chu giai 2022 chuong 28 29_2
⦁ Loại khác:
2836.99 - - Loại khác
Ngoài các loại trừ đã nêu trong phần giới thiệu ở Phân Chương này,
nhóm này bao gồm:
(I) Carbonat (carbonat trung tính, hydrocarbonat hoặc bicarbonat,
carbonat bazơ) - các muối kim loại của axit carbonic không phân
lập được (H2CO3), anhydrit của nó (CO2) được xếp vào nhóm 28.11.
(II) Peroxocarbonat (percarbonat), tức là carbonat có chứa một lượng
dư oxy như (Na2CO4)(peroxomonocarbonat) hoặc (Na2C2O6)
(peroxodicarbonat); thu được là nhờ tác dụng của CO2 với peroxit
kim loại.
(1) Amoni carbonat. Thu được bằng cách đun nóng hỗn hợp phấn và
amoni sulphat (hoặc clorua), hoặc bằng cách trộn CO2 với khí
NH3với sự có mặt của hơi nước.
Quá trình này tạo ra amoni carbonat thương phẩm mà, ngoài một
số tạp chất khác (clorua, sulphat, chất hữu cơ), Chúng còn có chứa
amoni hydro carbonat và amoni carbonat (NH2COONH4).Dạng
amoni carbonat thương phẩm (bao gồm cả trong Nhóm này) tồn tại
ở dạng khối kết tinh màu trắng hoặc dạng bột, hòa tan trong nước
nóng. Nó bị biến chất ở không khí ẩm với sự hình thành bề mặt của
axit carbonat, nhưng có thể vẫn được sử dụng ở trạng thái này.
Amoni carbonat được sử dụng như chất cẩn màu trong nhuộm hoặc
in vải dệt; như chất làm sạch len; làm thuốc long đờm trong y học;
trong sản xuất muối ngửi hoặc bột nở, trong thuộc da, trong công
nghiệp cao su, trong luyện kim cadimi, trong tổng hợp hữu cơ, v.v.
(a) Dinatri carbonat (carbonat trung tính) (Na2CO3).Bị gọi tên
không đúng là "carbonat soda" hoặc "soda thương phẩm"; Không
nên lẫn lộn với NaOH (xút ăn da) thuộc nhóm 28.15. Có thể thu
được bởi đun nóng dung dịch NaCl và NH3 với dioxit carbon, và
bị phân hủy khi đang đun nóng để tạo ra axit natri carbonat.
Tồn tại dạng như loại bột khan (hoặc ngậm nước), hoặc tinh thể
Hydrat (tinh thể soda, soda giặt), với 10 H2O, nở bông trong
không khí tạo ra monohydrat (với 1 H2O). Được sử dụng trong
nhiều lĩnh vực công nghiệp như: làm chất chảy trong công
nghiệp thủy tinh và trong gốm sứ, trong công nghiệp dệt; trong
sản xuất chất giặt rửa; trong nhuộm; trong hồ lụa (với clorua
stanic); như sản phẩm chống gỉ (xem Chú giải Chi tiết nhóm
38.24); trong điều chế NaOH, các loại muối Natri và Indigo
(xanh chàm); trong luyện Wolfram, bismush, antimon hoặc
vanadi; trong ngành ảnh; làm sạch nước công nghiệp (quá trình
vôi soda) và, trộn với vôi, để làm sạch khí than.
(NaHCO3).Thường ở dạng bột kết tinh hoặc dạng tinh thể trắng,
tan trong nước, đặc biệt khi đun nóng, và có khả năng bị phân
hủy ở môi trường ẩm. Được sử dụng trong y học (cho điều trị sỏi
thận); cho sản xuất thuốc viên tiêu hóa và sản xuất đồ uống có
ga; trong điều chế bột nướng trong công nghiệp sứ,....
Natri carbonat tự nhiên (natron,v.v.) được loại trừ (nhóm 25.30).
(a) Dikali carbonat (carbonat trung tính) (K2CO3)Tên gọi không
đúng là "potass"; không nên lẫn lộn với KOH (potass ăn da)
thuộc nhóm 28.15. Được điều chế từ tro thực vật, phần còn lại
của beetwash và mỡ lông cừu nhưng phần lớn từ KCl. Khối kết
tinh, màu trắng, rất dễ chảy rữa, hòa tan trong nước. Được sử
dụng trong sản xuất thủy tinh hoặc gốm; cho tẩy trắng vải lanh
hoặc tẩy sạch vải dệt; làm sạch sơn; để điều chế các muối kali,
xyanua, bột màu xanh phổ; chế phẩm chống gỉ,...
Được điều chế bằng cách cho CO2tác dụng với carbonat trung
tính; dạng tinh thể màu trắng hòa tan trong nước, chảy rữa không
đáng kể. Được sử dụng trong các bình chữa cháy; trong sản xuất
bột nở; trong y học và trong rượu nho (chống axit).
(4) Canxi carbonat kết tủa. Canxi carbonat kết tủa (CaCO3) bao gồm
trong nhóm này được tạo ra bằng cách xử lý dung dịch muối canxi
với CO2. Được sử dụng như một chất độn, trong sản xuất thuốc đánh
răng và phấn bôi mặt, trong y học (điều trị bệnh còi xương), v.v.
Nhóm này loại trừ đá vôi tự nhiên (Chương 25) và phấn (canxi
carbonat tự nhiên), có hay không được rửa và có đất (nhóm 25.09)
và canxi carbonat ở dạng bột, các hạt được bao với màng không
thấm nước của các axit béo (ví dụ, axit steararic) (nhóm 38.24).
(5) Bari carbonat kết tủa. Bari carbonat kết tủa(BaCO3) bao gồm trong
nhóm này, được điều chế từ Na2CO3 và BaS. Bột màu trắng, không
hòa tan trong nước. Được sử dụng để làm sạch nước công nghiệp;
cho sản xuất thuốc diệt ký sinh trùng, thủy tinh quang học và bari
oxit tinh khiết; như một chất màu và chất trợ dung trong men sứ;
trong công nghiệp cao su, giấy, xà phòng hoặc đường; trong pháo
hoa (tạo ánh sáng màu xanh).
BaCO3 tự nhiên (witherite) được loại trừ (nhóm 25.11).
(6) Chì carbonat.
Chì carbonat nhân tạo, bao gồm trong chương này là:
(a) Chì carbonat trung tính(PbCO3). Bột màu trắng, kết tinh hoặc
vô định hình, không hòa tan trong nước. Được sử dụng trong
gốm sứ và trong sản xuất bột màu, matit và phẩm chàm (Indigo).
(b) Chì carbonat bazơ thuộc thể loại 2 PbCO3.Pb(OH2) ở dạng bột,
cục, vẩy hoặc bột nhão, được hiểu là "chì trắng". Chì trắng thu
được từ chì acetat khi cho axit acetic tác dụng với chì lá hoặc
litharge; một chất màu khô. Được sử dụng trong sản xuất sơn
dầu, làm chất trợ dung, làm matit loại đặc biệt (ví dụ, các điểm
nối của ống dẫn hơi nước) và tạo chì da cam. Chì trắng (được sử
dụng đơn lẻ hoặc hỗn hợp với BaSO4, ZnO, thạch cao hoặc cao
lanh) cho màu trắng Krems, trắng Venetian, trắng Hamburg,...
Chì carbonat tự nhiên (cerussite) được loại trừ (nhóm 26.07).
(7) Liti carbonat. Liti carbonat trung tính (Li2CO3), được điều chế bằng
cách cho kết tủa Li2SO4 với Na2CO3; dạng bột kết tinh trắng, không
mùi, không bị ảnh hưởng ngoài không khí, ít hòa tan trong nước.
Được sử dụng trong y học (tạng uric) và trong điều chế hỗn hợp
nước khoáng nhân tạo.
(8) Stronti carbonat kết tủa: Stronti carbonat kết tủa (SrCO3)bao gồm
trong nhóm này là bột màu trắng rất mịn, không hòa tan trong nước.
Được sử dụng trong pháo hoa (tạo ánh sáng đỏ) và trong sản xuất
thủy tinh có màu óng ánh, sơn phát quang, tạo stronti oxit hoặc muối
Stronti carbonat tự nhiên (strontianite) được loại trừ (nhóm 25.30).
(9) Bismut carbonat. Bismut carbonat nhân tạo bao gồm trong nhóm này về
căn bản là Bismut carbonat bazơ (bismuthyl carbonat) ((BiO)2CO3), dạng
bột vô định hình màu hơi vàng hoặc trắng, không hòa tan trong nước.
Được sử dụng trong y học và trong sản xuất mỹ phẩm.
Bismut hydrocarbonat tự nhiên (bismutite) được loại trừ (nhóm
(10) Magie carbonat kết tủa. Magie carbonat kết tủa, bao gồm trong
nhóm này, là một carbonat bazơ, ngậm nước. Được điều chế bằng
cách phân huỷ kép natri carbonat và MgSO4. Sản phẩm màu trắng
không mùi, hầu như không hòa tan trong nước. Carbonat nhẹ là dạng
muối magie trắng dùng trong dược phẩm, làm thuốc nhuận tràng
thường đóng gói dạng viên hình lập phương. Carbonat nặng là ở
dạng bột hạt nhỏ màu trắng. Magie carbonat được sử dụng làm màng
lọc cho giấy, hoặc cao su, cũng được sử dụng trong mỹ phẩm và làm
vật liệu cách nhiệt.
Nhóm này loại trừ magie carbonat tự nhiên (magnesite) (nhóm
(11) Mangan carbonat. Carbonat nhân tạo (MnCO3), khan hoặc ngậm
nước (với 1 H2O) bao gồm trong nhóm này, là dạng bột mịn, màu
vàng, hơi hồng hoặc hơi nâu, không hòa tan trong nước. Được sử
dụng làm chất màu trong sơn, cao su và gốm, cũng được sử dụng
trong y học.
Mangan carbonat tự nhiên ((rhodocrosite or dialogite)được loại trừ
(nhóm 26.02).
(12) Sắt carbonat. Sắt carbonat nhân tạo (FeCO3)khan hoặc ngậm nước
(với 1 H2O) bao gồm trong nhóm này, được điều chế khi phân hủy
kép sắt sulphat và Na2CO3. Dạng tinh thể hơi xám, không hòa tan
trong nước, dễ bị oxy hóa ngoài không khí, đặc biệt ở môi trường
ẩm. Được sử dụng điều chế các muối sắt và trong các chế phẩm
thuốc.
Sắt carbonat tự nhiên (siderite or chalybite) được loại trừ (nhóm
(13) Coban carbonat. Coban carbonat CoCO3, khan hoặc ngậm nước
(với 6 H2O), là dạng bột tinh thể, hồng, đỏ hoặc hơi xanh, không
hòa tan trong nước. Được sử dụng làm chất màu trong men sứ và
điều chế oxit hoặc muối coban.
(14) Niken carbonat. Niken carbonat nhân tạo thông thường (NiCO3) là
bột màu xanh sáng, không hòa tan trong nước, được sử dụng làm bột
màu trong gốm và trong điều chế niken oxit. Carbonat bazơ hydrat
(ngậm nước) là tinh thể màu hơi xanh, được sử dụng trong gốm, làm
thủy tinh, mạ điện, v.v.
Niken carbonat bazơ tự nhiên (zaratite) được loại trừ (nhóm 25.30).
(15) Đồng carbonat. Carbonat nhân tạo, cũng được gọi là malachite
nhân tạo hoặc đồng xanh nhân tạo (màu xanh azure của đồng), là bột
màu xanh, độc và không hòa tan trong nước, bao gồm carbonat trung
tính (CuCO3) hoặc carbonat bazơ của nhiều loại khác nhau. Được
điều chế từ Na2CO3 và CuSO4. Được sử dụng làm chất màu, dạng
tinh khiết hoặc hỗn hợp (CuCO3 xanh hoặc xanh da trời...); làm
thuốc diệt côn trùng hoặc diệt nấm; trong y học (được làm chất giải
độc phospho); trong mạ điện; trong kỹ nghệ pháo hoa,...
Đồng carbonat tự nhiên, dạng ngậm nước hoặc không (malachite,
azurite) được loại trừ (nhóm 26.03).
(16) Kẽm carbonat kết tủa. Kẽm carbonat kết tủa (ZnCO3) bao gồm
trong nhóm này là được điều chế bằng cách phân hủy kép Na2CO3
và ZnSO4; dạng bột trắng kết tinh, hầu như không hòa tan trong
nước. Được sử dụng làm chất màu trong sơn, cao su, gốm và mỹ
phẩm.
ZnCO3 tự nhiên (smithsonite) được loại trừ (nhóm 26.08).
(1) Natri peroxocarbonat. Được điều chế bằng cách xử lý natri peroxit,
ngậm nước hoặc không, với CO2 lỏng. Dạng bột màu trắng, hòa tan
trong nước tạo ra oxy tự do và Na2CO3trung tính. Được sử dụng để
tẩy trắng; trong điều chế các chất tẩy rửa gia dụng và trong ngành
ảnh.
(2) Kali peroxocarbonat. Thu được bằng cách điện phân ở nhiệt độ -
10°C hoặc - 15°C dung dịch bão hòa K2CO3trung tính. Dạng tinh thể
trắng, rất hút ẩm, chuyển sang xanh ở môi trường ẩm và hòa tan
trong nước. Là tác nhân oxy hóa mạnh đôi khi được sử dụng cho tẩy
trắng.
(3) Các loại peroxocarbonat khác, ví dụ, amoni hoặc bari
28.37 – Xyanua, xyanua oxit và xyanua phức.
⦁ Xyanua và xyanua oxit:
2837.11 - - Của natri
2837.19 - - Loại khác
2837.20 - Xyanua phức
Ngoài những loại trừ đã nêu ra trong phần giới thiệu trong Phân Chương
này, nhóm này bao gồm xyanua, xyanua oxit (oxyxyanua) và xyanua
phức.
Xyanua là dạng muối kim loại của hydro xyanua (axit cyanhydric)
(HCN) (nhóm 28.11). Những muối này rất độc.
(1) Natri xyanua (NaCN). Thu được bởi tác dụng của than cốc hoặc khí
hydrocacbon và nitơ khí quyển với Na2CO3, bằng xử lý canxi
xyanamit (xem nhóm 31.02) với than hoặc bởi phản ứng giữa bột
than đá, natri và khí amoniac. Dạng bột, dạng phiến hoặc nhão, màu
trắng, kết tinh, hút ẩm, rất dễ hòa tan trong nước và có mùi vị hơi
đắng hạnh nhân. Khi đun nóng tới nhiệt độ nóng chảy nó hấp thụ
oxy; cũng có thể cho dạng hydrat. Được bảo quản trong bình đậy
kín. Được sử dụng trong tính luyện vàng hoặc bạc, trong mạ vàng
hoặc bạc, trong ngành ảnh, trong thuật in thạch bản, như làm chất
diệt ký sinh trùng và côn trùng,... Cũng được sử dụng trong điều chế
hydro xyanua, xyanua khác và phẩm màu Indigo; trong quy trình
tuyển nổi (đặc biệt cho tách gelena từ blende (khoáng) và pyrit từ
(2) Kali xyanua (KCN). Thu được bằng phương pháp tương tự, có tính
chất và cách sử dụng tương tự NaCN.
(3) Canxi xyanua Ca(CN)2. Bột trắng hoặc hơi xám tùy thuộc vào mức
độ tinh khiết, hòa tan trong nước. Được sử dụng để diệt côn trùng,
nấm và động vật gây hại.
(4) Niken xyanua Ni(CN)2. Bột hoặc phiến màu hơi xám, ngậm nước;
bột màu hơi vàng vô định hình. Được sử dụng trong luyện kim và
trong mạ điện.
(5) Đồng xyanua.
(a) Đồng I xyanua (CuCN). Bột màu trắng hoặc hơi xám, không
hòa tan trong nước. Được sử dụng với mục đích tương tự như
Cu(CN)2 và trong y học.
(b) Đồng II xyanua Cu(CN)2. Bột vô định hình, không hòa tan
trong nước, dễ bị phân hủy. Được sử dụng để mạ sắt với đồng và
trong tổng hợp hữu cơ.
(6) Kẽm xyanua Zn(CN)2. Bột màu trắng, không hòa tan trong nước,
được sử dụng trong mạ điện.
Nhóm này không bao gồm xyanua của thủy ngân (nhóm 28.52) và
xyanua của á kim, như brom xyanua (nhóm 28.53).
Hexacyanoferrates (II) (ferroxyanua) là muối kim loại của hydro
hexacyanoferrate (II) (H4Fe(CN)6)(nhóm 28.11). Thu được từ oxit spent
được xử lý với Ca(OH)2 hoặc từ phản ứng của Fe(OH)2 với xyanua. Bị
phân hủy bởi nhiệt.
Quan trọng nhất là:
(1) Tetraamoni hexacyanoferrate ((NH4)4Fe(CN)6). Dạng tinh thể hòa
tan trong nước. Được sử dụng cho “mạ niken đen" và dùng làm chất
xúc tác trong tổng hợp amoniac.
(2) Tetranatri hexacyanoferrate (Na4Fe(CN)6.10H2O). Dạng tinh thể
màu vàng, không bị ảnh hưởng bởi không khí, hòa tan trong nước,
đặc biệt khi đun nóng. Được sử dụng điều chế HCN và chất màu
xanh phổ, thio – indigo,...; làm cứng thép; trong ngành ảnh; trong
nhuộm (làm chất cẩn màu hoặc tạo màu xanh nhẹ); trong in ấn (như
tác nhân oxy hóa trong in đen anilin) và làm thuốc diệt nấm.
(3) Tetrakali hexacyanoferrate (K4Fe(CN)6.3H2O) Dạng tinh thể màu
vàng, tạo bông, hòa tan trong nước, đặc biệt khi đun nóng. Được sử
dụng tương tự như tetranatri hexacyanoferrate.
(4) Dicopper hexacyanoferrate (Cu2Fe(CN)6.xH2O) Dạng bột nâu tím,
không hòa tan trong nước. Được dùng để điều chế bột màu nâu
Florentine hay Vandyck để làm thuốc vẽ trong nghệ thuật.
(5) Muối kép hexacyanoferrates (ví dụ, diliti, dikali hexacyanoferrate
Nhóm này loại trừ màu xanh Prussian (xanh Berlin) và các chất màu
khác trên cơ sở của hexacyanoferrates (nhóm 32.06).
Hexacyanoferrates (III) (ferricyanides) là dạng muối của hydro
hexacyanoferrate (III) (H3Fe(CN)6) (nhóm 28.11).
Quan trọng nhất là:
(1) Trinatri hexacyanoferrate(Na3Fe(CN)6.H2O).Thu được bằng cách
cho clo tác dụng với hexacyanoferrates (II); tinh thể nâu đỏ, dễ chảy
rữa, hòa tan trong nước và độc, dạng dung dịch nước có màu hơi
xanh và bị phân hủy bới ánh sáng. Được sử dụng trong nhuộm và in
ấn; trong ngành ảnh; làm cứng thép; trong mạ điện; và là tác nhân
oxy hóa trong tổng hợp hữu cơ.
(2) Trikali hexacyanoferrate(K3Fe(CN)6). Bên ngoài tương tự như trinatri
hexacyanua - ferrat nhưng ít chảy rữa. Ứng dụng tương tự như vậy.
(D) CÁC HỢP CHẤT KHÁC
Bao gồm Pentacyanonitrosylferrat (II), pentacyanonitrosylferrates (III),
cyanoniccolat, cyanocuprat,..., của các bazơ vô cơ.
Nhóm này bao gồm, ví dụ, natripentacyanonitrosylferrate (III) (natri
nitroprusside hoặc natri nitroferricyanide) (Na2Fe(CN)5NO.2H2O), được
sử dụng trong phân tích hóa học.
Cyanomercurates bị loại trừ (nhóm 28.52).
28.39 – Silicat; silicat kim loại kiềm thương phẩm.
⦁ Của natri:
2839.19 - - Loại khác
2839.90 - Loại khác
Ngoài các loại trừ như đã nêu trong phần giới thiệu của Phân Chương
này, nhóm này bao gồm silicat, muối kim loại của các dạng axit silicic
khác nhau, không phân lập được ở trạng thái tự do và được chuyển hóa từ
SiO2 (nhóm 28.11).
(1) Natri silicat. Thu được bằng cách nung chảy cát và Na2CO3 hoặc
Na2SO4. Thành phần của chúng là rất đa dạng (monosilicat,
metasilicat, polysilicat,...), và mức độ hydrat hóa của chúng và độ
hòa tan của chúng cũng phụ thuộc vào phương pháp điều chế và mức
độ tinh khiết của chúng. Xuất hiện ở dạng tinh thể hoặc dạng bột
không màu, dạng khối đục (thủy tinh nước) hoặc ít nhiều ở dạng
dung dịch sền sệt. Chúng được sử dụng để khử keo tụ quặng và được
sử dụng để điều khiển quá trình tuyển nổi. Cũng được sử dụng để
làm chất độn cho sản xuất xà phòng silicat; làm chất kết dính trong
sản xuất giấy bìa hoặc trong than kết tụ; làm nguyên liệu chống
cháy; cho bảo quản trứng; trong sản xuất chất kết dính không bị thối
rữa; cũng như là tác nhân làm đông cứng trong chế phẩm xi măng
chống ăn mòn, matit hoặc đá nhân tạo; cho sản xuất các chế phẩm
tẩy rửa; tẩy sạch kim loại; các sản phẩm chống gỉ (xem Chủ giải Chi
tiết nhóm 38.24).
(2) Kali silicat. Được sử dụng với mục đích tương tự natri silicat.
(3) Mangan silicat(MnSiO3).Bột màu da cam, không hoà tan trong nước.
Được sử dụng tạo màu trong gốm và như một chất làm khô cho sơn
hoặc vecni.
(4) Canxi silicat kết tủa. Bột màu trắng thu được từ kali hoặc natri
silicat. Được sử dụng trong sản xuất pisés chống cháy và xi măng
hàn răng.
pisés, and dental cements.
(5) Bari silicat. Chất bột trắng được dùng để sản xuất oxit bari và thủy
tinh quang học.
(6) Chì silicat. Xuất hiện ở dạng bột hoặc khối màu trắng trong; được sử
dụng làm men trong gốm sứ.
(7) Các silicat khác, bao gồm các silicat kim loại kiềm thương phẩm trừ
các loại đã liệt kê ở trên. Chúng bao gồm xeri siicat (bột màu vàng,
được sử dụng trong gốm sứ), kẽm silicat (lớp phủ ngoài các bóng
đèn huỳnh quang), nhôm silicat (sản xuất sứ và các sản phẩm chịu
nhiệt).
Các silicat tự nhiên bị loại trừ trong nhóm này, ví dụ:
(hoặc phenakite) (berili silicat), và titanite (titan silicat) (nhóm
(b) Các quặng như đồng silicat (chrysocolla, dioptase), kẽm hydrosilicat
(hemimorphite) và zirconi silicat (ziron) (nhóm 26.03, 26.08 và
(c) Các loại đá quý của Chương 71.
⦁ Dinatri tetraborat (borat tinh chế - hàn the):
2840.11 - - Dạng khan
2840.19 - - Loại khác
2840.20 - Borat khác
Ngoài các loại trừ nêu trong phần giới thiệu của Phân Chương này,
nhóm này bao gồm borat, muối kim loại của các dạng axit boric khác
nhau, phần lớn là axit boric thông dụng hoặc axit orthoboric (H3BO3)
(nhóm 28.10).
Borat thu được bằng cách kết tinh hoặc bằng quá trình hóa học được kể
ra trong nhóm này, cũng là các loại borat tự nhiên, thu được bằng cách
cho bay hơi nước muối phức từ một số hồ muối.
(1) Natri borat. Quan trọng nhất là tetraborat (dinatri tetraborat, borac
(natri tetraborat) tinh chế) (Na2B4O7).Thu được bằng cách kết tinh
các dung dịch borat tự nhiên, hoặc bằng cách xử lý canxi borat tự
nhiên hoặc axit boric với Na2CO3. Là dạng khan hoặc ngậm nước
với 5 H2O hoặc 10 H2O. Đun nóng và sau đó làm lạnh, sẽ thu được
khối trong (borat nóng chảy, borat thủy tinh, borat hạt). Được sử
dụng để hồ vải lanh hoặc giấy; trong que hàn (làm hạ độ chảy trong
que hàn cứng); làm chảy men sứ; trong sản xuất các chất mầu đục,
thủy tinh đặc biệt (thủy tinh quang học, thủy tinh cho bóng đèn
điện), keo hoặc làm chất đánh bóng; và cho tinh chế vàng; và điều
chế borat và thuốc nhuộm anthraquinon.
Đó là các loại natri borat khác (metaborat, hydro diborat) sử dụng
trong phòng thí nghiệm.
(2) Amoni borat. Quan trọng nhất trong số các borat này là metaborat
(NH4BO2.2H2O).Tinh thể không màu, dễ hòa tan trong nước, dạng
bông. Bị phân hủy bởi nhiệt để cho một lớp vecni nóng chảy của
anhydrit boric; vì vậy nó được sử dụng như một vật liệu chống cháy.
Cũng được sử dụng như một chất hãm trong các dung dịch nhuộm
tóc; như một thành phần của chất điện phân cho tụ điện điện phân và
trong tráng phủ giấy.
(3) Borat canxi kết tủa. Thu được bằng cách xử lý borat tự nhiên với
clorua canxi; dạng bột trắng dùng trong các chất làm chậm cháy,
trong các chế phẩm chống đông và trong các đồ cách điện bằng sứ.
Nó cũng có thể được dùng như một chất khử trùng.
(4) Mangan borat. Chủ yếu là tetraborat (MnB4O7),dạng bột màu hồng
nhạt, ít tan. Được dùng như một chất làm khô trong sơn hoặc vecni.
(5) Niken borat. Tinh thể xanh nhạt, được dùng như một chất xúc tác.
(6) Đồng borat. Tinh thể xanh, rất rắn, không tan trong nước. Được
dùng như một chất màu (các màu gốm sứ) và như một chất khử
trùng và thuốc trừ sâu.
(7) Chì borat. Chất bột xám, không hòa tan trong nước. Nó được dùng
để chế các chất làm khô, trong làm kính, như một chất màu cho sứ và
trong mạ điện.
(8) Các borat khác. Cadimi borat được dùng để tráng phủ cho các ống
huỳnh quang, Coban borat được dùng như một chất làm khô; kẽm
borat như một chất khử trùng, trong vải chống cháy hoặc như một
chất gây chảy trong gốm sứ, zircon borat như một chất làm mờ đục.
Các natri borat tự nhiên (kernite, tincal), được dùng để chế các borat của
nhóm này, và các canxi borat tự nhiên (pandermite, priceite), được dùng
trong sản xuất axit boric, chúng đều được loại trừ (nhóm 25.28).
Theo các loại trừ nêu trong phần giới thiệu của Phân Chương
này, nhóm này bao gồm các peroxoborat kim loại, chứa nhiều oxy hơn
borat và dễ dàng giải phóng ôxy của chúng.
Chúng là các sản phẩm phức hợp thông thường mà công thức của chúng
ứng với một số axit chẳng hạn như HBO3 hoặc HBO4.
Các peroxoborat chủ yếu là:
(1) Peroxoborat natri(perborac). Thu được bằng cách cho peroxit natri
tác dụng với dung dịch nước của axit boric, hoặc bằng xử lý một
dung dịch nước borat natri với peroxit hydro. Dạng bột vô định hình
màu trắng hoặc tinh thể màu trắng (với 1 hoặc 4 H2O). Được dùng
cho tẩy trắng vải và rơm rạ; để bảo quản da sống; trong sản xuất các
chế phẩm giặt tẩy gia đình, bột giặt và chất khử trùng.
(2) Peroxoborat magie. Chất bột trắng, không tan trong nước, dùng
trong y học hoặc trong sản xuất thuốc đánh răng.
(3) Peroxoborat kali. Có đặc tính và cách sử dụng tương tự như
(4) Các Peroxoborat khác. Peroxoborat của amoni, nhôm, canxi hoặc
kẽm, chúng tồn tại ở dạng bột trắng, được dùng trong y học và trong
sản xuất thuốc đánh răng.
28.41 - Muối của axit oxometalic hoặc axit peroxometalic.
2841.50 - Cromat và dicromat khác; peroxocromat
⦁ Manganit, manganat và permanganat:
2841.69 - - Loại khác
2841.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các muối của oxometallic và peroxomatalic axit
(tương ứng với oxit kim loại mà tạo nên anhydrit).
Các nhóm chính của các hợp chất được giới hạn trong nhóm này là:
(1) Aluminat. Là dẫn xuất của nhôm hydroxit
(a) Natri aluminat. Thu được bằng cách xử lý bôxit với dung dịch
NaOH. Tồn tại ở dạng bột trắng hòa tan trong nước, dạng dung
dịch nước hoặc dạng nhão. Được sử dụng làm chất cẩn màu
trong nhuộm (chất cẩn màu kiềm); trong chế phẩm của chất màu
đỏ; cho hồ giấy; như một chất phụ gia cho xà phòng; để tạo nhựa
cứng; cho sản xuất thủy tinh mờ; làm sạch nước công nghiệp,....
(b) Kali aluminat. Được điều chế bằng cách hòa bôxit trong KOH.
Đó là dạng khối vi tinh thể màu trắng, hút ẩm và hòa tan trong
nước. Được sử dụng tương tự như Natri Aluminat.
(c) Canxi aluminat. Thu được bằng cách nung hỗn hợp gồm Boxit
và canxi oxit trong lò nung điện; dạng bột trắng, không hòa tan
trong nước. Được sử dụng trong nhuộm (cẩn màu); làm sạch
nước công nghiệp (chất trao đổi ion); trong làm giấy (hồ giấy);
trong sản xuất thủy tinh, xà phòng, xi măng đặc biệt, chế phẩm
đánh bóng và các dạng aluminat khác.
(d) Crom alumiat. Thu được bằng cách nung nóng hỗn hợp của oxit
nhôm (Al2O3), canxi florua (CaF2) và amoni dicromat. Được sử
dụng làm màu gốm.
(e) Coban aluminat. Được điều chế từ natri aluminat và muối
coban. Nó tạo thành, hoặc dạng tinh khiết hoặc hỗn hợp với
nhôm oxit, xanh coban (xanh Thenard). Được sử dụng trong
điều chế phẩm màu xanh lơ (với kẽm aluminat), màu xanh azure,
xanh smalt, xanh Saxony, xanh Sévres,...
(j) Kẽm aluminat. Dạng bột trắng được sử dụng với mục đích tương
tự natri aluminat.
(g) Bari aluminat. Được điều chế từ bôxit, barytes và than đá; dạng
khối màu nâu hoặc trắng. Được sử dụng để làm sạch nước công
nghiệp và làm các hợp chất chống gỉ.
(h) Chì aluminat. Thu được bằng cách nung nóng hỗn hợp của chì oxit
và nhôm oxit. Dạng rắn, không dễ nóng chảy, được sử dụng làm bột
màu trắng và cho sản xuất gạch chịu lửa và lớp lót chịu lửa.
Nhóm này không bao gồm beri aluminat tự nhiên (chrysoberyl)
(nhóm 25.30, 71.03 hoặc 71.05 tùy trường hợp).
(2) Cromat. Cromat trung tính hoặc axit (dicromat), tri-, tetra- và
percromat được chế từ các axit cromic khác nhau, đặc biệt axit thông
thường (H2CrO4)hoặc từ axit dicromic (H2Cr2O7), các axit này
không phân lập được ở dạng tinh khiết.
