẢN PHẨM KHÔNG DỆT NÓI CHUNG 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy sản xuất nỉ (phớt), nhìn chung bao gồm hai tấm kim loại nặng có 
rãnh, một tấm được gắn cố định và tấm kia có thể chuyển động qua lại, 
mà giữa quá trình chuyển động qua lại đó mạng sợi đã chải được đặt 
dưới sự cọ xát và áp suất cao và tạo thành nỉ. Những máy này cũng bao 
gồm các thiết bị dùng để làm ẩm mạng sợi và làm nóng các tấm kim 

loại. 
Trong một số loại những máy này, các tấm kim loại được thay thế 
bằng các con lăn có đường rãnh. 
(2) Máy chà xà phòng dùng để xát xà phòng lên tấm nỉ đã được tạo 
hình một phần. 
(3) Máy cán làm chắc. Tấm nỉ, đã được xát xà phòng trước đó, được 
dập mạnh bằng búa để hoàn thành quả trình tạo phớt. Những máy cán 
như vậy cũng được phân loại ở đây thậm chí mặc dù, hiếm khi, chúng 
có thể được sử dụng để làm chắc các sản phẩm dệt nhỏ hoặc các sản 
phẩm dệt kim; mặt khác, loại trừ các máy cán quay loại chủ yếu sử 
dụng để cánhoặckết nỉ lại các sản phẩm dệt (nhóm 84.51). 
(4) Máy dùng để sản xuất nỉ được gia cố. Nỉ và tấm phụ trợ  vải len có 
thể được kết lại với nhau bởi hoạt động của một con lăn nhiệt; hoặc 
một loạt kim có móc có thể được sử dụng để móc các sợi với nhau 
tạo thành một mảnh vải nền không dệt trước khi tạo nỉ. 
(5) Máy hoàn thiện nỉ: chẳng hạn như làm mượt và tạo độ bóng, 
cạo,.v.v.. 
(6) Máy dùng để sản xuất các sản phẩm không dệt (chẳng hạn như 
những máy sử dụng quy trình khô, quy trình ướt hoặc kéo sợi trực 
tiếp). 
(B) MÁY SẢN XUẤT MŨ PHỚT 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy dùng để tạo phớt lông động vật thành các hình mũ. Chúng 
bao gồm một hệ thống con lăn cấp lông cho các bàn chải quay hoặc 
các băng kim máy chải quay , và những con lăn này đưa lông lên trên 
ống hình nón xoay bằng kim loại đã đục lỗ (hoặc lưới thép mịn hình 
nón). Một luồng không khí mạnh hút lông vào bề mặt của ống hình 
nón tạo thành một lớp trên bề mặt của nó. 
(2) Máy ép nỉ, với những mặt có rãnh thường bằng gỗ, một hoặc cả hai 
mặt có thể chuyển động qua lại, giữa quá trình chuyển động qua lại 

đó hình mũ được tạo ra trước đó được nỉ hóa. 
(3) Máy ép con lăn để hoàn thiện nỉ hóa cho các hình mũ 
(4) Máy kéo căng mà trên đó hình mũ được gia cố thêm và góc hình nón 
được làm tròn. 
(5) Máy tạo vành mũ, bằng cách đưa các gờ, cạnh xuyên qua các con 
lăn hình nón. 
(6) Máy đánh bóng, máy mà loại bỏ lông thừa ra khỏi bề mặt bằng đá 
bọt hoặc vải nhám. 
(7) Máy đốt lông dùng để đốt lông ra khỏi bề mặt của hình mũ 
(8) Máy tạo lớp chống thấm nước mà trong đó hình mũ được ngâm hoặc 
được phun sen lắc hoặc chất keo gelatin, và được ép giữa các con lăn. 
(9) Máy tạo khối mà trong đó mặt trong của vành mũ được hoàn thiện, 
và hình mũ được tạo thành hình dạng cuối cùng của nó. 
(10) Máy ép cát; những máy này ép các túi cát nóng vào mặt bên trong 
của hình mũ ép lên trên các phần hổng, do vậy khôi phục bề mặt nỉ bị 
nhào trộn bởi các thao tác trước. 
(11) Máy có những miếng để xoay tạo bề mặt bóng mượt cho nỉ. 
Máy dùng để sản xuất mũ nỉ len giống như những máy miêu tả ở trên 
dùng để làm mũ từ các nỉ lông động vật khác, trừ thao tác tạo hình mũ 
đầu tiên. Với chất liệu len, lớp sợi từ máy chải  được tạo thành một hình 
mũ bằng một thiết bị bao gồm khối hình nón đôi xoay. 
(C) CỐT LÀM MŨ 
Những cốt này có thể bằng gỗ hoặc kim loại (thường bằng nhôm) và 
được sử dụng cùng với các máy được đề cập ở trên. 
Những khuôn căng mũ được sử dụng trong việc làm khít mũ cũng được 
phân loại ở đây. Loại trừ máy móc dùng để đánh dấu kích thước, đường 
nét đầu được sử dụng trong làm khít mũ (nhóm 90.31). 

CÁC BỘ PHẬN 
Theo những điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải 
tổng quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của máy 
móc thuộc nhóm này. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Máy cán ép dùng để ép các tấm mỏng của sợi xơ trước khi làm nỉ 
(nhóm 84.20). 
(b) Máy dệt kim được sử dụng trong sản xuất mũ lưỡi trai (mũ bê rê, mũ 
đấu đuôi seo v.v.) (nhóm 84.47). 
84.50 - Máy giặt gia đình hoặc trong hiệu giặt, kể cả máy giặt có 
chức năng sấy khô (+). 
                   - Máy giặt, có sức chứa không quá 10kg vải khô một lần 
giặt: 
    8450.11 - - Máy tự động hoàn toàn 
    8450.12 - - Máy giặt khác, có chức năng sấy ly tâm 
    8450.19 - - Loại khác 
    8450.20 - Máy giặt, có sức chứa trên 10kg vải khô một lần giặt 
    8450.90 - Bộ phận 
Nhóm này bao gồm máy giặt gia đình hoặc trong hiệu giặt (dùng hoặc 
không dùng điện và ở bất kỳ trọng lượng nào), chúng thường được sử 
dụng trong gia dình, trong tiệm giặt ủi, bệnh viện v…v… để làm sạch 
vải lanh và các sản phẩm hoàn thiện khác… Chúng thường bao gồm các 
cánh trộn hoặc các trụ xoay tròn để giữ cho chất lỏng luân chuyển xuyên 
qua các vật chứa bên trong, hoặc đôi khi bao gồm thiết bị để tạo ra 
những dao động ở tần số cao đối với chất lỏng. 
Nhóm này cũng bao gồm máy có cả chức năng giặt và sấy.  

Tuy nhiên, máy giặt khô thuộc nhóm 84.51. 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo những điều khoản chung về phân loại các bộ phân (xem Chú giải 
tổng quát của phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của máy 
móc thuộc nhóm này. 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 8450.11 
Phân nhóm này bao gồm máy giặt mà mỗi khi chương trình được lựa 
chọn, giặt, xả và vắt không cần sự can thiệp của người sử dụng. 
84.51 - Các loại máy (trừ máy thuộc nhóm 84.50) dùng để giặt, làm 
sạch, vắt, sấy, là hơi, ép (kể cả ép mếch), tẩy trắng, nhuộm, hồ 
bóng, hoàn tất, tráng phủ hoặc ngâm tẩm sợi, vải dệt hoặc hàng 
dệt đã hoàn thiện và các máy dùng để phết hồ lên lớp vải đế hoặc 
lớp vải nền khác, dùng trong sản xuất hàng trải sàn như vải sơn 
lót sàn; máy để quấn, tở (xả), gấp, cắt hoặc cắt hình răng cưa vải 
dệt. 
     8451.10 - Máy giặt khô 
                  - Máy sấy: 
     8451.21 - - Sức chứa không quá 10 kg vải khô mỗi lần sấy 
     8451.29 - - Loại khác 
     8451.30 - Máy là và là hơi ép (kể cả ép mếch ) 
     8451.40 - Máy giặt, tẩy trắng hoặc nhuộm 
     8451.50 - Máy để quấn, tở (xả), gấp, cắt hoặc cắt hình răng cưa vải 
dệt 

     8451.80 - Máy khác 
     8451.90 - Bộ phận  
Nhóm này bao gồm một loạt các máy khác nhau được sử dụng: 
(I) Để giặt, tẩy trắng, vắt, tẩy, là, nhuộm, sấy hoặc hoạt động tương tự 
lên các sợi dệt, vải dệt hoặc các sản phẩm dệt sẵn, nhưng loại trừ 
máy giặt gia đình hoặc trong hiệu giặt (nhóm 84.50). 
(II) Để hồ bóng hoặc hoàn thiện sợi dệt hoặc vải dệt, sau khi xe hoặc dệt 
tương ứng, để đem đến một chất lượng nhất định hoặc để cải thiện vẻ 
bề ngoài của chúng (ví dụ, xén, phủ đầy, làm sáng bóng), hoặc để 
đem đến cho chúng chất lượng mới (ví dụ, ngâm hoặc tráng), nhưng 
loại trừ máy hoàn thiện nỉ (phớt) (nhóm 84.49). 
(III) Để cuộn, xả, gấp, cắt hoặc cắt hình răng cưa vải dệt. 
Nhiều loại máy thuộc nhóm này đơn giản là những thùng chứa, máng 
hoặc các vật chứa khác, được gắn với những chức năng cơ khí đơn giản 
như con lăn để dẫn sợi dệt hoặc vải dệt hoặc để vắt chất lỏng thừa, khuấy 
các cánh trộn v.v.. Những máy như vậy được sử dụng cho một loạt các 
hoạt động khác nhau: giặt, tẩy trắng, nhuộm, tẩy v.v.. hoặc dùng cho các 
hoạt động hoàn thiện liên quan đến tráng hoặc ngâm tẩm (ví dụ, với hồ 
hoặc với hợp chất chống thấm, chống nhăn, chống lửa, chống nhậy, 
chống mục v.v.. ) Để thuộc nhóm này, thiết bị phải có các đặc điểm cơ 
khí kể trên có chức năng rõ ràng được dùng để xử lý sản phẩm dệt. 
(A) MÁY DÙNG ĐỂ GIẶT, VẮT, LÀ HOẶC LÀ ÉP CÓ HOẶC 
KHÔNG ĐƯỢC GẮN VỚI CÁC THIẾT BỊ LÀM NÓNG 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy giặt công nghiệp  dùng cho sợi dệt hoặc vải dệt hoặc các sản 
phẩm dệt loại trừ máy giặt thuộc nhóm 84.50. Nhóm này bao gồm, 
ví dụ như máy giặt kiểu ống  mà qua đó các con sợi được rút, được 

phun nước liên tiếp để giặt và sấy; máy giặt vòng feston cho các hàng 
hóa dạng miếng). 
Nhóm này bao gồm các máy giặt công nghiệp được sử dụng suốt quá 
trình sản xuất sợi dệt và vải dệt, trong đó thiết bị được sử dụng để 
hoàn thiện hoặc loại bỏ hồ khỏi quá trình sản xuất. 
(2) Máy vắt và máy cán là. 
(3) Máy lắc - trộn được sử dụng trong giặt là để gỡ rối các quần áo ẩm 
ướt và mở chúng ra để chuẩn bị sẵn sàng cho việc là. 
(4) Máy là và máy là ép hơi nước dùng để ép hàng may mặc (kể cả 
máy ép mếch) nhưng loại trừ máy làm mượt hoặc máy là thuộc loại 
máy cán ép, có hoặc không được sử dụng trong gia đình, thuộc nhóm 
(B) MÁY TẨY TRẮNG HOẶC MÁY NHUỘM 
Những máy này gồm có các hộp J được sử dụng trong quá trình tẩy 
trắng hoặc các hoàn thiện lúc ẩm khác; chúng chủ yếu bao gồm một 
thùng chứa hai cần thẳng đứng, có hình dạng giống một chữ J, Bên trong 
có các vòi phun sương và con lăn để dẫn vải. Mảnh vải này, được ngâm 
tẩm trước bằng cách đi  qua một bể chứa dung dịch chất lỏng tẩy trắng, 
với thời gian việc tẩy trắng được thực hiện, và vào thời điểm thích hợp 
nhấc lên từ cần nhỏ hơn. 
Những máy khác thuộc nhóm này chủ yếu là máy loại thùng đã được đề 
cập ở trên, thích hợp để xử lý các loại hàng dệt đặc biệt (ví dụ: sợi dệt 
trong các búi hoặc các cuộn hoặc trong các cuộn tròn, trên các cuộn 
sợi,.v.v.., hàng hóa dạng miếng hoặc các mặt hàng đã được làm sẵn). 
Nhóm này cũng bao gồm máy móc dùng để nhuộm hoặc hồ bóng hàng 
hóa dạng mảnh với độ rộng tùy ý; đặc trưng chủ yếu của những máy này 
là chúng kết hợp một hệ thống các con lăn dùng để vắt kiệt chất lỏng 
thừa. 

(C) MÁY GIẶT KHÔ 
Những máy này tẩy bằng các chất lỏng như xăng, các bon tetrachloride, 
v.v.. thay vì bằng nước. Chúng là những tổ hợp thiết bị phức hợp, chẳng 
hạn như, máy giặt dùng để làm cho chất lỏng chuyển động tuần hoàn 
xuyên qua hàng hóa đang được tẩy, máy chiết xuất ly tâm, máy lọc, máy 
gạn lọc và các thùng chứa dự trữ. Do bản chất dễ cháy của các chất lỏng 
được sử dụng, chúng thường có một mô tơ chống nổ dùng cho bộ phận 
giặt và bơm tuần hoàn. 
(D) MÁY SẤY 
Những máy này được phân loại ở đây chỉ khi chúng được thiết kế và 
được cụ thể hóa một cách rõ ràng là để phục vụ cho việc sấy các sợi dệt, 
vải dệt hoặc các sản phẩm đã được dệt sẵn. Chúng bao gồm hai loại 
chính: những máy bao gồm chủ yếu một khoang chứa kín mà trong đó 
hàng vải dệt được làm khô bằng cách chịu sự tác động của không khí 
nóng, và những máy mà trong đó vải dệt được đẩy qua các trục lăn nóng. 
Nhóm này không bao gồm các máy sấy không phải chuyên dùng để xử 
lý các mặt hàng dệt (nhóm 84.19) và máy sấy ly tâm (nhóm 84.21). 
(E) MÁY HỒ BÓNG HOẶC HOÀN THIỆN 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Máy ngâm kiềm mà trong đó các sợi dệt hoặc vải dệt được xử lý 
bằng xô đa ăn mòn. 
(2)  Máy đập mà trong đó các hàng búa có đầu bằng gỗ hoặc bằng thép 
đúc, được đặt theo hình xoáy trôn ốc trên một trục lăn, gia cố vải 
bằng cách đập; chúng làm kín các khe hở và làm tăng độ láng bóng 
của vải dệt. 
(3)  Máy nghiền quay. Những máy này khép kín các sợi chỉ dọc và 
ngang và tạo một phần nỉ trên bề mặt. 
Loại trừ máy nghiền có bộ phận chứa hoặc máy nghiền búa, chủ 

