chu giai 2022 chuong 28 29_1
PHẦN VI
SẢN PHẨM CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP HOÁ CHẤT HOẶC
CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP LIÊN QUAN
Chú giải.
1.- (A) Các mặt hàng (trừ quặng phóng xạ) đáp ứng các mô tả trong
nhóm 28.44 hoặc 28.45 phải được xếp vào các nhóm đó và
không được đưa vào nhóm nào khác của Danh mục.
(B) Theo Chú giải mục (A) trên, các mặt hàng đáp ứng các mô tả
trong nhóm 28.43, 28.46 hoặc 28.52 được xếp vào các nhóm đó
và không được đưa vào nhóm nào khác của Phần này.
2.- Theo Chú giải 1 ở trên, các mặt hàng xếp vào các nhóm 30.04,
37.07 hoặc 38.08 vì đã được đóng gói theo liều lượng hoặc đóng
gói để bán lẻ được xếp vào các nhóm đó và không xếp vào bất cứ
nhóm nào khác của Danh mục.
3. - Các mặt hàng đóng gói thành bộ gồm từ hai hoặc nhiều phần cấu
thành riêng biệt, trong đó một vài hoặc tất cả các phần cấu thành của
các mặt hàng đó nằm trong Phần này và chúng được trộn với nhau để
tạo ra một sản phẩm của Phần VI hoặc VII, phải được xếp vào nhóm
phù hợp với sản phẩm đó, với điều kiện là các phần cấu thành phải:
(a) theo cách thức đóng gói của chúng cho thấy rõ ràng là chúng
được sử dụng cùng nhau mà không cần phải đóng gói lại;
(b) được trình bày cùng nhau; và
(c) có thể nhận biết là chúng nhằm bổ sung cho nhau, thông qua bản
chất hoặc tỷ lệ tương ứng của chúng trong sản phẩm.
4.- Trường hợp sản phẩm đáp ứng mô tả tại một hoặc nhiều nhóm
trong Phần VI do được mô tả theo tên hoặc nhóm chức và đáp
ứng nhóm 38.27, thì sản phẩm đó được phân loại vào nhóm
tương ứng theo tên hoặc nhóm chức và không phân loại vào
nhóm 38.27.
KHÁI QUÁT CHUNG
Chú giải 1.
Theo các quy định của mục (A) của Chú giải này, tất cả các nguyên tố
hóa học phóng xạ và các đồng vị phóng xạ, và các hợp chất của các
nguyên tố và cácchất đồng vị (có thể là vô cơ hoặc hữu cơ, và đã hoặc
chưa được xác định về mặt hóa học), được phân loại ở nhóm 28.44, ngay
cả khi chúng cũng có thể được phân loại vào nhóm khác của Danh mục.
Ví dụ, glyxêrin phóng xạ và natri clorua phóng xạ được phân loại vào
nhóm 28.44 chứ không được phân loại vào nhóm 25.01 hoặc 29.05.
Tương tự, trong mọi trường hợp ethyl alcochol phóng xạ, vàng phóng xạ
và coban phóng xạ sẽ được phân loại trong nhóm 28.44. Tuy nhiên, cũng
cần chú ý, các loại quặng phóng xạ được phân loại trong Phần V của
Danh mục.
Trong trường hợp các chất đồng vị không phóng xạ và các hợp chất của
chúng, Chú giải quy định các chất này (ở dạng vô cơ hoặc hữu cơ, và đã
hoặc chưa được xác định về mặt hóa học) được phân loại ở nhóm 28.45
và không được phân loại ở nơi nào khác trong Danh mục. Như vậy, các
đồng vị của cacbon được phân loại vào nhóm 28.45 và không được phân
loại vào nhóm 28.03.
Mục (B) của Chú giải quy định các hàng hoá được mô tả trong nhóm
28.43, 28.46 hoặc 28.52 được phân loại vào bất kỳ nhóm nào phù hợp
trong các nhóm đó và không được phân loại vào nhóm khác ở Phần VI,
với điều kiện là chúng không phải là chất phóng xạ hoặc không ở dạng
đồng vị (trong trường hợp chúng được phân loại trong nhóm 28.44 hoặc
nhóm 28.45). Do đó, mục này của Chú giải quy định, ví dụ, bạc caseinat
được phân loại vào nhóm 28.43 chứ không được phân loại vào nhóm
35.01, và nitrat bạc, ngay cả khi được đóng gói để bán lẻ để sử dụng
trong chụp ảnh, được phân loại vào nhóm 28.43 chứ không phải ở nhóm
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý các nhóm 28.43, 28.46 và 28.52 chỉ được ưu
tiên hơn các nhóm khác trong Phần VI. Khi các hàng hóa được miêu tả
trong nhóm 28.43, 28.46 hoặc 28.52 cũng được xếp vào các nhóm trong
các Phần khác của Danh mục, việc phân loại các hàng hóa đó phụ thuộc
vào việc áp dụng các Chú giải Phần hoặc Chương liên quan và các Quy
tắc Tổng quát của Hệ thống Hài hoà. Theo đó, gadolinite,một hợp chất
của kim loại đất hiếm và dù được nêu trong nhóm 28.46, vẫn được phân
loại vào nhóm 25.30 bởi vì Chú giải 3 (a) của Chương 28 loại trừ tất cả
sản phẩm khoáng của Phần V.
Chú giải 2.
Chú giải Phần 2 quy định các hàng hoá (trừ các loại đã được miêu tả
trong nhóm từ 28.43 đến 28.46 hoặc 28.52) đã được nêu trong các nhóm
37.07 hoặc 38.08 vì đã được đóng gói theo liều lượng định sẵn hoặc để
bán lẻ, sẽ được phân loại vào các nhóm đó mặc dù chúng cũng có thể
được phân loại vào một vài nhóm khác của Danh mục. Ví dụ, lưu huỳnh
được đóng gói để bán lẻ để điều trị bệnh được phân loại trong nhóm
30.04 và không được phân loại vào nhóm 25.03 hoặc 28.02, và dextrin
được đóng gói để bán lẻ như là một loại keo được phân loại vào nhóm
35.06 và không được phân loại vào nhóm 35.05.
Chú giải 3.
Chú giải này liên quan đến phân loại của các sản phẩm được đóng gói
thành bộ gồm hai hoặc nhiều thành phần riêng rẽ, một số hoặc tất cả các
thành phần này được phân loại vào Phần VI. Tuy nhiên, Chú giải này
được giới hạn bởi các bộ mà thành phần trong đó dự định được trộn cùng
nhau để tạo ra một sản phẩm của Phần VI hoặc Phần VII. Những bộ sản
phẩm đó sẽ được phân loại trong nhóm phù hợp với sản phẩm này với
điều kiện là các bộ phận cấu thành phải đáp ứng các điều kiện từ mục (a)
đến mục (c) của Chú giải.
Ví dụ về các hàng hoá trong những bộ sản phẩm như vậy là xi măng gắn
răng và chất hàn răng khác thuộc nhóm 30.06 và một số loại véc ni và
sơn của các nhóm từ 32.08 đến 32.10 và các loại ma tít, v.v, của nhóm
32.14. Liên quan đến phân loại các hàng hóa được đóng gói mà không có
chất làm tăng độ cứng cần thiết, - hãy tham khảo Chú giải Chi tiết Tổng
quát của Chương 32 và Chú giải Chi tiết nhóm 32.14.
Cần lưu ý rằng các hàng hoá được đóng gói thành bộ bao gồm hai hoặc
nhiều thành phần riêng rẽ, một số hoặc tất cả các thành phần đó được xếp
vào Phần VI, dự định được sử dụng lần lượt mà không cần trộn trước,
sẽ không được phân loại theo Chú giải 3 của Phần này. Những hàng hóa
được đóng gói để bán lẻ đó sẽ được phân loại khi áp dụng các Quy tắc
Giải thích Tổng quát (thường là Quy tắc 3 (b)); trong trường hợp mà các
sản phẩm đó không được đóng gói để bán lẻ thì các bộ phận cấu thành sẽ
được phân loại riêng rẽ.
Chú giải 4.
Chú giải Phần 4 quy định rằng nhóm 38.27 không được ưu tiên hơn các
nhóm khác trong Phần VI khi đề cập đến hàng hóa theo tên hoặc nhóm
chức. Vì vậy, ví dụ, hàng hóa có thể thuộc loại đầu tiên của nhóm 38.14,
như “hỗn hợp dung môi hữu cơ” và nhóm 38.27, sẽ được phân loại vào
nhóm 38.14, mặc dù nội dung của cả loại đầu tiên của nhóm 38.14 và
nhóm 38.27 có cùng cụm từ “chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác”.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nhóm 38.27 được ưu tiên hơn nhóm 38.24 vì
nhóm này không đề cập đến những hàng hóa đó theo tên hoặc nhóm
chức.
Chương 28
Hoá chất vô cơ; các hợp chất vô cơ hoặc hữu cơ của kim loại quý,
kim loại đất hiếm, các nguyên tố phóng xạ hoặc các chất đồng vị
Chú giải.
1.- Trừ khi có yêu cầu khác, các nhóm thuộc Chương này chỉ bao gồm:
(a) Các nguyên tố hoá học riêng biệt và các hợp chất được xác định về
mặt hoá học riêng biệt, có hoặc không chứa tạp chất;
(b) Các sản phẩm được nêu ở mục (a) trên đây đã được hoà tan trong
nước;
(c) Các sản phẩm nêu ở mục (a) trên đây hoà tan trong các dung môi
khác miễn là sự hoà tan chỉ là một phương pháp thông thường và
cần thiết để đóng gói những sản phẩm nhằm mục đích duy nhất là
bảo đảm an toàn hoặc để vận chuyển và dung môi ấy không làm cho
sản phẩm có công dụng đặc biệt ngoài công dụng thông thường của
nó;
(d) Các sản phẩm được đề cập ở mục (a), (b) hoặc (c) trên đây có thêm
một chất ổn định (kể cả chất chống đóng cứng) cần thiết cho sự bảo
quản hoặc vận chuyển;
(e) Các sản phẩm được đề cập ở mục (a), (b), (c) hoặc (d) trên đây có
thêm chất chống bụi hoặc chất màu để dễ nhận biết hoặc để đảm
bảo an toàn miễn là sự pha thêm này không làm cho sản phẩm có
công dụng đặc biệt ngoài công dụng thông thường của nó.
2.- Ngoài các dithionit và sulphoxylat, đã được làm ổn định bằng các
chất hữu cơ (nhóm 28.31), carbonat và peroxocarbonat của các bazơ
vô cơ (nhóm 28.36), xyanua, oxit xyanua và xyanua phức của các
bazơ vô cơ (nhóm 28.37), fulminat, xyanat và thioxyanat, của các
bazơ vô cơ (nhóm 28.42), các sản phẩm hữu cơ thuộc các nhóm từ
28.43 đến 28.46 và 28.52 và carbua (nhóm 28.49), chỉ các hợp chất
carbon sau đây là được xếp vào Chương này:
(a) Oxit carbon, hydroxyanua và axit funminic, isoxyanic, thioxyanic
và các axit xyanic đơn hoặc phức khác (nhóm 28.11);
(b) Các oxit halogenua của carbon (nhóm 28.12);
(c) Carbon disulphua (nhóm 28.13);
telluroxyanat, tetrathio-cyanatodiamminochromates (reineckates) và
các xyanat phức khác, của các bazơ vô cơ (nhóm 28.42);
(e) Hydro peoxit, được làm rắn bằng urê (nhóm 28.47), oxysulphua
carbon, halogenua thiocarbonyl, xyanogen, halogenua xyanogen và
xyanamit và các dẫn xuất kim loại của chúng (nhóm 28.53) trừ
xyanamit canxi, dạng tinh khiết hoặc không tinh khiết (Chương 31).
3.- Theo Chú giải 1 của Phần VI, Chương này không bao gồm:
(a) Natri clorua hoặc magiê oxit, tinh khiết hoặc không tinh khiết, hoặc
các sản phẩm khác của Phần V;
(b) Các hợp chất hữu cơ - vô cơ trừ các hợp chất đã nêu tại Chú giải 2
trên đây;
(c) Các sản phẩm nêu tại Chú giải 2, 3, 4 hoặc 5 của Chương 31;
(d) Các sản phẩm vô cơ sử dụng như chất phát quang, thuộc nhóm
32.06; frit thuỷ tinh và thuỷ tinh khác ở dạng bột, hạt hoặc mảnh,
thuộc nhóm 32.07;
(e) Graphit nhân tạo (nhóm 38.01); các sản phẩm dùng như chất dập
lửa, để nạp cho bình cứu hoả hoặc lựu đạn dập lửa, thuộc nhóm
38.13; chất tẩy mực đóng gói để bán lẻ, thuộc nhóm 38.24; tinh thể
nuôi cấy (trừ các bộ phận quang học) halogenua kim loại kiềm hoặc
kiềm thổ được tạo ra nặng không dưới 2,5g mỗi tinh thể, thuộc
nhóm 38.24;
(f) Đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo) hoặc bụi
hoặc bột của các loại đá đó (nhóm 71.02 đến 71.05), hoặc kim loại
quý hoặc hợp kim kim loại quý thuộc Chương 71;
(g) Kim loại, nguyên chất hoặc không nguyên chất, các hợp kim hoặc
gốm kim loại, kể cả carbua kim loại được thiêu kết (carbua kim loại
được thiêu kết với một kim loại), thuộc Phần XV; hoặc
(h) Các bộ phận quang học, ví dụ, loại làm bằng halogenua kim loại
kiềm hoặc kiềm thổ (nhóm 90.01).
4.- Các axit phức đã được xác định về mặt hoá học bao gồm một axit
phi kim loại thuộc phân Chương II và một axit kim loại thuộc phân
Chương IV phải được xếp vào nhóm 28.11.
5.- Các nhóm 28.26 đến 28.42 chỉ áp dụng cho muối kim loại hoặc
muối amoni hoặc muối peroxy.
Loại trừ có yêu cầu khác, các muối kép hoặc phức được phân loại
trong nhóm 28.42.
6.- Nhóm 28.44 chỉ áp dụng cho:
(a) Tecneti (nguyên tố số 43), prometi (nguyên tố số 61), poloni
(nguyên tố số 84) và tất cả các nguyên tố có số thứ tự trong bảng
tuần hoàn lớn hơn 84;
(b) Các chất đồng vị phóng xạ tự nhiên hoặc nhân tạo (kể cả các chất
đồng vị phóng xạ của kim loại quý hoặc kim loại cơ bản thuộc Phần
XIV và XV), đã hoặc chưa pha trộn với nhau;
(c) Hợp chất, vô cơ hoặc hữu cơ, của các nguyên tố hoặc các chất đồng
vị của chúng, đã hoặc chưa xác định về mặt hoá học, đã hoặc chưa
trộn với nhau;
(d) Hợp kim, các chất phân tán (kể cả gốm kim loại), các sản phẩm
gốm và hỗn hợp chứa các nguyên tố hoặc chất đồng vị hoặc các hợp
chất vô cơ hoặc hữu cơ từ các chất đó, có nồng độ phóng xạ riêng
(đặc trưng) trên 74 Bq/g (0,002 μCi/g);
(e) Ống (cartridges) nhiên liệu đã bức xạ của lò phản ứng hạt nhân;
(f) Chất thải phóng xạ còn sử dụng được hoặc không.
Theo mục đích của Chú giải này và cách diễn đạt của các nhóm
28.44 và 28.45, thuật ngữ “chất đồng vị”, đề cập tới:
- các hạt nhân riêng lẻ, không kể những hạt nhân tồn tại trong thiên
nhiên dưới dạng chất đồng vị đơn;
- hỗn hợp các chất đồng vị của một nguyên tố và nguyên tố đó, đã
được làm giàu bằng một hoặc vài chất đồng vị nói trên, nghĩa là các
nguyên tố mà thành phần đồng vị tự nhiên đã được làm thay đổi
một cách nhân tạo.
7.- Nhóm 28.53 bao gồm đồng phosphua (phosphor copper) có chứa
trên 15% tính theo trọng lượng của phospho.
8.- Các nguyên tố hoá học (ví dụ, silic và selen) đã được kích tạp dùng
trong ngành điện tử phải xếp vào Chương này, nhưng chúng phải ở
dạng chưa gia công như kéo, hoặc ở dạng hình trụ hoặc dạng que.
Khi được cắt thành hình đĩa, miếng hoặc hình dáng tương tự, chúng
phải được xếp vào nhóm 38.18.
Chú giải phân nhóm.
1. Theo mục đích của phân nhóm 2852.10, thuật ngữ "xác định về mặt
hóa học" có nghĩa là tất cả các hợp chất vô cơ hoặc hữu cơ của thủy
ngân đáp ứng yêu cầu của đoạn (a) tới (e) của Chú giải 1 Chương
28 hoặc đoạn (a) tới (h) của Chú giải 1 chương 29.
KHÁI QUÁT CHUNG
Trừ khi có những yêu cầu khác, Chương 28 được giới hạn cho các
nguyên tố hóa học riêng biệt và các hợp chất đã được xác định về mặt
hóa học riêng biệt.
Một hợp chất đã được xác định về mặt hoá học riêng biệt gồm có một
loại phân tử (ví dụ, cộng hoá trị hoặc ion) mà thành phần được xác định
bởi một tỉ lệ không đổi của các nguyên tố và có thể được miêu tả bởi
biểu đồ cấu trúc đã xác định. Trong một mạng tinh thể, loại phân tử
tương ứng với các ô mạng cơ sở lặp lại.
Các nguyên tố của một hợp chất đã được xác định về mặt hoá học riêng
biệt kết hợptheomột tỉ lệ cụ thểđược xác định bởihóa trịvàliên kết của
nguyên tử. Tỉ lệcủa mỗi nguyên tốlà không đổi vàcụ thể cho từnghợp
chấtvàcân bằng về mặt hóa học.
Sự chênh lệch nhỏtrongtỷ lệcân bằng hóa họccó thể xảy ravìnhững
khoảng trốnghoặcchèntrongmạng tinh thể.Các hợp chất nàyđược mô tả
nhưcân bằng hóa họcvàđược phépxác định như là các hợp chấtđã được
xác định về mặt hoá học riêng biệt với điều kiện là sự chênh
lệchkhôngđược cố ý tạo ra.
(A) Các nguyên tố và hợp chất đã được xác định về mặt hóa học
(Chú giải 1)
Các nguyên tố hóa học riêng biệt và các hợp chất đã được xác định về
mặt hóa học riêng biệt chứa các tạp chất, hoặc hòa tan trong nước, vẫn
được phân loại ở Chương 28.
Thuật ngữ "không tinh khiết" áp dụng riêng cho các chất mà sự có mặt
của chúng ở dạng hợp chất hóa học đơn, duy nhất và trực tiếp thu được từ
quá trình sản xuất (kể cả việc tinh chế). Các chất này có thể là kết quả từ
bất kỳ yếu tố nào liên quan đến quá trình sản xuất và chủ yếu các dạng
(a) Nguyên liệu ban đầu không chuyển hóa.
(b) Các tạp chất có trong nguyên liệu ban đầu.
(c) Các thuốc thử được sử dụng trong quá trình sản xuất (kể cả việc tinh chế).
(d) Các sản phẩm phụ.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, những chất như vậy không phải trong tất cả
các trường hợp đều được xem là "tạp chất" theo Chú giải 1 (a). Khi các
chất này được cố ý để lại trong sản phẩm nhằm làm cho nó đặc biệt thích
hợp cho công dụng riêng hơn là công dụng chung, thì chúng không
được xem như là các tạp chất cho phép.
Các nguyên tố và các hợp chất như thế bị loại trừ khỏi Chương 28 khi
chúng hòa tan trong dung môi trừ nước, trừ khi sự hòa tan này là một
phương pháp thông thường và cần thiết để đóng gói những sản phẩm
nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo an toàn hoặc vận chuyển (trong
trường hợp này dung môi không làm cho sản phẩm có công dụng đặc biệt
ngoài công dụng thông thường của nó).
Vì vậy, cacbon clorua oxit được hòa tan trong benzen, dung dịch rượu
của amoniac và dung dịch keo của hydroxit nhôm bị loại trừ khỏi
Chương này và được phân loại vào nhóm 38.24. Nói chung, keo phân tán
được phân loại vào nhóm 38.24, trừ khi được phân loại vào một nhóm
đặc trưng hơn.
Các nguyên tố và các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng
biệt được mô tả ở trên, mà có thêm các chất ổn định cần thiết cho việc
bảo quản hoặc vận chuyển của chúng, vẫn được phân loại vào Chương
này. Ví dụ, hydro peroxit được ổn định bằng cách thêm axit boric thì vẫn
được phân loại vào nhóm 28.47; nhưng natri peroxit trộn với chất xúc tác
(cho sản xuất hydro peroxit) bị loại trừ Chương 28 và được phân loại
vào nhóm 38.24).
Các sản phẩm được thêm vào một số hóa chất nhằm giữ những sản phẩm
này ở trạng thái vật lý ban đầu của chúng cũng sẽ được coi như là các
chất ổn định, với điều kiện lượng thêm vào trong trường hợp nào cũng
không được vượt quá lượng cần thiết để đạt được kết quả mong muốn và
chất thêm vào không làm thay đổi tính chất của sản phẩm gốc và không
được sử dụng cho mục đích đặc biệt khác ngoài mục đích sử dụng thông
thường đã quy định. Bằng cách áp dụng những quy định này, các tác
nhân chống keo tụ có thể được thêm vào các sản phẩm của Chương
này. Nói cách khác, những sản phẩm như vậy được thêm các tác nhân
không thấm nước sẽ bị loại trừ, khi những tác nhân này làm biến đổi
các đặc tính ban đầu của các sản phẩm.
Trong những điều kiện như vậy, phần thêm vào không làm cho chúng
thích hợp cho công dụng riêng hơn là công dụng chung đã được quy
định, các sản phẩm thuộc Chương này cũng có thể bao gồm:
(a) Việc thêm vào các tác nhân chống bụi (ví dụ, dầu khoáng được thêm
một số hóa chất có độc tố nhằm ngăn ngừa bụi trong quá trình xử lý).
(b) Các chất màu được thêm vào nhằm dễ dàng phát hiện hoặc được
thêm vào vì lý do độ an toàn đối với các hóa chất nguy hiểm hoặc
độc (ví dụ, chì asenat của nhóm 28.42) như một "ký hiệu" hoặc dấu
hiệu cảnh báo cho những người tiếp xúc với các sản phẩm này. Tuy
nhiên, những sản phẩm mà các chất màu được thêm vào vì các lý
do khác (ví dụ, gel silic dioxit được tẩm thêm chất màu là muối
coban để sử dụng như một chất chỉ thị độ ẩm (nhóm 38.24)), cũng
bị loại trừ.
(B) Sự khác biệt giữa các hợp chất của Chương 28
và các hợp chất của Chương 29.
(Chú giải 2)
Sau đây là danh mục các hợp chất có chứa cacbon mà chúng đã được
phân loại vào Chương 28, và các nhóm mà chúng sẽ được phân loại:
Nhóm 28.11 - Các Oxit cacbon.
Hydro cyanua, Hydrohexaxyanoferate (II) và Hydro
Xyanomolibdic và các axit xyanogen đơn và phức khác.
Nhóm 28.12 - Cacbon Halogenua oxit.
Nhóm 28.13- Cacbon Disunfua.
Nhóm 28.31- Dithionit và sulphoxylat, được ổn định bằng các chất hữu cơ.
Nhóm 28.36 - Các Cacbonat và peroxocacbonat, của các bazơ vô cơ.
Nhóm 28.37 - Xyanua, Xyanua oxit và Xyanua phức (Hexaxyanoferat
Xyanonicollat, Xyanocuprat, .. ) của các bazơ vô cơ.
Nhóm 28.42 - Thiocacbonat, selennocacbonat, tellurocacbonat,
tetrathiocyanatodiamminochromat (reienckat) và xyanat
kép hoặc phức khác, của các bazơ vô cơ.
Nhóm 28.43 đến 28.46 - Các hợp chất vô cơ và hữu cơ của:
(i) Các kim loại quý.
(ii) Các nguyên tố phóng xạ.
(iii) Các đồng vị.
(iv) Các kim loại đất hiếm, ytri hoặc scandi.
Nhóm 28.47 - Hydro peroxit, đã làm rắn bằng ure, đã hoặc chưa được ổn
định.
Nhóm 28.49 - Các carbua (carbua có 2 nguyên tố hóa học, borocarbua,
carbonitrua,...) trừ hydro carbua (hydrocarbon)
Nhóm 28.52 - Các hợp chất vô cơ và hữu cơ của thuỷ ngân, đã hoặc chưa
xác định về mặt hoá học, trừ hỗn hống.
Nhóm 28.53 – Carbon oxysulphua. thiocarbonyl halogenua.
Xyanogen và các hợp chất halogen của xyanogen.
Xyanamit và dẫn xuất kim loại của nó (trừ canxi
xyanamit, tinh khiết hoặc không tinh khiết – xem
Chương 31).
Tất cả các hợp chất cacbon khác bị loại khỏi Chương 28.
(C) Những sản phẩm vẫn được phân loại vào Chương 28, ngay cả khi
chúng không phải là các nguyên tố hóa học riêng biệt hoặc không là
các hợp chất đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt.
Đây là một số ngoại lệ đối với quy tắc là Chương này được giới hạn cho
các nguyên tố hóa học riêng biệt và các hợp chất đã được xác định riêng
biệt về mặt hóa học. Sự loại trừ bao gồm các sản phẩm sau:
Nhóm 28.02 - Lưu huỳnh dạng keo.
Nhóm 28.03 - Muội than.
Nhóm 28.07 – Oleum (axit sunfuric bốc khói).
Nhóm 28.08 - Axit sulphonitric.
Nhóm 28.09 - Axit Polyphosphoric.
Nhóm 28.13 - Phospho trisulphua.
Nhóm 28.18 - Corundum nhân tạo.
Nhóm 28.21 - Đất màu có chứa từ 70% trở lên tính theo trọng lượng
các hợp chất của sắt được đánh giá như Fe2O3.
Nhóm 28.22 - Coban oxit thương phẩm.
Nhóm 28.24 - Chì đỏ và chì da cam.
Nhóm 28.28 - Canxi hypoclorit thương phẩm.
Nhóm 28.30 – Polysulphua.
Nhóm 28.31 - Dithionit và sulphoxylat, đã được ổn định với các
chất hữu cơ.
Nhóm 28.35 – Polyphotphat.
Nhóm 28.36 - Amonicarbonat thương phẩm có chứa amoni
Nhóm 28.39 - Silicat kim loại kiềm thương phẩm.
Nhóm 28.42 – Nhôm silicat.
Nhóm 28.43 - Kim loại quý dạng keo.
- Hỗn hống của các kim loại quý.
- Các hợp chất hữu cơ hoặc vô cơ của các kim loại quý.
Nhóm 28.44 - Các nguyên tố phóng xạ, đồng vị phóng xạ hoặc các hợp
chất (vô cơ hoặc hữu cơ) và hỗn hợp có chứa các chất này.
Nhóm 28.45 - Các loại đồng vị khác và hợp chất của chúng (hữu cơ hoặc
vô cơ).