Các loại muối độc của nhóm này chủ yếu này là:
(a) Kẽm cromat. Xử lý muối kẽm với kali dicromat (K2Cr2O7) cho
dạng muối ngậm nước hoặc kẽm cromat bazơ. Là dạng bột,
không hòa tan trong nước. Làm chất màu, dạng đơn lẻ hay hỗn
hợp, chứa màu vàng kẽm. Trộn với xanh phổ, nó tạo thành dạng
màu xanh lá cây kẽm.
Saxony blue, Sèvres blue, etc.
(b) Chì cromat.
Chì cromat nhân tạo trung tính được điều chế từ phản ứng giữa
chì axetat và natri dicromat (Na2Cr2O7). Là dạng bột màu vàng
hoặc đôi khi màu da cam hoặc đỏ tùy thuộc vào phương pháp kết
tủa. Tồn tại dạng đơn lẻ hoặc hỗn hợp, các chất màu này chứa
màu vàng crom, được sử dụng trong men sứ, trong gốm và trong
sản xuất sơn hoặc vecni, v.v.
Cromat bazơ, đơn lẻ hoặc hỗn hợp, chứa màu đỏ crom hoặc màu
đỏ Batư.
(c) Natri cromat. Natri cromat (Na2CrO4.10H2O) thu được trong
quá trình sản xuất crom bằng cách nung hỗn hợp sắt crom oxit tự
nhiên (cromit) với than và natri cacbonat (Na2CO3). Đó là dạng
tinh thể lớn màu vàng, chảy rữa và rất dễ hòa tan trong nước.
Được ứng dụng trong nhuộm (chất cẩn màu); trong thuộc da; để
sản xuất mực, bột màu hoặc cromat khác hoặc dicromat khác.
Được sử dụng trong hỗn hợp với antimon sunphua để sản xuất
bột đèn nháy để chụp ảnh.
Natri dicromat (Na2Cr2O7.2H2O),, được điều chế từ natri cromat,
dạng tinh thể đỏ chảy rữa, hòa tan trong nước. Bị chuyển thành
dạng khan khi đun nóng và ít bị chảy rữa hơn dicromat (tức là,
cromat nấu chảy hoặc đổ khuôn) thường chứa một lượng nhỏ
natri sunphat (Na2SO4). Được sử dụng trong thuộc da (tananh -
crom); trong nhuộm (cẩn màu và oxy hóa); như làm tác nhân oxy
hóa trong tổng hợp hữu cơ; trong ngành ảnh; trong in ấn; trong
sản xuất pháo hoa; trong tinh chế và khử màu chất béo; cho sản
xuất pin dicromat và keo gelatin dicromat (mà dưới tác động của
ánh sáng, chuyển thành các sản phẩm không hòa tan trong nước
nóng); trong quá trình tuyển nổi (khử, giảm sức nổi); trong nhà
máy lọc dầu; như một chất khử trùng.
(d) Kali cromat. Kali cromat (K2CrO4)(Kali cromat có màu vàng)
được điều chế từ cromite. Là dạng tinh thể màu vàng, hòa tan
trong nước và độc.
Kali dicromat (K2Cr2O7)(kali cromat có màu đỏ) cũng được điều
chế từ cromit. Là dạng tinh thể màu da cam, hòa tan trong nước
và rất độc. Bụi và hơi dicromat, tác dụng lên xương mũi và sụn
mũi; dạng dung dịch của nó dễ gây nhiễm trùng các vết xước.
Kali cromat (K2CrO4) và kali dicromat (K2Cr2O7) được sử dụng
với mục đích tương tự như natri cromat và natri dicromat.
(e) Amoni cromat. Amoni cromat ((NH4)2CrO4), được điều chế
bằng cách làm bão hòa dung dịch của crom trioxit với amoniac.
Là dạng tinh thể màu vàng, hòa tan trong nước. Được sử dụng
trong ngành ảnh và trong nhuộm.
Amoni dicromat ((NH4)2Cr2O7), thu được từ crom oxit sắt tự
nhiên (cromit); Dạng tinh thể màu đỏ, hòa tan trong nước. Được
sử dụng trong ngành ảnh; nhuộm (cẩn màu); trong thuộc da; để
tinh chế dầu hoặc mỡ; trong tổng hợp hữu cơ,....
(f) Canxi cromat(CaCrO4.2H2O). Được điều chế từ natri dicromat
(Na2Cr2O7) và phấn; trở thành mất nước và chuyển thành màu
vàng khi đun nóng. Được sử dụng điều chế các màu vàng chẳng
hạn như “màu xanh vàng”, một cái tên cũng được áp dụng cho
một mình canxi cromat (CaCrO4).
(g) Mangan cromat. Cromat trung tính (MnCrO4), được điều chế từ
mangan oxit (MnO2) và anhydrit crom (Cr2O3). Dạng tinh thể
màu hơi nâu, hòa tan trong nước. Được sử dụng làm chất cẩn
màu trong nhuộm.
Cromat bazơ, dạng bột màu nâu, không hòa tan trong nước, được
sử dụng trong sơn nước.
(h) Sắt cromat. Sắt III cromat (Fe2(CrO4)3), (được điều chế từ dung
dịch của FeCl3 và K2CrO4, dạng bột màu vàng, không hòa tan
trong nước.
Cũng có dạng sắt cromat bazơ, dạng đơn lẻ hoặc hỗn hợp, được
sử dụng làm sơn với tên màu vàng Siderin. Kết hợp với màu
xanh phổ tạo ra màu xanh giả màu xanh lá cây của kẽm. Cũng
được sử dụng trong luyện kim.
(ij) Stronti cromat(SrCrO4). Tương tự như canxi cromat; dạng đơn
lẻ hoặc hỗn hợp tạo thành màu vàng stronti. Được sử dụng trong
các chế phẩm sơn nghệ thuật.
(k) Bari chromat(BaCrO4). Thu được bằng cách làm kết tủa dung
dịch của BaCl2 và Na2CrO4; dạng bột màu vàng sáng, không hòa
tan trong nước và độc. Dạng đơn lẻ hoặc hỗn hợp, nó tạo nên
màu vàng bari, giống như sản phẩm tương tự thu được từ canxi
cromat, đôi khi hiểu như "vàng ultramarine". Được sử dụng cho
sơn nghệ thuật và trong men sứ và công nghiệp thủy tinh; cũng
được sử dụng trong sản xuất diêm và làm chất cẩn màu trong
nhuộm.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Chì cromat tự nhiên (crocoisite) (nhóm 25.30).
(b) Các chất màu được điều chế với cromat (nhóm 32.06).
(3) Manganat, permanganat. Các muối này tương ứng với axit
manganic (H2MnO4) (không phân lập), axit permanganic (HMnO4)
chỉ tồn tại trong dung dịch nước.
(a) Manganat. Natri manganat (Na2MnO4), được điều chế bằng cách
nấu chảy hỗn hợp của mangan dioxit tự nhiên (nhóm 26.02 –
pyrolusite) và NaOH; dạng tinh thể màu xanh, hòa tan trong nước
lạnh, bị phân hủy bởi nước nóng; được sử dụng trong luyện vàng.
Kali manganat (K2MnO4), dạng tinh thể màu xanh đen nhỏ.
Được sử dụng cho điều chế permanganat.
Bari manganat (BaMnO4), thu được bằng cách nung nóng hỗn
hợp MnO2 với Ba(NO3)2. Dạng bột màu xanh lục. Trộn với
BaSO4, nó tạo màu xanh mangan. Được sử dụng làm sơn nghệ
thuật.
(b) Permanganat. Natri permanganat (NaMnO4.3H2O), được điều
chế từ manganat; dạng tinh thể đen hơi đỏ, chảy rữa và hòa tan
trong nước. Được sử dụng như một chất khử trùng, trong tổng
hợp hữu cơ và tẩy trắng len.
Kali permanganat (KMnO4), được điều chế từ manganat, hoặc
bằng cách oxy hóa một hỗn hợp gồm MnO4 và KOH. Dạng tinh
thể tím ánh màu kim loại, hòa tan trong nước, làm màu cho da;
cũng có thể ở dạng dung dịch nước màu tím đỏ hoặc dạng viên
nén. Là tác nhân oxy hóa mạnh, được sử dụng trong hóa học làm
thuốc thử, trong tổng hợp hữu cơ (sản xuất Saccharin); trong
luyện kim (tinh chế niken); để tẩy trắng các chất có mỡ, nhựa,
sợi lụa hoặc vải hoặc rơm; để tinh chế nước; như một chất khử
trùng; như một chất nhuộm (len dạ, gỗ và trong nhuộm tóc);
trong mặt nạ khí; trong y học.
Canxi permanganat (Ca(MnO4)2.5H2O), được điều chế bằng cách
điện phân dung dịch muối kiềm manganat và CaCl2; hình thành
tinh thể màu tím sẫm, hòa tan trong dung dịch nước. Là tác nhân
oxy hóa và chất tẩy uế, được sử dụng trong nhuộm, trong tổng
hợp hữu cơ, để tinh chế nước, cho tẩy trắng bột giấy.
(4) Molybdat. Molybdat, paramolydat và polymolybdat (di-, tri-, tetra-)
chuyển hóa từ axit molypdic thông thường (H2MoO4) hoặc từ các
axit molybdic khác. Có một số điểm tương tự cromat.
Có các muối chính sau:
(a) Amoni molybdat. Thu được trong luyện molybden. Dạng tinh
thể ngậm nước, có ánh xanh hoặc vàng sáng nhẹ và bị phân hủy
bởi nhiệt. Được sử dụng làm thuốc thử hóa học, trong sản xuất
chất màu hoặc vật liệu chống cháy, trong công nghiệp thủy tinh,..
(b) Natri molybdat. Dạng tinh thể ngậm nước, lóng lánh và hòa tan
trong nước. Được dùng làm thuốc thử, sản xuất bột màu và trong
y học.
(c) Canxi molybdat. Bột trắng, không hòa tan trong nước, được sử
dụng trong luyện kim.
(d) Chì molybdat. Chì molybdat nhân tạo được kết tủa chung với
chì cromat cho dạng chất màu crom đỏ tươi.
Chì molybdat tự nhiên (wulfenite) được loại trừ (nhóm 26.13).
(5) Tungstat (Vonframat). Tungstat, paratungstat và pertungstat được
chuyển hóa từ axit tungstic thông thường (H2WO4)và các axit
tungstic khác.
Có các dạng muối chính sau:
(a) Amoni tungstat. Thu được bởi hòa tan axit tungstic trong
amoniac; bột kết tinh màu trắng, ngậm nước, hòa tan trong nước;
được sử dụng làm vải chống cháy và điều chế các tungstat khác.
(b) Natri tungstat. Thu được từ luyện tungsten, từ vonframit (nhóm
26.11) và Na2CO3; dạng hình lá hoặc tinh thể trắng, ngậm nước,
với ánh màu ngọc trai, hòa tan trong nước. Sử dụng giống như
amoni tungstat; cũng được sử dụng làm chất cẩn màu trong in vải
dệt, làm chếphẩm màu đỏ tím và chất xúc tác và trong tổng hợp
hữu cơ.
(c) Canxi tungstat. Màu trắng, dạng vảy bóng loáng, không tan
trong nước; được dùng để tạo màn hình tia X hoặc ống huỳnh
(d) Bari tungstat. Bột trắng, dùng trong sơn nghệ thuật, dạng đơn lẻ
hoặc hỗn hợp, dưới cái tên màu trắng tungxten hoặc màu trắng
(e) Các tungstat khác. Bao gồm cả tungstat của kali (cho vải chống
cháy), của magie (màn hình chắn tia X), của crom (bột màu
xanh), hoặc của chì (bột màu).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Canxi tungstat tự nhiên (scheelite) một loại quặng (nhóm 26.11).
(b) Mangan tungstat tự nhiên (hubnerite) hoặc sắt tungstat tự nhiên
(ferberite) nhóm 26.11).
(c) Tungstat phát quang (ví dụ, của canxi hoặc magie), được phân
loại như các chất vô cơ phát quang (nhóm 32.06).
(6) Titanat (ortho-, meta- và peroxotitanat, trung tính hoặc axit) được
chuyển hóa từ các axit titanic và hydroxit khác nhau, nhưng có cơ sở
chung là titan dioxit (TiO2).
Bari và chì titanat là dạng bột trắng được sử dụng làm chất màu.
Nhóm này không bao gồm sắt titanat tự nhiên (Ilmerite) (nhóm
26.14), và các florotitanat vô cơ (nhóm 28.26).
(7) Vanadat. (orto-, meta-, pyro-, hypovanadat, trung tính hoặc axit)
được điều chế từ các axit vanadic khác nhau được chuyển hóa từ
vanadi pentaoxit (V2O5) hoặc từ các oxit vanadi khác.
(a) Amoni vanadat (metavanadat) (NH4VO3).Bột kết tinh màu trắng
hơi vàng, ít hòa tan trong nước lạnh, rất dễ hòa tan trong nước
nóng và tạo dung dịch màu vàng. Được sử dụng làm chất xúc
tác; như một chất cẩn màu trong in hoặc nhuộm vải dệt; như chất
làm khô cho sơn hoặc vecni; như làm chất màu trong đồ gốm, và
trong sản xuất mực in hoặc mực viết, v.v.
(b) Natri vanadat (Ortho- và meta-). Dạng bột trắng ngậm nước, kết
tinh và hòa tan trong nước. Được sử dụng làm thuốc nhuộm đen
anilin và trong in ấn.
(8) Ferrates and ferrites. Ferrates và ferrites được chuyển hóa từ sắt III
hydroxit (Fe(OH)3) và từ sắt II hydroxit (Fe(OH)2) tương ứng. Kali
ferrate là dạng bột màu đen, hòa tan trong nước cho dung dịch màu
đỏ.
Cái tên "ferrates" là gọi một cách lầm lẫn cho hỗn hợp của oxit sắt và
oxit kim loại khác tạo ra các chất màu gốm và được phân loại ở
nhóm 32.07.
Nhóm này cũng không bao gồm sắt II ferrite mà chất này trong thực
tế là oxit sắt từ (sắt từ) (Fe3O4) (nhóm 26.01), và vẩy sắt (nhóm
(9) Zincat. Các hợp chất được chuyển hóa từ kẽm hydroxit lưỡng tính
(a) Natri zincat. Được điều chế nhờ phản ứng giữa Na2CO3 với
ZnO, hoặc từ NaOH với Zn. Được sử dụng để điều chế ZnS dùng
trong sơn.
(b) Sắt zincat. Được sử dụng làm màu gốm.
(c) Coban zincat, dạng tinh khiết hoặc hỗn hợp với coban oxit hoặc
các muối khác, tạo nên coban xanh hoặc xanh Riman.
(d) Bari Zincat. Được điều chế bằng cách cho kết tủa dung dịch
nước của Ba(OH)2 với dung dịch amoniac của kẽm sunphat; là
dạng bột màu trắng, hòa tan trong nước. Được sử dụng trong sản
xuất ZnS dùng trong sơn.
Stannat (ortho- và meta-) được chuyển hóa từ các axit stannic.
(a) Natri stannat (Na2SnO3.3H2O). Thu được bằng cách nung chảy
hỗn hợp của thiếc, natri hydroxit, clorua và nitrat; dạng khối rắn
hoặc tảng lộn xộn, hòa tan trong nước, màu trắng hoặc có màu
sắc phụ thuộc vào các thành phần tạp chất (muối natri hay sắt).
Được sử dụng trong in hoặc nhuộm vải dệt (làm chất cẩn màu);
trong công nghiệp thủy tinh hoặc gốm; trong tách chì ra khỏi
asen; trong hồ thiếc cho tơ lụa và trong tổng hợp hữu cơ.
(b) Nhôm stannat. Được điều chế bằng nung nóng hỗn hợp của
thiếc sunphat và nhôm sunphat; dạng bột màu trắng. Được sử
dụng làm chất mờ trong men sứ hoặc công nghiệp gốm.
(c) Crom stannat. Thành phần chính của màu hồng được sử dụng
cho gốm và sơn nghệ thuật. Cũng được sử dụng trong hồ tơ lụa.
(d) Coban stannat. Dạng đơn lẻ hay hỗn hợp, tạo thành bột màu
xanh da trời, được sử dụng làm sơn.
(e) Đồng stannat, dạng đơn lẻ hay hỗn hợp, nó được biết như "thiếc xanh".
(11) Antimonat. Muối của các axit khác nhau tương ứng với antimonic
oxit (Sb2O5); một mặt nào đó giống với asenat.
(a) Natri meta - antimonat (leuconine). Được điều chế từ natri
hydroxit và antimon pentaoxit; dạng bột kết tinh màu trắng, ít
hòa tan trong nước. Làm chất mờ cho công nghiệp men sứ hoặc
thủy tinh; được sử dụng trong điều chế Natri thioantimonat
(muối Shchlippe) (nhóm 28.42).
(b) Kali antimonat. Quan trọng nhất là kali hydro antimonat, được
điều chế bằng cách nung kim loại này trộn với KNO3; là dạng
bột kết tinh, màu trắng. Được sử dụng trong y học (làm thuốc
tẩy) và như làm bột màu gốm sứ.
(c) Chì antimonat. Thu được bằng cách nung nóng antimonat
pentaoxit với chì đỏ; là dạng bột màu vàng, không hòa tan trong
nước. Dạng đơn lẻ hay hỗn hợp với chì oxyclorua, nó tạo ra màu
vàng Naples (antimon vàng), một chất bột màu cho gốm, thủy
tinh hoặc sơn nghệ thuật.
Antimonit được loại trừ (nhóm 28.53).
(12) Plumbat. Được chuyển hóa từ dioxit chì lưỡng tính (PbO2).
Natri plumbat được sử dụng làm chất màu. Plumbat của canxi (màu
vàng), stronti (màu hạt dẻ) hoặc bari (màu đen) được sử dụng trong
sản xuất diêm và pháo hoa.
(13) Các muối khác của oxometalic axit hoặc axit peroxometalic
Chúng bao gồm:
(a) Tantalat và niobat.
(c) Rhenate và Perrhenat.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm, các hợp chất của:
(a) Kim loại quý (nhóm 28.43).
(b) Các nguyên tố hóa học mang tính phóng xạ hoặc các đồng vị phóng
xạ (nhóm 28.44).
(c) Ytri, scandi hoặc các kim loại đất hiếm (nhóm 28.46).
(d) Thủy ngân (nhóm 28.52).
Các muối flo phức, như florotitanat được xếp vào nhóm 28.26.
28.42- Muối khác của axit vô cơ hoặc peroxoaxit (kể cả nhôm silicat
đã hoặc chưa xác định về mặt hoá học), trừ các chất azit.
2842.10 - Silicat kép hoặc phức, kể cả nhôm silicat đã hoặc chưa
xác định về mặt hoá học
2842.90 - Loại khác
Ngoài các loại trừ đã được kể ra trong phần giới thiệu của Phân Chương
này, nhóm này bao gồm:
(I) MUỐI CỦA AXIT VÔ CƠ PHI KIM LOẠI HOẶC PEROXO
AXIT KHÔNG CHI TIẾT Ở NƠI KHÁC.
Ví dụ các muối này bao gồm:
(A) Fulminat, cyanat, isocyanat vaf thiocyanat, các muối kim loại của
axit cyanic non-isolat (HO-C≡N) hoặc của axit isocyanic (HN=C=O)
hoặc của axit fulminic (H-C≡N+-O-) chất đồng phân của axit cyanic,
hoặc của axit thiocyanic (HS-C≡N).
(1) Fulminat. Fulminat là hợp chất ít hay nhiều thành phần cấu
tạo chưa được biết, rất không bền vững, gây nổ khi có va
chạm nhẹ hoặc dưới tác động của nhiệt (ví dụ, tia lửa). Chúng
tạo thành mồi nổ và được sử dụng trong sản xuất cáp nổ hoặc
ngòi nổ.
(2) Xyanat. Amoni, natri của kali cyanat được sử dụng cho sản
xuất hợp chất hữu cơ khác nhau. Đó cũng là Xyanat của kiềm
thổ.
(3) Thiocyanat. Thiocyanat (sulphocyanides) là các muối kim loại
của axit thiocyanic không phân lập (HS-C≡N). Quan trọng nhất
là:
(a) Amoni thiocyanat (NH4SCN). Dạng tinh thể không màu,
chảy rữa, dễ hòa tan trong nước, chuyển thành màu đỏ dưới
tác động của không khí và ánh sáng, và bị phân hủy bởi
nhiệt. Được sử dụng trong mạ điện; trong ngành ảnh; trong
nhuộm hoặc in (đặc biệt ngăn ngừa sự hư hỏng của hồ vải
lụa); để điều chế các hỗn hợp làm lạnh, cyanua hoặc
hexacyanoferrat II, thiourea, guanidine, nhựa, keo, chất diệt
cỏ, v.v.
(b) Natri thiocyanat (NaSCN). Tồn tại giống như amoni
thiocyanat hoặc như dạng bột. Độc. Được sử dụng trong
ngành ảnh; trong nhuộm hoặc in (chất cẩn màu); trong y
học; như một thuốc thử phòng thí nghiệm; trong mạ điện;
làm dầu mù tạt nhân tạo; trong công nghiệp cao su, v.v.
(c) Kali thiocyanate (KSCN). Có đặc điểm giống như natri
thiocyanat. Được sử dụng trong công nghiệp dệt; trong
ngành ảnh; trong tổng hợp hữu cơ (ví dụ, thioure, dầu mù
tạt nhân tạo và vật liệu nhuộm), trong điều chế thiocyanat,
hỗn hợp làm lạnh, chất diệt ký sinh trùng,...
(d) Canxi thiocyanat (Ca(SCN)2.3H2O). Dạng tinh thể không
màu, chảy rữa và hòa tan trong nước. Được sử dụng làm
chất cẩn màu trong nhuộm và in, và như một dung môi cho
xenlulo; cho vải cotton ngâm kiềm; để thay thế thuốc kali
iodua (chống lại chứng cơ xương động mạch); cho chế
phẩm hexacyanoferrat (II) hoặc thiocyanat khác; trong sản
xuất giấy da.
(e) Đồng thiocyanat.
Đồng I thiocyanat (CuSCN), dạng bột hoặc bột nhão có
màu hơi trắng, hơi xám hoặc hơi vàng, không hòa tan trong
nước. Được sử dụng như một chất cẩn màu trong in vải dệt,
trong sản xuất sơn tàu biển và trong tổng hợp hữu cơ.
Đồng II thiocyanat (Cu(SCN)2), dạng bột đen, không hòa
tan trong nước, dễ dàng chuyển thành đồng I cyanat. Được
sử dụng trong sản xuất kíp nổ và trong sản xuất diêm.
Thủy ngân fulminat và thủy ngân II thiocyanat được loại trừ (nhóm
(B) Asenit và asenat.
Đây là dạng muối kim loại của axit asenic; asenit là các muối của axit
asenious, và asenat là muối của asenic (nhóm 28.11). Chúng là chất độc
mạnh. Ví dụ là:
(1) Natri asenit(NaAsO2). Được điều chế bằng cách nấu chảy natri
cacbonat với oxit asenious. Dạng phiến hoặc bột màu trắng hoặc
hơi xám, hòa tan trong nước. Được sử dụng trong trồng nho
(thuốc trừ sâu); cho bảo quản da sống; trong y học; trong sản
xuất xà phòng và chất khử trùng, v.v.
(2) Canxi asenit(CaHAsO3).Dạng bột màu trắng, không hòa tan
trong nước. Được dùng làm thuốc trừ sâu.
(3) Đồng asenit(CuAsO3). Thu được từ natri asenit và đồng
sunphat. Dạng bột màu xanh, không hòa tan trong nước. Được
sử dụng như thuốc trừ sâu, như một chất màu được biết dưới tên
xanh Scheele và để điều chế một số bột màu xanh (xem Chú
giải Chi tiết nhóm 32.06).
(4) Kẽm asenit(Zn(AsO2)2).Có các tính chất và sử dụng tương tự
(5) Chì asenit(Pb(AsO2)2). Dạng bột trắng, chỉ hòa tan một phần
trong nước. Được sử dụng trong trồng nho (thuốc trừ sâu).
(6) Natri asenat (ortho-, meta- và pyroasenat). Hợp chất quan
trọng nhất là dinatri hydro orthoasenat (Na2HAsO4) (với 7 hoặc
12 H2O, phụ thuộc vào nhiệt độ kết tinh) và trinatri orthoasenat
(khan hoặc với 12 H2O). Được điều chế từ asenious oxit và natri
nitrat. Dạng tinh thể không màu hoặc dạng bột màu hơi xanh.
Được sử dụng trong các chế phẩm thuốc chữa bệnh (dung dịch
Pearson), hoặc dùng làm thuốc khử trùng, thuốc trừ sâu, và điều
chế các asenat khác; cũng được sử dụng trong in vải dệt.
(7) Kali asenat. Mono- và dibasic kali orthoasenat, được điều chế
bằng phương pháp tương tự như natri asenat. Dạng tinh thể
không màu, hòa tan trong nước. Được dùng làm thuốc khử
trùng hoặc thuốc trừ sâu; cho thuộc da; cho in vải dệt,...
(8) Canxi asenat. Tricanxi diorthoasenat Ca3(AsO4)2, thường chứa
tạp chất là canxi asenat. Thu được bởi phản ứng của CaCl2 và
natri asenat. Bột trắng, không hòa tan trong nước. Được sử dụng
trong nông nghiệp như thuốc trừ sâu.
(9) Đồng asenat. Đồng II orthoasenat (Cu3(AsO4)2).Thu được từ natri
orthoasenat và đồng sunphat (hoặc clorua). Bột màu xanh, không
hòa tan trong nước. Được sử dụng làm chất diệt ký sinh trùng
trong trồng nho và cho các chế phẩm sơn chống bẩn.
(10) Chì asenat. Tri chì diorthoasenat (Pb3(AsO4)2), và axit
orthoasenat. Chỉ hòa tan một phần trong nước. Dạng bột, bột
nhão hoặc nhũ dịch mầu trắng. Được sử dụng trong điều chế
thuốc trừ sâu.
(11) Các asenat khác. Chúng bao gồm asenat của nhôm (thuốc trừ
sâu) hoặc của coban (bột màu hồng, được sử dụng trong gốm).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Niken asenat tự nhiên (ví dụ, annabergite) (nhóm 25.30).
(b) Arsenides (nhóm 28.53).
(c) Acetoarsenites (Chương 29).
(C) Các muối của axit selen : selenua, selenit, selenate. Chúng bao gồm:
(1) Cadimi selenua. Được sử dụng trong sản xuất thủy tinh chống
lóa và các chất màu.
(2) Natri selenit. Được sử dụng chế tạo thủy tinh có màu đỏ tươi,
hoặc để che bớt màu xanh của thủy tinh.
(3) Amoni và natri selenat. Được sử dụng làm thuốc trừ sâu; muối
natri cũng được sử dụng trong y học.
(4) Kali selenat. Được sử dụng trong ngành ảnh.
Zorgite, một dạng đồng chì selenua tự nhiên, được loại trừ
(nhóm 25.30).
(D) Muối của axit telua (telluridies, tellurites, tellurates).
Chúng bao gồm:
(1) Bismut telluride. Là chất bán dẫn cho pin nhiệt điện.
(2) Natri hoặc kali tellurates: Được sử dụng trong y học.
(II) CÁC MUỐI KÉP HOẶC PHỨC
Nhóm này bao gồm muối kép hoặc phức trừ loại đã được chi tiết ở nơi
khác.
Các muối kép và phức chính được phân loại trong nhóm này bao gồm:
(A) Muối kép hoặc phức clorua (muối clo).
(1) Clorua amoni với:
(a) Magie. Dạng tinh thể chảy rữa; được sử dụng trong hàn.
(b) Sắt (amoni sắt II clorua và amoni sắt II clorua). Ở dạng
khối hoặc tinh thể hút ẩm; được sử dụng trong y học và trong
mạ.
(c) Niken. Bột màu vàng hoặc tinh thể màu xanh ngậm nước.
Được sử dụng làm chất cẩn màu và trong mạ kẽm.
(d) Đồng (amoni đồng clorua). Dạng tinh thể màu xanh hoặc
xanh nhạt, hòa tan trong nước. Được sử dụng làm tác nhân tạo
màu và trong pháo hoa.
(e) Kẽm (amoni kẽm clorua). Bột kết tinh trắng, hòa tan trong
nước. Được sử dụng trong hàn (“muối hàn”), trong pin khô và
trong mạ kẽm (mạ kẽm điện phân).
(f) Thiếc. Đặc biệt là amoni clorostannate; dạng tinh thể màu
trắng hoặc hồng hoặc dạng dung dịch nước. Đôi khi được gọi
là “muối hồng”; được sử dụng trong nhuộm và để hồ vải tơ
lụa.
(2) Clorua natri với nhôm. Dạng bột kết tinh màu trắng, hút nước.
Được sử dụng trong thuộc da.
(3) Clorua canxi với magie. Dạng tinh thể chảy rữa màu trắng.
Được sử dụng trong công nghiệp giấy, dệt, tinh bột khoai tây
hoặc sơn.
(4) Muối clorua, ví dụ, cloruabromua, cloruaiodua, cloruaiodat,
cloruaphosphat, cloruacromat và cloruavanadat.
Nhóm này bao gồm kali cloruacromat (muối Peligot). Dạng
tinh thể đỏ, bị phân hủy trong nước. Nó là tác nhân oxi hóa
được dùng trong tổng hợp hữu cơ.
Pyromorphite (phosphat và clorua chì) và vanadinite (vanadat
và clorua chì) được loại trừ vì chúng là quặng kim loại tự
nhiên của nhóm 26.07 và 26.15 tương ứng.
(B) Iodua phức hoặc kép (muối iodua).
(1) Bismut natri iodua. Dạng tinh thể đỏ, bị phân hủy trong nước.
Được sử dụng trong y học.
(2) Cadimi kali iodua. Dạng bột chảy rữa màu trắng, chuyển
thành màu vàng khi để ngoài không khí. Cũng được sử dụng
trong y học.
(C) Muối kép hoặc phức có chứa sulphua (muối thio).
(1) Sulphat amoni với:
(a) Sắt
sắt
"muối
(FeSO4.(NH4)2SO4.6H2O).Dạng tinh thể xanh sáng, hòa tan
trong nước. Được sử dụng trong luyện kim và trong y học.
(b) Coban(CoSO4.(NH4)2SO4.6H2O).Dạng tinh thể màu đỏ, hòa
tan trong nước. Được sử dụng trong mạ coban và trong gốm.
(c) Niken(NiSO4.(NH4)2SO4.6H2O).Dạng tinh thể màu xanh, bị
phân hủy bởi nhiệt; rất dễ hòa tan trong nước. Được sử dụng
chủ yếu trong mạ niken điện phân.
(d) Đồng. Dạng bột kết tinh màu xanh hòa tan trong nước, tạo
bông ngoài không khí. Được sử dụng làm chất diệt ký sinh
trùng, trong in vải dệt, điều chế đồng asenit,...
(2) Natri zircon sulphat. Dạng rắn màu trắng. Được sử dụng trong
luyện kẽm.
“Muối thio” và các muối kép hoặc phức có chứa lưu
huỳnh, ví dụ: selenosunphua và selenosunphat, thiotellurat,
thioasenat, thioasenit và asenosunphua, thiocacbonat,
Nhóm này bao gồm :
(a) Kali trithiocacbonat. Dạng tinh thể vàng, hòa tan trong nước.