yếu được dùng trong sản xuất các sản phẩm nỉ (nhóm 84.49). 
(4)  Máy rút hoặc gỡ nút được sử dụng trong việc loại bỏ các khiếm  
khuyết hoặc các mảnh có lông dính vẫn còn trên mảnh vải dệt. 
(5)  Máy chải tuyết, được sử dụng để chải tuyết các sợi xơ trên bề mặt 
của vải. Chủ yếu chúng bao gồm một trục lăn lớn, được gắn với các 
thanh hoặc với các khung có bố trí các bàn chải sợi, hoặc gắn với 
các trục lăn nhỏ hơn được gắn cố định với các đầu dây kim loại nhỏ. 
(6)  Máy dùng để đập mặt sau của vải dệt để làm cho lông ở trên bề 
mặt dựng đứng lên. 
(7)  Máy cắt để xén bề mặt của vải cho bằng phẳng sau khi đã chải lông 
vải bằng bàn chải len; các máy tương tự được sử dụng trong việc 
hoàn thiện các mặt hàng nhung gấm. Bằng cách sử dụng các phiến 
hoặc các trục lăn được sử dụng cho mục đích này, có thể đạt được 
các tác động theo cùng một mẫu hình. 
(8)  Máy dệt vải len ratine hoặc máy tạo gợn sóng lăn tăn được sử dụng để 
tạo sóng hoặc các hạt trên các mảnh vải dệt đã được chải sạch, bằng 
cách cuộn tròn hoặc cuộn xoắn ốc các cuộn sợi xơ với nhau. Cơ cấu 
này bao gồm một bàn (che phủ bằng cao su, nỉ hoặc bột mài) có khả 
năng di chuyển bằng cơ cấu chuyển động tròn và dao động ngắn, bàn 
này đặt trên một chiếc bàn khác có bề mặt che phủ bởi mảnh vải lụa bề 
mặt nhung mịn. 
(9) Máy chải; những máy này bao gồm các bàn chải có hình trụ xoay 
dùng để chải vải dệt sau khi đã được chải sạch lông vụn hoặc sau 
khi đã được cắt phẳng. 
(10) Máy đốt dùng để loại bỏ lông của sợi dệt hoặc của mảnh vải. 
Những máy này hoạt động bằng cách nhanh chóng đưa mảnh vải 
qua phía trên các trục lăn nóng hoặc các tấm uốn cong, hoặc qua 
phía trên ngọn lửa ga. 
(11) Máy làm láng bóng hoặc đánh bóng sợi dây, để làm bóng tơ dệt 
trong các nùi, hoặc dùng để làm bóng vải tơ lụa. 
(12) Máy mài bằng bột mài dùng để tạo ra bề mặt mịn, phẳng nhẵn trên vải. 
(13) Máy ép hình trụ hoạt động trên một phiến bằng phẳng hoặc một 

phiến hình bán nguyệt để tạo ra bề mặt sáng bóng. Máy cán ép 
(nhóm 84.20) và các máy ép thủy lực dùng cho mục đích chung 
(nhóm 84.79) cũng được sử dụng cho mục đích này. 
(14) Máy xử lý vải mà trong đó vải dệt được xử lý hơi để cố định việc 
hoàn thiện cuối và bố cục mảnh vải; cũng các máy tương tự dùng để 
ủ nóng các sợi dệt hoặc vải dệt bằng cách xử lý hơi. 
(15) Máy căng vải dùng để khôi phục vải đến độ rộng chuẩn của nó. 
(16) Máy làm co lại, máy mà khép kín các sợi chỉ ngang để tạo ra một 
mảnh vải khít chống bị co khi sử dụng. 
(17) Máy tráng phủ hoặc ngâm tẩm dùng để bồi vào các lớp hồ  đặc 
biệt lên bề mật các sợi dệt hoặc vải dệt, hoặc để thấm tẩm chúng 
bằng các chế phẩm đặc biệt (ví dụ: gôm, hồ, chất kết dính, sáp, 
nhựa, cao su hoặc hợp chất chống thấm). Nhóm này bao gồm máy 
móc dùng để hồ vải, bìa giấy,.v.v.., trong sản xuất các tấm trải sàn 
như loại tấm phủ sàn bằng vải bạt có tráng một lớp bột libe với dầu 
lanh, và cả máy hồ bóng được mô tả trong câu cuối của phần (B) ở 
trên. 
(18) Máy chế biến sợi dùng cho mục đích trang trí mà trong đó tác động 
đặc biệt được tạo ra sau khi xe hoặc xoắn đôi sợi dệt (ví dụ, máy 
dùng để trang trí sợi dệt với các giọt keo gêlatin nhỏ hoặc sáp). 
(F) MÁY ĐỂ QUẤN, XẢ, GẤP, CẮT HOẶC CẮT HÌNH RĂNG 
CƯA VẢI DỆT 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy gấp hoặc cuộn vải, là máy gấp vải theo chiều dọc hoặc theo độ 
rộng, hoặc cuộn nó đưa lên trên một trục đỡ, cùng với máy kiểm tra 
kèm theo các thiết bị gấp hoặc cuộn, dùng để kiểm tra các loại vải để 
phát hiện lỗi. Bất cứ máy nào trong những máy này có thể được kết 
hợp với các thiết bị đo. 
(2) Máy cắt hoặc cắt hình răng cưa vải dệt, kể cả máy dùng để cắt các 

mẫu hoặc các bộ phận của hàng may mặc,.v.v.. 
Các loại máy sau cũng được phân loại ở đây:  
(1) Thiết bị hấp hơi nước (hình nộm hấp hơi, tượng bán thân để là hơi) 
dùng cho quần áo bên ngoài. 
(2) Máy và thiết bị (bàn,.v.v..) dùng để gấp vải lanh đã được là (ví 
dụ: khăn tay, tấm dra trải giường, khăn trải bàn). 
(3) Máy và thiết bị dùng để luộc hoặc giặt vải len để chà sạch nó trước 
khi tẩy trắng hoặc nhuộm. 
(4) Máy dùng để loại bỏ gôm ra khỏi vải trước khi tẩy trắng hoặc 
nhuộm. 
(5) Máy dùng để xử lý vải với nước xô-đa kiềm hoặc ka li trước khi tẩy 
trắng hoặc nhuộm. 
(6) Máy hấp hơi nước dùng để làm ẩm các sợi dệt, vải dệt và các sản 
phẩm dệt khác. 
(7) Máy tạo và gắn hình mẫu (máy phản ứng nhiệt), kể cả máy dùng 
để tạo hình trước hoặc máy tạo hình bít tất hoặc miếng lót giầy. 
(8) Máy ngâm tẩm và kéo vải dệt của lốp hơi. 
(9) Máy đổ mực các băng mực dệt của máy chữ và các loại máy  
tương tự. 
(10) Máy phân chia việc hoàn thiện vải dệt. 
(11) Máy nhồi vải, ví dụ, máy nhồi tĩnh điện. 
(12) Máy tạo nếp gấp trên vải. 
(13) Thiết bị tẩy các tấm thảm còn nguyên trạng bằng cách đưa vào 
một trong tấm thảm dung dịch làm sạch lỏng, dung dịch sau đó sẽ bị 
chiết xuất bởi việc hút, được thiết kế để dùng trong các công trình 

(ngoài việc sử dụng trong gia đình) như khách sạn, bệnh viện, văn 
phòng, tiệm ăn và nhà trường. 
BỘ PHẬN 
Theo những điều khoản chung về phân loại các bộ phận (Xem chú giải 
chung của phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của máy 
móc thuộc nhóm này. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Nồi hấp, thùng kín hơi và các thiết bị nhiệt khác không chuyên dùng 
cho xử lý, gia công nhiệt các sản phẩm dệt (nhóm 84.19). 
(b) Máy cán ép vải (dùng để làm láng bóng, tráng bóng, làm mịn, trang 
trí hình nổi trên bề mặt, tạo sóng trên vải,.v.v..) và các trục lăn của 
chúng (nhóm 84.20). 
(c) Máy sấy ly tâm và các loại máy ly tâm khác thuộc nhóm 84.21. 
84.52 - Máy khâu, trừ các loại máy khâu sách thuộc nhóm 84.40; 
bàn, tủ, chân máy và nắp thiết kế chuyên dùng cho các loại máy 
khâu; kim máy khâu (+). 
      8452.10 - Máy khâu dùng cho gia đình 
                    - Máy khâu khác: 
      8452.21 - - Loại tự động 
      8452.29 - - Loại khác 
      8452.30 - Kim máy khâu 
      8452.90 - Bàn, tủ, chân máy và nắp cho máy khâu và các bộ phận 
của chúng; bộ phận khác của máy khâu 

(A) MÁY KHÂU 
Máy khâu và các đầu máy khâu thuộc nhóm này là các máy được dùng 
để khâu liền hai hoặc nhiều mảnh với nhau bằng vải, da, v.v.. Nhóm này 
bao gồm máy khâu mà, ngoài việc may thông thường, có thể thực hiện 
công việc trang trí đơn giản (ví dụ, các thao tác thêu); tuy nhiên, máy 
được thiết kế chỉ để thêu (kể cả máy rút chỉ) lại thuộc nhóm 84.47. Máy 
khâu sách được phân loại trong nhóm 84.40 và máy khâu - dệt và các 
máy khâu đính khác thuộc nhóm 84.47. 
Trừ khi thực hiện thao tác thêu nhất định; những máy này nhìn chung 
hoạt động với hai sợi chỉ, một sợi được xuyên qua bằng kim và sợi kia 
được chuyển sang bên dưới bằng một con suốt. Nhìn chung chúng có 
một cái kim và một con suốt; nhưng có thể được gắn bằng nhiều kim và 
nhiều con suốt (ví dụ, để tạo ra một đường may đôi hoặc ba). 
Máy khâu điện với trang bị một mô tơ điện, loại dùng trong gia đình 
hoặc dùng cho bất cứ một mục đích nào khác, cũng thuộc nhóm này. 
Ngoài các máy may thông thường được sử dụng trong gia đình hoặc bởi 
các thợ may, nhà tạo mẫu thời trang may mặc,.v.v.., nhóm này cũng bao 
gồm các máy chuyên dụng mà có thể được sử dụng chỉ cho các loại may 
khác, chẳng hạn như: 
(1) Máy khâu được sử dụng trong sản xuất hoặc sửa chữa ủng hoặc giầy 
hoặc dùng cho việc may da thuộc khác. 
(2) Máy khâu khuyết áo, những máy này có thể bao gồm một thiết bị 
dùng để cắt lỗ khuyết áo. 
(3) Máy đính khuy. 
(4) Máy khâu nối mũ rơm. 
(5) Máy khâu lông thú 
(6) Máy khâu kín đầu bao tải sau khi đã đổ đầy (bao bột mì hoặc bao xi 
măng,.v.v..); những máy này có thể được treo và thường không có con 

suốt. 
(7) Máy mạng các chỗ rách trong các bao tải. 
(8) Máy khâu bề ngoài dùng để sản xuất bao tải, dùng để thao tác các rìa 
của các tấm phủ, tấm thảm,.v.v.. 
(9) Máy may đường viền hoặc máy khâu chăn. 
(10) Máy khâu các mép của các phần của quần áo dệt kim với nhau. 
Ngoài việc may, một số máy thuộc nhóm này có thể cũng thực hiện các 
thao tác khác, ví dụ, cắt, cắt hình răng cưa, đục lỗ hoặc xếp li các loại 
vải, da, giấy,.v.v.. 
(B) BÀN, TỦ, CHÂN MÁY VÀ NẮP THIẾT KẾ CHUYÊN DÙNG 
CHO CÁC LOẠI MÁY KHÂU 
Ví dụ, giá đỡ mà có thể được sử dụng như những cái bàn hoặc tủ, và các 
bộ phận của tủ như vậy (ngăn kéo, tấm ván kéo,.v.v..), chân máy và các 
nắp đậy được phân loại trong nhóm này, thậm chí nếu được hiện diện 
riêng rẽ. Các thùng riêng rẽ, chủ yếu dùng cho mục đích bảo vệ hoặc vận 
chuyển, nếu được trình bày riêng, được phân loại trong các nhóm tương 
ứng của chúng. 
(C) KIM MÁY KHÂU 
Nhóm này bao gồm không chỉ kim dùng cho các loại máy khâu được mô 
tả ở trên, mà còn bao gồm các kim dùng cho các máy khâu sách thuộc 
nhóm 84.40 hoặc dùng cho máy thêu thuộc nhóm 84.47 với điều kiện 
chúng thuộc loại máy khâu (thường có một mắt ở gần đầu nhọn). 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem chú giải tổng 
quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận (ví dụ, giá đỡ 
và con suốt) của máy móc thuộc nhóm này. Tuy nhiên, các lõi cuộn chỉ 
được phân loại theo vật liệu cấu thành của chúng. 

Nhóm này không bao gồm máy khâu dùng làm đồ chơi (nhóm 95.03). 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 8452.10 
Phân nhóm 8452.10 chỉ áp dụng cho các máy khâu và các đầu máy khâu 
sau đây, tất cả các máy đó ít nhất có khả năng thao tác việc khâu thắt: 
(a) Máy hoạt động bằng lực chân hoặc lực tay 
(b) Máy kết hợp một mơ tơ điện có công suất đầu ra không quá 120 W. 
(c) Máy hoạt động bằng điện được trình bày mà không có mô tơ, sức 
nặng của đầu máy không quá 16kg. 
Phân nhóm này cũng áp dụng cho các máy khâu được gọi là “xung 
động” hoặc “máy khâu vải xéc” với một mô tơ gắn liền có công suất đầu 
ra không quá 120 W, hoạt động với ba, bốn hoặc năm thanh chỉ, và đầu 
máy khâu tương tự như các loại đề cập ở trên, được xét theo công dụng, 
hiệu quả trong thiết kế và hoạt động của chúng, hoạt động với các đường 
may không phải vắt chỉ,  được thiết kế sử dụng trong gia đình, tốc độ 
hoạt động của máy không quá 1500 mũi một phút. 
Phân nhóm cũng bao gồm các máy khâu chạy pin (ắc quy) cầm tay 
những máy mà  để khâu  đường chỉ mũi đơn 
Tuy nhiên, phân nhóm này không bao gồm máy khâu được dùng cho 
một chức năng cụ thể chẳng hạn như thùa khuyết hoặc đóng túi đã được 
nhồi đầy.  

