PROJECT

CHU GIAI 2022 CHUONG 84 2

CHU GIAI 2022 CHUONG 84 2

 các ống nhựa, xếp song 
song hoặc bện chéo, mỗi một đầu được bịt kín một bộ phận có cấu 
trúc kiểu tổ ong, gắn với ống nối. Khi được đặt chìm trong một bể 
chứa, các thiết bị này cho phép giữ cho nhiệt độ bể được ổn định, 
hoặc làm nóng hoặc làm lạnh bể, bằng cách lưu thông lưu chất 
hoặc hơi nước trong các ống. 
(17) Thiết bị làm nóng hoặc nấu chuyên dụng mà thông thường không 
được sử dụng trong gia đình (ví dụ: bình pha cà phê trong quầy 
hàng, bình pha trà hoặc sữa, ấm hơi nước, v.v.. được sử dụng các 
nhà hàng, căng tin, .v.v..; nồi nấu làm nóng bằng hơi nước, bàn 
làm nóng, tủ đun nóng, tủ sấy...; chảo rán mỡ dày). 
(18) Máy pha chế nước giải khát nóng hoặc lạnh tự động không tích 
hợp bộ phận chấp nhận thanh toán. 

Các loại đã nêu trên được sử dụng chủ yếu trong công nghiệp nhưng 
nhóm này cũng bao gồm thiết bị đun nước nóng nhanh và bình đun 
chứa nước nóng không dùng điện, kể cả loại sử dụng năng lượng 
mặt trời, gia dụng hoặc không. Nếu làm nóng bằng điện, các thiết bị 
đó không thuộc nhóm này (nhóm 85.16). 
Cần lưu ý rằng nhóm này không bao gồm nồi hơi nước, nồi áp suất và 
một số loại bình chiết ngâm, bằng kim loại dùng trong gia đình (Phần 
(II) THIẾT BỊ CHƯNG CẤT HOẶC TINH CẤT 
Nhóm này bao gồm tất cả các thiết bị được thiết kế để chưng cất các chất 
liệu (ở thể lỏng hoặc rắn) loại trừ các loại thiết bị chưng cất bằng chất 
liệu gốm sứ (nhóm 69.09) hoặc bằng thuỷ tinh (các nhóm 70.17 hoặc  
(A) Thiết bị chưng cất đơn giản. 
Các thiết bị này gồm một bình chưng cất cổ cong hoặc một thân 
bình  làm bay hơi chất lỏng cần chưng cất, một bộ phận làm lạnh 
để làm ngưng tụ hơi từ bình chưng cất cổ cong và một nồi hơi thu 
nhận phần được chưng cất. Các bộ phận này có thể được sắp xếp 
để chưng cất gián đoạn (như các nồi chưng cất đơn giản được làm 
nóng trực tiếp hoặc bởi ống xoắn hơi nước bên trong) hoặc chưng 
cất liên tục, khi đó thân bình được tiếp chất lỏng liên tục, và được 
làm nóng bằng các ống dẫn hoặc ống xoắn hơi nước. Hệ thống 
chưng cất liên tục có thể được kết hợp từ nhiều thiết bị trên, thiết 
bị thứ nhất được làm nóng trực tiếp bằng hơi nước, trong khi thiết 
bị còn lại tiếp nhận chất được chưng cất và được làm nóng bởi hơi 
chưng cất của thiết bị trước. 
(B) Thiết bị chưng cất phân đoạn hoặc tinh cất. 
Đây là thiết bị có cấu trúc phức tạp hơn, có các cột chưng cất cho 
phép các hỗn hợp phức tạp được tách riêng trong một chu trình. 

Loại cột được sử dụng phổ biến là loại được chia thành các đoạn 
bằng các đĩa gắn với nắp hình chuông và các ống dẫn chảy từ trên 
xuống. Hơi chưng cất thoát ra từ một đoạn sẽ tiếp xúc với phần hơi 
đã ngưng tụ ở đoạn phía trên. Do nhiệt độ giảm khi hơi chưng cất 
di chuyển lên phía trên, nó sẽ được tách riêng ở các mức khác nhau 
tương ứng với nhiệt độ sôi của các chất đó. 
Các thiết bị chưng cất các nguyên liệu rắn (ví dụ: than, than non, gỗ,...) 
có cùng nguyên lý hoạt động, nhưng các sản phẩm chưng cất được đốt 
nóng trong lò nung, thì các thiết bị này được phân loại vào nhóm 84.17. 
Nhóm này chỉ bao gồm các thiết bị ngưng tụ hoặc tinh cất dùng để tách 
các thành phần bay hơi xảy ra trong lò. 
Các bộ phận quan trọng của các thiết bị dùng để chưng cất,... thường 
được làm bằng kim loại (như đồng, niken hoặc thép không gỉ), nhưng 
chúng thường có một lớp phủ bằng thuỷ tinh hoặc bằng vật liệu chịu lửa. 
Một số loại thiết bị chưng cất được thực hiện trong môi trường tăng hoặc giảm 
áp suất có thể được lắp thêm bộ phận bơm chân không hoặc bộ phận nén. 
Các thiết bị chưng cất theo mẻ thường được sử dụng để tinh chế các loại 
tinh dầu, rượu,… .Trong khi các thiết bị chưng cất liên tục (loại đơn giản 
hoặc phân đoạn) thường được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp 
(như: chưng cất cồn công nghiệp, a xít béo, khí lỏng, nhiên liệu tổng hợp 
hoặc các hoá phẩm khác; chưng cất dầu thô; chưng cất gỗ, than, đá 
phiến, than non, hắc ín, nhựa than đá). 
Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị dùng để tách các nhiên liệu phóng 
xạ hoặc dùng để xử lý chất thải bằng phương thức chưng cất phân đoạn. 
(III) THIẾT BỊ LÀM BAY HƠI HOẶC SẤY 
Các thiết bị thuộc nhóm này có thiết kế rất đa dạng (đôi khi có thể hoạt 
động trong môi trường chân không), để phù hợp với tính chất của vật 
liệu xử lý và độ nhạy về nhiệt của chúng. Thiết bị có thể được làm nóng 
trực tiếp hoặc gián tiếp. Tuy nhiên, nhóm này chỉ áp dụng với thiết bị 
làm bay hơi hoặc sấy ở nhiệt độ tương đối thấp, và không được lẫn với 

các lò nung công nghiệp thuộc nhóm 84.17 có nhiệt nung rất cao. 
Các dạng phổ biến nhất của các thiết bị công nghiệp thuộc nhóm này là: 
(A) Thiết bị làm bay hơi. Các thiết bị này thường có dạng nồi nấu, có 
bề mặt tiếp xúc lớn được làm nóng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi các 
ống xoắn hơi nước, và thường được trang bị với một bộ phận để 
hút hơi nước thoát ra. Chúng có thể có một chức năng hoặc đa 
chức năng, loại đa chức năng hoạt động và có cấu tạo gần giống 
với các thiết bị chưng cất đa chức năng nhưng không bao gồm bộ 
phận thu hồi hơi nước đã ngưng tụ. 
(B) Thiết bị làm đông lạnh và khô lạnh dùng trong phòng thí 
nghiệm. Các thiết bị này được sử dụng để làm ổn định và bảo 
quản bằng cách làm mất nước các mẫu phẩm sinh học, như kháng 
độc tố, vi khuẩn, vi rút, huyết tương, huyết thanh. Các mẫu phẩm 
được đông lạnh, và sau đó chúng được làm nóng nhẹ dưới áp suất 
rất thấp. Khi đó, nước đá sẽ thăng hoa và sản phẩm sẽ bị khử nước. 
(C) Ống sấy. Gồm có các buồng lớn thường được gắn thêm các thiết 
bị vận chuyển qua đó sản phẩm được chuyển qua các buồng sấy 
với một vận tốc phù hợp theo chiều ngược với luồng khí nóng. Các 
thiết bị này được sử dụng: trong công nghiệp gốm sứ, thuỷ tinh, 
trong ngành công nghiệp thực phẩm (kể cả loại được gắn thêm các 
bộ phận xông khói để xử lý thịt, cá... ); để làm khô gỗ, cỏ... 
(D) Máy sấy quay. Loại này có các xi lanh hoặc các trống quay được làm 
nóng từ bên trong hoặc bên ngoài. Chúng được sử dụng trong nhiều 
ngành công nghiệp khác nhau (như làm giấy, chế biến khoai tây lát...) 
Máy sấy kiểu đĩa. Gồm có nhiều ngăn kim loại có gắn các đĩa có 
khe hở hoặc các giá đỡ nằm ngang, đôi khi được làm nóng từ bên 
trong. Một trục quay trung tâm kết hợp với các lưới để trải các chất 
liệu cần sấy khô lên các đĩa nóng và làm chúng rơi qua các khe hở, 
từ đĩa này sang đĩa khác. Các loại máy dạng này được sử dụng để 
xử lý mạch nha nảy mầm. 
Máy sấy kiểu phun. Có chức năng của máy làm bay hơi. Loại 

máy này có các buồng bằng kim loại trong có gắn đĩa nằm ngang 
quay với vận tốc rất lớn. Loại này được trang bị một bộ phận làm 
nóng cùng một quạt gió tạo ra luồng khí nóng. Chất lỏng sau khi 
trở thành các tia nhỏ ở trung tâm đĩa quay, sẽ phân tán xung quanh 
đĩa; từ đó chất lỏng dưới tác động của luồng khí nóng, chúng sẽ 
được làm khô tức thì dưới dạng hạt mịn. Trong một kiểu máy 
khác, chất lỏng được phun dưới dạng tia mịn vào buồng sấy ngược 
chiều dòng khí nóng. Các máy sấy phân tán chủ yếu được sử dụng 
cho chế biến sữa bột. 
Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị làm bay hơi các dung dịch phân 
hạch hoặc phóng xạ hoặc dùng để sấy khô các sản phẩm phân hạch hoặc 
phóng xạ. 
Nhóm này không bao gồm: 
Máy quay ly tâm dùng để sấy khô các kết tủa phóng xạ (nhóm 
Máy và thiết bị dùng để làm khô chai hoặc các loại vật chứa khác 
(nhóm 84.22). 
Máy được thiết kế đặc biệt để làm khô sợi dệt, vải hoặc các sản 
phẩm bằng chất liệu dệt (nhóm 84.51). 
(IV) THIẾT BỊ DÙNG ĐỂ RANG, NƯỚNG 
Các thiết bị này thường gồm các nồi quay, hình trụ hoặc hình cầu, trong 
đó các sản phẩm được xử lý (ví dụ: hạt cà phê, ca cao, ngũ cốc, quả 
hạch,.v.v..) được điều chỉnh nhiệt độ bằng cách tiếp xúc với các thành 
được làm nóng của vật chứa, hoặc bằng một luồng khí nóng trực tiếp 
được thổi qua thiết bị làm nóng (bằng dầu hoặc khí ga, than cốc, ...). 
Chúng thường được gắn thêm các dụng cụ đảo liên tục để các sản phẩm 
được xử lý đều và tránh bị cháy. Một số loại khác có dạng giá với bề mặt 
đục lỗ, nghiêng, hoặc chuyển động quay trong khoang được cung cấp 
khí nóng. 
Hàng hóa thuộc nhóm này không nên bị nhầm lẫn với  các lò dùng trong 

công nghiệp hoặc trong phòng thí nghiệm thuộc nhóm 84.17. 
(V) THIẾT BỊ DÙNG ĐỂ HẤP 
Thông thường loại thiết bị này thường gồm nhiều nồi kín (của loại thông 
thường được mô tả ở phần trên của Chú giải này) trong đó các loại vật 
liệu được cho tiếp xúc với môi trường nhiệt ẩm (ví dụ: bằng hơi nước 
dưới áp suất hoặc bằng hơi thoát ra từ chính vật liệu được hấp). 
Loại thiết bị này được sử dụng trong nhiều hoạt động sản xuất khác nhau 
(chế biến các loại rau, củ hoặc chiết xuất thịt động vật, trong công 
nghiệp thực phẩm nói chung; trong các hoạt động có liên quan đến sử 
dụng hơi nước để tẩy dầu mỡ hoặc làm sạch). Một số thiết bị còn có các 
khoang có kích thước lớn, trong đó giữ vật liệu trong môi trường hơi 
nước trong một khoảng thời gian dài hoặc ngắn; ví dụ: xử lý các chất 
liệu dệt thô với khối lượng lớn, xử lý gỗ bằng hơi nước...  
Nhóm này không bao gồm các máy dùng để xử lý sợi hoặc vải hoặc các 
thiết bị xử lý bằng hơi nước khác đối với sản phẩm dệt may tương tự 
(thuộc nhóm 84.51). 
(VI) THIẾT BỊ DÙNG ĐỂ KHỬ TRÙNG 
Các thiết bị này chủ yếu gồm các nồi đun hoặc buồng, được làm nóng 
bằng hơi nước hoặc nước sôi (hoặc đôi khi bằng khí nóng), trong đó các 
đồ vật hoặc chất liệu cần khử trùng được giữ trong một khoảng thời gian 
với nhiệt độ đủ cao để diệt vi khuẩn... mà không làm thay đổi thành 
phầnhoặctính chất vật lý của các đồ vật hoặc chất liệu đó. 
Nhiều thiết bị khử trùng chất lỏng giống các thiết bị mô tả tại phần (I) 
nêu trên (như máy tiệt trùng). Một số loại thiết bị khử trùng có kích 
thước lớn hơn có thể được trang bị băng tải để chuyển sản phẩm xử lý 
qua bộ phận làm nóng và, nếu cần, sau đó qua một thiết bị làm mát là 
một phần của thiết bị. 
Nhóm này không chỉ gồm các máy khử trùng dùng trong công nghiệp (ví 
dụ: loại dùng để khử trùng sữa, rượu vang, nước hoa quả, bông lót,...), 

mà còn gồm các loại dùng trong các phòng phẫu thuật,... . 
(VII) THIẾT BỊ DÙNG ĐỂ HOÁ LỎNG KHÔNG KHÍ ; CÁC 
THIẾT BỊ ĐƯỢC THIẾT KẾ ĐẶC BIỆT SỬ DỤNG TRONG 
PHÒNG THÍ NGHIỆM 
Nhóm này bao gồm các thiết bị dùng để hoá lỏng không khí kiểu 
Linde hoặc Claude. 
Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị được thiết kế dặc biệt cho phòng 
thí nghiệm, thường có kích thước nhỏ (ví dụ: nồi hấp, thiết bị chưng cất, 
máy khử trùng hoặc hấp, máy sấy...), nhưng không bao gồm các thiết bị 
dùng để trưng bày (nhóm 90.23), và các thiết bị để đo lường, để kiểm 
tra,...  được nêu cụ thể trong Chương 90. 
BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải 
tổng quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm bộ phận của các thiết 
bị nêu trên. Các bộ phận đó bao gồm một số bộ phận nhất định của thiết 
bị chưng cất hoặc cột tinh cất, như bình chưng cất cổ cong, nắp bọt và 
vòng, đĩa,  một số bộ phận hình ống, đĩa; đĩa và trống quay ,…dùng cho 
thiết bị rang, sấy khô. 
Các ống dẫn và ống tuýp bằng kim loại, uốn gấp hoặc uốn cong nhưng 
không được gia công gì khác, ở dạng rời, không được coi như bộ phận 
của các thiết bị thuộc nhóm này và nằm ở Phần XV. 
84.20 - Các loại máy cán là hoặc máy cán ép phẳng kiểu trục lăn 
khác, trừ các loại máy dùng để cán, ép kim loại hoặc thủy tinh, và các 
loại trục cán của chúng. 
      8420.10 - Máy cán là hoặc máy cán ép phẳng kiểu trục lăn khác 
                     - Bộ phận: 
      8420.91 - - Trục cán 

      8420.99 - - Loại khác 
Trừ các loại máy dùng để cán ép và gia công kim loại thuộc nhóm 
84.55, 84.62 hoặc 84.63 và máy gia công thuỷ tinh thuộc nhóm 84.75, 
nhóm này bao gồm các loại máy cán là hoặc các máy cán ép kiểu trục 
lăn khác, bất kể có được dùng riêng cho ngành công nghiệp đặc thù 
nàohoặckhông. 
Các máy này chủ yếu gồm hai hoặc nhiều trục cán hoặc trục quay đặt 
song song, chuyển động quay với khoảng cách tiếp xúc lớn hoặc bé để 
thực hiện các công đoạn dưới đây, bằng áp lực của riêng trục cán hoặc 
áp lực kết hợp với ma sát, nhiệt hoặc độ ẩm: 
Cán thành dạng tấm các nguyên liệu (bột bánh, kẹo, bánh quy... , 
bột nhão, sô cô la, cao su... ) được đưa vào trục cán dưới dạng bột nhão. 
Tạo một số tác động lên bề mặt của vật liệu dạng tấm (trừ kim loại 
hoặc thuỷ tinh) như: đánh bóng (kể cả là phẳng), làm láng, tạo nổi 
các hạt nhỏ, tạo nếp gợn. 
Tạo lớp phủ bề mặt. 
Kết dính nhiều lớp vải. 
Các máy loại này được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp (công 
nghiệp làm giấy, dệt, da, vải nhựa lót sàn, nhựa, cao su). 
Trong một số ngành công nghiệp, các loại máy này có các tên gọi riêng (ví dụ 
máy là trong các xưởng giặt, máy cán hoàn tất trong ngành dệt, hoặc các máy 
trục cán láng trong công nghiệp giấy), nhưng chúng vẫn được phân loại vào 
nhóm này bất kể chúng có được gọi là máy cánhoặckhông. 
Các máy cán thường được kết hợp như là các máy phụ với các máy khác 
(ví dụ máy làm giấy). Trong trường hợp này, việc phân loại các thiết bị 
này sẽ tuân theo Chú giải 3 và 4 của Phần XVI. 
Mặt khác, nếu máy cán có kết hợp thêm các thiết bị phụ như bể ngâm, 
trục phết bề mặt, thiết bị cuộn hoặc cắt thì vẫn thuộc nhóm này. 

Nhóm này cũng gồm các máy làm mềm hoặc máy là kiểu cán, bất kể 
được sử dụng trong gia đình hoặc không.  
BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải 
tổng quát của phần XVI), bộ phận của các loại máy thuộc nhóm này 
cũng được phân loại ở đây. Các bộ phận này bao gồm cả các trục cán 
mà rõ ràng được dùng cho các loại máy cán hoặc máy ép thuộc nhóm 
này. Các trục cán này có thể được làm bằng kim loại, gỗ hoặc bằng các 
chất liệu thích hợp khác (ví dụ: giấy ép). Chúng có thể có độ dài và 
đường kính khác nhau, đặc hoặc rỗng và, tuỳ theo mục đích sử dụng cụ 
thể. Bề mặt của chúng có thể nhẵn, khía rãnh, có hạt nhỏ hoặc khắc các 
chi tiết khác nhau, hoặc còn được phủ các chất liêu khác: vải, da, cao su, 
.v.v... Các trục cán kim loại của máy cán thường được thiết kế để làm 
nóng bên trong bằng hơi nước, khí ga... Các bộ trục cán của một số loại 
máy cán đặc biệt thì có các trục cán với cấu tạo khác nhau.  
Nhóm này không bao gồm các loại máy, dù chúng có cơ chế hoạt động 
tương tự như máy cán là hoặc cán ép kiểu trục lăn, nhưng không thực 
hiện các mục đích một cách đầy đủ như đã mô tả ở trên, ví dụ: 
Máy sấy kiểu trục lăn cho vải, giấy,... (nhóm 84.19 hoặc 84.51). 
Dụng cụ nén nho, hoa quả để làm rượu (nhóm 84.35). 
Máy nghiền kiểu con lăn (nhóm 84.36, 84.74 hoặc 84.79). 
Máy nghiền kiểu trụ dùng trong nghiền bột (nhóm 84.37). 
Máy vắt quần áo (nhóm 84.51). 
Máy cán kim loại (nhóm 84.55). 

Máy dát phẳng kim loại (nhóm 84.62) và các máy dập nổi trên tấm 
kim loại (nhóm 84.63). 
Máy dùng để sản xuất thuỷ tinh dạng tấm phẳng bằng cách cán, và 
máy cán dùng để gia công thuỷ tinh (nhóm 84.75). 
84.21 - Máy ly tâm, kể cả máy làm khô bằng ly tâm; máy và thiết bị 
lọc hoặc tinh chế chất lỏng hoặc chất khí. 
               - Máy ly tâm, kể cả máy làm khô bằng ly tâm:  
8421.11 - - Máy tách kem 
8421.12 - - Máy làm khô quần áo 
8421.19 - - Loại khác 
               - Máy và thiết bị lọc hoặc tinh chế chất lỏng: 
8421.21 - - Để lọc hoặc tinh chế nước 
8421.22 - - Để lọc hoặc tinh chế đồ uống trừ nước 
8421.23 - - Bộ lọc dầu hoặc xăng cho động cơ đốt trong 
8421.29 - - Loại khác 
                     - Máy và thiết bị lọc hoặc tinh chế các loại khí: 
8421.31 - - Bộ lọc khí nạp cho động cơ đốt trong  
8421.32 - - Bộ chuyển đổi xúc tác hoặc bộ lọc hạt, có hoặc không kết hợp, 
để tinh chế hoặc lọc khí thải từ động cơ đốt trong 
8421.39 - - Loại khác  
              - Bộ phận: 
8421.91 - - Của máy ly tâm, kể cả máy làm khô bằng ly tâm 
8421.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(I) Các loại máy bằng việc sử dụng lực ly tâm, tách hoàn toàn hoặc một 

phần các chất tuỳ theo trọng lượng riêng khác nhau của chúng, 
hoặc loại bỏ độ ẩm từ một chất liệu ướt. 
(II) Các loại máy và thiết bị lọc hoặc tinh lọc chất lỏng hoặc chất khí, trừ, 
ví dụ, các loại phễu lọc, rây lọc sữa, rây lọc sơn (thường thuộc Chương 
(I) MÁY LY TÂM, KỂ CẢ MÁY LÀM KHÔ BẰNG LY TÂM 
Phần lớn các máy thuộc loại này đều có một đĩa, trống, giỏ hoặc bát... 
được đục lỗ, quay với vận tốc lớn trong một ống góp tĩnh, thường có 
hình trụ, dựa vào thành máy nơi các chất liệu bị tách bỏ sẽ bị văng ra 
dưới tác động của lực ly tâm. Với một số loại máy, các chất liệu, tuỳ 
theo trọng lượng riêng khác nhau, sẽ được thu thập thông qua hệ thống 
nón (hình phễu) phân tách đảo chiều. Trong các máy khác, các chất liệu 
rắn sẽ được giữ lại trong trống, lồng quay đục lỗ, trong khi chất lỏng sẽ 
bị đẩy ra ngoài. Các máy loại này cũng có thể được sử dụng để ép chất 
lỏng thấm sâu vào các vật liệu khác (như nhuộm hoặc làm sạch). 
Nhóm này bao gồm: 
Máy làm khô bằng ly tâm dùng trong xưởng giặt, nhuộm, dùng để 
khử nước trong bột giấy hoặc trong xưởng làm bột... 
Máy ly tâm dùng để tinh cất đường. 
Máy tách kem và máy lọc ly tâm dùng trong xử lý sữa.  
Máy ly tâm dùng để lọc dầu, rượu vang, rượu mạnh...  
Máy ly tâm dùng để khử nước và khử parafin trong các sản phẩm 
dầu mỏ. 
Máy ly tâm dùng để khử nước trong rượu, mỡ động vật, bột hồ... 
Máy ly tâm nitơ hoá dùng trong sản xuất bông thuốc nổ/ bông 
thuốc súng. 
Máy tách ly tâm trong nuôi trồng men. 
(9)    Máy ly tâm sử dụng trong công nghiệp hoá học (như máy chiết 
xuất chất kháng sinh tốc độ cao). 