Được sử dụng trong nông nghiệp (chống rệp rễ nho) và trong
hóa phân tích.
(b) Kiềm thiomolybdat. Được sử dụng làm tác nhân tăng tốc
trong các bể phosphat hóa kim loại (parkerising) .
diaminetetrakisthiocyanato cromat, amoni reineckat hoặc
muối reinecke(NH4[Cr(NH3)2(SCN4)].H2O). Dạng bột kết
tinh hoặc tinh thể đỏ sẫm. Được sử dụng làm thuốc thử.
(d) Ferro kali thiocyanat và ferric kali thiocyanat.
Cobaltite (sunphua và asenua của coban) và germanit (đồng
germano- sunphua) được loại trừ khỏi nhóm này vì chúng là quặng
tự nhiên của nhóm 26.05 và 26.17 tương ứng.
(D) Muối kép hoặc phức của selen (selenocacbonat, selenocyanat,...).
Muối
kép
hoặc
phức
của
màu
vàng
Fischer)(K3Co(NO2)6). Bột vi kết tinh, hòa tan tốt trong nước. Dạng
bột màu, đơn lẻ hoặc hỗn hợp, được biết với tên màu vàng coban.
(G) Muối nitrat kép hoặc phức (tetra- và hexa- aminonicken nitrat).
Amoniac niken nitrat. Dạng tinh thể màu xanh hoặc xanh lơ hòa
tan trong nước. Được sử dụng làm tác nhân oxy hóa và cho điều chế
chất xúc tác niken tinh khiết.
(H) Muối phosphat kép hoặc phức (phosphosalts).
(1) Amoni natri orthophosphat (NaNH4HPO4.H2O) (muối vi mô).
Dạng tinh thể bông không màu, hòa tan trong nước. Được sử dụng
làm tuyển nổi hòa tan các oxit kim loại.
(2) Amoni magiê orthophosphat. Dạng bột trắng, rất ít hòa tan trong
nước. Được sử dụng cho vải chống cháy và trong y học.
(3) Muối phức có chứa phospho, ví dụ, molybdophosphat,
Nhóm này bao gồm:
(a) Molybdophosphat. Được sử dụng trong nghiên cứu vi mô.
(b) Silicophosphat và stannophosphat. Được sử dụng trong hồ tơ
lụa.
Cadmium borotungstate. Dạng tinh thể màu vàng hoặc ở dạng dung
dịch nước. Được sử dụng để tách các loại khoáng bằng tỷ trọng.
(K) Cyanat kép hoặc phức.
(L) Silicat kép hoặc phức.
Nhóm này bao gồm nhôm silicat, chúng là hợp chất đã hoặc không
được xác định hóa học riêng biệt. Nhôm silicat được sử dụng trong
công nghiệp thủy tinh và như làm chất cách điện, chất trao đổi ion, chất
xúc tác, rây phân tử,...
Bao gồm trong phạm trù này là zeolit tổng hợp với công thức chung
M2/nO.Al2O3.ySiO2.wH2O, ở đây M là cation của hóa trị n (thường là
Na, K, Mg hoặc Ca), y là hai hoặc lớn hơn và w là số phân tử nước.
Tuy nhiên, nhôm silicat chứa chất gắn (ví dụ, zeolit chứa đất sét silica –
bazơ) bị loại trừ (nhóm 38.24). Kích thước hạt có thể thường được sử
dụng để nhận biết zeolit chứa chất gắn (thường trên 5 micron).
(M) Muối kép hoặc phức của oxit kim loại.
Đây là những loại muối như cromat kali canxi.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Muối flo phức (nhóm 28.26).
(b) Phèn (nhóm 28.33).
(c) Cyanua phức (nhóm 28.37).
(d) Muối của axit hydrazoic (azit) (nhóm 28.50).
(e) Clorua của amoni với thủy ngân (amoni thủy ngân II clorua hoặc
amoni cloromercurat) và đồng thủy ngân iodua (nhóm 28.52).
(f) Magie kali sunphat, tinh khiết hoặc không tinh khiết (Chương 31).
PHÂN CHƯƠNG VI
LOẠI KHÁC
28.43 - Kim loại quý dạng keo; hợp chất hữu cơ hoặc vô cơ của kim
loại quý, đã hoặc chưa xác định về mặt hóa học; hỗn hống của
kim loại quý.
2843.10 - Kim loại quý dạng keo
⦁ Hợp chất bạc:
2843.21 - - Nitrat bạc
2843.29 - - Loại khác
2843.30 - Hợp chất vàng
2843.90 - Hợp chất khác; hỗn hống
(A) CÁC KIM LOẠI QUÝ DẠNG KEO
Nhóm này bao gồm các kim loại quý được liệt kê trong chương 71 (tức
là, bạc, vàng, platin, iridi, osmi, paladi, rhodi và rutheni), miễn là chúng
ở dạng keo huyền phù. Những kim loại quý này thu được ở dạng này
bằng cách phân tán hoặc hòa tan điện cực catôt, hoặc bằng cách khử một
trong những muối vô cơ của chúng.
Bạc dạng keo tồn tại ở dạng hạt nhỏ hoặc dạng vảy, màu hơi xanh, hơi
nâu hoặc xám xanh, với ánh kim loại. Nó được sử dụng trong y học như
một chất sát trùng.
Vàng dạng keo có thể có màu đỏ, tím, xanh hoặc xanh lá cây, và được
sử dụng với mục đích giống như bạc dạng keo.
Platin dạng keo là dạng mảnh nhỏ màu nâu và có thuộc tính xúc tác
đáng kể.
Các dạng keo kim loại này (ví dụ: vàng) vẫn được phân loại trong nhóm
này khi ở dạng dung dịch keo có chứa keo bảo vệ (như Gelatin, Casein,
keo của cá).
(B) CÁC HỢP CHẤT VÔ CƠ HOẶC HỮU CƠ CỦA KIM LOẠI
QUÝ, ĐÃ HOẶC CHƯA XÁC ĐỊNH VỀ MẶT HOÁ HỌC
Chúng là:
(I) Oxit, peroxit và hydroxit của các kim loại quý, tương tự đối với
các hợp chất của Phân Chương IV.
(II) Muối vô cơ của kim loại quý, tương tự các hợp chất của Phân
Chương V.
(III) Phosphua, cacbua, hydrua, nitrua, silicua và borua, tương tự như các
hợp chất của các nhóm 28.49, 28.50 và 28.53 (như platin phosphua,
paladi hydrua, bạc nitrua, platin silicua).
(IV) Các hợp chất hữu cơ của các kim loại quý, tương tự các hợp chất
của Chương 29.
Các hợp chất có chứa cả kim loại quý và kim loại khác (ví dụ, muối kép
của kim loại bazơ và kim loại quý, phức este có chứa kim loại quý) cũng
bao gồm ở nhóm này.
Các hợp chất thông thường nhất của mỗi kim loại quý được liệt kê sau
đây:
(1) Hợp chất bạc.
(a) Bạc oxit. (di Bạc Oxit) (Ag2O) là dạng bột màu đen hơi nâu khó
hòa tan trong nước, bị chuyển thành màu đen khi để ngoài ánh
sáng.
Bạc oxit (AgO) là dạng bột màu đen hơi xám.
Bạc oxit được sử dụng trong sản xuất pin (ắc quy).
(b) Bạc halogenua. Bạc clorua (AgCl) là dạng khối màu trắng hoặc
dạng bột đặc, không hòa tan trong nước, bị chuyển thành màu
thẫm khi để ở ngoài ánh sáng; nó được chứa trong các bình đục
sẫm màu. Được sử dụng trong ngành ảnh, trong sản xuất gốm,
trong y học và trong mạ bạc.
Cerargyrite (hoặc bạc sừng), clorua và iodua của bạc tự nhiên,
được loại trừ (nhóm 26.16).
Bạc bromua (màu hơi vàng), bạc iodua (mầu vàng), và bạc florua
được sử dụng với mục đích tương tự như clorua.
(c) Bạc sulphua. Bạc sulphua nhân tạo (Ag2S) là dạng bột màu đen xám,
nặng, không hòa tan trong nước, được sử dụng để làm thủy tinh.
Bạc sulphua tự nhiên (argenite), bạc và antimon sulphua tự
nhiên (pyragyrite, stephanite, polybasite) và bạc và asen
sunphua tự nhiên (proustite) được loại trừ (nhóm 26.16).
(d) Bạc nitrat. (AgNO3) dạng tinh thể màu trắng, hòa tan trong nước,
độc, gây tổn thương cho da. Được sử dụng mạ bạc cho thủy tinh
hoặc kim loại; cho nhuộm tơ lụa hoặc sừng; trong ngành ảnh, cho
sản xuất mực vĩnh cửu (không tẩy được); và như một chất khử
trùng hoặc diệt ký sinh trùng. Đôi khi được gọi là "Lunar caustic"
(thỏi bạc nitrat dùng để đốt), dù tên này cũng được ứng dụng cho
nitrat bạc nấu chảy với một lượng nhỏ của natri hay kali nitrat
(NaNO3 hay KNO3), và đôi khi với một chút AgCl, để tạo thành
một chất (ăn da để diệt độc) thuộc Chương 30.
(e) Các muối khác và các hợp chất vô cơ.
Bạc sulphat (Ag2SO4) dạng tinh thể.
Bạc phosphat (Ag3PO4), dạng tinh thể hơi vàng không hòa tan
nhiều trong nước; được sử dụng trong y học, ngành nhiếp ảnh và
quang học.
Bạc cyanua (AgCN), dạng bột màu trắng bị chuyển thành màu
sẫm khi để ngoài ánh sáng, không hòa tan trong nước, được sử
dụng trong y học và để mạ bạc. Bạc thiocyanat (AgSCN) có bề
ngoài tương tự và được sử dụng như một chất tăng cường trong
ngành nhiếp ảnh.
Muối phức cyanua của bạc và kali (KAg(CN)2) hoặc bạc và natri
(NaAg(CN)2) là dạng muối hòa tan màu trắng, được sử dụng
trong mạ điện.
Bạc fulminat, tinh thể màu trắng, gây nổ khi va chạm nhẹ, nguy
hiểm khi cầm; được sử dụng trong sản xuất kíp nổ.
Bạc dicromat (Ag2Cr2O7) bột kết tinh màu đỏ rubi, khó hòa tan
trong nước, được sử dụng để vẽ các họa tiết nhỏ (đỏ bạc, đỏ tía).
Bạc permaganat, là dạng bột kết tinh màu tím sẫm, hòa tan trong
nước; được sử dụng trong mặt nạ khí.
Bạc azide, là một loại chất nổ.
(f) Các hợp chất hữu cơ. Bao gồm:
Bạc lactat: (bột màu trắng) và bạc citrat (bột màu hơi
vàng); được sử dụng trong ngành nhiếp ảnh và làm chất
khử trùng.
(ii) Bạc oxalat. bị phân hủy và gây nổ khi đun nóng.
(iii) Bạc axetat, benzoat, butyrat, cianat, picrat, salixylat,
tactrat và valerat.
và tannat của bạc.
(2) Các hợp chất của vàng.
(a) Oxit. Vàng I oxit (Aurour oxit) (Au2O). Dạng bột tím sẫm,
không hòa tan. Vàng II oxit (Au2O3) (auric anhydric) là dạng bột
màu nâu; axit tương ứng là vàng hydroxit hoặc axit vàng
(Au(OH)3), là sản phẩm màu đen, bị phân hủy ngoài ánh sáng, từ
nó tạo các muối Vàng kiềm..
(b) Clorua. Vàng I clorua (AuCl), dạng bột kết tinh màu hơi vàng
hoặc hơi đỏ. Vàng triclorua (AuCl3) (auric clorua, clorua nâu),
dạng bột hoặc khối kết tinh màu nâu hơi đỏ, hút ẩm rất tốt,
thường được đựng trong các chai lọ hoặc ống đậy kín.
Tetracloroauric (III) axit (AuCl3.HCl.4H2O) (clorua màu vàng)
dạng tinh thể màu vàng, Hydrat hóa và cloroaurat kiềm, dạng
tinh thể vàng hơi đỏ, cũng được phân loại trong nhóm này. Các
sản phẩm này được sử dụng trong ngành nhiếp ảnh (chế phẩm
của các chậu rửa tươi màu), trong công nghiệp gốm hoặc thủy
tinh và trong y học.
Nhóm này loại trừ màu tím Cassin, một hỗn hợp của thiếc
hydroxit và vàng dạng keo (Chương 32); được sử dụng trong
sản xuất sơn hoặc vecni, và nhất là tạo màu cho gốm sứ.
(c) Các hợp chất khác. Sulphua vàng (Au2S3) là một chất màu hơi
đen, liên kết với sulphua kiềm, tạo thành dạng thioaurat.
Các muối sulphit kép của vàng và natri (NaAu(SO3)) và của
vàng và amoni (NH4Au(SO3)) được bán ở dạng dung dịch
không màu, được sử dụng để mạ điện.
Natri Aurothiosunphat được sử dụng trong y học.
Cyanua vàng (AuCN), dạng bột kết tinh màu vàng bị phân hủy
nếu đun nóng, được sử dụng để điện phân mạ vàng và dùng trong
y học. Phản ứng với cyanua kiềm tạo thành cyanoaurat, như kali
tetracyanoaurat (KAu(CN)4), là dạng muối màu trắng có thể hoà
tan được, được sử dụng trong mạ điện.
Natri aurothiocyanat, kết tinh thành tinh thể hình kim có màu đỏ
da cam ; được sử dụng trong y học và trong ngành ảnh (bể màu).
(3) Hợp chất ruteni. Dioxit ruteni (RuO2) là một sản phẩm màu xanh,
trong khi ruteni tetraoxit (RuO4) có màu da cam. Ruteni triclorua
(RuCl3) và ruteni tetraclorua (RuCl4), tạo ra clorua kép với clorua
kiềm và amin hoặc nitroso phức. Còn có muối kép nitrit của ruteni
hoặc các kim loại kiềm
(4) Hợp chất rodi. Rodi hydroxit (Rh(OH)3), tương ứng với oxit rodi
(Rh2O3), là một chất bột màu đen. Rodi triclorua (RhCl3), tạo thành
chlororhodites cùng với clorua kiềm, và còn có, sulphat với phức
nhôm hoặc phức photphat của nó, nitrat và các phức nitrit; cũng như
cyanorhodites và các dẫn xuất amin phức hoặc dẫn xuất oxalic.
(5) Hợp chất paladi. Oxit bền vững nhất là oxit paladi (PdO), dạng oxit
duy nhất. Nó là chất bột màu đen bị phân huỷ bởi nhiệt.
Clorua paladi (PdCl2), một chất bột màu nâu chảy rữa, hoà tan trong
nước và ngậm 2 H2O khi kết tinh, được sử dụng trong công nghiệp
gốm, trong ngành nhiếp ảnh và trong mạ điện.
Kali cloropaladit (K2PdCl4), một loại muối màu nâu, có thể hoà tan
được hoàn toàn, được sử dụng như là chất thử monoxit cacbon, cũng
được phân loại ở đây. Mục này cũng có cả chloropalladates, hợp chất
palado-oxalat và paladous.
(6) Hợp chất osimi. Dioxit osimi (OsO2) là chất bột màu nâu thẫm.
Osimi textraoxit (OsO4) là chất rắn dễ bay hơi, kết tinh thành các
tinh thể hình kim màu trắng; nó làm hại mắt và phổi; được sử dụng
trong ngành mô học và khảo sát bằng kính hiển vi. Loại tetraoxit này
tạo thành osmat như là kali osmat (tinh thể màu đỏ), và, bằng cách
xử lý amoniac và hydroxit kiềm, tạo thànhosmiamate như osmiamate
của kali hoặc natri, tinh thể màu vàng.
Osimi tetraclorua (OsCl4) và triclorua (OsCl3) tạo thành cloro-osmat
kiềm và cloro-osmit kiềm.
(7) Hợp chất Iridi. Ngoài Iridi oxit, còn có Iridi tetrahydroxit (Ir(OH)4),
dạng rắn màu xanh, dạng clorua, chloroiridat và cloroiridit, muối kép
sulphat và hợp chất amino.
(8) Các hợp chất của Platin.
(a) Oxit. Platin (II) oxit (PtO) là dạng bột màu hơi đen hoặc tím.
Plantinic oxit (PtO2) tạo ra một vài hydrat trong đó có,
tetrahydrat (H2Pt(OH)6) là một axit phức (hexahydroxyplatinic
axit), mà tạo ra dạng muối tương ứng như hexahydroxyplatinat
kiềm. Cũng còn có phức amino tương ứng.
(b) Hợp chất khác. Platinic clorua (PtCl4) tồn tại ở dạng bột màu
nâu hoặc dung dịch màu vàng; nó được sử dụng làm thuốc thử.
Platin clorua thương phẩm (cloroplantinic axit) (H2PtC16), hình
lăng trụ chảy rữa, màu đỏ hơi nâu, hòa tan trong nước; được sử
dụng trong ngành ảnh (tươi màu platin), trong mạ platin, cho
tráng men gốm hoặc để tạo platin bọt xốp. Đây cũng bao gồm
phức amino platin tương ứng.
Đây cũng có các dạng phức amino tương ứng với Cloroplatin
axit (H2PtCl4), nó dạng rắn màu đỏ. Cyanoplatinit của kali hoặc
bari được sử dụng để điều chế màn huỳnh quang cho kỹ thuật
chụp tia phóng xạ.
(C) HỖN HỐNG CỦA KIM LOẠI QUÝ
Đây là các hợp kim của các kim loại quý với thủy ngân. Hỗn hống của
vàng hoặc bạc, chúng là dạng thông dụng nhất, được sử dụng như sản
phẩm trung gian cho việc thu về các kim loại quý này.
Nhóm này bao gồm các loại hỗn hống có chứa cả kim loại quý và kim
loại cơ bản (ví dụ, một số hỗn hống được sử dụng trong nha khoa);
nhưng nó loại trừ các hỗn hống hoàn toàn của kim loại cơ bản (nhóm
Hợp chất thuỷ ngân, đã hoặc chưa xác định về mặt hoá học, trừ hỗn hống
đã bị loại trừ (nhóm 28.52).
28.44 - Các nguyên tố hóa học phóng xạ và các đồng vị phóng xạ (kể
cả các nguyên tố hóa học và các đồng vị có khả năng phân hạch
hoặc làm giầu) và các hợp chất của chúng; hỗn hợp và các phế
liệu có chứa các sản phẩm trên.
2844.10 - Urani tự nhiên và các hợp chất của nó; hợp kim, các
chất phân tán (kể cả gốm kim loại), sản phẩm gốm và
hỗn hợp có chứa urani tự nhiên hoặc các hợp chất urani
tự nhiên
2844.20 - Urani đã làm giàu thành U 235 và hợp chất của nó;
plutoni và hợp chất của nó; hợp kim, các chất phân tán
(kể cả gốm kim loại), các sản phẩm gốm và các hỗn
hợp có chứa urani đã được làm giàu thành U 235,
plutoni hoặc hợp chất của các sản phẩm này
2844.30 - Urani đã được làm nghèo thành U 235 và các hợp chất
của nó; thori và các hợp chất của nó; hợp kim, các chất
phân tán (kể cả gốm kim loại), sản phẩm gốm kim loại
và các hỗn hợp chứa urani đã được làm nghèo thành U
235, thori hoặc các hợp chất của các sản phẩm trên
⦁ Nguyên tố phóng xạ và đồng vị phóng xạ và các hợp
chất trừ loại thuộc phân nhóm 2844.10, 2844.20 hoặc
2844.30; hợp kim, các chất phân tán (kể cả gốm kim loại),
các sản phẩm gốm và các hỗn hợp có chứa các nguyên tố,
đồng vị hoặc các hợp chất trên; chất thải phóng xạ:
2844.41 - - Triti và các hợp chất của nó; hợp kim, chất phân tán
(kể cả gốm kim loại), các sản phẩm gốm và các hỗn
hợp chứa triti hoặc các hợp chất của nó
poloni-210, radi-223, urani-230 hoặc urani-232, và các
hợp chất của chúng; hợp kim, chất phân tán (kể cả gốm
kim loại), các sản phẩm gốm và các hỗn hợp chứa các
nguyên tố hoặc các hợp chất này
2844.43 - - Các nguyên tố, đồng vị và hợp chất phóng xạ khác;
hợp kim khác, chất phân tán khác (kể cả gốm kim loại),
các sản phẩm gốm và các hỗn hợp khác chứa các
nguyên tố, đồng vị hoặc hợp chất này
2844.44 - - Phế liệu phóng xạ
2844.50 - Hộp (cartridges) nhiên liệu đã bức xạ của lò phản ứng
hạt nhân
(I) ĐỒNG VỊ
Hạt nhân của một nguyên tố được xác định bởi số nguyên tử của nó, luôn
chứa cùng số lượng như vậy các hạt proton, nhưng chúng có thể có số
lượng notron khác nhau và, vì vậy, sẽ có sự khác nhau về khối lượng
(khác nhau về số khối lượng).
Những hạt nhân chỉ khác về số khối lượng mà không khác về số nguyên
tử, thì được gọi là đồng vị của nguyên tố đó. Ví dụ, có một vài hạt nhân
có cùng số nguyên tử là 92, đều được gọi là Urani, nhưng số khối lượng
lại có thể giao động trong khoảng từ 277 đến 240; chúng được định rõ, ví
dụ, như urani 233, urani 235, urani 238,... Tương tự, hydro 1, hydro 2
hoặc deuterium (đã phân loại ở nhóm 28.45) và hydro 3 hoặc tritium là
đồng vị của hydro.
Yếu tố quan trọng trong tác động hóa học của một nguyên tố là gắn với
số điện tích dương có được ở hạt nhân (số proton); nó quyết định số điện
tử bao quanh, điều này ảnh hưởng thực sự tới đặc tính hóa học.
Vì lẽ đó, nhiều đồng vị khác nhau của một nguyên tố mà hạt nhân của nó
có độ tích điện giống nhau nhưng khác nhau về khối lượng, sẽ có đặc
tính hóa học giống nhau nhưng tính chất vật lý sẽ biến thiên từ đồng vị
này sang đồng vị khác
Nguyên tố hóa học bao gồm hoặc của một hạt nhân đơn (nguyên tố
đồng vị đơn (monoisotopic) hoặc của hỗn hợp từ hai hay nhiều đồng vị
với tổng số không thay đổi như đã biết. Ví dụ, clo tự nhiên, ở cả trạng
thái tự do và kết hợp, luôn là một hỗn hợp gồm 75,4% clo 35 và 24,6%
clo 37 (điều này tạo cho nó trọng lượng nguyên tử là 35.457).
Khi một nguyên tố bao gồm hỗn hợp các đồng vị, các phần cấu thành của
nó có thể bị phân chia, ví dụ bằng cách khuếch tán qua một ống xốp,
phân chia bằng điện trường hoặc bởi điện phân từng phần. Đồng vị cũng
có thể tạo ra bằng cách bắn phá các nguyên tố tự nhiên với các notron
hoặc các hạt đã được nạp năng lượng rất lớn.
Đối với mục đích của Chú giải 6 của Chương này và của nhóm 28.44 và
28.45, thuật ngữ đồng vị bao hàm không chỉ các đồng vị ở trạng thái tinh
khiết mà cả các nguyên tố hóa học mà thành phần đồng vị tự nhiên đã
được cải biến nhân tạo bằng cách làm giầu các nguyên tố ở một vài đồng
vị của chúng (cũng tương tự như việc làm nghèo chúng ở một số đồng vị
khác) hoặc bằng cách biến đổi, qua một phản ứng hạt nhân, chuyển thành
dạng đồng vị khác, đồng vị nhân tạo. Ví dụ: clo trọng lượng nguyên tử là
35,30 được tạo ra bởi làm giầu nguyên tố này với hàm lượng 85% clo 35
(và tương ứng với việc làm nghèo nguyên tố này với hàm lượng 15% clo
37) cũng được coi là một đồng vị.
Cũng cần lưu ý rằng các nguyên tố tồn tại ở trong tự nhiên ở trạng thái
đồng vị đơn (1 đồng vị), ví dụ Beri 9, Flo 19, Nhôm 27, Photpho 31.
Magan 55,... không được coi là đồng vị, nhưng vẫn được phân loại, hoặc
ở trạng thái tự do hoặc hỗn hợp, tùy theo từng trường hợp, trong các
nhóm cụ thể liên quan tới các nguyên tố hóa học hoặc hợp chất của
chúng.
Tuy nhiên, các đồng vị phóng xạ của cùng các nguyên tố này được tạo ra
bằng cách nhân tạo (ví dụ, Be 10, F 18, Al 29, P 32, Mn 54), cũng được
coi là đồng vị.
Do các nguyên tố hóa học nhân tạo (thông thường với số nguyên tử lớn
hơn 92, hoặc là các nguyên tố có tính phóng xạ cao (có số lượng nguyên
tử cao hơn urani)) không có thành phần đồng vị cố định mà chỉ có thành
phần thay đổi tùy theo phương pháp chế tạo nguyên tố, trong các trường
hợp này không thể phân biệt giữa nguyên tố hóa học và các đồng vị của
nó theo như mục đích của Chú giải 6.
Nhóm này chỉ bao gồm những đồng vị đó mà có hiện tượng của chất
phóng xạ (miêu tả dưới đây); Ngoài ra, các đồng vị bền vững được phân
loại ở nhóm 28.45).
(II) TÍNH PHÓNG XẠ
Một số hạt nhân, hạt nhân không bền vững, hoặc ở trạng thái tinh khiết
hoặc ở dạng hợp chất, phát ra các tia phóng xạ hỗn hợp tạo ra hiệu ứng
vật lý hoặc hóa học như là:
(1) Ion hóa khí.
(2) Phát huỳnh quang.
(3) Làm mờ bản ảnh.
Hiệu ứng này làm cơ sở để phát hiện các chùm tia này và để đo cường độ
chúng bằng cách , ví dụ, ống đếm Geiger - Muller, ống đếm số lượng,
thành phần buồng ion hóa, buồng Wilson, ống đếm lưu lượng, ống đếm
tia lửa, và các loại phim hoặc tấm nhạy.
Đây là hiện tượng mang tính phóng xạ, các nguyên tố hóa học, các đồng
vị, các hợp chất và, nói chung, các chất được trình bày ở đây được gọi là
phóng xạ.
(III) CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC PHÓNG XẠ, CÁC ĐỒNG VỊ
PHÓNG XẠ VÀ HỢP CHẤT CỦA CHÚNG;HỖN HỢP VÀ CÁC
PHẾ LIỆU CÓ CHỨA CÁC SẢN PHẨM TRÊN.
(A) Các nguyên tố phóng xạ.
Trong nhóm này gồm các nguyên tố hóa học phóng xạ đã nêu ở Chú
giải 6(a) của Chương này, cụ thể là: tecneti, promethi, poloni và tất
cả các nguyên tố có số nguyên tử lớn hơn, như là astatin, radon,
curi, berkeli, californi, einsteini, fermi, mendelevi, nobeli và
Chúng là các nguyên tố nói chung bao gồm một vài đồng vị mà tất
cả đều có tính phóng xạ.
Mặt khác, có các nguyên tố bao gồm các hỗn hợp các đồng vị phóng
xạ và bền vững như là Kali, Rubi, Samari và Luteti (nhóm 28.05),
mà vì các đồng vị phóng xạ này có tính phóng xạ ở mức độ thấp và
cấu thành tỷ lệ hỗn hợp tương đối thấp, thì có thể xem như thực sự
ổn định và như vậy không xếp vào nhóm này.
Mặt khác, cũng giống các nguyên tố đó (Kali, Rubi, Sarnari, Luteri),
nếu đã được làm giàu các đồng vị phóng xạ của chúng (K40, Rb 87,
Srn 147, Lu 176, tương ứng), sẽ được coi là đồng vị phóng xạ của
nhóm này.
(B) Đồng vị phóng xạ.
Với các đồng vị phóng xạ tự nhiên như K 40, Rb 87, Srn 147 và Lu
176 đã được nhắc đến, có thể thêm urani 235 và urani 238, nó được
thảo luận chi tiết hơn ở Phần IV dưới đây, và một vài đồng vị của
thali, chì, bismut, poloni, radi, actini hoặc thori, chúng thường được
biết đến dưới cái tên khác với tên của nguyên tố tương ứng. Tên này
thiên về nguyên tố mà chúng được tạo ra qua chuyển hóa phóng xạ.
Do đó, bismut 210 được gọi là radium E, polonium 212 được gọi là
thorium C’ và actinium 228 được gọi là mezothorium II.
Các nguyên tố hóa học mà thông thường ổn định có thể trở thành
chất phóng xạ hoặc sau khi bị bắn phá với các hạt có động năng rất
lớn (proton, dơtoron) phát sinh từ máy gia tốc hạt (cyclotron,
synchroton,...) hoặc sau khi hấp thụ nơtron trong một lò phản ứng
hạt nhân.
Những nguyên tố chuyển hóa như vậy được gọi là đồng vị phóng xạ
nhân tạo. Thuộc về loại này hiện có khoảng 500 loại, trong đó có
gần 200 đang được ứng dụng thực tế. Ngoài urani 233 và đồng vị
plutoni, được thảo luận sau đây, một số quan trọng nhất đó là: hydro
3 (triti), cacbon 14, natri 24, phospho 32, lưu huỳnh 35, kali 42,
canxi 45, crom 51, sắt 59, coban 60, kryton 85, stronti 90, ytri 90,
paladi 109, Iod 131 và 132, xenon 133, caesi 137, thuli 170, iridi
192, vàng 198, và poloni 210.
Các nguyên tố hóa học phóng xạ và đồng vị phóng xạ tự chúng
chuyển hóa thành dạng nguyên tố hoặc đồng vị bền vững hơn.
Thời gian cần cho một lượng của đồng vị phóng xạ nhất định giảm
đi một nửa từ khi xuất hiện được gọi là nửa vòng đời hoặc gọi là chu
kỳ bán rã của đồng vị đó. Nó thay đổi từ một phần của một giây đối
với một số đồng vị phóng xạ cao (thori C’ là 0,3 x 10-6) tới hàng tỷ
của năm (Sarmari 147 là1,5 x 1011 năm ) và là một thước đo phù
hợp về sự không ổn định thống kê của hạt nhân liên quan.
Các nguyên tố hóa học phóng xạ và đồng vị được xếp vào nhóm
này, thậm chí kể cả khi ở dạng hỗn hợp hoặc với hợp chất phóng xạ,
hoặc với các nguyên liệu không mang tính phóng xạ (ví dụ, mục tiêu
đã bức xạ và nguồn phóng xạ chưa chế biến), có hoạt độ phóng xạ
lớn hơn 74 Bg/g (0,002 µCi/g).
(C) Các hợp chất phóng xạ; hỗn hợp và các phế liệu có chứa các
chất phóng xạ.
Các nguyên tố hóa học phóng xạ và đồng vị trong nhóm này thường
được sử dụng ở dạng hợp chất hoặc các sản phẩm được “dán nhãn”
(ký hiệu riêng) (có nghĩa là, chứa các phân tử có 1 hoặc nhiều hơn 1
nguyên tử phóng xạ). Các hợp chất như thế vẫn được phân loại
trong nhóm này, thậm chí khi bị hòa tan hoặc bị phân tán, hoặc trộn
lẫn tự nhiên hoặc nhân tạo với, các vật liệu phóng xạ hoặc không
phóng xạ. Các nguyên tố hóa học và đồng vị này cũng được phân
loại trong nhóm này khi ở dạng hợp kim, tán xạ hoặc gốm kim loại.
