CHU GIAI 2022_CHUONG 48,49
Chương 48
Giấy và bìa; các sản phẩm làm bằng bột giấy,
bằng giấy hoặc bằng bìa
Chú giải.
1. Theo mục đích của Chương này, trừ khi có yêu cầu khác, khi đề cập
đến “giấy” đều kể đến bìa (bất kể độ dày hoặc định lượng tính trên
2.- Chương này không bao gồm:
(a) Các sản phẩm thuộc Chương 30;
(b) Lá phôi dập của nhóm 32.12;
(c) Các loại giấy thơm hoặc các loại giấy đã thấm tẩm hoặc tráng
bằng các loại mỹ phẩm (Chương 33);
(d) Giấy hoặc tấm lót xenlulo đã thấm tẩm, tráng hoặc phủ bằng xà
phòng hoặc chất tẩy (nhóm 34.01), hoặc bằng các chất đánh
bóng, kem hoặc các chế phẩm tương tự (nhóm 34.05);
(e) Giấy hoặc bìa có phủ lớp chất nhạy thuộc các nhóm từ 37.01 đến 37.04;
(f) Giấy được thấm tẩm chất thử chẩn đoán bệnh hoặc chất thử dùng
trong thí nghiệm (nhóm 38.22);
(g) Tấm plastic phân tầng được gia cố bằng giấy, hoặc một lớp giấy
hoặc bìa được tráng hoặc phủ một lớp plastic, lớp plastic này
dày hơn 1/2 tổng bề dày, hoặc các sản phẩm làm bằng vật liệu
như vậy, trừ các tấm phủ tường thuộc nhóm 48.14 (Chương 39);
(h) Các sản phẩm thuộc nhóm 42.02 (ví dụ, hàng du lịch);
(ij) Các sản phẩm thuộc Chương 46 (các sản phẩm làm bằng vật liệu
tết bện);
(k) Sợi giấy hoặc các sản phẩm dệt bằng sợi giấy (Phần XI);
(l) Các sản phẩm thuộc Chương 64 hoặc Chương 65;
(m) Bìa hoặc giấy ráp (nhóm 68.05) hoặc mica được bồi giấy hoặc
bìa (nhóm 68.14) (tuy nhiên, bìa hoặc giấy tráng phủ với bột
mica, được xếp vào Chương này);
(n) Lá kim loại bồi trên giấy hoặc bìa (thường thuộc Phần XIV hoặc
(o) Các sản phẩm thuộc nhóm 92.09;
(p) Các sản phẩm thuộc Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi,
dụng cụ thể thao); hoặc
(q) Các sản phẩm thuộc Chương 96 (ví dụ, các loại khuy, cúc, băng
vệ sinh (miếng) và băng vệ sinh dạng ống (tampon), khăn (bỉm)
và tã lót).
3.- Theo nội dung Chú giải 7, các nhóm từ 48.01 đến 48.05 kể cả giấy và
bìa được cán láng, cán láng cao cấp, làm bóng hoặc hoàn thiện bằng
các phương pháp tương tự, làm giả hình bóng nước hoặc gia keo bề
mặt, và cũng kể cả các loại giấy, bìa, tấm xenlulo và màng xơ sợi
xenlulo, đã nhuộm màu hoặc tạo vân toàn bộ bằng phương pháp bất
kỳ. Trừ khi nhóm 48.03 có yêu cầu khác, các nhóm này không áp
dụng cho giấy, bìa, màng xơ sợi xenlulo hoặc súc xơ sợi xenlulo
được xử lý theo các phương pháp khác.
4. Trong Chương này "giấy in báo" có nghĩa là loại giấy không tráng sử
dụng để in báo, có hàm lượng bột gỗ thu được từ quá trình cơ học
hoặc quá trình hoá cơ-hóa học không nhỏ hơn 50% so với tổng
lượng bột giấy, không gia keo hoặc được gia keo nhẹ, có độ nhám
bề mặt Parker Print Surf (1MPa) trên mỗi mặt trên 2,5 micromet
(microns), định lượng từ 40 g/m2 đến 65 g/m2, và chỉ áp dụng đối
với giấy: (a) ở dạng dải hoặc dạng cuộn có chiều rộng lớn hơn 28
cm; hoặc (b) ở dạng tờ hình chữ nhật (kể cả hình vuông) với một
chiều lớn hơn 28 cm và chiều khác lớn hơn 15 cm ở dạng không
gấp.
5.- Theo mục đích của nhóm 48.02 , các thuật ngữ “giấy và bìa, loại
dùng để viết, in hoặc các mục đích đồ bản khác” và “giấy làm thẻ và
giấy băng chưa đục lỗ” nghĩa là giấy và bìa được làm chủ yếu từ bột
giấy tẩy trắng hoặc bột giấy thu được từ quá trình cơ học hoặc quá
trình hoá học-cơ học và thoả mãn một trong những tiêu chí sau đây:
Đối với loại giấy hoặc bìa định lượng không quá 150 g/m2:
(a) có hàm lượng bột giấy thu được từ quá trình cơ học hoặc quá
trình hoá học-cơ học từ 10% so với tổng lượng bột giấy trở lên,
và
1. định lượng không quá 80 g/m2, hoặc
2. được nhuộm màu toàn bộ; hoặc
(b) có hàm lượng tro trên 8%, và
1. định lượng không quá 80 g/m2 , hoặc
2. được nhuộm màu toàn bộ; hoặc
(c) có hàm lượng tro trên 3% và độ trắng từ 60% trở lên; hoặc
(d) có hàm lượng tro trên 3% nhưng không quá 8%, độ trắng dưới
60%, và chỉ số bục từ 2,5 kPa.m2/g trở xuống; hoặc
(e) có hàm lượng tro từ 3% trở xuống, độ trắng từ 60% trở lên và chỉ
số bục từ 2,5 kPa.m2/g trở xuống.
Đối với loại giấy hoặc bìa có định lượng trên 150 g/m2:
(a) được nhuộm màu toàn bộ; hoặc
(b) có độ trắng từ 60 % trở lên, và
1. độ dày từ 225 micromet trở xuống, hoặc
2. độ dày trên 225 micromet (microns) nhưng không quá 508
micromet và hàm lượng tro trên 3 %; hoặc
(c) có độ trắng dưới 60%, độ dày từ 254 micromet (microns) trở
xuống và hàm lượng tro trên 8 %.
Tuy nhiên, nhóm 48.02 không bao gồm giấy hoặc bìa lọc (kể cả giấy
làm túi lọc chè) hoặc giấy nỉ hoặc bìa nỉ.
6.- Trong Chương này "giấy và bìa kraft" có nghĩa là loại giấy và bìa có
hàm lượng bột giấy sản xuất bằng quá trình sulphat hoặc kiềm hóa
học không dưới 80% so với tổng lượng bột giấy.
7.- Trừ khi nội dung của nhóm có yêu cầu khác, giấy, bìa, tấm xenlulo
và màng xơ sợi xenlulo đáp ứng mô tả trong hai hoặc nhiều nhóm từ
48.01 đến 48.11 được phân loại vào nhóm có số thứ tự cuối cùng
trong Danh mục.
Các nhóm 48.03 đến 48.09 chỉ áp dụng đối với giấy, bìa, tấm
xenlulo và màng xơ sợi xenlulo:
(a) ở dạng dải hoặc cuộn có chiều rộng trên 36 cm; hoặc
(b) ở dạng tờ hình chữ nhật (kể cả hình vuông) với một chiều trên
36 cm và chiều kia trên 15 cm ở dạng không gấp
9.- Theo mục đích của nhóm 48.14, khái niệm "giấy dán tường và các
loại tấm phủ tường tương tự" chỉ áp dụng đối với:
(a) Giấy ở dạng cuộn, chiều rộng từ 45 cm và không quá 160 cm,
thích hợp với trang trí tường hoặc trần nhà:
(i) Giả vân, rập nổi, tạo màu bề mặt, in theo thiết kế hoặc trang
trí bề mặt bằng cách khác (ví dụ, bằng vụn xơ dệt), có hoặc
không tráng hoặc phủ bằng lớp plastic bảo vệ trong suốt;
(ii) Mặt gồ ghề do gắn trang trí bằng vụn rơm, vụn gỗ,..;
(iii) Tráng hoặc phủ bề mặt bằng plastic, lớp plastic được làm
giả vân, rập nổi, tạo màu, in theo thiết kế hoặc trang trí kiểu
khác; hoặc
(iv) Phủ bề mặt bằng vật liệu tết bện, có hoặc không gắn với
nhau theo kiểu các tao song song hoặc dệt thoi;
(b) Các loại diềm và băng trang trí, bằng giấy, được xử lý như trên,
có hoặc không ở dạng cuộn, thích hợp cho việc trang trí tường
hoặc trần nhà;
(c) Giấy phủ tường đã làm thành các tấm panel, ở dạng cuộn hoặc
tờ, đã được in để ghép làm phông cảnh, mẫu thiết kế hoặc môtip
khi phủ lên tường.
Các sản phẩm bằng giấy hoặc bìa, thích hợp cho cả việc dùng để trải
sàn và phủ tường, được phân loại trong nhóm 48.23.
10.- Nhóm 48.20 không bao gồm các loại tờ rời hoặc thiếp, thẻ rời, đã
cắt theo cỡ, đã hoặc chưa in, rập nổi hoặc đục lỗ.
11.- Ngoài các mặt hàng khác, nhóm 48.23 áp dụng cho các loại thiếp,
thẻ đã đục lỗ, làm bằng giấy hoặc bìa dùng cho máy Jacquard hoặc
các loại máy tương tự và ren giấy.
12.- Trừ các hàng hoá thuộc nhóm 48.14 hoặc 48.21, giấy, bìa, tấm xơ
sợi xenlulo và các sản phẩm của chúng, đã in các motip, các ký tự
hoặc biểu tượng tranh ảnh, mà không chỉ đơn thuần bổ trợ cho công
dụng chính của sản phẩm đó, được xếp vào Chương 49.
Chú giải phân nhóm.
1. Theo mục đích của các phân nhóm 4804.11 và 4804.19, "kraft lớp
mặt" có nghĩa là loại giấy và bìa được sản xuất hoàn chỉnh trực tiếp trên
máy hoặc làm bóng bề mặt trên máy, có từ 80% trở lên tính theo trọng
lượng trên tổng hàm lượng bột giấy là bột gỗ thu được từ quá trình
sulphat hoặc kiềm hóa học, ở dạng cuộn, định lượng lớn hơn 115 g/m2
và có độ bục Mullen tối thiểu như đã chỉ ra trong bảng dưới đây hoặc giá
trị tương đương nội suy hoặc ngoại suy tuyến tính cho các định lượng
khác.
2. Theo mục đích của các phân nhóm 4804.21 và 4804.29, "giấy kraft
làm bao" có nghĩa là loại giấy được sản xuất hoàn chỉnh trực tiếp
trên máy, có hàm lượng bột giấy sản xuất theo quá trình sulphat
hoặc kiềm từ 80% trở lên so với tổng lượng bột giấy tính theo khối
lượng, ở dạng cuộn, định lượng từ 60 g/m2 nhưng không quá 115
g/m2 và thoả mãn một trong các bộ tiêu chí sau đây:
(a) Chỉ số bục Mullen không dưới 3,7 kPa.m2/g và hệ số giãn dài
trên 4,5% theo chiều ngang và trên 2% theo chiều dọc.
(b) Có độ bền xé và độ bền kéo tối thiểu được chỉ ra trong bảng sau
đây hoặc giá trị tương đương nội suy tuyến tính cho các định
lượng khác:
3.- Theo mục đích của phân nhóm 4805.11, "giấy để tạo lớp sóng sản
xuất từ bột giấy bán hoá học" có nghĩa là giấy, ở dạng cuộn, có từ
65% trở lên tính theo khối lượng trên tổng hàm lượng bột giấy là bột
gỗ cứng chưa tẩy trắng thu từ việc kết hợp quá trình xử lý bột giấy
cơ học và hóa học, và có độ bền nén CMT 30 (phép thử độ bền nén
phẳng sau khi đã làm sóng trong phòng thí nghiệm với thời gian để
điều hoà mẫu 30 phút) lớn hơn 1,8 N/g/m2 trong điều kiện thử
nghiệm có độ ẩm tương đối là 50%, nhiệt độ 23oC.
4.- Phân nhóm 4805.12 bao gồm giấy, dạng cuộn, được làm chủ yếu từ
bột giấy rơm rạ thu được từ việc kết hợp quá trình sản xuất cơ học
và hóa học, định lượng từ 130 g/m2 trở lên, và có độ bền nén CMT
30 (phép thử độ bền nén phẳng sau khi đã làm sóng trong phòng thí
nghiệm với thời gian để điều hoà mẫu 30 phút) trên 1,4 N/g/m2
trong điều kiện thử nghiệm có độ ẩm tương đối là 50%, nhiệt độ
5.- Các phân nhóm 4805.24 và 4805.25 bao gồm giấy và bìa được làm
toàn bộ hoặc chủ yếu bằng bột giấy tái chế từ giấy loại và bìa loại
(phế liệu và mảnh vụn). Bìa lớp mặt có thể có một lớp mặt bằng
giấy đã nhuộm hoặc bằng giấy làm từ bột giấy không phải là bột
giấy tái chế đã tẩy trắng hoặc không tẩy trắng. Các sản phẩm này có
chỉ số bục Mullen không nhỏ hơn 2 kPa·m2/g.
6.- Theo mục đích của phân nhóm 4805.30, "giấy bao gói làm từ bột
giấy sulphit" có nghĩa là loại giấy được làm bóng trên máy, có trên
40% tính theo khối lượng trên tổng hàm lượng bột giấy là bột gỗ thu
được từ quá trình sulphit hóa học, hàm lượng tro không quá 8 % và
chỉ số bục Mullen không dưới 1,47 kPa·m2/g.
7.- Theo mục đích của phân nhóm 4810.22, "giấy tráng nhẹ" là loại
giấy, được tráng 2 mặt, có tổng định lượng không quá 72 g/m2, định
lượng chất tráng trên mỗi mặt không quá 15 g/m2, trên giấy nền có
từ 50% trở lên tính theo khối lượng trên tổng hàm lượng bột giấy là
bột gỗ thu được từ quá trình cơ học.
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Chú giải phân nhóm 1
Trong Chú giải này độ bục Mullen tối thiểu được biểu thị bằng
kilopascals (kPa). Mức g/cm2 tương đương như sau:
Định lượng
Việc tính giá trị trung gian (phép nội suy) hoặc việc tính giá trị của hơn
400 g (phép ngoại suy) cần được dựa trên công thức sau:
Định lượng cơ sở Độ bục Mullen tối thiểu g/cm2
Không quá 125 g/m2
Định lượng cơ bản (g/m2) x 22 + 1,500
Trên 125 g/m2
Định lượng cơ bản (g/m2) x 30 + 500
nhưng không quá 200 g/m2
Trên 200 g/m2
Định lượng cơ bản (g/m2) x 19 + 2,700
nhưng không quá 300 g/m2
Trên 300 g/m2
Định lượng cơ bản (g/m2) x 14 + 4,200
Chú giải phân nhóm 2
Đối với giấy có định lượng trên m2 nằm giữa các giá trị được nêu trong
Chú giải này, các mức tối thiểu có thể được tính (với sai số không quá
2%) trên cơ sở bảng sau:
Tối tiểu
Độ bền xé, chiều dọc
Định lượng cơ bản (g/m2) x 13.23 – 94.64
(nM) (được làm tròn tới
0 hoặc 5 millinewton gần nhất)
Độ bền xé, chiều dọc
Định lượng cơ bản (g/m2) x 28.22 – 186.2
cộng chiều ngang (mN)
(được làm tròn như đã nêu trên)
Độ bền kéo, chiều ngang Định lượng cơ bản (g/m2) x 0.0449 – 0.8186
Độ bền kéo, chiều dọc Định lượng cơ bản (g/m2) x 0.1143 – 0.829
cộng chiều ngang (kN/m)
TỔNG QUÁT
Trong các Chú giải của Chương này, trừ khi có những yêu cầu khác,
thuật ngữ "giấy" bao gồm cả bìa (không tính đến độ dày hoặc định
lượng).
Giấy cấu thành chủ yếu từ các sợi xenlulo của bột giấy thuộc Chương
47, kết lại với nhau thành tờ. Rất nhiều sản phẩm, như một số vật liệu
dùng để sản xuất gói đựng chè, được cấu thành từ hỗn hợp sợi xenlulo
này và từ sợi dệt (đặc biệt là sợi nhân tạo như đã định nghĩa trong Chú
giải 1 của Chương 54). Trường hợp sợi dệt có trọng lượng vượt trội, sản
phẩm đó không được xem là giấy và được phân loại là sản phẩm không
dệt (nhóm 56.03).
Để tránh không nhất quán có thể phát sinh từ việc dùng các phương pháp
khác nhau, người ta đặc biệt khuyến khích tất cả các cơ quan chức trách
sử dụng các phương pháp thử nghiệm của Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn
hóa (ISO) để xác định các thuộc tính lý học của giấy và bìa thuộc
Chương 48. Bất cứ khi nào các tiêu chuẩn phân tích và các tiêu chuẩn
vật lý dưới đây được đề cập trong Chương này, cần phải dùng các tiêu
chuẩn ISO được liệt kê sau đây:
Hàm lượng tro:
Giấy và bìa - - Xác định lượng tro
Độ trắng:
ISO 2470 Giấy và bìa- - Đo yếu tố phản xạ phát ánh sáng
xanh khuyếch tán (độ trắng ISO)
Xác định độ chịu bục và chỉ số bục:
Giấy - - Xác định độ chịu bục
Bìa - - Xác định độ chịu bục
CMT 60 (độ bền nén):
Giấy rãnh khía dùng làm bìa lượng sóng - - Xác
định độ bền nén phẳng sau khi tạo sóng trong phòng
thí nghiệm
Thành phần sợi:
ISO 9184/1-3 Giấy và bìa và bột giấy - - Phân tích bột xeo
Định lượng:
Giấy và bìa - - Xác định định lượng (gram)
Độ ráp bề mặt Parker Print-Surf:
ISO 8791/4 Giấy và bìa - - Xác định độ ráp/độ nhẵn (phương
pháp rò rỉ không khí)
Độ dày của một tấm đơn (caliper):
Giấy và bìa - - Xác định độ dày và tỷ trọng xếp chặt
biểu kiến hoặc tỷ trọng tờ biểu kiến.
Độ bền xé
Giấy - - Xác định độ bền xé (phương pháp
Độ bền kéo và độ giãn dài:
ISO 1924/2 Giấy và bìa - - Xác định các thuộc tính bền kéo - -
Phần 2: Tỷ lệ không đổi trong phương pháp giãn dài
Việc sản xuất giấy, dù bằng máy hay bằng tay, có thể bao gồm 3 giai
đoạn, chuẩn bị bột giấy, tạo hình tờ giấy hoặc băng giấy, và hoàn thiện.
CHUẨN BỊ BỘT GIẤY
Bột giấy được chuẩn bị bằng cách pha trộn nếu cần, với chất độn, chất
gia keo, hoặc chất màu theo yêu cầu, và giảm đến một độ nhất quán
thích hợp bằng cách pha loãng với nước và khuấy cơ học.
Chất độn, thông thường có nguồn gốc vô cơ (ví dụ, cao lanh (đất sét
Trung Quốc), titan dioxit, canxi carbonat) được sử dụng để tăng thêm độ
đục của giấy, cải thiện khả năng in ấn hoặc tiết kiệm bột giấy. Chất gia
keo (ví dụ, colophan trộn với phèn) được sử dụng để làm cho giấy ít có
khả năng hấp thụ mực...
TẠO HÌNH TỜ GIẤY HOẶC BĂNG GIẤY
(A) Giấy và bìa được sản xuất bằng máy.
Phương pháp sử dụng rộng rãi nhất để sản xuất giấy bằng máy là quá trình
Fourdrinier. Trong quá trình này bột giấy, sau khi đã chuẩn bị như ở trên,
được đưa qua hòm phun bột lên một lưới liên tục lớn làm bằng sợi
monofilament nhân tạo hoặc lưới đồng thau hoặc đồng thiếc chuyển động
về phía trước, thường có chuyển động rung; bột giấy bị mất phần lớn nước
do trọng lực và do lô, lá đỡ hoặc hộp hút chân không được đặt dọc theo mặt
bên dưới của lưới này. Sợi bị kết lại và tạo thành dạng băng giấy mềm.
Trong một vài loại máy, băng này sau đó di chuyển dưới một lô có phủ lưới
(lô dandy- lô dàn bột), ở đây nó được dàn đều và được vuốt cho mượt và,
nếu có yêu cầu, nó được làm hoa văn hình bóng nước (watermark), ví dụ,
bởi một mẫu hình hoặc đường kẻ rập nổi gắn trên bề mặt lô dandy. Tiếp
theo băng giấy này di chuyển đến một dây đai liên tục bằng nỉ và đến bộ
phận ép nơi nó được dàn đều hơn nữa; sau đó nó được làm khô bằng cách
di chuyển qua các lô được gia nhiệt.
Một phương pháp khác là tạo hình lưới đôi (đặc biệt được sử dụng trong
công nghiệp sản xuất giấy in báo). Bột giấy di chuyển vào giữa hai lô tạo
hình và được dẫn giữa hai “lưới”. Nước thoát ra khỏi hai lưới, được trợ
giúp bởi các hộp hút và lô hút chân không, và băng giấy được hình
thành. Băng giấy mới được hình thành này được kéo đến bộ phận ép và
làm khô. Lưới đôi này tạo thành hai mặt của giấy giống nhau, do đó loại
bỏ được mặt nỉ và mặt lưới tạo đặc trưng của giấy được sản xuất theo
quá trình Fourdrinier.
