PROJECT

CHU GIAI 2022_ CHUONG 39,40

CHU GIAI 2022_ CHUONG 39,40

Chương 39
Plastic và các sản phẩm bằng plastic
Chú giải.
1.-  Trong toàn bộ Danh mục khái niệm “plastic” có nghĩa là các loại
nguyên liệu thuộc các nhóm 39.01 đến 39.14 có khả năng tạo thành
hình dạng dưới tác động bên ngoài (thường là nhiệt độ và áp suất,
nếu cần có thể thêm dung môi hoặc chất hóa dẻo) tại thời điểm
polyme hóa hoặc tại các giai đoạn tiếp theo bằng phương pháp đúc,
đổ khuôn, đùn, cán hoặc các quá trình tạo hình khác và giữ nguyên
hình dạng khi không còn tác động bên ngoài.
        Trong toàn bộ Danh mục, bất kỳ nội dung nào liên quan đến
“plastic” cũng bao gồm sợi lưu hóa. Tuy nhiên, thuật ngữ này không
áp dụng đối với các vật liệu được coi là vật liệu dệt thuộc Phần XI.
2.- Chương này không bao gồm:
(a)  Các chế phẩm bôi trơn của nhóm 27.10 hoặc 34.03;
(b)  Các loại sáp thuộc nhóm 27.12 hoặc 34.04;
(c)  Các hợp chất hữu cơ đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt
(Chương 29);
(d)  Heparin hoặc các muối của nó (nhóm 30.01)
(e)  Các dung dịch (trừ các dung dịch keo) gồm các sản phẩm bất kỳ
được mô tả trong các nhóm 39.01 đến 39.13 trong các dung môi
hữu cơ dễ bay hơi khi trọng lượng dung môi trên 50% tính theo
trọng lượng dung dịch (nhóm 32.08); lá phôi dập thuộc nhóm
(f)  Các chất hoặc các chế phẩm hữu cơ hoạt động bề mặt thuộc
nhóm 34.02;
(g)  Gôm nấu chảy hoặc gôm este (nhóm 38.06);
(h)  Các chất phụ gia đã điều chế dùng cho dầu khoáng (kể cả xăng)
hoặc cho các loại chất lỏng khác sử dụng như dầu khoáng
(nhóm 38.11);
(ij) Các chất lỏng thuỷ lực đã được điều chế từ các polyglycol,
silicon hoặc polyme khác thuộc Chương 39 (nhóm 38.19);
(k) Chất thử chẩn đoán bệnh hoặc chất thử thí nghiệm có lớp bồi

bằng plastic (nhóm 38.22);
(l) Cao su tổng hợp, như định nghĩa của Chương 40, hoặc các sản
phẩm của chúng;
(m) Yên cương hoặc bộ đồ yên cương (nhóm 42.01) hoặc các loại
hòm, vali, túi xách tay hoặc các vật đựng khác thuộc nhóm
(n)  Dây tết bện, các sản phẩm bằng liễu gai hoặc các sản phẩm
khác thuộc Chương 46;
(o) Các loại tấm phủ tường thuộc nhóm 48.14;
(p) Các mặt hàng thuộc Phần XI (nguyên liệu dệt và các sản phẩm
dệt);
(q)  Các mặt hàng thuộc Phần XII (ví dụ, hàng giày dép, mũ và các
vật đội đầu khác, dù, ô che nắng, ba toong, roi da, roi điều khiển
súc vật kéo hoặc các bộ phận của các mặt hàng trên);
(r) Đồ trang sức làm bằng chất liệu khác thuộc nhóm 71.17;
(s) Các mặt hàng thuộc Phần XVI (máy và các thiết bị cơ khí hoặc
điện);
(t) Phụ tùng phương tiện bay hoặc xe thuộc Phần XVII;
(u) Các mặt hàng thuộc Chương 90 (ví dụ, các bộ phận quang học,
gọng kính đeo, dụng cụ vẽ);
(v) Các mặt hàng thuộc Chương 91 (ví dụ, vỏ đồng hồ thời gian
hoặc vỏ đồng hồ cá nhân);
(w) Các mặt hàng thuộc Chương 92 (ví dụ, nhạc cụ hoặc các bộ
phận của nhạc cụ);
(x) Các mặt hàng thuộc Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, đèn
(luminaires) và bộ đèn, biển hiệu được chiếu sáng, nhà lắp
ghép);
(y) Các mặt hàng thuộc Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi,
dụng cụ, thiết bị thể thao); hoặc
(z) Các mặt hàng thuộc Chương 96 (ví dụ, bàn chải, khuy, khoá kéo,
lược, ống tẩu hút thuốc lá, đót thuốc lá hoặc các loại tương tự,
bộ phận bình chân không hoặc các loại tương tự, bút, bút chì

bấm, và chân đế loại một chân (monopods), hai chân (bipods),
ba chân (tripods) và các sản phẩm tương tự).
3.- Các nhóm 39.01 đến 39.11 chỉ áp dụng đối với các mặt hàng được
sản xuất bằng phương pháp tổng hợp hoá học, thuộc các loại sau:
(a) Các loại polyolefin tổng hợp dạng lỏng có hàm lượng dưới 60%
tính theo thể tích cất, thu được bằng phương pháp chưng cất
giảm áp ở nhiệt độ 300oC, áp suất 1.013 milibar (các nhóm
39.01 và 39.02);
(b) Các loại nhựa, chưa được polyme hoá ở mức độ cao, thuộc loại
comarone-indene (nhóm 39.11);
(c) Các loại polyme tổng hợp khác trung bình có tối thiểu 5 đơn vị
monome trong mạch;
(d) Các silicon (nhóm 39.10);
(e) Các resol (nhóm 39.09) và các tiền polyme khác.
4.- Thuật ngữ “copolyme” dùng để chỉ tất cả các loại polyme trong
thành phần của nó không chứa loại monome đơn nào chiếm từ 95%
trở lên tính theo trọng lượng của tổng hàm lượng polyme.
Theo mục đích của Chương này, trừ khi có yêu cầu khác, các
copolyme (kể cả các copolyme ngưng tụ, các sản phẩm copolyme
cộng hợp, các copolyme khối và các copolyme ghép) và các hỗn
hợp polyme pha trộn được xếp vào nhóm các loại polyme của đơn vị
comonome nào chiếm tỷ trọng cao hơn các đơn vị comonome đơn
khác. Theo mục đích của Chú giải này, các đơn vị comonome cấu
thành các polyme thuộc cùng nhóm sẽ cùng được xem xét.
Nếu không có loại comonome đơn nào chiếm tỷ trọng cao hơn, các
copolyme hoặc các hỗn hợp polyme pha trộn trong trường hợp này
sẽ được xếp vào nhóm cuối cùng theo số thứ tự trong các nhóm
tương đương được xem xét.
5.- Các loại polyme đã biến đổi về mặt hoá học, đó là những polyme
mà chỉ có phần thêm vào trong mạch chính polyme bị biến đổi do
phản ứng hóa học, chúng được xếp vào nhóm cùng với các loại
polyme chưa biến đổi. Quy định này không áp dụng đối với các

copolyme ghép.
6.- Trong các nhóm từ 39.01 đến 39.14, thuật ngữ “dạng nguyên sinh”
chỉ áp dụng với những dạng sau:
(a) Dạng lỏng và dạng nhão, kể cả dạng phân tán (dạng nhũ tương
và huyền phù) và dạng hoà tan;
(b) Các khối với hình dạng không đều, cục, bột (kể cả bột đúc
khuôn), hạt, mảnh và các dạng khối tương tự.
7.- Nhóm 39.15 không áp dụng đối với các loại phế liệu, phế thải và
mảnh vụn của một loại vật liệu nhựa nhiệt dẻo đơn, đã được chuyển
sang dạng nguyên sinh (các nhóm từ 39.01 đến 39.14).
8.-  Theo mục đích của nhóm 39.17, thuật ngữ “ống, ống dẫn và ống
vòi” dùng để chỉ các sản phẩm rỗng nòng ở dạng bán thành phẩm
hoặc thành phẩm, loại thường dùng để vận chuyển, dẫn hoặc phân
phối khí hoặc chất lỏng (ví dụ, ống vòi có gân tưới trong vườn, ống
đục lỗ). Thuật ngữ này cũng bao gồm các vỏ xúc xích và các loại
ống cuộn phẳng dẹt (lay-flat tubing) khác. Tuy nhiên, trừ những loại
nêu trong phần cuối này, những sản phẩm có mặt cắt trong không
phải hình tròn, ô van, chữ nhật (chiều dài không quá 1,5 lần chiều
rộng) hoặc dạng hình đa giác đều sẽ không được xem là ống, ống
dẫn và ống vòi, mà phải xem như là ở dạng hình.
9.- Theo mục đích của nhóm 39.18, thuật ngữ “tấm phủ tường hoặc phủ
trần bằng plastic” áp dụng đối với các sản phẩm ở dạng cuộn, có
chiều rộng từ 45 cm trở lên, thích hợp cho việc trang trí tường hoặc
trần, gồm plastic được gắn cố định trên lớp nền bằng vật liệu bất kỳ
trừ giấy, lớp plastic (trên bề mặt) được sơn giả vân, rập nổi, tạo
màu, in các mẫu thiết kế hoặc được trang trí bằng cách khác.
10.- Trong các nhóm 39.20 và 39.21, thuật ngữ “tấm, phiến, màng, lá và
dải" chỉ áp dụng cho các loại tấm, phiến, màng, lá và dải (trừ loại
thuộc Chương 54) và cho các dạng khối hình học đều, đã hoặc chưa
in hoặc được gia công bề mặt bằng cách khác, chưa cắt hoặc được
cắt thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông) nhưng chưa được gia
công thêm (thậm chí khi cắt như vậy chúng trở thành các sản phẩm

có thể dùng ngay được).
11.- Nhóm 39.25 chỉ áp dụng đối với các sản phẩm sau đây, những sản
phẩm không thuộc các nhóm trước của phân Chương II:
(a) Các loại thùng, bể (kể cả bể tự hoại), vại và các loại đồ chứa
tương tự, có dung tích trên 300 lít;
(b) Các cấu kiện dùng trong xây dựng, ví dụ, làm sàn, tường hoặc
vách ngăn, trần hoặc mái nhà;
(c) Ống máng và các phụ kiện của chúng;
(d) Cửa ra vào, cửa sổ và bộ khung của chúng và ngưỡng cửa ra
vào;
(e) Ban công, lan can, hàng rào, cổng và các loại hàng rào chắn
tương tự;
(f) Cửa chớp, rèm che (kể cả mành chớp lật) và các sản phẩm tương
tự và các bộ phận và phụ kiện của chúng;
(g) Các giá, kệ có kích thước lớn để lắp ráp và lắp đặt cố định, ví dụ,
lắp trong cửa hiệu, công xưởng, nhà kho;
(h)  Các cấu kiện kiến trúc trang trí, ví dụ, nếp máng cong, vòm nhà,
chuồng chim câu; và
(ij)  Các phụ kiện và khung giá để lắp cố định ở trong hoặc trên cửa
ra vào, cửa sổ, cầu thang, tường hoặc các bộ phận khác của nhà,
ví dụ, tay cầm, quả đấm, bản lề cửa, công-xon, tay vịn lan can,
thanh vắt khăn mặt, tấm bảo vệ công tắc và các loại tấm bảo vệ
khác.
Chú giải phân nhóm.
1. Trong bất kỳ nhóm nào thuộc Chương này, các polyme (kể cả các
copolyme) và các polyme đã biến đổi về mặt hóa học được phân loại
theo các nguyên tắc sau:
(a) Khi có phân nhóm “Loại khác” trong các phân nhóm cùng cấp:
(1) Việc gọi tên một polyme trong 1 phân nhóm với tiếp đầu
ngữ “poly” (ví dụ, polyetylen và polyamit -6,6) nghĩa là đơn
vị monome cấu thành hoặc các đơn vị monome của polyme

đã được gọi tên phải chiếm 95%  trở lên tính theo trọng
lượng trong tổng thành phần polyme.
(2) Các copolyme được gọi tên trong các phân nhóm 3901.30,
3901.40, 3903.20, 3903.30 và 3904.30 đuợc phân loại vào
các phân nhóm đó, với điều kiện là các đơn vị comonome
của copolyme được gọi tên chiếm 95% trở lên tính theo
trọng lượng trong tổng thành phần polyme.
(3) Các polyme đã biến đổi hóa học được xếp vào phân nhóm
“Loại khác”, với điều kiện các polyme đã biến đổi hóa học
không được mô tả chi tiết hơn trong một phân nhóm khác.
(4) Các polyme không thỏa mãn các điều kiện (1), (2) hoặc (3)
ở trên, sẽ được xếp vào phân nhóm, trong số phân nhóm còn
lại của nhóm, bao gồm các polyme của đơn vị monome có
trọng lượng cao hơn tất cả các đơn vị comonome đơn khác.
Do đó, các đơn vị monome cấu thành các polyme thuộc
cùng một phân nhóm sẽ được xem xét cùng nhau. Chỉ có
các đơn vị comonome cấu thành các polyme trong các phân
nhóm cùng cấp/trong cấp độ các phân nhóm đang xem xét
mới được so sánh.
(b)  Khi không có phân nhóm “Loại khác” trong các phân nhóm
cùng cấp:
(1) Các polyme được phân loại vào phân nhóm bao gồm các
polyme của đơn vị monome có trọng lượng cao hơn tất cả
các đơn vị comonome đơn khác. Do đó, các đơn vị monome
cấu thành polyme thuộc cùng một phân nhóm cũng sẽ được
xem xét cùng nhau. Chỉ có các đơn vị comonome cấu thành
các polyme trong các nhóm được xem xét mới được so sánh.
(2) Các polyme đã biến đổi hóa học được phân loại vào phân
nhóm tương ứng với polyme chưa biến đổi.
Các hỗn hợp polyme pha trộn được phân loại vào cùng một
phân nhóm như các polyme của cùng các đơn vị monome theo

các tỷ lệ giống nhau.
2. Theo mục đích của phân nhóm 3920.43, thuật ngữ “chất hóa dẻo” kể
cả chất hóa dẻo thứ cấp.
TỔNG QUÁT
Nhìn chung, Chương này bao gồm các chất được gọi là polyme và bán
thành phẩm và các thành phẩm của chúng, với điều kiện chúng không bị
loại trừ bởi Chú giải 2 thuộc Chương này.
Các polymer
Các polyme bao gồm các phân tử được đặc trưng bởi sự lặp lại của một
hoặc nhiều loại đơn vị monome.
Các polyme có thể được tạo thành bằng phản ứng giữa một số phần tử
giống nhau hoặc khác nhau về cấu tạo hóa học. Quá trình tạo nên các
polyme đó được gọi là sự polyme hóa. Theo nghĩa rộng, thuật ngữ này
bao gồm một số kiểu phản ứng cơ bản sau đây:
(1)  Quá trình polyme hóa trùng hợp, trong đó các phân tử đơn có liên
kết ethylene chưa bão hòa, phản ứng với nhau bằng quá trình trùng
hợp đơn giản, quá trình đó không tạo ra nước hoặc các sản phẩm
phụ khác, để tạo thành một mạch polyme chỉ chứa liên kết carbon-
carbon, ví dụ, quá trình sản xuất polyethylene từ ethylene hoặc
copolymer ethylene-vinyl acetate từ ethylene và vinyl acetate. Kiểu
polyme hóa này đôi khi được gọi là quá trình polyme hóa đơn giản
hoặc copolyme hóa đơn giản, tức là, polyme hóa hoặc copolyme hóa
theo đúng nghĩa.
(2) Sự polyme hóa chuyển vị, trong đó các phân tử có các nhóm chức
chứa các nguyên tử như oxy, nitơ hoặc lưu huỳnh phản ứng với
nhau bởi trùng hợp và chuyển vị nội phân tử, mà không tạo thành
nước và sản phẩm phụ, để tạo thành một mạch polymer trong đó các
đơn vị monomer được nối liên tục với  nhau bởi các liên kết ete
(ROR), liên kết amide, liên kết urethan hoặc các liên kết khác, ví dụ,
quá trình sản xuất poly(oxymethylene) (polyfomandehyde) từ
fomaldehyde, sản xuất polyamit-6 từ caprolactam, hoặc sản xuất

polyuretan từ polyol và di-isocyanate. Kiểu polyme hóa này cũng
được gọi đa trùng hợp.
(3) Sự polyme hoá ngưng tụ, trong đó các phân tử có các nhóm chức
chứa các nguyên tử như oxy, nitơ hoặc lưu huỳnh, phản ứng với nhau
bởi phản ứng ngưng tụ, có sự tạo thành nước hoặc các sản phẩm phụ
khác, để tạo thành mạch polyme trong đó các đơn vị monome liên kết
liên tục được với nhau bởi liên kết ete, liên kết este amide hoặc các
liên kết khác..., ví dụ, sản xuất poly(etylen terephthalate) từ ethylen
glycol và axit terephthalic hoặc sản xuất polyamit-6, 6 từ
hexametylendiamine và axit adipic. Kiểu polyme hóa này cũng được
gọi là polyme hóa ngưng tụ hoặc đa ngưng tụ.
Các polyme có thể bị biến đổi về mặt hóa học, ví dụ, trong quá trình
hóa
hoặc
quá
trình
chlorosulphonate hóa polyetylen, quá trình acetyl hoá hoặc nitrat
hóa cellulose, hoặc sự thuỷ phân poly(vinyl acetate).
Cụm từ viết tắt cho một số polyme
Nhiều polyme được mô tả trong Chương này cũng được biết đến ở dạng
viết tắt. Dưới đây là một số cụm từ  viết tắt thường sử dụng:
Polyethylene tỷ trọng cao
Polyethylene tỷ trọng thấp
LLDPE Polyethylene cấu trúc thẳng có nhánh
ngắn tỷ trọng thấp

Cần lưu ý rằng các polymer dạng thương phẩm đôi khi chứa nhiều đơn
vị monomer hơn các polymer  theo tên viết tắt của chúng (ví dụ,
polyethylene cấu trúc thẳng có nhánh ngắn tỷ trọng thấp (LLDPE), chủ
yếu là một polymer của etylen, chứa một lượng nhỏ (thường là lớn hơn
5%) các đơn vị monomer alpha-olefin). Hơn nữa, lượng các đơn vị
monomer tương ứng trong một polymer không cần thiết có trật tự giống như nó
tồn tại ở dạng viết tắt của nó (ví dụ, copolymer acrylonitril - butadien - styren
(ABS) chứa styrene như loại đơn vị monomer chiếm đa phần).
Do đó, cụm từ viết tắt của polyme chỉ nên được sử dụng như một chỉ
dẫn. Trong tất cả các trường hợp, việc phân loại cần áp dụng Chú giải
Chương và Chú giải phân nhóm liên quan và trên cơ sở của thành phần

tương ứng của các đơn vị mononer trong một polyme (xem Chú giải 4 và
Chú giải phân nhóm 1 thuộc Chương này).
Thuật ngữ "plastic" được định nghĩa trong chú giải 1 thuộc Chương này
có nghĩa là các vật liệu thuộc các nhóm từ 39.01 đến 39.14, dù đang ở
hoặc có thể đã được tạo thành dưới tác động bên ngoài tại thời điểm
polyme hóa hoặc tại một giai đoạn tiếp sau (thông thường tác động bên
ngoài là nhiệt độ và áp suất, nếu cần thiết thì sử dụng một dung môi hoặc
chất hóa dẻo) bằng phương pháp đúc, đổ khuôn, đùn, cán hay các quy
trình tạo thành hình khác mà giữ nguyên hình dạng khi không còn tác
động bên ngoài. Trong toàn bộ Danh mục, thuật ngữ "plastic" cũng bao
gồm sợi lưu hóa.
Tuy nhiên, thuật ngữ này không ứng dụng đối với các vật liệu liên quan
đến các vật liệu dệt thuộc Phần XI. Nên lưu ý rằng, định nghĩa "plastic"
này được áp dụng trong toàn bộ Danh mục này.
Thuật ngữ "polymer hóa" được sử dụng trong định nghĩa này là theo
nghĩa rộng và dùng để chỉ bất kỳ phương pháp nào tạo thành polymer,
bao gồm sự polyme hóa trùng hợp, sự polyme hóa chuyển vị (đa trùng
hợp) và sự polyme hóa ngưng tụ (đa ngưng tụ)
Nếu vật liệu thuộc Chương này có thể bị mềm hóa nhiều lần bởi quá trình
xử lý nhiệt và tạo hình thành các sản phẩm, ví dụ, bằng các quá trình đúc và
sau đó được làm cứng bằng cách làm lạnh, nó được đặt tên là "plastic nhiệt
dẻo " (thermoplastic). Nếu nó có thể hoặc đã bị làm biến đổi thành một sản
phẩm không nóng chảy bởi các biện pháp hóa học hoặc vật lý (ví dụ, bằng
nhiệt) thì nó được đặt tên là "nhựa phản ứng nhiệt".
Plastic hầu như được ứng dụng vô cùng rộng rãi nhưng nhiều sản phẩm
tạo thành từ chúng được phân loại ở nơi khác (xem Chú giải 2 thuộc
Chương này).
Sự sắp xếp chung của Chương này
Chương này được chia thành hai Phân chương. Phân chương I bao gồm
các polymer ở dạng nguyên sinh và Phân chương II bao gồm phế liệu,

phế thải và mẩu vụn, và bán thành phẩm và thành phẩm.
Trong Phân chương I, liên quan tới các dạng nguyên sinh, các sản phẩm
thuộc các nhóm từ 39.01 đến 39.11 thu được bằng quá trình tổng hợp
hóa học và các sản phẩm thuộc các nhóm 39.12 và 39.13 hoặc là các
polyme tự nhiên hoặc thu được từ đó nhờ xử lý hóa học. Nhóm 39.14
bao gồm các nhựa trao đổi ion làm từ các polymer thuộc các nhóm từ
39.01 đến 39.13.
Trong Phân chương II, nhóm 39.15 liên quan tới các phế liệu, phế thải
và mẩu vụn từ plastic. Các nhóm từ 39.16 đến 39.25 bao gồm các bán
thành phẩm hoặc các thành phẩm cụ thể bằng plastic. Nhóm 39.26 là
một nhóm còn lại bao gồm các sản phẩm chưa được chi tiết hoặc ghi ở
nơi khác, bằng plastic hoặc bằng các vật liệu khác thuộc các nhóm từ
39.01 đến 39.14.
Phạm vi của các nhóm từ 39.01 đến 39.11
Phạm vi của các nhóm này được thực hiện theo Chú giải 3 thuộc
Chương này. Các nhóm này chỉ áp dụng đối với các loại hàng hóa loại
được sản xuất bởi quá trình tổng hợp hóa học, thuộc các loại sau:
(a) Các polyolefin tổng hợp dạng lỏng, chúng là các polymer thu được
từ ethylene, propene, butene hoặc các olefin khác. Chúng được phân
loại trong nhóm 39.01 hoặc 39.02 với điều kiện có hàm lượng dưới
60% tính theo thể tích cất thu được bằng phương pháp chưng cất
giảm áp ở 300 ºC, áp suất 1.013 milibar.
(b) Các loại nhựa, chưa được polyme hoá ở mức độ cao, thuộc loại
coumarone-indene thu được nhờ quá trình copolyme hóa hỗn hợp
monomer (kể cả coumarome hoặc indene) có nguồn gốc từ hắc ín
than (nhóm 39.11).
(c) Các loại polyme tổng hợp khác trung bình có tối thiểu 5 đơn vị
monome trong mạch được cấu thành chuỗi liên tục. Các sản phẩm
này bao gồm các plastic như đã định nghĩa trong Chú giải 1 thuộc
Chương này.
Với mục đích tính toán số lượng trung bình của các đơn vị monome
theo Chú giải Chương 3(c), các polyme của quá trình polyme hóa đa

ngưng tụ và một số polymer chuyển vị nhất định có thể có nhiều
hơn một đơn vị monome trở lên và mỗi một đơn vị monome đó có
cấu tạo hóa học khác nhau. Một đơn vị monome là đơn vị cấu thành
lớn nhất được tạo nên bởi một phân tử monome đơn trong quá trình
polyme hóa. Không nên nhầm lẫn với đơn vị cấu thành lặp lại, đó là
đơn vị cấu thành nhỏ nhất, mà bằng sự lặp lại, mô tả polymer đó,
hoặc nhầm lẫn với thuật ngữ monomer, đó là một phân tử đơn lẻ mà
từ đó có thể hình thành nên các polyme.
Ví dụ:
Mạch polyme sau tồn tại 3 đơn vị monome:
monomer            đơn vị monomer               đơn vị cấu thành
Vinyl chloride                                              lặp lại
(Trong trường hợp này đơn vị  monomer và đơn vị cấu thành lặp lại là
như nhau).
Mạch polyme sau tồn tại 4 đơn vị monomer:

các monomer                               các đơn vị monomer


đơn vị cấu thành lặp lại
(Trong trường hợp này có 2 đơn vị monome khác nhau và đơn vị
cấu thành lặp lại được sinh ra từ một trong mỗi monomer đó).
Mạch polyme tồn tại 6 đơn vị như sau:

(trong đó Ac tương đương với                            )
các monomer     các đơn vị monomer        đơn vị cấu
 ethylene                                                   thành lặp lại
và                            và                       (*)
(*) Trong trường hợp này, các đơn vị monome được định vị
ngẫu nhiên và không áp dụng khái niệm các đơn vị cấu
thành lặp lại.
 (d)  Các silicon là các sản phẩm chưa được xác định về mặt hóa học
trong phân tử chứa hơn một liên kết silic-oxy-silic, và chứa các
nhóm hữu cơ liên kết với các nguyên tử silic bởi các liên kết trực
tiếp silic-carbon (nhóm 39.10).
(e) Các resol (nhóm 39.09) và các tiền polyme khác. Các tiền polyme
là các sản phẩm được đặc trưng bởi một số quá trình lặp lại của các
đơn vị monome mặc dù chúng có thể chứa các monomer không
phản ứng. Các tiền polyme thường không được sử dụng như các

polyme thông thường nhưng chúng được dùng để biến đổi thành các
polyme có trọng lượng phân tử cao hơn bởi quá trình polymer hoá
tiếp theo. Vì vậy thuật ngữ này không bao gồm những sản phẩm
hoàn
chỉnh,
như

(nhóm
hoặc
poly(oxyethylene) (polyetylen glycol) có trọng lượng phân tử thấp
(nhóm 38.24). Các ví dụ về các tiền polyme là các epoxit dựa trên
bisphenol - A hoặc phenol-formaldehyde, được epoxit hóa bằng
epiclorohydrin, và các polymeric isocyanate.
Các copolyme và các polyme pha trộn
Thuật ngữ "copolyme" được định nghĩa ở Chú giải 4 thuộc Chương này,
chúng là các loại polyme trong thành phần của nó không chứa loại
monome đơn nào chiếm từ 95% trở lên tính theo trọng lượng của tổng
hàm lượng polyme.
Do vậy, ví dụ, một polymer chứa 96% đơn vị monome propylene và 4%
các đơn vị monome olefin khác không được xem như một copolyme.
Các copolyme bao gồm sản phẩm copolyme đa ngưng tụ, các sản phẩm
copolyme đa trùng hợp, các copolyme khối và các copolyme ghép.
Các copolyme khối là các copolyme được cấu tạo nên từ ít nhất 2 nhánh
polyme được liên kết với nhau, có sự hợp lại của đơn vị monome khác
nhau (ví dụ, copolyme của etylen và propylen chứa các phân đoạn xen
kẽ của polyethylen và polypropylene).
Các copolyme ghép là các copolyme cấu thành từ những mạch polyme
chính có các mạch polyme phụ với sự hợp lại của đơn vị monome khác
nhau. Các ví dụ là styrene-butadiene copolymer-graft-polystyrene (một
polystyren ghép với một copolyme styren - butadien) và polybutadiene-
Việc phân loại các copolyme (bao gồm copolyme đa ngưng tụ, các sản
phẩm copolyme đa trùng hợp, các copolyme khối và các copolyme ghép)
và các hỗn hợp polyme pha trộn được thực hiện theo Chú giải 4 thuộc
Chương này. Trừ khi có yêu cầu khác, các sản phẩm này phải được phân
loại vào nhóm bao gồm các polymer của đơn vị comonome trội hơn mỗi
đơn vị comonome đơn khác tính theo trọng lượng. Với mục đích này,
các đơn vị comonome cấu thành của các polyme nằm cùng một nhóm