Các hợp chất vô cơ hoặc hữu cơ, hoặc dạng khác về mặt hóa học tạo
thành các nguyên tố hóa học phóng xạ hoặc đồng vị phóng xạ, và
dung dịch của chúng, cũng được xếp trong nhóm này, thậm chí nếu
hoạt tính phóng xạ của các hợp chất hoặc dung dịch này thấp hơn 74
Bq/g (0,002 μCi/g); mặt khác, hợp kim, chất tán xạ (kể cả gốm kim
loại), các sản phẩm sứ và các hỗn hợp có chứa các chất phóng xạ
(các nguyên tố, đồng vị hoặc hợp chất của nó) được xếp vào trong
nhóm này nếu hoạt tính phóng xạ của chúng lớn hơn 74 Bq/g (0,002
μCi/g). Các nguyên tố phóng xạ và đồng vị rất ít được sử dụng ở
dạng tự do, trong thương mại, chúng có thể ở dạng hợp chất hóa học
hoặc hợp kim. Trừ các hợp chất của nguyên tố hóa học ở dạng có
thể tách được và được làm giầu, mà được nêu ở Phần (IV) dưới đây
là do đặc tính và tầm quan trọng của chúng, các hợp chất phóng xạ
quan trọng nhất là:
(1) Muối radi (clorua, bromua, sulphat,...) được dùng làm nguồn
phóng xạ cho điều trị ung thư hoặc cho các một số thực nghiệm
trong vật lý.
(2) Các hợp chất đồng vị phóng xạ đã đề cập theo mục (III) (B) ở
trên.
Các chất đồng vị phóng xạ nhân tạo và hợp chất của chúng được sử dụng:
(a) Trong công nghiệp, ví dụ, cho chiếu chụp kim loại, để đo độ
dày của thanh, phiến,...; để đo mức chứa lỏng container mà
không tiếp cận được; hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho lưu hóa;
gây ra polyme hóa hoặc ghép các hợp chất hữu cơ riêng biệt; cho
sản xuất sơn phát quang (ví dụ, trộn với ZnS); cho mặt đồng hồ,
các dụng cụ máy móc,...
(b) Trong y học, ví dụ, cho chẩn đoán hoặc điều trị một số bệnh
(coban 60, Iod 131, vàng 198, phospho 32,...).
(c) Trong nông nghiệp, ví dụ, cho thanh trùng sản phẩm nông
nghiệp; ngăn sự nảy mầm; cho nghiên cứu việc áp dụng phân
bón hoặc hấp thụ phân bón của cây trồng; làm biến đổi gen như
cải tiến giống,... (coban 60, Caesi 137, phospho 32,...).
(d) Trong sinh học, ví dụ, cho nghiên cứu chức năng hoặc sự phát
triển của một số cơ quan động vật hoặc thực vật (triti, cacbon 14,
natri 24, phospho 32, lưu huỳnh 35, kali 42, canxi 45, sắt 59,
(e) Trong nghiên cứu vật lý và hóa học.
Các đồng vị phóng xạ và hợp chất của nó thông thường được tạo
ra ở dạng bột, dung dịch, hình kim, sợi hoặc mảnh. Chúng
thường được đựng trong ống thủy tinh, trong kim platin rỗng,
trong các ống bằng thép không gỉ,.... chúng được đóng trong các
thùng chứa bên ngoài có lớp kim loại chống phóng xạ (thông
thường là chì), lựa chọn độ dày của lớp vỏ bọc phụ thuộc mức độ
phóng xạ của các đồng vị. Theo một số hiệp định quốc tế, một
nhãn đặc biệt phải được dán vào thùng chứa, cung cấp các đặc
thù đồng vị liên quan và mức độ phóng xạ của nó.
Các hỗn hợp có thể bao gồm một số nguồn nơtron nhất định hình
thành bằng cách kết hợp (trong một hỗn hợp, hợp kim, hợp
chất,...) một nguyên tố phóng xạ hoặc đồng vị (radi, radon,
antimon 124, americi 241,...) với nguyên tố khác (beri, flo,...)
theo cách như thế, để tạo ra một phản ứng (γ,n) hoặc (α,n) (dựa
vào một γ-photon hoặc một hạt α (hạt α ), tùy trường hợp, và làm
bắn ra một neutron).
Tuy vậy, tất cả các nguồn neutron đã được tập hợp lại, sẵn sàng
được đưa vào các lò phản ứng hạt nhân để bắt đầu một phản ứng
dây truyền phân hạch, sẽ được coi như các bộ phận hợp thành lò
phản ứng và vì vậy được phân loại ở nhóm 84.01.
Các vi hạt của nhiên liệu hạt nhân được phủ các lớp cacbon hoặc
silic cacbua với mục đích đưa vào thành các thành phần nhiên
liệu hình cầu hoặc hình lăng trụ được xếp ở nhóm này.
Cũng bao gồm trong nhóm này là các sản phẩm được sử dụng
làm chất phát quang, mà chúng có một lượng nhỏ các chất phóng
xạ thêm vào để làm tự phát quang, với điều kiện là các chất
phóng xạ có độ phóng xạ lớn hơn 74 Bq/g (0,002 μCi/g).
Trong các chất thải phóng xạ, cái quan trọng nhất xét trên quan điểm
tái sử dụng là:
(1) Nước nặng đã được chiếu xạ hoặc Triti hóa: sau khi tồn tại
một thời gian dài khác nhau trong lò phản ứng, một vài
deuterium ở dạng nước nặng bị chuyển hóa, bằng cách hấp thụ
các hạt neutron, để thành tritium và như vậy nước nặng lại trở
nên có tính phóng xạ.
(2) Khối nhiên liệu đã qua sử dụng ( bức xạ) (Cartidge), nhìn
chung hoạt độ phóng xạ rất cao, chủ yếu được dùng cho mục
đích thu hồi lại các chất có khả năng phân tách và kết hợp có
chứa trong chúng (xem Phần (IV) dưới đây).
(IV) CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC VÀ ĐỒNG VỊ
VÀ CÁC HỢP CHẤT CỦA CHÚNG CÓ KHẢ NĂNG
PHÂN TÁCH VÀ LÀM GIẦU; HỖN HỢP VÀ PHẾ LIỆU CÓ
CHỨA CÁC HỢP CHẤT ĐÓ.
(A) Các nguyên tố hóa học và đồng vị có khả năng phân tách và kết hợp
Một số các nguyên tố hóa học và đồng vị đã được nêu trong Phần
(III) có khối lượng nguyên tử lớn, ví dụ thori, urani, plutoni và
americi, mà ở chúng các hạt nhân nguyên tử có cấu trúc phức tạp
đặc biệt. Các hạt nhân này, khhi phải chịu tác động của các hạt
nguyên tử (nơtron, proton, duetoron, triton, hạt α,...) có thể hấp thụ
những hạt đó, do vậy làm tăng tính không ổn định của chúng tới
mức độ đủ để làm nguyên nhân gây ra tách chia chúng thành 2 hạt
nhân có khối lượng trung bình so với khối lượng của các chất gần kề
(hoặc hiếm hơn thành 3 hoặc 4 mảnh).
Sự phân giải này giải phóng một năng lượng lớn và kèm theo bởi sự
hình thành các nơtron thứ cấp. Quá trình này gọi là sự phân hạch
hoặc sự phân đôi hạt nhân.
Sự phân hạch này thực tế rất ít khi xảy ra tự phát hoặc chỉ dưới tác
dụng của các photon mới xảy ra.
Các nơtron thứ cấp được giải phóng ở thời gian phân rã và có thể là
nguyên nhân để tạo sự phân rã lần thứ hai và như vậy sẽ làm tăng
các hạt nơtron thứ cấp và cứ tiếp tục xảy ra như vậy. Sự lập lại của
quá trình này gọi là phản ứng dây truyền.
Xác xuất của sự phân hạch thông thường là rất cao đối với một số
hạt nhân (U 233, U 235, Pu 239) nếu các hạt notron chậm được sử
dụng, nghĩa là hạt notron có tốc độ trung bình khoảng 2.200 m/giây
(hoặc năng lượng của 1/40 electron volt (eV). Vì tốc này xấp xỉ với
tốc độ của các phân tử dạng lỏng (chuyển động nhiệt) thì các hạt
notron chậm này đôi khi cũng được gọi là hạt notron nhiệt.
Hiện nay, sự phân hạch mà có nguyên nhân từ các hạt nơtron nhiệt
được sử dụng hầu hết trong các lò phản ứng hạt nhân.
Về lý do này, thuật ngữ phân hạch được sử dụng thông dụng cho
việc miêu tả các đồng vị qua sự phân hạch bởi các nơtron nhiệt, đặc
biệt là urani 233, urani 235, plutoni 239 và các nguyên tố hóa học có
chứa trong chúng, đặc biệt là urani và plutoni.
Các hạt nhân khác, như urani 238 và thori 232 chỉ chịu phân rã trực
tiếp bởi các notron nhanh và thường coi đây không phải là quá trình
phân hạch mà gọi là kết hợp. Sự “kết hợp” này bắt nguồn từ thực tế
rằng, các hạt nhân này có khả năng hấp thụ các notron chậm dẫn tới
việc hình thành plutoni 239 và urani 233 tương ứng, chúng là phân
hạch.
Trong các lò phản ứng hạt nhân (với các notron đã được làm chậm
xuống), khi năng lượng của các notron thứ cấp giải phóng bởi quá
trình phân hạch là cao hơn nhiều (khoảng 2 triệu eV), thì các notron
phải được hãm lại nếu như phản ứng dây truyền này xảy ra. Điều
này có thể đạt được bằng cách sử dụng bộ điều chỉnh, có nghĩa là
các sản phẩm với khối nguyên tử thấp (như nước, nước nặng, một số
các hydro cacbon, graphit, beri,...) mà mặc dù chúng hấp thụ phần
năng lượng của các notron thông qua các chuỗi va chạm, bản thân
chúng không hấp thụ các notron hoặc chỉ hấp thụ một phần không
đáng kể.
Để khởi động và duy trì một phản ứng dây truyền, thì số lượng trung
bình của các notron thứ cấp được tạo ra bởi sự phân hạch phải nhiều
hơn bù lại số notron đã mất do hiện tượng hao hụt và mất mát không
dẫn tới việc phân hạch.
Các nguyên tố hóa học phân hạch và hợp hạch được kể dưới đây là:
(1) Urani tự nhiên.
Urani ở trạng thái tự nhiên bao gồm 3 đồng vị: urani 238, dạng
này chứa 99,28% tổng số khối lượng, urani 235 chiếm 0,71%, và
một lượng không đáng kể (khoảng 0,006%) của urani 234. Vì
vậy, nó có thể được xem là cả nguyên tố phân hạch (vì nó có
hàm lượng urani 235) và nguyên tố hợp hạch (vì nó có hàm
lượng urani 238).
Urani chủ yếu được tách ra từ pitchblende, uraninite, autunite,
brannerite, carnotite hoặc torbernite. Nó cũng có thể thu được từ
nguồn thứ cấp khác, chẳng hạn từ cặn bã trong quá trình sản xuất
superphosphat hoặc chất thải trong mỏ vàng. Quy trình thông
thường là khử tetrafluorua bằng canxi hoặc magie, hoặc bằng
cách điện phân.
Urani là nguyên tố phóng xạ yếu, rất nặng (tỷ trọng 19) và
cứng.Nó có bề mặt màu xám bạc bóng nhẵn, nhưng bị xỉn đi khi
để tiếp xúc với oxy của không khí, tạo thành oxit. Ở dạng bột nó
bị oxy hóa và bị đốt cháy nhanh chóng khi tiếp xúc với không
khí.
Urani ở thị trường thường có dạng thỏi để sẵn sàng cho việc
đánh bóng, gọt dũa, cán mỏng,.... (để tạo ra thanh, ống, lá,
dây,...).
Quặng Thorite và quặng orangite, dù rất giàu Thori, là rất hiếm,
nên thori chủ yếu thu được từ monazit mà loại này cũng là nguồn
gốc của các kim loại đất hiếm.
Dạng kim loại không tinh khiết có dạng bột màu xám có tính dẫn
lửa cực cao. Nó thu được bằng cách điện phân của muối florua
hoặc bằng cách khử florua, clorua hoặc oxit. Kim loại thu được
sẽ được tinh lọc và thiêu kết trong môi trường khí trơ và tạo
thành thỏi màu thép xám (tỷ trọng 11,5); chúng rất cứng (mặc dù
có mềm hơn so với urani) và bị oxy hóa nhanh chóng ngoài
không khí.
Những thỏi này được cán, đẩy hoặc kéo để tạo thành các dạng lá,
thanh, ống, dây,... Thori tự nhiên bao gồm chủ yếu là đồng vị
Thori và một số hợp kim của thori phần lớn được sử dụng làm
nguyên liệu phân hạch trong lò phản ứng hạt nhân. Hợp kim
thori-magie và thori-tungsten, được sử dụng trong công nghiệp
hàng không hoặc trong sản xuất các thiết bị nhiệt.
Các mặt hàng hoặc phần của hàng hóa, tạo ra từ thori của Phần
XVI đến XIX được loại trừ khỏi nhóm này.
Plutoni công nghiệp thu được bằng bức xạ uranni 238 trong một
lò phản ứng hạt nhân.
Nó rất nặng (tỷ trọng 19,8), có tính phóng xạ và độc tính cao. Nó
có bề ngoài tương tự urani, và dễ bị oxy hóa.
Thương phẩm của Plutoni tương tự như urani đã được làm giàu
và đòi hỏi khi xử lý phải hết sức cẩn thận.
Các đồng vị phân hạch bao gồm:
(1) Urani 233: nó thu được từ thori 232 trong lò phản ứng hạt nhân,
mà lần lượt chuyển thành thori 233, protactini 233 và urani 233.
(2) Urani 235: đây là đồng vị phân hạch duy nhất của uran, nó tồn
tại trong tự nhiên, chiếm 0,71% uran tự nhiên.
Để thu được urani được làm giàu trong U 235 và urani được làm
nghèo trong U 235 (loại làm giầu đi từ U 238), urani hexaflorua
được trải qua, phân tách đồng vị bằng các quá trình điện từ, ly
tâm hoặc quá trình khuếch tán khí.
(3) Plutoni 239: thu được từ urani 238 trong lò phản ứng hạt nhân,
nó được lần lượt chuyển sang dạng urani 239, neptuni 239 và
Cũng đã đề cặp là một số đồng vị nhất định của nguyên tố plutoni
chuyển tiếp từ californi 252, americi 241, curi 242 và curi 244,
chúng có thể phát sinh ra sự phân hạch (hoặc tự phát hoặc không) và
chúng được sử dụng làm nguồn nơtron mạnh.
Trong số các đồng vị kết hợp, ngoài thori 232, urani đã làm nghèo
(nghĩa là làm nghèo U 235 và vì vậy làm giàu U 238) phải được kể
đến. Kim loại này là sản phẩm của quá trình sản xuất urani được làm
giàu từ U 235. Bởi vì chi phí thấp hơn nhiều và số lượng lớn, nó có
thể có được, nó thay thế cho urani tự nhiên, đặc biệt làm nguyên liệu
kết hợp, như một màng bảo vệ chống tia phóng xạ, như một kim loại
nặng cho sản xuất bánh đà hoặc trong các chế phẩm hợp chất hấp
phụ (hút khí) được sử dụng cho tinh chế một số khí gas.
Các sản phẩm hoặc bộ phận sản phẩm, được tạo ra từ urani được làm
nghèo từ U 235, của Phần XVI đến XIX được loại trừ khỏi nhóm
này.
(B) Các hợp chất của các nguyên tố phân hạch và hợp hạch hoặc các
đồng vị.
Các hợp chất sau, đặc biệt được xếp vào nhóm này:
(1) của urani:
(a) oxit UO2, U3O8, và UO3
(b) florua UF4 và UF6 (chất sau thăng hoa ở 560C)
(c) cacbua UC và UC2
(d) uranat Na2U2O7 và (NH4)U2O7
(2) của plutoni:
(d) cacbua PuC và Pu2C3
Các hợp chất urani hoặc plutoni chủ yếu được sử dụng trong
công nghiệp hạt nhân, hoặc như dạng trung gian hoặc như sản
phẩm hoàn chỉnh.
Urani hexaflorua thường được đựng trong đồ chứa đóng kín; nó
khá độc và vì vậy phải cẩn thận khi xử lý.
(3) của thori:
(a) Dạng oxit và hydroxit. Thori oxit (ThO2) (thoria) là dạng bột
màu vàng ánh trắng, không hòa tan trong nước. Dạng
hydroxit (Th(OH)4) là thioria hydrat. Cả hai loại này đều thu
được từ monazite. Chúng cũng được sử dụng trong sản xuất
măng xông đèn ga, các vật liệu chịu lửa hoặc làm chất xúc tác
(tổng hợp axeton). Dạng oxit được dùng làm nguyên liệu kết
hợp trong các lò phản ứng hạt nhân.
(b) các muối vô cơ. Các muối này thường có màu trắng. Quan
trọng nhất là:
(i) thori nitrat, xuất hiện ở dạng ngậm nước dù ít hay nhiều
hay dạng tinh thể, hoặc dạng bột (muối nung nitrat). Nó
được sử dụng để điều chế sơn phát quang. Hỗn hợp với
xeri nitrat được sử dụng để tẩm măng sông đèn khí;
(ii) thori sunphat, dạng bột kết tinh, hòa tan trong nước lạnh;
thori hydro sunphat và muối kiềm sunphat kép;
(iii) thori clorua (ThCl4), dạng khan hoặc ngậm nước, và
dạng oxyclorua;
(iv) thori nitrua và thori cacbua. Được sử dụng làm các sản
phẩm chịu nhiệt, như vật liệu mài hoặc các nguyên liệu
làm giàu trong lò phản ứng hạt nhân;
(c) các hợp chất hữu cơ. Hợp chất hữu cơ được biết nhiều nhất là
thori fomat, axetat, tactrat và benzoat, tất cả được sử dụng
trong y học.
(C) Các hợp kim, các chất tán xạ (bao gồm cả gốm kim loại), sản
phẩm gốm, hỗn hợp và chất thải có chứa nguyên tố phân hạch
hoặc hợp hạch hoặc đồng vị hoặc các hợp chất vô cơ hoặc hữu
cơ của nó.
Các sản phẩm chủ yếu trong nhóm này là:
(1) Hợp kim của urani hoặc plutoni với nhôm, crom, zirconi,
molypden, titan, niobi hoặc vanadi. Cũng kể đến hợp kim urani-
plutoni và hợp kim sắt -Urani.
(2) Dạng phân tán của urani dioxit (UO2) hoặc của urani cacbua
(UC) (có hoặc không hỗn hợp với thori dioxit hoặc thori cacbua)
trong graphit hoặc polyethylen.
(3) Gốm kim loại bao gồm các kim loại khác nhau (ví dụ, thép
không gỉ) cùng với urani dioxit (UO2) plutoni dioxit (PuO2) urani
cacbua (UC) hoặc plutoni cacbua (PuC) (hoặc các hợp chất này
trộn với thori oxit hoặc cacbua).
Các sản phẩm này ở dạng, thanh, tấm, bột, hình cầu, sợi,..., được
sử dụng hoặc cho sản xuất các thành phần nhiên liệu, hoặc đôi
khi dùng trực tiếp trong lò phản ứng.
Dạng thỏi, tấm và hình cầu, được đựng trong bao bì và gắn với
các dạng đặc biệt dùng cho mục đích vận chuyển, được xếp vào
nhóm 84.01.
(4) Bã hoặc các thành phần nhiên liệu đã chiếu xạ (cartridges), tức là
các nhiên liệu sau ít nhiều lần sử dụng, phải được thay thế (bởi vì
sự tích tụ của các sản phẩm phân hạch ngăn trở tới phản ứng dây
truyền hoặc vì vỏ của nó bị hư hỏng). Sau khi bảo quản thời gian
đủ lâu ở trong nước có độ rất sâu để làm lạnh chúng và để giảm
tính phóng xạ của chúng, các khối nhiên liệu này được chuyển
vào các đồ chứa đựng bằng chì, đến các cơ sở đặc biệt có đủ thiết
bị để thu hồi các vật liệu phân hạch thải bỏ này, cũng như các
nguyên liệu phân hạch xuất phát từ sự chuyến biến hoặc các
thành phần hợp hạch (thường chứa trong các thành phần nhiên
liệu) và của các sản phẩm phân hạch.
28.45 – Chất đồng vị trừ các đồng vị thuộc nhóm 28.44; các hợp chất,
vô cơ hoặc hữu cơ, của các đồng vị này, đã hoặc chưa xác định
về mặt hóa học.
2845.10 - Nước nặng (deuterium oxide)
2845.20 - Bo được làm giàu bo-10 và các hợp chất của nó
2845.30 - Liti được làm giàu liti-6 và các hợp chất của nó
2845.90 - Loại khác
Đối với định nghĩa về thuật ngữ "đồng vị", xem Phần (I) của Chú giải chi
tiết nhóm 28.44.
Nhóm này bao gồm các đồng vị bền vững, đó là các chất không phải
đồng vị phóng xạ và các hợp chất hữu cơ hoặc vô cơ của chúng, đã hoặc
chưa được xác định về mặt hóa học.
Nhóm này bao gồm các đồng vị và các hợp chất của chúng sau đây:
(1) Hydro hoặc deuteri nặng. Nó được tách ra từ hydro bình thường
trong đó nó tồn tại ở tỉ lệ là 1/6500.
(2) Nước nặng, là deuteri oxit. Tồn tại ở nước bình thường với tỷ lệ
1/6500. Thông thường thu được như một chất thải của quá trình điện
phân nước. Được dùng như nguồn deuteri, và trong lò phản ứng hạt
nhân để làm chậm lại các notron làm phân chia các nguyên tử urani.
(3) Các hợp chất khác được sản xuất từ deuterium, ví dụ, axetylen
nặng, methan nặng, axit acetic nặng và sáp paranfin nặng.
(4) Các đồng vị của lithi được coi là lithi 6 hoặc 7, và các hợp chất của
chúng.
(5) Các đồng vị của cacbon được hiểu là cacbon 13 và hợp chất của nó.
28.46 – Các hợp chất, vô cơ hoặc hữu cơ, của kim loại đất hiếm, của
ytri hoặc của scandi hoặc của hỗn hợp các kim loại này.
2846.10 - Hợp chất xeri
2846.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các hợp chất hữu cơ hay vô cơ của ytri, scandi hoặc
của các kim loại đất hiếm thuộc nhóm 28.05 (lantha, xeri, praseodymi,
yttebri, luteti). Nhóm này cũng bao gồm các hợp chất từ nguồn trực tiếp
thu được bằng cách xử lý hóa học hỗn hợp của các nguyên tố. Có nghĩa
là, nhóm này sẽ bao gồm hỗn hợp của oxit hoặc hydroxit của các nguyên
tố này hoặc hỗn hợp của các muối có các anion giống nhau (ví dụ, clorua
của các kim loại đất hiếm), nhưng không bao gồm hỗn hợp các muối có
các anion khác nhau, dù có cation giống nhau hoặc khác nhau. Do đó, ví
dụ, nhóm này không bao gồm hỗn hợp của các nitrat europi và samari với
muối oxalat hoặc một hỗn hợp của clorua xeri và sunphat xeri vì những
ví dụ này không phải là các hợp chất bắt nguồn trực tiếp từ hỗn hợp của
các nguyên tố, nhưng chúng là hỗn hợp của các hợp chất, điều đó có thể
xem là đã được tạo ra có chủ định cho mục đích đặc biệt và vì vậy nó
được xếp vào nhóm 38.24.
Nhóm này cũng bao gồm các muối kép hoặc phức của chúng với các kim
loại khác.
Các hợp chất của nhóm này bao gồm:
(1) Các hợp chất của xeri.
(a) Oxit và hydroxit. Xeri oxit, là dạng bột màu trắng không hòa tan
trong nước, thu được từ xeri nitrat; nó được sử dụng để tạo màu
mờ đục trong gốm, cho sản xuất thủy tinh màu, trong các chế
phẩm đèn hồ quang cacbon và được làm chất xúc tác trong sản
xuất axit nitric và amoniac. Mục này cũng bao gồm hydroxit
xeri. Xeri oxit và cerous hydroxit là rất kém bền vững.
(b) Muối xeri. Xeri nitrat (Ce(NO3)3) được sử dụng trong sản xuất
áo phòng khí độc. Amoni xeric nitrat xuất hiện ở dạng tinh thể.
Xeri sunphat (xeri sulnphat và hydrat của nó, hydrat xeri sulphat, hình
lăng trụ màu vàng da cam hoà tan trong nước) được sử dụng trong
ngành nhiếp ảnh như chất khử. Đây cũng là sulphat kép của xeri.
Ngoài Xeri clorua (CeCl3) còn có muối xeri không màu khác và
muối xeri màu vàng hoặc da cam.
Xeri oxalat xuất hiện ở dạng tinh thể ngậm nước màu trắng hơi
vàng, hầu như không hòa tan trong nước; nó được sử dụng trong
phân tách kim loại của nhóm xeri hoặc sử dụng trong y học.
(2) Các hợp chất kim loại đất hiếm khác. Oxit ytri (yttria), oxit tecbi
(terbia), hỗn hợp oxit ytebi (yterbia) và oxit của các kim loại đất
hiếm khác trong thương mại được coi là tinh khiết. Nhóm bao gồm
hỗn hợp muối được tạo ra trực tiếp từ các hỗn hợp của oxit như ở
trên.
Oxit europi, samari, v.v. được sử dụng trong các lò phản ứng hạt
nhân để hút các nơtron chậm.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các hợp chất tự nhiên của kim loại đất hiếm, ví dụ, xenotim (photphat
phức), gadolinit hoặc ytebit và xerit (silicat phức) (nhóm 25.30) và
monazit (phosphat của thori và của kim loại đất hiếm) (nhóm 26.12).
(b) Muối và các hợp chất khác, hữu cơ hoặc vô cơ, của prometi (nhóm
28.47- Hydro petroxit, đã hoặc chưa làm rắn bằng urê.
Hydro peroxit (H2O2) được tạo ra bằng cách điện phân oxy hoá axit
H2SO4 tiếp theo là chưng cất, hoặc bằng cách xử lý bari hoặc natri
peroxit hoặc kali persunphat với 1 axit. Nó là dạng chất lỏng không màu
với dạng bề ngoài giống nước thường. Nó có thể ở dạng xiro đậm đặc và
gây ăn da khi nồng độ đậm đặc. Nó được vận chuyển trong bình lớn có
vỏ bọc ngoài.
Hydro peroxit rất không bền vững trong một môi trường kiềm trung bình,
đặc biệt khi phơi ngoài ánh sáng hoặc đun nóng. Nó gần như luôn chứa
một lượng nhỏ chất ổn định (axit boric hoặc axit citric,...) để chống lại sự
phân huỷ; hỗn hợp như vậy vẫn nằm trong nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm hydro peroxit, được làm rắn với ure, đã hoặc
chưa ổn định.
Hydro peroxit được sử dụng trong tẩy trắng vải sợi, da, lông vũ, rơm, dạ,
cao su xốp, ngà, lông,.... Nó cũng được sử dụng trong bể nhuộm, tinh chế
nước, phục hồi các bức ảnh cũ, trong ngành nhiếp ảnh và trong y học
(như một chất khử trùng và cầm máu).
Được trình bày như một loại thuốc theo liều lượng hoặc được định hình
hoặc ở dạng đóng gói để bán lẻ, hydro peroxit xếp vào nhóm 30.04.
28.49- Các bua, đã hoặc chưa xác định về mặt hoá học.
28.49.10 - Của Canxi
28.49.20 - Của Silic
28.49.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(A) Cacbua hai thành phần, là hợp chất của các bon với các
nguyên tố khác mà có điện tích dương lớn hơn các bon. Các chất
được gọi là acetylua cũng được phân loại vào nhóm này.
Cacbua hai thành phần được biết nhiều nhất là:
(1) Cacbua canxi(CaC2). Dạng rắn không màu, trong suốt ở thể
tinh khiết, ở dạng không tinh khiết có màu xám và đục. Bị phân
huỷ bởi nước và tạo ra axetylen, được sử dụng để sản xuất khí
Acetylen hoặc canxi cyanamid.
(2) Cacbua silic (SiC) (carbon silicide). Thu được bằng cách xử lý
cacbon và silic trong lò nung điện. Dạng tinh thể màu đen, dạng
tảng hoặc khối không hình, đã nghiền hoặc dạng hạt. Khó bị
chảy, kháng lại các thuốc thử hoá học; có khả năng chịu lửa nhất
định, và có độ cứng gần bằng kim cương nhưng khá dòn. Được
sử dụng rộng rãi làm vật liệu mài và sản phẩm chịu nhiệt, trộn
lẫn với graphit được sử dụng để trát lót lò nung điện hoặc lò có
nhiệt độ cao. Cũng được sử dụng cho sản xuất silicon. Nhóm này
loại trừ cacbua silic ở dạng bột hoặc dạng hạt cho bồi nguyên
liệu dệt, giấy hoặc bìa giấy hoặc cho các vật liệu khác (nhóm
68.05), hoặc ở dạng bánh xe nghiền, đá mài tay hoặc đá đánh
bóng, v.v. (nhóm 68.04).
(3) Cacbua bo (Borocacbon). Được điều chế bằng cách xử lý
graphit và axit boric trong lò nung điện; dạng tinh thể đen, sáng,
cứng. Được sử dụng làm vật liệu mài, cho khoan đá, trong sản
xuất điện cực hoặc khuôn dập.
(4) Cacbua nhôm(Al4C3). Thu được từ lò nung điện khi cho nung
nóng oxit nhôm với than cốc; dạng tinh thể hoặc phiến màu vàng
trong suốt. Bị phân huỷ bởi nước tạo ra metan.
(5) Cacbua zirconi (ZrC). Được điều chế bằng cách nung zirconi
oxit và muội than trong lò nung điện; bị phân huỷ khi tiếp xúc
với không khí hoặc nước. Được sử dụng trong sản xuất sợi bấc
đèn.
(6) Cacbua bari(BaC2). Thông thường thu được trong một lò nung
điện; dạng khối kết tinh, màu hơi nâu. Bị phân huỷ bởi nước để
tạo ra acetylen
(7) Cacbua tungsten. Thu được bằng cách nung bột kim loại hoặc
oxit kim loại với muội cacbon trong lò nung điện; là dạng bột
không bị phân huỷ bởi nước, có độ ổn định hoá học cao. Điểm
nóng chảy cao; rất cứng và chịu được nhiệt. Nó có tính dẫn
tương tự như của kim loại, và nó liên kết dễ dàng với sắt kim
loại. Được sử dụng làm các hợp chất tôi cứng, ví dụ, trong tôi
luyện các đầu của dụng cụ (thường kết hợp với chất gắn như
côban hoặc niken).
(8) Các loại cacbua khác. Molypden, vanadi, titan, tantal hoặc
niobi cacbua, được điều chế từ bột kim loại hoặc oxit kim loại
và muội than trong lò nung điện; được sử dụng với các mục đích
giống như cacbua tungsten. Chúng cũng còn có dạng cacbua
khác như cacbua magan và cacbua crom.
(B) Cacbua có thành phần cacbon liên kết với hơn một nguyên tố
kim loại, ví dụ, (Ti, W)C.