Trong các kiểu máy khác lưới Fourdrinier được thay thế bằng một lô
(“khuôn”) lớn và được phủ bằng lưới kim loại đang xoay một phần chìm
trong bột giấy đã chuẩn bị. Lô này lấy một lớp bột giấy và tạo thành
băng giấy mà được chuyển đến bộ phận làm khô trong dạng dài liên tục
hoặc ở dạng tờ bằng cách ngắt đoạn bề mặt lô. Trong một biến thể khác
của quá trình này, các lớp có thể tích tụ quanh một lô đường kính lớn,
được cắt rời khi đạt được độ dày yêu cầu.
Máy với nhiều lưới hoặc lô hình trụ (hoặc kết hợp lưới Fourdrinier với lô
hình trụ) được sử dụng để sản xuất bìa nhiều lớp (đôi khi màu và chất
lượng khác nhau) được sản xuất đồng thời và cuộn cùng nhau ở trạng
thái ướt không sử dụng chất kết dính.
(B) Giấy và bìa sản xuất thủ công.
Trong sản xuất giấy và bìa thủ công thì thao tác căn bản xeo sợi bột giấy
thành dạng tờ được thực hiện bằng tay, dù rằng các công đoạn khác có
thể được thực hiện bằng máy.
Giấy và bìa sản xuất thủ công có thể được làm từ bất cứ vật liệu làm giấy
nào nhưng thường sử dụng lanh và bông loại tốt nhất.
Trong việc tạo hình tờ giấy, một lượng bột giấy được lắc trên một liềm
xeo giống như sàng cho tới khi phần lớn nước được loại bỏ và bột giấy
kết lại. Tờ giấy sau đó được lấy ra khỏi liềm xeo, ép giữa các phớt và
được treo lên cho khô.
Liềm xeo thủ công trên đó các sợi bột giấy được kết lại cùng nhau có thể
bao gồm hoặc từ các sợi nằm song song hoặc từ vải sợi dệt mà tạo ra
hình bóng nước trên giấy. Các mẫu hình bóng nước cũng có thể được
gắn lên lưới.
Các đặc tính tiêu biểu của loại giấy sản xuất thủ công là sức bền và tính
bền và chất lượng của thớ. Những đặc tính này làm cho chúng phù hợp
cho các công dụng đặc biệt, ví dụ, giấy in tiền, giấy in chứng từ, giấy vẽ,
giấy khắc, giấy lọc đặc biệt, giấy sổ kế toán, giấy làm khung ảnh, giấy in
hoặc giấy văn phòng phẩm cao cấp. Chúng còn được dùng để sản xuất
thiếp cưới, giấy in sẵn tiêu đề, giấy in lịch...
Giấy sản xuất thủ công thường được làm thành các khổ như được sử
dụng và có bốn mép định biên chưa xén vát ra ngoài đáng kể; tuy nhiên,
chúng đôi khi được xén và trong bất cứ trường hợp nào không có khác
biệt đáng kể bởi vì một số giấy làm bằng máy, đặc biệt là giấy xeo
khuôn trụ, cũng có các mép định biên, tuy nhiên, không vát ra ngoài rõ
rệt như vậy.
CÁC THAO TÁC HOÀN THIỆN
Giấy có thể được hoàn thiện bằng cách cán láng hoặc cán láng cao cấp
(trước tiên giấy được làm ẩm nếu cần), bằng máy cán láng nằm trong
máy làm giấy hoặc không nằm trong máy làm giấy; điều đó sẽ làm cho
bề mặt giấy ít nhiều được bóng hoặc láng trên một hoặc cả hai mặt. Bề
mặt tương tự của một mặt giấy cũng có thể thu được nhờ máy cán bóng
sử dụng lô được gia nhiệt. Giấy cũng có thể nhận những hình vẽ chìm
giả ở giai đoạn này. Hầu hết tất cả các loại giấy viết, in và vẽ thông
thường đều được gia keo bề mặt, ví dụ, bằng một vài loại keo hoặc dung
dịch tinh bột, thường để tăng sức bền bề mặt và khả năng chống chịu sự
thẩm thấu và lan tỏa của các chất lỏng có chứa nước, ví dụ, mực viết.
Giấy và bìa được tráng
Thuật ngữ này áp dụng cho các loại giấy hoặc bìa mà được tráng trên
một hoặc cả hai mặt hoặc để tạo độ bóng đặc biệt hoặc để làm cho bề
mặt giấy phù hợp với một số yêu cầu đặc biệt.
Các sản phẩm tráng thường bao gồm các chất khoáng, các chất kết dính
và các phụ gia khác cần thiết cho việc tráng, như các tác nhân làm cứng
và các tác nhân làm phân tán.
Giấy carbon, giấy "tự nhân bản" và các loại giấy copy hoặc giấy chuyển
khác, ở dạng cuộn hoặc dạng tờ có kích thước đặc biệt, thuộc nhóm
Giấy và bìa, được tráng phủ bằng cao-lanh (đất sét Trung Quốc) hoặc
các chất vô cơ khác, có hoặc không có chất kết dính, ở dạng cuộn hoặc
dạng tờ, thuộc nhóm 48.10. Ngoài cao-lanh, các chất vô cơ được dùng
để tráng phủ bao gồm bari sulphate, canxi carbonate, canxi sulphate,
magiê silicat, oxit kẽm, và bột kim loại. Các chất liệu tráng này thường
được gắn được nhờ một tác nhân chất kết dính như keo, gelatin, chất có
chứa tinh bột (ví dụ, tinh bột, dextrin), nhựa cánh kiến đỏ (shellac),
albumin, mủ cao su tổng hợp. Các sản phẩm được tráng cao lanh... để có
một bề mặt láng, đục hay mờ. Các ví dụ về các sản phẩm tráng cao lanh
hoặc các chất vô cơ khác là: giấy và bìa tráng để in ấn (kể cả giấy tráng
để in ảnh và giấy chromo được tráng), các bìa được tráng gấp nếp để bao
gói, các giấy tráng bột kim loại (trừ lá phôi dập thuộc nhóm 32.12) hoặc
bột mica, giấy được tráng men (được dùng rộng rãi cho nhãn và để phủ
các hộp). Cần lưu ý rằng các tác nhân kết dính được dùng để cố định lớp
phủ, như keo hoặc tinh bột, cũng được dùng để gia keo bề mặt nhưng
trong trường hợp giấy được gia keo bề mặt không được tráng phủ thì
không có thuốc màu.
Theo các ngoại lệ nêu trong nhóm, các giấy và bìa có lớp tráng phủ từ
nhựa đường, bi-tum, asphalt, plastic hoặc các chất hữu cơ khác như sáp,
stearin, bụi vải, mùn cưa, lie dạng hạt, nhựa cánh kiến đỏ, ở dạng cuộn
hoặc tờ, được phân loại vào nhóm 48.11. Các vật liệu tráng phủ này có
thể không cần tác nhân kết dính để gắn. Các lớp tráng phủ đó được sử
dụng để có được các đặc tính vật lý cho một phạm vi sử dụng cuối cùng
rộng rãi, ví dụ, cho các bao gói chống thấm nước, giấy và bìa chống
dính. Các giấy và bìa tráng phủ như vậy bao gồm cả các loại giấy tráng
keo nhựa cây hay tráng keo tổng hợp, giấy tráng bụi vải (phủ với bụi vải
và được dùng để bọc hộp và giấy phủ tường), giấy tráng hạt lie (được
dùng để gói bọc), giấy graphit và giấy phủ hắc ín để bao gói.
Các chất màu cũng thuờng xuyên được thêm vào các chất tráng.
Nhiều giấy và bìa đã tráng phủ được hoàn thiện với độ bóng cao bằng
cách cán láng cao cấp, hoặc lớp phủ có thể được quét vecni để bảo vệ
khỏi bị ẩm (như trường hợp giấy có thể rửa được).
Có thể phân biệt được giữa việc gia keo bề mặt và việc tráng bằng việc
sử dụng kết hợp các phương pháp hoá học và vật lý. Trong đa số các
trường hợp, sự khác biệt có thể dễ dàng nhận biết được hoặc trên cơ sở
bản chất hoặc số lượng các vật liệu đem dùng hoặc trên cơ sở những đặc
tính vật lý tổng thể. Nhìn chung, trong trường hợp gia keo bề mặt, bề
ngoài và cấu trúc của bề mặt tự nhiên của giấy hoặc bìa giữ nguyên,
trong khi đó, trong trường hợp giấy hoặc bìa tráng phủ, những chỗ
không đều của bề mặt tự nhiên về cơ bản được loại bỏ bởi vật liệu tráng
phủ.
Vấn đề có thể nảy sinh trong những trường hợp ranh giới không rõ ràng,
đặc biệt do các lý do sau: giấy đã được tráng nhẹ có thể có lớp tráng
được áp vào trong ép gia keo; một vài chất có mặt trong lớp tráng cũng
tồn tại ở ngay trong giấy (ví dụ, chất độn); và các sợi có thể nhìn thấy đ-
ược trong trường hợp giấy đã được tráng với các vật liệu không chứa
chất màu, ví dụ, sự phân tán của poly(vinyl chloride) trong dung dịch
nước. Tuy nhiên, có thể giải quyết các trường hợp này bằng một hay
nhiều phương pháp được dẫn ra dưới đây.
Nhiều loại giấy đã được tráng phủ, như giấy in ảnh nghệ thuật đã được
tráng bằng vật liệu vô cơ, không thể phân biệt dễ dàng bằng mắt thường
so với giấy không được tráng được hoàn thiện cao. Tuy nhiên, lớp tráng
đôi khi có thể nhìn thấy bằng cách cạo bề mặt hoặc bị loại bỏ bằng cách
dìm trong nước.
Một phương pháp thử nghiệm mà có thể xác định giấy đã được tráng phủ
hay không (đặc biệt với các chất vô cơ) là dán giấy vào băng dính. Khi
băng dính được tách ra thì phần lớn lớp tráng phủ bị dính vào băng dính.
Sau đó cần phải hoà tan sợi gỗ và tinh bột có mặt trên băng dính bằng
cupriethylene diamine. Việc đã tráng phủ hay chưa được nhận biết bằng
cách so sánh trọng lượng của băng dính trước và sau khi thực hiện thao
tác này. Phương pháp này cũng có thể được sử dụng đối với giấy được
tráng phủ bằng các chất hữu cơ.
Trong số các cách thức khác để nhận biết giấy và bìa đã tráng phủ, có
thể kể đến phương pháp kính hiển vi điện tử quét (scanning electron
microscopy- SEM), nhiễu xạ tia X và phổ tia hồng ngoại. Các cách thức
này có thể được dùng để nhận biết những sản phẩm của cả nhóm 48.10
và 48.11.
Giấy và bìa đã được in hoặc đã tạo màu
Chúng bao gồm giấy đã được in bằng bất cứ quá trình nào với một hoặc
nhiều màu, có đường kẻ sọc, các họa tiết, các mẫu hình... và cũng gồm
các loại giấy được tạo vân đá bề mặt hoặc giấy lẫn nhiều màu sắc (jaspé
paper). Các loại giấy này được dùng cho các mục đích khác nhau như
giấy bọc hộp và đóng sách.
Giấy có thể được in bề mặt bằng mực các màu với các đường kẻ, có
hoặc không song song, hội tụ, hoặc ở một góc. Các loại giấy này được sử
dụng, không kể những cái khác, cho việc sản xuất sổ sách kế toán, vở
học sinh, vở vẽ, tờ hoặc vở chép âm nhạc, giấy viết, giấy kẻ ô và sổ tay.
stripes, motifs, designs, etc., and also surface marbled or jaspé papers.
Chương này bao gồm giấy đã in (như giấy gói bọc dùng trong thương
mại, giấy đã in có tên thương nhân, hình tượng trưng và nhãn thương
mại, hướng dẫn sử dụng hàng hóa) với điều kiện là việc in chỉ bổ trợ so
với việc sử dụng giấy để bao gói, để viết..., và các mặt hàng không cấu
thành vật liệu đã in của Chương 49 (xem Chú giải 12 Chương này).
Giấy và bìa đã được thấm tẩm
Phần lớn các loại giấy và bìa này thu được bằng cách thấm tẩm chúng
bằng dầu, sáp, plastic..., và cho chúng có chất lượng đặc biệt (ví dụ, làm
cho chúng không thấm nước, không thấm dầu mỡ, và đôi khi trong mờ
hoặc trong suốt). Chúng được sử dụng rộng rãi làm bao gói bảo vệ hoặc
vật liệu cách ly.
Giấy và bìa thấm tẩm bao gồm, giấy gói tẩm dầu, giấy sao chép tẩm dầu
hoặc sáp, giấy nến, giấy và bìa cách ly được thấm tẩm, ví dụ, với plastic,
giấy tẩm cao su, giấy và bìa thấm tẩm đơn thuần với hắc ín hoặc bi-tum.
Một số giấy như giấy nền làm giấy dán tường có thể được tẩm thuốc trừ
côn trùng hoặc chất hóa học.
Chương này cũng bao gồm tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo gồm
một lượng thay đổi các lớp rất mỏng của sợi xenlulo được liên kết với
nhau một cách lỏng lẻo quấn vào nhau khi ở điều kiện ẩm để các lớp này
có khuynh hướng tách ra khi làm khô.
PHẠM VI CỦA CHƯƠNG
Chương này bao gồm:
(I) Giấy, bìa, tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo, thuộc mọi loại, ở dạng
cuộn hoặc dạng tờ:
(A) Các nhóm 48.01, 48.02, 48.04 và 48.05 liên quan tới các loại
giấy không tráng phủ sản xuất bằng máy, nếu cần, có thể trải
qua quá trình gia keo và các quá trình hoàn thiện đơn giản (ví
dụ, cán láng, làm bóng). Nhóm 48.02 cũng bao gồm giấy sản
xuất thủ công không tráng phủ, chúng có thể trải qua các quá
trình tương tự. Nhóm 48.03 liên quan đến các giấy không tráng
phủ loại dùng trong gia đình hoặc mục đích vệ sinh, tấm
xenlulo và màng xơ sợi xenlulo, mà có thể qua các quá trình
nêu trong nhóm này. Chú giải 3 của Chương này quy định
những quy trình được phép đối với giấy, bìa, tấm xenlulo và
màng xơ sợi xenlulo, thuộc các nhóm từ 48.01 đến 48.05.
Những quá trình có thể chấp nhận được trong các nhóm từ
48.01 đến 48.05 được thực hiện như là một phần của quá trình
vận hành sản xuất giấy liên tục. Đặc trưng của giấy thuộc các
nhóm này là bề ngoài và cấu trúc của bề mặt tự nhiên của chúng
được giữ nguyên. Trong trường hợp giấy được tráng phủ, những
chỗ không đều của mặt ngoài tự nhiên bị loại bỏ một cách cơ
bản bởi vật liệu tráng phủ tạo ra một lớp bề mặt mới, không
phải xenlulo, tốt hơn.
(B) Các nhóm từ 48.06 đến 48.11 liên quan đến một số giấy hoặc
bìa đặc biệt (ví dụ, giấy giả da, giấy không thấm dầu mỡ, giấy
bồi) hoặc giấy, bìa hoặc tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo đã
qua các quá trình xử lý khác nhau, như tráng phủ, in mẫu hình,
kẻ dòng, thấm tẩm, tạo sóng, tạo nhăn, rập nổi, và đục lỗ.
Nhóm 48.11 cũng bao gồm một số loại trải sàn có nền là giấy
hoặc bìa.
Trừ trường hợp các quy định của các nhóm này có yêu cầu khác,
khi giấy hoặc bìa có thể đáp ứng mô tả của hai hoặc nhiều nhóm nêu
trên, chúng được xếp vào nhóm cuối cùng theo thứ tự đánh số trong
Danh mục (Chú giải 7 của Chương này).
Cần lưu ý rằng các nhóm 48.03 đến 48.09 chỉ áp dụng cho giấy, bìa,
tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo, mà:
(1) ở dạng dải hoặc cuộn có chiều rộng trên 36cm; hoặc
(2) ở dạng tờ hình chữ nhật (kể cả hình vuông) mà một chiều trên
36cm và chiều khác trên 15cm ở dạng không gấp.
Mặt khác, các nhóm 48.02, 48.10 và 48.11 gồm giấy và bìa, ở dạng
cuộn, hoặc dạng tờ hình chữ nhật (kể cả hình vuông), với kích thước
bất kỳ. Tuy nhiên, giấy và bìa sản xuất thủ công thuộc mọi kích
thước hoặc mọi hình dạng như lúc trực tiếp làm ra và có tất cả các
mép được xén vẫn được phân loại trong nhóm 48.02, theo Chú giải
7 của Chương này.
(II) Các khối, phiến và tấm lọc, bằng bột giấy (nhóm 48.12), giấy cuốn
thuốc lá, đã hoặc chưa cắt thành cỡ hoặc ở dạng tập nhỏ hoặc dạng
ống (nhóm 48.13), giấy dán tường và các loại tấm phủ tường tương
tự (như đã nêu trong chú giải 9 của Chương này) và tấm che cửa sổ
trong suốt (nhóm 48.14).
(III) Giấy, bìa, tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo, (nhưng không phải
các loại thuộc các nhóm 48.02, 48.10 và 48.11, hoặc ở đoạn (II) trên
đây), ở dạng cuộn hoặc dạng tờ cắt theo kích thuớc nhỏ hơn kích
thước đã nêu ở đoạn (I) ở trên hoặc cắt theo hình dạng khác với hình
chữ nhật (kể cả hình vuông) và các sản phẩm bằng bột giấy, giấy,
bìa, tấm xenlulo hoặc màng xơ sợi xenlulo. Các sản phẩm này được
phân loại vào một nhóm hoặc nhóm khác trong các nhóm 48.16 đến
Theo mục đích của các nhóm 48.12, 48.18, 48.22 và 48.23 và các Chú
giải liên quan, thuật ngữ “bột giấy" là tất cả các sản phẩm của các nhóm
từ 47.01 đến 47.06, tức là bột giấy từ gỗ hoặc từ các vật liệu sợi xenlulo
khác.
Tuy nhiên, Chương này không bao gồm các sản phẩm đã bị loại trừ theo
các Chú giải 2 và 12 của Chương này.
48.01- Giấy in báo, dạng cuộn hoặc tờ.
Thuật ngữ "giấy in báo" được định nghĩa trong Chú giải 4 của Chương
này.
Trong định nghĩa này, thuật ngữ "sợi gỗ thu được bởi quá trình cơ học
hoặc hóa cơ" nghĩa là các sợi thu được bằng các kỹ thuật sản xuất bột
giấy khác nhau, trong đó việc tách sợi đạt được chỉ bằng hoặc chủ yếu
bằng việc áp dụng lực cơ học lên vật liệu thô. Những sợi này nói chung
được sản xuất ở những dạng bột giấy sau đây:
(1) Bột giấy cơ học, bao gồm bột giấy gỗ mài (SGW) và bột giấy gỗ mài
áp lực (PGW), cũng như bột giấy được sản xuất trong máy nghiền,
ví dụ, bột giấy nghiền cơ học (RMP) và bột giấy nhiệt cơ (TMP).
(2) Bột giấy hóa- cơ, cũng được sản xuất trong máy nghiền nhưng đã
được xử lý bằng lượng nhỏ hóa chất. Chúng bao gồm cả bột giấy
hóa- nhiệt cơ (CTMP), bột giấy nghiền hóa cơ (CRMP) và bột giấy
nhiệt hóa -cơ (TCMP), nhưng không bao gồm bột giấy bán hoá nói
chung được biết dưới tên bột giấy bán hoá sulphit trung tính
(NSSC), bột giấy bán hóa bisulphite hoặc bột giấy bán hoá kraft.
Để mô tả chi tiết hơn các phương pháp sản xuất các bột này, xem các
Chú giải của các nhóm 47.01 và 47.05.
Thuật ngữ “bột gỗ” trong định nghĩa này không bao gồm sợi tre nứa.
Giấy in báo của nhóm này có thể là trải qua các quá trình được đề cập
trong Chú giải 3 của Chương này. Tuy vậy, giấy in báo được sản xuất
theo cách khác thì bị loại trừ.
48.02- Giấy và bìa không tráng, loại dùng để in, viết hoặc dùng cho
các mục đích đồ bản khác, và giấy làm thẻ và giấy băng chưa
đục lỗ, dạng cuộn hoặc tờ hình chữ nhật (kể cả hình vuông),
kích thước bất kỳ, trừ giấy thuộc nhóm 48.01 hoặc 48.03;
giấy và bìa sản xuất thủ công (+).
4802.10 - Giấy và bìa sản xuất thủ công
4802.20 - Giấy và bìa sử dụng làm nền cho sản xuất giấy và bìa
nhạy sáng, nhạy nhiệt hoặc nhạy điện
4802.40 - Giấy làm nền sản xuất giấy dán tường
- Giấy và bìa khác, không chứa bột giấy thu được từ quá
trình cơ học hoặc quá trình hoá cơ hoặc có hàm lượng
các bột giấy này không quá 10% so với tổng lượng bột
giấy tính theo khối lượng:
4802.54 - - Có định lượng dưới 40 g/m2
4802.55 - - Có định lượng từ 40 g/m2 trở lên nhưng không quá
150g/m2, dạng cuộn
4802.56 - - Có định lượng từ 40g/m2 trở lên nhưng không quá
150g/m2, dạng tờ với một chiều không quá 435 mm và
chiều kia không quá 297 mm ở dạng không gấp
4802.57 - - Loại khác, định lượng từ 40 g/m2 trở lên nhưng
không quá 150 g/m2
4802.58 - - Định lượng trên 150 g/m2:
- Giấy và bìa khác, có hàm lượng bột giấy thu được từ
quá trình cơ học hoặc cơ - hoá trên 10% so với tổng
bột giấy tính theo khối lượng:
4802.61 - - Dạng cuộn
4802.62 - - Dạng tờ với một chiều không quá 435 mm và chiều
kia không quá 297 mm ở dạng không gấp
4802.69 - - Loại khác
Giấy và bìa không tráng, loại dùng để viết, in hoặc các mục đích đồ bản
khác, và giấy làm thẻ và giấy băng chưa đục lỗ của nhóm này được định
nghĩa trong Chú giải 5 của Chương này. Giấy và bìa như vậy tuân theo
định nghĩa đó thường được phân loại trong nhóm này.