(10) Máy ly tâm, chủ yếu được sử dụng trong phòng thí nghiệm, dùng 
để tách chất lỏng thành từng lớp để gạn lọc.  
(11) Máy ly tâm dùng để tách huyết tương từ máu. 
(12) Máy ly tâm dùng để sấy khô chất kết tủa phóng xạ. 
(13) Máy ly tâm dùng để tách mật ong. 
BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải 
tổng quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm bộ phận của máy ly 
tâm (như đĩa, trống, các bộ phận của lồng quay, bát, ống nhập liệu). 
Tuy nhiên, một số máy hoạt động theo nguyên lý quay ly tâm không 
thuộc nhóm này, ví dụ như: 
Máy quay ly tâm đặc biệt, còn gọi là máy ly tâm khí, dùng để tách 
chất đồng vị uranium (nhóm 84.01). 
Bơm ly tâm dùng cho chất lỏng (nhóm 84.13). 
Bơm khí và máy thổi ly tâm ...(nhóm 84.14). 
Máy sàng bột ly tâm dùng cho công nghiệp xay xát (nhóm 84.37). 
(e)    Máy đúc kim loại ly tâm (để đúc các ống đúc) (nhóm 84.54) hoặc 
cho xi măng chưa đông kết (ví du: để đúc các ống bê tông) (nhóm 
Máy nghiền ly tâm (nhóm 84.74). 
Máy sấy khô bằng phương pháp quay ly tâm để sản xuất tấm bán 
dẫn (nhóm 84.86). 
(II) MÁY VÀ THIẾT BỊ LỌC HOẶC TINH CHẾ CHÁT LỎNG 
HOẶC CÁC LOẠI KHÍ 

Phần lớn các thiết bị lọc hoặc tinh chế thuộc nhóm này đơn thuần là thiết 
bị tĩnh không bao gồm các bộ phận động. Nhóm này gồm tất cả các loại 
thiết bị lọc và tinh chế (vận hành theo cơ chế vật lý, cơ khí, hoá học, 
điện từ, từ tính hoặc tĩnh điện… ). Nhóm này không chỉ bao gồm các 
thiết bị công nghiệp cỡ lớn, mà còn có các bộ phận lọc của động cơ đốt 
trong và các loại thiết bị gia dụng kích thước nhỏ.  
Tuy nhiên, nhóm này không gồm các loại như phễu lọc, dụng cụ lọc 
sữa, nồi lọc, thùng lọc, v.v.. chỉ được gắn thêm lớp lưới kim loại hoặc 
vật liệu lọc khác cũng như các loại nồi chứa, thùng chứa thông thường 
cho dù chúng có được dùng để lọc khi cho thêm một lớp như sỏi, cát, 
than củi, v.v... 
Nhìn chung, các loại máy và thiết bị thuộc nhóm này thuộc hai loại khác 
nhau tuỳ theo mục đích để lọc chất lỏng hoặc chất khí.  
(A) Thiết bị lọc và tinh chế chất lỏng…, kể cả thiết bị làm mềm 
nước. 
Thiết bị lọc chất lỏng, thuộc nhóm này, tách các phần tử rắn, béo 
hoặc kết dính… trong chất lỏng, ví dụ, bằng cách cho chất lỏng đi 
qua các vật liệu dạng tấm mỏng, màng hoặc các khối vật liệu dạng 
xốp (như vải, vải dạ, vải kim loại, da, gốm, sứ, kieselgua, bột kim 
loại được thiêu kết, amiăng, bột giấy, cellulose, than củi, cát,... ). 
Trong quá trình xử lý nước uống, một số chất liệu trên (mà chủ 
yếu là sứ và than củi) loại bỏ vi trùng… trong quá trình lọc; các 
thiết bị lọc sử dụng các chất liệu này đôi khi được gọi là “thiết bị 
lọc nước”. Một số thiết bị lọc được dùng để loại bỏ chất lỏng trong 
vật liệu dưới dạng các hỗn hợp bột nhão (ví dụ: bột gốm sứ, quặng 
đặc...). Nhóm này bao gồm các thiết bị lọc chất lỏng theo nguyên 
lý trọng lực, lực hút (hoặc chân không) hoặc áp lực. 
Trong số các loại thuộc loại này, ta có thể kể tên các loại sau: 
(1) Thiết bị lọc nước dùng trong gia đình. Loại thiết bị lọc 
dùng trong gia đình kiểu áp lực được thiết kế để gắn vào hệ 

thống ống hoặc vòi, thường gồm một bộ phận lọc bằng gốm 
sứ hình trụ, lắp trong một thân kim loại. Loại thiết bị hoạt 
động nhờ trọng lực cũng có cấu tạo tương tự nhưng thường 
có kích thước lớn hơn. Nhóm này loại trừ thiết bị lọc được 
làm chủ yếu bằng gốm hoặc thuỷ tinh (tương ứng thuộc 
Chương 69 hoặc Chương 70). 
(2) Nến lọc dùng cho sản xuất sợi nhân tạo. Loại thiết bị này 
gồm một vỏ chứa chống ăn mòn, bên trong có chất liệu vải để 
lọc dung dịch được quay tròn. 
(3) Thiết bị lọc dầu dùng cho động cơ đốt trong, cho các loại 
máy công cụ khác,... . Các loại thiết bị này có hai kiểu chính 
như sau: 
(i) Loại có lớp lọc, thường là các lớp vải dạ xếp chồng lên 
nhau hoặc lưới kim loại, bông thép…. 
 (ii) Loại có các nam châm vĩnh cửu, hoặc nam châm điện hút 
mạt sắt trong dầu. 
(4)   Thiết bị lọc nước của nồi hơi.  
Thiết bị này thường được tạo bởi một thùng chứa lớn, bên 
trong có nhiều lớp chất liệu lọc khác nhau được xếp chồng lên 
nhau, và ngoài các ống dẫn cấp và thoát nước còn có thêm 
một hệ thống ống dẫn và các van để làm sạch các chất liệu lọc 
bằng một dòng chảy cắt ngang. 
 (5) Thiết bị ép lọc. Gồm một chuỗi các ngăn lọc xếp cạnh  nhau, 
được tạo bởi các đĩa và khung lọc xếp thẳng đứng và tháo rời 
được; chúng được phủ bởi chất liệu lọc (vải, xen lu lô) và 
được cố định bằng vít hoặc ép cơ khí. Chất lỏng được đẩy qua 
các ngăn bằng bơm, và các ngăn có thể được làm nóng từ bên 
trong bằng hơi nước… Chất lỏng được lọc sẽ được thu hồi và 
phần cặn sẽ tích tụ dưới dạng bánh giữa các đĩa. Loại này 
thường được dùng để lọc và tinh chế nhiều loại chất lỏng 
(dùng trong công nghiệp hoá học hoặc dệt sợi nhân tạo, ngành 
sản xuất đường, nhà máy bia, rượu, lọc dầu, sản xuất gốm sứ, 

sợi nhân tạo… ). 
(6) Thiết bị lọc quay chân không. Gồm có một xi lanh được bao 
bọc bởi một lớp vải lọc hoặc lưới kim loại, được gắn trong 
thùng chứa chất lỏng cần lọc. Chất lỏng được hút vào trong 
trống lọc và các thiết bị cơ khí sẽ loại bỏ chất cặn rắn trên bề 
mặt màng lọc. 
(7) Thiết bị lọc chân không gián đoạn. Thiết bị này có các “lá” 
hoặc ngăn được bọc lớp lọc bằng vải và kết nối với ống chân 
không. Thiết bị lọc này được nhúng vào thùng chất lỏng và 
lọc trong môi trường chân không.  
(8) Thiết bị tinh lọc nước dưới tác động hoá học, ví dụ máy 
làm mềm bằng pecmutít hoặc bằng zeolít, các dụng cụ tinh 
chế bằng vôi. 
(9) Thiết bị tinh chế nước bằng điện từ. Ở thiết bị này, tác động 
của trường điện từ xoay chiều làm cản sự kết tinh và sự đọng 
lại của chất muối vôi trên thành ống, thay vào đó, các muối 
chuyển sang dạng bùn và rất dễ loại bỏ. 
Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị kiểu thấm tách, một loại lọc đặc 
biệt gồm một màng bán thấm mà chất lỏng có thể thấm qua bằng cách 
khuếch tán và tách khỏi các phần tử keo. 
(B) Thiết bị lọc hoặc tinh chế chất khí. 
Các thiết bị thuộc nhóm này được sử dụng để tách chất rắn hoặc lỏng 
từ khí, để thu hồi các sản phẩm có giá trị (ví dụ: bột than hoặc các phần 
tử kim loại… từ ống khói của các lò nung) hoặc để khử các chất độc 
hại (ví dụ; khử bụi, khử hắc ín trong các loại khí hoặc khói, khử dầu 
trong hơi nước thoát từ các máy chạy bằng hơi nước...). 
Chúng bao gồm: 
Thiết bị lọc và tinh chế hoạt động đơn thuần bằng nguyên lý cơ 
học hoặc vật lý; loại này được chia nhỏ làm hai loại. Loại thứ 
nhất, như các thiết bị lọc chất lỏng, các thành phần tách  bao gồm 
một bề mặt hoặc khối xốp (vải dạ, vải thường, sợi thuỷ tinh, bông 

kim loại...). Loại thứ hai, việc phân tách được thực hiện bằng cách 
làm giảm tốc độ đột ngột của các phần nằm trong chất khí cần lọc, 
để thu lấy các phần tử này bằng cơ chế trọng lực và bị giữ lại trên 
các bề mặt có dầu… Các thiết bị loại này thường có các quạt gió 
hoặc các dụng cụ phụ để phun nước. 
Loại thiết bị lọc thứ nhất bao gồm: 
(i) Thiết bị lọc khí nạp dùng cho động cơ đốt trong. Loại 
này thường kết hợp cả hai hệ thống đã được mô tả ở trên. 
(ii) Túi lọc, gồm nhiều bộ phận lọc bằng vải có dạng túi, và 
thường được nối với một cơ chế rung các phần tử được 
thu lại rơi xuống đáy túi. 
(iii) Màng lọc. Thiết bị có một băng lọc liên tục giữa hai trục 
quay trong buồng kín nơi khí đi qua. Băng lọc được làm 
sạch bằng nạo cơ khí. 
(iv)Thiết bị lọc trống quay, chủ yếu được sử dụng trong các 
xưởng tẩy rửa bằng cát, và gồm có một trống nơi khí được 
hút vào, với một măng sông lọc, quay trong một buồng 
kín, và được làm sạch bằng nạo. 
Loại thiết bị lọc thứ hai bao gồm: 
(v) Thiết bị khử bụi, lọc khói…, được gắn nhiều kiểu chi 
tiết cản để làm giảm tốc độ của các phần tử cần loại bỏ 
trong luồng khí, ví dụ như các tấm lọc, các chi tiết được 
đục lỗ không đối xứng, các luồng vòng tròn hoặc xoắn ốc 
với nhiều cánh nhỏ xếp so le, và khối hình nón xếp lại 
như bức mành. 
(vi) Các thiết bị lọc xoáy, thường gồm các hình nón làm 
bằng tấm kim loại, được đặt bên trong ngăn hình trụ. Khí 
theo một ống tiếp xúc dẫn tới phần chóp, dòng khí xoáy 
sẽ giảm mạnh khi khí di chuyển tới phần rộng của hình 

nón do đó bụi sẽ rơi xuống đáy hộp chứa. 
Các thiết bị lọc tĩnh điện cho không khí hoặc các loại khí khác. 
Trong đó bộ phận chính thường được tạo bởi một loạt các dây tĩnh 
điện theo chiều thẳng đứng. Bụi trong không khí chuyển động qua 
sẽ bị hút và giữ lại bởi các dây tích điện, và sẽ được loại bỏ khỏi 
các dây này theo chu kỳ. 
Tháp lọc hoặc hấp thu khí. Được sử dụng để tinh chế khí các loại 
hoặc khí than. Chúng bao gồm các cột cao bằng kim loại bên trong 
có chứa than cốc hoặc các chất liệu khác, phía trên có gắn thiết bị 
phun nước dạng tia. 
Các thiết bị lọc và tinh chế không khí hoặc các loại khí khác dưới 
tác động hoá học (kể cả bộ xúc tác chuyển khí mono ô xít các bon 
trong các loại khí thải của các phương tiện có gắn động cơ). 
Nhóm này cũng gồm các loại thiết bị dưới đây được dùng trong ngành 
công nghiệp hạt nhân: thiết bị lọc không khí được thiết kế đặc biệt để 
khử bụi phóng xạ (dưới tác dụng vật lý hoặc điện tĩnh); thiết bị tinh lọc 
hoạt động bằng than hoạt tính để giữ lại i ốt phóng xạ; thiết bị trao đổi i -
ông dùng để tách các nguyên tố phóng xạ, kể cả loại hoạt động dưới tác 
dụng điện phân; thiết bị dùng để tách nhiên liệu được chiếu xạ hoặc 
dùng để xử lý chất thải, bằng phản ứng trao đổi i -ông hoặc bằng phương 
thức hoá học (thông qua dung môi, kết tủa...). 
BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải 
tổng quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm bộ phận của các thiết 
bị lọc hoặc thiết bị tinh chế được nêu ở trên. Không kể những đề cập 
khác, các bộ phận đó bao gồm : 
Lá lọc của thiết bị lọc chân không gián đoạn; giàn, khung, và các tấm lọc 

của thiết bị lọc nén; trống quay của thiết bị lọc chất lỏng hoặc chất khí; 
vách ngăn và tấm lọc đục lỗ của thiết bị lọc chất khí. 
Tuy nhiên, cần chú ý rằng các khối lọc làm bằng bột giấy thuộc nhóm 
48.12 và các bộ phận lọc bằng các chất liệu khác (ví dụ: bằng chất liệu 
gốm sứ, sợi dệt, vải dạ,...) được phân loại theo chất liệu của chúng. 
Nhóm này không bao gồm: 
Các thiết bị khuếch tán khí dùng để tách các chất đồng vị của 
uranium (nhóm 84.01). 
Máy điều hoà không khí thuộc nhóm 84.15 hoặc máy hút ẩm 
không khí thuộc nhóm 84.79. 
Thiết bị ép dùng trong sản xuất rượu nho, rượu táo... (nhóm 
(d)   Máy chạy (thẩm tách) thận nhân tạo (nhóm 90.18). 
84.22 - Máy rửa bát đĩa; máy làm sạch hoặc làm khô chai lọ hoặc 
các loại đồ chứa khác; máy rót, đóng kín, gắn xi, đóng nắp hoặc 
dán nhãn vào các chai, lon, hộp, túi hoặc đồ chứa khác; máy bọc 
chai lọ, ống và các loại đồ chứa tương tự; máy đóng gói hoặc bao 
gói khác (kể cả máy bọc màng co nhiệt); máy nạp ga cho đồ uống 
                   - Máy rửa bát đĩa: 
     8422.11 - - Loại sử dụng trong gia đình 
     8422.19 - - Loại khác 
      8422.20 - Máy làm sạch hoặc làm khô chai lọ hoặc các loại đồ chứa 
khác 
      8422.30 - Máy rót, đóng kín, đóng nắp, làm kín hoặc dán nhãn vào các 
chai, lon, hộp, túi hoặc đồ chứa khác; máy bọc chai, lọ, ống và 

các đồ chứa tương tự; máy nạp ga cho đồ uống 
      8422.40 - Máy đóng gói khác hoặc bao gói khác (kể cả máy bọc màng 
co nhiệt) 
      8422.90 - Bộ phận 
Nhóm này bao gồm các loại máy rửa bát đĩa (dùng để rửa đĩa, đồ thuỷ 
tinh, thìa dĩa,... ), có hoặc không có bộ phận để làm khô, kể cả các loại 
chạy bằng điện, thuộc loại gia dụng hoặc không. Nhóm này cũng bao 
gồm các loại máy dùng để rửa hoặc làm khô chai lọ hoặc các vật chứa 
khác, các loại máy dùng để rót hoặc đóng kín các loại vật chứa trên (kể 
cả máy nạp ga cho đồ uống) và, các loại máy nói chung dùng để đóng 
gói hàng hóa (kể cả máy bọc màng co nhiệt) để bán, vận chuyển hoặc 
lưu kho. Bao gồm:  
Máy (chạy bằng hơi nước hoặc không) dùng để rửa, đánh sạch, 
tráng hoặc sấy khô chai, lọ, hộp, thùng, liễn, bi đông đựng sữa, đồ 
hộp, đĩa bát, hoặc các vật chứa khác. Các loại máy này đôi khi 
được gắn bộ phận để diệt khuẩn hoặc vô trùng các đồ chứa đó. 
Máy rót đầy các loại đồ chứa (như chai, lọ, liễn, ống, ống tiêm, bi 
đông, thùng, hộp kim loại, hộp hoặc túi), thường được lắp thêm bộ 
phận phụ để tự động kiểm soát thể tích hoặc trọng lượng và bộ 
phận đóng kín các vật chứa này. 
Máy đóng, làm kín nút, máy đóng nút lie hoặc chụp nắp chai lọ các 
loại; máy đóng và hàn nắp đồ hộp (kể cả loại hàn nóng chảy). 
Máy đóng gói, bọc bằng hộp carton, kể cả loại có bộ phận để tạo 
khuôn, in, bấm ghim, bao buộc, dán, đóng kín hoặc các thao tác 
khác để hoàn thiện việc đóng gói. Nhóm này cũng bao gồm loại 
máy đóng gói chai hoặc đồ hộp vào các thùng chứa khác (hộp, 
két,…) 
Máy dán nhãn, kể cả loại gồm các chức năng in, cắt, dán nhãn. 
Máy nạp ga cho các loại đồ uống. Thực tế, đây là loại máy dùng để 

rót đầy và đóng nắp và gồm có một thiết bị cấp khí cácboníc đồng 
thời với chất lỏng. 
Máy đóng kiện, đóng đai, kể cả thiết bị xách tay điều khiển bằng 
tay, được gắn thêm các tấm kim loại hoặc các thiết bị tương tự 
giúp chúng có thể liên kết lại với nhau, khi sử dụng, trên các kiện, 
thùng hoặc các đồ chứa khác khi được buộc lại. 
Các loại máy thuộc nhóm này thường thực hiện một vài trong số các 
chức năng như đã nêu trên. Các loại này còn có thể gắn thêm các bộ 
phận để rót đầy hoặc đóng kín trong điều kiện chân không hoặc trong 
môi trường không khí có kiểm soát. 
Các loại máy mà ngoài các chức năng đóng gói, bọc ngoài,..., còn thực 
hiện các chức năng khác cũng được xếp trong nhóm này, nếu các thao 
tác khác đó chỉ được coi là chức năng phụ cho chức năng đóng gói,... Do 
đó, nhóm này gồm các loại thiết bị thực hiện việc đóng gói sản phẩm 
dưới các dạng bao bì thông thường để phân phối và bán ra thị trường, dù 
các thiết bị này có thêm bộ phận cân, đo lườnghoặckhông. Tương tự, 
nhóm này bao gồm cả các loại máy dùng để đóng gói hoặc đóng bao bì, 
được gắn thêm bộ phận có chức năng phụ như cắt, dập khuôn hoặc nén 
sản phẩm mà không làm ảnh hưởng đến tính chất đặc trưng của chúng 
(ví dụ: máy dập khuôn bơ, mácgarin thành các miếng nhỏ, khối... và 
đóng gói chúng). Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các loại máy, 
trong đó chức năng chủ yếu không phải là đóng gói,… mà là chế biến 
nguyên liệu dạng thô hoặc bán thành phẩm thành  sản phẩm cuối cùng 
(ví dụ: thiết bị dùng để sản xuất và đóng gói thuốc lá). 
BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải 
tổng quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm bộ phận của các loại 
máy và thiết bị thuộc nhóm này. Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng phần 
lớn các linh kiện trong các thiết bị này lại thuộc các nhóm khác, như các 
dụng cụ cân (nhóm 84.23), thiết bị dùng để gia công giấy hoặc bìa các 

tông (nhóm 84.41), thiết bị dùng để in (nhóm 84.43). 
Nhóm này không bao gồm: 
Máy đóng chai hoặc đóng hộp gia dụng và các loại thiết bị cơ khí 
gia dụng khác có trọng lượng không quá 10 kg (nhóm 82.10). 
Máy đóng kiện rơm, cỏ khô (nhóm 84.33). 
Máy làm túi giấy hoặc bìa các tông (nhóm 84.41). 
Máy khâu dùng để may đóng bao bì, sau khi đã chứa sản phẩm 
(nhóm 84.52). 
Máy ép, nén kim loại vụn thành kiện,… (nhóm 84.62). 
Máy bắn đinh (nhóm 84.65). 
Máy đặt thư vào phong bì hoặc bọc chúng bằng băng giấy (nhóm 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 8422.11 
Phân nhóm này bao gồm máy rửa bát đĩa, hoạt động bằng điện hoặc 
không, dùng trong gia đình, bất kể với mục đích sử dụng nào. Kích 
thước bên ngoài của máy dùng để đặt trên mặt sàn như sau: 
Chiều rộng: đến 65 cm 
Chiều cao: đến 95 cm 
Chiều sâu: đến 70 cm 
Kích thước của loại máy và thiết bị dùng để đặt trên bàn hoặc trên quầy 
bày hàng thì nhỏ hơn đáng kể. 

84.23 - Cân (trừ loại cân đo có độ nhậy 5 cg hoặc nhậy hơn), kể cả 
máy đếm hoặc máy kiểm tra, hoạt động bằng nguyên lý cân; các 
loại quả cân (+). 
8423.10 - Cân người, kể cả cân trẻ em; cân sử dụng trong gia 
đình 
8423.20 - Cân băng tải  
8423.30 - Cân trọng lượng cố định và cân dùng cho việc đóng 
gói vật liệu với trọng lượng xác định trước vào bao túi 
hoặc đồ chứa, kể cả cân phễu 
              - Cân trọng lượng khác:  
8423.81 - - Có khả năng cân tối đa không quá 30 kg 
8423.82 - - Có khả năng cân tối đa trên 30 kg nhưng không quá 
8423.89 - - Loại khác 
8423.90 - Quả cân của các loại cân; các bộ phận của cân 
Trừ các loại cân có độ nhạy 5cg hoặc nhạy hơn (nhóm 90.16), nhóm 
này bao gồm: 
(A) Máy và các thiết bị dùng để xác định trực tiếp trọng lượng của vật, 
bất kể hoạt động bằng phương thức điện tử (thông qua bộ cảm biến 
điện tử), bằng cách cân bằng trọng lượng của vật cần cân với trọng 
lượng các quả cân có thể thay đổi, bằng thao tác di chuyển quả cân 
(quả cân trượt) trên đòn/cán cân đã được đánh dấu vạch (cân đòn 
bẩy hoặc loại khác), hoặc bằng cách tự động hiển thị trên mặt số 
hoặc bằng kim chỉ trên các loại máy cân vận hành bằng lò xo, đòn 
bẩy hoặc đối trọng, hoặc vận hành bằng thủy lực…. 
(B) Loại có cách thức vận hành trên nguyên tắc xác định trọng lượng, 
nhưng tự động hiển thị trên các đơn vị đo lường khác (như thể tích, 
số lượng, giá cả, chiều dài... ) có mối quan hệ trực tiếp với trọng 
lượng. 
(C) Loại có trọng lượng cân xác định trước dùng để kiểm tra tính đồng 
nhất hoặc chỉ ra những hao hụt của sản phẩm căn cứ trên trọng 

lượng, hoặc dùng để chia hàng hóa thành các trọng lượng cố định 
sẵn sàng cho việc đóng gói. 
Các loại máy này gồm: 
Cân lò xo. 
Cân dùng trong gia đình hoặc trong cửa hàng. 
Cân thư hoặc bưu kiện. 
Cân người (hoạt động bằng cách bỏ tiền xu hoặc không), kể cả cân 
trẻ em. 
Cân bàn xách tay hoăc di động. 
Cân cầu đường (bằng thuỷ lực hoặc loại khác) và các loại sàn cân khác. 
Cân hàng hóa trên băng chuyền hoặc băng tải treo cao,… 
Cân đếm theo trọng lượng. 
Cân hàng có trọng lượng cân cố định, như cân kiểm tra (chỉ rõ 
lượng vượt quá hoặc hao hụt so với trọng lượng tiêu chuẩn) và cân 
liên tục để kiểm tra tính đồng nhất của vải dệt hoặc vật liệu khác.  
(10) Cân phễu, loại tự động cân vật liệu được chia từ phễu, kể cả loại có 
nhiều phễu có thể cân nhiều thành phần từ nhiều phễu để tạo thành 
một hỗn hợp. 
(11) Cân dùng để chia trọng lượng xác định của vật liệu vào bao túi 
hoặc đồ chứa, trừ các loại máy kèm chức năng đóng gói, bao gói 
hàng hóa để phân phối và bán trên thị trường. 
(12) Cân tự động để cân các chất lỏng chảy liên tục. 
(13) Cân hoàn toàn tự động, dùng để cân và dán nhãn sản phẩm đã 
được đóng gói, gồm có cân, máy tính và máy in, bộ đếm tích hợp 
và máy dán nhãn. 
Các máy cân này có thể gắn các bộ phận để tự động in phiếu ghi trọng 
lượng, hoặc để ghi và cộng dồn nhiều lần cân, hoặc để chiếu và phóng to 

chỉ số cân, …  
Nhóm này còn bao gồm quả cân các loại, bằng chất liệu bất kỳ, trong bộ 
quả cân hoặc không, dùng cho các loại cân bất kỳ, kể cả các quả cân 
riêng biệt dùng cho cân với độ nhậy chính xác cao thuộc nhóm 90.16, 
tuy nhiên, các quả cân mà đi cùng với cân tiểu ly thì được phân loại theo 
các loại cân này. Quả cân của cân đối trọng có con trượt (kể cả bằng 
platin) cũng thuộc nhóm này.  
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải 
tổng quát của Phần XVI), nhóm này bao gồm bộ phận của các máy cân 
thuộc nhóm này như: 
Cán cân, được chia theo đơn vị đo lườnghoặckhông; đĩa cân, bàn đứng 
của cân; bệ máy, chân đế và vỏ bảo vệ; lưỡi dao, trục quay, ổ quay (trừ 
loại làm hoàn toàn bằng đá mã não hoặc bằng các loại đá quý hoặc đá 
bán quý khác (thuộc nhóm 71.16); bộ giảm xóc (van giảm dao động); 
mặt số. 
Nhóm này không bao gồm: 
Cân thuỷ tĩnh (hoặc cân trọng lượng riêng) (nhóm 90.16). 
Máy cân linh kiện cơ khí (nhóm 90.31). 
Các dụng cụ như lực kế mà chức năng chính không phải là cân hàng 
hoá, người hoặc động vật… mà dùng để đo sức kéo, sức nén,… 
(nhóm 90.24 hoặc 90.31). 
Chú giải phân nhóm 
Phân nhóm 8423.20 

Các loại cân dùng để cân hàng hóa liên tục trên băng tải thuộc phân 
nhóm này có thể thuộc một hệ thống tổng hoặc là loại tích hợp, cho phép 
xác định và ghi lại trọng lượng của vật liệu được chuyển trên dây 
chuyền, thùng chứa hoặc tương tự. 
84.24 – Thiết bị cơ khí (được điều khiển bằng tay hoặc không) để 
phun bắn, phun rải hoặc phun áp lực các chất lỏng hoặc chất 
bột; bình dập lửa, đã hoặc chưa nạp; súng phun và các thiết bị 
tương tự; máy phun bắn hơi nước hoặc cát và các loại máy 
phun bắn tia tương tự (+). 
       8424.10 - Bình dập lửa, đã hoặc chưa nạp  
       8424.20 - Súng phun và các thiết bị tương tự 
        8424.30 - Máy phun bắn hơi nước hoặc cát và các loại máy phun bắn 
tia tương tự 
                       - Thiết bị phun dùng trong nông nghiệp hoặc làm vườn: 
       8424.41     - -  Thiết bị phun xách tay 
       8424.49      - -  Loại khác 
                       - Thiết bị khác: 
       8424.82 - - Dùng trong nông nghiệp hoặc làm vườn  
       8424.89 - - Loại khác  
       8424.90 - Bộ phận 
Nhóm này bao gồm các loại máy và thiết bị dùng để phun bắn, phun rải 
hoặc phun áp lực hơi nước, chất lỏng hoặc các chất rắn khác (hạt cát, 
bột, hạt, mạt giũahoặchạt nhám kim loại...), dưới dạng các tia, hạt nước 
nhỏ (cóhoặckhông chảy nhỏ giọt), hoặc hạt sương.  
Nhóm này, tuy nhiên, không bao gồm các loại máy được thiết kế để cắt 
nhiều loại vật liệu (ví dụ, đá, vật liệu tổng hợp, cao su, thủy tinh, kim 
loại) như máy cắt tia nước hoặc máy cắt nước có chất mài mòn. Những 
loại máy này thường hoạt động dưới áp suất từ 3.000 đến 4.000 bars với 

một dòng nước hoặc nước trộn với chất mài mòn cao, với tốc độ từ 2 đến 
3 lần so với tốc độ âm thanh (nhóm 84.56). 
(A) BÌNH DẬP LỬA, ĐÃ HOẶC CHƯA NẠP 
Nhóm này bao gồm các thiết bị dập lửa, đã được nạp hoặc chưa nạp các 
hóa chất tạo bọt hoặc chất loại khác, loại này cũng bao gồm các thiết bị 
dập lửa đơn giản có gắn vòi, van, kíp giật hoặc các thiết bị mở khác... 
Nhóm này không bao gồm: 
Lựu đạn dập lửa, cũng như các chất nạp dùng cho các bình dập lửa 
(nhóm 38.13). 
Bơm cứu hoả có hoặc không gắn bình chứa, nhóm 84.13 (loại 
không tự hành) hoặc nhóm 87.05 (loại tự hành). 
(B) SÚNG PHUN VÀ CÁC THIẾT BỊ TƯƠNG TỰ 
Súng phun và các thiết bị tương tự điều khiển bằng tay, thường được nối 
với một hệ thống khí nén hoặc hơi nước và cũng được nối trực tiếp hoặc 
qua một ống dẫn với bình chứa chất được phun. Chúng được gắn với cơ 
cấu mở hoặc van để điều khiển dòng phun qua béc phun để cho chùm tia 
áp lực tăng giảm thích hợp. Chúng được sử dụng để phun sơn hoặc sơn 
dầu, vecni, dầu, plastic, xi măng, bột kim loại, bụi sợi...  
Chúng cũng có thể được sử dụng để phun luồng khí nén hoặc hơi nước 
để làm sạch các kết cấu bằng đá trong các tòa nhà, tượng... 
Nhóm này cũng gồm các loại thiết bị phun chống bám bẩn, điều khiển 
bằng tay được trình bày riêng biệt, dùng gắn trong các máy in và súng 
phun bằng tay để phun kim loại điều khiển bằng tay hoạt động theo 
nguyên lý ống xì hoặc bằng sự kết hợp hiệu ứng của một thiết bị nhiệt 
điện với một tia khí áp lực. 
 Các súng phun điều khiển bằng tay có gắn động cơ điện, kết hợp với 
một bơm và một bình chứa  vật liệu được phun (sơn, véc ni, vv), cũng 
thuộc nhóm này. 