(C) Các hợp chất gồm một hoặc nhiều nguyên tố kim loại liên kết với
carbon và nguyên tố phi kim khác, ví dụ, nhôm borocacbua,
Thành phần của các nguyên tố trong một số các hợp chất có thể không
hoá lượng pháp. Các hỗn hợp cơ học được loại trừ.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Hợp chất hai thành phần của carbon với các nguyên tố sau đây: oxy
(nhóm 28.11), halogen (nhóm 28.12 hoặc 29.03), lưu huỳnh (nhóm
28.13), các kim loại quý (nhóm 28.43), nitơ (nhóm 28.53), hydro
(nhóm 29.01).
(b) Hỗn hợp của cacbua kim loại, không ngưng tụ, nhưng được điều chế
để sản xuất dạng tấm, dạng chóp, dạng que,..., cho sản xuất các dụng
cụ (nhóm 38.24).
(c) Hợp kim carbon sắt của Chương 72, chẳng hạn như gang trắng, bất
kể hàm lượng sắt cacbua của chúng.
(d) Hỗn hợp của cacbua kim loại ngưng tụ, dạng tấm, dạng chóp,
dạng que và thích hợp cho các dụng cụ (nhóm 82.09).
28.50 - Hydrua, nitrua, azit, silicua và borua, đã hoặc chưa xác định
về mặt hóa học, trừ các hợp chất carbua của nhóm 28.49.
Các hợp chất của 4 nhóm bao gồm trong nhóm này là mỗi nhóm có chứa
2 hoặc nhiều nguyên tố, một trong số này đã được miêu tả bởi thuật ngữ
đã dùng (hydro, nitơ, silic hoặc bo), số khác là kim loại hoặc á kim.
Hydrua quan trọng nhất là canxi hydrua (CaH2) (hydrolith) được điều chế
bằng kết hợp trực tiếp các nguyên tố đó; là khối màu trắng với những
mảng kết tinh, bị phân hủy ở nhiệt độ lạnh khi tiếp xúc với nước và giải
phóng ra hydro. Nó là tác nhân khử được sử dụng cho sản xuất crom
thiêu kết từ cromic clorua.
Cũng có hydrua của asen, silic, bo (kể cả natri borohydrua), liti (và
nhôm-liti), natri, kali, stronti, antimon, niken, titan, zirconi, thiếc, chì,....
Nhóm này không bao gồm các hợp chất của hydro với các nguyên tố sau
đây: oxy (nhóm 22.01, 28.45, 28.47 và 28.53); nitơ (nhóm 28.11, 28.14
và 28.25); phospho (nhóm 28.53); cacbon (nhóm 29.01), và một số phi
kim khác (nhóm 28.06 và 28.11). Paladi hydrua và các hydrua kim loại
quý khác được xếp vào trong nhóm 28.43.
(1) Nitrua á kim. Bo nitrua (BN) là dạng bột màu trắng sáng, chịu nhiệt
cao. Là vật liệu cách nhiệt và cách điện; được sử dụng để làm lớp lót
trong cho các lò nung điện hoặc cho sản xuất nồi luyện kim. Silic
nitrua (Si3N4) là dạng bột màu trắng hơi xám.
(2) Nitrua kim loại. Nitrua của nhôm, titan, zircon, hafni, vanadi, tantan
hoặc niobi được điều chế hoặc bằng cách nung nóng kim loại tinh
khiết với nitơ ở nhiệt độ 11000C hoặc 12000C, hoặc bởi đốt nóng ở
nhiệt độ cao hơn hỗn hợp oxit và cacbon trong dòng khí nitơ hoặc
Nhóm này không bao gồm các hợp chất của nitơ với các nguyên tố sau:
oxy (nhóm 28.11), halogen (nhóm 28.12), lưu huỳnh (nhóm 28.13),
hydro (nhóm 28.14), cacbon (nhóm 28.53); Bạc nitrua và các nitrua của
kim loại quý khác được xếp vào nhóm 28.43, thori và urani nitrua được
xếp vào nhóm 28.44.
Các azit kim loại có thể coi như là dạng muối của axit hydrazoric (HN3).
(1) Natri azit (NaN3). Được điều chế bằng cách cho oxit nitơ (NO) tác
dụng với natri amide, hoặc từ hydrazin, ethyl nitrit và natri hyđroxit;
dạng mảnh kết tinh không màu. Hòa tan trong nước, bị phân hủy
chậm ở môi trường ẩm. Bị ảnh hưởng mạnh bởi cacbon dioxit ở
ngoài không khí. Nó rất nhạy với va chạm, giống như fulminat thủy
ngân, nhưng ít nhạy với nhiệt hơn so với fulminat thủy ngân. Được
sử dụng cho sản xuất thuốc nổ gốc và cho kíp nổ.
(2) Chì azit (PbN6). Thu được từ natri azit và chì axetat. Là dạng bột kết
tinh màu trắng, rất nhạy với va chạm, được bảo quản trong nước.
Được sử dụng làm chất nổ thay thế cho thủy ngân fulminat.
(1) Canxi silicua. Rất cứng, dạng khối kết tinh màu xám. Được sử dụng
trong luyện kim, cho sản xuất hydro tại cơ sở, và trong sản xuất bom
khói.
(2) Crom silicua. Có một vài dạng crom silicua; đó là những chất rất
cứng được dùng như đá mài.
(3) Đồng silicua (trừ hợp kim đồng silic chủ yếu của nhóm 74.05).
Thường ở dạng phiến giòn. Là tác nhân khử cho tinh luyện đồng, hỗ
trợ cho việc đúc và làm tăng độ cứng và chống lại sự đứt gãy của
đồng; nó làm giảm khuynh hướng bị ăn mòn của hợp kim đồng. Nó
cũng được sử dụng để sản xuất hợp kim đồng thiếc silic hoặc hợp
kim đồng- niken.
(4) Magie hoặc mangan silicua.
Nhóm này không bao gồm sựkết hợp của silic với các nguyên tố sau: oxy
(nhóm 28.11), halogen (nhóm 28.12), lưu huỳnh (nhóm 28.13); phospho
(nhóm 28.48). Carbon silicua (silic cacbua) được xếp vào nhóm 28.49,
silicua của bạch kim và kim loại quý khác (nhóm 28.43), hợp kim sắt và
các hợp kim chủ có chứa silic ở nhóm 72.02 hoặc 74.05, và hợp kim silic
nhôm ở Chương 76. Xem phần (A) ở trên về sự kết hợp của silic và
(1) Canxi borua(CaB6). Được điều chế bằng cách điện phân hỗn hợp của
borat và canxi clorua; là dạng bột kết tinh màu tối. Là tác nhân khử
mạnh được sử dụng trong luyện kim.
(2) Nhôm borua. Được điều chế bằng cách nung trong lò điện; dạng
khối kết tinh. Được sử dụng trong sản xuất thủy tinh.
(3) Borua của titan, zirconi, vanadi, niobi, tantal, molybden và
tungsten thu được bằng cách nung hỗn hợp của bột kim loại và bột
bo tinh khiết trong chân không ở nhiệt độ 1800 °C đến 2200 °C,
hoặc bằng cách xử lý kim loại bốc hơi tác dụng với Bo. Các sản
phẩm này rất cứng và có độ dẫn điện tốt. Chúng được sử dụng trong
điều chế các chất có độ cứng cao.
(4) Magie, antimon, mangan và sắt borua,....
Nhóm này không bao gồm hợp chất của bo với các nguyên tố sau: oxy
(nhóm 28.10), halogen (nhóm 28.12), lưu huỳnh (nhóm 28.13), kim loại
quý (nhóm 28.43), phospho (nhóm 28.53), carbon (nhóm 28.49). Xem
phần (A), (B) và (D) ở trên về sự kết hợp với hydro, nitơ hoặc silic.
Nhóm này loại trừ hợp kim chủ đồng - bo (xem Chú giải chi tiết nhóm
28.52 - Các hợp chất vô cơ hoặc hữu cơ của thủy ngân, đã hoặc chưa
xác định về mặt hóa học, trừ hỗn hống.
2852.10 - Được xác định về mặt hóa học
2852.90 – Loại khác
Nhóm này bao gồm các hợp chất vô cơ hoặc hữu cơ của thủy ngân, đã
hoặc chưa xác định về mặt hóa học, trừ hỗn hống. Dưới đây là những hợp
chất thường gặp nhất của thủy ngân:
(1) Oxit thủy ngân. Ôxit thủy ngân (HgO) là loại oxit quan trọng nhất
của thủy ngân. Nó có thể tồn tại dưới dạng bột kết tinh màu đỏ tươi
(oxit đỏ) hoặc dạng bột vô định hình cô đặc màu vàng cam (oxit
vàng). Những oxit này rất độc và chuyển thành màu đen khi đưa ra
ánh sáng. Chúng được sử dụng trong sản xuất sơn tàu biển hoặc
muối thủy ngân, và như chất xúc tác.
(2) Thủy ngân clorua.
(a) Thủy ngân (I) clorua (calomen) (Hg2Cl2). Nó có thể tồn tại dưới
dạng khối vô định hình, dạng bột hoặc tinh thể trắng; không tan
trong nước. Thủy ngân (I) clorua được sử dụng trong pháo hoa,
trong công nghiệp đồ sứ, v.v…
(b) Thủy ngân (II) clorua (thủy ngân diclorua, chất thăng hoa ăn
mòn) (HgCl2). Nó có dạng kết tinh hình lăng trụ hoặc hình kim
dài màu trắng. Tan trong nước (đặc biệt khi nóng); là một chất
cực độc. Nó được sử dụng trong việc “làm rám” sắt, thấm tẩm
gỗ để biến gỗ thành vật liệu chống cháy, chất tăng nhạy sáng
trong nhiếp ảnh, như chất xúc tác trong hóa học hữu cơ và để sản
xuất thủy ngân (II) oxit.
(3) Thủy ngân iôtdua.
(a) Thủy ngân (I) iodua (HgI hoặc Hg2I2). Dạng bột, thường ở dạng
vô định hình nhưng đôi khi gặp ở dạng tinh thể; thường màu
vàng nhưng đôi khi màu lục nhạt hoặc đỏ nhạt; tan một phần
trong nước và rất độc. Nó được sử dụng trong tổng hợp hữu cơ.
(b) Thủy ngân (II) iodua (thủy ngân di-iodua, iodua đỏ) (HgI2).
Dạng bột kết tinh màu đỏ, tan rất ít trong nước, rất độc. Được sử
dụng trong nhiếp ảnh (như chất tăng cường) và trong phân tích.
(4) Thủy ngân sunphua. Thủy ngân sulphua nhân tạo (HgS) có màu
đen. Khi làm thăng hoa hoặc xử lý nhiệt với các polysulphua kiềm,
sulphua đen tự chuyển thành bột màu đỏ (sulphua thủy ngân đỏ, màu
đỏ son nhân tạo), được dùng làm chất màu trong sơn hoặc sáp gắn
(sealing wax). Sản phẩm thu được bằng phương pháp ướt, là chất
sáng bóng nhưng không chịu tác động của ánh sáng. Muối này độc.
Thủy ngân sunphua tự nhiên (sunphua thủy ngân, thần sa tự nhiên)
bị loại trừ(nhóm 26.17).
(5) Thủy ngân sunphat.
(a) Thủy ngân (I) sulphat (Hg2SO4). Dạng bột kết tinh màu trắng,
phân hủy bởi nước trong sulphat bazơ. Nó được sử dụng đặc biệt
để làm calomen và các tế bào điện tiêu chuẩn.
(b) Thủy ngân (II) sunphat (HgSO4). Dạng khan hoặc khối kết
tinh, màu trắng, chuyển thành màu đen dưới ánh sáng, hoặc
dạng vẩy kết tinh ngậm nước (ngậm 1 H2O) . Nó được dùng cho
việc điều chế thủy ngân (II) clorua hoặc muối thủy ngân (II)
khác, trong kỹ nghệ luyện bạc hoặc vàng,v.v…
(c) Trimecury dioxit sulphat (HgSO4.2HgO) (thủy ngân sulphat
kiềm).
(6) Thủy ngân nitrat.
(a) Thủy ngân (I) nitrat (HgNO3.H2O). Là chất độc. Dạng tinh thể
không màu. Được sử dụng trong mạ vàng; trong y học; như chất
ăn mòn trong thuộc da, để xát vào lông trước quá trình tạo nỉ cho
các miếng dạ phớt lót; cho điều chế thủy ngân (I) acetat, v.v…
(b) Thủy ngân (II) nitrat (Hg(NO3)2). Muối ngậm nước (thường
ngậm 2 H2O). Dạng tinh thể không màu, hoặc nhựa màu trắng
hoặc vàng nhạt, bị chảy rữa và độc. Nó được sử dụng trong việc
làm mũ và trong mạ vàng. Cũng được sử dụng như một tác nhân
nitrat hóa và như một chất xúc tác trong tổng hợp hữu cơ, trong
điều chế thủy ngân fulminat hoặc thủy ngân (II) oxit, v.v…
(c) Thủy ngân nitrat bazo.
(7) Thủy ngân xyanua.
(a) Thủy ngân (II) xyanua (Hg(CN)2).
(b) Oxit xyanua của thủy ngân (II) (HgO.Hg(CN)2).
(8) Cyanomercuarates của bazơ vô cơ. Kali cyanomercurates. Dạng
tinh thể không màu, tan trong nước và độc. Được sử dụng trong
tráng gương (tráng bạc).
(9) Thủy ngân fulminat (có thể có công thức là Hg(ONC)2). Dạng tinh
thể màu trắng hoặc vàng nhạt, hình kim, tan trong nước sôi, độc.
Giải phóng khí đỏ khi nổ. Được bảo quản trong bình phi kim loại đã
đổ đầy nước.
(10) Thủy ngân (II) thiocyanat (Hg(SCN)2). Dạng bột kết tinh màu
trắng, ít tan trong nước. Muối độc được sử dụng trong hiện âm bản
trong nhiếp ảnh.
(11) Thủy ngân asenat. Thủy ngân (II) orthoasenat (Hg3(AsO4)2). Bột
vàng nhạt, không tan trong nước. Được sử dụng trong sơn chống gỉ.
(12) Muối kép hoặc phức.
(a) Clorua của amoni với thủy ngân (amoni thủy ngân (II) clorua
hay amoni clomercurat). Dạng bột kết tinh màu trắng, tương
đối dễ tan trong nước nóng; độc. Được sử dụng trong pháo hoa.
(b) Đồng thủy ngân iodua. Dạng bột màu đỏ đậm, không tan trong
nước và độc. Được ứng dụng trong phản ứng nhiệt
(13) Amoni thủy ngân (II) clorua (HgNH2Cl). Bột màu trắng, chuyển
dần sang màu ghi hay vàng nhạt khi đưa ra ánh sáng; không tan
trong nước; độc. Được sử dụng trong pháo hoa.
(14) Thủy ngân lactat, muối của axit lactic.
(15) Hợp chất hữu cơ - vô cơ của thủy ngân. Những hợp chất này có
thể chứa một hay nhiều nguyên tử thủy ngân, đặc biệt nhóm (-Hg.X)
mà X là gốc của axit vô cơ hoặc hữu cơ còn lại.
(a) Dimetyl thủy ngân.
(b) Diphenyl thủy ngân.
(c) Axetat phenyl thủy ngân.
(17) Các hợp chất thủy ngân, chưa xác định về mặt hóa học (tannat của
thủy ngân, albuminat của thủy ngân, nucleoproteids của thủy ngân, v.v.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Thủy ngân (nhóm 28.05 hoặc Chương 30).
(b) Những hỗn hống của kim loại quý, những hỗn hống chứa đồng thời
kim loại quý và các kim loại cơ bản (nhóm 28.43) và những hỗn
hống của toàn bộ kim loại cơ bản (nhóm 28.53).
28.53 - Phosphua, đã hoặc chưa xác định về mặt hóa học, trừ
phosphua sắt; các hợp chất vô cơ khác (bao gồm nước cất hoặc
nước khử độ dẫn và các loại nước tinh khiết tương tự); khí hóa
lỏng (đã hoặc chưa loại bỏ khí hiếm); khí nén; hỗn hống, trừ
hỗn hống của kim loại quý.
2853.90 - Loại khác
(A) PHOSPHUA, ĐÃ HOẶC CHƯA XÁC ĐỊNH VỀ MẶT HÓA
HỌC, KHÔNG BAO GỒM PHOSPHUA SẮT
Phosphua là hợp chất của phospho với nguyên tố khác.
Đặc tính quan trọng nhất của Phosphua để được phân loại trong nhóm
này là chúng thu được bởi phản ứng trực tiếp với các nguyên tố hợp
thành; chúng bao gồm:
(1) Đồng phosphua (cuprophospho, phospho đồng): Được tạo ra trong
một lò gia nhiệt trung tâm hoặc trong nồi nấu kim loại. Thường ở
dạng khối màu xám hơi vàng hoặc dạng thỏi nhỏ, cấu trúc tinh thể
dễ gãy. Nhóm này bao gồm đồng phosphua và hợp kim chủ của
đồng nếu chúng có hàm lượng phospho lớn hơn 15%. Nếu dưới giới
hạn này thì chúng thường được xếp vào Chương 74. Đồng phosphua
là chất khử oxy rất tốt của đồng, làm tăng độ rắn của đồng; nó cải
thiện tính lưu động của kim loại nóng chảy, và được sử dụng trong
sản xuất phospho đồng.
(2) Phosphua canxi (Ca3P2). Tinh thể nhỏ có màu hạt dẻ hoặc khối
dạng hạt màu xám, khi tiếp xúc với nước thì giải phóng phosphua
hydro, có thể tự bốc cháy. Được sử dụng với cacbua canxi dùng làm
tín hiệu của hải quân (đèn tự phát sáng dùng cho phao cứu sinh).
(3) Phosphua kẽm (Zn3P2). Chất bột độc, màu xám, có cấu trúc tinh thể
dễ gãy; giải phóng phosphin và bị phân hủy trong không khí ẩm.
Được sử dụng để tiêu diệt loài gặm nhấm và châu chấu, và cũng
dùng trong y học (thay cho phospho).
(4) Phosphua thiếc. Chất rắn màu trắng có ánh bạc rất giòn. Được sử
dụng để chế tạo các hợp kim.
(5) Phosphua khác, ví dụ, Phosphua hidro (dạng rắn, lỏng, khí), và các
dạng phosphua của Asen, Bo, Silic, Bari, Cadimi.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Hợp chất của Phospho với Oxy (nhóm 28.09), với halogens
(nhóm 28.12) hoặc với sulphua (nhóm 28.13).
(b) Phosphua của bạch kim và các kim loại quý (nhóm 28.43)
(c) Ferrophosphorus (Phosphua sắt) (nhóm 72.02).
(B) NƯỚC CẤT VÀ NƯỚC KHỬ ĐỘ DẪN VÀ CÁC LOẠI NƯỚC
TINH KHIẾT TƯƠNG TỰ
Nhóm này chỉ bao gồm nước cất, tái cất hoặc nước thẩm thấu bằng
điện, nước khử độ dẫn và nước độ tinh khiết tương tự, kể cả nước được
xử lý bằng trao đổi ion.
Nước tự nhiên, thậm chí nếu đã được lọc, tiệt trùng, làm sạch hoặc làm
mềm, được loại trừ(nhóm 22.01). Khi đóng gói như thuốc ở dạng đã phân
thành liều hoặc đóng gói để bán lẻ, thì nước được xếp vào nhóm 30.04.
(C) CÁC HỢP CHẤT VÔ CƠ KHÁC NHAU
Các sản phẩm hóa vô cơ còn chưa được ghi hoặc chi tiết ở nơi khác cũng
được đưa vào trong nhóm này (kể cả một số hợp chất của cacbon được
ghi trong Chú giải 2 của Chương).
Nhóm này bao gồm:
(1) Cyanogenvà hợp chất halogen của cyanogen, ví dụ, cyanogen
clorua (CNCl) cyananit và dẫn xuất kim loại của nó (trừ canxi
cyanarnit (nhóm 31.02 hoặc 31.05)).
(2) Các oxysunphua phi kim (của asen, cacbon, silic) và
cloruasunphua phi kim (của phospho, cacbon,...). Thiophosgen
(CSCl2) (thicocacbonyl clorua, cacbon diclorosunphua) được điều
chế bằng cách cho clo tác dụng với cacbon disunphua, là chất lỏng
màu đỏ, làm nghẹt thở và làm chảy nước mắt, bị phân hủy bởi nước,
được sử dụng trong tổng hợp hữu cơ.
(3) Kiềm amit. Sodamit hoặc natri amit (NaNH2) thu được bằng phản
ứng giữa amoniac đun nóng với hợp kim chì – natri, hoặc bằng cách
thổi amoniac dạng khí lên natri nung chảy. Đó là dạng khối kết tinh
màu hơi xanh hoặc hơi hồng, bị phân hủy bởi nước. Được sử dụng
trong tổng hợp hữu cơ, trong điều chế azit, cyanua,...
Cũng có dạng kali amit và amit kim loại khác.
(4) Phospho iodua. Thu được, ví dụ, bằng cách cho tác dụng giữa
phospho, iod và nước; nó là tác nhân khử.
(5) Triclorosilane (SiHCl3). Thu được bằng cách cho hydro clorua
(HCl) phản ứng với silic, nó được sử dụng trong sản xuất silic oxit
khói (silica khói) và silic rất tinh khiết.
(D) KHÔNG KHÍ LỎNG VÀ KHÔNG KHÍ NÉN
Trong thương mại, không khí lỏng được chứa trong bình thép hoặc bình
chứa bằng đồng thau chân không. Nó có thể gây bỏng và làm gãy các
hợp chất hữu cơ mềm. Nó được sử dụng cho điều chế oxy, nito và khí
hiếm bằng cách chưng cất phân đoạn. Vì nó bốc hơi nhanh nên được sử
dụng như một tác nhân làm lạnh trong phòng thí nghiệm. Hỗn hợp với
than củi hoặc các sản phẩm khác tạo thành chất nổ mạnh, được sử dụng
trong khai mỏ.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Không khí lỏng đã loại bỏ khí hiếm.
(2) Không khí nén.
(E) HỖN HỐNG, TRỪ HỖN HỐNG CỦA KIM LOẠI QUÝ
Thủy ngân tạo hỗn hống với một số kim loại cơ bản (kim loại kiềm và
kim loại kiềm thổ, kẽm, cadimi, antimon, nhôm, thiếc, đồng, chì,
Hỗn hống có thể thu được: bằng tác dụng trực tiếp của các kim loại này
với thủy ngân; bằng điện phân các muối kim loại sử dụng một cathod
thủy ngân; hoặc bằng điện phân một muối thủy ngân (mà cathod là kim
loại).
Các hỗn hống thu được bằng điện phân và chưng cất ở nhiệt độ thấp
được sử dụng để điều chế kim loại tự cháy có hoạt tính hơn so với các
loại này được điều chế ở nhiệt độ cao. Chúng cũng được sử dụng trong
luyện kim các kim loại qúy.
(1) Hỗn hống của kim loại kiềm phân hủy nước tạo ra nhiệt ít hơn các
kim loại dạng tinh khiết; vì vậy chúng là tác nhân khử có hoạt động
mạnh hơn so với nước loại khác. Natri hỗn hống được sử dụng trong
điều chế hydro.
(2) Hỗn hống nhôm được sử dụng làm tác nhân khử trong tổng hợp
hữu cơ.
(3) Hỗn hống đồng có chứa một lượng nhỏ thêm vào là thiếc được sử
dụng trong nha khoa. Hỗn hống đồng là loại xi măng kim loại, trở
nên mềm khi làm nóng, rất tiện lợi cho đúc và sửa chữa các đồ sứ.
(4) Hỗn hống kẽm được sử dụng trong ăc quy để chống lại sự ăn mòn.
(5) Hỗn hống cadimi được sử dụng trong nha khoa và trong sản xuất sợi
tungsten từ kim loại đã được thiêu kết.
(6) Hỗn hống antimon - thiếc được sử dụng làm vữa màu đồng thau.
Những hỗn hống chứa kim loại quý, có hay không kết hợp với các kim
loại cơ bản, bị loại trừ (nhóm 28.43). Những hợp chất của thủy ngân, đã
hoặc chưa xác định về mặt hóa học, trừ các hỗn hống thuộc nhóm 28.52.
Chương 29
Hoá chất hữu cơ
Chú giải.
1.- Trừ khi có yêu cầu khác, các nhóm thuộc Chương này chỉ bao gồm:
(a) Các hợp chất hữu cơ đã được xác định về mặt hoá học riêng biệt, có
hoặc không chứa tạp chất;
(b) Các hỗn hợp của hai hoặc nhiều chất đồng phân của cùng một hợp
chất hữu cơ (có hoặc không chứa tạp chất), trừ hỗn hợp các chất
đồng phân hydro carbon mạch hở (trừ các chất đồng phân lập thể),
no hoặc chưa no (Chương 27);
(c) Các sản phẩm thuộc các nhóm từ 29.36 đến 29.39 hoặc ete đường, axetal
đường và este đường, và các muối của chúng, của nhóm 29.40, hoặc các
sản phẩm của nhóm 29.41, đã hoặc chưa xác định về mặt hoá học;
(d) Các sản phẩm được nêu ở mục (a), (b) hoặc (c) đã hoà tan trong nước;
(e) Các sản phẩm được nêu ở (a), (b) hoặc (c) trên đây đã hoà tan trong
các dung môi khác nhưng sự hoà tan chỉ là một phương pháp thông
thường và cần thiết để đóng gói những sản phẩm nhằm mục đích
duy nhất là bảo đảm an toàn hoặc để vận chuyển và dung môi này
không tạo cho sản phẩm một công dụng đặc biệt nào khác ngoài
công dụng thông thường của chúng;
(f) Các sản phẩm đã nêu ở (a), (b), (c), (d) hoặc (e) trên đây đã pha thêm
chất ổn định (kể cả chất chống đóng cứng/chất chống đông vón) cần
thiết để bảo quản hoặc vận chuyển;
(g) Các sản phẩm được nêu ở (a), (b), (c), (d), (e) hoặc (f) trên đây đã
pha thêm tác nhân chống bụi hoặc chất màu hoặc chất có mùi thơm
hoặc chất gây nôn để dễ nhận biết hoặc vì lý do an toàn, với điều
kiện là việc pha thêm đó không làm cho sản phẩm có công dụng đặc
biệt ngoài công dụng thông thường của nó;
(h) Các sản phẩm dưới đây, pha loãng theo nồng độ tiêu chuẩn, để sản xuất
thuốc nhuộm azo: muối diazoni, các chất tiếp hợp dùng cho loại muối
này và các chất amin có khả năng diazo hoá và các muối của chúng.
2. Chương này không bao gồm:
(a) Hàng hoá thuộc nhóm 15.04 hoặc glyxerol thô thuộc nhóm 15.20;
(b) Cồn etylic (nhóm 22.07 hoặc 22.08);
(c) Methan hoặc propan (nhóm 27.11);
(d) Hợp chất carbon được nêu ở Chú giải 2 của Chương 28;
(e) Sản phẩm miễn dịch thuộc nhóm 30.02;
(f) Urê (nhóm 31.02 hoặc 31.05);
(g) Chất màu gốc động vật hoặc thực vật (nhóm 32.03), chất màu hữu cơ
tổng hợp, các sản phẩm hữu cơ tổng hợp được sử dụng như tác nhân
tăng sáng huỳnh quang hoặc chất phát quang (nhóm 32.04) hoặc thuốc
nhuộm hoặc chất màu khác được làm thành một dạng nhất định hoặc
đóng gói để bán lẻ (nhóm 32.12);
(h) Enzyme (nhóm 35.07);
(ij) Metaldehyt, hexamethylenetetramine hoặc chất tương tự, làm thành
dạng nhất định (ví dụ, viên, que hoặc các dạng tương tự) để sử dụng
như nhiên liệu, hoặc nhiên liệu lỏng hoặc khí hoá lỏng đựng trong
đồ chứa có dung tích không quá 300 cm3 dùng để bơm hoặc bơm lại
ga bật lửa hút thuốc hoặc các loại bật lửa tương tự (nhóm 36.06);
(k) Các sản phẩm dùng như chất dập lửa để nạp cho các bình cứu hoả
hoặc các loại lựu đạn dập lửa, thuộc nhóm 38.13; các chất tẩy mực
đóng gói để bán lẻ, thuộc nhóm 38.24; hoặc
(l) Các bộ phận quang học, ví dụ, làm bằng ethylenediamine tartrate
(nhóm 90.01).
3. Các mặt hàng có thể xếp vào hai hoặc nhiều nhóm thuộc Chương này
phải xếp vào nhóm có số thứ tự sau cùng.
4. Đối với các nhóm từ 29.04 đến 29.06, từ 29.08 đến 29.11 và từ 29.13
đến 29.20, khi đề cập đến các dẫn xuất halogen hoá, sulphonat hoá,
nitrat hoá hoặc nitroso hoá đều đề cập đến các dẫn xuất kết hợp, như
các dẫn xuất sulpho-halogen hoá, nitro- halogen hoá, nitro-sulphonat
hoá hoặc nitro-sulpho-halogen hoá.
Theo mục đích của nhóm 29.29, các nhóm nitro hoá hoặc nitroso
hoá không được coi là có "chức nitơ".
Theo mục đích của các nhóm 29.11, 29.12, 29.14, 29.18 và 29.22,
"chức oxy", nhóm chứa oxy hữu cơ đặc trưng của các nhóm tương
ứng trên, được giới hạn trong các chức oxy đề cập trong các nhóm
từ 29.05 đến 29.20.
5. (A) Este của hợp chất hữu cơ chức axit thuộc phân Chương I đến VII
với các hợp chất hữu cơ của các phân Chương này phải xếp cùng
nhóm với các hợp chất ấy có nghĩa là được xếp vào nhóm có số
thứ tự sau cùng trong các phân Chương này.
(B) Este của cồn etylic với các hợp chất hữu cơ có chức axit trong
phân Chương từ I đến VII phải xếp vào cùng nhóm với các hợp
chất có chức axit tương ứng.
(C) Theo Chú giải 1 của Phần VI và Chú giải 2 của Chương 28 thì:
(1) Muối vô cơ của các hợp chất hữu cơ như các hợp chất có chức
axit-, phenol- hoặc enol - hoặc các bazơ hữu cơ, của các phân
Chương từ I đến X hoặc nhóm 29.42, phải được xếp vào trong
nhóm tương ứng với hợp chất hữu cơ;
(2) Các muối được tạo nên giữa các hợp chất hữu cơ của các phân
Chương I đến X hoặc nhóm 29.42 phải được xếp vào nhóm
tương ứng với bazơ hoặc axit (kể cả các hợp chất có chức
phenol hoặc enol) mà chính từ đó chúng được tạo thành, phải
xếp vào nhóm có số thứ tự sau cùng trong Chương; và
(3) Hợp chất phối trí, trừ các sản phẩm có thể được phân loại trong
phân Chương XI hoặc nhóm 29.41, được phân loại trong nhóm
có thứ tự sau cùng trong Chương 29, trong số những phân đoạn
phù hợp được tạo bởi “quá trình bẻ gãy” của tất cả các liên kết
kim loại, trừ liên kết carbon- kim loại.
(D) Alcoholate kim loại phải xếp vào cùng nhóm với rượu tương
ứng trừ rượu ethanol (nhóm 29.05).
(E) Halogenua của axit carboxylic phải xếp vào cùng nhóm với axit
tương đương.