84.53 - Máy dùng để sơ chế, thuộc da hoặc chế biến da sống hoặc da 
thuộc hoặc máy để sản xuất hoặc sửa chữa giày dép hoặc các 
sản phẩm khác từ da sống hoặc da thuộc, trừ các loại máy khâu. 
        8453.10 - Máy dùng để sơ chế, thuộc da hoặc chế biến da sống hoặc 
da thuộc  
      8453.20 - Máy để sản xuất hoặc sửa chữa giày dép 
      8453.80 - Máy khác 
      8453.90 - Bộ phận 
Nhóm này bao gồm máy móc dùng để sơ chế da sống hoặc da thuộc 
(kể cả da lông thú) đã sẵn sàng để thuộc, máy móc dùng để tác động đối 
với các quá trình thuộc (kể cả quá trình chắp mảnh), và máy móc dùng 
cho các thao tác hoàn thiện sau đó. Nhóm còn bao gồm máy móc được 
sử dụng để sản xuất hoặc sửa chữa các mặt hàng da sống, da thuộc (ví 
dụ, dùng để sản xuất giầy da, găng tay da hoặc các đồ dùng đi du lịch). 
Nhưng nhóm này loại trừ máy khâu (nhóm 84.52). 
(I) MÁY DÙNG ĐỂ SƠ CHẾ, THUỘC DA HOẶC CHẾ BIẾN DA 
SỐNG HOẶC DA THUỘC 
Thực tế, nhiều máy thuộc nhóm này được sử dụng ở một vài giai đoạn 
trong chế biến da sống hoặc da thuộc (ví dụ, trong quá trình giặt, trước 
khi thuộc, nhuộm hoặc các quá trình hoàn thiện khác). Những máy như 
vậy gồm có thùng, trống, bộ phận giặt v.v.. chuyên dụng kết hợp với các 
kết cấu cơ khí như cơ cấu khuấy, cơ chế quay tròn hoặc các thiết bị thao 
táo lên da sống. 
Không kể những thứ khác, nhóm này cũng bao gồm các máy sau đây:    
(1) Máy loại bỏ lông, máy mà loại bỏ lông ra khỏi da sống đã được nới 
lỏng từ trước bằng các tác động hóa học 
(2) Máy loại bỏ thịt, dùng để loại bỏ phần thịt, mỡ v.v.. ra khỏi da sống 
(3) Máy nghiền búa (faller stock) và máy nghiền dập trục lăn. Búa 

hoặc trục lăn quay có rãnh của những máy này chế biến da sống 
hoặc da thuộc trong suốt quá trình giặt, thuộc, bôi dầu hoặc thấm 
tẩm. 
(4) Máy căng da sống hoặc da thuộc để mở những lỗ nhỏ li ti trên bề 
mặt da, loại bỏ những nếp nhăn hoặc vết nứt khác trên bề mặt; máy 
làm nhẵn, được sử dụng để làm nhẵn mặt phía thịt và để loại bỏ 
chất bên ngoài; máy làm mềm da, máy mà trong đó da thuộc được 
xử lý bằng tác động của các trục lăn được bao phủ bằng li -e hoặc 
(5) Máy đập bằng búa, đập bề mặt của da thuộc bằng các búa nhỏ để 
loại bỏ chất bẩn và độ ẩm thừa, và để khôi phục vân. 
(6) Máy búa được sử dụng để ép mạnh, làm cứng hoặc làm nhẵn da 
(ví dụ, dùng để đóng đế giầy hoặc băng tải). 
(7) Máy cạo hoặc máy tách, dùng dao để hiệu chỉnh độ dày đều trên 
toàn bộ da thuộc, hoặc tách da thuộc thành các lớp. 
(8) Máy mài, ví dụ, dùng để làm ráp bề mặt da sống để tạo độ mượt  
(9) Máy chải, ví dụ, dùng để tẩy da và tăng độ mượt sau khi làm ráp 
(10) Máy làm bóng da thuộc bằng đánh bóng mã não, hoặc bằng các 
con lăn nhỏ bằng đá mã não hoặc bằng thủy tinh. 
(11) Máy tạo vân. 
Nhóm này cũng bao gồm thêm các máy móc dùng để xử lý da lông 
thú. Nhìn chung, những da lông này được xử lý trước và trong khi thuộc 
trên các máy tương tự những máy được mô tả ở trên, nhưng nhóm này 
cũng bao gồm những máy móc đó để xử lý lông (ví dụ, máy xén lông tới 
một độ dài đồng đều, dùng để loại bỏ lông dài, dùng để cuộn, chải sóng, 
cọ hoặc nhuộm lông). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Máy sấy thuộc nhóm 84.19. 

(b) Máy cán ép (ví dụ, dùng để làm mượt, làm bóng hoặc tạo vân da 
thuộc) (nhóm 84.20). 
(c) Máy sấy ly tâm (nhóm 84.21). 
(d) Máy phun thuốc nhuộm, dầu bóng, véc ni v.v.. (nhóm 84.24). 
(e) Máy loại bỏ lông lợn loại dùng trong lò mổ (nhóm 84.38). 
(f) Máy ép dùng cho mục thông thường (nhóm 84.79). 
(g) Máy đo da sống hoặc da (nhóm 90.31). 
(II) MÁY ĐỂ SẢN XUẤT HOẶC SỬA CHỮA GIẦY DÉP HOẶC 
CÁC SẢN PHẨM KHÁC TỪ DA SỐNG HOẶC DA THUỘC 
Nhóm này bao gồm máy sản xuấthoặcsửa chữa các sản phẩm được làm 
từ da sống, da bì, da thuộc (kể cả da lông) (ví dụ, giầy, găng tay, áo vét 
tông và các sản phẩm quần áo, đồ yên cương, đồ bọc sách, túi xách tay, 
và các đồ dùng đi du lịch khác). 
Không kể những thứ khác, nhóm này bao gồm các máy sau đây: 
(A) Máy nạo/lạng mỏng hoặc gọt dùng để làm mỏng hoặc cắt xén các 
mép hoặc các phần khác của mảnh da trước khi may hoặc đính chúng 
vào với nhau. 
(B) Máy cắt da thành các hình đặc biệt (ví dụ, phần da giầy ở phía 
trên, bao tay, quai.v.v..). Hai loại phổ biến nhất là máy cắt nẹp bằng 
dao và máy ép nhấn (máy cắt sử dụng các khuôn rập) 
(C) Máy đục lỗ, dùng để trang trí phần da giầy ở phía trên, mặt sau của 
găng tay,v.v.v. 
(D) Máy sản xuất ủng hoặc giầy, ví dụ: 
(1) Máy cắt rãnh, được sử dụng để cắt các khe hoặc các rãnh để luồn 
mũi khâu vào bên trong (ví dụ, làm tròn mép đế); và máy dùng để 
mở và đóng các rãnh trước hoặc sau khi may. 
(2) “Máy  kéo trên” hoặc “máy kéo”, dùng để kéo phần da giầy ở 
phía trên lên trên cốt giầy và khâu lược hoặc dính nó lên trên mặt 

trong của đế giầy . 
(3) Máy nghiền dập các mép của mũi và đáy của mặt trong của đế 
giày sau khi chúng đã được ghép lại cùng nhau trên cốt giầy. 
(4) Máy dùng để gắn mặt đế bên ngoài lên trên mặt đế bên trong và 
phần da giầy ở mặt trên, ví dụ như máy ghép, máy đặt đế giầy 
(5) Máy để đóng chặt gót giầy vào đế giầy. 
(6) Máy dùng để cắt, làm nhẵn hoặc làm bóng các góc cạnh, mép 
của đế giầy hoặc gót giầy 
(7) Máy làm ráp, máy mà bằng sử dụng kim loại hoặc một dây cua 
roa mài mòn loại bỏ phần bóng của phần da giầy ở mặt trên nhằm 
làm cho nó bám tốt hơn khi được dính vào đế giầy. 
(8) Máy làm bóng và hoàn thiện, bao gồm một loạt đá mài, bàn chải 
đánh bóng và nỉ được sử dụng để tạo ra một bề mặt đẹp cho phần 
da giầy ở mặt trên, các mép hoặc mặt đáy của đế giày v.v.. nhóm 
này bao gồm các máy tương tự được sử dụng bởi những người sửa 
chữa giày hoặc ủng. 
(9) Máy căng ủng hoặc giày. 
Cần chú ý rằng một số máy trong nhóm này chẳng hạn như máy tạo vận, máy 
cắt, máy đục lỗ, máy chọc lỗ và thậm chí cả máy làm ủng hoặc máy làm giày, 
có thể được sử dụng cho các vật liệu không phải là da thuộc (ví dụ, bìa cứng, 
giả da hoặc nhựa); tuy nhiên chúng vẫn thuộc nhóm này với điều kiện chúng 
được thiết kế để sử dụng chủ yếu cho da sống, da thuộc. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm: 
(a) Cốt ủng hoặc cốt giày (được phân loại theo vật liệu cấu thành, 
thường trong nhóm 44.17) 
(b) Máy chế biến gỗ để sản xuất guốc gỗ, đế gỗ, gót v.v.. (nhóm 84.65). 
(c) Máy đánh giày tự động và máy xâu lỗ (nhóm 84.79). 

CÁC BỘ PHẬN 
Theo những điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải 
tổng quát của Phần XVI), các bộ phận của máy móc thuộc nhóm này, 
các khuôn rập và các dụng cụ có thể thay thế lẫn nhau khác của những 
máy này cũng được phân loại ở đây. 
84.54 - Lò thổi, nồi rót, khuôn đúc thỏi và máy đúc, dùng trong 
luyện kim hoặc đúc kim loại. 
      8454.10 - Lò thổi  
      8454.20 - Khuôn đúc thỏi và nồi rót 
      8454.30 - Máy đúc 
      8454.90 - Bộ phận 
(A) LÒ THỔI 
Những lò này được sử dụng để luyện hoặc tinh chế kim loại (ví dụ, dùng 
để luyện sắt thành thép, hoặc nấu chảy đồng  tinh luyện hoặc niken xỉn, 
galena v.v..) bằng cách đưa vật liệu, đã được nấu chảy hoặc được đun 
trong lò dưới nhiệt độ cao, tới một luồng ô xy mạnh; bằng tác động này 
hầu hết khí cacbon hoặc các chất hòa tan như mangan, silicon và 
photpho được ôxy hóa và được thải ra dưới dạng khí hoặc xỉ nấu chảy. 
Quá trình oxi hóa càng làm tăng nhiệt độ kim loại. 
Các loại lò thổi phổ biến nhất là các thùng hình quả lê hoặc hình trụ gồm 
có một vỏ bên ngoài bằng các tấm thép nặng với một lớp thành lò bên 
trong bằng vật liệu chịu nhiệt. Oxy được đưa vào trong bằng một ống 
nhỏ từ bên trên (lò thổi LD) hoặc qua vòi phun ở đáy lò (lò OBM 
(Oxygen Bodenblasende Maximilianhütte)). Ngoài ra còn có loại lò là sự 
kết hợp của hai loại trên. 
Các loại khác gồm có lò thổi với các ống gió được gắn ở cạnh sườn, lò 
luyện hình trụ quay, lò luyện hình nón (dùng để xử lý đồng thau xỉn) với 
một lưới bảo vệ bằng kim loại bên trong dùng để hỗ trợ cho thiết bị này. 
(B) NỒI RÓT 
Other types include converters with the tuyères incorporated in the sides, 

Những dụng cụ này được sử dụng để lấy kim loại nấu chảy từ một lò 
nung và đổ nó vào các lò thổi hoặc các khuôn đúc; chúng là những thùng 
chứa mở đơn giản nhìn chung được lót một lớp vật liệu chịu nhiệt, 
thường được gắn với các thiết bị để tạo chức năng đổ hoặc rót ra và 
trong một số trường hợp chúng được gắn bánh xe. Chúng thường được 
điều khiển bằng cơ khí (ví dụ, bằng cần trục), nhưng nhóm này cũng bao 
gồm nồi rót khuôn đúc được vận hành bằng tay. Loại trừ nồi rót nhỏ 
bằng tay thuộc loại được sử dụng bởi thợ gò thùng hoặc thợ kim hoàn 
v.v.. (nhóm 73.25 hoặc 73.26). 
(C) KHUÔN ĐÚC THỎI 
Những khuôn này có thể có các hình thù khác nhau, dạng một mảnh 
hoặc hai nửa; trong đó kim loại nấu chảy được đúc tạm thời thành, ví dụ, 
thỏi, thỏi thô, thanh. 
Các khuôn khác (ví dụ, dùng để đúc các sản phẩm) nhìn chung được 
phân loại trong nhóm 84.80. 
Các khuôn đúc thuộc nhóm này bằng kim loại thường bằng sắt hoặc 
thép. Tuy nhiên, loại trừ khuôn thỏi bằng than chì hoặc than khác hoặc 
bằng vật liệu gốm (các nhóm 68.15 và 69.03 tương ứng). 
(D) MÁY ĐÚC CHUYÊN DÙNG TRONG LUYỆN KIMhoặcĐÚC 
KIM LOẠI 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy (thường kết hợp một băng tải hoặc băng chuyền) liên tục đổ 
đầy, làm nguội và rót vào khuôn. Những máy này đôi khi kết hợp 
các thiết bị dùng để lắc hoặc đổ khuôn để tạo điều kiện cho việc điều 
chỉnh kim loại nấu chảy cho xuống đều. 
(2) Máy đúc áp lực. Những máy này chủ yếu bao gồm hai tấm có thể 
điều chỉnh được gắn cố định hai nửa của khuôn đúc này. Kim loại 
dưới dạng lỏng từ bể chứa được đẩy vào khuôn này, bằng tác động 
trực tiếp của khí nén trên bề mặt tự do của kim loại lỏng trong bể 
chứa, sử dụng cách gắn một pít tông vào một bể chứa khép kín đổ 

đầy kim loại lỏng. Trong một số trường hợp những máy này kết hợp 
các thiết bị làm nguội, để làm tăng độ đông cứng của kim loại, và các 
thiết bị để tách sản phẩm đúc ra khỏi khuôn. Chủ yếu chúng được sử 
dụng để đúc các sản phẩm kim loại màu nhỏ. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm máy đúc khuôn áp suất cho 
bột kim loại, bằng cách tạo ra sự kết dính (nhóm 84.62). 
(3) Máy đúc ly tâm mà trong đó kim loại nấu chảy được dẫn vào trong 
một khuôn hình trụ quay với tốc độ cao; kim loại này văng lên trên 
các thành khuôn đúc và đông cứng dưới dạng ống . 
(4) Máy đúc liên tục. Trong những máy này, thép được vận chuyển 
từ nồi rót qua bộ phận phân phối đi đến các hướng đúc khác nhau, 
bao gồm:  
(a) Một khuôn thỏi, không có đáy, với các thiết bị làm nguội; 
(b) Bên ngoài khuôn thỏi là một hệ thống phun nước làm nguội kim 
loại đúc; 
(c) Một nhóm các trục lăn truyền cho phép rút đều đặn kim loại đã 
được làm cứng; và 
(d) một hệ thống máy cắt, được theo sau bởi một thiết bị tháo xả. 
Các khuôn được sử dụng với máy móc thuộc nhóm này thường nằm 
trong nhóm 68.15, 69.03 hoặc 84.80. 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải tổng 
quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận máy móc 
thuộc nhóm này. 
84.55 - Máy cán kim loại và trục cán của nó. 
      8455.10 - Máy cán ống 
                    - Máy cán khác: 
      8455.21 - - Máy cán nóng hoặc máy cán nóng và nguội kết hợp  