được cùng xem xét, như thể chúng là một đơn vị comonome đơn.
Nếu không có loại comonome đơn nào (hoặc nhóm các đơn vị
comonome cấu thành mà các polyme chúng thuộc cùng một nhóm)
chiếm tỷ trọng cao hơn, các copolyme hay hỗn hợp polyme pha trộn
trong trường hợp này sẽ được xếp vào nhóm cuối cùng theo số thứ tự
trong các nhóm tương đương được xem xét.
Như vậy, ví dụ, một copolyme vinyl chloride-vinyl acetate chứa 55%
đơn vị monome vinyl chloride thuộc nhóm 39.04, nhưng một copolyme
chứa 55% đơn vị monome vinyl acetate thì thuộc nhóm 39.05.
Tương tự, một copolyme gồm các đơn vị monomer 45% etylen, 35%
propylene và 20% isobutylene được phân loại vào nhóm 39.02 bởi vì các
đơn vị monome propylen và isobutylen, mà các polyme của chúng thuộc
nhóm 39.02, cấu thành nên 55% copolyme trên và, khi được xem xét
cùng nhau, vượt trội hơn đơn vị monome ethylen.
Một polyme pha trộn hợp thành từ 55% polyurethane dựa trên toluen
diisocyanate và một polyete polyol, và 45% poly(oxyxylylene) được
phân loại vào nhóm 39.09 bởi vì các đơn vị monome của polyurethan
vượt trội hơn các đơn vị monome của polyete poly(oxyxylylene). Theo
định nghĩa của polyurethan, tất cả các đơn vị monome của một
polyurethan, kể cả các đơn vị monomer của polyete polyol mà tạo thành
hợp phần của polyurethan, được cùng xem xét như các đơn vị monomer
thuộc nhóm 39.09.
Các polyme đã bị biến đổi về mặt hoá học
Các loại polyme đã biến đổi về mặt hoá học, đó là những polyme mà chỉ
có phần thêm vào trong mạch chính polyme bị biến đổi do phản ứng hóa
học, chúng được xếp vào nhóm cùng với các loại polyme chưa biến đổi
(xem Chú giải 5 của Chương này). Quy định này không áp dụng đối với
các copolyme ghép.
Vì vậy, ví dụ, polyetylene đã bị clo hóa và polyetylene đã bị
clorosulphonat hóa được phân loại vào nhóm 39.01.
Các polyme đã bị biến đổi về mặt hoá học để tạo ra các nhóm epoxy

hoạt động, chúng trở thành nhựa epoxy (xem Chú giải chi tiết nhóm
39.07) thì được phân loại vào nhóm 39.07. Ví dụ, các nhựa phenol đã bị
biến đổi về mặt hoá học bởi epichlorohydrin được phân loại như nhựa
epoxy và không được phân loại như nhựa phenol đã bị biến đổi về mặt
hoá học thuộc nhóm 39.09.
Một polyme pha trộn trong đó bất kỳ một trong các polyme cấu thành
nào đã bị biến đổi về mặt hoá học thì được coi như đã bị biến đổi về mặt
hoá học hoàn toàn.
Dạng nguyên sinh
Các nhóm 39.01 đến 39.14 chỉ gồm những hàng hoá ở dạng nguyên sinh.
Thuật ngữ “dạng nguyên sinh” được định nghĩa trong Chú giải 6 của
Chương này. Nó chỉ áp dụng đối với các dạng sau:
(1) Dạng lỏng và bột nhão. Chúng có thể là một polyme cơ sở được “xử
lý” bằng nhiệt hoặc bằng phương pháp khác để tạo ra vật liệu cuối
cùng, hoặc có thể ở dạng phân tán (nhũ tương và huyền phù) hoặc ở
dạng hòa tan của những vật liệu chưa được xử lý hoặc đã xử lý một
phần. Ngoài những chất cần thiết để ‘xử lý” (như là các chất làm
cứng (các tác nhân có liên kết ngang) hoặc là những chất cùng phản
ứng khác và những chất xúc tiến), những chất lỏng hoặc bột nhão
này có thể chứa các vật liệu khác như là chất hoá dẻo, chất làm ổn
định, chất làm đầy (chất độn) và chất màu, chủ yếu nhằm làm cho
sản phẩm cuối cùng có những tính chất vật lý đặc biệt hoặc các đặc
tính mong muốn khác. Các chất lỏng và bột nhão này được sử dụng
để đúc, ép đùn…,và cũng được dùng như các vật liệu thấm, chất phủ
bề mặt, các thành phần cơ bản cho vecni và sơn, hoặc như keo, hồ,
chất làm tăng độ dày, chất tạo bông…
Khi thêm vào một vài chất thì những sản phẩm tạo ra phải đáp ứng
sự mô tả ở một nhóm cụ thể hơn ở nơi khác trong Danh mục, chúng
bị loại trừ khỏi Chương 39; ví dụ, đó là trường hợp với:
(a) Keo đã điều chế- xem loại trừ (b) ở phần cuối của Chú giải tổng
quát này.

(b) Các phụ gia đã điều chế cho dầu khoáng (nhóm 38.11).
Cần phải lưu ý rằng các dung dịch (trừ các chất keo) bao gồm bất kỳ các
sản phẩm được chi tiết trong các nhóm 39.01 đến 39.13 trong các dung
môi hữu cơ dễ bay hơi, khi trọng lượng của dung môi vượt quá 50% so
với trọng lượng của dung dịch thì bị loại trừ khỏi Chương này và thuộc
nhóm 32.08 (xem Chú giải 2(e) của Chương này).
Các polyme dạng lỏng không có dung môi, được nhận biết một cách
rõ ràng nhằm sử dụng một cách độc lập như vecni, (trong đó sự tạo
ra một lớp màng phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm không khí hoặc oxy
trong không khí và không phụ thuộc vào việc thêm chất làm cứng),
thì được phân loại vào nhóm 32.10. Khi không thể nhận biết như
trên thì được xếp vào Chương này.
Các polyme ở dạng nguyên sinh được bổ sung thêm các chất phụ
gia, làm cho sản phẩm phù hợp để sử dụng như ma tít, được phân
loại vào nhóm 32.14.
(2)  Dạng bột, hạt và mảnh. Trong những dạng này, chúng được dùng
để đúc, để sản xuất vecni, keo, hồ,... và cũng được sử dụng như chất
làm tăng độ dày, chất tạo bông... Chúng có thể gồm các vật liệu
chưa được plastic hóa, mà trở thành plastic trong quá trình xử lý và
đúc, hoặc gồm các vật liệu đã được thêm các chất hoá dẻo; những
vật liệu này có thể kết hợp với chất độn (ví dụ, bột gỗ, cellulose, sợi
vải, các chất khoáng, tinh bột), chất màu hoặc những chất khác đã
trích dẫn tại Điểm (1) ở trên. Các loại bột có thể được sử dụng, ví
dụ, để phủ những đối tượng bằng cách sử dụng nhiệt có hoặc không
có tĩnh điện.
(3)  Các khối (block) hình dạng không đều, cục và các dạng khối
tương tự, có hoặc không chứa chất độn, chất màu hoặc những chất
khác được trích dẫn tại Điểm (1) ở trên. Các khối có hình dạng hình
học đều nhau thì không phải ở dạng nguyên sinh và được bao gồm
trong các thuật ngữ “tấm, phiến, màng, lá và dải” (xem Chú giải  10
của Chương này).

Phế liệu, phế thải và mảnh vụn từ vật liệu plastic dẻo nhiệt đơn đã được
chuyển thành các dạng nguyên sinh thì được phân loại vào các nhóm
39.01 đến 39.14 (theo vật liệu) và không thuộc nhóm 39.15 (xem Chú
giải 7 của Chương này).
Ống, ống dẫn và ống vòi
Thuật nhữ “ống, ống dẫn, và ống vòi”, được sử dụng trong nhóm 39.17,
được định nghĩa ở Chú giải 8 của Chương này
Tấm, phiến, màng, lá và dải của nhóm 39.20 hoặc 39.21.
Thuật ngữ “tấm, phiến, màng, lá và dải”, sử dụng trong các nhóm 39.20
và 39.21, được định nghĩa ở Chú giải 10 của Chương này.
Những tấm, phiến,... này, đã hay chưa được gia công bề mặt (kể cả hình
vuông và các hình chữ nhật khác được cắt ra từ chúng), có các cạnh
được mài, được khoan, khắc cạnh, tạo viền, xoắn, tạo khung hay được
gia công cách khác hoặc cắt thành hình dạng  trừ hình chữ nhật (kể cả
hình vuông), thì thường được phân loại vào các nhóm 39.18, 39.19 hoặc
39.22 đến 39.26.
Plastic loại xốp
Plastic loại xốp là các plastic có nhiều lỗ (hoặc hở, hoặc kín hoặc cả hai),
rải rác trong cả khối. Chúng bao gồm plastic bọt, plastic đàn hồi và
plastic xốp mịn hoặc vi xốp. Chúng cũng có thể mềm hoặc cứng.
Plastic loại xốp được sản xuất bởi nhiều phương pháp khác nhau. Chúng
bao gồm việc kết hợp một chất khí vào plastic (ví dụ, bằng cách trộn cơ
học, làm bay hơi một dung môi có điểm sôi thấp, phân huỷ vật liệu tạo ra
khí), trộn các plastic với các quả cầu cực nhỏ có lỗ (ví dụ, bằng thủy tinh
hoặc bằng nhựa phenol), thiêu kết các hạt plastic và trộn plastic với nước
hoặc vật liệu có thể hòa tan trong dung môi mà được lọc khỏi plastic để
lại các lỗ rỗng.
Các sản phẩm kết hợp của plastic với vật liệu dệt
Các tấm phủ tường hoặc trần tuân theo Chú giải 9 thuộc Chương này thì
được phân loại trong nhóm 39.18. Mặt khác, việc phân loại các sản
phẩm kết hợp của plastics với vật liệu dệt về cơ bản được thực hiện theo

Chú giải 1(h) thuộc Phần XI, Chú giải 3 thuộc Chương 56 và Chú giải 2
thuộc Chương 59. Các sản phẩm dưới đây cũng nằm trong Chương này:
(a) Nỉ, phớt được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép plastic, chiếm 50% hoặc
ít hơn tính theo trọng lượng của vật liệu dệt hoặc nỉ, phớt được bọc
hoàn toàn bằng plastic;
(b) Vải dệt và vải không dệt, được bọc hoàn toàn bằng plastic hoặc tráng
hoặc phủ trọn vẹn cả hai mặt với vật liệu đó, với điều kiện sự tráng
và phủ đó có thể nhìn thấy bằng mắt thường mà không cần quan tâm
đến sự thay đổi về màu sắc;
(c)  Vải dệt, đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép bằng plastic, mà
không thể bị bẻ cong bằng tay xung quanh một hình trụ có đường
kính 7 mm, ở nhiệt độ giữa 15 o C và 30o C mà không bị nứt;
(d) Những tấm, phiến và dải bằng plastic xốp kết hợp với vải dệt (như đã
định nghĩa tại Chú giải 1 của Chương 59), phớt, nỉ hoặc vải không
dệt, trong trường hợp vật liệu dệt chỉ đơn thuần là vật liệu để gia cố.
Trong phương diện này, vải dệt, phớt, nỉ hoặc vải không dệt không
có hoa văn, chưa tẩy trắng, đã tẩy trắng hoặc đã nhuộm đồng nhất,
khi gắn vào chỉ một mặt của những tấm, phiến và dải này thì được
coi như chỉ đơn thuần nhằm mục đích gia cố. Các vật liệu dệt đã có
hoa văn, đã in hoặc gia công kỹ lưỡng (ví dụ, làm nhung) và các sản
phẩm đặc biệt, như vải lông mịn, vải tuyn, dải ăngten và các sản
phẩm dệt thuộc nhóm 58.11, được coi là có chức năng vượt quá
chức năng chỉ đơn thuần gia cố.
Những tấm, phiến và dải bằng plastic xốp được kết hợp với vải dệt ở cả
hai mặt, bất kể bản chất vải, bị loại trừ khỏi Chương này (thường thuộc
nhóm 56.02, 56.03 hoặc 59.03).
Các sản phẩm kết hợp của plastic và các loại vật liệu trừ vật liệu dệt
Chương này cũng bao gồm các sản phẩm sau, dù chúng thu được từ một
công đoạn đơn lẻ hoặc bởi nhiều công đoạn nối tiếp nhau, với điều kiện
chúng vẫn giữ được các đặc tính cơ bản của các mặt hàng bằng plastic:
(a)  Các tấm, phiến,..., kết hợp với lớp gia cố, tăng cường hoặc lưới đỡ

bằng một vật liệu khác (sợi kim loại, sợi thuỷ tinh,…) được bọc
(b)  Các tấm, phiến,... bằng plastic, được phân cách bởi một lớp làm từ
một vật liệu khác như lá kim loại, giấy, bìa.
Các sản phẩm gồm giấy hoặc bìa giấy được bao phủ bởi một tấm
bảo vệ mỏng bằng plastics ở cả hai mặt bị loại trừ khỏi Chương này
với điều kiện chúng vẫn giữ được những đặc trưng cơ bản của giấy
hoặc bìa giấy (thường thuộc nhóm 48.11).
(c) Tấm plastic phân tầng được gia cố bằng giấy, và các sản phẩm gồm
một lớp giấy hoặc bìa được tráng hoặc phủ một lớp plastic, lớp
plastic này dày hơn 1/2 tổng bề dày, trừ các tấm phủ tường thuộc
nhóm 48.14.
(d) Các sản phẩm bao gồm các sợi thủy tinh hoặc các tấm giấy, được tẩm
plastic và nén chặt với nhau, với điều kiện chúng có tính chất cứng,
bền. (Nếu có đặc trưng của giấy nhiều hơn hoặc đặc trưng của sợi
thủy tinh nhiều hơn thì chúng được phân loại ở Chương 48 hoặc 70,
tùy theo trường hợp cụ thể).
Các quy định của đoạn trước cũng được áp dụng, với những sửa đổi
thích đáng về chi tiết, đối với các sợi monofilament, các sản phẩm dạng
roi, que, các sản phẩm dạng hình, các loại ống, ống dẫn và ống vòi và
các thành phẩm.
Lưu ý rằng lưới thép mịn và lưới kim loại cơ bản được nhúng một cách
đơn giản trong plastic thì bị loại trừ (Phần XV), ngay cả khi các mắt
lưới bị làm đầy trong quá trình nhúng.
Trong trường hợp các tấm hoặc phiến được tạo thành từ các lớp gỗ và
plastic, trong đó các lớp gỗ chỉ đóng vai trò gia cố hoặc tăng cường cho
lớp plastic, thì chúng được phân loại trong Chương này; trong trường
hợp plastic chỉ có chức năng phụ (ví dụ, khi làm nền cho lớp gỗ bề mặt)
thì bị loại trừ (Chương 44). Lưu ý rằng về mặt này các tấm panel xây
dựng tạo ra từ các lớp gỗ và các lớp plastic được phân loại, như quy  tắc
chung, vào Chương 44 (xem Chú giải tổng quát thuộc Chương đó).

Ngoài các trường hợp được loại trừ như đã đề cập ở Chú giải 2, Chương
này không bao gồm:
(a)  Dạng phân tán cô đặc của chất màu trong các plastic có các tính chất
của các sản phẩm thuộc Chương 32; ví dụ, xem các Chú giải của
nhóm 32.04 (đoạn (I)(C) liên quan tới dạng phân tán cô đặc của
chất màu trong plastic, và đoạn (II)(2) liên quan đến các chất phát
quang hữu cơ, ví dụ, chất rhodamine B trong plastic), nhóm 32.05
(đoạn thứ 7 đề cập đến các chất màu (colour lakes) phân tán cao
trong plastic) và nhóm 32.06 (Phần (A), đoạn thứ 6, phân đoạn (I)
liên quan đến các chất màu khác phân tán cao trong plastic).
(b) Các chế phẩm được chế tạo một cách đặc biệt để sử dụng như các
chất dính, bao gồm các polyme hoặc hỗn hợp của nó thuộc các
nhóm từ 39.01 đến 39.13 mà, ngoài các chất phụ gia được phép
thêm vào các sản phẩm thuộc Chương này (các chất độn, các chất
hóa dẻo, các dung môi, các thuốc màu...), chứa các chất phụ gia
được thêm vào khác không thuộc Chương này (ví dụ, các sáp, este
nhựa thông, sơn cánh kiến (shellac) tự nhiên chưa biến tính) và các
sản phẩm thuộc các nhóm 39.01 đến 39.13 được đóng gói để bán lẻ
như các chất keo hoặc các chất dính, trọng lượng tịnh không quá 1
kg (nhóm 35.06).
(c)  Plastic và các sản phẩm khác của plastic (loại trừ các hàng hóa
thuộc nhóm 39.18 hoặc 39.19), được in motip, ký tự hoặc các biểu
tượng tranh ảnh, không chỉ đơn thuần phụ trợ cho công dụng chính
của sản phẩm (Chương 49).

Chú giải phân nhóm.
Chú giải phân nhóm 1
Chú giải này điều chỉnh việc phân loại các polyme (kể cả các cololyme),
các polyme đã bị biến đổi về mặt hóa học và các polyme pha trộn ở cấp
độ phân nhóm. Tuy nhiên, trước khi các sản phẩm này có thể được phân
loại ở cấp độ phân nhóm, đầu tiên chúng phải được phân loại vào nhóm
thích hợp theo các qui định của các Chú giải 4 và 5 thuộc Chương này
(xem Chú giải tổng quát thuộc Chương này).
Sự phân loại các polyme (kể cả các copolyme) và các polyme đã bị
biến đổi về mặt hóa học
Theo Chú giải phân nhóm 1, các polyme (kể các các copolyme) và các
polyme đã bị biến đổi về mặt hóa học được phân loại phù hợp với các
qui định của phân đoạn (a) của Chú giải này hoặc phân đoạn (b) của
Chú giải này, tùy theo trường hợp có hay không có phân nhóm gọi tên là
"Loại khác" trong các phân nhóm cùng cấp.
Một phân nhóm tên gọi là "Loại khác" không bao gồm các phân nhóm
chẳng hạn như "Các polyeste khác" và "Từ các plastic khác“.  
Thuật ngữ "cùng cấp" áp dụng đối với các phân nhóm cùng cấp, cụ thể,
các phân nhóm một gạch (cấp 1) hoặc các phân nhóm hai gạch (cấp 2)
(xem Chú giải chi tiết của Quy tắc tổng quát 6).
Lưu ý rằng một số nhóm (ví dụ, nhóm 39.07) bao gồm cả hai loại cấp
phân nhóm.
(A) Việc phân loại khi có phân nhóm “Loại khác” trong các phân
nhóm cùng cấp
(1) Phân đoạn (a) (1) thuộc Chú giải phân nhóm 1 định nghĩa các
polyme với tiếp đầu ngữ "poly" (ví dụ, polyetylen và polyamide
-6,6) là những loại mà trong đó đơn vị  monome cấu thành  
hoặc các đơn vị  monome của  polyme được gọi tên cộng lại
chiếm từ 95% trở lên tính theo trọng lượng trong tổng hàm
lượng polyme. Trong trường hợp các loại polyme được gọi tên
với tiếp đầu ngữ "poly" (ví dụ, các polyterpene thuộc phân
nhóm 3911.10), tất cả các đơn vị  monome thuộc cùng một loại
(ví dụ,  những đơn vị monome của terpene khác nhau trong
trường hợp polyterpene) phải chiếm từ 95% trở lên tính theo
trọng lượng của polyme.
Cần nhấn mạnh rằng định nghĩa này chỉ áp dụng đối với các
polyme thuộc các phân nhóm mà chúng có một phân nhóm gọi
là "Loại khác" trong cùng cấp.  
Do đó, ví dụ, một polyme gồm 96% đơn vị monome etylen và
4% đơn vị  monome propylen và có trọng lượng riêng từ 0,94
trở lên (là một polyme thuộc nhóm 39.01 theo Chú giải 4 thuộc
Chương này) thì nên được phân loại như polyetylen trong phân
nhóm 3901.20 bởi vì đơn vị monome etylen chiếm trên 95%
tổng hàm lượng của polyme và có một phân nhóm tên là "Loại
khác" cùng cấp.
Định nghĩa trên về các polyme có tiếp đầu ngữ "poly", khi áp
dụng đối với poly(vinyl alcohol), không đòi hỏi là chúng phải
chứa từ 95% trở lên tính theo trọng lượng là các đơn vị  
monome được gọi tên là "vinyl alcohol”. Tuy  nhiên, nó đòi hỏi
là các đơn vị monome của vinyl acetate và của vinyl alcohol
cộng lại chiếm từ 95% trở lên trọng lượng của polyme.
(2) Phân đoạn (a)(2) của Chú giải phân nhóm 1 đề cập đến việc
phân loại các sản phẩm của các phân nhóm 3901.30, 3901.40,
3903.20, 3903.30 và 3904.30.
Các copolyme được phân loại trong các phân nhóm này phải có
các  đơn vị  monome cấu thành chiếm từ 95% trở lên tính theo
trọng lượng của các polyme được gọi tên trong phân nhóm này.
Do đó, ví dụ, một copolyme gồm các  đơn vị monome 61%
vinyl chloride, 35% vinyl acetate và 4% maleic anhydride (là
một polyme thuộc nhóm 39.04) cần được phân loại như một
copolyme vinyl chloride-vinyl acetate thuộc nhóm 3904.30 bởi
vì các đơn vị monome vinyl chloride and vinyl acetate cộng lại
chiếm 96% tổng hàm lượng của polyme.
Mặt khác, một copolyme bao gồm các đơn vị monome 60%
styren, 30% acrylonitrile và 10% của vinyl toluen (là một
polyme của nhóm 39.03) cần được phân loại trong phân nhóm
3903.90  (tên là "Loại khác") và không thuộc phân nhóm
3903.20 bởi vì các đơn vị  monome styrene và acrylonitrile
cộng lại chỉ chiếm 90% tổng hàm lượng polyme.
(3) Phân đoạn (a) (3) của Chú giải phân nhóm 1 đề cập đến việc
phân loại các polyme đã biến đổi về mặt hóa học. Các polyme
này được phân loại trong phân nhóm được gọi tên là "Loại
khác", với điều kiện là các polyme đã bị biến đổi về mặt hóa
học chưa được chi tiết hơn ở một phân nhóm khác. Hệ quả của
Chú giải này là các polyme đã bị biến đổi về mặt hóa học không
được phân loại trong cùng phân nhóm như các polyme chưa
biến đổi, trừ khi polyme chưa biến đổi này chính nó có thể được
phân loại trong một phân nhóm được gọi là "Loại khác".
Do vậy, ví dụ, polyetylen đã bị clorua hóa hoặc clorosulphonat
hóa, là polyetylen đã bị biến đổi về mặt hóa học thuộc nhóm
39.01, cần được phân loại vào phân nhóm 3901.90 ("Loại khác").
Mặt khác, poly(vinyl alcohol), thu được từ sự thủy phân
poly(vinyl acetate), cần được phân loại vào phân nhóm 3905.30
là phân nhóm chi tiết cụ thể nó.
(4) Phân đoạn (a) (4): Các polyme không thể phân loại theo các
quy định của các đoạn (a) (1), (a) (2) hoặc (a) (3) thì được phân
loại trong phân nhóm được gọi là "Loại khác", trừ khi có một
phân nhóm chi tiết hơn trong cấp đang xem xét, mà bao gồm
các polyme của đơn vị  monome  đó  có  trọng lượng  vượt trội
so với mỗi đơn vị monome khác. Với mục đích này, các đơn vị
monome cấu thành của các polyme thuộc cùng phân nhóm sẽ
được cộng lại. Chỉ các đơn vị monome cấu thành các polyme
trong các phân nhóm cùng cấp đang xem xét mới được so sánh.
Phần mô tả của các phân nhóm chi tiết đó có dạng "các
polyme từ x" "các copolyme x" hoặc "các polyme x" (ví dụ, các
copolyme propylen (phân nhóm 3902.30), các fluoro-polymer
(các phân nhóm 3904.61 và 3904.69).
Để được phân loại trong các phân nhóm này đơn vị monome
được đặt tên trong phân nhóm chỉ cần vượt trội hơn mỗi đơn vị
monome đơn lẻ khác trong cùng cấp đang xem xét. Đó là, đơn
vị monome được đặt tên trong phân nhóm không chiếm hơn
50% tổng hàm lượng của polyme của cấp đang xem xét.
Do đó, ví dụ, một copolyme etylene -propylen gồm các đơn vị
monome 40% etylen và 60% prolylen (là một polyme thuộc
nhóm 39.02) cần được phân loại trong phân nhóm 3902.30 như
một copolyme propylen bởi vì propylen là đơn vị monome cấu
thành duy nhất được xem xét.
Cũng như vậy, một copolyme chứa các đơn vị monome gồm 45%
etylen, 35%  propylen và 20% isobutylen (là một polyme thuộc
nhóm 39.02) thì được phân loại trong phân nhóm 3902.30 bởi vì chỉ
có các đơn vị monome của propylen và isobutylen là cần phải so
sánh (không xem xét đơn vị monome etylen) và đơn vị monomer
propylene vượt trội hơn đơn vị monomer isobutylene.
Mặt khác, một copolyme gồm các đơn vị monome 45% etylen, 35%
isobutylen và 20% propylen (là một  polyme thuộc nhóm 39.02)
được phân loại trong phân nhóm 3902.90 bởi vì chỉ có các đơn vị
monome isobutylen và propylen là cần được so sánh và đơn vị
monome isobutylen trội hơn đơn vị monome propylen.
(B) Việc phân loại khi không có phân nhóm nào tên là "Loại khác"
cùng cấp
(1) Phân đoạn (b) (1) thuộc Chú giải phân nhóm 1 hướng dẫn việc
phân loại các polyme vào phân nhóm chi tiết các polyme của
đơn vị monome mà trội hơn mỗi đơn vị monome đơn lẻ khác về
mặt trọng lượng, khi không có phân nhóm tên là "Loại khác"
cùng cấp. Với mục đích này, thì các đơn vị monome cấu thành
các polyme thuộc cùng phân nhóm được cùng xem xét.
Phương pháp này tương tự như phương pháp phân loại được ghi
trong Chú giải 4 thuộc Chương này đối với việc phân loại các
polyme ở cấp độ nhóm.  
Khái niệm về tính vượt trội của một đơn vị monome áp dụng,
trừ khi các polyme chứa các đơn vị monome không thuộc các
phân nhóm đang xem xét. Trong các trường hợp đó, chỉ các  
đơn vị monome có liên quan đến các polyme trong cấp phân
nhóm đang xem xét mới được so sánh.
Do  đó,  ví dụ, các polyme đa  ngưng tụ của ure và phenol với
formaldehyde (là các polyme thuộc nhóm 39.09) thì được phân
loại trong phân nhóm 3909.10 nếu đơn vị monome của ure trội
hơn đơn vị monome phenol, và thuộc phân nhóm 3909.40 nếu  
đơn vị  monome  phenol vượt trội, bởi vì không có phân nhóm
tên là "Loại khác" trong các phân nhóm cùng cấp.
Nên nhớ rằng định nghĩa về các polyme với tiếp đầu ngữ "poly"
theo  đoạn  (a) (1) thuộc Chú giải phân nhóm 1 không áp dụng
đối với các phân nhóm thuộc loại này.
Do đó, ví dụ, các copolyme có các đơn vị monome cấu thành từ
cả polycarbonate và poly(ethylene terephthalate), được phân
loại vào phân nhóm 3907.40 nếu đơn vị monomer
polycarbonate trội hơn và vào phân nhóm 3907.61 hoặc
3907.69 nếu đơn vị monomer poly(ethylene terephthalate) vượt
trội, vì không có phân nhóm tên là "Loại khác" trong các phân
nhóm cùng cấp.
(2) Phân đoạn (b) (2) thuộc Chú giải phân nhóm 1 đề cập đến việc
phân loại các polyme đã bị biến đổi về mặt hóa học. Các
polyme này được phân loại trong cùng phân nhóm như polyme
chưa bị biến đổi khi không có phân nhóm được tên là "Loại
khác" trong các phân nhóm cùng cấp đang xem xét.
Do đó,  ví dụ, nhựa phenolic đã acetyl hóa (là các polyme thuộc
nhóm 39.09) được phân loại trong phân nhóm 3909.40 như các
loại nhựa phenolic, bởi vì không có phân nhóm tên là "Loại
khác" cùng cấp.
Sự phân loại các polyme pha trộn
Đoạn cuối cùng của Chú giải phân nhóm 1 hướng dẫn việc phân loại các
polyme pha trộn. Các polyme pha trộn này được phân loại trong cùng
phân nhóm nếu như chúng là các polyme có cùng các đơn vị monome
với tỷ lệ như nhau.
Các ví dụ sau đây minh họa sự phân loại các polyme pha trộn:
Một polyme pha trộn có trọng lượng riêng lớn hơn 0,94 bao gồm
96% polyetylen và 4% polypropylen thì được phân loại trong phân
nhóm 3901.20 như polyetylen vì đơn vị monome etylen chiếm hơn
95% hàm lượng polyme.
Một polyme pha trộn bao gồm 60% polyamit - 6 và 40% polyamit-
6,6 được phân loại vào phân nhóm 3908.90 ("Loại khác") bởi vì
những đơn vị monome cấu thành của các polyme này không chiếm
từ 95% trở lên tổng hàm lượng polyme tính theo trọng lượng.
Một polyme pha trộn gồm polypropylene (45%), polybutylene
terephthalate (42%) và polyethylene isophthalate (13%) được phân
loại trong nhóm 39.07 bởi  vì những đơn vị  monome cấu thành của
hai polyeste cộng lại vượt quá đơn vị monome propylene. Các  đơn
vị