Nhóm 28.46 - Các hợp chất, vô cơ hoặc hữu cơ, của các kim loại đất
hiếm, của ytri hoặc scandi hoặc hỗn hợp của các kim loại
này.
Nhóm 28.49 – Carbua.
Nhóm 28.50 - Các hydrua, nitrua, azit, silixic và borua.
Nhóm 28.52 – Các hợp chất hữu cơ và vô cơ của thuỷ ngân, trừ các
hỗn hỗng.
Nhóm 28.53 - Phosphua, khí hóa lỏng và khí nén.
Các loại hỗn hống trừcác hỗn hống của kim loại quý xem
nhóm 28.43 ở trên.
(D) Loại trừ khỏi Chương 28 một số nguyên tố hóa học riêng biệt và
một số hợp chất vô cơ đã được xác định về mặt hóa học riêng biệt.
(Chú giải 3 và 8)
Một số nguyên tố hóa học riêng biệt và một số hợp chất vô cơ đã được
xác định về mặt hóa học riêng biệt luôn bị loại trừ khỏi Chương 28, ngay
cả khi chúng là dạng tinh khiết.
Ví dụ là:
(1) Một số sản phẩm của Chương 25 (có nghĩa là natri clorua (NaCl) và
oxit magiê (MgO)).
(2) Một số muối vô cơ của Chương 31 (có nghĩa là natri nitrat (NaNO3),
amoni nitrat (NH4NO3), các muối kép của amoni sulphat và amoni
nitrat, amoni sulphat, các muối kép của canxi nitrat (Ca(NO3)2) và
amoni nitrat, các muối kép của canxi nitrat và magie nitrat, và amoni
dihydroorthophosphat và diamoni hydroorthophosphat (monoamoni
hoặc diamoni photsphat); ngoài ra còn kali clorua (KCl), mặc dù trong
một số trường hợp nhất định có thể được phân loại vào nhóm 38.24
hoặc 90.01).
(3) Graphit nhân tạo của nhóm 38.01.
(4) Các loại đá quý hoặc đá bán qúy (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo), và
bụi hoặc bột của các loại đá như vậy thuộc Chương 71.
(5) Kim loại quý và kim loại cơ bản, bao gồm cả hợp kim của các kim
loại đó, thuộc Phần XIV hoặc XV.
Một số nguyên tố riêng biệt hoặc các hợp chất hóa học đã được xác định
về mặt hóa học riêng biệt khác, mà trong trường hợp khác chúng được
phân loại vào Chương 28, có thể bị loại trừ khi chúng được đóng gói ở
dạng nhất định, hoặc nếu chúng đã qua một số quá trình xử lý mà thành
phần hóa học của chúng không thay đổi (*).
(*) Việc loại trừ này không ảnh hưởng đến các sản phẩm có thể
phân loại vào các nhóm từ 28.43 đến 28.46 và 28.52 (xem Chú
giải 1 và 2 của Phần VI).
Ví dụ là:
(a) Các sản phẩm phù hợp dùng cho phòng hoặc chữa bệnh, được đóng
gói thành liều hoặc ở dạng nhất định hoặc được đóng gói để bán lẻ
(nhóm 30.04).
(b) Các sản phẩm thuộc loại sử dụng làm chất phát quang (ví dụ: canxi
tungstat) mà đã được xử lý để làm cho chúng phát quang (nhóm
(c) Nước hoa, mỹ phẩm hoặc các chế phẩm vệ sinh (ví dụ, phèn), được
đóng gói để bán lẻ cho việc sử dụng như vậy (các nhóm từ 33.03 đến
(d) Các sản phẩm phù hợp sử dụng làm chất kết dính hoặc keo dán (ví dụ,
natri silicat đã hòa tan trong nước), được đóng gói để bán lẻ làm chất
kết dính hoặc keo dán mà trọng lượng tịnh không quá 1 kg (nhóm
(e) Các sản phẩm nhiếp ảnh (ví dụ, natri thiosulphat), được phân liều
hoặc đóng gói để bán lẻ ở dạng sử dụng ngay cho nhiếp ảnh (nhóm
(f) Thuốc trừ sâu,... (ví dụ, natri tetraborat) đã đóng gói như mô tả ở
nhóm 38.08.
(g) Các sản phẩm (ví dụ, axit sulphuric) được sử dụng như chất liệu nạp
cho bình dập lửa hoặc lựu đạn dập lửa (nhóm 38.13).
(h) Các nguyên tố hóa học (ví dụ, silic và selen) được kích tạp để sử dụng
trong điện tử, ở dạng đĩa, tấm mỏng hoặc các dạng tương tự (nhóm
(ij) Chất tẩy mực được đóng gói bán lẻ (nhóm 38.24).
(k) Các halogenua của kim loại kiềm hoặc của các kim loại kiềm thổ (ví
dụ, liti florua (LiF), canxi florua (CaF2), potassium bromoiodide, ...), ở
dạng của bộ phận quang học (nhóm 90.01) hoặc của các tinh thể cấy
mà khối lượng không quá 2,5g cho mỗi tinh thể (nhóm 38.24).
(E) Các sản phẩm có khả năng được phân loại ở hai hay nhiều nhóm
của Chương 28.
Chú giải 1 Phần 6 đề cập đến vấn đề của các sản phẩm có khả năng phân
loại:
(a) Trong nhóm 28.44 hoặc 28.45, và cũng trong một vài nhóm khác của
Chương 28.
(b) Trong nhóm 28.43, 28.46 hoặc 28.52 và cũng trong một vài nhóm
khác của Chương 28 (trừ nhóm 28.44 hoặc 28.45).
Các axit phức đã xác định về hóa học bao gồm một axit phi kim (của
phân Chương II) và một axit kim loại (của phân Chương IV) được phân
loại trong nhóm 28.11 (xem Chú giải 4 của Chương 28 và Chú giải Chi
tiết nhóm 28.11).
Trừ khi có các yêu cầu khác, các muối vô cơ dạng phức hoặc kép được
phân loại trong nhóm 28.42 (xem Chú giải 5 của Chương 28 và Chú giải
Chi tiết nhóm 28.42).
PHÂN CHƯƠNG I
CÁC NGUYÊN TỐ HOÁ HỌC
KHÁI QUÁT CHUNG
Các nguyên tố hóa học có thể chia thành hai nhóm, các nguyên tố kim
loại và phi kim. Nhìn chung, phân Chương này bao gồm tất cả các
nguyên tố phi kim, ít nhất là ở một số dạng của chúng, trong khi một số
lớn các kim loại được phân loại ở nơi khác: - các kim loại quý (Chương
71 và nhóm 28.43), các kim loại cơ bản (các Chương từ 72 đến 76 và
từ Chương 78 đến 81) và các nguyên tố hóa học phóng xạ và các đồng
vị (nhóm 28.44) và các đồng vị bền vững (nhóm 28.45).
Dưới đây là bảng danh sách các nguyên tố được xếp theo thứ tự trong
bảng chữ cái nêu rõ cách phân loại thích hợp của chúng. Một số nguyên
tố, như antimon, có cả tính kim loại và phi kim; do đó cần chú ý khi phân
loại chúng trong Danh mục.
28.01- Flo, clo, brom và iot.
Nhóm này bao gồm các phi kim như halogen, trừ nguyên tố phóng xạ
nhân tạo (nhóm 28.44).
Flo là một chất khí màu vàng xanh nhạt, có vị cay; hít phải nó nguy hiểm
vì nó gây tổn thương niêm mạc. Flo được bảo quản trong các bình thép
chịu áp; là nguyên tố hoạt động rất mạnh, gây cháy các vật liệu hữu cơ –
đặc biệt là gỗ, các loại chất béo và các loại vải.
Flo được sử dụng để pha chế một số dẫn xuất florua và flo-hữu cơ.
Clo thường được tạo ra bởi quá trình điện phân các muối kiềm clorua,
đặc biệt từ muối natri clorua (NaCl).
Clo là một chất khí màu vàng xanh nhạt, gây ngạt, ăn mòn, nặng hơn
không khí 2,5 lần, hòa tan yếu trong nước và dễ hóa lỏng. Clo thường
được vận chuyển trong các bồn bằng thép, các xitec trên toa tầu hoả hoặc
sà lan.
Clo phá hủy các chất màu và các chất hữu cơ. Nó được sử dụng để tẩy
trắng sợi có nguồn gốc thực vật (không loại phải nguồn gốc động vật), và
trong chế biến bột giấy từ gỗ. Do có đặc tính khử trùng và kháng khuẩn,
nó cũng được sử dụng để tiệt trùng nước (khử trùng bằng clo). Nó được
sử dụng trong luyện kim vàng, thiếc, cadimi, trong sản xuất hypoclorit,
clorua kim loại và Cacbonyl clorua, trong tổng hợp hữu cơ (ví dụ, thuốc
nhuộm tổng hợp, sáp nhân tạo, cao su Clo hóa).
Brom có thể thu được nhờ phản ứng tác dụng của clo với muối kim loại
kiềm của brom trong dung dịch muối ban đầu, hoặc điện phân dung dịch
Brom là chất lỏng rất nặng (tỷ trọng 3.18 ở 00C), có tính ăn mòn, màu hơi
đỏ hoặc nâu tối, thậm chí cả khi lạnh, nó cũng bốc hơi ngạt màu đỏ, gây
cay mắt.Khi tiếp xúc với brom, da bị cháy chuyển thành màu vàng, và nó
đốt cháy các chất hữu cơ như mùn cưa. Nó được đựng trong bình
(container) thủy tinh hoặc bình gốm sành. Nó hòa tan yếu trong nước.
Nhóm này loại trừ các dung dịch brom trong axít axetic (nhóm 38.24).
Brom được sử dụng trong sản xuất thuốc (ví dụ, thuốc giảm đau), thuốc
nhuộm (ví dụ, eozin, các dẫn xuất muối brom của thuốc nhuộm chàm),
hóa chất làm ảnh (bromua bạc (AgBr)), các sản phẩm gây chảy nước mắt
(bromo-aceton), trong luyện kim,...
Iôt được chiết xuất từ dung dịch gốc của natri nitrat tự nhiên bằng cách
xử lý với với dioxit lưu huỳnh (SO2) hoặc natri hydro sulphit, hoặc từ
rong biển bằng cách phơi khô, đốt và xử lý hóa học các tro đó.
Iốt là chất rắn rất nặng (tỷ trọng 4.95 ở 0 0C), có mùi vị hơi giống cả clo
và brom, nguy hiểm khi hít phải. Nó bị thăng hoa ở nhiệt độ phòng và
làm cho tinh bột chuyển thành màu xanh. Khi không tinh khiết, nó
thường ở dạng hạt tinh thể hoặc bột thô. Khi tinh chế bằng phương pháp
thăng hoa, sẽ thu được dạng phiến mỏng màu hơi xám lấp lánh, hoặc
dạng tinh thể có ánh kim; nó thường được bảo quản trong vật dụng bằng
thủy tinh.
Iôt được sử dụng trong y học, và cũng được sử dụng để sản xuất hoá chất
làm ảnh (natri iodua), thuốc nhuộm (ví dụ, erythrosine) và thuốc tân
dược, như một chất xúc tác trong tổng hợp hữu cơ, như một thuốc thử
hóa học,....
28.02 – Lưu huỳnh, thăng hoa hoặc kết tủa; lưu huỳnh dạng keo.
(A) LƯU HUỲNH THĂNG HOA HOẶC KẾT TỦA
Lưu huỳnh ở hai dạng này thường có độ tinh khiết khoảng 99,5%.
Lưu huỳnh thăng hoa, hoặc hoa lưu huỳnh, thu được từ chưng cất
chậm lưu huỳnh thô hoặc chưa tinh khiết, sau đó được ngưng tụ thành
thể rắn (hoặc thăng hoa) như các hạt mịn nhẹ. Nó được dùng chủ yếu
trong trồng nho, trong công nghiệp hóa học hoặc trong lưu hóa cao su
hạng cao.
Nhóm này cũng bao gồm "lưu huỳnh thăng hoa đã được rửa", bằng cách
cho tác dụng với dung dịch amoniac để loại bỏ dioxit lưu huỳnh; sản
phẩm dạng này được sử dụng trong y học.
Lưu huỳnh kết tủa được phân loại ở đây thường thu được bằng cách
làm kết tủa dung dịch muối sulphua, hoặc polysulphua kim loại kiềm
hoặc kim loại kiềm thổ, với axít clohydric. Nó là dạng hạt khá mịn và có
màu vàng nhạt kém hơn so với lưu hùynh thăng hoa; mùi của nó có phần
tương tự mùi của hydro sulphua và nó biến đổi dần theo thời gian. Nó
hầu như hoàn toàn được sử dụng trong y học.
Dạng lưu huỳnh kết tủa trong nhóm này không nên lẫn với dạng lưu
huỳnh “thu hồi” (được nghiền hoặc làm thật mịn) mà đôi khi được mô tả
như là dạng “kết tủa” nhưng lại được phân loại trong nhóm 25.03.
(B) LƯU HUỲNH DẠNG KEO
Lưu huỳnh dạng keo được điều chế bằng cách cho hydro sulphua tác
dụng với dung dịch dioxit lưu huỳnh có chứa gelatin. Nó cũng có thể thu
được bằng cách cho axít khoáng tác dụng với natri thiosulphat, hoặc bằng
phương pháp thu bột từ cathod. Lưu huỳnh dạng keo là bột trắng tạo
dạng nhũ tương với nước; tuy nhiên nó có thể chỉ duy trì được ở trạng
thái này nếu một chất keo bảo quản (albumin hoặc gelatin) được thêm
vào, và thậm chí nó có thể chỉ tồn tại được trong khoảng thời gian hạn
chế. Nhóm này bao gồm các dung dịch keo đã điều chế. Giống như tất cả
các dạng keo phân tán, dạng lưu huỳnh phân tán có bề mặt tiếp xúc lớn
cho việc hấp thụ và có thể thu hút chất màu; chúng cũng có tác dụng diệt
trùng khá mạnh nên được sử dụng trong y học.
Nhóm này loại trừ lưu huỳnh chưa tinh chế được điều chế bằng phương
pháp Frasch và lưu huỳnh đã tinh chế, thậm chí chúng có độ tính khiết rất
cao (nhóm 25.03).
28.03 – Carbon (muội carbon và các dạng khác của carbon chưa được
chi tiết hoặc ghi ở nơi khác).
Carbon là một phi kim dạng rắn
Nhóm này bao gồm các loại carbon sau đây.
Muội carbon thu được từ việc đốt cháy không hoàn toàn hoặc cracking
(bằng cách gia nhiệt, bằng hồ quang điện hoặc bằng tia lửa điện) các chất
hữu cơ giàu carbon, như:
(1) Các loại khí tự nhiên như metan, các khí antraxen (tức là, khí đã chế
hoà với antraxen)và axetylen. Muội axetylen, là một sản phẩm rất
mịn và tinh khiết, được tạo ra do sự phân hủy tức thời của khí nén
axetylen bằng cách sử dụng tia lửa điện.
(2) Naphthalen, các dạng nhựa, dầu (muội đèn).
Muội carbon cũng có thể được miêu tả như một dạng bồ hóng hoặc muội
của lò nung, tùy theo với phương pháp sản xuất.
Muội carbon có thể chứa tạp chất dầu.
Muội carbon được sử dụng như một chất màu cho sản xuất sơn, mực in,
xi đánh giày,..., trong sản xuất giấy than, và cũng được sử dụng như một
tác nhân gia cố trong công nghiệp cao su.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Graphít tự nhiên (nhóm 25.04).
(b) Carbon tự nhiên ở dạng nhiên liệu rắn (than antraxit, than đá, than
non); than cốc, nhiên liệu tích tụ và khí carbon (Chương 27).
(c) Một số chất màu từ muội khoáng của nhóm 32.06 (ví dụ, muội nhôm,
muội silic, muội sét).
(d) Graphit nhân tạo; graphit dạng keo hoặc dạng bán keo (ví dụ, nhóm
(e) Carbon hoạt tính, muội động vật (nhóm 38.02).
(f) Than củi (nhóm 44.02).
(g) Carbon kết tinh ở dạng kim cương (nhóm 71.02 và 71.04).
28.04 - Hydro, khí hiếm và các phi kim loại khác.
- Khí hiếm:
2804.29 - - Loại khác
2804.30 – Nitơ
2804.61 - - Có hàm lượng silic không dưới 99,99% tính theo
trọng lượng
2804.69 - - Loại khác
Hydro được điều chế bằng phương pháp điện phân nước, hoặc từ khí than
ướt, khí lò than cốc hoặc hydrocarbon.
Thông thường hydro được coi là một phi kim. Nó được chứa dưới dạng
nén trong trong các bình bằng thép dày.
Nó được sử dụng để hydro hóa các loại dầu (các chế phẩm mỡ đặc), để
cracking các sản phẩm dầu mỏ, trong tổng hợp amoniac, để cắt hoặc hàn
kim loại (đèn xì oxy - hydro),....
Nhóm này không bao gồm doteri (đồng vị bền vững của hydro) thuộc
nhóm 28.45, và triti (đồng vị phóng xạ của hydro) thuộc nhóm 28.44.
(B) KHÍ HIẾM
Thuật ngữ “khí hiếm” (khí trơ) được áp dụng cho các nguyên tố liệt kê
dưới đây. Chúng đặc biệt vì thiếu ái lực hóa học và vì đặc tính riêng về
điện - đặc biệt là đặc tính phát tia màu (ví dụ, được sử dụng trong các
biển quảng cáo neon)dưới tác động của hiệu điện thế cao.
(1) Heli (không có khả năng cháy, ví dụ, được sử dụng cho bơm khinh
khí cầu).
(2) Neon (cho ánh sáng màu vàng - da cam hồng hoặc, kết hợp với hơi
thủy ngân, ánh sáng “ban ngày”).
(3) Argon (dạng khí không màu và không mùi được sử dụng tạo khí trơ
trong bóng đèn điện tử).
(4) Krypton (sử dụng tương tự như argon, hoặc cho ánh sáng màu tím
nhạt).
(5) Xenon (cho ánh sáng màu xanh)
Các loại khí hiếm thu được bằng công nghệ cất phân đoạn không khí
lỏng, hoặc cũng có thể từ một số khí thiên nhiên (trong trường hợp của
heli). Chúng được lưu giữdưới dạng khí nén.
Radon là khí trơ phóng xạ thuộc nhóm 28.44 được tạo ra bởi sự phân rã
phóng xạ từ radium.
(C) CÁC PHI KIM KHÁC
Các nguyên tố phi kim khác trong nhóm này là:
(1) Nitơ.
Nitơ là một khí không cháy mà cũng không hỗ trợ quá trình cháy,
nhưng dập được lửa. Nó thu được bằng cách chưng cất phân đoạn
không khí lỏng, và được chứa trong các bình thép nén áp suất.
Nitơ được dùng chủ yếu cho sản xuất amoniac và cyanamit canxi,
nhưng cũng được sử dụng tạo môi trường khí trơ trong các bóng đèn
điện tử,....
(2) Ôxy.
Đây là loại khí cung cấp cho sự cháy, chủ yếu thu được nhờ chưng cất
phân đoạn không khí lỏng.
Nó được chứa trong các bình thép nén dưới áp suất, hoặc đôi khi được
sử dụng như dạng lỏng đựng trong các thùng chứa hai lớp.
Oxy nén được sử dụng trong các đèn xì oxyhydro và oxyaxetylen để
hàn (hàn xì) hoặc cắt các kim loại như sắt. Nó cũng được sử dụng
trong luyện sắt hoặc thép và trong y học (cho thở oxy).
Nhóm này cũng bao gồm cả ozon, một dạng thù hình khác của oxy
thu được nhờ phản ứng của tia lửa điện hoặc phóng điện. Nó được sử
dụng để khử trùng nước (ozon hóa), để oxy hóa dầu khô, để tẩy trắng
bông, như một chất diệt khuẩn và cho các mục đích chữa bệnh.
Bo là một chất rắn có màu đỏ hạt dẻ thường ở dạng bột. Nó được sử
dụng trong luyện kim, và cho việc sản xuất máy điều chỉnh nhiệt và
nhiệt kế có độ nhạy cao.
Nhờ có tốc độ hấp thụ nhanh các hạt nơtron chậm, Bo cũng được sử
dụng, tinh khiết hoặc hợp kim với thép, để sản xuất các thanh điều
khiển di động của lò phản ứng hạt nhân.
Một chất rắn (tỷ trọng 6,2), vô định hình hoặc kết tinh. Nó là một chất
dẫn nhiệt và dẫn điện khá tốt, và có một số thuộc tính kim loại. Telu
được dùng trong một số hợp kim (ví dụ, hợp kim telu-chì), và cũng là
một tác nhân lưu hóa.
Silic hầu như thu được nhờ quá trình nhiệt luyện cacbon,sử dụng lò nung
điện để khử Silic dioxit. Nó có đặc tính dẫn nhiệt và dẫn điện kém, nó
cứng hơn thủy tinh, và nó ở dạng bột màu hạt dẻ hoặc, thông thường ở
dạng cục vô định hình. Nó kết tinh giống như hình kim màu xám, ánh
Silic là một trong những vật liệu quan trọng được sử dụng trong điện
tử. Silic tinh khiết cao, thu được, ví dụ, bằng sự tách tinh thể, có thể ở
dạng chưa gia công như kéo, hoặc ở dạng ống hoặc dạng thanh; khi
kích tạp với Bo, photpho,..., nó cũng được sử dụng để sản xuất, ví dụ,
các điôt, transito và các loại bán dẫn khác và pin năng lượng mặt trời.
Silic cũng được sử dụng trong công nghiệp luyện kim (ví dụ, hợp kim
fero hoặc hợp kim nhôm), và trong ngành hoá học để điều chế hợp
chất silic (ví dụ, silic tetraclorua).
Phospho là chất rắn linh động mền thu được bằng cách xử lý hỗn hợp
khoáng phosphat với cát và cacbon trong lò nung điện.
Có hai dạng phospho khác nhau:
(a) Photpho “trắng”, màu vàng sáng, trong suốt, độc, nguy hiểm khi
tiếp xúc, dễ cháy. Nó được tạo thành từng thỏi, đựng trong các hộp
bằng thủy tinh đen đựng đầy nước, bằng gốm hoặc, thông thường
hơn là bằng kim loại; những hộp này không được tiếp xúc với
không khí lạnh.
(b) Phospho đỏ, được xem như là “vô định hình”, nhưng có thể ở
dạng kết tinh. Đây là chất rắn mờ đục, không độc, không lân
quang, nặng hơn và hoạt động kém hơn phospho trắng. Phospho đỏ
được sử dụng trong sản xuất diêm, trong sản xuất pháo hoa, hoặc
như một chất xúc tác (ví dụ, trong clo hoá của axit mạch thẳng).
Một số dược phẩm cũng chứa thành phần phospho (ví dụ, dầu gan cá
tuyết phospho hoá). Nó cũng được sử dụng làm thuốc diệt chuột, hoặc
ở dạng chế phẩm của axit phosphoric, phosphinat (hypophosphat),
Asen ở dạng rắn, được chiết táchtừ quặng pyrit tự nhiên chứa asen.
Nó tồn tại dưới hai dạng chính:
(a) Dạng thông thường, được gọi là asen “kim loại”, có ánh kim, tinh
thể màu xám thép, dễ vỡ, không hoà tan trong nước.
(b) Asen vàng, dạng kết tinh, ít bền vững.
Asen được sử dụng để sản xuất asen disulphua, đạn săn, đồng thau dạng
cứng và các dạng khác nhau của hợp kim khác (của thiếc, đồng,...).
Selen, tương tự như lưu huỳnh, tồn tại dưới một số dạng sau:
(a) Selen vô định hình, dạng vảy màu hơi đỏ (selen hoa).
(b) Selen thủy tinh, tính dẫn điện và dẫn nhiệt kém, giòn, dễ vỡ, màu
nâu hoặc hơi đỏ.
(c) Selen kết tinh, tinh thể màu xám hoặc đỏ. Nó có tính dẫn điện và
dẫn nhiệt tương đối tốt, đặc biệt khi phơi ngoài ánh sáng. Nó được
sử dụng trong sản xuất tế bào quang điện và, khi được kết hợp, sản
xuất các thanh bán dẫn, trong nhiếp ảnh, khi ở dạng bột (selen đỏ),
dùng cho sản xuất cao su, các loại thấu kính đặc biệt, v.v.
Nhóm này không bao gồm selen ở dạng keo huyền phù(được sử dụng
trong y học) (Chương 30).
Trong Danh mục, antimon được phân loại như là một kim loại (nhóm
Một vài phi kimtrong nhóm này (ví dụ, silic và selen) có thể được pha tạp
với các nguyên tố như Bo, phospho,..., theo một tỷ lệ khoảng một phần
triệu thì chúng được sử dụng trong điện tử. Chúng được phân loại trong
nhóm này với điều kiện là chúng ở dạng chưa gia công như kéo hoặc ở
dạng ống, hoặc dạng thanh. Khi cắt thành dạng đĩa, dạng bánh hoặc các
dạng tương tự, thì chúng được phân loại ở nhóm 38.18.
28.05 – Kim loại kiềm hoặc kim loại kiềm thổ; kim loại đất hiếm,
scandi và ytri, đã hoặc chưa pha trộn hoặc tạo hợp kim với
nhau; thủy ngân.
- Kim loại kiềm hoặc kim loại kiềm thổ:
2805.19 - - Loại khác
2805.30 - Kim loại đất hiếm, scandi và ytri đã hoặc chưa pha trộn
hoặc tạo hợp kim với nhau
2805.40 - Thủy ngân
(A) CÁC KIM LOẠI KIỀM
Năm kim loại kiềm là mềm và khá nhẹ. Chúng phân hủy trong nước lạnh,
bị phá hủy ở ngoài không khí, tạo thành hydroxit.
Đây là kim loại nhẹ nhất (tỷ trọng riêng 0,54) và cứng nhất trong
nhóm này. Nó được bảo quản trong dầu khoáng hoặc trong khí trơ
Liti giúp cải thiện chất lượng của các kim loại, và được sử dụng trong hợp
kim khác nhau (ví dụ, hợp kim chống ma sát). Do có ái lực lớn với các
nguyên tố khác nên nó cũng được sử dụng, không kể trong các trường hợp
khác, để thu được các kim loại khác trong trạng thái tinh khiết.
Natri ở thể rắn (tỷ trọng 0,97) là một kim loại có ánh kim, dễ dàng bị
xỉn đi sau khi cắt. Nó được bảo quản trong dầu khoáng hoặc trong
thùng thiếc hàn kín.
Natri thu được khi điện phân muối NaCl nóng chảy hoặc natri
hydroxyt nóng chảy.
Nó được sử dụng trong sản xuất natri peroxit ("dioxit"), natri xyanua,
sodamit,..., trong công nghiệp nhuộm, trong sản xuất thuốc nổ (ngòi
nổ và dây cháy hóa học), polyme hóa butadien, hợp kim chống ma
sát, hoặc luyện titan hoặc zircon.
Nhóm này không bao gồm hỗn hống natri (nhóm 28.53).
Là kim loại trắng ánh bạc (tỷ trọng 0,85), nó có thể cắt được bằng dao
bình thường. Thông thường nó được bảo quản trong dầu khoáng hoặc
trong các ampul hàn kín.