      8455.22 - - Máy cán nguội 
      8455.30 - Trục cán dùng cho máy cán 
      8455.90 - Bộ phận khác 
(I) MÁY CÁN 
Máy cán là máy chế biến kim loại chủ yếu bao gồm một hệ thống trục 
cán mà giữa các trục cán này kim loại này được cán ra; kim loại được 
cán hoặc taọ hình bởi áp suất của các trục cán và đồng thời quá trình cán 
làm biến đổi cấu trúc và tăng chất lượng kim loại. Trong một số trường 
hợp, ngoài các chức năng thông thường, máy cán có thể được sử dụng để 
tạo ra một hình mẫu trên bề mặt kim loại hoặc để cán hai hoặc nhiều tấm 
kim loại khác nhau cùng nhau để tạo ra một sản phẩm cán mỏng. 
Các máy tương tự dùng để cán các vật liệu khác kim loại, ví dụ máy cán 
ép bị loại trừ (nhóm 84.20). Các máy cán khác (ví dụ máy cán dùng để 
dán lá kim loại lên trên một tấm đỡ giấy (nhóm 84.20), máy uốn, gấp, 
làm thẳng hoặc máy làm phẳng (nhóm 84.62) không được coi như là 
máy cán với cách hiểu được mô tả ở trên và do đó cũng bị loại trừ ra 
khỏi nhóm này. 
Máy cán có nhiều loại khác nhau, tùy theo các thao tác cán riêng biệt 
được thiết kế khác nhau, cụ thể:  
(A) Cán để làm giảm độ dày tương ứng với tăng độ dài (ví dụ trong việc 
cán thỏi thành các phôi thép bloom, phôi thép dạng thanh hoặc dạng 
thanh dẹt; cán các phôi dẹt thành thép cán mỏng dạng tấm, dải v.v..). 
(B) Cán các phôi thép bloom, phôi thép dạng thanh v.v.. để tạo ra một 
tiết diện cụ thể (ví dụ trong việc sản xuất thép dạng thanh, dạng que, 
dạng góc, dạng hình, dạng định hình, dầm cầu, đường ray xe lửa). 
(C) Cán ống. 
(D) Cán phôi bánh xe hoặc phôi vành bánh xe (ví dụ để tạo thành các 
vành bánh xe lửa). 
Hầu hết các máy cán được thiết kế cho các hoạt động được chỉ ra tại 
phần (A) hoặc phần (B) nêu trên. Thành phần chính của những máy này 
được biết đến như một cái "giá", và bao gồm hai, ba hoặc bốn trục cán, 
một trục được gắn nằm ngang bên trên trục kia nằm trong các khung 

bằng kim loại nặng, kim loại đi qua một khe hở có thể điều chỉnh được 
giữa các trục cán. Trong ba giá đôi cao và trong hai giá cao, kim loại sau 
khi được truyền giữa hai trục cán thì được truyền qua hai trục khác; một 
số giá đỡ có hai hoặc nhiều trục cán phụ, hoạt động như bộ phận hỗ trợ 
để bổ sung lực cán và độ chắc chắn cho các trục cán đang hoạt động. 
Hầu hết các máy cán bao gồm một loạt các giá đỡ như vậy được bố trí 
cạnh nhau, hoặc so le hoặc theo kiểu song song (ví dụ, máy cán liên tục 
các tấm mỏng); tốc độ và khe hở của trục cán được điều chỉnh để cán 
kim loại liên tục và dần dần. 
Một số máy cán nhất định có thể có các trục cán cạnh dùng để gia cố các 
mép của vật liệu hoặc dùng để tạo ra các đoạn cán đặc biệt (ví dụ, dầm 
cầu). 
Đối với các sản phẩm cán phẳng (tấm dẹt, tấm mỏng, băng dải  v.v..) các 
trục cán thường trơn (trừ một số trục cán tinh có thể sản xuất ra một hình 
mẫu có gờ đơn giản). Trong nhiều trường hợp (ví dụ đối với các thao tác 
bên dưới phần (B) nêu trên) quá  trình cán  không được thực hiện trên 
toàn bộ chiều rộng của các trục cán, nhưng trục cán làm việc có các rãnh 
được cắt trên bề mặt của chúng do đó kẽ hở (hoặc rãnh thoát) của một 
hình dạng đặc biệt được tạo ra giữa hai trục cán. Kim loại khi đi qua trục 
cán được tạo hình thành hình dạng của kẽ hở, và đi qua các kẽ hở tương 
tự tiếp theo sẽ dần dần thay đổi hình dạng, do đó kim loại sẽ được tạo 
hình thành tiết diện như mong muốn. 
Máy cán thuộc loại được đề cập ở trên khác nhau đáng kể về kích cỡ, từ 
các máy nhỏ dùng để cán các kim loại quí hiếm tới các máy cán hạng 
nặng để cán thép. 
Hầu hết các máy cán được đề cập ở trên dùng cho cán nóng, nhưng một 
số máy cán tinh (đặc biệt dùng để cán tấm mỏng hoặc dải dài) cán nguội 
kim loại. 
Trong số các máy cán thuộc loại được đề cập ở phần (C) và phần (D) ở 
trên gồm : 
(1) Mannesmann hoặc máy tương tự dùng để tạo các lỗ trên các thanh 
kim loại; những máy này có các trục cán lớn nghiêng, làm quay thanh 

kim loại nóng và đẩy nó qua phía trên một lõi kim loại có lỗ thủng, 
do vậy tạo thành ống nhám. 
(2) Máy cán dùng để cán các thanh kim loại đục lỗ để giảm độ dày của 
thành, tăng độ dài và tạo ra một bề mặt như mong muốn cho các 
thành. Các thành của ống này được gia công giữa lõi hoặc chốt kim 
loại ở mặt bên trong, và các trục cán có r ãnh  tròn hoặc các trục cán 
hình nón ở mặt bên ngoài. Trong một số trường hợp, có sử dụng trục 
cán có các rãnh được cắt không đồng đều để tạo ra rãnh cán khác 
(cán bậc) 
 (3) Máy cán tinh dùng cho ống, để hoàn thiện hoặc giảm độ dày của 
thành ống, hoặc làm giảm đường kính, hoặc để tạo ra một tiết diện 
hình tròn hoàn hảo. Những máy cán này có thể hoạt động có hoặc 
không có lõi kim loại bên trong. 
(4) Máy cán kiểu tỏa tròn dùng để cán thành các ống thép đúc có đường 
kính lớn. Ống này quay giữa một loạt các trục cán thao tác ở mặt bên 
ngoài và các trục cán tương ứng thao tác ở mặt bên trong. 
(5) Máy cán bánh xe hoặc máy cán đĩa. Những máy cán này thường bao 
gồm các hệ thống trục cán hình nón hoặc hình trụ được sắp xếp đa 
dạng, mà giữa các trục cán đó bánh xe dạng gồ ghề quay tròn; các 
phần khác nhau của bánh xe (ví dụ vành bánh xe lửa) được gia công 
thành hình dạng như yêu cầu qua lực ép của các trục cán. Các máy 
tương tự được sử dụng để tạo hình cho lốp có vành của bánh xe lửa 
và cho một số đường ray xe lửa. 
Nhìn chung, hoạt động của máy cán đòi hỏi một số lớn thiết bị phụ trợ 
chẳng hạn như dẫn hướng, bàn cán, thiết bị điều khiển, lò nung lại, thùng 
bảo quản, thiết bị cuộn dải kim loại, kéo và cưa, nền làm nguội, máy cân 
hoặc máy đánh dấu, máy nắn thẳng hoặc máy làm dẹt, thiết bị điều khiển 
(cơ, điện hoặc điện tử) v.v… 
(II) TRỤC CÁN VÀ CÁC BỘ PHẬN KHÁC 
Theo những điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải 
Tổng quát của phần XVI), nhóm này bao gồm các bộ phận của máy cán. 

Trong số các bộ phận thuộc nhóm này là các trục cán của máy cán. 
Những trục cán này khác nhau đáng kể về độ dài và đường kính, những 
trục cán thép có độ dài xấp xỉ từ 30 tới 520cm và có đường kính từ 18 
đến 137 cm. Chúng được làm bằng gang, hoặc bằng vật đúc hoặc bằng 
thép rèn, thường được làm cứng đặc biệt trên bề mặt và được gia công 
cẩn thận để tạo ra các đường kính chính xác; chúng có thể trơn, hoặc có 
các khe rãnh hình thù khác nhau để tạo thành các rãnh cán cần thiết. Mỗi 
một trục cán kết thúc ở các cổ trục thường được tạo hình đặc biệt để gắn 
vào trong thân vỏ máy cán. Bên ngoài các cổ trục cán, các đầu của bánh 
ba múi được gia công cắt để sử dụng được lực dẫn động. 
84.56 - Máy công cụ để gia công mọi loại vật liệu bằng cách bóc tách 
vật liệu, bằng các quy trình sử dụng tia laser hoặc tia sáng khác 
hoặc chùm phô-tông, siêu âm, phóng điện, điện hóa, chùm tia 
điện tử, chùm tia i-on hoặc quá trình xử lý plasma hồ quang; 
máy cắt bằng tia nước. 
          - Hoạt động bằng tia laser hoặc tia sáng khác hoặc chùm 
phô-tông: 
      8456.11 - - Hoạt động bằng tia laser 
      8456.12 - - Hoạt động bằng tia sáng khác hoặc chùm phô-tông 
      8456.20 - Hoạt động bằng phương pháp siêu âm 
      8456.30 - Hoạt động bằng phương pháp phóng điện 
      8456.40 - Hoạt động bằng quá trình xử lý plasma hồ quang 
      8456.50 - Máy cắt bằng tia nước 
      8456.90 - Loại khác 
Máy công cụ thuộc nhóm này là các máy được sử dụng cho việc tạo hình 
hoặc gia công bề mặt cho mọi loại vật liệu. Chúng phải đáp ứng ba yêu 
cầu chủ yếu sau: 
(i) Chúng phải làm việc bằng cách bóc tách vật liệu; 

(ii) Chúng phải có các chức năng thực hiện như máy công cụ có trang bị 
các dụng cụ theo tiêu chuẩn; 
(iii) Chúng phải sử dụng một trong bảy qui trình công nghệ sau: qui trình 
sử  dụng tia lade hoặc tia sáng khác hoặc chùm phô-tông, siêu âm, 
phóng điện, điện hóa, tia điện tử (eclectron), tia ion hoặc xử lý hồ 
Nhóm này cũng bao gồm máy cắt bằng tia nước được mô tả trong phần 
(H) dưới đây. 
Tuy nhiên, nhóm này loại trừ những loại máy đã được quy định xếp vào 
nhóm 84.86, như dưới đây: 
(i) Máy gia công bất kỳ vật liệu nào bằng cách tách bỏ vật liệu, chỉ dùng 
và chủ yếu dùng trong sản xuất khối hoặc tấm bán dẫn, thiết bị bán 
dẫn, mạch điện tử tích hợp hoặc màn hình dẹt. 
(ii) Máy gia công bất kỳ vật liệu nào bằng cách tách bỏ vật liệu, loại chỉ 
dùng và chủ yếu dùng để sản xuất hoặc sửa chữa màn chắn và đường 
chữ thập 
(iii) Máy để khắc axit khô các bản mẫu trên vật liệu bán dẫn. 
Ví dụ của các loại mặt hàng kể trên là: (1) máy công cụ dùng chùm tia 
laze để khoan các tinh thể bán dẫn và (2) máy công cụ sử dụng phương 
pháp siêu âm để cắt các con chip bán dẫn hoặc cắt hoặc khoan chất nền 
làm bằng ceramic cho mạch điện tử tích hợp. 
(A) MÁY CÔNG CỤ ĐỂ GIA CÔNG BẰNG CÁC QUI TRÌNH SỬ 
DỤNG TIA LASER HOẶC TIA SÁNG KHÁC HOẶC CHÙM 
PHÔ-TÔNG 
Gia công cơ khí sử dụng tia laser (gia công cơ khí sử dụng chùm phô-
tông) bao gồm việc bắn phá một mục tiêu bằng các hạt photon. Cụ thể, 
nhóm này bao gồm máy dùng để khoan (kim loại, hồng ngọc cho đồng 
hồ đeo tay..v.v..) máy dùng để cắt kim loại hoặc các vật liệu cứng khác 

và máy dùng để chạm khắc (hình thù, chữ, dòng v.v..) trên các vật liệu 
có độ bền cao khác nhau. 
Nguyên lý hoạt động của máy công cụ gia công bằng quy trình sử dụng 
tia lade là sử dụng chùm tia lade hội tụ cường độ cao chiếu thẳng vào vật 
liệu để bóc tách bằng cách nung chảy, đốt nóng hoặc làm bốc hơi (hay 
còn gọi là bào mòn). Đối với một số máy công cụ nhất định thuộc loại 
này, chùm tia lade có thể được kết hợp với tia nước áp lực thấp để chỉnh 
hướng tia lade, loại bỏ mảnh vụn và làm nguội vật liệu. 
Máy công cụ khác của nhóm này khác biệt với máy công cụ hoạt động 
bằng tia laser để bóc tách vật liệu. 
(B) MÁY CÔNG CỤ ĐỂ GIA CÔNG 
BẰNG CÁC QUI TRÌNH  CÔNG NGHỆ SÓNG SIÊU ÂM 
Máy công cụ sử dụng sóng siêu âm bao gồm một máy khoan dưới tác 
dụng của những dao động sóng siêu âm và vật liệu mài ở dạng huyền 
phù trong chất lỏng. Những máy này có thể kết hợp với hệ thống tái sử 
dụng vật liệu mài. 
Nhóm này bao gồm máy công cụ, được sử dụng, cụ thể như sau: 
(1) Dùng để gia công kim cương hoặc khuôn dập cacbít kim loại; 
(2) Dùng để khoan hoặc tạo hình các khoáng vật; 
(3) Dùng để khắc thủy tinh; 
(4) Dùng để phay, chuốt hoặc đánh bóng. 
(C) MÁY CÔNG CỤ ĐỂ GIA CÔNG BẰNG QUI TRÌNH CÔNG 
NGHỆ PHÓNG ĐIỆN 
Nguyên lý của loại máy gia công cơ khí này là bóc tách kim loại giữa hai 
điện cực kim loại (vật cần gia công và dụng cụ) bằng việc phóng điện 
đột ngột trong một khoảng thời gian cực ngắn đạt mức vài trăm nghìn 
chu kỳ trong một giây. Ví dụ, nhóm này bao gồm, ví dụ máy cắt bằng 

tia lửa điện tần số cao. 
(D) MÁY CÔNG CỤ ĐỂ GIA CÔNG BẰNG QUI TRÌNH CÔNG 
NGHỆ ĐIỆN - HÓA 
Nguyên lý của loại máy gia công cơ khí này là bóc tách kim loại bằng 
qui trình điện phân. Vật cần gia công (anot) là một vật dẫn điện và dụng 
cụ điện cực (catot). Chúng được nhúng trong một dung dịch điện phân 
phù hợp, làm cho không kết tủa tại ca-tốt, đây là quá trình hòa tan anot 
điện hóa. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Thiết bị đánh bóng điện phân, được sử dụng để đánh bóng các mẫu 
vật cho kiểm tra bằng kính hiển vi hoặc kiểm tra kim tương. 
(2) Máy mài sắc điện phân dùng để mài sắc các dụng cụ cắt, các rãnh, 
khía của cơ cấu bẻ phoi hoặc các tấm cacbít kim loại dùng để cắt: 
những máy này sử dụng một đá mài kim cương. 
(3) Máy mài, cắt ba via các loại bánh răng khác nhau bằng sử phân hủy 
anot (cực dương) 
(4) Máy gia công tinh chính xác các bề mặt bằng phẳng... 
(E) MÁY CÔNG CỤ ĐỂ GIA CÔNG BẰNG QUI TRÌNH CÔNG 
NGHỆ CHÙM TIA ĐIỆN TỬ 
Việc gia công bằng chùm tia điện tử bao gồm việc bắn phá vật gia công 
trên một bề mặt rất nhỏ bằng electron được giải phóng từ catot, được gia 
tốc bởi một trường điện từ mạnh và được hội tụ lại bởi một hệ thống 
thấu kính từ trường hoặc tĩnh điện. 
(F) MÁY CÔNG CỤ ĐỂ GIA CÔNG BẰNG QUI TRÌNH CÔNG 
NGHỆ CHÙM TIA ION 
Chùm tia của những máy công cụ này gia công bằng tác động liên tục, 
không phải ở dạng xung như trong trường hợp chùm tia lade. 
(G) MÁY CÔNG CỤ ĐỂ GIA CÔNG BẰNG QUI TRÌNH CÔNG 

