CHU GIAI 2022 CHUONG 84 1
PHẦN XVI
MÁY VÀ CÁC TRANG THIẾT BỊ CƠ KHÍ; THIẾT BỊ ĐIỆN;
CÁC BỘ PHẬN CỦA CHÚNG; THIẾT BỊ GHI VÀ TÁI TẠO ÂM
THANH, THIẾT BỊ GHI VÀ TÁI TẠO HÌNH ẢNH, ÂM THANH
TRUYỀN HÌNH VÀ CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN CỦA CÁC
THIẾT BỊ TRÊN
Chú giải.
Phần này không bao gồm:
(a) Băng truyền hoặc băng tải hoặc dây đai, bằng plastic thuộc
Chương 39, hoặc bằng cao su lưu hóa (nhóm 40.10), hoặc các
sản phẩm khác sử dụng cho máy móc hoặc thiết bị cơ khí hoặc
thiết bị điện hoặc sản phẩm sử dụng cho mục đích kỹ thuật
khác, bằng cao su lưu hóa trừ loại cao su cứng (nhóm 40.16);
(b) Các sản phẩm bằng da thuộc hoặc bằng da thuộc tổng hợp
(nhóm 42.05) hoặc bằng da lông (nhóm 43.03), sử dụng trong
các máy móc hoặc thiết bị cơ khí hoặc các mục đích kỹ thuật
khác;
(c) Ống chỉ, trục cuốn, ống lõi sợi con, lõi ống sợi, lõi ống côn,
lõi guồng hoặc các loại lõi tương tự, bằng vật liệu bất kỳ (ví
dụ, Chương 39, 40, 44 hoặc 48 hoặc Phần XV);
(d) Thẻ đục lỗ răng cưa dùng cho máy Jacquard hoặc các máy
tương tự (ví dụ, Chương 39 hoặc 48 hoặc Phần XV);
(e) Băng truyền hoặc băng tải hoặc dây curoa bằng vật liệu dệt
(nhóm 59.10) hoặc các sản phẩm khác bằng vật liệu dệt dùng
cho các mục đích kỹ thuật (nhóm 59.11);
(f) Đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo)
thuộc các nhóm 71.02 đến 71.04, hoặc các sản phẩm làm toàn
bộ bằng loại đá này thuộc nhóm 71.16, trừ đá saphia và kim
cương đã được gia công nhưng chưa gắn để làm đầu kim đĩa
hát (nhóm 85.22);
(g) Các bộ phận có công dụng chung, như đã định nghĩa trong
Chú giải 2 Phần XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV), hoặc
các hàng hóa tương tự bằng plastic (Chương 39);
(h) Ống khoan (nhóm 73.04);
(ij) Đai liên tục bằng dây hoặc dải kim loại (Phần XV);
(k) Các sản phẩm thuộc Chương 82 hoặc 83;
(l) Các sản phẩm thuộc Phần XVII;
(m) Các sản phẩm thuộc Chương 90;
(n) Đồng hồ thời gian, đồng hồ cá nhân hoặc các sản phẩm khác
thuộc Chương 91;
(o) Các dụng cụ có thể thay đổi thuộc nhóm 82.07 hoặc bàn chải
sử dụng như các bộ phận của máy (nhóm 96.03); những dụng
cụ có thể thay đổi tương tự được phân loại theo vật liệu cấu
thành bộ phận làm việc của chúng (ví dụ, trong Chương 40,
42, 43, 45 hoặc Chương 59 hoặc nhóm 68.04 hoặc 69.09);
(p) Các sản phẩm thuộc Chương 95; hoặc
(q) Ruy băng máy chữ hoặc ruy băng tương tự, đã hoặc chưa cuộn
vào lõi hoặc nằm trong vỏ (được phân loại theo vật liệu cấu
thành, hoặc trong nhóm 96.12 nếu chúng đã nạp mực hoặc
được chuẩn bị khác để dùng cho in ấn), hoặc chân đế loại một
chân (monopod), hai chân (bipod), ba chân (tripod) và các mặt
hàng tương tự, thuộc nhóm 96.20.
Theo Chú giải 1 của Phần này, Chú giải 1 Chương 84 và Chú giải
1 Chương 85, các bộ phận của máy (ngoài các bộ phận của hàng
hóa thuộc nhóm 84.84, 85.44, 85.45, 85.46 hoặc 85.47) được phân
loại theo các qui tắc sau:
(a) Các bộ phận đã được chi tiết tại nhóm nào đó của Chương 84
hoặc 85 (trừ các nhóm 84.09, 84.31, 84.48, 84.66, 84.73,
84.87, 85.03, 85.22, 85.29, 85.38 và 85.48) được phân loại vào
nhóm đó trong mọi trường hợp;
(b) Các bộ phận khác, nếu phù hợp để chỉ sử dụng hoặc chủ yếu sử
dụng cho các loại máy cụ thể, hoặc cho một số loại máy cùng
nhóm (kể cả máy thuộc nhóm 84.79 hoặc 85.43) được phân
loại theo nhóm của các máy cụ thể đó hoặc vào nhóm thích
hợp như 84.09, 84.31, 84.48, 84.66, 84.73, 85.03, 85.22, 85.29
hoặc 85.38. Tuy nhiên, bộ phận phù hợp để chủ yếu sử dụng
cho các hàng hóa thuộc các nhóm 85.17 và 85.25 đến 85.28
được phân loại vào nhóm 85.17, và bộ phận phù hợp để chỉ sử
dụng hoặc chủ yếu sử dụng cho hàng hoá của nhóm 85.24
được phân loại vào nhóm 85.29;
(c) Tất cả các bộ phận khác được phân loại trong nhóm thích hợp
như 84.09, 84.31, 84.48, 84.66, 84.73, 85.03, 85.22, 85.29
hoặc 85.38 hoặc, nếu không thì, phân loại vào nhóm 84.87
hoặc 85.48.
Trừ khi có yêu cầu cụ thể khác, các loại máy liên hợp gồm hai
hoặc nhiều máy lắp ghép với nhau thành một thiết bị đồng bộ và
các loại máy khác được thiết kế để thực hiện hai hoặc nhiều chức
năng khác nhau hoặc bổ trợ lẫn nhau được phân loại theo bộ phận
chính hoặc máy thực hiện chức năng chính.
Khi một máy (kể cả một tổ hợp máy) gồm các bộ phận cấu thành
riêng lẻ (dù tách biệt hoặc được liên kết với nhau bằng ống, bằng
bộ phận truyền, bằng cáp điện hoặc bằng bộ phận khác) để thực
hiện một chức năng được xác định rõ đã quy định chi tiết tại một
trong các nhóm của Chương 84 hoặc Chương 85, thì toàn bộ máy
đó phải được phân loại vào nhóm phù hợp với chức năng xác định
của máy.
Theo mục đích của Chú giải này, khái niệm “máy” có nghĩa là bất
kỳ máy, máy móc, thiết bị, bộ dụng cụ hoặc dụng cụ đã nêu trong
các nhóm của Chương 84 hoặc 85.
(A) Trong toàn bộ Danh mục này, khái niệm “phế liệu và phế thải
điện và điện tử” có nghĩa là các cụm linh kiện điện và điện tử, tấm
mạch in, và các sản phẩm điện hoặc điện tử:
(i) đã bị làm cho không sử dụng được cho các mục đích ban đầu
của chúng do bị vỡ, cắt hoặc các quá trình khác hoặc không
phù hợp về mặt kinh tế để sửa chữa, tân trang hoặc cải tạo để
làm cho chúng phù hợp với mục đích ban đầu của chúng; và
(ii) được đóng gói hoặc vận chuyển theo cách không nhằm mục
đích bảo vệ các mặt hàng riêng lẻ khỏi bị hư hại trong quá trình
vận chuyển, xếp và dỡ hàng hóa.
(B) Các lô hàng hỗn hợp gồm “phế liệu và phế thải điện và điện tử”
và phế liệu và phế thải khác được phân loại vào nhóm 85.49.
(C) Phần này không bao gồm rác thải đô thị, như được định nghĩa
trong Chú giải 4 của Chương 38.
KHÁI QUÁT CHUNG
(I) NỘI DUNG KHÁI QUÁT CHUNG CỦA PHẦN
(A) Theo một số trường hợp ngoại lệ trong Chú giải của Phần này và
của Chương 84 và 85 và trừ các hàng hoá được nêu đặc biệt trong
các Phần khác, Phần này bao gồm tất cả các loại máy móc hoặc
thiết bị, bộ phận, dụng cụ và các trang thiết bị cơ khí hoặc điện
khác nhau, cùng với một số thiết bị và máy móc có thể không chạy
bằng cơ khí hoặc điện (như các nồi hơi và thiết bị buồng đặt nồi
hơi, thiết bị lọc...) và các bộ phận như các thiết bị và máy móc đó.
Những sản phẩm chính không bao gồm tại phần này là :
(a) Ống suốt, bô bin, ống chỉ… bằng mọi chất liệu (được phân
loại theo nguyên liệu cấu thành). Tuy nhiên, các trục cửi
không được coi là suốt hoặc bô bin hoặc những bộ phận phụ
trợ tương tự và thuộc nhóm 84.48.
(b) Các bộ phận có công dụng chung như đã được định nghĩa tại
Chú giải 2 của phần XV, như dây kim loại, xích, bu lông, đinh
vít và lò xo, bằng sắt hoặc thép (nhóm 73.12, 73.15, 73.18
hoặc 73.20) và những sản phẩm tương tự làm bằng kim loại
cơ bản khác (từ Chương 74 đến Chương 76 và từ Chương
78 đến Chương 81), khóa thuộc nhóm 83.01, các bộ phận
ghép và lắp để lắp vào cửa ra vào, cửa sổ,… thuộc nhóm
83.02. Những hàng hóa tương tự bằng plastic không nằm
trong Phần này và được xếp vào Chương 39.
(c) Các dụng cụ có thể thay đổi thuộc nhóm 82.07; các dụng cụ có
thể thay đổi được tương tự khác được phân loại theo chất liệu
cấu thành của các phần làm việc của chúng (ví dụ, Chương 40
(cao su), Chương 42 (da thuộc), Chương 43 (da lông), Chương
45 (lie), hoặc Chương 59 (hàng dệt) hoặc trong nhóm 68.04 (vât
liệu mài…) hoặc nhóm 69.09 (đồ gốm sứ),...).
(d) Các hàng hóa khác thuộc Chương 82 (ví dụ, dụng cụ, mũi
dụng cụ, dao và lưỡi cắt, tông đơ cắt tóc không chạy điện, và
một số dụng cụ cơ khí khác dùng trong gia đình) và các sản
phẩm thuộc Chương 83.
(e) Các sản phẩm thuộc Phần XVII.
(f) Các sản phẩm thuộc Phần XVIII.
(g) Các loại vũ khí và đạn dược (Chương 93).
(h) Máy móc và thiết bị mang tính chất của đồ chơi, trò chơi hoặc
dụng cụ thể thao và các bộ phận và các phụ kiện của chúng
(kể cả môtơ và động cơ không chạy điện nhưng trừ bơm chất
lỏng và máy lọc hoặc tinh chế chất lỏng hoặc các loại khí
thuộc nhóm 84.13 hoặc 84.21, và cũng loại trừ động cơ chạy
điện, biến thế điện và máy điều khiển từ xa bằng sóng radio,
được xếp trong nhóm 85.01, 85.04, hoặc 85.26) mà nó thích
hợp chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho đồ chơi, trò chơi hoặc
các dụng cụ thể thao (Chương 95).
(ij) Các loại chổi được dùng như là các bộ phận của máy móc
(nhóm 96.03).
(B) Thông thường, hàng hoá của phần này có thể bằng bất kỳ chất liệu
nào. Trong phần lớn các trường hợp, hàng hoá có thể làm từ kim
loại cơ bản, nhưng Phần này cũng bao gồm một số máy móc bằng
các chất liệu khác (ví dụ, bơm hoàn toàn bằng plastic) và các bộ
phận bằng plastic, gỗ, kim loại quý... .
Tuy nhiên, phần này không bao gồm :
(a) Băng truyền hoặc băng tải hoặc dây đai bằng plastic (Chương
39); các sản phẩm bằng cao su lưu hóa không được làm cứng
(ví dụ băng truyền hoặc băng tải hoặc dây đai) (nhóm 40.10),
các loại săm và lốp xe,… (các nhóm từ 40.11 đến 40.13) và
vòng đệm,… (nhóm 40.16).
(b) Các sản phẩm bằng da thuộc hoặc bằng da tổng hợp (ví dụ,
miếng đệm trong khung cửi) (nhóm 42.05) hoặc bằng da lông
(nhóm 43.03).
(c) Những sản phẩm bằng vật liệu dệt như băng chuyền hoặc băng
tải (nhóm 59.10), miếng đệm bằng phớt và đĩa đánh bóng
(nhóm 59.11).
(d) Một số hàng hoá bằng gốm sứ thuộc Chương 69 (xem Chú
giải Tổng quát của Chương 84 và Chương 85).
(e) Một số sản phẩm bằng thủy tinh của Chương 70 (xem Chú
giải Tổng quát của Chương 84 và Chương 85).
(f) Các sản phẩm hoàn toàn bằng đá quý hoặc đá bán quý (tự
nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo) (các nhóm 71.02, 71.03, 71.04
hoặc 71.16) trừ đá saphia và kim cương đã được gia công làm
kim đĩa hát nhưng chưa được lắp ráp (nhóm 85.22).
(g) Đai liên tục bằng dây hoặc dải kim loại (Phần XV).
(II) CÁC BỘ PHẬN
(Chú giải 2 của Phần này)
Thông thường, các bộ phận phù hợp chỉ để sử dụng hoặc chủ yếu sử
dụng cho một loại máy hoặc thiết bị cụ thể (kể cả những hàng hóa thuộc
nhóm 84.79 hoặc thuộc nhóm 85.43), hoặc với một nhóm máy móc và
thiết bị được xếp cùng trong một nhóm, sẽ được phân loại vào cùng
nhóm như là các máy móc và thiết bị đó với điều kiện không bị loại trừ
theo quy định tại Phần (I) ở trên. Tuy nhiên, vẫn quy định các nhóm
riêng rẽ đối với:
(A) Các bộ phận của động cơ thuộc nhóm 84.07 hoặc 84.08 (nhóm
(B) Các bộ phận của máy móc thuộc các nhóm từ 84.25 đến 84.30
(nhóm 84.31).
(C) Các bộ phận của máy dệt thuộc các nhóm từ 84.44 đến 84.47
(nhóm 84.48).
(D) Các bộ phận của máy công cụ thuộc các nhóm từ 84.56 đến 84.65
(nhóm 84.66).
Các bộ phận của máy văn phòng thuộc các nhóm từ 84.70 đến
84.72 (nhóm 84.73).
Các bộ phận của máy thuộc nhóm 85.01 hoặc 85.02 (nhóm 85.03).
(G) Các bộ phận của các thiết bị thuộc các nhóm từ 85.19 hoặc 85.21
(nhóm 85.22).
(H) Các bộ phận của các thiết bị thuộc các nhóm từ 85.25 đến 85.28
(nhóm 85.29).
(IJ) Các bộ phận của các thiết bị thuộc các nhóm 85.35, 85.36 hoặc
85.37 (nhóm 85.38).
Những nguyên tắc trên không áp dụng với các bộ phận mà chính bản
thân chúng đã tạo thành một sản phẩm được xếp vào một nhóm của Phần
này (trừ các nhóm 84.87 và 85.48); những bộ phận này trong mọi trường
hợp sẽ phải xếp vào đúng nhóm hàng phù hợp với chúng ngay cả khi
chúng được thiết kế đặc biệt để sử dụng như là bộ phận của một loại máy
cụ thể. Nguyên tắc này áp dụng với:
Bơm và máy nén (nhóm 84.13 và 84.14).
Máy và thiết bị dùng để lọc, v.v..., thuộc nhóm 84.21.
Máy nâng và máy xếp hàng (thuộc các nhóm 84.25, 84.26, 84.28
hoặc 84.86).
Van vòi các loại…. (nhóm 84.81).
Ổ bi hoặc ổ đũa các loại, và các bi thép đã đánh bóng có dung sai
không quá 1% hoặc 0.05 mm, theo mức dung sai nhỏ hơn (nhóm
Trục truyền động (kể cả trục cam và trục khuỷu), tay biên, thân ổ,
gối đỡ trục dùng ổ trượt, bánh răng và cụm bánh răng (bao gồm cả
bánh răng ma sát, hộp số và các cơ cấu điều tốc khác), bánh đà,
ròng rọc và khối puli, ly hợp và khớp nối trục (nhóm 84.83).
Đệm và gioăng tương tự thuộc nhóm 84.84.
Động cơ điện thuộc nhóm 85.01.
Biến thế điện và các máy móc và thiết bị khác thuộc nhóm 85.04.
(10) Ắc quy điện đã được lắp ráp thành bộ hoàn chỉnh (heading 85.07).
(11) Điện trở nhiệt điện (nhóm 85.16).
(12) Tụ điện (nhóm 85.32).
(13) Thiết bị điện dùng để ngắt mạch, bảo vệ mạch điện… (ví dụ, hộp
đấu nối, cầu chì, bộ phận ngắt mạch...) (các nhóm 85.35 và 85.36).
(14) Bảng, panen, giá đỡ, bàn tủ và các loại thiết bị khác dùng để điều
khiển hoặc phân phối điện (nhóm 85.37).
(15) Các loại đèn thuộc nhóm 85.39.
(16) Đèn điện tử, ống điện tử thuộc nhóm 85.40 và điôt, tranzito…
thuộc nhóm 85.41.
(17) Điện cực than (ví dụ, điện cực than đèn hồ quang, điện cực than và
chổi than) (nhóm 85.45).
(18) Các bộ phận cách điện làm bằng chất liệu bất kỳ (nhóm 85.46).
(19) Phụ kiện cách điện dùng cho máy điện… thuộc nhóm 85.47.
Những bộ phận khác mà có thể được nhận biết như trên, nhưng không
phù hợp để chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho một máy cụ thể hoặc cho
một số máy (ví dụ, có thể sử dụng chung cho một số lượng máy thuộc
các nhóm khác nhau) được phân loại vào nhóm 84.87 (nếu không chạy
bằng điện) hoặc trong nhóm 85.48 (nếu chạy bằng điện), trừ khi chúng
bị loại trừ bởi các quy định được nêu ở trên.
Các quy định để phân loại các bộ phận trên đây không áp dụng với các
bộ phận của các hàng hóa nằm trong các nhóm 84.84 (đệm,…), 85.44
(dây cách điện), 85.45 (điện cực than), 85.46 (cách điện các loại) hoặc
85.47 (ống dẫn dây điện); nói chung, các bộ phận như vậy được phân
loại theo Chương của chất liệu cấu thành phù hợp.
Các bộ phận máy móc dù đã hoặc chưa là thành phẩm để sẵn sàng sử
dụng vẫn được phân loại trong phần này. Tuy nhiên, những phôi kim
loại thô bằng sắt hoặc thép được phân loại vào nhóm 72.07.
(III) CÁC THIẾT BỊ PHỤ TRỢ
(Xem Quy tắc chú giải tổng quát 2 (a) và 3(b) và Chú giải
Phần 3 và 4 của Phần này)
Các công cụ và thiết bị phụ trợ (ví dụ, áp kế, nhiệt kế, máy đo mức hoặc
những dụng cụ đo lường hoặc kiểm tra, máy đếm sản phẩm, công tắc
hẹn giờ, bảng panel điều khiển, bộ điều chỉnh tự động) gắn cùng với máy
hoặc thiết bị mà chúng thường được phân loại cùng máy và thiết bị đó,
nếu các bộ phận này được thiết kế để đo, kiểm tra, điều khiển, điều chỉnh
một máy móc hoặc thiết bị đặc biệt (chúng có thể là sự kết hợp của các
máy) (xem phần VI dưới đây) hoặc một khối chức năng (xem phần VII
dưới đây)). Tuy nhiên, các dụng cụ và máy móc phụ trợ, được thiết kế để
đo lường, kiểm tra, kiểm định hoặc điều chỉnh nhiều máy móc (dù cùng
hoặc khác loại) sẽ được xếp vào nhóm phù hợp với chúng.
(IV) MÁY MÓC CHƯA HOÀN CHỈNH
(Xem Quy tắc Chú giải Tổng quát 2 (a))
Trong toàn bộ nội dung Phần XVI, khi nhắc đến khái niệm máy móc
hoặc thiết bị thì không chỉ bao gồm máy móc hoàn chỉnh, mà còn liên
quan đến máy móc chưa hoàn chỉnh (ví dụ: việc lắp ráp các bộ phận của
máy tới mức mà nó đã có những đặc trưng cơ bản của chiếc máy hoàn
chỉnh). Như vậy, một máy móc chỉ thiếu tay lái, đế, trục cán là, giá để
dụng cụ…. được phân loại vào cùng nhóm với máy móc đó, và không
phân loại riêng rẽ vào bất kỳ nhóm nào quy định cho các bộ phận.
Tương tự, máy móc hoặc thiết bị thường có gắn động cơ điện (ví dụ,
dụng cụ cơ điện cầm tay thuộc nhóm 84.67) được phân loại trong cùng
nhóm như là một máy móc hoàn chỉnh ngay cả khi chúng chưa được gắn
động cơ.
(V) MÁY MÓC ĐƯỢC THÁO RỜI
(Xem Quy tắc Chú giải Tổng quát 2 (a))
Để tiện cho việc vận chuyển, nhiều máy móc và thiết bị được vận
chuyển ở tình trạng tháo rời. Mặc dù, trên thực tế, hàng hóa là một tập
hợp của những bộ phận tháo rời, chúng được phân loại như máy móc
hoàn chỉnh đang được xem xét và không được phân loại vào bất kỳ
nhóm riêng rẽ dành cho các bộ phận. Quy tắc tương tự được áp dụng với
máy móc chưa hoàn chỉnh có các đặc tính của máy móc hoàn chỉnh (xem
phần (IV) ở trên), được tháo rời (xem Quy tắc chú giải tổng quát của
chương 84 và 85). Tuy nhiên, các bộ phận được tháo rời vượt quá số
lượng cần thiết của một máy móc hoàn chỉnh hoặc một máy móc chưa
hoàn chỉnh có các đặc điểm của một máy móc hoàn chỉnh, sẽ được phân
loại vào từng nhóm phù hợp với chúng.
(VI) MÁY ĐA CHỨC NĂNG VÀ CÁC MÁY TỔ HỢP
(Chú giải Phần 3)
Thông thường, máy đa chức năng được phân loại theo chức năng chính
của máy.
Máy đa chức năng là các máy, ví dụ, máy công cụ để gia công kim loại
sử dụng các công cụ có thể hoán đổi cho nhau, cho phép các máy này
thực hiện nhiều chức năng hoạt động khác nhau (ví dụ, cán, khoan, mài).
Khi không thể xác định được chức năng chính, và trong trường hợp, như
quy định tại Chú giải 3 của phần này, khi không có yêu cầu khác, thì cần
áp dụng Quy tắc chú giải tổng quát 3 (c); Trong những trường hợp như
vậy, đối với các máy đa chức năng có thể được phân loại trong các nhóm
từ 84.25 đến 84.30, trong các nhóm từ 84.58 đến 84.63 hoặc trong các
nhóm từ 84.70 đến 84.72.
Các loại máy tổ hợp bao gồm từ hai hoặc nhiều máy hoặc thiết bị thuộc các
loại khác nhau, được lắp ráp lại để tạo thành một tổ hợp, để thực hiện liên
tục hoặc đồng thời các chức năng riêng biệt mà các chức năng này thường
mang tính bổ sung và được mô tả trong các nhóm khác nhau thuộc phần
XVI, cũng được phân loại theo chức năng chính của máy tổ hợp.
Dưới đây là các ví dụ về những loại máy tổ hợp: ví dụ, máy in có gắn
máy phụ để cấp giấy (nhóm 84.43); máy làm hộp bìa giấy kết hợp với
máy hỗ trợ để in tên và các biểu tượng đơn giản (nhóm 84.41); các loại
lò nung, lò luyện dùng trong công nghiệp được kết hợp với các thiết bị
dùng để nâng hoặc chuyển hàng (thuộc các nhóm 84.17 hoặc 85.14); các
loại máy sản xuất thuốc lá kết hợp với những máy đóng gói (nhóm
Theo các quy định trên, máy móc thuộc các chủng loại khác nhau được
lắp cùng với nhau để tạo thành một tổ hợp, khi một loại được lắp vào
trong hoặc được lắp lên trên loại khác, hoặc được lắp trên cùng một giá
hoặc một khung đỡ hoặc được đặt trong một khung máy.
Các tập hợp máy không được xem là lắp cùng với nhau để tạo thành một
tổ hợp trừ khi các máy này được thiết kế để lắp ráp vĩnh viễn với nhau
hoặc lắp với một giá, đế, khung máy chung,... Loại này không bao gồm
những tổ hợp máy chỉ lắp gá tạm thời hoặc không phù hợp với việc lắp
ráp bình thường một máy tổ hợp.
Đế, khung hoặc khung máy chung có thể được đặt trên các bánh xe để
máy tổ hợp có thể di chuyển trong quá trình sử dụng, với điều kiện
không mang tính chất của một sản phẩm độc lập (như một phương tiện)
có thể được phân loại vào một nhóm cụ thể của Danh mục.
Nền, bệ đế bằng bê tông, tường, vách ngăn, trần, v.v... ngay cả khi được
thiết kế đặc biệt để phù hợp với các máy hoặc thiết bị, cũng không được
coi là đế chung liên kết các máy hoặc thiết bị ở dạng tổ hợp.
Chú giải 3 của phần XVI không cần được áp dụng khi máy tổ hợp đã
được phân loại cụ thể vào một nhóm, ví dụ một số loại máy điều hòa
nhiệt độ (nhóm 84.15).
Chú ý máy đa chức năng sẽ được phân loại theo quy định tại Chú giải 8 của
Chương 84, (ví dụ, máy công cụ để gia công kim loại nhưng đồng thời cũng
để gia công các chất liệu khác, các loại máy đột lỗ, được sử dụng rộng rãi
trong công nghiệp dệt cũng như trong công nghiệp giấy, da, plastic…).
(VII) CÁC ĐƠN VỊ MÁY CHỨC NĂNG
(Chú giải phần 4)
Chú giải này áp dụng khi một máy (kể cả một tổ hợp máy) gồm nhiều bộ
phận riêng biệt nhưng dự kiến được sử dụng để cùng nhau thực hiện một
chức năng được xác định cụ thể như được nêu tại một nhóm thuộc
Chương 84, hoặc phổ biến hơn trong Chương 85. Cả tổ hợp sẽ được
phân loại vào nhóm phù hợp với chức năng này, khi mà những thành
phần khác nhau (để thuận tiện hoặc do những lý do khác) vẫn để riêng lẻ
hoặc được kết nối với nhau qua hệ thống ống dẫn (dẫn không khí, khí
nén, dầu, v.v...) bằng các thiết bị được dùng để truyền năng lượng, bằng
dây cáp điện hoặc bằng các thiết bị khác.