6. Các hợp chất của các nhóm 29.30 và 29.31 là các hợp chất hữu cơ mà
trong đó các phân tử chứa, ngoài các nguyên tử hydro, oxy hoặc nitơ,
còn có chứa các nguyên tử của các phi kim loại khác hoặc của kim
loại (như lưu huỳnh, arsen hoặc chì) liên kết trực tiếp với các nguyên
tử carbon.
Nhóm 29.30 (hợp chất lưu huỳnh hữu cơ) và nhóm 29.31 (hợp chất vô
cơ - hữu cơ khác) không bao gồm các dẫn xuất đã sulphonat hoá hoặc
halogen hoá (kể cả các dẫn xuất kết hợp), ngoài hydro, oxy và nitơ, chỉ
có nguyên tử của lưu huỳnh hoặc halogen trực tiếp liên kết với carbon,
điều này làm cho các hợp chất trên mang tính chất của dẫn xuất
halogen hoá hoặc sulphonat hoá (hoặc các dẫn xuất kết hợp).
7. Nhóm 29.32, 29.33 và 29.34 không bao gồm epoxit có vòng 3 cạnh
(có 3 nguyên tử ở trên vòng), xeton peroxides, polyme vòng của
aldehyt hoặc của thioaldehyt, anhydrit của các axit carboxilic
polybasic, este vòng của rượu đa chức hoặc phenols đa chức với axit
polybasic, hoặc imide của axit polybasic.
Các quy định này chỉ áp dụng khi các dị tố loại ở trên vòng là kết
quả duy nhất của chức năng đóng vòng hoặc các chức năng kể đến ở
đây.
8. Theo mục đích của nhóm 29.37:
(a) thuật ngữ “hormon” bao gồm các yếu tố làm tiết hormon hoặc
kích thích hormon, các chất ức chế và kháng hormon (anti-
(b) khái niệm "được sử dụng chủ yếu như hormon" không chỉ bao
gồm những dẫn xuất hormon và những chất có cấu trúc tương tự
được sử dụng chủ yếu vì tác dụng hormon của chúng, mà còn
bao gồm những dẫn xuất hormon và những chất có cấu trúc
tương tự được sử dụng chủ yếu như chất trung gian trong quá
trình tổng hợp các sản phẩm thuộc nhóm này.
Chú giải phân nhóm.
1. Trong bất kỳ nhóm nào của Chương này, các dẫn xuất của một
hợp chất hoá học (hoặc một nhóm các hợp chất hoá học) cần
được xếp vào cùng một phân nhóm với hợp chất ấy (hoặc
nhóm hợp chất) với điều kiện là không có sự miêu tả đặc trưng
hơn trong các phân nhóm khác và không có phân nhóm nào
mang tên “Loại khác” trong những phân nhóm có liên quan.
2. Chú giải 3 Chương 29 không áp dụng cho các phân nhóm của
Chương này.
TỔNG QUÁT
Theo quy tắc chung, Chương này giới hạn vào các hợp chất đã được xác
định về mặt hóa học riêng biệt như theo các điều khoản của Chú giải 1
của Chương này.
(A) Những hợp chất đã được xác định về mặt hóa học
(Chú giải 1 của Chương)
Một hợp chất đã được xác định về mặt hoá học riêng biệt là một chất có
một trạng thái phân tử ( ví dụ, liên kết cộng hoá trị hay ion) có cấu trúc
xác định, thành phần của chất này được xác định bởi tỷ lệ không đổi của
các nguyên tố và có thể được biểu thị bởi một biểu đồ cấu trúc xác định.
Trong một mạng tinh thể, trạng thái phân tử phụ thuộc vào sự lặp lại của
mỗi thành phần.
Những hợp chất đã được xác định về mặt hoá học riêng biệt chứa những
chất khác có thể được cố ý thêm vào trong hoặc sau khi sản xuất chúng
(kể cả quá trình tinh chế) bị loại trừ khỏi chương này. Theo đó, một sản
phẩm, ví dụ, saccharin trộn với lactose để tạo nên một sản phẩm phù hợp
với công dụng làm ngọt thì sẽ bị loại trừ (xem Chú giải Chi tiết nhóm
Những hợp chất đã được xác định về mặt hoá học riêng biệt của Chương
này có thể có tạp chất (Chú giải 1 (a)). Một ngoại lệ đối với qui tắc này
là nhóm 29.40, là nhóm đề cập đến các loại đường, giới hạn phạm vi của
nhóm là các loại đường tinh khiết về mặt hóa học.
Thuật ngữ "tạp chất" áp dụng riêng cho các chất mà sự có mặt của chúng
trong một hợp chất hóa học đơn lẻ là kết quả duy nhất và trực tiếp từ quá
trình sản xuất (kể cả quá trình tinh chế). Những chất này có thể là kết
quả của bất kỳ nhân tố nào liên quan đến quá trình sản xuất và chủ yếu là
những nhân tố sau:
(a) Nguyên liệu ban đầu chưa chuyển đổi.
(b) Tạp chất có mặt trong nguyên liệu ban đầu.
(c) Thuốc thử được dùng trong quá trình sản xuất (kể cả quá trình tinh chế).
(d) Những sản phẩm phụ.
Tuy nhiên, cần phải chú ý, trong mọi trường hợp, những chất này không
được xem là "tạp chất" theo Chú giải 1(a). Khi những chất này được cố ý
để lại trong sản phẩm với mục đích là làm cho sản phẩm phù hợp với
công dụng riêng hơn là công dụng chung, chúng không được xem như là
những tạp chất cho phép. Ví dụ, một sản phẩm gồm metyl acetat có
methanol được cố ý để lại với mục đích nâng cao tính phù hợp của nó
như một dung môi, sẽ bị loại trừ (nhóm 38.14). Với những hợp chất cụ
thể (ví dụ, etan, benzen, phenol, pyridin), có nhiều tiêu chuẩn tinh khiết
đặc biệt được trình bày ở Chú giải Chi tiết nhóm 29.01, 29.02, 29.07, và
Những hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt của Chương
này có thể tan trong nước. Theo những đặc tính tương tự được nêu trong
Chú giải Chi tiết Tổng quát của Chương 28, Chương này cũng bao gồm
những dung dịch không chứa nước và cả hợp chất (hoặc những dung dịch
của chúng) có bổ sung thêm chất ổn định, chất chống bụi hoặc chất màu.
Ví dụ, styren có thêm teriary butylcatechol vẫn được phân loại vào nhóm
29.02. Những điều khoản trong Chú giải Chi tiết Tổng quát của Chương
28 đề cập đến sự bổ sung các chất ổn định, chất màu và chất chống bụi,
với những sửa đổi thích đáng, áp dụng cho những hợp chất hóa học của
Chương này. Tương tự như việc thêm vào các chất màu, những chất này
cũng có thể thêm các chất có mùi thơm (ví dụ, bromomethane trong nhóm
29.03 được thêm vào hàm lượng nhỏ chloropicrin) hoặc chất gây nôn.
Chương này còn bao gồm cả hỗn hợp đồng phân của cùng một hợp chất
hữu cơ cho dù chúng có hay không chứa tạp chất. Điều khoản này chỉ áp
dụng cho hỗn hợp của những chất có cùng chức hóa học (hoặc những
chức hóa học) và những hỗn hợp này hoặc cùng tồn tại trong hình thái tự
nhiên hoặc thu được đồng thời trong cùng quá trình tổng hợp. Tuy nhiên,
hỗn hợp của đồng phân hydrocacbon mạch thẳng (trừ những đồng phân
lập thể), đã hoặc chưa bão hòa, bị loại trừ (Chương 27).
(B) Sự khác nhau giữa các hợp chất của Chương 28 và các hợp chất
của Chương 29
Các hợp chất hữu cơ của kim loại quý, nguyên tố phóng xạ, đồng vị
phóng xạ, kim loại đất hiếm, scandium và yttrium, và các hợp chất khác
có chứa carbon được liệt kê trong Phần (B) của Chú giải Tổng quát của
Chương 28 được loại trừ khỏi Chương 29 (xem Chú giải 1 Phần VI và
Chú giải 2 của Chương 28).
Các hợp chất hữu cơ - vô cơ, trừ các hợp chất được liệt kê trong Chú
giải 2 của Chương 28, được xếp vào Chương 29.
(C) Các sản phẩm vẫn được phân loại vào Chương 29, thậm chí khi
chúng không phải là những hợp chất đã được xác định về mặt hóa
học riêng biệt
Có một số những ngoại lệ đối với Chương 29 được giới hạn cho các hợp
chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt. Những ngoại lệ này bao
gồm những sản phẩm sau :
Nhóm 29.09 - Peroxit xeton.
Nhóm 29.12 - Polymer vòng của aldehyt; paraformaldehyt.
Nhóm 29.19 - Lactophosphat.
Nhóm 29.23 - Lecithins và những phosphoaminolipid khác.
Nhóm 29.34 - Các axit nucleic và các muối của chúng.
Nhóm 29.36 - Tiền vitamin và vitamin các loại (bao gồm cả dạng đậm
đặc và pha trộn), có hoặc không có dung môi.
Nhóm 29.37 - Các hormon.
Nhóm 29.38 - Các glycosit và dẫn xuất của chúng.
Nhóm 29.39 - Alkaloid và các dẫn xuất của chúng.
Nhóm 29.40 - Các ete đường, acetal đường và những este đường, và
muối của chúng.
Nhóm 29.41- Các kháng sinh.
Chương này cũng bao gồm những muối diazonium (xem Phần (A) của
Chú giải Chi tiết nhóm 29.27), những cặp đôi dùng cho những muối này
và các amin có khả năng diazo hóa và muối của chúng, đã được pha
loãng với, ví dụ như muối trung hòa đến nồng độ chuẩn nào đó. Những
chất này được tạo nên để dùng cho việc sản xuất thuốc nhuộm azo.
Chúng có thể ở dạng rắn hoặc dạng lỏng.
Chương này còn bao gồm các dẫn xuất pegylated (polyme polyethylene
glycol (hoặc PEGs)) của các sản phẩm thuộc các nhóm từ 29.36 đến
29.39 và 29.41. Đối với các sản phẩm này, một dẫn xuất pegylated vẫn
được phân loại trong cùng nhóm như dạng non- pegylated của nó. Tuy
nhiên, các dẫn xuất pegylated của các sản phẩm của tất cả các nhóm
khác của Chương 29 bị loại trừ (thường thuộc nhóm 39.07).
(D) Một số hợp chất hữu cơ đã được xác định về mặt hóa học riêng
biệt được loại khỏi Chương 29
(Chú giải 2 của Chương)
(1) Một số hợp chất hữu cơ đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt
luôn bị loại trừ khỏi Chương 29, thậm chí ngay cả khi ở dạng tinh
khiết. Ngoài các hợp chất thuộc Chương 28 (xem Phần (B) của Chú
giải Chi tiết Tổng quát Chương 28), các ví dụ về các hợp chất của
loại này là :
(a) Sucroza (nhóm 17.01); lactose, maltose, glucoza và fructoza
(nhóm 17.02).
(b) Cồn ethylic (nhóm 22.07 hoặc 22.08).
(c) Metan và propan (nhóm 27.11).
(d) Các sản phẩm miễn dịch (nhóm 30.02).
(e) Urê (nhóm 31.02 hoặc 31.05).
(f) Chất màu có nguồn gốc từ động vật hoặc thực vật (ví dụ,
chlorophyll) (nhóm 32.03).
(g) Chất màu hữu cơ tổng hợp (bao gồm cả các thuốc màu), và
những sản phẩm hữu cơ tổng hợp thuộc loại được sử dụng như
các tác nhân tăng sáng huỳnh quang ( ví dụ, các dẫn xuất
stilbene nhất định) (nhóm 32.04).
(2) Một số sản phẩm hữu cơ khác được xác định về mặt hóa học riêng
biệt, đáng lẽ cũng có thể được phân loại vào Chương 29, có thể bị
loại trừ khi chúng được tạo thành các dạng cụ thể, hoặc chúng đã
trải qua một số quá trình xử lý nhất định mà thành phần hóa học của
chúng không bị thay đổi. Ví dụ:
(a) Những sản phẩm phòng bệnh hoặc trị bệnh, được đóng gói
thành những liều xác định hoặc ở dạng nhất định hoặc đóng gói
bán lẻ (nhóm 30.04).
(b) Những sản phẩm thuộc loại phát quang (ví dụ, salicylaldazine)
được xử lý để trở thành chất phát quang (nhóm 32.04).
(c) Thuốc nhuộm và chất màu khác đã làm thành dạng nhất định
hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 32.12).
(d) Nước thơm, mỹ phẩm hoặc các chế phẩm vệ sinh (ví dụ,
axeton), được đóng gói để bán lẻ (những nhóm từ 33.03 đến
(e) Những sản phẩm phù hợp dùng như keo dán hoặc chất kết dính,
đóng gói để bán lẻ như là keo dán hoặc chất kết dính, với trọng
lượng tịnh không quá 1 kg (nhóm 35.06).
(f) Những
nhiên
liệu
rắn
(như
hexamethylenetetamine) đã làm thành dạng nhất định dùng như
nhiên liệu, và nhiên liệu lỏng hoặc hóa lỏng (ví dụ, butan lỏng)
trong bình chứa với dạng dùng để nạp hoặc nạp lại các bật lửa
hút thuốc hoặc tương tự và có dung tích không quá 300 cm3
(nhóm 36.06).
(g) Hydroquinone và những sản phẩm không pha trộn khác dùng
cho ngành ảnh, được đóng gói với các tỷ lệ xác định hoặc được
đóng gói để bán lẻ sẵn sàng cho sử dụng cho tạo ảnh (nhóm
(h) Những chất khử trùng, những chất diệt côn trùng, v.v, được
đóng gói như là miêu tả ở nhóm 38.08.
(ij) Những sản phẩm ( ví dụ, carbon tetrachlroride) được nạp cho
bình chữa cháy hoặc lựu đạn chữa cháy (nhóm 38.13).
(k) Những chất tẩy mực (ví dụ, chloramines của nhóm 29.35 tan
trong nước ) được đóng gói để bán lẻ (nhóm 38.24).
(l) Các bộ phận quang học (ví dụ, ethylenediamine tartrate) (nhóm
(E) Các sản phẩm có khả năng được phân loại vào 2 hoặc nhiều
nhóm của Chương 29 (Chú giải 3 của Chương)
Những sản phẩm này được phân loại vào nhóm có số thứ tự cuối cùng
trong số những nhóm có thể được áp dụng. Ví dụ, axit ascobic có thể
được coi như là một lactone (nhóm 29.32) hoặc được coi như là một
vitamin (nhóm 29.36); vì vậy nó sẽ được phân loại vào nhóm 29.36.
Cũng lý do tương tự như vậy, allylestrenol được coi như là một rượu
vòng (nhóm 29.06) nhưng cũng là một steroid với cấu trúc gonane không
đổi, được dùng chủ yếu vì chức năng hormon của nó (nhóm 29.37), sẽ
được xếp vào nhóm 29.37.
Tuy nhiên, cần phải chú ý rằng, các chất được mô tả trong đoạn cuối của
nhóm 29.40 đặc biệt loại trừ các sản phẩm của nhóm 29.37, 29.38 và 29.39.
(F) Các dẫn xuất halogen hóa, sulphonat hóa, nitrat hóa hoặc nitroso
hóa và những hợp chất kết hợp của chúng; “chức oxy” đề cập trong
các nhóm 29.11, 29.12, 29.14, 29.18 and 29.22
(Chú giải 4 của Chương)
Một số nhóm của Chương 29 bao gồm các dẫn xuất halogen hóa,
sulphonat hóa, nitrat hóa hoặc nitroso hóa. Các trường hợp như thế bao
gồm các dẫn xuất kết hợp, ví dụ, các dẫn xuất sulphohalogenat hóa,
nitrohalogenat hóa, nitrosullphonat hóa, nitrosulphohalogenat hóa,v.v.
Theo mục đích của nhóm 29.29 thì các nhóm nitro và nitroso không
được coi là các chức nitrogen.
Các dẫn xuất halogen hóa, sulphonat hóa, nitrat hóa và nitroso hóa được
hình thành bằng cách thay thế một hoặc nhiều nguyên tử hydro trong các
hợp chất ban đầu bởi một hoặc nhiều nhóm halogen, sulfo (-SO3H),
nitro (-NO2) hoặc nitroso (-NO) hoặc bằng bất kỳ sự kết hợp nào của
chúng. Mỗi nhóm chức (ví dụ, aldehyde, axit cacboxylic, amin) được
xem xét để phân loại sẽ được giữ nguyên trong các dẫn xuất này.
Theo mục đích của đoạn cuối của Chú giải 4 và các nhóm 29.11, 29.12,
29.14, 29.18 và 29.22, “chức oxy” được đề cập trong nội dung của các
nhóm này phải là nhóm chứa oxy hữu cơ đặc trưng được đề cập trong
các nhóm từ 29.05 đến 29.20. Liên quan đến vấn đề này, các nhóm chức
oxy được xem xét để phân loại cho các sản phẩm thuộc các nhóm 29.11,
29.12, 29.14 và 29.18 phải được giữ nguyên.
(G) Phân loại các este, các muối, các hợp chất phối trí và một vài
(Chú giải 5 của Chương)
(1) Các este.
Các este của hợp chất hữu cơ có chức axít nêu trong các Phân Chương từ
I đến VII với những hợp chất hữu cơ của các Phân Chương này sẽ được
phân loại vào cùng với hợp chất được phân loại vào nhóm có số thứ tự
cuối trong các Phân chương này.
Ví dụ:
(a) Diethylene glycol axetat (este được tạo ra từ phản ứng của axit
axetic thuộc nhóm 29.15 với diethylene glycol của nhóm 29.09)
⦁ ............................................................... Nhóm 29.15
(b) Methyl benzenesulphonate (este được tạo ra từ phản ứng của
axit benzensulphonic thuộc nhóm 29.04 với methyl alcohol của
nhóm 29.05) * ........................................................ Nhóm 29.05
(c) Butyl hydrogenphthalate (este của axit polycarboxylic mà hydro
thuộc
nhóm
nhất
được
thế)*
..........................................................................Nhóm 29.17
(d) Butyl phthalyl butylglycollate (este được hình thành từ phản ứng
của axit phthalic thuộc nhóm 29.17 và axit glycollic của nhóm
29.18 với rượu butyl alcohol của nhóm 29.05)*….. Nhóm
Quy tắc này không áp dụng cho các este của các hợp chất có
chức axít với ethyl alcohol vì hợp chất này không được phân
loại vào Chương 29. Những este như thế phải được phân loại
cùng với các hợp chất có chức axít mà chúng tạo ra *.
Ví dụ:
Ethyl acetat (este được hình thành từ phản ứng của axit axetic thuộc
nhóm 29.15 với ethyl alcohol)…….......……………...... Nhóm 29.15
Cần phải chú ý thêm rằng các este đường và muối của chúng được
phân loại vào nhóm 29.40.
(2) Muối.
Theo Chú giải 1 của Phần VI và Chú giải 2 của Chương 28:
(a) Muối vô cơ của hợp chất hữu cơ như các hợp chất có chức axit-,
phenol- hoặc enol- hoặc bazơ hữu cơ, của Phân Chương I đến X
hoặc nhóm 29.42, phải được phân loại vào nhóm tương ứng với
các hợp chất hữu cơ.
Những muối này có thể được tạo thành bởi phản ứng của:
(i) Những hợp chất hữu cơ có chức axit-, phenol- hoặc enol-
với các bazơ vô cơ.
Ví dụ:
Methoxybenzoate natri (muối được tạo thành từ phản ứng
của axit methoxybenzoic thuộc nhóm 29.18 với hydroxide
natri) *. ....................................... Nhóm 29.18
Những muối loại này cũng có thể được hình thành bởi phản ứng
của các este axit của các loại nói trên với các bazơ vô cơ.
Ví dụ :
n-Butyl đồng phthalat (muối được tạo thành từ phản ứng
butyl hydrogen phthalat thuộc nhóm 29.17 cùng với đồng
hydroxide) * .......................................... Nhóm 29.17
hoặc (ii) Những bazơ hữu cơ với các axit vô cơ.
Ví dụ :
Diethylamine hydrochloride (muối được hình thành từ phản
ứng diethylamine thuộc nhóm 29.21 với axit hydrochloric
thuộc nhóm 28.06) *……Nhóm 29.21
(b) Những muối được tạo thành giữa các hợp chất hữu cơ của các
phân chương từ I tới X hoặc của nhóm 29.42 sẽ được xếp vào
nhóm phù hợp với bazơ hoặc axit (kể cả hợp chất có chức
phenol - hoặc enol -) tạo ra chúng, loại có số thứ tự sau cùng
trong Chương.
Ví dụ :
(i) Anilin axetat (muối được hình thành từ phản ứng của axit
axetic thuộc nhóm 29.15 cùng với anilin thuộc nhóm
29.21)* . …Nhóm 29.21
(ii) Methylamine phonoxyacetate (muối được hình thành từ
phản ứng của methylamine thuộc nhóm 29.21 với axit
phenoxyacetic thuộc nhóm 29.18) *…... Nhóm 29.21
(3) Các hợp chất phối trí.
Các hợp chất phối trí của kim loại thường bao gồm tất cả các loại mang
điện hoặc không, trong đó một kim loại liên kết với vài nguyên tử
(thường là 2 đến 9 nguyên tử) bằng một hoặc nhiều chuỗi (ligands).
Dạng hình học của bộ khung hình thành bởi kim loại và các nguyên tử
được liên kết với nhau và số liên kết kim loại thường được quy định bởi
kim loại.
Những hợp chất phối trí, trừ các sản phẩm có thể được phân loại trong
phân Chương XI hoặc trong nhóm 29.41, phải được xem xét như các
mảnh do “bẻ gãy” tất cả các liên kết kim loại, trừ các liên kết kim loại –
cacbon, và phải được phân loại theo mảnh (xem như là một hợp chất
thực cho mục đích phân loại) trong nhóm có thứ tự sau cùng của
Chương 29.
Theo mục đích Chú giải 5 (C) (3) của Chương này, thuật ngữ “mảnh”
bao gồm các chuỗi và các phần chứa liên kết cacbon – kim loại thu được
từ quá trình bẻ gãy.
Ví dụ minh họa dưới đây:
Kali trioxalatoferrate (III) được phân loại vào trong cùng nhóm với axit
oxalic (nhóm 29.17), tương ứng với mảnh thu được sau khi bẻ gãy liên
kết kim loại.
Ferrocholinat (INN) được phân loại vào cùng nhóm với cholin (nhóm
29.23), được phân loại trong nhóm có thứ tự sau cùng của nhóm này,
hơn là được phân loại vào nhóm của axit citric tương ứng với các mảnh
còn lại, được xếp theo mục đích phân loại.
Budotitane (INN) : Sau khi bẻ gãy các liên kết kim loại, hai mảnh thu
được, một mảnh là etanol (Chương 22), mảnh còn lại là benzoylaceton
(và chức enol- của nó) được phân loại vào nhóm 29.14. Do vậy,
Budotitan (INN) được phân loại vào nhóm 29.14.
(4) Halogenua của axit cacboxylic*.
Những halogenua được phân loại vào cùng nhóm với các axit tương
ứng. Ví dụ, isobutyryl chloride được phân loại vào nhóm 29.15 (như
isobutyric axit tương ứng).
(H) Phân loại vào các nhóm 29.32, 29.33 và 29.34
(Chú giải 7 của Chương)
Các nhóm 29.32, 29.33 và 29.34 không bao gồm epoxit có vòng ba,
xeton peroxit, polyme mạch vòng của andehyt hoặc của thioaldehyt,
anhydrit của các axit cacboxilic đa chức, este mạch vòng của rượu đa
chức hoặc phenol đa chức với axit đa chức, hoặc imit của axit đa chức ,
nếu các dị tố trên vòng là kết quả duy nhất của chức năng đóng vòng hay
các chức năng được liệt kê ở đây.
Nếu, ngoài chức năng được liệt kê trong câu đầu tiên của Chú giải 7 của
Chương 29, có các dị tố trên vòng khác hiện diện trong cấu trúc, việc
phân loại phải được thực hiện có sự tham khảo tất cả các chức năng
đóng vòng hiện diện. Vì vậy, ví dụ, anaxirone (INN) và pradefovir
(INN) nên được phân loại vào nhóm 29.34 như hợp chất dị vòng với hai
hoặc nhiều dị tố khác nhau và không được phân loại vào nhóm 29.33
như hợp chất dị vòng chỉ với dị tố nitơ.
(IJ) Phân loại các chất dẫn xuất
Việc phân loại các dẫn xuất của các hợp chất hoá học ở cấp độ nhóm sẽ
được xác định khi áp dụng Quy tắc Chú giải tổng quát. Chú giải 3 của
Chương này áp dụng khi một dẫn xuất chủ yếu có thể được phân loại
trong hai hoặc nhiều nhóm.
Trong bất kỳ nhóm nào của Chương này, các dẫn xuất sẽ được phân loại
khi áp dụng Chú giải Phân nhóm 1.
(K) Hệ thống vòng ngưng tụ
Một hệ thống vòng ngưng tụ là một hệ thống có ít nhất hai vòng, trong
đó chỉ có duy nhất một liên kết chung và chỉ có hai nguyên tử chung.
Các hệ vòng ngưng tụ xuất hiện trong các phân tử của các hợp chất đa
vòng (ví dụ, các hydro cacbon đa vòng, hợp chất dị vòng) trong đó hai
vòng được nối với nhau thông qua một cạnh chung kéo theo hai nguyên
tử liền kề. Dưới đây là các ví dụ minh hoạ :
Trong hệ thống vòng phức, sự ngưng tụ có thể xảy ra ở nhiều cạnh của
bất kỳ vòng nào. Hợp chất có nhiều vòng mà trong đó hai vòng chỉ có
hai nguyên tử dùng chung được gọi là “ortho-ngưng tụ”. Nói một cách
khác, hợp chất có nhiều vòng mà trong đó một vòng chỉ có hai nguyên tử
chung với mỗi vòng hoặc nhiều hơn của một chuỗi vòng liên tục được
gọi là “ortho- và peri- ngưng tụ”. Hai dạng nối khác nhau của các hệ
thống vòng ngưng tụ được minh hoạ qua những ví dụ sau:
3 mặt chung 7 mặt chung 5 mặt chung
6 nguyên tử chung 8 nguyên tử chung 6 nguyên tử chung
Hệ “Ortho- ngưng tụ” Hệ “Ortho- và peri- ngưng tụ”
Nói cách khác, ví dụ dưới đây minh họa một quinoline cầu (không
ngưng tụ):
Theo mục đích của nội dung của Chú giải Chi tiết của Chương này, dấu
hoa thị “*” theo sau các công thức hóa học có nghĩa là cấu trúc hóa học
của nó có thể được tham khảo trong Phụ lục của Chú giải Chi tiết
Chương 29.
Phân Chương I
HYDROCARBON VÀ CÁC DẪN XUẤT HALOGEN HOÁ,
SULPHONAT HOÁ, NITRO HOÁ HOẶC NITROSO HOÁ CỦA
CHÚNG
29.01 - Hydrocarbon mạch hở.
⦁ Chưa no :
2901.23 - - Buten (butylen) và các đồng phân của nó
2901.24 - - 1,3- butadien và isopren
2901.29 - - Loại khác
Những hydrocarbon mạch hở là những hợp chất chỉ chứa cacbon và
hydro mà không có mạch vòng trong cấu trúc của chúng. Chúng được
phân làm hai loại :
(A) Những hydrocarbon mạch hở no.
(B) Những hydrocarbon mạch hở chưa no.
(A) NHỮNG HYDROCARBON MẠCH HỞ NO
Những hydrocarbon mạch hở no hình thành một dãy đồng đẳng với cấu
trúc cấu tạo chung (Cn H2n+2). Chúng có nhiều trong tự nhiên và là thành
phần chính của dầu mỏ.
Hydrocarbon cơ bản là metan (CH4) với một nguyên tử cacbon. Metan
và propan (C3H8) với 3 nguyên tử cacbon lại được phân loại vào nhóm
27.11 kể cả khi chúng là nguyên chất.
Những hydrocarbon mạch hở no trong nhóm này gồm :
(1) Etan (C2H6) có 2 nguyên tử cacbon.
Để được phân loại vào nhóm này, etan phải có độ tinh khiết từ 95%
trở lên tính theo thể tích. Etan với độ tinh khiết thấp hơn bị loại trừ
(nhóm 27.11).
(2) Butan (C4H10) có 4 nguyên tử cacbon.
(3) Pentan có 5 nguyên tử cacbon.
(4) Hexan - có 6 nguyên tử cacbon.
(5) Heptan - có 7 nguyên tử cacbon.
(6) Octan - có 8 nguyên tử cacbon.
(7) Nonan - có 9 nguyên tử cacbon.
(8) Decan - có 10 nguyên tử cacbon.
(9) Pentadecan - có 15 nguyên tử cacbon.
(10) Triacontan - có 30 nguyên tử cacbon.
(11) Hexacontan - có 60 nguyên tử cacbon.
Các hydrocarbon no này tất cả đều không tan trong nước. Ở nhiệt độ và
áp suất thường, những hydrocarbon có từ 4 nguyên tử cacbon trở xuống
thì tồn tại ở dạng khí; những hydrocarbon có từ 5 đến 15 nguyên tử
cacbon thì tồn tại ở dạng lỏng; hydrocarbon có số nguyên tử cacbon lớn
hơn 15 thì thường tồn tại ở dạng rắn.
Một hoặc nhiều nguyên tử hydro của các phân tử hydrocarbon này có thể
được thay thế bằng các gốc alkyl (ví dụ, metyl, etyl, propyl); do đó
isobutan (2-metylpropane, trimethylmethane) có công thức phân tử
giống như một butan bình thường.
Trong công nghiệp và thương nghiệp, hydrocarbon quan trọng nhất của
nhóm này là khí etan và khí butan chúng được khai thác từ dầu mỏ và
khí tự nhiên.
Để được xếp vào nhóm này, những hydrocarbon mạch hở no này phải ở
dạng những hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt, thu
được bằng tinh chế dầu mỏ và khí tự nhiên hoặc bằng tổng hợp (đối với
tiêu chuẩn tinh khiết cho etan, xem Mục (1) ở trên). Nhưng nhóm này
loại trừ butan thô, khí dầu thô và những hydrocacbon khí thô tương tự
thuộc nhóm 27.11.
(B) HYDROCARBON MẠCH HỞ CHƯA NO
Những hydrocarbon chưa no này bao gồm 2, 4, 6 ... và có ít nguyên tử
hydro hơn hydrocacbon mạch hở no có cùng số nguyên tử cacbon. Loại
này có liên kết đôi hoặc liên kết ba.
Những chất này là những đồng đẳng có công thức chung là CnH2n.
Chúng có trong sản phẩm thu được từ các hợp chất hữu cơ bị phân
hủy bởi nhiệt (khí than, các sản phẩm craking dầu mỏ,…); chúng
cũng có thể được tạo thành bằng cách tổng hợp.
(a) Những chất đầu tiên trong dãy đồng đẳng này là các khí bao gồm:
(i) Etylene (ethene) (C2H4): Khí không màu, hơi có mùi giống
ete và có tính gây mê mạnh. Dùng làm nguyên liệu để sản
xuất nhiều hợp chất hữu cơ (ví dụ, etylen oxide,
ethylbenzene, ethanol tổng hợp, polyethylene).