NGHỆ HỒ QUANG FLASMA 
Việc gia công bằng hồ quang plasma liên quan đến việc ion hóa mạnh 
một chất khí bằng một luồng điện phát ra từ một máy phát xung điện từ 
dưới điện thế cao. Việc gia công này cho phép cắt với một tốc độ rất cao 
và cắt thô và gia công các sợi dần tiến thô. 
(H) MÁY CẮT BẰNG TIA NƯỚC 
Nhóm này bao gồm máy cắt bằng tia nước và bằng tia hỗn hợp “nước và 
chất mài mòn”. Đây là những máy được thiết kế để cắt vật liệu bằng một 
quy trình sử dụng dòng phun của nước hoặc nước pha lẫn chất mài mòn 
mạnh, thường tốc độ dòng phun gấp 2 đến 3 lần tốc độ âm thanh. Chúng 
hoạt động dưới áp suất 3000 đến 4000 bar và có thể thực hiện nhiều loại 
đường cắt chính xác trên nhiều vật liệu. Máy cắt bằng tia nước thường 
được sử dụng để cắt các vật liệu mềm hơn (bọt xốp, cao su mềm, vật liệu 
đệm, vật liệu dạng phoi…). Máy cắt bằng tia nước pha lẫn chất mài mòn 
thường được sử dụng để cắt các vật liệu cứng hơn (thép dụng cụ, cao su 
cứng, composit, đá, thủy tinh, nhôm, thép không gỉ….). 
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Theo các điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải 
Tổng quát của phần XVI), các bộ phận và phụ tùng của các máy công cụ 
thuộc nhóm này được phân loại trong nhóm 84.66. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Thiết bị siêu âm dùng để làm sạch (nhóm 84.79). 
(b) Máy và thiết bị hàn hợp kim, có hoặc không thể cắt được (nhóm 

(c) Máy kiểm tra (nhóm 90.24). 
84.57 - Trung tâm gia công cơ khí, máy kết cấu nguyên khối (một vị trí 
gia công) và máy gia công chuyển dịch đa vị trí để gia công kim loại. 
      8457.10 - Trung tâm gia công  
      8457.20 - Máy kết cấu nguyên khối (một vị trí gia công) 
      8457.30 - Máy gia công chuyển dịch đa vị trí 
Nhóm này chỉ áp dụng (xem Chú giải 4 của chương này) cho các máy 
công cụ dùng để gia công kim loại (trừ máy tiện, kể các trung tâm tiện), 
các máy mà có thể thực hiện các nguyên công khác nhau trên một vật gia 
công, hoặc bằng cách: 
(a) thay đổi dụng cụ tự động từ một ổ chứa hoặc vật tương tự phù hợp 
với một chương trình gia công (trung tâm gia công); 
(b) sử dụng tự động, đồng thời hoặc tuần tự, các cụm đầu máy gia công 
khác nhau gia công trên phôi có một vị trí cố định (máy kết cấu 
nguyên khối (một vị trí gia công); hoặc  
(c) dịch chuyển tự động vật gia công sang các đơn vị đầu máy khác nhau 
(máy gia công chuyển dịch đa vị trí). 
(A) TRUNG TÂM GIA CÔNG 
Trung tâm gia công là những máy độc lập, nghĩa là tất cả các hoạt động 
của máy được thực hiện trên một máy đơn (đa chức năng), Những trung 
tâm này phải thỏa mãn hai điều kiện: chúng phải thực hiện một vài hoạt 
động gia công cơ khí khác nhau và chúng phải có chức năng thay đổi 
dụng cụ tự động, từ một ổ chứa hoặc vật tương tự phù hợp với một 
chương trình gia công. 
Kết quả là nhóm này bao gồm các máy công cụ mà có thể thực hiện hai 
hoặc nhiều nguyên công bằng việc thay đổi dụng cụ tự động từ một ổ 
chứa hoặc vật chứa tương tự, trong khi đó các máy công cụ thực hiện 
một nguyên công sử dụng một dụng cụ đơn hoặc vài dụng cụ gia công 

đồng thời hoặc tuần tự (ví dụ, máy khoan nhiều trục chính hoặc máy 
phay nhiều dao cắt) được phân loại trong các nhóm từ 84.59 đến 84.61. 
Yêu cầu về chức năng thay đổi dụng cụ tự động loại trừ ra khỏi nhóm 
này những máy đa chức năng (ví dụ, máy dùng để khoan, doa, ta rô và 
cán) mà không có khả năng tự động thay đổi dụng cụ. Những máy như 
vậy được phân loại trong các nhóm 84.59 tới 84.61 theo Chú giải 3 của 
Phần XVI hoặc bằng cách áp dụng nguyên tắc giải thích 3 (c), tất nhiên 
trừ khi chúng có thể được coi như là máy gia công chuyển dịch đa vị trí 
mà trong đó phôi  được tự động di chuyển sang các đầu máy đơn khác 
(xem phần (C) dưới đây). 
Trung tâm gia công cũng có thể bao gồm các thiết bị phụ trợ, chẳng hạn 
như thiết bị thay đổi tấm nâng palet, các hệ thống ngăn chứa palet hoặc 
các thiết bị thay đổi ngăn chứa dụng cụ. 
(B) MÁY KẾT CẤU NGUYÊN KHỐI (MỘT VỊ TRÍ GIA CÔNG) 
Máy kết cấu nguyên khối (một vị trí gia công) là những máy đa chức 
năng mà trong đó vật cần gia công được giữ tại một vị trí cố định trong 
khi các đơn vị đầu máy chuyển động tương đối với vật gia công để tiến 
hành gia công hoặc các hoạt động khác của máy này. 
Các đơn vị đầu máy là các bộ phận của máy mà trên đó chúng được gắn 
và được sử dụng để giữ, dẫn động (quay tròn, tịnh tiến) dụng cụ có thể 
thay đổi được. Các đầu quay thường nối với động cơ điện, trong khi các 
đầu dịch chuyển thường kết hợp một xi lanh thủy lực: hai loại đầu máy 
này có thể được kết hợp với nhau. 
Nhóm này bao gồm máy kết cấu nguyên khối (một vị trí gia công) thực 
hiện hai hoặc nhiều nguyên công bằng việc sử dụng hai hoặc nhiều đơn 
vị đầu máy. 
Tuy nhiên, máy thực hiện một nguyên công bằng việc sử dụng một vài 
đơn vị đầu máy hoặc máy thực hiện vài nguyên công bằng việc sử dụng 
một đơn vị đầu máy không thuộc nhóm này. 

(C) MÁY GIA CÔNG CHUYỂN DỊCH ĐA VỊ TRÍ 
Máy móc thuộc nhóm này phải thỏa mãn ba điều kiện: chúng phải thực 
hiện vài nguyên công, chúng phải hoạt động bằng việc di chuyển tự động 
vật gia công tới dụng cụ và chúng phải được trang bị một vài đơn vị đầu 
máy khác nhau. 
Một chi tiết khác biệt nhìn chung được thực hiện giữa các máy di chuyển 
quay và các máy di chuyển theo đường thẳng. Trong phần trước, các đơn 
vị đầu máy mà thực hiện các nguyên công khác nhau được sắp xếp trong 
một vòng tròn trên một bệ. Vật cần gia công chuyển động quanh vòng 
tròn này theo cách như vậy, tại mỗi vị trí, nó được gia công bằng các 
dụng cụ của đầu máy tương ứng (ví dụ khoan, đánh bóng,…). Trong các 
máy di chuyển theo đường thẳng, các đầu máy đơn được sắp xếp thành 
một đường thẳng trên bệ và gia công liên tục trên vật gia công khi nó đi 
từ đầu máy này tới đầu máy kia, dọc theo đường thẳng. 
Theo Chú giải 4 (c) của Chương, nhóm này không bao gồm các đường 
di chuyển của các máy khác nhau được nối liền bằng một băng chuyền 
mang các vật cần gia công. 
Theo các thuật ngữ của Chú giải Chương được đề cập ở trên, nhóm này 
cũng loại trừ các “hệ thống sản xuất linh hoạt” (FMS) bao gồm một vài 
máy, thông thường là máy điều khiển số, hoặc một vài nhóm máy, cùng 
với các thiết bị điều khiển tự động như khung nâng, băng truyền, xe đẩy 
không do người điều khiển, tay máy và rô bốt công nghiệp, dùng để tải 
các vật gia công đến các máy hoặc dời chúng đi sau khi gia công. Các 
nhóm máy khác nhau và các thiết bị điều khiển thiết lập thành hệ thống 
sản xuất linh hoạt được điều khiển bởi máy xử lý dữ liệu tự động. 
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Theo các điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải 
Tổng quát của phần XVI), các bộ phận và phụ kiện (trừ các dụng cụ 
thuộc Chương 82) của các máy công cụ thuộc nhóm này được phân loại 
trong nhóm 84.66. 

Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Máy công cụ dùng để gia công mọi vật liệu bằng cách bóc tách vật 
liệu, bằng các qui trình công nghệ tia lade hoặc tia sáng khác hoặc 
chùm phô-tông, siêu âm, phóng điện, điện hóa, tia điện tử, tia ion 
hoặc hồ quang plasma (nhóm 84.56) 
(b) Máy tiện (bao gồm cả các trung tâm gia công tiện) dùng để bóc tách 
kim loại (nhóm 84.58) 
(c) Máy gia công kiểu đầu tổ hợp có thể tháo lắp được (nhóm 84.59) 
(d) Máy và thiết bị hàn, hàn đồng thuộc các nhóm 84.68 và 85.15. 
84.58 - Máy tiện (kể cả trung tâm gia công tiện) để bóc tách kim loại. 
                    - Máy tiện ngang: 
     8458.11  - - Điều khiển số 
     8458.19  - - Loại khác 
                    - Máy tiện khác: 
     8458. 91 - - Điều khiển số 
     8458.99  - - Loại khác 
Máy tiện (kể cả trung tâm gia công tiện) của nhóm này là những máy 
được sử dụng để gia công bề mặt kim loại, bằng việc cắt bỏ hoặc loại bỏ 
kim loại bằng cách khác. 
Những máy móc này có thể phân biệt với các dụng cụ cầm tay (hoạt 
động bằng khí nén, thủy lực hoặc có gắn động cơ) thuộc nhóm 84.67 ở 
chỗ chúng thường được thiết kế đặt cố định trên sàn hoặc trên giá máy, 
hoặc gắn tường hoặc trên máy khác, vì vậy chúng thường có tấm bệ, 
khung gắn, giá đỡ v.v.. 

Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy tiện, tự động hoặc không, bao gồm  máy tiện mâm, máy tiện 
trượt, máy tiện đứng, máy tiện rêvônve, máy tiện chế tạo (hoặc sao 
chép). Tuy nhiên, máy tiện ép mà có chức năng tạo hình kim loại 
được phân vào nhóm 84.63. 
2) Máy tiện trục, dùng để tiện đồng thời và đối xứng hai đầu của các 
trục hoặc trục bánh quay có kích thước lớn. 
(3) Các trung tâm gia công tiện, sử dụng để tách bỏ kim loại. 
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Theo những điều khoản chung này liên quan đến việc phân loại các bộ 
phận (xem phần chú giải Tổng quát của Phần XVI), các bộ phận và phụ 
tùng (trừ những dụng cụ thuộc Chương 82) cuả máy tiện thuộc chương 
này được phân vào nhóm 84.66. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Máy công cụ để gia công mọi loại vật liệu bằng cách  bóc tách vật 
liệu đó, bằng các quy trình công nghệ tia lade hoặc tia sáng khác hoặc 
chùm phô-tông, siêu âm, phóng điện, điện hóa, tia điện tử, tia ion 
hoặc hồ quang plasma (nhóm 84.56). 
(b) Trung tâm gia công, máy kết cấu nguyên khối (một vị trí gia công) 
và máy gia công chuyển dịch đa vị trí để gia công kim loại (nhóm 
(c) Máy cắt đứt (nhóm 84.61). 
(d) Dụng cụ cầm tay hoạt động bằng khí nén, thủy lực hoặc gắn động cơ 
dùng điện hoặc không dùng điện (nhóm 84.67). 
(e) Máy và dụng cụ kiểm tra (nhóm  90.24). 

Chú giải phân nhóm 
Phân nhóm 8458.11 và phân nhóm 8458.91 
Máy công cụ điều khiển số là máy được biết đến với cụm từ viết tắt 
CNC (computer numerical control)hoặcNC (numerical control). Khái 
niệm CNC và NC có thể được coi như đồng nghĩa với nhau. Để được coi 
là một máy công cụ điều khiển số, chức năng và sự dịch chuyển của 
máy, dụng cụ và vật gia công phải được vận hành theo những câu lệnh 
đã được thiết lập trước. Việc lập trình thông thường được diễn dịch bằng 
ngôn ngữ NC riêng biệt, ví dụ như mã ISO. Chương trình và các dữ liệu 
khác được lưu trữ theo thứ tự để có thể sử dụng trực tiếp hoặc tiếp sau 
đó. Máy công cụ điều khiển số luôn tích hợp một khối điều khiển (tách 
riêng hoặc gắn liền với máy), kết hợp với một máy xử lý dữ liệu tự động 
hoặc một bộ vi xử lý hoặc hệ thống servo để đạt được các chuyển động 
như mong muốn cho các máy công cụ, dụng cụ hoặc  vật gia công. Máy 
CNC, máy tiện CNC, máy phay NC là những ví dụ của máy công cụ 
điều khiển số. 
Tuy nhiên, nếu đơn vị điều khiển không được trình bày cùng với máy 
công cụ,  thì máy công cụ vẫn có thể được coi như một máy công cụ 
điều khiển số với điều kiện là nó mang những đặc tính riêng của loại 
máy này. 
84.59 -Máy công cụ (kể cả đầu gia công tổ hợp có thể di chuyển 
được) dùng để khoan, doa, phay, ren hoặc ta rô bằng phương 
pháp bóc tách kim loại, trừ các loại máy tiện (kể cả trung tâm gia 
công tiện) thuộc nhóm 84.58 (+). 
      8459.10 - Đầu gia công tổ hợp có thể di chuyển được 
                   - Máy khoan khác: 