(C) CÁC LOẠI MÁY PHUN HƠI NƯỚChoặcPHUN CÁT VÀ CÁC 
LOẠI MÁY BẮN TIA TƯƠNG TỰ 
Các máy phun cát và các loại tương tự, thường có cấu tạo rất cồng kềnh, 
đôi khi còn được lắp thêm máy nén; loại này thường được sử dụng để 
lau rửa hoặc tẩy rỉ các sản phẩm kim loại, dùng để làm ráp hoặc chạm 
khắc trên thuỷ tinh, trên đá v.v.. thông qua việc phun các chất mài ở áp 
lực cao: cát, mạt kim loại, ... Các thiết bị này thường được gắn thêm bộ 
phận lọc bụi để khử bụi còn bám lại. Nhóm này cũng bao gồm các thiết 
bị phun bắn hơi nước, ví dụ được sử dụng để rửa, tẩy dầu mỡ trên các 
phần kim loại máy móc.v.v... 
(D) BÌNH PHUN TƯỚI, PHUN XỊT VÀ THIẾT BỊ RẢI BỘT 
Các thiết bị này để phun rải các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm... dùng 
trong nông nghiệp hoặc dùng trong gia đình. Nhóm này bao gồm cả các 
thiết bị điều khiển bằng tay (bao gồm cả thiết bị phun xịt bơm piston đơn 
giản) hoặc bằng bàn đạp chân như các bễ thổi, thiết bị phun xịt đeo lưng 
và thiết bị phun xịt có thể vận chuyển được- có thể có bình chứa hoặc 
không.  Nhóm này cũng gồm các loại máy phun xịt di động mà trong đó 
động cơ cung cấp năng lượng cho việc bơm hoặc phun xịt cũng có thể 
truyền động với nhau để mang đến chuyển động có giới hạn cho thiết bị 
hoạt động nhưng nó không bao gồm các máy tạo thành phương tiện 
thực sự trong diễn giải tại nhóm 87.05. 
Với điều kiện chúng kết hợp với các thiết bị cơ khí để sản sinh hoặc 
phân chia sự phun xịt hoặc phun tia, hoặc dùng để tự động điều hướng 
đầu phun xịt (bao gồm cả các cơ cấu đơn giản tác động bởi áp lực nước), 
nhóm này bao gồm các loại thiết bị dưới đây, dù được cố định, có thể 
vận chuyển đượchoặcdi động: 
Thiết bị tưới hoặc phun nước cho các đồng cỏ, phong lan... (ví dụ 
như phun kiểu quay và phun theo chu kỳ quay) 
Các súng thủy lực, được thiết kế để tách khoáng chất (ví dụ vàng 
lẫn trong cát), từ núi đá ... , bằng cách bắn các tia nước áp lực cao 

và các tia nước tách vỏ được sử dụng trong công nghiệp giấy. 
Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị rửa kính chắn gió và đèn pha của 
xe cộ, và súng phun lửa loại được sử dụng để đốt cỏ hoặc các mục đích 
nông nghiệp khác. 
Nhóm này không bao gồm: 
Thuốc trừ sâu được đóng trong thùng có áp suất được gắn với van 
giảm áp đơn giản (nhóm 38.08). 
 (b) Các béc phun (Phần XV hoặc nhóm 84.81 nếu chúng được gắn với 
van, vòi các loại hoặc các thiết bị khác dùng để điều chỉnh dòng chất 
lỏng. 
Các dụng cụ dùng trong y tế thuộc nhóm 90.18. 
Các bình xịt nước thơm và bình xịt toilét tương tự (nhóm 96.16). 
(E) HỆ THỐNG TƯỚI NƯỚC 
Hệ thống tưới này bao gồm các thành phần khác nhau được liên kết lại, 
bao gồm: 
Một trạm điều khiển (có lưới lọc, máy phun phân bón, van định 
mức, van một chiều, bộ điều chỉnh áp lực, đồng hồ chỉ thị áp lực, 
thông gió...);  
Một hệ thống ngầm dưới đất (các đường phân chia và các nhánh 
mà nó mang nước từ trạm điều khiển đến các vùng tưới); và 
(iii) Một hệ thống trên bề mặt (các đường ống dẫn gắn các thiết bị tưới 
nhỏ giọt). 
Các hệ thống như vậy được phân loại trong nhóm này theo các khối chức 
năng như diễn giải tại Chú giải 4 Phần XVI (xem Chú giải Tổng quát 
Phần này). 
Nhóm này cũng bao gồm: 
Các máy dùng để phủ các đồ vật khác nhau bằng cách phun xịt với 

sáp parafin hoặc sáp nóng chảy (ví dụ: cốc, thùng các tông, hộp 
đựng...). 
Các thiết bị sơn tĩnh điện bao gồm một súng phun được nối với 
một thùng chứa sơn bằng một ống mềm dẫn sơn, và cũng được nối 
với một máy phát cao áp bởi một cáp điện. Trường tĩnh điện được 
tạo ra giữa vật cần sơn và súng sơn hút các hạt sơn được phun ra 
nhờ máy nán khí sẽ ngăn cản sự phân tán của hạt sơn.  
Các rôbôt công nghiệp được thiết kế đặc biệt để phụt, rải hoặc 
phun thành bụi các chất liệu dạng lỏng hoặc dạng bột. 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Phần Chú giải 
Tổng quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm bộ phận của các loại 
máy và thiết bị thuộc nhóm này, như bình chứa, vòi phun, đầu phun 
nhọn và đầu phun dạng rối không phải loại đã mô tả ở nhóm 84.81. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm: 
Bình tra dầu dùng tay và máy phun mỡ (nhóm 82.05) và súng phun 
mỡ bằng khí nén và các loại thiết bị cấp chất bôi trơn bằng áp lực 
tương tự (nhóm 84.67). 
Máy cạo rửa bằng hơi nước, dùng cho nồi hơi (nhóm 84.04). 
Đầu đốt (nhóm 84.16). 
Các máy dùng để rửa thùng hoặc các loại đồ chứa tương tự bằng tia 
nước, hơi, cát... (nhóm 84.22). 
Máy in phun mực các loại (nhóm 84.43). 
(f) Các máy bán hàng tự động loại phun nước hoa  (nhóm 84.76). 

Các loại máy dùng để rắc vữa hoặc bê tông hoặc các máy dùng để 
rắc sỏi trên bề mặt đường hoặc các bề mặt tương tự (nhóm 84.79). 
Các máy để phun rải cát và muối để làm sạch tuyết, được thiết kế 
để gắn trên xe tải (nhóm 84.79)  
Các thiết bị phun bắn dùng để khắc axit, hiện ảnh, tẩy rửa hoặc 
làm sạch các tấm bán dẫn mỏng và màn hình dẹt; các máy làm 
nguội (chỉ các máy dùng trong công đoạn cuối cùng của quá trình 
sản xuất bán dẫn) dùng để làm sạch cà tẩy rửa các chất bẩn bám 
trên các đầu chân dẫn điện kim loại của các cụm linh kiện bán dẫn 
trước khi tiến hành điện phân (nhóm 84.86) (làm nguội bằng cách 
phun áp lực cao) 
Máy và các thiết bị điện dùng phun nóng kim loại hoặc gốm kim 
loại thuộc nhóm 85.15. 
Máy khoan nha khoa loại tia áp lực (nhóm 90.18) và các thiết bị trị 
liệu xon khí (nhóm 90.19). 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 8424.20 
Phân nhóm này bao gồm các loại máy được nêu trong Phần B của Chú 
giải chi tiết nhóm 84.24. 
Phân nhóm 8424.41 
Thuật ngữ “thiết bị phun xách tay” đề cập đến những thiết bị phun được 
thiết kế để người vận hành kéo hoặc mang theo bằng một tay cầm hoặc 
một hoặc hai dây đeo vai. 
Phân nhóm này bao gồm các thiết bị phun xịt áp lực (có thể được bán 
trên thị trường theo tên gọi "súng phun"), bao gồm một bình chịu áp lực 
kết hợp một phễu và bơm áp lực, có 1 dây đeo mang, ống dẫn mềm hoạt 
và tay phun cầm tay với một ống nhỏ bằng đồng và một vòi phun điều 
chỉnh, tất cả đều có những đặc điểm vật lý mà rõ ràng làm cho chúng 
phù hợp nhất để sử dụng nông nghiệp hoặc làm vườn (ví dụ, áp suất hoạt 

động 3 bars, công suất 5 lít, miệng vòi phun có thể điều chỉnh). 
Các thiết bị phun xịt áp lực cao có tay gạt, điều khiển bằng tay, thiết bị 
phun xịt bằng động cơ, thiết bị phun sương bằng động cơ, thiết bị phun 
có vòi xoay tay và thiết bị phun có cần kéo hoặc đẩy bằng tay là những 
ví dụ khác về thiết bị phun xịt cầm tay thuộc phân nhóm này. 
Phân nhóm này không bao gồm các máy phun sương nóng và lạnh dùng 
để diệt côn trùng.  
84.25 - Hệ ròng rọc và hệ tời trừ tời nâng kiểu gầu nâng (trục tải 
thùng kíp); tời ngang và tời dọc; kích các loại. 
                     - Hệ ròng rọc và hệ tời, trừ tời nâng kiểu gầu nâng (trục tải 
thùng kíp) hoặc hệ tời dùng để nâng xe: 
      8425.11 - - Loại chạy bằng động cơ điện 
      8425.19 - - Loại khác  
                    - Tời ngang; tời dọc: 
      8425.31 - - Loại chạy bằng động cơ điện 
      8425.39 - - Loại khác  
                    - Kích; tời nâng xe: 
      8425.41 - - Hệ thống kích tầng dùng trong gara  
      8425.42 - - Loại kích và tời khác, dùng thủy lực: 
      8425.49 - - Loại khác  
Nhóm này bao gồm các thiết bị nâng hoặc xếp hàng đơn giản. Các quy 
tắc của Chú giải chi tiết nhóm 84.26, với các sửa đổi thích hợp, sẽ áp 
dụng cho các thiết bị của nhóm này trong phạm vi liên quan đến các máy 
tự hành và máy “di động” khác, máy đa chức năng, máy nâng, xếp 
dỡ...các máy nhằm mục đích gắn vào máy khác hoặc lắp trên phương 
tiện di chuyển hoặc tàu thuyền ở Phần XVII. Tuy nhiên, nếu 1 tời ngang 
là dụng cụ thông thường của một máy kéo, thì máy hoàn thiện (máy kéo 
và tời ngang) sẽ được phân loại ở nhóm 87.01. 

Nhóm này bao gồm: 
(I) HỆ RÒNG RỌC VÀ HỆ TỜI, TRỪ TỜI NÂNG KIỂU GẦU 
NÂNG (TRỤC TẢI THÙNG KÍP) 
Hệ ròng rọc và hệ tời được phân loại trong nhóm này bao gồm các hệ 
thống phức tạp hoặc đơn giản các puly và dây cáp, xích, sự truyền dẫn 
cáp...được thiết kế đặc biệt để đảm bảo việc nâng lên (ví dụ bằng cách sử 
dụng các puly với đường kính khác nhau, các bánh xe có răng và hệ 
thống bánh răng). 
Nhóm này bao gồm, không kể những trường hợp khác: 
(1)  Hệ ròng rọc và hệ tời, trong đó dây xích dẫn truyền được gắn vào 
mấu được thiết kế đặc biệt để dịch chuyển trên rãnh puly. 
(2)  Tời puly loại tang trống trong đó dây cáp được quấn trên 1 tang 
trống có cơ cấu puly gắn ở cuối. Các loại tời một khối này thường là loại 
khí nén hoặc điện. Nó thường được gắn trên bánh trượthoặckhung di 
chuyển trên đường ray phía trên. 
(3)   Hệ tời bao gồm một chuỗi con lăn chạy trên một hệ thống bánh răng 
trên đĩa xích được hoạt động bằng tay quay hoặc cần gạt, khá giống như 
trong hệ thống kích. 
Puli riêng rẽ và khối puli không thuộc nhóm này (thuộc nhóm 84.83). 
Nhóm này còn bao gồm các cần kéo hàng trên tàu hoặc trục treo xà lúp, 
đó là các giá xếp cùng với nhau, chuyển động và có thể xoay được, được 
gắn một ròng rọc,... có thể dùng để nâng và hạ xuồng nhỏ trên boong tầu 
hoặc trong cảng. 
(II) TỜI NGANG VÀ TỜI DỌC 
Tời ngang bao gồm các trống cơ cấu bánh cóc nằm ngang hoạt động 
bằng tay hoặc bằng động cơ mà trên đó các dây cáp được cuốn. Tời dọc 
cũng tương tự, nhưng trống được đặt theo phương thẳng đứng. 

Nhóm này bao gồm: 
(1)  Hệ tời dọc và ngang dùng trong tầu thuỷ để vận hành cơ cấu nâng 
hàng, kéo mỏ neo tầu, điều chỉnh bánh lái, kéo dây chão khởi động, kéo 
lưới đánh cá, kéo thừng trong nạo vét,...Khối động cơ thường được gắn 
bên trong máy như là một thành phần trong chúng. 
(2)  Hệ tời ngang dùng cho máy kéo,.v.v... 
(3) Cơ cấu đổi chiều tại miệng hầm mỏ, bao gồm thiết yếu một lượng 
lớn các tời ngang hoạt động bằng động cơ. 
(4) Hệ tời dọc dùng để vận hành bàn xoay, hoặc rẽ đường ray xe goong... 
Để rẽ, dây cáp thường được sử dụng dịch chuyền dọc theo các cột mốc 
quay tự do trên các ổ trục để tạo điều kiện cho sự kéo hàng. Các cột mốc 
này được phân loại ở nhóm 73.25 hoặc 73.26. 
(5) Cụm máy kéo, rút dùng cho máy kéo, rút dây (kim loại) và cuốn 
thành cuộn. 
(III) CÁC LOẠI KÍCH 
Các loại kích được thiết kế để nâng các vật nặng trong khoảng cách 
ngắn. Nhóm này bao gồm kích thanh răng và bánh cóc, kích trục vít 
trong đó trục vít được nâng lên bởi sự quay hoặc quay một đai ốc được 
gắn chặt đế kích, và kích trục vít kiểu ống lồng hoạt động bởi 
haihoặcnhiều trục vít đồng tâm, trục vít bên ngoài quay bên trong đai ốc 
đặt trong đế kích. 
Trong các kích thủy lực hoặc khí nén, piston nâng được tác động dọc 
xi lanh bởi áp lực được tạo ra trong bơm hoặc trong máy nén mà nó có 
thể để ngoài hoặc gắn vào cùng. 
Một vài loại kích đặc biệt bao gồm: 
(1) Kích xách tay dùng cho xe ô tô. 
(2) Các kích dùng trong gara có gắn bánh xe, kích nâng kiện hàng...  
(3) Hệ thống kích loại gắn trong gara sửa xe, thường sử dụng thủy lực. 

(4) Các kích được sử dụng trong cơ cấu lật dùng cho xe chở hàng. 
(5) Kích dùng cho neo giữ chặt hệ cần trục, xe tải lớn, xưởng di động, 
súng hạng nặng... 
(6) Các loại kích nâng đường ray  
(7) Các loại kích dùng để nâng toa xe lửa hoặc xe điện. 
(8) Kích tác động theo phương ngang dùng để di chuyển các dầm, các 
phần của cấu trúc nhà cửa... 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải tổng 
quát Phần XVI), các bộ phận của thiết bị thuộc nhóm này được xếp trong 
nhóm 84.31. 
Nhóm này cũng loại trừ: 
(a)   Xi lanh thuỷ lực hoặc khí nén thuộc nhóm 84.12. 
(b) Các bộ điều khiển thanh chắn đường tàu và thiết bị báo hiệu tín hiệu 
trên đường sắt thuộc nhóm 86.08. 
84.26 - Cổng trục của tàu thủy; cần trục, kể cả cần trục cáp; khung 
nâng di động, xe chuyên chở kiểu khung đỡ cột chống và xe 
công xưởng có lắp cần cẩu. 
-  Cần trục trượt trên giàn trượt (cần trục cổng di động), 
cần trục vận tải, cổng trục, cầu trục, khung nâng di động 
và xe chuyên chở kiểu khung đỡ cột chống: 
8426.11 - - Cần trục cầu di chuyển trên đế cố định  
8426.12 - - Khung nâng di động bằng bánh lốp xe và xe chuyên chở 
kiểu khung đỡ cột chống 
      8426.19 - - Loại khác  
      8426.20 - Cần trục tháp  

      8426.30 - Cần trục cổng hoặc cần trục cánh xoay 
                   - Máy khác, loại tự hành: 
      8426.41 - - Chạy bánh lốp 
      8426.49 - - Loại khác 
                   - Máy khác: 
      8426.91 - - Thiết kế để nâng xe cơ giới đường bộ 
      8426.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm một số các máy nâng hoặc xếp dỡ không liên hoàn. 
CÁC THIẾT BỊ TỰ HÀNH VÀ CÁC THIẾT BỊ 
 “DI ĐỘNG” KHÁC 
Nhìn chung, nhóm này không chỉ bao gồm các máy gắn cố định hoặc 
máy đứng im mà còn bao gồm cả máy di động, tự hành hoặc không (với 
các trường hợp loại trừ nhất định liên quan dưới đây về các máy được 
gắn trên các thiết bị di chuyển sẽ được phân loại ở phần XVII). 
Các loại bị loại trừ là: 
(a) Các máy được lắp ráp trên các loại phương tiện phù hợp thuộc 
Chương 86. 
Các máy nâng và xếp dỡ được phân loại trong nhóm 86.04 nếu 
chúng được gắn trên các toa xe hoặc toa hàng, loại thích hợp để nối 
với tầu được thiết kế chạy trên một hệ đường ray các loại. Cần trục 
cứu hộ đường sắt hoặc toa cần cẩu hoặc toa hàng dùng để phục vụ 
trên các đường xe điện cố định, và các toa cần cẩuhoặctoa hàng cần 
cẩu được sử dụng ở nơi xếp dỡ hàng hóa đường tàu, thường tuân theo 
các điều kiện này. Phương tiện tự hành để phục vụ và bảo dưỡng 
đường ray thuộc nhóm 86.04. Mặt khác, các thiết bị nânghoặcxếp dỡ 
được gắn trên toa hànghoặcsân ga không đáp ứng đặc tính kỹ thuật 
của các phương tiện chạy trên đường sắthoặcđường xe điện thực tế, 
vẫn được phân loại trong nhóm này. Trường hợp này thường là, ví 
dụ, trường hợp cần trục của máy kéo được gắn chạy trên đường ray 

phục vụ trong các tòa nhà, công trường... 
(b) Các loại máy được lắp trên máy kéo hoặc các phương tiện vận tải 
thuộc Chương 87. 
(1) Các máy được lắp trên máy kéo. 
Một số bộ phận làm việc nhất định của các máy thuộc nhóm này 
có thể được gắn trên máy kéo mà máy kéo được thiết kế để kéo 
hoặc đẩy phương tiện khác, thiết bịhoặchàng hóa nhưng, giống 
như máy kéo nông nghiệp, được gắn với các thiết bị đơn giản để 
vận hành các công cụ làm việc. Các công cụ làm việc như vậy là 
các thiết bị phụ trợ cho các công việc phụ. Nhìn chung, chúng 
thường tương đối nhẹ và có thể được gắn hoặc thay đổi ở phần 
công tác bởi chính người sử dụng. Trong các trường hợp như vậy, 
công cụ công tác vẫn ở trong nhóm này với điều kiện chúng tạo 
thành các máy thuộc nhóm này, hoặc trong nhóm 84.31 nếu là bộ 
phận của các máy đó, thậm chí ngay cả khi đi cùng với máy kéo 
(có được gắn kèmhoặckhông), trong khi các máy kéo với các thiết 
bị hoạt động của nó được phân loại riêng rẽ ở nhóm 87.01. 
Mặt khác, nhóm này bao gồm các máy tự hành mà trong đó đế 
đẩy, các điều khiển hoạt động, các công cụ làm việc và các thiết bị 
dẫn động được thiết kế đặc biệt để gắn cùng nhau tạo nên một cơ 
cấu thống nhất. Điều này áp dụng cho, ví dụ, đế đẩy giống như 
một máy kéo, nhưng được thiết kế, xây dựnghoặcgia cố đặc biệt 
để tạo nên một phần không thể thiếu của một máy, thực hiện một 
hoặc một vài chức năng được đề cập đến ở nhóm này (nâng, xếp 
dỡ, giữ...).Các đế đẩy như vậy, được hiện diện riêng rẽ, cũng 
thuộc nhóm này, coi như các máy chưa hoàn thiện đã có đặc điểm 
cơ bản, thiết yếu của máy hoàn thiện cùng loại. Đế đẩy có thể 
được phân loại trong các nhóm từ 84.25 đến 84.30 bởi vì chúng có 
thể được trang bị với một vài bộ phận làm việc khác, được phân 
loại theo Chú giải 3 phần XVI hoặc Quy tắc phân loại 3(c). 

Một số chỉ tiêu cụ thể có thể cho phép phân biệt sự khác nhau giữa 
các loại máy kéo thuộc nhóm 87.01 và đế động lực thuộc Chương 
này, được nêu trong Chú giải của nhóm 87.01. 
(2) Các máy được lắp ráp trên các loại khung gầm của xe ô tô 
hoặc xe tải. 
Một số thiết bị nâng hoặc xếp dỡ (ví dụ: cần trục thông thường, 
cần trục cứu hộ loại nhẹ) thường được lắp ráp trên một khung gầm 
xe tải hoặc ô tô có ít nhất các bộ phận cơ khí sau: động cơ đẩy, 
hộp số và bộ phận điều tốc, bộ phận định hướng và phanh. Toàn 
bộ các lắp ráp này được xếp vào nhóm 87.05 như các loại xe 
chuyên dùng, dù cho các máy nâng và xếp dỡ được gắn đơn giản 
lên phương tiệnhoặctạo thành một khối cơ cấu thống nhất với nó, 
trừ khi chúng là các phương tiện được thiết kế chủ yếu cho mục 
đích vận chuyển thuộc nhóm 87.04. 
Mặt khác, nhóm này bao gồm các thiết bị tự hành, trong đó có một 
hoặc nhiều bộ phận đẩy hoặc bộ phận điều khiển như trình bày ở 
trên được đặt ở trong buồng điều khiển của máy nâng hoặc máy 
xếp dỡ (thường là một cần trục) gắn trên một khung bánh xe, dù 
cho cả hệ thống này có thể chạyhoặckhông chạy được trên đường 
bằng chính động cơ của nó. 
Các loại cần trục thuộc nhóm này thường không thể di chuyển khi 
đang mang tải hoặc, nếu nó có thể di chuyển, thì việc di chuyển là 
hạn chế và chỉ là chức năng phụ so với chức năng nâng hàng.  
(c) Các máy được lắp ráp trên các cấu trúc nổi thuộc chương 89. 
Tất cả các máy nâng hoặc xếp dỡ ( ví dụ, cần cẩu và cần trục) được 
lắp trên các cầu phao, phà hoặc cấu trúc nổi khác, cóhoặckhông tự 
hành, được xếp trong Chương 89. 
MÁY ĐA CHỨC NĂNG 
Ngoài việc thực hiện các chức năng được miêu tả trong Nhóm này hoặc 
nhóm 84.25, 84.27 hoặc 84.28, nhiều máy cũng có thể thực hiện các 

chức năng được diễn tả trong nhóm 84.29 hoặc 84.30 (như đào, lấp đất, 
khoan,...). Các máy này được phân loại theo Chú giải 3 của Phần XVI, 
hoặc theo quy tắc phân loại 3 (c). Ví dụ như máy xúc, máy đào gầu cơ 
khí, gầu kéo bằng dây cáp..., có thể sử dụng giống như cần trục, máy dỡ 
quặng và chuyển quặng kết hợp, máy kết hợp đào rãnh, nâng ống và đặt 
xuống... bằng cách thay gầu xúc hoặc móc nâng. 
Tuy nhiên, máy nâng, xếp dỡ, di chuyển... khi hiện diện riêng rẽ được 
phân loại ở nhóm này ngay cả khi chúng được thiết kế để lắp vào các 
máy khác hoặc để gắn lên trên các phương tiện vận tải, tàu thuyền của 
Phần XVII. 
Nhóm này bao gồm các máy nâng và xếp dỡ mà thường dựa trên puly, 
hệ thống tời hoặc kích, và thường bao gồm một phần lớn cấu trúc khung 
thép tĩnh,... 
Các phần cấu trúc tĩnh này (ví dụ: các bệ đỡ cần trục và dàn cẩu) được 
phân loại trong nhóm này khi chúng được hiện diện (xuất trình) như bộ 
phận của máy xếp dỡ hoàn thiện hoặc chưa hoàn thiện. 
Khi được hiện diện riêng biệt, chúng sẽ được xếp trong nhóm 84.31 với 
điều kiện chúng được gắn hoặc thiết kế để gắn với các đặc trưng cơ khí 
cần thiết để vận hành các phần chuyển động của máy đã lắp ráp hoàn 
thiện (ví dụ: bánh xe, con lăn, puly, rãnh trượt hoặc ray dẫn hướng... ). 
Nếu không, các  thành phần kết cấu này được phân loại vào nhóm 73.08. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Cầu trục, bao gồm một khối cung cấp lực nâng được treo từ các cấu 
trúc xà ngang hoặc “cầu”, cả khối di chuyển trên ray khoảng rộng. Các 
loại cầu trục tương tự được sử dụng trong lò phản ứng hạt nhân để nạp 
hoặc tách các bộ phận chứa nhiên liệu cũng được phân loại ở đây. 