Giấy và bìa sản xuất thủ công ở mọi kích thước hoặc hình dạng như lúc
được trực tiếp làm ra và có tất cả các mép được xén thì thuộc nhóm này,
theo quy định trong Chú giải 7 của Chương.
Tuy nhiên, giấy và bìa sản xuất thủ công có bất kỳ cạnh nào được tỉa
hoặc cắt và giấy và bìa được làm bằng máy chỉ được phân loại trong
nhóm này nếu chúng ở dạng dải hoặc dạng cuộn hoặc dạng tờ hình chữ
nhật (kể cả hình vuông), với kích thước bất kỳ. Nếu chúng bị cắt thành
bất kỳ hình dạng nào khác, chúng thuộc các nhóm sau của Chương này
(ví dụ, nhóm 48.17, 48.21 hoặc 48.23).
Giấy và bìa của nhóm này có thể đã qua các quá trình được ghi trong
Chú giải 3 của Chương này, như đã tạo màu hoặc tạo vân đá toàn khối,
cán láng, tạo bóng siêu cán láng, in bóng nước giả hoặc gia keo bề mặt.
Giấy và bìa đã qua cách xử lý khác, bị loại trừ (nói chung, thuộc các
nhóm từ 48.06 đến 48.11).
Ngoài các giấy và bìa sản xuất thủ công và theo Chú giải 5 của Chương
này, nhóm này bao gồm:
(A) Giấy và bìa làm nền, chẳng hạn:
(1) Giấy và bìa loại dùng như nền cho giấy hoặc bìa nhạy sáng, nhạy
nhiệt hoặc nhạy điện;
(2) Giấy làm nền sản xuất giấy carbon (giấy mỏng, khó xé có trọng
lượng từ 9 đến 70 g/m2 tùy theo mục đích sử dụng) để chuyển
thành giấy carbon sử dụng một lần hoặc các giấy carbon khác;
(3) Giấy làm nền để sản xuất giấy dán tường.
(4) Giấy và bìa làm nền để chuyển thành giấy và bìa tráng cao lanh
của nhóm 48.10.
(B) Giấy và bìa khác, loại dùng để viết, in ấn hoặc các mục đích đồ bản
khác, chẳng hạn:
(1) Giấy in tạp chí và giấy in sách (kể cả giấy in khổ lớn và mỏng);
(2) Giấy để in offset;
(3) Giấy Bristol để in, giấy Bristol để chia thư mục, giấy làm bưu
thiếp, giấy làm thẻ, giấy để bọc phủ;
(4) Giấy cho áp-phích, giấy để vẽ, giấy làm vở hoặc sổ tay, giấy viết
thư và giấy học trò;
(5) Giấy “bond”, giấy sao chụp, giấy cho máy in rô-nê-ô, giấy cho
đánh máy chữ, giấy pơ-luya, giấy sao chép và các giấy khác cho
cá nhân hoặc văn phòng, kể cả giấy sử dụng cho máy in hoặc
máy photocopy;
(6) Giấy cho sổ kế toán, giấy cuộn cho máy cộng;
(7) Giấy làm phong bì và hồ sơ;
(8) Giấy ghi, giấy in mẫu sẵn (form bond paper) và giấy văn phòng
phẩm liên tục;
(9) Giấy bảo mật như giấy làm tờ séc, tem, tiền hoặc giấy tương tự.
(C) Giấy làm thẻ và băng giấy để đục lỗ những chưa đục lỗ.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Giấy in báo (nhóm 48.01).
(b) Giấy của nhóm 48.03.
(c) Giấy và bìa lọc (kể cả giấy làm túi chè) và giấy và bìa nỉ (nhóm
(d) Giấy cuốn thuốc lá (nhóm 48.13).
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Phân nhóm 4802.20
Theo Chú giải 5 của Chương này, giấy và bìa loại sử dụng làm nền cho
giấy hoặc bìa nhạy sáng nói chung là giấy hoặc bìa làm bằng bột từ giẻ
rách, hoặc giấy hoặc bìa cao cấp chứa bột từ giẻ rách, hoàn toàn không
có chất không liên quan (đặc biệt là kim loại như sắt hoặc đồng).
48.03- Giấy để làm giấy vệ sinh hoặc lau mặt, khăn giấy, khăn ăn và
các loại giấy tương tự dùng trong gia đình hoặc vệ sinh, tấm
xenlulo và màng xơ sợi xenlulo, đã hoặc chưa làm chun, làm
nhăn, rập nổi, đục lỗ, nhuộm màu bề mặt, trang trí hoặc in
bề mặt, ở dạng cuộn hoặc tờ.
Nhóm này bao gồm hai loại sản phẩm:
(1) Giấy để làm giấy vệ sinh hoặc lau mặt, khăn giấy hoặc khăn ăn và
các loại giấy tương tự dùng trong gia đình hoặc vệ sinh. Tuy vậy,
giấy như vậy ở dạng cuộn có chiều rộng không vượt quá 36cm hoặc
đã được cắt theo kích thước hoặc hình dạng bất kỳ trừ những loại
nhắc đến trong Chú giải 8 của Chương này, và các sản phẩm gia
đình hoặc vệ sinh khác được làm từ loại giấy này được xếp vào
nhóm 48.18.
(2) Tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo. Tuy vậy, các sản phẩm như
vậy ở dạng cuộn có chiều rộng không vượt quá 36cm hoặc đã được
cắt theo kích thước hoặc hình dáng bất kỳ trừ loại nhắc đến trong
Chú giải 8 của Chương này và các sản phẩm khác của tấm xenlulo
hoặc màng xơ sợi xenlulo thuộc nhóm 48.18, 48.19 hoặc 48.23.
Tấm xenlulo được tạo thành bởi màng xơ sợi xenlulo đã được tạo
chun tạo hình mở, có tỷ lệ tạo chun hơn 35% gồm một hoặc nhiều
lớp, với mỗi lớp có định lượng (định lượng cơ bản) có thể đạt
20g/m2 trước khi tạo chun.
Màng xơ sợi xenlulo (tissues) gồm một màng xơ sợi xenlulo đã
được tạo chun tạo hình kín, với tỷ lệ tạo chun tối đa 35%, gồm một
hoặc nhiều lớp, với mỗi lớp có định lượng (định lượng cơ bản) có
thể đạt 20g/m2 trước khi tạo chun.
Cần lưu ý rằng ngoài các quy trình được nêu tại Chú giải 3 của
Chương này, các sản phẩm của nhóm này có thể được tạo chun, làm
nhăn, rập nổi, được đục lỗ, được tạo màu trên bề mặt, được trang trí
hoặc in bề mặt.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Tấm xenlulo đã được thấm tẩm hoặc tráng bằng dược chất hoặc đóng
gói để bán lẻ dùng trong các mục đích y tế, phẫu thuật, nha khoa
hoặc thú y (nhóm 30.05).
(b) Giấy và tấm xenlulo đã được thấm tẩm, tráng hoặc phủ bằng xà
phòng hoặc chất tẩy rửa (nhóm 34.01), hoặc với xi, kem, hoặc chế
phẩm tương tự (nhóm 34.05).
(c) Giấy thấm (nhóm 48.05).
48.04- Giấy và bìa kraft không tráng, ở dạng cuộn hoặc tờ, trừ loại
thuộc nhóm 48.02 hoặc 48.03.
- Kraft lớp mặt:
4804.11 - - Chưa tẩy trắng
4804.19 - - Loại khác
- Giấy kraft làm bao:
4804.21 - - Chưa tẩy trắng
4804.29 - - Loại khác
- Giấy và bìa kraft khác có định lượng từ 150g/m2 trở
xuống:
48.04.31- - Chưa tẩy trắng
4804.39 - - Loại khác
- Giấy và bìa kraft khác có định lượng trên 150g/m2
nhưng dưới 225g/m2:
4804.41 - - Chưa tẩy trắng
4804.42 - - Loại đã được tẩy trắng toàn bộ và có hàm lượng bột
gỗ thu được từ quá trình hoá học trên 95% so với tổng
lượng bột giấy tính theo trọng lượng
4804.49 - - Loại khác
- Giấy và bìa kraft khác có định lượng từ 225g/m2 trở
lên:
4804.51 - - Chưa tẩy trắng
4804.52 - - Loại đã được tẩy trắng toàn bộ và có hàm lượng bột
gỗ thu được từ quá trình hoá học trên 95% so với tổng
lượng bột giấy tính theo trọng lượng
4804.59 - - Loại khác
Thuật ngữ "Giấy và bìa kraft" được định nghĩa trong Chú giải 6 của
Chương này. Các loại giấy và bìa kraft quan trọng nhất là kraft lớp mặt,
giấy kraft làm bao và các giấy kraft khác cho mục đích bao gói và bao
bì.
“Krafl lớp mặt” và “giấy kraft làm bao” được định nghĩa trong các Chú
giải phân nhóm 1 và 2 thuộc Chương này. Thuật ngữ "bột gỗ" trong định
nghĩa của kraft lớp mặt không bao gồm xơ sợi tre.
Giấy và bìa kraft chỉ được phân loại trong nhóm này nếu chúng ở dạng
dải hoặc dạng cuộn có chiều rộng trên 36cm hoặc dạng tờ hình chữ nhật
(kể cả hình vuông) có một chiều trên 36cm và chiều kia trên 15cm ở
trạng thái không gấp (xem Chú giải 8 của Chương này). Nếu chúng bị
cắt theo bất kỳ kích thước hoặc hình dạng nào khác, nói chung chúng
thuộc nhóm 48.23.
Giấy và bìa thuộc nhóm này có thể đã qua các quá trình xử lý quy định
trong Chú giải 3 của Chương này, như tạo màu hoặc làm vân toàn khối,
cán láng, siêu cán láng, làm bóng hoặc gia keo bề mặt. Giấy và bìa đã
được xử lý theo cách khác thì bị loại trừ (nói chung thuộc nhóm 48.07,
48.08, 48.10 hoặc 48.11).
48.05- Giấy và bìa không tráng khác, ở dạng cuộn hoặc tờ, chưa
được gia công hoặc xử lý hơn mức đã chi tiết trong Chú giải 3
của Chương này. (+).
- Giấy để tạo lớp sóng:
4805.11 - - Từ bột giấy bán hoá
4805.12 - - Từ bột giấy rơm rạ
4805.19 - - Loại khác
- Bìa lớp mặt (chủ yếu hoặc toàn bộ từ bột giấy tái chế):
4805.24 - - Có định lượng từ 150 g/m2 trở xuống
4805.25 - - Định lượng trên 150 g/m2
4805.30 - Giấy bao gói làm từ bột giấy sulphit
4805.40 - Giấy lọc và bìa lọc
4805.50 - Giấy nỉ và bìa nỉ
- Loại khác:
4805.91 - - Có định lượng từ 150 g/m2 trở xuống
4805.92 - - Có định lượng trên 150 g/m2 nhưng dưới 225 g/m2
4805.93 - Có định lượng từ 225 g/m2 trở lên
Nhóm này bao gồm giấy và bìa không tráng sản xuất bằng máy dưới
dạng cuộn hoặc tờ (liên quan đến kích thước, xem Chú giải 8 của
Chương này), trừ loại được chi tiết tại các nhóm từ 48.01 tới 48.04.
Tuy nhiên, nhóm này loại trừ một số giấy và bìa đặc biệt hoặc các sản
phẩm đặc biệt (các nhóm 48.06 đến 48.08 và các nhóm 48.12 đến
48.16) và giấy và bìa đã qua xử lý trừ loại được phép ở Chú giải 3, ví dụ,
các loại giấy và bìa đã được tráng hoặc thấm tẩm (các nhóm từ 48.09
đến 48.11).
Các ví dụ về giấy và bìa thuộc nhóm này là:
(1) Giấy để tạo lớp sóng từ bột giấy bán hóa như đã định nghĩa trong
Chú giải phân nhóm 3 của Chương này.
(2) Giấy và bìa nhiều lớp là các sản phẩm thu được bằng cách ép hai
hoặc nhiều lớp từ bột giấy ẩm trong đó ít nhất một lớp có các đặc
tính khác các lớp kia. Sự khác nhau này có thể xuất phát từ bản chất
của bột giấy được sử dụng (ví dụ, bột giấy tái chế), phương pháp sản
xuất (ví dụ, cơ học hoặc hóa học) hoặc, nếu bột giấy có cùng bản
chất và được sản xuất cùng phương pháp, thì từ mức độ xử lý (ví dụ,
chưa được tẩy trắng, đã tẩy trắng hoặc tạo màu).
(3) Giấy bao gói làm từ bột giấy sulphite như đã định nghĩa trong Chú
giải chi tiết phân nhóm 6 của Chương này. Thuật ngữ "bột gỗ" trong
định nghĩa này không bao gồm sợi tre.
(4) Giấy lọc và bìa lọc (kể cả giấy cho túi chè).
(5) Giấy nỉ và bìa nỉ.
(6) Giấy thấm.
Nhóm này cũng loại trừ ván sợi (nhóm 44.11).
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Phân nhóm 4805.19
Phân nhóm 4805.19 bao gồm “giấy để tạo lớp sóng Wellenstoff (vật liệu
tái chế)”, là giấy ở dạng cuộn được sản xuất chủ yếu từ bột giấy của giấy
và bìa tái sinh (phế liệu và mảnh vụn), với các phụ gia (ví dụ, tinh bột),
có định lượng ít nhất 100g/m2, và có độ bền nén CMT 30 (phép thử độ
bền nến phẳng sau khi đã làm sóng trong phòng thí nghiệm với thời gian
để điều hòa mẫu 30 phút) vượt quá 1,6 niutơn/g/m2 ở 230C, độ ẩm tương
đối 50%.
Phân nhóm 4805. 40
Các giấy lọc và bìa lọc là các sản phẩm có nhiều lỗ nhỏ li ti, không có
bột gỗ thu được từ quá trình cơ học hoặc bán hóa học, không được gia
keo và được thiết kế nhằm loại bỏ các hạt rắn khỏi chất lỏng hoặc khí.
Chúng thu được từ giẻ rách hoặc bột giấy hóa học hoặc hỗn hợp từ
chúng và có thể cũng chứa các sợi tổng hợp hoặc các sợi thủy tinh. Kích
thước lỗ được định theo kích thước các hạt phải loại bỏ. Các sản phẩm
này gồm giấy và bìa lọc để sản xuất túi chè, lọc cà phê, tấm lọc cho xe
có động cơ, cũng như giấy và bìa lọc dùng trong phân tích mà cần không
có tính chất axit hay tính chất kiềm và có hàm lượng tro rất thấp.
Phân nhóm 4805.50
Giấy và bìa nỉ là các sản phẩm làm từ khối sợi có độ thẩm thấu khác
nhau. Để sản xuất chúng, người ta dùng các phế liệu và mảnh vụn của
giấy hoặc bìa, từ bột giấy gỗ hoặc các phế thải vật liệu dệt ở dạng sợi.
Giấy và bìa nỉ thường có màu xám xanh đục với các bề mặt sợi xù xì và
có lẫn tạp chất. Chúng được dùng, không kể những cái khác, để sản xuất
bìa lợp mái và như những lớp giữa của các thùng và các sản phẩm da
thuộc trang trí.
48.06- Giấy giả da (parchment) gốc thực vật, giấy không thấm dầu
mỡ, giấy can, giấy bóng mờ và giấy bóng trong hoặc các loại
giấy trong khác, dạng cuộn hoặc tờ.
4806.10 - Giấy giả da gốc thực vật
4806.20 - Giấy không thấm dầu mỡ
4806.30 - Giấy can
4806.40 - Giấy bóng mờ và giấy bóng trong hoặc các loại giấy
trong khác
Giấy giả da gốc thực vật được tạo ra bằng cách nhấn chìm giấy chất
lượng tốt không gia keo và không có phụ gia trong axit sulphuric trong
vòng vài giây. Axit làm biến đổi một phần xenlulo thành dạng amyloid
có đặc tính gelatin và không thấm nước. Khi giấy đã xử lý trên được
hoàn toàn rửa sạch và làm khô thì giấy này bền hơn rất nhiều so với giấy
ban đầu, trong mờ và không thấm dầu, mỡ và, trong một mức độ lớn,
không thấm nước và khí. Giấy giả da gốc thực vật có đặc tính nặng hơn
và cứng hơn, và sản phẩm thu được bằng cách ép hai hoặc nhiều tấm
giấy giả da gốc thực vật với nhau trong khi ở trạng thái còn ướt, được
gọi là bìa giả da gốc thực vật.
Những loại giấy tương tự có thể được làm theo cùng phương pháp như
trên chỉ khác là ôxit titan được bổ sung vào bột giấy. Do đó, giấy thu đư-
ợc, dù vẫn còn là giấy giả da, nhưng lúc này chúng mờ đục.
Giấy giả da gốc thực vật được dùng như đồ gói bọc bảo vệ cho các chất
béo (ví dụ, bơ, mỡ lợn) và các thực phẩm dự trữ khác, để gói bọc thuốc
nổ, như màng sử dụng trong quá trình thẩm thấu và thẩm tách, như giấy
làm bằng tốt nghiệp,..., như giấy can và giấy bản đồ cho một số mục đích
nhất định, để làm thiếp chúc mừng... Bìa giả da gốc thực vật được dùng
như loại thay thế cho da để đóng sách, để sản xuất chụp đèn, mặt hàng
du lịch...
Giấy đã làm giả da chỉ ở một mặt (được sử dụng để sản xuất một số loại
giấy dán tường) cũng thuộc nhóm này.
Giấy không thấm dầu mỡ (thường được gọi tên ở một số nước là “giấy
da giả”) được làm trực tiếp từ bột giấy (thường là bột giấy sulphite) bằng
cách làm nhỏ các xơ sợi đến trạng thái mịn và thủy phân chúng bằng
cách khuấy lâu trong nước. Giấy này trong mờ và ở một mức độ lớn,
không thấm dầu và mỡ. Nhìn chung nó được sử dụng với cùng các mục
đích như giấy giả da gốc thực vật nhưng, vì rẻ hơn, nó đặc biệt thích hợp
để bao gói các sản phẩm thực phẩm có chất béo. Nó rất hiếm khi được
làm bóng và có bề ngoài giống như giấy giả da gốc thực vật nhưng có
thể phân biệt do khả năng chịu nước kém hơn.
Giấy giả da gốc thực vật và giấy không thấm dầu mỡ đôi khi được làm
cho mềm hơn và mờ hơn bằng cách sử dụng glycerol, glucose... trong
quá trình hoàn thiện bề mặt. Cách xử lý này không ảnh hưởng đến việc
phân loại chúng.
Giấy không thấm dầu mỡ có thể được phân biệt với giấy giả da gốc thực
vật bằng cách kiểm tra độ chịu nước. Khi ngâm vài phút thì giấy giả da
gốc thực vật khó xé rách và chỗ rách không có nham nhở, trong khi giấy
không thấm mỡ được xử lý cùng cách như vậy thì dễ xé rách và chỗ rách
tua tủa với những sợi bị xé.
Một loại giấy tương tự (giấy kiểu không thấm dầu mỡ) cũng không
thấm dầu mỡ nhưng ở mức độ kém hơn đáng kể thu được do thời gian
khuấy bột không dài như vậy và các sợi không thủy phân hoàn toàn. Để
tăng cường độ trong và độ sáng hơn của giấy này, có thể bổ sung sáp
paraffin hoặc stearin vào bột giấy.
Một dạng của giấy can, tương tự như giấy không thấm dầu mỡ, chế tạo
bằng cách khuấy bột giấy trong thời gian dài nhằm tạo độ trong suốt cao.
Nhóm này cũng bao gồm các loại giấy can khác.
Glassine, một giấy bóng trong, được chế tạo theo cùng cách thức như
giấy không thấm dầu mỡ nhưng ở giai đoạn cuối cùng của quá trình sản
xuất nó đạt tới độ trong suốt đặc trưng và tỷ trọng cao bởi các thao tác
làm ẩm và làm bóng lặp đi lặp lại dưới áp lực giữa các lô được gia nhiệt
trong một máy cán láng cao cấp. Các giấy bóng trong tương tự ngày nay
được chế tạo bởi cùng quy trình nhưng thêm plastic hoặc các chất liệu
khác vào bột giấy.
Giấy bóng trong hoặc giấy trong mờ chủ yếu không màu, nhưng một số
loại có màu (giấy bóng mờ) cũng được sản xuất bằng cách thêm các chất
liệu tạo màu ở giai đoạn bột giấy. Giấy này nói chung có độ chống thấm
kém hơn so với giấy giả da gốc thực vật hoặc giấy không thấm dầu mỡ
nhưng vẫn được sử dụng như đồ bao gói bảo vệ cho thực phẩm dự trữ,
đồ ngọt,..., để sản xuất ô trong suốt trên phong bì và, khi được cắt thành
vỏ bào, như vật liệu đóng gói tốt, ví dụ, cho sôcôla.
Về kích thước sản phẩm ở nhóm này, xem Chú giải 8 của Chương này.
Nhóm này không bao gồm các loại giấy được làm cho không thấm nước
hoặc không thấm dầu mỡ bằng cách tráng phủ, thấm tẩm hoặc các qui
trình tương tự sau khi đã sản xuất giấy (nhóm 48.09 hoặc 48.11).
48.07- Giấy và bìa bồi (được làm bằng cách dán các lớp giấy phẳng
hoặc bìa phẳng với nhau bằng keo dính), chưa tráng hoặc
chưa thấm tẩm bề mặt, đã hoặc chưa được gia cố bên trong,
ở dạng cuộn hoặc tờ.
Nhóm này bao gồm giấy và bìa được làm bằng cách dán hai hoặc nhiều
lớp giấy hoặc bìa với nhau nhờ chất kết dính. Các sản phẩm này có thể
làm từ giấy hoặc bìa thuộc mọi chất lượng và chất kết dính được dùng có
thể có nguồn gốc động vật, thực vật hoặc khoáng vật (ví dụ, dextrin, keo,
hắc ín, chất gôm, asphalt, latex).