Theo mục đích của Chú giải này, thuật ngữ “dự kiến được sử dụng để
cùng nhau thực hiện một chức năng được xác định cụ thể” chỉ bao gồm
các loại máy và tổ hợp máy chủ yếu thực hiện chức năng cụ thể của tổ
hợp máy đó, do đó, loại trừ những máy móc hoặc thiết bị đảm nhiệm các
chức năng phụ trợ và các chức năng phụ trợ này không tạo nên chức
năng chủ yếu của cả tổ hợp nói trên.
Dưới đây là những ví dụ về các đơn vị máy chức năng thuộc loại này
theo Chú giải 4 của Phần này:
Hệ thống thủy lực bao gồm một bộ phận tạo nguồn thủy lực (chủ
yếu bao gồm một bơm thủy lực, một động cơ điện, van điều khiển
và thùng chứa dầu), xi lanh thủy lực và ống dẫn hoặc ống nhỏ cần
thiết để nối xi lanh với đơn vị năng lượng thủy lực (nhóm 84.12).
Thiết bị làm lạnh gồm có các bộ phận không được lắp cùng nhau
để tạo thành một tổ hợp máy móc và được kết nối với nhau bởi các
ống dẫn vận chuyển chất lỏng để làm lạnh (nhóm 84.18).
Các hệ thống tưới bao gồm một trạm điều khiển gồm thiết bị lọc,
bơm phun, van đo… các hệ thống ống dẫn nhánh ở dưới đất và
một mạng lưới đặt trên bề mặt (nhóm 84.24).
Máy vắt sữa với các bộ phận riêng rẽ (bơm chân không, bộ phận
gây xung động, cốc dùng để vắt sữa và những thùng đựng) được
kết nối với nhau thông qua các ống mềm hoặc cứng (nhóm 84.34).
Tổ hợp máy làm bia bao gồm, không kể những cái khác, máy kích
thích hoặc nảy mầm, máy nghiền mạch nha, thùng nguyên liệu,
thùng lọc, v.v... (nhóm 84.38). Tuy nhiên, các thiết bị phụ trợ, (ví
dụ, máy đóng chai và máy in nhãn mác) không được xếp ở đây và
được phân loại trong nhóm phù hợp với chúng.
Các hệ thống sắp xếp thư chủ yếu bao gồm nhóm bàn điều khiển
mã, hệ thống kênh sắp xếp trước, máy sắp xếp trung gian, máy sắp
xếp cuối cùng, tất cả được điều khiển bởi một máy xử lý dữ liệu tự
động (nhóm 84.72).
Máy rải nhựa đường bao gồm các bộ phận riêng rẽ như phễu đổ
nguyên liệu, băng chuyền, máy sấy, động cơ rung, máy trộn, tháp dự
trữ và bộ phận điều khiển, được sắp xếp cùng nhau (nhóm 84.74).
Các máy móc dùng để lắp ráp đèn điện, trong đó các bộ phận cấu
thành được gắn với nhau bởi băng tải, bao gồm những thiết bị
dùng để xử lý nhiệt thuỷ tinh, bơm và những bộ phận để thử đèn
(nhóm 84.75).
Thiết bị hàn bao gồm mỏ hàn hoặc cặp hàn, với máy biến thế, máy
phát điện hoặc nắn dòng để cung cấp điện (nhóm 85.15).
(10) Máy phát điện thoại không dây cầm tay và microphone cầm tay
kèm theo với nó (nhóm 85.17).
(11) Thiết bị Ra đa và bộ phận tiếp năng lượng, bộ khuếch đại của ra
đa… (nhóm 85.26).
(12) Hệ thống thu tín hiệu truyền hình qua vệ tinh gồm có một bộ phận
thu tín hiệu, một chảo pa ra bôn phản quang, một rô ta tô kiểm soát
dùng cho chảo thu tín hiệu, cần thu tín hiệu (định hướng sóng),
kính phân cực, khối giảm nhiễu (LNB), bộ chuyển đổi và kiểm
soát từ xa bằng tia hồng ngoại (nhóm 85.28).
(13) Chuông chống trộm, ví dụ bao gồm một đèn tia hồng ngoại, một tế
bào quang điện và một chuông (nhóm 85.31).
Chú ý các bộ phận không phù hợp với các quy định của Chú giải 4 cùa
phần XVI được xếp trong các nhóm phù hợp với chúng. Ví dụ, quy định
áp dụng cho các hệ thống giám sát video mạch kín, bao gồm một tổ hợp
các camera và màn hiển thị video được kết nối bằng cáp đồng trục tới
một bộ điều khiển, chuyển mạch, thu phát âm thanh và có thể là các máy
xử lý dữ liệu tự động (để lưu dữ liệu) và/ hoặc máy ghi hình (để ghi
hình).
(VIII) MÁY MÓC DI ĐỘNG
Giống như đối với các máy tự hành hoặc những máy móc di động khác,
xem Chú giải của các nhóm dành cho các loại máy móc (ví dụ, máy
nâng và xếp thuộc các nhóm từ 84.25 đến 84.28, và máy đào thuộc các
nhóm từ 84.29 đến 84.30...), tham khảo các Chú giải của các Chương và
nhóm thuộc Phần XVII.
(IX) MÁY MÓC VÀ THIẾT BỊ SỬ DỤNG
TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
Máy móc và thiết bị của loại thuộc Phần này vẫn được xếp trong Phần
này ngay cả khi chúng chuyên được sử dụng trong các phòng thí nghiệm
hoặc có liên quan đến các dụng cụ đo lường và khoa học, với điều kiện
chúng không tạo thành các thiết bị dùng để trưng bày không cho các mục
đích công nghiệp của nhóm 90.23 hoặc các phương tiện đo lường, kiểm
tra thuộc Chương 90. Ví dụ, các lò nung nhỏ, thiết bị chưng cất, máy
nghiền, trộn, biến thế điện và tụ điện, dùng trong phòng thí nghiệm, vẫn
được phân loại trong phần này.
(X) PHẾ LIỆU VÀ PHẾ THẢI ĐIỆN VÀ ĐIỆN TỬ
(Chú giải phần 6)
Khái niệm “mục đích ban đầu”, trong Chú giải 6 của phần XVI, đề cập
đến việc sử dụng chức năng như là hàng hóa điện hoặc điện tử.
Chương 84
Lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí;
các bộ phận của chúng
Chú giải.
Chương này không bao gồm:
(a) Đá nghiền, đá mài hoặc các sản phẩm khác của Chương 68;
(b) Máy móc hoặc thiết bị (ví dụ, bơm) bằng vật liệu gốm sứ và
các bộ phận bằng gốm sứ của máy hoặc thiết bị bằng vật liệu
bất kỳ (Chương 69);
(c) Đồ thủy tinh dùng cho phòng thí nghiệm (nhóm 70.17); máy,
thiết bị hoặc các sản phẩm khác dùng cho các mục đích kỹ
thuật hoặc các bộ phận của chúng, bằng thủy tinh (nhóm 70.19
hoặc 70.20);
(d) Các sản phẩm thuộc nhóm 73.21 hoặc 73.22 hoặc các sản
phẩm tương tự bằng kim loại cơ bản khác (từ Chương 74 đến
Chương 76 hoặc từ Chương 78 đến Chương 81);
(e) Máy hút bụi thuộc nhóm 85.08;
(f) Thiết bị cơ điện gia dụng thuộc nhóm 85.09; camera kỹ thuật
số thuộc nhóm 85.25;
(g) Bộ tản nhiệt cho các hàng hóa của Phần XVII; hoặc
(h) Máy quét sàn cơ khí thao tác bằng tay, không có động cơ
(nhóm 96.03).
Theo nội dung của Chú giải 3 Phần XVI và Chú giải 11 của
Chương này, máy móc hoặc thiết bị thỏa mãn mô tả của một hoặc
nhiều nhóm từ 84.01 đến 84.24, hoặc nhóm 84.86 và đồng thời
thỏa mãn mô tả của một hoặc nhiều nhóm từ 84.25 đến 84.80 thì
được phân loại vào một nhóm thích hợp trong số các nhóm từ
84.01 đến 84.24 hoặc 84.86, mà không được phân loại vào một
trong các nhóm 84.25 đến 84.80.
(A) Tuy nhiên, nhóm 84.19 không bao gồm:
(i) Máy ươm hạt giống, máy ấp trứng gia cầm và thiết bị sưởi
ấm gia cầm mới nở (nhóm 84.36);
(ii) Máy làm ẩm hạt (nhóm 84.37);
(iii) Máy khuếch tán dùng để chiết xuất đường quả (nhóm
(iv) Máy để xử lý nhiệt đối với sợi dệt, vải hoặc các sản phẩm
dệt (nhóm 84.51); hoặc
(v) Thiết bị cho phòng thí nghiệm hoặc máy móc, thiết bị,
được thiết kế để hoạt động bằng cơ khí, trong đó sự thay đổi
nhiệt cho dù cần thiết chỉ là phần bổ sung.
(B) Nhóm 84.22 không bao gồm:
(i) Máy khâu dùng để đóng túi hoặc các loại bao bì tương tự
(nhóm 84.52); hoặc
(ii) Máy văn phòng thuộc nhóm 84.72.
(C) Nhóm 84.24 không bao gồm:
(i) Máy in phun mực (nhóm 84.43); hoặc
(ii) Máy cắt bằng tia nước (nhóm 84.56).
Máy công cụ để gia công loại vật liệu nào đó mà nó đáp ứng mô tả
trong nhóm 84.56 và đồng thời đáp ứng mô tả trong nhóm 84.57,
84.58, 84.59, 84.60, 84.61, 84.64 hoặc 84.65 được phân loại trong
nhóm 84.56.
Nhóm 84.57 chỉ áp dụng cho máy công cụ để gia công kim loại,
trừ máy tiện (kể cả trung tâm gia công tiện), loại này có thể thực
hiện được các kiểu thao tác gia công khác nhau:
(a) bằng cách thay đổi công cụ công tác tự động từ hộp đựng hoặc
tương tự theo đúng chương trình gia công (trung tâm gia
công),
(b) bằng việc sử dụng tự động, đồng thời hoặc tuần tự các đầu gia
công tổ hợp khác nhau để tác động lên một vật gia công ở vị
trí cố định (máy kết cấu nguyên khối (một vị trí gia công)),
hoặc
(c) bằng cách di chuyển tự động vật gia công đến các đầu gia
công tổ hợp khác nhau (máy gia công chuyển dịch đa vị trí).
Theo mục đích của nhóm 84.62, một "dây chuyền xẻ cuộn" dùng
cho các sản phẩm dạng phẳng là một dây chuyền xử lý gồm một
máy xả cuộn, một máy làm phẳng cuộn, một máy xẻ và máy quấn
cuộn. Một “dây chuyền cắt xén thành đoạn” dùng cho các sản
phẩm dạng phẳng là một dây chuyền xử lý bao gồm một máy xả
cuộn, một máy làm phẳng cuộn và một máy cắt xén.
(A) Theo mục đích của nhóm 84.71, khái niệm "máy xử lý dữ liệu
tự động" là máy có khả năng:
(i) Lưu trữ chương trình xử lý hoặc các chương trình và ít
nhất lưu trữ các dữ liệu cần ngay cho việc thực hiện
chương trình;
(ii) Lập chương trình tùy theo yêu cầu của người sử dụng;
(iii) Thực hiện các phép tính số học tùy theo yêu cầu của
người sử dụng; và
(iv) Thực hiện một chương trình xử lý đòi hỏi máy phải biến
đổi quy trình thực hiện, bằng các quyết định lôgíc trong
quá trình chạy chương trình, mà không có sự can thiệp
của con người.
(B) Máy xử lý dữ liệu tự động có thể ở dạng hệ thống bao gồm
một số lượng biến thiên các khối chức năng riêng biệt.
(C) Theo đoạn (D) và (E) dưới đây, khối chức năng được xem như
là bộ phận của một hệ thống xử lý dữ liệu tự động nếu thoả
mãn tất cả các điều kiện sau:
(i) Là loại chỉ sử dụng hoặc chủ yếu sử dụng trong hệ thống
xử lý dữ liệu tự động;
(ii) Có khả năng kết nối với bộ xử lý trung tâm hoặc trực tiếp
hoặc thông qua một hoặc nhiều khối chức năng khác; và
(iii) Có khả năng tiếp nhận hoặc cung cấp dữ liệu theo định
dạng (mã hoặc tín hiệu) mà hệ thống có thể sử dụng được.
Những khối chức năng riêng biệt của máy xử lý dữ liệu tự
động được phân loại vào nhóm 84.71.
Tuy nhiên, bàn phím, thiết bị nhập tọa độ X-Y và bộ (ổ) lưu trữ
dạng đĩa đáp ứng các điều kiện của đoạn (C) (ii) và (C) (iii) ở trên,
trong mọi trường hợp đều được phân loại như khối chức năng của
nhóm 84.71.
(D) Nhóm 84.71 không bao gồm các hàng hóa sau đây khi nó được
trình bày riêng rẽ, ngay cả khi nó đáp ứng tất cả các điều kiện
trong Chú giải 6 (C) nêu trên:
(i) Máy in, máy photocopy, máy fax, có hoặc không liên hợp;
(ii) Thiết bị truyền dẫn hoặc nhận âm thanh, hình ảnh hoặc dữ
liệu khác, kể cả thiết bị để giao tiếp trong mạng có dây
hoặc không dây (như mạng nội bộ hoặc diện rộng);
(iii) Loa và micro;
(iv) Camera truyền hình, camera kỹ thuật số và camera ghi
hình ảnh;
(v) Màn hình và máy chiếu, không kết hợp thiết bị thu truyền
hình.
(E) Các máy kết hợp hoặc làm việc kết hợp với một máy xử lý dữ
liệu tự động và thực hiện một chức năng riêng biệt không phải
là chức năng xử lý dữ liệu được phân loại vào nhóm thích hợp
với chức năng tương ứng của chúng hoặc, nếu không, sẽ được
phân loại vào các nhóm còn lại.
Không kể những đề cập khác, nhóm 84.82 áp dụng cho các bi thép
đã đánh bóng, có dung sai lớn nhất và nhỏ nhất so với đường kính
danh nghĩa không quá 1% hoặc không quá 0,05 mm, theo mức
dung sai nhỏ hơn.
Các loại bi thép khác được xếp vào nhóm 73.26.
Theo yêu cầu của phân loại, máy móc sử dụng cho hai mục đích
trở lên được phân loại theo mục đích sử dụng chính và mục đích
này được coi như mục đích sử dụng duy nhất.
Theo Chú giải 2 của Chương này và Chú giải 3 của Phần XVI, loại
máy mà công dụng chính của nó không được mô tả trong bất kỳ
nhóm nào hoặc không có công dụng nào là chủ yếu, nếu nội dung
nhóm không có yêu cầu khác, thì được phân loại vào nhóm 84.79.
Nhóm 84.79 cũng bao gồm các máy để làm thừng hoặc cáp (ví dụ,
máy bện, xoắn hoặc đánh cáp) bằng dây kim loại, sợi dệt hoặc bất
kỳ vật liệu nào khác hoặc bằng các vật liệu kết hợp.
Theo nội dung của nhóm 84.70, khái niệm “loại bỏ túi” chỉ áp
dụng cho máy móc có kích thước không quá 170 mm x 100 mm x
10. Theo mục đích của nhóm 84.85, khái niệm “công nghệ sản xuất
bồi đắp” (còn được gọi là công nghệ in 3D) có nghĩa là sự hình
thành các vật thể hữu hình, dựa trên mô hình kỹ thuật số, bằng
cách đắp chồng và tạo lớp liên tiếp, và hợp nhất (consolidation) và
đóng rắn (solidification), từ vật liệu (ví dụ, kim loại, nhựa hoặc
gốm).
Theo Chú giải 1 Phần XVI và Chú giải 1 Chương 84, các máy đáp
ứng mô tả của nhóm 84.85 được phân loại trong nhóm này và
không phân loại vào nhóm khác của Danh mục.
11. (A) Chú giải 12 (a) và 12 (b) Chương 85 cũng áp dụng đối với khái
niệm “thiết bị bán dẫn” và “mạch điện tử tích hợp”, như đã được
sử dụng trong Chú giải này và trong nhóm 84.86. Tuy nhiên, theo
mục đích của Chú giải này và của nhóm 84.86, khái niệm “thiết bị
bán dẫn” cũng bao gồm các thiết bị bán dẫn nhạy sáng (cảm
quang) và đi-ốt phát quang (LED).
(B) Theo mục đích của Chú giải này và của nhóm 84.86, khái niệm
“sản xuất màn hình dẹt” bao gồm chế tạo các lớp nền (các lớp cơ
bản cấu thành) của tấm dẹt màn hình. Nó không bao gồm công
đoạn gia công, sản xuất kính hoặc lắp ráp các tấm mạch in hoặc
các bộ phận điện tử khác vào tấm dẹt màn hình. Khái niệm “màn
hình dẹt” không áp dụng cho loại sử dụng công nghệ ống đèn hình
ca-tốt.
(C) Nhóm 84.86 cũng bao gồm những máy móc và thiết bị chỉ sử
dụng hoặc chủ yếu sử dụng để:
(i) sản xuất hoặc sửa chữa màn (khuôn in) và lưới quang;
(ii) lắp ghép thiết bị bán dẫn hoặc các mạch điện tử tích hợp;
(iii) bộ phận nâng, giữ, xếp vào hoặc tháo dỡ khối bán dẫn, tấm
bán dẫn mỏng, thiết bị bán dẫn, mạch điện tử tích hợp và màn
hình dẹt.
(D) Theo Chú giải 1 Phần XVI và Chú giải 1 Chương 84, máy móc và
thiết bị đáp ứng mô tả của nhóm 84.86 được phân loại trong nhóm
này và không phân loại vào nhóm khác của Danh mục.
Chú giải phân nhóm.
1. Theo mục đích của phân nhóm 8465.20, thuật ngữ "trung tâm gia
công" chỉ áp dụng cho máy công cụ để gia công gỗ, lie, xương, cao
su cứng, plastic cứng hoặc các vật liệu cứng tương tự, có thể thực
hiện các kiểu hoạt động nguyên công khác nhau bằng việc thay đổi
dao cụ tự động từ hộp/khay đựng hoặc loại tương tự theo đúng
chương trình gia công.
2. Theo mục đích của phân nhóm 8471.49, thuật ngữ “hệ thống” nghĩa là
các máy xử lý dữ liệu tự động mà các khối chức năng của nó đáp ứng
các điều kiện nêu tại Chú giải 6 (C) Chương 84 và nó gồm ít nhất
một bộ xử lý trung tâm, một bộ nhập (ví dụ, bàn phím hoặc bộ quét),
và một bộ xuất (ví dụ, một bộ màn hình hiển thị hoặc máy in).
3. Theo mục đích của phân nhóm 8481.20, thuật ngữ "van dùng trong
truyền động dầu thủy lực hoặc truyền động khí nén" là van chuyên
dụng truyền động "thủy lực/khí nén" trong hệ thủy lực hoặc khí nén
mà từ đó nguồn năng lượng được cung cấp dưới dạng chất lưu nén
(chất lỏng hoặc khí). Các van này có thể là loại bất kì (ví dụ, van
giảm áp, van kiểm tra). Phân nhóm 8481.20 được ưu tiên xem xét
trước trong các phân nhóm thuộc nhóm 84.81.
4. Phân nhóm 8482.40 chỉ áp dụng cho ổ bi đũa có đường kính đồng
nhất của các bi đũa không quá 5 mm và có chiều dài ít nhất gấp 3 lần
đường kính. Hai đầu bi đũa có thể được tiện tròn.
KHÁI QUÁT CHUNG
(A) NỘI DUNG KHÁT QUÁT CHUNG CỦA CHƯƠNG
Theo các quy định của Chú giải tổng quát tại Phần XVI, Chương này
bao gồm tất cả các máy và các thiết bị cơ khí, và các bộ phận của nó,
không được chi tiết cụ thể hơn tại Chương 85, và không bao gồm:
Các sản phẩm bằng chất liệu dệt được dùng trong kĩ thuật (nhóm
Các sản phẩm bằng đá,...thuộc Chương 68.
Các sản phẩm bằng chất liệu gốm sứ thuộc Chương 69.
Đồ thuỷ tinh dùng trong phòng thí nghiệm thuộc nhóm 70.17; máy
và thiết bị và các bộ phận của chúng bằng thủy tinh (nhóm 70.19
hoặc 70.20).
Các loại bếp, lò sưởi của hệ thống nhiệt trung tâm và các mặt hàng
khác thuộc nhóm 73.21 hoặc 73.22, cũng như các sản phẩm tương
tự bằng các kim loại cơ bản khác.
Thiết bị cơ điện gia dụng thuộc nhóm 85.09 và các camera kỹ
thuật số thuộc nhóm 85.25.
(g) Bộ tản nhiệt cho các hàng hóa của Phần XVII.
Dụng cụ cơ học vận hành bằng tay để quét sàn, không có động cơ
(nhóm 96.03).
Nhìn chung, chương 84 bao gồm các máy và các thiết bị cơ khí và các
thiết bị điện thuộc chương 85. Tuy nhiên, một số máy cụ thể được chi
tiết trong các nhóm của chương 85 (như là các dụng cụ cơ-điện dùng
trong gia đình.v.v..) thì mặt khác cũng có một số loại máy móc và động
cơ không phải là cơ khí (như nồi hơi đun sưởi và các thiết bị phụ trợ của
chúng, và các thiết bị dùng để lọc) thuộc Chương 84.
Cần chú ý rằng các máy móc và thiết bị thuộc các loại trong Chương 84
vẫn thuộc chương này, cho dù là các thiết bị điện, ví dụ như:
Máy móc hoạt động bằng động cơ điện.
Máy móc gia nhiệt bằng điện, như nồi hơi đun sưởi trung tâm loại
dùng điện thuộc nhóm 84.03, các máy thuộc nhóm 84.19 và các
loại máy khác (máy cán là, nồi hấp tẩy, rửa hoặc các loại tương tự
được sử dụng trong ngành công nghiệp dệt hoặc các máy ép.v.v..),
được trang bị các bộ phận đốt nóng hoạt động bằng điện.
Máy móc vận hành bằng điện từ (ví dụ: van điện từ) hoặc các thiết
bị điện từ kết hợp (ví dụ như máy dệt với cơ cấu tự dừng bằng
điện, cần trục với đầu nâng hoạt động bằng điện từ và máy tiện với
bàn cặp, giá kẹp (chuck) hoạt động bằng điện từ…
Máy móc điện tử (ví dụ: máy tính điện tử hoặc máy xử lý dữ liệu
tự động) hoặc bao gồm thiết bị quang điệnhoặcđiện tử (ví dụ như
máy cán kim loại được gắn bộ phận quang điện, các máy công cụ
kết hợp với các thiết bị điều khiển điện tử.
Do các máy móc hoặc thiết bị (ví dụ: máy bơm) bằng gốm sứ và các bộ
phận bằng gốm sứ của các loại máy móc hoặc thiết bị làm từ bất cứ vật
liệu nào (Chương 69), các dụng cụ thuỷ tinh sử dụng trong phòng thí
nghiệm (nhóm 70.17) và các máy, thiết bị và bộ phận của chúng, làm
bằng thủy tinh (nhóm 70.19 và 70.20) bị loại trừ khỏi chương này, nên
một chiếc máy, một dụng cụ hoặc một động cơ, ngay cả khi mô
tảhoặctính chất của nó đã được nhắc đến trong một nhóm của Chương
này, cũng sẽ không được xếp trong chương này nếu nó mang tính chất
của một sản phẩm bằng gốm sứ hoặc của một sản phẩm bằng thuỷ tinh.
Đây là trường hợp các loại sản phẩm bằng thuỷ tinh hoặc bằng gốm sứ
được gắn các chi tiết ít quan trọng bằng các chất liệu khác, như nút, ống
nối, vòi ...,các bộ phận dung để nẹp, giữ chặt, vòng gioăng, hoặc các sản
phẩm dùng để xiết chặt hoặc các thiết bị để lắp đặt hoặc hỗ trợ khác (giá
đỡ, kiềng đỡ ba chân.v.v..).
Mặt khác, như một quy tắc, các sản phẩm được coi như không còn mang
tính chất của các sản phẩm gốm sứ, dụng cụ thuỷ tinh sử dụng trong
phòng thí nghiệmhoặcmáy hoặc các thiết bị hoặc bộ phận của chúng,
làm bằng vật liệu gốm sứ hoặc thủy tinh:
Sự kết hợp của các thành phần làm bằng gốm sứ hoặc thủy tinh với
các thành phần làm từ chất liệu khác khác chiếm tỉ lệ nhiều hơn (ví
dụ, kim loại);hoặccác sản phẩm bao gồm thành phần với tỉ lệ lớn
làm từ gốm sứ hoặc thủy tinh, kết hợp hoặc được gắn cố định trên
khung, vỏ hoặc các loại tương tự, làm từ vật liệu khác.
Sự kết hợp của các thành phần tĩnh, làm bằng gốm sứ hoặc thủy
tinh với các thành phần cơ khí như mô tơ, bơm,..., làm bằng vật
liệu khác (ví dụ, làm bằng kim loại).
(B) CẤU TRÚC KHÁI QUÁT CHUNG CỦA CHƯƠNG
Nhóm 84.01 gồm các lò phản ứng hạt nhân, các bộ phận chứa
nhiên liệu (cartridges), không bị bức xạ, dùng cho các lò phản ứng
hạt nhân và các loại máy móc và thiết bị để tách đồng vị.
Các nhóm từ 84.02 đến 84.24 bao gồm các loại máy móc và thiết
bị khác được phân loại chủ yếu theo chức năng của chúng và
không cần xem xét đến lĩnh vực mà chúng được sử dụng.
Các nhóm từ 84.25 đến 84.78 bao gồm các loại máy móc và thiết
bị khác, trừ một số ngoại lệ, được phân loại theo lĩnh vực mà
chúng được sử dụng và không cần xem xét đến từng chức năng cụ
thể của chúng trong lĩnh vực đó.
Nhóm 84.79 bao gồm các loại máy và thiết bị cơ khí không thuộc
các nhóm trước của Chương.
Nhóm 84.80 bao gồm, thêm vào các loại hộp khuôn đúc kim loại
và mẫu làm khuôn (trừ khuôn đúc thỏi) làm thủ công hoặc bằng
máy, dùng để đúc một số loại vật liệu.
Các nhóm từ 84.81 đến 84.84 gồm một số loại sản phẩm có công dụng
dùng chung được dùng làm bộ phận của các loại máy nêu trong chương
này, hoặc là các bộ phận của các hàng hóa trong các chương khác.