Kali được sử dụng để điều chế một số tế bào quang điện, và hợp kim
chống ma sát.
Là dạng rắn, màu ánh bạc (tỷ trọng 1,5) dễ nóng chảy hơn natri. Nó
thường được bảo quản trong ampul hàn kín hoặc trong dầu khoáng.
Cũng giống như natri, nó được sử dụng trong các hợp kim chống ma sát.
Là một kim loại màu vàng nhạt hoặc trắng bạc (tỷ trọng 1,9), cháy khi
tiếp xúc với không khí; là kim loại dễ dàng oxy hóa nhất; được bảo
quản trong ampul hàn kín hoặc trong dầu khoáng.
Kim loại kiềm có tính phóng xạ franxi bị loại trừ (nhóm 28.44).
(B) KIM LOẠI KIỀM THỔ
Có 3 loại kim loại kiềm thổ đều dễ dàng dát mỏng và dễ dàng phân hủy
trong nước lạnh, chúng bị xỉn đi khi ở ngoài không khí ẩm.
Canxi thu được qua khử nhiệt nhôm của canxi oxit hoặc trong quá
trình điện phân muối canxi clorua nóng chảy. Nó là kim loại màu
trắng (tỷ trọng 1,57), được sử dụng trong tinh chế khí argon, tinh chế
đồng hoặc thép, trong sản xuất zircon, canxi hydrua (hydrolith), sản
xuất hợp kim chống ma sát,....
Là một kim loại màu vàng nhạt hoặc vàng trắng, mềm dẻo (tỷ trọng là 2,5).
Bari là kim loại màu trắng (tỷ trọng 4,2); được sử dụng trong một số
hợp kim chống ma sát và sản xuất bộ phận thu khí cho các ống chân
không (nhóm 38.24).
Nhóm này không bao gồm radi, một nguyên tố phóng xạ (nhóm 28.44),
magie (nhóm 81.04), hoặc bery (nhóm 81.12); những nguyên tố này
giống các kim loại kiềm thổ trong một số phương diện.
(C) KIM LOẠI ĐẤT HIẾM; SCANDI VÀ YTRI, ĐÃ HOẶC CHƯA
PHA TRỘN HOẶC TẠO HỢP KIM VỚI NHAU
Các kim loại đất hiếm (thuật ngữ “đất hiếm” được áp dụng cả với các
oxit của chúng) hoặc nhóm lanthan bao gồm các nguyên tố có số nguyên
tử (*) từ 57 đến 71) trong bảng hệ thống tuần hoàn là:
Nhóm Ceri
Nhóm Terbi
Nhóm Erbi
(*) Số nguyên tử của một nguyên tố là tổng số các điện tử nằm trong
quỹ đạo của nguyên tử của nguyên tố đó.
Prometi (nguyên tố 61), là chất phóng xạ, được phân loại trong nhóm
Các nguyên tố kim loại đất hiếm thường có màu vàng hoặc xám nhạt, và
dễ uốn dẻo hoặc dát mỏng.
Xezi, là nguyên tố quan trọng nhất trong nhóm, nó thu được từ monazit.
(dạng muối phosphat đất hiếm), hoặc từ thorit (dạng silicat đất hiếm), sau
khi tách thori. Xezi thu được trong quá trình khử nhiệt luyện halogenua
có sử dụng canxi hoặc liti như làm tác nhân khử hoặc bằng quá trình điện
phân muối clorua nóng chảy. Nó là kim loại màu xám, mềm, rắn hơn chì
một chút, và phát tia lửa khi cọ lên bề mặt gồ ghề.
Lantan, tồn tại ở trạng thái không tinh khiết trong muối xezi, nó được sử
dụng trong sản xuất thủy tinh xanh.
Nhóm này cũng bao gồm scandi và ytri là những nguyên tố gần giống
với các kim loại đất hiếm – thêm vào đó, scandi cũng giống các loại kim
loại của nhóm sắt. Hai kim loại này được chiết từ quặng thortveitite, một
loại silicat của scandi có chứa ytri và các nguyên tố khác.
Những nguyên tố này cũng được phân loại ở đây dù đã hoặc chưa pha
trộn hoặc tạo hợp kim với nhau. Ví dụ, nhóm này bao gồm "Mischmetal",
đó là loại hợp kim có chứa 45 đến 55% xezi, 22 đến 27% lantan, các
nguyên tố khác thuộc nhóm lantan, ytri và các tạp chất khác (tới 5% sắt,
các vết của silic, canxi, nhôm). "Mischmetal" được sử dụng chủ yếu
trong luyện kim và để sản xuất đá lửa. Khi hợp kim có hơn 5% sắt hoặc
có thêm magiê hoặc các kim loại khác thì nó không thuộc nhóm này, (ví
dụ, nếu nó mang đặc tính của một hợp kim pyrophoric thì chúng thuộc
nhóm 36.06).
Nhóm này không bao gồm các loại muối và hợp chất của kim loại đất
hiếm, của ytri và scandi (nhóm 28.46).
(D) THỦY NGÂN
Thủy ngân (quicksilver) là kim loại duy nhất có dạng lỏng ở nhiệt
độ phòng.
Nó thu được từ việc nung thủy ngân sulphua tự nhiên (cinabar) và được
tách từ các kim loại khác có chứa trong các quặng (chì, kẽm, thiếc,
bismut) bằng cách lọc, chưng cất chân không, và xử lý với axít nitric
loãng.
Thủy ngân là chất lỏng màu trắng bạc lấp lánh, nặng (tỷ trọng 13,59), độc
và có khả năng hoà tan với các kim loại quý. Ở nhiệt độ thường, thủy
ngân tinh khiết không bị ảnh hưởng khi để ở ngoài không khí, nhưng kim
loại không tinh khiết có một lớp bọc là oxit thủy ngân mầu nâu nhạt.
Thủy ngân được bảo quản trong các dụng cụ bằng sắt đặc biệt (“bình thót
cổ”).
Thủy ngân được sử dụng để điều chế hỗn hống của nhóm 28.43 hoặc
28.53. Nó được sử dụng trong luyện vàng hoặc bạc, trong công nghệ mạ
vàng hoặc bạc, và trong sản xuất clo, natri hydroxyt, muối thủy ngân,
sơn son hoặc dạng fulminat. Nó cũng được sử dụng để sản xuất đèn hơi
thủy ngân và trong các dụng cụ vật lý khác nhau, trong y học,....
PHÂN CHƯƠNG II
AXIT VÔ CƠ VÀ CÁC HỢP CHẤT VÔ CƠ CÓ CHỨA OXY CỦA
CÁC PHI KIM LOẠI
KHÁI QUÁT CHUNG
Các axít có chứa hydro mà chúng có thể được thay thế toàn bộ hoặc một
phần bằng kim loại (hoặc bằng các ion có đặc tính tương tự, ví dụ, ion
amoni (NH4+)) với kết quả là tạo ra muối. Các axit phản ứng với bazơ tạo
ra muối, và phản ứng với rượu tạo ra este. Ở trạng thái lỏng hoặc dung
dịch, chúng là chất điện giải tạo ra hydro ở cực âm (catôt). Khi một hoặc
nhiều phân tử nước bị loại khỏi các axit có chứa oxy, sẽ thu được
anhydrit. Hầu hết ôxit của phi kim là anhydrit.
Phân Chương này gồm các hợp chất oxy vô cơ của phi kim (anhydrit và
loại khác), và cũng bao gồm axit vô cơ, gốc cực dương của nó là một
Mặt khác, phân chương không bao gồm anhydrit và axit lần lượt được
hình thành, bởi oxit kim loại hoặc hydroxit; những loại này thường được
phân loại vào Phân Chương IV (ví dụ, oxit kim loại, hydroxit kim loại
và peroxit kim loại, như axit hoặc anhydrit của crôm, molypđen, volfram
và vaniđi). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chúng được phân loại
vào phần khác, ví dụ, nhóm 28.43 (các hợp chất của kim loại quý),
nhóm 28.44 hoặc 28.45 (các hợp chất của các nguyên tố phóng xạ và các
đồng vị phóng xạ) hoặc nhóm 28.46 (các hợp chất của kim loại đất hiếm,
của scandi hoặc ytri).
Các hợp chất oxy của hydro cũng bị loại trừ và được phân loại vào nhóm
22.01 (nước), nhóm 28.45 (nước nặng), nhóm 28.47 (hydro peroxit)
hoặc nhóm 28.53 (nước cất và nước dẫn điện, nhiệt và nước tinh khiết
tương tự, bao gồm cả nước được xử lý bằng trao đổi ion).
Hydro clorua (HCl) là một loại khí bốc khói không màu có mùi nghẹt
thở, thu được bằng cách cho hydro (hoặc nước và than cốc) tác dụng với
clo, hoặc cho phản ứng của axit sulphuric với natri clorua.
Nó dễ dàng hoá lỏng dưới áp suất và hòa tan tốt trong nước. Nó được nén
thành dạng lỏng trong các bình thép chịu áp. Nó cũng tồn tại ở cả dạng
dung dịch nước đậm đặc (nồng độ thường từ 28 đến 38%) (axit
hydrocloric, axit muriatic, rượu của muối), đựng trong bình thủy tinh,
bình sành sứ, hoặc trong các bồn xe tải hoặc bồn toa xe được bọc lót cao
su. Dung dịch có mùi chua, màu hơi vàng nếu như không tinh khiết (sắt
II chlorua, asen, sulphua diroxit, axit sulphuric), và là dạng không màu
nếu là tinh khiết. Dung dịch đậm đặc bốc khói trắng ngoài không khí ẩm.
Axit clohydric có rất nhiều ứng dụng, như là tẩy sắt, kẽm hoặc các kim
loại khác, chiết gelatin từ xương, tinh chế muội động vật, điều chế các
muối kim loại clorua,.... Hydro clorua (HCl) dạng khí thường được sử
dụng trong tổng hợp hữu cơ (ví dụ, sản xuất cloropren, vinyl clorua, băng
phiến nhân tạo, cao su hydroclorua).
Axit clorosulphuric, dạng thương phẩm được coi là axit closulphonic
(“sulphuric clorohydrin ”) và có công thức hóa học là ClSO2OH, được
tạo ra do kết hợp khô giữa hydro clorua (HCl) với lưu huỳnh trioxit (SO3)
hoặc oleum.
Đặc tính của nó là có tính ăn mòn rất mạnh, dạng lỏng không màu hoặc
màu hơi nâu với mùi gắt, nó bốc khói trong môi trường ẩm và bị phân
hủy khi tiếp xúc với nước hoặc do tác động nhiệt.
Nó được sử dụng trong tổng hợp hữu cơ (sản xuất saccarin, thioindigo,
Nhóm này không bao gồm axit hypochlorous, axit cloric hoặc axit
percloric (nhóm 28.11). Nhóm này cũng không gồm lưu huỳnh diclorua
dioxit (sulphuryl chloride) (nhóm 28.12), mà đôi khi nó được hiểu nhầm
là “clorosulphuric axit”.
28.07- Axit sulphuric; axit sulphuric bốc khói (oleum).
Axit sulphuric (H2SO4), được điều chế chủ yếu bằng cách cho oxy và
dioxit lưu huỳnh đi qua xúc tác (platin, oxit sắt III, vanadi pentoxit,v.v.).
Nó được loại bỏ các tạp chất (hợp chất chứa nitơ, các sản phẩm chứa
asenic hoặc selenfero, chì sunphat) bằng cách xử lý với hydro sulphua
hoặc amoni sulphua.
Axit sulphuric có tính ăn mòn rất mạnh. Nó là dung dịch đậm đặc, nhờn,
không màu (nếu tinh khiết) hoặc màu vàng hoặc nâu (trong trường hợp
khác). Nó phản ứng rất mạnh với nước và đốt cháy da và phá hủy hầu hết
các chất hữu cơ bằng cách cacbon hoá chúng.
Axit sulphuric thương phẩm có nồng độ giữa 77% và 100% H2SO4. Nó
được đựng trong các bình thuỷ tinh, các thùng bằng thép, các xe xi téc, xi
téc trên tàu hoả hoặc xi téc trên các tàu thuỷ.
Loại axit này được sử dụng trong rất nhiều ngành công nghiệp: nó được
sử dụng trong sản xuất phân bón, thuốc nổ và các chất màu vô cơ
và,không kể những cái khác, trong công nghệ hoá dầu và công nghiệp sản
xuất thép.
Oleum (axít sulphuric bốc khói) là loại axit sulphuric được nạp với lượng
dư (tới 80%) SO3 (lưu huỳnh trioxit). Oleum có thể ở dạng lỏng hoặc
dạng rắn, mầu nâu đậm; chúng phản ứng mạnh mẽ với nước, đốt cháy da
và quần áo, tỏa ra khói nguy hiểm (đặc biệt là SO3 tự do). Chúng được
đựng trong bình thuỷ tinh, bình sành sứ hoặc thùng sắt kín.
Oleum phần lớn được dùng trong các phản ứng sulphua hoá trong hoá
chất hữu cơ (điều chế naphthalensulphuric axit, hydroxyanthraquinone,
thioindigo, dẫn xuất alizarin,...).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Clorosulphuric axit (“sulphuric clorohydrin”) và sulphonitric axit
(nhóm 28.06 và 28.08 tương ứng).
(b) Lưu huỳnh trioxit, hydro sulphua, peroxosulphuric (pesulphuric)
axit, sulphamic axit và các axit khoáng của dãy thionic (các axit
polythionic (nhóm 28.11).
(c) Thionyl hoặc sulphuryl clorua (nhóm 28.12).
Axit nitric (HNO3) được điều chế chủ yếu bằng phương pháp oxy hoá
amoniac với sự tham gia của một chất xúc tác (platin, sắt, crom, bismut
hoặc mangan oxit,...). Hoặc bằng cách cho tác dụng trực tiếp giữa nitơ và
oxy trong các lò nung hồ quang điện và kết quả là nitric oxit bị oxy hóa.
Nó cũng có thể được điều chế bằng cách cho axit sulphuric (đơn lẻ hoặc
kết hợp với natri disulphat) tác dụng với muối natri nitrat tự nhiên; các
tạp chất (axit sulphuric hoặc axit hydrocloric, khí nitơ) được loại ra bằng
phương pháp chưng cất và bằng không khí nóng.
Axit nitric (HNO3) là chất lỏng, độc, không màu hoặc màu hơi vàng. Ở
dạng đậm đặc (axit nitric bốc khói), nó thoát ra các đám khói màu vàng.
Nó gây hỏng da và phá huỷ các chất hữu cơ; nó là tác nhân oxy hoá
mạnh. Nó được chứa trong bình thuỷ tinh hoặc đồ dùng sành sứ hoặc các
đồ chứa bằng nhôm.
Nó được sử dụng trong sản xuất muối nitrat (của bạc, thuỷ ngân, chì,
đồng,...), sản xuất thuốc nhuộm hữu cơ, chất nổ (nitroglycerol, bông keo,
trinitrotoluen, axit picric, thuỷ ngân fluminat,...); tẩy gỉ kim loại (đặc biệt
là tẩy gỉ cho đúc sắt); chế bản đồng; tinh chế vàng hoặc bạc.
Axit sulphonitric là hỗn hợp có thành phần tỷ lệ xác định (ví dụ, các phần
cân bằng) của axit nitric và axit sulphuric đậm đặc. Chúng là chất lỏng
sánh có tính ăn mòn rất mạnh, thường được đựng trong thùng sắt thép
kín.
Chúng được sử dụng, đặc biệt, để nitơ hoá các hợp chất hữu cơ trong
công nghiệp thuốc nhuộm tổng hợp, và trong sản xuất thuốc nổ và
Nhóm này không bao gồm:
(a) Axit aminosulphonic (axit sulphamic) (nhóm 28.11) (không nhầm
lẫn với các axit sulphonitric ở trên).
(b) Hydro azid, các axit của nitơ và các dạng oxit nitơ khác nhau (nhóm
28.09 – Diphospho pentaoxit; axit phosphoric; axit polyphosphoric, đã
hoặc chưa xác định về mặt hoá học.
2809.20 - Axit phosphoric và axit polyphosphoric:
Nhóm này bao gồm diphosphorous pentaoxide, axit phosphoric (axit
hoặc
thông
thường),
pyrophosphoric (diphosphoric), axit metaphosphoric và các axit
polyphosphoric khác.
phosphoric anhydric) (P2O5) được điều chế bằng cách đốt cháy phospho,
trong không khí khô, photpho được tách từ dạng phosphat tự nhiên. Nó là
dạng bột trắng có tính ăn mòn rất mạnh, hút nước mạnh, và được vận
chuyển bằng cách đóng trong bao gói kín, tránh không khí. Nó được sử
dụng để làm khô khí, và trong tổng hợp hữu cơ.
Diphosphorous pentaoxittồn tại ở dạng kết tinh, vô định hình hoặc dạng
trong suốt. Ba loại này trộn với nhau cho dạng " tuyết phosphoric", cũng
được phân loại ở đây.
Axit phosphoric (axit orthophosphoric hoặc axit phosphoric thông dụng)
(H3PO4) được điều chế bằng cách cho tác dụng giữa axit sulphuric với
tricanxi photphat tự nhiên. Dạng axit thương phẩm được điều chế theo
cách này thường chứa các tạp chất diphosphorous pentaoxit, canxi
dihydrogenorthophosphate, lưu huỳnh trioxit, axit sulphuric, axit
fluorosilicic,.... Axit phosphoric tinh khiết được điều chế bằng cách
hydrat hóa có kiểm soát diphosphorous pentaoxit.
Axit photphoric có thể tồn tại dạng tinh thể lăng trụ dễ chảy, song vì khó
khăn khi bảo quản ở trạng thái rắn, nó thường được đóng gói ở dạng
dung dịch nước (ví dụ, với nồng độ 65%, 90%). Dạng dung dịch đậm
đặc, siêu bão hòa ở nhiệt độ phòng, đôi khi được hiểu như “syrô axit
Axit phosphoric được sử dụng để điều chế supephotphat đậm đặc (gấp 3
lần); nó cũng được ứng dụng trong công nghiệp dệt và cũng như làm tác
nhân làm sạch gỉ.
Axit photphoric khi cô đặc ở nhiệt độ cao sẽ cho một vài dạng polyme
axit: axit pyrophosphoric (diphotphoric), metaphosphoric axit và các
polyphosphoric axit khác.
(C) CÁC AXIT POLYPHOSPHORIC
(I) Các axit được đặc trưng bởi sự thay đổi các nguyên tử P-O-P sẽ
được phân loại ở đây
Thông thường chúng có thể được tạo ra do ngưng tụ hai hay nhiều phân
tử của axit orthophosphoric với sự loại đi nước. Theo cách này, có thể
phát sinh một loạt các axit mạch thẳng có công thức chung là:
Hn+2PnO3n+1, ở đây n phải lớn hơn hoặc bằng 2, và một loạt vòng có công
thức chung là (HPO3)n, ở đây n lớn hơn hoặc bằng 3.
(1) Axit pyrophosphoric (axit diphosphoric H4P2O7) được tạo ra bằng
cách gia nhiệt có kiểm soát axit orthophosphoric. Nó không bền
vững trong môi trường không khí ẩm và dễ dàng chuyển thành dạng
(2) Axit metaphotphoric. Đây là những axit mạch vòng minh họa bằng
axit cyclo-triphosphoric (HPO3)3 và axit cyclo-tetraphosphoric
(HPO3)4, nó tồn tại như thành phần thứ yếu của hỗn hợp axit
polyphosphoric có nồng độ lớn hơn 86% P2O5. Axit polyphosphoric
băng (axit metaphstphoric thương phẩm) là hỗn hợp không xác định
về mặt hóa học của axit polyphosphoric (chủ yếu mạch thẳng), trong
đó cũng có thể chứa muối natri của chúng. Những hỗn hợp như vậy,
cũng được phân loại ở đây, tồn tại dạng khối trong suốt, bay hơi khi
nung đỏ và là dạng không kết tinh.
Chúng có tính hút nước rất cao và được sử dụng làm khô khí.
(3) Các axit polyphosphoric theo kiểu liên kết P - O – P khác. Đây là
dạng hỗn hợp thông thường, được biết với tên gọi là axit
“polyphosphoric” hoặc axit “superphosphoric", nó có chứa những
loại cao hơn trong dãy như là loại axit triphosphoric (H5P3O10) và
axit tetraphosphoric (H6P4O13). Những hỗn hợp này cũng được phân
loại ở đây.
(II) Các axit polyphotphoric khác.
Phần này bao gồm, axit hypophosphoric (axit diphotphric (IV) (H4P2O6).
Hợp chất này ở dạng kết tinh ngậm hai phân tử nước mà phải được giữ ở
nơi khô. Nó bền vững hơn trong các dung dịch loãng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các axit phosphorơ và anhydrit khác (axit phosphonic và anhydrit
của nó, axit phosphinic) (nhóm 28.11).
(b) Hydro photphua (nhóm 28.53).
(A) CÁC OXIT CỦA BO
Diboron trioxide (Boron sesquioxide) (B2O3) tồn tại ở các dạng hình
khối trong suốt, tinh thể hoặc vảy màu trắng.
Nó đã được sử dụng để chế tạo các loại đá quý tổng hợp hoặc đá bán quý
tổng hợp (corundum, saphia,...) bằng cách cho tác dụng với các muối kim
loại florua bay hơi.
Nhóm này cũng bao gồm tất cả các loại oxit khác của Bo.
Axit boric (axit orthoboric) (H3BO3) thu được hoặc bằng cách phân hủy
axit của muối borat tự nhiên, hoặc bằng phương pháp xử lý hoá lý axit
boric thô.
Nó tồn tại ở dạng bột hoặc dạng vảy nhỏ, dạng phiến nhỏ mica hoặc dạng
khối thủy tinh, màu xám tro hoặc xanh nhạt với cạnh trong suốt (axit kết
tinh). Nó không mùi, nhờn khi sờ tay vào.
Công dụng của nó gồm: làm chất sát trùng (nước boric); sản xuất thủy
tinh borosilicat (hệ số giãn nở thấp), hợp chất trong suốt, màu xanh
Guinet (hydrat crom oxit), borat nhân tạo (borac), hydroxy - và amino-
anthraquinone; làm bấc nến, làm quần áo chịu lửa.
Axit boric thô tự nhiên thô phân loại trong nhóm 25.28 khi chứa hàm
lượng H3BO3 không quá 85% tính theo trọng lượng khô; khi hàm lượng
axit boric (H3BO3) trên 85%, thì được phân loại trong nhóm này. Axit
metaboric (HBO2)n cũng được phân loại ở đây.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Axit tetrafluoroboric (axit fluoroboric) (nhóm 28.11).
(b) Axit glyceroboric (nhóm 29.20).
28.11 – Axit vô cơ khác và các hợp chất vô cơ chứa oxy khác của các
phi kim loại.
- Axit vô cơ khác:
2811.19 - - Loại khác
- Hợp chất vô cơ chứa oxy khác của phi kim loại:
2811.29 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các axít khoáng và các anhydrit và các oxit khác của
các phi kim. Các chất quan trọng nhất được liệt kê dưới đây căn cứ theo
thành phần phi kim loại của chúng (*):
* Theo thứ tự như sau: flo, clo, brom, iot, lưu huỳnh, selen, telu, nitơ,
(A) HỢP CHẤT CỦA FLO
(1) Hydro florua (HF). Được điều chế bằng cách cho tác dụng giữa axit
sunphuric với canxi florua tự nhiên (flourite) hoặc với cryolite. Nó
được tinh chế bằng cách xử lý với kali carbonat hoặc bằng cách
chưng cất (đôi khi có lượng nhỏ của silicat và axít flosilicic được coi
là tạp chất). Ở trạng thái khan HF là chất lỏng hút ẩm rất mạnh,(điểm
sôi ở 18/20 °C); nó bay hơi ở môi trường không khí ẩm. Ở trạng thái
khan và ở dạng dung dịch đậm dặc (axít hydrofloric ) nó gây bỏng
nặng cho da và carbon hóa các hợp chất hữu cơ. Nó được đóng
trong các bình kim loại được tráng bằng chì, nhựa két hoặc sáp ong,
hoặc trong các thùng bằng cao su hoặc nhựa; axít rất tinh khiết thì
được đựng trong bình bạc.
Công dụng của nó là khắc, vẽ trên thủy tinh, sản xuất giấy lọc không
tro, điều chế Tantan, florua, để làm sạch và tẩy rửa các khuôn đúc,
trong tổng hợp hữu cơ, hoặc như việc điều khiển quá trình lên men.
(2) Fluoroacids. Bao gồm:
(b) Axithexafluorosilicic (axit fluorosilicic (H2SiF6), ví dụ, ở
dạng dung dịch nước thu được như sản phẩm phụ trong quá trình
sản xuất supephosphat, hoặc từ silicon florua. Nó được sử dụng
tinh chế thiếc và chì bằng cách điện phân, để điều chế flosilicat,...
(B) CÁC HỢP CHẤT CỦA CLO
Quan trọng nhất của các hợp chất này là các tác nhân oxy hóa và clo hóa
mạnh, nó được sử dụng trong công nghệ tẩy trắng và trong tổng hợp hữu
cơ. Theo quy luật, chúng không bền vững. Chúng bao gồm:
(1) Axit Hypocloric (HClO). Đây là sản phẩm nguy hiểm khi hít phải,
nổ tung khi tiếp xúc với các chất hữu cơ. Dạng khí được hòa trong
dung dịch nước, có màu vàng hoặc thỉnh thoảng hơi đỏ.
(2) Axit cloric (HClO3). Axit này chỉ tồn tại ở dạng dung dịch nước
không màu hoặc hơi vàng.
(3) Axit percloric (HClO4). Sản phẩm này, ít hay nhiều có nồng độ
đậm đặc cao, tạo ra vô số hydrat khác nhau. Nó gây tổn thương da.
Được sử dụng trong phân tích.
(C) CÁC HỢP CHẤT CỦA BROM
(1) Hydro bromua (HBr). Là dạng khí không màu, mùi mạnh, cay. Nó
có thể được giữ ở dạng khí nén, hoặc hòa tan trong dung dịch nước
(axit hydrobromic) nó bị phân hủy chậm ngoài không khí (đặc biệt
dưới tác động của ánh sáng). Axit hydrobromic được dùng để chế
các bromua và trong tổng hợp hữu cơ.
(2) Axit bromic (HBrO3). Chỉ tồn tại trong các dung dịch nước; được
dùng trong tổng hợp hữu cơ.
(D) HỢP CHẤT CỦA IỐT
(1) Hydro iodua (HI). Là dạng khí không màu, gây nghẹt thở, dễ bị
phân hủy. Nó là chất gây ăn mòn, dạng dung dịch nước (axit
hydriodic) khi ở trạng thái đậm đặc nó bốc khói mạnh. Được sử dụng
trong tổng hợp hữu cơ như một tác nhân khử hoặc như một môi
trường để cố định iốt.
(2) Axit Iodic (HIO3) và anhydrit của nó (I2O5), là dạng tinh thể hình
lăng trụ hoặc dạng dung dịch nước. Được sử dụng trong y học hoặc
như tác nhân hấp thụ trong mặt nạ phòng khí độc.