Các sản phẩm của nhóm này được phân biệt với các sản phẩm của các
nhóm trước (được làm bằng cách gắn các lớp bằng cách ép mà không
cần chất kết dính) bởi thực tế là sau khi ngâm vào nước hoặc vào một
dung môi phù hợp khác, chúng tự tách ra một cách dễ dàng thành các lớp
riêng lẻ và có vết tích của chất kết dính. Các lớp của giấy và bìa bồi này
cũng tách ra khi đốt cháy.
Giấy và bìa bồi trong đó chất liệu dính đóng vai trò như vật liệu không
thấm nước (ví dụ, giấy kraft đôi tẩm hắc ín) cũng thuộc nhóm này, cũng
như giấy và bìa được gia cố bên trong bằng bitum, bằng hắc ín, asphalt,
vật liệu dệt hoặc bằng chất liệu khác (ví dụ, lưới kim loại hoặc vải dệt,
plastic v.v), với điều kiện là chúng giữ nguyên các đặc tính cơ bản của
giấy và bìa. Các sản phẩm này chủ yếu dùng cho bao gói chống thấm
nước.
Giấy và bìa bồi chất lượng tốt hơn, trong đó đặc tính lớp không thể hiện
rõ ràng thì được dùng để in hoặc văn phòng phẩm. Một số loại khác
được dùng làm hộp hoặc làm đóng sách.
Về những gì liên quan đến kích thước của các sản phẩm thuộc nhóm
này, xem Chú giải 8 của Chương này.
Ván sợi bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm 44.11).
48.08- Giấy và bìa, đã tạo sóng (có hoặc không dán các lớp mặt
phẳng), đã làm chun, làm nhăn, rập nổi hoặc đục lỗ, ở dạng
cuộn hoặc tờ, trừ các loại thuộc nhóm 48.03.
4808.10 - Giấy và bìa sóng, đã hoặc chưa đục lỗ
4808.40 - Giấy kraft, đã làm chun hoặc làm nhăn, có hoặc không
rập nổi hoặc đục lỗ
4808.90 - Loại khác
Nhóm này gồm các loại giấy và bìa ở dạng cuộn hoặc tờ có đặc tính
chung là trải qua gia công trong hoặc sau khi sản xuất theo cách làm cho
bề mặt của chúng không còn bằng phẳng hoặc không còn đồng nhất. Về
những gì liên quan đến kích thước của sản phẩm thuộc nhóm này, xem
Chú giải 8 của Chương này. Nhóm này bao gồm:
(1) Giấy và bìa đã tạo sóng.
Giấy và bìa đã tạo sóng là kết quả từ việc xử lý vật liệu đi qua các lô
có rãnh có sử dụng nhiệt và hơi nước. Các sản phẩm này có thể bao
gồm một lớp sóng đơn, hoặc có thể kết hợp với các tờ phẳng mặt
trên một mặt (phủ một mặt) hoặc trên cả hai mặt (phủ hai mặt). Bìa
cứng hơn có thể được làm từ các lớp kế tiếp nhau bằng giấy hoặc
bìa sóng xen kẽ với các lớp giấy phẳng mặt.
Giấy và bìa đã tạo sóng phục vụ chủ yếu để sản xuất các đồ chứa
đựng được tạo sóng. Chúng cũng được dùng như vật liệu bao gói
bảo vệ.
(2) Giấy đã làm chun hoặc làm nhăn.
Chúng được làm hoặc bằng cách xử lý cơ học những màng giấy ở
trạng thái ẩm, hoặc bằng cách chuyển giấy đã chế tạo qua các lô có
các bề mặt nhăn. Diện tích bề mặt ban đầu của giấy bị giảm đáng kể
trong quá trình xử lý trên và thành phẩm có bề ngoài nhăn và có độ
co giãn cao.
Tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo, mà thường có bề ngoài nhăn,
không được xem như giấy đã làm chun hoặc làm nhăn và thuộc
nhóm 48.03, 48.18 hoặc 48.23. Cũng bị loại trừ là giấy có thể kéo
dài ra được sản xuất bằng quy trình clupak, quy trình này kết màng
giấy lại, bằng cách đó uốn cong và làm dồn lại xơ sợi trong quá
trình sản xuất. Giấy này, dù được chế tạo bằng cách xử lý cơ học
màng giấy trên ở trạng thái ẩm và mang đặc tính co dãn, nhưng nhìn
chung không có hình dạng nếp nhăn thông thường của giấy đã làm
chun hoặc làm nhăn (thường thuộc nhóm 48.04 hoặc 48.05).
Giấy đã làm chun hoặc làm nhăn thường được tạo màu và được
dùng ở dạng đơn lớp hay đa lớp để chế tạo một số lớn các sản phẩm
(ví dụ, túi đựng xi măng hoặc bao gói khác, băng giấy trang trí). Tuy
nhiên, giấy như vậy loại sử dụng cho gia đình hoặc mục đích vệ sinh
thì bị loại trừ (nhóm 48.03). Cũng loại trừ ở đây là các sản phẩm
thuộc loại được chi tiết trong nhóm 48.18.
(3) Giấy và bìa được rập nổi
Giấy và bìa rập nổi là loại có bề mặt không bằng phẳng nhìn thấy rõ
ràng thu được, thường sau khi giấy được chế tạo, bằng cách chuyển
giấy, ở trạng thái ướt hoặc khô, đi qua giữa các lô đã được rập nổi
hoặc khắc hay được chạm các mẫu hình trên bề mặt, hoặc bằng cách
ép nó với các tấm kim loại đã khắc hay rập nổi. Các sản phẩm này
thay đổi một cách đáng kể về chất lượng và bề ngoài và bao gồm
giấy thường được gọi là giấy xếp nếp, giấy có mẫu hình rập nổi bắt
chước các vân thớ da thuộc khác nhau, giấy hoàn thiện bằng sợi
lanh (kể cả loại được sản xuất bằng các lô phủ vải). Chúng được sử
dụng để sản xuất một số loại giấy viết, giấy dán tường, giấy dùng
làm lớp lót và bọc hộp, đóng sách…
(4) Giấy và bìa đục lỗ.
Chúng được tạo ra bằng cách đục lỗ một cách cơ học bằng khuôn
rập lên giấy hoặc bìa ở trạng thái khô. Việc đục lỗ có thể ở dạng
mẫu hình hoặc có thể đơn giản là theo khoảng cách đều.
Nhóm này bao gồm giấy được đục lỗ thành hàng để tạo thuận lợi
cho việc xé theo kích thước.
Giấy đã đục lỗ được sử dụng để chuyển thành giấy trang trí (ví dụ,
giấy bày trí trên kệ hàng và giấy viền), hoặc cho mục đích bao gói...
Ngoài các mặt hàng thuộc các nhóm 48.03 và 48.18, nhóm này cũng
loại trừ:
(a) Giấy với các vân thớ nổi lên một cách tự nhiên, ví dụ, giấy vẽ (nhóm
48.02 hoặc 48.05)
(b) Thẻ bằng giấy và bìa đã đục lỗ cho máy Jacquard hoặc các máy tư-
ơng tự, và ren giấy (nhóm 48.23).
(c) Thẻ (card), đĩa và cuộn giấy và bìa đã đục lỗ dùng trong âm nhạc
(nhóm 92.09)
48.09- Giấy than, giấy tự nhân bản và các loại giấy sao chép hoặc
giấy chuyển khác (kể cả giấy đã tráng hoặc thấm tẩm dùng
cho giấy nến nhân bản hoặc các tấm in offset), đã hoặc chưa
in, dạng cuộn hoặc tờ.
4809.20 - Giấy tự nhân bản
4809.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm giấy được tráng, thấm tẩm hoặc thu được bằng cách
khác, ở dạng cuộn hoặc tờ. Về các kích thước của sản phẩm của nhóm
này, xem Chú giải 8 của Chương này. Các loại giấy này khi không đáp
ứng các điều kiện này, thì được phân loại vào nhóm 48.16; về mô tả chi
tiết của các loại giấy này xem Chú giải chi tiết của nhóm 48.16.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Lá phôi dập (nhóm 32.12)
(b) Giấy phủ lớp chất nhạy (thường thuộc nhóm 37.03).
48.10- Giấy và bìa, đã tráng một hoặc cả hai mặt bằng cao lanh 48.10- Paper and paperboard, coated on one or both sides with
(China clay) hoặc bằng các chất vô cơ khác, có hoặc không có
chất kết dính, và không có lớp phủ tráng nào khác, có hoặc
không nhuộm màu bề mặt, có hoặc không trang trí hoặc in bề
mặt, ở dạng cuộn hoặc tờ hình chữ nhật (kể cả hình vuông),
với mọi kích cỡ. (+).
- Giấy và bìa loại dùng để viết, in hoặc các mục đích đồ
bản khác, không chứa bột giấy thu được từ quá trình
cơ học hoặc quá trình hoá cơ hoặc có hàm lượng các
bột giấy này không quá 10% so với tổng lượng bột
giấy tính theo trọng lượng:
4810.13 - - Dạng cuộn
4810.14 - - Dạng tờ với một chiều không quá 435 mm và chiều
kia không quá 297 mm ở dạng không gấp:
4810.19 - - Loại khác
- Giấy và bìa loại dùng để viết, in hoặc các mục đích đồ
bản khác, có hàm lượng bột giấy thu được từ quá trình
cơ học hoặc quá trình hoá cơ trên 10% so với tổng
lượng bột giấy tính theo trọng lượng:
4810.22 - - Giấy tráng nhẹ
4810.29 - - Loại khác
- Giấy kraft và bìa kraft, trừ loại dùng để viết, in hoặc
dùng cho các mục đích đồ bản khác:
4810.31 - - Loại đã được tẩy trắng toàn bộ và có hàm lượng bột
gỗ thu được từ quá trình hoá học trên 95% so với tổng
lượng bột giấy tính theo khối lượng, và có định lượng
từ 150g/m2 trở xuống:
4810.32 - - Loại đã được tẩy trắng toàn bộ và có hàm lượng bột
gỗ thu được từ quá trình hoá học trên 95% so với tổng
lượng bột giấy tính theo khối lượng, và có định lượng
trên 150 g/m2:
4810.39 - - Loại khác
- Giấy và bìa khác:
4810.92 - - Loại nhiều lớp
4810.99 - - Loại khác
Các chất vô cơ, trừ cao lanh (đất sét Trung Quốc), được dùng thông
dụng để tráng bao gồm bari sulphate, magiê silicate, canxi carbonate,
canxi sulphate, oxit kẽm và bột kim loại (xem các Chú giải tổng quát của
Chương này: giấy và bìa được tráng). Các vật liệu tráng vô cơ được nêu
trong nhóm này có thể chứa một lượng nhỏ các chất hữu cơ, ví dụ, để
tăng cường đặc tính bề mặt của giấy.
Nhóm này bao gồm giấy và bìa thuộc loại dùng để viết, để in hoặc các
mục đích đồ bản khác, kể cả giấy như vậy loại dùng cho máy in hoặc các
thiết bị sao chụp (giấy tráng có định lượng nhẹ của loại này được định
nghĩa trong Chú giải phân nhóm 7; thuật ngữ “bột gỗ” trong định nghĩa
này không bao gồm sợi tre), giấy và bìa kraft và giấy và bìa nhiều lớp
(được mô tả trong Chú giải chi tiết nhóm 48.05), với điều kiện là chúng
được tráng với cao lanh hoặc các chất vô cơ khác.
Giấy và bìa chỉ được phân loại trong nhóm này nếu chúng ở dạng dải
hoặc dạng cuộn hoặc dạng tờ hình chữ nhật (kể cả hình vuông), với bất
kỳ kích thước nào. Nếu chúng bị cắt thành bất kỳ hình dạng nào khác,
chúng thuộc các nhóm sau của Chương này (ví dụ, 48.17, 48.21 hoặc
Nhóm này không bao gồm:
(a) Giấy thơm hoặc giấy thấm tẩm hoặc tráng mỹ phẩm (Chương 33).
(b) Giấy và bìa phủ lớp chất nhạy thuộc các nhóm từ 37.01 đến 37.04.
(c) Những dải giấy đã thấm tẩm các chất thử chẩn đoán hoặc chất thử thí
nghiệm (nhóm 38.22).
(d) Giấy sao chép của nhóm 48.09 hoặc 48.16.
(e) Giấy dán tường và các loại tấm phủ tường tương tự và tấm che cửa sổ
trong suốt (nhóm 48.14).
(f) Danh thiếp và giấy hoặc bìa văn phòng khác thuộc nhóm 48.17.
(g) Giấy hoặc bìa ráp (nhóm 68.05) và mica (trừ bột mica) trên nền giấy
hoặc bìa (nhóm 68.14).
(h) Lá kim loại bồi trên giấy hoặc bìa (thường thuộc phần XIV hoặc
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Các phân nhóm 4810.13, 4810.14, 4810.19, 4810.22 và 4810.29
Giấy và bìa được chi tiết trong các phân nhóm này là những loại mà, ở
trạng thái không tráng, được phân loại vào nhóm 48.02.
Phân nhóm 4810.92
Giấy và bìa nhiều lớp được mô tả trong Chú giải chi tiết nhóm 48.05.
48.11- Giấy, bìa, tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo, đã tráng, thấm
tẩm, phủ, nhuộm màu bề mặt, trang trí hoặc in bề mặt, ở
dạng cuộn hoặc tờ hình chữ nhật (kể cả hình vuông), với kích
thước bất kỳ, trừ các loại thuộc các nhóm 48.03, 48.09 hoặc
4811.10 - Giấy và bìa đã quét hắc ín, chất bi-tum hoặc nhựa
đường
- Giấy và bìa dính hoặc đã quét chất kết dính:
4811.41 - - Loại tự dính
4811.49 - - Loại khác
- Giấy và bìa đã tráng, thấm tẩm hoặc phủ bằng plastic
(trừ chất kết dính):
4811.51 - - Loại đã tẩy trắng, định lượng trên 150g/m2
4811.59 - - Loại khác
4811.60 - Giấy và bìa, đã tráng, thấm, tẩm hoặc phủ bằng sáp,
sáp parafin, stearin, dầu hoặc glyxerin
4811.90 - Giấy, bìa, tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo khác
Giấy và bìa chỉ được phân loại trong nhóm này nếu chúng ở dạng dải
hoặc dạng cuộn hoặc dạng tờ hình chữ nhật (kể cả hình vuông) với bất
kỳ kích thước nào. Nếu chúng bị cắt thành bất kỳ hình dạng nào khác,
chúng sẽ thuộc những nhóm sau của Chương này (ví dụ, nhóm 48.23).
Tùy theo các điều kiện này và những trường hợp ngoại lệ đã được đề
cập trong nhóm này và những điều được đề cập ở phần cuối của Chú giải
chi tiết này, nhóm này áp dụng đối với các sản phẩm sau đây ở dạng
cuộn hay tờ:
(A) Giấy, bìa, tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo, mà một hoặc hai mặt
được tráng hoàn toàn hoặc từng phần bằng vật liệu tráng bề mặt
khác cao lanh hoặc các chất vô cơ khác (ví dụ, giấy nhạy nhiệt được
dùng, ví dụ, trong các máy telefax).
(B) Giấy, bìa, tấm xenlulo và màng xơ sợi xelulo đã được thấm tẩm
(xem Chú giải tổng quát của Chương này: giấy và bìa đã thấm tẩm).
(C) Giấy, bìa, tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo, đã tráng hoặc phủ,
với điều kiện là trong trường hợp giấy hoặc bìa đã tráng hoặc phủ
plastic, độ dày của lớp plastic không vượt quá một nửa tổng độ dày
(xem chú giải 2 (g) của Chương này).
Giấy và bìa dùng để sản xuất bao bì cho đồ uống và thực phẩm
khác, đã được in chữ và hình ảnh có liên quan tới mặt hàng được
bao gói trong đó, được phủ cả hai mặt với những tờ plastic mỏng
trong suốt, có hay không có lớp lót bằng lá kim loại (trên mặt sẽ
hình thành mặt trong của bao bì) thì cũng được phân loại vào nhóm
này. Những sản phẩm này có thể được gấp nếp và được đánh dấu để
nhận ra những đồ chứa đựng riêng lẻ để được cắt ra từ cuộn.
(D) Giấy, bìa, tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo, đã tạo màu trên bề
mặt bằng một hoặc nhiều màu khác nhau, kể cả giấy đã in mẫu hình
và tạo vân bề mặt, và các sản phẩm đó đã được in môtip, các ký tự
hoặc biểu tượng tranh ảnh chỉ đơn thuần là bổ trợ so với mục đích
sử dụng chính của chúng và không tạo ra vật liệu đã in của Chương
49 (xem Chú giải 12 và Chú giải tổng quát của Chương này: giấy và
bìa đã in hoặc tạo màu).
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Tấm cellulose đã thấm tẩm hoặc tráng dược chất..., thuộc nhóm
(b) Giấy thơm và giấy thấm tẩm hoặc tráng mỹ phẩm (Chương 33).
(c) Giấy và tấm xenlulo đã thấm tẩm, tráng hoặc phủ với xà phòng hoặc
chất tẩy rửa (nhóm 34.01) hoặc với xi, kem, hoặc với các chế phẩm
tương tự (nhóm 34.05).
(d) Giấy và bìa đã phủ lớp chất nhạy thuộc nhóm 37.01 đến 37.04.
(e) Giấy quỳ và các giấy tìm cực và các giấy khác đã thấm tẩm với chất
thử chẩn đoán hoặc chất thử thí nghiệm (nhóm 38.22).
(f) Các sản phẩm tạo thành bởi một lớp giấy hoặc bìa được tráng hoặc
được phủ bằng một lớp plastic, mà độ dày của plastic hơn 1/2 tổng
độ dày (Chương 39).
(g) Giấy được tạo hình bóng nước đơn thuần với các đường kẻ,... thậm
chí nếu những đường kẻ này phục vụ cho mục đích là đường kẻ đã
in (nhóm 48.02, 48.04 và 48.05).
(h) Giấy dán tường và các loại tấm phủ tường tương tự và tấm che cửa
sổ trong suốt (nhóm 48.14)
(ij) Danh thiếp và giấy hoặc bìa văn phòng phẩm khác thuộc nhóm
(k) Tấm lợp mái bao gồm một lớp nền là bìa được bọc kín hoàn toàn,
hoặc được bao phủ cả hai mặt bằng, một lớp asphalt hoặc vật liệu
tương tự (nhóm 68.07).
48.12- Khối, miếng và tấm lọc, bằng bột giấy.
Các mặt hàng thuộc nhóm này làm bằng sợi thực vật (bông, lanh, gỗ...)
có hàm lượng xenlulo cao, được ép với nhau thành dạng khối, miếng
hoặc tấm mà không cần chất kết dính, các sợi này vẫn trong trạng thái
liên kết yếu.
Sợi thực vật có thể được trộn với các sợi amiăng; trong trường hợp đó,
các khối, miếng hoặc tấm được phân loại vào nhóm này với điều kiện là
chúng vẫn giữ được đặc tính của sản phẩm bằng bột giấy.
Trước khi tạo ra khối, miếng hoặc tấm thì sợi được biến đổi tới độ chắc
của bột giấy và, theo mục đích mà những sản phẩm này được yêu cầu,
chúng phải được loại bỏ hoàn toàn tất cả tạp chất để tránh tạo màu, mùi
hoặc vị cho vật liệu lọc.
Các khối lọc cũng có thể được sản xuất bằng cách ép với nhau hai hoặc
nhiều miếng như vậy được làm (đôi khi bằng tay) từ bột đã được xử lý
và tinh chế.
Khối lọc (còn được gọi là filter mass) được dùng trong các thiết bị lọc để
lọc các chất lỏng (ví dụ, rượu, đồ uống có cồn, bia, dấm). Chúng được
phân loại trong nhóm này không phân biệt hình dáng hoặc kích thước.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Xơ của cây bông chỉ được ép thành tấm hoặc phiến (nhóm 14.04).
(b) Các mặt hàng khác bằng giấy được dùng để lọc các chất lỏng, ví dụ,
giấy lọc (nhóm 48.05 hoặc 48.23), tấm xenlulo (nhóm 48.03 hoặc
48.13- Giấy cuốn thuốc lá điếu, đã hoặc chưa cắt theo cỡ hoặc ở
dạng tập nhỏ hoặc cuốn sẵn thành ống.
4813.10 - Dạng tập hoặc cuốn sẵn thành ống
4813.20 - Dạng cuộn với chiều rộng không quá 5 cm
4813.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả các giấy cuốn thuốc lá (kể cả giấy bao đầu lọc
và giấy đầu lọc, sử dụng tương ứng để bọc lõi lọc và để gắn đầu lọc và
điếu thuốc lá), bất kể kích thước hay cách trình bày. Nói chung, giấy
cuốn thuốc lá ở một trong các dạng sau:
(1) Dạng tờ hoặc gập thành tập nhỏ (đã in hoặc không in) chứa một số tờ
giấy rời có kích thước đủ cho một điếu lẻ. Những sản phẩm này phù
hợp với việc cuốn các điếu thuốc lá bằng tay.
(2) Dạng ống có kích thước của một điếu thuốc.
(3) Dạng cuộn cắt theo kích thước (thường có chiều rộng không quá 5
cm) để sử dụng trên máy cuốn thuốc lá.
(4) Dạng cuộn có chiều rộng trên 5cm.
Giấy này, thường có đường nét hoặc hình bóng nước, có chất lượng cao
(thường từ bột giấy từ giẻ rách lanh hoặc gai dầu), nhưng rất mỏng và
tương đối dai. Chúng có thể không có hoặc được bổ sung ít chất độn đặc
biệt. Nó thường được làm từ giấy màu trắng nhưng cũng có thể được tạo
màu, và đôi khi được thấm tẩm các chất liệu khác như kali nitrate,
creosote gỗ hoặc cam thảo.