Để được phân loại vào nhóm này, etylen phải có độ tinh khiết
từ 95% trở lên tính theo thể tích. Etylen có độ tinh khiết thấp
hơn thì bị loại trừ (nhóm 27.11).
(ii) Propene (propylene) (C3H6). Khí không màu, rất dễ cháy
dùng như chất làm ngạt.
Để xếp vào nhóm này, propene (propylen) phải có độ tinh
khiết từ 90% trở lên tính theo thể tích. Propylen có độ tinh
khiết thấp hơn thì bị loại trừ (nhóm 27.11).
Để xếp vào nhóm này, những hydrocarbon mạch hở chưa
no này phải ở dạng những hợp chất đã được xác định về
mặt hóa học riêng biệt. Nhưng nhóm này loại trừ những
khí hydrocarbon thô của nhóm 27.11.
Trong thương mại thông thường, tất cả các sản phẩm này ở
dạng lỏng, nén áp suất.
(b) Monoethylenic hydrocarbon có chứa 5 đến 15 nguyên tử cacbon
là chất lỏng. Quan trọng nhất là :
(c) Những monoethylenic hydrocacbon có nhiều hơn 15 nguyên tử
cacbon thì ở dạng rắn.
Là những chất có 2 hay nhiều liên kết đôi.
Chúng bao gồm :
(c) Buta-1,3-diene (1,3-butadiene) (C4H6): chất khí không màu, dễ
cháy và
(d) 2-Methylbuta-1,3-diene (isoprene) (C5H8), chất lỏng không
màu, rất dễ cháy.
(3) Dãy acetylene.
Các hydrocarbon acetylenic chứa hoặc một liên kết 3 (mono-
acetylene, công thức chung (Cn H2n-2) hoặc nhiều hơn một liên kết 3
Chất quan trọng nhất là acetylene (C2H2), khí không màu, có mùi
đặc trưng. Từ acetylene, có một loạt các sản phẩm có thể được tổng
hợp nên (ví dụ, axít acetic, axeton, isopren, axít chloroaxetic,
Khi chúng hòa tan trong aceton, được nén trong bình bằng thép đặc
biệt, được đóng gói với diatomite, thì vẫn được phân loại vào nhóm
này (xem Chú giải 1 (e) của Chương)
Những chất khác của dãy này là:
(4) Những hydrocarbon ethylene- acetylene.
Đây là những hydrocarbon chứa cả liên kết etylenic và acetylenic
trong phân tử. Chất quan trọng nhất là vinylacetylene (acetylene mà
một nguyên tử hydro bị thay thế bởi một nhóm vinyl), và
methylvinylacetylene (trong đó cả hai nguyên tử hydro đã bị thay
thế - một nguyên tử hydro bị thay thế bởi 1 nhóm vinyl và nguyên
tử hydro còn lại bị thay thế bởi 1 nhóm methyl).
29.02 - Hydrocarbon mạch vòng.
⦁ Cyclanes, cyclenes và cycloterpenes:
2902.19 - - Loại khác
2902.44 - - Hỗn hợp các đồng phân của xylen
2902.90 - Loại khác
Hydrocarbon vòng là những hợp chất chỉ chứa cacbon và hydro trong
thành phần và có ít nhất một vòng trong cấu trúc của chúng. Chúng được
phân loại thành ba loại:
(A) Những xyclan và xyclen.
(B) Những xycloterpen.
(C) Những hydrocarbon thơm.
(A) NHỮNG XYCLAN VÀ XYCLEN
Đó là những hydrocarbon vòng tương ứng với công thức chung CnH2n
khi chúng là những xyclan đơn vòng no và công thức chung là CnH2n-x (x
có thể là 2,4,6,...) khi chúng là các xyclan đa vòng hoặc khi chúng là các
vòng không no (xyclen).
(1) Những xyclan đơn vòng gồm có hydrocacbon polymetylen và
naphthen tìm thấy trong một số loại dầu mỏ; ví dụ:
(a) Cyclopropane (C3H6) (khí).
(b) Cyclobutane (C4H8) (khí).
(c) Cyclopentane (C5H10) (lỏng).
(d) Cyclohexane (C6H12) (lỏng).
(2) Những xyclan đa vòng gồm:
(a) Decahydronaphthalene (C10H18), dạng lỏng, không màu, được
dùng làm dung môi cho sơn và sơn mài, cho đánh bóng,…
(b) Những hợp chất có cầu nối như là 1,4,4a,5,6,7,8,8a-octahydro-
exo-1,4-endo-5,8-dimethanonaphthalene(C12H16) từ chất này sản
xuất được thuốc diệt côn trùng HEOD.
(c) Những hợp chất có cấu trúc “lồng” như là pentacyclo
(5.2.1.02,6 .03,9. 05,8) decane (C10H12) từ chất này tạo ra công
thức của dodecachloropentacyclo [5.2.1.02,6.03,9.05,8] decane .
(3) Những xyclen bao gồm:
(a) Cyclobutene (C4H6), khí.
(b) Cyclopentene (C5H8), lỏng.
(c) Cyclohexene (C6H10), lỏng
(d) Cyclo - octaetraene (C8H8), lỏng
(e) Azulen (C10H8), rắn.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm caroten tổng hợp thuộc nhóm
Những hydrocarbon này không khác về mặt cất trúc hóa học chung so
với nhóm xyclen và có công thức chung (C5H8)n trong đó n có thể là 2
hoặc hơn. Chúng tồn tại trong tự nhiên ở các loài thực vật như chất lỏng
có mùi thơm, dễ bay hơi, ví dụ:
(1) Pinen, có thành phần trong nhựa thông, dầu gỗ thông, dầu quế,…; là
chất lỏng không màu.
(2) Camphen, có trong dầu nhục đậu khấu, dầu petitgrain,...
(3) Limonen*, tìm thấy trong tinh dầu chanh; dipenten là những hỗn
hợp của đồng phân quang học của limonene. Dipenten thô bị loại
trừ (nhóm 38.05).
Nhóm này không bao gồm những tinh dầu (nhóm 33.01), và gôm, gỗ
hoặc sulphat turpentine và những loại dầu terpenic khác được tạo ra từ
quá trình chưng cất hoặc xử lý khác của các gỗ thuộc loài cây lá kim
(nhóm 38.05).
(C) HYDROCARBON THƠM
Những chất này gồm một hay nhiều vòng benzen liên kết hoặc không
liên kết, benzen là một hydrocarbon gồm 6 nguyên tử cacbon và 6
nguyên tử hydro, chúng được sắp xếp trong 6 nhóm (CH) để tạo nên một
vòng 6 cạnh.
(I) Những hydrocarbon chỉ có một vòng benzen. Nhóm này gồm
benzen và các đồng đẳng của nó.
(a) Benzen (C6H6) có trong khí than, trong dầu mỏ và sản phẩm
dạng lỏng của quá trình chưng cất khô của rất nhiều hợp chất
hữu cơ giàu cacbon (than, than non,…); cũng được điều chế
bằng quá trình tổng hợp. Ở dạng tinh khiết, nó là chất lỏng
không màu, linh động, khúc xạ, dễ bay hơi và dễ cháy, có mùi
thơm. Chúng có thể hòa tan nhựa, chất béo, tinh dầu, cao su...
Rất nhiều sản phẩm được tạo ra từ quá trình tổng hợp benzen.
Để được xếp vào nhóm này, benzen phải tinh khiết từ 95% trở
lên tính theo trọng lượng. Nếu độ tinh khiết thấp hơn thì sẽ bị
loại trừ (nhóm 27.07).
(b) Toluen (methylbenzen) (C6H5CH3). Là một dẫn xuất benzen
trong đó một nguyên tử hydro được thay thế bằng một nhóm
methyl. Thu được bằng quá trình chưng cất dầu hắc ín than đá
nhẹ, hoặc bằng quá trình đóng vòng của hydrocarbon mạch hở.
Là chất lỏng không màu, linh động, khúc xạ, dễ cháy, có mùi
thơm giống benzen.
Để được xếp ở nhóm này, toluen phải tinh khiết từ 95% trở lên
tính theo trọng lượng. Nếu toluen ở độ tinh khiết thấp hơn thì sẽ
bị loại trừ (nhóm 27.07).
(c) Xylene (dimethylbenzen) (C6H4(CH3)2)*. Là dẫn xuất benzen.
trong đó 2 nguyên tử hydro được thay thế bằng 2 nhóm metyl.
Có
đồng
phân:
m-xylene and p-xylene. Xylen là một chất lỏng trong suốt, dễ
cháy và tìm thấy trong dầu hắc ín than đá nhẹ.
Để được xếp vào nhóm này, xylen phải chiếm từ 95% trở lên
tính theo trọng lượng của mọi đồng phân xylene. Nếu xylen có
độ tinh khiết nhỏ hơn 95% thì sẽ bị loại trừ (nhóm 27.07).
(d) Những hydrocarbon thơm khác của nhóm này được tạo từ một
vòng benzen và 1 hay nhiều mạch nhánh, đóng hoặc mở. Những
hydrocacbon này bao gồm :
(1) Styrene (C6H5CH = CH2). Là chất lỏng không màu, nhờn
được dùng chủ yếu trong quá trình sản xuất plastic
(polystyren) và cao su tổng hợp.
(2) Etylbenzen (C6H5.C2H5). Chất lỏng không màu, dễ bốc
cháy, linh động, có trong hắc ín, thông thường được sản
xuất từ etylen và benzen.
(3) Cumen (C6H5CH (CH3)2). Chất lỏng không màu, có trong
một số loại dầu mỏ. Dùng chủ yếu trong qúa trình sản xuất
phenol, axeton α - metylstyren hoặc được dùng như một
dung môi.
(4) p-Cymen (CH3C6H4CH(CH3)2). Tìm thấy nhiều trong một
số loại tinh dầu. Là chất lỏng không màu với một mùi dễ chịu.
p-cymene thô bị loại trừ (nhóm 38.05).
(5) Tetrahydronaphthalene (tetralin) (C10H12). Được tạo
thành từ một quá trình hydogen hóa xúc tác của naphtalen.
Là chất lỏng không màu, với mùi giống terpen, được dùng
như một dung môi,….
(II) Các hydrocacbon với hai hoặc nhiều vòng benzen chưa liên kết
với nhau; gồm những chất sau :
(a) Biphenyl (C6H5.C6H5). Là tinh thể trắng lấp lánh, có mùi dễ
chịu; được dùng trong việc sản xuất các dẫn xuất clo hoá (chất
hóa dẻo), như là chất làm nguội (riêng rẽ hoặc trộn với ete
biphenyl), và như một chất điều tiết trong phản ứng hạt nhân.
(b) Diphenylmethane(C6H5CH2C6H5). Một hydrocacbon với 2
vòng benzen liên kết bởi một nhóm metylen (CH2). Kết tinh
hình kim, không màu, có mùi giống như mùi của hoa phong lữ;
được dùng trong tổng hợp hữu cơ.
(c) Triphenymethane (CH(C6H5)3). Là một metan có 3 nguyên tử
hydro được thay thế bằng 3 vòng benzen.
(d) Terphenyl. Hỗn hợp đồng phân terphenyl được dùng như một
chất làm mát và như chất điều tiết phản ứng hạt nhân.
(III) Những hydrocarbon có 2 hay nhiều vòng benzen liên kết.
(a) Naphtalen (C10H8). Là kết quả của sự kết hợp 2 vòng benzen.
Có trong hắc ín than đá, trong dầu mỏ, trong khí than, trong hắc
ín từ than non,... Kết tinh thành dạng vảy trắng mịn, với một mùi
đặc trưng.
Để được phân loại vào nhóm này, naphtalen phải có điểm kết
tinh từ 79,4 ºC trở lên. Naphtalen có độ tinh khiết thấp hơn sẽ bị
loại trừ ( nhóm 27.07).
(b) Phenanthrene (C14H10). Là kết quả của sự kết hợp 3 vòng
benzen. Là một trong những sản phẩm chưng cất hắc ín than đá;
tinh thể mịn, không màu, phát quang.
Phenanthrene chỉ được phân loại vào nhóm này khi là hợp chất
đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt ở trạng thái tinh
khiết hoặc tinh khiết về mặt thương phẩm. Khi ở dạng thô, nó bị
loại trừ (nhóm 27.07).
(c) Anthracene (C14H10). Cũng là kết quả của sự kết hợp ba vòng
benzen và được tìm thấy trong hắc ín than đá. Là những tinh thể
không màu hoặc bột màu vàng nhạt, và là chất phát quang màu
xanh tía.
Để được phân loại vào nhóm này, anthracene phải có độ tinh
khiết từ 90% trở lên tính theo trọng lượng. Với độ tinh khiết
thấp hơn sẽ bị loại trừ (nhóm 27.07).
Nhóm này cũng gồm hydrocarbon sau:
Nhóm này không bao gồm dodecylbenzenes và nonylnaphthalenes là
hỗn hợp alkylaren (nhóm 38.17).
29.03 - Dẫn xuất halogen hóa của hydrocarbon.
⦁ Dẫn xuất clo hoá của hydrocarbon mạch hở, no:
2903.11 - - Clorometan (clorua metyl) và cloroetan (clorua etyl)
2903.19 - - Loại khác:
⦁ Các dẫn xuất clo hóa của hydrocarbon mạch hở, chưa
2903.29 - - Loại khác
⦁ Các dẫn xuất flo hóa của hydrocarbon mạch hở, no:
2903.43 - - Florometan (HFC-41), 1,2-difloroetan (HFC-152) và
143a) và 1,1,2-trifloroetan (HFC-143)
2903.45 - - 1,1,1,2-Tetrafloroetan (HFC-134a) và 1,1,2,2-
và
2903.47 - - 1,1,1,3,3-Pentafloropropan (HFC-245fa) và 1,1,2,2,3-
và
2903.49 - - Loại khác
⦁ Các dẫn xuất flo hóa của hydrocarbon mạch hở, chưa
tetrafloropropen (HFO-1234ze) và (Z)-1,1,1,4,4,4-
2903.59 - - Loại khác
⦁ Các dẫn xuất brom hóa hoặc iot hóa của hydrocarbon
mạch hở:
2903.69 - - Loại khác
⦁ Dẫn xuất halogen hóa của hydrocacbon mạch hở chứa
hai hoặc nhiều halogen khác nhau:
và
2903.77 - - Loại khác, perhalogen hóa chỉ với flo và clo
2903.78 - - Các dẫn xuất perhalogen hóa khác
2903.79 - - Loại khác
⦁ Dẫn xuất halogen hóa của hydrocarbon cyclanic,
cyclenic hoặc cycloterpenic:
2903.81 - - 1,2,3,4,5,6-Hexaclorocyclohexan (HCH (ISO)), kể cả
2903.82 - - Aldrin (ISO), chlordane (ISO) và heptachlor (ISO)
2903.89 - - Loại khác
⦁ Dẫn xuất halogen hóa của hydrocacbon thơm:
và
2903.92 - - Hexachlorobenzene (ISO) và DDT (ISO)
2903.99 - - Loại khác
Chúng là những hợp chất được tạo thành do sự thay thế trong công thức
cấu trúc của 1 hydrocacbon có 1 hoặc nhiều nguyên tử halogen (fluorine,
chlorine, bromine, iodine) bằng 1 số lượng như thế của các nguyên tử
(A) CÁC DẪN XUẤT CLO HÓA CỦA HYDROCACBON MẠCH
HỞ, NO
1. Clorometan (methyl clorua). Là chất khí không màu, thường ở
dạng hóa lỏng đựng trong bình bằng thép. Được dùng như chất làm
lạnh, như thuốc mê và trong tổng hợp hữu cơ.
2) Diclorometan (methyllene chlorua). Là chất lỏng độc không màu,
dễ bay hơi; được dùng trong tổng hợp hữu cơ.
(3) Cloroform (tricholoromethane). Là chất lỏng, dễ bay hơi, không
màu, có mùi đặc trưng; được dùng như thuốc mê, như một dung môi
và được dùng trong tổng hợp hữu cơ.
(4) Carbon tetraclorua. Là chất lỏng không màu; được dùng để nạp
vào bình chữa cháy, và dùng làm dung môi cho lưu huỳnh, dầu, chất
béo, vecni, dầu mỏ, nhựa, ....
(5) Cloroetan (etyl clorua). Dạng khí, khí hóa lỏng được đựng trong
bình chứa đặc biệt; được dùng như một chất gây mê.
(6) Etylen diclorua (ISO) (1,2 – dichloroetan). Chất lỏng, độc, không
màu; được dùng như một dung môi.
(7) 1,2-Dicloropropan (propylendiclorua). Chất lỏng không màu, bền
vững. Có mùi giống cloroform. Được dùng trong tổng hợp hữu cơ,
và như một dung môi hòa tan cho chất béo, dầu, sáp, gôm và nhựa.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Những cloroparafin nếu chúng là hỗn hợp của các dẫn xuất clo hoá;
các cloroparafin rắn có đặc tính của sáp nhân tạo được phân loại vào
nhóm 34.04, còn cloroparafin lỏng được phân loại vào nhóm 38.24.
(b) Những sản phẩm nạp cho bình chữa cháy hoặc lựu đạn chữa cháy,
thuộc nhóm 38.13.
(B) CÁC DẪN XUẤT CLO HÓA CỦA HYDROCARBON MẠCH
HỞ, CHƯA NO
(1) Vinyl clorua (chloroethylene). Chất khí, có mùi cloroform; tồn tại ở
dạng chất lỏng trong các bình chứa bằng thép; được dùng trong sản
xuất poly(vinylclorua) của nhóm 39.04.
(2) Tricloroetylen. Là chất lỏng không màu, có mùi cloroform; làm dung
môi cho vecni, dầu và chất béo; được dùng trong tổng hợp hữu cơ.
(3) Tetracloroetylen (perchloroethylene); chất lỏng không màu được
dùng như một dung môi lau khô.
(C) CÁC DẪN XUẤT FLO HÓA CỦA HYDROCARBON MẠCH
HỞ, NO
thương
mại
các
chất
được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng
ôzôn theo Bản sửa đổi, bổ sung Kigali Amendment đối với Nghị định
thư.
tetrafluoropropene (HFO-1234ze) và (Z) -1,1,1,4,4,4- hexafluoro- 2-
Các
là
các
fluorocarbon chưa no (tức là, các phân tử có liên kết đôi giữa hai nguyên
tử cacbon). Sự hiện diện của liên kết đôi làm cho phân tử có thời gian
tồn tại trong khí quyển rất ngắn và chỉ số nóng lên toàn cầu (GWP) rất
thấp. Phần lớn các HFO là các HFC chưa no và có chỉ số GWP nằm
trong khoảng từ 4 đến 9 và không được kiểm soát theo Nghị định thư
Montreal. Ví dụ, HFO-1234yf, ngày càng được sử dụng nhiều trong điều
hòa không khí di động, có chỉ số GWP là 4.
(E) CÁC DẪN XUẤT BRÔM HÓA, IỐT HÓA CỦA
HYDROCARBON MẠCH HỞ
(1) Bromometan (methyl bromua). Chất khí, hóa lỏng trong bình đựng
đặc biệt; được dùng trong bình chữa cháy và được dùng như một
chất làm lạnh.
(2) Bromoetan (ethyl bromua). Chất lỏng không màu, mùi tương tự
như mùi cloroform; được dùng trong tổng hợp hữu cơ.
(3) Bromoform. Chất lỏng không màu, có mùi đặc trưng; được dùng
như thuốc an thần.
(5) Iodometan (methyl iodua) và iodoetan (ethyl iodua). Chất lỏng,
được dùng trong tổng hợp hũu cơ.
(7) Iodoform. Là chất bột màu vàng hoặc tinh thể màu vàng với mùi đặc
trưng; được dùng trong ngành y như thuốc sát trùng.
Nhóm này không bao gồm những sản phẩm nạp bình chữa cháy hoặc
lựu đạn chữa cháy của nhóm 38.13.
(F) CÁC DẪN XUẤT HALOGEN HÓA CỦA HYDROCARBON
MẠCH HỞ CHỨA HAI HAY NHIỀU HALOGEN KHÁC NHAU
Trong thương mại các chất chlorodifluoromethane (HCFC-22),
(CFC-114) và chloropentafluoroethane (CFC-115) được kiểm soát bởi
Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn.
Nhóm này không bao gồm những sản phẩm nạp cho bình chữa cháy
hoặc lựu đạn chữa cháy, của nhóm 38.13.
(G) DẪN XUẤT HALOGEN HÓA CỦA HYDROCARBON
XYCLANIC, XYCLENIC HOẶC XYCLOTERPENIC
(1) 1,2,3,4,5,6-Hexaclorocyclohexan (HCH (ISO)), bao gồm lindane
(ISO, INN). Dạng bột hoặc vảy màu vàng nhạt hoặc trắng; là chất
diệt côn trùng mạnh.
(2) Dẫn xuất halogen hóa của xyclopropan hoặc xyclobutan.
(3) Octaclorotetrahydro-4,7-endometyleneindan, cũng là chất diệt
côn trùng mạnh.
4) Các dẫn xuất halogen hóa của hydrocarbon có cấu trúc lồng như
(5) Các dẫn xuất halogen hóa của xycloterpen, như clorocamphene,
(H) CÁC DẪN XUẤT HALOGEN HÓA
CỦA HYDROCARBON THƠM
(1) Clorobenzen. Là chất lỏng dễ cháy, với mùi thơm nhẹ; được dùng
trong tổng hợp hữu cơ và cũng làm dung môi cho vecni, nhựa và
(2) o-Diclorobenzen. Chất lỏng không màu.
(3) m-Diclorobenzen. Chất lỏng không màu.
(4) p-Diclorobenzen. Tinh thể trắng, được dùng chủ yếu như một chất
diệt côn trùng, chất làm sạch không khí hoặc là chất trung gian trong
sản xuất thuốc nhuộm.
(5) Hexachlorobenzene (ISO) và pentachlorobenzene (ISO). Tinh
thể hình kim màu trắng không tan trong nước.
chlorophenyl) ethane hoặc dichlorodiphenyltrichloroethane). Tinh
thể không màu hoặc bột trắng đến hơi trắng. Thuốc diệt côn trùng.
(7) Benzyl clorua. Chất lòng không màu, có mùi dễ chịu, gây chảy
nhiều nước mắt; được dùng trong tổng hợp hữu cơ.
(8) Monocloronaphtalen, dạng α (chất lỏng linh động) hoặc dạng
(những tinh thể dễ bay hơi). Chúng có mùi của naphtalen; được
dùng trong tổng hợp hữu cơ, như chất hóa dẻo,...
(9) 1,4-Dicloronaphtalen, những tinh thể không màu óng ánh, và
octacloronaphtalen, tinh thể có màu hơi vàng óng ánh, được dùng
như chất diệt côn trùng.
Các polycloronaphtalen ở dạng lỏng, được phân loại vào nhóm này
nếu chúng không phải là hỗn hợp; nhưng nếu là hỗn hợp ở dạng rắn
mang tính chất của sáp nhân tạo thì bị loại trừ (nhóm 34.04).
Hexabromobiphenyls. Ví dụ điển hình là: 2.2'.4.4'.5.5'-
hexabromobiphenyl* và 3.3'.4.4'.5.5'-hexabromobiphenyl. Chất rắn
không màu tới màu trắng ngà.
Nhóm này không bao gồm hỗn hợp các đồng phân hexabromobiphenyls
(nhóm 38.24). Nhóm này cũng không bao gồm polychlorobiphenyls là
hỗn hợp của các dẫn xuất clo hóa; những chất này ở thể rắn có đặc tính
của sáp nhân tạo thì thuộc nhóm 34.04, và polychlorobiphenyls dạng lỏng
phân loại vào nhóm 38.24.
29.04 - Dẫn xuất sulphonat hoá, nitro hoá hoặc nitroso hoá của
hydrocarbon, đã hoặc chưa halogen hóa.
2904.10 - Các dẫn xuất chỉ chứa các nhóm sulpho, muối và etyl
este của chúng
2904.20 - Các dẫn xuất chỉ chứa các nhóm nitro hoặc chỉ chứa
các nhóm nitroso:
⦁ Perfluorooctane sulphonic axit, muối của nó và
2904.35 - - Muối khác của perfluorooctane sulphonic axit
⦁ Loại khác:
2904.99 - - Loại khác
(A) CÁC DẪN XUẤT SULPHONAT HÓA
Đây là những hydrocarbon mà một hay nhiều nguyên tử hydro của
chúng được thay thế bằng số lượng các nhóm sulpho (-SO3H) tương
ứng; chúng thường được gọi là axit sulphonic. Nhóm này còn bao gồm
cả những muối và những etyl este của axit sulphonic (xem Chú giải 5
(B) của Chương này).
(1) Các dẫn xuất sulphonat hóa của hydrocarbon mạch hở.
(2) Các dẫn xuất sulphonat hóa của hydrocarbon vòng.
(b) Các axit toluensulphonic (đôi khi gọi nhầm là những axit
(c) Các axit xylensulphonic.
(d) Các axit benzendisulphonic.
(e) Các axít Naphthaensulphonic
(B) CÁC DẪN XUẤT NITRO HÓA
Đây là những hydrocarbon mà trong đó có 1 hay nhiều nguyên tử hydro
được thay thế bởi một số lượng như thế các nhóm nitro (-NO2).
(1) Dẫn xuất nitro hóa của hydrocarbon mạch hở.
(2) Các dẫn xuất nitro hóa của hydrocarbon vòng.
(a) Nitrobenzene (dầu của mirbane). Là tinh thể vàng óng ánh
hoặc chất lỏng có màu hơi vàng, nhờn, có mùi giống hạnh nhân
đắng; được dùng trong công nghệ nước hoa, xà phòng, tổng hợp
hữu cơ, như là một tác nhân biến tính,.…
(b) m-Dinitrobenzene. Ở dạng vảy hoặc hình kim không màu;
được dùng sản xuất chất nổ.
(c) Nitrotoluene (o-, m- và p-).
(d) 2,4-Dinitrotoluene. Tinh thể được dùng trong sản xuất
thuốc nổ.
(e) 2,4,6-Trinitrotoluene. Chất nổ mạnh.
Các hỗn hợp nổ đã được điều chế của các dẫn xuất này không
được xếp vào nhóm này (xếp vào nhóm 36.02)
(f) 5-tert-Butyl-2,4,6-trinitrometaxylene (xạ hương xylen); dùng
trong công nghệ nước hoa.
(g) Nitroxylene, 3-tert-butyl-2,6- dinitro - p - cymene (xạ hương
(C) CÁC DẪN XUẤT NITROSO HÓA
Đây là những hydrocarbon, trong đó có một hoặc nhiều nguyên tử hydro
được thay thế bằng số lượng tương ứng các nhóm nitroso hóa
(2) Nitrosotoluene (o-, m- và p-).
(D) CÁC DẪN XUẤT SULPHOHALOGEN HÓA
Chúng là các dẫn xuất hydrocarbon mà phân tử của chúng chứa 1 hoặc
nhiều nhóm sulpho (‑SO3H) hoặc muối hoặc este etyl của chúng và một
hoặc nhiều halogen, hoặc 1 nhóm halosulphonyl.
(1) Chloro-, bromo- và iodobenzenesulphonic acids (o-, m- và p-).
(2) Chloro-, bromo- và các axit iodobenzenedisulphonic.
(3) Các axit chloronaphthalenesulphonic.
(5) Perfluorooctane sulphonic axit (PFOS)*. Quá trình sản xuất và sử
dụng PFOS, muối của nó và perfluorooctane sulfonyl fluoride (PFOSF)
phải tuân thủ theo Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó
phân hủy và Công ước Rotterdam về thủ tục đồng thuận thông báo trước
đối với các hoá chất và thuốc bảo vệ thực vật nguy hại trong thương mại
quốc tế (xem nhóm 29.22, 29.23, 29.35, 38.08 và 38.24).
(E) CÁC DẪN XUẤT NITROHALOGEN HÓA
Là các dẫn xuất hydrocarbon mà phân tử có chứa 1 hay nhiều nhóm nitro
(-NO2) và một hoặc nhiều halogen.
(1) Trichloronitromethane hoặc chloropicrin.
(F) CÁC DẪN XUẤT NITROSULPHONAT HÓA
Đây là các dẫn xuất hydrocarbon mà phân tử của chúng có chứa một
hoặc nhiều nhóm nitro (-NO2) và một hoặc nhiều nhóm sulpho
(-SO3H) hoặc các muối hoặc những este etyl của chúng.
(1) Các axit nitrobenzenesulphonic và di- và
(2) Các axit nitrotoluenesulphonic và di- và
(3) Các axit nitronaphthalenesulphonic.
(4) Các axit dinitrostilbenedisulphonic.
(G) CÁC DẪN XUẤT NITROSULPHOHALOGEN HÓA HOẶC
CÁC DẪN XUẤT KẾT HỢP KHÁC
Các dẫn xuất kết hợp này thuộc một loại không để cập ở trên, ví dụ, các
dẫn xuất trong thành phần của chúng có một hoặc nhiều nhóm nitro
(-NO2), nhóm sulpho (-SO3H) hoặc các muối hoặc các este etyl của
chúng và một hoặc nhiều halogen. Các ví dụ cụ thể là các dẫn xuất
sunphonat hóa của cloronitrobenzen, cloronitrotoluen,....
Phân chương II
RƯỢU VÀ CÁC DẪN XUẤT HALOGEN HÓA, SULPHONAT
HÓA, NITRO HÓA HOẶC NITROSO HÓA CỦA CHÚNG
29.05 - Rượu mạch hở và các dẫn xuất halogen hóa, sulphonat hóa,
nitro hóa hoặc nitroso hóa của chúng.
⦁ Rượu no đơn chức:
2905.11 - - Metanol (rượu metylic)
2905.12 - - Propan-1-ol (rượu propylic) và propan-2-ol (rượu
2905.13 - - Butan-1-ol (rượu n-butylic)
2905.14 - - Butanol khác
2905.16 - - Octanol (rượu octylic) và đồng phân của nó
alcohol) và octadecan-1-ol (stearyl alcohol)
2905.19 - - Loại khác
⦁ Rượu đơn chức chưa no:
2905.22 - - Rượu tecpen mạch hở
2905.29 - - Loại khác
⦁ Rượu hai chức:
2905.39 - - Loại khác
⦁ Rượu đa chức khác:
2905.49 - - Loại khác
⦁ Các dẫn xuất halogen hóa, sulphonat hóa, nitro hóa
hoặc nitroso hóa của rượu mạch hở:
2905.59 - - Loại khác
Những rượu mạch hở là những dẫn xuất của hydrocarbon mạch hở thu
được bằng việc thay thế 1 hay nhiều nguyên tử hydro bằng nhóm
hydroxyl. Chúng là các hợp chất oxy hóa khi phản ứng với axit tạo ra
hợp chất là các este.
Những rượu có thể là bậc 1 (có chứa nhóm đặc trưng -CH2OH), bậc 2
(chứa nhóm đặc trưng >CHOH) hoặc bậc 3 (chứa nhóm đặc trưng
Nhóm này đề cập đến các rượu mạch hở được miêu tả dưới đây và các
dẫn xuất halogen hóa, sulphonat hóa, nitro hóa, nitroso hóa,
hóa,
hóa,
hóa,
nitrosulphohaloge hóa hoặc các dẫn xuất kết hợp khác của chúng (ví dụ
như hợp chất monoclorohydrin của glycerol và etylen glycol). Những
hợp chất aldehyde bisulphite và kentone-bisulphite được phân loại như
các dẫn xuất sulphonat hóa của rượu, ví dụ, acetaldehyde sodium
bisulphite và acetone sodium bisulphite. Nhóm này cũng bao gồm cả
alcoholates kim loại của các rượu của nhóm này và của etanol.