isophthalate) được xem xét mà không quan tâm đến việc chúng có
thể kết hợp trong các polyme riêng biệt trong hỗn hợp pha trộn như
thế nào. Trong ví dụ này, một trong số các đơn vị monomer của
poly(ethylene isophthalate) và một đơn vị monomer khác trong số
các đơn vị monomer của poly(butylene terephthalate) là các đơn vị
monomer tương tự như các đơn vị monome cấu thành của
poly(ethylene terephthalate). Tuy nhiên, polyme pha trộn trên được
phân loại vào phân nhóm 3907.99 bởi vì, khi chỉ xem xét các đơn vị  
monome polyeste, các đơn vị monome cấu thành của “polyeste
khác”, trong tỷ lệ đúng của phản ứng, vượt trội hơn các đơn vị
monome của poly(ethylene terephthalate)
Phân chương I
CÁC DẠNG NGUYÊN SINH
39.01- Các polyme từ etylen, dạng nguyên sinh.
3901.10 - Polyetylen có trọng lượng riêng dưới 0,94
3901.20 - Polyetylen có trọng lượng riêng từ 0,94 trở lên
3901.30 - Các copolyme etylen-vinyl axetat
3901.40 - Các copolyme etylene-alpha-olefin, có trọng lượng
riêng dưới 0,94
3901.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm polyetylen và polyetylen đã bị biến đổi về mặt hóa
học (ví dụ, polyetylen đã bị clo hóa và polyetylen đã bị clorosulphonate
hóa). Nhóm này cũng bao gồm copolyme etylen (ví dụ, các copolyme
etylen-vinyl axetate và các copolyme etylen-propylen) trong đó etylen là
đơn vị comonome vượt trội. Để phân loại các polyme (kể cả các
copolyme), các polyme đã bị biến đổi về mặt hoá học và polyme pha
trộn, xem Chú giải tổng quát thuộc Chương này.
Polyetylen là một vật liệu trong mờ có ứng dụng rất rộng rãi. Polyetylen
có tỷ trọng thấp (LDPE), tức là, polyetylen có trọng lượng riêng ở 20°C
thấp hơn 0,94 (tính trên cơ sở polyme không có phụ gia), được sử dụng
rộng rãi như màng đóng gói chuyên dùng cho thực phẩm, để tráng phủ
giấy, ván sợi, lá nhôm... vật cách điện, và để sản xuất nhiều sản phẩm đồ
gia dụng khác nhau, sản xuất đồ chơi... Polyetylen tỷ trọng cao (HDPE)
là polyetylen có trọng lượng riêng ở 20°C từ 0,94 trở lên (tính trên cơ sở
polyme không có phụ gia). Nó được sử dụng trong sản xuất một số sản
phẩm đúc thổi và đúc phun, bao tải dệt thoi, các bình chứa xăng và dầu,
để ép đùn ống... Các ứng dụng của copolyme etylen-vinyl acetat bao
gồm các loại nút ấn, làm lớp lót của các vật chứa đựng đóng gói hai lần
và đồ bọc căng. Nhóm này cũng bao gồm các copolyme etylen-alpha-
olefin cấu trúc thẳng có tỷ trọng thấp (LLDPE) cũng như các copolymer
khác (thể dẻo), có trọng lượng riêng dưới 0,94 và có hàm lượng các
monomer alpha-olefin từ 25% trở lên nhưng dưới 50% tính theo trọng
lượng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Polyetylen tổng hợp dạng lỏng không đáp ứng các yêu cầu của Chú
giải 3(a) thuộc Chương này (nhóm 27.10).
(b) Các loại sáp polyetylen (nhóm 34.04).  
39.02- Các polyme từ propylen hoặc từ các olefin khác, dạng nguyên
3902.30 - Các copolyme propylen
3902.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các polyme từ tất cả các loại olefin (tức là, các
hydrocarbon mạch  hở có một hoặc nhiều nối đôi) trừ etylen. Những
polyme quan trọng của nhóm này là polypropylen, polyisobutylen và các
copolyme propylen. Để phân loại các polyme (kể cả các copolyme), các
polyme đã bị biến đổi về mặt hóa học và các polyme pha trộn, xem Chú
giải tổng quát thuộc Chương này.
Các đặc tính vật lý chung của polypropylen tương tự như các đặc tính
vật lý chung của polyetylen tỷ trọng cao. Polypropylene và các
copolyme propylen cũng có ứng dụng rất rộng rãi, ví dụ, màng bao gói,
các bộ phận đúc của ôtô, một số dụng cụ, các vật dụng gia đình..., lớp
bọc dây dẫn và dây cáp, nắp hộp thực phẩm, các sản phẩm được dát
mỏng và tráng phủ, các loại chai, khay và vật chứa đựng để chứa thiết bị
chính xác, đường ống, các lớp lót thùng chứa, đường ống cho nhà máy
hóa chất, lớp bồi của thảm chần sợi vòng.
Polyisobutylene khi được polyme hóa một cách thích hợp thì nó giống như
cao su nhưng nó không được phân loại trong Chương 40 bởi vì nó không phù
hợp với định nghĩa của cao su tổng hợp. Nó được sử dụng để làm lớp bảo vệ
chống thấm nước và để làm thay đổi các chất plastic khác.
Polyisobutylen, được polyme hóa một chút và thỏa mãn các yêu cầu của
Chú giải 3(a) thuộc Chương này, nên nó cũng được bao gồm trong nhóm
này. Nó là chất lỏng sền sệt được sử dụng để làm thay đổi một số tính
chất của dầu bôi trơn.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm polyisobutylen tổng hợp dạng
lỏng hoặc các polyolefin tổng hợp dạng lỏng khác không thỏa mãn các
yêu cầu của Chú giải 3(a) thuộc Chương này (nhóm 27.10).
39.03 - Các polyme từ styren, dạng nguyên sinh.
3903.11  - - Loại giãn nở được
3903.19  - - Loại khác
3903.20  - Các copolyme styren-acrylonitril (SAN)
3903.30  - Các copolyme acrylonitril-butadien-styren (ABS)
3903.90  - Loại khác
Nhóm này bao gồm polystyren và các copolyme từ styren. Những
copolyme quan trọng nhất từ styren là copolyme styrene- acrylonitrile
(SAN), các copolyme acrylonitrile-butadiene-styrene (ABS) và các
copolyme styren-butadien. Hầu hết các copolyme styren-butadiene với
số lượng đáng kể của butadiene đáp ứng các yêu cầu của Chú giải 4
thuộc Chương 40 và do đó được phân loại vào Chương 40 như cao su
tổng hợp. Để phân loại các polyme (kể cả các copolyme), các polyme đã
biến đổi về mặt hóa học và các polyme pha trộn, xem Chú giải Tổng
quát thuộc Chương này.
Polystyren không trương nở là một vật liệu không màu, trong suốt, nhựa
nhiệt dẻo, nó được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp điện và
công nghiệp sóng vô tuyến. Nó cũng được dùng làm các loại bao bì đóng
gói, ví dụ, trong việc đóng gói thực phẩm và mỹ phẩm. Nó cũng được sử
dụng trong sản xuất đồ chơi, vỏ đồng hồ và các loại đĩa máy hát.
Polystyrene (xốp) đã trương nở chứa khí có từ quá trình trương nở và có một tỷ
khối thấp. Nó được sử dụng rộng rãi như một vật liệu cách nhiệt cho các loại
cửa tủ lạnh, vỏ máy điều hòa không khí, các thiết bị giữ lạnh, tủ đông trưng
bày, và trong công nghiệp xây dựng. Nó cũng được sử dụng trong sản xuất bao
bì sử dụng một lần và trong việc sản xuất đồ dùng thực phẩm  
Một số copolyme từ styrene nhất định đã biến đổi về mặt hóa học là các
chất trao đổi ion (nhóm 39.14).
Các copolyme styren-acrylonitrile (SAN), có độ bền cao, khả năng chịu
dập khuôn tốt và bền  hóa học, chúng được sử dụng để sản xuất các loại
tách, cốc vại, bàn phím đánh máy chữ, các bộ phận của tủ lạnh, một số
bát lọc dầu và dụng cụ nhà bếp. Các copolyme Acrylonitrile- butadiene-
styrene (ABS), chúng có độ bền cơ học và độ bền thời tiết cao, chúng
được sử dụng trong sản xuất các bộ phận và phụ kiện của thân xe có
động cơ, cánh cửa tủ lạnh, điện thoại, chai lọ, gót giày, vỏ máy móc, ống
dẫn nước, các tấm panel xây dựng, các bình,...  
39.04 - Các polyme từ vinyl clorua hoặc từ các olefin đã halogen hóa
khác, dạng nguyên sinh.
3904.10 - Poly (vinyl clorua), chưa pha trộn với bất kỳ chất nào
khác
⦁    Poly (vinyl clorua) khác:
3904.21  - - Chưa hóa dẻo
3904.22  - - Đã hóa dẻo
3904.30  - Các copolyme vinyl clorua-vinyl axetat
3904.40  - Các copolyme vinyl clorua khác
3904.50  -  Các polyme vinyliden clorua
⦁    Các floro-polyme:
3904.69  - - Loại khác
3904.90  - Loại khác
Nhóm này bao gồm poly(vinyl chlorua) (PVC), các copolyme vinyl
clorua, các polyme vinyliden clorua, các fluoropolymer và các polyme từ
các olefin đã bị halogen hóa khác. Để phân loại các polyme (kể cả các
copolyme), các polyme đã bị biến đổi về mặt hóa học và các polyme pha
trộn, xem Chú giải Tổng quát thuộc Chương này.  
PVC là một vật liệu cứng không màu có độ bền nhiệt hạn chế và có xu
hướng bám dính lên bề mặt kim loại khi bị gia nhiệt. Vì đặc tính  này và
một vài  lý do khác, thường cần thiết phải bổ sung thêm các chất ổn định,
chất hóa dẻo, chất trương nở, chất độn… để trở thành plastic hữu dụng.. Ở
dạng tấm dễ uốn PVC được sử dụng rộng rãi như một vật liệu chống thấm
nước cho các loại màn cửa, tạp dề, áo mưa..., và như một vật liệu giả da cao
cấp để bọc đệm và trang trí nội thất trong tất cả loại các phương tiện chuyên
chở hành khách. Các tấm PVC cứng ứng dụng để sản xuất vỏ bọc, ống dẫn,
lớp lót thùng và nhiều sản phẩm khác cho thiết bị nhà máy hóa chất. Gạch
lát nền nhà PVC cũng được dùng rất phổ biến.
Các copolyme quan trọng nhất của vinyl chlorua là các copolyme vinyl
clorua-vinyl axetat, chúng được sử dụng chủ yếu để làm đĩa hát và sàn
nhà.
Các copolyme của vinyliden clorua được sử dụng rộng rãi để sản xuất
bao bì đóng gói các sản phẩm  thực phẩm, bọc đệm, sản xuất sợi, bàn
chải và lớp phủ ngoài latex và sử dụng trong sản xuất ống dẫn cho các
thiết bị xử lý hóa học.
Polytetrafluoroethylene (PTFE) là một trong những fluoro-polymer quan
trọng nhất có những ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp điện, công
nghiệp hoá chất và các ngành kỹ thuật. Vì có nhiệt độ vận hành cao nên  
nó là vật liệu cách điện rất tốt và do nó kháng hoá chất nên hầu như nó
không dễ bị phá huỷ.  
Các fluoro-polymer khác bao gồm các polyme của
39.05- Các polyme từ vinyl axetat hoặc từ các vinyl este khác, dạng
nguyên sinh; các polyme vinyl khác ở dạng nguyên sinh.
3905.12  - - Dạng phân tán trong môi trường nước
3905.19 - - Loại khác
3905.21  - - Dạng phân tán trong môi trường nước
3905.29  - - Loại khác
39.05.30  - Poly (vinyl alcohol), có hoặc không chứa các nhóm
axetat chưa thuỷ phân
⦁    Loại khác:
3905.91  - - Các copolyme
3905.99  - - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả các polyme vinyl trừ loại thuộc nhóm 39.04.
Một polyme vinyl là một polyme mà monome của nó có công thức  
trong đó liên kết C―X không phải là liên kết carbon
⦁    carbon mà cũng không phải là liên kết carbon-
hydro. Các Polyvinyl xeton, trong đó liên kết C―X
là một liên kết carbon-carbon, do vậy, bị loại trừ
(nhóm 39.11).
Các polyme từ vinyl acetat hoặc từ các este vinyl khác, trong đó
poly(vinyl acetate) là quan trọng nhất, không phù hợp để sản xuất các
sản phẩm vì chúng quá mềm và đàn hồi. Nói chung, chúng được sử dụng
để điều chế sơn mài, các loại sơn, các loại chất kết dính, các chất thấm
tẩm và hoàn tất cho ngành dệt... Các chất hòa tan và các chất phân tán
(nhũ tương và huyền phù) của poly(vinyl acetate) được sử dụng, ví dụ,
như các chất dính.
Poly(vinyl alcohol) thường được điều chế bằng sự thuỷ phân poly(vinyl
acetate). Poly(vinyl alcohol) có giá trị sử dụng tuỳ thuộc vào hàm lượng
nhóm acetat vinyl chưa bị thuỷ phân. Chúng là các chất tạo nhũ tương và
các chất phân tán tốt và chúng được sử dụng như các chất keo bảo vệ,
các chất  dính, chất kết dính và các chất làm dày trong các loại sơn, dược
phẩm và mỹ phẩm và trong ngành dệt. Sợi được sản xuất từ poly(vinyl
alcohol) thích hợp để làm quần áo lót, chăn, quần áo...
Các Polyvinyl acetal có thể được điều chế bởi phản ứng giữa  poly(vinyl
alcohol) với một aldehyde như là formaldehyde hoặc butyraldehyde,
hoặc bởi phản ứng giữa poly(vinyl acetate) với một aldehyde.
Các polyme vinyl khác bao gồm các polyvinyl ete, poly(vinyl carbazole)
và poly(vinyl pyrrolidone).  
Để phân loại các polyme (kể cả các copolyme), các polyme đã bị biến
đổi về mặt hoá học và polyme pha trộn, xem Chú giải Tổng quát của
Chương này.
39.06 - Các polyme acrylic dạng nguyên sinh.
3906.90 - Loại khác
Thuật ngữ "các polyme acrylic" bao gồm các polyme của acrylic hoặc
axit methacrylic, của các muối hoặc este của chúng, hoặc của các
aldehyde, các amit hoặc nitril tương ứng.
Poly(methyl methacrylate) là polyme quan trọng nhất trong loại này. Do
có tính chất quang học tốt và có độ bền vật lý nên nó được sử dụng như
vật liệu kính, trong các biển hiệu ngoài trời và các sản phẩm trưng bày
khác, và trong sản xuất mắt giả, kính áp tròng và răng giả.
Các Polyme từ acrylonitrile có thể được sử dụng trong sản xuất sợi tổng
hợp.
Để phân loại các polyme (kể cả các copolyme), các polyme đã bị biến
đổi về mặt hóa học và polyme pha trộn, xem Chú giải Tổng quát thuộc
Chương này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các polyme acrylic là các chất trao đổi ion (nhóm 39.14).
(b) Các copolyme từ acrylonitrile thỏa mãn các yêu cầu của Chú giải 4
thuộc Chương 40 (Chương 40).
39.07 – Các polyaxetal, các polyete khác và nhựa epoxit, dạng
nguyên sinh; các polycarbonat, nhựa alkyd, các este polyallyl
và các polyeste khác, dạng nguyên sinh.  
3907.10 -  Các polyaxetal
⦁    Các polyete khác:
3907.30 - Nhựa epoxit
3907.40 - Các polycarbonat
3907.50 - Nhựa alkyd
3907.61  - - Có chỉ số độ nhớt từ 78 ml/g trở lên
3907.69 - - Loại khác
⦁    Các polyeste khác:
3907.91 - - Chưa no
3907.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Các Polyaxetal. Các polyme thu được từ một aldehyde, thường là
formaldehyde, và được đặc trung bởi sự có mặt của các chức axetal
trong mạch polyme. Chúng không lẫn với các polyvinyl acetal của
nhóm 39.05, trong đó chức acetal là chức thay thế trong mạch
polyme. Họ của các plastic này bao gồm các copolyme acetal và
được xem như các plastic kỹ thuật, được sử dụng để làm giá đỡ,
bánh cam, vỏ bọc thiết bị ôtô, quả đấm cửa, bộ đẩy không khí và
bơm, gót giày, đồ chơi cơ học, các phụ tùng lắp ráp bên trong đường
ống...
(2) Các polyete khác. Các polyme thu được từ các epoxide, glycol hoặc
các vật liệu tương tự và đặc trưng bởi sự có mặt của chức ete trong
mạch polyme. Chúng không bị nhầm lẫn với các polyvinyl ete thuộc
nhóm 39.05, trong đó các chức ete là các chức thay thế trên mạch
polyme. Các polyme quan trọng nhất của nhóm này là
poly(oxyethylene) (polyethylene glycol), polyoxypropylene và
polyphenylene oxide (PPO) (được gọi tên chính xác hơn là
poly(dimethylphenylene-oxide)). Các sản phẩm này có công dụng
đa dạng, PPO được sử dụng, như các polyacetal, như các plastic kỹ
thuật, polyoxypropylen như là trung gian của xốp polyurethane.
Nhóm này cũng bao gồm các dẫn xuất đã pegylat hóa (pegylated) (các
polyetylen glycol (hay các PEG)) của các sản phẩm thuộc Chương 29
(Phân chương I đến X và các nhóm 29.40 và 29.42).
Sản phẩm đã pegylat hóa mà các dạng chưa pegylate hóa của chúng
được phân loại hoặc trong Chương 29 (các nhóm 29.36 đến 29.39 và
29.41) hoặc trong Chương 30 thì bị loại trừ và nhìn chung vẫn được
phân loại trong cùng nhóm với dạng chưa pegylat hóa của chúng.  
(3) Các nhựa epoxide. Các polyme được điều chế, ví dụ, bằng cách ngưng
tụ epichlorohydrin (1-chloro-2,3-epoxypropane) với bisphenol A
(4,4’-isopropylidenediphenol), nhựa novolak (phenolic) hoặc các hợp
chất polyhydroxy khác hoặc bằng cách epoxide hóa các polyme chưa
no. Bất kể cấu trúc cơ bản nào của polyme, các nhựa này đều được đặc
trưng bởi sự có mặt của các nhóm epoxide hoạt động, cho phép chúng
sẵn sàng tạo liên kết ngang tại thời gian sử dụng, ví dụ, bằng cách thêm
một hợp chất amino, một axit hữu cơ hoặc anhydride, một phức chất
boron trifloride hoặc một polyme hữu cơ.
Nhựa epoxide có nhiều loại từ dạng lỏng có độ nhớt thấp đến các dạng
rắn có điểm chảy cao; chúng được sử dụng như các chất phủ bề mặt, như
các chất keo dính, như các loại nhựa dùng để đúc hoặc đổ khuôn...
Các loại dầu thực vật hoặc động vật đã được epoxide hóa được phân
loại ở nhóm 15.18.
(4) Các polycarbonate. Các polyme thu được, ví dụ, bằng cách ngưng
tụ bisphenol A với phosgene phosgene (carbonyl chloride) hoặc
diphenyl carbonate và được đặc trưng bởi sự có mặt của các chức
carbonic este trong mạch polyme. Chúng có một số ứng dụng công
nghiệp, đặc biệt là trong các sản phẩm đúc và được sử dụng như một
vật liệu kính.
(5) Các  polyeste. Các polyme này được đặc trưng bởi sự có mặt của các
chức este carboxylic trong mạch polyme và chúng thu được, ví dụ,
bởi sự ngưng tụ một polyhydric alcohol và một polycarboxylic axit.
Do vậy chúng được phân biệt với các polyvinyl este thuộc nhóm
39.05 và các polyacrylic este thuộc nhóm 39.06, trong đó các nhóm
este là các nhóm thay thế trên mạch polyme. Các polyeste bao gồm:
(a) Các nhựa alkyd. Các sản phẩm đa ngưng tụ của rượu đa chức và
axit đa chức hoặc các anhydride của chúng, một trong số chúng tối
thiểu phải có một phần hoặc toàn bộ từ ba nhóm chức trở lên, được
biến đổi bằng các chất khác chẳng hạn như các axit béo hoặc các
loại dầu thực vật hoặc động vật, các axit hoặc rượu đơn chức,
colophan. Chúng không bao gồm các alkyd không dầu (xem Mục
(e) dưới đây). Các loại nhựa này được sử dụng chủ yếu như các chất
phủ và trong các loại vecni cao cấp và thường được sử dụng ở dạng
sệt hoặc dạng hòa tan.
(b) Các polyallyl este. Một loại polyeste chưa no đặc biệt (đối với
thuật ngữ “chưa no” xem Mục (e) dưới đây) thu được từ các este
của allyl alcohol với axit dibazơ, ví dụ, diallyl phthalate. Chúng
được sử dụng như các chất keo dính mỏng, các chất phủ, vecni và
trong các ứng dụng đòi hỏi độ truyền qua của vi sóng (microwave
(c) Poly(ethylene terephthalate) (PET). Polyme nói chung được tạo ra
bởi quá trình este hoá axit terephtalic với etylen glycol hoặc thu được
từ phản ứng của dimetyl terephthalat với etylen glycol. Ngoài việc
được sử dụng rất nhiều trong công nghiệp dệt, nó cho ứng dụng, ví dụ  
trong việc sản xuất các loại màng bao gói, băng ghi âm, các loại chai
đựng nước ngọt. Poly(ethylene terephthalate) có chỉ số độ nhớt từ
78 ml/g trở lên thường được sử dụng cho việc sản xuất chai.
Chỉ số độ nhớt từ 78 ml/g trở lên tương ứng với giá trị độ nhớt đặc
trưng (intrinsic viscosity) từ 0.7 dl/g trở lên.
Chỉ số độ nhớt được tính theo tiêu chuẩn ISO Standard 1628-5.
(d) Poly(axit lactic), còn có tên gọi là polylactide. Thường được tạo ra
từ axit lactic thu được bằng phương pháp tổng hợp hoặc bằng cách
lên men (phương pháp này sử dụng các loại nguyên liệu thô gồm có
chủ yếu là các hexose hoặc các hợp chất mà có thể dễ dàng bị tách
thành hexose, ví dụ, các đường, mật đường, nước ép củ cải đường,
các loại rượu sulphite, whey hoặc tinh bột). Axit lactic được chuyển
hóa thành một hợp chất nhị trùng lactide vòng, cấu trúc vòng này bị
phá vỡ trong bước polyme hóa cuối cùng. Các ứng dụng của nó bao
gồm sợi dệt, vật liệu bao gói và vật liệu dùng trong y học.
(e) Các polyeste khác. Các polyeste này có thể chưa no hoặc no.
Các polyeste chưa no là các polyeste có liên kết không no kiểu
etylen để chúng có thể sẵn sàng (hoặc sẵn có) liên kết ngang với các
monome chứa liên kết chưa no etylen để tạo các sản phẩm nhựa
phản ứng nhiệt. Các polyeste chưa no bao gồm các este polyalkyl
(xem Mục (b) ở trên) và các polyeste khác (kể cả các alkyd không
dầu) dựa trên một axit chưa no, ví dụ, axit maleic hoặc axit fumaric.
Các sản phẩm này, thường ở dạng tiền polyme lỏng, được sử dụng
chủ yếu để sản xuất màng bọc được gia cố bằng sợi thủy tinh và các
sản phẩm đúc phản ứng nhiệt trong suốt.
Các polyeste no bao gồm các polyme dựa trên axit terephthalic, ví dụ,
poly(butylene terephthalate), và các loại nhựa alkyd không dầu no.
Chúng được sử dụng rộng rãi cho màng và sợi dệt.
Để phân loại các polyme (kể cả các  copolyme), các polyme đã bị biến
đổi về mặt hóa học và polyme pha trộn, xem Chú giải Tổng quát thuộc
Chương này.
39.08 - Các polyamide dạng nguyên sinh.
3908.10 - Polyamide-6, -11, -12, -6,6, -6,9, -6,10 hoặc -6,12
3908.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các polyamide và các copolyme của chúng. Các
polyamide mạch thẳng được xem như là các nylon.
Các polyamide thu được bằng quá trình polyme hóa ngưng tụ của các
axit hữu cơ hai bazơ (ví dụ, axit adipic, axit sebacic) với các diamin hoặc
của một số axit amino nhất định (ví dụ, axit 11-aminoundecanoic) hoặc
bằng quá trình polyme hóa chuyển vị của các lactam (ví dụ, epsilon-
Một số polyamide kiểu nylon quan trọng là polyamide-6, polyamide-11,

polyamide-6,12. Các ví dụ về polyamide không phải là mạch thẳng là các sản
phẩm ngưng tụ của các axit dầu thực vật đã nhị trùng hóa với các amine.
Các polyamide có độ bền kéo cao và độ chống va đập cao. Chúng cũng
có độ bền hóa học rất tốt, đặc biệt đối với các hydrocacbon, xeton và
este thơm và  béo.
Ngoài công dụng như vật liệu dệt, các polyamide có ứng dụng rộng rãi
như các plastic nhiệt dẻo trong quá trình đúc. Chúng cũng được sử dụng
như các chất phủ, các chất dính, màng bao gói. Trong các dung môi,
chúng có công dụng đặc biệt như dầu bóng.
Để phân loại các polyme (kể cả các copolyme), các polyme đã bị biến
đổi về mặt hoá học và polyme pha trộn, xem Chú giải Tổng quát thuộc
Chương này.
39.09 - Nhựa amino, nhựa phenolic và các polyurethan, dạng nguyên
3909.10 -  Nhựa ure; nhựa thioure
3909.20 -  Nhựa melamin
⦁    Nhựa amino khác:
3909.31 - - Poly(methylene phenyl isocyanate) (MDI thô,
3909.39 - - Loại khác
3909.40 -  Nhựa phenolic
3909.50 - Các polyurethan
Nhóm này bao gồm:
(1) Các nhựa amino
Chúng được tạo bởi quá trình ngưng tụ các hợp chất amine hoặc hợp
chất amide với các aldehyde (formaldehyde, furfuraldehyde,…).
Quan trọng nhất là các nhựa ure (ví dụ, urea-formaldehyde), nhựa
thioure (ví dụ, thiourea-formaldehyde), nhựa melamine (ví dụ,