(3) Axit Periodic (HIO4. 2H2O). Có thuộc tính tương tự như axit iodic.
(E) HỢP CHẤT CỦA LƯU HUỲNH
(1) Hydro sulphua (H2S). Là dạng khí không màu, rất độc với mùi của
trứng thối. Được nén trong các bình thép hoặc dưới dạng dung dịch
nước (axit sulphuahydric). Nó được sử dụng trong phân tích, tinh chế
axit sulphuric (H2SO4) hoặc axit clohydric (HCl), cho điều chế lưu
huỳnh dioxit hoặc lưu huỳnh tái sinh v.v.
(2) Axit peroxosunphuric (persunphuric axit), tồn tại dưới dạng kết
(a) Axit peroxosunphuric (H2S2O8) và anhydrit của nó (S2O7).
(b) Axit peroxomonosunphuric (axit của Caro) (H2SO5), nó hút ẩm rất
mạnh; là một tác nhân oxy hóa mạnh.
(3) Axit thionic. Chỉ tồn tại dưới dạng dung dịch nước: axit dithionic
(4) Axit aminosulphonic (axit sulphamic) (SO2(OH)NH2). Được điều
chế bằng cách cho hòa tan urê trong axit sulphuric (H2SO4), sunphua
trioxit SO3 hoặc oleum; là dạng kết tinh, hòa tan ít trong nước nhưng
hòa tan nhanh trong rượu. Được sử dụng để sản xuất quần áo chống
cháy, trong thuộc da và mạ điện và trong tổng hợp hữu cơ.
(5) Lưu huỳnh dioxit (SO2). Được điều chế bằng cách nung lưu huỳnh,
sulphua tự nhiên (đặc biệt là pyrit sắt), hoặc bằng cách nung canxi
sunphat tự nhiên (ví dụ, anhydrit) với đất sét và than cốc. Đó là dạng
khí không màu, gây ngạt thở.
Lưu huỳnh dioxit tồn tại ở dạng lỏng khi nén trong bình thép, hoặcở
dạng dung dịch nước; trong thương mại nó thường bị gọi sai là “axit
Là tác nhân khử và tẩy trắng mạnh, SO2 có nhiều công dụng, ví dụ,
trong tẩy trắng hàng dệt từ động vật, rơm dạ, lông vũ hoặc getalin,
trong quá trình sulphit trong tinh chế đường, bảo quản rau hoặc trái
cây, sản xuất axit sulphurơ cho xử lý bột gỗ, sản xuất axit sulphuric,
hoặc như một chất tẩy trùng (giữ cho rượu vang không biến sắc).
Dạng SO2 lỏng, làm giảm nhiệt độ khi bốc hơi, được sử dụng trong
nhà máy sản xuất thiết bị lạnh.
(6) Lưu huỳnh trioxit (anhydrit sulphuric SO3). Dạng tinh thể hình
kim, rắn, màu trắng, hơi giống như amiang về diện mạo. Bốc khói
ngoài không khí ẩm; hút nước và tạo phản ứng mạnh nước. Nó được
đóng gói trong các dụng cụ kín bằng sắt – thép hoặc trong các bình
sành sứ hoặc thuỷ tinh, là các dụng cụ phù hợp để chứa chất hấp thụ
vô cơ. Nó được sử dụng để sản xuất oleum (nhóm 28.07) và phèn
(nhóm 28.33).
(7) Disulphua trioxit(S2O3). Là dạng tinh thể xanh, chảy rữa, bị phân
hủy bởi nước và hòa tan trong rượu; được sử dụng như tác nhân khử
trong sản xuất thuốc nhuộm tổng hợp.
(F) CÁC HỢP CHẤT CỦA SELEN
(1) Hydro selenit (H2Se). Là dạng khí gây buồn nôn, nguy hiểm khi hít
phải vì nó làm liệt thần kinh khứu giác. Chúng không bền trong dung
dịch nước.
(2) Axit selenious (H2SeO3) và anhydrit của nó (SeO2). Là dạng tinh
thể lục giác màu trắng, chảy rữa, rất dễ hòa tan trong nước; được sử
dụng trong công nghệ tráng phủ men.
(3) Axit selenic (H2SeO4). Là dạng tinh thể màu trắng, khan hoặc hydrat
(ngậm nước).
(G) CÁC HỢP CHẤT CỦA TELUA
Đó là hydro telua (H2Te) (trong dung dịch nước), axit tellurous (H2TeO3) và
anhydrit của nó (TeO2) (dạng rắn màu trắng), và axit teluric (H2TeO4) (dạng
tinh thể không màu) và anhydrit của nó (TeO3) (dạng rắn màu da cam).
(H) CÁC HỢP CHẤT CỦA NITƠ
(1) Hydro azit (hydrazoic axit) (HN3). Là chất lỏng, độc, không màu
với mùi ngạt thở; rất dễ hòa tan trong nước; không bền vững, với đặc
tính gây nổ. Các muối của nó (azit) được phân loại trong nhóm
28.50, và không ở Phân Chương V.
(2) Dinitơ oxit (nitrous oxit) (N2O). Là dạng khí có vị ngọt, hòa tan trong
nước và tồn tại ở dạng lỏng. Được sử dụng ở dạng khí để gây tê, gây mê,
và được sử dụng ở dạng lỏng hoặc dạng rắn như tác nhân làm lạnh.
(3) Nitơ dioxit (nitroxyl, khí nitrơ, “nitơ peoxit”) (NO2). Là dạng lỏng
không màu ở nhiệt độ 0ºC, ở nhiệt độ cao hơn có màu nâu da cam;
điểm sôi ở khoảng 22ºC (khi đó bốc khói màu đỏ). Đây là dạng oxit
nitơ bền vững nhất. Là tác nhân oxy hóa rất mạnh.
(IJ) CÁC HỢP CHẤT CỦA PHOTPHO
(1) Axit photphinic (hypophosphorous axit) (H3PO2). Là dạng tinh thể
phiến mỏng, điểm nóng chảy ở khoảng 25ºC, bị oxy hóa khi để ngoài
không khí; là tác nhân khử mạnh.
(2) Axit phosphonic (phosphorous axit) (H3PO3). Là dạng tinh thể chảy
rữa, điểm nóng chảy ở khoảng 71ºC, hòa tan trong nước. Anhhydrit
của nó(P2O3 or P4O6)cũng là dạng tinh thể, điểm chảy ở 24ºC, khi để
ngoài ánh sáng lúc đầu chuyển vàng sau đó chuyển sang đỏ, bị phân
hủy từ từ.
(K) HỢP CHẤT CỦA ASEN
(1) Diasen trioxit (asenic sesquioxide, arsenious oxit, asen trắng)
(As2O3). Bị hiểu sai là "axit arsenious". Được điều chế bằng cách
nung quặng asenfero của niken và bạc hoặc quặng pyrit asenic. Đôi
khi nó có thể chứa tạp chất (arsenic sulphua, lưu huỳnh, antimon
Asen (III) oxit thương mại thông thường ở dạng bột kết tinh trắng,
không mùi và có độc tính cao (asen hoa). Anhydrit thuỷ tinh là dạng
khối trong suốt, vô định hình; anhydrit porcelanic là dạng mờ đục,
tám mặt đan vào nhau.
Công dụng của nó bao gồm để bảo quản da thuộc hoặc tiêu bản vườn
thú (đôi khi nó được sử dụng để trộn với xà phòng); làm thuốc diệt
chuột; để sản xuất giấy bẫy ruồi; sản xuất men sứ hoặc tạo màu xanh
vô cơ như màu xanh Sheele (đồng arsenite) hoặc màu xanh
Schweinfurt (đồng axeton asen); với liều lượng nhỏ, được sử dụng
như thuốc chữa bệnh (điều trị bệnh ngoài da, hen xuyễn hoặc sốt rét).
(2) Diasenic pentaoxit(As2O5). Điều chế bằng cách oxy hóa asen trioxit
hoặc bằng cách khử nước của axit asenic; là dạng bột màu trắng, có
độc tính cao, hòa tan chậm trong nước, tạo ra axit asenic. Nó được sử
để điều chế axit asenic, như một tác nhân oxy hóa,....
(3) Axit asenic. Cái tên "axit asenic" được đặt cho axit ortho- asenic
(H3AsO4.½H2O) và các dạng hydrat khác của asen pentaoxit (pyro-
hoặc meta- asenic axit,...). Chúng kết tinh ở dạng tinh thể hình kim
không màu và là chất độc gây chết người.
Axit asenic được sử dụng để sản xuất thuốc nhuộm tổng hợp
(fuchsin,...), asenat và các dẫn xuất hữu cơ của Arsenic cũng được sử
dụng làm thuốc chữa bệnh hoặc diệt côn trùng.
Nhóm này loại trừ arsenic hydrides (ví dụ, AsH3) (nhóm 28.50).
(L) CÁC HỢP CHẤT CỦA CACBON
(1) Carbon monoxit (CO). Là dạng khí không vị và không màu, độc;
thường được bảo quản ở dạng khí nén. Nhờ tính khử của nó nên
được sử dụng trong luỵện kim.
(2) Carbon dioxit (CO2). Bị gọi một cách không chính xác là " axit
carbonic". Được điều chế bằng cách đốt cháy carbon, hoặc nung đá
vôi hoặc xử lý chúng với axit.
CO2 là khí không màu, nặng hơn không khí 1,5 lần; làm tắt lửa.
Carbon dioxit có thể tồn tại dưới dạng lỏng (nén trong các bình
thép), hoặc dạng rắn (nén thành dạng cục giữ trong các bình cách
nhiệt, được gọi là “tuyết carbonic” hoặc “băng cacbonic”).
Nó được sử dụng trong luyện kim, trong sản xuất đường hoặc trong
lĩnh vực sản xuất đồ uống có ga. Carbon dioxit CO2 dạng lỏng được
sử dụng tạo bọt bia, để sản xuất axit salixylic, dập lửa,... Dạng
CO2rắn được dùng như chất làm lạnh (xuống đến – 800C).
(3) Hydro xyanua (axit cyanhydric, prussic axit) (HCN): Được điều chế
bằng cách cho acid sulphuric (H2SO4) tác dụng với muối xyanua,
hoặc bằng phản ứng bởi hỗn hợp amoniac và hydrocarbon với sự có
mặt của chất xúc tác.
Nó là chất lỏng không màu, rất độc với mùi của hạnh nhân đắng. Có
thể trộn lẫn với nước và nhẹ hơn nước; khi nó ở dạng không tinh
khiết hoặc dung dịch loãng thì không bảo quản được lâu.
HCN được sử dụng trong tổng hợp hữu cơ (ví dụ, sản xuất
acrylonitril bằng phản ứng với axetylen) và như là một chất diệt ký
sinh trùng.
(4) Isoxyanic, thioxyanic hoặc axit fulminic.
(M) CÁC HỢP CHẤT CỦA SILIC
Silic dioxit (silica tinh khiết, anhydrit silic) SiO2. Được điều chế bằng
cách xử lý dung dịch silicat với axit, hoặc bằng cách phân ly silicon
halogenua bằng tác dụng của nước và nhiệt.
Nó có thể tồn tại dạng vô định hình (như bột màu trắng "silica trắng",
"hoa silica", “silica đã nung”; như các hạt trong suốt - "silica trong suốt";
còn ở dạng keo tựa gelatin thì gọi là "băng Silica", “hydrat silica (silica
ngậm nước)”), hoặc dạng tinh thể (dạng tridymite và cristobalite).
Silica trơ với axit; vì vậy silica nóng chảy được sử dụng làm các dụng cụ
thủy tinh của phòng thí nghiệm và thiết bị công nghiệp dù chúng bị đốt
nóng hoặc hạ lạnh đột ngột cũng không bị vỡ. (xem Chú giải Chi tiết
Khái quát chung của Chương 70). Silica dạng bột mịn được sử dụng, ví
dụ, như một chất độn cho nhiều loại cao su tự nhiên và cao su tổng hợp
và chất đàn hồi khác, như tác nhân làm dày hoặc lưu biến của plastic
khác, mực in, sơn, chất phủ và chất kết dính. Silica fume (pyrogenic)
silica (từ việc đốt tetraclorua silica hoặc triclorosilane trong lò hydro –
oxy) cũng được sử dụng trong việc đánh bóng cơ – hóa tấm silic và như
tác nhân chảy tự do hoặc chống lắng cho các vật liệu. Gel silica đã hoạt
hoá được được sử dụng làm khô khí. Silic fume (thu được dưới dạng sản
phẩm phụ từ quá trình sản xuất silicon, ferrosilicon và zirconia) thường
được sử dụng làm chất phụ gia pozzolanic trong bê tông, xi măng sợi
hoặc vật liệu đúc chịu lửa, và làm chất phụ gia trong polyme.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Silica tự nhiên, ví dụ thạch anh và đất tảo cát (diatomaceous earth)
(Chương 25, trừ các loại đá quý hoặc đá bán quý– xem Chú giải Chi
tiết của nhóm 71.03 và 71.05).
(b) Keo thể huyền phù của silica thường được phân loại vào nhóm 38.24
trừ khi được điều chế riêng cho các mục đích đặc biệt (ví dụ, như chất
xử lý hoàn tất vải dệt thuộc nhóm 38.09).
(c) Gel silica có tẩm thêm muối coban (được dùng như một chất chỉ thị
độ ẩm) ( nhóm 38.24).
(N) CÁC AXIT PHỨC
Nhóm này cũng bao gồm các axit dạng phức đã xác định về mặt hóa học
bao gồm hai hoặc nhiều hơn axit vô cơ á kim (ví dụ, chloro – axit), hoặc
một axit á kim và một axit kim loại (ví dụ, axit tungstosilicic, axit
tungstoboric), không được chi tiết hoặc không bao gồm trong các nhóm
khác của Chương này.
Do antimon được xem là một kim loại trong Danh mục này, axit
antimonic và oxit antimon phân loại vào nhóm 28.25.
(*) Theo thứ tự sau: flo, clo, brom, iot, lưu huỳnh, selen, telua, nitơ, phốt
PHÂN CHƯƠNG III
HỢP CHẤT HALOGEN VÀ HỢP CHẤT SULFUA
CỦA PHI KIM LOẠI
KHÁI QUÁT CHUNG
Phân chương này bao gồm các sản phẩm, mặc dù được biết với tên
(clorua, sulphua,..) giống như tên của muối kim loại của hydraxit được
phân loại trong Phân Chương V, thực ra là các hợp chất phi kim như:
1) Một halogen với một phi kim trừ oxy hoặc hydro (hợp chất
(2) Các hợp chất tương tự như trong mục (1) ở trên, kết hợp với oxy
(halogenua oxit) hoặc
(3) Lưu huỳnh với một phi kim trừ oxy hoặc hydro (hợp chất lưu
huỳnh).
Sulphua oxit của phi kim (lưu huỳnh + oxy + phi kim) không bao gồm
trong Phân Chương này; chúng được phân loại trong nhóm 28.53.
Halogenua, oxit halogenua và sulphua của kim loại (xem Chú giải Chi
tiết Tổng quát chung của phân Chương I) hoặc của ion amoni (NH4+)
được phân loại trong phân Chương V trừ trường hợp hợp chất của các
kim loại quý (nhóm 28.43) và các hợp chất của nhóm 28.44, 28.45,
28.46 hoặc 28.52.
28.12 - Halogenua và oxit halogenua của phi kim loại.
Clorua và oxit clorua:
2812.15 - - Lưu huỳnh monoclorua
2812.16 - - Lưu huỳnh diclorua
Loại khác
2812.90 - Loại khác
(A) CÁC DẠNG CLORUA CỦA PHI KIM LOẠI
Quan trọng nhất của các hợp chất hai thành phần này là:
(a) Iốt clorua (ICl) (I-ốt clorua) là kết quả của việc cho clo tác dụng
trực tiếp với iốt. Là dạng lỏng màu nâu đậm ở nhiệt độ trên
270C); ở dưới nhiệt độ đó có dạng tinh thể màu đỏ nhạt. Tỷ trọng
khoảng 3. Phân hủy bởi nước; nó cũng gây cháy da. Được sử
dụng trong tổng hợp hữu cơ như một tác nhân iot hoá.
(b) Iốt triclorua(ICl3): Được điều chế giống quy trình sản xuất
monoclorua, hoặc điều chế từ axit hydriodic. Là dạng tinh thể
hình kim màu vàng hoà tan trong nước. Tỷ trọngkhoảng 3. Được
sử dụng với mục đích như monoclorua (monochloride) và cũng
được dùng trong y học.
(a) Sulphur monoclorua (S2Cl2) (có tên khác là “disulphur
diclorua”, tên thể hiện công thức cấu tạo Cl-S-S-Cl). Được điều
chế bằng cách cho clo tác dụng với lưu huỳnh. Đây là lưu huỳnh
clorua thương phẩm, là chất lỏng có màu vàng hoặc đỏ nhạt, bốc
khói tạo mùi gây ngạt khi đặt ngoài không khí; bị phân huỷ bởi
nước. Tỷ trọng khoảng 1,7. Là dung môi cho lưu huỳnh, nó được
sử dụng để lưu hoá lạnh cao su hoặc gutta percha
(b) Sulphur diclorua (SCl2). Được điều chế từ monoclorua. Là chất
lỏng màu nâu hơi đỏ, cũng bị phân huỷ bởi nước; kém bền. Tỷ
trọng khoảng 1,6. Công dụng gồm: lưu hoá lạnh cao su, như một
tác nhân clo hoá trong sản xuất thuốc nhuộm tổng hợp (đặc biệt
là thioindigo).
(a) Phospho triclorua (PCl3). Được điều chế bằng cách cho clo tác
dụng trực tiếp với phospho. Đó là chất lỏng không màu, tỷ trọng
khoảng 1,6; có tính ăn mòn, với mùi kích ứng làm chảy nước
mắt. Bốc hơiở môi trường không khí ẩm và bị phân hủy khi tiếp
xúc với nước. Chủ yếu được sử dụng làm tác nhân clo hoá trong
tổng hợp hữu cơ (ví dụ, sản xuất axit clorua, thuốc nhuộm,...);
cũng được sử dụng trong sản xuất đồ sứ để tạo độ bóng.
(b) Phospho pentaclorua (PCl5). Được điều chế từ triclorua ở dạng
tinh thể trắng hoặc vàng nhạt. Tỷ trọng khoảng 3,6. Giống như
triclorua, nó bốc khói ở môi trường không khí ẩm; bị phân hủy
khi tiếp xúc với nước và gây chảy nước mắt. Được sử dụng trong
hoá hữu cơ như một tác nhân clo hoá hoặc một chất xúc tác (ví
dụ, để sản xuất isatin clorua).
Phosphonium chloride (PH4Cl) bị loại trừ (nhóm 28.53).
Asen triclorua (AsCl3). Được điều chế bằng cách cho clo tác dụng
với asen hoặc cho axit clohydric tác dụng lên asen trioxit. Là chất
lỏng không màu có dạng dầu. Bốc hơi trong không khí ẩm; rất độc.
Silic tetraclorua (SiCl4). Được điều chế bằng cách cho khí clo tác
dụng lên hỗn hợp silica (SiO2) và than đá, hoặc lên silic, silic đồng
thiếc hoặc fero-silic (sắt silic). Đó là chất lỏng không màu, tỷ trọng
khoảng 1,5. Ở môi trường không khí ẩm, nó bốc khói màu trắng
(Hydro clorua (HCl)), gây ngạt. Bị phân hủy trong nước tạo silic
dioxit dạng gel và giải phóng khói HCl. Được sử dụng cho sản xuất
silic oxitvà silic rất tinh khiết, silicon và màn khói.
Các sản phẩm thay thế của hydro silicides như trichlorosilane
(SiHCl3) bị loại trừ (nhóm 28.53).
Nhóm này không bao gồm cacbon tetra clorua (tetracholruamenthane
hexachlorobenzene (ISO) (C6Cl6), octachloronaphthalene (C10Cl8) và
các dạng cacbon clorua tương tự; đây là các dẫn xuất clo hóa của
hydrocarbon (nhóm 29.03)
(B) OXIT CLORUA CỦA PHI KIM LOẠI
Là sự liên kết của 3 yếu tố bao gồm:
(1) Oxit clorua lưu huỳnh(Sulphur chloride oxides)
Được điều chế bằng oxy hóa lưu huỳnh diclorua với lưu huỳnh
trioxit hoặc suphuryl clorua. Đó là chất lỏng không màu; tỷ trọng
khoảng 1,7. Bốc hơi ngạt; phân hủy bởi nước. Được sử dụng
trong sản xuất clorua hữu cơ.
chlorua) (“axit dichlorosulphonic” (SO2Cl2). Được điều chế bằng
cách cho clo tác dụng với dioxit lưu huỳnh để ngoài ánh sáng mặt
trời hoặc với sự có mặt của một chất xúc tác (băng phiến hoặc
than hoạt tính). Đó là chất lỏng không màu, tỷ trọng khoảng 1,7.
Bốc hơi ngoài không khí; bị phân hủy bởi nước; có tính ăn mòn.
Được sử dụng như tác nhân clo hoá và sulphonat hoá trong tổng
hợp hữu cơ, ví dụ, trong sản xuất axit cloric.
Nhóm này không bao gồm axit chlorosulphuric (“sulphuric
chlorohydrin”) (ClSO2.OH) (nhóm 28.06).
Selen diclorua oxit, thường được gọi chung là “selenyl clorua”
(SeOCl2) tương tự như thionyl clorua. Được sản xuất bằng cách cho
selen tetraclorua tác dụng với selen dioxit. Trên100C nó là chất lỏng
màu vàng, bốc hơi ngoài không khí; ở nhiệt độ thấp hơn nó ở dạng
tinh thể không màu; tỷ trọng khoảng 2,4. Bị phân hủy bởi nước.
Được sử dụng trong tổng hợp hữu cơ hoặc khử cacbon trong các xi
lanh của động cơ đốt trong.
Là dạng khí màu vàng cam có mùi khó thở; độc hại; được dùng như
một tác nhân oxy hoá.
Được điều chế từ phospho triclorua được xử lý với kali clorat, từ
phospho pentaclorua được xử lý với axit boric, hoặc bằng cách cho
cacbonyl clorua tác dụng với tricanxi photphat. Đó là chất lỏng
không màu, tỷ trọng khoảng 1,7. Nó có mùi kích ứng, bốc hơi ngoài
môi trường không khí ẩm và bị phân hủy bởi nước. Được sử dụng
làm tác nhân clo hóa trong tổng hợp hữu cơ và cũng như trong sản
xuất anhydrit axetic hoặc axit chlorosulphonic.
Được sản xuất bằng cách cho clo tác dụng với cacbon monoxit (CO)
với sự có mặt của muội động vật hoặc than củi, hoặc bằng phản ứng
giữa oleum với cacbon tetraclorua. Là sản phẩm không màu, là chất
lỏng ở nhiệt độ từ80C trở xuống và chuyển thành dạng khí ở nhiệt độ
cao hơn; nó thường được đựng trong các bình thép kín ở dạng lỏng
dưới dạng khí nén . Khi hòa tan trong toluen hoặc benzen, nó được
phân loại vào nhóm 38.24.
Là sản phẩm rất độc và gây chảy nước mắt. Nó là tác nhân clo hóa,
được sử dụng rộng rãi trong tổng hợp hữu cơ (ví dụ, trong sản xuất
axit clorua, dẫn xuất amino, Michler’s ketone và sản phẩm trung
gian trong công nghiệp sản xuất thuốc nhuộm hữu cơ).
(C) HALOGENUA KHÁC VÀ OXIT HALOGENUA KHÁC CỦA
PHI KIM LOẠI
Nhóm này bao gồm toàn bộ các halogenua khác của phi kim loại (florua,
bromua và iodua).
(a) Iôt pentaflorua (IF5). Là dạng chất lỏng, bốc khói.
(b) Phospho florua và silic florua.
(c) Bo triflorua (BF3). Được điều chế bằng cách nung nóng canxi
florua tự nhiên và oxit boric dạng bột với sự có mặt của axit
sulphuric. Đó là dạng khí không màu. Bốc khói ngoài không khí
ẩm, carbon hóa các sản phẩm hữu cơ. Hút nước mạnh hình thành
dạng axit floroboric. Được sử dụng như tác nhân khử nước và
như là một chất xúc tác trong tổng hợp hữu cơ. Nó tạo phức với
các hợp chất hữu cơ (ví dụ, dietyl ete, axit axetic hoặc phenol);
các hợp chất này, cũng được sử dụng làm chất xúc tác, và được
phân loại vào nhóm 29.42.
(a) Iot bromua (monobromua) (IBr). Được tạo ra bằng cách kết hợp
các nguyên tố có trong thành phần. Đó là khối kết tinh đỏ thẫm,
giống như iot. Hòa tan trong nước. Được sử dụng trong tổng hợp
hữu cơ.
Photpho tribromua(PBr3). Được điều chếbằng cách cho phản
ứng giữa brom và photpho hòa tan trong carbon disulphua. Đó là
chất lỏng không màu. Bốc khói ngoài không khí ẩm; bị phân hủy
bởi nước. Tỷ trọng khoảng 2,8. Được sử dụng trong tổng hợp
hữu cơ.
Nhóm này không bao gồm phospho bromua (PH4Br) (nhóm
28.53) và carbon bromua (nhóm 29.03).
Photpho di-iodua (P2I4). Là kết quả của phản ứng giữa iot và
photpho được hòa tan trong carbon disulphua. Đó là tinh thể màu
cam, thoát ra khói có màu.
Phospho tri-iodua (PI3). Được điều chế theo phương pháp
tương tự; kết tinh hóa thành dạng viênnén màu đỏ thẫm.
Photpho iodua (PH4I) được phân loại vào nhóm 28.53.
Asen tri-iodua (AsI3). Dạng tinh thể màu đỏ; được điều chế từ
các nguyên tố có trong thành phần. Độc và bay hơi. Được sử
dụng trong y học hoặc cũng làm thuốc thử trong phòng thí
nghiệm.
(c) Hợp chất của iodua với các halogen khác. Xem phần A (l), C
(1) (a), C (2) (a) ở trên.
(4) Halogenua oxit trừ loại oxit clorua.
(a) Oxit florua, ví dụ, phospho triflorua oxit (phosphorylflorua)
(b) Oxit bromua, ví dụ, lưu huỳnh dibromua oxit (thionyl bromua)
(SOBr2), là chất lỏng màu da cam, và phospho tribromua oxit
(phosphoryl bromua) (POBr3) ở dạng tinh thể mỏng (phiến).
28.13 - Sulphua của phi kim loại; phospho trisulphua thương phẩm.
2813.90 - Loại khác
Các hợp chất hai thành phần quan trọng nhất của nhóm này là:
Là kết quả của phản ứng giữa hơi lưu huỳnh với carbon đốt cháy.
Đây là chất lỏng không màu, độc (tỷ trọng khoảng 1,3). Không hòa
tan với nước. Ở dạng không tinh khiết có mùi của trứng thối. Rất dễ
bay hơi và bắt lửa, gây nguy hiểm khi hít và sờ phải. Nó thường
được đựng trong thùng kim loại, thủy tinh hoặc đồ gốm sứ được
chèn bằng rơm hoặc liễu gai, và được nút rất chặt.