(2) Cổng trục và cần trục trượt trên giàn trượt (cần trục cổng di 
động) mà trong đó bản thân khung cẩu tự chạy trên đường ray cố định 
trên tường hoặc trên các cấu trục bằng kim loại thích hợp. 
(3)  Cần trục vận tải, đặt cố định hoặc chạy trên đường ray. Những loại 
này đôi khi rất dài và thường có phần mở rộng cần cẩu (có thể hoặc 
không được nối bằng khớp) phía trên khoang tàu hoặc vùng dỡ hàng 
và được gắn với tời bánh xe hoặc tời nâng chạy dọc theo chiều dài của 
khung. Các loại đặc biệt này được dùng để xếp dỡ các tảng đá xây 
dựng hoặc container và dùng trong đóng tàu. 
(4) Khung nâng di động trên bánh lốp, chủ yếu dùng để xếp dỡ công ten 
nơ. Các máy này có thể tự hành, với điều kiện chúng được thiết kế để 
hoạt động khi ở dạng tĩnh hoặc, nếu chúng có thể di chuyển với tải trong 
khoảng cách ngắn, khi đó chúng là các cổng trục đơn giản mà thông 
thường bao gồm một khung ngang được gắn thêm hai thành phần thẳng 
đứng (đôi khi là loại xếp chồng), mỗi phần nằm trên một bộ bánh xe. 
(5) Xe chuyên chở kiểu khung đỡ cột chống, gồm có một khung 
gầm kiểu “giạng chân”, thường có các thành phần mở rộng theo 
phương thẳng đứng để điều chỉnh độ cao. Các khung gầm này 
thường được gắn trên bốn hoặc nhiều hơn bốn bánh xe, thường để 
phục vụ cả việc di chuyển và đổi hướng bánh xe để cho phép đổi 
chiều trong bánh kính rất nhỏ. 
Nhờ vào thiết kế đặc biệt, chúng có thể tự định vị cho tải, nâng các tải 
bằng các thiết bị gắp đặc biệt, di chuyển nó trong khoảng cách ngắn và 
sau đó đặt lại chúng xuống. Một vài loại thiết bị mang dỡ này đủ rộng 
và cao để đến các vị trí hàng hoá, nâng và hạ hàng hoá trực tiếp trên 
phương tiện vận tải. 
Xe chuyên chở kiểu khung đỡ cột chống thường được sử dụng trong 
các nhà máy, kho hàng, hải cảng, sân bay,... để bốc dỡ hàng hoá có 
kích thước lớn (thép hình cây gỗ, gỗ cưa, mảnh gỗ lớn... ) hoặc để xếp 
công ten nơ lại một chỗ. 
(6) Cần trục tháp. Các loại cần trục này bao gồm chủ yếu một tháp, 

thường kết hợp các phần riêng rẽ, ở chiều cao phù hợp, được gắn chặt 
hoặc chạy trên đường ray, một cánh tay cần trục nằm ngang, được gắn 
với ròng rọc, hệ tời, bệ công tác và một cabin vận hành, một cánh tay 
trục đối trọng với các vật đối trọng, thanh giằng để hỗ trợ các cánh tay 
cần trục, và một thiết bị xoay nằm trên hoặc nằm dưới, để có thể làm 
cho cần trục xoay. Tháp có thể chứa các xi lanh hoặc kích thủy lực và 
một khung nhảy mà nâng cánh tay cần trục để có thể gắn thêm phần 
thêm vào tháp với mục đích tăng chiều cao làm việc của cần trục. 
(7) Cần trục cổng hoặc cần trục trên bệ đỡ, thường được sử dụng tại 
các cảng biển, nó là dạng cần trục  tay ngang  đứng trên bốn chân đỡ, 
có thể chạy trên đường ray khoảng cách rộng như là sự mở rộng một 
hoặc nhiều các đường sắt thông thường. 
(8) Cần trục tay ngang hoặc cần trục đê ríc (xem giới thiệu về Chú giải 
Chi tiết liên quan đến cần cẩu đường sắt, xe tải cẩu, cần cẩu nổi, vv.) Cần 
trục tay ngang hoặc cần trục đê ríc được sử dụng để xếp dỡ và đôi khi 
được dùng để di chuyển chúng sau đó. Chúng bao gồm một xà dọc hoặc 
tay ngang có thể được nối để cung cấp khả năng điều chỉnh độ với và để 
thuận tiện khi hoạt động. Cáp tời di chuyển trên hệ ròng rọc đặt tại đỉnh 
của xà dọc và được điều khiển bởi một tời ngang. Tay ngang hoặc xà dọc 
có thể được hỗ trợ bởi một cơ cấu thẳng đứng, đạt chiều cao thích ứng. 
(9) Cáp vận tải và cần trục cáp, được lắp đặt để vận chuyển các hàng 
hóa treo lơ lửng. Chúng bao gồm một hoặc nhiều cáp treo gắn vào một 
tháp cố định hoặc có thể di chuyển, và một bánh xe trượt chạy trên 
đường cáp và gắn với một cơ cấu tời nâng và dỡ hàng hóa. Chúng 
được sử dụng để xếp dỡ vật liệu trên công trường xây dựng, đập nước, 
cầu, nơi khai thác đá,... 
(10) Cổng trục trên tàu thuỷ, gồm một cánh tay cẩu hướng lên cố định 
vào một đế mà đế này có thể quay. Tay cẩu này có thể được nâng lên 
bởi hệ thống ròng rọc (xem phần giới thiệu chú giải chi tiết các loại 
máy tương tự gắn trên cấu kiện nổi...). 
(11) Các loại xe công xưởng khác có lắp cần trục, chúng được thiết kế 
để di chuyển hàng hóa trong một khoảng cách ngắn trong nhà xưởng, 

nhà kho, bến cảng hoặc sân bay với cần cẩu nhỏ, gắn trên khung xe, 
thường dùng ở dạng khung hộp với một chiều dài cơ sở lớn và khoảng 
cách rộng để tránh mất cân bằng. 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải 
chung của Phần XVI), các bộ phận của các máy móc thuộc nhóm này 
được xếp trong nhóm 84.31. 
Nhóm này không gồm các loại xe tải chở cẩu thuộc nhóm 87.05. 
84.27 - Xe nâng hạ xếp tầng hàng bằng cơ cấu càng nâng; các loại xe 
công xưởng khác có lắp thiết bị nâng hạ hoặc xếp hàng. 
      8427.10 - Xe tự hành chạy bằng mô tơ điện  
      8427.20 - Xe tự hành khác 
      8427.90 - Các loại xe khác  
Không kể xe chuyên chở kiểu khung đỡ cột chống và các xe công 
xưởng gắn với cần cẩu thuộc nhóm 84.26, nhóm này bao gồm các xe 
công xưởng được gắn các thiết bị nâng hoặc xếp dỡ. 
Các loại xe công xưởng được diễn tả ở đây bao gồm, ví dụ: 
(A) XE NÂNG HẠ XẾP TẦNG HÀNG BẰNG CƠ CẤU CÀNG 
NÂNG VÀ CÁC LOẠI XE NÂNG HOẶC XẾP HÀNG KHÁC 
(1) Xe nâng hạ xếp tầng hàng bằng cơ cấu đẩy, đôi khi có kích thước 
lớn, mang hàng hóa trên một thiết bị nâng trượt trên một cơ cấu định 
hướng thẳng đứng. Cơ cấu nâng này thường được đặt trước vị trí ngồi 
của người điều khiển; nó được thiết kế để giữ hàng hóa trong suốt 
quá trình di chuyển và để nâng nó cho việc xếp dỡ hoặc đặt lên một 
phương tiện khác. 
Nhóm này cũng bao gồm các loại xe cần trục nâng xếp có cần trục 

thẳng đứng, được thiết kế để di chuyển hàng hoá dài cồng kềnh (ví 
dụ, rầm, kèo, tấm ván lớn, đường ống, công ten nơ... ) và thường 
được trang bị bệ đỡ dùng để đỡ hàng khi di chuyển trong một khoảng 
cách ngắn. 
Các thiết bị nâng hạ của xe nâng hạ loại này thường được vận hành 
bởi hệ động lực di chuyển của xe và thường được thiết kế gắn với các 
chi tiết xếp, dỡ hàng hóa đặc biệt khác nhau (ví dụ càng trước, thanh 
răng, thùng đựng, càng kẹp...) tùy theo loại hàng hóa được xếp dỡ.  
(2) Các máy xếp dỡ khác, thường được gắn trên xe tải, được trang bị 
với một bệ đỡ hoặc càng mà chúng có thể nâng hạ theo phương 
thẳng đứng, bằng hệ thống tời ngang hoặc thanh răng hoạt động 
bằng tay hoặc bằng động cơ. Chúng được sử dụng để xếp dỡ các 
bao tải, thùng thưa, thùng phi... 
Một vài máy xếp dỡ mà nó hoạt động cùng một nguyên lý như thang 
máy được phân loại ở nhóm 84.28. 
(B) CÁC LOẠI XE CÔNG XƯỞNG KHÁC CÓ LẮP THIẾT BỊ 
NÂNG HOẶC XẾP DỠ HÀNG HÓA 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Xe vận tải có bệ nâng xếp cơ khí, dùng để bảo dưỡng các đường 
dây cáp điện, hệ thống chiếu sáng công cộng, .v.v...(xem phần giới 
thiệu của Chú giải cho nhóm 84.26 liên quan đến bệ đỡ được lắp trên 
xe tải di động). 
(2) Các loại xe thi công khác, có lắp một thiết bị nâng hạ hoặc xếp hàng 
kể cả loại đặc biệt dùng trong một số ngành công nghiệp (ví dụ: công 
nghiệp dệt, công nghiệp gốm sứ, ngành sản xuất sữa...). 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc về phân loại các bộ phận (xem phần chú giải tổng quát 
của Phần XVI), các bộ phận của các loại phương tiện thuộc nhóm này 
được xếp vào nhóm 84.31. 

84.28 -Máy nâng hạ, giữ, xếp hoặc dỡ hàng khác (ví dụ, thang máy 
(lift), thang cuốn, băng tải, thùng cáp treo). 
       8428.10 - Thang máy (lift) và tời nâng kiểu gầu nâng (trục tải  
thùng kíp) 
      8428.20 - Máy nâng hạ và băng tải dùng khí nén 
                     - Máy nâng hạ và băng tải hoạt động liên tục khác, để vận 
tải hàng hóa hoặc vật liệu: 
      8428.31 - - Thiết kế chuyên sử dụng dưới lòng đất 
      8428.32 - - Loại khác, dạng gàu 
      8428.33 - - Loại khác, dạng băng tải 
      8428.39 - - Loại khác 
      8428.40 - Thang cuốn và băng tải tự động dùng cho người đi bộ 
 8428.60 - Thùng cáp treo, ghế treo, cơ cấu kéo người trượt tuyết lên 
cao dùng trong môn trượt tuyết; cơ cấu kéo dùng cho 
đường sắt leo núi 
 8428.70 - Rô bốt công nghiệp 
      8428.90 - Máy khác 
Không kể các loại máy nâng và xếp dỡ của nhóm 84.25 đến 84.27, 
nhóm này bao gồm một phạm vi rộng lớn máy móc dùng cơ cấu cơ khí 
xếp dỡ vật liệu, hàng hóa... (nâng, vận chuyển, bốc hàng, dỡ hàng...). 
Chúng vẫn phân loại ở đây ngay cả khi chúng được chuyên dùng cho 
một ngành công nghiệp cụ thể như là cho nông nghiệp, luyện kim... 
Nhóm này không chỉ bao gồm các thiết bị nâng hoặc xếp dỡ các vật liệu 
rắn mà còn bao gồm các máy dùng cho chất lỏng hoặc chất khí. Nhưng 
nhóm này không bao gồm các máy đẩy chất lỏng của nhóm 84.13, và ụ 
nổi sửa chữa tàu, giếng kín (ketxon) và các loại máy nâng hạ tàu thủy 
tương tự hoạt động chủ yếu bằng lực đẩy thuỷ tĩnh (nhóm 89.05 hoặc 
Các quy tắc trong chú giải chi tiết của nhóm 84.26, với các sửa đổi thích 

hợp, áp dụng với các thiết bị của nhóm này nếu liên quan đến các máy tự 
hành và máy "di động" khác, máy đa chức năng và máy nâng, máy xếp 
dỡ... nhằm mục đích gắn vào máy khác hoặc lắp trên phương tiện di 
chuyển hoặc tàu thuyền phần XVII. 
Nhóm này bao gồm các máy nâng hoặc xếp dỡ thường được dựa trên 
ròng rọc, hệ tời ngang hoặc kích và thường bao gồm một tỉ lệ lớn các cấu 
trúc khung thép tĩnh... 
Các thành phần cấu trúc tĩnh này (ví dụ, trụ tháp đặc biệt dùng cho cáp 
treo...) được phân loại trong nhóm này khi chúng hiện diện như là bộ 
phận của máy xếp dỡ đã  hoặc chưa hoàn thiện. 
Khi được hiện diện riêng biệt, chúng được phân loại ở nhóm 84.31 với 
điều kiện là chúng được gắn hoặc được thiết kế để gắn các cấu trúc cơ 
khí cần thiết để vận hành các phần chuyển động của máy đã lắp ráp hoàn 
thiện (bánh xe, trục quay, puli, rãnh trượt hoặc ray dẫn hướng...). Nếu 
không, các thành phần kết cấu này sẽ được phân loại ở nhóm 73.08. 
Các loại máy móc phức tạp hơn bao gồm: 
(I) CÁC THIẾT BỊ HOẠT ĐỘNG KHÔNG LIÊN HOÀN 
(A) Các thang máy chở và nâng hàng thường chạy bằng tời và dây cáp 
kéo, hoặc chạy bằng cơ cấu đẩy piston hoạt động bởi nước, không khí 
hoặc dầu. Chúng được sử dụng để nâng hoặc hạ lồng chứa 
ngườihoặcsàn để hàng hóa giữa các thanh dẫn hướng thẳng đứng, và 
thường được gắn với vật đối trọng. Các thiết bị để điều khiển, để 
dừng, để an toàn..., có hoặc không chạy bằng điện, cũng được phân 
loại vào nhóm này với điều kiện nó được hiện diện cùng với thang 
máy. Nhóm này cũng bao gồm thang máy vận hành bằng tay. 
Rack và bánh răng để điều khiển thang máy hoặc hệ tời cũng thuộc 
loại này. Các thang máy và tời này bao gồm lồng thang máy, gắn với 

một động cơ điều khiển một bánh răng, và một cột, được trang bị với 
một rack có răng. Khi các bánh răng hoặt động cùng nhịp chuyển 
động với các rack răng, nó cho phép lồng thang máy di chuyển dọc 
theo cột, lên hoặc xuống, với tốc độ có kiểm soát. 
Nhóm này cũng bao gồm cả "hệ nâng tàu", tức là, hệ thủy lực hoặc 
kích rất mạnh, có thể hoạt động để nâng một tàu thủy và "âu thuyền 
kín" để đưa chúng từ một mức kênh này tới một mức kênh khác, và 
do đó thay thế cho việc đi qua thông thường. 
(B) Tời nâng kiểu gầu nâng (trục tải thùng kíp), là một loại thiết bị 
nâng mà các thùng chứa vật rời được nâng lên trong một lồng thẳng 
đứng hoặc trên một bệ nghiêng. Loại này chủ yếu được sử dụng để 
chuyển than trong hầm lò, để kéo, chuyển quặng, đá vôi, nhiên liệu... 
vào trong lò nung, lò vôi... 
Nhóm này cũng bao gồm thùng lồng cho tời nâng kiểu gầu nâng (trục 
tải thùng kíp) này, là các thùng chứa hoặc hòm xe bằng kim loại có 
thể tích lớn, thường có đáy mở tự động. Thùng lồng dùng trong khai 
mỏ thường gồm một cabin chở thợ mỏ ở phía trên của giá nâng hàng. 
(C) Một số loại máy được gọi là máy nâng hàng, như: 
(1) Tời nâng, gồm có một tời ngang lắp trên giá đỡ hai chân hoặc  
ba chân. 
(2) Cần trục khoan dầu dùng để nâng các ống khoan ... trong các 
giàn khoan giếng dầu, giếng phun..., (tuy nhiên không bao gồm 
một số cần trục khoan dầu được lắp trên xe tải, ... - xem phần 
Chú giải chi tiết nhóm 84.26). 
(3) Các xe cáp treo hoạt động tương tự như cần trục trượt trên giàn 
trượt hoặc cần trục vận tải. Các bánh trượt hệ tời (đôi khi cho các 
khoảng cách nhất định) chạy trên các đường ray được kết nối 
trên trụ tháp 
(D) Xe chạy cáp treo, là một hệ thống lớn hoạt động dựa trên hệ tời 
ngang, thường được sử dụng để nâng hoặc hạ người và vật liệu ở các 
vùng miền núi. Chúng bao gồm các cáp chịu tải và cáp kéo liên kết 

với trụ tháp, và hai cabin (hoặc gầu, thùng chứa các loại) mà nó di 
chuyển lên và xuống trên đường dây cáp tải. 
(E) Phương tiện vận chuyển bằng cáp kéo hoạt động trên nguyên lý 
tương tự như xe chạy cáp treo, nhưng các toa chở lại chạy trên đường 
ray. Trong trường hợp này nhóm chỉ bao gồm cơ cấu kéo cơ khí và 
tời ngang; không bao gồm các toa (nhóm 86.05) và các ray (thuộc 
các nhóm 73.02 hoặc 86.08, tuỳ loại). 
(F) Thiết bị lật toa là các bệ (platform) có các đường ray hoặc các rãnh, 
mà từ đó các xe goòng có thể chạy đến vị trí dừng, bị giữ lại sau đó 
dỡ hàng bằng cách nâng nghiêng hoặc quay toàn bộ hệ máy bằng một 
hệ thống kích hoặc hệ thống nâng khác. Nhóm này cũng bao gồm 
máy lắc goòng được sử dụng để dỡ hàng ở các loại goòng phễu. 
(II) CÁC THIẾT BỊ HOẠT ĐỘNG LIÊN TỤC 
(A) Các máy nâng, thực hiện nâng hàng hoá và người một cách liên tục 
theo chiều thẳng đứng hoặc theo chiều nghiêng. Loại này chủ yếu 
gồm một loạt các thiết bị vận chuyển khác nhau, từng đoạn được gắn 
vào một hệ liên kết cơ khí tạo thành chuỗi liên tục. Chúng bao gồm 
thùng nâng cho các vật liệu đã được nghiền hoặc dạng hạt, bệ nâng 
dùng cho các cấu kiện, kiện hàng..., thiết bị nâng kiểu kẹp dùng để 
nâng bao, thùng, kiện đựng rơm, các bó... và thang nâng nhiều lồng 
hoạt động liên tục dùng cho hành khách... 
(B) Thang cuốn và đường đi bộ di chuyển. 
(C)  Băng tải chuyển hàng hoặc băng chuyền sử dụng để di chuyển 
hàng hóa, thường theo chiều ngang, đôi khi qua những khoảng cách 
rất dài (trong mỏ, công trường...). Chúng bao gồm: 
(1) Băng chuyền hoạt động bằng các thiết bị đẩy hoặc di chuyển 
liên tục, ví dụ như băng chuyền kiểu gầu, khay hoặc máng; băng 
chuyền kiểu trục vít hoặc kiểu cạp (trong đó vật liệu được tác động 
dọc theo một máng bởi một đĩa đẩy hoặc vít đẩy tương ứng); băng 
chuyền dải, đai, tấm, xích.... 
(2) Các băng chuyền bao gồm một bộ truyền động của các con 

lăn hoạt động bằng động cơ (ví dụ, như được sử dụng để cung 
cấp thép vào máy cán). Nhóm cũng bao gồm các băng chuyền trục 
lăn, không có động cơ được gắn trên các vòng bi (như là đường 
băng hoạt độngnhờtrục lăn chuyển động ngang để di chuyển các 
thùng... và băng chuyền trục lăn trọng lực), nhưng loại trừ các 
thiết bị tương  tự không có trục lăn, ví dụ, các máng trượt thẳng, 
cong hoặc xoắn ốc (nhóm 73.08, 73.25 hoặc 73.26 tùy loại). 
(3) Băng chuyền rung hoặc lắc hoạt động bởi các chuyển động qua 
lại hoặc rung của máng cấp hàng. 
(D) Các thiết bị nâng và băng chuyền hoạt động bằng khí nén, (ví dụ 
băng chuyền khí nén dạng ống), trong đó các thùng chứa nhỏ (dùng 
chứa các tài liệu, bộ phận máy nhỏ...) hoặc vật liệu rời (hạt, rơm, cỏ, 
mùn cưa, than cám...) được tác động dọc theo một ống bởi dòng 
không khí (bao gồm cả các loại máy tương tự để vận chuyển và làm 
sạch hạt). 
(E) Giá đỡ có con lăn, còn được gọi là Bệ Hải ly (castor) tương tự với 
băng chuyền trục lăn, bao gồm một lượng các ống gắn cố định trên 
sàn xưởng. Đầu mỗi ống có một trục lăn chay trên vòng bi và quay tự 
do theo mọi hướng, để bộ „castor“ có thể cung cấp một hệ thống bàn 
quay (ví dụ, để đưa các tấm kim loại vào trong máy cán). 
(F) Máy kéo hoạt động bằng cáp bao gồm chủ yếu một cáp hoặc xích 
trong chuyển động liên tục để kéo goong (ví dụ, cho các gầu và gầu 
lật trong hầm mỏ), để kéo xà lan, xe trượt..., để vận chuyển hành 
khách (máy nâng dùng khi trượt tuyết)... 
(III) CÁC THIẾT BỊ NÂNG HOẶC XẾP DỠ ĐẶC BIỆT KHÁC 
(A) Sàn chuyển đầu tàu, xe goòng dùng để chuyển đầu tàu, xe goòng... 
từ đường ray này sang đường ray khác. 
(B) Các thiết bị đẩy goòng khác nhau, ví dụ: 
(1) Các thiết bị cố định đặt giữa các đường ray, gồm có hai piston 
chuyển động tịnh tiến, gắn trên một trục và nhờ đó đẩy các toa về 
phía trước. 

(2) Các thiết bị dùng piston thuỷ lực để đẩy toa chở khoáng trong 
hầm mỏ,... 
(3) Các loại máy một bánh tự hành chạy trên một đường ray của 
đường cố định. Chúng phải được vận hành bởi một người điều 
khiển trên cùng một đường như xe cút kít và được đẩy bởi một 
động cơ xăng nhỏ. Tuy nhiên, cũng phải chú ý rằng, các máy kéo 
nhỏ đôi khi cũng được biết như là „xe goòng đẩy” và được sử 
dụng cho mục đích đó, bị loại trừ (nhóm 87.01). 
(C) Thiết bị cơ khí tải hàng dùng để thu gom than hoặc quặng, đất thải, 
sỏi, cát hoặc các vật liệu rời khác. Các máy này thường kết hợp với 
một băng chuyền hoặc một thiết bị nâng (tải băng chuyền loại rung, 
tải băng chuyền thu gom...). 
(D) Các thiết bị cơ khí phụ trợ dùng để điều khiển các dụng cụ cầm 
tay hoạt động bằng khí nén, thủy lực hoặc điện (khoan, búa...). 
Các dụng cụ này giúp hỗ trợ các dụng cụ cầm tay nói trên hoặc 
hướng các dụng cụ đó vào vị trí làm việc, ví dụ các dụng cụ đẩy và 
hỗ trợ hoạt động khí nén; giàn và bệ khoan (Jumbos); các thiết bị cần 
bằng cơ khí dùng để treo dụng cụ trong suốt quá trình làm việc. 
Nhưng nhóm này loại trừ các giá đỡ tĩnh đơn giản. 
(E) Rôbôt công nghiệp, được thiết kế đặc biệt để nâng, sắp xếp, xếp 
hoặc dỡ. 
(F) Thang cơ khí gồm nhiều bộ phận trượt hoạt động bằng cơ khí (ví dụ 
hệ ròng rọc hoặc tời ngang).  
(G) Bệ quay phim đi động “dollies” dùng để gắn và điều khiển camera 
điện ảnh. 
(H) Bộ điều khiển từ xa cơ khí, dùng với các chất phóng xạ, loại cố 
định hoặc di động, bao gồm một cần điều khiển, nằm bên ngoài ngăn 
được bảo vệ, được điều khiển bằng tay và một cần điều khiển đặt 
trong ngăn, lặp lại các thao tác của người điều khiển. Việc truyền các 
thao tác được thực hiện với sự trợ giúp của các dụng cụ cơ khí, thuỷ 
lực hoặc khí hoặc bằng xung điện. 
Bộ phận điều khiển sử dụng độc lập dùng tay (giống như dụng cụ 

cầm tay) thuộc các nhóm 82.03, 82.04 hoặc 82.05. 
(IJ) Bệ, kể cả loại tự hành hoặc không, dùng để xếp dỡ công ten nơ 
hoặc các giá để hàng hóa, dùng tại sân bay để xếp dỡ hàng của máy 
bay. Thiết bị này cơ bản gồm một bệ nâng dựa trên hai giá xếp chéo. 
Nó được kết hợp với một băng chuyển động để vận chuyển hàng 
hóa.Thiết bị này không dùng để vận chuyển công ten nơ hoặc các giá 
để hàng hóa, ngay cả trong khoảng cách ngắn, nhưng được để trống 
bên cánh may bay và chỉ hoạt động tại vị trí đó. 
(K) Máy xếp hàng lên giá kệ, là các loại máy hoạt động bằng điện, 
được thiết kế để xếp các chai rỗng một cách từ động theo một hàng 
(sử dụng băng chuyền có động cơ hoặc trục lăn) và sau đó vận 
chuyển chúng sắp xếp ngay ngắn trên giá theo từng lớp. Những máy 
này, không dùng rót đầy, đóng nắp, đóng gói, dán nhãn chai, có thể 
hoạt động độc lập hoặc kết hợp trong dây chuyền xử lý với các máy 
khác để thực hiện các chức năng như là rót hoặc gói bọc. 
(L) Thiết bị nâng bệnh nhân. Đây là những thiết bị với cấu trúc hỗ trợ 
và chỗ ngồi để nâng và hạ vị trí của người ngồi, ví dụ như, trong 
phòng tắmhoặctrên giường. Ghế di động được gắn chặt vào một cấu 
trục hỗ trợ bằng dây hoặc xích. 
(M) Thiết bị nâng để lên cầu thang. Đây là thiết bị nâng hạ, được gắn 
với một bệ tải mà được gắn chặt vào lan can, tường hoặc là bậc thang 
và được sử dụng để di chuyển  người tàn  tật hoặc xe lăn cùng với 
người ngồi trên để lên xuống cầu thang. 
Các loại thiết bị nâng hoặc di chuyển hàng hoá thường được sử dụng 
trong các lò nung, lò luyện, máy cán kim loại,... ví dụ,máy dùng để đưa 
sản phẩm cần xử lý vào trong hoặc đưa ra ngoài; để đóng mở cửa lò, nắp 
lò, và điều khiểnlò đốt,...; máy nghiêng. Trường hợp các loại máy này là 
một khối độc lập hoàn toàn với lò nung,..., chúng cũng được phân loại 
vào nhóm này ngay cả khi chúng không đi cùng với lò nung... Các ví dụ 

như:  
(1) Máy lấy dỡ than cốc khỏi lò, sử dụng trong lò than cốc, được tạo 
bởi một cụm thiết bị di động phía sau của lò với một piston cơ khí để 
mở cửa lò và làm rỗng lò cất. 
(2) Máy nạp hoạt động kiểu nhồihoặcđẩy dùng cho lò Siemens 
(3) Các máy nâng đặc biệt, dùng để nâng nắp lò trong ngành công 
nghiệp gang thép hoặc hố luyện, hoặc để nâng thỏi kim loại ra ngoài. 
(4) Các máy đảo phôi, lật phôi,… 
(5) Các máy dùng cho một số loại lò nung nhất địnhđể đưa vào hoặc lấy 
ra bằng tác động của các xi lanh gắn với hệ nhồi hoặc piston, đối với 
các vật được xử lý ở trong lò. 
Tuy nhiên, chú ý rằng, nhóm này loại trừ các máy nâng hoặc xếp dỡ 
được thiết kế gắn cùng với lò nung, lò luyện...hoặc để tạo nên một tổng 
thể thống nhất, với điều kiện chúng được đi kèm lò ( xem nhóm 84.17, 
84.54, 84.55,....). Khi hiện diện riêng rẽ với lò, chúng thuộc nhóm này. 
Cần chú ý rằng các máy nạp nhiên liệu cơ khí, các ghi lò cơ khí và các 
thiết bị tương tự bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm 84.16). 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải tổng quát 
phần XVI), các bộ phận của các máy móc hoặc thiết bị thuộc nhóm này 
được xếp trong nhóm 84.31. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các máy nâng chất lỏng dạng gầu, xích, vít, băng hoặc tương tự 
(nhóm 84.13). 
(b) Các máy lựa chọn, sàng, rửa đất, đá, quặng hoặc các chất khoáng rắn 

khác (nhóm 84.74). 
(c) Cầu di chuyển hành khách (nhóm 84.79). 
(d) Máy móc và thiết bị chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho nâng hạ, giữ, 
xếp hoặc dỡ các khối, tấm, thiết bị bán dẫn, mạch điện tử tích hợp 
hoặc màn hình dẹt (nhóm 84.86). 
(e) Bàn quay thuộc nhóm 86.08. 
(f) Xe (thiết bị) tự đổ (nhóm 87.04). 
84.29 -Máy ủi đất lưỡi thẳng, máy ủi đất lưỡi nghiêng, máy san đất, 
máy cạp đất, máy xúc, máy đào đất, máy chuyển đất bằng gàu 
tự xúc, máy đầm và xe lu lăn đường, loại tự hành. 
                     - Máy ủi đất lưỡi thẳng và máy ủi đất lưỡi nghiêng: 
       8429.11 - - Loại bánh xích 
       8429.19 - - Loại khác 
       8429.20 - Máy san đất 
       8429.30 - Máy cạp đất 
       8429.40 - Máy đầm và xe lu lăn đường 
                        - Máy xúc, máy đào đất và máy chuyển đất bằng gàu tự xúc: 
       8429.51 - - Máy chuyển đất bằng gàu tự xúc lắp phía trước 
       8429.52 - - Máy có cơ cấu phần trên quay được 360o 
       8429.59 - - Loại khác 
Nhóm này gồm một số loại máy ủi, đào hoặc nén đất mà nhìn chung tất 
cả là loại tự hành. 
Các quy tắc của Chú giải đối với nhóm 84.30 liên quan đến máy tự hành 
và máy đa chức năng, với các sửa đổi thích hợp, có thể áp dụng với các 
loại thiết bị tự hành của nhóm này, bao gồm các loại sau: 