     8459.21 - - Điều khiển số 
     8459.29 - - Loại khác 
                   - Máy doa-phay khác: 
     8459.31 - - Điều khiển số 
     8459.39 - - Loại khác 
                   - Máy doa khác: 
     8459.41 - - Điều khiển số 
     8459.49 - - Loại khác 
                   - Máy phay, kiểu công xôn: 
     8459.51 - - Điều khiển số 
     8459.59 - - Loại khác 
                   - Máy phay khác: 
     8459.61 - - Điều khiển số 
     8459.69 - - Loại khác 
     8459.70   - Máy ren hoặc máy ta rô khác 
Nhóm này bao gồm máy công cụ dùng để khoan, doa, phay, cắt ren hoặc 
tarô ren bằng cách cắt hoặc bóc tách kim loại trừ máy tiện (kể cả trung 
tâm gia công tiện) thuộc nhóm 84.58. 
Phần lớn các máy công cụ này được dẫn động bằng động cơ nhưng các 
máy tương tự hoạt động được nhờ tay hoặc bàn đạp vẫn được xếp vào 
nhóm này. Các máy tương tự hoạt động bằng tay hoặc bàn đạp có thể 
được phân biệt với dụng cụ cầm tay thuộc nhóm 82.05 và những dụng 
cụ cầm tay thuộc nhóm 84.67 do thực tế là những máy này thường được 
thiết kế đặt trên sàn, trên giá máy, gắn tường hoặc gắn trên máy khác và 
vì vậy chúng thường có tấm đế, khung gắn, giá đỡ…. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy gia công kiểu đầu tổ hợp có thể tháo lắp được. Những máy 
này được thiết kể để khoan, doa, phay, ren hoặc taro, không có đế 
gắn kèm. Chúng chỉ bao gồm một “khung” giữ một mô tơ, một giá đỡ 
dụng cụ và được trang bị các đường dẫn hướng và có thể dịch  

chuyển về phía trước và phía sau lặp đi lặp lại khi được đặt trên một 
đế thích hợp. Vật gia công được đưa vào một đồ gá gia công độc lập 
với đầu gia công tổ hợp, dịch  chuyển về phía trước và phía sau theo 
phương nằm  ngang để khoan, doa… 
(2) Máy khoan.  Những máy này được sử dụng để tạo ra trên vật gia 
công một lỗ hình trụ, bao gồm cả lỗ chưa khoan thủng nhờ một dụng 
cụ gọi là mũi khoan hoặc lưỡi cắt. Vật cần gia công nói chung không 
di chuyển trong suốt thời gian chyển động quay tròn của dụng cụ 
(chuyển động cắt) và di chuyển tịnh tiến (chuyển động ăn dao). 
Nhóm này cũng bao gồm các máy khoan có sử dụng một dụng cụ cố 
định để gia công vật gia công quay tròn hoặc những máy sử dụng cả 
hai quá trình. 
Máy khoan bao gồm các máy khoan một trục chính, xuyên tâm hoặc 
không và những máy có vài trục chính (máy khoan nhiều trục chính). 
(3) Máy doa, tức là các máy gia công thêm bề mặt bên trong của các lỗ 
đã được gia công trước đó nhằm tạo ra hình dạng và kích thước chính 
xác. Dao doa có thể là hình trụ, hình nón hoặc hình cầu. Ví dụ: máy 
doa được dùng cho việc gia công đường kính chính xác các xi lanh 
của động cơ piston hoặc bơm. 
Nguyên công doa được thực hiện nhờ việc sử dụng những dụng cụ có 
kích thước cố định (mũi khoan doa, mũi doa tinh thẳng hoặc xoắn ốc) 
hoặc kích thước thay đổi (dao doa đầu mở rộng, dao doa có đầu thu 
nhỏ - đầu mũi doa có thể được điều chỉnh để gia công được lỗ rất 
nhỏ, dao doa răng chắp) hoặc với dụng cụ làm việc trong đường dẫn 
hướng (dao cắt có thể điều chỉnh, mở rộng hoặc không điều chỉnh 
được và ống bọc một khối rỗng hoặc ống bọc có bộ phận chèn) . 
Nhóm này bao gồm đặc biệt là máy doa đứng, máy doa ngang (với 
giá cố định hoặc chuyển động), máy doa đa chức năng, máy doa chép 
hình dùng để gia công lỗ rỗng cũng như những máy thường được gọi 
là máy khoan - doa được gắn với trục chính phức hợp (composite 
spindle) làm từ hai trục đồng tâm có chức năng độc lập; trục bên 

trong gồm một ống lót dài cho phép gắn với chuôi doa (trục dao doa), 
trong khi đó, trục bên ngoài thường được gắn cứng với một đĩa, được 
lắp một dao phay phù hợp (trục dao phay). 
Nhóm này cũng bao gồm những loại máy được thiết kế và lắp đặt 
dùng cho doa lỗ, thậm chí nếu chúng có thể được điều chỉnh để thực 
hiện những hoạt động khác (ví dụ như khoan, gia công phẳng, phay, 
tiện và thậm chí đôi khi gia công trục vít). Mặt khác, máy tiện (bao 
gồm cả trung tâm gia công tiện) thực hiện việc gia công lỗ như 
nguyên công bổ sung hoặc phụ trợ được phân vào nhóm 84.58. 
(4) Máy phay. Những máy này gia công một bề mặt phẳng hoặc 
nghiêng bằng các dụng cụ có chuyển động quay tròn (gọi là dao 
phay), chuyển động cắt quay tròn có kết hợp với chuyển động tịnh 
tiến của chi tiết cố định trên bàn máy. Máy phay bao gồm, đặc biệt là 
máy phay ngang, máy phay đứng, máy phay ngang - đứng, máy phay 
có đầu điều chỉnh được, máy phay mặt phẳng, máy phay vạn năng, 
mà có bổ sung hoạt động phay thông thường, có thể có đầu phân độ 
được gắn vào máy, trục máy phay vỏ dạng trục dọc hoặc dạng bánh 
răng trụ  tròn hoặc bánh răng nghiêng,  máy phay tuần hoàn, máy 
phay dùng để tạo khe, rãnh hoặc v át m ép, máy phay để chạm 
khắc… 
(5) Máy tarô ren (như máy dùng để tạo ren trong một lỗ hiện có) và 
máy cắt ren dùng để cắt ren bu lông, trục vít... Lưu ý rằng máy phay 
ren được coi như máy phay. 
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Theo điều khoản chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận (xem 
chú giải Tổng quát của phần XVI), các bộ phận và phụ tùng (trừ dụng 
cụ thuộc Chương 82) của các loại máy công cụ của nhóm này được 
phân vào nhóm 84.66. 

Nhóm này không bao gồm: 
(a) Máy công cụ dùng để gia công mọi loại vật liệu bằng cách bóc tách 
vật liệu bằng các quy trình công nghệ tia lade hoặc tia sáng khác hoặc 
chùm phô-tông, siêu âm, phóng điện, điện hóa, tia điện tử, tia ion 
hoặc hồ quang plasma (nhóm 84.56). 
(b) Trung tâm gia công, máy kết cấu nguyên khối (một vị trí gia công)  
và máy gia công chuyển dịch đa vị trí để gia công kim loại (nhóm 
(c) Máy tiện (bao gồm cả các trung tâm gia công tiện) dùng để bóc tách 
kim loại (nhóm 84.58). 
(d) Máy công cụ để gia công mặt phẳng và máy công cụ khác dùng để 
gia công kim loại thuộc nhóm 84.61. 
(e) Dụng cụ cầm tay hoạt động bằng khí nén, thủy lực hoặc gắn động cơ 
điện hoặc động cơ không dùng điện (nhóm 84.67) 
(f) Máy và dụng cụ kiểm tra, nhóm 90.24. 
Chú giải phân nhóm. 
Các phân nhóm 8459.21, 8459.31, 8459.41, 8459.51 và 8458.61 
Xem chú giải đối với phân nhóm 8458.11 và 8458.91 
Các phân nhóm 8459.51 và 8459.59 
Các máy thuộc các phân nhóm này có thể được xác định bằng việc hiện 
diện của một bảng điều khiển có một phần tử nằm ngang trên bàn điều 
khiển có khả năng chuyển động thẳng đứng trên bệ bằng rãnh trượt. Bệ 
này đỡ bàn máy làm việc (worktable) hoạt động theo chiều ngang. 
Bảng điều khiển thường bao gồm các thiết bị cần thiết cho việc điều 
khiển máy. 

84.60 - Máy công cụ dùng để mài bavia, mài sắc, mài nhẵn, mài 
khôn, mài rà, đánh bóng hoặc bằng cách khác để gia công hoàn 
thiện kim loại hoặc gốm kim loại bằng các loại đá mài, vật liệu 
mài hoặc các chất đánh bóng, trừ các loại máy cắt răng, mài răng 
hoặc gia công hoàn thiện bánh răng thuộc nhóm 84.61 (+). 
                    - Máy mài phẳng: 
      8460.12 - - Điều khiển số 
      8460.19 - - Loại khác 
                   - Máy mài khác: 
      8460.22 - - Máy mài không tâm, loại điều khiển số 
      8460.23 - - Máy mài trụ khác, loại điều khiển số 
      8460.24 - - Loại khác, điều khiển số 
      8460.29 - - Loại khác 
                    - Máy mài sắc (mài dụng cụ làm việc hoặc lưỡi cắt): 
      8460.31 - - Điều khiển số 
      8460.39 - - Loại khác 
      8460.40 - Máy mài khôn hoặc máy mài rà 
      8460.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm một số máy gia công tinh bề mặt kim loại, hoặc gốm 
kim loại nhưng không bao gồm các loại máy cắt răng, mài răng hoặc 
máy gia công răng lần cuối (nhóm 84.61). Những loại máy này hoạt 
động bằng cách bóc tách vật liệu bằng đá mài, vật liệu mài hoặc các sản 
phẩm đánh bóng. Theo mục đích của nhóm này thì thuật ngữ "các sản 
phẩm đánh bóng" có nghĩa như sau: 
(1) đĩa đánh bóng làm từ cacbít kim loại, thép, kim loại mềm, gỗ, nỉ, vật 
liệu dệt hoặc da; 
(2) bàn chải dây thép; 
(3) miếng nùi đánh bóng. 

Các máy công cụ nói chung được vận hành bằng điện nhưng những máy 
tương tự hoạt động bằng tay hoặc đạp chân, cũng được phân vào nhóm 
này. Loại hoạt động bằng tay hoặc đạp chân có thể phân biệt với dụng cụ 
bằng tay thuộc nhóm 82.05 và dụng cụ cầm tay thuộc nhóm 84.67, trên 
thực tế là chúng thường được thiết kế gắn đặt trên sàn, trên giá máy, gắn 
tường hoặc gắn vào máy khác, và vì vậy chúng thường có bệ, khung gắn, 
giá đỡ... 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy mài ba via với bàn chải kim loại hoặc vật liệu mài, dùng để 
cắt ba via các vật đúc thô ráp hoặc rìa của miếng kim loại được cắt. 
(2) Máy mài sắc dụng cụ (máy mài dụng cụ cắt) kể cả máy dùng để mài 
gốm kim loại hoặc dụng cụ bằng kim loại cứng cũng như là máy mài 
sắc thẻ. 
(3) Máy mài, các loại khác nhau (ví dụ, mày mài trong, máy mài bề mặt 
vô tâm, máy mài bề mặt, máy mài ren, máy dùng để mài van và bệ 
van), chức năng của chúng là hoàn thiện đạt độ chính xác như mong 
muốn, hoàn thiện công việc của các máy khác. 
Nhóm này bao gồm, ví dụ: 
(i)  Máy mài không tâm. Đặc trưng của những máy này là không 
có trục chính mà có hai đĩa mài dạng hình tròn (một đá mài mòn 
và một đá dẫn) và một lưỡi dao hỗ trợ giữ phôi. 
(ii) Máy mài trụ. Đặc trưng của những máy này là có một trục 
chính và giá đỡ để giữ và di chuyển phôi, và có một hoặc nhiều đá 
mài. Máy có thể gia công bề mặt bên ngoài của phôi, bề mặt bên 
trong hoặc cả hai (các máy mài hình trụ vạn năng). 
(4) Máy mài khôn và mài rà dùng để tạo ra bề mặt có độ chính xác phù hợp. 
(5) Máy đánh bóng dùng để gia công tinh bề mặt chi tiết. 
(6) Máy chạm khắc, loại trừ những máy thuộc nhóm 84.59 hoặc 84.61. 

BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Theo điều khoản chung liên quan đến việc phân loại các bộ phận (xem 
chú giải Tổng quát của phần XVI), các bộ phận và phụ tùng (trừ dụng 
cụ thuộc Chương 82) của các loại máy công cụ của nhóm này được 
phân vào nhóm 84.66). 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Các dụng cụ cầm tay, đá mài dạng hình tròn hoạt động bằng tay hoặc 
chân (nhóm  82.05). 
(b) Máy phun cát (nhóm 84.24). 
(c) Máy công cụ để gia công mọi loại vật liệu bằng cách bóc tách vật 
liệu, bằng các quy trình công nghệ tia lade hoặc tia sáng khác hoặc 
chùm phô-tông, siêu âm, phóng điện, điện hóa, tia điện tử, tia ion 
hoặc hồ quang plasma; máy cắt bằng tia nước (nhóm 84.56). 
(d) Trung tâm gia công, máy kết cấu nguyên khối (một vị trí gia công) 
và máy gia công chuyển dịch đa vị trí để gia công kim loại (nhóm 
(e) Dụng cụ cầm tay hoạt động bằng khí nén, thủy lực hoặc gắn động cơ 
dùng điệnhoặckhông dùng điện (nhóm 84.67). 
(f) Các thùng quay tròn dùng để đánh bóng bằng cát, đánh sạch gỉ hoặc 
đánh bóng đồ kim loại (nhóm 84.79). 
(g) Máy và thiết bị kiểm tra (nhóm 90.24). 
Chú giải phân nhóm. 
Các phân nhóm 8460.12, 8460.22, 8460.23, 8460.24 và 8460.31 
Xem chú giải đối với các phân nhóm 8458.11 và 8458.91 về khái niệm 