Nó được sử dụng như một dung môi cho nhiều mục đích, ví dụ, để
chiết xuất các loại dầu, mỡ hoặc tinh dầu, để loại mỡ khỏi xương,
trong y học, hoặc trong công nghiệp dệt nhân tạo hoặc trong công
nghiệp cao su. Nó cũng được sử dụng trong nông nghiệp, được đưa
vào đất nhằm tiêu diệt côn trùng, rệp rễ nho,.... Đối với công dụng
sau, sản phẩm dẫn xuất kali thiocarbonat cũng đôi khi được sử
dụng.(nhóm 28.42). (Xem Chú giải Chi tiết nhóm 38.08).
Được điều chế bằng cách cho hơi lưu huỳnh phản ứng với silic đã
nung nóng ở nhiệt độ cao. Đó là chất rắn màu trắng; kết tinh thành
tinh thể hình kim dễ bay hơi. Bị nước phân hủy tạo thành silic dioxit
dạng gel.
Nhóm này bao gồm các sulphua nhân tạo thu được hoặc từ sulphua
tự nhiên, hoặc từ asen hoặc arsenous oxit bằng cách xử lý với lưu
huỳnh hoặc hydro sulphua.
(a) Diasen disulphua (reanga (hùng hoàng) nhân tạo, hùng hoàng
giả, sulphua đỏ) (As2S2 hoặc As4S4). Là sản phẩm độc, tồn tại ở
tinh thể đỏ trong suốt hoặc đỏ da cam. Tỷ trọng khoảng 3,5. Bay
hơi mà không cần nấu chảy. Được sử dụng trong sản xuất pháo
hoa (trộn với kali nitrat và lưu huỳnh), trong sơn (asen ruby),
hoặc trong công đoạn thuộc da để loại lông động vật.
(b) Diasen trisulphua (opiment nhân tạo, auripiment giả, sulphua
màu vàng) (As2S3). Là chất bột màu vàng, độc, tỷ trọng khoảng
2,7; không mùi và không tan trong nước. Công dụng tương tự
disulphua, và cũng được sử dụng làm chất màu cho da thuộc
hoặc cao su, chất diệt ký sinh trùng hoặc dùng trong y học (bởi vì
nó tiêu diệt sự phát triển của bệnh). Với sulphua kiềm, nó tạo
thành thioasenit thuộc nhóm 28.42.
(c) Diasen pentasulphua(As2S5). Sản phẩm này không tồn tại trong
tự nhiên, là dạngrắnvô định hình màu vàng sáng, không hoà tan
trong nước. Được sử dụng như thuốc màu. Với sulphua kiềm, nó
cũng chuyển thành dạng thioasenat thuộc nhóm 28.42.
Nhóm này không bao gồm asen sulphua tự nhiên (disulphua hoặc
realgar (hùng hoàng), trisulphua hoặc orpiment) (nhóm 25.30).
(a) Tetraphospho trisulphua (P4S3). Thu được từ các nguyên tố có
trong thành phần. Ở dạng rắn, màu xám hoặc vàng. Tỷ trọng
khoảng 2,1. Tồn tại hoặc ở dạng vô định hình hoặc ở dạng tinh
thể. Có mùi của tỏi và không độc lắm, tuy nhiên ở dạng bụi nó
khá nguy hiểm nếu như hít phải. Nó bị phân huỷ bởi nước sôi,
nhưng không bị ảnh hưởng bởi không khí. Nó là dạng phospho
sulphua bền vững nhất. Được sử dụng trong sản xuất
pentasulphua, và thay thế phospho trong sản xuất diêm an toàn;
cũng như trong tổng hợp hữu cơ.
(b) Diphospho pentasulphua(P2S5 hoặc P4S10). Tồn tại ở dạng tinh
thể màu vàng; tỷ trọng từ 2,03 đến 2,09. Được sử dụng giống
như mục đích của tetraphospho trisulphua hoặc làm tác nhân cho
tuyển nổi các quặng.
(c) Phospho trisulphua thuơng phẩm. Sản phẩm được hiểu là
phospho trisulphua là một hỗn hợp mà công thức của nó gần
giống như P2S3; nó tồn tại ở dạng khối kết tinh màu xám hơi
vàng, bị phân hủy bởi nước. Được sử dụng trong tổng hợp hữu
cơ.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Hợp chất hai thành phần của lưu huỳnh với halogen (ví dụ, lưu huỳnh
clorua) (nhóm 28.12).
(b) Oxysulphua (ví dụ, của asen, cacbon và silic) và các thiohalogenua
của phi kim loại (ví dụ, phospho clorosulphua và thiocarbonyl clorua)
(nhóm 28.53).
PHÂN CHƯƠNG IV
BAZƠ VÀ OXIT VÔ CƠ, HYDROXIT VÀ PEROXIT KIM LOẠI
KHÁI QUÁT CHUNG
Bazơ là những hợp chất được đặc trưng bởi một gốc hydroxit (OH) và
phản ứng với axit tạo thành muối. Ở trạng thái lỏng hoặc dung dịch,
chúng là chất điện phân cho một kim loại hoặc một ion tương tự (amoni
(NH4+)) ở cực âm.
Oxit kim loại là hợp chất của một kim loại với oxy. Nhiều oxit có thể kết
hợp với một hoặc nhiều phân tử nước để tạo thành hydroxit.
Đa số các oxit mang tính bazơ vì hydroxit của chúng hoạt động như các
bazơ. Tuy nhiên, một số loại oxit (oxit anhydrit), chỉ phản ứng với kiềm
hoặc các bazơ khác để thành muối, trong khi loại khác phổ biến hơn (oxit
lưỡng tính) có thể phản ứng như oxit anhydrit hoặc bazơ. Các loại oxit
này phải được coi như anhydrit của axit, thực sự hoặc giả thiết, đều phải
phù hợp với dạng hydroxit của chúng.
Một số loại oxit (oxit muối) có thể được coi là kết quả từ sự hoá hợp của
oxit bazơ với một oxit anhydrit.
Phân Chương này bao gồm:
(1) Oxit, hydroxit và peroxit của kim loại, có thể là bazơ, có tính axit,
lưỡng tính hoặc muối.
(2) Các bazơ vô cơ khác không có oxy, như amoniac (nhóm 28.14),
hoặc hidrazin (nhóm 28.25), và các bazơ không chứa kim loại, như
hydroxylamin (nhóm 28.25).
Phân chương này không bao gồm:
(a) Oxit và hydroxit của Chương 25, đặc biệt là magie (oxit magie), tinh
khiết hoặc không tinh khiết, và vôi sống và vôi đã tôi, (oxit và hydroxit
canxi dạng thô).
(b) Oxit và hydroxit là quặng (các nhóm từ 26.01 đến 26.17),vảy, tro, xỉ,
địa xỉ, váng hoặc các loại cặn có chứa kim loại khác (các nhóm từ
26.18 đến 26.20).
(c) Oxit, peroxit và hyroxit của các kim loại quý (nhóm 28.43), của các
nguyên tố phóng xạ (nhóm 28.44), của các kim loại đất hiếm, của ytri
hoặc scandi hoặc của hỗn hợp của các kim loại đó (nhóm 28.46), hoặc
của thuỷ ngân (nhóm 28.52).
(d) Các hợp chất oxy của hydro thuộc nhóm 22.01 (nước), nhóm 28.45
(nước nặng), nhóm 28.47 (hydro peroxit), hoặc nhóm 28.53 (nước cất
và nước dẫn nhiệt, điện và nước có độ tinh khiết tương tự, kể cả nước
đã được xử lý bằng cách trao đổi ion).
(e) Các chất màu với nền tảng là các oxit kim loại (nhóm 32.06), các
chất màu đã pha chế, các chất chắn ánh sáng đã pha chế và các màu đã
pha chế, các chất men kính và men sứ thủy tinh và các sản phẩm tương
tự của loại được sử dụng trong công nghiệp gốm, men hoặc thủy tinh
(nhóm 32.07), và các chế phẩm khác của Chương 32, được tạo thành
bởi oxit, hydroxit hoặc bazơ được trộn với các sản phẩm khác.
(f) Các chế phẩm chắn ánh sáng để làm cho sợi nhân tạo không bị bóng
(nhóm 38.09) và các chế phẩm tẩy gỉ bề mặt kim loại (nhóm 38.10).
(g) Các loại đá quý hoặc đá bán quý tổng hợp hoặc tự nhiên(các nhóm
từ 71.02 đến 71.05).
28.14 – Amoniac, dạng khan hoặc dạng dung dịch nước.
2814.10 - Dạng khan
2814.20 - Dạng dung dịch nước
Amoniac thu được hoặc từ sản xuất khí ga lỏng amoniac không tinh khiết
trong lọc khí than hoặc trong chế biến than cốc (xem Chú giải Chi tiết
nhóm 38.25, Phần (A) (3)), hoặc bằng phương pháp tổng hợp từ hydro
và nitơ.
Nhóm này bao gồm:
(1) Amoniac khan (NH3), là dạng khí không màu. Nó nhẹ hơn không khí
và dễ hóa lỏng khi nén. Được đựng trong các bình kim loại.
(2) Amoniac trong dung dịch nước (NH4OH), là dạng hydroxit của
“nguyên tố” giả thiết amoni (NH4). Dung dịch này (thường chứa 20,
27 hoặc 34% NH3) là chất lỏng không màu hoặc màu vàng nhạt được
đựng trong các bình kín. Dung dịch cồn của amoniac bị loại trừ
(nhóm 38.24).
Amoniac có rất nhiều ứng dụng, ví dụ, trong sản xuất axit nitric và muối
nitrat, muối amoni sulphat, các muối amoni khác và các loại phân bón
nitơ, carbonat natri, xyanua, amin (ví dụ, naphthylamine). Nó tạo nhũ cho
các chất béo và nhựa, và nó có tác dụng như một chất tẩy sạch các vết
bẩn, tạo ra các hợp chất đánh bóng, xử lý latec (nhựa mủ cao su), lau chùi
vecni,.... Amoniac lỏng được sử dụng trong thiết bị làm lạnh.
28.15 - Natri hydroxit (xút ăn da); kali hydroxit (potash ăn da); natri
peroxit hoặc kali peroxit.
- Natri hydroxit (xút ăn da):
2815.11 - - Dạng rắn
2815.12 - - Dạng dung dịch nước (soda kiềm hoặc soda lỏng)
2815.20 - Kali hyroxit (potash ăn da)
2815.30 - Natri hoặc kali peroxit
(A) NATRI HYDROXIT (XÚT ĂN DA)
Natri hydroxit (xút ăn da) (NaOH) không nên nhầm với soda thương
phẩm, là carbonat natri (nhóm 28.36).
Natri hydroxyt được điều chế, ví dụ, bằng cách kiềm hóa natri carbonat
với nước vôi dạng sữa hoặc bằng phương pháp điện phân NaCl. Nó có
thể tồn tại dưới dạng dung dịch nước hay dạng rắn khan. Khi làm bay hơi
NaOH dạng dung dịch nước sẽ tạo nên Natri Hydroxit dạng rắn dưới
dạng cục hoặc dạng mảnh. Sản phẩm tinh khiết bảo quản dạng viên hoặc
khối trong các bình thủy tinh.
NaOH dạng rắn làm hỏng da và phá hủy màng niêm mạc. Nó bị chảy rữa
và hòa tan nhiều trong nước, nó phải được bảo quản trong bình thép gắn
kín.
Đây là một bazơ có tác động mạnh được sử dụng rộng rãi trong công
nghiệp: tạo ra một số chế phẩm bột gỗ hóa học bằng cách loại bỏ lignin,
sản xuất xenlulo tái sinh, làm bóng vải cotton, luyện kim tantan hoặc
niobi, sản xuất xà phòng cứng, sản xuất nhiều sản phẩm hóa học, kể cả
các hợp chất phenolic (phenol, resorcinol, alizarin,...).
Nhóm này không bao gồm cặn dung dịch kiềm (soda dung dịch kiềm)
thu được như sản phẩm còn dư từ sản xuất bột gỗ bằng quá trình kiềm
hóa hoặc sulphat hóa (nhóm 38.04); từ các dung dịch kiềm này có thể
thu được dầu tall của nhóm 38.03 và NaOH tái sinh.
Nhóm này cũng không bao gồm hỗn hợp của NaOH và vôi được gọi là
"vôi sôđa" (nhóm 38.24).
(B) KALI HYDROXIT (POTASH ĂN DA)
Kali hydroxit (potash ăn da) (KOH) rất giống như NaOH được mô tả ở
trên. Nó phải được phân biệt với K2CO3 (kali carbonat) (nhóm 28.36)
hoặc potash thương phẩm (một cái tên được áp dụng lỏng lẻo ở một số
nước cho một vài muối kali nào đó, đặc biệt là dạng clorua).
Nó thường được điều chế bằng cách điện phân dung dịch kali clorua tự
nhiên (nhóm 31.04), nhưng cũng có thể được điều chế từ kali carbonat
bởi dung dịch kiềm với nước vôi (cho “potash vôi”).KOH tinh khiết thu
được bằng cách xử lý với rượu, hoặc bằng phân ly kép bari hydroxyt và
KOH có thể tồn tại dạng dung dịch nước (potash kiềm), nồng độ cao hơn
hoặc ít hơn (thông thường khoảng 50%), hoặc dạng rắn chứa kali clorua
(một số các tạp khác). Nó được bảo quản và đóng gói tương tự và có
thuộc tính tương tự như NaOH.
Nó được sử dụng trong sản xuất xà phòng mềm, cho tẩy gỉ các phần bị
kim loại hóa hoặc sơn lại, cho tẩy trắng, trong sản xuất kali permanganat
(KMnO4),.... Nó cũng được sử dụng trong y học như một chất đốt diệt
trùng trong y học (các vết khâu), đối với mục đích này, nó đôi khi được
trộn với nước vôi và khi đó được phân loại vào nhóm 30.03 hoặc 30.04.
Natri peroxit (dinatri dioxit) (Na2O2), được điều chế bằng cách đốt cháy
natri, một chất bột trắng hoặc hơi vàng rất dễ chảy rữa, tỷ trọng khoảng
2,8. Nó bị phân hủy bởi nước, tỏa nhiệt và chuyển thành hydro peroxit.
Nó cũng được đựng ở dạng các bánh trong bình kim loại được hàn kín.
Nó được sử dụng trong sản xuất xà phòng, để tẩy trắng vải, như một tác
nhân oxy hóa trong tổng hợp hữu cơ, hoặc làm sạch không khí tù hãm (ví
dụ, ở dưới tàu ngầm). Khi trộn lẫn với các chất xúc tác (một chút của
muối đồng hoặc niken, ...) để nhanh chóng tạo ra hydro peroxit, nó thuộc
chế phẩm nhóm 38.24.
Kali peroxit (dikali dioxit) (K2O2) rất giống natri peroxit cả về tính chất,
ứng dụng và quy trình sản xuất.
28.16 - Magie hydroxit và magie peroxit; oxit, hydroxit và peroxit, của
stronti hoặc bari.
2816.10 - Magie hydroxit và magie peroxit
2816.40 - Oxit, hydroxit và peroxit, của stronti hoặc bari
(A) MAGIE HYDROXIT VÀ MAGIE PEROXIT
(1) Magie hydroxit (Mg(OH)2). Là dạng bột trắng, nặng hơn magie
oxit; bền vững nhưng chuyển sang dạng carbonat chậm khi để ngoài
không khí. Được sử dụng trong dược học.
(2) Magie peroxit (MgO2). Được điều chế bằng cách cho hydro peroxit
tác dụng với hydroxit magiê. Là dạng bột trắng, có chứa oxit như tạp
chất; hầu như không hòa tan trong nước. Được sử dụng để tẩy trắng
lông vũ, trong điều chế thuốc đánh răng hoặc dùng làm chất diệt
khuẩn đường tiêu hóa.
Magiê oxit được loại trừ (nhóm 25.19 hoặc nếu ở dạng tinh thể nuôi
cấy, trọng lượng không ít hơn 2,5g mỗi tinh thể, nhóm 38.24).
(B) STRONTI OXIT, HYDROXIT VÀ PEROXIT
(1) Stronti oxit (khan hoặc stronti ăn da) (SrO). Thu được bởi nung tủa
(nung và kết tủa) stronti carbonat. Là dạng bột hút ẩm, màu trắng
xốp, hòa tan trong nước. Khi tiếp xúc không khí sẽ chuyển sang dạng
carbonat. Được sử dụng trong sản xuất pháo hoa hoặc trong y học và
để điều chế stronti hydroxit và thuốc màu.
(2) Stronti hydroxit (Sr(OH)2). Tồn tại ở dạng vô định hình khan hoặc
dạng kết tinh ngậm 8 phân tử nước; khi tiếp xúc không khí sẽ
chuyển sang dạng carbonat. Được dùng trong sản xuất thủy tinh, và
cho điều chế muối stronti và thuốc màu phát quang.
(3) Stronti peroxit (SrO2). Được điều chế bằng cách cho oxy tác dụng
với stronti oxit. Là dạng bột trắng, bị phân hủy bởi nước nóng. Được
sử dụng trong sản xuất pháo hoa.
(C) BARI OXIT, HYDROXIT VÀ PEROXIT
(1) Bari oxit (baryta khan) (BaO). Sản phẩm này không được nhầm lẫn
với bari sulphat tự nhiên, đôi khi được hiểu là dạng baryte. Nó thu
được bằng cách nung bari nitrat kết tủa hoặc bari carbonat kết tủa,
hoặc bằng cách thủy phân bari silicat. Bari oxit tương tự như stronti
oxit, nhưng nó nặng hơn (tỷ trọng khoảng 5,5) và có thể ở dạng kết
tinh.Được sử dụng để điều chế bari hydroxit Ba(OH)2 và bari
peroxit và bari kim loại.
Nhóm này loại trừ sản phẩm thô thu được bởi nung đơn thuần bari
carbonat tự nhiên (whitherite) (nhóm 25.11).
(2) Bari hydroxit (Ba(OH)2). Thường ở dạng tinh thể phiến mỏng màu
trắng và vân hoa (ngậm 8 phân tử nước) hoặc ở dạng dung dịch nước
(nước baryta). ). Được sử dụng: trong sản xuất thủy tinh, để sản xuất
tấm chắn tia X bằng thủy tinh; trong đồ gốm; tinh chế nước; sản xuất
KOH và các dạng hợp chất bari khác nhau.
(3) Bari peroxit (BaO2). Được điều chế bằng nung nóng bari oxit ở môi
trường không khí không có CO2. Là bột màu trắng hoặc dạng tảng
màu xám không hòa tan được (tỷ trọng khoảng 5). Khi phân ly bởi
nước sẽ tạo ra hydro peroxit; được sử dụng cho sản xuất chất hydro
28.17 - Kẽm oxit; kẽm peroxit.
(A) KẼM OXIT
Kẽm oxit (kẽm trắng) (ZnO) thu được bằng cách đốt hơi kẽm bằng oxy
từ không khí. Hơi kẽm thu được bằng cách làm bay hơi kẽm kim loại
(quy trình gián tiếp hoặc quy trình của Pháp) hoặc bằng cách khử nguyên
liệu kẽm oxy hóa như quặng kẽm (roasted blende, calamine - nhóm
26.08) bằng carbon (quy trình trực tiếp hoặc quy trình của Mỹ). Trong
các quy trình này, oxit được thu thập trong các túi hoặc buồng tạo thành
các lớp oxit ngày càng tinh khiết.
Trong quy trình ướt, kẽm được hòa tách từ nguyên liệu thô chứa kẽm và
sau đó kết tủa dưới dạng kẽm hydroxit hoặc kẽm cacbonat. Phần kết tủa
được lọc, rửa, sấy khô và nung thành ZnO. Kẽm oxit là chất bột màu
trắng mịn, khi đun nóng sẽ chuyển sang màu vàng. Nó có tính chất lưỡng
tính, tan trong axit và kiềm.
Kẽm oxit chủ yếu được sử dụng trong sơn công nghiệp. Nó cũng được sử
dụng trong ngành công nghiệp cao su, gốm sứ, sản xuất thủy tinh, điện tử
và dược phẩm. Kẽm oxit cũng là tiền chất của nhiều loại muối vô cơ hoặc
hữu cơ được sử dụng trong sản xuất plastics.
Dạng zincat của nhóm 28.41 tương ứng với dạng oxit lưỡng tính.
(B) KẼM PEROXIT
Kẽm peroxit(ZnO2). Là dạng bột trắng, không hòa tan trong nước. Được
sử dụng trong y học, hoặc là dạng tinh khiết hoặc với oxit kẽm như là tạp
chất, và cũng được dùng để điều chế mỹ phẩm.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Kẽm oxit hoặc zincite tự nhiên (nhóm 26.08).
(b) Cặn của quá trình luyện kim kẽm được hiểu như vảy kẽm, váng kẽm
hoặc xỉ luyện kim, chúng cũng gồm oxit không tinh khiết (nhóm
(c) Kẽm hydroxit (Zn(OH)2) hoặc dạng keo trắng, hoặc hydroperoxit
(nhóm 28.25).
(d) Kẽm oxit không tinh khiết, đôi khi cũng được hiểu như kẽm xám
(nhóm 32.06).
28.18 - Corundum nhân tạo, đã hoặc chưa xác định về mặt hóa học;
oxit nhôm; hydroxit nhôm.
2818.10 - Corundum nhân tạo, đã hoặc chưa xác định về mặt hóa
học
2818.20 - Oxit nhôm, trừ corundum nhân tạo
2818.30 - Nhôm hydroxit
(A) CORUNDUM NHÂN TẠO, ĐÃ HOẶC CHƯA XÁC ĐỊNH VỀ
MẶT HÓA HỌC
Corundum nhân tạo được tạo khi nung chảy oxit nhôm ở lò nung điện.
Oxit nhôm có thể chứa các thành phần nhỏ các oxit khác (ví dụ, titan
oxit, oxit crom) hoặc có từ nguồn nguyên liệu tự nhiên ban đầu (boxit)
hoặc thêm vào nhằm cải tiến hơn, ví dụ, để tăng độ cứng của hạt nung
chảy hoặc để làm biến đổi màu. Tuy nhiên, sự trộn cơ học của corundum
nhân tạo và các chất khác, như là zircon dioxit, được loại trừ khỏi đây
(nhóm 38.24).
Corundum nhân tạo dạng viên nhỏ hoặc dạng khối nhỏ, được nghiền nát
hoặc thành hạt; nó kháng axit và không khí tốt hơn ôxit nhôm thông
thường, và rất cứng. Nó được sử dụng, ví dụ, làm chất mài mòn, trong
sản xuất các khối chịu lửa (như silimanite và mullite, hỗn hợp của
corundum với đất sét chịu lửa tinh khiết và với nhôm silicat khan, tương
ứng) hoặc đồ dùng phòng thí nghiệm và trong công nghiệp điện.
(B) OXIT NHÔM, TRỪ CORUNDUM NHÂN TẠO
Nhôm oxit (nhôm khan hoặc nhôm nung) (Al2O3) được điều chế bằng
cách nung hydroxit nhôm được miêu tả ở phần dưới, hoặc từ amoni
nhôm. Nó là loại bột trắng sáng, không hòa tan trong nước, tỷ trọng
khoảng 3,7.
Nó được sử dụng, ví dụ, trong luyện nhôm, như là chất độn cho sơn,
trong sản xuất chất mài mòn và đá quý hoặc bán quý tổng hợp (rubi,
saphia, emeral (ngọc xanh), thạch anh tím, thạch anh màu xanh biển...),
như làm tác nhân khử nước (cho việc làm khô khí), hoặc làm chất xúc tác
(sản xuất axeton và axit axetic, trong quá trình cracking ...).
(C) HYDROXIT NHÔM
Nhôm hydroxit (oxit nhôm ngậm nước) (Al2O3. 3H2O) được điều chế từ
bôxit (một hỗn hợp có chứa nhôm hydroxit) trong công nghiệp luyện
nhôm (xem Chú giải Chi tiết Tổng quát Chương 76).
Nhôm hydroxit khô là một chất bột trắng vô định hình, dễ vỡ, không hòa
tan trong nước; khi ẩm nó ở dạng khối gelatin (gel nhôm, gelatin nhôm)
Nhôm hydroxit được sử dụng để sản xuất men sứ, mực in, sản phẩm y
học, phèn nhôm, corundum nhân tạo đã miêu tả ở trên và làm dung dịch
lọc; nó được trộn với carbon để sản xuất sơn chống gỉ và do sự hấp dẫn
của nó, cũng như được sử dụng làm chất màu hữu cơ, sản xuất các chất
màu thuộc nhóm 32.05 và chất cẩn màu vải dệt.
Aluminat của nhóm 28.41 tương ứng với hydroxit lưỡng tính này.
Nhóm này cũng bao gồm alumin hoạt hóa, được điều chế bằng cách xử lý
nhiệt có kiểm soát alumin ngậm nước, trong quá trình này hầu hết nước
có trong thành phần bị mất dần; alumin hoạt hóa được sử dụng chủ yếu
làm chất hấp phụ hoặc làm chất xúc tác.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Corundum tự nhiên (oxit nhôm tự nhiên) và bột mài (oxit nhôm có
chứa oxit sắt) (nhóm 25.13).
(b) Bôxit, đã hoặc chưa được rửa và nung, nhưng chưa được tinh chế hóa
học (ví dụ, xử lý với soda) để sử dụng như một chất điện phân (nhóm
(c) Bôxit hoạt tính (nhóm 38.02).
(d) Dung dịch keo hydroxit nhôm (nhôm hòa tan) (nhóm 38.24).
(e) Corundum nhân tạo trên giấy, giấy bìa cát tông hoặc các nguyên liệu
khác (nhóm 68.05) hoặc kết tụ làm bánh nghiền, đá mài, đầu mài doa
hoặc các hàng hoá khác thuộc nhóm 68.04.
(f) Đá quý hoặc bán quý tự nhiên với thành phần cơ bản là oxit nhôm
(nhóm 71.03 hoặc 71.05).
(g) Đá qúy hoặc bán quý tổng hợp với thành phần cơ bản là oxit nhôm (ví
dụ, rubi nhân tạo) (nhóm 71.04 hoặc 71.05).
28.19 - Crom oxit và hydroxit.
2819.90 - Loại khác
(1) Crom trioxit (crom (VI) oxit hoặc crom anhydrit (CrO3) (bị hiểu sai
là "axit cromic", vì nó có thể tạo ra cromat thuộc nhóm 28.41). Dạng
hình kim hoặc dạng phiến màu đỏ hoặc da cam; chảy rữa; rất dễ hòa
tan trong nước; tỷ trọng khoảng 2,8. Khi kết hợp với rượu tạo ra hỗn
hợp chất nổ. Là tác nhân oxy hóa trong hóa chất hữu cơ (sản xuất
thuốc nhuộm indigo, isatin,v.v...); cũng được sử dụng trong y học và,
khi trộn với kieselgur (“epurite”), để tinh chế axetylen.