Giấy cuốn thuốc lá có thể được tráng ở một đầu bằng sáp, thuốc màu
kim loại hoặc các chất không thấm khác và các ống này đôi khi được bọc
đầu bằng lie, rơm, tơ lụa... Giấy ở dạng ống cũng có thể được nối với
phần lọc, thường gồm các cuộn thuốc nhỏ được làm bằng giấy có khả
năng thấm, tấm xenlulo hoặc sợi xenlulo acetate, hoặc cuối đầu ngậm
của điếu thuốc có thể được gia cố bằng giấy có chất lượng cao hơn.
48.14- Giấy dán tường và các loại tấm phủ tường tương tự; tấm che
cửa sổ trong suốt bằng giấy.
4814.20 - Giấy dán tường và các loại tấm phủ tường tương tự,
bao gồm giấy đã được tráng hoặc phủ, trên bề mặt,
bằng một lớp plastic có hạt nổi, rập nổi, nhuộm mầu,
in hình hoặc trang trí cách khác
4814.90 - Loại khác
(A) GIẤY DÁN TƯỜNG VÀ CÁC LOẠI TẤM PHỦ TƯỜNG
TƯƠNG TỰ
Theo Chú giải 9 của Chương này, khái niệm "giấy dán tường và các loại
tấm phủ tường tương tự" chỉ áp dụng đối với:
(a) Giấy ở dạng cuộn, có chiều rộng từ 45cm trở lên và không quá
160cm, phù hợp để trang trí tường hoặc trần nhà và đáp ứng một
trong các mô tả sau đây:
(1) Đã được tạo hạt, rập nổi, tạo màu bề mặt, in hình hoặc trang trí
khác trên mặt (ví dụ, bằng xơ vụn), có hoặc không tráng hoặc
phủ bằng các plastic bảo vệ trong suốt để làm cho giấy có khả
năng rửa được hoặc thậm chí có thể cọ rửa được. Các sản phẩm
này thông thường được gọi là “giấy dán tường”.
"Lincrusta" cũng thuộc nhóm này. Nó bao gồm vật liệu giấy
dày được tráng một hỗn hợp khô gồm dầu hạt lanh đã ô xi hoá
và chất độn, lớp tráng được rập nổi và trang trí bề mặt theo cách
để giấy phù hợp trang trí tường hoặc trần.
(2) Có bề mặt không bằng phẳng do sự hợp nhất, trong quá trình sản
xuất, của các mảnh gỗ, rơm,... Các tấm phủ tường này thường
có tên là giấy “ingrain”. Chúng có thể được trang trí ở bề mặt
(ví dụ, sơn) hoặc không trang trí. Giấy ingrain không trang trí
thường được sơn sau khi đã được dán lên tường.
(3) Đã được tráng hoặc phủ trên bề mặt bằng plastic, lớp plastic đã
được tạo hạt, rập nổi, tạo màu, in hình hoặc trang trí cách khác.
Các tấm phủ tường này có thể rửa được và có khả năng chống
lại sự bào mòn hơn các loại nêu trong Mục (1) trên đây. Các sản
phẩm có lớp poly(vinyl clorua) thường có tên gọi “lớp phủ tư-
ờng vinyl” hoặc "giấy dán tường vinyl".
(4) Được phủ hoàn toàn hoặc từng phần trên bề mặt bằng vật liệu
tết, bện, đã hoặc chưa bện với nhau thành sợi song song hoặc
được dệt. Một vài trong số các tấm phủ tường này có một lớp
vật liệu tết bện được bện bằng sợi dệt xe.
(b) Các đường viền và các dải trang trí, là các dải giấy khổ hẹp, được xử lý
như trên (ví dụ, rập nổi, in hình, trang trí bề mặt với hỗn hợp của dầu
khô và các chất độn, được tráng hoặc phủ bằng plastic), có hoặc không
ở dạng cuộn và phù hợp với việc trang trí trên tường hoặc trên trần.
(c) Tấm phủ tường bằng giấy tạo thành từ một số panel được in sẵn để
tạo phong cảnh, mẫu hình hoặc môtip khi phủ lên tường (cũng gọi là
bức tranh tường). Các panel có thể có nhiều kích cỡ và có thể ở
dạng cuộn hoặc tờ.
(B) TẤM CHE CỬA SỔ TRONG SUỐT BẰNG GIẤY
Mặt hàng này được làm từ giấy mỏng, cứng và trong suốt hoặc bóng mờ.
Chúng được in nhiều hình trang trí khác nhau, thường được tạo màu
giống kính màu, và chúng được dùng cho mục đính trang trí hoặc đơn
giản là để giảm độ trong suốt của cửa sổ. Chúng cũng có thể được in chữ
hoặc hình ảnh, ví dụ, để quảng cáo hoặc trưng bày.
Chúng có thể ở dạng cuộn, hoặc theo kích thước và hình dạng dùng ngay
để dán lên kính cửa sổ hoặc cửa ra vào. Đôi khi, chúng cũng được tráng
chất kết dính.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các tấm phủ tường tự dính, gồm duy nhất một tờ bằng plastic gắn với
một lớp giấy bảo vệ mà khi dùng thì bóc lớp giấy đó đi (Chương
(b) Tấm phủ tường gồm có veneer hoặc lie trên nền bằng giấy (nhóm
44.08, 45.02 hoặc 45.04).
(c) Các mặt hàng giống như các tấm phủ tường, nhưng nặng hơn và
cứng hơn, bao gồm, ví dụ, một lớp plastic trên nền bằng bìa, thường
ở dạng cuộn rộng hơn (ví dụ, 183cm), được dùng như cả tấm trải
sàn và tấm phủ tường (thường thuộc nhóm 48.23).
(d) Đề can các loại hơi giống về bề ngoài với các tấm che cửa sổ trong
suốt (nhóm 49.08).
(e) Tấm phủ tường bằng vật liệu dệt trên nền giấy (nhóm 59.05).
(f) Tấm phủ tường gồm lá nhôm mỏng trên nền giấy (nhóm 76.07).
48.16- Giấy than, giấy tự nhân bản và các loại giấy dùng để sao chụp
khác hoặc giấy chuyển (trừ các loại thuộc nhóm 48.09), giấy
nến nhân bản và các tấm in offset, bằng giấy, đã hoặc chưa
đóng hộp.
4816.20 - Giấy tự nhân bản
4816.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại giấy đã tráng, hoặc đôi khi đã được thấm
tẩm, theo cách đó một tài liệu gốc làm thành một hoặc nhiều bản sao nhờ
lực ấn (ví dụ, nhờ tác động của phím máy đánh chữ), nhờ hơi ẩm, mực...
Giấy thuộc thể loại này chỉ được phân loại vào nhóm này nếu chúng ở
dạng cuộn có chiều rộng không vượt quá 36cm hoặc ở dạng tờ hình chữ
nhật (kể cả hình vuông) mà mỗi chiều không quá 36cm ở dạng không
gấp, hoặc được cắt thành hình khác với hình chữ nhật (kể cả hình
vuông); nếu không, chúng được xếp vào nhóm 48.09. Đối với giấy nến
nhân bản và tấm in offset, không có điều kiện về kích thước. Các loại
giấy trong nhóm này thường được đóng trong hộp.
Chúng có thể được xếp vào hai loại, theo quy trình sao chép liên quan:
(A) GIẤY SAO CHÉP TÀI LIỆU GỐC BẰNG CÁCH CHUYỂN
MỘT PHẦN HOẶC TOÀN BỘ CHẤT TRÁNG HOẶC THẤM
TẨM CỦA CHÚNG RA MỘT BỀ MẶT KHÁC.
Loại này bao gồm:
(1) Giấy than và các loại giấy dùng để sao chụp tương tự.
Các giấy này là giấy được tráng hoặc đôi khi được thấm tẩm, bằng
chất dầu mỡ hoặc sáp trộn với muội carbon hoặc các chất màu khác.
Chúng được dùng cho bút máy, bút chì hoặc máy đánh chữ để sao
chép lại lên trên giấy bình thường.
Các giấy này có thể là:
(a) giấy mỏng dùng để lồng vào giữa và để dùng một lần hoặc lặp
lại, hoặc
(b) giấy tráng có định lượng bình thường, là bộ phận của tập giấy.
Nhóm này cũng bao gồm các giấy than cho các máy sao chép, được
sử dụng để tạo nên một tờ chính mà tờ chính này lần lượt đóng vai
trò như một “tấm” in để tạo ra nhiều bản sao hơn.
(2) Giấy tự nhân bản.
Giấy tự nhân bản, cũng được gọi là giấy copy không carbon, có thể
ở dạng gấp thành tập. Lực do máy văn phòng hoặc một ngòi bút lên
tờ gốc tạo ra phản ứng giữa hai thành phần khác nhau mà thường
được tách khỏi nhau hoặc trong cùng một tờ hoặc trong hai tờ liền
kề, sao chép lại vết ấn của bản gốc.
(3) Giấy chuyển nhiệt.
Chúng được tráng một mặt với chất nhạy nhiệt, được sử dụng trong
máy sao chép bằng tia hồng ngoại để tạo ra bản sao từ một bản gốc
bằng cách chuyển chất nhuộm trộn với chất tráng lên một tờ bằng
giấy bình thường (quá trình chuyển nhiệt).
(B) GIẤY ĐỂ SAO CHỤP, GIẤY NẾN NHÂN BẢN VÀ CÁC TẤM
IN OFFSET BẰNG CÁC PHƯƠNG PHÁP KHÁC TRỪ CÁC
LOẠI ĐÃ MÔ TẢ TRONG PHẦN (A) Ở TRÊN
Loại này bao gồm:
(1) Giấy cho giấy nến nhân bản và giấy nến nhân bản.
Giấy cho giấy nến nhân bản là giấy mỏng, dai, không gia keo và
không thấm do tráng hoặc thấm tẩm paraffin hoặc sáp khác, dung
dịch dạng keo (collodion) hoặc các chế phẩm của sản phẩm tương
tự. Lực do máy chữ, ngòi bút hoặc các dụng cụ thích hợp khác cho
phép đục lỗ trên bề mặt tráng với chữ hoặc hình cần phải sao chép.
Giấy nến nhân bản thường có một tờ giấy nền dày có thể tháo rời
được gắn vào rìa trên và được rập lỗ một cách đặc biệt cho phép cố
định tờ giấy nến lên máy sao chép, và đôi khi chúng được lồng vào
giữa một tờ giấy để làm bản sao carbon. Hơn nữa, giấy nến thường
chứa các dấu hiệu chỉ dẫn và nhiều chi tiết được in khác.
Nhóm này cũng bao gồm giấy nến dùng cho các máy in địa chỉ được
đóng khung.
(2) Giấy cho tấm in ofset và tấm in offset
Giấy cho tấm in offset có một lớp tráng đặc biệt trên một mặt làm
chúng không thấm mực in lytô. Các tấm in offset được sử dụng cho
các máy offset loại văn phòng để sao chép lại trên giấy thường các
chữ hay bản thiết kế khi ấn lên chúng bằng tay, bằng máy, hoặc
bằng bất kỳ phương tiện ghi dấu nào khác.
Các loại giấy của nhóm này có thể cũng dưới dạng gấp thành tập và kết
hợp hai hay nhiều quá trình sao chép được mô tả trên đây. Ví dụ điển
hình là một tờ giấy được tráng trên một mặt bằng loại mực đặc biệt bằng
cách mà (như với giấy than) một hình ảnh ngược của văn bản hoặc thiết
kế có thể được tạo ra trên tờ giấy thứ hai tương tự như tấm in đã được
mô tả ở mục (B) (2) ở trên. Khi tờ giấy thứ hai này được đặt vào một
máy sao chép phù hợp thì mực trên mặt sau của nó được chuyển vào
giấy bình thường như một dương bản của bản gốc, và nhiều bản sao chép
có thể được làm ra.
Giấy dùng để sao chụp hoặc giấy chuyển, chứa các văn bản hoặc thiết kế
để sao chụp lại, vẫn được phân loại trong nhóm này, cho dù chúng được
đóng thành tập hay không.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Giấy chuyển thuộc loại được gọi là lá phôi dập hoặc lá rập chữ nổi.
Chúng là các tờ giấy mỏng phủ kim loại, bột kim loại hoặc thuốc
màu và được dùng chủ yếu để in bìa sách, dải, băng của mũ…
(nhóm 32.12).
(b) Giấy hoặc bìa có phủ chất nhạy thuộc các nhóm 37.01 đến 37.04.
(c) Bột nhão để sao in có thành phần cơ bản từ gelatine trên lớp giấy bồi
(nhóm 38.24).
(d) Giấy nến nhân bản bao gồm một lớp mỏng bằng plastic gắn trên giấy
bồi có thể tháo ra, được cắt theo kích thước và đục lỗ ở một cạnh
(Chương 39).
(e) Giấy được tráng chất nhạy nhiệt được sử dụng để tạo ra bản sao từ tài
liệu gốc bằng cách trực tiếp bôi đen chất tráng (quá trình sao chép
nhiệt) (nhóm 48.11 hoặc 48.23).
(f) Chứng từ nhiều liên và tập ghi chép có chèn giấy than (nhóm 48.20).
(g) Đề can các loại (decalcomanias) (nhóm 49.08).
48.17- Phong bì, bưu thiếp dạng phong bì (letter cards), bưu thiếp
trơn và bưu thiếp dạng thư tín (correspondence cards), bằng
giấy hoặc bìa; các loại hộp, túi ví, cặp tài liệu và cặp hồ sơ in
sẵn, bằng giấy hoặc bìa, có chứa văn phòng phẩm bằng giấy.
4817.10 - Phong bì
4817.20 - Bưu thiếp dạng phong bì (letter cards), bưu thiếp trơn
và bưu thiếp dạng thư tín (correspondence cards)
4817.30 - Hộp, túi ví, cặp tài liệu và cặp hồ sơ in sẵn, bằng giấy
hoặc bìa, có chứa văn phòng phẩm bằng giấy
Nhóm này bao gồm văn phòng phẩm bằng giấy hoặc bìa loại được sử
dụng trong thư tín, ví dụ phong bì, bưu thiếp dạng phong bì (letter
cards), bưu thiếp trơn (kể cả bưu thiếp dạng thư tín (correspondence
cards). Tuy nhiên, giấy viết riêng lẻ ở dạng những tờ rời hoặc ở dạng tập
và một vài mặt hàng đề cập dưới đây bị loại trừ.
Những mặt hàng này có thể được in với địa chỉ, tên, nhãn hiệu thương
mại, trang trí, tiêu ngữ, chữ đầu tiên,… chỉ là bổ trợ so với công dụng
như văn phòng phẩm.
Bưu thiếp dạng phong bì (letter cards) là các tờ giấy hoặc bìa hoặc thẻ
với rìa có chất dính (đôi khi có đục lỗ) hoặc chuẩn bị khác để đóng kín
hoặc dán kín mà không sử dụng phong bì.
Bưu thiếp trơn không thuộc nhóm này trừ khi nó có in địa chỉ hoặc tem
hoặc các chỉ dẫn khác liên quan đến việc sử dụng chúng.
Bưu thiếp dạng thư tín (correspondence cards) không thuộc nhóm
này trừ khi chúng có các mép được cắt xén hoặc mạ vàng hoặc các góc
được làm tròn, hoặc được in hoặc gia công khác theo cách rõ ràng cho
biết công dụng của chúng như văn phòng phẩm. Thẻ trơn không được
gia công như vậy thì được phân loại vào nhóm 48.02, 48.10, 4811 hoặc
48.23, tuỳ trường hợp cụ thể.
Nhóm này cũng bao gồm các hộp, túi, ví và cặp tài liệu, bằng giấy hoặc
bìa, có chứa văn phòng phẩm bằng giấy.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Giấy viết thư ở dạng gấp hoặc dạng tờ không gấp, được in hoặc
không in, và đã hoặc chưa đóng hộp hoặc gói (nhóm 48.02, 48.10
hoặc 48.11, tuỳ trường hợp cụ thể).
(b) Tập viết thư, tập ghi nhớ,… thuộc nhóm 48.20.
(c) Phong bì, bưu thiếp, bưu thiếp dạng phong bì (letter cards),… đã dán
tem bằng cách in hoặc cách khác, với các tem đang lưu hành (nhóm
(d) Bưu thiếp đã in hoặc có minh họa và các thẻ đã in thuộc nhóm 49.09.
(e) Các bức thư đã in và các mặt hàng tương tự, được thiết kế cho các
mục đích đặc biệt, ví dụ, giấy báo nộp tiền, thông báo loại bỏ
(removal notice), thư quảng cáo, kể cả những mặt hàng như vậy đòi
hỏi điền bằng tay (nhóm 49.11).
(f) Phong bì có tem đóng dấu ngày phát hành đầu tiên được minh họa và
các thẻ tối đa được minh họa để phát hành ngày đầu tiên: nếu không
dán tem bưu điện (nhóm 49.11); nếu có tem bưu điện (nhóm
48.18- Giấy vệ sinh và giấy tương tự, tấm xenlulo hoặc màng xơ sợi
xenlulo, dùng trong gia đình hoặc vệ sinh, dạng cuộn có chiều
rộng không quá 36 cm, hoặc cắt theo hình dạng hoặc kích
thước; khăn tay, giấy lụa lau, khăn lau, khăn trải bàn, khăn
ăn, khăn trải giường và các đồ dùng nội trợ, vệ sinh hoặc các
vật phẩm dùng cho bệnh viện tương tự, các vật phẩm trang trí
và đồ phụ kiện may mặc, bằng bột giấy, giấy, tấm xenlulo hoặc
màng xơ sợi xenlulo.
4818.10 - Giấy vệ sinh
4818.20 - Khăn tay, giấy lụa lau chùi hoặc lau mặt và khăn lau
4818.30 - Khăn trải bàn và khăn ăn
4818.50 - Các vật phẩm dùng cho trang trí và đồ phụ kiện may mặc
4818.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm giấy vệ sinh và các loại giấy tương tự, tấm xenlulo
hoặc màng xơ sợi xenlulo, dùng trong gia đình hoặc mục đích vệ sinh:
(1) ở dạng dải hoặc cuộn có chiều rộng không quá 36cm;
(2) ở dạng tờ hình chữ nhật (kể cả hình vuông) mà mỗi chiều không v-
ượt quá 36cm ở trạng thái không gấp;
(3) được cắt theo hình dạng trừ hình chữ nhật (kể cả hình vuông).
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm dùng trong gia đình, vệ sinh
hoặc bệnh viện, cũng như quần áo và phụ kiện quần áo, bằng bột giấy,
giấy, tấm xenlulo hoặc màng xơ sợi xenlulo.
Các sản phẩm của nhóm này thường được chế tạo từ các vật liệu của
nhóm 48.03.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Tấm xenlulo được thấm tẩm hoặc tráng dược phẩm hoặc làm thành
dạng hoặc bao gói để bán lẻ với mục đích y học, phẫu thuật, nha
khoa hoặc thú y (nhóm 30.05).
(b) Giấy thơm và giấy được thấm tẩm hoặc tráng mỹ phẩm (Chương
(c) Giấy và tấm xenlulo được thấm tẩm, tráng hoặc phủ với xà phòng
hoặc chất tẩy rửa (nhóm 34.01), hoặc xi, kem hoặc các chế phẩm
tương tự (nhóm 34.05).
(d) Các sản phẩm của Chương 64.
(e) Đồ đội đầu và các bộ phận của chúng của Chương 65.
(f) Băng (miếng) và nút bông vệ sinh (tampon), khăn và tã lót và các vật
phẩm tương tự của nhóm 96.19.
48.19- Thùng, hộp, vỏ chứa, túi xách và các loại bao bì đựng khác,
bằng giấy, bìa, tấm xenlulo hoặc màng xơ sợi xenlulo; hộp đựng hồ
sơ (files), khay thư, và các vật phẩm tương tự, bằng giấy hoặc bìa
dùng cho văn phòng, cửa hàng hoặc những nơi tương tự.
4819.10 - Thùng, hộp và vỏ chứa, bằng giấy sóng hoặc bìa sóng
4819.20 - Thùng, hộp và vỏ chứa gấp lại được, bằng giấy hoặc
bìa không sóng
4819.30 - Bao và túi xách, có đáy rộng từ 40 cm trở lên
4819.40 - Bao và túi xách loại khác, kể cả hình nón cụt (cones)
4819.50 - Bao bì đựng khác, kể cả túi đựng đĩa
4819.60 - Hộp đựng hồ sơ (box files), khay thư, hộp lưu trữ và
các vật phẩm tương tự, loại dùng trong văn phòng, cửa
hàng hoặc những nơi tương tự
(A) Thùng, hộp, vỏ chứa, túi xách và các loại bao bì khác.
Nhóm này bao gồm bao bì thuộc đủ mọi kiểu và kích thước thường
được dùng cho bao gói, vận chuyển, tích trữ hoặc bán các hàng hóa,
có hoặc không có giá trị trang trí. Nhóm này bao gồm thùng, hộp, vỏ
chứa, túi xách, vật đựng hình nón, đồ bao gói, bao, thùng phuy bằng
bìa (containers), dù được sản xuất bằng cách cán hay bằng bất kỳ
cách khác, và có hoặc không lắp các vòng gia cố bằng vật liệu khác,
túi đựng hình ống cho tài liệu của bưu điện, túi bảo quản quần áo,
lọ, ấm và các loại tương tự (ví dụ, để đựng sữa hoặc kem), có hoặc
không phủ sáp. Nhóm này còn gồm các túi giấy dùng cho các mục
đích đặc biệt như túi cho máy hút bụi chân không, túi nôn và các túi
và bao đựng đĩa.
Nhóm này bao gồm các thùng, hộp và vỏ chứa gấp lại được. Đó là:
các thùng, hộp và vỏ chứa ở dạng phẳng một mảnh để lắp bằng
cách gấp và xẻ rãnh (ví dụ, các hộp bánh); và
các vật chứa đựng được lắp ráp hoặc có ý định để lắp ráp nhờ
hồ dán, ghim dập..., trên một mặt duy nhất, việc lắp ráp thành
vật chứa đựng tự nó tạo cách để hình thành các mặt khác, mặc
dù, khi thích hợp, có thể sử dụng thêm các cách khác như dùng
băng dính hoặc kim dập để bảo vệ nắp hoặc đáy thùng.