nhựa
(ví
dụ,
Các nhựa này được sử dụng để sản xuất các sản phẩm bằng plastic
trong suốt, trong mờ hoặc sáng màu và được sử dụng nhiều cho việc
đúc bàn và đồ trang trí và đồ điện. Ở dạng hòa tan và dạng phân tán
(nhũ tương và huyền phù), (đã hoặc chưa bị biến đổi bằng các loại
dầu, axít béo, rượu, hoặc các polyme tổng hợp khác) chúng được sử
dụng như các loại keo và như các loại hồ vải,... (Xem Chú giải Tổng
quát thuộc Chương này, phần loại trừ (b), đối với việc phân loại các
loại keo).
Poly (methylene phenyl isocyanate) (thường được gọi là “MDI
thô”,
hoặc
diisocyanate”)  là chất lỏng mờ đục, nâu sẫm tới trong suốt, hơi
nâu và được tổng hợp bởi phản ứng của aniline và formaldehyde
để tạo thành một hỗn hợp của các oligomer (methylene
phenylamine), sau đó phản ứng lại với phosgene và nhiệt để tạo
thành chức isocynate tự do. Sản phẩm này là một loại polyme đã
biến đổi về mặt hóa học của aniline và formaldehyde (một nhựa
amino đã biến đổi về mặt hóa học). Nó chứa MDI tinh khiết hoặc
các hỗn hợp oligomer MDI. Xem cấu trúc hóa học dưới đây:
Các loại nhựa polyamine, chẳng hạn như poly(ethylene amines), không
phải là nhựa amino và thuộc nhóm 39.11 khi chúng thỏa mãn các yêu
cầu của Chú giải 3 thuộc Chương này.
(2) Các nhựa phenolic
Nhóm này bao gồm một lượng lớn các vật liệu nhựa thu được từ quá
trình ngưng tụ phenol hoặc đồng đẳng của nó (cresol, xylenol...), hoặc
các phenol thay thế, với các aldehyde như formaldehyde, acetalaldehyde,
furfuraldehyde... Bản chất các sản phẩm thay đổi tùy theo các điều kiện
khác nhau của phản ứng và dù nó bị biến đổi khi đưa các chất khác vào.
Do vậy, nhóm này bao gồm:
(a) Resins (novolaks), chúng thường dễ nóng chảy và hòa tan trong
rượu hoặc các dung môi hữu cơ khác, và chúng được điều chế ở môi
trường axit. Chúng được sử dụng để điều chế vecni và bột đúc
khuôn,...
(b) Các nhựa phenolic phản ứng nhiệt, chúng thu được ở môi trường
kiềm. Trong quá trình điều chế thì thu được một loạt các sản phẩm kế
tiếp nhau. Trước tiên là các resol ở dạng lỏng, dạng bột nhão hoặc
dạng rắn, chúng được sử dụng như các chất căn bản của vecni, các
chất thấm... Thứ hai, các resitol ở dạng bột đúc khuôn, và cuối cùng,
sau khi phản ứng kết thúc, là các resite, thông thường ở dạng thành
phẩm chẳng hạn như dạng tấm, phiến, que, ống hoặc các sản phẩm
khác, nói chung được phân loại ở các nhóm 39.16 đến 39.26.
Một số nhựa thuộc loại này là các nhựa trao đổi ion và thuộc nhóm
(c) Các nhựa phenolic tan trong dầu (tan trong các loại dầu khô) được
điều chế từ butylphenol, amylphenol, parahydroxydiphenyl hoặc các
hợp chất phenol thay thế khác. Chúng được sử dụng chủ yếu trong
sản xuất vecni.
(d) Các sản phẩm dựa trên các loại nhựa liên quan tới các loại nhựa
thuộc mục (a), ( b) và (c) ở trên bị biến đổi nhờ sự kết hợp của
colophan hoặc các loại nhựa tự nhiên khác, các loại nhựa tổng hợp
(đặc biệt là nhựa alkyd), các loại dầu thực vật, rượu, axit hữu cơ và
các hóa chất khác mà nó có tác động đến khả năng hòa tan của chúng
trong dầu khô. Các sản phẩm này được sử dụng trong điều chế vecni
và các loại sơn, sử dụng như các chất phủ bề mặt hoặc các chất thấm.
(3) Các polyurethane
Loại này bao gồm tất cả các polyme được điều chế bởi phản ứng của
các hợp chất isocyanate đa chức với các hợp chất polyhydroxy, chẳng
hạn như dầu thầu dầu, butane-1,4-diol, polyete polyols, polyeste
polyol. Polyurethane tồn tại ở các dạng khác nhau, trong số đó quan
trọng nhất là xốp, đàn hồi, và các chất phủ. Chúng cũng được sử
dụng như các chất kết dính, các hợp chất đúc và sợi. Các sản phẩm
này thường được bán như là một phần của một bộ hoặc hệ thống đa
thành phần.
Nhóm này cũng bao gồm các hỗn hợp của polyurethane và
diisocyanate đa chức không phản ứng (ví dụ, toluene diisocyanate).  
Để phân loại các polyme (kể cả các copolyme), các polyme đã bị biến
đổi về mặt hóa học và các polyme pha trộn, xem Chú giải Tổng quát
thuộc Chương này.
39.10 - Các silicon dạng nguyên sinh.
Những silicon thuộc nhóm này là các sản phẩm chưa được xác định về
mặt hóa học, trong phân tử chứa hơn một liên kết silic-oxy-silic, và chứa
các nhóm hữu cơ liên kết với các nguyên tử silic bằng các liên kết trực
tiếp silic-carbon.
Chúng có độ bền cao và cũng có thể ở dạng lỏng, bán lỏng hoặc rắn. Các
sản phẩm này bao gồm dầu silicon, mỡ silicon, nhựa silicon và các chất
đàn hồi silicon.
(1) Các loại dầu silicon và mỡ silicon được sử dụng như các chất bôi
trơn giữ nguyên độ ổn định ở nhiệt độ cao hoặc thấp, như các sản
phẩm thấm tẩm chống nước, như các sản phẩm điện môi, như các
chất ngăn chặn bọt khí, như các chất tháo khuôn... Các chế phẩm bôi
trơn bao gồm các hỗn hợp chứa dầu hoặc mỡ silicon thuộc nhóm
27.10 hoặc 34.03 tùy từng trường hợp cụ thể (xem phần Chú giải chi
tiết tương ứng).
(2) Các nhựa silicon chủ yếu được dùng cho sản xuất vecni, vật liệu phủ
chống thấm nước hoặc vật liệu cách ly... trong trường hợp đòi hỏi
độ bền ở nhiệt độ cao. Chúng cũng được sử dụng trong quá trình sản
xuất các vật liệu dát mỏng với sợi thủy tinh, amiăng hoặc mica như
các vật liệu gia cố, như các khuôn đúc mềm và vỏ bọc điện.
(3) Các chất đàn hồi silicon, mặc dù không thuộc định nghĩa của cao su
tổng hợp trong Chương 40, có độ giãn không bị thay đổi ở nhiệt độ
thấp hoặc nhiệt độ cao. Đặc tính này giúp chúng phù hợp để sản
xuất thành các vòng đệm hoặc các vỏ bọc khác cho các thiết bị chịu
nhiệt độ thấp hoặc cao. Một ứng dụng trong lĩnh vực y học là sản
xuất các van não tự động sử dụng trong các trường hợp tràn dịch
não.
Để phân loại các polyme (bao gồm copolyme), các polyme đã bị biến
đổi về mặt hóa học và các polyme pha trộn, xem Chú giải Tổng quát
thuộc Chương này.
Nhóm này không bao gồm các silicon thỏa mãn các điều kiện của Chú
giải 3 thuộc Chương 34 (nhóm 34.02).
39.11- Nhựa từ dầu mỏ, nhựa cumaron-inden, polyterpen,
polysulphua, polysulphon và các sản phẩm khác đã nêu trong
Chú giải 3 của Chương này, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi
khác, dạng nguyên sinh.
3911.10 - Nhựa từ dầu mỏ, nhựa cumaron, nhựa inden hoặc nhựa
cumaron-inden và polyterpen
3911.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các sản phẩm sau đây:
(1) Nhựa từ dầu mỏ, nhựa cumaron, indene hoặc nhựa coumarone-
indene và các polyterpene tạo ra  một  nhóm các loại nhựa, chưa
được polyme hóa sâu, được điều chế bởi quá trình polyme hóa các
phân đoạn ít nhiều không tinh khiết thu được, một cách tương ứng,
từ việc chưng cất dầu mỏ đã được cracking sâu, từ hắc ín than hoặc
từ turpentine hoặc từ các nguồn terpene khác. Chúng được sử dụng
trong các chất keo và các chất phủ và thường được kết hợp để trở
thành chất làm mềm trong cao su hoặc plastic, ví dụ, được sử dụng
trong gạch lát sàn nhà.
(2) Các Polysulphite là các polyme được đặc trưng bởi sự có mặt của
các liên kết monosulphite trong mạch polyme, ví dụ, poly(phenylene
sulphide). Trong các polysulphide mỗi một nguyên tử lưu huỳnh
được liên kết cả hai phía bởi các nguyên tử carbon, do đó chúng đối
nghịch với các chất dẻo có chứa  lưu huỳnh (thioplast) thuộc
Chương 40, mà chứa các liên kết sulphur-sulphur. Các polysulphide
được sử dụng làm chất phủ và các sản phẩm đúc, ví dụ, các bộ phận
của máy bay và ôtô, các cánh quay của bơm.
(3) Các Polysulphone là các polyme được đặc trưng bởi sự có mặt của
các liên kết sulphone trong mạch polyme, ví dụ, sản phẩm thu được
bởi phản ứng giữa muối natri của bisphenol A (4,4’-isopropylidene-
diphenol) với bis (4-chlorophenyl) sulphone. Chúng được sử dụng
trong sản xuất các linh kiện thuộc ngành điện, đồ gia dụng...
(4) Các polyme với các nhóm isocyanate, chưa được chi tiết hay ghi ở
nơi khác, chẳng hạn như:
(a) Các Polyurea dựa trên hexamethylene diisocyanate (HDI),
tổng hợp bởi phản ứng của HDI với nước để sản xuất các tiền
polyme với số đơn vị monome trung bình giữa 3 và 4. Các sản
phẩm này được sử dụng trong sản xuất sơn và vecni.
(b) Các Polyisocyanurate dựa trên hexamethylene diisocyanate
(HDI), tổng hợp bởi phản ứng của HDI để sản xuất các tiền
polyme với các liên kết isocyanurate giữa các đơn vị monome.
Các tiền polyme có số đơn vị monome trung bình giữa 3 và 5.
Các sản phẩm này được sử dụng trong sản xuất sơn và vecni.
(5) Các sản phẩm khác được chi tiết trong Chú giải 3 của Chương
bao gồm nhựa polyxylene, poly (1,4 diisopropylbenzene), polyvinyl
xeton, polyethyleneimines và polyimides.
Để phân loại các polyme (kể cả các copolyme), các polyme đã biến đổi
về mặt hóa học và hỗn hợp polyme pha trộn, xem Chú giải Tổng quát
của Chương này.
39.12 - Xenlulo và các dẫn xuất hóa học của nó, chưa được chi tiết
hoặc ghi ở nơi khác, dạng nguyên sinh.
⦁    Các axetat xenlulo:
3912.11 - - Chưa hóa dẻo
3912.12 - - Đã hóa dẻo
3912.20 - Các nitrat xenlulo (bao gồm cả dung dịch dạng keo)
⦁    Các ete xenlulo:
3912.31 - - Carboxymethylcellulose và các muối của nó
3912.39 - - Loại khác
3912.90 - Loại khác
Cellulose là một carbohydrate có trọng lượng phân tử cao, tạo thành cấu
trúc rắn của chất liệu thực vật. Nó được chứa trong cotton ở trạng thái
hầu như là tinh khiết. Cellulose chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác, ở
dạng nguyên sinh, thì thuộc nhóm này.  
Cellulose tái sinh là một vật liệu trong suốt, sáng bóng thường thu được
nhờ quá trình kết tủa và keo tụ khi dung dịch kiềm của cellulose xanthate
được đẩy vào bể axit. Nó thường ở dạng tấm mỏng, trong suốt thì được
phân loại vào nhóm 39.20 hoặc 39.21, hoặc ở dạng các sợi filament dệt
thì thuộc Chương 54 hoặc 55.
Sợi lưu hóa, được điều chế bằng quá trình xử lý giấy hoặc các tấm bột
giấy cellulose bằng kẽm clorua, nó thường ở dạng que, ống, phiến, tấm
hoặc dải và do đó cũng bị loại trừ (thường thuộc nhóm 39.16, 39.17.
39.20 hoặc 39.21).
(B) CÁC DẪN XUẤT HÓA HỌC CỦA CELLULOSE
Nhóm này bao gồm các dẫn xuất hóa học của cellulose, chúng được xem
như một thành phần cơ bản trong quá trình sản xuất plastic cũng như các
mục đích khác.
Các dẫn xuất hóa học chủ yếu của cellulose, đã hoặc chưa hóa dẻo, là:
(1) Các axetat xenlulo. Các chất này được điều chế bằng cách xử lý
cellulose (thường là các xơ bông cotton hoặc các loại bột giấy gỗ
hóa học hòa tan) bằng acetic anhydride và axit acetic với sự có mặt
của một chất xúc tác (ví dụ, axit sulphuric). Khi thêm  các chất hóa
dẻo thì chúng có thể tạo thành các plastic không dễ cháy và thích
hợp cho việc đúc phun ép. Thông thường chúng tồn tại ở dạng bột,
hạt nhỏ hoặc hoà tan. Các acetate xenlulo tồn tại ở dạng tấm, màng,
que, ống... bị loại trừ (thường thuộc nhóm 39.16, 39.17. 39.20 hoặc
(2) Các nitrate xenlulo (nitrocellulose). Các sản phẩm này được điều
chế bởi quá trình xử lý cellulose (thường là xơ bông coton) bằng
hỗn hợp axit nitric và axit sulphuric. Chúng có khả năng bốc cháy
cao và là các dạng được nitrat hóa cao hơn (bông thuốc súng) được
sử dụng trong các chất nổ; vì lý do an toàn trong quá trình vận
chuyển chúng phải được làm ẩm bằng rượu, phổ biến là rượu etyl,
isopropyl hoặc butyl, hoặc được làm ẩm hoặc làm dẻo hóa bằng các
este phthalate. Nitrate cellulose được dẻo hóa bằng long não
(camphor) với có mặt của rượu tạo ra celluloid. Celluloid thường là
các dạng tấm, màng, que hoặc ống, hoặc các dạng bị ép, đùn khác,
và khi đó bị loại trừ khỏi nhóm này (thường thuộc nhóm 39.16,
39.17, 39.20 hoặc 39.21); nó không phù hợp cho đúc phun ép và do
đó không được xem như bột đúc khuôn.
Nitrate cellulose trộn với các loại chất hóa dẻo khác được sử dụng rộng
rãi như một thành phần cơ bản của vecni, và với mục đích này có thể ở
dạng các chiết xuất khô hoặc các chiết xuất bột nhão. Các dung dịch
chứa nitrocellulose trong hỗn hợp ete (dietyl ete) và rượu (etanol) là
các collodion mà chúng cũng được bao gồm ở đây. Nếu dung dịch này
được làm bay hơi một phần thì celloidin thu được ở dạng rắn.
(3) Cellulose acetate butyrate và cellulose propionate.  Đây là các este
cellulose tạo thành các plastic có đặc tính chung giống nhau như các
chất tạo ra bởi cellulose acetate.
(4) Các ete cellulose. Quan trọng nhất là carboxymethyl cellulose,
methyl cellulose, và hydroxyethyl cellulose. Chúng tan trong nước
và được sử dụng như chất làm đặc hoặc như các loại keo (xem Chú
giải Tổng quát thuộc Chương này, loại trừ b, cho sự phân loại các
chất keo). Các ete cellulose thương phẩm quan trọng khác bao gồm
etyl cellulo, một loại plastic có trọng lượng nhẹ.
Các plastic được dẫn xuất về mặt hóa học từ cellulose thường cần thêm
các chất hoá dẻo.
Để phân loại các polyme (kể cả copolyme), các polyme đã bị biến đổi
về mặt hóa học và polyme pha trộn, xem Chú giải Tổng quát thuộc
Chương này.
39.13- Polyme tự nhiên (ví dụ, axit alginic) và các polyme tự nhiên
đã biến đổi (ví dụ, protein đã làm cứng, các dẫn xuất hóa học
của cao su tự nhiên), chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác,
dạng nguyên sinh.
3913.10 - Axit alginic, các muối và este của nó
3913.90 - Loại khác
Sau đây là một số polyme tự nhiên hoặc tự nhiên đã bị biến đổi chủ yếu
thuộc nhóm này.
(1) Axit alginic, các muối và este của nó
Axit alginic, là một poly(uronic axit), được chiết từ các tảo màu nâu
(Phaeophyta) bằng cách ngâm trong dung dịch kiềm. Nó có thể
được điều chế bằng cách kết tủa phần chiết xuất với một axit khoáng
hoặc bằng cách xử lý phần chiết để thu được alginate canxi  chưa
tinh khiết, mà khi xử lý bằng một axit khoáng, nó được chuyển
thành axit alginic có độ tinh khiết cao.
Axit alginic không tan trong nước nhưng các muối của kim loại
kiềm của nó và muối amonium của nó dễ dàng hòa tan trong nước
lạnh để tạo thành dung dịch nhớt. Tính chất của các dung dịch nhớt
tạo thành thay đổi tùy theo nguồn gốc và độ tinh khiết của các
alginate. Các alginate tan trong nước được sử dụng như các chất làm
đặc, các chất ổn định, các tác nhân tạo gel và tạo màng trong các
ngành, ví dụ, công nghiệp dược phẩm, thực phẩm, dệt và giấy.
Các sản phẩm này có thể chứa các chất bảo quản (ví dụ, natri
benzoate) và chuẩn hóa bởi việc thêm các tác nhân tạo gel (ví dụ,
các muối canxi), các chất làm chậm (ví dụ, các photphate, các
citrate), các chất xúc tiến (ví dụ, các axit hữu cơ) và các chất điều
tiết (ví dụ, sucrose, ure). Bất cứ chất nào thêm vào ở trên phải không
làm cho sản phẩm đặc biệt thích hợp cho công dụng cụ thể hơn là
cho công dụng chung.  
Trong số các este thì  propylene glycol alginate được sử dụng trong
thực phẩm...
(2) Các protein đã làm cứng  
Các protein là các hợp chất nitơ có trọng lượng phân tử cao có
nguồn gốc từ động vật hoặc thực vật. Chúng phù hợp cho quá trình
điều chế thành các loại plastic. Nhóm này chỉ bao gồm các protein
đã được xử lý về hóa học để làm cứng chúng. Chỉ một số ít chúng
có giá trị thương mại.
Các hợp chất protein đã bị làm cứng thường ở dạng khối có hình dạng
đều, ở dạng tấm, que hoặc ống. Ở các dạng này, chúng bị loại trừ khỏi
nhóm này (thường thuộc nhóm 39.16, 39.17, 39.20 hoặc 39.21).
(3) Các chất dẫn xuất hóa học của cao su tự nhiên
Cao su tự nhiên, là một loại polyme cao phân tử, tạo ra, nhờ quá
trình xử lý hóa học, một số chất có đặc tính dẻo.
Chúng bao gồm:
(a)  Cao su đã được clo hóa. Thông thường nó được sản xuất ở
dạng hạt nhỏ màu trắng. Nó được sử dụng trong điều chế các
loại sơn và vecni mà sau khi sử dụng nó tạo ra một màng chống
lại tác động xấu hóa học và tác động xấu của không khí.
(b) Cao su hydrochloride. Thường được sử dụng trong sản xuất
bao bì, và, khi chúng được hóa dẻo, chúng được sử dụng để sản
xuất quần áo bảo hộ.
(c) Cao su đã được oxy hóa, thu được bằng cách oxy hoá cao su đã
gia nhiệt với sự tham gia của một chất xúc tác. Nó là một vật
liệu nhựa được sử dụng trong một số loại vecni.
(d) Cao su đã được vòng hóa, thu được bằng cách xử lý cao su
bằng, ví dụ, axit sulphuric, chlorosulphuric hoặc chlorostannic.
Chúng tạo ra một số các sản phẩm có độ cứng khác nhau, được
sử dụng như một thành phần cơ bản để điều chế sơn, để sản
xuất các chất phủ chống thấm nước, và ở một mức độ nào đó để
sản xuất các sản phẩm đúc.
(4) Dextran, glycogen (“tinh bột động vật”) và chitin và các plastic
được sản xuất từ lignin
Nhóm này cũng bao gồm amylopectin đã được tách và amylose đã được
tách thu được nhờ phân đoạn tinh bột.
Để phân loại các polyme (kể cả copolyme), các polyme đã bị biến đổi về
mặt hoá học, các polyme pha trộn, xem Chú giải Tổng quát thuộc
Chương này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các loại nhựa tự nhiên chưa bị biến đổi (nhóm 13.01).
(b) Bột nội nhũ của các hạt minh quyết và các loại hạt guar khác đã được
ete hóa hoặc este hóa (nhóm 13.02).
(c) Linoxyn (nhóm 15.18).
(d)  Heparin (nhóm 30.01).
(e) Các hợp chất ete và este của tinh bột (nhóm 35.05).
(f) Colophan, các axit nhựa cây và các dẫn xuất của chúng (kể cả các
gum este và các gum nấu chảy) (nhóm 38.06).
39.14 - Chất trao đổi ion làm từ các polyme thuộc các nhóm từ 39.01
đến 39.13, dạng nguyên sinh.
Các chất trao đổi ion thuộc nhóm này là các polyme có liên kết ngang,
thường ở dạng hạt, chứa các nhóm ion hoạt động (thường là các nhóm
sulphonic, carboxylic, phenolic hoặc amino). Các nhóm ion hoạt động
này làm cho các polyme, khi đem tiếp xúc với dung dịch chất điện phân,
có thể trao đổi một trong các kiểu ion của chính chúng với một trong các
kiểu ion (cùng dấu, dương hoặc âm) có  trong dung dịch. Chúng được sử
dụng làm mềm nước, làm mềm sữa, sắc ký, được sử dụng cho việc thu
hồi urani từ các dung dịch axit và thu hồi streptomycin từ nước xuýt và
cho các mục đích công nghiệp khác nhau.
Các
chất
đổi
phổ
biến
nhất