Nhóm 84.86 bao gồm các máy và thiết bị loại chỉ dùng hoặc chủ
yếu dùng cho việc chế tạo các khối bán dẫn hoặc tấm, các thiết
bị bán dẫn, mạch điện tử tích hợp hoặc màn hình dẹt, và các
máy và thiết bị được nêu chi tiết tại Chú giải 11 (C) của Chương
này.
Nhóm 84.87 gồm các bộ phận không dùng điện và không được
phân loại ở nơi khác.
(C) CÁC BỘ PHẬN
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận, xem phần Khái quát
chung của Ohần XVI.
Các bộ phận điện ở dạng riêng biệt cuả các máy móc và dụng cụ nói
chung được xếp vào một hoặc bất kỳ nhóm nào thuộc Chương 85, ví dụ:
các động cơ điện (nhóm 85.01), máy biến điện (nhóm 85.04), nam châm
điện, nam châm vĩnh cửu , trục nâng và đầu nâng hoạt động bằng điện từ
thuộc (nhóm 85.05), thiết bị khởi động bằng điện cho các loại động cơ
piston đốt trong (nhóm 85.11), bộ phận chuyển mạch, bảng điều khiển,
phích cắm, hộp đầu nối,... (từ nhóm 85.35 đến 85.37), van điện tử
(nhóm 85.40), điốt, tranzito và các thiết bị bán dẫn tương tự (nhóm
85.41); mạch điện tử tích (nhóm 85.42); điện cực than (nhóm 85.45);
vật cách điện (nhóm 85.46); các phụ kiện vật liệu cách điện (nhóm
85.47). Trừ trường hợp được lắp ráp với các bộ phận khác của máy,
những hàng hóa như trên vẫn được phân loại vào các nhóm của chúng,
ngay cả khi chúng được thiết kế để chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho một
máy cụ thể thuộc Chương này.
Các bộ phận điện khác được xếp trong các nhóm sau:
Trong nhóm 84.09, 84.31, 84.48, 84.66 hoặc 84.73, nếu chúng đáp
ứng mô tả trong các nhóm này.
Nếu không, chúng được xếp theo máy trong các nhóm của Chương
này khi chúng được thiết kế để chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với
chính máy đó; trường hợp nếu chúng không được thiết kế để dùng
với chính máy của chúng thì xếp vào nhóm 85.48.
(D) MÁY MÓC VÀ DỤNG CỤ CÓ THỂ THUỘC HAIhoặcNHIỀU
NHÓM
(Chú giải 2, 8 và 11 (D))
Theo Chú giải 1 Phần XVI và chú giải 1 Chương 84, máy và thiết bị đáp
ứng mô tả nhóm 84.86 thì được phân loại vào nhóm đó và không phân
loại vào nhóm khác của Danh mục.
Các nhóm 84.01 đến 84.24 bao gồm các loại máy móc và thiết bị,
(thường được mô tả (để phân loại) tuỳ theo tính năng của chúng), có thể
được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp, trong khi các loại máy
móc hoặc thiết bị trong các nhóm khác thuộc chương này được mô tả
hoặc được nêu theo cách riêng tuỳ theo việc chúng được sử dụng trong
ngành công nghiệphoặclĩnh vực hoạt động nào. Theo Chú giải 2 của
chương này, các máy hoặc thiết bị thuộc 2 nhóm hoặc nhiều hơn, mà
một trong số nhóm đó nằm trong phần đầu (ví dụ các nhóm từ 84.01 đến
84.24) thì được phân loại theo nhóm thuộc phần đầu. Chính vì vậy, các
loại động cơ luôn luôn được xếp trong các nhóm từ 84.06 đến 84.08 và
từ nhóm 84.10 đến 84.12 mà không phụ thuộc vào mục đích sử dụng của
chúng. Quy tắc phân loại tương tự cũng được áp dụng cho các loại bơm,
ngay cả khi chúng được xác định cho mục đích cụ thể (ví dụ bơm dùng
trong công nghiệp se sợi hoặc bơm dùng trong nông nghiệp) các máy ly
tâm, máy cán là, máy nén, máy ép, thiết bị lọc, lò và máy sản sinh hơi
nước,.v.v...
Có loại trừ đối (chi tiết tại Chú giải 2 cuả Chương) với quy tắc tổng quát
như đề cập đến nhóm 84.19, 84.22 và 84.24. Do đó các mặt hàng bên
dưới, mặc dù có khả năng nằm trong nhóm 84.19, tuy nhiên thực tế lại
được phân loại vào các nhóm sau của Chương:
Máy ươm giống trong nông nghiệp, máy ấp trứng gia cầm và thiết
bị sưởi ấm gia cầm mới nở (nhóm 84.36).
Máy làm ẩm hạt (nhóm 84.37).
Các thiết bị khuyếch tán để chiết xuất đường quả (nhóm 84.38).
Máy để xử lý nhiệt đối với sợi dệt, vải hoặc các sản phẩm dệt
(nhóm 84.51).
Thiết bị cho phòng thí nghiệm hoặc máy móc, thiết bị, được thiết
kế để hoạt động bằng cơ khí, trong đó sự thay đổi nhiệt cho dù cần
thiết chỉ là phần bổ sung.
Tương tự các mặt hàng bên dưới, mặc dù có khả năng nằm trong nhóm
84.22, trên thực tế được sắp xếp ở các nhóm sau của chương:
Máy khâu (ví dụ, để đóng túi hoặc bao bì khác) (nhóm 84.52).
Máy dùng trong văn phòng để sắp xếp, đóng gói tài liệu, gấp thư
cho vào phong bì hoặc máy đếm hoặc đóng gói tiền kim loại
(nhóm 84.72).
Các mặt hàng bên dưới, mặc dù có khả năng thuộc nhóm 84.24, trên
thực tế được phân loại vào các nhóm sau của Chương:
Máy in phun mực (nhóm 84.43).
(2) Máy cắt bằng tia nước (nhóm 84.56).
Hơn nữa quy tắc về ưu thế vị trí cho các nhóm từ 84.01 đến 84.24 chỉ áp
dụng đối với các máy được xem xét như một tổng thể. Các máy tổ hợp hoặc
các máy đa chức năng được phân loại phù hợp với Chú giải 3 của phần XVI
và các đơn vị chức năng được phân loại theo Chú giải 4 của phần này (xem
Phần (VI) và (VII) của phần Chú giải Tổng quát của Phần XVI).
Các loại máy được xếp trong hai nhóm hoặc nhiều hơn, trong đó không
có nhóm nào nằm trong các nhóm từ 84.01 đến 84.24, sẽ được phân loại
trong nhóm có mô tả cụ thể nhất, hoặc theo chức năng sử dụng chính của
máy. Các máy đa chức năng mà các chức năng được sử dụng đồng đều
cho một vài mục đích hoặc trong một vài ngành công nghiệp khác nhau
(ví dụ như máy dập khoen, có thể được sử dụng trong công nghiệp dệt
cũng như trong công nghiệp sản xuất giấy, da hoặc vật liệu nhựa...), thì
được phân loại trong nhóm 84.79.
(E) CÁC MÁY MÓC KẾT HỢP HOẶC HOẠT ĐỘNG KẾT HỢP
VỚI MỘT MÁY XỬ LÝ DỮ LIỆU TỰ DỘNG VÀ THỰC HIỆN
MỘT CHỨC NĂNG CỤ THỂ
(Chú giải 6 (E) của Chương)
Theo những quy định trong Chú giải 6 (E) Chương 84, các nguyên tắc
phân loại sau đây nên được áp dụng trong trường hợp máy kết hợp hoặc
hoạt động kết hợp với một máy xử lý dữ liệu tự động và thực hiện một
chức năng cụ thể:
(1) Một máy kết hợp một máy xử lý dữ liệu tự động và thực hiện chức
năng cụ thể không phải là xử lý dữ liệu có thể phân loại được vào
nhóm tương ứng với chức năng của máy đó hoặc, trong trường hợp
không nằm trong một nhóm cụ thể, sẽ được phân loại trong nhóm
còn lại, và không thuộc nhóm 84.71.
(2) Các loại máy gồm có một máy xử lý dữ liệu tự động và được sử
dụng bằng cách kết nối với chiếc máy đó để thực hiện một chức
năng cụ thể không phải là xử lý dữ liệu được phân loại như sau:
Máy xử lý dữ liệu tự động phải được phân loại riêng biệt trong
nhóm 84.71 và các loại máy còn lại được phân loại trong các nhóm
tương ứng với chức năng mà chúng thực hiện trừ khi, theo Chú
giải 4 Phần XVI hoặc Chú giải 3 Chương 90, toàn bộ máy được
phân loại tại một nhóm khác của Chương 84, Chương 85 hoặc của
Chương 90.
84.01 - Lò phản ứng hạt nhân; các bộ phận chứa nhiên liệu
(cartridges), không bị bức xạ, dùng cho các lò phản ứng hạt nhân;
máy và thiết bị để tách chất đồng vị.
8401.10 - Lò phản ứng hạt nhân
8401.20 - Máy và thiết bị để tách chất đồng vị, và bộ phận của chúng
8401.30 - Bộ phận chứa nhiên liệu (cartridges), không bị bức xạ
8401.40 - Các bộ phận của lò phản ứng hạt nhân
(I) LÒ PHẢN ỨNG HẠT NHÂN
Theo cách thông thường, thuật ngữ lò phản ứng hạt nhân dùng để chỉ
toàn bộ máy móc và thiết bị nằm trong khu vực được che chắn bởi tấm
bảo vệ sinh học bao gồm, trong trường hợp thích hợp, chính tấm bảo vệ
đó. Nó cũng bao gồm các loại máy và dụng cụ khác nằm ngoài khu vực
này, theo cách chúng có thể gắn liền với các máy nằm trong màn
bảo vệ.
Một lò phản ứng hạt nhân chủ yếu bao gồm:
Bộ phận trung tâm được tạo bởi:
(1) Nhiên liệu (có thể phân tách hoặc kết hợp) có thể ở dạng
hoà tan hoặc phân tán trong bộ điều tốc (lò phản ứng đồng
nhất), hoặc cô đặc trong các chất liệu đốt (cartouche) (lò
phản ứng không đồng nhất ).
(2) Bộ điều tốc và, có thể bộ phận phản xạ của neutron (ví dụ:
beril, graphit, nước thông thường, nước nặng và một số loại
hyro - cacbua, như dinephil hoặc ternephil).
(3) Bộ phận làm mát, cần thiết cho việc giảm sức nóng do lò
phản ứng sản sinh (ví dụ: khí các bon dioxide, heli, nước tự
nhiên, nước nặng, natri hoặc bismut tan chảy, hỗn hợp tan
chảy natri và kali, muối tan chảy, một số loại hydro
cacbua,...thường được sử dụng cho mục đích này). Tuy
nhiên, máy điều tốc cũng thường xuyên đảm bảo chức năng
làm lạnh.
(4) Các thanh điều khiển, bằng chất liệu có khả năng hấp thụ
neutron cao (ví dụ: bo, catmin, haffini) hoặc bằng các hợp
kim, hợp chất nguyên liệu này.
Cấu trúc cơ khí (ví dụ: đồng, lưới để tạo các bộ phận chứa nhiên
liệu (cartridges), ống dùng để dẫn các chất lỏng làm lạnh, van, bộ
hướng dẫn, cần điều khiển cơ khí,...).
Toàn bộ các loại máy dùng để đo lường, điều chỉnh tự động
và kiểm tra (nguồn neutron, buồng ion hoá, cặp nhiệt điện, máy
quay phim từ xa, các máy đo áp suất hoặc lưu lượng ,...).
Màn chắn nhiệt và sinh học (bằng thép, bê tông, chì,…).
Một số loại máy, thiết bị và dụng cụ có thể được sử dụng trong các lò
phản ứng hạt nhân, cũng có thể được đặt trong màn bảo vệ sinh học. Các
loại máy móc và dụng cụ này không có tính chất của các bộ phận trong
lò phản ứng hạt nhân và do đó phải phân loại vào các nhóm thích hợp
của chứng (xem loại trừ từ (c) đến (ij) ở phần sau).
Tuy nhiên, về cơ bản tính chất, đặc điểm và phương thức lắp ráp các bộ
phận cấu thành rất khác nhau. Do vậy, lò phản ứng hạt nhân thường
được phân biệt theo các tiêu chuẩn sau:
(1) Theo năng lượng mà neutron sản sinh để tạo ra phản ứng dây
chuyền (ví dụ bằng lò phản ứng nhiệt (chậm), trung bình
hoặc nhanh).
(2) Theo cách thức phân phối nguyên liệu có thể phân tách trong
lò phản ứng (ví dụ bằng phản ứng đồng nhất hoặc không
đồng nhất).
(3) Theo mục đích sử dụng của chúng (ví dụ bằng các lò phản
ứng để nghiên cứu, để sản xuất chất đồng vị, dùng để thử
nghiệm các nguyên vật liệu, dùng để chuyển hoá từ một chất
màu thành chất có thể phân tách (ví dụ máy chuyển đổi điện,
máy phát điện tự động), dùng để đẩy, sản xuất nhiệt lượng
hoặc năng lượng điện).
(4) Theo tính chất của chất liệu được sử dụng hoặc công nghệ
vận hành (ví dụ lò phản ứng chạy bằng uranium tự nhiên,
uranium đã được làm giàu, uranium -torium, natri graphit,
khí graphit, nước điều áp, nước nặng điều áp, nước sôi, bộ
biến áp hữu cơ).
Nhìn chung, kích cỡ của các lò phản ứng thường được tính toán để ít
nhất ở cỡ tối thiểu, để giảm mức rò rỉ của các neutron ra môi trường bên
ngoài không đủ để có thể gây ra các phản ứng dây chuyền. Tuy nhiên,
trong nghiên cứu, người ta sử dụng các lò phản ứng có kích thước nhỏ
hơn mức tối thiểu, hoạt động với sự trợ giúp của một nguồn neutron
phụ. Các lò phản ứng này cũng thuộc nhóm này.
Các bộ phận trong lò phản ứng hạt nhân được giới thiệu riêng biệt chủ
yếu được sắp xếp phù hợp với quy tắc của chú giải 2 phần XVI.
Do đó, trong nhóm này bao gồm các bộ phận trong lò phản ứng hạt nhân,
chủ yếu là các thanh điều khiểnhoặcthanh an toàn và các cơ chế tương
ứng, các nguồn neutron được lắp ráp để thực hiện phản ứng đốt của lò
phản ứng, nồi, lưới chắn để lắp ráp các bộ phận chứa nhiên liệu
(cartridges) và bộ phận điều áp dùng cho phản ứng nước không có áp suất.
Tuy nhiên, những hàng hóa sau không được coi là các bộ phận của lò
phản ứng hạt nhân:
Các khối graphit (nhóm 38.01 hoặc 68.15), khối berili (nhóm
81.12), hoặc khối gluxin (oxit berili), (nhóm 69.14).
Các ống, ống dẫn bằng kim loại có hình dạng đặc biệt, hoặc đơn
giản, không làm việc khác, ngay cả khi được dùng trong sản suất
lò phản ứng hạt nhân (Phần XV).
Các máy sản sinh hơi nước (nhóm 84.02).
Các máy trao đổi nhiệt (nhóm 84.04 hoặc 84.19).
Tuabin hơi nước (nhóm 84.06).
Bơm các loại (nhóm 84.13 hoặc 84.14).
Quạt không khí (nhóm 84.14).
Máy khử chất khoáng trong nước (chủ yếu là nhóm 84.19 hoặc
nhóm 84.21).
Các dụng cụ để nạp hoặc tách các bộ phận chứa nhiên liệu và cần
cẩu ( chủ yếu là nhóm 84.26).
Máy trộn cơ khí điều khiển từ xa dùng cho các sản phẩm phóng xạ
(nhóm 84.28).
(II) MÁY MÓC VÀ THIẾT BỊ DÙNG ĐỂ TÁCH CHẤT ĐỒNG VỊ
Nhóm này bao gồm tất cả các loại máy móc và thiết bị cơ khí, nhiệt hoặc
điện, được thiết kế một cách đặc biệt để làm giàu một nguyên tố hoá học
hoặc một hợp chất của nguyên tố này bằng một chất đồng vị của nó hoặc
có thể để tách toàn bộ các chất đồng vị cấu thành.
Các loại máy móc và dụng cụ quan trọng nhất, chủ yếu là những loại
được sử dụng dùng để sản xuất nước nặng (oxit đơteri), hoặc dùng để
làm giàu uranium U 235.
Trong số các loại máy móc và thiết bị dùng để sản xuất nước nặng bằng
cách làm giàu nước tự nhiên, có thể gồm các loại sau:
Các loại máy lọc từng phần và điều chỉnh đặc biệt, bao gồm một số
lượng lớn các tấm xếp chồng lên nhau và nhờ sự chênh lệch giữa
điểm sôi của nước nặng và nước thường sẽ thu được các đoạn đầu
có lượng nước nặng rất thấp và các đoạn cuối có lượng nước nặng
luôn cao hơn (giầu hơn).
Các loại máy, thông qua lọc từng phần chất khí hydro lỏng ở nhiệt
độ thấp, cho phép tách chất deuteri mà sau đó có thể sẽ bị cháy và
thu được nước nặng.
Các loại máy dùng để sản xuất nước nặng hoặc các hợp chất chứa
deuteri , dựa trên các trao đổi chất đồng vị, có thể có chất xúc tác,
ví dụ như khi sử dụng phương pháp có tên gọi là “hai nhiệt độ”
hoặc bằng cách tiếp xúc với khí hydro lỏnghoặckhí ga khác.
Các pin điện phân được dùng trong sản xuất nước nặng bằng cách
điện phân nước, cũng như các loại máy kết hợp điện phân và trao
đổi chất đồng vị giữa khí hydro và nước cùng nguồn gốc.
Để làm giầu uranium U 235, người ta thường dùng nhất các thiết bị sau:
Máy quay ly tâm đặc biệt, còn được gọi là máy ly tâm chạy bằng
khí ga (hexa -florua uranium) có rôto hình trụ, bằng plastic hoặc
bằng thép, có tốc độ quay rất lớn.
Các máy quay ly tâm này có bộ phận bên trong được xử lý đặc
biệt cho phép chống lại sự bào mòn của hexa -florua uranium.
Trong thực tế, người ta dùng rất nhiều lớp xếp lên nhau và quay
cùng chiều hoặc ngược chiều với động cơ.
Các loại máy dùng để tách chất đồng vị của uranium bằng cách
làm khuyếch tán khí ga. Trong các máy này, hexa –florua uranium
dạng khí lọt vào bên trong động cơ (có thể là hình ống) qua một
vách ngăn xốp (rào chắn) và được tách làm hai phần, trong đó một
phần là U 325 và hơi khác với phần kia là khí ga. Khi hoạt động
này được lặp lại nhiều lần, người ta có thể thu được hexa florua
của U 235 ở dạng nguyên chất.
Các loại máy được gọi là “ống gió” (quá trình Becker) trong đó
một luồng khí ga (hexa -florua uranium và heli hoặc hydro) được
bơm vào với tốc độ cao, vào trong một ống được uốn cong, khi
thoát ra khỏi ống bị một “lưỡi dao” tách ra phần có chứa hexa -
Các loại máy sử dụng sóng điện từ cũng thuộc nhóm này.
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Khái
quát của Phần này), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của các loại
máy móc và thiết bị.
(III) CÁC BỘ PHẬN CHỨA NHIÊN LIỆU (CARTRIDGES)
KHÔNG BỊ BỨC XẠ DÙNG CHO LÒ PHẢN ỨNG HẠT NHÂN
Các bộ phận chứa nhiên liệu (cartridges) không bị bức xạ dùng cho
lò phản ứng hạt nhân được tạo bởi một chất liệu có thể tách hoặc tổng
hợp nằm trong một loại ống gen, thường bằng kim loại cơ bản (ví dụ:
kẽm, nhôm, magiê, thép không gỉ), được kết nối đặc biệt để điều khiển.
Các thành phần nhiên liệu phân hạch có thể chứa uranium tự nhiên, ở
dạng kim loại cũng như dạng hợp chất (oxit, cacbua, nitrit...), uranium
được làm giàu ở loại uranium 235hoặc233 hoặc ở trong plutonium, có
thể ở dạng kim loại hoặc dạng hợp chất, hoặc thorium được làm giàu
trong plutonium. Các thành phần nhiên liệu giàu (ví dụ, với thorium
hoặc uranium nghèo), khi được đặt ở vùng biên của lò phản ứng để bức
xạ nơ tron, trở nên phân hạch sau khi hấp thụ một số nơ tron.
Các bộ phận chứa nhiên liệu có nhiều dạng khác nhau:
Kim loại chịu nhiệt hoặc hợp kim của chúng ở dạng thanh chắn
hoặc ống được phủ bằng ống gen kim loại cơ bản, có thể gồm các
loại cánh để tạo thuận lợi cho việc trao đổi nhiệt, đầu ống có hình
dáng thuận lợi cho việc đưa vào và lấy ra khỏi lò phản ứng.
Bằng sự phân tán của nhiên liệu dễ phân tách trong graphit ở dạng
thanh, tấm, hoặc cầu được bao phủ bằng graphit, hoặc bằng những
chất phân tán khác. Các thiết bị này giống như các thiết bị chứa
nhiên liệu nêu trong mục 1 nêu trên.
Bằng một sự lắp ráp:
(i) Của các tấm có chứa, tuỳ theo tỷ lệ cấu thành kiểu bánh săng
- đuých, chất liệu có thể phân tách hoặc kết hợp dưới dạng
kim loại hoặc hỗn hợp gốm sứ, ở bên ngoài là kim loại trơ.
(ii) Của ống bằng kim loại trơ được nhồi bằng uranium diôxit
hoặc cacbit.
hoặc
(iii) Của ống đồng tâm bằng kim loại bao bọc bởi kim loại trơ.
Tất cả các dạng của bộ phận chứa nhiên liệu (cartridges) được lắp ráp
với các bộ phận phụ trợ giúp chúng tạo khoảng cách và cố định vào vị
trí; chúng thường có vỏ bao bọc bên ngoài; Tất cả bộ phận phụ cấu thành
bộ phận chứa nhiên liệu (cartridges) được lắp đặt trên cùng một đế và
gắn vào một đầu chung.
Các bộ phận này khi ở dạng đơn lẻ (ví dụ: các ống gen bằng thép không
bị ô xi hoá chứa nhiên liệu hạt nhân và được niêm phong) được xếp
trong nhóm này như các bộ phận của bộ phận chứa nhiên liệu
Các ống chứa nhiên liệu nhỏ được bao bọc bởi nhiều lớp nhiên liệu như
carbon và cácbit silic, được dùng để đưa vào trong các bộ phận chứa
nhiên liệu hình cầu hoặc hình lăng trụ, và các bộ phận chứa nhiên liệu
(bị bức xạ), đã qua sử dụng thuộc nhóm 28.44.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các loại lò dùng để tách theo phương pháp nhiệt học luyện kim của
các chất cháy hạt nhân bị bức xạ (tuỳ theo từng trường hợp chúng có thể
thuộc các nhóm 84.17 hoặc 85.14).
(b) Các loại máy dùng để tách các chất cháy bị bức xạ hoặc dùng để xử
lý chất thải mang phóng xạ bằng cách cất phân đoạn (nhưng khác với
loại dùng để sản xuất nước nặng) (nhóm 84.19).
(c) Bộ phận lọc gió được thiết kế đặc biệt để khử bụi phóng xạ (thông
qua tác động hoá học hoặc điện tĩnh), máy lọc than hoạt tính dùng để giữ
chất iốt có chứa phóng xạ, máy trao đổi ion để tách nguyên tố phóng xạ
(kể cả các loại hoạt động bằng vật lý hoặc tĩnh điện học), và các máy
dùng để tách chất cháy mang phóng xạ hoặc dùng để xử lý chất thải
bằng trao đổi ion hoặc bằng phương pháp hoá học (nhóm 84.21).
84.02 - Nồi hơi tạo ra hơi nước hoặc tạo ra hơi khác (trừ các nồi hơi
đun nóng nước trung tâm có khả năng sản xuất ra hơi với áp
suất thấp); nồi hơi nước quá nhiệt.
- Nồi hơi tạo ra hơi nước hoặc tạo ra hơi khác:
8402.11 - - Nồi hơi dạng ống nước với công suất hơi nước trên
45 tấn/giờ
8402.12 - - Nồi hơi dạng ống nước với công suất hơi nước
không quá 45 tấn/giờ
8402.19 - - Nồi hơi tạo ra hơi khác, kể cả loại nồi hơi kiểu lai
ghép
8402.20 - Nồi hơi nước quá nhiệt
8402.90 - Bộ phận
(A) NỒI HƠI TẠO RA HƠI NƯỚC HOĂC TẠO RA HƠI KHÁC
Nhóm này bao gồm các loại thiết bị sản sinh ra hơi nước hoặc hơi khác
(ví dụ: hơi thuỷ ngân, ...), dùng để vận hành các máy kéo động cơ (ví dụ:
tua bin chạy bằng hơi nước) hoặc các dụng cụ sử dụng hơi nước như
nguồn năng lượng chính đề vận hành (ví dụ: búa máy, bơm hơi nước),
hoặc còn dùng để vận hành các loại máy sưởi, nấu nướng, máy khử
trùng..vv kể cả nồi hơi đun sưởi sản sinh ra hơi nước dùng cho máy sưởi
trung tâm.
Ngay cả khi các nồi hơi đun sưởi này được thiết kế để lắp ráp vào trong
một máy, một thiết bị,hoặcmột phương tiện vận tải được xác định trước,
các nồi hơi được nêu riêng biệt (ví dụ: nồi hơi của đầu máy xe lửa) cũng
đều được xếp trong nhóm này.
Các nồi hơi có thể được đốt nóng bằng nhiên liệu rắn, nhiên liệu lỏng
hoặc khí ga, hoặc năng lượng điện.
Với mục đích là thu được hiệu quả đốt nóng cao hơn, hoặc làm cho quá
trình bay hơi nhanh hơn trong quá trình đốt nóng nồi hơi, đã dẫn đến
việc sản xuất ra nồi hơi ở nhiều dạng kết cấu khác nhau. Các dạng nồi
hơi chủ yếu gồm:
Các nồi hơi sưởi có hình ống khói (ví dụ: nồi hơi của đầu máy xe
lửa) trong đó phần thân của nồi hơi được tạo ra bởi các ống lưu
hành trong đó khí ga nóng của lò.
Các nồi hơi dạng ống mà trong đó ống dẫn hoặc các chùm ống
dẫn nước được bao quanh bởi ống gas, vách ngăn bên trong của
một số loại nồi hơi này cũng được tạo bởi các ống nước.
Các nồi hơi dạng kết hợp thường là loại kết hợp của hai dạng
trên.
Trong một số nồi hơi, ống dẫn và chùm ống được nối lại với nhau bằng
một ống góp gồm một hoặc nhiều ống thường là hình trụ, được dùng để
chứa nước, hoặc dùng để tách nước khỏi hơi nước. Trong một số nồi hơi
khác, còn được gọi là nồi hơi tuần hoàn bắt buộc, thường không có
thùng hút và đôi khi người ta dùng bơm để gia tốc cho nước tuần hoàn.