Các mặt hàng của nhóm này có thể được in, ví dụ, tên hàng, các chỉ
dẫn sử dụng, mô tả. Do đó, nhóm này cũng bao gồm túi chứa các hạt
giống có hình ảnh của sản phẩm và hướng dẫn gieo hạt, ngoài tên
của công ty, hoặc vỏ đựng sô-cô-la hoặc ngũ cốc có các hình ảnh để
cuốn hút trẻ em.
Các mặt hàng của nhóm này cũng có thể cũng có sự gia cố hoặc có
phụ kiện bằng chất liệu khác giấy (ví dụ, bồi bằng vải, lớp nền bằng
gỗ, tay cầm bằng dây bện, các góc bằng kim loại hoặc bằng plastic).
(B) Hộp đựng hồ sơ (files), khay thư và các vật phẩm tương tự loại
dùng cho văn phòng, cửa hàng và những nơi tương tự.
Nhóm này bao gồm các vật chứa đựng, như tủ chứa hồ sơ, hộp đựng
hồ sơ, khay thư, hộp lưu trữ và các mặt hàng tương tự thuộc loại
cứng và có độ bền cao, và thường có hoàn thiện tốt hơn so với các
loại đồ chứa thuộc nhóm (A) nêu trên. Chúng được dùng để xếp loại
hoặc lưu trữ các tài liệu hoặc cất trữ mặt hàng khác trong văn phòng,
cửa hàng, kho hàng...
Các sản phẩm này có thể có gia cố hoặc phụ kiện bằng vật liệu
không phải chất liệu giấy (ví dụ, bản lề, tay cầm, thiết bị khóa bằng
kim loại, gỗ, plastic hoặc vật liệu dệt). Chúng cũng có thể đi kèm
với khung bằng kim loại, plastic... để đút được thẻ chỉ dẫn.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các mặt hàng của nhóm 42.02 (mặt hàng du lịch...)
(b) Các sản phẩm bằng giấy tết bện (nhóm 46.02).
(c) Giấy hoặc bìa được tráng, phủ và in, của nhóm 48.11, ở dạng cuộn,
được dùng để sản xuất các đồ chứa và được gấp nếp và đánh dấu để
xác định các vật chứa đựng riêng lẻ được cắt từ cuộn.
(d) Album để mẫu hay để các bộ sưu tập (nhóm 48.20).
(e) Bao và túi bằng sợi giấy dệt, thuộc nhóm 63.05.
48.20- Sổ đăng ký, sổ sách kế toán, vở ghi chép, sổ đặt hàng, quyển
biên lai, tập viết thư, tập ghi nhớ, sổ nhật ký và các ấn phẩm
tương tự, vở bài tập, quyển giấy thấm, bìa đóng hồ sơ (loại
tờ rời hoặc loại khác), bìa kẹp hồ sơ, vỏ bìa kẹp hồ sơ, biểu
mẫu thương mại các loại, tập giấy ghi chép có chèn giấy
than và các vật phẩm văn phòng khác, bằng giấy hoặc bìa;
album để mẫu hoặc để bộ sưu tập và các loại bìa sách, bằng
giấy hoặc bìa.
4820.10 - Sổ đăng ký, sổ kế toán, vở ghi chép, sổ đặt hàng,
quyển biên lai, tập viết thư, tập ghi nhớ, sổ nhật ký và
các ấn phẩm tương tự
4820.20 - Vở bài tập
4820.30 - Bìa đóng hồ sơ (trừ bìa đóng sách), bìa kẹp hồ sơ và vỏ
bìa kẹp hồ sơ
4820.40 - Biểu mẫu thương mại và tập giấy ghi chép có chèn
giấy than
4820.50 - Album để mẫu hoặc để bộ sưu tập
4820.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các mặt hàng văn phòng phẩm đa dạng, trừ các mặt
hàng thư tín của nhóm 48.17 và các mặt hàng đề cập đến ở Chú giải 10
của Chương này. Nhóm này bao gồm:
(1) Sổ đăng ký, sổ kế toán, sổ ghi chép các loại, sổ đặt hàng, sổ biên lai,
tập viết, sổ nhật ký, tập giấy viết thư, tập ghi nhớ, sổ hẹn, sổ địa chỉ
và sổ sách, tập giấy... để ghi số điện thoại.
(2) Vở bài tập. Vở có thể chứa giản đơn là các tờ giấy có kẻ hàng nhưng
cũng có thể có các mẫu viết tay in sẵn để sao chép lại bằng tay.
Sách bài tập giáo dục, đôi khi còn được gọi là vở viết, có hoặc không có
chuyện kể, chứa những câu hỏi hoặc bài tập in sẵn không phải là bổ trợ
so với công dụng chính của chúng như là sách bài tập và thường có các
khoảng trống để hoàn thành bằng việc viết bằng tay thì bị loại trừ
(nhóm 49.01). Các sách bài tập cho trẻ em bao gồm chủ yếu là các tranh
ảnh, có phần chữ mang tính chất bổ sung, dùng làm bài tập viết hoặc các
bài tập khác cũng bị loại trừ (nhóm 49.03).
(3) Bìa đóng hồ sơ để giữ các tờ rời, các tạp chí, hoặc các sản phẩm tương tự
(ví dụ, bìa có kẹp, có lò xo, có đinh vít hoặc có vòng), và các bìa cứng
đựng hồ sơ, các bìa hồ sơ, hồ sơ (trừ hộp đựng tài liệu) và cặp giấy.
(4) Biểu mẫu thương mại nhiều liên: đây là một tập hợp mẫu nhiều phần
hoặc được in trên giấy tự nhân bản hoặc được chèn ở giữa bằng giấy
than. Các mẫu này được dùng để làm ra nhiều bản sao và có thể liên
tục hay không liên tục. Chúng chứa các nội dung được in, nội dung
này yêu cầu điền thêm thông tin để hoàn thành.
(5) Tập giấy ghi chép có chèn giấy than: Chúng cũng giống như các biểu
mẫu thương mại nhiều liên nhưng chúng hoặc không chứa nội dung
in sẵn hoặc chỉ chứa thông tin nhận dạng như là phần in đầu giấy
viết thư. Chúng được sử dụng rộng rãi để đánh máy thành nhiều bản
sao và như hầu hết biểu mẫu thương mại nhiều liên được gắn với
nhau bằng cuống gắn keo và đục lỗ.
(6) Album để mẫu hay để các bộ sưu tập khác (ví dụ, tem, ảnh).
(7) Các mặt hàng văn phòng phẩm khác như tập giấy thấm (gấp hoặc
không).
(8) Các tấm bọc sách (bìa sách hoặc bọc chống bụi), đã hoặc chưa được
in ký tự (tiêu đề,…) hoặc tranh minh họa.
Một số sản phẩm của nhóm này thường chứa một số lượng đáng kể nội
dung đã in nhưng vẫn được phân loại trong nhóm này (và không thuộc
Chương 49) với điều kiện là việc in mang tính chất phụ trợ so với công
dụng chính, ví dụ, trên các mẫu (chủ yếu là nhằm hoàn thành bằng tay
hoặc bằng máy) và trên sổ nhật ký (chủ yếu để viết).
Các sản phẩm của nhóm này có thể được gắn với các vật liệu khác giấy
(ví dụ, da thuộc, plastic hoặc vật liệu dệt) và có gia cố hoặc phụ kiện
ghép nối bằng kim loại, plastic...
Mặt khác, các mặt hàng như giá (đế) của tập ghi nhớ để bàn có cấu tạo
chủ yếu từ gỗ, đá hoa… được phân loại như hàng hóa từ gỗ, đá hoa... tùy
từng trường hợp. Những tờ rời của giấy bài tập và các giấy viết khác, kể
cả các tờ đục lỗ cho quyển sách đóng theo cách có thể tháo từng tờ ra
(loose-leaf) thì thường thuộc nhóm 48.02, 48.10, 48.11 hoặc 48.23, tuỳ
từng trường hợp. Những tờ rời của album cũng bị loại trừ khỏi nhóm
này và phân loại vào các nhóm khác tuỳ theo đặc tính của chúng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các quyển séc (nhóm 49.07) .
(b) Vé du lịch nhiều chặng để trống (nhóm 49.11).
(c) Vé xổ số, “xổ số cào”, phiếu rút thăm trúng thưởng (raffle ticket), vé
xổ số tombola (thường thuộc nhóm 49.11).
48.21- Các loại nhãn mác bằng giấy hoặc bìa, đã hoặc chưa in (+).
4821.10 - Đã in
4821.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả các loại nhãn bằng giấy hoặc bìa loại sử dụng
để đính vào bất kỳ loại mặt hàng nào nhằm mục đích chỉ rõ tính chất,
nhận dạng, quyền sở hữu, điểm đến, giá cả... Chúng có thể thuộc loại
dán lên (stick-on) (được bôi keo hoặc tự dính) hoặc được thiết kế để dán
bằng cách khác, ví dụ, dây bện.
Các nhãn này có thể là trơn, được in ký tự hoặc hình ảnh không giới hạn,
được bôi keo, được gắn dây buộc, móc cài, móc hoặc khóa, chốt khác
hoặc được gia cố bằng kim loại hoặc các vật liệu khác. Chúng có thể
được đục lỗ hoặc trình bày ở dạng tờ hoặc cuốn sách nhỏ.
Nhãn dính đã in tự dính được thiết kế, ví dụ, để quảng cáo hoặc trang trí
giản đơn, ví dụ, "nhãn tự dính mang tính hài hước" và "nhãn dính dán
cửa sổ”, bị loại trừ (nhóm 49.11).
Nhóm này không bao gồm các “nhãn” bao gồm một tờ tương đối bền
bằng kim loại cơ bản được phủ trên một mặt hoặc cả hai mặt bằng một
tờ giấy mỏng, có hay không được in (các nhóm 73.26, 76.16, 79.07,...,
hoặc nhóm 83.10).
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Phân nhóm 4821.10
Phân nhóm này gồm tất cả các loại nhãn đã in bất kể ý nghĩa hoặc quy
mô của phần in trên đó. Do đó, nhãn đã in, ví dụ, với dòng kẻ hoặc các
đường viền đơn giản hoặc chỉ kết hợp các môtip nhỏ hoặc các biểu
tượng khác được xem như "đã in" theo mục đích của phân nhóm này.
48.22- Ống lõi, suốt, cúi và các loại lõi tương tự bằng bột giấy, giấy
hoặc bìa (đã hoặc chưa đục lỗ hoặc làm cứng).
4822.10 - Loại dùng để cuốn sợi dệt
4822.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các ống lõi, suốt, cúi, suốt hình nón, và các loại lõi
tương tự được dùng để cuốn sợi dệt hoặc sợi kim loại, dù cho việc sử
dụng trong công nghiệp hay để bán lẻ. Nhóm này cũng bao gồm các lõi
hình trụ (có các đầu mở hoặc đóng) loại dùng để cuốn vải, giấy hoặc các
vật liệu khác.
Các mặt hàng này có thể được sản xuất từ bìa, từ các tờ giấy được cuốn,
hoặc từ bột giấy được đúc hoặc nén (xem đoạn gần cuối của Chú giải
tổng quát của Chương này). Đôi khi chúng được đục lỗ. Chúng có thể
được dán, được thấm tẩm hoặc được tráng plastic,..., tuy nhiên, các mặt
hàng như vậy có đặc tính của hàng hóa từ plastic được gắn lớp mặt bị
loại trừ (Chương 39).
Ống lõi, suốt, cúi, ...có thể có gia cố hoặc phụ kiện lắp ráp, ở một hoặc
cả hai đầu, bằng gỗ, kim loại hoặc vật liệu khác.
Nhóm này loại trừ lõi phẳng có hình dạng khác nhau được sử dụng cho
các mục đích tương tự (nhóm 48.23).
48.23- Giấy, bìa, tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo khác, đã cắt
theo kích cỡ hoặc hình dạng; các vật phẩm khác bằng bột
giấy, giấy, bìa, tấm xenlulo hoặc màng xơ sợi xenlulo.
4823.20 - Giấy lọc và bìa lọc
4823.40 - Dạng cuộn, tờ và đĩa, đã in dùng cho máy tự ghi
- Khay, bát, đĩa, cốc, chén và các sản phẩm tương tự,
bằng giấy hoặc bìa:
4823.61 - - Từ tre (bamboo)
4823.69 - - Loại khác
4823.70 - Các sản phẩm đúc hoặc nén bằng bột giấy
4823.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(A) Giấy và bìa, tấm xenlulo và màng xơ sợi xenlulo, không được xếp
vào một trong các nhóm trước của Chương này:
- ở dạng dải hoặc dạng cuộn có chiều rộng không quá 36cm;
ở dạng tờ hình chữ nhật (kể cả hình vuông) mà không có chiều
nào trên 36cm ở trạng thái không gấp;
cắt thành dạng trừ hình chữ nhật (kể cả hình vuông).
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng giấy và bìa đó ở dạng dải hoặc cuộn, hoặc
dạng tờ hình chữ nhật (kể cả hình vuông), với bất kỳ kích thước nào,
thuộc các nhóm 48.02, 48.10 và 48.11 vẫn được phân loại trong
những nhóm này.
(B) Những mặt hàng từ bột giấy, giấy, bìa, tấm xenlulo và màng xơ sợi
xenlulo, chưa được chi tiết trong bất kỳ nhóm nào trước của Chương
này hay không bị loại trừ bởi Chú giải 2 của Chương này.
Vì vậy, nhóm này bao gồm:
(1) Giấy và bìa lọc (gấp hoặc không). Thông thường, các sản phẩm này
có hình khác với hình chữ nhật (kể cả hình vuông), chẳng hạn trong
trường hợp giấy lọc và tấm lọc hình tròn.
(2) Đĩa số đã được in, trừ dạng hình chữ nhật (kể cả hình vuông), cho
thiết bị tự ghi.
(3) Giấy và bìa kiểu được dùng để viết, in ấn hoặc các mục đích đồ bản
khác, không được phân loại vào các nhóm trước đó của Chương
này, được cắt thành dạng khác hình chữ nhật (kể cả hình vuông).
(4) Khay, bát, đĩa, cốc, chén và các vật phẩm tương tự bằng giấy hoặc bìa.
(5) Các sản phẩm bằng bột giấy được đúc khuôn hoặc nén.
(6) Giấy ở dạng dải không tráng (có hoặc không gấp) để bện hoặc các sử
dụng khác, trừ mục đích đồ bản.
(7) Len giấy (tức là, các dải hẹp ở dạng khối rối, được dùng để bao gói).
(8) Giấy gói mứt, kẹo, giấy gói trái cây và giấy bao gói khác đã cắt theo
kích thước.
(9) Tấm đế và giấy để đặt bánh; nắp lọ mứt; giấy đã tạo hình làm túi.
(10) Thẻ và giấy bằng bìa đục lỗ cho máy Jacquard hoặc các máy
tương tự (xem Chú giải 11 của Chương này), tức là đã có sẵn các
lỗ cần thiết để điều khiển việc dệt hoa văn (thẻ bằng giấy và bìa
“đã bấm lỗ”).
(11) Đăng ten và đồ thêu giấy; diềm cho kệ, giá.
(12) Miếng đệm và vòng đệm bằng giấy.
(13) Khung con dấu, góc khung ảnh và khung ảnh, góc gia cố cho valy.
(14) Các bình, can bằng sợi dệt xe; thẻ phẳng được tạo hình cho việc
quấn sợi, ruy băng…, các tờ đã tạo khuôn để đựng trứng.
(15) Vỏ xúc xích.
(16) Mẫu hình cho quần áo, mẫu khuôn, đã hoặc chưa lắp ráp.
(17) Quạt và màn che kéo bằng tay, với khuôn bằng giấy hoặc lá và
khung bằng vật liệu bất kỳ, và khuôn được để riêng. Tuy nhiên, quạt
và màn che kéo bằng tay với khung là kim loại quý thì được phân
loại trong nhóm 71.13.
Ngoài các sản phẩm bị loại trừ theo Chú giải 2 của Chương này, nhóm
này loại trừ:
(a) Giấy diệt ruồi (nhóm 38.08).
(b) Dải giấy được tẩm chất thử chẩn đoán hoặc chất thử thí nghiệm
(nhóm 38.22).
(c) Ván sợi (nhóm 44.11).
(d) Giấy ở dạng dải, không tráng thuộc loại dùng để viết, in hoặc mục
đích đồ bản, của nhóm 48.02.
(e) Giấy ở dạng dải, được tráng, phủ hoặc thấm tẩm của nhóm 48.10
hoặc 48.11.
(f) Vé xổ số, “xổ số cào”, phiếu rút thăm trúng thưởng (raffle ticket) và
vé xổ số tambola (thường thuộc nhóm 49.11).
(g) Ô, dù che nắng bằng giấy (nhóm 66.01).
(h) Hoa, lá, quả nhân tạo và các bộ phận của chúng (nhóm 67.02).
(ij) Đồ cách điện và các hàng đồ điện khác (Chương 85).
(k) Các mặt hàng của Chương 90 (ví dụ, các dụng cụ chỉnh hình hoặc
các thiết bị trưng bày, đĩa số cho các thiết bị khoa học).
(l) Các mặt số của đồng hồ (nhóm 91.14).
(m) Đạn và nùi đạn cát tút (nhóm 93.06).
(n) Chụp đèn (nhóm 94.05).
Chương 49
Sách, báo, tranh ảnh và các sản phẩm khác của công nghiệp in; các
loại bản thảo viết bằng tay, đánh máy và sơ đồ
Chú giải.
1.- Chương này không bao gồm:
(a) Phim tạo ảnh âm bản hoặc dương bản (Chương 37);
(b) Bản đồ, sơ đồ hoặc quả địa cầu, dạng nổi, đã hoặc chưa in (nhóm
(c) Bộ bài để chơi hoặc hàng hoá khác thuộc Chương 95; hoặc
(d) Bản khắc, bản in và bản in lytô gốc (nhóm 97.02), tem bưu chính
hoặc tem thuế, dấu in cước thay tem bưu chính, phong bì có tem
đóng dấu ngày phát hành đầu tiên, ấn phẩm bưu chính hoặc
những loại hàng hoá tương tự thuộc nhóm 97.04, đồ cổ có tuổi
trên 100 năm hoặc các loại hàng hoá khác thuộc Chương 97.
2.- Theo mục đích của Chương 49, khái niệm "đã in" cũng có nghĩa là đã
được tái bản bằng máy nhân bản, được tạo ra nhờ một máy xử lý dữ
liệu tự động, được rập nổi, được chụp lại, được photocopy, được
copy nhiệt hoặc được đánh máy.
3.- Các loại báo, tạp chí chuyên ngành và các xuất bản phẩm định kỳ
được đóng bìa không phải bìa giấy mềm, và các bộ báo, tạp chí
chuyên ngành hoặc xuất bản phẩm định kỳ được đóng thành tập có
từ 2 số trở lên trong một bìa thì phải được phân loại vào nhóm
49.01, có hoặc không chứa tư liệu quảng cáo.
4.- Nhóm 49.01 cũng bao gồm:
(a) Bộ sưu tập các tái bản, ví dụ, của các tác phẩm nghệ thuật hoặc
tranh vẽ, có kèm theo phần lời đề mục, chủ đề, với cách đánh số
trang phù hợp để đóng gói thành một hoặc nhiều tập;
(b) Tập tranh ảnh minh họa, và phụ lục cho một cuốn sách; và
(c) Các phần đã in của sách hoặc sách nhỏ, ở dạng đã xếp thành tập
hoặc tờ rời hoặc đã có ký hiệu trang để đóng gói thành bộ hoàn
chỉnh hoặc từng phần của tác phẩm hoàn chỉnh và được thiết kế
để đóng quyển.
Tuy nhiên, các loại tranh ảnh đã in hoặc minh họa không kèm theo
lời đề mục, hoặc ở dạng tập có số trang hoặc ở dạng tờ rời, thì được
xếp vào nhóm 49.11.
5.- Theo Chú giải 3 của Chương này, nhóm 49.01 không bao gồm các
xuất bản phẩm chỉ dành riêng cho việc quảng cáo (ví dụ, các loại
sách gấp, sách chuyên đề (pamphlet), sách mỏng, tờ rơi, catalogue
quảng cáo thương mại, niên giám do các tổ chức thương mại, cơ
quan tuyên truyền du lịch xuất bản). Các ấn phẩm này được phân
loại trong nhóm 49.11.
6.- Theo mục đích của nhóm 49.03, khái niệm "sách tranh ảnh cho trẻ
em" có nghĩa là loại sách dành cho trẻ em trong đó chủ yếu là tranh
ảnh và lời chỉ là phụ.
TỔNG QUÁT
Trừ một số ít ngoại lệ dưới đây, Chương này bao gồm tất cả các ấn
phẩm mà bản chất và công dụng chủ yếu của chúng được quyết định bởi
thực tế là chúng được in với các motip, các ký tự hoặc biểu tượng tranh
ảnh.
Mặt khác, ngoài các sản phẩm của nhóm 48.14 hoặc 48.21, giấy, bìa
hoặc tấm xenlulo, hoặc các sản phẩm từ chúng, việc in ấn chỉ là phụ trợ
so với công dụng chính (ví dụ, giấy gói hàng và giấy văn phòng đã được
in) thuộc Chương 48. Ngoài ra, các sản phẩm dệt đã in như khăn tay
hoặc khăn quàng, phần lớn việc in ấn nhằm cho mục đích trang trí và
không ảnh hưởng đến đặc tính căn bản của hàng hoá, các loại vải thêu
ren và vải bạt làm thảm có in hình vẽ được phân loại vào Phần XI.
Các sản phẩm của nhóm 39.18, 39.19, 48.14 hay 48.21 đều bị loại trừ
khỏi Chương này, cho dù chúng đã in hoa văn, các ký tự hoặc biểu
tượng tranh ảnh, mà không chỉ đơn thuần là phụ trợ cho công dụng chính
của sản phẩm đó.