các
styrene-divinylbenzene, polyme acrylic hoặc các loại nhựa phenolic đã
bị biến đổi về mặt hóa học.
Nhóm này không bao gồm các cột trao đổi ion chứa các chất trao đổi
ion của nhóm này (nhóm 39.26).
Phân chương II
PHẾ LIỆU, PHẾ THẢI VÀ MẨU VỤN;  
BÁN THÀNH PHẨM; THÀNH PHẨM  
39.15- Phế liệu, phế thải và mẩu vụn, của plastic.
3915.10 - Từ các polyme từ etylen
3915.20 - Từ các polyme từ styren
3915.30 - Từ các polyme từ vinyl clorua
3915.90 - Từ plastic khác
Các sản phẩm thuộc nhóm này có thể bao gồm các sản phẩm plastic đã
vỡ hoặc đã bị hư hỏng, rõ ràng không thể sử dụng cho các chức năng ban
đầu của chúng, hoặc bao gồm các sản phẩm phế liệu sản xuất (ở dạng
mảnh vụn, bụi, đầu mẩu...). Một số phế liệu có thể được tái sử dụng như
vật liệu đúc, thành phần cơ bản của vecni, chất độn...
Tuy nhiên, nhóm này không áp dụng đối với các loại phế liệu, phế thải
và mảnh vụn của vật liệu plastic nhiệt dẻo đơn lẻ, đã chuyển sang dạng
nguyên sinh (các nhóm 39.01 đến 39.14).
Phế liệu, phế thải và mảnh vụn của một vật liệu phản ứng nhiệt đơn lẻ
hoặc của hai hoặc nhiều hơn các vật liệu plastic nhiệt dẻo được trộn lẫn
cùng nhau, thậm chí được chuyển sang dạng nguyên sinh, thì được bao
gồm ở nhóm này.
Nhóm này cũng không bao gồm các phế liệu, phế thải và mảnh vụn, từ
plastic, chứa kim loại quý hoặc hợp chất của kim loại quý, là loại chủ
yếu được sử dụng cho việc thu hồi kim loại quý (nhóm 71.12).
39.16- Plastic dạng sợi monofilament có kích thước mặt cắt ngang
bất kỳ trên 1 mm, dạng thanh, que và các dạng hình, đã hoặc
chưa gia công bề mặt, nhưng chưa gia công cách khác.  
3916.10 - Từ các polyme etylen
3916.20 - Từ các polyme vinyl clorua
3916.90 - Từ plastic khác
Nhóm này bao gồm sợi monofilament có kích thước mặt cắt ngang bất
kỳ trên 1mm, thanh, que và các dạng hình. Chúng thu được theo chiều
dài trong một công đoạn đơn lẻ (thường là quá trình ép đùn) và chúng có
tiết diện không đổi hoặc lặp lại từ đầu đến cuối. Các dạng hình rỗng có
mặt cắt ngang khác so với mặt cắt ngang của các sản phẩm dạng ống,
ống dẫn và ống vòi thuộc nhóm 39.17 (xem Chú giải 8 thuộc  
Chương này).
Nhóm này cũng bao gồm những sản phẩm như trên mà chúng được cắt
đơn thuần thành một đoạn dài hơn kích thước mặt cắt tối đa hoặc được
gia công bề mặt (đã đánh bóng, đã làm mờ…), nhưng chưa được gia
công cách khác. Các dạng hình có một mặt dính, được sử dụng cho việc
gắn các khung cửa sổ, thì được phân loại trong nhóm này.
Các sản phẩm được cắt đến điểm có chiều dài không quá kích thước mặt
cắt ngang tối đa, hoặc đã được được gia công theo cách khác (khoan,
cán, gắn bằng keo hoặc may...) thì bị loại trừ khỏi nhóm này. Chúng
được phân loại như các sản phẩm ở các nhóm 39.18 đến 39.26 trừ khi
chúng được ghi chi tiết hơn ở một nhóm nào đó khác trong Danh mục
này.
Để phân loại sợi monofilament, thanh, que và các dạng hình từ plastic
kết hợp với các vật liệu khác, xem Chú giải tổng quát thuộc Chương
này.
39.17-  Các loại ống, ống dẫn và ống vòi, và các phụ kiện dùng để
ghép nối chúng (ví dụ, các đoạn nối, khuỷu, vành đệm), bằng
3917.10 - Ruột nhân tạo (vỏ xúc xích) bằng protein đã làm cứng
hoặc bằng chất liệu xenlulo
⦁    Ống, ống dẫn và ống vòi, loại cứng:
3917.21 - - Bằng các polymer từ etylen
3917.22 - - Bằng các polyme từ propylen
3917.23 - - Bằng các polyme từ vinyl clorua  
3917.29 - - Bằng plastic khác
⦁    Ống, ống dẫn và ống vòi khác:
3917.31 - - Ống, ống dẫn và ống vòi, loại mềm, có áp suất bục tối
thiểu là 27,6 MPa
3917.32 - - Loại khác, chưa gia cố hoặc kết hợp với vật liệu khác,
không kèm các phụ kiện:
39.17.33 - - Loại khác, chưa được gia cố hoặc kết hợp với các vật
liệu khác, có kèm các phụ kiện
3917.39 - - Loại khác
3917.40 - Các phụ kiện
Theo Chú giải 8 thuộc Chương này thì thuật ngữ “ống, ống dẫn và ống
vòi" có nghĩa là:
(i) các sản phẩm rỗng, bán thành phẩm hoặc thành phẩm, loại được sử
dụng phổ biến cho việc vận chuyển, dẫn hoặc phân phối các chất
khí hoặc lỏng (ví dụ, ống vòi có gân tưới trong vườn, các ống được
đục lỗ), với điều kiện là chúng có mặt cắt ngang bên trong là hình
tròn, ôvan, hình chữ nhật (với chiều dài không quá 1,5 lần chiều
rộng) hoặc với hình dạng của đa giác đều; và
(ii)  vỏ xúc xích (đã hoặc chưa được buộc hoặc gia công tiếp theo khác)
và loại ống dẹt khác (lay-flat tubing).
Nhóm này cũng bao gồm các phụ kiện bằng plastic cho các sản phẩm
ống, ống dẫn và ống vòi (ví dụ, đoạn nối, khuỷu, vành đệm).
Sản phẩm ống, ống  dẫn và ống vòi và các phụ kiện cho chúng có thể cứng
hoặc mềm và có thể được gia cố hoặc kết hợp cách khác với các vật liệu
khác. (Để phân loại các sản phẩm ống, ống dẫn... bằng plastic kết hợp với
các vật liệu khác, xem Chú giải Tổng quát thuộc Chương này).
39.18- Tấm trải sàn bằng plastic, có hoặc không tự dính, dạng cuộn
hoặc dạng tấm rời để ghép; tấm phủ tường hoặc phủ trần
bằng plastic, như đã nêu trong Chú giải 9 của Chương này.  
3918.10 - Từ các polyme từ vinyl clorua  
3918.90 - Từ plastic khác
Phần đầu của nhóm này bao gồm plastic loại thường được sử dụng như
các tấm trải sàn, ở dạng cuộn hoặc ở dạng tấm rời để ghép. Cần lưu ý
rằng các tấm trải sàn tự dính được phân loại ở nhóm này.
Phần thứ hai của nhóm này, mà phạm vi của nó được xác định trong Chú
giải 9 thuộc Chương này, bao gồm các tấm phủ tường hoặc phủ trần
bằng plastic, kể cả loại có lớp bồi bằng vật liệu dệt. Giấy dán tường hoặc
các loại phủ tường tương tự bằng giấy được tráng hoặc phủ bằng plastic
thì bị loại trừ (nhóm 48.14).
Lưu ý rằng nhóm này bao gồm các sản phẩm in các hoa văn, ký tự hoặc
các biểu tượng tranh ảnh, không chỉ đơn thuần là phụ trợ cho công dụng
chính của các sản phẩm (xem Chú giải 2 thuộc Phần VII).
39.19- Tấm, phiến, màng, lá, băng, dải và các hình dạng phẳng khác
tự dính, bằng plastic, có hoặc không ở dạng cuộn.
3919.10 - Ở dạng cuộn có chiều rộng không quá 20 cm
3919.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm hình dạng phẳng tự dính bằng
plastic, có hoặc không ở dạng cuộn, trừ các tấm trải sàn, phủ tường hoặc
phủ trần thuộc nhóm 39.18. Tuy nhiên, nhóm này giới hạn đối với các
sản phẩm hình dạng phẳng nhạy cảm với áp suất, tức là, ở nhiệt độ
phòng, mà không bị làm ướt hoặc tác động khác, thì chúng có tính dính
lâu dài (trên một hoặc cả hai mặt) và chúng dính chặt các dạng bề mặt
khác nhau chỉ với sự tiếp xúc nhỏ mà không cần áp lực hơn áp lực của
ngón tay hoặc bàn tay.
Lưu ý rằng nhóm này bao gồm các sản phẩm đã in các hoa văn, ký tự
hoặc biểu tượng tranh ảnh, không chỉ đơn thuần phụ trợ cho công dụng
chính của các sản phẩm (xem Chú giải 2 thuộc Phần VII).
39.20- Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic, không xốp và
chưa được gia cố, chưa gắn lớp mặt, chưa được bổ trợ hoặc
chưa được kết hợp tương tự với các vật liệu khác (+).
3920.10 - Từ các polyme từ etylen
3920.20 - Từ các polyme từ propylen
3920.30 - Từ các polyme từ styren
⦁    Từ các polyme từ vinyl clorua:
3920.43 - - Có hàm lượng chất hoá dẻo không dưới 6% tính theo
trọng lượng
3920.49 - - Loại khác
⦁    Từ các polyme acrylic:
3920.51 - - Từ poly(metyl metacrylat)
3920.59 - - Loại khác
⦁    Từ các polycarbonat, nhựa alkyd, các este polyallyl
hoặc các polyeste khác:
3920.61 - - Từ các polycarbonat
3920.62 - - Từ poly (etylen terephtalat)
3920.63 - - Từ các polyeste chưa no
3920.69 - - Từ các polysete khác
⦁    Từ xenlulo hoặc các dẫn xuất hóa học của nó:  
3920.71 - - Từ xenlulo tái sinh
3920.73 - - Từ xenlulo axetat  
3920.79 - - Từ các dẫn xuất xenlulo khác
⦁    Từ plastic khác:
3920.91 - - Từ poly (vinyl butyral)
3920.92 - - Từ các polyamide
3920.93 - - Từ nhựa amino
3920.94 - - Từ nhựa phenolic
3920.99 - - Từ plastic khác
Nhóm này bao gồm các tấm, phiến, màng, lá và dải từ plastic (chúng
chưa được gia cố, gắn lớp mặt, bổ trợ hoặc kết hợp tương tự với các vật
liệu khác), trừ những loại thuộc nhóm 39.18 hoặc 39.19.
Nhóm này cũng bao gồm bột giấy tổng hợp tồn tại ở dạng các tấm từ các
sợi (sợi nhỏ) polyethylene hoặc polypropylene rời có chiều dài trung
bình khoảng 1mm và thường có độ ẩm 50%.
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm, mà các sản phẩm này đã được
gia cố, gắn lớp mặt, bổ trợ hoặc kết hợp tương tự với các vật liệu không
phải plastic (nhóm 39.21). Theo mục đích này "kết hợp tương tự" phải
là những sự kết hợp của plastic với các vật liệu, không phải plastic,
những sự kết hợp đó làm tăng độ bền của vật liệu plastic (ví dụ, được
gắn vào lưới kim loại và sợi thủy tinh dệt, cũng như một số sợi khoáng,
sợi đơn tinh thể và sợi filament).
Tuy nhiên, các sản phẩm sản xuất ra từ plastic kết hợp với các chất độn ở
dạng bột, dạng hạt, dạng khối cầu hoặc dạng vảy được phân loại ở nhóm
này. Hơn nữa, các quá trình xử lý bề mặt nhỏ như sự tạo màu, in (theo
Chú giải 2 thuộc Phần VII), quá trình lắng đọng kim loại trong chân
không thì không được xem như quá trình gia cố hoặc kết hợp tương tự
theo mục đích của nhóm này.
Nhóm này cũng loại trừ các sản phẩm loại xốp (nhóm 39.21) và dải
plastic, có chiều rộng biểu kiến không quá 5mm (Chương 54).
Theo Chú giải 10 thuộc Chương này, thuật ngữ "tấm, phiến, màng, lá và
dải" chỉ áp dụng đối với các tấm, phiến, màng, lá và dải và đối với các khối
có hình dạng hình học đều, đã hoặc chưa in hoặc gia công bề mặt cách khác
(ví dụ, đánh bóng, dập nổi, tạo màu, uốn cong đơn thuần hoặc tạo sóng),
chưa cắt hoặc đã cắt thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông) nhưng không
gia công gì thêm (thậm chí nếu sau khi cắt chúng trở thành các sản phẩm
phục vụ ngay cho việc sử dụng, ví dụ, các loại khăn trải bàn).
Các tấm, phiến... đã hoặc chưa gia công bề mặt (kể cả các tấm, phiến đã
bị cắt thành các dạng hình vuông và hình chữ nhật khác), có các cạnh
được mài, được khoan, cán, làm viền, xoắn, đóng khung hoặc được gia
công cách khác hoặc được cắt thành các hình dạng trừ hình chữ nhật (kể
cả hình vuông) thì thường được phân loại như các sản phẩm thuộc các
nhóm 39.18, 39.19 hoặc 39.22 đến 39.26.
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 3920.43 và 3920.49
Sản phẩm của những phân nhóm này được phân biệt trên cơ sở hàm
lượng chất hoá dẻo của chúng. Theo mục đích này, những chất hoá dẻo
nguyên sinh và những chất hoá dẻo thứ cấp cần phải được cùng xem xét
(xem Chú giải phân nhóm 2 của Chương này).
Những chất hoá dẻo nguyên sinh là những vật liệu có độ bay hơi thấp,
khi thêm chất hoá dẻo này vào polyme, thì thường làm tăng độ mềm dẻo
của polyme (ví dụ, các este phtalate, các este adipate, các este
trimelliate, các este phosphate, các este sebacate, các este azelate).
Các chất hoá dẻo thứ cấp, được biết dưới tên gọi là chất trương nở, rất ít
khi được sử dụng riêng như các chất hoá dẻo. Khi kết hợp các chất hoá
dẻo thứ cấp với các chất hoá dẻo nguyên sinh thì tác dụng của chất hoá
dẻo nguyên sinh sẽ bị biến đổi hoặc được tăng cường. Các chất hoá dẻo
thứ cấp cũng đóng vai trò như chất làm chậm cháy, (ví dụ, các paraffin
đã clo hoá) hoặc các chất bôi trơn (ví dụ, dầu đỗ tương đã epoxy hoá,
dầu hạt lanh đã epoxy hoá).
39.21- Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic.
⦁    Loại xốp:
3921.11 - - Từ các polyme từ styren
3921.12 - - Từ các polyme từ vinyl clorua
3921.13 - - Từ các polyurethan
3921.14 - - Từ xenlulo tái sinh
3921.19 - - Từ plastic khác
3921.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các tấm, phiến, màng, lá và dải, từ plastic, trừ loại
thuộc nhóm 39.18, 39.19 hoặc 39.20 hoặc thuộc Chương 54. Do đó, nó
chỉ bao gồm các sản phẩm loại xốp (cellular) hoặc các sản phẩm đã được
gia cố, gắn lớp mặt, bổ trợ hoặc kết hợp tương tự với các vật liệu khác.
(Để phân loại các sản phẩm dạng tấm,... kết hợp với các vật liệu khác,
xem Chú giải Tổng quát).
Theo Chú giải 10 thuộc Chương này, thuật ngữ "tấm, phiến, màng, lá và
dải" chỉ áp dụng đối với các tấm, phiến, màng, lá và dải và đối với các
khối có hình dạng hình học đều, đã  hoặc chưa in hoặc gia công bề mặt
cách khác (ví dụ, đánh bóng, dập nổi, tạo màu, uốn cong đơn thuần hoặc
tạo sóng), chưa cắt hoặc đã cắt thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông)
nhưng không gia công gì thêm (thậm chí nếu sau khi cắt chúng trở  thành
các sản phẩm phục vụ ngay cho việc sử dụng).
Các tấm, phiến... đã hoặc chưa gia công bề mặt (kể cả các tấm, phiến đã
bị cắt thành các dạng hình vuông và hình chữ nhật khác), có các cạnh
được mài, được khoan, cán, làm viền, xoắn, đóng khung hoặc được gia
công cách khác hoặc được cắt thành các hình dạng trừ hình chữ  nhật (kể
cả hình vuông) thì thường được phân loại như các sản phẩm thuộc các
nhóm 39.18, 39.19 hoặc 39.22 đến 39.26.
39.22- Bồn tắm, bồn tắm vòi sen, bồn rửa, chậu rửa, bệ rửa vệ sinh  39.22- Baths, shower-baths, sinks, wash-basins, bidets, lavatory
(bidets), bệ và nắp xí bệt, bình xả nước và các thiết bị vệ sinh
tương tự, bằng plastic.
3922.10 -  Bồn tắm, bồn tắm vòi sen, bồn rửa và chậu rửa
3922.20 - Bệ và nắp xí bệt
3922.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các phụ kiện thiết kế để lắp cố định tại chỗ, trong
nhà... thông thường bằng cách nối với các hệ thống nước hoặc hệ thống
nước thải. Nó cũng bao gồm các mặt hàng vệ sinh khác có kích thước và
mục đích sử dụng tương tự, như các vòi rửa (bidet) xách tay, bồn tắm trẻ
em và bồn vệ sinh cho cắm trại.
Các bình xả nước làm từ plastic cũng được phân loại trong nhóm này, có
hoặc không được trang bị kèm theo các bộ phận của chúng.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm:
(a) Các sản phẩm vệ sinh nhỏ loại xách tay được chẳng hạn như bô để
giường bệnh và bô để ở phòng ngủ (nhóm 39.24).
(b) Các loại đĩa đựng xà phòng, thanh để khăn tắm, hộp đựng bàn chải
đánh răng, hộp đựng giấy trong phòng vệ sinh, móc treo khăn tắm
và các sản phẩm tương tự cho phòng tắm, phòng vệ sinh hoặc bếp;
các sản phẩm này thuộc nhóm 39.25 nếu được nhằm lắp đặt cố định
bên trong hoặc trên tường hoặc các vị trí khác của tòa nhà, nếu
không thì thuộc nhóm 39.24.
39.23- Các sản phẩm dùng trong vận chuyển hoặc đóng gói hàng
hóa, bằng plastic; nút, nắp, mũ van và các loại nút đậy khác,
bằng plastic.
3923.10 - Hộp, hòm, thùng thưa và các loại tương tự
⦁    Bao và túi (kể cả loại hình nón):
3923.21 - - Từ các polyme từ etylen
3923.29 - - Từ plastic khác
3923.30 - Bình, chai, lọ, bình thót cổ và các sản phẩm tương tự  
3923.40 - Suốt chỉ, ống chỉ, lõi và các vật phẩm tương tự
3923.50 - Nút, nắp, mũ van và các nút đậy khác
3923.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm từ plastic thường được sử dụng
để đóng gói hoặc vận chuyển sản phẩm các loại. Những sản phẩm này
bao gồm:
(a)  Các vật chứa như hộp, hòm, thùng thưa, bao và túi (kể cả loại hình
nón và bao phế thải), thùng, bi đông, bình lớn có vỏ bọc ngoài, chai
và bình thót cổ.  
Nhóm này cũng bao gồm:
(i) Các loại cốc không có quai cầm có đặc tính của các vật chứa được
sử dụng để đóng gói hoặc vận chuyển một số thực phẩm, chúng có
hoặc không có tính năng sử dụng thứ hai như bộ đồ ăn hoặc các sản
phẩm phục vụ vệ sinh;
(ii) Phôi chai từ plastic là sản phẩm trung gian có dạng hình ống, một
đầu kín và một đầu hở được tạo ren để vặn nắp, phần bên dưới ren
được mở rộng ra theo kích thước và hình dạng mong muốn.
(b)  Suốt chỉ, ống chỉ, lõi và các vật phẩm tương tự, bao gồm băng video
hoặc băng đài chưa có băng từ.
(c) Nút, nắp, mũ van và các loại nút đậy tương tự khác.
Nhóm này không bao gồm, không kể những cái khác, các sản phẩm gia
dụng như thùng đựng rác và thùng rác di động (kể cả loại để sử dụng bên
ngoài), và các cốc được sử dụng như đồ dùng trên bàn ăn hay sản phẩm
vệ sinh và không có đặc tính của vật chứa đựng để đóng gói hay vận
chuyển hàng hóa, đôi khi có hoặc không được sử dụng cho các mục đích
trên (nhóm 39.24), các vật chứa đựng thuộc nhóm 42.02 và túi, bao
đựng hàng loại lớn có thể gấp, mở linh hoạt của nhóm 63.05.
39.24- Bộ đồ ăn, bộ đồ dùng nhà bếp, các sản phẩm gia dụng khác  39.24- Tableware, kitchenware, other household articles and
và các sản phẩm phục vụ vệ sinh, bằng plastic.
3924.10 - Bộ đồ ăn và bộ đồ dùng nhà bếp
3924.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các sản phẩm bằng plastic sau:
(A) Bộ đồ ăn như các sản phẩm phục vụ việc pha trà hoặc cà phê, các
loại đĩa, các loại liễn đựng xúp, các loại bát đựng salad, đĩa ăn và
khay các loại, ấm đựng cà phê, ấm đựng trà, các loại bát đựng
đường, các loại vại bia, chén, , đĩa hình thuyền để đựng nước sốt,
bát đựng trái cây, bộ lọ đựng gia vị để bàn, các loại bình đựng muối,
các loại lọ đựng mù tạt, các loại cốc đựng trứng, các loại giá đựng
ấm trà, các tấm trải bàn, các loại giá đỡ đựng dao, các vòng treo
khăn ăn, các dao, nĩa và thìa.
(B) Bộ đồ dùng nhà bếp như các loại chậu, các loại khuôn thạch, các loại
lọ có tay cầm, hũ để chứa đựng, các loại thùng và các loại hộp (hộp
trà, hộp bánh mì...), các loại phễu, các loại muôi múc canh, các sản
phẩm đo dung tích loại dùng cho nhà bếp và các loại trục cán bột.
(C) Các sản phẩm gia dụng khác chẳng hạn như gạt tàn thuốc, các loại bình
đựng nước nóng, khay đựng hộp diêm, thùng đựng rác rác và thùng rác
di động (kể cả loại để sử dụng bên ngoài), các xô múc nước, các can
đựng nước, các hộp đựng thực phẩm dự trữ, màn cửa, rèm, khăn trải bàn
và các tấm phủ che bụi của đồ đạc trong nhà (slipovers).
(D) ) Sản phẩm vệ sinh và các sản phẩm phục vụ vệ sinh (dù được sử
dụng trong nhà hoặc không sử dụng trong nhà) chẳng hạn như các
bộ vệ sinh (bình đựng nước, bát...), các loại thùng, xô vệ sinh, bô để
giường bệnh, bô đi tiểu, bô để phòng ngủ, các loại ống nhổ, bình
đựng nước dùng để vệ sinh (có vòi rửa), chén để rửa mắt; núm vú
của bình trẻ em (nursing nipple) và bao ngón tay; đĩa đựng xà
phòng, thanh để khăn tắm, hộp đựng bàn chải đánh răng, hộp đựng
giấy trong phòng vệ sinh, móc treo khăn tắm và các sản phẩm tương
tự cho phòng tắm, phòng vệ sinh hoặc nhà bếp, không lắp cố định
bên trong hoặc trên tường. Tuy nhiên, các sản phẩm trên dùng để lắp
cố định bên trong hoặc trên tường hoặc các vị trí khác của tòa nhà
(ví dụ, bằng các đinh ốc, đinh vít, bu-lông hoặc bằng các chất kết
dính) thì bị loại trừ (nhóm 39.25).
Nhóm này cũng bao gồm các loại cốc (không có quai cầm) để bàn hoặc
sử dụng trong buồng vệ sinh, không có đặc tính của các vật chứa được
sử dụng để đóng gói hoặc vận chuyển hàng hóa, đôi khi được sử dụng
hoặc không sử dụng cho các mục đích kể trên. Tuy nhiên, nó loại trừ
các loại cốc không có tay cầm có đặc tính của các vật chứa đựng được sử
dụng để đóng gói hoặc chuyên chở hàng hóa (nhóm 39.23).
39.25- Đồ vật bằng plastic dùng trong xây lắp, chưa được chi tiết
hoặc ghi ở nơi khác (+).
3925.10 - Thùng chứa, bể và các loại đồ chứa đựng tương tự,
dung tích trên 300 lít
3925.20 - Cửa ra vào, cửa sổ và khung của chúng và ngưỡng cửa
ra vào
3925.30 - Cửa chớp, mành che (kể cả mành chớp lật) và các sản
phẩm tương tự và các bộ phận của nó
3925.90 - Loại khác
Nhóm này chỉ áp dụng đối với các sản phẩm được đề cập trong Chú giải
11 thuộc Chương này.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 3925.20
Phân nhóm 3925.20 bao gồm các loại cửa ra vào có các thanh bản lề
hoặc các thanh trượt loại được sử dụng cho việc đóng lối ra vào của các
tòa nhà, các phòng... Nó không bao gồm các thanh chắn để đóng lối ra
vào cánh đồng, vườn, sân nhà... (chúng được gọi là "các cổng") (phân
nhóm 3925.90).
39.26- Các sản phẩm khác bằng plastic và các sản phẩm bằng các
vật liệu khác của các nhóm từ 39.01 đến 39.14.  
3926.10 - Đồ dùng trong văn phòng hoặc trường học
3926.20 - Hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc (kể cả găng tay,
găng hở ngón và găng bao tay)
3926.30 - Phụ kiện lắp vào đồ nội thất, trên thân xe (coachwork)
hoặc các loại tương tự
3926.40 - Tượng nhỏ và các đồ trang trí khác
3926.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các sản phẩm, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi
khác, bằng plastic (như đã định nghĩa trong Chú giải 1 thuộc Chương
này) hoặc bằng các vật liệu khác thuộc các nhóm từ 39.01 đến 39.14.
Nhóm này bao gồm:
(1) Hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc (trừ đồ chơi) sản xuất bằng
cách may hoặc hàn kín các tấm plastic, ví dụ, tạp dề, dây lưng, yếm
trẻ con, áo mưa, vải lót áo... Loại mũ trùm đầu bằng plastic có thể
tháo rời vẫn được phân loại trong nhóm này nếu được đi kèm với áo
mưa bằng plastic của mũ này.
(2) Phụ kiện lắp vào đồ nội thất, thân xe (coachwork) và các loại  
tương tự.
(3) Tượng nhỏ và các đồ trang trí khác.
(4) Các tấm che bụi, các túi bảo vệ, các tấm vải bạt, bìa bọc cặp hồ sơ,
bìa bọc tài liệu, bọc vở và bìa bọc sổ ghi, và các loại hàng hóa dùng
để bảo vệ tương tự sản xuất bằng cách may hoặc dán keo các tấm
plastic lại với nhau.
(5) Các chặn giấy, dao dọc giấy, tập miếng thấm, thân bút, đánh dấu
sách,...
(6) Các loại đinh vít, bu-lông, vòng đệm và các phụ tùng tương tự có
nhiều công dụng.
(7) Dây đai băng truyền, băng tải hoặc máy nâng, liên tục, hoặc được cắt
thành đoạn dài và được ghép với nhau, hoặc lắp ráp bằng những
móc cài.
Dây đai băng truyền, băng tải hoặc máy nâng hoặc dây curoa loại
bất kỳ, kèm theo các máy móc và thiết bị mà chúng được thiết kế, đã
hoặc chưa thực sự lắp đặt, thì được phân loại theo các máy móc và
thiết bị đó (ví dụ, Phần XVI). Hơn nữa, nhóm này không bao gồm
các dây đai băng truyền, băng tải hoặc dây curoa, bằng vật liệu dệt,
được thấm tẩm, được tráng, phủ hoặc gắn lớp mặt bằng plastic
(Phần XI, ví dụ, nhóm 59.10).
(8) Các cột trao đổi ion được nạp bằng polyme thuộc nhóm 39.14.
(9) Các vật chứa bằng plastic được nạp carboxymethylcellulose (được sử
dụng như các túi chườm nước đá).
(10) Các hộp hoặc valy đựng đồ nghề, không tạo hình đặc biệt hoặc ở
bên trong thích hợp để đựng các đồ nghề chuyên dụng có hoặc
không có các phụ kiện của chúng kèm theo (xem Chú giải Tổng
quát thuộc nhóm 42.02).
(11) Núm vú giả (hoặc “núm vú của em bé“); túi chườm nước đá; túi
thụt, rửa và các phụ kiện cho chúng; đệm điều dưỡng; vòng tránh
thai; bao cao su tránh thai (phòng ngừa); ống của ống tiêm.
(12) Nhiều sản phẩm khác như khóa cho túi xách, bọc góc cho vali, móc
treo, miếng bảo hộ thân thể (protective cup)  và chân đệm đặt dưới
đồ nội thất, tay cầm (của các công cụ, dao, nĩa,...), hạt (của chuỗi
hạt), “mặt kính” đồng hồ, con số và chữ cái, vật chứa nhãn hành lý.
(13) Móng tay nhân tạo.
Nhóm này không bao gồm các vật dụng gia đình như thùng rác và thùng
rác di động (kể cả loại để sử dụng bên ngoài).
Chương 40
Cao su và các sản phẩm bằng cao su
Chú giải.
1.- Trừ khi có yêu cầu khác, trong toàn bộ Danh mục, khái niệm “cao