(A) Máy ủi đất lưỡi thẳng và máy ủi đất lưỡi nghiêng. Chúng bao 
gồm một chân đẩy, dạng đường ray, thường được đặt với một lưỡi 
dao lớn gắn phía trước và tạo nên một khối cơ khí thống nhất. Chúng 
được sử dụng, cụ thể,để san đất hoặc ủi đất. Một số loại cụ thể được 
thiết kế chủ yếu để khai hoang hoặc phát quang. 
(B) Máy san, ủi. Được thiết kế để ủi hoặc san bằng mặt đất bằng cách 
điều chỉnh lưỡi ủi, thường được gắn trên một đế có bánh xe. 
 (C) Máy cạp. Loại này kết hợp một lưỡi cắt sắc được thiết kế để cắt lớp 
đất phía trên mà lớp đất này sau đó được chuyển vào trong gầu cạp 
hoặc được chuyển ra ngoài bằng băng chuyền. 
Cần lưu ý rằng nhóm này chỉ bao gồm các máy cạp mà trong đó khối 
động cơ đẩy và cạp tạo nên một khối cơ khí tổng thể, ví dụ, máy cạp 
đặt trên ray mà trong đó gầu cạp được gắn các lưỡi sắt ở vị trí giữa 
hai ray. Nhóm này cũng gồm các máy cạp khớp nối mà bao gồm khối 
động cơ đây (ngay cả chỉ với một trục đơn) và một cạp cơ bản gắn cố 
định với lưỡi hoặc một phần gắn thêm di dộng có nhiều lưỡi. 
(D) Máy đầm đất được sử dụng trong làm đường, để nhồi đá dăm trên 
đường ray xe lửa,... (nhưng xem đoạn (a) của phần giới thiệu Chú 
giải nhóm 84.30 liên quan đến các máy móc trên gắn trên xe của  
Chương 86). 
(E) Xe lu lăn đường, loại tự hành, được sử dụng trong làm đường hoặc 
các công trình công cộng khác (ví dụ, để làm phẳng đất hoặc lu mặt 
đường). 
Loại máy này được lắp với một khối trụ bằng gang hoặc thép nặng có 
đường kính lớn, gắn thêm chân kim loại để ép vào đất (gọi là lu 
“chân cừu”) hoặc với các bánh và lốp bơm hơi hoặc lốp đặc. 
(F) Máy xúc cơ khí (loại cần, cầu  trục hoặc loại cáp), đào đất, ở trên 
hoặc dưới vị trí máy, bằng một gầu xúc, cạp..., hoạt động trực tiếp từ 

phần cuối của cần hoặc cầu trục (xẻng xúc, xẻng bừa,...) hoặc để tăng 
phạm vi làm việc, trên một cáp, hoặc bằng một kích thủy lực được 
treo từ cầu trục (máy xúc có gầu). Trong các loại máy xúc phạm vi 
rộng (máy xúc gầu dây), phần gầu được vận hành trên cáp chạy giữa 
hai cấu trục di chuyển được đặt cách xa nhau.  
(G) Máy xúc nhiều gàu trong đó phần gầu xúc được gắn trên một xích 
liên tục hoặc bánh xe quay. Những máy này thường kết hợp với băng 
chuyền để đổ đất được xúc, và chúng được gắn trên khung có bánh 
xe hoặc khung ray. Các mẫu đặc biệt được thiết kế để xúc hoặc làm 
sạch mương, kênh tiêu nước, hào để sử dụng trong các mỏ lộ thiên... 
(H) Máy chuyển đất bằng gầu tự xúc loại tự hành. Đây là những máy 
đã được lắp bánh hoặc xích với một gầu được lắp ở phía trước dùng 
để nhặt các vật liệu qua sự di chuyển của máy, vận chuyển và đổ đi. 
Một số loại máy này cũng có thể đào đất. Có được điều này là nhờ 
các gầu, khí ở vị trí nằm ngang, có thể hạ thấp xuống dưới vị trí của 
bánh xe hoặc ray. 
(IJ) Máy chất hàng - vận chuyển sử dụng trong mỏ. Các mày này, chức 
năng chính của nó là xếp dỡ, không phải là vận chuyển, và được gắn 
gầu xúc phía trước dùng xúc các vật liệu rời và đổ chúng vào trong 
phần chứa của máy. 
Nhóm này cũng bao gồm các máy chuyển đất bằng gầu tự xúc loại tự 
hành có một tay có khớp nối với một gầu, gắn đằng sau. 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải tổng quát 
Phần XVI), các bộ phận của các máy móc thuộc nhóm này, đặc biệt là 
các dụng cụ làm việc (lưỡi ủi, gầu xúc...) kể cả cóhoặckhông được gắn 
với cần và các xi lanh  khí hoặc thủy lực, thích hợp để gắn trực tiếp lên 
trên bệ đẩy, được phân loại ở nhóm 84.31.  

84.30 -Các máy ủi xúc dọn, cào, san, cạp, đào, đầm, nén, bóc tách 
hoặc khoan khác dùng trong công việc về đất, khoáng hoặc 
quặng; máy đóng cọc và nhổ cọc; máy xới tuyết và dọn tuyết  
       8430.10 - Máy đóng cọc và nhổ cọc 
       8430.20 - Máy xới và dọn tuyết 
                     - Máy đào đường hầm và máy cắt vỉa than hoặc đá: 
       8430.31 - - Loại tự hành 
       8430.39 - - Loại khác  
                     - Máy khoan hoặc máy đào sâu khác: 
       8430.41 - - Loại tự hành 
       8430.49 - - Loại khác  
       8430.50 - Máy khác, loại tự hành 
                     - Máy khác, loại không tự hành: 
       8430.61 - - Máy đầm hoặc máy nén 
       8430.69 - - Loại khác 
Ngoại trừ các loại máy tự hành thuộc nhóm 84.29 và các loại máy nông 
nghiệp, làm vườn hoặc lâm nghiệp (nhóm 84.32), nhóm này gồm các 
loại máy được sử dụng để khai phá đất (ví dụ, phá đá, đất, than...; đào 
đất, khoan,...), hoặc để chuẩn bị hoặc củng cố địa hình (ví dụ, cạp, san, 
cào, đầm, nện đất). Nhóm này cũng bao gồm các loại thiết bị đóng và 
nhổ cọc, cũng như các thiết bị xới và dọn tuyết.   
CÁC MÁY TỰ HÀNH VÀ “DI ĐỘNG” KHÁC 
Nhìn chung, (ngoại trừ một số trường hợp nhất định liên quan đến các 
máy dưới đây được lắp ráp trên các thiết bị vận chuyển thuộc Phần 
XVII) mục này bao gồm các loại máy cố định cũng như di động, có hoặc 
không có chế độ tự hành. 
Những trường hợp loại trừ gồm: 
(a) Các thiết bị được lắp ráp trên các phương tiện thuộc Chương 86. 

Các loại máy xúc..., được phân loại trong nhóm 86.04 nếu chúng 
được lắp trên các toa tàu hoặc toa chở hàng, loại thích hợp để nối vào 
một đoàn tàu trên một tuyến đường sắt có khoảng ray bất kỳ. Các 
máy đập và sàng đá thường được lắp trên các xe kiểu này. Mặt khác, 
các máy xúc..., lắp trên khung, bệ hoặc xe kéo mà không thỏa mãn 
đặc điểm của một phương tiện di chuyển trên đường sắt vẫn được 
phân loại ở nhóm này. Những phương tiện tự hành dùng để bảo 
dưỡng hoặc dùng trong các dịch vụ ngành đường sắt thuộc nhóm 
(b) Các máy được lắp ráp trên máy kéo hoặc xe có động cơ thuộc 
Chương 87. 
 (1) Các máy lắp trên máy kéo loại cơ bản. 
Một số bộ phận làm việc (như lưỡi ủi, gầu xúc) của các máy thuộc 
nhóm này có thể được gắn trên máy kéo, được thiết kế chủ yếu để 
kéo hoặc đẩy các xe cộ, các phương tiện, hoặc hàng hoá, nhưng được 
thiết kế giống như máy kéo dùng trong nông nghiệp, được gắn với 
các thiết bị đơn giản để vận hành các công cụ làm việc. Các công cụ 
làm việc như vậy là các thiết bị phụ trợ cho những công việc không 
thường xuyên. Nhìn chung, chúng tương đối nhẹ và có thể được gắn 
hoặc thay đổi ở chỗ hoạt động bởi chính người sử dụng. Trong 
trường hợp như vậy, các công cụ làm việc vẫn thuộc nhóm này với 
điều kiện chúng tạo thành máy của nhóm này, hoặc thuộc nhóm 
84.31 nếu chúng là bộ phận của các máy đó, ngay cả khi hiện diện 
cùng với máy kéo (có hoặc không được gắn trên đó), trong khi máy 
kéo với các thiết bị hoạt động của nó được phân loại riêng vào nhóm 
Mặt khác, nhóm này bao gồm các máy tự hành, trong đó cơ cấu đẩy, 
các bộ phận điều khiển, công cụ làm việc và các thiết bị hoạt động 
được thiết kế đặc biệt để tạo nên một cơ cấu cơ khí đồng nhất. Ví dụ, 
điều này áp dụng cho một cơ cấu đẩy gần giống với máy kéo, nhưng 
được thiết kế, kết cấu hoặc gia cố đặc biệt để tạo nên một bộ phận 
cấu thành của máy thực hiện mộthoặcnhiều chức năng đã được đề 

cập trong nhóm này (xúc, san, ủi... ). Khi đứng riêng biệt, các cơ cấu 
đẩy như vậy cũng thuộc nhóm này, như là các máy chưa hoàn thiện, 
có đặc trưng cơ bản của máy hoàn thiện cùng loại. Cơ cấu đẩy có khả 
năng được phân loại trong một vài nhóm từ 84.25 đến 84.30 bởi vì 
chúng có thể được trang bị với một vài bộ phận làm việc khác nhau, 
được phân loại theo Chú giải 3 Phần XVI hoặc áp dụng Quy tắc 3(c). 
Các tiêu chuẩn chi tiết cho phép xác định sự khác biệt giữa các loại 
máy kéo thuộc nhóm 87.01 và các các cơ cấu đẩy thuộc Chương này 
được trình bày trong Chú giải cho nhóm 87.01. 
 (2) Các loại máy lắp trên khung của xe ô tô tải. 
Một số loại máy thuộc nhóm này (ví dụ: máy đóng cọc và nhổ cọc, 
máy khoan dầu...)thường được lắp ráp trên một khung của xe ô tô tải, 
có ít nhất các bộ phận cơ khí sau: động cơ đẩy, hộp số và các bộ điều 
khiển tốc độ, các bộ phận chỉnh hướng và phanh. Các lắp ráp như vậy 
có thể được xếp trong nhóm 87.05 như những phương tiện chuyên 
dùng. 
Mặt khác, nhóm này bao gồm các loại máy tự hành, trong đó một 
hoặc nhiều thành phần đẩy hoặc điều khiển ở trên được đặt trong 
buồng lái của máy gắn trên khung có bánh xe, toàn bộ máy có thể 
được hoặc không được điều khiển để di chuyển trên đường bằng 
chính động cơ của chính nó. 
Nhóm này cũng bao gồm các máy có bánh di chuyển tự hành mà 
trong đó các khung gầm và các máy thi công được thiết kế đặc biệt 
phù hợp với nhauđể tạo nên một khối cơ khí thống nhất. Trong 
trường hợp này, máy không chỉ đơn giản được gắn trên một khung 
gầm di chuyển giống như các máy đã được diễn tả ở đoạn đầu tiên, 
mà được gắn hoàn toànvới một khung gầm mà không thể sử dụng 
cho các mục đích khác và có thể kết hợp các đặc trưng phương tiện 
thiết yếu nêu ở đoạn trên. 

(c) Các máy được lắp trên các cấu trúc nổi thuộc Chương 89. 
Tất cả các máy thực hiện các chức năng trình bày trong mục này (như 
tàu nạo vét bùn, máy hút hạt) sẽ thuộc Chương 89 khi chúng được lắp 
trên xà lan cần trục hoặc trên các cấu trúc nổi khác có hoặc không tự 
hành. 
CÁC MÁY ĐA CHỨC NĂNG 
Nhiều loại máy, ngoài việc thực hiện các chức năng được mô tả thuộc 
nhóm 84.29 hoặc 84.30 (như đào, khoan, san đất...) ,còn có thể thực hiện 
được các chức năng của các loại máy, thiết bị thuộc nhóm 84.25, 84.26, 
84.27 hoặc 84.28 (ví dụ: nâng, xếp... ). Những máy này được phân loại 
theo Chú giải 3 của Phần XVI hoặc áp dụng quy tắc phân loại3 (c). Ví 
dụ như là máy kết hợp cắt than và bốc than, máy kết hợp việc đào và 
nâng hạ đặt ống. v.v...  
Nhóm này bao gồm: 
(I) MÁY ĐÓNG CỌC VÀ MÁY NHỔ CỌC 
Máy đóng cọc gồm một búa trọng lượng lớn, thường được hoạt động 
trong một khung dẫn cao thẳng đứng. Trọng lượng được nâng lên bởi lực 
cơ khí và sau đó rơi xuống trên đầu cọc nhờ trọng lực (máy tác động 
đơn) hoặc dưới tác động động của lực (các loại búa tác động kép). 
Nhóm này cũng bao gồm các loại máy nhổ cọc. 
(II) MÁY XỚI TUYẾT VÀ DỌN TUYẾT 
Các phương tiện xới và dọn tuyết của phần XVII với các thiết bị được 
gắn trên nó thì bị loại trừ. Tuy nhiên, nhóm này bao gồm các máy dọn 
tuyết được thiết kế để đẩy hoặc kéo (loại lưỡi dẹt), ví dụ, những loại 
được thiết kế để gắn trên xe tải hoặc máy kéo. 
(III) MÁY XÚC, CẮT HOẶC KHOAN 
Những máy này được sử dụng chính trong mỏ, khoan dầu khí, đào 

đường hầm, công trường, cắt đất sét... 
(A) Máy cắt than hoặc đá để cắt hoặc làm vỡ than, quặng... Chúng bao 
gồm một thanh hoặc đĩa gắn với răng, hoặc, thường gặp hơn, bao 
gồm một xích cắt liên tục chạy quanh một cần kim loại mà có thể 
điều chỉnh mức và góc cho việc cắt (máy cắt van năng). Chúng có thể 
được gắn trên khung có bánh xe hoặc khung chạy trên ray tự hành, và 
một vài (máy cắt bốc xếp) có thể rất lớn, kết hợp nhiều xích cắt và 
một băng chuyền gắn sẵn để bốc xếp vật liệu cắt lên trên bề mặt băng 
chuyền, thùng...  
(B) Máy đào đường hầm. Vỏ ngoài củamáy đào đường hầm có bề mặt 
nhẵn và những mũi cắt sắc nhọn ở phía trước, mũi cắt này sẽ được 
đẩy vào trong đất bằng một hệ thống kích thủy lực. 
(C) Máy khoan lỗ trên đá, than...và máy cắt kiểu va đập trong đó 
máy khoan có thể được dao động để tạo thành các đường cắt tuyến 
tính. Nhưng nhóm này loại trừ các dụng cụ như vậy làm việc bằng 
tay, khí nén, thủy lực hoặc có động cơ gắn chung (nhóm 84.67). 
(D) Máy thăm dò và máy khoan, dùng để chiết xuất dầu, khí tự nhiên, 
lưu huỳnh... (theo phương pháp Frasch), khai thác các mẫu địa tầng 
trong khai mỏ và thăm dò giếng dầu, đào giếng dầu, khoan giếng 
phun... Các thiết bị này gồm có hai loại chủ yếu: 
(1) Máy khoan thăm dò quay (rotary), chủ yếu gồm một tháp 
khoan derrick gắn với ròng rọc, một trống tời với bánh răng điều 
khiển và truyền động (tời khoan), một khớp nối và bàn quay hoặc 
bánh xe răng. 
Tời khoan có động cơ tác động làm xoay ống khoan bằng bàn 
quay hoặc bánh răng, ống khoan được treo từ khớp nối quay. Tời 
khoan cũng nâng lên và hạ xuống các ống khoan khi được yêu cầu 
bằng việc sử dụng các ròng rọc. 
(2) Máy đập, gồm có một trục lệch tâm mà chuyển động tịnh tiến 
qua lại của nó làm cho mũi khoan tác động liên tục vào trong 
giếng khoan. 

Cũng lưu ý rằng, nhóm này chỉ bao gồm các máy khoan như vậy. Các 
loại máy tương đối khác thường được sử dụng cùng bị loại trừ ngay 
cả khí nó đikèm máy khoan, như bơm, máy nến để đẩy bùn, đá..., ra 
khỏi giếng khoan (nhóm 84.13 hoặc 84.14). 
Dàn khoan cố định được sử dụng để tìm kiếm hoặc khai thác dầu 
hoặc khí tự nhiên ngoài biển cũng được phân loại ở đây. Các dàn nổi 
hoặc ngầm được phân loại ở nhóm 89.05. 
(E) Máy khoan đất, loại vận hành bằng tay hoặc bằng động cơ, dùng để 
khoan lỗ trên mặt đất (ví dụ, để trồng cây, dựng hàng rào), trừ các 
loại dụng cụ cầm tay thuộc Chương 82. 
(F) Nêm thuỷ lực gồm một ống dài với một số piston được đặt từng 
khoảng dọc theo chiều dài. Chúng được đặt trong một khe nứt hoặc 
lỗ khoan và các piston được đẩy ra ngoài bởi nước được bơm vào 
ống, do đó phá vỡ đá và than. 
(G) Máy cào, cắt hoặc bừa bao gồm các lưỡi cắt, bừa, răng, nêm... được 
đẩy dọc theo bề mặt, cắt lát than, đất sét... và bốc chúng trực tiếp lên 
bề mặt băng tải... 
(IV) MÁY ĐẦM HOẶC NÉN ĐẤT 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Xe lu lăn đường, được thiết kế để đẩy hoặc kéo, kể cả xe lu loại 
“chân cừu”, có gắn các mũi kim loại mà ấn vào trong đất, và xe lu 
đầm đất làm từ một chuỗi các bánh kiểu bánh xe tải với lốp bơm khí 
mức cao được gắn trên một trục chung. 
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm các xe lu lăn đường tự hành, có 
hoặc không gắn thêm “chân cừu” hoặc với lốp đặc hoặc lốp bơm hơi 
(nhóm 84.29) và máy cán dùng trong nông nghiệp (nhóm 84.32). 
(B) Máy đầm, như loại sử dụng để làm đường, để xếp đá đường ray xe 

lửa... loại không tự hành. Tuy nhiên, dụng cụ hoạt động bằng tay, khí 
nén, thủy lực hoặc với động cơ gắn trong, bị loại trừ (nhóm 84.67). 
(C) Các máy nén đất, thông thường là khí nén, thực hiện việc nén 
cạnh của bờ kè.... 
(V) CÁC MÁY XÚC, SAN ĐẤT, NẠO VÉT, ỦI ĐẤT.V.V.. 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Máy đào hoặc xúc được mô tả như Chú giải Chi tiết nhóm 84.29, 
không phải loại tự hành. 
(B) Máy hút bùn (loại gầu hoặc xẻng), tương tự như máy xúc nhiều gầu 
của nhóm 84.29. 
Các máy móc, thiết bị hút bùn nổi trên mặt nước bị loại trừ (thuộc 
nhóm 89.05). 
(C) Máy xúc, sàng đá đường ray xe lửa, bao gồm chủ yếu một chuỗi 
gầu hoạt động liên tục để xúc đất đá từ dưới đường ray. Chúng cũng 
kết hợp cơ khí để sàng và đổ đá. Tuy nhiên, xem đoạn (a) phần mở 
đầu của chú giải liên quan đến các máy được gắn trên phương tiện 
của Chương 86. 
(D) Máy san, làm đường (hoặc máy xới đất) và máy xới được gắn với 
răng cắt để xới đất bề mặt, làm vỡ các bề mặt đường cũ..., chuẩn bị 
cho việc làm lại đường. 
(E) Máy nạo đất, một loại kiểu gầu xúc giống như các loại được nêu ở 
nhóm 84.29 với một cần nằm ngang; được sử dụng để nạo (hớt qua) 
lớp đất phía trên. 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các quy tắc về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải tổng quát 
Phần XVI), các bộ phận của các loại máy thuộc nhóm này được phân 
loại nhóm 84.31. 

Nhóm này không bao gồm: 
(a) Súng thuỷ lực được thiết kế để tách quặng (ví dụ vàng sa khoáng) 
khỏi sườn đồi..., bằng cách phun bắn tia nước áp lực (nhóm 84.24). 
(b) Xe cán dùng trong nông nghiệp, bao gồm một trục cán đất tương đối 
nhẹ và dài với đường kính nhỏ, trong một vài trường hợp được đẩy 
bởi một động cơ đốt trong nhỏ (nhóm 84.32). 
(c) Dụng cụ động lực (ví dụ, đục, đầm và khoan) hoạt động cầm tay, 
thuộc nhóm 84.67. 
(d) Thiết bị để cắt miếng đá hoặc bê tông, sử dụng nhiệt độ cao được 
sinh ra bằng cách đốt sắt hoặc thép trong dòng khí oxy (nhóm 84.79). 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 8430.31 và 8430.39  
Các phân nhóm này bao gồm các loại máy được mô tả  trong các phần 
(A), (B) và (G) của Phần III trong Chú giải Chi tiết nhóm 84.30 . 
84.31 - Các bộ phận chỉ sử dụng hoặc chủ yếu sử dụng cho các loại 
máy thuộc các nhóm từ 84.25 đến 84.30. 
       8431.10 - Của máy thuộc nhóm 84.25 
       8431.20 - Của máy thuộc nhóm 84.27 
                     - Của máy thuộc nhóm 84.28: 
8431.31 - - Của thang máy (lift), tời nâng kiểu gầu nâng (trục tải 
thùng kíp) hoặc thang cuốn 
       8431.39 - - Loại khác 

                     - Của máy thuộc nhóm 84.26, 84.29 và 84.30: 
       8431.41 - - Gầu xúc, xẻng xúc, gầu ngoạm và gầu kẹp 
       8431.42 - - Lưỡi của máy ủi đất lưỡi thẳng hoặc máy ủi đất lưỡi 
nghiêng  
        8431.43 - - Bộ phận của máy khoan hoặc máy đào sâu thuộc phân 
nhóm 8430.41 hoặc 8430.49 
       8431.49 - - Loại khác 
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải 
tổng quát Phần XVI), nhóm này bao gồm những bộ phận chỉ dùng hoặc 
chủ yếu dùng cho các loại máy và thiết bị thuộc các nhóm từ 84.25 đến 
Cần lưu ý rằng, nhiều bộ phận không thuộc nhóm này vì:  
(a) Chúng được chi tiết cụ thể ở chỗ khác trong Danh mục, ví dụ, 
lò xo treo (nhóm 73.20), động cơ (nhóm 84.07 hoặc 84.08...) 
và thiết bị khởi động hoặc đánh lửa bằng điện (nhóm 85.11). 
(b) Chúng là bộ phận giống hệt với các loại dùng cho phương tiện 
có động cơ và không thích hợp để chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng 
với các máy thuộc nhóm 84.25 đến 84.30, và do đó được phân 
loại như là bộ phận của xe có động cơ (nhóm 87.08); điều này 
cụ thể áp dụng đối với bánh xe và thiết bị lái và phanh.  
hoặc  (c) Chúng là các bộ phận chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho các máy 
móc dùng để nâng hạ, xếp hoặc dỡ các tấm, khối, thiết bị bán 
dẫn, mạch điện tử tích hợp hoặc tấm màn hình phẳng (nhóm 
Nhóm này gồm: 
(1) Thùng nâng, gầu, kẹp giữ... là loại gầu nâng đơn giản có gắn với 
vòng, móc...; gầu bản lề đáy; gầu ngoạm gồm hai nắp dạng vỏ sò 
khớp với nhau để nâng các vật liệu dạng bột; kẹp giữ bao gồm hai 
hoặc nhiều hơn các lưỡi hoặc càng nối với nhaudùng để xếp dỡ đá... 

Đầu nâng điện từ dùng để xếp dỡ mảnh kim loại nhỏ,…cũng bị loại 
trừ (nhóm 85.05). 
(2) Trống dùng cho tời ngang hoặc tời dọc; cầu trục; bánh xe lăn, càng 
kẹp, gầu, thùng kíp... dùng cho các phương tiện di chuyển bên trên; 
cabin, lồng và bệ để nâng...; bước thang cuốn; gầu và chuỗi gầu nạo 
dùng cho thiết bị nâng và băng chuyền; giá đỡ, và trống hoặc trục 
quay (có hoặc không gắn động cơ điều khiển) cho băng chuyền; đầu 
điều khiển và làm trễ dùng cho băng chuyền và bàn rung; thiết bị cơ 
khí dừng an toàn dùng cho thiết bị nâng, thùng kíp... 
(3) Thanh cắt, xích và cần dùng cho máy cắt than; lưỡi cho máy nạo, 
thiết bị dỡ và bừa than... 
Nhóm này cũng bao gồm các loại lưỡi ủi đứng hoặc nghiêng để gắn 
vào như dụng cụ làm việc của phương tiện thuộc Chương 87.  
(4) Bàn quay, khớp xoay, cần dẫn động, ống lót cần dẫn động, khớp nối 
công cụ, vòng đệm khoan, dẫn hướng ống khoan, vòng đệm dừng, 
kẹp giữ ống khoan,vòng chắn chỉnh hướng hai mảnh, dầm, chốt khớp 
xoay, và thùng khoan, dùng cho các máy khoan dầu (quay hoặc va 
đập). 
(5) Gầu xúc và cần xúc cho máy xúc, các thang gầu dùng cho máy xúc 
nhiều gầu; móc dùng cho máy xúc; búa đóng cọc. 
(6)  Khung có bánh xe hoặc khung ray, không tự hành, được gắn với 
khớp răng hoặc các thiết bị quay khác. 
Dây cáp và xích được gắn với các phần kết nối của chúng (ví dụ bộ 
phận siết cáp, vòng, móc và móc lò xo) được phân loại với máy với điều 
kiện chúng hiện diện cùng máy. Tuy nhiên, khi đứng riêng rẽ, chúng 
được phân loại ở Phần XV (thường là nhóm 73.12 hoặc 73.15). Các dây 
cáp và xích không gắn với các phần kết nối này và ở dạng cuộn cũng 
được phân loại ở Phần XV, ngay cả khi được cắt thành từng đoạn dài và 
hiện diện với máy tuỳ mục đích sử dụng(tời ngang, cáp treo, cần trục, 
cáp hoạt động máy vận chuyển bằng cáp, máy xúc có gầu, máy xúc...).  