Kích thước của nồi hơi rất đa dạng. Loại nồi hơi có kích thước nhỏ
thường đã được lắp ráp sẵn, các chi tiết, bộ phận được đặt trong một
ngăn hoặc được gắn trên một đế chung. Như một quy luật, Loại nồi hơi
có kích thước lớn, được lắp ráp tại chỗ bởi các chi tiết khác nhau nằm
trong cùng một cơ cấu, hoặc trong một kết cấu gạch.
(B) NỒI HƠI NƯỚC QUÁ NHIỆT
Đây là loại nồi hơi mà trong đó nước phải chịu một áp suất tương đối
cao tới mức mà nó có thể bị đốt nóng tới một nhiệt độ vượt xa nhiệt độ
của điểm bay hơi thông thường (thường là ở nhiệt độ 180 độ C hoặc cao
hơn).
Các nồi hơi đun nước này có cấu tạo tương đối giống với những nồi hơi
thuộc Phần A ở trên. Áp suất cần thiết cho phép máy hoạt động sẽ thu
được hoặc bằng cách tích hơi nước thùng hơi, hoặc trong một vài trường
hợp, là nhờ có tác động của khí trơ (thường là nitơ). Nước được đun quá
nhiệt bằng nồi hơi sẽ được giữ ổn định bằng áp suất. Nó tuần hoàn trong
vòng tròn khép kín, ra khỏi nồi hơi và lại được đưa vào trong nồi hơi.
Nồi hơi thuộc loại này được dùng để cấp nhiệt lượng, thường ở khoảng
cách, cho các nhà máy công nghiệp (ví dụ: đường ống sấy khô sơn vỏ xe
ô tô), hoặc các máy sưởi trong các khu lớn của các tòa nhà hoặc quận.
Trong trường hợp này, nhiệt được tạo ra bởi bộ phận trao đổi nhiệt trong
đó nước được đun quá nhiệt (luồng thứ nhất), sẽ chuyển một phần nhiệt
cho luồng thứ hai để đảm bảo đun nóng nước.
Để tăng hoặc điều chỉnh sản lượng của nồi hơi nước, các nồi hơi thuộc
nhóm này được gắn thêm rất nhiều thiết bị phụ trợ. Đó chủ yếu là các bộ
phận tiết kiệm nhiệt, làm nóng không khí, thiết bị quá nhiệt và khử quá
nhiệt, các ống để giữ hơi nước, bộ tích hơi nước, các dụng cụ cạo nồi
hơi, thiết bị thu hồi khí gas, vách ngăn lò bằng ống dẫn nước và các thiết
bị khác thuộc nhóm 84.04, máy lọc, máy khử không khí, máy loại khí,
và máy khử độ cứng của nước thuộc nhóm 84.21.
Các bộ phận phụ này được phân loại cùng với các nồi hơi thuộc nhóm
này khi chúng được gắn cùng với các nồi hơi đó hoặc cùng với các thiết
bị được lắp ráp từ chúng - hoặc có thể tạo ra từ trước - tạo thành một
chiếc máy hoàn chỉnh có gắn nồi hơi; Nếu chúng được trình bày riêng
biệt, chúng được phân loại vào nhóm phù hợp với chúng.
Tương tự, với điều kiện các dụng cụ này tạo nên một chiếc máy hoàn
chỉnh, các loại lò đi kèm với nồi hơi cũng được phân loại trong cùng một
nhóm với chúng. Đối với nhóm này, không có sự phân biệt giữa lò đã
được lắp trong nồi hơi và loại được thiết kế để gắn với nồi hơi bằng các
vật liệu xây dựng.
Nhóm này không gồm các loại nồi hơi chỉ có tính năng đun nóng nước
ở nhiệt độ dưới điểm bay hơi bay hơi thông thường, cũng như nồi hơi
dùng cho máy sưởi trung tâm thuộc nhóm 84.03, (cũng được thiết kế để
sản xuất hơi nước ở áp suất thấp).
CÁC BỘ PHẬN
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải khái
quát của Phần XVI), phần này cũng bao gồm các bộ phận của nồi hơi
đun nước thuộc nhóm này, như thân và đáy của nồi hơi, bộ phận bên
trong của nồi hơi được tạo bởi một tập hợp các bộ phận như ống dẫn,
nắp ống dẫn, ống góp nối các đoạn ống, túi khí, vòm, lò không phải loại
tự động, nắp cầu trì.
Các ống và ống dẫn bằng kim loại, được gập hoặc uốn cong, nhưng
không bị gia công theo cách khác, được lắp ráphoặckhông, không được
coi là các bộ phận của nồi hơi và thuộc Phần XV.
84.03 - Nồi hơi nước sưởi trung tâm trừ các loại thuộc nhóm 84.02.
8403.10 - Nồi hơi
8403.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm các loại nồi hơi nước trung tâm đủ mọi kích cỡ
(trừ các loại bếp có nồi hơi phụ của nhóm 73.21) dùng với bất kỳ loại
nhiên liệu nào, (ví dụ: gỗ, than đá, than cốc, khí ga, dầu nhiên liệu, .v.v..)
được dùng để sưởi ấm nhà ở, căn hộ, nhà máy, xưởng sản xuất, nhà kính
v.v.. bằng sự tuần hoàn của nước; nhóm này cũng bao gồm nồi hơi nước
sưởi trung tâm hoạt động bằng điện.
Chúng có thể được lắp với các thiết bị như đo và điều chỉnh áp suất, đo mức
nước, áp kế, hệ thống vòi nước, đầu đốt và bộ phận hoặc phụ kiện tương tự.
Nhóm này cũng bao gồm loại nồi hơi được thiết kế để vừa sản suất hơi
nước với áp suất thấp và vừa sản xuất nước nóng.
BỘ PHẬN
Theo những quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải Khái
quát của phần XVI), nhóm này bao gồm các bộ phận của nồi hơi nước
sưởi trung tâm như vỏ, đáy, đai, nắp đậy...
Những nội dung sau không được coi là bộ phận của nhóm này:
Các loại ống dẫn nối nồi hơi với bộ tản nhiệt và phụ tùng của
chúng (thường ở các nhóm 73.03 đến 73.07).
Bình hoặc khoang chứa giãn nở (nhóm 73.09 và 73.10 hoặc
Đầu đốt của lò (nhóm 84.16).
Vòi, van dẫn hơi nước hoặc dẫn nước nóng (nhóm 84.81).
84.04 – Thiết bị phụ trợ dùng cho các loại nồi hơi thuộc nhóm 84.02
hoặc 84.03 (ví dụ, bộ tiết kiệm nhiên liệu, thiết bị quá nhiệt,
máy cạo rửa nồi hơi, thiết bị thu hồi chất khí); thiết bị ngưng tụ
dùng cho các tổ máy động lực hơi nước hoặc hơi khác.
8404.10 - Thiết bị phụ trợ dùng cho các loại nồi hơi thuộc nhóm 84.02 hoặc
8404.20 - Thiết bị ngưng tụ dùng cho tổ máy động lực hơi nước hoặc hơi
khác
8404.90 - Bộ phận
(A) THIẾT BỊ PHỤ TRỢ DÙNG CHO CÁC LOẠI NỒI HƠI
THUỘC NHÓM 84.02 HOẶC 84.03
Nhóm này bao gồm:
Bộ tiết kiệm nhiên liệu dùng cho việc đun nóng sơ bộ nước cấp
cho nồi hơi bằng cách tận dụng nhiệt thừa của khí thải hoặc, trong
một số loại từ hơi nước thoát ra. Thông thường, chúng gồm một
ống dẫn nhỏ hoặc một chùm ống bằng thép hoặc bằng gang, chúng
thường được gắn thêm cánh nhỏ, dùng để dẫn nước cần được làm
nóng; các ống dẫn hoặc ống tuýp có thể được bọc bằng một lớp thu
nhiệt bằng tôn dầy. Với bộ tiết kiệm nhiên liệu được gọi là trộn
lẫn, hơi nước thải được dẫn trực tiếp vào khoang chứa nước cung
cấp cho nồi hơi.
Bộ làm nóng sơ bộ khí, cũng sử dụng nhiệt thừa. Dụng cụ này
chủ yếu gồm một buồng chứa khí, trong đó bộ phận trao đổi nhiệt
có cấu tạo khác nhau ví dụ, kiểu ống trong đó khí thải nóng tuần
hoàn làm nóng không khí trong buồng; kiểu tấm trong đó không
khí và khí thải tuần hoàn riêng trong các khoang hẹp liền kề nhau.
Một số máy còn được gắn thêm các tấm hãm quay.
Bộ phận quá nhiệt, gồm một ống góp với hệ thống ống bằng thép có
khả năng chịu áp suất cao, trong đó hơi nước thoát ra từ nồi hơi sẽ
được đun nóng tiếp để khử độ ẩm và thu được hơi nước ở nhiệt độ cao.
Bộ phận quá nhiệt thường là một bộ phận của nồi hơi chính, nhưng
trong một số trường hợp chúng có hệ thống ống riêng.
Bộ khử quá nhiệt, dùng để tránh cho nhiệt độ của bộ phận quá
nhiệt tăng đến mức quá cao. Thông thường, chúng được lắp đặt
giữa hai phần của bộ phận quá nhiệt, gồm phần thân bằng gang
trong đó hơi nước đi qua và được làm mát bằng dòng nước.
Bộ thu hơi nước, thân ống dùng để thu hơi nước từ một nhóm nồi
hơi.
Bộ tích hơi nước, là những bình chứa có dung tích lớn hình trụ
bằng thép, có khả năng chịu áp cao dùng trữ hơi nước.
Bộ tích nhiệthoặcthu nhiệt, được dùng để giữ nhiệt dư thừa từ
nồi hơi.
Thành lò bằng các ống dẫn, bao gồm một hệ thống vòi dựng theo
chiều thẳng đứng, đã nối với nhau để truyền nước vào nồi hơi
được xếp dọc theo thành của lò. Chúng có hai tác dụng sau: một
mặt, chúng tạo nên vách ngăn trước thành của lò ngăn cản sự quá
nhiệt của thành lò trong quá trình đun nóng, mặt khác chúng đảm
nhận việc làm nóng nước cung cấp.
Thiết bị loại bỏ muội (máy thổi muội), loại tự độnghoặckhông,
được dùng để cạo rửa muội bám hoặc các phần lắc đọng tương tự
từ các bộ phận hình ống của nồi hơi (ống nước hoặc ống khói, bộ
phận quá nhiệt, bộ tiết kiệm nhiệt,...) bằng cách sử dụng một dòng
hơi nước hoặc không khí nén. Chúng bao gồm một ống (cố định
hoặc có thể thu về được) với một số van điều khiển dòng và một
cặp ống hơi nước hoặc khí nén. Trong một số trường hợp, muội
được thu hồi qua luồng hút ngược.
(10) Thiết bị thu khí ga, đó là những dụng cụ mà mục đích chính là
thu khí ga dư thừa của ống dẫn khói, được trộn lẫn với khí và lại
được đưa vào lò để đốt cháy các chất chưa cháy.
(11) Các dụng cụ rửa sạch, làm sạch cặn nồi hơi.
(B) THIẾT BỊ NGƯNG TỤ DÙNG CHO CÁC TỔ MÁY ĐỘNG
LỰC HƠI NƯỚC HOẶC HƠI KHÁC
Chúng báo gồm nhiều loại thiết bị ngưng tụ, có vai trò làm giảm áp suất
của hơi nước khi thoát ra khỏi mô tơ, làm tăng công suất của nó bằng
cách làm lạnh và ngưng tụ hơi nước thoát ra, qua đó làm tăng hiệu suất
của động cơ. Trong số các loại thiết bị ngưng tụ, có thể kể tên những loại
Thiết bị ngưng tụ trên bề mặt,bao gồm một vỏ hình trụ bao
quanh hệ thống ống . Hơi nước được dẫn vào vỏ hình trụ, và nước
lạnh lưu thông qua các đường ống ( hoặc đôi khi ngược lại) do đó
ngưng tụ hơi nước.
Thiết bị ngưng tụ bằng trộn lẫn, trong đó việc ngưng tụ được thực
hiện bằng sự tiếp xúc trực tiếp giữa hơi nước và nước. Nhóm này bao
gồm loại thiết bị ngưng tụ phun trong đó chân không không hoàn toàn
được tạo thành trong buồng ngưng bằng một luồng nước (hoạt động
như nguyên lý luồng nước trong máy bơm phun).
Thiết bị ngưng tụ làm mát không khí, trong đó tác nhân lạnh là
một luồng khí được tạo bởi một quạt gió trên đoạn ống dẫn hơi
nước.
BỘ PHẬN
Theo những quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem Chú giải tổng
quát phần XVI), nhóm này cũng bao gồm bộ phận của các loại máy và
thiết bị nêu trên.
Các ống tuýp và ống dẫn bằng kim loại, được uốn cong, hoặc gập nhưng
chưa được gia công ở các công đoạn khác, khi trình bày ở dạng chưa lắp
ráp, không được coi là bộ phận của các loại máy thuộc nhóm này và
chúng sẽ được phân loại trong Phần XV.
Các bộ phận sau không thuộc nhóm này, mặc dù có hoặc không sử dụng
trong lò hơi:
Các loại bơm (kể cả bơm phụt, dùng để tiếp nước cho nồi hơi),
quạt gió và các loại máy khác thuộc nhóm 84.13 hoặc 84.14.
(b) Đầu đốt lò, máy nạp nhiên liệu cơ khí, ghi lò và các loại tương tự
(nhóm 84.16).
Thiết bị chưng cất và các thiết bị ngưng tụ khác thuộc nhóm 84.19
Các máy lọc và tinh chế nước, khí ga... (nhóm 84.21).
84.05 - Máy sản xuất chất khí hoặc hơi nước, có hoặc không kèm
theo bộ lọc; máy sản xuất khí axetylen và các loại máy sản
xuất chất khí theo qui trình xử lý bằng nước tương tự, có
hoặc không kèm theo bộ lọc.
8405.10 - Máy sản xuất chất khí hoặc hơi nước, có hoặc không kèm theo bộ
lọc; máy sản xuất khí axetylen và các loại máy sản xuất chất
khí theo qui trình xử lý bằng nước tương tự, có hoặc không
kèm theo bộ lọc
8405.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm các loại máy và thiết bị đồng bộ được dùng để sản
xuất khí ga các loại (ví dụ máy sản xuất chất khí, hơi nước và hỗn hợp
của nó, hoặc acetylene), không phụ thuộc vào mục đích sử dụng của khí
ga sẽ được sản xuất (dùng để thắp sáng, đun nóng công nghiệp, vận hành
động cơ hoạt động bằng khí, dùng để hàn hoặc cắt kim loại, tổng hợp
hoá học.v.v..).
Nhóm này cũng bao gồm máy sản xuất khí gas được thiết kế đặc biệt để
vận hành động cơ của các phương tiện vận tải, tuy nhiên, nhóm này
không bao gồm máy sản xuất khí axetylen chỉ dùng trong đèn chiếu
sáng (nhóm 94.05).
(A) MÁY SẢN XUẤT KHÍ
Loại máy này bao gồm một hình trụ kín, thường gắn với lớp lót chịu lửa
hoặc cấu tạo từ hai thành đóng kín được làm mát bằng nước, một ghi lò
(loại cố định, lắc hoặc quay) cho phép dòng không khí (hoặc không khí
và hơi nước) được thổi hoặc hút qua. Một lớp nhiên liệu dày được đốt
bên trên ghi lò và dòng không khí lẫn hơi nước được điều chỉnh để sự
cháy diễn ra không hoàn toàn. Sự phân hủy của nước và sự cháy không
hoàn toàn của nhiên liệu sản sinh ra khí carbon monoxide (CO) và khí
hydro (H2). Hỗn hợp khí thu được gồm carbon monoxide (CO), hydro
và nitơ (khí than) được dẫn ra trên đỉnh của thiết bị.
Một số loại máy sản xuất chất khí theo kiểu"đốt nghịch", không khí
được thổi từ phía trên xuống đáy dọc theo cạnh của hình trụ và khí ga
được thu hồi ở đáy thiết bị, bên dưới ghi lò. Phương pháp này cho phép
đốt cháy hoàn toàn hắc ín...
(B) MÁY SẢN XUẤT HƠI NƯỚC
Loại máy này cũng có cấu tạo tương tự như loại máy được giới thiệu ở
trên, nhưng được sắp xếp để không khí và nước phun hoặc hơi nước
được luân phiên thổi vào thiết bị. Khí tạo ra khi thổi pha nước vào thiết
bị là một hỗn hợp của carbon monoxide (CO) và hydro cacbon
monoxide (hơi nước) có nhiệt lượng cao hơn khí than. Khí này có thể
được thu riêng rẽ từ khí than thu được trong khi trộn pha nước hoặc
trộn lẫn hai loại khí.
Cả máy sản xuất khí ga và máy sản xuất hơi nước có thể sử dụng
nhiều loại nhiên liệu dạng rắn (ví dụ như than đá, than cốc, than nâu,
than củi, gỗ, chất thải từ thực vật hoặc chất thải khác)
Với những mục đích nhất định, đặc biệt là loại khí ga sử dụng trong các
động cơ, khí ga hoặc khí ga nước phải được được khử toàn bộ các tạp
chất như bụi, hắc ín, hợp chất lưu huỳnh... và trong vài trường hợp
chúng sẽ được làm nóng trở lại hoặc làm lạnh đi. Vì mục đích đó, máy
sản xuất khí ga có thể có các bộ phận lọc như (bộ phận lọc (nón lọc đục
lỗ, các lớp than cốc, thiết bị lọc khí...), bộ phận làm lạnh, làm nóng hoặc
sấy khô... Những bộ phận lọc và thiết bị phụ trợ được phân loại cùng với
máy khi đi cùng với nhau, với điều kiện chúng hoàn toàn phù hợp để sử
dụng cùng nhau. Nếu được trình bày riêng rẽ, chúng sẽ được phân loại
vào các nhóm phù hợp với chúng (ví dụ cho máy lọc, nhóm 84.21).
(C) MÁY SẢN XUẤT KHÍ AXETYLEN TỪ QUY TRÌNH SẢN
XUẤT NƯỚC
Thông thường, những loại máy này thường có cấu tạo đơn giản, bao gồm
một bình chứa khí ga được làm kín bằng nước, hoạt động của nó, dù là
nạphoặcthải khí là tự điều chỉnh thiết bị tạo khí. Thiết bị tạo khí theo ba
dạng sau:
Bằng cách nhúng nhiều lần khối đất đèn vào nước.
Bằng cách hoà dần dần đất đèn trong nước.
Bằng cách nhỏ nước vào đất đèn.
(D) MÁY SẢN XUẤT KHÍ TỪ QUY TRÌNH
SẢN XUẤT NƯỚC KHÁC
Nhóm này bao gồm máy sản xuất khí oxy (ví dụ loại sử dụng trong tàu
ngầm) và máy sản xuất khí etylen (ví dụ dựa vào một số phản ứng của
nước với một số chất hoá học nhất định).
BỘ PHẬN
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải
tổng quát Phần XVI), các bộ phận của các thiết bị trong nhóm này cũng
được phân loại ở đây (ví dụ như, thân máy tạo khí, ghi lò, bộ phận thu
khí ga, bộ phận trộn nước và đất đèn).
Nhóm này không bao gồm:
Thiết bị tạo gió có cơ cấu piston dịch chuyển tự do dùng cho tua
bin khí (nhóm 84.14).
Lò than cốc (ví dụ, máy phát khí thị trấn) (nhóm 84.17).
Máy sản xuất và khuếch tán ô zôn, hoạt động bằng điện, không
dùng cho các mục đích y tế (ví dụ trong công nghiệp, xử lý ô zôn
của các khu nhà), và máy sản xuất khí gas bằng điện.. ví dụ:
nitrogen dioxide, hydrogen sulphide hoặc axit prussic (nhóm
85.43) và các loại máy xử lý ô zôn trong y tế (nhóm 90.19).
84.06 - Tua bin hơi nước và các loại tua bin hơi khác.
8406.10 - Tua bin dùng cho máy thủy
- Các loại tuabin khác:
8406.81 - - Công suất đầu ra trên 40 MW
8406.82 - - Công suất đầu ra không quá 40 MW
8406.90 - Bộ phận
Nhóm này gồm các loại tuabin hơi nước sử dụng động năng do sự kết
hợp của hơi nước tác động lên cánh tuabin và vành rôto. Tuabin được
cấu tạo chủ yếu bởi các bộ phận sau:
Một rôto, bao gồm một trục được gắn cố định trên một vành bánh
xe (hoặc nhiều bánh xe) mà gắn một hàng các cánh quạt được đặt
sát nhau thường có mặt cắt dạng cong xung quanh và thỉnh thoảng
được biết đến như là các cánh tuabin.
Một stator bao gồm một vỏ, mà rôto được đỡ và quay tròn trong
đó; bao gồm một hệ thống các cánh quạt tĩnh hoặc các vòi ống để
dẫn hướng hơi nước lên cánh của rôto.
Trong tuabin “xung” , stator được cung cấp các vòi ống mà ở đó hơi
nước giãn nở và phát ra với tốc độ cao tiếp tuyến với các cánh quạt
tuabin của rôto. Trong tuabin “phản lực” , cánh của roto quay tròn giữa
những cánh quạt tĩnh có hình dạng tương đồng được gắn cố định trong
hình dạng đảo chiều xung quanh bề mặt của stator, được sắp xếp để làm
cho luồng hơi nước di chuyển theo hướng trục qua những cánh quạt của
stator, và lên những cánh quạt cạnh đó của rôto.
Nhằm nâng cao hiệu suất, hai dạng tuabin này thường được kết hợp với
nhau thành dạng “tuabin hỗn hợp”, nhưng thông thường, một loạt các
roto được gắn cố định trên một trục chung (tuabin nhiều tầng) cho phép
tận dụng sự giãn nở của hơi nước.
Vận tốc quay rất lớn của tuabin làm chúng đặc biệt phù hợp sử dụng để
dẫn động trực tiếp các loại máy như máy phát điện (tuabin-máy phát),
máy nén, quạt gió hoặc bơm ly tâm. Khi chúng được sử dụng vào các
mục đích khác (ví dụ cho tàu thuỷ hơi nước hoặc đầu máy tầu hoả),
tuabin thường được gắn thêm các bộ phận giảm tốc độ, hoặc có thêm bộ
đảo chiều. Bộ phận giảm tốc độ và bộ phận đảo chiều nếu trình bày riêng
sẽ bị loại trừ (nhóm 84.83).
Nhóm này cũng bao gồm các tuabin hơi thuỷ ngân. Đây là các thiết bị
mà cấu trúc và công năng của chúng tương tự như của tuabin hơi nước
như miêu tả ở trên, nhưng sử dụng hơi thủy ngân thay cho hơi nước.
BỘ PHẬN
Một bộ phận quan trọng của tuabin là một cơ cấu điều chỉnh, theo đó
việc cung cấp hơi nước hoặc loại hơi khác đến tuabin có thể được hiệu
chỉnh để phù hợp với khối lượng và giữ ở một tốc độ ổn định.
Theo quy tắc chung liên quan về phân loại các bộ phận (xem phần chú
giải tổng quát Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận khác của
tuabin ( như xéc măng của stato và rôto, cánh của stato hoặc rôto).
84.07 - Động cơ đốt trong kiểu piston chuyển động tịnh tiến hoặc
kiểu piston chuyển động quay đốt cháy bằng tia lửa điện (+).
8407.10 - Động cơ phương tiện bay
- Động cơ máy thủy:
8407.21 - - Động cơ gắn ngoài
8407.29 - - Loại khác
- Động cơ đốt trong kiểu piston chuyển động tịnh tiến
dùng để tạo động lực cho các loại xe thuộc Chương
8407.31 - - Dung tích xi lanh không quá 50 cc
8407.32 - - Dung tích xi lanh trên 50 cc nhưng không quá
8407.33 - - Dung tích xi lanh trên 250 cc nhưng không quá
8407.34 - - Dung tích xi lanh trên 1.000 cc
8407.90 - Động cơ khác
Nhóm này bao gồm các loại động cơ piston đốt trong chuyển động tịnh
tiến hoặc kiểu piston chuyển động quay tròn, đốt cháy bằng tia lửa điện
(động cơ có rôto đĩa 3 thuỳ kiểu Wankel), mồi lửa bằng tia lửa điện, trừ
loại thuộc Chương 95. Kể cả loại động cơ cho xe có động cơ.
Các động cơ này chủ yếu gồm các bộ phận sau: xi lanh, piston, biên, trục
khuỷu, bánh đà, van nạp và xả... chúng sử dụng lực giãn nở của hỗn hợp
khí và nhiên liệu khí ga hoặc hơi khác dễ cháy, bị đốt bên trong xi lanh.
Tính đặc trưng của loại động cơ này là có một bugi đánh lửa gắn cố định
bên trên quy lát và với một thiết bị điện ( như, ma nhê tô, cuộn dây, bộ
ngắt mạch) được đồng bộ với mô tơ để cung cấp dòng điện cao thế.
Trong các loại động cơ thông dụng, nhiên liệu và không khí được trộn
lẫn (ví dụ tại bộ chế hoà khí) trước khi được đưa vào trong xi lanh bằng
kỳ hút của hành trình piston, nhưng trong một số trường hợp (ví dụ trong
các động cơ của máy bay hoặc động cơ của một số loại ô tô), người ta
dùng bơm phun trực tiếp nhiên liệu vào trong quy lát.
Nhiên liệu được sử dụng nhiều nhất là xăng, nhưng người ta cũng có thể
sử dụng dầu hoả (kerozen), cồn, khí hydro, khí than, khí mê tan...
Động cơ chạy bằng khí ga đôi khi được tiếp nhiên liệu bằng thiết bị tạo
khí ga được gắn trong động cơ, nhưng thông thường thiết bị tạo khí ga
nằm ngoài động cơ, và trong trường hợp này, máy tạo khí luôn luôn
được phân loại thuộc nhóm 84.05.
Động cơ thuộc nhóm này có thể là động cơ một xi lanh hoặc động cơ
nhiều xi lanh. Nếu động cơ có nhiều xi lanh, phần thanh truyền (biên)
thường được lắp với trục khuỷu, và xi lanh, được tiếp nhiên liệu riêng
biệt, có thể sắp xếp theo nhiều cách, ví dụ theo hướng thẳng đứng
(thẳnghoặcngược chiều), chia thành hai nhóm đối xứng nghiêng, (động
cơ hình chữ V), hoặc xếp đối với nhau trên trục khuỷu, ngoài ra đối với
động cơ dùng cho một số loại phương tiện bay còn có thể là hướng tâm
(hình sao). Động cơ piston quay (động cơ Wankel) vận hành theo cùng
nguyên tắc với động cơ piston quay đã được miêu tả ở trên. Tuy nhiên,
thay cho bộ phận trục khuỷu do piston kéo theo được nối với một thanh
truyền, động cơ piston quay gồm một rôto ba thuỳ đĩa kéo theo một trục
của khoang đốt có hình dạng đặc biệt.