(2) Dicrom trioxit, crom (III) oxit (crom sesquioxit) (Cr2O3). Được điều
chế bằng cách nung cromat với muối amoni hoặc bằng cách khử
dicromat. Sản phẩm rất cứng, có màu xanh ô liu, ở dạng bột hay tinh
thể; không hòa tan trong nước; tỷ trọng khoảng 5. Oxit dạng tinh
khiết được sử dụng làm bột màu với tên "oxit crom xanh", không
được nhầm lẫn với hỗn hợp của chì cromat và sắt xanh mà được hiểu
là "crom xanh". Nó cũng được sử dụng để sản xuất sơn và mực in, và
trong sản xuất đồ sứ, thủy tinh (thủy tinh quang học màu) hoặc công
nghiệp cao su. Bởi vì nó rất cứng và trơ khi nung nóng, nó được sử
dụng chế tạo hợp chất mài mòn và gạch chịu lửa trong các lò luyện
kim loại. Nó cũng được sử dụng để sản xuất các sản phẩm chống gỉ,
và trong luyện crôm.
Cromit, oxit crom tự nhiên có chứa sắt (quặng crom sắt, sắt cromit)
được loại trừ (nhóm 26.10).
Thuật ngữ "crom hydroxit" được áp dụng cho nhiều hydrat khác nhau của
các loại oxit được miêu tả ở trên và, đặc biệt, là dạng oxit crom ngậm
nước màu xanh (Cr2O3.2H2O), thu được bằng cách xử lý kali dicromat
với axit boric; nó được sử dụng như chất màu với tên gọi "xanh crom"
hoặc trong sản xuất chất màu xanh Guignet. Đây cũng là crom hydroxit
màu tím.
2820.90 - Loại khác
(1) Mangan dioxit (mangan anhydrit) (MnO2). Đây là oxit mangan quan
trọng nhất. Được điều chế bằng cách cho dung dịch axit HNO3 loãng
phản ứng với KMnO4 hoặc với muối mangan II (ví dụ, muối sulphat).
Dạng bột hay khối màu nâu hoặc hơi đen. (tỷ trọng khoảng 5), không
hòa tan trong nước.
Là tác nhân oxy hóa rất mạnh. Được sử dụng trong kỹ nghệ pháo hoa,
tổng
hợp
hữu
cơ
(điều
chế
aminoanthraquinon,...), trong mặt nạ phòng độc, như chất khử cực
trong pin, trong công nghiệp sứ, trong sản xuất chất làm khô, mực in
(màu đen mangan), chất màu (thuốc màu nâu được biết như nâu
khoáng, bitum mangan), một số matit, và tổng hợp đá bán quý (ngọc
hồng nhân tạo). Nó cũng được sử dụng trong công nghiệp thủy tinh (xà
phòng của thợ làm thủy tinh) thông thường để điểu chỉnh màu vàng
của thủy tinh.
Oxit này có đặc tính của anhydrit xuất phát từ manganit ở nhóm 28.41.
Nhóm này không bao gồm mangan dioxit khan tự nhiên (pyrolusite)
và mangan dioxyt tự nhiên đã hydrat hóa (psilomelane) (nhóm 26.02).
(2) Mangan oxit (MnO). Bột màu xanh nhạt hay hơi xám, không hòa tan
trong nước. Tỷ trọng khoảng 5,1. Được sử dụng trong in vải sợi.
Manganous hydrôxit bị loại trừ (nhóm 28.25).
Oxit này mang tính bazơ. Dạng bột đen hoặc nâu (tỷ trọng khoảng
4,8), không hòa tan trong nước. Cách sử dụng bao gồm: trong in vải,
như màu gốm sứ, trong công nghiệp thủy tinh, sản xuất các chất làm
khô (mangan lioleat), như một chất xúc tác trong hóa học, vô cơ (sản
xuất axit HNO3) hoặc hữu cơ.
Nhóm này không bao gồm mangan oxit tự nhiên (braunite - nhóm
26.02) và mangan hydroxit (nhóm 28.25).
(4) Manganomanganic oxit (mangan saline oxit) (Mn3O4). Giống như
oxit sắt saline về vài phương diện.
Oxit saline tự nhiên của mangan (hausmannite) bị loại trừ (nhóm
(5) Permangan anhydrit (Mn2O7). Là dạng lỏng màu nâu tối, hút ẩm
mạnh và dễ kích nổ ở khoảng 40 °C.
Anhydrit này tạo ra permanganat thuộc nhóm 28.41.
Axit permanganic bị loại trừ (nhóm 28.25).
28.21 – Oxit sắt và hydroxit sắt; chất màu từ đất có hàm lượng sắt hóa
hợp Fe2O3 chiếm 70% trở lên tính theo trọng lượng.
2821.10 - Hydroxit và oxit sắt
2821.20 - Chất mầu từ đất
Chất màu từ đất với nền tảng là oxit sắt tự nhiên, chứa 70% trở lên tính
theo trọng lượng là Fe2O3, được phân loại vào nhóm này. Vì mục đích
xem xét giới hạn 70% có đạt được không, phải xem xét đến tổng thành
phần sắt thể hiện như ôxit sắt; như vậy chất màu từ đất sắt tự nhiên chứa
84% oxit sắt (tức là 58,8% sắt tinh khiết) vẫn được phân loại vào nhóm
này.
Nhóm này cũng bao gồm các loại oxit và hydroxit nhân tạo sau:
(A) OXIT SẮT
Oxit sắt(Fe2O3). Thu được từ khử nước sulphat sắt hoặc oxit sắt tự nhiên.
Đó là bột được nghiền mịn, thường có màu đỏ nhưng đôi khi có màu tím,
màu vàng nhạt hoặc đen (dạng oxit màu tím, vàng hoặc đen).Được sử
dụng làm chất màu (minium sắt, bột sắt đỏ, oxit sắt đỏ trong chế tác kim
hoàn), hoặc dạng tinh khiết (trong trường hợp này nó được phân loại
trong nhóm này), hoặc hỗn hợp với đất sét, canxi sunphat (Đỏ
Vơnidơ)...(được xếp vào Chương 32). Nó được sử dụng để sản xuất sơn
thông thường hoặc sơn chống gỉ, hợp chất để đánh bóng kim loại hoặc
đánh bóng thủy tinh, và các hợp chất trong suốt sử dụng trong quá trình
nấu chảy khối trong sản xuất chai lọ thủy tinh. Nó cũng được sử dụng
trong nhiệt nhôm (hỗn hợp với bột nhôm), và làm sạch khí than...
(B) HYDROXIT SẮT
(1) Hydroxit sắt II (Fe(OH)2). Thu được từ phản ứng giữa bazơ kiềm
với muối sắt II. Dạng rắn, màu trắng bị mất màu khi có mặt của oxy,
chuyển thành hydroxit sắt III.
(2) Hydroxit sắt III (oxit nâu) Fe(OH)3. Được tạo ra do tác dụng của
bazơ kiềm với muối sắt III. Đó là sản phẩm màu cam nâu như gỉ sắt,
màu nâu đỏ nhạt hoặc ánh màu tím được sử dụng làm bột màu, hoặc
ở dạng đơn lẻ - trường hợp này được phân loại tại đây - hoặc hỗn
hợp với cacbon, than nâu phổ,... (màu nghệ hoặc vàng Mars), được
phân loại vào nhóm 32.06. Hydroxit sắt III được sử dụng tạo phức
màu (màu nâu Vandyck, đỏ Van Dyck "nâu Anh", "Nâu Thụy
Điển"). Nó được sử dụng ở trạng thái tinh khiết để làm thuốc giải
độc asen.
Nó là hydroxit lưỡng tính, sau khi oxy hóa, cho dạng ferat thuộc
nhóm 28.41.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Chất màu từ đất sắt có chứa hàm lượng ít hơn 70% tính theo trọng
lượng là Fe2O3, hoặc hỗn hợp với các chất màu từ đất khác; oxit sắt
mica (nhóm 25.30).
(b) Quặng sắt của nhóm 26.01, ví dụ, haematite đỏ (kể cả quặng oxit sắt
specular và martite), haematite nâu (minettes, oxit hydrat chứa sắt và
(c) Vảy sắt, oxit thô được tách từ bề mặt của sắt khi nung nóng đỏ hay bị
đập phá (nhóm 26.19).
(d) Oxit sắt kiềm để tinh chế khí (nhóm 38.25).
(e) Oxit sắt (haematite) ở dạng đá bán quý (nhóm 71.03 hoặc 71.05).
28.22 – Coban oxit và hydroxit; coban oxit thương phẩm.
(1) Coban oxit (coban monoxit, coban oxit, oxit xám) (CoO). Là dạng
bột xám, nâu hoặc xanh nhạt.
(2) Dicoban trioxit (coban sesquioxit, coban oxit) (Co2O3). Bột màu đen.
(3) Tricoban tetraoxit (coban saline oxit) (Co3O4). Dạng bột đen.
(4) Coban oxit thương phẩm. Thông thường là dạng bột đen hoặc xám
nhạt gồm monoxit coban và coban saline oxit với tỷ lệ khác nhau.
Các sản phẩm này được sử dụng trong sản xuất men sứ tạo màu xanh
tươi sáng, và trong công nghiệp thủy tinh để sản xuất thủy tinh quang học
màu. Chúng cũng được chuyển thành silicat (ví dụ, coban kali silicat) cho
sản xuất các chất màu thủy tinh thuộc nhóm 32.07; các hợp chất này
được biết như thủy tinh men xanh, kính mờ, xanh da trời, men màu xanh
và màu xanh Sevres. Thuật ngữ "thủy tinh men xanh" được áp dụng đồng
loạt không phân biệt oxit và silicat của chúng, cả hai dạng này được điều
chế từcoban asenic tự nhiên, từ quặng smaltite, một loại quặng được phân
loại ở nhóm 26.05. Một số loại nhất định của các loại sơn màu xanh,
Sèvres blue. The term “ smalt ” is applied indiscriminately to the oxides
xanh thẫm và tím gồm có coban oxit, aluminat, zincat và phosphat (xanh
da trời xanh, xanh coban, tím coban)
Nhóm này loại trừ coban oxit thô thu được từ việc xử lý quặng chứa bạc
(nhóm 26.20).
Thuật ngữ “coban hydroxit” bao gồm không chỉ hydroxit coban
(Co(OH)2), được sử dụng cho sản xuất chất làm khô, và hydroxit coban
III (ví dụ, Co(OH)3), thu được từ luyện coban, mà còn cả saline oxit
hydrat. Chúng được sử dụng với mục đích tương tự coban oxit.
Coban oxit hydrat tự nhiên (dị thể) được loại trừ (nhóm 26.05).
Titan oxit chỉ mang lợi ích thương mại là titan dioxit hoặc titan anhydrit
(TiO2), loại này tạo ra titanat thuộc nhóm 28.41.
Nó là dạng bột vô định hình, tỷ trọng khoảng 4; màu trắng nhưng chuyển
sang màu vàng khi bị đun nóng.
Nhóm này bao gồm titan dioxit khi không có sự pha trộn hoặc không xử
lý bề mặt, nhưng nhóm này loại trừ titan dioxit loại đã được cố ý thêm
vào một số chất trong quá trịnh sản xuất để có một số đặc tính vật lý phù
hợp sử dụng như chất màu (nhóm 32.06) hoặc cho mục đích khác (ví
dụ., nhóm 38.15, 38.24).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Titan dioxit tự nhiên (rutile, anatase, brookik), một loại quặng (nhóm
(b) Orthotitanic axit (Ti(OH)4) và metatitanic axit (TiO(OH)2) (nhóm
28.24 - Chì oxit; chì đỏ và chì da cam.
2824.10 - Chì monoxit (litharge, massicot)
2824.90 - Loại khác
(1) Chì oxit (chì monoxit, dạng màu đỏ - litharge, dạng màu vàng -
massicot) (PbO). Chì hoặc bột chì trắng (chì hydrocarbonat) bị oxy
hóa bởi nhiệt ngoài không khí, đầu tiên sản sinh ra chì oxit dạng
vàng hoặc là gọi là massicot không nóng chảy, nó ở dạng bột vàng
nhạt, và sau đó, khi nhiệt độ vượt quá điểm gia nhiệt đỏ máu, thành
oxit nóng chảy, dạng bột hoặc vảy màu vàng da cam hoặc đỏ nhạt.
Thuật ngữ "litharge” bao gồm cả hai sản phẩm này, nhưng được áp
dụng đặc biệt hơn sản phẩm sau. Chúng cũng thu được như các sản
phẩm phụ qua việc chiết bạc từ quặng chì chứa bạc. Chì oxit được sử
dụng trong công nghiệp thủy tinh (sản xuất thủy tinh chì và thủy tinh
pha lê), trong công nghiệp men sứ, và trong sản xuất diêm, chất màu,
chất làm khô,...)
(2) Trilead tetraoxit (oxit saline chì, chì đỏ, minium) (công thức gần
đúng Pb3O4). Nó thu được từ chì monoxit không nóng chảy (chì oxit
dạng vàng - massicot). Là dạng bột màu đỏ da cam, độc (tỷ trọng
khoảng 8 đến 9). Thuật ngữ chì da cam được áp dụng hoặc cho dạng
oxit saline rất tinh khiết, có màu tươi hơn và ít đậm đặc hơn các dạng
thông thường, hoặc cho các hợp chất chì oxit mà vẫn chứa chì
carbonat từ quặng chì trắng được sử dụng trong sản xuất của chúng.
Chì đỏ được sử dụng rộng rãi trong tạo màu (đỏ Sao thổ) cho sản
xuất sơn chống gỉ hoặc làm matit và tạo màu cho sáp gắn. Nó cũng
được sử dụng làm men gốm. Nó được tận dụng trong sản xuất thủy
tinh pha lê và thủy tinh quang học, thậm chí còn được sử dụng rộng
hơn so với dạng monoxit, vì nó tạo ra thủy tinh nóng chảy với độ
sáng đặc biệt nhờ chỉ số khúc xạ cao.
(3) Chì dioxit (oxit chì màu xám, anhydrit chì) (PbO2). Tạo ra được
bằng cách xử lý chì saline oxit với axit nitric hoặc bằng cách điện
phân chì nitrat. Đó là dạng bột nâu, không hòa tan trong nước, có
khả năng đốt cháy các chất hữu cơ khi tiếp xúc với nó. Nó cũng là
một tác nhân oxy hóa được sử dụng trong kỹ thuật làm pháo hoa;
cũng như sản xuất diêm hoặc bản cực ắc quy, và làm chất cẩn màu
trong công nghiệp dệt.
Loại oxit lưỡng tính này tạo ra plumbates thuộc nhóm 28.41.
28.25- Hydrazin và hydroxilamin và các muối vô cơ của chúng; các
loại bazơ vô cơ khác; các oxit, hydroxit và peroxit kim loại
khác.
2825.10 - Hydrazin và hydroxilamin và các muối vô cơ của chúng
2825.20 - Hydroxit và oxit liti
2825.30 - Hydroxit và oxit vanađi
2825.40 - Hydroxit và oxit niken
2825.50 - Hydroxit và oxit đồng
2825.60 - Germani oxit và zircon dioxit
2825.70 - Hydroxit và oxit molipđen
2825.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(A) Hydrazin và hydroxylamin và các muối vô cơ của chúng.
(B) Oxit, hydroxit và peroxit kim loại của Chương này không bao
gồm trong các nhóm trước.
Các sản phẩm quan trọng nhất của nhóm này là:
(1) Hydrazin và các muối vô cơ của nó.
Hydrazin(NH2.NH2), là một sản phẩm bazơ được điều chế bởi
oxy hóa amoniac với natri hypoclorit (NaClO). Nó cũng tồn tại
như hydrat (NH2.NH2.H2O). Là chất lỏng không màu, gây chảy
nước mắt và bốc khói ngoài không khí. Là chất khử mạnh,
được sử dụng trong sản xuất thuốc nổ để nhồi hoặc trong tổng
hợp hóa học.
Các muối vô cơ của hydrazin, thu được bằng phản ứng với
axit vô cơ, cũng được phân loại ở đây. Sản phẩm quan trọng
nhất là hydrazin sulphat, là dạng tinh thể không màu hòa tan
ít trong nước lạnh và bị phân hủy mạnh khi đun nóng; muối
sulphat này được sử dụng làm thuốc thử trong phân tích, và
trong luyện kim (phân giải poloni từ telua).
Các dẫn xuất hữu cơ của hydrazin được loại trừ (nhóm
(2) Hydroxilamin và muối vô cơ của nó.
Hydroxilamin (NH2OH) là một bazơ thu được từ sự thủy phân
nitromethan; là dạng tinh thể không màu, dễ chảy rữa, rất dễ
hòa tan trong nước, điểm nóng chảy ở 330C, bị phân hủy mạnh
ở 1300C.
Muối vô cơ của hydroxylamin, thu được qua phản ứng của
các axit vô cơ, cũng được xếp trong nhóm này. Muối quan
trọng nhất là dạng muối hydroxyammonium clorua, sulphat
và nitrat, là dạng tinh thể không màu hay màu trắng tan trong
nước. Chúng được dùng như là tác nhân khử trong tổng hợp
hữu cơ, chống oxy hóa cho các axit béo, và sử dụng trong
cộng nghiệp dệt như tẩy, nhuộm hoặc in, và làm thuốc thử ....
Dẫn xuất hữu cơ của hydroxylamin được loại trừ (nhóm
(3) Hydroxit và oxit liti. Dạng oxit (Li2O) và hydroxit của nó
(LiOH) thu được từ nitrat liti (LiNO3). Chúng là dạng bột
trắng, hòa tan trong nước, được sử dụng trong công nghệ ảnh
và điều chế các muối liti.
(4) Hydroxit và oxit vanadi. Oxit vanadi quan trọng nhất là
divanadi pentaoxit (vanadi anhydrit) (V2O5), được điều chế từ
vanadat, vanadinit (nhóm 26.15) và carnotit tự nhiên (nhóm
26.12). Nó có thể tồn tại hoặc ở dạng vô định hình hoặc dạng
kết tinh, ở dạng cục hoặc bột. Màu từ vàng đến nâu đỏ; nó trở
nên đỏ khi bị đốt nóng và hầu như không hòa tan trong nước.
Được sử dụng để điều chế muối vanadi, một số loại mực, và
như chất xúc tác (sản xuất axit sulphuric (H2SO4), anhydrit
phthalic hoặc tổng hợp etanol).
Có một vài dạng hydroxit, mang tính axit, mà từ chúng tạo ra
các loại vanadat khác nhau thuộc nhóm 28.41.
(5) Hydroxit và oxit niken.
(a) Oxit niken (NiO) thu được khi nung nóng hoàn toàn muối
nitrat hoặc carbonat. Là dạng bột màu xám xanh, tỷ trọng
màu của nó thay đổi phụ thuộc vào phương pháp điều chế.
Nó được sử dụng trong công nghiệp men sứ, trong công
nghiệp thủy tinh như một chất tạo màu và trong tổng hợp
hữu cơ như một chất xúc tác. Nó là một oxit bazơ.
(b) Oxit nikelic (sesquioxit) (Ni2O3). Là dạng bột đen, được sử
dụng làm chất màu trong công nghiệp men sứ và sản xuất
bản cực ắc quy kiềm.
(c) Hydroxit niken(Ni(OH)2). Là dạng bột mịn màu xanh
được sử dụng trong các bản điện cực, như một thành phần
của các bản cực ắc quy kiềm và trong sản xuất chất xúc
tác niken.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Oxit niken tự nhiên (bunsenite) (nhóm 25.30).
(b) Oxit niken không tinh khiết, ví dụ, oxit niken đã thiêu kết,
oxit niken ở dạng hạt (“oxit niken xanh”) (nhóm 75.01).
(6) Hydroxit và oxit đồng.
(a) Oxit đồng (oxit đồng đỏ) (Cu2O). Thu được từ đồng
axetat hoặc sulphat; là dạng bột kết tinh màu đỏ, không
hòa tan trong nước. Được sử dụng làm thủy tinh màu đỏ
(thủy tinh cho tín hiệu), sản xuất sơn chống gỉ hoặc đá qúy
tổng hợp (ngọc xanh nhân tạo), và làm thuốc diệt nấm
trong nông nghiệp.
(b) Oxit cupric (oxit đồng đen) (CuO). Được điều chế từ
đồng nitrat hoặc carbonat hoặc bằng cách oxy hóa đồng
kim loại. Là dạng bột hoặc hạt màu đen có ánh màu hạt
dẻ, không hòa tan trong nước. Bột màu được sử dụng
trong công nghiệp men sứ, thuỷ tinh (thuỷ tinh xanh)
hoặc gốm và trong sản xuất sơn. Nó cũng được sử dụng
để khử cực của pin điện và làm tác nhân oxy hóa hoặc
làm chất xúc tác trong hóa chất hữu cơ.
(c) Hydroxit đồng. Thông dụng nhất là hydroxit cupric
(hydroxit đồng II) (Cu(OH)2). Là dạng rắn màu xanh, đơn
lẻ hoặc hỗn hợp, tạo thành bột màu (Bremen blue). Nó
cũng được sử dụng để sản xuất thuốc màu (ví dụ, Xanh
Peligot, bền màu trong môi trường ánh sáng nhân tạo) và
sản xuất dung dịch amoniac được gọi là “thuốc thử
Schweitzer”, là dung môi đồng amoniac dạng phức trong
quá trình sản xuất tơ nhân tạo.
Oxit đồng I tự nhiên (cuprite) và oxit đồng II tự nhiên
(tenorite) được loại trừ (nhóm 26.03).
(7) Germani oxit. Dạng germani oxit quan trọng nhất là dioxit
(GeO2) thu được trong luyện kim kim loại từ đồng germano -
sulphua tự nhiên (germanite) (nhóm 26.17), hoặc bằng thủy
phân muối clorua của nó. Nó là dạng bột trắng, hòa tan ít trong
nước. Nó được sử dụng để điều chế germani kim loại (cho
tranzito (bóng bán dẫn) ...), trong y học và trong sản xuất loại
thủy tinh đặc biệt.
(8) Hydroxit và oxit molipden. Dạng oxit molipden quan trọng là
trioxit (MoO3), được điều chế từ muối sulphua tự nhiên,
molipdenite (nhóm 26.13). Nó là sản phẩm kết tinh màu trắng,
chuyển thành màu vàng khi đun nóng; đặc biệt không hòa tan
trong nước. Được sử dụng làm chất xúc tác trong tổng hợp hữu
cơ (sản xuất anhydrit phthalic).
Cũng có các loại oxit xanh vẫn được sử dụng như vậy hoặc ở
dạng hỗn hợp (trong trường hợp sau, chúng được phân loại vào
Chương 32) trong nghệ thuật, dưới tên molybden xanh và
thuốc nhuộm chàm vô cơ.
Dạng hydroxit bao gồm axit molipdic (H2MoO4), là dạng bột
trắng hoặc hơi vàng, hòa tan ít trong nước, được sử dụng trong
công nghiệp gốm sứ (men tráng) hoặc làm chất xúc tác.
Molipdat của nhóm 28.41 xuất phát từ các hydroxit này.
(a) Trioxit hoặc anhydrit antimon (Sb2O3). Được điều chế
bằng cách oxy hóa kim loại Sb hoặc từ sulphua tự nhiên
(stibnite). Là dạng bột trắng hoặc tinh thể hình kim; đặc
biệt không hòa tan trong nước. Thuật nhữ "antimon trắng"
được sử dụng khi nói đến cả oxit tinh khiết của nhóm này,
và hỗn hợp của oxit đó với kẽm oxit, chúng được phân
loại ở Chương 32). Antimon trioxit được sử dụng trong
sơn, cũng như để tạo men mờ trong công nghiệp men sứ
(sắt tráng men) và trong công nghiệp gốm (đồ gốm tráng
men), trong sản xuất thủy tinh với hệ số giãn nở thấp (đèn
thủy tinh), và cho sản xuất đá quý và bán quý tổng hợp
(rubi, topaz, arrnet nhân tạo). Nó tạo ra antimonite thuộc
nhóm 28.41.
(b) Pentaoxit hoặc anhydrit antimon(Sb2O5). Được điều
chế bằng cách oxy hóa kim loại hoặc nung muối nitrat của
nó. Là dạng bột màu vàng, cũng được sử dụng để tạo men
mờ trong công nghiệp men sứ. Tạo antimonate thuộc
nhóm 28.41.
(c) Tetraoxit(Sb2O4). Dạng bột trắng thu được bằng cách
nung nóng pentaoxit.
Nhóm này không bao gồm quặng, tức là antimon trioxit tự
nhiên (senarmonite và valentinite) và tetraoxit tự nhiên
(cervantite) (nhóm 26.17).
(10) Hydroxit và oxit beri.
(a) Oxit beri (BeO). Được điều chế từ beri nitrat hoặc
sulphat. Là dạng bột trắng, không hòa tan trong nước; có
thể kết tinh. Được sử dụng để làm muối beri, đá quý và
bán quý tổng hợp và làm chất xúc tác.
(b) Hydroxit beri(Be(OH)2). Bột màu trắng tương tự như
oxit nhôm về hình dạng.
(11) Canxi oxit, hydroxit và peroxit. Nhóm này chỉ bao gồm oxit
(CaO) và hydroxit (Ca(OH)2), ở trạng thái tinh khiết (tức là,
hầu như không chứa sét, oxit sắt, oxit mangan …), như là sản
phẩm thu được bằng cách nung canxi carbonat kết tủa.
Nhóm này cũng bao gồm vôi nung chảy tạo ra bằng cách nung
chảy vôi sống thông thường trong lò nung điện. Sản phẩm này
có độ tinh khiết cao (khoảng 98% CaO); nó là dạng kết tinh và
thông thường là không màu. Nó được sử dụng, đặc biệt, cho
các gạch chịu lửa trong lò nung, trong sản xuất nồi hơi và cho
phụ gia bê tông, lượng nhỏ làm tăng tính chống mài mòn cho
vật mang.
Canxi peroxit (CaO2) là dạng bột trắng hay hơi vàng, ngậm
nước (thường với 8 phân tử nước), ít hòa tan trong nước. Được
sử dụng làm chất diệt khuẩn và chất tẩy rửa, trong y học và
trong sản xuất mỹ phẩm.
Vôi sống (canxi oxit) và vôi tôi (Ca(OH)2) được loại trừ
(nhóm 25.22).
Là dạng bột hơi trắng, không hòa tan trong nước.
Tạo ra từ manganic oxit (Mn2O3). Là dạng bột màu nâu
được sử dụng làm chất màu (màu nâu mangan) và muối
(c) Mangan saline hydroxit. Tạo ra từ saline oxit Mn3O4.
Nhóm này không bao gồm mangan oxit ngậm nước tự nhiên
(mangan hydroxit tự nhiên) (manganite) chúng là một loại
quặng thuộc nhóm 26.02 và dạng mangan oxit không ngậm
nước (nhóm 28.20).
(13) Zircon dioxit (zirconia) (ZrO2), không nhầm với zircon
(nhóm 26.15 hoặc 71.03), đó là dạng zircon silicat tự nhiên
dạng kết tinh.
Các loại oxit nhân tạo này thu được từ các quặng ở trên hoặc từ
muối zircon. Nó là dạng bột hơi trắng chịu nhiệt với nhiệt nóng
chảy khoảng 2600°C. Zirconia được sử dụng làm sản phẩm
chịu lửa chống lại hoạt động của tác nhân hóa học, được sử
dụng làm chất màu và gốm mờ (zircon trắng), vật liệu mài,
thành phần của thủy tinh và làm chất xúc tác.