Nhóm này không bao gồm: 
(a) Băng chuyền hoặc băng tải hoặc dây đai, làm bằng palstic (Chương 
39), bằng cao su lưu hoá (nhóm 40.10), bằng da (nhóm 42.05) hoặc 
bằng vật liệu dệt (nhóm 59.10). 
(b) Cáp móc (Phần XI hoặc XV). 
(c) Các thanh rỗng dùng cho khoan (nhóm 72.28). 
(d) Ống lót thành giếng (casing), ống và ống khoan (từ nhóm 73.04 đến 
(e) Thanh giằng kiểu ống lồng hoặc có điều chỉnh (nhóm 73.08). 
(f) Móc nâng (nhóm 73.25 hoặc 73.26). 
(g) Choòng, đục, mũi khoan đá, ống khoan lõi, mũi khoan và các dụng 
cụ khoan hoặc hàn tương tự (nhóm 82.07). 
(h) Khoá dùng cho thang máy, lồng kéo... (nhóm 83.01). 
(ij) Puli, hệ puli và ổ đỡ vòng bị (nhóm 84.83). 
84.32 - Máy nông nghiệp, làm vườn hoặc lâm nghiệp dùng cho việc 
làm đất hoặc trồng trọt; máy cán cho bãi cỏ hoặc cho sân chơi 
thể thao. 
8432.10  - Máy cày 
               - Máy bừa, máy cào, máy xới đất từ dưới lên (cultivators), 
máy làm cỏ và máy xới đất từ trên xuống (hoes): 
8432.21 - - Bừa đĩa 
8432.29 - - Loại khác 
              - Máy gieo hạt, máy trồng cây và máy cấy: 
8432.31 - - Máy gieo hạt, máy trồng cây và máy cấy trực tiếp không 
cần xới đất (no-till) 
8432.39 - - Loại khác 

                     - Máy rải phân hữu cơ và máy rắc phân bón: 
8432.41 - - Máy rải phân hữu cơ 
8432.42 - - Máy rắc phân bón 
8432.80 - Máy khác 
8432.90 - Bộ phận 
Nhóm này bao gồm các loại máy, với bất kể cách thức kéo của chúng 
được sử dụng thay các công cụ bằng tay, để phục vụ mộthoặcnhiều loại 
công việc trong nông nghiệp, làm vườn hoặc công việc trong lâm 
nghiệp, có nghĩa là:  
(I)  Làm đất để trồng trọt (dọn quang, vỡ đất, trồng trọt, cày bừa, xới 
đất...) 
(II)  Rải hoặc rắc phân bón, bao gồm phân hữu cơ, hoặc những sản phẩm 
khác để cải thiện đất. 
(III) Trồng trọt hoặc gieo hạt. 
(IV) Làm đất hoặc bảo dưỡng đất trong thời kỳ cây trồng phát triển 
(cuốc, làm cỏ, dọn quang,v.v...)  
Các loại máy trong nhóm này có thể được kéo bởi một động vật hoặc 
bằng một phương tiện (ví dụ máy kéo), hoặc có thể được đặt trên một 
phương tiện vận chuyển (ví dụ trên máy kéo hoặc xe ngựa). (Trong 
trường hợp này, “máy kéo” bao gồm “máy kéo trục đơn”.) 
Các loại máy được thiết kế để được kéo bởi máy kéo, hoặc được lắp 
trên máy kéo như là các thiết bị có thể thay thế được. 
Một số loại máy nông nghiệp, làm vườn hoặc lâm nghiệp (ví dụ máy cày 
và máy bừa) được thiết kế chỉ để được kéo hoặc được đẩy bởi một máy 
kéo, mà chúng được gắn liền bằng một thiết bị nối (có hoặc không có cơ 
cấu nâng). Loại khác (ví dụ cuốc quay) được điều khiển bởi một động cơ 
dùng chúng để nâng trên máy kéo. Việc lắp ráp và thay đổi những máy 
như vậy được thực hiện trên các cánh đồng, trong rừng hoặc trên trang 
trại. Tất cả những máy này vẫn thuộc nhóm này thậm chí nếu chúng 

được đi kèm với máy kéo (được lắp trên hoặc không được đặt trên máy 
kéo). Bản thân máy kéo được phân loại riêng biệt trong nhóm 87.01. 
Nguyên lý phân loại như vậy cũng được áp dụng trong trường hợp khi 
một loại thiết bị kéo khác được thay thế cho máy kéo (ví dụ một loại 
máy được phân trong nhóm 87.04), hoặc khi một cái máy xới quay 
(rotary hoe) được lắp trên trục điều khiển của máy kéo trục đơn, thay thế 
bánh xe, do đó mà nó hoạt động vừa như là một công cụ vừa như là bánh 
xe đẩy cả cái máy. 
Máy nông nghiệp, máy làm vườn hoặc máy lâm nghiệp tự hành. 
Trong những máy này, phần kéo và máy tạo thành một bộ phận hợp nhất 
(ví dụ máy cày được lắp động cơ). Những máy như vậy được phân loại ở 
nhóm này. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm xe tải rải phân, v.v.. mà được 
phân vào nhóm cùng với xe ô tô chuyên dụng khác trong nhóm 87.05. 
Các loại máy nông nghiệp nhỏ được thiết kế để được kéo hoặc được đẩy 
bằng sức người (ví dụ,  máy cày, máy bừa, máy xới đất từ dưới lên 
(cultivators), máy xới đất từ trên xuống (hoes), máy cán và máy gieo hạt) 
cũng thuộc mục này. 
Trong số các máy nằm trong nhóm này, có thể kể tới:  
(1) Máy cày phục vụ cho tất cả các mục đích cày đất, ví dụ, máy cày có 
lưỡi cày (loại một lưỡi hoặc nhiều lưỡi hoặc loại có thể đảo ngược), 
máy cày phục vụ cho việc làm lớp đất nằm ngay bên dưới lớp bề mặt 
(thường không có lưỡi) và máy cày đĩa. 
(2) Máy bừa mà chức năng chủ yếu để làm vỡ đất sau khi cày. Trong 
máy bừa răng, những chiếc răng được lắp cố định vào một khung 
cứng, có những đoạn nối với nhau bằng những khớp hoặc khung có 
các mắt khớp vào nhau, hoặc có đôi khi được lắp cố định vào một 
trống hoặc con lăn bừa. Trong máy bừa đĩa những chiếc răng được 

thay thế bằng một hoặc nhiều hàng đĩa lõm có rìa sắc. 
(3) Máy cào, máy xới đất từ dưới lên (cultivators), máy làm cỏ và máy 
xới đất từ trên xuống (hoes) được sử dụng để làm đất, làm cỏ hoặc san 
bằng đất sau khi cày, hoặc trong quá trình trồng cây. Những máy này 
thường có một khung nằm ngang trên bánh xe lắp với một loạt các loại 
công cụ khác nhau (lưỡi cày, đĩa, răng,...), có thể cứng hoặc đàn hồi, 
cố định hoặc có thể di động, và đôi khi có thể thay thế lẫn nhau. 
(4) Máy gieo hạt, máy trồng cây và máy cấy, đối với các hạt, củ, thân 
củ, cây,.v.v.., gồm một hộp, phễu hoặc vật chứa khác, đôi khi được 
đặt trên những bánh xe và được trang bị những thiết bị để rắc (gieo) 
và để mở luống cày và thường phủ luống cày. 
Nhóm này bao gồm máy gieo hạt trực tiếp không cần cày xới, máy 
trồng và máy cấy để gieo hạt mà không cần làm đất. Chúng cung cấp 
hạt giống với số lượng đã được tính toán và đặt hạt giống vào đất 
chưa chuẩn bị trước bằng cách xuyên qua lớp phủ bề mặt và tàn dư 
thực vật, mở một khe hẹp hoặc đục một lỗ vào đất và thả hạt giống 
vào một vị trí và độ sâu định trước. 
(5) Máy rắc phân bón và máy rải phân hữu cơ. Máy để rắc phân hữu 
cơ và phân bón thể rắn (phân hóa học, phân động vật,.v.v..) đôi khi 
được đặt trên những bánh xe, thường có một thùng chứa gắn với một 
cơ cấu rắc như những đĩa (tấm) sàn trượt, ống dẫn vận chuyển xoay, 
những xích chuyền liên tục hoặc đĩa ly tâm; dụng cụ cơ khí cầm tay 
được dùng cho các mục đích như trên cũng thuộc nhóm này.  
Các nhà phân phối phân bón rải đều phân bón tổng hợp hoặc các chất 
rắn tổng hợp khác lên đất. Máy rải phân phân phối phân  hoặc chất 
dinh dưỡng thực vật tái chế từ “chất thải động vật” trên cánh đồng. 
Xe thùng có sàn chuyển động với một thiết bị chặt (băm)/ rắc (rải) 
kèm theo để làm cho chúng hoạt động, trong khi tháo dỡ, như máy rải 
phân, máy rải chất pha trộn loãng gồm một công ten nơ có bánh, 
thường được trang bị những đĩa rắc hoặc những máng xối thuộc 
nhóm 87.16. 
Máy phun xách tay để phun phân hóa học lỏng vào lòng đất, cũng 

thuộc nhóm này. Chúng gồm một cần rỗng dài,mà qua đó phân được 
bơm vào trong đất bởi một bơm. 
(6) Máy để dọn cỏ, cây bụi, rạ, rễ, v.v... Thông thường chúng gồm hai 
bánh xe lớn và một cái trống được gắn với các lưỡi cắt. 
(7) Máy dọn đá, tương tự máy bừa nhưng được gắn cố định với những 
răng móc theo hai hàng hướng vào một thùng miệng mở, để gom đá. 
(8) Máy cán, chủ yếu được dùng để cuốn đất. Những xe này gồm có 
những máy cán mịn, máy cán đánh luống, máy cán đĩa, máy cán có 
bánh cuốn đất, v.v.. Nhóm này còn bao gồm máy cán dùng làm vườn, 
máy cán cỏ, làm đường chạy sân vận động, rãnh cỏ,.v.v.. 
(9)  Máy tỉa cây (ví dụ máy tách củ cải đường) được dùng để tỉa tự động 
những cây con. Những máy này có thể là những máy rất phức tạp 
được vận hành bởi một thiết bị quang điện. 
(10) Máy để tỉa cành hoặc cuống của cây để cắt bớt phần phát triển quá. 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo những nguyên tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú 
giải tổng quát của phần XVI), nhóm này bao gồm các bộ phận của 
những máy được đề cập ở trên. Không kể những thứ khác, những bộ 
phận này bao gồm:  
Bắp cày, lưỡi cày, lưỡi cày phụ, khuôn cày, đĩa cày (bao gồm lưỡi cày, 
đĩa cày viền kim cương,.v.v..); những dụng cụ và những răng (cứng hoặc 
đàn hồi) cho máy xới, máy làm cỏ; những răng, ống rỗng và đĩa cho máy 
bừa; xi lanh, xéc măng và những bộ phận của máy cán; bộ phận rắc cho 
máy rải phân, máy gieo hạt, máy trồng cây hoặc máy cấy; lưỡi, răng, đĩa 
và những dụng cụ khác cho máy cuốc. 

Nhóm này không bao gồm:  
(a) Máy (dụng cụ) đào lỗ trồng cây, máy (dụng cụ) trồng cây, máy (dụng 
cụ) cấy và những dụng cụ cầm tay tương tự (nhóm 82.01). 
(b) Máy đẩy chất lỏng và bơm chất lỏng (bao gồm trục bơm để đặt trên 
những bánh xe của máy nông nghiệp để phun, hoặc tưới, v.v..) 
(nhóm 84.13). 
(c) Máy cơ khí nông nghiệp, làm vườn hoặc lâm nghiệp (vận hành bằng 
tay hoặc không vận hành bằng tay) để rải hoặc rắc chất lỏng hoặc 
chất bột (nhóm 84.24). 
(d) Máy xúc phân và các loại máy nâng khác dùng trong nông nghiệp, 
làm vườn và lâm nghiệp thuộc nhóm 84.28. 
(e) Máy chuyển đất bằng gàu tự xúc và xe lu lăn đường , loại tự hành 
(nhóm 84.29) 
(f) Máy đào, san, khoan hoặc bóc tách đất, và xe lu lăn đường không tự 
hành (nhóm 84.30). 
(g) Máy nhổ gốc cây và máy cấy (nhóm 84.36). 
(h) Các loại phương tiện vận chuyển trong nông nghiệp (Chương 87). 
84.33 - Máy thu hoạch hoặc máy đập, kể cả máy đóng bó, bánh 
(kiện) rơm hoặc cỏ khô; máy cắt cỏ tươi hoặc cỏ khô; máy làm 
sạch, phân loại hoặc lựa chọn trứng, hoa quả hoặc nông sản 
khác, trừ các loại máy thuộc nhóm 84.37. 
                     - Máy cắt cỏ dùng cho các bãi cỏ, công viên hoặc sân chơi 
thể thao:  
8433.11 - - Chạy bằng động cơ, với chi tiết cắt quay trên mặt phẳng 
8433.19 - - Loại khác 
8433.20  - Máy cắt cỏ khác, kể cả các thanh cắt lắp vào máy kéo 
8433.30 - Máy dọn cỏ khô khác 
fodder balers; grass orhoặcmowers; machines for cleaning, 

8433.40 - Máy đóng bó, bánh (kiện) rơm hoặc cỏ khô, kể cả máy 
nâng (thu dọn) các kiện đã được đóng 
              - Máy thu hoạch khác; máy đập: 
8433.51 - - Máy gặt đập liên hợp 
8433.52 - - Máy đập khác 
8433.53 - - Máy thu hoạch sản phẩm củ hoặc rễ 
8433.59 - - Loại khác 
8433.60 - Máy làm sạch, phân loại hoặc chọn trứng, hoa quả hoặc 
nông sản khác 
8433.90 - Bộ phận 
Nhóm này bao gồm các loại máy được sử dụng thay cho những dụng cụ 
cầm tay, để thực hiện cơ khí hóa những hoạt động sau:  
(A) Thu hoạch hoa màu (ví dụ: gặt, nhổ, lượm, hái, đập, buộchoặcbó). 
Máy cắt cỏ khô hoặc cỏ tươi, máy bó rơm rạ cũng thuộc nhóm này. 
(B) Máy làm sạch, phân loại hoặc lựa chọn trứng, hoa quảhoặcnông sản 
khác, loại trừ các máy và thiết bị của nhóm 84.37. 
Những quy định của Chú giải nhóm 84.32 với những sự sửa đổi thích 
hợp, áp dụng cho nhóm này, ví dụ cho máy kéo được gắn với các bộ 
phận thu hoạch, đập, cắt hoặc các bộ phận có thể thay thế khác, và cho 
cào chạy bằng động cơ. 
(A) MÁY GẶT HOẶC ĐẬP, KỂ CẢ MÁY ĐÓNG BÓ, BÁNH 
(KIỆN) RƠM HOẶC CỎ KHÔ; 
MÁY CẮT CỎ TƯƠI HOẶC CỎ KHÔ 
Những máy này gồm có:  
(1) Máy cắt cỏ, hoặc được điều khiển bằng tay hoặc được vận hành bằng 
động cơ. Chúng có thể có một lưỡi cắt giống máy cắt cỏ nông nghiệp, 
những lưỡi cắt quay mà chúng cắt cỏ ngược với một lưới cắt gắn cố 

định nằm ngang, hoặc một đĩa quay với dao ở rìa ngoài. 
(2) Máy cắt (kể cả những máy cắt cỏ chạy bằng động cơ) dùng để cắt cỏ 
khô, v.v.. Những máy này thường có một thanh cắt nằm ngang và 
những phần cắt bằng sự dao động của những chiếc răng giữa những 
răng của thanh cắt, hoặc chúng có thể gồm những đĩa xoay hoặc 
những trống với những lưỡi dao ở rìa bên ngoài. 
(3) Máy cắt được gắn một thiết bị để vun những hoa màu đã cắt thành 
hàng khắp cánh đồng (máy vun đống cỏ khô và máy cắt có xử lý) 
(4) Máy phơi cỏ (ví dụ, với dĩa (càng, cào) nâng hoặc trống). 
(5) Cào cỏ khô, thường có một hàng răng bán nguyệt được lắp bánh lăn, 
có thể được nâng tự động. 
(6) Máy cào cỏ phơi, máy cào luống cỏ thành đống, máy cào bó. 
(7) Máy bó và xe lăn bó, để thu lượm và bó cỏ khô hoặc rạ để lại trên 
cánh đồng. 
(8) Máy gặt đập liên hợp, máy này lần lượt gặt, đập, dọn và dỡ các loại 
hạt. 
(9) Máy cắt, máy hái, máy thu hoạch và máy bóc vỏ ngô. 
(10) Xe tự chất tải có gắn sẵn thiết bị thu hoạch, để cắt, chặt và vận 
chuyển cỏ, ngô,.v.v.. 
(11) Máy hái bông. 
(12) Máy thu hoạch lanh. 
(13) Máy thu hoạch nho (được kéo hoặc tự hành). 
(14) Máy để thu hoạch rau (dùng cho các loại đỗ, cà chua,.v.v..) 
(15) Máy đào khoai tây (kiểu lưỡi cày, cuốc dĩa đào đất và kiểu vỉ). 
(16) Máy tỉa rễ, máy nâng gốc, máy thu hoạch gốc đối với củ cải đường 
và các loại củ rễ tương tự. 
(17) Máy thu hoạch thức ăn cho gia súc. 
(18) Máy lay và rung cây. 
(19) Máy thu hoạch nông sản khác (hạt có dầu,.v.v..) 
(4)hoặctedders (e.g., with lifting forks or drums). 
(5)hoặcrakes, usually consisting of a wheeled row of semi-circular 
(7) Pick-up balers and bale rollers, for picking up and balinghoặcor 

(20) Máy đập hạt, nhóm này cũng bao gồm máy cung cấp cho máy đập 
tự động, hiện diện riêng rẽ hoặc không (tức là, các máy phụ trợ được 
thiết kế để đảm bảo việc cung cấp đều đặn của máy đập bằng việc 
mở và phun những bó rơm ra ngoài). 
(21) Máy tách vỏ ra khỏi bắp ngô; máy đập ngô. 
Nhóm này cũng bao gồm máy xén cỏ, được biết đến như là máy xén cỏ 
người ngồi điều khiển, máy thông thường có ba hoặc bốn bánh xe với 
chỗ lái và có một thiết bị cắt được gắn cố định,hoặcnói cách khác, thiết 
bị này chỉ được tháo rời để sửa chữa hoặc bảo dưỡng. Vì chức năng 
chính của những máy này là xén cỏ nên chúng vẫn thuộc mục này thậm 
chí nếu chúng có một thiết bị để kéo hoặc đẩy những thiết bị nhẹ như 
moóc. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm những máy cầm tay để cắt tỉa cỏ 
bãi, cắt cỏ, ví dụ, dọc những bức tường, dậu hoặc dưới bụi cây. Những 
máy này có một động cơ đốt trong có đủ các bộ phận trong một khung 
kim loại nhẹ, hoặc một mô tơ điện được đặt trên một tay đẩy kim loại, và 
một thiết bị cắt thường bao gồm một hoặc nhiều sợi nylon mỏng, được 
phân loại ở nhóm 84.67. 
(B) MÁY ĐỂ LÀM SẠCH, PHÂN LOẠI HOẶC LỰA CHỌN 
TRỨNG, QUẢ HOẶC NÔNG SẢN KHÁC 
Nhóm này cũng bao gồm những máy bất kể là loại dùng để làm vườn, 
loại dùng trong nông nghiệp hoặc loại dùng trong công nghiệp, được sử 
dụng để làm sạch, phân loại hoặc lựa chọn sản phẩm, như trứng, hoa 
quả, khoai tây, hành tỏi, cà rốt, măng tây và dưa chuột xanh, theo cỡ, 
theo hình dạng, theo trọng lượng, v.v.. Những máy này được phân loại ở 
mục này được vận hành bằng điện hoặc không được vận hành bằng điện 
(ví dụ máy kiểm tra và máy chọn quang điện), những máy này có thể 
được trang bị những thiết bị phụ trợ (ví dụ dùng để kiểm tra trứng hoặc 
dùng để đánh dấu sản phẩm). 
Loại trừ máy làm sạch, phân loại, hoặc lựa chọn hạt giống, hạt hoặc đậu 

khô (nhóm 84.37). 
Những máy thuộc loại này nằm trong nhóm này (ví dụ: máy thu hoạch, 
máy gặt đập liên hợp, máy đập, máy thu hoạch và bó, máy ép bó, máy 
lựa chọn) thường kết hợp với thiết bị nâng, điều khiển, vận chuyển phụ 
(ví dụ: băng tải, tời kéo rơm rạ và chuỗi gầu); những thiết bị này được 
phân loại cùng với máy, với điều kiện chúng được trình bày cùng nhau; 
khi được trình bày riêng biệt chúng thuộc nhóm 84.28. 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo những quy định chung về việc phân loại các bộ phận (xem Chú 
giải tổng quát của phần XVI), các bộ phận của các máy thuộc nhóm này 
cũng được phân loại ở đây, ví dụ:  
Những thanh dao cắt, cơ cấu nâng cơ khí và ngàm của máy xén cỏ hoặc 
máy thu hoạch; cần nối dao động để làm cho những thanh cắt của máy xén 
cỏ hoặc máy cắt cỏ hoạt động; máy phân loại; máy phân chia, máy cào, 
sàn, và thiết bị bó đối với máy bó nông sản đã thu hoạch; thiết bị cào cỏ 
luống; bàn cắt; dụng cụ dùng để đập; thiết bị đập cân bằng, thiết bị chứa 
đồ để trộn, bệ phóng rơm, v.v..  của máy gặt đập liên hợp hoặc máy đập; 
lưỡi răng, cuốc dĩa và những dụng cụ khác của máy thu hoạch khoai tây 
hoặc các cây củ khác; trống và cuốc dĩa của máy phơi cỏ; răng, thiết bị 
nâng của máy cào; thiết bị cào hái của máy thu hoạch hoặc máy bó. 
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Lưỡi cắt và bộ phận lưỡi của máy xén cỏ (nhóm 82.08). 
(b) Tời kéo rơm rạ hoặc túi, bao; máy nhấc cỏ khôhoặcrơm "loại ống 
thổi", máy nâng ngũ cốc có gầu múc hoặc vận hành bằng hơi nén; 
cần cẩu nông nghiệp hoặc máy bốc, nâng, vận hành hoặc băng 
chuyền (nhóm 84.26 hoặc 84.28). 
drums and forks forhoặctedders; teeth, implement lifting mechanisms for 
(b) Sheaf, straw or bag hoists; “ blower type ”hoặcor straw elevators; 

(c) Máy chặt cây hoặc máy nhổ rễ và máy cắt rơm loại dùng trong trang 
trại, máy cắt rễ, máy xay ngũ cốc và máy kiểm tra trứng (nhóm 
(d) Máy làm sạch, phân loại, hoặc lựa chọn hạt giống, hạt, hoặc đậu khô 
và máy được sử dụng trong công nghiệp xay xát thuộc nhóm 84.37. 
(e) Máy tỉa hạt bông (nhóm 84.45). 
(f) Máy tước cọng lá thuốc lá hoặc thái lá) (nhóm 84.78). 
84.34 - Máy vắt sữa và máy chế biến sữa. 
        8434.10 - Máy vắt sữa 
        8434.20 - Máy chế biến sữa 
        8434.90 - Bộ phận  
Nhóm này bao gồm các loại máy vắt sữa cơ khí và máy khác, hoặc dùng 
cho trang trại hoặc dùng cho mục đích công nghiệp, được sử dụng trong 
xử lý sữa hoặc để chế biến sữa thành những sản phẩm sữa khác. 
(I) MÁY VẮT SỮA 
Một máy vắt sữa bao gồm một loạt những núm (mỗi cái có một đệm cao 
su), một phía được nối bằng những ống dẻo, với bộ phận bơm chân 
không qua máy kích thích mạch động và phía kia được nối với một 
thùng chứa sữa (thường bằng kim loại không gỉ). Máy kích thích mạch 
động, được gắn cố định với nắp thùng sữa, tác động đến những núm 
bằng cách thay đổi áp suất tạo ra khoảng chân không giữa những cái 
núm và những phần đệm cao su. Kết cấu được tạo bởi các núm, máy 
kích thích mạch động và thùng chứa sữa được mô tả như là "một thùng 
vắt sữa". 
Trong những máy có dung tích nhỏ hơn, những thùng vắt sữa và bộ phận 
bơm chân không có thể ở trên một bệ chung (máy có một thùng hoặc 
máy có hai thùng). 
Trong những máy có dung tích lớn hơn, những bộ phận khác nhau 

thường được tách riêng. Một loạt các thùng vắt sữa khác nhau có thể 
được nối với bộ phận bơm chân không bằng hệ thống ống dẫn. Một số 
loại không có thùng vắt sữa, sữa chuyển trực tiếp từ những núm tới thiết 
bị làm lạnh hoặc những thùng chứa dọc ống dẫn, thường được gắn cố 
định. 
Những loại này còn có thể là các robot vắt sữa, còn được gọi là hệ thống 
vắt sữa tự nguyện. Các hệ thống này,   kết hợp tất cả các thiết bị cần thiết 
để vắt sữa tự động, không kể những thứ khác, hệ thống gồm: một cánh 
tay robot linh hoạt, thiết bị điện tử, máy bơm chân không, máy nén khí, 
máy vắt, thiết bi đo sữa, vv, được thiết kế để vắt sữa bò theo yêu cầu 
riêng   . Mỗi con bò đeo một chiếc vòng cổ mang một bộ cảm biến 
(transponder) để nhận dạng, do hệ thống có thể quyết định liệu con bò 
nào có thể được vắt sữa. Việc vắt sữa được thực hiện bởi một cánh tay 
robot được trang bị một hệ thống thị giác laser hỗ trợ, cho phép các thiết 
bị vắt sữa, được hướng trực tiếp đến núm vú của bò. 
Khi trình bày cùng nhau, các bộ phận khác nhau của những máy như vậy 
được phân vào mục này khi chúng là bộ phận chức năng trong phạm vi 
của Chú giải 4 của Phần XVI (xem Chú Giải tổng quát của Phần XVI). 
Tuy nhiên, những dụng cụ và thiết bị không góp phần trực tiếp vào chức 
năng vắt sữa (những ống lọc, thiết bị làm lạnh, những thiết bị để rửa 
những núm vú cao su và ống chuyển lưu (dẫn),...) không được phân vào 
nhóm này nhưng được phân vào những nhóm phù hợp (tương ứng của 
chúng). 
(II) MÁY CHẾ BIẾN SỮA 
Nhóm này bao gồm máy đồng hóa sữa. Những máy này phân tách chất 
béo thành những phân tử mịn dễ tiêu hóa hơn, và giữ ở trong trạng thái 
huyền phù lâu hơn mà không tạo thành kem. 
Phần lớn những máy chế biến sữa phụ thuộc chủ yếu vào nguyên lý trao 
đổi nhiệt và do vậy nó bị loại trừ (nhóm 84.19), ví dụ thiết bị tiệt 
trùng,hoặckhử trùng; thiết bị cô đặc hoặc làm khô sữa; thiết bị làm lạnh 
sữa. 

Nhóm này còn không bao gồm: 
(a) Thiết bị làm lạnh (cho dù được thiết kế để làm lạnh và bảo quản 
sữahoặclà không) và những thùng làm lạnh sữa, gắn liền với thiết bị 
làm bay hơi của khối làm lạnh (nhóm 84.18). 
(b) Máy tách kem, máy ép lọc và các loại máy hoặc thiết bị lọc hoặc gạn 
lọc khác (nhóm 84.21). (Tuy nhiên, phễu lọc đơn giản và dụng cụ lọc 
sữa được phân theo vật liệu cấu thành). 
(c) Máy rửa thùng chứa sữa, và máy đóng chai hoặc đóng hộp sữa 
(nhóm 84.22). 
(III) MÁY CHUYỂN HÓA SỮA 
THÀNH NHỮNG SẢN PHẨM SỮA KHÁC 
Lưu ý loại trừ những máy tách kem (nhóm 84.21). Tuy nhiên, nhóm 
này bao gồm các loại máy được sử dụng để chế biến bơ hoặc pho mát. 
Những máy này bao gồm:  
(A) Máy làm bơ. 
  (1) Máy làm bơ thường bao gồm một thùng thép không gỉ, bên trong 
đó là một loạt các vách ngăn hoặc những lưỡi dao. Thùng hoặc 
những lưỡi dao được xoay bằng động cơ và việc đánh như vậy làm 
cứng kem lại và dần dần chuyển thành bơ. 
  (2) Máy làm bơ liên hợp. Những máy này, được sử dụng để sản xuất 
bơ liên tục, hoạt động chủ yếu là do động cơ điện, làm chuyển động 
xilanh, tạo ra các vòng quay nhanh mà chuyển đổi kem thành bơ. 
Bơ được ép thông qua các hệ chuyển động của máy giống như một 
quá trình diễn ra liên tục.  
  (3) Máy đổ khuôn bơ thành những hình thù đáp ứng nhu cầu của thị 
trường nhưng không bao gồm những máy gói hoặc cân đong sản 
phẩm (nhóm 84.22 và 84.23). 
(B) Máy làm pho mát. 
(1) Máy để đánh và phân tách và đồng hóa hỗn hợp sữa đông và 
kem trong chế biến pho mát mềm và pho mát kem. 