Nhóm này không bao gồm etanol (ethyl alcohol), tinh khiết hay không
tinh khiết (xem Chú giải Chi tiết nhóm 22.07 và 22.08).
(A) NHỮNG RƯỢU NO ĐƠN CHỨC
(1) Metanol (rượu metylic). Thu được bởi quá trình chưng cất khô của
gỗ hoặc bằng tổng hợp. Rượu metanol tinh khiết là một chất lỏng
linh động, không màu, dễ bắt cháy, có mùi đặc trưng; được dùng
trong tổng hợp hữu cơ, như một dung môi, trong công nghiệp
nhuộm, và để sản xuất chất nổ, sản phẩm dược,... Naphta gỗ (rượu
metyl thô) thu được bởi quá trình chưng cất khô của gỗ thì bị loại
trừ (nhóm 38.07).
(2) Propan–1-ol (rượu propyl) và propan-2-ol (rượu isopropyl). Chúng
là chất lỏng không màu. Propan-2-ol (rượu isopropyl) được tạo
thành từ tổng hợp propylen và được dùng trong quá trình sản xuất
aceton, và methacrylates, và được dùng như một dung môi,....
(3) Butan-1-ol (rượu n-butyl) và các butanol khác (4 đồng phân). Là
chất lỏng không màu, được dùng trong tổng hợp hữu cơ và dùng
làm dung môi.
(4) Pentanol (rượu amyl) và các đồng phân của nó. Có 8 đồng phân.
Quá trình lên men rượu amyl chủ yếu thu được từ dầu tạp (như dầu
ngũ cốc, dầu mía, dầu khoai tây,... trong nhóm 38.24) và những chất
này thu được trong quá trình tinh chế rượu etyl. Rượu amyl còn
được tổng hợp từ các khí hydrocarbon thu được trong quá trình
cracking dầu mỏ.
(5) Các hexanol và heptanol (rượu hexyl và heptyl).
(6) Octanol (rượu octyl) và các đồng phân của nó.
(7) Dodecan-1-ol (rượu lauryl), hexadecan-1-ol (rượu cetyl) và
octadecan-1-ol (rượu stearyl).
Nhóm này không bao gồm các rượu béo có độ tinh khiết dưới 90%
(tính theo trọng lượng của sản phẩm khô) (nhóm 38.23).
(B) RƯỢU ĐƠN CHỨC KHÔNG NO
(1) Rượu allyl*.
(2) Rượu ethylpropylallyl (2-ethyl-2-hexen-1-ol).
(3) Rượu oleyl.
(4) Rượu terpene mạch hở, ví dụ, như phytol. Các rượu tecpen rất dễ
dàng chuyển thành các hợp chất hydro thơm và có trong một số tinh
dầu. Ví dụ như geraniol, citronellol, linalool, rhodinol và nerol,
dùng trong công nghệ nước hoa.
(C) CÁC RƯỢU HAI CHỨC VÀ ĐA CHỨC KHÁC
(I) Rượu hai chức
(1) Etylen glycol (ethanediol). Là chất lỏng không màu, đặc như
siro, mùi cay nồng. Được dùng trong sản xuất nitroglycol (chất
nổ), như dung môi của vecni, như chất chống đóng băng hoặc
dùng trong tổng hợp hữu cơ.
(2) Propylen glycol (propane - 1,2 - diol). Chất lỏng dạng nhớt
không màu và hút ẩm.
(II) Các rượu đa chức khác
(1) Glycerol (propan-1,2,3-triol). Glycerol (còn được biết đến là
glyxerin) có thể thu được bằng cách tinh chế glycerol thô (ví dụ,
bằng cách chưng cất, tinh chế bằng trao đổi ion) hoặc tổng hợp
từ propylen.
Glyxerin có vị ngọt. Thông thường, glyxerin không màu và
không mùi, nhưng đôi khi có màu hơi vàng.
Để được xếp trong nhóm này, glyxerin phải có độ tinh khiết từ
95% trở lên (được tính theo trọng lượng của sản phẩm khô).
Glyxerin có độ tinh khiết thấp hơn (glyxerin thô) bị loại trừ
(nhóm 15.20).
(trimethylolpropane). Được dùng trong sản xuất vecni, nhựa
alkyt, dầu khô tổng hợp, bọt và chất phủ urethane.
(3) Pentaerythritol. Ở dạng bột kết tinh màu trắng, được dùng
trong sản xuất chất nổ và plastic.
(4) Mannitol*. Ở dạng bột hoặc hạt kết tinh màu trắng. Tìm thấy
trong thế giới thực vật (sáp của cây Fraxinas ornus); thu được
bằng tổng hợp. Dùng như thuốc nhuận tràng nhẹ và trong sản
xuất chất nổ (mannitol hexanitrate).
(5) D-glucitol (sorbitol). Ở dạng bột kết tinh màu trắng hút ẩm.
Được sử dụng để sản xuất nước hoa, sản xuất axit ascorbic
(dùng trong y học) và các chất hoạt động bề mặt, như chất thay
thế cho glyxerin và như là một chất hút ẩm (tức là tác nhân hút
ẩm).
Nhóm này loại trừ sorbitol của nhóm 38.24.
(D) CÁC DẪN XUẤT HALOGEN HÓA, SUNPHONAT HÓA,
NITRO HÓA HOẶC NITROSO HÓA
CỦA RƯỢU MẠCH HỞ
(1) Cloral hydrat (CCl3CH(OH)2) (2,2,2-trichloroethane-1,1-diol). Là
tinh thể độc, không màu; dùng như thuốc ngủ và được dùng trong
tổng hợp hữu cơ.
(2) Rượu trichloro-tertiary-butyl; được dùng trong y học.
(3) Ethehlorvylol. Là chất hướng thần - xem danh sách ở cuối Chương
29.06 - Rượu mạch vòng và các dẫn xuất halogen hóa, sulphonat
hóa, nitro hóa hoặc nitroso hóa của chúng.
⦁ Cyclanic, cyclenic hoặc cycloterpenic:
và
2906.13 - - Sterols và inositols
2906.19 - - Loại khác
⦁ Loại thơm:
2906.21 - - Rượu benzyl
2906.29 - - Loại khác
(A) CÁC RƯỢU CYCLANIC, CYCLENIC HOẶC
CYCLOTERPENIC VÀ CÁC DẪN XUẤT HALOGEN
HÓA, SULPHONAT HÓA, NITRO HÓA HOẶC NITROSO
HÓA CỦA CHÚNG
(1) Menthol*, là rượu bậc 2, là thành phần chính trong dầu bạc hà.
Dạng tinh thể; dùng như một thuốc sát trùng, thuốc làm tê cục bộ và
giảm nghẹt mũi.
(2) Cyclohexanol, metyl- và dimetylcyclohexanol là những hợp chất
có mùi đặc trưng giống long não. Chúng được dùng như dung môi
cho vecni. Dimetylcyclohexanol được dùng trong sản xuất xà
phòng.
(3) Sterol là rượu alicylic, no hoặc chưa no, cấu trúc của nó xuất phát từ
nhóm
hydroxyl nối với cacbon thứ 3, nhóm metyl nối với cacbon thứ 10
và cacbon thứ 13 và một chuỗi từ 8 đến 10 nguyên tử cacbon nối
với cacbon thứ 17. Chúng có nhiều trong cả động vật (sterol động
vật) và thực vật (phytosterol). Chất quan trọng nhất là chlolesterol
thu được chủ yếu từ cột sống của gia súc và mỡ lông; cũng thu được
từ mật, và như những sản phẩm phụ sinh ra trong quá trình tách
lecithin từ lòng đỏ trứng. Nó có dạng viên không màu, óng ánh,
không tan trong nước.
Nhóm này không bao gồm ergosterol, có trong nấm mốc
(mushrooms) và trong lúa mạch, là một tiền vitamin tạo thành
vitamin D2 nhờ tia cực tím. Cả ergosterol và vitamin D2 đều được
xếp vào nhóm 29.36.
(4) Inositols, có trong mô cơ thể. Có 9 đồng phân. Là dạng tinh thể
trắng. Phân bố rộng rãi trong thực vật và động vật.
(5) Terpineol, là những rượu rất quan trọng được dùng như chất nền
trong quá trình sản xuất nước hoa như là lilac,… Có thể tìm thấy
trong tự nhiên ở dạng tự do hoặc dạng este hóa trong nhiều loại tinh
dầu (ví dụ, bạch đậu khấu, cam ngọt, hoa cam, cây kinh giới ngọt,
hạt nhục đậu khấu, nhựa thông, anh đào, nguyệt quế, long não).
Terpinol thương phẩm thường là một hỗn hợp của nhiều đồng
phân nhưng chúng vẫn được xếp trong nhóm này (xem Chú giải
1(b) của Chương 29). Nó là một chất lỏng dạng dầu, không màu, và
đôi khi được dùng như một chất diệt khuẩn. Đồng phân dạng rắn
được dùng trong y học và cũng có thể được sử dụng như một chất
diệt khuẩn.
(6) Terpin, thu được từ tổng hợp. Dạng tinh thể trắng. Terpin hydrat thu
được từ nhựa thông; có dạng tinh thể không màu, có mùi thơm.
Dùng trong y học, và cũng dùng để sản xuất terpineol.
(7) Borneol (long não borneo), rượu tương ứng với long não xeton.
Hình dạng và mùi giống với long não tự nhiên; khối kết tinh màu
trắng hoặc đôi khi có màu nâu nhạt; dễ bay hơi ở nhiệt độ phòng.
(8) Isoborneol, tinh thể dạng lá mỏng; là một chất trung gian trong
chuyển đổi alphapinene thành long não.
(9) Santalol, thành phần chính của dầu gỗ bạch đàn.
(B) CÁC RƯỢU THƠM VÀ CÁC DẪN XUẤT HALOGEN
HÓA, SULPHONAT HÓA, NITRO HÓA HOẶC NITROSO
HÓA CỦA CHÚNG
Rượu thơm có nhóm hydroxyl (-OH) không liên kết với vòng thơm
nhưng liên kết với mạch cạnh.
(1) Rượu benzyl (phenylmetanol, phenylcarbinol). Tìm thấy ở dạng tự do
hoặc dạng este hóa trong dầu hoa nhài và hoa hồng, và dạng este hóa
trong nhựa cánh kiến và nhựa thơm Tolu. Chất lỏng không màu với mùi
thơm dễ chịu; được dùng trong quá trình tổng hợp hữu cơ và trong các
chế phẩm vecni, thuốc nhuộm, nước hoa nhân tạo,...
(2) 2-Phenylethanol (rượu phenylethyl). Ở dạng lỏng là thành phần
chính trong tinh dầu của hoa hồng.
(3) 3-Phenylpropanol (rượu phenylpropyl). Tìm thấy trong nhựa cánh
kiến trắng, benzoin gôm Sumatra, dầu sắn và trong dầu nhục quế; là
chất lỏng không màu, đặc, hơi có mùi của dạ lan hương.
(4) Rượu cinnamyl. Tìm thấy trong nhựa cánh kiến trắng lỏng và nhựa
thơm Peru. Tinh thể hình kim, có mùi dạ lan hương.
(5) Diphenylmethanol (diphenylcarbinol, benzhydrol). Tinh thể hình
(6) Triphenylmethanol (triphenylcarbinol). Dạng tinh thể. Rượu này là
chất gốc của 1 nhóm thuốc nhuộm quan trọng bao gồm aurine,
Với mục đích của nhóm này, các hợp chất aldehyt-bisulphit và ketone-
bisulphite được phân loại như các dẫn xuất đã sunphonat hóa của rượu.
Nhóm này cũng bao gồm các alcoholat kim loại của rượu vòng.
Phân Chương III
PHENOLS, RƯỢU-PHENOL, VÀ CÁC DẪN XUẤT HALOGEN
HOÁ, SULPHONAT HOÁ, NITRO HOÁ HOẶC NITROSO HOÁ
CỦA CHÚNG
29.07 - Phenols; rượu phenol.
2907.11 - - Phenol (hydroxybenzene) và muối của nó
2907.12 - - Cresols và muối của chúng
2907.13 - - Octylphenol, nonylphenol và các đồng phân của
chúng; muối của chúng
2907.15 - - Naphthols và các muối của chúng
2907.19 - - Loại khác
⦁ Polyphenols; rượu-phenol:
2907.21 - - Resorcinol và muối của nó
2907.22 - - Hydroquinone (quinol) và các muối của nó
diphenylolpropane) và muối của nó
2907.29 - - Loại khác
Các phenol thu được bằng cách thay thế một hoặc nhiều nguyên tử
hydro của vòng benzen bằng gốc hydroxyl (-OH).
Việc thay thế một nguyên tử hydro tạo ra monohydric phenol
(monophenol); nếu thay thế từ 2 nguyên tử hydro trở lên thì thu được
Sự thay thế này có thể tác động trở lại tới một hoặc nhiều vòng benzen;
trong trường hợp thứ 1 thu được phenol đơn nhân, trường hợp thứ 2 thu
được các phenol đa nhân.
Nhóm hydroxyl cũng có thể có mặt như chất thay thế trong đồng
đẳng benzen; trong trường hợp của toluen thu được một đồng đẳng
phenol gọi là cresol, trong những trường hợp của xylen thì thu được
Nhóm này cũng bao gồm muối và alcoholat kim loại của các phenol
hoặc các rượu- phenol.
(A) CÁC MONOPHENOL ĐƠN NHÂN
(1) Phenol (hydroxybenzene) (C6H5OH). Tạo thành từ quá trình chưng
cất phân đoạn hắc ín than đá, hoặc từ quá trình tổng hợp. Dạng tinh
thể trắng, có mùi đặc trưng, chuyển thành màu hơi đỏ khi cho ra ánh
sáng, hoặc có thể ở dạng dung dịch. Nó là chất sát trùng trong dược.
Nó cũng dùng để sản xuất thuốc nổ, nhựa tổng hợp, plastic, chất hóa
dẻo và thuốc nhuộm.
Để xếp vào nhóm này, phenol phải có độ tinh khiết từ 90% trở lên
tính theo trọng lượng. Phenol có độ tinh khiết thấp hơn bị loại trừ
(nhóm 27.07).
(2) Cresols (CH3C6H4OH) *. Các phenol này xuất phát từ toluen được
tìm thấy trong dầu hắc ín than đá với những tỷ lệ khác nhau.
o-Cresol là bột kết tinh màu trắng với mùi đặc trưng của phenol, dễ
chảy, thành màu nâu khi để lâu; m-cresol là chất lỏng nhờn không
màu hoặc màu vàng nhạt, khúc xạ lớn, cùng với mùi đặc trưng của
creosote; p-cresol là khối kết tinh không màu chuyển sang màu hơi
đỏ và sau đó sang mầu nâu nhạt khi cho ra ánh sáng; có mùi của
Để xếp vào nhóm này, những cresol đơn chất hoặc cresol hỗn hợp
phải chứa cresol từ 95% trở lên tính theo trọng lượng, tất cả những
đồng phân cresol được tính cùng nhau. Những cresol có độ tinh
khiết thấp hơn bị loại trừ (nhóm 27.07).
(3) Octylphenol, nonylphenol và các đồng phân của chúng.
(4) Xylenols ((CH3)2C6H3OH). Chúng là những dẫn xuất phenol của
xylen. Có 6 đồng phân được nhận biết; thu được từ dầu hắc ín than
đá.
Để phân loại vào nhóm này, những xylenol đơn chất hoặc xylenol
hỗn hợp bắt buộc phải chứa xylenol từ 95% trở lên tính theo trọng
lượng, tất cả những đồng phân xylenol được tính cùng nhau. Những
xylenol có độ tinh khiết thấp hơn thì bị loại trừ (nhóm 27.07).
(5) Thymol (5-methyl-2-isopropylphenol). Tìm thấy trong dầu thyme
(tinh dầu rau thơm). Tinh thể không màu, có mùi của loại rau thơm;
dùng làm thuốc, sản xuất nước hoa...
(6) Carvacrol (2-methyl-5-isopropylphenol). Là một đồng phân của
thymol thu được từ dầu của origanum; dạng chất lỏng nhớt có
mùi hắc.
(B) MONOPHENOL ĐA NHÂN
(1) Các naphthol (C10H7OH) *. Chúng là những phenol xuất phát từ
naphtalen. Có 2 đồng phân :
(a) α–Naphthol. Dạng kết tinh hình kim, không màu lóng lánh, ở
dạng miếng màu xám hoặc bột màu trắng, có mùi gắt hơi giống
mùi của phenol. Nó là một loại chất độc và được sử dụng trong
tổng hợp hữu cơ (ví dụ, thuốc nhuộm, ….).
(b) β–Naphthol. Ở dạng vảy không màu lấp lánh hoặc ở dạng bột
kết tinh, màu trắng hoặc hơi hồng, hơi có mùi của phenol. Nó
cũng được sử dụng tương tự như α -naphthol, và cũng được sử
dụng trong y học và như một chất chống oxy hoá cho cao su.
(C) CÁC POLYPHENOL
(1) Resorcinol (m-dihydroxybenzen) *. Dihydric phenol; kết tinh ở dạng
viên hay hình kim; không màu nhưng khi tiếp xúc với không khí có
màu nâu. Hơi có mùi của phenol. Dùng để sản xuất thuốc nhuộm
tổng hợp và thuốc nổ, và trong y học và trong phim ảnh.
(2) Hydroquinon (quinol, p-dihydroxybenzene). Ở dạng vảy kết tinh
nhỏ lóng lánh. Được dùng để điều chế thuốc nhuộm hữu cơ, trong y
học và trong phim ảnh, hoặc như 1à chất chống oxy hóa đặc biệt cho
quá trình sản xuất cao su.
Dạng vảy trắng.
(4) Pyrocatechol (o-dihydroxybenzene). Dạng kết tinh sáng hình kim
hoặc viên không màu, hơi có mùi của phenol; dùng cho quá trình
sản suất sản phẩm ngành dược và phim ảnh.
(8) Pyrogallol. Dạng vảy nhỏ hoặc bột kết tinh màu sáng trắng, nhẹ và
không mùi; khi tiếp xúc với không khí và ánh sáng thì có màu nâu
và là chất độc. Nó dùng để sản xuất thuốc nhuộm, như một chất cẩn
màu, trong ngành ảnh, …
(9) Phloroglucinol. Dạng tinh thể lớn không màu, phát quang trong
dung dịch nước; dùng làm thuốc thử cho phân tích hóa học, trong y
học, trong phim ảnh, …
(10) Hydroxyhydroquinone (1,2,4-trihydroxybenzene). Dạng tinh thể
rất nhỏ hoặc bột không màu, sậm màu khi phơi ra ánh sáng.
(11) Dihydroxynaphthalenes (C10H6(OH)2). Một nhóm gồm 10 hợp
chất thu được bằng cách thay thế 2 nguyên tử hydro trong vòng
phân tử naphtalen bằng 2 nhóm hydroxyl. Một số được dùng trong
sản xuất thuốc nhuộm.
(D) CÁC RƯỢU PHENOL
Chúng được tạo ra từ các hydrocacbon thơm bằng cách thay thế 1
nguyên tử hydro trong vòng benzen bằng một nhóm phenolic hydroxyl
và 1 nguyên tử hydro khác không thuộc vòng benzen bằng một nhóm
alcoholic hydroxyl; vì vậy chúng có đặc tính của cả phenol và cả rượu.
Quan trọng nhất là rượu salicylic (siligenin) (HOC6H4CH2OH), dạng
tinh thể trắng, dùng trong y học như một chất giảm đau và hạ sốt
29.08 - Dẫn xuất halogen hóa, sulphonat hóa, nitro hóa hoặc nitroso
hóa của phenols hoặc của rượu-phenol.
⦁ Các dẫn xuất chỉ chứa các nguyên tử halogen thay thế
và muối của chúng:
2908.19 - - Loại khác
⦁ Loại khác :
2908.91 - - Dinoseb (ISO) và các muối của nó
2908.92 - - 4,6-Dinitro-o-cresol (DNOC (ISO)) và các muối của
nó
2908.99 - - Loại khác
Những chất này thu được từ những rượu - phenol và phenol bằng cách
thay thế 1 hay nhiều nguyên tử hydro bằng 1 halogen, 1 nhóm sulpho
(-SO3H), 1 nhóm nitro (-NO2), 1 nhóm nitroso (-NO) hoặc bằng sự kết
hợp của các nhóm này.
(A) CÁC DẪN XUẤT HALOGEN HÓA
(1) o-Chlorophenol. Dạng chất lỏng có mùi mạnh.
(2) m-Chlorophenol. Tinh thể không màu.
(3) p-Chlorophenol. Khối kết tinh với mùi khó chịu.
Ba sản phẩm trên dùng để tổng hợp hữu cơ (ví dụ, thuốc nhuộm).
(4) p-Chloro-m-cresol (4-chloro-3-methylphenol). Là sản phẩm không
mùi, khử trùng mạnh, ít tan trong nước nhưng dễ chuyển dạng nhũ
tương với xà phòng.
(B) CÁC DẪN XUẤT SULPHONAT HÓA
(1) Axit phenolsulphonic (HOC6H4SO3H), thu được từ quá trình
sulphonat hóa phenol.
(2) Các axit naphtholsulphonic, tạo ra do quá trình sulphonat hóa trực
tiếp naphtol, hay quá trình tổng hợp khác. Chúng tạo ra 1 nhóm các
hợp chất dùng trong sản xuất thuốc nhuộm và bao gồm :
(a) 1-Naphthol-4-sulphonic axit (Neville-Winther axit), dạng vảy
trong suốt lấp lánh hoặc dạng bột trắng hơi vàng.
(b) 2-Naphthol-6-sulphonic axit (Schaeffer axit), dạng bột trắng
hơi hồng.
(c) 2-Naphthol-7-sulphonic axit (F axit), dạng bột trắng.
(d) 1-Naphthol-5-sulphonic axit, dạng tinh thể dễ chảy
(e) 2-Naphthol-8-sulphonic axit (crocein axit), dạng bột trắng hơi
vàng.
(C) CÁC DẪN XUẤT NITRO HÓA
(1) o-, m- và p-Nitrophenols (HOC6H4NO2). Dạng tinh thể hơi vàng;
dùng cho sản xuất thuốc nhuộm hữu cơ và sản phẩm dược.
(2) Dinitrophenols (HOC6H3(NO2)2). Dạng bột kết tinh; dùng trong sản
xuất thuốc nổ, thuốc nhuộm sulphur,...
(3) Trinitrophenol (picric axit) (HOC6H2(NO2)3). Dạng tinh thể vàng
sáng lấp lánh, không có mùi và độc. Dùng để trị bỏng và cũng được
dùng như thuốc nổ; các muối của chúng được biết như picrat.
(D) CÁC DẪN XUẤT NITROSO HÓA
(1) o-, m- và p-Nitrosophenols. Trên thực tế việc nitrosophenol có thể
phản ứng khi ở dạng hỗ biến của oxim quinon không ảnh hưởng đến
việc phân loại chúng vào nhóm này.
Phân chương IV
ETE, PEROXIT RƯỢU, PEROXIT ETE, PEROXIT AXETAL VÀ
PEROXIT HEMIAXETAL, PEROXIT XETON, EPOXIT CÓ
VÒNG BA CẠNH, AXETAL VÀ HEMIAXETAL VÀ CÁC DẪN
XUẤT HALOGEN HOÁ, SULPHONAT HOÁ, NITRO HOÁ
HOẶC NITROSO HOÁ CỦA CÁC CHẤT TRÊN
29.09 - Ete, rượu-ete, phenol-ete, phenol-rượu-ete, peroxit rượu,
peroxit ete, peroxit axetal và peroxit hemiaxetal, peroxit
xeton (đã hoặc chưa xác định về mặt hóa học), và các dẫn
xuất halogen hóa, sulphonat hóa, nitro hóa hoặc nitroso hóa
của các chất trên.
⦁ Ete mạch hở và các dẫn xuất halogen hóa, sulphonat
hóa, nitro hóa hoặc nitroso hóa của chúng:
2909.19 - - Loại khác
2909.20 - Ete cyclanic, cyclenic hoặc cycloterpenic và các dẫn
xuất halogen hóa, sulphonat hóa, nitro hóa hoặc nitroso
hóa của chúng
2909.30 - Ete thơm và các dẫn xuất halogen hóa, sulphonat hóa,
nitro hóa hoặc nitroso hóa của chúng
⦁ Rượu ete và các dẫn xuất halogen hóa, sulphonat hóa,
nitro hóa hoặc nitroso hóa của chúng:
2909.43 - - Ete monobutyl của etylen glycol hoặc của dietylen
2909.44 - - Ete monoalkyl khác của etylen glycol hoặc của
2909.49 - Loại khác
2909.50 - Phenol-ete, phenol-rượu-ete và các dẫn xuất halogen
hóa, sulphonat hóa, nitro hóa hoặc nitroso hóa của
chúng
2909.60 - Peroxit rượu, peroxit ete, peroxit axetal và peroxit
hemiaxetal, peroxit xeton và các dẫn xuất halogen hóa,
sulphonat hóa, nitro hóa hoặc nitroso hóa của chúng
(A) CÁC ETE
Các ete có thể coi như rượu hoặc phenol mà trong đó nguyên tử hydro
của nhóm hydroxyl bị thay thế bằng một gốc hydrocacbon (alkyl hoặc
aryl). Chúng có công thức chung là:
(R-O-R1), trong đó R và R1 có thể là giống nhau hoặc khác nhau.
Các ete này là hợp chất trung tính, rất ổn định.
Nếu gốc thuộc dãy mạch hở, ete cũng là mạch hở; nếu gốc mạch vòng
thì ete là mạch vòng.
Ete đầu tiên trong dãy mạch hở là dạng khí, nhưng các ete tiếp theo là
dạng lỏng dễ bay hơi với mùi ete đặc trưng; các ete cao hơn nữa của dãy
là dạng lỏng hoặc đôi khi là dạng rắn.
(I) Các ete mạch hở đối xứng.
(1) Dietyl ete (C2H5OC2H5). Là chất lỏng không màu, khúc xạ, có
mùi cháy đặc trưng; dễ bay hơi và rất dễ gây cháy. Dùng như
thuốc mê và trong tổng hợp hữu cơ.
(2) Di(chloroethyl) ete, hoặc dichlorodiethyl ete.
(II) Các ete mạch hở không đối xứng.
(III) Các ete cyclanic, cyclenic hoặc cycloterpenic.
(IV) Các ete thơm.
(1) Anisole (C6H5OCH3) (metyl phenyl ete). Là chất lỏng không màu, có mùi dễ chịu; dùng trong tổng hợp hữu cơ (ví dụ, nước
hoa tổng hợp) và cũng dùng như một dung môi và thuốc giun
(3) Diphelnyl ete (C6H5OC6H5). Dạng kết tinh hình kim không
màu, có mùi giống cây phong lữ; dùng trong công nghiệp nước
(5) Anethole, có trong thành phần của dầu hạt hồi. Tinh thể nhỏ ở
nhiệt độ dưới 20oC; ở nhiệt độ cao hơn nó là chất lỏng linh
động với mùi hắc của dầu hạt hồi.
(7) Nitrophenetoles, là dẫn xuất nitro hóa của phenetole. o-
Nitrophenetole là dạng dầu màu vàng. p-Nitrophenetole ở dạng
kết tinh.
(8) Nitroanisoles, là dẫn xuất nitro của anisole. o-Nitroanisole là
chất lỏng. m- và p-Nitroanisol là tinh thể hình lá. Trinitroanisole
là chất nổ mạnh.
(9) 2-tert-Butyl-5-methyl-4,6-dinitroanisole (xạ hương ambrette),
dạng tinh thể hơi vàng, kết hợp mùi thơm của tinh dầu ambrette
và mùi của xạ hương tự nhiên.
(10) β-Naphthyl methyl và ethyl ete (tinh dầu neroli nhân tạo). Bột
kết tinh không màu có mùi giống mùi tinh dầu hoa cam.
(11) Methyl ete của m-cresol và butyl-m-cresols.
(B) CÁC RƯỢU - ETE
Chúng được tạo ra từ rượu đa chức hoặc rượu – phenol bằng cách thay
thế nguyên tử hydro của nhóm phenolic hydroxyl (trong trường hợp
rượu - phenol), hoặc của một trong những nhóm alcoholic hydroxyl
(trong trường hợp rượu đa chức), bằng gốc alkyl hoặc aryl.
(1) 2,2’-Oxydiethanol (diethylene glycol, digol). Là chất lỏng không
màu; dùng trong tổng hợp hữu cơ, dùng như một dung môi cho gôm
và nhựa, dùng trong sản xuất chất nổ và vật liệu plastic.
(2) Ete monomethyl, monoethyl, monobutyl và ete monoalkyl khác
của ethylene glycol hoặc diethylene glycol.
(3) Ete Monophenyl của ethylene glycol hoặc diethylene glycol.
(C) CÁC PHENOL - ETE VÀ PHENOL- RƯỢU - ETE
Được tạo ra từ các dihydric phenol hoặc rượu phenol bằng cách thay thế
hydro của nhóm alcohol hydroxyl (trong trường hợp của rượu phenol),
hoặc của một trong những nhóm phenol hydroxyl (trong trường hợp của
dihydric phenol), bằng gốc alkyl hoặc aryl.
(1) Guaiacol*, tìm thấy trong hắc ín gỗ (beech-wood). Là thành phần
chính của creosote gỗ. Dạng tinh thể không màu, có mùi thơm đặc
trưng; nhưng khi đun chảy thì guaiacol ở dạng dung dịch. Dùng
trong y học và dùng trong tổng hợp hữu cơ.
(2) Sulfogaiacol (INN) (potassium guaiacolsulphonate), bột mịn, dùng
trong y học.
(3) Eugenol, thu được từ cây đinh hương, là chất lỏng không màu, có
mùi hoa cẩm chướng.
(4) Isoeugenol, được tổng hợp từ eugenol. Thành phần của dầu hạt
nhục đậu khấu.
(5) Pyrocatechol monoethyl ete (guaethol), tìm thấy trong dầu gỗ thông
Thụy Điển. Có tính ăn da, tinh thể không màu, có mùi thơm.
(D) CÁC PEROXIT RƯỢU,
PEROXIT ETE, PEROXIT AXETAL VÀ PEROXIT
HEMIAXETAL VÀ PEROXIT XETON
Đây là hợp chất của của ROOH và ROOR1, trong đó R và R1 là các gốc
hữu cơ.
Ví dụ, ethyl hydroperoxide, diethyl peroxide.
Nhóm này cũng bao gồm các peroxit axetal và các peroxit hemiaxetal,
ví dụ, 1,1-di(tert-butylperoxy)cyclohexane*, cũng như xeton peroxit
(đã hoặc chưa được xác định về mặt hóa học), ví dụ, cyclohexanone
Nhóm này cũng bao gồm các dẫn xuất halogen hóa, sulphonat hóa, nitro
hóa hoặc nitroso hóa của các ete, rượu - ete, phenol - ete, phenol-rượu-
ete, peroxit rượu, ete peroxit hoặc xeton peroxit và các dẫn xuất hợp chất
của chúng (ví dụ các dẫn xuất nitro-sulphonat hóa, sulphol-halogen hóa,
nitro-halogen hóa và nitro-sulpho-halogen hóa).