Piston chia khoang đốt thành nhiều ngăn, mỗi một vòng quay hoàn chỉnh
đối với một phần của rôto là 1 chu kỳ gồm 4 kỳ . Các động cơ này có thể
gồm nhiều khoang đốt và nhiều rôto.
Động cơ thuộc nhóm này có thể có nhiều tác dụng: lắp trong máy móc
sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, dẫn động máy phát điện,
bơmhoặcnén khí , dùng làm động cơ đẩy của máy bay, ô tô, xe máy, máy
kéo hoặc tàu thủy.
Động cơ thuộc nhóm này cũng có thể được lắp thêm bộ phận bơm phun,
các bộ phận đánh lửa, bình chứa nhiên liệu hoặc dầu, quạt gió, bơm
xăng, bơm dầu, bộ tản nhiệt bằng nước hoặc dầu, bộ phận lọc không
khíhoặclọc dầu, bộ ly hợp hoặc các thiết bị khác dùng để đẩy động cơ
hoặc thiết bị phụ trợ để khởi động, chạy điện hoặc khác. Các động cơ
này cũng có thể bao gồm bộ phận giảm tốc độhoặcbộ phận thay đổi tốc
độ khác. Chúng có thể được gắn thêm một trục đàn hồi.
Nhóm này cũng bao gồm các "động cơ gắn ngoài" để đẩy các loại
xuồng, thuyền nhỏ, bao gồm một động cơ thuộc nhóm này, một chân vịt
và một thiết bị lái, tạo thành một đơn vị hoàn chỉnh, không thể tách rời.
Các động cơ này được thiết kế để gắn bên ngoài của vỏ thuyền nhỏ,
chúng có thể tháo rời và xoay theo các hướng,hoặcnói một cách khác
chúng có thể được tháo và lắp ráp một cách dễ dàng, toàn bộ các thiết bị
này được lắp cố định trên sàn phương tiện. Tuy nhiên, những động cơ
được gắn cố định bên trong vỏ tàu tại phía đuôi tàu được kết hợp với hệ
chân vịt - bánh lái điều khiển đặt ở vị trí tương ứng bên ngoài tàu, sẽ
không được coi là động cơ gắn ngoài.
Nhóm này cũng bao gồm động cơ di động chứa động cơ được gắn trên
một khung có bánh xe hoặc trên các con lăn, bao gồm các động cơ có cơ
cấu dẫn động cho phép chúng tự đẩy đến một phạm vi nhất định (nhưng
không tạo thành phương tiện của Chương 87).
Nhóm này loại trừ các loại động cơ nén có piston, đánh lửa bằng tia lửa
điện, được thiết kế chủ yếu để xác định trị số ốc-tan, xê-tan của các loại
nhiên liệu động cơ (Chương 90).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải Khái
quát của Phần XVI), bộ phận của các động cơ thuộc nhóm này được
phân loại vào nhóm 84.09.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 8407.10
Khái niệm “động cơ phương tiện bay” dùng để chỉ loại động cơ được
thiết kế hoặc cải tiến để phù hợp gắn với cánh quạt hoặc roto.
Các phân nhóm 8407.31, 8407.32,8407.33 và 8407.34
Đối với những động cơ nhiều xi lanh, dung tích xi lanh được tính bằng
dung tích phần xi lanh, được quét bởi piston giữa điểm chết bên dưới và
điểm chết bên trên, được nhân với số lượng xi lanh.
84.08 - Động cơ đốt trong kiểu piston cháy do nén (động cơ diesel hoặc
bán diesel).
8408.10 - Động cơ máy thuỷ
8408.20 - Động cơ dùng để tạo động lực cho các loại xe thuộc
Chương 87
8408.90 - Động cơ khác
Nhóm này bao gồm các động cơ đốt trong kiểu piston cháy do nén (trừ
những loại thuộc Chương 95), kể cả loại dùng cho xe có gắn động cơ.
Những loại động cơ này có cơ cấu máy móc giống với động cơ đốt trong
kiểu piston cháy do nén và có bộ phận cấu thành chính tương tự (ví dụ
xi lanh, piston, biên (thanh truyền), trục khuỷu, bánh đà, van nạp và van
xả ...) nhưng khác ở chỗ không khí (hoặc đôi khi là không khí trộn với
khí ga) đầu tiên được nạp vào xi lanh nơi chúng được nén một cách
nhanh chóng. Sau đó nhiên liệu lỏng dạng các hạt nhỏ được phun vào
buồng đốt nơi nó tự động cháy do nhiệt độ tăng, mức độ nén này cao
hơn rất nhiều so với động cơ đốt cháy bằng tia lửa điện.
Ngoài các động cơ được gọi là động cơ diesel, còn có một dạng động cơ
khởi động trung gian bằng sức nén còn được gọi là động cơ bán diesel,
hoạt động với một sức nén yếu hơn. Để khởi động loại này đòi hỏi làm
nóng từ trước đầu xi lanh bằng một đèn xì (động cơ đốt đầu), hoặc phải
sử dụng bugi đốt nóng.
Động cơ đốt trong kiểu piston cháy do nén sử dụng nhiên liệu lỏng nặng
như: dầu nặng chế từ dầu khí hoặc dầu hắn ín than đá, dầu đá phiến, dầu
thực vật (ví dụ: dầu lạc, thầu dầu, dầu cọ...).
Các động cơ thuộc nhóm này cũng có thể là động cơ một xi lanh hoặc
nhiều xi lanh. Nếu là động cơ nhiều xi lanh, các thanh truyền sẽ được nối
với cùng một trục quay (trục khuỷu) và với các xi lanh, được tiếp nhiên
liệu riêng biệt, chúng có thể được lắp đặt theo nhiều kiểu: theo kiểu dọc
(chiều thẳng đứnghoặcchiều ngược lại), thành hai nhóm đối xứng
nghiêng (động cơ hình chữ V) hoặc đối xứng.
Động cơ thuộc nhóm này có thể được dùng trong nhiều công việc, chủ
yếu như sau: được lắp ráp trong máy nông nghiệp, bơm hoặc máy ép,
đẩy ô tô, máy kéo, đầu máy xe lửa hoặc tàu thuỷ, trang bị trong các nhà
máy điện.v.v...
Các động cơ thuộc nhóm này có thể được gắn thêm bơm phun, các bộ
phận đánh lửa, bình đựng nhiên liệu hoặc đựng dầu, quạt máy, bơm
dầu..., bộ tản nhiệt dầu hoặc nước, bộ lọc khí hoặc dầu, các bộ phận phụ
dùng để khởi động (điện hoặc các loại tương tự khác). Các động cơ này
cũng có thể gồm bộ phận thay đổi tốc độ. Những động cơ này có thể
được trang bị một trục đàn hồi.
Nhóm này cũng bao gồm động cơ di động chứa động cơ được gắn trên
một khung có bánh xe hoặc trên các con lăn, bao gồm các động cơ có cơ
cấu dẫn động cho phép chúng tự đẩy đến một phạm vi nhất định (nhưng
không tạo thành phương tiện của Chương 87).
Nhóm này loại trừ các loại động cơ nén có piston, đánh lửa bằng tia lửa
điện, được thiết kế chủ yếu để xác định trị số ốc –tan và xê –tan của các
loại nhiên liệu động cơ (Chương 90).
BỘ PHẬN
Theo các quy tắc về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải Tổng
quát của Phần XVI), bộ phận của các động cơ thuộc nhóm này được
phân loại trong nhóm 84.09.
84.09 - Các bộ phận chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho các loại động cơ
thuộc nhóm 84.07 hoặc 84.08.
8409.10 - Dùng cho động cơ phương tiện bay
- Loại khác:
8409.91 - - Chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho động cơ đốt trong kiểu
piston đốt cháy bằng tia lửa điện
8409.99 - - Loại khác
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải
tổng quát của Phần XVI), nhóm này bao gồm các bộ phận của động cơ
đốt trong kiểu piston thuộc các nhóm 84.07 hoặc 84.08 (như piston, xi
lanh, thân động cơ, quy lát, phần vỏ xi lanh, xu páp, van nạp và van xả,
hệ thống ống thu, nạp nhiên liệu, xéc -măng, biên (thanh truyền), bộ chế
hoà khí, bơm phun).
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm:
Bơm phun các loại (nhóm 84.13).
Trục quay (trục khuỷu) và trục cam (nhóm 84.83); hộp số (nhóm
Thiết bị điện dùng khởi động hoặc mồi, (kể cả bugi đánh
lửahoặclàm nóng) (nhóm 85.11).
84.10 - Tua bin thủy lực, bánh xe guồng nước, và các bộ điều chỉnh
của chúng.
- Tua bin thủy lực và bánh xe guồng nước:
8410.11 - - Công suất không quá 1000 kW
8410.12 - - Công suất trên 1.000 kW nhưng không quá 10.000 kW
8410.13 - - Có công suất trên 10 000 kW
8410.90 - Bộ phận, kể cả bộ điều chỉnh
Nhóm này bao gồm các loại tuabin thuỷ lực và bánh xe guồng nước,
chúng có thể tự thu được động năng từ năng lượng có được do sự chuyển
động của khối chất lỏng hoặc chất lỏng chịu áp lực (ví dụ như dòng
nước chảy hoặc thác nước, áp lực của nước, dầu hoặc các loại lưu chất
đặc biệt). Các loại động cơ và động cơ gắn máy này có thể hoạt động
bằng cách hướng khối nước trực tiếp đi vào quạt nước, cánh tuabin hoặc
các bộ phận xoắn ốc trên bánh đà.
(A) TUABIN THUỶ LỰC
Tuabin thuỷ lực bao gồm một rôto nằm trong một stato có tác dụng đảm
bảo phân phối nước đều trên các cánh quạt..., của rôto.
Tuabin thuỷ lực gồm ba dạng chủ yếu sau:
Tuabin gắn cánh quạt nước, theo kiểu Pelton, được dùng đối
với các dòng chảy áp suất cao, có lưu lượng chảy tương đối nhỏ.
Rôto bao gồm một bánh đà được gắn nhiều cánh quạt nước tỏa
tròn ra xung quanh chu vi ngoài. Phần stato bao gồm một phần
thân với một hoặc nhiều ống dẫn trực tiếp dòng nước tác động tiếp
tuyến lên các cánh quạt nước
Tuabin gắn chân vịt, theo kiểu Francis, được dùng đối với các
dòng chảy áp suất trung bình và thấp, với lưu lượng chảy lớn.
Chúng bao gồm một khối rôto bằng thép với những cánh quạt xoắn
ốc gắn cố định, và một stato gồm có một ống dẫn xoáy trôn ốc
(khung hình xoắn ốc), có thêm các cánh quạt lớn đảm bảo phun
nước tới toàn bộ chu vi ngoài của rôto và một cửa xả nước dọc
theo trục.
Tuabin gắn chân vịt có cánh quạt định hướng, theo kiểu
Kalpan, được dùng đối với các dòng chảy áp suất thấp; Những
loại tuabin này, cũng gần giống với dạng nêu ở phần trước Cả rôto
và stato đều có những cánh có góc có thể điều chỉnh được.
Tuabin thuỷ lực thường được sử dụng nhà máy thủy điện.
(B) BÁNH XE GUỒNG NƯỚC
Những loại động cơ đơn giản này gồm một bánh xe lớn được gắn với các
cánh phằng hoặc lõm làm bằng gỗ hoặc kim loại xung quanh chu vi
ngoài của nó, trục của bánh xe thường được gắn với bộ truyền gia tốc.
Lực cơ học được sinh ra được sử dụng trực tiếp trong phân xưởng nhỏ,
xưởng cưa, cối xay xát, ...
Tuy có hình dáng bên ngoài giống nhau, nhưng loại guồng nước có gắn
cánh quạt dùng cho tầu thuỷ không thuộc nhóm này (nhóm 84.87).
Nhóm này cũng không gồm các máy đo tốc độ nước trong ngành thuỷ
học (nhóm 90.15).
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem chú giải tổng quát
Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của tuabin thủy lực
hoặc bánh xe guồng nước (như: guồng nước, cánh guồng nước, cánh
quạt, rôto, stato, ống dẫn nước xoắn ốc, các bộ phận điều chỉnh tự động,
tuỳ theo loại tuabin, bộ phận điều chỉnh lưu lượng nước trong ống tuýp,
hoặc tác động của cánh quạt (hệ thống van xả) hoặc cánh quạt chân vịt,
để giữ nguyên tốc độ quay khi có những thay đổi về tải trọng, hoặc với
kim của bộ phận điều chỉnh).
84.11 - Tua bin phản lực, tua bin cánh quạt và các loại tua bin khí
khác (+).
- Tuabin phản lực:
8411.11 - - Có lực đẩy không quá 25 kN
8411.12 - - Có lực đẩy trên 25 kN
- Tuabin cánh quạt:
8411.21 - - Công suất không quá 1.100 kW
8411.22 - - Công suất trên 1.100 kW
- Các loại tuabin khí khác:
8411.81 - - Công suất không quá 5.000 kW
8411.82 - - Công suất trên 5.000 kW
- Bộ phận:
8411.91 - - Của tuabin phản lực hoặc tuabin cánh quạt
8411.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại tuabin phản lực, tuabin cánh quạt và các
loại tuabin khí khác.
Các loại tuabin thuộc nhóm này chủ yếu là động cơ đốt trong, thường
hoạt động mà không cần đến nguồn năng lượng từ bên ngoài, ví dụ như
trường hợp của tuabin chạy bằng hơi nước.
(A) TUABIN PHẢN LỰC
Một tuabin phản lực bao gồm một máy nén, một hệ thống buồng đốt,
một tuabin và vòi phun, đó là một ống hội tụ đặt trong ống khí xả. Khí
nóng dưới áp suất thoát ra từ tuabin được chuyển đổi thành khí hơi nước
tốc độ lớn thông qua vòi. Phản ứng do luồng khí thoát ra từ động cơ tạo
nên sức đẩy có thể được dùng để khởi động máy bay. Trong các loại
tuabin đơn giản nhất, phần nén và tuabin được lắp trên cùng một trục.
Trong các dạng tuabin khác có cấu tạo phức tạp hơn, chúng gồm có một
bộ phận nén có hai thân và mỗi thân được kéo bởi một tuabin riêng
thông qua một trục chung. Thông thường, một chiếc quạt thông gió sẽ
được lắp ở cửa bộ phận nén; nó sẽ được chiếc tuabin thứ ba kéo hoặc
được nối với phần thân thứ nhất của máy nén và thổi khí ngược lại phía
sau thông qua một đường rãnh. Chiếc quạt thông gió này có hình dạng
gần giống một chân vịt hình thoi, phần lớn lượng khí được tạo ra và thổi
ngược lại không đi vào trong máy nén và tuabin, nhưng sẽ kết hợp với
luồng khí được tạo ra từ các bộ phận này và cùng tạo nên một lực đẩy
phụ. Trong vài trường hợp, dạng tuabin phản lực này còn có thể được
gọi là động cơ phản lực có lực đẩy phụ.
Các tuabin phản lực còn có một thiết bị phụ trợ gọi là bộ phận đốt cháy
tiếp, để nâng cao sức mạnh trong những giai đoạn ngắn. Thiết bị này có
chất đốt nuôi riêng và dùng ô xy dư thừa thoát ra từ tuabin phản lực.
(B) TUABIN CÁNH QUẠT
Loại tuabin cánh quạt cũng gần giống với tuabin phản lực, nhưng có
thêm một tuabin ở phần dưới của tuabin nén khí, được nối với một cánh
quạt thông thường giống như loại được sử dụng trong các động cơ piston
dùng cho máy bay. Loại tuabin này thường được gọi là “tuabin tự do”,
nghĩa là nó không được nối với máy nén và trục của tuabin nén khí. Do
đó, trong tuabin cánh quạt, phần lớn luồng khí nóng sẽ chuyển thành
năng lượng cơ học dưới tác động của tuabin tự do, cho phép kéo thân
cánh quạt thay vì chúng sẽ giãn ra trong ống tuy-e, như trong trường hợp
của các tuabin phản lực. Trong một số trường hợp, khí thoát ra từ tuabin
tự do cũng có thể sẽ giãn ra trong ống tuy-e để có thể tạo ra một lực đẩy
phụ cho lực đẩy của cánh quạt.
(C) CÁC LOẠI TUABIN KHÍ KHÁC
Nhóm này bao gồm các loại tuabin khí công nghiệp, tức là các loại
tuabin được thiết kế đặc biệt để dùng trong công nghiệp hoặc bao gồm
các tuabin phản lực hoặc tuabin cánh quạt được thiết kế để thích ứng với
các ứng dụng khác nhau trừ loại được dùng để đẩy các thiết bị bay.
Có hai dạng tuabin khí phân biệt theo chu kỳ:
Chu kỳ đơn giản trong đó không khí được hút vào và được nén tại
máy nén, được đốt nóng trong buồng đốt và đi qua tuabin để thoát ra
ngoài.
Chu kỳ hồi nhiệt trong đó không khí được hút vào và được nén, sau
đó đi qua ống dẫn của bộ phận thu hồi khí. Khí được làm nóng từ
trước nhờ vào luồng khí bơm vào trong tuabin, đi qua buồng đốt, ở đó
chúng sẽ được làm nóng lần thứ hai sau khi đã được trộn với nhiên
liệu thích hợp. Hỗn hợp giữa nhiên liệu và khí này đi qua tuabin rồi
được bơm vào ống dẫn khí nóng của bộ phận thu hồi khí, cuối cùng
thoát ra ngoài.
Có hai dạng tuabin khí phân biệt theo cấu tạo:
Tuabin khí chỉ có một đường trục, trong đó máy nén và tuabin nằm
trên cùng một trục, tuabin cung cấp năng lượng cần thiết để quay máy
nén đồng thời kéo theo những loại máy khác được mắc vào nó. Loại
tuabin này rất có ích trong các ứng dụng cần có vận tốc quay lớn và
ổn định, như trong sản xuất điện.
Tuabin khí có hai đường trục, trong đó máy nén, buồng đốt và tổ hợp
tuabin nén khí tạo nên một đơn vị thường được gọi dưới tên thiết bị
sản xuất khí, tuabin thứ hai được lắp trên một trục riêng, tiếp nhận khí
nóng chịu áp lực từ thiết bị sản xuất khí. Loại tuabin thứ hai, được gọi
là tuabin công, dùng để lai các thiết bị nén hoặc bơm. Tuabin có hai
đường trục thường được đáp ứng nhu cầu đa dạng về công suất và có
tốc độ quay.
Các tuabin khí này thường được sử dụng trong động cơ thuỷ, kéo tàu
hoả, trong các nhà máy sản xuất điện hoặc dùng để lai các thiết bị cơ khí
trong công nghiệp dầu khí, công nghiệp sản xuất ga, tại các trạm bơm
ống dẫn dầu và trong công nghiệp hoá dầu.
Nhóm này cũng bao gồm các tuabin khí không có buồng đốt, chỉ có một
phần động (rô to) và một phần tĩnh (sta to) và sử dụng năng lượng do khí
sản sinh ra từ các thiết bị khác (ví dụ: máy sản xuất khí, động cơ điezel,
động cơ phát điện quay tự do), cũng như các loại tuabin khí hoặc các
loại khí nén khác.
BỘ PHẬN
Theo các quy tắc về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải tổng quát
của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của các loại động
cơ thuộc nhóm này (như rôto của tuabin khí, buồng đốt và ống tuy-e của
động cơ phản lực, các chi tiết và các bộ phận của tổ hợp thiết bị tuabin
nén khí của một tuabin phản lực (các vòng stato, có hoặc không các
guồng quay; đĩa hoặc bánh của rô to, có hoặc không có cánh quạt, guồng
và cánh quạt), các bộ phận điều chỉnh lưu lượng nhiên liệu, vòi phun
nhiên liệu).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 8411.11 và 8411.12
Các sản phẩm có thể được phân biệt bằng khối lượng xả khí/ giây, khối
lượng khí được bơm, bởi sự khác biệt giữa tốc độ xả và tốc độ hút khí.
84.12 - Động cơ và mô tơ khác.
8412.10 - Động cơ phản lực trừ tua bin phản lực
- Động cơ và mô tơ thuỷ lực:
8412.21 - - Chuyển động tịnh tiến (xi lanh)
8412.29 - - Loại khác
- Động cơ và mô tơ dùng khí nén:
8412.31 - - Chuyển động tịnh tiến (xi lanh)
8412.39 - - Loại khác
8412.80 - Loại khác
8412.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm các mô tơ và động cơ không thuộc các nhóm trước
(từ nhóm 84.06 đến 84.08, 84.10 hoặc 84.11) và cũng không thuộc các
nhóm 85.01 hoặc 85.02. Như vậy, nhóm này bao gồm các loại động cơ
không hoạt động bằng điện, không phải là các tuabin hơi nước và tuabin
hơi khác, các động cơ đốt trong kiểu piston, tuabin thuỷ lực, bánh xe
guồng nước, tuabin phản lực, tuabin cánh quạt hoặc tuabin khí khác.
Nhóm này bao gồm các động cơ phản lực (trừ các tuabin phản lực), các
động cơ và mô tơ khí nén, động cơ chạy bằng sức gió (động cơ gió), các
động cơ có lò xo, động cơ chạy bằng đối trọng.v.v.., cũng như một số
loại tuabin thuỷ lực hoặc chạy bằng hơi nước hoặc hơi khác.
(A) ĐỘNG CƠ PHẢN LỰC TRỪ CÁC LOẠI TUABIN PHẢN LỰC
Động cơ phản lực thuận dòng.
Đây là một loại động cơ có cấu tạo cơ khí đơn giản, nhưng chỉ có
thể hoạt động trên các máy có tốc độ cao. Nó không có tuabin nén
cấp khí, đây là phần cho phép xác định tính chất của tuabin phản
lực; nhờ lực đẩy, khí sẽ được nạp và nén ngay tại buồng đốt thông
qua ống tuy-e. Giai đoạn khí chuyển động chậm khi thoát ra ngoài
qua đoạn ống tuy-e cũng cho phép tạo nên sức đẩy phản lực.
Động cơ phản lực xung.
Động cơ này khác với động cơ phản lực thuận dòng ở chỗ khí
thoát ra không liên tục từ đoạn ống tuy-e, quá trình làm nóng khí
được thực hiện ngay tại buồng đốt dưới dạng các tiếng nổ liên tục.
Khác với động cơ phản lực thẳng, động cơ này có thể được khởi
động từ trạng thái nghỉ, tác động của lực đẩy cho phép hút khí vào.
Loại động cơ đẩy này chủ yếu được sử dụng trong ngành hàng
không, như dùng để chế tạo động cơ phụ giúp máy bay cất cánh.
Động cơ tên lửa.
Đó là các động cơ phản lực mà trong đó, nhiên liệu bị đốt cháy
bằng chính các nhiên liệu và phụ gia mà không cần đến tác động
của khí từ bên ngoài.
Có hai loại chủ yếu sau:
(i) Động cơ phản lực chạy bằng nhiên liệu lỏng: loại này chủ yếu
gồm buồng đốt được nối với một hoặc nhiều bình chứa nhiên
liệu đẩy và một ống tuy-e để thoát khí thông qua một hệ thống
ống và bơm. Bơm hoạt động được nhờ một tuabin do một máy
sản xuất khí. Hệ thống bơm tạo nên bộ phận quan trọng nhất
của tên lửa. Nhiên liệu sử dụng chủ yếu là cồn êtilic, hyđrat
hydro…; ngoài ra còn có hydro peroxit, pecmaganat kali, oxy
lỏng, axit nitric...
(ii) Động cơ phản lực chạy bằng nhiên liệu rắn, loại này chủ yếu
gồm một buồng nén hình trụ và một ống tuy-e để thoát khí.
Buồng đốt và nhiên liệu đẩy nằm trong cùng một ngăn. Trong
loại tên lửa này, người ta thường sử dụng nhiên liệu như
peclorat amoni, poly-uteran. Một số loại tên lửa sử dụng nhiên
liệu có dạng bột và hoặc các loại chất nổ thuộc Chương 36.
Động cơ tên lửa được phân loại ở nhóm này chỉ khi nó dùng tạo thành
các đơn vị đẩy (động cơ phụ hoặc động cơ giúp máy bay cất cánh, dẫn
đường tên lửa, phóng tàu vũ trụ hoặc vệ tinh).
Nhóm này không bao gồm:
Các loại tên lửa dùng kĩ thuật hoả pháo, như tên lửa bắn pháo hoa, tên
lửa chống mưa đá và tên lửa phóng khí cầu (nhóm 36.04).
Phương tiện đẩy để phóng tàu vũ trụ hoặc vệ tinh (nhóm 88.02).
Các loại đạn phóng dùng trong chiến đấu (nhóm 93.06).
(B) ĐỘNG CƠ VÀ MÔ TƠ THUỶ LỰC
Nhóm này bao gồm:
Các loại động cơ, trừ tuabin hoặc các loại bánh xe thuộc nhóm
84.10, hoạt động bằng năng lượng sinh ra từ sóng biển(rô to Savonius
có hai guồng nước hình bán trụ) từ thuỷ triều.
Máy cột nước, trong đó nước dưới tác động của áp suất làm cho hai
hoặc nhiều piston chuyển động trượt trong xi lanh và khiến trục hoạt
động.
Xi lanh thuỷ lực, gồm phần thân chính bằng đồng thau hoặc bằng
thép và một piston chạy bằng dầu (hoặc bằng một chất lỏng khác)
dưới tác động một chiều hoặc hai chiều của áp suất do piston chuyển
động tạo nên cho phép chuyển năng lượng của chất lỏng dưới áp lực
thành chuyển động tịnh tiến. Loại xi lanh này dùng để trang bị cho
các loại máy, dụng cụ dùng trong xây dựng, các thiết bị định
hướng.v.v...
Bộ chuyển động thuỷ lực, được giới thiệu riêng biệt, với phần thân
bằng kim loại, trong có một piston, thông qua một trục vuông góc với
phần thân, chuyển luồng nước thẳng dưới tác động của áp suất thành
luồng quay tròn, dùng để điều khiển van có nắp quay hoặc các loại
máy, động cơ quay khác.
Động cơ trợ động thuỷ lực, có vai trò của bộ chuyển động cuối hoặc
trung gian trong một bộ điều khiển liên hệ ngược hoặc một hệ thống
điều chỉnh. Động cơ trợ động thuỷ lực có thể được sử dụng trong
ngành hàng không.