su” chỉ những sản phẩm dưới đây, đã hoặc chưa lưu hóa hoặc ở
dạng cứng: cao su tự nhiên, nhựa cây balata, nhựa két, nhựa cây cúc
cao su, nhựa chicle và các loại nhựa tự nhiên tương tự, cao su tổng
hợp, các chất thay thế cao su thu được từ các loại dầu, và những chất
như vậy được tái sinh.
2.- Chương này không bao gồm:
(a) Các loại hàng hóa trong Phần XI (nguyên liệu dệt và các sản
phẩm dệt);
(b) Giày dép hoặc các bộ phận của giầy dép thuộc Chương 64;
(c) Mũ và các vật đội đầu khác hoặc các bộ phận của chúng (kể cả
mũ tắm) thuộc Chương 65;
(d) Dụng cụ điện hoặc cơ khí hoặc các bộ phận của chúng thuộc
Phần XVI (kể cả đồ điện các loại), làm bằng cao su cứng;
(e) Sản phẩm thuộc các Chương 90, 92, 94 hoặc 96; hoặc
(f) Sản phẩm thuộc Chương 95 (trừ găng tay thể thao, găng hở ngón
và găng bao tay và các sản phẩm thuộc các nhóm từ 40.11 đến
3.- Trong các nhóm 40.01 đến 40.03 và 40.05, khái niệm “dạng nguyên
sinh” chỉ áp dụng cho các dạng dưới đây:
(a) Dạng lỏng và dạng nhão (kể cả mủ cao su (latex), đã hoặc chưa
tiền lưu hóa, và các dạng phân tán và dạng hòa tan khác);
(b) Các khối có hình dạng không đều, cục, bành (phiến), bột, hạt,
miếng, mảnh và dạng khối tương tự.
4.- Theo Chú giải 1 của Chương này và nhóm 40.02, khái niệm “cao su
tổng hợp” áp dụng đối với:
(a) Các chất tổng hợp chưa no mà chúng có thể chuyển đổi một chiều
bằng quá trình lưu hóa với lưu huỳnh thành loại không phải nhiệt
dẻo (non-thermoplastic), khi ở khoảng nhiệt độ từ 18oC và 29oC,
sẽ không đứt dù cho kéo dãn đến ba lần chiều dài ban đầu của
chúng, và sau khi bị kéo giãn tới 2 lần chiều dài ban đầu trong
vòng 5 phút, nó sẽ co lại không lớn hơn 1,5 lần chiều dài ban đầu.
Theo mục đích của phương pháp thử này, các chất cần thiết để tạo
liên kết ngang, như các chất xúc tác hoặc các chất kích hoạt lưu
hoá, có thể được thêm vào; sự có mặt của các chất theo quy định
của Chú giải 5(B)(ii) và (iii) cũng được chấp nhận. Tuy nhiên, sự
có mặt của bất kỳ một chất nào không cần thiết để tạo liên kết
ngang, như chất độn, chất hoá dẻo và chất trương nở, là không
được chấp nhận;
(b) Chất dẻo có chứa lưu huỳnh (TM); và
(c) Cao su tự nhiên đã biến đổi do ghép hoặc pha trộn với plastic, cao
su tự nhiên đã khử trùng hợp, hỗn hợp của các chất tổng hợp chưa
no với các polyme cao phân tử tổng hợp no với điều kiện là tất cả
các sản phẩm kể trên đáp ứng các yêu cầu về lưu hoá, kéo dãn và
phục hồi như đã nêu ở mục (a) trên.
5.- (A) Các nhóm 40.01 và 40.02 không áp dụng cho bất kỳ loại cao su
hoặc hỗn hợp cao su nào đã kết hợp trước hoặc sau khi đông tụ
với:
(i) các chất lưu hoá, chất xúc tác, chất hãm hoặc các chất kích
hoạt (trừ các chất được thêm vào để chuẩn bị quá trình tiền
lưu hoá mủ cao su);
(ii) thuốc màu hoặc các chất màu khác, trừ trường hợp những
chất này thêm vào chỉ để nhận biết;
(iii) các chất hoá dẻo hoặc chất trương nở (trừ dầu khoáng trong
trường hợp cao su đã được trương nở bởi dầu), chất độn, tác
nhân gia cố, các dung môi hữu cơ hoặc bất kỳ chất nào
khác, trừ những chất được cho phép trong mục (B);
(B) Sự có mặt của những chất dưới đây trong bất kỳ một loại cao su
hoặc hỗn hợp cao su nào sẽ không ảnh hưởng đến việc phân loại
mặt hàng đó trong nhóm 40.01 hoặc 40.02, miễn là cao su hoặc
hỗn hợp cao su đó vẫn giữ được đặc trưng cơ bản như một
nguyên liệu thô, có thể trong những trường hợp sau:
(i) các chất nhũ hoá hoặc chất chống dính;
(ii) lượng nhỏ các sản phẩm phân nhỏ của chất nhũ hoá;
(iii) một lượng rất nhỏ các chất sau đây: chất nhạy nhiệt (thông
thường để sản xuất mủ cao su nhạy nhiệt), tác nhân hoạt
động bề mặt cation (thông thường để sản xuất mủ cao su có
điện dương), chất chống oxy hoá, chất làm đông tụ, chất làm
bở, chất chịu lạnh, chất bảo quản, chất pepti hoá, chất ổn
định, chất điều chỉnh độ nhớt hoặc các chất phụ gia với mục
đích đặc biệt tương tự.
6.- Theo mục đích của nhóm 40.04, khái niệm “phế liệu, phế thải và
mảnh vụn" chỉ các chất thải cao su, chất phế liệu, mảnh vụn từ quá
trình sản xuất hoặc gia công cao su và các sản phẩm cao su không
còn sử dụng được như mục đích ban đầu của chúng vì cắt ra thành
từng mảnh, mài mòn hoặc các lý do khác.
7.- Chỉ sợi hoàn toàn bằng cao su lưu hoá, có kích thước mặt cắt ngang
bất kỳ trên 5 mm, được phân loại như các loại dải, thanh hoặc dạng
hình khác, thuộc nhóm 40.08.
8.- Nhóm 40.10 gồm cả băng tải, đai tải, băng truyền (dây curoa) hoặc
đai truyền bằng vải dệt đã ngâm tẩm, tráng, phủ, hoặc ép với cao su
hoặc làm từ sợi dệt hoặc dây bện đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bao
ngoài bằng cao su.
9.- Trong các nhóm 40.01, 40.02, 40.03, 40.05 và 40.08 khái niệm
“tấm","tờ" và "dải” chỉ áp dụng cho các loại tấm, tờ và dải và khối
hình học đều, chưa cắt hoặc mới chỉ cắt đơn giản thành hình chữ
nhật (kể cả hình vuông), có hoặc chưa có tính chất của sản phẩm và
đã hoặc chưa in hoặc gia công bề mặt theo cách khác, nhưng chưa
cắt thành hình hoặc gia công thêm theo cách khác.
Trong nhóm 40.08 khái niệm “thanh” và “dạng hình” chỉ áp dụng cho
các sản phẩm như đã mô tả, đã hoặc chưa cắt thành từng đoạn hoặc gia
công bề mặt nhưng chưa gia công cách khác.
TỔNG QUÁT
Định nghĩa về cao su  
Khái niệm "cao su" được định nghĩa trong Chú giải 1 của Chương này.
Khi khái niệm này được sử dụng trong Chương này và các Chương khác
của Danh mục mà không có tiêu chuẩn, có nghĩa là các sản phẩm như
(1) Cao su tự nhiên, balata, nhựa két, nhựa cây cúc cao su, nhựa cây
họ sacolasea và các loại nhựa tự nhiên tương tự (tức là, như cao su)
(xem Chú giải chi tiết nhóm 40.01).
(2) Cao su tổng hợp như định nghĩa trong Chú giải 4 Chương này. Theo
mục đích của thử nghiệm được nêu ra ở Chú giải 4, một mẫu chất
tổng hợp chưa bão hoà hoặc một chất của loại được chi tiết trong
Chú giải 4 (c) (trong điều kiện nguyên liệu thô chưa lưu hoá) sẽ
được lưu hoá với lưu huỳnh và sau đó được đưa kiểm tra độ kéo
giãn và độ phục hồi (xem Chú giải chi tiết nhóm 40.02). Do đó,
trong trường hợp các chất có chứa các vật liệu không được cho phép
bởi Chú giải 4, như dầu khoáng, thì việc kiểm tra sẽ được tiến hành
trên một mẫu mà nó không chứa những vật liệu như vậy hoặc những
vật liệu như vậy đã được loại bỏ. Trong trường hợp các mặt hàng
làm bằng cao su đã được lưu hoá, nó không thể được tiến hành kiểm
tra như vậy, cần phải thu thập một mẫu của vật liệu thô chưa được
lưu hoá mà các mặt hàng được chế tạo từ đó, để tiến hành kiểm tra.
Tuy nhiên, không cần thiết kiểm tra chất dẻo có chứa  lưu huỳnh
(thioplast) mà theo định nghĩa nó được coi là cao su tổng hợp.
(3) Chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu (xem Chú giải nhóm 40.02).
(4) Cao su tái sinh (xem Chú giải nhóm 40.03).
Khái niệm "cao su" bao gồm cả các sản phẩm ở trên, dù chưa được lưu
hóa, đã được lưu hóa hoặc cứng.
Thuật ngữ "đã lưu hoá" nói chung có liên quan tới cao su (bao gồm cả
cao su tổng hợp) mà nó có liên kết ngang với lưu huỳnh hoặc bất cứ tác
nhân lưu hoá nào khác (như là, sulphur cloride, một số oxit của các kim
loại đa hoá trị, selen, teluri, thiuram di- và tetrasulphides, một vài
peroxide hữu cơ và một vài polyme tổng hợp), đã hoặc chưa dùng nhiệt
hoặc áp suất, hoặc bởi nguồn năng lượng cao, bức xạ để nó chuyển từ
trạng thái chủ yếu là dẻo (plastic) sang trạng thái đàn hồi. Cần phải chú ý
rằng các tiêu chuẩn liên quan đến sự lưu hoá với lưu huỳnh chỉ phù hợp
với mục đích của Chú giải 4, tức là, cho việc xác định một chất có phải
là cao su tổng hợp hay không. Khi một chất đã được xác định là cao su
tổng hợp thì các sản phẩm làm ra từ chất đó được xem như là các sản
phẩm cao su đã lưu hoá như mục đích của các nhóm từ 40.07 tới 40.17,
dù chúng đã được lưu hoá với lưu huỳnh hay với các tác nhân lưu hoá
khác.
Với mục đích lưu hoá, ngoài các tác nhân lưu hoá, một số chất khác
cũng thường được thêm vào, như chất xúc tiến, chất hoạt hoá, chất hãm,
chất trương nở, chất hoá dẻo, chất độn, các tác nhân gia cố hay bất cứ
phụ gia nào đó đã được đề cập trong Chú giải 5 (B) của Chương này.
Những hỗn hợp lưu hoá như thế được coi như là cao su hỗn hợp và được
phân loại trong nhóm 40.05 hay 40.06 tuỳ thuộc vào dạng của chúng.  
Cao su cứng, (ví dụ, ebonit) thu được bởi việc lưu hoá cao su với một tỷ
lệ lưu huỳnh cao cho tới điểm mà tại đó cao su trở nên hầu như không
dẻo và không đàn hồi nữa.
Phạm vi của Chương
Chương này bao gồm cao su, như đã định nghĩa ở trên, ở dạng nguyên
liệu thô hay bán thành phẩm, đã hoặc chưa được lưu hoá hay cứng, và
các sản phẩm làm toàn bộ từ cao su hoặc có đặc tính cơ bản của hàng
hoá dẫn xuất từ cao su, trừ những sản phẩm bị loại trừ theo Chú giải 2
của Chương này.
Các nhóm được sắp xếp chung như sau:  
(a) Theo như Chú giải 5, các nhóm 40.01 và 40.02 chủ yếu gồm cao su
thô ở dạng nguyên sinh hay ở dạng tấm, tờ hoặc dải.
(b) Các nhóm 40.03 và 40.04 bao gồm cao su tái sinh ở dạng
nguyên sinh hay dạng tấm, tờ hoặc dải và dạng phế liệu, phế
thải và mảnh vụn của cao su (trừ cao su cứng) và các loại bột,
hạt thu được từ chúng.
(c) Nhóm 40.05 bao gồm cao su hỗn hợp, chưa được lưu hoá, ở dạng
nguyên sinh hay dạng tấm, tờ hoặc dải.
(d) Nhóm 40.06 bao gồm các dạng khác và các sản phẩm bằng cao su
chưa được lưu hoá, đã hoặc chưa được pha trộn.
(e) Các nhóm từ nhóm 40.07 đến nhóm 40.16 bao gồm các bán thành
phẩm và các sản phẩm của cao su đã lưu hoá, trừ cao su cứng.
(f) Nhóm 40.17 bao gồm cao su cứng, ở tất cả các dạng, kể cả phế thải
và mảnh vụn và các sản phẩm bằng cao su cứng.
Cao su dạng nguyên sinh (các nhóm 40.01 đến nhóm 40.03 và 40.05)
Thuật ngữ "dạng nguyên sinh" đã được định nghĩa trong Chú giải 3 của
Chương này. Cần chú ý rằng mủ cao su (latex) tiền lưu hoá được chi tiết
cụ thể trong định nghĩa "dạng nguyên sinh" và do vậy được coi như là
chưa lưu hoá. Bởi vì các nhóm 40.01 và 40.02 không bao gồm cao su
hay hỗn hợp cao su đã được thêm dung môi hữu cơ (xem Chú giải 5),
thuật ngữ "các dạng phân tán và hòa tan khác" trong Chú giải 3 chỉ áp
dụng cho nhóm 40.05.
Cao su ở dạng tấm, tờ và dải (các nhóm 40.01, 40.02, 40.03, 40.05 và
Những thuật ngữ này đã được định nghĩa trong Chú giải 9 của Chương
này và bao gồm các khối có hình dạng hình học đều. Các tấm, tờ và dải
có thể được gia công bề mặt (được in, được dập nổi, được khía rạch, xẻ
rãnh, tạo gờ...) hay được cắt đơn giản thành hình chữ nhật (kể cả hình
vuông), dù có hay không có đặc trưng cơ bản của sản phẩm, nhưng chưa
được cắt theo cách khác thành hình hoặc gia công thêm.
Cao su xốp
Cao su xốp là cao su có các lỗ rỗng (hở, kín, hay cả hai), được phân tán
trong toàn bộ khối cao su. Cao su xốp bao gồm cao su ở dạng xốp hay
bọt, cao su đã trương nở và cao su xốp mịn hay cao su vi xốp. Cao su
này có thể có tính dẻo hay tính cứng (ví dụ, bọt biển ebonit).
Chú giải 5
Chú giải 5 của Chương này quy định tiêu chuẩn để phân biệt cao su hay
hỗn hợp cao su ở dạng nguyên sinh, tấm, tờ hay dải, chưa ở dạng hỗn
hợp (các nhóm 40.01 và 40.02) với cao su hoặc hỗn hợp cao su ở dạng
hỗn hợp (nhóm 40.05). Chú giải này cũng không thực hiện bất kỳ sự
phân biệt nào dựa trên cơ sở việc pha trộn được thực hiện trước hay sau
khi đông đặc. Tuy nhiên, nó cho phép sự có mặt của một số chất trong
cao su hay hỗn hợp cao su của các nhóm 40.01 và 40.02 với điều kiện là
cao su hay hỗn hợp các loại cao su vẫn giữ được đặc tính cơ bản của nó
như một nguyên liệu thô. Những chất như vậy bao gồm dầu khoáng, các
chất nhũ hóa hay chất chống dính, một lượng nhỏ (nói chung không vượt
quá 5%) các sản phẩm được phân nhỏ của chất nhũ hóa và một lượng rất
nhỏ (thông thường dưới 2%) chất phụ gia với mục đích đặc biệt.
Các sản phẩm cao su kết hợp với vật liệu dệt
Việc phân loại các sản phẩm cao su kết hợp với vật liệu dệt đã được quy
định chủ yếu trong Chú giải 1 (ij) của Phần XI, Chú giải 3 ở Chương 56
và Chú giải 5 ở Chương 59, và băng tải hoặc đai tải băng truyền (dây cu
roa) hoặc đai truyền trong Chú giải 8 Chương 40 và Chú giải 7 (b)
Chương 59. Những sản phẩm sau nằm trong Chương này:
(a) Nỉ đã thấm tẩm, bọc, phủ hay đã được ép với  cao su, chiếm 50% hay
ít hơn tính theo trọng lượng là nguyên liệu dệt, và nỉ được bọc hoàn
toàn bằng cao su;
(b) Sản phẩm không dệt, được bao phủ hoàn toàn bằng cao su hay được
bao bọc toàn bộ cả hai mặt bằng vật liệu như vậy, với điều kiện là sự
bọc, phủ có thể nhìn thấy bằng mắt thường mà không cần quan tâm
đến sự thay đổi về màu sắc.
(c) Các mặt hàng dệt (như đã định nghĩa trong Chú giải 1 Chương 59) đã
được thấm tẩm, phủ, bọc hay được ép bằng cao su, với trọng lượng
lớn hơn 1.500g/m2 và chiếm 50% hay ít hơn tính theo trọng lượng là
nguyên liệu dệt;
(d) Tấm, tờ hoặc dải bằng cao su xốp, kết hợp với vải dệt (như đã định
nghĩa trong Chú giải 1 Chương 59), nỉ hay sản phẩm không dệt, ở
đó sản phẩm dệt có mặt chỉ thuần túy cho mục đích gia cố.
Chương này không bao gồm các sản phẩm đã được đề cập trong Chú
giải 2 của Chương này. Các loại trừ bổ sung được đề cập đến trong các
Chú giải chi tiết ở một số nhóm của Chương này.
40.01- Cao su tự nhiên, nhựa cây balata, nhựa két, nhựa cây cúc cao
su, nhựa cây họ sacolasea và các loại nhựa tự nhiên tương tự,
ở dạng nguyên sinh hoặc dạng tấm, lá hoặc dải.
4001.10 - Mủ cao su tự nhiên, đã hoặc chưa tiền lưu hóa
⦁    Cao su tự nhiên ở dạng khác:
4001.21 - - Tờ cao su xông khói
4001.22 - - Cao su tự nhiên đã định chuẩn về kỹ thuật (TSNR)
4001.29 - - Loại khác
4001.30 - Nhựa cây balata, nhựa két, nhựa cây cúc cao su, nhựa
cây họ sacolasea và các loại nhựa tự nhiên tương tự
Nhóm này bao gồm:
(A) Mủ cao su tự nhiên (đã hay chưa tiền lưu hoá).
Mủ cao su tự nhiên là chất lỏng được tiết ra chủ yếu từ cây cao su,
và nhất là từ loài Hevea brasiliensis. Chất lỏng này bao gồm một
dung dịch các chất  hữu cơ và  vô cơ có chứa nước (protein, các axit
béo và các dẫn xuất của chúng, muối, đường và glycoside) chúng ở
dạng huyền phù và chứa từ 30% đến 40% là cao su (tức là,
polyisoprene có trọng lượng phân tử cao).
Phần này bao gồm:
(1) Mủ cao su tự nhiên đã được ổn định hay đã được cô đặc. Mủ cao
su tự nhiên sẽ tự động đông lại sau khi cạo một vài giờ; do vậy nó
phải được làm ổn định để đảm bảo cho bảo quản và để ngăn cản sự
thối rữa hay đông tụ. Nó thường được làm ổn định bằng cách thêm
amoniac vào mủ cao su với tỉ lệ từ 5 đến 7 gram trên 1 lít mủ, để sản
xuất ra một sản phẩm được gọi là "amoniac đầy đủ" hay là dạng FA.
Phương pháp ổn định thứ hai để sản xuất ra "amoniac thấp" hay
dạng LA  là thêm một lượng rất nhỏ (từ 1 đến 2 gram trên một lít
mủ) của một hỗn hợp nồng độ thấp của amoniac và các chất như là
tetramethyluramdisulphide và oxit kẽm.
Cũng có loại mủ cao su tự nhiên chống đông lạnh được làm ổn
định bởi việc thêm, đặc biệt là một lượng nhỏ natri salicylate hoặc
formaldehyde và cao su này thường được dùng ở các nước có khí
hậu lạnh.  
Mủ cao su tự nhiên được cô đặc (chủ yếu cho mục đích vận chuyển)
bằng nhiều phương pháp khác nhau (ví dụ, như ly tâm, bay hơi, tạo
Hàm lượng cao su của mủ cao su thương mại thường từ 60 đến
62%; cũng có loại hàm lượng cao hơn và trong một số trường hợp
hàm lượng rắn có thể vượt quá 70%.
(2) Các loại mủ cao tự nhiên nhạy nhiệt (heat-sensitive). Chúng  thu
được bởi việc thêm vào các chất nhạy nhiệt. Khi bị gia nhiệt, dạng
mủ cao su này sẽ tạo gel nhanh hơn mủ cao su không nhạy nhiệt.
Nói chung chúng được sử dụng để sản xuất những mặt hàng nhúng
hoặc đúc hay để sản xuất cao su bọt hoặc cao su xốp.
(3) Mủ cao su có điện tích dương. Cao su này được biết như là "mủ cao
su đổi điện tích", bởi vì chúng thu được qua quá trình thay đổi điện
tích các phần tử của mủ cao su đã được cô đặc bình thường. Quá
trình thay đổi điện tích này đạt được bởi việc thêm các chất hoạt
động bề mặt cation vào mủ cao su.
Việc sử dụng những mủ cao su này để kết hợp với phần lớn vải dệt
có xu hướng không thấm của cao su (bởi vì như mủ cao su thường,
điện tích tĩnh điện của sợi dệt trong môi trường kiềm là điện tích
âm).
(4) Mủ cao su tự nhiên tiền lưu hoá. Loại này thu được nhờ phản ứng
của các chất lưu hoá với mủ cao su dưới tác dụng của nhiệt thường ở
nhiệt độ dưới 100oC.
Các phần tử cao su trong mủ cao su được lưu hoá bởi việc thêm một
lượng dư các chất kết tủa hay keo sulphur, oxit kẽm và chất xúc tiến
(ví dụ, dithiocarbamate). Mức độ lưu hoá của sản phẩm hoàn thiện
có thể thay đổi tuỳ ý, bởi việc thay đổi nhiệt độ, thời gian gia nhiệt
hay thay đổi tỷ lệ các chất được sử dụng. Thông thường, chỉ có mặt
ngoài cùng của các phần tử cao su được lưu hoá. Để tránh sự lưu
hoá quá mức mủ cao su, người ta bỏ bớt các thành phần dư, bằng
cách ly tâm, sau khi gia nhiệt.
Bề ngoài của mủ cao su tiền lưu hoá trông như mủ cao su thường.
Hàm lượng lưu huỳnh kết hợp trong mủ cao su tiền lưu hoá luôn
luôn ở mức 1%.
Việc sử dụng mủ cao su tiền lưu hoá cho phép bỏ qua một số quá
trình (ví dụ, nghiền, pha trộn). Nó được sử dụng để sản xuất các mặt
hàng ngâm, nhúng và đúc (các mặt hàng phục vụ trong phẫu thuật
hay trong nghành dược phẩm) và, ngày càng được sử dụng trong
công nghiệp dệt hay sử dụng như chất kết dính. Nó còn được sử
dụng trong sản xuất một số loại giấy và da thuộc tổng hợp, và cho
cao su có các thuộc tính cách điện tốt (do trong mủ cao su tiền lưu
hoá hàm lượng của protein và các chất hoà tan thấp).
Mủ cao su tự nhiên hoặc được vận chuyển trong những thùng hình trống
có lớp vỏ bọc bên trong (chứa được khoảng 200 lít) hoặc ở dạng khối.
(B) Cao su tự nhiên ở các dạng khác.
Theo mục đích của nhóm này, thuật ngữ "cao su tự nhiên" áp dụng
cho loại cao su Hevea được vận chuyển theo cách truyền thống từ
nơi sản xuất, nói chung là sau khi đã được xử lí ở các nhà máy đồn
điền hoặc cho mục đích vận chuyển và bảo quản hoặc cho cao su tự
nhiên một số đặc tính đặc biệt làm dễ dàng cho việc sử dụng sau đó
hay là cải thiện chất lượng của các thành phẩm cuối cùng. Tuy
nhiên, để vẫn được phân loại ở đây, cao su đã qua xử lí như vậy phải
không được mất những đặc tính thiết yếu như một nguyên liệu thô;
thêm vào đó, nó không được thêm muội carbon, silica hay bất cứ
chất nào đó thuộc loại bị cấm trong Chú giải 5(A).
Quá trình đông tụ của mủ cao su tự nhiên xảy ra trong các bể chứa
có hình dạng khác nhau, nó có thể được trang  bị những vách ngăn
cơ động. Để tách các viên mủ cao su khỏi nước sữa, mủ được làm
đông tụ bằng cách axit hóa yếu, ví dụ, với 1% axit acetic hay với
0,5% axit formic. Ở cuối quá trình đông tụ, cục mủ đông được lấy ra
ở dạng mảnh hoặc ở dạng dải liên tục.
Quá trình xử lý sau đó khác nhau tuỳ theo sản phẩm là dạng tờ đã
được xông khói hay dạng crếp xanh xám (trắng) hay nâu, các hạt tái
kết tụ hay bột không dính.
(1) Cao su ở dạng tờ và dạng crếp.
Để sản xuất những tờ cao su, người ta đưa dải cao su vào trong
một máy cán, trong đó bộ máy dập nổi cuối cùng để lại trên bề
mặt những dấu hiệu đặc trưng (để dễ dàng làm khô bằng việc
tăng diện tích bay hơi). Khi dải cao su (với độ dày khoảng 3 đến
4 mm) hiện ra từ máy cán nó sẽ được cắt thành những tờ mỏng.
Những tờ cao su này sau đó hoặc được đặt trong lò sấy khô hay
trong lò hun khói. Mục đích của việc hun khói là để làm khô
cao su và để tẩm nó với các chất creosote có tác dụng như chất
chống oxi hoá và chất khử trùng.
Để sản xuất crếp xanh xám (trắng), cục cao su đông được đưa
vào một hệ thống các máy cán crếp. Những máy đầu có những
trục quay có rãnh trong khi những máy còn lại có những trục
quay nhẵn mịn, quay ở những tốc độ khác nhau. Hệ thống cán
này hoạt động dưới một dòng nước chảy liên tục để cao su được
rửa sạch một cách hoàn toàn. Sau đó, cao su được làm khô ở
nhiệt độ phòng hay trong không khí nóng, ở trong phòng có hệ
thống thông gió làm khô. Hai hay nhiều hơn các lớp crếp có thể
xếp chồng lên nhau tạo thành các phiến crếp làm đế giầy.
Cao su dạng tờ cũng được sản xuất bởi quá trình như sau: sau
khi mủ cao su đã đông tụ trong những bể chứa hình trụ, cục
mủ đông được cắt, bằng cách cưa, thành một dải dài, sau đó
chúng sẽ được cắt thành tờ và được làm khô (thường không
hun khói).
Một số dạng cao su (đặc biệt là crếp trừ crếp xanh xám) không
được sản xuất trực tiếp bằng cách đông tụ mủ cao su, mà được
sản xuất bằng việc kết tụ lại tiếp theo và làm sạch trong "máy
crếp" cục mủ đông thu được trong khi cạo mủ hoặc trong quá
trình xử lý tại nhà máy. Các tờ thu được, có độ dày khác nhau,
được làm khô theo cùng cách với crếp xanh xám.
Cao su tự nhiên được mô tả ở trên thường được mang bán phù
hợp với bề ngoài của nó ở các dạng và mức độ phù hợp với tiêu
chuẩn quốc tế được thiết lập bởi các tổ chức quốc tế có liên
Các loại thông dụng nhất là các tờ hun khói và các phần cắt
của chúng, cao su crếp xanh xám và các phần cắt của
chúng, crếp nâu và các tờ đã được tạo gân và làm khô bằng
không khí.
(2) Cao su tự nhiên đã định chuẩn về kỹ thuật (TSNR).
Đây là loại cao su tự nhiên ở dạng thô và khô mà chúng được
qua quá trình xử lý, kiểm tra và được xếp thành 5 hạng phổ biến
(5L, 5, 10, 20 và 50) theo các đặc điểm kỹ thuật trong bảng
dưới đây:
Bảng: Hạng cao su tự nhiên đã định chuẩn về kỹ thuật và các giới hạn
tối đa cho phép đối với mỗi tham số
HẠNG
THAM SỐ
Chất bẩn giữ lại
trên lưới 325
TSNR cần phải kèm theo một giấy chứng nhận kiểm nghiệm,
được cấp bởi các cơ quan chức năng có thẩm quyền của nước
sản xuất, chỉ rõ hạng, các tiêu chuẩn kỹ thuật và kết quả kiểm
nghiệm của cao su. Một số nước sản xuất có thể có các hạng
xếp loại với nhiều tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt hơn là các
tiêu chuẩn đã được chỉ ra trong bảng trên.  TSNR  được đóng
gói trong các bành có khối lượng 33 1/3 kg và được bọc bằng
polyethylen. Thông thường 30 hoặc 36 bành như vậy được xếp
trên giá kê hàng (pallet) và được phủ bằng lớp lót polyethylene
ở phía trong hoặc được bọc bằng polyethylene. Mỗi một kiện
hoặc giá kê có những dấu hiệu đặc biệt để chỉ ra hạng, trọng
lượng, mã nhà sản xuất...
(3) Cao su dạng hạt đã được tái kết tụ.
Kỹ thuật dùng để xử lý hạt cao su được thiết kế để tạo ra những
sản phẩm sạch hơn với những đặc tính ổn định và có một hình
(tối đa %wt.)  
Hàm lượng tro
(tối đa %wt.)
Hàm lượng Nitơ
(tối đa %wt.)
Hàm  lượng chất
bay hơi (tối đa
Độ dẻo Wallace-
Giá trị ban đầu
tối thiểu (Po)
Chỉ số duy trì độ
dẻo,
(tối
thiểu %)
Chỉ số màu
Lovibond, tối đa)
dạng bề ngoài tốt hơn so với cao su dạng tấm hoặc crếp.
Quá trình sản xuất này bao gồm việc tạo hạt nhỏ từ các cục mủ
đông, đặc biệt là việc làm sạch hoàn toàn, làm khô và ép thành
các bành. Một dây chuyền các máy có thể được sử dụng cho
việc tạo hạt nhỏ, như là máy cắt, máy băm búa, các máy tạo hạt