“điều khiển số”. 
84.61 - Máy bào, máy bào ngang, máy xọc, máy chuốt, máy cắt bánh 
răng, mài hoặc máy gia công răng lần cuối, máy cưa, máy cắt đứt 
và các loại máy công cụ khác gia công bằng cách bóc tách kim 
loại hoặc gốm kim loại, chưa được ghi hoặc chi tiết ở nơi khác. 
      8461.20 - Máy bào ngang hoặc máy xọc 
      8461.30 - Máy chuốt 
      8461.40 - Máy cắt bánh răng, mài hoặc gia công răng lần cuối 
      8461.50 - Máy cưa hoặc máy cắt đứt 
      8461.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm máy công cụ dùng để gia công bằng cách bóc tách 
kim loại hoặc gốm kim loại chưa thuộc nhóm nào khác. 
Các máy công cụ chung được vận hành bằng động cơ điện nhưng những 
máy tương tự hoạt động bằng tay hoặc đạp chân, cũng được phân vào 
nhóm này. Loại hoạt động bằng tay hoặc đạp chân có thể phân biệt với 
dụng cụ cầm tay thuộc nhóm 82.05 và dụng cụ cầm tay thuộc nhóm 
84.67, ở điểm là chúng thường được thiết kế đặt trên sàn, giá máy, trên 
tường hoặc gắn vào máy khác, và vì vậy chúng thường có bệ, khung gắn, 
giá... 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy bào dùng để bào mặt ngoài hoặc các đoạn bề mặt chi tiết với sự 
hỗ trợ của các dụng cụ có một lưỡi cắt. Đó là máy công cụ mà trong 
đó dụng cụ được cố định khi bàn máy mang chi tiết chuyển động qua 
lại (chuyển động tịnh tiến, lặp đi lặp lại). Tuy nhiên, một số mày bào 
lớn như máy bào hốc hoặc mày bào cạnh sắc của các tấm mạ có bàn 
cố định và được dùng để gia công những chi tiết có độ dài lớn (ví dụ, 
Một số loại máy bào được gắn một hoặc hai phụ kiện hoặc tích hợp 

thêm với một hoặc hai bàn dao máy phay, nó thay thế cho một số 
lượng tương đương bàn dao máy bào. Những máy công cụ này gọi là 
"máy bào và phay" được coi như những máy bào, thậm chí có thể 
giảm tốc độ của bàn máy để sử dụng cho việc phay. Chúng không 
được nhầm lẫn với những máy phay gọi là "máy bào - phay "thuộc 
nhóm 84.59. Bề ngoài của chúng giống như máy bào, nhưng được 
lắp thêm bàn dao máy phay. 
Máy bào cũng có thể lắp thêm một hoặc hai đường trượt mài nhẵn 
trên bàn dao máy bào. Việc lắp thêm những đường dẫn hướng được 
mài cho phép những máy bào này được sử dụng như những máy làm 
chính xác bề mặt bàn. Một số mẫu được lắp bàn dao máy bào, bàn 
dao máy phay và đường trượt mài. Một số loại khác được lắp các 
thiết bị cho phép máy thực hiện chức năng xọc rãnh. 
(2) Máy bào ngang là máy công cụ hoạt động theo nguyên lý bào  tuy 
nhiên khác máy bào ở chỗ vật được gia công được cố định trong suốt 
thời gian cắt, trong khi dụng cụ chuyển động tịnh tiến lặp đi lặp lại. 
Do tư thế nhô ra của bộ phận kẹp chặt dụng cụ, chuyển động tối đa 
của dụng cụ bị hạn chế và vì lý do này máy bào ngang thường được 
giới hạn để gia công những chi tiết có kích thước nhỏ. 
(3) Máy xọc là máy công cụ họat động theo cơ chế bào trong đó vật 
được gia công không di động trong khi cắt, khi đó dụng cụ chuyển 
động theo chiều dài theo phương thẳng đứng hoặc đôi khi theo 
phương nghiêng. Theo tài liệu tham khảo sử dụng, những loại máy 
này là những dụng cụ xọc rãnh, là những máy đặc trưng có những 
rãnh trượt ngắn; máy xọc - đột rập dùng để thực hiện công việc cần 
thiết phải cắt bỏ nhanh phần lớn nguyên liệu ra khỏi vật dầy. Những 
máy này sử dụng dụng cụ trượt (với 1 lưỡi cắt đơn) hoặc dụng cụ 
đột rập (với 4 lưỡi cắt; Máy xọc đứng ; máy xọc với đường trượt 
nằm ngang; những máy này được gọi là "máy cắt rãnh" (bằng việc 
kéo hoặc đẩy), quá trình gia công của những máy này giống như 
máy chuốt, nhưng sử dụng các dụng cụ khác. 

(4) Máy chuốt. Dụng cụ (dao chuốt) được kéo hoặc đẩy qua vật hoặc 
ngang qua một lỗ, để gia công bề mặt. Những loại khác nhau của máy 
chuốt là máy chuốt dọc hoặc ngang với rãnh trượt đơn; máy đôi 
("duplex") bao gồm hai rãnh trượt, mỗi cái họat động trên một dao 
chuốt hoặc chuốt ép là những máy chuốt đứng tác động trên dao 
chuốt bằng lực ép. 
(5) Máy cắt bánh răng, mài hoặc gia công răng lần cuối. Nhóm này 
bao gồm máy cắt bánh răng được thiết kế dành riêng cho việc chế tạo 
bánh răng bằng việc tách bỏ kim loại khỏi phôi hình trụ hoặc hình 
côn. 
      Máy cắt bánh răng hoạt động chủ yếu theo các quá trình sau đây: 
- cắt phay điều khiển modul trong đó đĩa phay hoặc dao cắt hình nón 
được sử dụng như công cụ. Quá trình này hiện hành dùng để cắt 
bánh răng trụ răng thẳng; 
- cắt răng bằng phương pháp chép hình, dùng dụng cụ là dao bào 
(dụng cụ cắt thẳng). Quá trình này để cắt bánh răng trụ hoặc bánh 
răng côn. 
- cắt răng bao hình, dụng cụ cắt là một trục vít, một thanh răng hoặc 
một trục răng. Quá trình này cho phép cắt các bánh răng thẳng, 
nghiêng, côn, trong hoặc ngoài. 
- cắt bằng vật liệu mài. 
(6) Máy cưa. Phụ thuộc vào hình  dạng của dụng cụ được sử dụng có thể 
phân biệt thành những loại sau đây: 
- máy cưa chuyển động qua lại hoặc máy cưa cần lắc trong đó dụng 
cụ bao gồm một lưỡi cưa thẳng chuyển động qua lại; 
- lưỡi cưa hình tròn, trong đó có một dụng cụ hình tròn, có răng cưa ở 
cạnh ngoài và quay với vận tốc lớn. Dụng cụ này thường được gọi 

là "lưỡi cưa xẻ" hoặc "lưỡi cưa cắt rãnh"; 
- máy cưa vòng, sử dụng một lưỡi rất dài, một phía được khía răng 
cưa và các đầu của lưỡi cưa được nối lại tạo thành một dải. 
(7) Máy cắt đứt. Những máy công cụ này khác với máy cưa do những 
công dụng của dụng cụ mà máy sử dụng. Loại sau sử dụng dụng cụ 
như dao tiện hoặc đĩa kim loại hoặc vật liệu mài. 
- máy cắt đứt với dụng cụ cắt phù hợp sử dụng một trong hai phương 
pháp: 
Một loại hoạt động giống như máy tiện cắt đứt nhưng trên thực tế, có 
thể phân biệt bởi bộ phận kẹp chặt dụng cụ không thể chuyển động 
dọc, không giống như bàn dao của máy tiện cắt đứt. 
Loại còn lại làm việc như một trục hoặc trục chính của máy tiện, 
trong đó dụng cụ được cố định trong khi chi tiết chuyển động trên 
bàn trượt. Nó có thể phân biệt với loại sau, tuy nhiên, trên thực tế thì 
chi tiết được tạo ra chỉ có thể được chuyển động theo một hướng. 
Cả hai loại trên chỉ có thể thực hiện một nguyên công cắt đứt. 
Những máy hoạt động như máy tiện cắt đứt bao gồm một trục chính 
rỗng với đường kính lớn, hoạt động dựa trên chuyển động quay tròn 
của chi tiết. Một bàn rất ngắn đỡ cho một hoặc hai bộ phận kẹp chặt 
dụng cụ mà có thể chuyển động theo phương ngang. Trong những 
máy này phần hoạt động như một trục chính hoặc trục của máy tiện, 
vật được cắt sẽ cố định trên khay mang chuyển động. Dụng cụ được 
gắn cố định trên máy và bao gồm một đầu quay tốc độ cao, trên đó 
các dụng cụ cắt được bố trí theo vòng tròn. 
- máy cắt đứt có những đĩa cắt hạt mài giống như những đĩa cắt của 
cưa đĩa, nhưng lưỡi cưa xẻ được thay thế bằng đá mài hai mặt cắt. 
- máy cắt đứt với những đĩa kim loại, cũng được coi như máy cưa ma 
sát, trên thực tế nó có đặc điểm là hoạt động nhờ một đĩa thép ít 
cacbon không răng cắt trên chu vi của nó. Đĩa này, có thể có rãnh, 
được quay theo một cách tạo ra cho đĩa một vận tốc vòng, nếu  phần 

rìa của đĩa dần dần tiến gần lại  miếng kim loại, miếng này nóng 
chảy ngay lập tức mà không cần có sự tiếp xúc gần với đĩa. Hiện 
tượng này là kết quả của sự kết hợp giữa ma sát và hoạt động ô xy 
hóa không khí bị giữ lại giữa đĩa và kim loại bị cắt ra. 
(8) Máy giũa, có thiết kế giống như những máy cưa chuyển động qua lại 
nhưng dùng giũa chứ không dùng lưỡi cưa. 
(9) Máy chạm khắc, trừ những loại được xếp vào nhóm 84.59 hoặc 
BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Theo quy định chung của việc phân loại các bộ phận (xem chú giải tổng 
quát của phần XVI), các bộ phận và phụ kiện (trừ các loại dụng cụ thuộc 
Chương 82) của các loại máy công cụ của nhóm này được phân loại vào 
nhóm 84.66. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Dụng cụ cầm tay (nhóm 82.05). 
(b) Máy công cụ để gia công mọi loại vật liệu bằng cách bóc tách vật 
liệu, bằng các quy trình công nghệ tia lade hoặc tia sáng khác hoặc 
chùm phô-tông, siêu âm, phóng điện, điện hóa, tia điển tử, tia ion 
hoặc hồ quang plasma; máy cắt bằng tia nước (nhóm 84.56). 
(c) Trung tâm gia công, máy kết cấu nguyên khối (một vị trí gia công) và 
máy gia công chuyển dịch đa vị trí, để gia công kim loại (nhóm 84.57). 
(d) Dụng cụ cầm tay hoạt động bằng khí nén, thuỷ lực hoặc gắn động cơ 
dùng hoặc không dùng điện (nhóm 84.67). 
(e) Máy móc và các thiết bị kiểm tra nhóm 90.24. 
84.62 - Máy công cụ (kể cả máy ép) dùng để gia công kim loại bằng 
cách rèn, gò hoặc dập khuôn (trừ máy cán kim loại); máy công 

cụ (kể cả máy ép, dây chuyền xẻ cuộn và dây chuyền cắt xén 
thành đoạn) để gia công kim loại bằng cách uốn, gấp, kéo thẳng, 
dát phẳng, cắt xén, đột dập, cắt rãnh hoặc cắt dập liên tục (trừ 
các loại máy kéo kim loại); máy ép để gia công kim loại hoặc  
carbua kim loại chưa được chi tiết ở trên (+). 
                      - Máy tạo hình nóng để rèn, dập khuôn (kể cả máy ép) và 
búa máy nóng: 
     8462.11 - - Máy rèn khuôn kín 
     8462.19 - - Loại khác 
                      - Máy uốn, gấp, kéo thẳng hoặc dát phẳng (kể cả máy 
chấn) cho các sản phẩm phẳng: 
      8462.22 - - Máy định hình (Profile forming machines) 
      8462.23 - - Máy chấn điều khiển số 
      8462.24 - -  Máy uốn bảng điều khiển số 
      8462.25 - -  Máy uốn định hình lăn điều khiển số 
      8462.26 - - Các máy uốn, gấp, kéo thẳng hoặc dát phẳng điều khiển 
số khác 
       8462.29 - - Loại khác 
    - Dây chuyền xẻ cuộn, dây chuyền cắt xén thành đoạn và 
các máy cắt xén khác (trừ máy ép) dùng cho các sản 
phẩm phẳng, trừ loại máy cắt xén và đột dập kết hợp: 
      8462.32 - - Dây chuyền xẻ cuộn, dây chuyền cắt xén thành đoạn 
      8462.39 - - Loại khác  
                     - Máy đột dập, máy cắt rãnh theo hình hoặc máy cắt dập 
liên tục (trừ máy ép) dùng cho các sản phẩm phẳng kể cả 
loại máy cắt xén và đột dập kết hợp: 
      8462.42 - - Điều khiển số 
      8462.49 - - Loại khác 
                    - Máy gia công ống, ống dẫn, dạng hình rỗng và dạng thanh 
(trừ máy ép): 
       8462.51 - - Điều khiển số 
       8462.59 - - Loại khác 

                     - Máy gia công ép nguội kim loại: 
      8462.61 - - Máy ép thủy lực 
      8462.62 - - Máy ép cơ khí 
      8462.63 - - Máy ép Servo 
      8462.69 - - Loại khác  
      8462.90   - Loại khác 
Nhóm này bao gồm những loại máy công cụ nhất định, được liệt kê 
trong nội dung của nhóm, những loại máy này hoạt động bằng cách thay 
đổi hình dạng, trạng thái của kim loại hoặc các bua kim loại. 
Nhìn chung, các loại máy công cụ vận hành bằng động cơ, nhưng những 
máy tương tự, vận hành bằng tay hoặc đạp chân có thể phân biệt với 
dụng cụ cầm tay của nhóm 82.05 và dụng cụ cầm tay của nhóm 84.67, 
trên thực tế những loại máy này được thiết kế để đặt sàn, trên giá máy, 
gắn tường hoặc trên máy móc khác, và vì vậy những máy này thường có 
đế, khung gắn, giá đỡ v.v.. 
Nhóm này bao gồm: 
1. Máy tạo hình nóng để rèn, dập khuôn (kể cả máy ép) và búa máy 
nóng. Nói rộng, hoạt động rèn bao gồm toàn bộ quá trình để gia công 
kim loại được nung nóng bằng cách dập hoặc gây ra sức ép, hoặc để 
loại bỏ xỉ trong quá trình luyện puđlinh (rèn ép sắt thỏi để tách xỉ - 
shingling) hoặc để tạo hình kim loại. Ngoại trừ trong trường hợp loại 
xỉ khi kim loại được gia công ở dạng hình quả bóng, kim loại được 
tạo thành hoặc ở dạng bán thành phẩm như ở dạng phôi bloom, phôi 
dạng thanh hoặc thanh dẹt hoặc dạng thanh hoặc que, thường có mặt 
cắt là hình tròn.  
Trong quá trình rèn khuôn, khuôn bao quanh toàn bộ vật thành phẩm. Tuy 
nhiên, trong một số trường hợp nhất định, khuôn dập kim loại đơn chỉ 
thực hiện dập trên một phần của phôi dập. Quá trình này gọi là rèn khuôn 
hở.  
Máy cắt theo khuôn có thể loại bỏ "ba via" trong quá trình dập 
khuôn. Việc cắt bỏ này được thực hiện với sự trợ giúp của khuôn dập 
cắt đặc biệt.  