Hệ thống thuỷ lực, bao gồm một tập hợp các bộ phận đẩy thuỷ (chủ
yếu gồm: một bơm thuỷ lực, một động cơ điện, van điều khiển và một
bình chứa dầu), xi lanh và các ống dẫn hoặc ống tuýp được dùng để
nối xi lanh với tập hợp các bộ phận trên, toàn bộ các chi tiết trên tạo
nên bộ máy vận hành theo đúng quy định trong Chú giải 4 của Phần
XVI (xem phần Chú giải Tổng quát của Phần XVI). Các thiết bị này
chủ yếu được dùng trong ngành công chính.
Động cơ thuỷ lực phản lực, còn được gọi là hydrojet, dùng cho
xuồng, thuyền nhỏ, bao gồm một bơm hút nước từ sông hoặc biển rồi
phun lại phía sau với tốc độ lớn thông qua ống tuy-e được định hướng
trước đặt phía sau của xuồnghoặcdưới vỏ thuyền
(C) ĐỘNG CƠ VÀ MÔ TƠ KHÍ NÉN
Sử dụng nguồn năng lượng khí nén (khí ga) từ bên ngoài, các động cơ loại
này có thể được so sánh với các máy chạy bằng hơi nước do cách thức vận
hành và cấu tạo của chúng, thông thường, chúng có dạng động cơ đốt trong
hoặc dạng một tuabin. Chúng thường bao gồm một đầu đốt hoặc một bộ phận
làm nóng khác dùng để tăng áp suất không khí (nhờ đó gia tăng năng lượng),
đồng thời cho phép tránh cho xi lanh bị hư hỏng khi nhiệt độ hạ đột ngột.
Các động cơ này chủ yếu được sử dụng tại các khu mỏ, nhất là dùng để
trang bị cho đầu máy kéo hoặc kéo tời, vì khả năng đảm bảo an toàn của
loại này đối với các nguy cơ nổ khí mỏ. Chúng còn được dùng như động
cơ phụ giúp khởi động các động cơ đốt trong mồi bằng tia lửa hoặc bằng
sức nén (dùng trong một số loại đầu máy xe lửa, máy bay, tầu
ngầm.v.v..) và chúng còn được sử dụng để phóng ngư lôi.
Nhóm này cũng gồm:
Động cơ có cánh quạt nhỏ, động cơ có bánh răng ăn khớp, và động cơ
có piston đồng trục hoặc xuyên tâm, dùng để truyền khí.
Xi lanh khí nén, gồm một phần thân bằng đồng thau hoặc bằng thép,
và một piston hoạt động bởi tác động của khí nén, một chiều hoặc hai
chiều, để chuyển hoá năng lượng của khí chịu áp lực thành luồng
thẳng đứng. Các xi lanh này được dùng để trang bị cho máy móc,
dụng cụ, thiết bị sử dụng trong các công trình công cộng, các thiết bị
định hướng.
Bộ điều khiển khí nén, được giới thiệu riêng biệt, gồm một thân bằng
kim loại trong có chứa một piston làm chuyển hướng khí chịu áp lực
luồng quay tròn thông qua một trục quay vuông góc với thân của nó,
chúng được dùng để điều khiển loại van có nắp quay hoặc các loại
máy móc, thiết bị quay khác.
(D) ĐỘNG CƠ GIÓ
Nhóm này gồm tất cả các động cơ (động cơ gió, tuabin chạy bằng sức
gió...) cho phép chuyển sức gió thành năng lượng thông qua cánh của
cánh quạt hoặc roto bánh quay không cố định có thể điều chỉnh được.
Cánh quạt hoặc roto thường được lắp trên một thân kim loại có chiều dài
tương ứng, chúng gồm có một phần đuôi xếp vuông góc với bề mặt, tạo
nên một chiếc chong chóng hoặc một loại tương tự cho phép xác định
hướng gió. Năng lượng được tạo thành nhờ một trục thẳng đứng, truyền
đến trục đỡ được đặt trên nền đất; trong các động cơ này, còn được gọi
là loại hạ thấp, cánh quạt của chúng thường võng xuống, khi quay chúng
tạo ra một khoảng trống tương đối bên trong cánh quạt kéo dài đến tận
đất thông qua một ống không gỉ, có thể kéo được một tuabin nhỏ.
Động cơ gió, thường có công suất thấp, chủ yếu được sử dụng trong các
cơ sở nông thôn, dùng lai các bơm tưới tiêu hoặc các máy phát điện nhỏ.
Các máy phát điện gắn với động cơ gió (chúng cũng gần giống với
những động cơ phát điện đặt bên ngoài máy bay, còn được gọi là cửa
quay, gồm có một chân vịt, một hoặc hai cánh quạt, chúng sẽ quay nhờ
có gió sinh ra khi động cơ hoạt động.) phải được loại trừ (nhóm 85.02).
(E) ĐỘNG CƠ CÓ LÒ XO HOẶC CÓ ĐỐI TRỌNG,...
Nhóm này gồm các hệ cơ khí, giống như cơ chế của máy đồng hồ, có sử
dụng năng lượng giải phóng của lò xo dài hoặc hoạt động bằng trọng lực
(như của quả cân hoặc của một dụng cụ tương tự) Tuy nhiên, các hệ cơ
khí thuộc loại này nếu dùng cho đồng hồ sẽ bị loại trừ (nhóm 91.08
hoặc 91.09).
Các động cơ thuộc nhóm này, chủ yếu là loại có gắn lò xo, được sử dụng
để vận hành nhiều loại thiết bị khác nhau (ví dụ hộp nhạc, xiên quay thịt
tự động, kệ giá xoay trên gian trưng bày hàng, các thiết bị đăng ký, các
dụng cụ trạm trổ).
(F) ĐỘNG CƠ PISTON KHÔNG TÍCH HỢP NỒI HƠI
Trong các thiết bị này, năng lượng cơ học được tạo ra bởi việc dịch
chuyển một piston bên trong xi lanh bằng cách áp dụng sự chênh lệch về
áp suất giữa hơi nước của nồi hơi và áp suất không khí (các động cơ
không ngưng tụ), hoặc áp suất thấp hơn của thiết bị ngưng tụ (động cơ
ngưng tụ). Sự chuyển động tịnh tiến hoặc dao động của piston sẽ được
chuyển hóa thành chuyển động quay thông qua một hệ thống thanh
truyền (biên) và trục khuỷu hoặc bánh lái (bánh đà).
Các loại máy đơn giản nhất là các loại động cơ có tác động đơn mà trong
đó áp suất hơi nước tác động trên duy nhất một đầu của piston; đối với
các loại máy khác (tác động kép) hơi nước tác động lần lượt lên hai đầu
của piston. Trong các loại động cơ có công suất lớn hơn, hơi nước lan
dần trong haihoặcnhiều xi lanh có đường kính tăng dần, các thanh truyền
của từng piston tương ứng sẽ được nối với cùng một trục khuỷu (động
cơ giãn nở kết hợp, đôi hoặc ba, v.v.). Chẳng hạn như, các động cơ đầu
tàu hoả và tàu biển chủ yếu thuộc loại cuối cùng này.
(G) MÁY CHẠY BẰNG HƠI NƯỚC HOẶC HƠI KHÁC CÓ TÍCH
HỢP NỒI HƠI
Các loại máy thuộc dạng này chủ yếu gồm một nồi hơi (thường là loại có
thêm ống đun) cùng với một động cơ hơi nước loại giãn nở đơn hoặc
kiểu piston kết hợp được gắn thêm một hoặc hai bánh đà để thực hiện
vai trò trích công suất.
Các loại máy loại này về cơ bản có công suất thấp hoặc trung bình, được
thiết kế cho việc lắp đặt tương đối cố định (máy bán cố định), do chúng
có cấu tạo gọn nhẹ nên thuận tiện cho việc tháo dỡ và di chuyển dễ dàng.
BỘ PHẬN
Theo các quy tắc tổng quát về phân loại các bộ phận (xem phần chú giải
tổng quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm bộ phận của các động
cơ hoặc mô tơ thuộc nhóm này (như buồng đốt, ống (lỗ) thông hơi cho
động cơ phản lực, bộ điều chỉnh lưu lượng và cấp nhiên liệu, vòi phun
nhiên liệu, cánh quạt của cối xay gió, xi lanh, piston, van trượt, bộ điều
khiển ly tâm bằng bi hoặc kiểu quả lắc quán tính, thanh truyền (biên)).
Thông thường, các bộ phận của máy chạy bằng hơi nước hoặc hơi khác
kết hợp với nồi hơi sẽ được phân loại như bộ phận của nồi hơi (nhóm
84.02), hoặc như bộ phận của máy chạy bằng hơi nước thuộc nhóm này.
Tuy nhiên, các trục truyền và trục khuỷu thì không thuộc nhóm này, mà
thuộc nhóm 84.83.
84.13 - Bơm chất lỏng, có hoặc không lắp thiết bị đo; máy đẩy chất
lỏng (+).
- Bơm có lắp hoặc thiết kế để lắp thiết bị đo:
8413.11 - - Bơm phân phối nhiên liệu hoặc dầu bôi trơn, loại dùng cho
trạm đổ xăng hoặc cho gara
8413.19 - - Loại khác
8413.20 - Bơm tay, trừ loại thuộc phân nhóm 8413.11 hoặc 8413.19
8413.30 - Bơm nhiên liệu, dầu bôi trơn hoặc bơm chất làm mát, dùng
cho động cơ đốt trong kiểu piston
8413.40 - Bơm bê tông
8413.50 - Bơm hoạt động kiểu piston chuyển động tịnh tiến khác
8413.60 - Bơm hoạt động kiểu piston quay khác
8413.70 - Bơm ly tâm khác
- Bơm khác; máy đẩy chất lỏng:
8413.81 - - Bơm
8413.82 - - Máy đẩy chất lỏng
- Bộ phận:
8413.91 - - Của bơm
8413.92 - - Của máy đẩy chất lỏng
Nhóm này bao gồm hầu hết các loại máy và thiết bị được dùng để gia
tănghoặclàm lưu thông liên tục một lượng chất lỏng (kể cả kim loại nóng
chảy và bê tông dạng lỏng), dù chúng được vận hành bằng tay hoặc bằng
bất kỳ loại máy động lực nào, gắn liền nguyên khốihoặckhông.
Nhóm này cũng bao gồm các loại bơm vận chuyển gắn với cơ cấu tính
giá và đo lưu lượng chẳng hạn như sử dụng cho việc bơm xăng hoặc dầu
trong gara, và cũng là loại bơm được thiết kế đặc biệt dùng cho các máy,
phương tiện khác... (bao gồm bơm xăng, dầu hoặc nước dùng cho động
cơ đốt trong, và bơm dùng cho máy kéo sợi nhân tạo).
Các máy thuộc nhóm này có thể được phân nhóm, theo hệ thống hoạt
động của chúng, vào 5 loại sau đây:
(A) BƠM CHUYỂN ĐỘNG TỊNH TIẾN HOẠT ĐỘNG KIỂU
Các loại bơm này hoạt động dựa trên tác động hút nạphoặcđẩy tuyến tính
của piston hoặc ống bơm bên trong xi lanh, cửa nạp và cửa thoát được
điều chỉnh bởi van. Các loại bơm “tác động đơn” sử dụng lực đẩyhoặc
sức hút từ chỉ một đầu của piston; trong khi các loại “tác động kép” lại
bơm ở cả hai đầu piston nên sử dụng cả 2 kỳ chuyển động tới và ngược
lại. Với các loại bơm “nâng” đơn giản, chất lỏng đơn thuần được nâng
lên bởi lực hút và xả ngược lại với áp suất không khí. Với các loại bơm
“đẩy” sử dụng kỳ nén bên cạnh kỳ hút, để đẩy chất lỏng lên cao hoặc
ngược với môi trường áp lực. Bơm nhiều xi lanh được dùng để tăng
công suất. Các xi lanh có thể được lắp thành hàng hoặc theo hình sao.
Loại này bao gồm:
Bơm kiểu màng. Bơm này có gắn một màng rung bằng kim loại,
da, ...(được dẫn động trực tiếp hoặc thông qua thiết bị truyền dẫn
chất lỏng) qua đó chất lỏng được đưa lên.
Bơm có đệm dầu (được sử dụng để hút, bơm, di chuyển chất lỏng
nhờn, a xít...). Trong loại bơm này, lưu chất không bị trộn lẫn với
chất lỏng được bơm đóng vai trò của màng ngăn.
Bơm điện từ. Trong loại bơm này, kỳ chuyển động tới và ngược
lại của piston được tạo ra nhờ tác động của điện từ trường (dao
động của tấm chắn mỏng đặt trong môi trường từ tính).
Máy sử dụng lực hút hoặc đẩy của hai piston, như các loại bơm
được thiết kế để bơm bê tông lỏng (bơm bê tông). Tuy nhiên,
nhóm này không bao gồm các xe chuyên dụng được gắn cố định
với bơm bê tông (nhóm 87.05).
(B) BƠM QUAY HOẠT ĐỘNG KIỂU PISTON
Đối với các loại bơm này, chất lỏng được hút vào và xả ra bởi tác động
của lực hút và nén, trong trường hợp này là của các vấu cam hoặc các bộ
phận tương tự, xoay liên tục trên một trục. Các bộ phận này tiếp xúc với
thành vỏ máy bơm tại một hoặc nhiều điểm, và bằng cách này tạo ra các
khoang để lưu chuyển chất lỏng.
Các loại bơm này được phân loại theo bản chất của cơ chế quay của
bơm, gồm:
Bơm bánh răng. Chất lỏng được lưu chuyển bởi răng của các bánh
răng có hình dạng đặc biệt.
Bơm cánh quạt. gồm một rô to có dạng một xi lanh quay lệch trục,
có gắn thêm các cánh nhô ra chuyển động tự do xuyên tâm. Hoạt
động quay cho phép các cánh trượt duy trì tiếp xúc với thành bên
trong của khoang bơm và làm lưu chuyển chất lỏng. Loại này cũng
gồm loại bơm mà, thay cho các cánh gạt, có các trục lăn hoặc một
bánh có gắn cánh quay nhỏ hoặc có gắn cánh trượt tỏa tia (dạng
nan hoa) được gắn với thân máy bơm và tiếp xúc (cọ sát) với một
rô to chuyển động lệch trục.
Bơm kiểu piston quay với hai chi tiết tạo khoang lưu chuyển có
tác động qua lại và quay bên trong thân bơm.
Bơm trục vít. Trong loại bơm này chất lỏng được lưu chuyển theo
chiều thẳng đứng trong thân bơm dưới áp lực của các đường ren
xoắn ốc liên kết với nhau và cùng quay (bơm có hai hoặc nhiều vít,
bơm có trục xoắn, bơm có vít xoắn vô tận).
Bơm nhu động. Loại bơm này có một ống mềm có chứa chất lỏng
và chuyển động dọc theo thành trong của thân bơm và một rôto có
gắn thêm một trục quay ở mỗi đầu. Trục quay tạo nên áp lực lên
ống mềm làm cho chất lỏng lưu chuyển do chuyển động quay.
(C) BƠM LY TÂM
Trong các loại bơm này, chất lỏng được điều tiết theo chuyển động quay
quanh trục bởi các cánh quay của một rôto (bánh công tác), làm cho tác
động ly tâm đẩy chất lỏng ra phía vòng ngoài của lớp vỏ hình vành
khuyên có một lỗ thoát đặt tiếp tuyến. Lớp vỏ đôi khi được gắn các cánh
bơm phân hướng (cánh quay khuếch tán) để chuyển hóa động năng
thành áp suất cao.
Để tạo ra áp suất rất cao, người ta dùng các bơm ly tâm nhiều tầng, trong
đó chất lỏng được dẫn qua các tầng thông qua nhiều bánh công tác quay
trên một trục chung.
Bơm ly tâm có thể được dẫn động bởi một động cơ điệnhoặcđộng cơ đốt
trong hoặc bởi một tua bin. Do hoạt động với tốc độ cao nên chúng thích
hợp cho việc ghép nối trực tiếp, trong khi bơm kiểu pistonhoặcbơm trục
quay đòi hỏi phải có hộp số giảm tốc.
Nhóm này cũng bao gồm các bơm đặt chìm dưới nước, bơm ly tâm của
hệ thống sưởi trung tâm, bơm ly tâm một phía, bơm cánh quạt dẫn dòng,
bơm cánh quạt hướng tâm.
(D) CÁC LOẠI BƠM KHÁC
Nhóm này bao gồm các loại bơm sau:
Bơm điện từ. Loại bơm này không có các bộ phận chuyển động,
tại đó chất lỏng lưu thông nhờ tác động của hiện tượng dẫn điện.
Loại bơm này không giống với một số loại bơm dịch chuyển
dương chuyển động tịnh tiến (kiểu piston) nhất định, trong đó
chuyển động lên xuống của piston được tạo bởi tác động của điện
từ, hoặc không giống với các loại bơm hoạt động bởi hiện tượng
cảm ứng điện từ.
Máy phun. Trong loại bơm này, động năng sinh ra từ một luồng
không khí, hơi nước, nước...,dưới áp suất được phun ra từ một ống,
tạo nên lực hút và sinh ra hiệu ứng làm phun ra dòng chất lỏng.
Loại máy bơm này gồm một hệ thống phức tạp các ống hội tụ và
phân kỳ được đặt trong một ngăn kín, mà từ đó hệ thống các ống
được đưa ra.
Bơm phun vào loại Giffard dùng để cấp nước cho nồi hơi, và bơm phun
vào dùng cho động cơ đốt trong kiểu piston, hoạt động theo nguyên lý
tương, cũng được xếp vào nhóm này.
Bơm nhũ (bơm nâng bằng khí). Ở loại bơm này, chất lỏng được
trộn lẫn với khí ở dạng nén trong ống thoát, khi đó lực nâng được tạo
ra bởi sự giảm độ đậm đặc của chất lỏng được nhũ hóa. Nếu khí nén
là không khí, thì được gọi là bơm nhũ (nâng) bằng không khí.
Các loại bơm, trong đó áp suất hơi nướchoặckhí tác động trực tiếp
lên bề mặt chất lỏng. Ví dụ như:
(a) Bơm đốt bằng khí ga sử dụng sức nổ từ một loại nhiên
liệu phù hợp hoặc khí ga để nâng chất lỏng.
(b) Bơm xung hơi nước, trong đó chuyển động của chất lỏng
được bơm xảy ra do tác động của hơi nước đi vào buồng
đẩy; lực hút được sinh ra từ sự giảm áp suất do sự ngưng
tụ của hơi nước trong ngăn này.
(c) Máy đẩy (nâng) có buồng khí nén, là loại sử dụng khí
nén.
(d) Búa thuỷ lực, trong đó sự gia tăng năng lượng từ cột
chất lỏng chuyển động (bởi sự dừng lại theo chu kỳ và
đột ngột của luồng chất lỏng trong ống cấp) được sử
dụng để bơm một phần chất lỏng dẫn động trong ống xả
của thiết bị.
(E) MÁY ĐẨY CHẤT LỎNG
Nhóm này bao gồm:
(1) Bánh nâng, có thùng, gầu múc nước,...
(2) Máy nâng bằng xích hoặc bằng cáp, có thùng, gầu nước, đấu bằng
(3) Máy nâng bằng dây đai kéo: Loại này gồm các băng đai kéo bằng vật
liệu dệthoặckim loại (dạng có nếp gấp, có nhiều ngăn hoặc hình xoắn
ốc,...), trong đó nước được giữ lại bởi hiện tượng mao dẫn, sau đó được
đẩy ra bằng lực ly tâm.
(4) Máy nâng kiểu trục vít Acsimét.
BỘ PHẬN
Theo các quy tắc tổng quát về phân loại các bộ phận (xem phần chú giải
tổng quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm bộ phận của các loại
bơm thuộc nhóm này, ví dụ như: vỏ hoặc thân máy bơm; thanh truyền
động được thiết kế đặc biệt để nối và dẫn động piston trong bơm được
đặt khá xa so với nguồn động cơ chính (ví dụ: thanh truyền động, “cần
bơm”), piston, thoi đẩy, cánh quạt; trục cam; vít xoắn, bánh công tác,
cánh quay khuếch tán; gầu và xích có gắn gầu múc; băng đai của máy
đẩy chất lỏng; buồng áp suất.
Nhóm này không bao gồm:
Bơm (ví dụ: đối với lưu chất ăn mòn) có chất liệu gốm sứ (nhóm
Bình bơm dầu và súng phun dầu mỡ hoạt động bằng tay (nhóm
82.05) và súng phun dầu mỡ bằng khí nén (nhóm 84.67).
Máy rót..., thuộc nhóm 84.22.
Thiết bị dùng để phun bắn, phun rải hoặc phun áp lực các chất lỏng
(nhóm 84.24).
Xe cứu hoả (nhóm 87.05).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 8413.11 và 8413.19
Các phân nhóm này bao gồm bơm, bất kể loại nào, tạo nên,hoặcđược
thiết kế để tạo thành một thiết bị có bộ phận cho phép kiểm soát lượng
chất lỏng được xả ra, dù thiết bị này được hiện diện đồng thời với bơm
hoặc không.
Bộ phận kiểm soát này có thể rất đơn giản (ví dụ như: thiết bị đã hiệu
chuẩn) hay, mặt khác, gồm nhiều cơ chế phức tạp để tự động kiểm soát
việc ngắt bơm khi đã xả ra tổng lượng lưu chất định sẵn (chẳng hạn như,
loại bơm phân phát bao gồm một xi lanh đã hiệu chuẩn (xi lanh đo đạc)
và một thiết bị cho phép, ở mặt này thì xác định được lượng cần thiết và,
ở mặt khác thì làm dừng động cơ bơm khi đã đạt được khối lượng định
trước) hoặc thực hiện các chức năng khác khi kết nối với thiết bị kiểm
soát dung tích (ví dụ, bơm có tích hợp bộ phận tính tổng khối lượng sử
dụng, bơm thanh toán trước, bơm có tính giá tiền, bơm lấy mẫu, bơm
điều chỉnh hỗn hợp pha trộn tự động và bơm liều lượng tự động... ).
Tuy nhiên, nếu, chẳng hạn như, thiết bị đo đạc được thiết kế để đơn giản
gắn trên ống thông qua đó lưu lượng bơm khiến cho chất lỏng chuyển
động, mỗi trong hai thiết bị (bơm và đo đạc) được phân loại riêng theo
các nhóm của chúng, ngay cả khi chúng được trình bày cùng nhau.
Các phân nhóm này gồm, ví dụ như, bơm dùng trong phân phối
xănghoặcnhiên liệu động cơ khác và chất bôi trơn cũng như bơm có gắn
thiết bị đo đạc dùng cho các cửa hàng thực phẩm, phòng thí nghiệm và
dùng trong các hoạt động công nghiệp khác.
84.14 - Bơm không khí hoặc bơm chân không, máy nén không khí
hoặc chất khí khác và quạt; nắp chụp hút tuần hoàn gió hoặc
thông gió có kèm theo quạt, có hoặc không lắp bộ phận lọc; tủ
an toàn sinh học kín khí, có hoặc không lắp bộ phận lọc.
8414.10 - Bơm chân không
8414.20 - Bơm không khí điều khiển bằng tay hoặc chân
8414.30 - Máy nén sử dụng trong các thiết bị làm lạnh
8414.40 - Máy nén không khí lắp trên khung có bánh xe di chuyển
- Quạt:
8414.51 - - Quạt bàn, quạt sàn, quạt tường, quạt cửa sổ, quạt trần hoặc
quạt mái, có động cơ điện gắn liền với công suất không quá
8414.59 - - Loại khác
8414.60 - Nắp chụp hút có kích thước chiều ngang tối đa không quá
8414.70 - Tủ an toàn sinh học kín khí
8414.80 - Loại khác
8414.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm các loại máy và thiết bị, được vận hành bằng tay hoặc
bằng động cơ, dùng để nén không khí hoặc các loại khí khác, hoặc dùng để
tạo chân không, cũng như loại máy lưu thông không khí hoặc các khí khác.
(A) BƠM VÀ MÁY NÉN CÁC LOẠI
Nhìn chung, bơm không khí, bơm chân không và máy nén hoạt động
theo cùng nguyên lý và cơ bản có cấu tạo tương tự như bơm chất lỏng đã
được nêu trong nhóm trước (bơm piston, bơm quay, bơm ly tâm hoặc
bơm phun).
Tuy nhiên, ngoài ra có một số loại đặc biệt nhất định, cụ thể dùng để tạo
nên trạng thái chân không cao, như bơm khuếch tán (lưu chất là dầu
hoặc thủy ngân), bơm phân tử, bơm bẫy (bơm hút, bơm đông lạnh). Tuy
nhiên, bơm khuếch tán đôi khi được làm bằng thuỷ tinh không thuộc
nhóm này (Chương 70).
Bơm không khí và bơm chân không được dùng cho nhiều mục đích: đun
sôi, chưng cất hoặc bay hơi trong môi trường áp suất giảm; để hút chân
không đèn điện thường, đèn tuýp, ống chân không... Bơm không khí
được sử dụng để bơm áp suất (ví dụ như để bơm lốp hơi).
Không giống với bơm chất lỏng, máy nén không khí hoặc các chất khí
khác (trừ loại máy nén áp suất thấp hoặc máy nén hoạt động gián đoạn)
được làm mát bằng nước hoặc có thêm bộ tản nhiệt hoặc các cách làm
mát bằng không khí khác (làm mát bề mặt) để triệt tiêu sức nóng đáng kể
do hoạt động nén tạo ra.
Có nhiều dạng máy nén, như là các máy nén dùng piston đảo chiều, ly
tâm, hướng trục, và chuyển động quay.
Một loại máy nén đặc biệt đó là bộ nạp khí xả kiểu turbo được dùng cho
động cơ đốt trong kiểu piston nhằm tăng công suất máy.
Máy nén được sử dụng rộng rãi để: nén khí vào bình đựng khí (xi lanh);
dùng trong các chu trình hóa học; dùng trong máy làm lạnh,... và được
dùng để nén không khí hoặc các loại khí khác trong bình chứa được
dùng để tạo ra động lực cho máy móc, thiết bị hoạt động: động cơ khí
nén, búa hơi, tời, phanh, ống băng chuyền sử dụng khí nén, bồn chứa
nước giữ thăng bằng trong tàu ngầm.v.v...
Nhóm này cũng bao gồm các máy phát tuabin khí kiểu piston tự do, bao
gồm hai piston dẫn động nằm ngang đối diện nhau trượt trong một xi
lanh chung kéo dài và mở rộng ở mỗi đầu để tạo nên các xi lanh nén
trong đó hai piston khác được nối với hai piston dẫn động, tạo nên sự bật
lại khí nén. Các piston dẫn động bị tác động đẩy ra xa bởi lực sinh ra do
sự đốt cháy khí ga, do đó đẩy piston nén. Giai đoạn hồi chuyển của
piston nén, nén khí vào trong xi lanh nén, và đẩy chúng qua van xả cùng
với khí xả. Áp suất cao của khí ga nóng làm cho chúng có thể tác động
trực tiếp vào phần quay của tuabin khí, máy phát khi đó thay thế các
buồng đốt và bộ phận nén của tua bin khí thông thường.