(2) Máy tạo khuôn pho mát cứng, nửa cứng và mềm hoặc pho mát 
kem, nhưng không bao gồm máy gói hoặc cân sản phẩm (nhóm 
84.22 và 84.23). 
(3) Máy ép pho mát (ví dụ loại cơ khí, khí nén,.v.v..) được sử dụng 
đặc biệt trong chế biến pho mát cứng hơn, vừa để tạo hình cho sản 
phẩm vừa để loại trừ hơi ẩm dư thừa. 
Lưu ý, nhóm này không bao gồm nhiều máy và thiết bị được sử dụng 
trong công nghiệp sữa. Ví dụ, những thùng chứa để dự trữ, để làm dậy 
mùi, để chế biến, v.v.. mà hoạt động của những thùng này trước hết phụ 
thuộc vào thiết bị làm nóng hoặc làm lạnh được gắn cố định thuộc nhóm 
84.18 hoặc 84.19, dù nó có được kết hợp với thiết bị cơ khí như máy 
quấyhoặckhông. Những cái thùng, v.v.. không được gắn với thiết bị làm 
nóng hoặc làm lạnh, nhưng kết hợp với những thiết bị cơ khí như máy 
khuấy, máy trộn, máy đổ, v.v.. được phân loại ở nhóm này với điều kiện 
chúng có thể được phân biệt như dụng cụ chuyên dùng trong chế biến 
sữa. Nếu chúng không thể phân biệt được là dùng cho mục đích cụ thể 
nào, chúng được phân loại ở nhóm 84.79. Những cái thùng, v.v.. không 
được gắn với thiết bị nhiệt hoặc thiết bị cơ khí được phân loại như những 
vật dụng của vật liệu cấu thành (ví dụ, nhóm 73.09, 73.10, 74.19, 76.11 
hoặc 76.12). 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo những quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải tổng 
quát của Phần XVI), các bộ phận của các máy thuộc nhóm này cũng 
được phân loại ở đây, ví dụ:  
Thùng, nắp, máy kích thích mạch động, núm và các bộ phận (trừ những 
đệm cao su, v.v.. - nhóm 40.16) của máy vắt sữa; thùng làm bơ; ống lăn 

và bàn để tạo bơ; khuôn cho máy đổ khuôn bơ và pho mát. 
Mục này loại trừ những thiết bị dùng trong gia đình thuộc nhóm 82.10 
hoặc 85.09. 
84.35 - Máy ép, máy nghiền và các loại máy tương tự dùng trong sản 
xuất rượu vang, rượu táo, nước trái cây hoặc các loại đồ uống  
tương tự. 
       8435.10 - Máy  
       8435.90 - Bộ phận 
Nhóm này bao gồm cả những loại máy nông nghiệp và công nghiệp 
được dùng để làm rượu vang, rượu táo, rượu lê, nước hoa quả hoặc 
những loại bia rượu tương tự có hoặc không lên men. Nhóm này cũng 
bao gồm các loại máy dùng cho mục đích thương mại, loại dùng trong 
nhà hàng hoặc các cơ sở tương tự. 
Không kể những thứ khác, nhóm này bao gồm:  
(A) Máy chiết xuất nước quả, vận hành bằng tay hoặc bằng điện, đối 
với những quả không để lên men (ví dụ nước cam, đào, mơ, dứa, dâu 
tây, hoặc cà chua). 
(B) Máy nghiền táo hoặc lê, vận hành bằng tay hoặc bằng động lực. 
Những máy này gồm có một cái phễu đẩy quả vào cơ chế có lưới sắt 
hoặc trục nghiền. 
(C) Máy ép táo cơ khí hoặc thủy lực, gồm máy ép "di động” được đặt 
trên những xe đẩy có bánh. 
(D) Máy ép hoặc nghiền nho, ví dụ:  
  (1) Máy nghiền nho. Những máy này thường bao gồm hai trục có 
rãnh, hoặc gồm một trục đơn được gắn với các thiết bị để đánh, 

những thiết bị mà chiết xuất nước từ nho mà không nghiền nát 
hạthoặccuống. Nhóm này bao gồm máy nghiền kết hợp bơm để 
đẩy nước quả vào những thùng làm lên men. 
  (2) Máy tách nước quả ra khỏi nho vừa được ép xong. Những 
máy này nhìn chung gồm một bình chứa đục lỗ được gắn với 
những thiết bị đập xoay tròn. Một số loại máy kết hợp những 
thao tác ép và tước xơ. 
(3) Máy ép được dùng để chiết xuất nước ép còn trong phần thịt 
nho đã được ép và biến dạng, hoặc từ phần bã đã lên men trong 
thùng ủ men. Có hai loại chính:  
(i) Máy ép cơ khí hoặc thủy lực không liên tục trong đó đầu ép 
nghiền phần thịt trong một lồng lưới có thể thay thế cho nhau 
("claie") được để trong một cái thùng để hứng nước quả. 
Nhóm này bao gồm máy ép thủy lực có cửa được thiết kế để 
một loạt các thùng chứa ("maies"), thường được để trên xe 
đẩy lăn, có thể đựng đầy nước quả 
 (ii) Máy ép liên tục trong đó hệ cơ khí vít vô tận sẽ đẩy nho vào 
máy và ép chúng. 
(E) Máy ép hoặc máy nghiền (vụn) được gắn những xi lanh có răng 
hoặc những lưỡi xoay tròn có thể làm vỡ những miếng bã đã nén 
trước khi ép thêm. 
Loại trừ những máy được dùng để chế biến nước quả, nước nho ép, 
rượu vang, rượu táo và rượu đào, ví dụ:  
(a) Thiết bị ướp lạnh, khử trùng, tiệt trùng và cô đặc (nhóm 84.19). 
(b) Máy ép ly tâm, máy ép lọc và máy móc hoặc thiết bị lọc hoặc gạn 
lọc khác (nhóm 84.21). (Tuy nhiên những ống phễu lọc đơn giản 
được phân loại theo vật liệu cấu thành). 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo những điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem chú giải 
tổng quát của Phần XVI), các bộ phận của hàng hóa thuộc nhóm này 

cũng được phân loại ở đây, ví dụ:  
Trục ép của máy chiết xuất nước hoa quả; xi lanh có răng và bàn nạo của 
máy ép táo; xi lanh của máy ép hoặc nhồi nho; thùng chỉ dùng để đựng 
phần thịt hoa quả ("claies") và các tấm bệ ép thu nước hoa quả (“maies”) 
của máy ép rượu vang;đầu vít xoáy ốc, đĩa ép và khung ép của máy ép 
rượu vang,.v.v..; ống và lưỡi dao có răng của máy ép bã hoa quả,... 
Nhóm này cũng không bao gồm:  
(a) Máy chiết xuất nước hoa quả thuộc các loại thuộc nhóm 44.19, 82.10 
hoặc 85.09. 
(b) Bơm các loại rượu vang, nước quả, rượu táo,... kể cả nếu chúng là 
loại chuyên dùng (nhóm 84.13). 
(c) Máy ly tâm để tách rượu vang từ bã (nhóm 84.21). 
(d) Máy đóng chai, đóng nút chai hoặc máy khác thuộc nhóm 84.22, kể 
cả những thiết bị phun hơi để rửa thùng tròn, ... 
(e) Băng tải chuyển quả (nhóm 84.26 hoặc nhóm 84.28). 
(f) Máy gọt vỏ, tỉa hoặc lấy hạt từ quả (nhóm 84.38). 
84.36 - Các loại máy khác dùng trong nông nghiệp, làm vườn, lâm 
nghiệp, chăn nuôi gia cầm hoặc nuôi ong, kể cả máy ươm hạt 
giống có lắp thiết bị cơ khí hoặc thiết bị nhiệt; máy ấp trứng gia 
cầm và thiết bị sưởi ấm gia cầm mới nở. 
       8436.10 - Máy chế biến thức ăn cho động vật 
                     - Máy chăm sóc gia cầm; máy ấp trứng gia cầm và thiết bị 
sưởi ấm gia cầm mới nở : 
        8436.21 - - Máy ấp trứng gia cầm và thiết bị sưởi ấm gia cầm mới nở  
       8436.29 - - Loại khác 
       8436.80 - Máy khác        

                     - Bộ phận : 
        8436.91 - - Của máy chăm sóc gia cầm hoặc máy ấp trứng gia cầm 
và thiết bị sưởi ấm gia cầm mới nở 
       8436.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm máy móc, không thuộc các nhóm 84.32 đến 84.35, 
thuộc loại sử dụng trong các trang trại (kể cả các trường học nông 
nghiệp, hợp tác xã hoặc các trạm thí điểm), trong rừng, nông trại, hoặc 
trang trại chăn nuôi gia cầm hoặc trang trại nuôi ong hoặc hình thức 
tương tự như vậy. Tuy nhiên, loại trừ những máy móc rõ ràng thuộc loại 
được thiết kế để sử dụng trong công nghiệp. 
(I) CÁC LOẠI MÁY KHÁC DÙNG TRONG NÔNG NGHIỆP, 
LÀM VƯỜN HOẶC LÂM NGHIỆP; MÁY ƯƠM HẠT GIỐNG 
Chúng bao gồm: 
(A) Máy rắc hạt thường bao gồm một hoặc nhiều phễu đổ hạt tới một 
cái thùng kim loại xoay tròn mà khi ở trong thùng đó hạt được phủ 
bởi bột trừ sâu hoặc diệt nấm. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm máy phun rắc bột (nhóm 
(B) Máy nghiền hoặc trộn phân hóa học. 
(C) Máy cắt cành ghép từ cây nho, cây ăn quả,.v.v... 
(D) Máy cắt hàng rào. 
(E) Máy và thiết bị để chế biến thức ăn cho gia súc,... chẳng hạn như: 
     (1) Máy đập vỡ bánh khô dầu. 
     (2) Máy cắt bắp cải và các loại máy khác để thái rau xanh. 
     (3) Máy nghiền hoặc thái củ cải đường, cây củ cải, cà rốt, cỏ khô, ... 
     (4) Máy cắt rơm, cỏ khô hoặc cỏ xanh, có hoặc không bao gồm một 
băng tải để chứa đầy silo. 
     (5) Máy nghiền yến mạch hoặc lúa mạch,.v.v.. 
     (4) Straw,hoặcor silage cutters, whether or not incorporating a 

(6) Các loại máy dùng trong trang trại để nghiền hoặc xay lúa 
mỳ, ngô, lúa mạch và các loại thức ăn cho gia súc khác; máy xay 
bột loại dùng trong trang trại. 
      (7) Máy trộn thức ăn cho gia súc. 
(F) Máng cung cấp nước tự động cho gia súc, ngựa, lợn, v.v.. những 
máng này bao gồm một chậu kim loại được gắn với một đĩa (tấm) 
có khớp nối. Khi mồm súc vật chạm vào luồng nước sẽ chảy ra. 
(G) Kéo cắt cơ khí dùng cho động vật. 
Loại trừ những kéo cắt lông cầm tay thông thường (nhóm 82.14 hoặc 85.10). 
(H) Máy lâm nghiệp, ví dụ:  
(1) Máy nhổ gốc cây, được trang bị những bộ phận kẹp thân cây và 
nhổ bật gốc cây bằng kích thủy lực. 
(2) Máy đốn cây với những kéo cắt hoặc những cưa thủy lực, có hoặc 
không được trang bị những thiết bị khoanh vùng cành chủ của cây 
và những thiết bị ống dỡ khi cưa hoặc với những cái móc để điều 
khiển hoặc đặt chồng những thân cây, và máy đốn cây được thiết 
kế gắn trên những máy kéo, hoạt động bằng cái cày cắt rễ và một 
cần kiểu ống lồng làm tăng lực kéo. 
(3) Máy trồng cây, được trang bị những lưỡi cắt đất quanh rễ và nếu 
cần có thể vận chuyển cây một đoạn ngắn. 
(4) Máy dọn gốc cây có thể phá dỡ gốc cây tới một độ sâu nhất định 
dưới mặt đất bằng những đĩa dao. 
(5) Máy tách cành cây, cành con, .v.v... sau đó chặt bớt, hạ tỉa, v.v.. 
dùng những lưỡi chẻ. Những mảnh vụn được dọn bằng máy thiết 
bị thổi gió. 
(IJ) Thiết bị ươm hạt (như là “máy ươm”) với điều kiện là chúng 
được gắn với các thiết bị cơ khí (như bơm, động cơhoặcquạt) hoặc 
các thiết bị nhiệt. Những tủ, hòm đơn giản, không được trang bị như 
trên bị loại trừ (phân loại theo chất liệu cấu thành). 
Nhóm này không bao gồm: 

(a) Những lưỡi dao hoặc dao cắt cho máy thái củ, máy cắt rơm, v.v.. 
(nhóm 82.08). 
(b) Máy móc và thiết bị hoạt động bằng các quy trình liên quan đến sự 
thay đổi nhiệt độ (nhóm 84.19). Ví dụ, nhóm 84.19 bao gồm những 
máy sấy cỏ khô, nồi hấp khoai tây, thức ăn gia súc, v.v.. nhưng máy 
ươm mầm, mấy ấp trứng và sưởi ấm gia cầm mới nở với thiết bị nhiệt 
vẫn thuộc nhóm này. 
(c) Thiết bị cơ khí để phun bắn, phun rải hoặc phun áp lực chất lỏng 
hoặc chất bột (nhóm 84.24). 
(d) Máy nâng loại bằng khí nén hoặc "máy thổi hơi"; tời để nhổ gốc, kéo 
hoặc chở cây, củi,.v.v.., và thiết bị nâng, xếp hoặc di chuyển (nhóm 
84.25, 84.26 hoặc 84.28). 
(e) Máy đào lỗ để trồng cây; máy ủi lưỡi thẳng và máy ủi lưỡi nghiêng 
để đốn cây hoặc phát quang (nhóm 84.29 hoặc 84.30). 
(f) Máy thái củ cải đường loại dùng trong công nghiệp (nhóm 84.38). 
(g) Máy chặt củi thuộc nhóm 84.39. 
(h) Máy tách vỏ cây bằng tia nước (nhóm 84.24) và máy bóc tách gỗ 
(nhóm 84.65 hoặc 84.79). 
(ij) Máy công cụ gia công gỗ (nhóm 84.65 hoặc 84.67). 
(k) Máy hút chân không loại thiết bị dùng để chải lông cho ngựa hoặc 
gia súc (nhóm 85.08) 
(l) Máy kéo được thiết kế chuyên để kéo khúc gỗ (khúc củi) (nhóm 
(m) Máy dùng để chăm sóc cho bê non mới sinh (nhóm 90.18). 
(n) Súng bắn để chống mưa đá (nhóm 93.03). 
(II) MÁY CHĂN NUÔI GIA CẦM, MÁY ẤP TRỨNG GIA CẦM 
VÀ THIẾT BỊ SƯỞI ẤM GIA CẦM MỚI NỞ 
Những máy này bao gồm:  
(A) Máy ấp trứng gia cầm được gắn với các thiết bị cho phép trứng, 
suchhoặcdriers, autoclaves for potatoes, fodder, etc., but germination 

được để trong các khay, đặt trong một môi trường được điều chỉnh tự 
động nhiệt độ, độ ẩm, luồng khí một cách chính. Những loại máy này 
có thể liên kết với một hệ thống điều khiển mà hệ thống này còn có thể 
được nối tới một máy ADP (máy xử lý dữ liệu tự động) cá nhân nhằm 
mục đích tối ưu hóa kết quả ấp trứng. Một số máy ấp trứng được biết 
đến như là máy ấp trứng kết hợp còn bao gồm chức năng ấp nhiệt. 
(B) Máy ấp. Các loại máy này được lắp các thiết bị để điều khiển nhiệt 
độ và sự tuần hoàn của không khí, trứng được đặt trong các rổ hoặc 
khay đặc biệt để ấp. 
(C) Thiết bị sưởi ấm gia cầm mới nở là các thiết bị lớn hơn có thiết bị 
sưởi hoặc làm mát, được dùng để nuôi gà con. 
(D) Các chuồng nuôi gà đẻ trứng hoặc các chuồng nuôi nhốt tập 
trung, là những cơ sở lớn được trang bị các thiết bị tự động để làm 
đầy các máng đựng thức ăn, rửa sàn và thu thập trứng. 
(E) Máy soi trứng (hoặc máy kiểm tra trứng) với các đặc điểm cơ khí 
(bao gồm các máy kiểm tra quang điện), trừ những đèn kiểm tra tĩnh.  
Loại trừ những máy loại này mà được gắn với cơ cấu cơ khí lựa 
chọn phân cấp (nhóm 84.33). 
(F) Thiết bị xác định tính giới tính và tiêm vắc xin, cho phép các máy 
ấp trứng phân chia gà trống, mái riêng biệt và tiêm chủng cho chúng. 
Những máy này không được thiết kế để sử dụng trong phẫu thuật thú ý. 
Nhóm này không bao gồm các máy, thường được biết đến như là những 
máy (hệ thống) đếm và xếp gà vào thùng. Các máy dạng này có khả 
năng đếm và đặt gà vào các thùng (hộp) hoàn toàn tự động (nhóm 
84.22); sắp xếp gà là chức năng cơ bản đầu tiên, đếm đơn thuần chỉ là 
chức năng thứ hai cho phép đặt gà vào thùng với một số lượng cố định, 
được quyết định trước phù hợp với kích cỡ của thùng (hộp). 
(III) MÁY NUÔI ONG 
Các máy này gồm:  
(A) Máy ép mật ong. 

(B) Máy tạo hình sáp thành những tầng lỗ tổ ong. 
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Tổ ong, được phân loại theo vật liệu cấu thành (thường thuộc nhóm 
(b) Bể nước nóng để làm nóng chảy lại các tầng ong, kể cả những máy 
có trục vít ép (nhóm 84.19). 
(c) Máy chiết xuất mật ong loại li tâm (nhóm 84.21). 
(d) Máy phun bột hoặc chất lỏng hoặc các thiết bị xông khói thuộc 
nhóm 84.24. 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải tổng 
quát thuộc Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của những 
máy đã đề cập ở trên. 
84.37 - Máy làm sạch, tuyển chọn hoặc phân loại hạt giống, hạt hoặc 
các loại rau đậu đã được làm khô; máy dùng trong công nghiệp 
xay sát hoặc dùng cho chế biến ngũ cốc hoặc rau đậu đã được 
làm khô, trừ các loại máy nông nghiệp.  
 8437.10 - Máy làm sạch, tuyển chọn hoặc phân loại hạt giống, hạt 
hoặc các loại rau đậu đã được làm khô 
      8437.80 - Máy khác 
      8437.90 - Bộ phận 
(I) MÁY LÀM SẠCH, TUYỂN CHỌN HOẶC PHÂN LOẠI HẠT 
GIỐNG,  HẠThoặcCÁC LOẠI RAU ĐẬU ĐÃ ĐƯỢC LÀM KHÔ. 
Nhóm này bao gồm các máy, thuộc loại làm vườn, nông nghiệp hoặc 
công nghiệp, loại dùng để làm sạch, phân loại hoặc xếp bậc ngũ cốc,đậu 
khô, hạt giống, v.v.. bằng cách quạt, thổi, sàng, v.v.. Những máy này bao 
gồm: 

(1) Máy quạt sạch bao gồm một cái phễu cấp, một cái quạt và sàng 
(thường rung). 
(2) Máy quạt phân loại, máy quạt xoay và máy lựa chọn hạt giống 
hoặc hạt, những máy phức hợp hơn làm sạch bằng các luồng không 
khí, và phân hạng hạt theo trọng lượng, kích cỡ hoặc hình dạng. Một 
số máy lựa chọn hạt, v.v.. kết hợp với các thiết bị phụ trợ để bao bọc 
vỏ hạt bằng bột thuốc trừ sâu,.v.v.. 
(3) Băng tải sàng, thường được dùng để làm sạch hạt củ cải đường. 
Những băng tải này bao gồm một loạt các con lăn làm băng tải hoạt 
động liên tục ở dưới cái phễu cấp. Hạt lăn tự do xuống đáy băng tải 
còn phần bỏ đi nhẹ dính chặt vào bề mặt lông của vải băng tải. 
(4) Máy chuyên dùng lựa chọn và phân loại hạt để trồng trọt. 
Nhóm này cũng bao gồm máy được sử dụng trong công nghiệp xay để 
làm sạch, lựa chọn hoặc phân cấp (phân loại) hạt trước khi xay. Một số 
máy cơ bản dựa trên cùng nguyên lý như máy sẩy, máy sàng và máy 
phân loại như đã miêu tả ở trên, nhưng được thiết kế để dùng cho số 
lượng lớn hơn và chuyên được dùng trong công nghiệp xay, ví dụ: 
(1) Máy phân loại dạng gió xoáy để làm sạch ngũ cốc. 
(2) Máy làm sạch và phân loại bằng cách hoạt động quay tròn những 
chiếc trống có túi hoặc được đục lỗ. 
(3) Máy quạt thóc với những cái sàng dao động. 
(4) Máy phân loại kiểu dùng từ hoặc điện từ. 
(5) Máy rửa, máy loại bỏ sạn và máy "whizzing", có hoặc không có 
cột sấy khô phụ trợ. 
(6) Máy xát hạt. 
(7) Máy làm ẩm hạt, có hoặc không có thiết bị sấy hoặc thiết bị cân. 
Nhóm này cũng bao gồm các máy liên hợp làm sạch, lựa chọn và phân 
loại đồng thời, kể cả những máy có các thiết bị phân loại điện từ. 

(II) MÁY ĐƯỢC DÙNG TRONG CÔNG NGHIỆP XAY XÁT 
Ngoài máy làm sạch, lựa chọn hoặc phân loại hạt trước khi xay (xem 
Phần (I) ở trên), còn bao gồm các máy sau như máy móc được dùng 
trong công nghiệp xay:  
(A) Các máy trộn hoặc chuẩn bị hạt trước khi xay, ví dụ: 
   (1) Máy trộn hạt với số lượng đã định trước. 
(2) Máy xát hạt bao gồm những trống có các đầu nhọn quay ngược lại 
với các trục cao su và do vậy loại bỏ hạt bị lép. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm:  
(a) Máy hoạt động bởi sự thay đổi nhiệt độ (nhóm 84.19). Ví dụ, 
nhóm 84.19 gồm cột sấy khô hoặc làm mát, nhưng máy làm ẩm 
hạt với thiết bị nhiệt vẫn thuộc mục này. 
(b) Máy làm khô ly tâm (nhóm 84.21). 
(c) Băng tải và máy nâng (ví dụ: thuộc loại gầu xúc, băng chuyền hoặc 
máy hút bằng khí nén) (nhóm 84.28). 
(B) Máy nghiền hoặc xay, ví dụ: 
   (1) Máy nghiền. 
   (2) Máy cán hoặc máy xay "vỡ" bao gồm một loạt các con lăn có 
rãnh, đôi khi bên trong được làm mát, mà nó nghiền hạt thành các 
hạt có kích thước nhỏ, bột thô và bột mịn. 
   (3) Máy cán hoặc máy nghiền tinh với những con lăn nhẵn hơn, được 
thiết kế chuyên để biến hạt có kích nhỏ, bột thô, v.v.. thành bột mịn. 
   (4) Máy nghiền vụnhoặcmáy nghiền kiểu va đập được dùng để 
nghiền thành bột mịn, bột yến mạch thô, v.v.. bột này dính chặt 
vào những máy nghiền hoặc những trục lăn chuyển đổi trong các 
quy trình truớc. 
   (5) Máng cung cấp, máng này được thiết kế để đảm bảo hạt chảy đều 
đặn và liên tục vào các trục lăn nghiền. 
Nhóm này không bao gồm những máy nghiền loại dùng trong các 

trang trại nhỏ (nhóm 84.36). 
(C) Máy tuyển chọn hoặc phân loại bột mì từ tấm hoặc hạt bột thô. 
Nhóm này bao gồm máy phân loại bột mì, bột yến mạch, hạt lúa mì thô, 
tấm, v,v... được tạo ra bởi hoạt động xay. 
Việc phân loại này chịu chi phối bởi một loạt các loại máy thường được 
sử dụng hàng loạt sau đây: 
(1) Máy sàng (“bolter”) để tách bột mì từ hạt yến mạch đã được xay vỏ 
ngoài và bột yến mạch. Máy sàng ly tâm (hoặc “guồng”) gồm 
những cái trống bên trong được gắn với những thanh đập bên ngoài 
được bao phủ bởi lưới kim loại mỏng có kích cỡ lưới khác nhau. 
Máy sàng dao động hoặc máy rây gồm những ổ sàng đung đưa tự 
do được đặt trên cùng và những cái khay thu thập. 
(2) Máy sàng hoặc “máy lọc sạch”. Những máy này phân loại bột lúa 
mì thô v.v.. và cũng lọc cám bằng cách làm rung những cái sàng mà 
qua đó một luồng không khí được hút. 
(3) Máy làm sạch cám. 
(4) Máy trộn bột mì, cám,...; ngoài ra còn có máy bổ sung vitamin cho 
bột mì. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm:  
(a) Máy sấy bột mì (nhóm 84.19). 
(b) Máy lọc không khí và “quạt gió” được dùng để tách bụi ra khỏi 
không khí thải thoát ra từ máy lựa chọn hoặc máy giần sàng (nhóm 
(c) “Máy ghi chiết xuất” để ghi tỷ lệ bột mì thu được, và các thiết bị 
kiểm tra bột mì khác thuộc Chương 90. 
(III) MÁY DÙNG TRONG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NGŨ CỐC 
HOẶC RAU ĐẬU ĐÃ ĐƯỢC LÀM KHÔ 

Công việc liên quan ở đây nhìn chung được tiếp theo sau những hoạt 
động làm sạch, lựa chọn hoặc phân loại sơ bộ (xem phần (I) ở trên). 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy xay ngũ cốc hoặc rau đậu, quả khô. 
(2) Máy tách vỏ hoặc đánh bóng gạo. 
(3) Máy tách đậu Hà Lan, đậu lăng hoặc hạt đậu khô. 
(4) Máy chế biến yến mạch đã xay hoặc giã, ... có hoặc không kèm 
những thiết bị nhiệt phụ trợ. 
(5) Máy xay và máy nghiền đặc biệt để xay ngũ cốc (trừ lúa mì, xem 
Phần (I)(B) ở trên) hoặc rau đậu khô thành bột. 
(6) Máy “xén râu”  và máy “tỉa”  được thiết kế để loại bỏ “râu” hoặc 
“đầu nhọn” ra khỏi lúa mạch hoặc yến mạch. 
Phần này thuộc nhóm này không bao gồm:  
(a) Máy hoặc thiết bị hoạt động bằng việc trao đổi nhiệt độ (ví dụ: máy 
hấp, thiết bị sấy khô hoặc thiết bị rang để chế biến hạt hun khói hoặc 
hạt rang; máy chế biến lúa mạch thành mạch nha, máy rang xay 
bột,.v.v..) (nhóm 84.19). 
(b) Máy dùng để xử lý sau quá trình làm bột (ví dụ máy làm bánh, máy 
bảo quảnhoặcmáy làm macaroni) (nhóm 84.38). 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo các điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem chú giải tổng 
quát phần XVI), các bộ phận của các hàng hóa thuộc nhóm này cũng 
được phân loại ở đây, ví dụ: 
Sàng và các khung rây được sử dụng trong công nghiệp xay lúa mì (trừ 
vải dùng để rây, sàng đã hoặc chưa được làm sẵn thành sản phẩm - 
nhóm 59.11); trục trộn hoặc tách; trục lăn để xay lúa mì, hoặc bộ phận 
chuyển đổi,... 
Tuy nhiên loại trừ cối xay bằng đá (nhóm 68.04). 