Hoạt động hoàn thiện được thực hiện bằng khuôn chính xác để tạo ra 
các kích thước chính xác cần thiết của phôi được mô tả là “sự định 
cỡ” hoặc “hiệu chỉnh”. 
Sau đây là những máy công cụ được thiết kế đặc biệt để thực hiện các 
hoạt động đã mô tả ở trên: 
(a) Máy rèn khuôn kín: 
Rèn khuôn kín là quá trình trong đó các khuôn di chuyển về phía 
nhau và bao phủ toàn bộ hoặc một phần phôi. Nguyên liệu thô đã 
được gia nhiệt, thường là phôi tròn hoặc vuông đã được xẻ hoặc 
cắt xén, được đặt vào khuôn dưới. Hình dạng của vật rèn được gắn 
ở khuôn trên hoặc khuôn dưới dưới dạng hình ảnh âm bản. Từ 
phía trên, tác động của khuôn trên lên nguyên liệu thô sẽ tạo thành 
hình dạng rèn cần thiết. 
(b) Máy rèn khuôn mở: 
     Rèn khuôn mở là quá trình tạo hình một miếng kim loại giữa búa 
hoặc búa và một khuôn mở duy nhất trong quy trình tạo hình 
nhiều bước cho đến khi đạt được hình dạng cuối cùng. 
(c) Búa máy, máy rèn, búa thả (búa cơ khí, búa thủy lực và khí nén, 
búa hơi) hoạt động bằng hàng loạt va chạm nhanh và đột ngột. 
(d) Máy ép kim loại hoạt động bằng sức ép liên tục. Tuy nhiên nhóm 
này không bao gồm máy ép với công dụng chung không thiết kế 
đặc biệt để gia công kim loại (nhóm 84.79).  
2. Máy uốn, gấp, kéo thẳng hoặc dát phẳng (kể cả máy chấn) cho các 
sản phẩm phẳng. 
Không kể những đề cập khác, những máy này bao gồm : 
(a) Máy định hình (Profile forming machines) là máy được sử 
dụng để sản xuất tự động và liên tục kim loại định hình từ các sản 
phẩm phẳng. Một tấm kim loại phẳng được đưa qua một số bộ con 
lăn gắn trên các giá đỡ liên tiếp. Tấm phẳng được gấp chéo dần dần 
bởi mỗi hệ thống con lăn cho đến khi đạt được mặt cắt mong muốn. 
Máy tạo hình biên dạng sửa đổi mặt cắt ngang của tấm kim loại, 

trong khi chiều dọc vẫn được giữ thẳng. 
(b) Máy chấn điều khiển số cho các sản phẩm phẳng là các máy uốn 
bản và tấm kim loại một cách tự động và có thể lập trình được. 
Thông thường, hai khung chữ C tạo thành các cạnh của máy chấn, 
được kết nối với bàn ở phía dưới và thanh dầm có thể di chuyển ở 
phía trên. Dụng cụ dưới cùng được gắn trên bàn và dụng cụ trên cùng 
được gắn ở dầm trên. Tấm được uốn cong bằng cách hạ thấp dầm áp 
lực có kiểm soát. Tấm phẳng được ép vào dụng cụ phía dưới bằng 
dụng cụ phía trên trong khuôn chữ V và được mô hình lại theo đường 
thẳng. 
     (c) Máy uốn bảng điều khiển số cho các sản phẩm phẳng là máy tạo 
hình nguội các tấm kim loại phẳng, được thiết kế để sản xuất các sản 
phẩm kim loại từ phôi một cách tự động và lập trình được. Máy uốn 
bảng là loại máy khá giống với máy chấn về nguyên lý nhưng có mức 
độ tự động hóa cao, được sử dụng để sản xuất hàng loạt sản phẩm từ 
các tấm kim loại. Chúng có khả năng uốn tấm kim loại theo hai 
hướng mà không cần phải di chuyển nó, điều này là không thể đối 
với máy chấn khi mảnh kim loại phải đảo ngược. 
(d) Máy uốn định hình lăn điều khiển số cho các sản phẩm phẳng 
là máy dùng cho các hoạt động uốn trong đó một tấm hoặc bản kim 
loại được đưa qua một bộ gồm ba hoặc nhiều hơn ba cuộn, cho đến 
khi các đường mong muốn (hình cung, hình tròn, hình bầu dục) theo 
trục dọc của  tấm hoặc bản đạt được theo cách tự động và lập trình 
được. Máy uốn định hình lăn điều chỉnh độ cong theo trục dọc của 
tấm kim loại, trong khi mặt cắt ngang không thay đổi. Máy uốn định 
hình, đưa sản phẩm qua hệ thống con lăn, cung cấp cho chúng cấu 
hình cần thiết, trong đó sự thay đổi cấu trúc của kim loại không xảy 
ra trên toàn bộ diện tích của kim loại mà chỉ ở những vị trí bị biến 
dạng bởi sự uốn cong. 
(e) Máy uốn mép, gấp quá trình gia công các sản phẩm phẳng bao 
gồm việc tạo cho một tấm (hoặc dải) một đường thẳng trên tấm đó 

với một biến dạng nhỏ mà không cắt đứt tấm. Hoạt động này được 
thực hiện hoặc trên một máy gấp mép đa năng hoặc trên một máy gấp 
ép. 
(f) Máy kéo thẳng và máy dát phẳng dùng để khắc phục những 
khiếm khuyết trong quá trình lôi kéo thủ công sau khi sản xuất của 
sản phẩm phẳng, như tấm, dải. Ví dụ, máy dát phẳng loại con lăn, 
bao gồm những dãy con lăn (hoặc trục lăn) song song với số lượng 
nhỏ (từ 5 đến 11) nhưng đường kính tương đối lớn và độ cứng cao 
hoặc với số lượng lớn (thường từ 15 đến 23), nhưng với đường kính 
nhỏ, linh hoạt cao và có sự trợ giúp của một số lượng tương đương 
con lăn đối lập. 
3. Dây chuyền xẻ cuộn, dây chuyền cắt xén thành đoạn và các máy cắt 
xén khác (trừ máy ép) dùng cho các sản phẩm phẳng, trừ loại máy cắt 
xén và đột dập kết hợp.  
Không kể những đề cập khác, những máy này bao gồm : 
(a) Dây chuyền xẻ cuộn các sản phẩm phẳng là dây chuyền gia công 
trong đó hai cuộn hình trụ có gân và rãnh được sử dụng để cắt một 
cuộn kim loại lớn thành một số cuộn hẹp hơn hoặc các cuộn có cạnh. 
Các bộ phận cơ bản của dây chuyền xẻ cuộn là: máy tháo cuộn, máy 
làm phẳng cuộn, máy xén và máy thu hồi. Vật liệu được cấp từ bộ 
tháo cuộn, trước tiên được làm phẳng rồi được cấp qua khe giữa hai 
bánh cắt (một ở trên và một ở dưới). Các mảnh được xẻ sau đó được 
đưa lên bởi các bộ thu hồi khác nhau ở cuối dây chuyền. 
(b) Dây chuyền cắt xén thành từng đoạn các sản phẩm phẳng là 
dây chuyền gia công trong đó máy cắt xén được sử dụng để cắt kim 
loại đã được cán phẳng cuộn dài thành nhiều tấm. Dây chuyền cắt 
xén bao gồm ba phần chính: bộ tháo cuộn, bộ làm phẳng cuộn và 
máy cắt xén. Vật liệu được cấp máy tháo cuộn qua máy làm phẳng 
cuộn và được cắt bằng máy cắt xén thành các tấm kim loại phẳng. 
(c) Máy xén. Quá trình xén bao gồm hai dụng cụ cắt với mặt cắt 
trong cùng một mặt phẳng thẳng đứng đối với kim loại được cắt. 

Những dụng cụ này thâm nhập vào kim loại làm biến dạng dẻo và tạo 
thớ cho chúng, dưới áp lực và sự thâm nhập vào ngày càng lớn, tạo ra 
đường cắt đứt dọc theo đường viền lưỡi cắt. 
Những máy thuộc loại này bao gồm: máy cắt đòn cân, máy cắt đòn 
bẩy, máy xén kim loại, sử dụng lưỡi xén; máy xén quay, không sử 
dụng lưỡi xén mà sử dụng những dụng cụ dạng đĩa hoặc vòng tròn. 
4. Máy đột dập, máy cắt rãnh theo hình hoặc máy cắt dập liên tục 
(trừ máy ép) dùng cho các sản phẩm phẳng kể cả loại máy cắt 
xén và đột dập kết hợp 
Không kể những đề cập khác, những máy này bao gồm : 
(a) Máy đột dập dùng để đục lỗ, cắt rãnh (cắt ngấn) hoặc cắt kim 
loại bằng hai dụng cụ được điều chỉnh để cái này đột vào trong cái 
kia. Dụng cụ để đột được gọi là chày đột và dụng cụ còn lại gọi là 
khuôn đột. Việc cắt đứt kim loại có tác động như trong quá trình cắt 
và hình dạng của lỗ thu được phụ thuộc vào hình dạng của dụng cụ 
đột. 
Những máy khác của loại này bao gồm những loại máy để làm các bộ 
dụng cụ bằng cách đột. 
     Máy đột dập hoạt động rất khác so với máy ép. Máy đột hoạt động 
tăng dần, dọc theo một quỹ đạo nhất định khi cắt một miếng kim loại 
tấm, một quá trình còn được gọi là mài mòn. Ngược lại, đột là một 
phần của hoạt động dập khuôn hoặc cắt khuôn để cắt tấm kim loại chỉ 
bằng một hành trình khuôn. 
     (b) Máy cắt rãnh (cắt ngấn) là những loại máy nhỏ được sử dụng 
cho việc gia công những tiết diện khác nhau (tiết diện L, T, I hoặc U) 
và những hình nửa vòng tròn, hoặc để chuẩn bị cho việc lắp ráp (ví 
dụ như rãnh, khe, mộng và mộng đuôi én) hoặc dễ dàng cắt hoặc đâm 
thủng chúng. 
5. Máy gia công ống, ống dẫn, dạng hình ống rỗng và dạng thanh 
(trừ máy ép). 

     Không kể những đề cập khác, những máy này bao gồm : 
     Máy thực hiện các nguyên công trên ống, đường ống, biên dạng, dạng 
hình ống rỗng và dạng thanh bằng kim loại để thay đổi hình dạng của 
vật liệu đã qua xử lý mà không cần loại bỏ phoi. Các hoạt động như 
vậy có thể bao gồm uốn, gấp, hoàn thiện đầu cuối, kéo thẳng, dát 
phẳng, đột dập (không loại bỏ kim loại) và tạo hình chi tiết dạng ống, 
cũng như gia công ống, ống dẫn, biên dạng, phần rỗng và thanh (trừ 
máy ép), trừ ghế kéo (nhóm 84.63). 
     Máy uốn hoạt động bằng các con lăn tạo hình, bằng uốn ép hoặc, đối 
với các ống (và đặc biệt là ống dẫn dầu), bằng cách kéo các đầu cuối 
của chúng trong khi phần chính được giữ bằng một trục cố định. 
     Máy gấp hoạt động bằng cách gấp các thanh, que, ống, góc, hình 
dạng và mặt cắt theo cách tương tự như tạo hình (xem mục 2 (c) ở 
trên).  
     Máy uốn dây thêm độ cong cho các mặt phẳng đơn. Máy uốn dây 
thực hiện các nguyên công phức tạp hơn (ví dụ, máy sản xuất lò xo) 
không phải là máy gấp đơn giản và được xếp vào nhóm 84.63. 
6. Máy gia công ép nguội kim loại: 
Không kể những đề cập khác, những máy này bao gồm : 
(a) Máy ép thủy lực: 
      Máy ép thủy lực là máy sử dụng chất lỏng áp suất cao để dẫn động, 
bằng pít-tông, bộ phận chuyển động của máy nhằm tạo ra lực cần 
thiết để di chuyển dầm máy ép, nơi gắn các dụng cụ hoặc khuôn làm 
thay đổi hình dạng của vật liệu. . 
     Máy ép thủy lực có thể được điều khiển số hoặc không điều khiển 
số. Ngược lại với máy ép cơ khí hoặc máy ép servo, hành trình của 
máy ép thủy lực có thể tự do điều chỉnh và bất kỳ vị trí trung gian 
nào của dầm ép có thể nhận ra mà không cần thay đổi thiết lập động 
học của máy. 

(b) Máy ép cơ khí: 
      Máy ép cơ khí là loại máy sử dụng động cơ điện để tạo ra lực nén 
thông qua chuỗi động học. Những máy ép này được thiết kế hoặc 
nhằm mục đích truyền năng lượng một cách cơ học từ động cơ sơ cấp 
sang dụng cụ sử dụng cơ cấu ly hợp truyền mô-men xoắn để tạo ra 
chuyển động từ bánh xe đến con trượt. Hình dạng của phôi kim loại 
bị thay đổi bởi áp lực đáng kể đặt lên nó. 
     Máy ép cơ khí có thể được điều khiển số hoặc không điều khiển số. 
Chúng có một động cơ điện và sử dụng cơ chế dựa trên ly hợp để đảo 
ngược chuyển động. 
(c) Máy ép servo: 
Máy ép servo là loại máy sử dụng hệ thống động học được điều 
khiển bởi động cơ servo để tạo ra lực nén làm thay đổi hình dạng của 
phôi kim loại. Những máy ép này được thiết kế để truyền năng lượng 
một cách cơ học đến một công cụ bằng bộ truyền động servo để tạo 
ra mô-men xoắn cấp nguồn cho thiết bị mà không sử dụng cơ cấu ly 
hợp.  
Máy ép servo là một loại máy ép cơ học đặc biệt (thường được dẫn 
động bằng trục vít). Đặc điểm chính của chúng liên quan đến việc 
kiểm soát chuyển động, được thực hiện trực tiếp bởi bộ truyền động 
servo, trong khi ở một số máy ép cơ khí khác, chuyển động được điều 
khiển bằng cách thiết lập phần cứng cơ học, dẫn đến độ linh hoạt thấp 
hơn khi điều chỉnh hành trình của dầm máy ép. 
 (d) Máy ép đùn để tạo hình thỏi, thanh, góc, khuôn hình, ống, v.v.. 
Những máy ép này được thiết kế để đùn một khối lượng kim loại qua 
khuôn tạo hình với sự trợ giúp của chày. 
(e) Máy ép để nén mẩu kim loại (phế liệu) thành khối (ép phoi). 

BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Theo như những quy định chung liên quan đến việc phân loại các bộ 
phận (xem chú giải tổng quát phần XVI), các bộ phận và phụ tùng (trừ 
các dụng cụ thuộc Chương 82) của các loại máy công cụ thuộc nhóm 
này được xếp vào nhóm 84.66. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Dụng cụ cầm tay (nhóm 82.05). 
(b) Máy cán (nhóm 84.55). 
(c) Trung tâm gia công, máy kết cấu nguyên khối (một vị trí gia công) và 
máy gia công chuyển dịch đa vị trí để gia công kim loại (nhóm 84.57). 
(d) Dụng cụ cầm tay hoạt động bằng khí nén, thủy lực hoặc gắn động cơ 
dùng điệnhoặckhông không dùng điện (nhóm 84.67). 
(e) Máy để dập nổi các bảng địa chỉ (nhóm 84.72). 
(f) Máy đập nhỏ gang và máy dập đặc biệt để dập xỉ thép đúc (nhóm 
(g) Máy uốn, gấp, làm thẳng các tấm bán dẫn (nhóm 84.86). 
(h) Máy móc và các thiết bị kiểm tra (nhóm 90.24).  
84.63 - Máy công cụ khác để gia công kim loại hoặc gốm kim loại, 
không cần bóc tách vật liệu. 
      8463.10 - Máy kéo thanh, ống, hình, dây hoặc loại tương tự 
      8463.20 - Máy lăn ren 
      8463.30 - Máy gia công dây 
      8463.90 - Loại khác 

Với sự loại trừ của các loại máy công cụ của nhóm 84.62, nhóm này 
bao gồm các loại máy công cụ để gia công kim loại, hoặc gốm kim loại 
mà không cắt bỏ, bóc tách vật liệu. 
Nhìn chung, các loại máy công cụ vận hành bằng động cơ, nhưng những 
máy tương tự, vận hành bằng tay hoặc đạp chân cũng được xếp vào 
nhóm này. Loại máy công cụ vận hành bằng tay hoặc đạp chân có thể 
phân biệt với dụng cụ tay cầm của nhóm 82.05 và dụng cụ cầm tay của 
nhóm 84.67, ở điểm là những loại máy này được thiết kế để đặt trên sàn, 
trên giá máy, gắn tường hoặc trên máy móc khác, và vì vậy chúng 
thường có bệ, khung, giá đỡ,… 
Nhóm này bao gồm : 
(1) Máy kéo dây, dùng để chuốt bóng thanh, ống, khuôn, hình, dây và 
các sản phẩm tương tự. 
(2) Máy lăn ren, ren trên bulông hoặc vít thu được là do gia công cán và 
ép nhưng kh