Bơm khí và máy nén thuộc nhóm này, cũng như các loại bơm thuộc
nhóm 84.13, có thể được chế tạo với các động cơ hoặc tuabin tích hợp,
các tuabin này rất thường được dùng cho máy nén áp suất cao, hoạt động
theo nguyên tắc trái ngược với tuabin khí nhiều tầng.
(B) QUẠT GIÓ
Các máy này, loại có hoặc không gắn động cơ tích hợp, được thiết kế để
tạo ra lưu thông một lượng lớn không khí hoặc các chất khí khác ở một
áp suất tương đối thấp hoặc đơn thuần tạo ra sự dịch chuyển của không
khí xung quanh.
Quạt gió của dạng thứ nhất có thể vận hành như một máy chiết xuất
không khí hoặc thổi khí (như các loại máy thổi công nghiệp dùng trong
các hầm gió). Các loại này gồm cánh quạt hoặc bộ cánh quạt, chúng
quay trong hộp hoặc ống dẫn bao quanh, và vận hành theo nguyên lý của
máy nén quay tròn hoặc ly tâm.
Các loại máy thuộc dạng thứ hai có cấu trúc đơn giản hơn và chỉ gồm
một cánh quạt dẫn động quay trong không khí tự do.
Không kể các loại khác, quạt gió chủ yếu được sử dụng để thông khí các
hầm mỏ, thông khí các khu văn phòng, bồn chứa, tàu thuỷ; để tách bụi,
hơi nước, khói, khí nóng... ; để sấy khô các chất liệu khác nhau (da, giấy,
vải sợi, sơn,...); trong các thiết bị thông gió cơ khí của các lò.
Nhóm này cũng bao gồm các loại quạt gió trong phòng ở, có hoặc
không có bộ phận chỉnh độ nghiêng hoặc chỉnh hướng. Loại này bao
gồm quạt trần, quạt bàn, quạt treo tường, quạt có khung tròn có thể gắn
vào trong tường, khung cửa sổ,...
Nhóm này không gồm các loại quạt có thêm các bộ phận ngoài các động
cơ hoặc vỏ của chúng (như là các thiết bị lớn tách bụi hình nón, các thiết
bị lọc, các chi tiết làm nóng hoặc làm lạnh, bộ trao đổi nhiệt) nếu các chi
tiết này làm cho chúng có đặc điểm của của các loại máy phức tạp hơn
thuộc các nhóm khác, ví dụ như thiết bị làm nóng không khí, không
dùng điện (nhóm 73.22), máy điều hoà không khí (nhóm 84.15), máy
khử bụi (nhóm 84.21), máy làm mát không khí trong xử lý các nguyên
liệu (nhóm 84.19) hoặc dùng để làm mát văn phòng (nhóm 84.79), các
thiết bị điện làm nóng không gian có gắn quạt gió (nhóm 85.16).
(C) NẮP CHỤP TUẦN HOÀN GIÓ HOẶC THÔNG GIÓ CÓ KÈM
THEO QUẠT, CÓ HOẶC KHÔNG CÓ BỘ PHẬN LỌC
Nhóm này bao gồm các nắp chụp hút mùi bếp có lắp quạt gió, dùng
trong gia đìnhhoặcnhà hàng, căng tin, bệnh viện,... cũng như các chụp
quạt gió dùng cho phòng thí nghiệm, chụp thông gió công nghiệp có lắp
quạt gió.
Máy nén khí, bơm không khí, quạt gió, máy thổi... được thiết kế đặc biệt
để sử dụng với các loại máy khác, vẫn được xếp trong nhóm này và
không được coi là các bộ phận của các loại máy khác này.
BỘ PHẬN
Theo quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải Tổng
quát của Phần XVI), bộ phận của các loại máy thuộc nhóm này cũng
được phân loại thuộc nhóm này (như phần thân của bơm và máy nén, bộ
lá cánh, rôto hoặc bánh công tác, cánh quạt và piston).
Nhóm này không bao gồm):
Tua bin khí thải (nhóm 84.11).
Bơm nhũ tương (nhóm 84.13).
Máy nâng và băng chuyền khí nén (nhóm 84.28).
Máy dùng để làm sạch, sàng lọc hoặc phân loại các loại hạt, rau
đậu đã được làm khô (nhóm 84.37).
84.15 - Máy điều hòa không khí, gồm có một quạt chạy bằng mô tơ
và các bộ phận làm thay đổi nhiệt độ và độ ẩm, kể cả loại máy
không điều chỉnh độ ẩm một cách riêng biệt (+).
8415.10 - Loại thiết kế để lắp vào cửa sổ, tường, trần hoặc sàn, kiểu
một khối (lắp liền trong cùng một vỏ, một cục) hoặc "hệ thống
nhiều khối chức năng" (cục nóng, cục lạnh tách biệt)
8415.20 - Loại sử dụng cho người, trong xe có động cơ
- Loại khác:
8415.81 - - Kèm theo một bộ phận làm lạnh và một van đảo chiều chu
trình nóng/lạnh (bơm nhiệt có đảo chiều)
8415.82 - - Loại khác, có kèm theo bộ phận làm lạnh
8415.83 - - Không gắn kèm bộ phận làm lạnh
8415.90 - Bộ phận
Nhóm này gồm các loại thiết bị cụ thể dùng để duy trì điều kiện độ ẩm
và nhiệt độ theo yêu cầu trong một không gian kín. Loại máy này cũng
có thể có thêm bộ phận làm sạch không khí.
Các loại máy này được sử dụng để điều hoà không khí trong các văn
phòng, nhà ở, phòng công cộng, tàu thuyền, phương tiện vận tải có gắn
động cơ các loại,... và cũng được sử dụng trong các công trình xây dựng
công nghiệp nhất định cần có điều kiện không khí đặc biệt (ví dụ: trong
công nghiệp dệt, giấy, thuốc lá hoặc thực phẩm).
Nhóm này chỉ bao gồm các loại máy sau:
Có gắn quạt gió hoặc máy thổi chạy bằng động cơ, và
Được thiết kế để thay đổi cả nhiệt độ (bộ phận làm nóng hoặc làm
lạnh hoặc cả hai chức năng) và độ ẩm không khí (bộ phận làm ẩm
hoặc làm khô hoặc cả hai chức năng), và
Trong đó các bộ phận nêu trong mục (1) và (2) được trình bày
cùng với nhau.
Trong các loại máy này, các bộ phận dùng để làm ẩm hoặc làm khô không
khí có thể tách biệt với các bộ phận làm nóng hoặc làm lạnh. Tuy nhiên,
một số loại máy nhất định chỉ tích hợp một bộ phận đơn có tác dụng thay
đổi đồng thời cả nhiệt độ và độ ẩm của không khí bằng cách ngưng tụ.
Loại máy điều hoà không khí này làm mát và làm khô không khí trong
phòng nơi máy được lắp đặt (bằng cách ngưng tụ hơi nước trên một dàn
làm lạnh), hoặc một hỗn hợp của khí trời với không khí trong phòng nếu
chúng được gắn thêm bộ phận lấy không khí bên ngoài. Thông thường,
chúng được gắn với các khay nhỏ giọt để chứa nước ngưng tụ.
Các loại máy thuộc nhóm này có thể có dạng một khối bao gồm tất cả
các bộ phận cần thiết, ví dụ như máy điều hòa không khí kiểu một khối
gắn liền lắp cửa số hoặc kiểu treo tường (một thiết bị "đặt xuyên
tường"). Ngoài ra, chúng có thể có dạng "hệ thống nhiều khối chức năng
tách biệt", mà chỉ hoạt động khi các khối chức năng này kết nối với
nhau, cụ thể, một bộ phận ngưng tụ lắp đặt bên ngoài kết nối với một bộ
phận bay hơi lắp đặt bên trong. Những "hệ thống nhiều khối chức năng
tách biệt" này không có ống dẫn và sử dụng thiết bị bay hơi riêng biệt
cho từng khu vực cần được điều hòa không khí (ví dụ, từng phòng một).
Xét về mặt cấu trúc, các máy điều hoà không khí thuộc nhóm này, ngoài
quạt gió và máy thổi chạy bằng động cơ làm lưu thông không khí, phải
có ít nhất các bộ phận sau:
Một bộ phận làm nóng không khí (vận hành bằng các ống dẫn
nước nóng, hơi nước hoặc khí nóng, hoặc điện trở... ) và một bộ
phận làm ẩm không khí (thông thường là một thiết bị phun nước)
hoặc một bộ phận hút ẩm không khí;
hoặc Một dàn làm lạnh nước hoặc một bộ phận làm bay hơi dùng trong
thiết bị làm lạnh (mỗi bộ phận trong chúng đều làm thay đổi cả
nhiệt độ và độ ẩm của không khí, bằng cách ngưng tụ);
hoặc Một vài loại thiết bị làm lạnh khác với thiết bị để thay đổi độ ẩm
không khí riêng biệt.
Trong một số trường hợp nhất định, thiết bị hút ẩm có sử dụng các thuộc
tính hút ẩm của các chất liệu hút nước.
Không kể các loại khác, nhóm này còn bao gồm máy bơm nhiệt đảo
chiều được thiết kế, thông qua một hệ thống độc lập trang bị van đảo
chiều chu trình nóng/lạnh, để thực hiện chức năng kép của cả công đoạn
làm nóng và làm lạnh. Trong chu trình làm lạnh, van đảo chiều dẫn một
luồng hơi nóng, áp suất cao đến dàn dây đặt ngoài trời, nơi mà nhiệt
lượng thoát ra trong quá trình ngưng tụ, được quạt vào không khí ngoài
trời và sau đó luồng chất làm lạnh được nén chảy vào dàn trong nhà, nơi
nó bay hơi và hấp thụ nhiệt và làm mát không khí, sau đó khí mát được
phân tán khắp khu vực xung quanh bằng quạt gió. Trong chu trình làm
nóng, việc thay đổi của van đảo chiều (chu trình nóng/lạnh) sẽ làm đảo
chiều lưu chuyển của chất làm lạnh để mà hơi nóng sẽ được giải phóng
bên trong khu vực cần được điều hòa không khí.
Máy điều hoà không khí cũng có thể được cung cấp phương tiện làm
nóng hoặc làm lạnh từ nguồn bên ngoài. Chúng thường được lắp thêm
bộ phận làm sạch không khí gồm mộthoặcnhiều lớp chất liệu lọc, thường
được tẩm dầu (ví dụ: vật liệu dệt, sợi len thuỷ tinh, sợi len bằng thép
hoặc đồng, kim loại dạng lưới đã được kéo giãn,...). Chúng cũng có thể
có thêm bộ phận điều chỉnh hoặc tự động điều khiển nhiệt độ hoặc độ
ẩm của không khí.
Nhóm này cũng bao gồm các loại máy, mặc dù không gắn thiết bị để
điều chỉnh độ ẩm không khí một cách riêng biệt, mà điều chỉnh độ ẩm
bằng cách ngưng tụ. Ví dụ của loại này là các dạng một khối và hệ thống
nhiều khối chức năng đã được đề cập ở trên, sử dụng mỗi bộ phận làm
bay hơi riêng cho từng khu vực cần được điều hòa không khí (như từng
phòng một); và các thiết bị trang bị trong phòng giữ lạnh có bộ phận bay
hơi làm lạnh và một quạt gió chạy bằng động cơ. Nhóm này cũng bao
gồm các thiết bị làm nóng / lạnh trong một không gian kín (ví dụ: xe tải,
xe moóc hoặc xe container), bao gồm bộ phận nén, bộ phận làm ngưng
tụ và động cơ lắp trong hộp nằm bên ngoài khoang chở hàng với quạt
thông gió và bộ phận làm bay hơi lắp bên trong xe container.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các thiết bị làm lạnh được thiết kế
để duy trì nhiệt độ cố định luôn dưới 0° C trong một không gian kín (ví
dụ: xe tải, xe moóc hoặc công ten nơ), và có gắn hệ thống làm nóng để
tăng nhiệt độ trong không gian kín, trong giới hạn nhất định, khi nhiệt độ
bên ngoài giảm xuống quá thấp. Những thiết bị này có thể được phân
loại trong nhóm 84.18 như thiết bị làm lạnh hoặc làm đông lạnh, trong
đó chức năng làm nóng chỉ là thứ yếu so với chức năng chính của loại
thiết bị này là giữ cho sản phẩm dễ bị hư hỏng được lạnh trong quá trình
vận chuyển.
BỘ PHẬN
Theo các quy định của Chú giải 2(b) Phần XVI, nhóm này bao gồm,
được trình bày riêng biệt, các bộ phận đặt trong nhà và đặt ngoài trời
dùng cho máy điều hòa không khí kiểu hệ thống nhiều khối chức năng
tách biệt thuộc nhóm này.
Các bộ phận khác của máy điều hoà không khí, bất kể chúng được thiết
kế để lắp thành máy dạng một khối gắn liềnhoặckhông, được phân loại
theo các quy định của Chú giải 2(a) của Phần XVI (nhóm 84.14, 84.18,
84.19, 84.21, 84.79,...) hoặc, nếu Chú giải 2(a) không áp dụng, thì chúng
sẽ được phân loại theo Chú giải 2(b) hoặc 2(c) của Phần XVI, tùy thuộc
vào việc chúng đượchoặckhông được xác định là phù hợp chỉ để sử dụng
hoặc chủ yếu được sử dụng cho các máy điều hoà không khí mà chúng là
bộ phận.
Nhóm này không bao gồm:
Các thiết bị làm nóng không khí và phân phối không khí nóng
thuộc nhóm 73.22, loại cũng có thể phân phối khí trời hoặc không
khí đã được điều hoà.
Bơm nhiệt không đảo chiều và thiết bị làm lạnh cho máy điều hòa
không khí (nhóm 84.18).
Các loại thiết bị, cho dù có gắn một quạt gió chạy bằng động cơ,
chỉ có chức năng duy nhất là thay đổi hoặc nhiệt độ hoặc độ ẩm
không khí (nhóm 84.79, 85.16...).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 8415.10
Phân nhóm này bao gồm máy điều hoà không khí loại thiết kế để lắp vào
cửa sổ, tường, trần hoặc sàn, kiểu một khối (lắp liền trong cùng một vỏ,
một cục) hoặc "hệ thống nhiều khối chức năng" (cục nóng, cục lạnh tách
biệt).
Thuật ngữ “để lắp (fixed)” có nghĩa là được để hoặc đặt vào vị trí theo
cách cố định ít hoặc nhiều, có tính đến các yếu tố như kích thước, trọng
lượng, kết cấu vật lý (ví dụ: cóhoặckhông có bánh xe hoặc tay cầm),
cách kết nối, v.v.
Các điều hòa không khí dạng một khối gắn liền có dạng một khối đơn
nhất bao gồm các tất cả các bộ phận cần thiết và được lắp trong một khối
gắn liền.
Các điều hòa không khí dạng hệ thống nhiều khối chức năng không có
ống dẫn (khí) và sử dụng mỗi thiết bị làm bay hơi riêng cho từng khu
vực cần được điều hòa không khí (ví dụ: từng phòng một). Các thiết bị
trao đổi nhiệt trong nhà có thể được gắn tại các vị trí khác nhau, ví dụ,
trên tường hoặc cửa sổ, hoặc trên trần nhà hoặc sàn nhà.
Tuy nhiên, phân nhóm này loại trừ hệ thống điều hòa không khí trung
tâm có sử dụng ống dẫn khí để đưa khí lạnh từ thiết bị làm bay hơi đến
các khu vực cần được làm mát.
Phân nhóm 8415.20
Phân nhóm này gồm thiết bị được dùng chủ yếu cho tất cả các loại phương
tiện vận chuyển hành khách có gắn động cơ, nhưng cũng có thể là các thiết
bị được lắp đặt trong các loại phương tiện có gắn động cơ khác, dùng để
điều hoà không khí trong ca bin hoặc trong khoang chở người.
Phân nhóm 8415.90
Phân nhóm này bao gồm cả các bộ phận lắp trong nhà và lắp ngoài trời
dùng cho máy điều hòa không khí dạng hệ thống nhiều khối chức năng
tách biệt thuộc phân nhóm 8415.10 khi chúng được trình bày riêng biệt.
Các thiết bị này được thiết kế để kết nối bởi dây điện và ống nối bằng
đồng để lưu thông chất làm lạnh giữa các thiết bị lắp trong nhà và lắp
ngoài trời.
84.16 - Đầu đốt dùng cho lò luyện, nung sử dụng nhiên liệu lỏng, nhiên
liệu rắn dạng bột hoặc nhiên liệu khí; máy nạp nhiên liệu cơ khí, kể
cả ghi lò, bộ phận xả tro xỉ và các bộ phận tương tự của chúng.
8416.10 - Đầu đốt cho lò luyện, nung sử dụng nhiên liệu lỏng
8416.20 - Đầu đốt cho lò luyện, nung khác, kể cả lò luyện, nung dùng
nhiên liệu kết hợp
8416.30 - Máy nạp nhiên liệu cơ khí, kể cả ghi lò, bộ phận xả tro xỉ và
các bộ phận tương tự của chúng
8416.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm một loạt các thiết bị dùng cho việc đốt và cấp nhiên
liệu cơ khí hoặc tự động cho lò nung các loại, và còn dùng để thải xả tro
và xỉ.
(A) ĐẦU ĐỐT CHO LÒ LUYỆN, NUNG
Loại máy này phun ra một luồng lửa trực tiếp vào trong lò, và điều đó
cho phép không cần sử dụng ghi lò và ngăn đựng lấy tro. Chúng bao
gồm các loại sau:
Đầu đốt dầu nặng (bình phun, xịt).
Đối với loại này, dầu nặng được phun trong dòng khí, trong một số
trường hợp là khí nén, hoặc bằng hơi nước áp suất cao, hoặc bằng
một dụng cụ cơ khí (trong trường hợp cuối cùng, loại dụng cụ có
cấu tạo cơ khí thường kết hợp một động cơ, một bộ phận bơm, một
máy thổi không khí).
Đầu đốt than nghiền.
Loại này thường có kích thước lớn. Than được nghiền vụn sẽ được
chuyển vào trong lò bởi một luồng không khí mà cũng là nguồn
cung cấp không khí chính cho lò. Loại đầu đốt này đôi khi còn bao
gồm một băng tải than và bộ phận nghiền. Ở loại khác, than mềm
được nghiền và phun không liên tục vào lò bởi tác động luân phiên
của dòng hơi nước áp lực cao hoặc thấp.
Đầu đốt khí ga.
Bao gồm cả hai loại, loại áp suất cao cho thông gió cưỡng bức và
loại áp suất thấp dùng cho trường hợp không khí thường. Không
khí và khí ga được dẫn thông qua các ống đồng tâm hoặc ống hội
tụ.
Đầu đốt kết hợp.
Các loại này sử dụng đồng thời các nhiên liệu đốt như dầu, khí đốt
và than bột, hoặc là 2 trong số các loại kể trên.
(B) MÁY NẠP NHIÊN LIỆU CƠ KHÍ, GHI LÒ CƠ KHÍ, BỘ
PHẬN XẢ TRO XỈ CƠ KHÍ VÀ CÁC BỘ PHẬN TƯƠNG TỰ
Nhóm này bao gồm nhiều loại thiết bị cơ khí được dùng để đưa nhiên
liệu rắn vào lò, hoặc dùng để hình thành buồng đốt. Máy nạp nhiên liệu
cơ khí và ghi lò cơ khí thường được kết hợp với nhau và được gắn thêm
các thiết bị xả xỉ và tro tự động sau khi đốt, tạo thành cấu trúc hoàn toàn
tự động. Trong các trường hợp khác, một bộ phận cơ khí hoặc tự động
được kết hợp với một bộ phận không phải là cơ khí.
Máy nạp nhiên liệu cơ khí.
Các loại này có nhiều dạng khác nhau. Chúng thường gồm một
phễu đong than kết hợp với nhiều thiết bị khác nhau như trục vít
Acsimét, xẻng cơ khí, máng trượt, piston đẩy..., hoạt động bằng
tay hoặc bằng động cơ, để điều chỉnh lượng than cung cấp và vận
chuyển nó vào trong khu vực đốt lò. Các máy này thường được
gắn thêm một bộ phận đập nhỏ để than có kích thước thống nhất.
Nhóm này bao gồm các bộ nạp nhiên liệu cơ khí dùng trong nồi
hơi sưởi trung tâm (kể cả loại dùng trong gia đình).
Ghi lò cơ khí.
Đây là các thiết bị có thiết kế khác nhau, đảm nhận phân phát than
lên bệ đốt và di chuyển thẳng qua lò để đảm bảo chúng được đốt
cháy đều. Những hệ thống thông dụng dựa trên nguyên lý hoạt
động của dây đai dạng xích hoặc hình thức dao động nghiêng. Các
ghi lò này thường có các bộ phận xả xỉ, tro ở dưới cùng. Trong các
hệ thống khác, xỉ và tro được chuyển ra bởi các bộ phận cơ khí
riêng biệt mà cũng được xếp vào nhóm này.
BỘ PHẬN
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải
tổng quát Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm bộ phận của các máy
móc và dụng cụ thuộc nhóm này (như béc đốt, piston đẩy và máng trượt
của bộ nạp nhiên liệu cơ khí; khung của ghi lò cơ khí, những mảng lưới
và tấm lưới, dẫn hướng và trục quay của ghi lò cơ khí).
Nhóm này không bao gồm các thanh đốt và ghi lò không thuộc dạng cơ
khí, sử dụng trong công nghiệp hoặc các ngành khác. Các buồng đốt
gồm ghi lò cố định đặt trong một phần thân kim loại được thiết kế để lắp
như một phần không tách rời của một số loại nồi hơi nhất định thì bị loại
trừ khỏi nhóm này và được xem như bộ phận của nồi hơi và thuộc nhóm
84.02. Tương tự, một số loại ghi lò không thuộc dạng cơ khí được xác
định là chuyên dùng cho các máy hoặc thiết bị cụ thể sẽ được phân loại
là bộ phận của máy và thiết bị đó (ví dụ: cho các máy tạo khí – nhóm
84.05). Mặt khác, các thanh đốt và ghi lò bằng thép dạng thông dụng để
gắn vào các công trình xây dựng bằng gạch, sẽ được phân loại vào các
nhóm 73.21, 73.22 hoặc 73.26, tùy theo loại.
84.17 - Lò luyện, nung và lò dùng trong công nghiệp hoặc trong
phòng thí nghiệm, kể cả lò thiêu, không dùng điện.
8417.10 - Lò luyện, nung và lò dùng để nung, nấu chảy hoặc xử lý nhiệt
các loại quặng, quặng pirit hoặc kim loại
8417.20 - Lò nướng bánh, kể cả lò nướng bánh quy
8417.80 - Loại khác
8417.90 - Bộ phận
Nhóm này bao gồm các lò nung và lò luyện dùng trong công nghiệp
hoặc trong phòng thí nghiệm không dùng điện, được thiết kế để tạo nhiệt
trong các khoang với nhiệt độ cao hoặc tương đối cao do sự đốt cháy của
nhiên liệu (có thể trực tiếp bên trong khoang hoặc trong các khoang đốt
nhiên liệu riêng biệt). Chúng được dùng để xử lý nhiệt (ví dụ như nung,
nấu chảy, nung thành vôi hoặc tách thành phần) đối với nhiều loại sản
phẩm khác nhau đặt trên bệ đốt, nồi nấu kim loại, bình chưng cất hoặc
giá đỡ. Nhóm này cũng bao gồm lò nướng nhiệt bằng hơi nước.
Trong một số kiểu lò nhất định (lò dạng tunnel), các vật liệu cần xử lý
nhiệt được di chuyển liên tục qua lò (ví dụ bằng băng vận chuyền).
Nhóm này gồm:
Lò dùng để nung quặng hoặc quặng pirit.
Lò dùng để nung chảy kim loại, kể cả lò nấu gang.
Lò nung, tôi hoặc xử lý nhiệt tương tự cho kim loại.
Lò xi măng hóa.
Lò nướng bánh, kể cả bánh quy.
Lò luyện than cốc.
Lò đốt than từ gỗ.
Lò sản xuất xi măng , lò nung gạch và lò nấu thạch cao dạng quay.
Lò nung dùng trong công nghiệp thủy tinh, gốm sứ, kể cả lò dạng
(10) Lò tráng men.
(11) Lò được thiết kế đặc biệt để nung chảy, nung kết hoặc xử lý nhiệt
đối với vật liệu phân hạch được phục hồi để tái chế, phân tách
nhiên liệu hạt nhân đã bức xạ bằng phương pháp nhiệt học luyện
kim, để đốt graphít phóng xạ hoặc lọc phóng xạ, hoặc để nung đồ
thủy tinh hoặc đất có chứa tro xỉ mang chất phóng xạ.
(12) Lò dùng để hoả táng.
(13) Lò đốt rác và các thiết bị tương tự được thiết kế đặc biệt để đốt
chất thải....
Nhóm này không bao gồm các lò chủ yếu được làm từ các chất liệu chịu
lửa hoặc gốm sứ, cũng như gạch khối, gạch và các vật liệu chịu lửa hoặc
gốm sứ tương tự dùng để xây dựng hoặc lót lò (thuộc Chương 69), trong
khi đó, nhìn chung, các vật liệu kết cấu bằng kim loại sẽ được phân loại
vào Phần XV. Nói cách khác, nhóm này bao gồm các bộ phận đã tạo
thành lớp lót hoặc các bộ phận hợp thành khác và bằng gốm sứ đặc biệt
hoặc vật liệu chịu lửa được trình bày cùng, và là bộ phận của lò (đã được
lắp ráp hoặc chưa) được làm chủ yếu bằng kim loại.
Nhiều lò dùng trong công nghiệp có gắn các thiết bị dùng để đưa vào
hoặc chuyển ra các sản phẩm cần xử lý, điều khiển đóng mở cửa lò, nắp
lò, sàn hoặc các bộ phận chuyển động khác, hoặc kể cả làm nghiêng lò...
Các thiết bị nâng hoặc xử lý này sẽ được phân loại theo lò nếu chúng là
một phần hợp thành không tách rời của lò; nếu không, chúng được phân
loại vào nhóm 84.28.
BỘ PHẬN
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải
tổng quát của Phần XVI), nhóm này cũng bao gồm bộ phận của các loại
lò thuộc nhóm này (như cửa lò, van gió, cửa sổ quan sát, thành lò, vòm
lò và ống dẫn tuy-e của lò luyện).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Lò không dùng trong công nghiệp hoặc trong phòng thí nghiệm
(nhóm 73.21).
(b) Các thiết bị thuộc nhóm 84.19, kể cả máy lọc dầu, lò hấp, lò hơi
nước và lò sấy.
(c) Lò chuyển (nhóm 84.54).
dampers, side-shields; observation windows, arches and tuyères for blast
84.18 - Tủ lạnh, tủ kết đông và thiết bị làm lạnh hoặc kết đông khác,
loại dùng điện hoặc loại khác; bơm nhiệt trừ máy điều hòa không
khí thuộc nhóm 84.15.