84.38 - Máy chế biến công nghiệp hoặc sản xuất thực phẩm hoặc đồ 
uống, chưa được ghi hoặc chi tiết ở nơi khác trong Chương này, 
trừ các loại máy để chiết xuất hoặc chế biến dầu hoặc mỡ động 
vật hoặc dầu hoặc chất béo không bay hơi của thực vật hoặc vi 
sinh vật. 
       8438.10 - Máy làm bánh và máy để sản xuất mì macaroni, spaghetti 
hoặc các sản phẩm tương tự 
       8438.20 - Máy sản xuất mứt kẹo, ca cao, hoặc socola 
       8438.30 - Máy sản xuất đường 
       8438.40 - Máy sản xuất bia 
       8438.50 - Máy chế biến thịt gia súc hoặc gia cầm 
       8438.60 - Máy chế biến hoa quả, quả hạch hoặc rau 
       8438.80 - Máy khác 
       8438.90 - Bộ phận 
Nhóm này bao gồm các loại máy, chưa được ghi hoặc chi tiết trong 
chương này, dùng cho chế biến công nghiệp hoặc sản xuất thực phẩm 
hoặc đồ uống (để sử dụng ngay hoặc để bảo quản, sử dụng cho người 
hoặc sử dụng cho động vật), nhưng không bao gồm các loại máy dùng 
để chiết suất hoặc chế biến mỡ hoặc dầu động vật hoặc mỡ hoặc dầu 
thực vật không bay hơi (nhóm 84.79). Nhóm này cũng bao gồm các máy 
sử dụng trong công nghiệp hoặc thương mại, loại sử dụng trong nhà 
hàng hoặc cơ sở kinh doanh tương tự. 
Mặc dù vậy, người ta ghi nhận rằng, thực tế nhóm này loại trừ nhiều 
máy sử dụng cho những mục đích này, ví dụ: 
(a) Thiết bị gia đình (ví dụ máy xay thịt và máy cắt bánh mì) thuộc 
nhóm 82.10 hoặc nhóm 85.09. 
(b) Lò dùng trong công nghiệp hoặc trong phòng thí nghiệm (nhóm 
84.17 hoặc 85.14). 
(c) Máy và thiết bị nấu ăn, nướng, hầm,... (nhóm 84.19). 

(d) Máy li tâm và máy lọc (nhóm 84.21). 
(e) Máy đóng chai, đóng hộp, đóng gói,... (nhóm 84.22) 
(f) Máy dùng trong công nghiệp xay (nhóm 84.37). 
(I) MÁY LÀM BÁNH 
Những máy này được dùng để làm bánh mì, bánh bích quy, bánh nướng, 
bánh ngọt, v.v.. gồm có: 
(1) Máy trộn bột nhào hoặc bột bánh ngọt. Những máy này chủ yếu 
bao gồm những thùng chứa xoay hoặc tĩnh được trang bị những tay 
cầm hoặc cánh quạt gắn cố định hoặc chuyển động để nhào trộn bột. 
Những máy trộn tốc độ cao thường được gắn với lớp vỏ nước làm mát. 
(2) Máy phân chia bột nhào bao gồm những thùng chứa trong đó bột 
được phân phối thông qua một cái phễu, được phân chia cơ học thành 
các phần có kích cỡ bằng nhau. Đôi khi những máy này kèm những 
thiết bị để cân hoặc cán bột. 
(3) Máy đóng khuôn để biến những phần bột được chia thành những 
hình dạng theo yêu cầu để sẵn sàng đưa vào nướng. 
(4) Máy cắt lát bánh mì, bánh ngọt,.v.v.. 
(5) Máy được thiết kế để "làm vụn" bánh mì khô. 
(6) Máy cắt, tạo hình, cưa hoặc làm đầy bánh bích quy, bánh 
ngọt,.v.v.. 
(7) Máy cán bánh để định số lượng nhất định bột bánh nhào thành 
những chiếc bánh. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Lò nướng bánh (nhóm 84.17 hoặc 85.14). 
(b) Máy cán bột thuộc nhóm 84.20. 
(II) MÁY ĐỂ SẢN XUẤT MÌ MACARONI, SPAGHETTI HOẶC 
CÁC SẢN PHẨM TƯƠNG TỰ 

Nhóm này bao gồm:  
(1) Máy trộn để chế biến bột mì macaroni dạng nhão. 
(2) Máy cắt hoặc rập khuôn những hình dạng đặc biệt từ bột nhào đã 
được cán thành dạng tấm mỏng. Những máy này thường kèm theo 
những thiết bị để cán bột. 
(3) Máy ép đùn liên tục mì macaroni, spaghetti,.v.v... Chữ, con số và 
những hình thù đặc biệt khác có thể được tạo ra bằng máy ép đùn 
được trang bị những khuôn dập hình dạng phù hợp; sau đó bột được 
cắt ra tới một độ dầy đã định bằng một con dao xoay được gắn cố 
định trên phía ngoài của (khuôn kéo dây). 
(4) Máy làm đầy món ravioli,.v.v.. 
(5) Máy xoắn mì macaroni, mì sợi, v.v.. Máy xoắn mì macaroin, mì sợi, 
v.v.. thành cuộn, v.v.. 
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Máy sấy khô sơ bộ hoặc sấy khô mì macaroni (nhóm 84.19). 
(b) Máy cán bột nhào mì macaroni, bột bánh ngọt, v.v.. thành dạng 
miếng mỏng (nhóm 84.20). 
(III) MÁY SẢN XUẤT MỨT KẸO 
Nhóm này bao gồm:  
(1) Máy nghiền hoặc nghiền nát để chế biến đường dạng bột. 
(2) Máy trộn mứt kẹo. Những máy này chủ yếu thường bao gồm những 
thùng chứa được gắn với những thiết bị khuấy hoặc nghiền cơ khí, và 
thường được gắn với những cuộn dây hoặc bao làm nóng hoặc làm 
mát. 
(3) Máy “kéo dài” được dùng để nhào trộn hỗn hợp đường dẻo bằng 
cách quay tròn những tay quay. 
(4) Chảo làm kẹo bọc đường. Những chảo này gồm những chảo hình 
bán cầu, thường bằng đồng đỏ hoặc thủy tinh, xoay trên một trục 

nghiêng và như vậy bao phủ những nhân cứng (ví dụ: quả hạnh đào) 
bằng đường, sô cô la,... Nhóm này bao gồm những chảo kéo hoặc 
được làm nóng từ nguồn bên ngoài (luồng khí nóng, bếp ga, v.v.. ), 
hoặc những chảo này tự chúng có kèm theo các bộ phận gia nhiệt. 
(5) Máy được thiết kế để đúc khuôn, cắt hoặc tạo hình mứt kẹo. 
Nhóm này không bao gồm máy đun đường hoặc thiết bị làm nóng khác 
(nhóm 84.19) hoặc thiết bị làm mát (nhóm 84.18 hoặc 84.19). 
(IV) MÁY SẢN XUẤT CA CAO HOẶC SÔ CÔ LA 
Nhóm này bao gồm:  
(1) Máy bóc vỏ, loại bỏ mầm, hoặc nghiền hạt ca cao rang thành 
dạng "hạt đầu nhọn". 
(2) Máy trộn, nhào hoặc nghiền hạt đã được nghiền thô và bột nhão để 
tạo thành "khối ca cao". 
(3) Máy ép để chiết suất bơ ca cao từ "khối ca cao". Những máy này 
luôn luôn được chuẩn bị sẵn để làm nóng bột nhão để tạo điều kiện 
cho việc chiết suất bơ. 
(4) Máy chế biến bột ca cao bằng cách nghiền những bánh còn lại sau 
khi chiết suất bơ ca cao. Thông thường những máy này rây và phân 
loại bột, và đôi khi trộn bột với những sản phẩm khác để có thêm mùi 
thơm hoặc độ hòa tan. 
(5) Máy trộn bơ ca cao, bột ca cao, đường, v.v.. Những máy này thường 
kèm các thiết bị để cân đo số lượng được trộn. 
(6) Máy cán và lọc hỗn hợp. 
(7) Máy hoàn thiện sô cô la. Những máy này chủ yếu bao gồm những 
thùng đựng được gắn với thiết bị làm nóng và những con lăn, máy 
nghiền, v.v.. có động lực, do đó những bộ phận cấu thành của hỗn 
hợp được hòa trộn và xử lý nhiệt. 

(8) Máy làm việc trước khi đổ khuôn, đồng nhất sô cô la và chia sô 
cô la thành những phần đều nhau bằng áp suất và sức ép. 
(9) Máy tạo bánh và đổ khuôn, thường kèm các thiết bị làm rung. 
Những máy này cũng thường chứa đựng những bộ phận làm nóng 
trong phần đổ khuôn và làm lạnh các khuôn. 
(10) Máy làm vỏ ngoài chủ yếu bao gồm một băng chuyền mà trên đó 
bánh, kẹo hoặc phần nhân khác được bao phủ bằng cách đẩy chúng 
qua các bình bơm phun hoặc các thùng sô cô lahoặckẹo nấu chảy. 
Những máy này luôn luôn kèm theo các bộ phận làm nóng. 
(V) MÁY SẢN XUẤT ĐƯỜNG 
Loại máy được dùng để chiết xuất nước đường phụ thuộc vào việc sử 
dụng cây mía hoặc củ cải đường. Tuy nhiên, những máy được dùng để 
chiết xuất đường từ nước hoa quả rất giống mỗi trường hợp trên. 
(A) Máy được dùng để chiết xuất nước ép từ cây mía, ví dụ: 
   (1) Máy cắt hoặc chẻ sơ, gồm một loạt dao hai lưỡi xoay với tốc độ 
cao và do vậy cắt cây mía thành từng dóng dài. 
   (2) Máy cắt vụn trong đó cây mía được đưa qua giữa hai con lăn có 
răng xoay ở các tốc độ khác nhau và do vậy bị xé thành các mảnh 
vụn. 
   (3) Máy nghiền, chủ yếu bao gồm các con lăn kim loại có thể điều 
chỉnh được, có nếp. Một số máy kết hợp các hoạt động xé vụn và 
nghiền. 
   (4) Máy nghiền lăn, thường bao gồm một loạt các con lăn để chiết 
xuất nước mía từ cây mía đã được ép. Thông thường chúng bao 
gồm máy cung cấp vật liệu và cơ chế băng chuyền, thiết bị phun 
nước lên cây mía trong khi lăn và các thùng ngâm. 
(B) Máy chiết xuất nước từ củ cải đường, ví dụ: 
   (1) Máy rửa bao gồm máy khuấy hoặc máy móc tương tự hoạt động 
trong những máng, thùng chứa lớn,.v.v.. 
   (2) Máy cắt lát. Những máy này có thể là những ống hình trụ lớn mà 
đáy của chúng bao gồm những đĩa xoay được gắn với những lưỡi 

cắt, hoặc bao gồm những trống xoay mà những bề mặt bên trong 
của chúng được gắn dao mà những dao này ngược với hướng củ 
cải đường được đưa vào, bằng những cái đĩa được thiết kế đặc biệt 
hoặc bằng lực ly tâm. 
   (3) Thiết bị khuyếch tán để chiết xuất nước từ củ cải đường đã 
được thái bằng cách thẩm thấu. Mỗi máy khuyếch tán bao gồm 
một "thiết bị phát nhiệt" trong đó nước được đun nóng bằng một 
cuộn dây hơi nước và một thùng khuyếch tán lớn trong đó đường 
được chiết xuất từ những mẩu củ cải đường bằng nước nóng. 
Nhóm này còn bao gồm thùng khuyếch tán được trình bày riêng 
rẽ. Tuy nhiên, loại trừ “thiết bị phát nhiệt" được trình bày riêng rẽ 
(nhóm 84.19). 
  (4) Máy ép bã. 
(C) Máy chiết xuất đường từ nước hoa quả, hoặc máy lọc đường, ví 
dụ: 
   (1) Các thùng chứa muối sunfit, với điều kiện chúng bao gồm máy 
khuấy cơ học, nhưng không bao gồm loại mà có thiết bị nhiệt 
(nhóm 84.19). 
   (2) Máy kết tinh được gắn với những thiết bị khuấy chậm. Khối mật 
("masse cuite") từ bộ phận làm đặc được làm lạnh ở đây bởi không 
khí bao quanh, và quá trình kết tinh đã được bắt đầu ở bộ phận đó 
được hoàn thành. 
   (3) Máy cưa hoặc chặt đường thành từng miếng,.v.v.. 
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Thùng lắng lọc, bộ phận cô đặc nước hoa quả, chảo đun chân không 
hoặc kết tinh và các máy móc khác thuộc nhóm 84.19. 
(b) Máy tách ly tâm và máy ép lọc (nhóm 84.21). 
(VI) MÁY SẢN XUẤT BIA 
Nhóm này bao gồm:  
(1) Máy làm nẩy mầm được gắn với những thiết bị khuấy chậm, trống 
xoay hoặc những thiết bị máy móc tương tự. 

(2) Xilanh xoay để loại bỏ chồi (mầm) ra khỏi mạch nha sau khi qua 
máy sấy và sàng. 
(3) Máy tán mạch nha. 
(4) Thùng ủ với điều kiện chúng chứa đựng những bộ khuấy cơ khí, 
v.v.. và không có bộ phận làm nóng. Trong những máy này mạch nha 
đã được ép được ngâm ủ với nước do đó hàm lượng tinh bột được 
chuyển hóa thành đường (sac -ca -rin hóa). 
(5) Thùng lọc, những thùng chứa lớn được gắn với những máy khuấy 
hoặc lắc, và với một đáy hai ngăn được đục lỗ để tách hạt của thùng ủ 
rượu bia từ men ủ. 
Như các khối chức năng được nêu trong Chú giải 4 phần XVI, nhóm này 
bao gồm máy ủ bia, bao gồm, không kể những cái khác, máy làm nẩy 
mầm, máy ép mạch nha, thùng ngâm ủ, thùng lọc. Tuy nhiên, loại trừ 
những thiết bị phụ trợ (ví dụ: máy đóng chai, máy in nhãn) và sẽ được 
phân loại theo nhóm phù hợp (xem Chú giải tổng quát Phần XVI). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Thùng ủ men không có bộ phận cơ khí hoặc làm mát; những thùng 
này được phân loại theo vật liệu cấu thành. 
(b) Máy sấy mạch nha; thùng ngâm và thùng ủ với những bộ phận làm 
nóng; thùng nấu hoa bia (cây hublong), hoặc để đun sôi chất chiết 
xuất của cây hoa bia với men ủ (nhóm 84.19); thùng ủ men với 
những bộ phận làm lạnh và máy làm lạnh bia (nhóm 84.18 hoặc 
(c) Máy ép lọc (nhóm 84.21). 
(VII) MÁY CHẾ BIẾN THỊT HOẶC THỊT GIA CẦM 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy mổ và máy xử lý các bước tiếp theo dùng cho động vật. 

(2) Máy làm sạch lông lợn. Những máy này bao gồm một cái giá đỡ 
xoay giữ thịt súc vật, và bao gồm một loạt thiết bị cạo chuyển động 
không ngừng hướng đối diện vào giá đỡ. 
(3) Máy cắt hoặc chặt thịt để chia nhỏ thịt súc vật,... bằng những cưa 
chuyển động vòng tròn, bằng những dao xoay,.v.v.. 
(4) Máy cưa hoặc chặt xương. 
(5) Máy đập thịt để làm cho thịt mềm hơn bằng hoạt động của những 
chiếc lược kim loại nhọn hoặc có hình lưỡi, những mảnh này cắt sợi 
gân. 
(6) Máy băm hoặc thái nhỏ thịt. 
(7) Máy làm sạch lòng. 
(8) Máy nhồi xúc xích. Những máy này chủ yếu bao gồm một khoang 
trục mà từ đó thịt được nhồi vào xúc xích bằng pít tông. 
(9) Máy thái lát thịt hoặc thịt lợn muối. 
(10) Máy ép khuôn thịt hoặc mỡ. 
(11) Máy hoặc thiết bị để giết thịt, nhổ lông hoặc moi ruột gia cầm 
(dao giật điện và cắt tiết, máy nhổ lông gia cầm công suất cao, dụng 
cụ moi ruột, máy cạo mề và tách phổi). 
(12) Máy ngâm tẩm hoặc muối thịt bao gồm những bình phun nước 
muối đậm đặc vận hành bằng tay được gắn liền với một cái bơm, 
hoặc một thiết bị băng chuyền hoàn toàn tự động, đưa thịt vào một 
lưới sắt có những kim tiêm nước muối đậm đặc. 
Nhóm này loại trừ nồi hơi, nồi áp suất, tủ sấy và máy móc hoặc thiết bị 
tương tự thuộc nhóm 84.19. 
(VIII) MÁY CHẾ BIẾN HOA QUẢ, QUẢ HẠCH HOẶC RAU 

Nhóm này bao gồm:  
(A) Máy gọt vỏ, ví dụ: 
(1) Máy gọt cạo (ví dụ dùng để gọt khoai tây), gồm một thùng chứa 
xoay với những vách ngăn bào mòn bên trong. 
(2) Máy gọt (ví dụ dùng để gọt táo và lê) trong máy gọt này những 
lưỡi dao có thể điều chỉnh gọt vỏ hoa quả thành hình xoắn ốc. 
Những máy này cũng thường có những thiết bị lấy lõi, bỏ hột,.v.v.. 
(3) Máy gọt hoa quả thuộc họ cam quýt. Những máy này thường cắt 
vỏ thành bốn hoặc tách quả ra khỏi vỏ trước khi cắt thành các nửa. 
(4) Dụng cụ bóc vỏ hóa học. Những máy này thường bao gồm một 
băng chuyền hoặc thùng rỗng xoay mà trên đó hoa quả hoặc rau 
được đẩy qua những bình xịt hoặc những bình chứa nước nóng, 
dung dịch kiềm,... Sau đó hoa quả hoặc rau được đổ mạnh vào một 
thùng rửa để loại bỏ vỏ. Những máy gọt được phân vào nhóm này 
dù chúng có được kết hợp với bộ phận làm nóng nước hoặc dung 
dịch kiềmhoặckhông. 
(B) Máy bóc vỏ đậu hoặc rau quả tương tự. Những máy này bao gồm 
một cái thùng rỗng xoay tròn đục lỗ được gắn với những dụng cụ 
dùng để đập. 
(C) Máy cắt những đầu đậu xanh. 
(D) Máy loại bỏ cuống, v.v.. , ra khỏi qủa lý chua, quả lý gai, quả 
anh đào, quả nho,.v.v.. 
(E) Máy loại bỏ hạt, hột, ... ra khỏi quả. 
(F) Máy bóc vỏ quả hạch 
(G) Máy mài hoặc cắt quả, rau, cây sắn, v.v.. tươi hoặc khô. 
(H) Máy cắt hoặc ướp muối bắp cải để làm món dưa cải bắp. 
(IJ) Máy nghiền hoa quả hoặc rau để chế biến mứt, nước sốt, nước cốt 
cà chua, v.v.. nhưng không bao gồm những máy ép nước hoa quả (ví 
dụ quả đào, nho và cà chua) (nhóm 84.35). 
Nhóm này không bao gồm: 
jams, sauces, tomato purée, etc., but not including presses for fruit 

(a) Máy gọt nhờ nhiệt hoặc bằng lửa (nhóm 84.17). 
(b) Máy làm tái rau hoặc máy làm nóng để chế biến miếng khoai tây 
mỏng và máy khác thuộc nhóm 84.19. 
(c) Máy phân loại rau hoặc hoa quả (nhóm 84.33). 
(IX) MÁY CHẾ BIẾN CÁ, ĐỘNG VẬT CÓ VỎ 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Máy đánh vẩy, lột da, moi ruột hoặc loại bỏ đầu, đuôi, xương,.v.v.. 
(2) Máy mổ cá, thái hoặc cắt thành từng miếng (phi lê),.v.v.. 
(3) Máy nậy vỏ hoặc cắt nhỏ động vật có vỏ. 
(4) Máy nghiền để chế biến bột cá từ cá khô. 
Nhóm này không bao gồm thiết bị rán, hun khói hoặc làm chín, hoặc 
máy móc hoặc thiết bị khác thuộc nhóm 84.19. 
(X) MÁY KHÁC DÙNG ĐỂ CHẾ BIẾN ĐỒ UỐNG HOẶC ĐỒ ĂN 
TRONG CÔNG NGHIỆP 
Nhóm này bao gồm:  
(1) Thiết bị cơ khí axetic hóa (được dùng trong làm dấm). 
(2) Máy bóc vỏ hạt cà phê (kiểu trục, đĩa hoặc lưỡi dao). 
(3) Máy chiết xuất, loại có con lăn có đinh nhọn, để chiết xuất tinh dầu 
từ cam. 
(4) Máy cắt hoặc cán lá chè. 
CÁC BỘ PHẬN 
Theo những điều khoản chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải 
tổng quát Phần XVI), các bộ phận máy móc thuộc nhóm này cũng được 
phân loại ở đây (ví dụ, những khuôn (chảo) được dùng trong quá trình 

sản xuất bánh mì liên tục, khuôn của những máy đổ khuôn bánh kẹo, 
khuôn của máy đổ khuôn sô cô la và khuôn ép bằng đồng thiếc hoặc 
đồng thau, được sử dụng trong việc ép đùn để sản xuất mì macaroni, 
spaghetti, hoặc các sản phẩm tương tự). 
84.39 - Máy chế biến bột giấy từ vật liệu sợi xenlulô hoặc máy dùng 
cho quá trình sản xuất hoặc hoàn thiện giấy hoặc bìa. 
      8439.10 -  Máy chế biến bột giấy từ vật liệu sợi xenlulô 
      8439.20 - Máy dùng sản xuất giấy hoặc bìa 
      8439.30 - Máy dùng để hoàn thiện giấy hoặc bìa 
                    - Bộ phận: 
      8439.91 - - Của máy chế biến bột giấy từ vật liệu sợi xenlulô 
      8439.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm máy chế biến bột giấy sợi xen lu lô từ các vật liệu 
xenlulô khác nhau (gỗ, rơm, bã mía, giấy loại,v.v...), dù bột giấy hoặc để 
làm giấy hoặc để làm bìa giấy hoặc để phục vụ cho các mục đích khác 
(ví dụ, để sản xuất sợi tơ nhân tạo từ vít cô hoặc để sản xuất một số ván 
ép dùng trong xây dựng hoặc chất nổ). Nhóm này còn bao gồm máy sản 
xuất giấy hoặc bìa giấy hoặc từ bột giấy đã được chế biến trước (ví dụ 
bột gỗ cơ học hoặc hóa học), hoặc trực tiếp từ nguyên vật liệu thô (gỗ, 
rơm, bã mía, giấy loại,v.v...). Nhóm này cũng bao gồm máy dùng cho 
quá trình hoàn thiện giấy hoặc bìa giấy sẵn sàng để sử dụng cho các mục 
đích khác nhau, trừ các máy in thuộc nhóm 84.43. 
(I) MÁY CHẾ BIẾN BỘT GIẤY TỪ VẬT LIỆU SỢI XENLULÔ 

Nhóm này bao gồm:  
(A) Máy xử lý sơ bộ nguyên vật liệu thô trong quá trình chế biến bột 
giấy, ví dụ: 
   (1) Máy nghiền giấy loại hoặc bìa. 
   (2) Máy dỡ hoặc máy làm sạch rơm và các vật liệu tương tự. 
   (3) Máy nghiền tre và máy cắt rơm đặc biệt để phục vụ trong công 
nghiệp chế biến giấy. 
   (4) Máy cắt mẩu gỗ và máy phân loại gỗ vụn bằng rung. 
   (5) Máy nghiền gỗ khúc. 
   (6) “Máy tước sợi”, trong máy này các mẩu gỗ được chế biến thành 
sợi dưới áp suất cao sau đó được giảm áp suất đột ngột. 
(B) Máy lọc. Trong những máy này bột giấy loãng xuyên qua những tấm 
màn để lại bất cứ sợi nào bị lỗi và bất cứ mắt gỗ, cục, bụi bẩn, v.v.. 
Tuy nhiên, loại trừ những máy hoạt động bằng lực ly tâm (nhóm 
(C) Máy ép bột giấy. Trong những máy này đống bột giấy làm từ sợi 
gỗ, hoặc là bằng máy nghiền cơ khí hoặc bằng máy làm bột bằng 
phương pháp hóa học, được cô đặc và được tạo hình thành những tờ 
giấy. 
(D) Máy tinh chế. Những máy này thường bao gồm một thùng có hình 
nón với những thanh xoay ở bên trong đánh tan bất cứ một sợi hoặc 
cục to nào và cho phép lưu lại những phần đã được đánh tan, kỹ để 
đẩy thẳng qua. 
(E) Máy ép và máy nghiền xử lý bột giấy đã được chế biến trước nhằm 
mục đích chế tạo ra bột làm từ xen lu lô chuyên được cấu thành để 
phục vụ cho một ứng dụng đặc biệt (ví dụ, chế biến nitro xenlulô).  
(II) MÁY DÙNG SẢN XUẤT GIẤY HOẶC BÌA 
(C) Wet lappers (presse-pâte machines). In these the pulpy mass of 

Nhóm này bao gồm: 
(A) Máy tạo hình nguyên vật liệu thành những tờ giấy hoặc bìa giấy 
liên tiếp (ví dụ: máy xeo giấy sàng dọc hoặc máy xeo đôi). Đây là 
những máy rất phức tạp. Chúng bao gồm những bộ phận điều chỉnh 
để đẩy nguyên vật liệu vào khoang phía trước, một bộ phận cắt ở đầu 
ra cuối khoang phía trước để phân phối nguyên vật liệu lên băng vô 
tận, thường làm từ vải dệt từ sợi tổng hợp đơn, được đỡ bởi trục lăn, 
phoi, bàn lăn, cơ cấu lắc, khoang hút, trục lăn để tạo bóng mờ, trục 
lăn dài để tăng hàm lượng rắn khô và làm cứng giấy, trục lăn ép tạo 
hình có ít nhất một chỗ tiếp xúc, một trục lăn ép có thể bao gồm một 
giầy ép và một phần bao phủ, vòng đai có thể quay, trong đó giấy 
được ép vào một hoặc giữa hai đai nỉ liên tục hoặc các loại đai xử lý 
khác, trục lăn làm khô, khoang hơi nước... và thường cả trục lăn cán 
giấy và các thiết bị cuộn,.v.v.. 
(B) Máy kiểu thùng. Những máy này theo nguyên lý tương tự máy ở 
phần (A) nhưng thay vì bột giấy đổ ra lên tận băng chuyền liên tục 
bằng vải dệt, nó được lấy ra từ một cái thùng trên một trục xoay bằng 
vải dệt mà từ đó nó được chuyển tới một băng nỉ và sau đó được 
chuyển tới trục lăn ép (đôi khi thuộc loại hút) và cuối cùng được 
chuyển tới một loạt các trục làm khô. Giấy và bìa giấy được sản xuất 
hoặc dưới dạng một mạng liên tục hoặc dưới dạng tờ. Trong một số 
máy thuộc loại này, các tờ giấy bìa được tạo thành bởi lớp bột giấy 
quấn quanh trục. Khi tạo ra một độ dày vừa đủ, nó được cắt ra dưới 
dạng các tờ bằng tay hoặc bằng máy dọc theo chiều dài của trục này.  
(C) Máy sản xuất giấy hoặc bìa giấy nhiều lớp. Những máy này bao 
gồm các phần kết hợp khác nhau từ máy xeo giấy sàng dọc hoặc máy 
xeo đôi. Các lớp bột giấy khác nhau được sản xuất đồng thời và được 
kết hợp lại trong máy này dưới dạng ẩm mà không có chất gắn. 
(D) Thiết bị vẽ mẫu dùng để làm giấy mẫu dùng để thử nghiệm. 
Những máy này đôi khi được gọi là "máy vẽ mẫu" để kiểm tra việc 
sản xuất. 

(III)