Theo mục đích Chương này, thuật ngữ "đã in" không chỉ bao gồm việc
sao chép bằng một số biện pháp in thủ công (ví dụ, bản in từ bản khắc
hoặc tranh khắc gỗ, trừ các nguyên bản) hoặc in cơ học (in nổi, offset, in
lytô, in ảnh..), mà còn bao gồm việc sao chép bằng các máy nhân bản,
sản xuất bằng việc điều khiển một máy xử lý dữ liệu tự động, rập nổi,
chụp ảnh, photocopy, copy nhiệt hoặc đánh máy (xem Chú giải 2 của
Chương này), không tính đến hình dạng ký tự sử dụng (ví dụ, ký tự bảng
chữ cái, con số, ký hiệu tốc ký (ký hiệu viết tắt), ký hiệu morse hoặc các
ký tự mật mã khác, chữ nổi Braille (ký tự chữ nổi cho người mù), ký
hiệu âm nhạc, hình ảnh, biểu đồ). Thuật ngữ này, tuy vậy, không bao
gồm nhuộm màu hoặc in ấn trang trí hoặc in ấn thiết kế lặp lại.
Chương này cũng bao gồm các sản phẩm tương tự được làm thủ công
(kể cả bản đồ và sơ đồ vẽ tay), cũng như các bản sao thu được trên giấy
than của văn bản viết tay hoặc đánh máy.
Nói chung, các mặt hàng của Chương này được thực hiện trên giấy
nhưng các hàng hóa đó có thể trên các chất liệu khác với điều kiện là
những chất liệu đó có các đặc trưng được mô tả trong đoạn đầu tiên của
Chú giải Tổng quát này. Tuy nhiên, các mẫu tự, con số, biển báo và các
motip tương tự cho các biển hiệu cửa hàng và tủ kính bày hàng, có tranh
minh hoạ hoặc lời được in, bằng sứ, bằng thuỷ tinh, hoặc bằng kim loại
thường thì được lần lượt phân loại trong các nhóm 69.14, 70.20 và
83.10, hoặc trong nhóm 94.05 nếu chúng được chiếu sáng.
Ngoài mẫu chung của các ấn phẩm (sách, báo, tập sách nhỏ, hình ảnh, ấn
phẩm quảng cáo), Chương này còn bao gồm những ấn phẩm như hình đề
can; bưu thiếp, bưu ảnh, thiếp mừng đã in hoặc có hình minh họa; lịch,
bản đồ, sơ đồ và bản vẽ; tem bưu chính, tem thuế hoặc các loại tem
tương tự. Các bản sao thu nhỏ trên nền mờ đục, của sản phẩm thuộc
Chương này, được xếp vào nhóm 49.11. Những bản sao thu nhỏ thu
được thông qua thiết bị quang học thu nhỏ đáng kể kích thước tài liệu
được chụp; để đọc được những bản sao thu nhỏ cần phải dùng đến thiết
bị phóng to.
Chương này cũng không bao gồm:
(a) Phim tạo ảnh âm bản hoặc dương bản trên một nền trong suốt (ví dụ,
microfilm) thuộc Chương 37.
(b) Các sản phẩm của Chương 97.
49.01- Các loại sách in, sách gấp, sách mỏng và các ấn phẩm in
tương tự, dạng tờ đơn hoặc không phải dạng tờ đơn.
4901.10 - Dạng tờ đơn, có hoặc không gấp
- Loại khác:
4901.91 - - Từ điển và bộ bách khoa toàn thư, và các phụ trương
của chúng
4901.99 - - Loại khác
Nói chung, nhóm này bao gồm hầu như tất cả các xuất bản phẩm và ấn
phẩm đọc, có hoặc không có minh hoạ, trừ các ấn phẩm quảng cáo và
sản phẩm được chi tiết cụ thể hơn ở các nhóm khác của Chương này (cụ
thể là nhóm 49.02, 49.03 hay 49.04). Nhóm này bao gồm:
(A) Sách và sách nhỏ bao gồm về cơ bản văn bản các loại, và được in bởi
ngôn ngữ hoặc ký tự bất kỳ, kể cả chữ nổi Braille hoặc chữ tốc ký. Các
ấn phẩm này bao gồm tác phẩm văn học mọi thể loại, sách giáo khoa
(kể cả sách bài tập giáo dục, đôi khi còn được gọi là vở viết), có hoặc
không có chuyện kể, chứa những câu hỏi hoặc bài tập (thường có
khoảng trống để hoàn thành bằng cách viết tay); ấn phẩm xuất bản kỹ
thuật; sách tham khảo như từ điển, bách khoa toàn thư và niên giám (ví
dụ, niên giám điện thoại, kể cả "những trang vàng"); catalog cho bảo
tàng và thư viện công cộng (nhưng loại trừ catalog thương mại); sách
tôn giáo như sách cầu nguyện và sách thánh ca (trừ sách thánh ca nhạc
của nhóm 49.04); sách cho trẻ em (trừ sách tranh, vẽ hoặc tô màu của
trẻ em thuộc nhóm 49.03). Các sách này có thể được đóng (bằng giấy
hoặc bìa mềm hoặc bìa cứng) thành một hoặc nhiều tập, hoặc có thể
dưới dạng các tờ được in bao gồm toàn bộ hoặc một phần tác phẩm và
được thiết kế để đóng lại với nhau.
Vỏ bọc sách, móc cài, dấu sách và các phụ kiện nhỏ khác đi kèm
sách được xem như bộ phận hợp thành của sách.
(B) Sách gấp (brochure), sách chuyên đề (pamphlet) và tờ rơi, gồm
một vài tờ được ghim lại (ví dụ, dập ghim), hoặc các tờ không được
ghim, hoặc thậm chí là các tờ đơn.
Loại này bao gồm các xuất bản phẩm như các luận án khoa học và
tài liệu chuyên khảo ngắn, thông báo hướng dẫn,… do các cơ quan
chính phủ hoặc cơ quan khác ban hành, luận văn ngắn (in thành sách
nhỏ, thường về vấn đề tôn giáo), các tờ thánh ca….
Nhóm này loại trừ các tấm thiệp đã in chứa lời chúc, thông điệp
hoặc thông báo cá nhân (nhóm 49.09), và các dạng đã in có khoảng
trống để điền thêm một số thông tin nhất định (nhóm 49.11).
(C) Văn bản in trên các tờ đóng bằng kẹp cơ động (loose-leaf
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Các loại báo, tạp chí chuyên ngành và các xuất bản phẩm định kỳ
được đóng bìa không phải bìa giấy mềm, và các bộ báo, tạp chí
chuyên ngành hoặc xuất bản phẩm định kỳ được đóng thành tập có
từ 2 số trở lên trong một bìa thì phải được phân loại vào nhóm
49.01, có hoặc không chứa tư liệu quảng cáo.
(2) Sách tranh có gáy (trừ sách tranh cho trẻ em thuộc nhóm 49.03).
(3) Bộ sưu tập các tái bản đã in của tác phẩm nghệ thuật, tranh vẽ..., đi
kèm theo một văn bản liên quan (ví dụ, tiểu sử của nghệ sỹ), có
trang được đánh số và phù hợp để đóng gáy.
(4) Một phụ lục ảnh đi kèm, và bổ sung cho, một tập được đóng gáy
chứa các văn bản có liên quan.
Các xuất bản phẩm ảnh khác bị loại trừ và thường thuộc nhóm 49.11.
Theo Chú giải 3 của Chương này, nhóm này cũng loại trừ tất cả xuất bản
phẩm chủ yếu dành cho việc quảng cáo (kể cả tuyên truyền du lịch) và
các loại được xuất bản bởi thương nhân hoặc đại diện của thương thân
cho các mục đích quảng cáo mặc dù chủ đề không mang tính chất trực
tiếp là quảng cáo. Những xuất bản phẩm quảng cáo này gồm, ví dụ,
catalogue thương mại, niên giám được xuất bản bởi các hiệp hội thương
mại có chứa một phần tư liệu, cùng với một lượng lớn các văn bản
quảng cáo bởi các thành viên của hiệp hội đó và các xuất bản phẩm gây
chú ý tới sản phẩm hoặc dịch vụ mà nhà xuất bản cung cấp. Nhóm này
cũng không bao gồm các xuất bản phẩm có quảng cáo gián tiếp hoặc
ngụy trang, tức là, các xuất bản phẩm, mặc dù chủ yếu nhằm mục đích
quảng cáo, nhưng trình bày có vẻ không giống quảng cáo.
Mặt khác, các xuất bản phẩm như luận văn khoa học được xuất bản bởi
hoặc cho các hãng công nghiệp và các xuất bản phẩm đó chỉ đơn thuần
mô tả xu hướng hoặc tiến trình hoặc các hoạt động của một ngành công
nghiệp hoặc thương mại, nhưng không mang tính quảng cáo trực tiếp
hay gián tiếp có thể được phân loại vào nhóm này.
Nhóm này hơn nữa không bao gồm:
(a) Giấy để copy và giấy chuyển, chứa các văn bản hoặc hình vẽ để sao
lại, được đóng liên tục (nhóm 48.16).
(b) Các nhật ký và sách văn phòng khác thuộc nhóm 48.20, là các loại
mà chủ yếu phải hoàn thành bằng cách viết tay hoặc đánh máy.
(c) Báo, tạp chí và ấn phẩm định kỳ dưới dạng các tờ đơn, chưa được
hoặc được đóng bìa chỉ bằng giấy mềm (nhóm 49.02)
(d) Sách bài tập dành cho trẻ em bao gồm chủ yếu các minh hoạ đi kèm
nội dung mang tính chất bổ sung, dùng làm bài tập viết hoặc dạng
bài tập khác (nhóm 49.03).
(e) Sách âm nhạc (nhóm 49.04).
(f) Tập bản đồ (nhóm 49.05).
(g) Các phần của sách, dù dưới dạng ký hiệu hoặc tờ rời, bao gồm phần
tranh không có văn bản (nhóm 49.11).
49.02- Báo, tạp chí chuyên ngành và các ấn phẩm định kỳ, có hoặc
không có minh họa tranh ảnh hoặc chứa nội dung quảng cáo.
4902.10 - Phát hành ít nhất 4 lần trong một tuần
4902.90 - Loại khác
Đặc điểm phân biệt của các ấn phẩm thuộc nhóm này là chúng được xuất
bản thành số liên tục dưới cùng một tên theo các khoảng thời gian đều
đặn, mỗi số phát hành đều có ghi ngày tháng (thậm chí chỉ ghi đơn giản
về một thời kỳ trong năm, ví dụ, “Mùa xuân 1996”) và thông thường
đánh số thứ tự. Chúng có thể chưa đóng gáy hoặc đã đóng gáy bằng bìa
giấy mềm (in paper), nhưng nếu đóng gáy bằng cách khác hoặc nếu bao
gồm hơn một lần phát hành trong một bìa đơn, chúng bị loại trừ (nhóm
49.01). Các ấn phẩm này thường chủ yếu là nội dung văn bản nhưng
chúng cũng có thể được minh họa phong phú và thậm chí chủ yếu gồm
tranh minh hoạ. Chúng cũng có thể bao gồm nội dung quảng cáo.
Nhóm này bao gồm các loại xuất bản phẩm sau:
(1) Báo, hàng ngày hoặc hàng tuần, xuất bản dưới hình thức các tờ ấn
phẩm chưa đóng gáy chủ yếu bao gồm tin tức thời sự hiện hành có
sự quan tâm chung, thường cùng với các bài viết về các chủ đề về
thời sự, lịch sử, tiểu sử..., sở thích. Chúng cũng thường dành một
lượng không gian đáng kể cho minh hoạ hoặc quảng cáo.
(2) Tạp chí chuyên ngành và các ấn phẩm định kỳ khác, được phát
hành hàng tuần, nửa tháng, hàng tháng, hàng quí hoặc nửa năm,
hoặc dưới dạng như báo hoặc xuất bản dưới dạng ấn phẩm được
đóng gáy. Chúng có thể chủ yếu dành cho việc công bố tin tức về
các vấn đề có tính chất chuyên ngành hoặc các vấn đề theo lĩnh vực
(ví dụ, pháp lý, y tế, tài chính, thương mại, thời trang hoặc thể thao),
trong trường hợp này, chúng thường được xuất bản bởi hoặc cho các
tổ chức quan tâm đến vấn đề này. Hoặc chúng có thể bao gồm vấn
đề quan tâm tổng quát hơn, như tạp chí hư cấu thông thường. Loại
này bao gồm các ấn phẩm định kỳ được phát hành bởi hoặc dưới
danh nghĩa của các hãng công nghiệp (ví dụ, nhà sản xuất ô tô) để
lôi cuốn sự chú ý đối với sản phẩm của họ, các tạp chí thường dành
riêng cho nhân viên của hãng sử dụng..., các tổ chức có liên quan
và các ấn phẩm định kỳ như các tạp chí thời trang có thể được xuất
bản bởi một công ty thương mại hoặc một hiệp hội cho mục đích
quảng cáo.
Các phần của tác phẩm lớn (như sách tham khảo) đôi khi được xuất bản
theo hàng tuần, nửa tháng..., các phần đăng báo mỗi lần vượt quá một
khoảng thời gian giới hạn và đã được xác định trước thì không được xem
như các ấn phẩm định kỳ mà được phân loại vào nhóm 49.01.
Các phụ trương như đồ hoạ, tranh ảnh..., phát hành kèm với báo hoặc ấn
phẩm định kỳ và thường được bán cùng với chúng, được xem như một
phần của các ấn phẩm này.
Giấy phế liệu bao gồm báo cũ, tạp chí chuyên ngành cũ hoặc ấn phẩm
định kỳ cũ thuộc nhóm 47.07.
49.03- Sách tranh ảnh, sách vẽ hoặc sách tô màu cho trẻ em.
Nhóm này giới hạn trong các sách tranh ảnh biên soạn rõ ràng theo mối
quan tâm và sở thích của trẻ em hoặc để hướng dẫn trẻ em các bước đầu
tiên vào bậc tiểu học, với điều kiện tranh ảnh là sự tập trung chính còn
văn bản chỉ mang tính thứ yếu (xem Chú giải 6 của Chương này).
Loại này bao gồm, ví dụ, các sách vỡ lòng có hình ảnh và các sách trong
đó ý nghĩa của câu chuyện được minh hoạ bằng hàng loạt các hình vẽ
kèm theo chú thích giản đơn hay lời kể tóm tắt liên quan đến từng hình
vẽ. Loại này cũng bao gồm những cuốn sách bài tập cho trẻ em bao gồm
chủ yếu các hình vẽ đi kèm theo lời văn mang tính chất bổ sung, dùng
làm các bài tập viết hoặc bài tập khác.
Nhóm này không bao gồm các sách, cho dù được minh hoạ phong phú,
được biên tập dưới hình thức chuyện kể liên tục kèm theo các hình ảnh
minh họa của một số phần chọn lọc. Các ấn phẩm này được phân loại
vào nhóm 49.01.
Các sách thuộc nhóm này có thể được in trên giấy, vật liệu dệt,... và kể
cả các sách vải dành cho trẻ em.
Sách tranh ảnh dành cho trẻ em chứa các minh hoạ có thể chuyển động
được hoặc có hình nổi (“stand-up”) cũng thuộc nhóm này nhưng nếu sản
phẩm này về cơ bản là đồ chơi thì bị loại trừ (Chương 95). Tương tự,
một cuốn sách có hình ảnh dành cho trẻ em chứa các tranh minh hoạ
hoặc các mô hình để cắt ra vẫn được phân loại vào nhóm này với điều
kiện các phần cắt ra chỉ là yếu tố thứ yếu, nhưng nếu hơn một nửa các
trang (kể cả bìa) được thiết kế cho cắt rời, dù toàn bộ hay một phần, thì
sản phẩm đó, thậm chí nếu chứa một tỉ lệ nhất định văn bản, được xem
như đồ chơi (Chương 95).
Nhóm này cũng bao gồm sách học vẽ hoặc tô màu dành cho trẻ em. Loại
này chủ yếu gồm các trang được đóng gáy (đôi khi dưới hình thức bưu
thiếp có thể tháo ra được) chứa các hình ảnh đơn giản để chép lại, hoặc
đường nét của các hình ảnh, có hoặc không có hướng dẫn, để hoàn thành
bằng cách vẽ hoặc tô màu; đôi khi sách còn bao gồm các minh hoạ có tô
màu cho mục đích hướng dẫn. Chúng cũng bao gồm các sách tương tự
có các đường nét hoặc màu “vô hình” (“invisible”), mà có thể hiện lên
bằng cách cọ bằng bút chì hoặc làm ẩm bằng cách dùng chổi vẽ, và cũng
bao gồm các sách trong đó một lượng nhỏ màu nước cần thiết để tô màu
có chứa trong sách (ví dụ, dưới dạng bảng màu).
49.04- Bản nhạc, in hoặc viết tay, đã hoặc chưa đóng thành quyển
hoặc minh họa tranh ảnh.
Nhóm này bao gồm các bản nhạc thuộc mọi thể loại, cho nhạc cụ hoặc
thanh nhạc, đã in hoặc viết tay, đã hay chưa được đóng thành quyển hoặc
được minh họa tranh ảnh, và bằng bất kỳ hệ thống ghi chép nào (ví dụ, phép
xướng âm, ký âm, ký âm số, bản nhạc in nổi dành cho người mù).
Các bản nhạc thuộc nhóm này có thể được in hoặc viết trên giấy hoặc
các chất liệu khác và có thể ở dạng tờ rời (kể cả bìa), sách được đóng
gáy,… có hoặc không có minh họa tranh ảnh hoặc có lời đi kèm.
Ngoài các hình thức phổ biến của bản nhạc được in hoặc viết tay, nhóm
này bao gồm các sản phẩm như sách thánh ca, bản dàn bè (kể cả ở khổ
nhỏ) và sách hướng dẫn âm nhạc (cho dạy kèm), với điều kiện là chúng
bao gồm các bài âm nhạc thực hành hoặc luyện tập cũng như lời chỉ dẫn.
Vỏ bọc ngoài đi kèm với bản nhạc trên được coi như một phần cấu thành
của bản nhạc.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Sách in, catalogue, ..., có chứa các ký hiệu âm nhạc mà chỉ đơn thuần
là bổ trợ hoặc minh họa cho nội dung, ví dụ, một chủ đề hoặc motip
cụ thể đề cập đến trong nội dung của cuốn sách (nhóm 49.01 hoặc
(b) Thẻ, đĩa và trục quay cho nhạc cụ cơ học (nhóm 92.09).
49.05- Bản đồ và biểu đồ thủy văn hoặc các loại biểu đồ tương tự, kể
cả tập bản đồ, bản đồ treo tường, bản đồ địa hình và quả địa
cầu, đã in.
4905.20 - - Dạng quyển
4905.90 - - Loại khác
Nhóm này gồm các quả địa cầu đã in (ví dụ, trái đất, mặt trăng hoặc các
thiên thể), bản đồ, biểu đồ và sơ đồ in nhằm thể hiện các đặc điểm tự
nhiên hoặc nhân tạo của đất nước, thị trấn, vùng biển, vùng trời..., các ký
hiệu quy ước để chỉ đường biên... Bản đồ và biểu đồ có các thông tin
quảng cáo vẫn được phân loại trong nhóm này.
Các sản phẩm này có thể được in trên giấy hoặc các vật liệu khác (ví dụ,
vải), được gia cố hay không, và có thể ở dạng tờ đơn hoặc tờ gấp, hoặc
bao gồm một bộ các tờ trên được đóng lại dưới dạng sách (ví dụ, tập bản
đồ). Các mặt hàng này có thể được gắn với chỉ dẫn di động và con lăn,
và có thể có vỏ bảo vệ trong suốt hoặc các phụ kiện khác.
Nhóm này bao gồm, không kể những cái khác:
Bản đồ địa lý (kể cả các phần của quả địa cầu), bản đồ đường bộ, bản đồ
treo trường, tập bản đồ, bản đồ thủy văn, biểu đồ địa lý và thiên văn,
khảo sát địa chất, bản đồ địa chính (ví dụ, sơ đồ thành phố hoặc huyện).
Nhóm này cũng bao gồm các quả địa cầu đã in có chiếu sáng bên trong,
với điều kiện là chúng không phải là đồ chơi.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Sách có bản đồ hoặc sơ đồ đóng vai trò thứ yếu (nhóm 49.01).
(b) Bản đồ, sơ đồ vẽ tay,…, các bản sao của chúng thu được nhờ giấy
carbon cũng như các bản sao chụp ảnh của chúng (nhóm 49.06).
(c) Ảnh chụp trên không hoặc ảnh toàn phong cảnh, có hoặc không
chính xác về mặt địa chính, với điều kiện chúng không được cấu
thành như bản đồ, biểu đồ hoặc sơ đồ hoàn chỉnh (nhóm 49.11).
(d) Lược đồ được thiết kế bằng hình ảnh minh họa phù hợp để biểu thị
các hoạt động của ngành công nghiệp cụ thể, du lịch hoặc các hoạt
động khác, các phác thảo của hệ thống đường sắt, vv, của một quốc
gia hoặc quận huyện (nhóm 49.11).
(e) Sản phẩm dệt, ví dụ, khăn quàng cổ hoặc khăn tay có in bản đồ để
trang trí (Phần XI).
(f) Bản đồ, sơ đồ và quả cầu, dạng nổi, đã hoặc chưa được in (nhóm 90.23).
49.06- Các loại sơ đồ và bản vẽ cho kiến trúc, kỹ thuật, công nghiệp,
thương mại, địa hình hoặc các mục đích tương tự, là bản gốc
vẽ tay; văn bản viết tay; các bản sao chụp lại bằng giấy có
phủ lớp chất nhạy và bằng giấy than của các loại kể trên.
Nhóm này bao gồm sơ đồ và bản vẽ công nghiệp mà mục đích của
chúng, nhìn chung, nhằm biểu thị vị trí và tương quan giữa các phần
hoặc các đặc trưng của toà nhà, máy móc hoặc các công trình xây dựng
khác như chúng trong thực tế, hoặc để hướng dẫn người xây dựng hoặc
người sản xuất trong việc xây dựng (ví dụ, bản sơ đồ và bản vẽ của kiến
trúc sư hoặc kỹ sư). Các sơ đồ và bản vẽ này có thể bao gồm các chi tiết
kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật,…, đã in hoặc chưa in.