8418.10 - Tủ kết đông lạnh liên hợp (dạng thiết bị có buồng làm đá và
làm lạnh riêng biệt), có các cửa mở riêng biệt hoặc ngăn kéo
ngoài riêng biệt, hoặc dạng kết hợp của chúng
- Tủ lạnh, loại sử dụng trong gia đình:
8418.21 - - Loại sử dụng máy nén
8418.29 - - Loại khác
8418.30 - Tủ kết đông, loại cửa trên, dung tích không quá 800 lít
8418.40 - Tủ kết đông, loại cửa trước, dung tích không quá 900 lít
8418.50 - Loại có kiểu dáng nội thất khác (tủ, tủ ngăn, quầy hàng, tủ
bày hàng và loại tương tự) để bảo quản và trưng bày, có lắp
thiết bị làm lạnh hoặc kết đông
- Thiết bị làm lạnh hoặc kết đông khác; bơm nhiệt:
8418.61 - - Bơm nhiệt trừ loại máy điều hòa không khí của nhóm 84.15
8418.69 - - Loại khác
- Bộ phận:
8418.91 - - Có kiểu dáng nội thất được thiết kế để lắp đặt thiết bị làm
lạnh hoặc kết đông
8418.99 - - Loại khác
(I) TỦ LẠNH, TỦ KẾT ĐÔNG VÀ THIẾT BỊ LÀM LẠNH HOẶC
KẾT ĐÔNG KHÁC
Tủ lạnh và các thiết bị làm lạnh trong nhóm này ở dạng một máy chính
hoặc một dây chuyền thiết bị dùng để tạo ra, với chu kỳ vận hành liên
tục, nhiệt độ thấp (trong khoảng 0°C hoặc thấp hơn) tại bộ phận làm lạnh
chủ động, bởi sự hấp thụ nhiệt ẩn từ sự bay hơi của khí hóa lỏng (ví dụ:
amoniắc, hydro cácbua được halogen hóa), hoặc của chất lỏng dễ bay
hơi, hoặc của nước ở một số loại sử dụng trên biển.
Nhóm này không bao gồm:
Máy kết đông loại dùng muối để kết đông (nhóm 82.10 hoặc
Thiết bị làm lạnh nước thuộc loại trao đổi nhiệt đơn giản (xem
phần chú giải nhóm 84.19).
Thùng đựng đá lạnh, tủ cách nhiệt,... không được thiết kế để gắn
thiết bị làm lạnh (thường thuộc nhóm 94.03).
Máy làm lạnh thuộc nhóm này gồm hai dạng chính sau:
(A) MÁY LÀM LẠNH KIỂU NÉN
Các chi tiết chính của loại máy này là:
Bộ phận nén tiếp nhận khí giãn nở từ bộ phận làm bay hơi và
chuyển khí thu được bởi lực nén tới
Bộ phận ngưng tụ hoặc bộ phận hóa lỏng, tại đó khí được làm
mát và hóa lỏng, và
Bộ phận làm bay hơi, là bộ phận làm lạnh chủ động, bao gồm
một hệ thống ống dẫn chất làm lạnh đã được ngưng tụ, thoát ra qua
van tiết lưu, sẽ bay hơi nhanh chóng do hấp thụ nhiệt từ không khí
xung quanh hoặc, đối với các hệ thống làm lạnh lớn, từ nước muối
hoặc dung dịch canxi clorua được giữ lại trong quá trình lưu thông
xung quanh dàn bay hơi.
Đối với loại dùng trên biển, máy không có bộ phận nén và bộ phận
ngưng tụ trong chu trình làm lạnh (nước hoặc nước muối), nhưng sự bay
hơi xảy ra do tác động chân không được tạo ra bởi một bơm phun hoạt
động cùng với bộ phận ngưng tụ hơi nước. Bộ phận này sẽ làm ngưng tụ
và xử lý hơi nước được tạo ra bằng cách loại bỏ không để chúng quay
trở lại hệ thống.
(B) MÁY LÀM LẠNH KIỂU HẤP THỤ
Đối với loại máy này, bộ phận nén được thay thế bởi một “thiết bị tạo”,
trong đó một dung dịch amôniắc dạng nước đặc được làm nóng (bằng
khí ga, dầu hoặc thiết bị điện), khí sẽ được dẫn thoát ra và tích tụ dưới áp
suất cao ở bộ phận ngưng tụ. Chu kỳ gồm ngưng tụ, sau đó là giãn nở và
làm mát trong bộ phận bay hơi sẽ tiếp tục diễn ra như đối với loại máy
làm lạnh kiểu nén, khí giãn nở sẽ hòa tan lại trong dung dịch loãng, hoặc
trong một bộ phận hấp thụ riêng biệt cung cấp cho thiết bị tạo bởi hiệu
ứng áp suất thông thườnghoặcqua một bơm, hoặc trong chính thiết bị tạo
mà, đối với một số loại nhất định, đóng vai trò như bộ phận hấp thụ
trong suốt những giai đoạn nhiệt được thu hồi.
Trong một số kiểu máy sấy khô, khí amôniắc được hấp thụ bởi một chất
liệu rắn (clorua can xi, silica gel) thay vì bởi một dung dịch.
Các thiết bị nêu trên được xếp vào nhóm này khi chúng thuộc ở các dạng
Khối chức năng bao gồm một máy nén (có hoặc không có động
cơ) và bộ phận ngưng tụ, lắp trên một đế, có hoặc không được lắp
hoàn chỉnh với bộ phận làm bay hơi; hoặc các khối hấp thụ gắn
liền. (Các máy đông lạnh này chủ yếu được gắn cho tủ lạnh dùng
trong gia đình, hoặc gắn trong các tủ giữ lạnh khác). Một số loại
máy kiểu nén nhất định, còn được gọi là “khối làm lạnh chất lỏng”,
gắn kết hợp trên một khung đế, (có hoặc không có bộ phận ngưng
tụ), máy nén và bộ trao đổi nhiệt có chứa bộ phận làm bay hơi và
hệ thống ống dẫn chất lỏng sẽ được làm lạnh. Những máy được đề
cập sau bao gồm "các thiết bị làm lạnh", loại thường được sử dụng
trong các hệ thống điều hòa không khí.
Tủ các loại hoặc đồ nội thất, các thiết bị, có gắn với một thiết bị
làm lạnh hoàn chỉnh hoặc bộ phận làm bay hơi của một thiết bị
làm lạnh, có hoặc không có bộ phận phụ trợ, như máy khuấy, máy
trộn, khuôn. Loại này bao gồm tủ lạnh dùng trong gia đình, quầy
và kệ bày bán hàng giữ lạnh, tủ đựng kemhoặcchứa thực phẩm
đông lạnh, máy giữ nước lạnh hoặc đồ uống lạnh, thùng làm lạnh
sữa, bia, máy làm kem...
Các hệ thống làm lạnh lớn hơn, gồm các chi tiết không được lắp
trên cùng một đế chung hoặc không tạo thành một khối chức năng
gắn liền, mà được thiết kế để vận hành cùng nhau, hoặc bằng sự
giãn nở trực tiếp (một thiết bị làm bay hơi được kết hợp vào thiết
bị sử dụng độ lạnh), hoặc bằng cách làm lạnh chất trung gian
(nước muối) được làm lạnh bởi một bộ phận làm lạnh và được dẫn
bằng ống tới thiết bị sử dụng độ lạnh (làm lạnh gián tiếp). Các hệ
thống làm lạnh này được sử dụng cho, ví dụ, kho chứa hàng lạnh
và cho các hoạt động sản xuất (sản xuất đá khối, làm đông lạnh
nhanh thực phẩm, làm lạnh nhanh trong sản xuất sô cô la, tách sáp
parafin trong quá trình tinh lọc dầu mỏ, trong công nghiệp hóa
chất... ).
Các bộ phận phụ trợ cần thiết để các hệ thống máy nêu trên tạo ra
nhiệt độ thấp được xếp trong nhóm này với điều kiện chúng được
trình bày cùng với các chi tiết khác của hệ thống. Các bộ phận đó
bao gồm, ví dụ, ngăn hoặc thiết bị làm đông lạnh nhanh dạng ống
hoặc dạng ngăn, bàn làm lạnh bánh kẹo hoặc sô cô la.
Nhóm này cũng bao gồm các thiết bị làm lạnh hoạt động bằng cách làm
bay hơi khí hoá lỏng trong một không gian kín và thường gồm một hoặc
nhiều bình chứa khí hoá lỏng, bộ điều nhiệt, van điện từ, hộp điều khiển,
các công tắc điện và một ống căng được đục lỗ để bay hơi. Các bộ phận
này cũng được phân loại vào nhóm này nếu được trình bày cùng với
(II) BƠM NHIỆT
Bơm nhiệt là một thiết bị lấy nhiệt năng từ một nguồn nhiệt thích hợp
(chủ yếu từ nước ngầm hoặc nước bề mặt, từ đất hoặc không khí) và
chuyển hoá thành một nguồn nhiệt cao hơn với sự hỗ trợ của một nguồn
năng lượng bổ sung (ví dụ: khí ga, điện).
Chất lỏng truyền nhiệt thường được sử dụng để truyền hơi nóng từ
nguồn đến bơm nhiệt và từ bơm nhiệt đến môi trường để được xử lý.
Bơm nhiệt gồm 2 loại: loại nén và loại hấp thụ.
Bơm nhiệt nén gồm các bộ phận chính sau:
Bộ phận làm bay hơi thu nhận năng lượng từ môi trường và
chuyển vào chất lỏng truyền nhiệt;
Bộ phận nén, thông qua một cơ chế cơ học, thu nhận chất lỏng bay
hơi từ bộ phận làm bay hơi và chuyển chúng dưới áp suất gia tăng
tới bộ phận ngưng tụ;
Bộ phận ngưng tụ, là bộ phận trao đổi nhiệt trong đó khí bay hơi sẽ
được hoá lỏng, để lại nhiệt được xử lý tại môi trường;
Đối với loại bơm nhiệt hấp thụ, bộ phận nén được thay thế bằng nồi hơi
chứa nước và môi chất lạnh, có kết hợp với một bộ phận đốt.
Bơm nhiệt thường được xác định bởi sự kết hợp của hai yếu tố, yếu tố
thứ nhất là nguồn cung cấp nhiệt ban đầu và yếu tố thứ hai là môi trường
với nhiệt độ được thay đổi. Các thiết bị chủ yếu gồm:
Bơm nhiệt không khí/nước hoặc không khí/không khí, là loại lấy
nhiệt từ môi trường không khí xung quanh và chuyển hoá thành
nước ấm hoặc không khí ấm.
Bơm nhiệt nước/nước hoặc nước/không khí, là loại thu nhiệt từ
nguồn nước ngầm hoặc nguồn nước bề mặt.
(iii) Bơm nhiệt đất/nước hoặc đất/không khí: nhiệt được hấp thụ từ đất
thông qua một hệ thống ống được chôn ngầm trong đất.
Bơm nhiệt có thể có dạng thiết bị đơn khối, cấu thành từ các chi tiết khác
nhau. Còn được gọi là máy nguyên khối (một cục). Bơm nhiệt cũng có
thể có dạng gồm nhiều bộ phận riêng biệt nhau. Một số loại bơm nhiệt
nhất định cũng có thể không có bộ phận làm bay hơi khi chúng được
dùng để lắp đặt vào hệ thống máy đã có sẵn bộ phận làm bay hơi. Khi
đó, chúng được coi như các sản phẩm chưa hoàn chỉnh mang đặc điểm
cơ bản của sản phẩm hoàn chỉnh và vẫn được phân loại trong nhóm này.
Bơm nhiệt chủ yếu được sử dụng để sưởi ấm các tòa nhà hoặc cung cấp
nước nóng cho hộ gia đình. Với những công dụng này, bơm nhiệt một
chiều là loại được sử dụng phổ biến.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm loại bơm nhiệt đảo chiều có gắn
quạt gió chạy bằng mô-tơ và các chi tiết để thay đổi cả nhiệt độ và độ
ẩm. Chúng được coi là máy điều hoà không khí thuộc nhóm 84.15.
BỘ PHẬN
Theo các quy tắc chung về phân loại các bộ phận (xem phần Chú giải
tổng quát của Phần XVI), bộ phận của các máy và thiết bị thuộc nhóm
này, sử dụng trong gia đìnhhoặctrong công nghiệp, cũng được phân loại
trong nhóm này, ví dụ như bộ phận ngưng tụ, bộ phận hấp thụ, bộ phận
làm bay hơi, bộ phận phát, tủ, quầy bày hàng và các thiết bị làm lạnh
được thiết kế kiểu dáng nội thất khác đã nêu trong đoạn (2) ở trên mà
chưa được lắp thêm bộ phận làm lạnh hoàn chỉnh hoặc bộ phận làm bay
hơi nhưng về mặt thiết kế rõ ràng là để lắp các bộ phận đó.
Bộ phận nén, như trình bày nêu trên, được xếp trong nhóm 84.14, dù
chúng có được thiết kế đặc biệt để dùng trong máy làm lạnh. Các bộ
phận không đặc trưng (như ống dẫn, thùng chứa) được phân loại vào các
nhóm thích hợp riêng của chúng.
Nhóm này cũng không bao gồm:
Máy điều hoà không khí, có gắn bộ phận làm lạnh hoặc bộ phận
làm bay hơi của máy làm lạnh (nhóm 84.15).
Máy hoá lỏng khí (như máy Linde) (nhóm 84.19).
84.19 - Trang thiết bị cho phòng thí nghiệm hoặc máy, thiết bị, gia
nhiệt bằng điện hoặc không bằng điện (trừ lò luyện, nung, sấy
và các thiết bị khác thuộc nhóm 85.14) để xử lý các loại vật liệu
bằng quá trình thay đổi nhiệt như làm nóng, nấu, rang, chưng
cất, tinh cất, sát trùng, thanh trùng, phun hơi nước, sấy, làm
bay hơi, làm khô, ngưng tụ hoặc làm mát trừ các loại máy hoặc
thiết bị dùng cho gia đình; thiết bị đun nước nóng nhanh hoặc
thiết bị đun nước nóng có dự trữ, không dùng điện.
- Thiết bị đun nước nóng nhanh hoặc thiết bị đun nước nóng có
dự trữ, không dùng điện:
8419.11 - - Thiết bị đun nước nóng nhanh bằng ga
8419.12 - - Thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời
8419.19 - - Loại khác
8419.20 - Thiết bị khử trùng trong y tế, phẫu thuật hoặc phòng thí
nghiệm
- Máy làm khô:
8419.33 - - Máy đông khô, khô lạnh và máy làm khô kiểu phun
8419.34 - - Loại khác, dùng cho các sản phẩm nông nghiệp
8419.35 - - Loại khác, dùng cho gỗ, bột giấy, giấy hoặc bìa
8419.39 - - Loại khác
8419.40 - Thiết bị chưng cất hoặc tinh cất
8419.50 - Bộ phận trao đổi nhiệt
8419.60 - Máy hoá lỏng không khí hoặc các loại chất khí khác
- Máy và thiết bị khác:
8419.81 - - Để làm nóng đồ uống hoặc nấu hoặc hâm nóng thực phẩm
8419.89 - - Loại khác
8419.90 - Bộ phận
Lưu ý nhóm này không bao gồm :
Bếp lò, ghi lò, bếp nấu và các thiết bị nấu nướng gia dụng khác
thuộc nhóm 73.21.
Máy sưởi không khí và thiết bị phân phối khí nóng, loại không làm
nóng bằng điện thuộc nhóm 73.22.
Thiết bị nấu nướng hoặc sưởi ấm gia dụng thuộc nhóm 74.18.
Thiết bị chưng cất từng phần (ví dụ: loại dùng trong quá trình sản
xuất nước nặng) và thiết bị tinh cất được thiết kế đặc biệt để phân
tách chất đồng vị và các thiết bị trao đổi chất đồng vị sử dụng
phương pháp “nhiệt độ kép” (nhóm 84.01).
Nồi hơi tạo hơi nước và nồi hơi nước quá nhiệt (nhóm 84.02) và
các thiết bị phụ trợ kèm theo (nhóm 84.04).
Nồi hơi nước sưởi trung tâm thuộc nhóm 84.03.
Lò nung, sấy công nghiệp hoặc dùng cho phòng thí nghiệm, kể cả
các loại lò dùng để phân tách nhiên liệu hạt nhân bức xạ theo
phương pháp nhiệt học luyện kim và lò vi sóng (nhóm 84.17 hoặc
85.14, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể)
Thiết bị làm lạnh và bơm nhiệt thuộc nhóm 84.18.
Máy ươm hạt giống, máy ấp trứng, máy nuôi gia cầm mới sinh
(nhóm 84.36).
Máy tạo ẩm cho hạt (nhóm 84.37).
Máy khuếch tán để chiết xuất nước đường (nhóm 84.38).
(m) Thiết bị xử lý nhiệt đối với sợi, vải dệt hoặc các sản phẩm dệt (như
máy xử lý sợi, máy đốt lông (bề mặt vải) (nhóm 84.51).
Thiết bị làm lắng hóa chất bay hơi dùng cho sản xuất thiết bị bán
dẫn (nhóm 84.86).
Thiết bị dùng trong công nghiệp hoặc trong phòng thí nghiệm để
xử lý nhiệt vật liệu bằng cảm ứng điện hoặc tổn hao điện môi kể cả
thiết bị vi sóng (nhóm 85.14).
Lò vi sóng sử dụng cho thương mại hoặc công nghiệp, loại được
sử dụng trong các nhà hàng ăn uống hoặc các cơ sở tương tự
(nhóm 85.14).
Thiết bị đun nước nóng kiểu nhúng, không gắn cố định để làm
nóng chất lỏng, chất bán lỏng (trừ chất rắn) hoặc chất khí, cũng
như thiết bị đun nước nóng kiểu nhúng gắn cố định trong thùng
chứa và được thiết kế chỉ để đun nước nóng (nhóm 85.16).
Thiết bị làm nóng đất dùng điện, thiết bị làm nóng không gian
dùng điện, và các thiết bị gia dụng nhiệt điện thuộc nhóm 85.16.
Với những loại trừ này, nhóm này bao gồm các loại máy và thiết bị được
thiết kế để chuyển các vật liệu (thể rắn, lỏng hoặc khí) tới chu trình làm
nóng hoặc làm lạnh với mục đích làm thay đổi nhiệt độ đơn giản hoặc
làm biến đổi các vật liệu do nguyên nhân chính là sự thay đổi nhiệt độ
(như các quá trình đun, nấu, rang, chưng cất, tinh cất, tiệt trùng, thanh
trùng, phun hơi nước, sấy, làm bay hơi, hóa hơi, ngưng tụ hoặc làm mát).
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các loại máy và thiết bị mà trong
đó việc làm nóng hoặc làm lạnh, dù rất quan trọng, chỉ đơn thuần là chức
năng thứ yếu được thiết kế để hỗ trợ cho chức năng cơ khí chính của
chúng, ví dụ như máy phủ sô cô la cho bánh quy (nhóm 84.38), máy giặt
(nhóm 84.50 hoặc 84.51), máy dùng để rải và đầm phẳng chất liệu phủ
đường có chứa bi tum (nhóm 84.79).
Máy và thiết bị thuộc nhóm này có thể có hoặc không có thiết bị cơ khí
đi kèm.
Máy và thiết bị thuộc nhóm này có thể được làm nóng bởi bất kỳ hệ
thống xử lý nhiên liệu nào (như than, dầu, khí đốt, hơi nước, điện...), trừ
thiết bị đun nóng nước và đun chứa nước nóng tức thời thuộc nhóm
85.16 khi được đun nóng bằng điện.
Nhóm này chỉ bao gồm thiết bị không sử dụng cho hộ gia đình, trừ thiết
bị đun, chứa nước nóng hoặc đun tức thời được đề cập ở phần sau của
Chú giải này.
Nhóm này bao gồm một phạm vi rất rộng các loại máy và thiết bị theo
các kiểu được mô tả dưới đây.
(I) MÁY VÀ THIẾT BỊ LÀM NÓNG HOẶC LÀM LẠNH
Mục này gồm các loại máy được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành
công nghiệp, dùng để xử lý đơn giản các vật liệu như đun nóng, đun sôi,
nấu, cô đặc, làm bay hơi, hóa hơi, làm lạnh,v.v... Bao gồm:
(A) Thùng chứa, bình chứa,... các loại để làm nóng hoặc làm lạnh:
(1) Thùng chứa, bình chứa,... dùng để làm nóng hoặc làm lạnh gián
tiếp, có hai vách hoặc hai đáy, tích hợp bộ phận dự phòng để lưu
thông hơi nước, nước muối lạnh hoặc các chất làm nóng hoặc làm
lạnh khác. Tuy nhiên, các thùng chứa có hai vách hoặc hai đáy
được phân loại vào Phần XIV hoặc XV (ví dụ: nhóm 73.09) nếu
chúng không có các bộ phận dự phòng để lưu thông chất làm nóng
hoặc làm lạnh (như vật chứa cách nhiệt) hoặc thuộc nhóm 84.18
nếu chúng có thêm bộ phận làm bay hơi thuộc máy làm lạnh (làm
lạnh trực tiếp).
(2) Thùng chứa, bình chứa,... có vách ngăn đơn, lắp thêm bộ phận dự
phòng để làm nóng trực tiếp (kể cả loại làm nóng bằng dàn hơi
nước có đục lỗ), không kể loại thùng chứa gia dụng thông thường
(thường thuộc nhóm 73.21). Các dạng sử dụng trong công nghiệp
chủ yếu được phân biệt bởi kích thước lớn và cấu tạo chắc chắn,
hoặc kèm theo các thiết bị lọc, vòm ngưng tụ, hoặc của các thiết bị
cơ khí khác như bộ phận khuấy, hoặc bộ phận đổ lật.
Loại thùng chứa kể trên, dù một váchhoặchai vách thường được thiết kế
để hoạt động dưới áp suất cao (như nồi chưng áp), hoặc trong môi trường
áp suất giảm cho các mục đích đặc biệt, nhất là trong ngành công nghiệp
hoá học hoặc các ngành công nghiệp liên quan.
Loại thùng chứa, chỉ lắp thêm các thiết bị cơ khí, mà không kèm bộ
phận làm nóng trực tiếp hoặc gián tiếp được xếp trong nhóm 84.79, trừ
khi chúng được thiết kế rõ ràng là các loại máy được nêu cụ thể trong
nhóm khác.
Nhóm thùng chứa làm nóng này bao gồm Máy tiệt trùng, đôi khi được
sử dụng trong môi trường áp suất giảm, dùng để đưa thực phẩm và đồ
uống (sữa, bơ, rượu, bia,...) tới các mức nhiệt độ xác định trước, để
loại bỏ các vi sinh vật gây hại.
(B) Bộ trao đổi nhiệt trong đó lưu chất nóng (khí nóng, hơi nước hoặc
chất lỏng nóng) và lưu chất lạnh được đẩy qua các dòng song song,
nhưng thường ngược chiều nhau, được tách biệt bới vách kim loại
mỏng theo cách một lưu chất được làm lạnh và lưu chất kia được làm
nóng. Các bộ phận này thường thuộc một trong ba loại sau đây:
(i) Hệ thống ống đồng tâm: một luồng chất lỏng chuyển động
hình tròn xung quanh, còn luồng còn lại chuyển động trong
ống trung tâm.
(ii) Hệ thống ống cho một lưu chất, được ngăn kín trong một ngăn
để lưu chất còn lại lưu thông qua.
hoặc (iii) Hai chuỗi song song của các ngăn hẹp nối với nhau, được tạo
thành bởi các tấm vách ngăn.
Như đã nêu trong phần đầu của Chú giải này (không kể phần e), nhóm
này không bao gồm các thiết bị phụ trợ dùng cho nồi hơi sản xuất hơi
nước (nhóm 84.04), dù rằng nhiều loại trong đó (ví dụ: bộ ngưng tụ hơi
nước, bộ phận làm nóng trước không khí và bộ tiết kiệm nhiên liệu)
thuộc loại thiết bị trao đổi nhiệt chung nêu ở trên.
Dưới đây là các ví dụ về máy và thiết bị, theo các điều kiện nêu trên,
được điều chỉnh bởi Phần (I) của Chú giải này:
Thiết bị làm đông lạnh, loại sử dụng muối làm lạnh (trừ các loại
thuộc nhóm 82.10).
Máy ngưng tụ khí nitơ hoặc các loại khí khác.
Thiết bị khử trùng, cô đặc, làm lạnh,... dùng cho sản phẩm sữa (kể
cả bồn chứa có thiết bị làm lạnh)
Nồi chế biến và làm cứng dùng trong công nghiệp làm pho mát.
Thiết bị cô đặc, làm lạnh các loại nước ép trái cây, rượu...
Thiết bị sử dụng trong nông nghiệp (ví dụ: nồi hấp để nấu khoai
tây, v.v., như là cỏ khô cho gia súc; nồi hơi đun cách thuỷ dùng để
nấu mật, kể cả các loại có vít ép).
Cột làm lạnh (sử dụng trong công nghiệp xay lúa mỳ)
Nồi hấp và các thiết thiết bị hấp, luộc, nấu, rán,... dùng để nấu,
chuẩn bị hoặc bảo quản thực phẩm (như: Lò nấu dăm bông; chảo
rán cá; nồi nấu và nồi hấp tẩy trắng rau quả các loại; nồi hấp và
làm lạnh cho công nghiệp đóng hộp và bảo quản; nồi hơi, nồi nấu
kẹo mứt).
Bồn ngâm và thùng nghiền có thiết bị làm nóng; thùng nấu hoa
bia; thiết bị khử trùng bia, thiết bị làm lạnh...
(10) Nồi lọc, máy cô đặc nước quả, chảo đun chân không, thùng sục
khí, sunfit hóa hoặc tinh lọc,... dùng trong công nghiệp đường.
Các thiết bị khuếch tán (gồm nồi khuếch tán và “calorisators” đi
kèm với nhau), để chiết xuất nước ép từ củ cải đường, không thuộc
nhóm này (xem phần (V) (B) (3) trong Chú giải của nhóm 84.38).
Tuy nhiên, “calorisators”, nếu tách riêng, vẫn được phân loại vào
nhóm này.
(11) Nồi hấp làm chảy mỡ hoặc xà phòng hoá chất béo; nồi làm rắn bơ
thực vật, tích hợp kèm một xi lanh quay làm lạnh nhờ đó bơ thực
vật được làm rắn.
(12) Nồi hấp, thùng chứa, bể chứa,... dùng để xử lý hóa học bột gỗ hoặc
thuỷ phân gỗ.
(13) Nồi ... dùng trong công đoạn chuẩn bị nhuộm.
(14) Nồi hấp dùng để lưu hoá cao su.
(15) Nồi nấu,... để tẩy gỉ hoặc tẩy sạch mỡ khỏi kim loại.
(16) Các cuộn nhúng chìm được tạo bởi tập hợp