Oxit zircon tự nhiên hoặc badeleit là một loại quặng thuộc
nhóm 26.15.
(14) Hydroxit và oxit cadimi.
(a) Oxit (CdO). Là dạng bột ít hay nhiều màu vàng nâu tùy
thuộc vào nhiệt độ nung trong quá trình chế biến từ
carbonat hoặc hydroxit. Được sử dụng trong công nghiệp
gốm và làm chất xúc tác.
(b) Hydroxit (Cd(OH)2). Dạng bột màu trắng.
(15) Hydroxit và oxit thiếc.
(a) Stannous oxit (thiếc 2 oxit) (oxit nâu) (SnO). Không hòa
tan trong nước. Nó có thể là dạng tinh thể đen hoặc xám,
hoặc bột màu nâu ô liu với màu ánh xanh, ánh đỏ hoặc ánh
xanh lá cây, tuỳ thuộc vào quy trình sản xuất.
Oxit này là loại oxit lưỡng tính và tạo ra dạng muối stannit
thuộc nhóm 28.41. Nó được sử dụng trong tổng hợp hữu cơ
như tác nhân khử hoặc chất xúc tác.
(b) Stanic oxit (thiếc IV oxit) (stannic anhydrit) (SnO2), cũng
không hòa tan trong nước, là dạng bột màu trắng (thiếc
trắng) hoặc nâu (thiếc tro). Dạng oxit trắng được sử dụng
trong công nghiệp thủy tinh hoặc gốm như chất làm mờ,
trong khi đó loại bột xám được sử dụng cho đánh bóng
kim loại, gương... và cũng dùng điều chế hợp chất thủy
tinh trong suốt. Oxit này đôi khi được hiểu là "bột đánh
bóng", nhưng thuật ngữ này cũng bao gồm cả hỗn hợp của
oxit này với oxit chì, nó được phân loại vào nhóm 38.24.
Stanic oxit là lưỡng tính và tạo ra stannat của nhóm 28.41.
(c) Stannic axit hoặc stannic hydroxit (Sn(OH)4). Được
điều chế bằng cách cho một hydroxit kiềm tác dụng với
muối stannic. Đó là dạng bột trắng chuyển thành axit
(d) Meta - stannic axit. Thu được từ axit stannic; là dạng bột,
không tan trong nước. Được sử dụng để làm màu mờ trong
gốm và làm chất mài mòn trong công nghiệp thủy tinh.
Các stannic axit này tạo ra stannat thuộc nhóm 28.41.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Quặng oxit thiếc tự nhiên (cassiterite), (nhóm 26.09).
(b) Xỉ thiếc, hỗn hợp của thiếc oxit và thiếc thu được trong quá
trình nấu chảy kim loại (nhóm 26.20).
(16) Hydroxit và oxit vonfram. Oxit vonfram quan trọng nhất là
được trong quá trình luyện kim của kim loại này bằng cách xử
lý vonfamat tự nhiên (wolframite hoặc scheelite) (nhóm
26.11). Nó là sản phẩm dạng kết tinh màu vàng chanh và
chuyển màu da cam khi đun nóng và không hòa tan trong
nước. Được sử dụng cho sản xuất sợi tóc bóng đèn điện và
trong sơn gốm sứ.
Có vài loại hydroxit, kể cả vonfamic axit (H2WO4) (ngậm nước
vàng), nó tạo vonfamat thông thường thuộc nhóm 28.41.
Oxit vonfram tự nhiên (đất son tungsten, tungstite) được loại
trừ (nhóm 25.30).
(17) Hydroxit và oxit bismut.
(a) Dibismut trioxit(Bi2O3). Tạo ra từ bismut nitrat hoặc
carbonat. Bột màu vàng nhạt, không hòa tan trong nước và
chuyển thành màu đỏ khi đun nóng. Được sử dụng trong
công nghiệp thủy tinh hoặc gốm sứ.
(b) Dibismut pentaoxit (oxit đỏ) (Bi2O5). Dạng bột màu nâu
đỏ.
Quặng ochre bismut tự nhiên, bao gồm chủ yếu là trioxit, được
loại trừ (nhóm 26.17).
Nhóm này không bao gồm oxit thủy ngân (nhóm 28.52).
PHÂN CHƯƠNG V
MUỐI VÀ MUỐI PEROXIT, CỦA CÁC AXIT VÔ CƠ VÀ CÁC
KIM LOẠI
KHÁI QUÁT CHUNG
Muối kim loại thu được khi thay thế nguyên tố hydro trong một axit bằng
một kim loại hoặc bằng ion amoni (NH4+). Ở trạng thái lỏng hay dung
dịch, chúng là chất điện phân tạo ra kim loại (hoặc một ion kim loại) ở
cực âm.
Trong các muối trung tính tất cả các nguyên tử hydro được thay thế
bằng kim loại, nhưng muối axit vẫn chứa một phần của hydro có thể thay
thế bởi kim loại; muối bazơ có chứa một lượng oxit bazơ lớn hơn mức
cần thiết để trung hoà axit (ví dụ, sulphat bazơ của catmi (CdSO4.CdO)).
Phân Chương V bao gồm muối kim loại của các axit được phân loại
trong Phân Chương II (axit chuyển hóa từ các phi kim) hoặc ở Phân
Chương IV (hydroxit kim loại có chức axit).
Muối kép hoặc muối phức.
Một vài loại muối kép hoặc muối phức được đề cập một cách đặc biệt
trong các nhóm từ 28.26 đến 28.41; ví dụ, fluorosilicat, fluoroborat và
các dạng phức khác của muối flo (nhóm 28.26), phèn (nhóm 28.33),
xyanua phức (nhóm 28.37). Đối với các loại muối kép hoặc muối phức
không được ghi rõ, xem Chú giải Chi tiết của nhóm 28.42.
Phân Chương này không bao gồm:
(a) Các loại muối của Chương 25 (ví dụ, clorua natri).
(b) Các quặng dạng muối hoặc các sản phẩm khác của Chương 26.
(c) Các hợp chất của kim loại quý (nhóm 28.43), của các nguyên tố
phóng xạ (nhóm 28.44), của các kim loại đất hiếm, của yttri hoặc
scandi hoặc của các hỗn hợp các kim loại này (nhóm 28.46), hoặc
của thủy ngân (nhóm 28.52).
(d) Phosphua, cacbua, hydrua, nitrua, azit, silicua và borua (nhóm 28.49,
28.50 và 28.53) và phospho sắt (Phần XV).
(e) Các loại muối của Chương 31.
(f) Chất màu, màu, chất làm mờ, men sứ và các chế phẩm khác được
phân loại trong Chương 32. Phân chương này bao gồm các muối kim
loại không ở dạng hỗn hợp (trừ chất phát quang), phù hợp cho việc
sử dụng trực tiếp như là chất màu; khi trộn lẫn cùng nhau hoặc với
các sản phẩm khác để tạo thành chất màu, như các loại muối được
xếp Chương 32. Chất phát quang, dù được trộn lẫn hoặc không, đều
được xếp vào nhóm 32.06.
(g) Các chất tiệt trùng, thuốc trừ sâu bọ, thuốc diệt nấm, thuốc diệt
cỏ,v.v, thuộc nhóm 38.08.
(h) Các chất gây cháy và các chế phẩm phụ trợ cho hàn,… (nhóm 38.10).
(ij) Các tinh thể nuôi cấy (trừ các bộ phận quang học) có trọng lượng
không nhỏ hơn 2,5g mỗi tinh thể, của halogenua của kim loại kiềm
hoặc kim loại kiềm thổ (nhóm 38.24); khi chúng ở dạng bộ phận
quang học, chúng được phân loại ở nhóm 90.01.
(k) Đá quý hoặc đá bán quý, tự nhiên hoặc tổng hợp (các nhóm từ 71.02
đến 71.05).
28.26 - Florua; florosilicat, floroaluminat và các loại muối flo phức
khác.
2826.12 - - Của nhôm
2826.19 - - Loại khác
2826.30 - Natri hexafloroaluminat (cryolit tổng hợp)
2826.90 - Loại khác
Theo như các loại trừ đã nêu trong phần giới thiệu của Phân Chương
này, nhóm này bao gồm florua (nghĩa là, các muối kim loại của axit
flohydric thuộc nhóm 28.11)
Các florua quan trọng nhất là:
(1) Amoni florua: florua trung tính (NH4F) và florua axit
(NH4F.HF). Các muối này tồn tại ở dạng tinh thể chảy nước,
không màu, độc, hòa tan trong nước. Cách sử dụng bao gồm cả:
làm chất sát khuẩn (để bảo quản da sống hoặc bảo quản gỗ); điều
khiển quá trình lên men (thay cho axit flohydric (HF)); trong
nhuộm (thuốc cẩn màu); cho khắc thủy tinh (chủ yếu axit
flohydric (HF)); cho tẩy sạch đồng; trong luyện kim (phân tách
quặng, điều chế Platin), ....
(2) Natri florua: Dạng florua trung tính (NaF) và florua axit
(NaF.HF). Thu được bằng cách nung canxi florua tự nhiên thuộc
nhóm 25.29 (fluorspar hoặc florit) với một muối natri. Đó là dạng
tinh thể không màu, không dễ hòa tan trong nước, độc. Giống như
dạng muối amoni florua, chúng được sử dụng làm chất sát khuẩn
(để bảo quản da sống, gỗ, trứng), cho việc điều khiển quá trình
lên men và cho khắc hoặc làm bóng thủy tinh. Chúng cũng được
sử dụng trong sản xuất men sứ trong suốt hoặc diệt ký sinh trùng.
(3) Nhôm florua (AlF3). Được điều chế từ quặng boxit và axit
flohydric. Là dạng tinh thể không màu, không hòa tan trong nước.
Nó được sử dụng như chất làm chảy trong công nghiệp men sứ
hoặc gốm sứ và tinh chế hydroperoxit.
(4) Kali florua. Dạng muối kali florua trung tính (KF.2H2O) thực tế là
dạng tinh thể không màu, dễ chảy rữa, độc, rất dễ hòa tan trong nước.
Cũng tồn tại dạng florua axit (KF.HF). Được ứng dụng như Natri
florua. Ngoài ra, HF được sử dụng trong luyện zircon hoặc tantan.
(5) Canxi florua (CaF2). Được điều chế từ canxi florua tự nhiên
(florit, fluospar) của nhóm 25.29. Là dạng tinh thể không màu,
không hòa tan trong nước; hoặc có thể tồn tại ở trạng thái keo
gelatin. Được sử dụng như chất làm chảy trong luyện kim (đặc
biệt trong điện phân magiê từ cacnalit), và trong sản xuất thủy
tinh hoặc gốm.
(6) Crom triflorua (CrF3.4H2O). Là dạng bột màu xanh thẫm, hòa
tan trong nước. Trong dung dịch nước nó ăn mòn thủy tinh. Được
sử dụng làm chất cẩn màu trong thuốc nhuộm.
(7) Kẽm florua (ZnF2). Là dạng bột trắng, không hòa tan trong nước.
Được sử dụng trong thấm tẩm gỗ, trong điều chế men sứ và trong
mạ điện.
(8) Antimon florua. Điều chế bằng cách cho axit flohydric tác dụng
với antimon oxit sẽ tạo ra antimon triflorua (SbF3), là dạng kết
tinh hình kim màu trắng, chảy rữa, hòa tan trong nước, và
antimon pentaflorua (SbF5), là dạng lỏng nhớt, phân hủy trong
nước tạo tiếng lách tách tạo thành dạng ngậm nước (ngậm 2 phân
tử nước). Các muối này được sử dụng trong gốm sứ, làm chất cẩn
màu trong nhuộm hoặc trong in vải.
(9) Bari florua (BaF2). Được điều chế từ axit flohydric và bari oxit,
sulphua hoặc carbonat. Là dạng bột trắng, ít hòa tan trong nước;
độc. Được sử dụng làm chất màu trong gốm sứ hoặc men sứ, như
một chất diệt khuẩn trong ướp xác, làm chất diệt côn trùng,....
Nhóm này loại trừ các florua phi kim (nhóm 28.12).
Florosilicat là dạng muối của hexaflorosilicic axit (H2SiF6) thuộc nhóm
(1) Dinatri hexaflorosilicat (natri florosilicat) (Na2SiF6). Được điều
chế từ florua silic, một sản phẩm phụ khi sản xuất superphosphat.
Là dạng bột màu trắng, chỉ hòa tan ít trong nước lạnh. Được sử
dụng trong sản xuất thủy tinh mờ và men sứ, đá tổng hợp, xi
măng chịu được axit, thuốc diệt chuột, diệt côn trùng; chiết xuất
beri kim loại (điện phân); tinh luyện thiếc bằng điện phân; đông
tụ nhựa mủ cao su; như một chất sát khuẩn.
(2) Dikali hexaflorosilicat (kali florosilicat) (K2SiF6). Bột tinh thể
màu trắng, không mùi, ít hòa tan trong nước, hòa tan trong axit
clohydric. Được sử dụng trong sản xuất men frit thủy tinh, gốm,
chất diệt côn trùng, mica tổng hợp; trong luyện nhôm và magiê.
(3) Canxi hexaflorosilicat(canxi florosilicat) (CaSiF6). Bột kết tinh
màu trắng; rất ít hòa tan trong nước; được sử dụng làm chất màu
trắng trong gốm.
(4) Đồng hexaflorosilicat (đồng florosilicat) (CuSiF6.6H2O). Dạng
bột kết tinh màu xanh, hòa tan trong nước và độc. Được sử dụng
trong việc tạo hiệu ứng đốm hoặc thuốc diệt nấm.
(5) Kẽm hexaflorosilicat (kẽm florosilicat) (ZnSiF6.6H2O). Là dạng
bột kết tinh màu trắng, hòa tan trong nước; phản ứng với hợp chất
canxi để tạo màng canxi florua. Được sử dụng cho bê tông cứng,
làm bản cực kẽm, làm chất diệt côn trùng hoặc diệt nấm (nhiễm
trùng gỗ).
(6) Bari hexaflorosilicat (bari florosilicat) (BaSiF6). Dạng bột trắng
được sử dụng chống lại bọ cánh cứng Colorado và các loại côn
trùng khác, và cũng để diệt động vật có hại.
(7) Các loại florosilicat khác. Magie florosilicat và nhôm
florosilicat; cũng giống như kẽm florosilicat, đây là những chất
được sử dụng làm cứng bê tông. Crom florosilicat và sắt
florosilicat được sử dụng trong công nghiệp thuốc nhuộm.
Nhóm này không bao gồm topaz, một loại nhôm florosilicat tự nhiên
(Chương 71).
(C) FLUOROALUMINAT VÀ
CÁC LOẠI MUỐI FLO PHỨC KHÁC
cryolit tổng hợp, được điều chế như làm kết tủa hỗn hợp nhôm oxit
hòa tan trong axit flohydric (HF) với clorua natri (NaCl), hoặc nung
chảy nhôm sulphat cùng với natriflorua (NaF). Thực tế ở dạng khối
kết tinh hơi trắng. Nó được dùng thay thế cho cryolite tự nhiên
(nhóm 25.30), trong luyện nhôm, trong sản xuất pháo hoa, men sứ,
sản xuất thủy tinh hoặc như chất diệt côn trùng.
(2) Floroborat. Natri floroborat (chất khử trùng), kali floroborat (dùng
trong men sứ), crom floroborat và niken floroborat (dùng trong mạ
điện), v.v.
Đặc
biệt
là
((NH4)2SO4SbF3 ) hoặc "muối Haen"; là dạng tinh thể dễ tan, ăn
mòn thủy tinh và kim loại. Được sử dụng làm chất cẩn màu trong
nhuộm.
(4) Florophosphat, ví dụ, được điều chế từ magie florophosphat tự nhiên
(nhóm
hoặc
nhôm
(amblygonite) (nhóm 25.30).
(5) Florotantalate (thu được trong luyện tantan); florotitanate,
florogermanate, floroniobat, florozirconat (thu được trong luyện
Nhóm này bao gồm kim loại florua oxit (của beri,...) và oxit florua dạng
muối phức nhưng nó loại trừ oxit florua của các phi kim (nhóm 28.12).
Floroformate, floroaxetat hoặc các phức hữu cơ khác của muối flo được
loại trừ (Chương 29).
28.27 - Clorua, clorua oxit và clorua hydroxit; bromua và oxit
bromua; iođua và iođua oxit.
- Clorua khác:
2827.31 - - Của magie
2827.32 - - Của nhôm
2827.35 - - Của niken
2827.39 - - Loại khác
- Clorua oxit và clorua hydroxit:
2827.41 - - Của đồng
2827.49 - - Loại khác
- Bromua và oxit bromua:
2827.51 - - Natri bromua hoặc kali bromua
2827.59 - - Loại khác
2827.60 - Iođua và iođua oxit
Theo như các loại trừ đã nêu trong phần giới thiệu của Phân Chương
này, nhóm này bao gồm clorua, clorua oxit (oxyclorua), clorua hydroxit
(hydroxyclorua), bromua, bromua oxit (oxybromua), iodua và iodua oxit
(oxyiodua) của các kim loại hoặc của ion amoni (NH4+). Các halogenua
và halogenua oxit của các phi kim được loại trừ (nhóm 28.12).
Nhóm này bao gồm các muối của hydroxit clorua (nhóm 28.06).
Các muối clorua chủ yếu ở đây bao gồm:
(1) Amoni Clorua (muối amoniac, amoni muriate)(NH4Cl). Được điều
chế từ sự trung hòa hydro clorua (HCl) với amoniac. Nó có thể tồn
tại dạng khối tinh thể hoặc dạng bột, dạng thăng hoa hoặc thỏi sau
khi thăng hoa. Không màu khi tinh khiết, nếu không thì hơi vàng;
hòa tan trong nước. Nó được sử dụng để đánh bóng kim loại, trong
nhuộm vải hoặc công nghiệp in, trong thuộc da, như phân bón, trong
sản xuất tế bào Leclanché, làm cứng vecni hoặc glues (keo), trong
mạ điện, trong chụp ảnh (dung dịch hãm),...
Xem Chú giải Chi tiết nhóm 31.02 có liên quan tới các phân
bón chứa amoni clorua.
(2) Canxi clorua(CaCl2). Hợp chất này hoặc được chiết từ muối
Stassfurt tự nhiên, hoặc thu được như một sản phẩm phụ trong quá
trình sản xuất natri carbonat. Nó màu trắng, vàng nhạt hoặc nâu, phụ
thuộc vào mức độ tinh khiết. Là sản phẩm hút ẩm (làm khô), nó có
thể ở dạng khối hoặc dạng chảy, dạng khối xốp hoặc dạng phiến,
hoặc có thể ngậm 6 phân tử nước (dạng tinh thể hoặc dạng hạt). Nó
được sử dụng tạo hỗn hợp làm lạnh, cho công trình bê tông trong
điều kiện thời tiết lạnh, để làm lớp phủ chống bụi cho đường xá hoặc
làm sàn đất cứng, như một chất xúc tác, như một chất khử nước hoặc
chất ngưng tụ trong tổng hợp hữu cơ (ví dụ, điều chế amin từ
phenol) và dùng để làm khô khí. Nó cũng được sử dụng trong y học.
(3) Magie clorua (MgCl2). Là sản phẩm phụ thu được từ việc chiết tách
từ muối kali. Thực tế tồn tại hoặc dạng khối trong mờ khan, ống,
viên nén hoặc lăng trụ, hoặc dạng tinh thể hình kim không màu
ngậm nước. Hòa tan trong nước. Được sử dụng trong sản xuất xi
măng độ cứng cao (ví dụ, để dùng làm tấm phủ sàn dưới dạng một
tấm), trong sản xuất vải cotton hoặc các loại vải quần áo khác, như
một chất để khử trùng, hoặc sát khuẩn trong y học và trong sản xuất
gỗ chống cháy.
Nhóm này không bao gồm magie clorua tự nhiên (bischofite)
(nhóm 25.30).
(4) Nhôm clorua (alumi clorua) (AlCl3). Được điều chế bằng cách cho
clo tác dụng với nhôm hoặc hydro clorua (HCl) tác dụng với oxit
nhôm (Al2O3) là dạng khan hoặc tinh thể; hoặc dạng dung dịch nước
đặc như Xiro. Dạng muối khan bốc khói ngoài không khí. Dạng
muối clo rắn được sử dụng trong tổng hợp hữu cơ, cũng như làm
chất cẩn màu trong nhuộm,.... Dạng dung dịch nước được sử dụng
để bảo quản gỗ, làm bóng len, như một chất khử trùng, v.v.
in the manufacture of Leclanché cells, for hardening varnishes or
(5) Sắt Clorua.
(a) Sắt II clorua (FeCl2). Dạng khan (vảy, mảnh hoặc bột màu vàng
hơi xanh) hoặc dạng ngậm nước, ví dụ, ngậm 4 H2O (tinh thể
xanh hoặc xanh nhạt); hoặc có thể ở dạng dung dịch nước có màu
xanh. Bị oxy hóa ngoài không khí và chuyển thành màu vàng.
Thường được bảo quản trong chai lọ kín có cho thêm vài giọt cồn
để chống oxy hóa. Là tác nhân khử và là chất cẩn màu.
(b) Sắt III clorua (FeCl3).Được điều chế bằng cách hòa tan sắt oxit
hoặc carbonat hoặc kim loại sắt trong axit HCl hoặc trong nước
cường toan, hoặc thổi khí clo lên sắt nung nóng đỏ. Là dạng khan
có màu vàng, nâu hoặc đỏ cánh gián, dạng khối, dễ bị chảy và
hòa tan trong nước, hoặc ngậm nước (ngậm 5 hoặc 12 H2O) thì
có dạng tinh thể màu vàng da cam, đỏ, hoặc hơi tím; sắt clorua
lỏng trên thị trường thường là dung dịch nước màu đỏ tối. Được
sử dụng rộng rãi hơn sắt II clorua (FeCl2), ví dụ, cho tinh chế
nước công nghiệp, như làm chất cẩn màu, trong nhiếp ảnh và
trong ghép ảnh, tạo bóng cho sắt, trong y học (chế phẩm cầm
máu hoặc giảm áp mạch) và chủ yếu là một tác nhân oxy hóa.
(6) Coban diclorua (coban II clorua) (CoCl2.6H2O). Tinh thể tím, đỏ
hoặc hồng chuyển sang màu xanh khi bị đun nóng; hòa tan trong
nước. Được sử dụng trong sản xuất máy đo độ ẩm, như mực đổi màu
hoặc làm chất hấp phụ trong mặt nạ khí.
(7) Niken diclorua (NiCl2). Dạng khan, vảy hoặc mảnh màu vàng, hoặc
ngậm nước (với 6 H2O)ở dạng tinh thể màu xanh chảy nước, rất dễ
hòa tan trong nước. Được sử dụng làm chất cẩn màu trong nhuộm,
trong điện phân (bể mạ niken) cũng như làm chất hấp phụ trong mặt
nạ khí.
(8) Kẽm clorua (ZnCl2). Kẽm clorua thu được khi thổi khí HCl lên
quặng kẽm nung (blende hoặc calamine) (nhóm 26.08); hoặc nó có
thể được chiết từ tro và cặn thuộc nhóm 26.20. Dạng khối kết tinh
(bơ kẽm), được nung chảy hay được kết dạng hạt. Nó chảy rữa rất
mạnh, hòa tan trong nước, ăn da và rất độc. Được sử dụng làm chất
sát trùng, diệt nấm, tác nhân khử nước, làm gỗ chống cháy, bảo quản
da, làm cứng xelluloza (chế phẩm sợi lưu hóa), và trong tổng hợp
hữu cơ. Nó cũng được sử dụng như chất làm chảy trong hàn, làm
chất cẩn màu trong nhuộm hoặc in, cho tinh chế dầu và cho sản xuất
xi măng hàn răng hoặc trong y học (đốt khử trùng).
(9) Thiếc clorua.
(a) Thiếc II clorua (thiếc diclorua) (SnCl2). Dạng khối với tính dễ gãy
giống nhựa cây, hoặc dạng tinh thể trắng hoặc hơi vàng (ngậm 2
H2O). Trong dung dịch cũng có màu giống như vậy. Ăn mòn; bị hư
hại khi để ngoài không khí. Được sử dụng làm tác nhân khử hoặc làm
chất cẩn màu trong nhuộm vải, trong bể nhuộm (muối thiếc dùng
trong bể nhuộm), hồ thiếc cho lụa hoặc mạ điện thiếc.
(b) Thiếc IV clorua (thiếc tetra clorua) (SnCl4). Ở trạng thái khan là
chất lỏng không màu hoặc màu vàng nhạt, bốc khói trắng ở
không khí ẩm. Khi ngậm nước nó tồn tại dạng tinh thể không
màu; nó cũng tồn tại ở dạng khối gelatin (bơ thiếc). Được sử
dụng làm chất cẩn màu hoặc hồ vải dệt (hồ thiếc cho lụa), hoặc,
trộn với stannous clorua (SnCl2) và muối vàng thành chế phẩm
màu tím Cassius dùng cho trang trí đồ sứ.
(10) Bari clorua (BaCl2). Được điều chế từ bari carbonat tự nhiên
(witherite) hoặc muối sulphat (barytes). Hòa tan trong nước; có thể
ở dạng khan hoặc nung chảy (bột màu vàng) hoặc dạng ngậm 2H2O
(dạng tinh thể lá mỏng hoặc viên). Được sử dụng trong nhuộm,
trong gốm, như một chất diệt ký sinh trùng hoặc làm thuốc diệt
chuột, cho tinh chế nước công nghiệp,....
(11) Titan clorua. Quan trọng nhất là titan tetra clorua (TiCl4) thu được
trong luyện titan bởi phản ứng của clo với hỗn hợp cacbon và titan
dioxit tự nhiên (rutite, brookite, anatase). Dạng lỏng màu hơi vàng
hoặc không màu với mùi cay; bốc hơi ở không khí ẩm; hấp thu và
bị thủy phân bởi nước. Được sử dụng trong sản xuất chất cẩn màu
cho nhuộm (cẩn màu titan), cho gốm sứ hiện ra màu óng ánh, tạo
màn khói hoặc trong tổng hợp hữu cơ.
(a) Crom II clorua (CrCl2). Tinh thể hình kim hoặc dạng dung dịch
màu xanh da trời. Là tác nhân khử.
(b) Crom III clorua (CrCl3). Vảy kết tinh màu hồng hoặc da cam,
hoặc dạng ngậm nước (6 hoặc 12H2O) thành tinh thể màu tím
hay xanh. Được sử dụng làm chất cẩn màu trong nhuộm vải dệt,
thuộc da, trong tấm crom mạ điện, trong tổng hợp hữu cơ và chế
tạo crom thiêu kết.
(13) Mangan diclorua (MnCl2). Thu được bằng cách xử lý muối
carbonat, rhodocrosite hoặc dialogite tự nhiên (nhóm 26.02) với
HCl. Là dạng màu hồng đỏ, khối kết tinh khi khan; hoặc ngậm
nước (ví dụ ngậm 4H2O) ở dạng tinh thể màu hồng đỏ, dễ chảy rữa
và hòa tan trong nước. Được sử dụng trong sản xuất chất màu nâu
hoặc trong một số loại dược phẩm, như một chất xúc tác và trong in
vải dệt.