Nhóm này cũng bao gồm các bản vẽ và phác thảo cho mục đích quảng
cáo (ví dụ, bản vẽ thời trang, thiết kế poster, thiết kế đồ gốm, giấy dán
tường, trang sức, nội thất).
Cần lưu ý rằng các sản phẩm này chỉ được phân loại vào nhóm này nếu
bao gồm các bản vẽ gốc hoặc viết bằng tay, hoặc là các bản sao ảnh trên
giấy phủ chất nhạy hoặc bao gồm các bản sao trên giấy carbon của các
bản gốc này.
Bản đồ, biểu đồ và bản vẽ địa chính mà, khi được in thì thuộc nhóm
49.05, thuộc nhóm này nếu là bản gốc được vẽ bằng tay hoặc là bản sao
thực hiện trên giấy carbon hoặc bản sao ảnh trên giấy phủ chất nhạy.
Các văn bản viết bằng tay (kể cả tốc ký nhưng không bao gồm bản
nhạc), và các bản sao bằng giấy carbon của chúng hoặc bản sao ảnh trên
giấy phủ chất nhạy của các văn bản trên, cũng thuộc nhóm này dù được
đóng gáy hay chưa.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Giấy copy và giấy chuyển, chứa văn bản viết tay hoặc đánh máy để
sao lại (nhóm 48.16).
(b) Sơ đồ và bản vẽ đã in (nhóm 49.05 hoặc 49.11).
(c) Văn bản được đánh máy (kể cả bản sao thu được trên giấy carbon) và
bản sao nội dung bản viết tay hoặc đánh máy thu được trên máy sao
chụp (nhóm 49.01 hoặc 49.11).
49.07- Các loại tem bưu chính, tem thuế hoặc tem tương tự chưa
qua sử dụng, loại đang được lưu hành hoặc mới phát hành tại nước
mà ở đó chúng có, hoặc sẽ có giá mặt được công nhận; giấy có dấu
tem sẵn; các loại giấy bạc ngân hàng (banknotes); mẫu séc; giấy
chứng nhận cổ phần, cổ phiếu hoặc trái phiếu và các loại chứng từ
sở hữu tương tự.
Đặc điểm của các sản phẩm thuộc nhóm này là khi được phát hành (nếu
cần thiết, sau khi hoàn thành và hợp thức hoá) bởi một cấp thẩm quyền
thích hợp, chúng có giá trị ủy thác lớn hơn so với giá trị nội tại.
Các sản phẩm này bao gồm:
(A) Tem in nếu chưa được sử dụng (tức là, chưa đóng dấu huỷ) và thuộc
loại đang được lưu hành hoặc mới phát hành tại nước đó mà chúng
có hoặc sẽ có giá trị, mệnh giá được công nhận.
Tem thuộc nhóm này được in trên giấy, thường được bôi chất dính,
đa dạng về thiết kế và màu sắc, và chứa các chỉ dẫn được in về giá
trị của chúng và đôi khi về cách sử dụng hoặc sử dụng cụ thể mà
chúng được dự kiến.
Nhóm này bao gồm:
(1) Tem bưu điện, thường được sử dụng để thanh toán trước cước
phí bưu điện nhưng tại một số nước cũng sử dụng được như tem
thuế (ví dụ, biên lai hoặc chứng nhận). Tem “bưu phí phụ thu”
(“Postage due”) để tính thêm tiền cước cho các lá thư không
dán đủ tem,… cũng được xếp vào đây.
(2) Tem thuế được sử dụng để dán trên tài liệu các loại, tài liệu
pháp lý, tài liệu thương mại,… và đôi khi dán lên hàng hoá như
là bằng chứng đã trả thuế mà số tiền thuế được biểu bị bởi giá
trị của con tem. Tem thuế dưới dạng nhãn dán lên trên một số
loại hàng hoá chịu thuế, như bằng chứng đã thanh toán thuế,
thuộc nhóm này.
(3) Các loại tem khác, ví dụ các loại tem được mua bởi công chúng
như là phương tiện thanh toán, bắt buộc hoặc tự nguyện, cho
nhà nước và các cơ quan công có thẩm quyền, ví dụ, như phần
đóng góp cho phúc lợi nhà nước hoặc các chương trình dịch vụ
xã hội khác hoặc tiết kiệm quốc gia.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Phiếu quà tặng dưới dạng tem đôi khi được các nhà bán lẻ phát
hành cho khách hàng của họ như quà khuyến mại, tem về đề tài
tôn giáo thuộc loại phân phát cho học sinh, tem phát hành bởi
các tổ chức từ thiện... nhằm huy động quỹ hoặc để quảng cáo,
và "tem tiết kiệm" (“savings stamps”) phát hành bởi tổ chức tư
nhân hoặc thuơng mại cho khách hàng (nhóm 49.11).
(b) Tem đã qua sử dụng, và tem chưa sử dụng không lưu hành hoặc
mới phát hành tại nước đến (nhóm 97.04).
(B) Phong bì, thiếp dưới hình thức thư, bưu thiếp... có in sẵn tem,
chứa các phần in hoặc đóng dấu của tem bưu chính chưa bị đóng
dấu hủy loại được mô tả ở trên và đang lưu hành hoặc mới phát
hành tại nước mà chúng có, hoặc sẽ có giá trị, mệnh giá được công
nhận, hoặc hiển thị dấu bưu chính "đã trả cước trước" (“reply
(C) Giấy có dấu tem sẵn khác như mẫu chính thức, mẫu đơn trống (ví
dụ, các văn bản pháp lý phải nộp thuế), được in hoặc rập nổi với tem
thuế.
(D) Các loại giấy bạc ngân hàng (banknotes). Thuật ngữ này bao gồm
các tờ kỳ phiếu thuộc mọi mệnh giá được phát hành bởi nhà nước
hoặc các ngân hàng phát hành được phê chuẩn để sử dụng như tiền
tệ hoặc tiền pháp định cả trong nước phát hành cũng như các nước
khác. Nó bao gồm các loại giấy bạc ngân hàng mà, tại thời điểm
xuất trình, chưa có giá trị hoặc không còn lưu hành pháp lý ở bất cứ
nước nào. Tuy nhiên, các loại giấy bạc ngân hàng là vật phẩm sưu
tập hoặc tạo thành một bộ sưu tập, được phân loại vào nhóm 97.05.
(E) Mẫu séc là các mẫu séc còn để trắng, đã đóng dấu tem hoặc không
đóng dấu tem, thường có bìa bằng giấy, ở dạng cuốn sổ nhỏ, và
được phát hành bởi các ngân hàng, kể cả các ngân hàng bưu điện ở
một số quốc gia, dùng cho khách hàng của họ.
(F) Chứng khoán, cổ phiếu hoặc chứng chỉ trái phiếu và các loại
chứng từ tương tự. Đây là các chứng từ chính thức được phát hành,
hoặc để phát hành, bởi các tổ chức công hoặc tư để trao quyền sở
hữu, hoặc quyền đối với, một số quyền lợi tài chính, hàng hóa hoặc
lợi ích được ghi trên đó. Ngoài các loại giấy chứng chỉ trên, các
chứng từ này bao gồm cả thư tín dụng, hối phiếu, séc du lịch, vận
đơn đường biển, chứng thư sở hữu và phiếu cổ tức. Chúng thường
yêu cầu điền và xác nhận.
Tiền giấy, mẫu séc, và chứng khoán,… các chứng chỉ này thường được
in trên giấy đặc biệt có hình bóng nước đặc biệt hoặc dấu ấn khác, và
thường được đánh số sêri. Tuy nhiên, vé số được in trên giấy an ninh đặc
biệt và được gắn sê ri bị loại trừ khỏi nhóm này và thường được phân
loại vào nhóm 49.11.
Những sản phẩm thuộc loại đã mô tả thuộc nhóm này khi được xuất
trình với một số lượng mang tính giao dịch thương mại, thường bởi cơ
quan có thẩm quyền phát hành, dù các chứng từ trên (ví dụ, cổ phiếu) có
hoặc không yêu cầu điền và xác nhận.
49.08- Đề can các loại (decalcomanias).
4908.10 - Đề can các loại (decalcomanias), dùng cho các sản
phẩm thủy tinh
4908.90 - Loại khác
Đề can các loại (decalcomanias) bao gồm hình vẽ, thiết kế hoặc mẫu tự
một màu duy nhất hoặc nhiều màu, được in lytô hoặc được in cách khác
trên giấy nhẹ, thấm nước (hoặc đôi khi trên một tấm plastic trong suốt
mỏng), được tráng phủ bằng một chế phẩm, như từ tinh bột và keo, để
tiếp nhận hình in mà bản thân nó được phủ một chất kết dính. Giấy này
thường được bồi bằng một lớp hỗ trợ bằng giấy nặng hơn. Đôi khi, đề
can được in trên một nền bằng lá kim loại.
Khi giấy được in đuợc thấm ướt và được gắn bằng một lực nhẹ lên một
bề mặt cố định (ví dụ, thuỷ tinh, gốm sứ, gỗ, kim loại, đá hoặc giấy), lớp
phủ được in hình ảnh,…, được chuyển sang bề mặt cố định trên.
Nhóm này cũng bao gồm đề can kính, tức là, đề can được in nhờ chế
phẩm kính của nhóm 32.07.
Đề can có thể được dùng cho việc trang trí hoặc các mục đích sử dụng
khác, ví dụ, để trang trí trên đồ sứ hoặc đồ thuỷ tinh, hoặc đánh dấu lên
các các sản phẩm khác như xe cộ, máy móc, công cụ.
Đề can được sản xuất và cung cấp chủ yếu cho mục đích giải trí của trẻ
em cũng được phân loại trong nhóm này, cũng như các mặt hàng như
các đề can thêu hoặc dệt kim mà gồm các tờ giấy trên đó các mẫu thiết
kế được phác thảo bằng thuốc màu mà được chuyển, thường sang bề mặt
vải, bằng cách ép với bàn là nóng.
Các sản phẩm được mô tả trên không nên lẫn với tấm che cửa sổ trong
suốt, mà thuộc nhóm 48.14 hoặc 49.11 (xem Chú giải chi tiết của nhóm
trước).
Nhóm này không bao gồm giấy chuyển thuộc loại được gọi là lá phôi
rập hoặc lá phôi khối, được điều chế với một lớp phủ kim loại, bột kim
loại hoặc thuốc màu, và được dùng để in bìa sách, băng mũ... (nhóm
32.12). Giấy chuyển khác, như được sử dụng trong công nghệ in lytô,
thuộc nhóm 48.09 hoặc 48.16 tuỳ theo từng trường hợp.
49.09- Bưu thiếp in hoặc bưu ảnh; các loại thiếp in sẵn chứa lời
chúc, thông điệp hoặc thông báo, có hoặc không có minh hoạ,
có hoặc không có phong bì kèm theo hoặc phụ kiện trang trí.
Nhóm này bao gồm:
(i) Bưu thiếp in hoặc bưu ảnh bất kể chúng mang mục đích cá nhân,
thương mại hay quảng cáo, và
(ii) Các loại thiếp in sẵn chứa lời chúc, thông điệp hoặc thông báo cho
tất cả dịp. Các thiếp in sẵn này có thể có hoặc không có minh họa và
có thể có hoặc không có phong bì kèm theo hoặc phụ kiện trang trí.
Các mặt hàng này đặc biệt bao gồm:
(1) Bưu thiếp ảnh, tức là, các tấm thiếp có các chỉ dẫn đã in về cách sử
dụng như bưu thiếp, và trong đó toàn bộ hoặc phần lớn một mặt là
hình minh hoạ các loại. Các sản phẩm tương tự không có các chỉ
dẫn sử dụng như trên thì được phân loại như tranh ảnh thuộc nhóm
49.11. Các bưu thiếp ảnh này có thể ở dạng tờ hoặc tập. Các bưu
ảnh đã in mà hình minh hoạ không phải là đặc tính chủ yếu (ví dụ,
một số bưu thiếp có quảng cáo hoặc có hình ảnh nhỏ) cũng thuộc
nhóm này. Tuy vậy, các bưu thiếp như vậy, nếu đuợc in hoặc rập nổi
tem bưu chính, bị loại trừ (nhóm 49.07). Nhóm này không bao
gồm các bưu thiếp trơn trong đó các nội dung in chỉ là bổ trợ so với
công dụng chính của chúng (nhóm 48.17).
(2) Thiếp Nô-en, Năm mới, sinh nhật, hoặc các thiếp tương tự.
Chúng có thể ở dạng bưu ảnh, hoặc gồm hai hoặc nhiều tờ gấp đính
lại với nhau, một hoặc nhiều mặt để minh hoạ hình ảnh. Thuật ngữ
"thiếp tương tự" đuợc hiểu là các thiếp sử dụng để thông báo ngày
sinh hoặc lễ rửa tội, hoặc để chuyển lời chúc mừng hoặc lời cảm ơn.
Thiếp in sẵn có thể gắn với các vật liệu trang trí như ruy-băng, dây
buộc, quả tua và đồ thêu, hoặc các mặt hàng trang trí mới lạ như các
hình gấp, hoặc có thể được trang trí bằng bột thuỷ tinh...
Các mặt hàng của nhóm này có thể in trên chất liệu khác giấy, ví dụ,
plastic hoặc gelatin.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Bưu thiếp ảnh dưới dạng tranh, bức vẽ hoặc sách tô màu cho trẻ em
(nhóm 49.03)
(b) Thiếp Nô-en hoặc năm mới,… dưới dạng lịch (nhóm 49.10).
49.10- Các loại lịch in, kể cả bloc lịch.
Nhóm này bao gồm lịch các loại dù chúng đã được in trên giấy, bìa, vải
dệt hay bất cứ chất liệu nào khác, với điều kiện là việc in ấn đem lại cho
sản phẩm đặc tính căn bản của nó. Chúng có thể chứa, ngoài ngày tháng,
các ngày trong tuần..., còn bao gồm các mục thông tin khác nhau, như
chú thích về các sự kiện quan trọng, lễ hội, thiên văn và các dữ liệu
khác, thơ và tục ngữ. Chúng cũng có thể kết hợp tranh ảnh hoặc quảng
cáo. Tuy nhiên, các xuất bản phẩm đôi khi bị gọi sai là lịch mà, mặc dù
có ghi ngày tháng, được xuất bản nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp tin
liên quan đến sự kiện công hoặc tư,... được phân loại vào nhóm 49.01
(nếu không thuộc nhóm 49.11 khi mang tính chất quảng cáo).
Nhóm này cũng bao gồm lịch "vạn niên" hoặc lịch mà blốc có thể thay
thế được được gắn lên nền từ vật liệu không phải bằng giấy hoặc bìa (ví
dụ, như gỗ, plastic hoặc kim loại).
Nhóm này cũng bao gồm các blốc lịch. Chúng gồm một số tờ giấy mà
mỗi tờ được in một ngày cụ thể của năm và được tập hợp theo thứ tự
thời gian ở dạng blốc mà từ đó từng tờ riêng lẻ bị xé đi hàng ngày. Các
blốc này nói chung được sử dụng để đặt trên nền bằng bìa, hoặc để thay
thế hàng năm trong các cuốn lịch có nền có tính lâu dài hơn.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các sản phẩm mà tính chất căn
bản không được xác định bởi sự hiện diện của cuốn lịch.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Tập ghi nhớ kết hợp lịch và nhật ký (kể cả lịch hẹn) (nhóm 48.20).
(b) Phần sau của lịch in không kèm bloc lịch (nhóm 49.11) .
49.11- Các ấn phẩm in khác, kể cả tranh và ảnh in.
4911.10 - Các ấn phẩm quảng cáo thương mại, các catalog
thương mại và các ấn phẩm tương tự
- Loại khác:
4911.91 - - Tranh, bản thiết kế và ảnh các loại
4911.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả ấn phẩm (kể cả ảnh và tranh in) của Chương
này (xem Chú giải tổng quát ở trên) nhưng chưa được chi tiết cụ thể hơn
trong bất kỳ nhóm trước đó của Chương này.
Các tranh và ảnh đã lồng khung cũng được phân loại trong nhóm này khi
đặc tính chủ yếu về tổng thể là do tranh hoặc ảnh đó tạo ra; trong các
trường hợp khác, các sản phẩm như vậy sẽ được phân loại vào nhóm
tương ứng với khung như là sản phẩm bằng gỗ, kim loại,...
Một số ấn phẩm đã in có thể dự định hoàn thành bằng tay hoặc đánh
máy tại thời điểm sử dụng nhưng vẫn được phân loại vào nhóm này với
điều kiện chúng mang tính chất căn bản của ấn phẩm đã in (xem Chú
giải 12 Chương 48). Do đó, các mẫu in sẵn (ví dụ, mẫu đặt tạp chí), vé
du lịch nhiều chặng trống (ví dụ, máy bay, tàu hỏa và xe khách), thư
ngỏ, thẻ và giấy tờ tùy thân và các mặt hàng khác được in với thông
điệp, thông báo…, chỉ yêu cầu điền thêm những nội dung cụ thể (ví dụ,
ngày tháng và tên) được phân loại trong nhóm này. Tuy nhiên, chứng
khoán, cổ phiếu hoặc chứng chỉ trái phiếu và các chứng từ sở hữu tương
tự và các mẫu séc, cũng yêu cầu điền thông tin và xác nhận, được phân
loại trong nhóm 49.07.
Mặt khác, một số sản phẩm văn phòng có phần in chỉ đơn thuần phụ trợ
cho công dụng chính của chúng để viết hoặc để đánh máy được phân
loại vào Chương 48 (xem Chú giải 12 của Chương 48 và cụ thể là Chú
giải chi tiết các nhóm 48.17 và 48.20).
Ngoài các sản phẩm được phân loại rõ ràng ở trên, nhóm này còn
bao gồm:
(1) Các ấn phẩm có mục đích quảng cáo (kể cả áp-phích quảng cáo), các
niên giám và các xuất bản phẩm tương tự chủ yếu dành cho quảng
cáo, catalog thương mại các loại (kể cả danh mục sách hoặc danh
sách nhà xuất bản âm nhạc, và catalog tác phẩm nghệ thuật) và sách
quảng bá du lịch. Tuy nhiên, báo, xuất bản phẩm định kỳ và tạp chí
chuyên ngành, dù chúng có chứa quảng cáo hay không, bị loại trừ
(nhóm 49.01 hoặc 49.02, tuỳ trường hợp).
(2) Sách mỏng có chứa chương trình xiếc, sự kiện thể thao, opera, kịch
hoặc các trình diễn tương tự.
(3) Phần sau của lịch đã in có hoặc không có minh hoạ.
(4) Lược đồ.
(5) Sơ đồ và biểu đồ giảng dạy giải phẫu, thực vật…
(6) Vé vào cửa nơi vui chơi (ví dụ, rạp chiếu phim, nhà hát và buổi hòa
nhạc), vé đi lại bằng phuơng tiện công cộng hoặc tư nhân và các vé
tuơng tự khác.
(7) Bản sao thu nhỏ trên nền giấy mờ của các sản phẩm thuộc
Chương này.
(8) Tấm hình được làm bằng cách in trên màng bằng plastic với các chữ
hoặc ký hiệu được cắt ra và dùng trong công việc thiết kế.
Những tấm hình như vậy được in đơn giản với các dấu chấm, đuờng
kẻ hoặc ô vuông bị loại trừ (Chương 39).
(9) Thiếp lớn và các phong bì có tem đóng dấu ngày phát hành đầu tiên có
minh hoạ không có tem bưu chính (xem phần (D) Chú giải nhóm 97.04).
(10) Hình dán (sticker) đã in tự dính được thiết kế để sử dụng, ví dụ,
công bố, quảng cáo hoặc trang trí đơn thuần, ví dụ, "comic sticker”
và "sticker cửa sổ".
(11) Vé số, "xổ số cào", phiếu rút thăm trúng thưởng (raffle ticket) và vé
Đặc biệt, các mặt hàng sau cũng không thuộc nhóm này:
(a) Âm bản hoặc dương bản ảnh trên phim hoặc trên bản kẽm (nhóm
(b) Hàng hoá thuộc nhóm 39.18, 39.19, 48.14 hoặc 48.21 hoặc các sản
phẩm bằng giấy đã in của Chương 48 trong đó việc in ấn chữ hoặc
hình chỉ là thứ yếu so với mục đích sử dụng chính.
(c) Chữ, số, bảng chỉ dẫn và các họa tiết tương tự cho biển hiệu hoặc tủ kính
cửa hàng, chứa tranh hoặc chữ được in, bằng gốm sứ, bằng thủy tinh,
hoặc bằng kim loại cơ bản, lần lượt thuộc các nhóm 69.14, 70.20 và
83.10, hoặc thuộc nhóm 94.05 nếu chúng được chiếu sáng.
(d) Gương bằng thuỷ tinh trang trí, có khung hay không, có minh họa đã
in trên một mặt (nhóm 70.09 hoặc 70.13).
(e) “Thẻ thông minh” in sẵn (kể cả thẻ hoặc nhãn an ninh) như đã định
nghĩa tại Chú giải 4 (b) của Chương 85 (nhóm 85.23).
(f) Mặt số đồng hồ đã in của dụng cụ hoặc thiết bị thuộc Chương 90
hoặc 91.
(g) Đồ chơi bằng giấy đã in (ví dụ, các tấm cắt dành cho trẻ em), quân
bài và các vật tương tự, và các trò chơi đuợc in khác (Chương 95).
(h) Nguyên bản các bản khắc, bản in và bản in lytô, của nhóm 97.02, tức
là, các vật in trực tiếp, in trắng và đen hoặc in màu, của một hoặc
một số bản kẽm do các nghệ nhân thực hiện thủ công, bất kể quy
trình hoặc chất liệu nào, nhưng không bao gồm quy trình cơ khí
hoặc cơ khí quang học.