và các máy cán crếp. Hoạt động cơ học đơn thuần của chúng có
thể được tăng cường bằng việc thêm vào những lượng rất nhỏ
(0,2 đến 0,7%) dầu thầu dầu, kẽm stearate hoặc các tác nhân
làm vụn khác, được hòa trộn trong mủ trước khi làm đông tụ.
Các tác nhân làm vụn này không làm ảnh hưởng đến việc sử
dụng sau này hoặc đến các tính chất của cao su.
Các hạt này được làm khô trong các lò sấy có hộc được đẩy bán liên
tục, các lò sấy dạng ống có băng tải hoặc các lò vừa sấy- vừa đùn.
Các hạt đã làm khô này cuối cùng được ép lại, dưới áp suất cao,
thành các bành có dạng hình hộp có trọng lượng từ 32 đến 36
kg. Hạt cao su đã được tái kết tụ thường được bán với các tiêu
chuẩn kỹ thuật được bảo đảm.
(4) Bột không dính (free-flowing) từ cao su tự nhiên.
Chúng được điều chế như được nêu trong đoạn (3) ở trên nhưng
không được ép.
Để ngăn hạt khỏi tái đông tụ do khối lượng của bản thân chúng,
chúng được pha trộn trong quá trình điều chế với các chất trơ
được nghiền thành bột như bột talc hoặc các tác nhân chống
dính khác.
Bột cao su cũng có thể thu được bằng cách bơm vào trong các
buồng làm khô, cùng với mủ cao su, một chất trơ, như là đất
chứa silic, chỉ để ngăn ngừa việc kết tụ của các hạt.
(5) Các loại đặc biệt của cao su tự nhiên.
Nhiều loại cao su tự nhiên đặc biệt có thể thu được ở các dạng
đã được mô tả trong (1) đến (4) ở trên. Các loại chủ yếu là:
(a)  Cao su CV (có độ nhớt ổn định) và cao su LV (có độ
nhớt thấp).
Cao su CV thu được bằng việc thêm một lượng rất nhỏ
(0,15%)  hydroxylamine trước khi làm đông tụ và cao su
LV thu được bằng việc thêm một lượng nhỏ dầu khoáng
trước khi làm đông tụ.  
Chất hydroxylamine để ngăn cản sự tăng độ nhớt tự phát
của cao su tự nhiên trong quá trình lưu trữ. Việc sử dụng
loại cao su này cho phép các nhà sản xuất dự đoán được
thời gian xử lý cao su.
(b) Cao su đã peptit hoá.
Loại cao su này thu được bằng việc thêm vào mủ cao su,
trước khi làm đông tụ, một lượng xấp xỉ 0,5% tác nhân
peptit hoá, nó làm giảm độ nhớt của cao su trong suốt quá
trình làm khô. Vì vậy loại cao su này đòi hỏi thời gian xử lý
ngắn hơn.
(c) Cao su đã qua quá trình xử lý cao cấp.
Loại cao su này thu được hoặc bằng việc làm đông tụ một
hỗn hợp mủ thông thường và mủ đã được tiền lưu hoá hoặc
bằng việc pha trộn khối mủ đông tụ tự nhiên với khối mủ
đã được tiền lưu hoá; công dụng của nó làm cho việc đùn
và việc cán tráng cao su dễ dàng hơn.  
(d) Cao su đã tinh sạch.
Cao su này thu được bằng cách không thêm vào các chất
khác, mà bằng sự thay đổi của quá trình sản xuất cao su
thông thường, ví dụ, bằng việc quay ly tâm mủ.
Nó được sử dụng trong điều chế cao su được clo hoá và
trong sản xuất một vài mặt hàng đã lưu hoá (dây cáp
điện...) có các đặc tính sẽ bị ảnh hưởng bởi các tạp chất
thường có trong cao su.
(e) Cao su bọt.
Loại cao su này thu được bằng việc làm đông tụ sản phẩm
phụ của bọt mủ.
(f) Cao su chống kết tinh.
Loại cao su này được thu được bằng  việc thêm axit
thiobenzoic vào mủ trước khi làm đông tụ; bởi vậy nó trở
thành có tính chống đông lạnh.
(C) Nhựa cây balata.
Gôm balata, hoặc nhựa cây balata, được chiết từ mủ của một số cây
thuộc họ Sapotaceae, đặc biệt từ cây bullet-tree (Manilkara
bidentata) tìm thấy chủ yếu ở Brazil.
Nhựa cây balata là một sản phẩm có màu đỏ nhạt, phần lớn được
vận chuyển ở dạng các khối nặng tới 50 kg, nhưng đôi khi nó cũng
được vận chuyển ở dạng các tấm có độ dày từ 3 đến 6mm.
Nó được sử dụng chủ yếu cho sản xuất băng tải hoặc băng truyền
hoặc đai tải hoặc đai truyền. Nó cũng được sử dụng, pha trộn với
gutta-percha (nhựa két), trong sản xuất dây cáp ngầm dưới biển và
bóng đánh gôn.
(D) Gutta-percha (nhựa két) .
Nhựa két (Gutta-percha) được chiết xuất từ mủ của các cây khác
nhau thuộc họ Sapotaceae (tức là, thuộc giống Palaquium và giống
Nó có màu vàng hoặc màu vàng hơi đỏ. Tuỳ theo nguồn gốc của nó,
nó được vận chuyển hoặc ở dạng bánh nặng từ 0,5 đến 3 kg, hoặc ở
dạng khối nặng từ 25 đến 28 kg.
Ngoài các công dụng của nó, khi pha trộn với nhựa balata, trong sản
xuất cáp ngầm dưới biển, bóng chơi gôn và dây đai, nó cũng được
dùng cho việc tạo ra các vòng đệm kín cho bơm hoặc van, các trục
xe sợi lanh, các lớp lót thùng, chai đựng axit hydrofluoric, các chất
kết dính,…...
(E) Nhựa guayule (nhựa cây cúc cao su). Loại này được chiết ra từ mủ
của Parthenium argentatum, một cây bụi có xuất xứ ở Mêhico.
Cao su Guayule nhìn chung được vận chuyển ở dạng bánh hoặc tấm.
(F) Nhựa chicle (nhựa cây họ sacolasea). Loại này được chiết xuất từ
mủ có chứa trong vỏ một số cây thuộc họ Sapotaceae mọc ở vùng
nhiệt đới thuộc Châu Mỹ.
Loại này có màu hơi đỏ, và nhìn chung nó được vận chuyển ở dạng
bánh có nhiều kích cỡ khác nhau hoặc ở dạng khối nặng khoảng 10 kg.
Nó chủ yếu được sử dụng để sản xuất kẹo cao su. Nó cũng được
dùng cho sản xuất một số loại băng phẫu thuật và sản phẩm nha
(G) Các loại nhựa tự nhiên tương tự, ví dụ, jelutong.
Để được phân loại trong nhóm này, các loại nhựa này phải có đặc
tính giống như cao su.
(H) Các hỗn hợp của bất kỳ sản phẩm nào đã đề cập trước đó.  
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các hỗn hợp của bất kỳ sản phẩm nào thuộc nhóm này với bất kỳ sản
phẩm nào thuộc nhóm 40.02 (nhóm 40.02).
(b) Cao su tự nhiên, nhựa balata, nhựa két (gutta – percha), nhựa
guayule, nhựa chicle và các loại nhựa tự nhiên tương tự, được pha
trộn, trước hoặc sau khi đông tụ, với các chất bị cấm theo Chú giải 5
(A) Chương này (nhóm 40.05 hoặc 40.06).
40.02 - Cao su tổng hợp và các chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, ở
dạng nguyên sinh hoặc dạng tấm, tờ hoặc dải; hỗn hợp của một
sản phẩm bất kỳ của nhóm 40.01 với một sản phẩm bất kỳ của
nhóm này, ở dạng nguyên sinh hoặc dạng tấm, tờ hoặc dải.
đã được carboxyl hoá (XSBR):
4002.11 - - Dạng latex (dạng mủ cao su)
4002.19 - - Loại khác
isobuten-isopren (CIIR hoặc BIIR):
4002.39 - - Loại khác
4002.41 - - Dạng latex (dạng mủ cao su)
4002.49 - - Loại khác
4002.51 - - Dạng latex (dạng mủ cao su)
4002.59 - - Loại khác
4002.70 - Cao su diene chưa liên hợp- etylen- propylen (EPDM)
4002.80 - Hỗn hợp của sản phẩm bất kỳ thuộc nhóm 40.01 với
sản phẩm bất kỳ của nhóm này
⦁    Loại khác:
4002.91 - - Dạng latex (dạng mủ cao su)
4002.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Cao su tổng hợp như được định nghĩa trong Chú giải 4 của Chương
này (xem bên dưới). Nó bao gồm mủ cao su tổng hợp, đã hoặc chưa
được tiền lưu hoá, và cao su tổng hợp ở các dạng nguyên sinh khác
hoặc ở dạng tấm, tờ hoặc dải. Nhóm này cũng bao gồm cao su tổng
hợp đã được xử lý cho mục đích vận chuyển và bảo quản hoặc với
dự định đạt được các tính chất đặc biệt nhằm tạo thuận lợi cho việc
sử dụng nó sau này hoặc để nâng cao chất lượng sản phẩm cuối
cùng. Tuy nhiên, việc xử lý như vậy không được thay đổi đặc tính
cơ bản của nó như là một nguyên liệu thô. Đặc biệt nó phải không
chứa bất kỳ chất nào bị cấm bởi Chú giải 5 (A) của Chương này.
Trong số các sản phẩm mà chúng được pha trộn với nhau nhưng
chúng không bị loại trừ khỏi nhóm này theo các quy định của Chú
giải 5 đó là cao su bị trương nở bởi dầu; loại cao su này chứa tới
xấp xỉ 50% dầu.
(2) Chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu - chất thay thế cao su là sản
phẩm từ phản ứng của một vài loại dầu thực vật hoặc dầu cá (đã
hoặc chưa bị oxy hoá hoặc hydro hoá một phần) với lưu huỳnh hoặc
Chất thay thế cao su là chất yếu về mặt vật lý và nó được sử dụng
chủ yếu pha trộn với cao su tự nhiên hoặc cao su tổng hợp, và cũng
dùng cho sản xuất tẩy.
(3) Hỗn hợp của bất cứ sản phẩm nào được đề cập ở trên.
(4) Các hỗn hợp của bất kỳ sản phẩm nào thuộc nhóm 40.01 với bất
kỳ sản phẩm nào thuộc nhóm này.
Chú giải 4 (định nghĩa cao su tổng hợp)
Chú giải này có 3 phần. Trong khi các chất thuộc Phần (a) và (c) phải
tuân theo các tiêu chuẩn của sự lưu hoá, sự kéo dãn và phục hồi đã được
đề cập đến trong phần (a), chất dẻo có chứa  lưu huỳnh (thioplast) của
phần (b) được miễn trừ khỏi các yêu cầu này. Cần phải chú ý rằng định
nghĩa cao su tổng hợp không chỉ áp dụng đối với nhóm 40.02 mà còn đối
với Chú giải 1. Do đó, bất cứ nơi nào thuật ngữ cao su được sử dụng
trong Danh mục, nó bao gồm cả cao su tổng hợp như đã được định nghĩa
trong Chú giải 4.
Khái niệm "cao su tổng hợp" bao gồm:  
(a) Các chất tổng hợp chưa bão hoà, chúng đáp ứng các yêu cầu có
liên quan đến sự lưu hoá, kéo dãn và phục hồi như đã nêu trong
Phần (a) của Chú giải. Theo mục đích kiểm tra, các chất cần thiết
cho liên kết ngang, như các chất hoạt hoá lưu hoá, chất xúc tiến
hoặc các chất hãm có thể được thêm vào. Sự có mặt những lượng
nhỏ các sản phẩm phân nhỏ của các chất nhũ hóa (Chú giải 5 (B)
(ii)) và lượng rất nhỏ các chất phụ gia đưa vào với mục đích đặc biệt
được đề cập trong Chú giải 5 (B) (iii) cũng được cho phép. Tuy
nhiên, sự có mặt của bất kỳ chất nào không cần thiết cho liên kết
ngang, như thuốc màu (trừ loại cho thêm vào chỉ để cho mục đích
nhận dạng), các chất hoá dẻo, chất trương nở, chất độn, tác nhân gia
cố, các dung môi hữu cơ là không được chấp nhận. Như vậy, sự có
mặt của dầu khoáng hoặc diotyl phthalate là không được chấp nhận
cho mục đích kiểm tra.  
Vì thế, trong trường hợp các chất có chứa các vật liệu không được
phép trong Chú giải 4, chẳng hạn như dầu khoáng, việc kiểm tra sẽ
được thực hiện trên một mẫu không bao gồm các vật liệu đó hoặc
các vật liệu đó đã bị loại trừ khỏi mẫu đó. Trong trường hợp các mặt
hàng lưu hoá, mà không thể được kiểm tra như vậy, cần phải lấy
một mẫu vật liệu thô chưa được lưu hoá, để thực hiện việc kiểm tra.
Những chất tổng hợp chưa bão hoà như vậy bao gồm cao su styrene-
butadiene (SBR), các loại cao su styrene-butadiene đã được
carboxyl hoá (XSBR), cao su butadien (BR), cao su isobutene-
isoprene (butyl) (IIR), cao su halo-isobutene-isoprene (CIIR hoặc
chưa liên hợp- etylen- propylen (EPDM), cao su carboxylated
acrylonitrile-butadiene (XNBR) và cao su acrylonitrile-isoprene
(NIR). Để được phân loại như cao su tổng hợp, tất cả các chất này
phải tuân theo các tiêu chuẩn lưu hoá, kéo dãn và phục hồi đã được
đề cập ở trên.
(b) Chất dẻo có chứa lưu huỳnh (Thioplast (TM)) là các chất tổng hợp
bão hoà thu được bởi phản ứng của các dihalide aliphatic (béo) với
natri polysulphide; nhìn chung, chúng có khả năng lưu hoá với các
tác nhân lưu hoá dạng cổ điển. Các tính chất cơ học của một số loại
chất dẻo có chứa  lưu huỳnh nhất định thường kém hơn so với các
tính chất của các hạng cao su tổng hợp khác nhưng chúng có ưu thế
là chống lại các dung môi. Không nên nhầm lẫn chúng với
polysulphides thuộc nhóm 39.11 (xem Chú giải nhóm đó).
(c) Các sản phẩm đã liệt kê bên dưới, với điều kiện là chúng tuân thủ các
điều kiện đã được nêu trong đoạn (a) ở trên về sự lưu hoá,  kéo dãn
và phục hồi:
(1) Cao su tự nhiên đã được biến đổi, thu được bởi việc ghép hoặc
pha trộn cao su với plastic.
Loại cao su như vậy thường thu được bằng việc cố định một
monomer có khả năng polyme hoá vào cao su bằng việc dùng
một chất xúc tác polyme hoá hoặc bằng việc kết tủa đồng thời
mủ cao su tự nhiên với mủ polyme tổng hợp.
Đặc tính chủ yếu của cao su tự nhiên đã biến đổi là “tự củng cố”
ở chừng mực nào đó, các đặc tính của nó về phương diện này
tương tự như các đặc tính một hỗn hợp của cao su tự nhiên và
muội cacbon.
(2) Cao su tự nhiên đã được khử polyme hoá, thu được bằng cách
gia công cơ học (đập) ở nhiệt độ nhất định.
(3) Các hỗn  hợp của các chất tổng hợp chưa bão hoà với các
polymer cao phân tử tổng hợp bão hoà (ví dụ, các hỗn hợp
của cao su acrylonitrile-butadien và poly(vinylchloride)).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Elastomer (các chất đàn hồi) mà nó không tuân theo các điều kiện
trong Chú giải 4 Chương này (nhìn chung thuộc Chương 39).
(b) Các sản phẩm của nhóm này đã được pha trộn, trước hoặc sau khi
đông tụ, với các chất bị cấm bởi Chú giải 5(A) Chương này (nhóm
40.05 hoặc 40.06).
40.03- Cao su tái sinh ở dạng nguyên sinh hoặc dạng tấm,  
tờ hoặc dải.
Cao su tái sinh thu được từ cao su đã qua sử dụng, đặc biệt các loại lốp
xe, hoặc từ chất phế thải hoặc mảnh vụn, làm bằng cao su đã lưu hoá,
bởi việc làm mềm ("khử lưu hoá") cao su và loại bỏ một số chất không
mong muốn bằng nhiều phương pháp hoá học hoặc cơ học khác nhau.
Sản phẩm này chứa phần còn lại của sulphur hoặc các tác nhân lưu hoá
khác trong hợp chất và kém hơn so với cao su nguyên chất, mềm dẻo
hơn và dính hơn so với cao su nguyên chất. Nó có thể được đóng gói
thành các tấm được quét bột talc hoặc được tách riêng bởi màng mỏng
Nhóm này bao gồm cao su tái sinh ở dạng nguyên sinh hoặc ở dạng tấm,
tờ hoặc dải, đã hoặc chưa được trộn với cao su nguyên chất hoặc các
chất được thêm vào khác, với điều kiện sản phẩm này có đặc tính cơ bản
của cao su tái sinh.
40.04- Phế liệu, phế thải và mảnh vụn từ cao su (trừ cao su cứng) và
bột và hạt thu được từ chúng.
Khái niệm "phế liệu, phế thải và mảnh vụn" được định nghĩa trong Chú
giải 6 Chương này.
Nhóm này bao gồm:
(1) Phế liệu, phế thải và mảnh vụn cao su từ sản xuất hoặc gia công
cao su chưa được lưu hoá hoặc cao su đã được lưu hoá (trừ cao
su cứng).
(2) Các mặt hàng bằng cao su (trừ cao su cứng) hoàn toàn không sử
dụng được vì đã cắt nhỏ, hao mòn hoặc bởi những nguyên nhân
khác.
Loại này bao gồm các lốp cao su rất mòn không phù hợp cho việc
đắp lại và các mảnh vụn được thu được từ những lốp cao su bị mòn
như vậy, thường theo các quá trình sau:
(a) Cắt lốp, bằng một máy đặc biệt, càng sát vào vòng tanh hoặc gót
càng tốt.
(b) Việc tách để loại bỏ hoa lốp.
(c) Cắt thành các miếng.
Nhóm này loại trừ lốp đã qua sử dụng, thích hợp cho việc đắp lại
(nhóm 40.12).
(3) Bột và hạt thu được từ những mặt hàng của mục (1) và (2) ở
trên.
Chúng bao gồm phế liệu được nghiền của cao su đã lưu hoá. Chúng
có thể được sử dụng như một chất độn trong các vật liệu phủ mặt
đường hoặc trong hỗn hợp có thành phần cơ bản là cao su khác hoặc
để đúc trực tiếp thành các mặt hàng không yêu cầu có độ bền lớn.
Nhóm này loại trừ phế liệu, phế thải, mảnh vụn, bột và hạt từ cao su
cứng (nhóm 40.17).
40.05- Cao su hỗn hợp, chưa lưu hóa, ở dạng nguyên sinh hoặc dạng
tấm, tờ hoặc dải.
4005.10 - Hỗn hợp với muội carbon hoặc silica
4005.20 - Dạng hòa tan; dạng phân tán trừ các sản phẩm thuộc
phân nhóm 4005.10
⦁    Loại khác:
4005.91 - - Dạng tấm, tờ và dải
4005.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm cao su hỗn hợp mà nó chưa được lưu hoá và nó ở
dạng nguyên sinh hoặc ở dạng tấm, tờ hoặc dải.
Thuật ngữ "cao su" có cùng nghĩa như trong Chú giải 1 Chương này. Bởi
vậy nhóm này bao gồm cao su tự nhiên, nhựa balata, nhựa gutta-percha,
nhựa guagule, nhựa chicle và nhựa tự nhiên tương tự, cao su tổng hợp,
chất thay thế cao su dẫn xuất từ dầu, và các chất như vậy được tái sinh,
với điều kiện chúng đã được pha trộn với các chất khác.
Theo Chú giải 5 (A) của Chương này, các nhóm 40.01 và 40.02 không
áp dụng cho bất kỳ loại cao su hoặc hỗn hợp cao su nào mà chúng đã
được pha trộn, trước hoặc sau khi đông tụ, với các tác nhân lưu hoá, các
chất xúc tiến, các chất hãm hoặc các chất hoạt hoá (trừ các chất thêm vào
cho sản xuất mủ cao su tiền lưu hoá), thuốc màu hoặc các chất tạo màu
khác (trừ loại thêm vào chỉ nhằm mục đích nhận dạng), các chất  hoá dẻo
hoặc các chất trương nở (trừ dầu khoáng trong trường hợp của cao su bị
trương nở bởi dầu), các chất độn, các tác nhân gia cố, các dung môi hữu
cơ hoặc các chất khác, trừ các chất được cho phép bởi Chú giải 5(B).
Nhóm này bao gồm:
(A) Cao su được trộn lẫn với muội carbon hoặc silica (có hoặc không
có dầu khoáng hoặc các thành phần khác).
Loại này bao gồm một mẻ muội cacbon gồm xấp xỉ 40-70 phần là
muội carbon trên 100 phần của cao su khô; nó thường được bán trên
thị trường ở dạng kiện.  
(B) Cao su hỗn hợp không chứa muội cacbon hoặc silica.  
Loại này chứa các chất như các dung môi hữu cơ, các tác nhân lưu
hoá, các chất xúc tiến, chất hoá dẻo, chất trương nở, chất làm đặc và
các chất độn (trừ muội cacbon hoặc silica). Một vài trong số chúng
có thể chứa đất sét đỏ hoặc protein.
Hai mục này bao gồm các loại sản phẩm như sau:
(1) Mủ cao su hỗn hợp (kể cả mủ tiền lưu hoá) với điều kiện sau khi trộn
thì nó phải không có các đặc điểm của một chế phẩm được mô tả
một cách cụ thể hơn trong một nhóm khác của Danh mục.  
Như vậy, nhóm này loại trừ, ngoài các loại khác, véc ni và sơn làm
từ mủ cao su (latex) (Chương 32).
(2) Các chất phân tán và hòa tan của cao su chưa lưu hoá trong dung môi
hữu cơ, được sử dụng cho sản xuất các mặt hàng được nhúng hoặc
cho việc phủ ngoài các sản phẩm hoàn thiện.
(3) Tấm, tờ và dải, bao gồm các loại vải dệt kết hợp với cao su hỗn hợp,
trọng lượng hơn 1.500g/m2 và không chứa quá 50% tính theo trọng
lượng là vật liệu dệt.
Những sản phẩm như vậy thu được hoặc bằng cách cán tráng hoặc
bởi "sự tạo keo" (gumming) hoặc bởi sự kết hợp của cả hai quá
trình. Chúng được sử dụng chủ yếu cho sản xuất lốp xe, săm, ống
dẫn...
(4) Tấm, tờ và dải khác bằng cao su hỗn hợp mà nó có thể được sử dụng,
ví dụ, cho việc sửa chữa lốp xe hoặc săm ở bên trong (quá trình
nóng), cho sản xuất băng dính, các vòng đệm cho một số đệm kín
khí, hạt cao su... để đúc đế cao su.
(5) Cao su hỗn hợp ở dạng hạt, sẵn sàng cho sự lưu hoá, và được sử
dụng như loại dùng cho đúc khuôn (ví dụ, trong ngành công nghiệp
chế tạo giày).  
Tấm, tờ và dải (kể cả các khối có dạng hình học đều) thuộc nhóm này có
thể được gia công bề mặt (được in ấn, dập nổi, tạo rãnh, tạo gợn sóng,
tạo gân...) hoặc được cắt đơn giản thành dạng hình chữ nhật (kể cả hình
vuông), đã hoặc chưa mang đặc tính của các mặt hàng, nhưng có thể
không bị cắt cách khác hoặc được gia công thêm.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Các chất phân tán của chất màu có nồng độ cao (kể cả chất màu
(color lake)) trong cao su, được sử dụng như các vật liệu thô để tạo
màu toàn khối cao su (nhóm 32.04, 32.05 hoặc 32.06).
(b) Các sản phẩm ít nhiều nhão, có thành phần cơ bản là mủ cao su hoặc
cao su khác, được sử dụng như ma tít, các chất độn của sơn hoặc các
chế phẩm có bề mặt không chịu lửa (nhóm 32.14).
(c) Keo dán đã điều chế và chất kết dính đã điều chế khác bao gồm các
chất hòa tan hoặc phân tán của cao su với sự thêm vào các chất độn,
các tác nhân lưu hoá và nhựa, và các chất hòa tan hoặc phân tán của
cao su được đóng gói bán lẻ như keo dán hoặc các chất kết dính,
trọng lượng tịnh không quá 1kg (nhóm 35.06).
(d) Hỗn hợp của sản phẩm bất kỳ thuộc nhóm 40.01 với sản phẩm bất kỳ
thuộc nhóm 40.02 (nhóm 40.02).
(e) Cao su tái sinh pha trộn với cao su nguyên chất hoặc các chất thêm
vào khác và có đặc tính cơ bản của cao su tái sinh (nhóm 40.03).
(f) Tấm, tờ và dải từ cao su chưa lưu hoá, được gia công theo cách khác
ngoài việc gia công bề mặt hoặc được cắt thành các dạng hình khác
trừ hình chữ nhật (kể cả cả hình vuông) (nhóm 40.06).
(g) Tấm, tờ và dải bao gồm các sợi dệt song song được làm kết tụ bằng
cao su (nhóm 59.06).
40.06 – Các dạng khác (ví dụ, thanh, ống và dạng hình) và các sản
phẩm khác (ví dụ, đĩa và vòng), bằng cao su chưa lưu hóa.
4006.10 - Dải "camel-back" dùng để đắp lại lốp cao su
4006.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm cao su chưa lưu hoá ở các dạng chưa được chi tiết
trong các nhóm trước của Chương này và các mặt hàng bằng cao su chưa
được lưu hoá, đã hoặc chưa được pha trộn.
Nhóm này bao gồm:
(A) Cao su chưa lưu hoá dạng hình, ví dụ, tấm và dải của mặt cắt
ngang không phải là hình chữ nhật, nhìn chung được chế tạo bởi
việc ép đùn. Đặc biệt, nhóm này bao gồm dải "camel-back" với một
mặt cắt ngang mỏng hình thang, cho việc đắp lại lốp xe cao su.
(B) Các ống bằng cao su chưa lưu hoá, sản xuất bằng phương pháp ép
đùn và được sử dụng, đặc biệt là để lót ống thuộc nhóm 59.09.
(C) Các mặt hàng khác bằng cao su chưa lưu hoá, ví dụ:
(1) Chỉ cao su làm từ việc cắt theo đường xoắn của các tờ cao su
chưa lưu hoá hoặc bởi việc ép đùn các hỗn hợp với phần cơ bản
là mủ cao su (kể cả mủ cao su tiền lưu hoá).
(2) Vòng, đĩa và vòng đệm bằng cao su chưa lưu hoá, chủ yếu được
sử dụng cho việc bịt kín một số loại thùng chứa kín khí, hoặc bịt
kín các phần ráp nối giữa hai phần (thường là loại cứng).
(3) Tấm, tờ và dải bằng cao su chưa lưu hoá, được gia công theo
cách khác hơn mức gia công bề mặt hoặc được cắt thành các
dạng hình trừ hình chữ nhật (kể cả hình vuông).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng dính, bất kể vật liệu mang tính hỗ trợ nào (việc phân loại tùy theo
các vật liệu đó, ví dụ, nhóm 39.19, 40.08, 48.23, 56.03 hoặc 59.06).
(b) Đĩa và vòng đệm bằng cao su chưa lưu hoá, cùng với các miếng đệm
và các vật nối tương tự bằng vật liệu khác, được đóng gói vào túi
nhỏ, phong bì hoặc các đồ bao gói tương tự (nhóm 84.84).
40.07 – Chỉ sợi và dây bện bằng cao su lưu hóa.
Chỉ sợi cao su có thể được chế tạo bằng cách cắt từ tờ hoặc tấm cao su
lưu hoá, hoặc bằng cách lưu hoá chỉ sợi thu được bởi việc ép đùn.
Nhóm này bao gồm:
(1) Chỉ sợi làm hoàn toàn bằng cao su lưu hoá (tao dây đơn) của bất kỳ
mặt cắt ngang nào với điều kiện là không có kích thước mặt cắt
ngang nào vượt quá 5mm. Nếu vượt quá thì loại chỉ sợi này bị loại
trừ (nhóm 40.08).
(2) Dây bện (tao dây phức), bất kể độ dày của các dây mà nó có.
Nhóm này không bao gồm các vật liệu dệt kết hợp với chỉ sợi cao su
(Phần XI). Ví dụ, chỉ sợi và dây bện cao su phủ vật liệu dệt thuộc nhóm
40.08-  Tấm, tờ, dải, thanh và dạng hình, bằng cao su lưu hoá trừ
cao su cứng.
⦁    Từ cao su xốp:
4008.11 - - Dạng tấm, tờ và dải
4008.19 - - Loại khác
⦁    Từ cao su không xốp:
4008.21 - - Dạng tấm, tờ và dải
4008.29 - - Loại khác  
Nhóm này bao gồm:
(1)  Dạng tấm, tờ và dải (có kích thước mặt cắt ngang bất kỳ trên
5mm) ở dạng dài, hoặc được cắt từng đoạn đơn thuần hoặc cắt
thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông).  
(2) Các khối có dạng hình học đều.
(3) Que và dạng hình (kể cả chỉ sợi có các dạng mặt cắt ngang bất
kỳ, mà kích thước mặt cắt bất kỳ của nó trên 5mm). Dạng hình
thu được theo chiều dài trong một công đoạn riêng (thường là việc
ép đùn), và chúng có một mặt cắt ngang cố định hoặc lặp đi lặp lại,
từ đầu này đến đầu kia. Chúng được phân loại trong nhóm này, đã
hoặc chưa được cắt thành từng đoạn, nhưng không được cắt thành
một đoạn có kích thước nhỏ hơn kích thước mặt cắt ngang lớn nhất.
Các sản phẩm của nhóm này có thể được gia công bề mặt (ví dụ, được
in, dập nổi, tạo rãnh, tạo sóng, tạo gân...); chúng cũng có thể trơn hoặc
được tạo màu (hoặc trong khối hoặc trên bề mặt). Các dạng hình với một
bề mặt dính, được sử dụng để dán khung cửa sổ thì được phân loại trong
nhóm này. Nhóm này cũng bao gồm vật liệu trải sàn bằng cao su ở dạng
miếng, và dạng tấm rời để ghép, thảm (mat) và các mặt hàng khác, thu
được chỉ bằng cách cắt các tấm hoặc tờ cao su thành hình chữ nhật (kể
cả hình vuông).
Việc phân loại các sản phẩm làm từ cao su lưu hoá (trừ cao su cứng) kết
hợp (hoặc trong khối hoặc trên bề mặt) với các vật liệu dệt là tuân theo
các quy định của Chú giải 3 Chương 56 và Chú giải 5 Chương 59. Sản
phẩm kết hợp của cao su lưu hoá (trừ cao su cứng) với các vật liệu khác
vẫn được phân loại trong nhóm này với điều kiện chúng còn giữ đặc
tính cơ bản của cao su.  
Bởi vậy nhóm này bao gồm:  
(A) Tấm, tờ và dải bằng cao su xốp kết hợp với vải dệt (như được định
nghĩa trong Chú giải 1 Chương 59), nỉ hoặc sản phẩm không dệt,
với điều kiện là các vật liệu dệt này có mặt chỉ nhằm mục đích gia
cố.
Về mặt này, vải dệt, nỉ và vải không dệt chưa được trang trí, chưa
được tẩy trắng, đã tẩy trắng hoặc nhuộm màu đồng nhất khi áp dụng
đối với chỉ một mặt của tấm, tờ hoặc dải này, thì được coi như phục
vụ đơn thuần cho mục đích gia cố. Vật liệu dệt và các sản phẩm đặc
biệt được trang trí, in ấn hoặc được gia công kỹ lưỡng hơn, như là
vải nhung, vải tuyn và vải ren, được coi như là loại có chức năng
vượt quá chức năng gia cố đơn thuần.
Tấm, tờ và dải bằng cao su xốp kết hợp với vải dệt trên cả hai mặt,
bất kể bản chất của vải, bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm 56.02,
56.03 hoặc 59.06).
(B) Nỉ đã ngâm tẩm, bọc, phủ hoặc cán, tráng lớp mặt bằng cao su lưu
hoá (trừ cao su cứng) chứa 50% hoặc ít hơn tính theo trọng lượng là
vật liệu dệt hoặc được bao hoàn toàn trong cao su.
(C) Các sản phẩm không dệt, hoặc được bao hoàn toàn trong cao su,
hoặc được phủ hoặc bọc toàn bộ hai mặt bằng cao su, với điều kiện
là việc phủ hoặc bọc như vậy có thể nhìn thấy được bằng mắt
thường mà không cần quan tâm đến bất cứ sự thay đổi nào về màu
sắc.
Ngoài những cái khác, nhóm này không bao gồm:
(a) Băng tải hoặc băng truyền hoặc đai tải hoặc đai truyền bằng cao su
lưu hoá, đã hoặc chưa cắt thành từng đoạn (nhóm 40.10).
(b) Tấm, tờ và dải, đã hoặc chưa gia công bề mặt (kể cả hình vuông hoặc
hình chữ nhật cắt từ chúng), với các mép đã được cắt vát hoặc tạo
gờ, hoặc với các góc được làm tròn, các đường biên có lỗ thủng
hoặc được gia công theo cách khác, hoặc cắt thành các dạng trừ hình
chữ nhật (kể cả hình vuông) (nhóm 40.14,40.15 hoặc 40.16).
(c) Các sản phẩm vải dệt kết hợp với chỉ sợi cao su (các Chương 50 tới
55 hoặc 58).
(d) Các sản phẩm thuộc nhóm 56.02 hoặc 56.03.
(e) Các tấm thảm dệt hoặc thảm nói chung, với mặt sau bồi bằng cao su
xốp (Chương 57).
(f) Vải mành dùng làm lốp (nhóm 59.02).
(g) Vải dệt tráng cao su như định nghĩa trong Chú giải 5 Chương 59
(nhóm 59.06).
(h) Vải dệt kim hoặc vải đan, móc kết hợp với chỉ sợi cao su (Chương 60).
40.09 -  Các loại ống, ống dẫn và ống vòi, bằng cao su lưu hóa trừ
cao su cứng, có hoặc không kèm theo các phụ kiện để ghép
nối (ví dụ, các đoạn nối, khớp, khuỷu, vành đệm).
⦁    Chưa gia cố hoặc kết hợp với các vật liệu khác:
4009.11  - - Không kèm phụ kiện ghép nối
4009.12  - - Có kèm phụ kiện ghép nối
⦁    Đã gia cố hoặc kết hợp duy nhất với kim loại:
4009.21 - - Không kèm phụ kiện ghép nối
4009.22 - - Có kèm phụ kiện ghép nối
⦁    Đã gia cố hoặc kết hợp duy nhất với vật liệu dệt:
4009.31 - - Không kèm phụ kiện ghép nối
4009.32 - - Có kèm phụ kiện ghép nối
⦁    Đã gia cố hoặc kết hợp với vật liệu khác:
4009.41 - - Không kèm phụ kiện ghép nối
40.09.42 - - Có kèm phụ kiện ghép nối
Nhóm này bao gồm ống, ống dẫn và ống vòi có cấu tạo toàn bộ bằng cao
su lưu hoá (trừ cao su cứng) và ống, ống dẫn và ống vòi bằng cao su lưu
hoá (kể cả hệ thống vòi) được gia cố bằng việc xếp thành tầng, ví dụ,
bao gồm một hoặc nhiều “lớp” vải dệt hoặc một hoặc nhiều lớp chỉ dệt
được xếp song song, hoặc chỉ kim loại, được bọc trong cao su. Những
ống, ống dẫn và ống vòi như vậy cũng có thể bọc bằng một lớp vỏ bằng
vải mỏng hoặc với các sợi dệt đã được bọc hoặc tết bện; chúng cũng có
thể gắn vào một dây kim loại có đường ren bên trong hoặc bên ngoài.
Nhóm này không bao gồm ống, ống dẫn và ống vòi bằng các loại vật liệu
dệt, đôi khi được gọi là "ống vòi dệt", mà nó đã được làm để chống thấm
nước với một lớp phủ bên trong  bằng  mủ cao su hoặc một vỏ cao su riêng
biệt được lồng vào nó. Những mặt hàng như vậy thuộc nhóm 59.09.
Ống, ống dẫn và vòi vẫn được phân loại trong nhóm này thậm chí nếu có
cả các phụ kiện ghép nối (ví dụ, các đoạn nối, khớp, khuỷu, vành đệm),
với điều kiện là chúng vẫn có đặc tính cơ bản của hệ thống ống dẫn hoặc
hệ thống ống.
Nhóm này cũng bao gồm hệ thống ống bằng cao su lưu hoá, đã hoặc
không cắt thành từng đoạn, nhưng không bị cắt thành một đoạn có kích
thước nhỏ hơn kích thước mặt cắt ngang lớn nhất, ví dụ, các đoạn của hệ
thống ống dùng cho việc sản xuất ống trong.
40.10 - Băng tải hoặc đai tải hoặc băng truyền (dây cu roa) hoặc đai
truyền, bằng cao su lưu hóa.
⦁    Băng tải hoặc đai tải:
4010.11 - - Chỉ được gia cố bằng kim loại
4010.12 - - Chỉ được gia cố bằng vật liệu dệt
4010.19 - - Loại khác
⦁    Băng truyền hoặc đai truyền:
4010.31 - - Băng truyền liên tục có mặt cắt hình thang (băng chữ
V), có gân hình chữ V, với chu vi ngoài trên 60 cm
nhưng không quá 180 cm
4010.32 - -  Băng truyền liên tục có mặt cắt hình thang (băng  
chữ V), trừ băng truyền có gân hình chữ V, với chu vi
ngoài trên 60 cm nhưng không quá 180 cm
4010.33 - - Băng truyền liên tục có mặt cắt hình thang (băng chữ V),
có gân hình chữ V, với chu vi ngoài trên 180 cm
nhưng không quá 240 cm
4010.34 - - Băng truyền liên tục có mặt cắt hình thang (băng chữ
V), trừ băng truyền có gân hình chữ V, với chu vi
ngoài trên 180 cm nhưng không quá 240 cm
4010.35 - - Băng truyền đồng bộ liên tục, có chu vi ngoài trên 60
cm nhưng không quá 150 cm
4010.36 - - Băng truyền đồng bộ liên tục, có chu vi ngoài trên
150 cm nhưng không quá 198 cm
4010.39 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm băng tải hoặc băng truyền hoặc đai tải hoặc đai
truyền, toàn bộ bằng cao su lưu hoá, hoặc bằng vải dệt đã thấm tẩm, phủ,
bọc hoặc ép với cao su hoặc làm bằng chỉ dệt hoặc dây bện đã thấm tẩm,
tráng, phủ hoặc bọc bằng cao su (xem Chú giải 8 Chương này). Nó cũng
bao gồm dây đai bằng cao su lưu hoá được gia cố bằng vải sợi thuỷ tinh
hoặc sợi thuỷ tinh hoặc vải bằng sợi kim loại.
Dây đai (trừ dây đai toàn bộ bằng cao su lưu hoá) nhìn chung bao gồm
một cốt làm bằng một vài lớp vải, đã hoặc không được tráng cao su (ví
dụ, vải dệt ngang và vải dệt dọc, vải dệt kim hoặc móc, các lớp sợi chạy
song song) hoặc bằng cáp hoặc dải bằng thép mà toàn bộ được phủ bằng
cao su lưu hoá.
Nhóm này bao gồm dây đai chưa cắt (sẽ được cắt thành từng đoạn) cũng
như dây đai đã được cắt thành từng đoạn (đã hoặc không được nối phần
đầu với nhau hoặc được gắn với nhau bằng móc cài); nhóm này cũng
bao gồm các dây đai liên tục.
Tất cả các mặt hàng này có thể có mặt cắt ngang là hình chữ nhật, hình
thang (dây đai hình chữ V), hình tròn hoặc các mặt cắt ngang khác.
Dây đai có mặt cắt ngang hình thang là những sản phẩm có một hoặc
nhiều hình "V" trong mặt cắt. Bề mặt "V" được thiết kế để tạo ra tính
bám tốt và độ trượt ở mức tối thiểu dọc theo các mặt của con lăn. Loại
này bao gồm, ví dụ, dây đai có mặt cắt ngang với:
(A) Dạng hình thang đơn
(B) Dạng hình thang trên các mặt đối diện  
(C) Hai hoặc nhiều dạng hình thang trên cùng mặt (V-gân)
Dây đai có gân hình chữ V là dây đai liên tục có bề mặt kéo với gân theo
chiều dọc, nó được gài và kẹp chặt, do ma sát, có hình dạng tương tự
rãnh ròng rọc. Dây đai có gân hình chữ V thuộc kiểu dây đai chữ V.
Các rãnh (đã được đúc khuôn hoặc cắt) trong các dây đai hình chữ V làm
giảm ứng suất uốn và giúp tán nhiệt từ quá trình uốn nhanh chóng; đây
là vấn đề đặc biệt quan trọng trong sự dẫn động nơi mà các dây đai chạy
qua những con lăn nhỏ ở tốc độ cao. Các rãnh này, trừ rãnh theo chiều
dọc, không ảnh hưởng đến việc phân loại của dây đai hình  chữ V.
Dây đai đồng bộ (xem minh họa) được thiết kế để truyền năng lượng
trong khi duy trì một mối liên hệ chuyển động quay thường xuyên giữa
các con lăn. Sản phẩm đã hoàn thiện thường đơn giản là một đai định
thời. Các khía hình V, luôn trên bề mặt trong của dây đai, được tạo ra để
vận hành trơn tru với con lăn đã khía hình V. Dây đai đồng bộ không có
mặt cắt ngang hình thang.
Dây đai thuộc nhóm này có thể ở dạng vòng khép kín (dạng ống) mà các
mặt hàng hoàn chỉnh có thể được cắt từ nó; việc này không ảnh hưởng
đến việc phân loại hàng hoá.
Băng tải đồng bộ
Băng tải hoặc băng truyền hoặc đai tải hoặc đai truyền đi kèm với máy
móc hoặc thiết bị mà chúng được thiết kế cho máy móc hoặc thiết bị đó,
đã hoặc chưa lắp ráp, được phân loại với máy móc hoặc thiết bị đó (ví
dụ, Phần XVI).
40.11 - Lốp loại bơm hơi bằng cao su, chưa qua sử dụng (+).
4011.10 - Loại sử dụng cho ô tô con (motor car) (kể cả loại ô tô
chở người có khoang chở hành lý chung (station
wagons) và ô tô đua)
4011.20 - Loại dùng cho ô tô buýt hoặc ô tô vận tải
4011.30 - Loại sử dụng cho phương tiện bay
4011.40 - Loại dùng cho xe mô tô
4011.50 - Loại dùng cho xe đạp
4011.70  - Loại dùng cho xe và máy nông nghiệp hoặc lâm nghiệp
4011.80 - Loại dùng cho xe và máy xây dựng, hầm mỏ hoặc xếp
dỡ công nghiệp
4011.90 -Loại khác
Các loại lốp này có thể dùng trong bất cứ loại xe cộ hoặc máy bay nào,
trong đồ chơi có bánh, máy móc có bánh, vũ khí pháo binh có bánh...
Chúng có thể cần hoặc không cần có săm bên trong.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 4011.70
Hình ảnh một vài kiểu lốp được chi tiết trong phân nhóm này được đưa
ra dưới đây chỉ cho mục đích minh họa.
Các ví dụ về các lốp cho xe và máy nông nghiệp:
Các ví dụ về lốp cho xe và máy lâm nghiệp :
Phân nhóm 4011.80
Hình ảnh một vài kiểu lốp được chi tiết trong phân nhóm này được đưa
ra dưới đây chỉ cho mục đích minh họa.
Các ví dụ về các lốp cho xe và máy xây dựng, hầm mỏ hoặc xếp
dỡ công nghiệp:
40.12 -  Lốp bằng cao su loại bơm hơi đã qua sử dụng hoặc đắp lại;
lốp đặc hoặc nửa đặc, hoa lốp và lót vành, bằng cao su (+).
⦁    Lốp đắp lại:
4012.11 - - Loại sử dụng cho ô tô con (motor car) (kể cả loại ô tô
chở người có khoang chở hành lý chung (station
wagons) và ô tô đua)
4012.12 - -  Loại dùng cho ô tô khách (1) hoặc ô tô chở hàng:
4012.13 - - Loại sử dụng cho phương tiện bay
4012.19 - - Loại khác
4012.20 - Lốp loại bơm hơi đã qua sử dụng
4012.90 - Loại khác  
Nhóm này bao gồm lốp bơm hơi đã được đắp lại bằng cao su và lốp hơi đã
qua sử dụng bằng cao su, phù hợp cho việc dùng tiếp hoặc cho việc đắp lại.
Lốp đặc được sử dụng, ví dụ, trong đồ chơi có bánh xe và các mặt hàng nội
thất có thể di chuyển được. Lốp nửa đặc, là loại lốp đặc với một khoảng
trống chứa không khí bên trong được gắn kín, được sử dụng cho xe cút kít
và xe đẩy tay. Hoa lốp được gắn chặt với chu vi của khung lốp bơm hơi và
nói chung có dạng hoa lốp có gân. Chúng được sử dụng để đắp lại cho lốp
bơm hơi. Nhóm này cũng bao gồm những hoa lốp có thể thay đổi cho
nhau, chúng thể hiện ở dạng các vòng đã được lắp ở trên khung của lốp và
được thiết kế đặc biệt cho mục đích đó. Lót vành được sử dụng để bảo vệ
săm khỏi vành kim loại hoặc các đầu các nan hoa.
Nhóm này không bao gồm lốp đặc hoặc lốp nửa đặc của các sản phẩm
thuộc Chương 39, ví dụ, polyurethane (thường thuộc Phần XVII) và lốp
đã mòn không phù hợp để đắp lại (nhóm 40.04).
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 4012.11, 4012.12, 4012.13, 4012.19 và 4012.20
Trong phạm vi của các phân nhóm 4012.11, 4012.12, 4012.13 và
4012.19, thuật ngữ “lốp đắp lại” bao gồm các lốp mà hoa lốp của chúng
đã mòn cần phải lấy ra khỏi khung của lốp và hoa lốp mới được tạo nên
bởi một trong hai phương pháp sau: (i) hoa lốp được đúc từ cao su chưa
lưu hoá vào khung của lốp hoặc (ii) hoa lốp đã lưu hoá được gắn vào
khung của lốp bằng dải cao su lưu hoá. Những lốp như thế có thể đã trải
qua quá trình top- capping (thay thế hoa lốp), re-capping (thay thế hoa
lốp với vật liệu mới có khả năng dãn dài vượt quá phần của mặt vách của
lốp) hoặc bead-to-bead retreading (thay thế hoa lốp và đổi mới mặt vách
của lốp bao gồm đổi toàn bộ hay một phần mặt vách của lốp).
Các lốp đã qua sử dụng của phân nhóm 4012.20 có thể được cắt lại hoặc
tạo rãnh lại, các rãnh mòn (nhưng còn nhìn thấy) của hoa lốp được làm
sâu bằng cách cắt. Việc tạo lại rãnh như vậy thường được thực hiện ở
các lốp dùng cho xe có động cơ hạng nặng (ví dụ, xe buýt hoặc xe tải).
Lốp đã qua sử dụng đã cắt lại hoặc tạo rãnh lại không xếp vào các phân
nhóm 4012.11, 4012.12, 4012.13 và 4012.19.
Lốp của phân nhóm 4012.11, 4012.12, 4012.13, 4012.19 và 4012.20
cũng có thể được cắt lại bổ sung, trong đó các rãnh ngang và rãnh chéo
được thêm vào mẫu hoa lốp ban đầu bằng cách cắt. Việc cắt lại bổ sung
như thế không ảnh hưởng đến sự phân loại của chúng như là lốp đắp lại
của các phân nhóm 4012.11, 4012.12, 4012.13, 4012.19 hoặc lốp đã qua
sử dụng của phân nhóm 4012.20.
Tuy nhiên, lốp bơm hơi chưa qua sử dụng đã trải qua việc cắt lại bổ sung  
rãnh vẫn được phân loại trong các phân nhóm tương ứng của chúng
thuộc nhóm 40.11.
40.13 - Săm các loại, bằng cao su.
4013.10 - Loại dùng cho ô tô con (motor car) (kể cả ô tô chở người
có khoang chở hành lý chung (station wagons) và ô tô
đua), ô tô khách hoặc ô tô chở hàng
4013.20 - Loại dùng cho xe đạp
4013.90 - Loại khác
Săm được lắp vào lốp của, ví dụ, ô tô con, xe rơ-moóc hoặc xe đạp.
40.14 - Sản phẩm vệ sinh hoặc y tế (kể cả núm vú cao su), bằng cao
su lưu hóa trừ cao su cứng, có hoặc không kèm theo các phụ
kiện để ghép nối bằng cao su cứng.
4014.10 - Bao tránh thai
4014.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm những hàng hoá bằng cao su lưu hoá trừ cao su cứng
(có hoặc không có phụ kiện để ghép nối bằng cao su cứng hoặc các vật
liệu khác), thuộc loại dùng cho các mục đích vệ sinh hoặc phòng bệnh.
Bởi vậy nó bao gồm, không kể những cái khác, bao tránh thai, ống dẫn
lưu, bơm tiêm và quả bóp cho bơm tiêm, các dụng cụ phun thuốc, ống
nhỏ giọt... các núm vú (các núm vú cho em bé), màng chắn núm vú, túi
chườm đá, chai đựng nước nóng, túi đựng oxy, bao ngón tay, đệm hơi
thiết kế đặc biệt cho việc điều trị (ví dụ, kiểu vòng).
Nhóm này không bao gồm quần áo hoặc các phụ kiện quần áo (ví dụ, tạp dề
và găng tay của các bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ X quang) (nhóm 40.15).
40.15 - Sản phẩm may mặc và đồ phụ trợ may mặc (kể cả găng tay,
găng hở ngón và găng bao tay), dùng cho mọi mục đích, bằng
cao su lưu hóa trừ cao su cứng.
⦁    Găng tay, găng tay hở ngón và găng bao tay:  
4015.12 - - Loại dùng cho các mục đích y tế, phẫu thuật, nha
khoa hoặc thú y
4015.19 - - Loại khác
4015.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các mặt hàng may mặc và đồ phụ trợ may mặc (kể
cả găng tay, găng tay hở ngón và găng bao tay), ví dụ, găng tay và quần
áo bảo vệ dùng cho ĩ ngành giải phẫu, ngành X quang, thợ lặn,..., dù
được lắp ráp bởi cách dùng một chất kết dính hoặc bởi việc khâu hoặc
bởi các cách khác. Các mặt hàng này có thể:
(1) Toàn bộ bằng cao su.
(2) Bằng các loại vải dệt thoi, dệt kim hoặc móc, phớt hoặc sản phẩm
không dệt, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với cao su, trừ những
mặt hàng nằm trong Phần XI (xem Chú giải 3 Chương 56 và Chú
giải 5 Chương 59).
(3) Bằng cao su, với các bộ phận bằng vải dệt, khi cao su là thành phần
mang lại cho hàng hoá đặc tính cơ bản của chúng.
Những hàng hoá trong ba loại được trích dẫn ở trên bao gồm áo khoác
không tay, tạp dề, cái đỡ tay áo, yếm, thắt lưng và dây đai áo nịt ngực.
Các mặt hàng sau bị loại trừ khỏi nhóm này:  
(a) Các mặt hàng quần áo và phụ kiện quần áo bằng vật liệu dệt kết hợp
với chỉ sợi cao su (Chương 61 hoặc Chương 62).
(b) Giày dép và các bộ phận của nó thuộc Chương 64.
(c) Đồ đội đầu (kể cả mũ tắm) và các bộ phận của đồ đội đầu thuộc
Chương 65.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 4015.12
Găng tay phẫu thuật là mặt hàng mỏng, chịu được giằng xé cao được chế
tạo bằng cách nhúng, dùng cho các nhà phẫu thuật. Nhìn chung chúng
được trình bày trong các đồ bao gói vô trùng.
Găng tay loại dùng cho các mục đích y tế, phẫu thuật, nha khoa hoặc thú
y là găng tay không vô trùng số lượng lớn hoặc vô trùng được đóng gói
dùng một lần có độ kín nước và độ bền kéo cao để bảo vệ bệnh nhân và
người sử dụng khỏi bị lây nhiễm chéo. Những găng tay này cũng có thể
được sử dụng cho mục đích chẩn đoán, trong phòng thí nghiệm nghiên
cứu khoa học và y tế hoặc để xử lý các vật liệu y tế bị ô nhiễm.
40.16 - Các sản phẩm khác bằng cao su lưu hóa trừ cao su cứng.
4016.10 - Bằng cao su xốp
⦁    Loại khác:
4016.91 - - Tấm phủ sàn và tấm, đệm trải sàn (mat):  
4016.92 - - Tẩy
4016.93 - - Miếng đệm, vòng đệm và các miếng chèn khác
4016.94 - - Đệm chống va cho tàu thuyền hoặc ụ tàu, có hoặc
không bơm phồng được
4016.95 - - Các sản phẩm có thể bơm phồng khác
4016.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả các mặt hàng bằng cao su lưu hoá (trừ cao su
cứng) không nằm trong các nhóm trước của Chương này hoặc các
Chương khác.
Nhóm này bao gồm:
(1) Các mặt hàng bằng cao su xốp.
(2) Tấm phủ sàn và tấm, đệm trải sàn (kể cả thảm trong nhà tắm), trừ
các loại thảm hình chữ nhật (kể cả hình vuông) cắt từ các tấm hoặc
tờ bằng cao su và không được gia công thêm hơn mức gia công bề
mặt (xem Chú giải nhóm 40.08).
(3) Tẩy.
(4) Miếng đệm, vòng đệm và miếng chèn khác.
(5) Đệm chống va cho tàu thuyền hoặc ụ tàu, có hoặc không bơm phồng
được.
(6) Đệm, gối và nệm bơm hơi và các mặt hàng có khả năng phồng lên
khác (trừ các mặt hàng thuộc nhóm 40.14 hoặc 63.06)); đệm nước
(7) Dải cao su; túi đựng thuốc lá; các ký tự để đóng dấu ngày tháng và
những sản phẩm tương tự.
(8) Nút và vòng đệm cho lọ.
(9) Rôto máy bơm và khuôn đúc; lớp lót cao su cho máy vắt sữa; vòi
nước, đầu vòi, van và các mặt hàng tương tự; các mặt hàng khác
dùng cho mục đích kỹ thuật (kể cả các bộ phận và phụ kiện của máy
móc và thiết bị thuộc phần XVI và của các thiết bị và máy móc
thuộc Chương 90).
(10) Cao su đặt trên khung gầm, tấm chùi bùn đất và bọc bàn đạp cho xe
mô tô, má phanh, tấm chắn bùn và khối bàn đạp cho xe đạp và các
bộ phận và phụ tùng khác cho xe cộ, máy bay hoặc tàu thuyền của
Phần XVII.
(11) Tấm, tờ và dải được cắt đơn thuần thành dạng không phải hình chữ
nhật, và các mặt hàng bị loại trừ khỏi nhóm 40.08 vì chúng đã được
khắc cạnh, tiện, lắp ráp bằng việc dán hoặc khâu hoặc đã được gia
công theo cách khác.
(12) Các miếng vá hình chữ nhật (kể cả hình vuông) với mép bị cắt xiên
và các miếng vá có dạng hình bất kỳ khác dùng cho việc vá chữa
săm, thu được bằng việc đúc khuôn, cắt hoặc mài, nhìn chung bao
gồm một lớp cao su tự lưu hoá trên một lớp bồi cao su đã lưu hoá
và, tuân theo các điều kiện của Chú giải 5 Chương 59, những miếng
vá như vậy bao gồm một vài lớp vải và cao su.
(13) Búa có đầu bằng cao su.
(14) Móc hút nhỏ, tấm lót để đồ trên bàn, nút bồn rửa, nút đóng mở bồn
rửa, chặn cửa, chân đế cao su cho chân đồ nội thất và các mặt hàng
khác sử dụng trong gia đình.
Các mặt hàng sau cũng bị loại trừ khỏi nhóm này:
(a) Các mặt hàng bằng các loại vải dệt thoi, dệt kim hoặc móc, phớt hoặc
sản phẩm không dệt, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với cao su,
thuộc Phần XI (xem Chú giải 3 Chương 56 và Chú giải 5 Chương
59) và các mặt hàng làm từ vật liệu dệt kết hợp với chỉ sợi cao su
(Phần XI).
(b) Giày dép và các bộ phận của giày dép thuộc Chương 64.
(c) Đồ đội đầu (bao gồm cả mũ tắm) và các bộ phận của nó, thuộc
Chương 65.
(d) Dụng cụ cầm giữ chân không (vòng kẹp hút) bao gồm một đế, một
tay cầm và một cần chân không, bằng kim loại cơ bản, và đĩa cao su
(Phần XV).
(e) Xuồng và bè cao su (Chương 89).
(f) Các bộ phận và phụ kiện của dụng cụ âm nhạc (Chương 92).
(g) Đệm, gối và các loại nệm bằng cao su xốp, đã hoặc chưa được bọc,
kể cả tấm làm ấm giường bằng điện được gắn bên trong bằng cao su
xốp, thuộc nhóm 94.04.
(h) Đồ chơi, trò chơi và dụng cụ, thiết bị thể thao và các bộ phận của nó
thuộc Chương 95.
(ij) Con dấu đóng ngày tháng, niêm phong hoặc số, và các đồ tương tự,
được thiết kế để sử dụng bằng tay, và các mặt hàng khác thuộc
Chương 96.
40.17 - Cao su cứng (ví dụ, ebonit) ở các dạng, kể cả phế liệu và phế
thải; các sản phẩm bằng cao su cứng.
Cao su cứng (ví dụ, ebonit) thu được bởi việc lưu hoá cao su với một tỷ
lệ cao (trên 15/100 của cao su) là sulphur đã kết hợp. Cao su cứng cũng
có thể chứa các thuốc màu và chất độn ở mức độ cao, ví dụ, than, đất sét
và silica. Trường hợp không có chất độn, thuốc màu và cấu trúc xốp, cao
su cứng là một vật liệu cứng, có màu đen nâu (hoặc đôi khi có màu đỏ)
nó tương đối cứng và không co dãn và có thể dập khuôn, cưa, khoan,
tiện, đánh bóng được... Nhiều loại cao su cứng thu được ở dạng hoàn
thiện bóng láng cao khi đã được đánh bóng.
Nhóm này bao gồm cao su cứng kể cả các loại xốp, ở tất cả các dạng kể
cả phế liệu và mảnh vụn.
Nhóm này cũng bao gồm tất cả các mặt hàng cao su cứng chưa được chi
tiết hoặc ghi trong các Chương khác. Nó bao gồm thùng chứa, máng xối,
các mặt hàng của hệ thống ống dẫn, cán dao và quả đấm cửa, tay nắm và
những thứ tương tự của tất cả các loại, đồ vệ sinh và các mặt hàng phục
vụ vệ sinh.
Không kể những cái khác, nhóm này loại trừ:  
(a) Các thiết bị cơ khí hoặc điện hoặc các bộ phận của chúng thuộc Phần
XVI (kể cả mặt hàng điện các loại), bằng cao su cứng.
(b) Các bộ phận và phụ kiện bằng cao su cứng dùng cho xe cộ, máy
bay... mà chúng được phân loại trong nhóm bất kỳ của các Chương
từ 86 đến 88.
(c) Các dụng cụ và thiết bị cho các mục đích y tế, phẫu thuật, nha khoa
hoặc thú y và các dụng cụ và thiết bị khác thuộc Chương 90.
(d) Các thiết bị âm nhạc và các bộ phận và phụ kiện của chúng  
(Chương 92).
(e) Các tấm ốp che tay và các bộ phận khác của vũ khí (Chương 93).
(f) Đồ nội thất, đèn (luminaires) và bộ đèn, và các mặt hàng khác thuộc
Chương 94.
(g) Đồ chơi, thiết bị trò chơi và dụng cụ, thiết bị thể thao (Chương 95).
(h) Bàn chải và các mặt hàng khác thuộc Chương 96.
PHẦN VIII
DA SỐNG, DA THUỘC, DA LÔNG VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ DA;
YÊN CƯƠNG VÀ BỘ ĐỒ YÊN CƯƠNG; HÀNG DU LỊCH,  
TÚI XÁCH TAY VÀ CÁC LOẠI ĐỒ CHỨA TƯƠNG TỰ;  
CÁC MẶT HÀNG TỪ RUỘT ĐỘNG VẬT  
(TRỪ RUỘT CON TẰM)