(14) Đồng clorua.
(a) Đồng clorua (đồng monoclorua) (CuCl). Dạng bột kết tinh hoặc
tinh thể không màu, hầu như không hòa tan trong nước, bị oxy
hóa ngoài không khí. Được sử dụng trong luyện niken và bạc,
hoặc làm chất xúc tác.
(b) Đồng II Clorua(CuCl2.2H2O). Tinh thể màu xanh chảy rữa, hòa
tan trong nước. Được sử dụng trong in vải dệt, nhiếp ảnh hoặc
điện phân; làm chất xúc tác, sát khuẩn, khử trùng hoặc diệt côn
trùng; trong công nghiệp sản xuất thuốc nhuộm và trong sản xuất
pháo hoa (pháo hoa Bengal).
Nantokite, dạng đồng clorua tự nhiên, phân loại vào nhóm 25.30.
(a) Antimon triclorua (antimon bơ) (SbCl3). Là chế phẩm thu được
bằng cách xử lý từ muối sulphua tự nhiên (stibnite) (nhóm 26.17)
với HCl. Thực tế ở dạng không màu, dạng miếng trong mờ; hút
ẩm của khí quyển để tạo thành dạng nhờn; nó có tính ăn da.
Được dùng để tạo dạng "đồng đỏ" hoặc tẩy gỉ kim loại, như làm
chất cẩn màu, làm chất màu đỏ tía, cho các mặt hàng da thuộc,
và trong điều chế antimon oxit hoặc làm thuốc thú y.
(b) Antimon pentaclorua(SbCl5).Chất lỏng không màu, bốc khói
ngoài không khí ẩm; bị phân hủy bởi nước. Được sử dụng như
chất mang clo trong tổng hợp hữu cơ và như một loại thuốc
xông.
Nhóm này không bao gồm natri clorua (NaCl) và kali clorua (KCl), dù
thậm chí chúng ở dạng tinh khiết, phân loại vào nhóm 25.01 và 31.04
hoặc 31.05 tương ứng. Nhóm này cũng không bao gồm những hợp chất
được hiểu sai như "vôi clorua" một chất với tên thương mại là canxi
hypoclorua (nhóm 28.28). Thủy ngân clorua (thủy ngân II clorua và thủy
ngân III clorua) phân loại vào nhóm 28.52.
(B) CLORUA OXIT VÀ CLORUA HYDROXIT
Nhóm này bao gồm clorua oxit (oxyclorua) và clorua hydroxit
(hydroxitclorua) của kim loại.
Nó bao gồm:
(1) Đồng clorua oxit và clorua hydroxit. Là dạng kết tinh, bột màu xanh,
được sử dụng làm thuốc trừ sâu bọ, diệt nấm hoặc làm bột màu.
Nhóm này không bao gồm đồng clorua hydroxit tự nhiên
(atacamite) (nhóm 26.03).
(2) Nhôm clorua hydroxit (Al2Cl(OH)5.xH2O). Dạng bột trắng hơi
vàng. Được sử dụng như chất chống ra mồ hôi trong mỹ phẩm.
(3) Crom clorua oxit (chromyl clorua) (CrCl2O2).Chất lỏng màu đỏ với
mùi kích ứng; bốc khói ngoài không khí ẩm và bị phân hủy bởi
nước. Được sử dụng trong thuộc da, làm chất cẩn màu và như tác
nhân oxy hóa.
(4) Thiếc clorua oxit. Dạng khối xám hoặc trắng vô định hình, hòa tan
trong nước. Được sử dụng làm chất cẩn màu.
(5) Antimon clorua oxit(SbClO). Bột màu trắng được sử dụng trong tạo
khói, bột màu, dược phẩm.
(6) Chì clorua oxit và clorua hydroxit. Bột màu trắng được tạo ra bằng
cách xử lý chì oxit (litharge) với kiềm clorua. Được sử dụng để điều
chế chì cromat, như các chất màu (màu vàng Cassel) cho sơn nước,
sơn dầu và keo mầu, và các chế phẩm khác gồm nhiều phức hợp bột
màu.
(7) Bismut clorua oxit (bismuthyl clorua oxit) (BiClO). Dạng bột màu
trắng được sử dụng làm chất màu (“màu trắng lóng lánh”) trong sản
xuất ngọc trai nhân tạo.
(C) BROMUA VÀ BROMUA OXIT
Nhóm này bao gồm các muối Hydro bromua (nhóm 28.11) và bromua
(1) Natri bromua (NaBr). Được điều chế tương tự như bromua amôniac,
hoặc bằng cách xử lý với muối natri sắt bromua thu được bằng cách
cho tác dụng trực tiếp brom lên phoi sắt. Nó có thể thu được ở dạng
khan nhưng ít bền vững hơn dạng kết tinh khi ở nhiệt độ trên 51 °C.
Khi nhiệt độ kết tinh thấp hơn nhiệt độ mà nó ngậm nước (ngậm
2H2O), ở dạng tinh thể lập phương lớn. Không màu, hút ẩm, hòa tan
trong nước. Được sử dụng trong y học và trong chụp ảnh.
(2) Kali bromua (KBr). Quy trình sản xuất tương tự và cách sử dụng
cũng giống natri bromua (NaBr). Dạng khan, ở dạng tinh thể lớn.
(3) Amoni bromua (NH4Br). Được sản xuất bằng cách cho hydro
bromua tác dụng với amoniac. Dạng tinh thể không màu, hòa tan
trong nước, chuyển sang màu vàng và bị phân hủy chậm khi để ở
ngoài không khí, và bốc hơi khi đun nóng. Được sử dụng trong y
họclàm thuốc an thần, trong ngành ảnh, (như một chất hãm trong
dung dịch rửa phóng ảnh) và làm vật liệu chống cháy.
(4) Canxi bromua (CaBr2.6H2O). Được điều chế từ canxi carbonat và
hydro bromua; là dạng tinh thể không màu chảy nước, dễ hòa tan
trong nước. Được sử dụng trong y học và trong ngành ảnh.
(5) Đồng bromua.
(a) Đồng I bromua (CuBr). Thu được bằng cách khử đồng II
bromua; là dạng tinh thể không màu, không hòa tan trong nước.
Được sử dụng trong tổng hợp hữu cơ.
(b) Đồng II bromua (CuBr2). Điều chế bằng cách cho tác dụng trực
tiếp brom lên đồng. Là dạng tinh thể không màu, hòa tan trong
nước. Được sử dụng trong tổng hợp hữu cơ và trong ngành ảnh.
(6) Bromua và bromua oxit khác. Loại này bao gồm stronti bromua
(được sử dụng trong y học), và bari bromua.
(D) IOT VÀ IODUA OXIT
Nhóm này bao gồm các muối của hydro iodua (nhóm 28.11) và iodua
(1) Amoni iodua (NH4I). Thu được bằng cách cho hydro iodua (HI)
phản ứng với amoniac (NH3) hoặc amoni carbonat. Dạng kết tinh,
màu trắng, bột hút ẩm, rất dễ hòa tan trong nước. Được sử dụng
trong y học (để chữa bệnh tuần hoàn máu hoặc tràn khí (khí thũng))
và trong chụp ảnh.
(2) Natri iodua (NaI). Thu được bằng cách cho HI tác dụng với NaOH
hoặc carbonat, hoặc bằng xử lý với muối natri và sắt iodua thu được
bởi phản ứng trực tiếp của iod lên phôi bào sắt; cũng có thể điều chế
bằng nung iodat. Là dạng kết tinh, khan. Dễ chảy rữa và rất dễ hòa
tan trong nước, bị phân hủy khi đặt ngoài ánh sáng và không khí.
Được sử dụng trong y học, để tạo viên nén iot hoặc dạng muối iot và
trong ngành ảnh.
(3) Kali iodua (KI). Quy trình sản xuất và cách thức sử dụng cũng tương
tự natri iodua (NaI), nhưng bảo quản dễ hơn NaI. Là dạng tinh thể
khan, không màu hoặc mờ đục.
(4) Canxi iodua (CaI2). Được điều chế từ canxi carbonat và hydro iodua.
Là dạng tinh thể bóng không màu hoặc dạng vảy màu trắng óng ánh.
Hòa tan trong nước và chuyển sang màu vàng khi để ngoài không
khí. Được sử dụng trong ngành ảnh.
(5) Iodua và iodua oxit khác. Chúng bao gồm:
(a) Iodua của liti (sử dụng trong y học), của stronti, của antimon, của
kẽm hoặc của sắt (cả hai được sử dụng trong y học là chất khử
trùng), của chì (với sự lấp lánh của kim loại, được sử dụng trong
sản xuất cao su màu), của bismut (thuốc thử).
(b) Antimon iodua oxit, đồng iodua oxit và chì iodua oxit.
Thủy ngân iodua (thủy ngân I iodua và thủy ngân II iodua) bị loại trừ
(nhóm 28.52).
28.28 – Hypoclorit; canxi hypoclorit thương phẩm; clorit;
2828.10 - Canxi hypoclorit thương phẩm và canxi hypoclorit khác
2828.90 - Loại khác.
Ngoài những loại trừ đã được nêu trong phần giới thiệu của Phân
Chương này, nhóm này bao gồm hypoclorit, clorit và hyopbromit của các
kim loại và canxi hypoclorua thương phẩm.
Đây là những chất quan trọng nhất; chúng thường được sử dụng để tẩy
trắng (“tẩy trắng bằng clorit”). Chúng là dạng muối không bền vững, bị
biến đổi ngoài không khí; chúng tạo ra axit hypochlorous (HClO) khi
chúng tiếp xúc thậm chí với axit yếu. Axit hypoclorous, giải phóng ra khí
clo, là tác nhân oxy hóa mạnh và là tác nhân tẩy trắng.
(1) Natri hypoclorit (NaClO.6H2O).Là dạng dung dịch nước, hiện nay
theo cách hiểu trong thương mại với tên là "nước Javel". Nó được
tạo ra bằng cách điện phân dung dịch nước muối NaCl, hoặc bởi tác
dụng của natri sulphat hoặc natri carbonat với canxi hyphoclorit,
hoặc bằng cách xử lý natri hydroxit (xút ăn da) với clo. Muối này, rất
dễ hòa tan trong nước, không tồn tại dạng khan; nó ít bền vững và dễ
bị hỏng khi nóng và ngoài ánh sáng. Dung dịch nước của natri
hypoclorit không màu hoặc vàng nhạt, mùi của clo. Chúng thường có
một lượng nhỏ tạp chất của NaCl. Được sử dụng cho tẩy trắng sợi
thực vật hoặc bột gỗ, tẩy trùng nhà, tinh chế nước hoặc chế tạo
hydrazin. Nó cũng được sử dụng trong ngành ảnh như thuốc rửa ảnh
nhanh cho đĩa chống quầng sáng, và trong y học như một chất khử
trùng (hỗn hợp với axit boric, nó được biết với tên dung dịch Dakin).
(2) Kali hypoclorit (KClO.6H2O). Dạng dung dịch nước của muối này
trước đây được hiểu là "nước Javen"; nó tương tự như hợp chất natri
về mọi phương diện.
(3) Các hypoclorit khác. Bao gồm hypoclorit của amoni (một chất tẩy
trùng mạnh hơn canxi hypoclorit (Ca(ClO)2), của bari, magie hoặc
của kẽm; tất cả đều là các tác nhân tẩy trắng hoặc tẩy trùng.
(B) CANXI HYPOCLORIT THƯƠNG PHẨM
Canxi hypoclorit. Sản phẩm bị hiểu sai trong thương mại là "vôi
clorua", bao gồm phần lớn dạng canxi hypoclorit không tinh khiết và
canxi clorua và, đôi khi, cả canxi oxit hay hydroxit. Nó được tạo ra bằng
cách làm bão hòa canxi hydroxit (Ca(OH)2) với clo. Nó là chất bột trắng
vô định hình, hút ẩm khi có chứa caxi clorua (CaCl2), hòa tan trong nước,
và nhạy cảm với tác dụng của ánh sáng, nhiệt và cacbon dioxit. Nó tác
động lên sợi lông động vật và các chất hữu cơ, và làm mất màu. Nó được
sử dụng để tẩy trắng vải dệt thực vật hoặc bột giấy, như một chất sát
trùng hoặc khử trùng (làm sạch nước bằng “Javen hóa”), để trải lên trên
mặt đất đã bị ô nhiễm bởi hơi ga ngạt. Canxi hypoclorit tinh khiết tồn tại
ở dạng khối kết tinh hoặc dung dịch có mùi clo; nó bền vững hơn so với
sản phẩm không tinh khiết.
Canxi clorua (CaCl2) được loại trừ (nhóm 28.27).
Nhóm này bao gồm muối của axit clorous (HClO2) :
(1) Natri clorit (NaClO2). Dạng khan hoặc dạng khối ngậm nước (với 3H2O),
hoặc dạng dung dịch nước. Bền vững tới 100 °C. Là tác nhân oxy hóa
mạnh, ăn mòn mạnh. Được sử dụng trong nhuộm hoặc tẩy trắng.
(2) Nhôm clorit. Cùng công dụng như natri clorit.
Nhóm này bao gồm muối của axit hypobromous (HBrO) (nhóm 28.11).
Kali hypobromit được sử dụng để đo nồng độ nitơ của một số hợp chất
hữu cơ.
28.29 - Clorat và perclorat; bromat và perbromat; iodat và periodat.
2829.11 - - Của natri
2829.19 - - Loại khác
2829.90 - Loại khác
Ngoài những loại trừ đã được nêu trong phần giới thiệu của Phân
Chương này, nhóm này bao gồm clorat và perclorat, bromat và
perbromat, và iodat và periodat của kim loại.
Nhóm này bao gồm các muối của axit cloric (HClO3) (nhóm 28.11).
(1) Natri clorat (NaClO3). Thu được bởi điện phân dung dịch nước
NaCl. Dạng tinh thể không màu lấp lánh (viên nén); dễ hòa tan trong
nước; sẵn sàng giải phóng oxy. Thông thường có chứa tạp chất (ví
dụ, clorua của các kim loại kiềm). Được sử dụng làm tác nhân oxy
hóa, trong tổng hợp hữu cơ, trong in vải dệt (thuốc nhuộm anilin
đen), cho sản xuất kíp nổ (fulminating) và để sản xuất đầu diêm, như
một chất diệt cỏ dại,...
(2) Kali clorat (KClO3).Được điều chế theo cách tương tự như natri
clorat. Là dạng tinh thể không màu, ít hòa tan trong nước. Các thuộc
tính khác của nó cũng tương tự như của natri clorat. Nó cũng được
sử dụng trong y học và trong sản xuất thuốc nổ (ví dụ, cheddite).
(3) Bari clorat (Ba(ClO3)2).Thu được bằng cách điện phân dung dịch
bari clorit; tinh thể không màu, hòa tan trong nước. Được sử dụng
như chất màu xanh trong pháo hoa, và để sản xuất chất nổ và một vài
clorat khác.
(4) Clorat khác. Các chất này bao gồm amoni clorat, được dùng trong
sản xuất thuốc nổ; stronti clorat, được dùng trong sản xuất thuốc nổ
và trong sản xuất pháo hoa tạo ánh sáng đỏ; crom clorat, được sử
dụng như một chất cẩn màu trong nhuộm; đồng clorat, các tinh thể
xanh được dùng trong nhuộm, trong sản xuất thuốc nổ và trong sản
xuất ánh sáng xanh của pháo hoa.
Nhóm này bao gồm các muối của axit percloric (HClO4) (nhóm 28.11).
Đây là tác nhân oxy hóa mạnh được sử dụng trong sản xuất pháo hoa và
trong sản xuất thuốc nổ.
(1) Amoni perclorat (NH4ClO4).Được điều chế từ natri perclorat. Là
dạng tinh thể không màu, hòa tan trong nước đặc biệt là nước nóng;
bị phân hủy khi nung nóng, đôi khi gây nổ.
(2) Natri perclorat (NaClO4). Thu được bằng cách điện phân dung dịch
lạnh natri clorat; là dạng tinh thể không màu, chảy rữa.
(3) Kali perclorat (KClO4). Thu được từ natri perclorat. Là dạng bột kết
tinh không màu, hòa tan ít, gây nổ khi va chạm. Được sử dụng trong
công nghiệp hóa chất như một chất oxy hóa mạnh hơn là clorat.
(4) Perclorat khác. Nhóm này bao gồm: bari perclorat (bột hydrat) và
chì perclorat; dung dịch bão hòa các chất sau này là chất lỏng nặng
(tỷ trọng 2,6) được sử dụng trong quy trình tuyển nổi.
(C) BROMAT VÀ PERBROMAT
Nhóm này bao gồm các muối của axit bromic (HBrO3) (nhóm 28.11), ví
dụ kali bromat (KBrO3), và muối của axit perbromic (HBrO4).
(D) IODATVÀ PERIODAT
Nhóm này bao gồm các muối của axit iodic(HIO3) (nhóm 28.11) và các
muối của axit periodic (nhóm 28.11).
Natri iodat (NaIO3), kali iodat (KIO3) và kali hydro di-iodat (KH(IO3)2)
được sử dụng trong y học và làm thuốc thử trong hóa phân tích. Bari
iodat, ở dạng tinh thể, được sử dụng cho sản xuất axit iodic.
Natri periodat (mononatri và dinatri) thu được bằng phản ứng của clo với
dung dịch kiềm của muối natri iodat.
28.30 - Sulphua; polysulphua, đã hoặc chưa xác định về mặt hoá học.
2830.90 - Loại khác
Theo cácloại trừ đã đề cập trong phần giới thiệu của Phân Chương này,
nhóm này bao gồm sulphua kim loại (muối của sulphua hydro (H2S)
thuộc nhóm 28.11). Tên cũ "sulphua hydrat" (hydrosulphua) đôi khi được
áp dụng chỉ dạng axit sulphua (H2S). Các sulphua của các phi kim được
loại trừ (nhóm 28.13).
(a) Natri sulphua (Na2S). Tạo ra bằng cách khử natri sulphat
(Na2SO4) nhờ than. Tồn tại cả dạng khan, dạng khối hoặc phiến
màu trắng (sulphua cô đặc hoặc nóng chảy), hòa tan trong nước,
bị sulphat hóa ngoài không khí, hoặc ở dạng tinh thể ngậm nước
(ngậm 9H2O), có màu xanh nhạt hoặc không màu, phụ thuộc vào
mức độ tinh khiết của chúng. Là tác nhân khử trung bình được sử
dụng trong điều chế các hợp chất hữu cơ. Trong quy trình tuyển
nổi, loại sulphua này thúc đẩy sự hấp thụ dầu trên bề mặt của
quặng xỉ bởi sự sulphua hóa. loại sulphua này thúc đẩy sự hấp
thụ dầu trên bề mặt của quặng xỉ bởi sự sulphua hóa. Nó cũng
được sử dụng làm rụng lông (trong thuộc da hoặc trong các chế
phẩm vệ sinh), và như là chất diệt ký sinh trùng.
(b) Natri hydro sulphua (hydrosulphua) (NaHS). Thu được bằng
phản ứng của hydrosulphua với muối sulphua trung tính. Dạng
tinh thể không màu, hòa tan trong nước. Được sử dụng làm chất
tẩy rụng lông trong thuộc da, trong nhuộm, cũng như để hấp thụ
đồng trong tinh luyện niken, làm tác nhân khử trong tổng hợp
hữu cơ,....
(2) Kẽm sulphua (ZnS). Kẽm sulphua nhân tạo thu được ở dạng hydrat
bằng cách cho kết tủa zincat kiềm với sulphua natri. Nó ở dạng bột
nhão hoặc dạng bột màu trắng thường có chứa tạp ZnO hoặc các tạp
chất khác. Nó được sử dụng, hoặc ở dạng tinh khiết hoặc dạng hỗn hợp
với magie carbonat, như bột màu trong công nghiệp cao su. Cũng kết
tủa với BaSO4 tạo dạng lithopone (nhóm 32.06). Được hoạt hóa với
bạc, đồng,... tạo thành chất phát quang thuộc nhóm 32.06. Tuy nhiên
cũng cần lưu ý rằng ZnS được phân loại trong nhóm này chỉ khi
không ở dạng hỗn hợp và không hoạt hóa.
Nhóm này không bao gồm kẽm blende (một dạng ZnS tự nhiên)
(nhóm 26.08) và wurzite (cũng là ZnS tự nhiên) (nhóm 25.30).
(3) Cadimi sulphua (CdS). Dạng sulphua nhân tạo thu được bằng kết tủa
dung dịch muối cadimi (ví dụ, muối sulphat) với hydro sulphua
(H2S) hoặc sulphua kiềm. Là bột màu vàng (cadimi vàng) được sử
dụng trong nghệ thuật và trong sản xuất thủy tinh chống lóa; cũng
kết tủa với bari sulphat, nó ở dạng chất màu vàng sáng được sử dụng
trong sơn hoặc trong gốm sứ (nhóm 32.06).
Nhóm này loại trừ cadimi sulphua tự nhiên (greenokite) (nhóm
(4) Amoni hydro sulphua (amoni hydrosulphua) (NH4.HS). Dạng vảy
kết tinh hoặc hình kim; rất dễ bay hơi. Được sử dụng trong ngành
ảnh và trong tổng hợp hữu cơ.
(5) Canxi sulphua (CaS). Thu được bởi nung hỗn hợp CaSO4 và cacbon.
Dạng khối màu vàng nhạt hoặc xám nhạt, đôi khi phát quang, hầu như
không tan trong nước. Thường chứa sulphat hoặc tạp chất khác.
Được sử dụng hoặc đơn lẻ, hoặc xử lý với oxit arsen hoặc với vôi để
khử loại lông của da thuộc. Cũng được sử dụng để làm sạch lông
trong các chế phẩm vệ sinh, như một chất khử vi trùng trong y tế,
trong luyện kim và trong chế tạo sơn phát quang.
(6) Sắt sulphua. Loại sắt sulphua nhân tạo quan trọng nhất là FeS thu
được từ nung chảy hỗn hợp của lưu huỳnh và mạt sắt. Dạng tấm,
thanh hoặc dạng tảng màu đen, với ánh kim loại. Được sử dụng trong
sản xuất H2S và trong gốm sứ.
Dạng sắt sulphua tự nhiên được loại trừ - xem nhóm 25.02 (pyrite
không nung), hoặc 71.03 hoặc 71.05 (marcasite). FeS2 tự nhiên (natural
double sulphides) của sắt với asen (mispickel) hoặc đồng (bornite,
chalcopyrite) được phân loại vào nhóm 25.30 và 26.03 tương ứng.
(7) Stronti sulphua (SrS). Sản phẩm màu xám nhạt, chuyển sang vàng
khi để ngoài không khí. Được sử dụng trong việc làm sạch lông trong
công nghiệp thuộc da, trong các sản phẩm mỹ phẩm và trong điều chế
sơn phát quang.
(8) Thiếc sulphua. Sulphua stanic nhân tạo (thiếc disulphua (SrS2) được
điều chế bằng cách đốt nóng hỗn hợp của lưu huỳnh và amoni clorua
(NH4Cl) với thiếc oxit hoặc hỗn hống. Dạng phiến hoặc dạng bột màu
vàng, không hòa tan trong nước và bị thăng hoa khi đun nóng. Được
sử dụng mạ đồng cho gỗ, nhựa,...
(a) Trisulphua nhân tạo (Sb2S3). Cho axit tác dụng lên sulphua tự
nhiên hòa tan trong NaOH tạo ra một chất bột màu đỏ hoặc màu
da cam (trisulphua được kết tủa). Được sử dụng hoặc đơn lẻ hoặc
hỗn hợp với pentasulphua hoặc các sản phẩm khác như bột màu
trong công nghiệp cao su (antimon màu đỏ sẫm, antimon màu đỏ
son). Nung chảy sulphua tự nhiên cho trisulphua đen, được sử
dụng trong pháo hoa, trong sản xuất hỗn hợp đầu diêm, kíp nổ
hoặc ngòi nổ fulminat (với kali clorat), bột đèn nháy cho ngành
ảnh (với kali cromat (K2CrO4), v.v. Xử lý nóng với Na2CO3 tạo ra
“khoáng kermes”, chứa thành phần cơ bản là antimon trisulphua
và natri pyro- antimonat và được sử dụng trong y học (nhóm
(b) Pentasulphua (antimon sulphua vàng) (Sb2S5). Điều chế bằng
cách axit hóa một dung dịch antimon natri sulphua (muối
Schlipper). Dạng bột màu đỏ da cam, bị phân hủy theo thời gian,
thậm chí trong chỗ tối. Được sử dụng sản xuất ngòi nổ, cho lưu
hóa cao su hoặc tạo màu cao su, và trong dược phẩm cho người
(thuốc long đờm) hoặc sử dụng trong thú y.
Sulphua antimon tự nhiên (stibnite) và oxysulphua (kermesite) được
loại trừ (nhóm 26.17).
(10) Bari sulphua (BaS). Thu được bằng cách khử sulphat tự nhiên
(barytes, nhóm 25.11) bằng cách xử lý với than. Dạng bột hoặc
miếng màu trắng khi tinh khiết, khi không tinh khiết có màu xám
nhạt hoặc hơi vàng. Độc. Sử dụng tương tự như stronti sulphua.
(11) Các loại sulphua khác. Chúng bao gồm:
(a) Kali sulphua (trung tính hoặc axit). Kali hydro sulphua được
sử dụng trong sản xuất mercaptan.
(b) Đồng sulphua, được sử dụng trong chế tạo điện cực hoặc sơn
chịu được tác dụng của nước biển; đồng sulphua tự nhiên
(covellite, chalcoxite) được loại trừ (nhóm 26.03).
(c) Chì sulphua, được sử dụng trong gốm sứ; chì sulphua tự nhiên
(galena) được loại trừ (nhóm 26.07).
Thủy ngân sulphua tự nhiên (cinnabar, vermilion tự nhiên) và thủy
ngân sulphua nhân tạo được loại trừ và được phân loại trong nhóm
26.17 và 28.52 tương ứng.
(12) Polysulphua, cũng được phân loại ở đây, là hỗn hợp của các
sulphua của cùng một kim loại.
(a) Natri polysulphua thu được bằng việc nung lưu huỳnh với
natri carbonat hoặc natri sulphua trung tính. Chứa chủ yếu natri
disulphua (Na2S2), trisulphua và tetrasulphua và các tạp chất
(sulphat, sulphit, v.v.). Nó tồn tại ở dạng tấm màu xanh lá cây
nhạt, tan trong nước, ôxy hóa trong không khí và rất hút ẩm; nó
được bảo quản trong các thùng chứa được đậy kín. Được dùng
chủ yếu làm tác nhân khử trong tổng hợp hữu cơ (điều chế thuốc
nhuộm lưu huỳnh); trong các quá trình tuyển nổi; trong điều chế
etylen polysulphua, thủy ngân sulphua nhân tạo, bể lưu huỳnh
hoặc hỗn hợp dùng trị ghẻ.
(b) Kali polysulphua (“gan lưu huỳnh”) được sử dụng cho các mục
đích tương tự giống như natri polysulphua và chủ yếu hơn là sử
dụng cho bể lưu huỳnh.
Nhóm này cũng loại trừ những loại sulphua tự nhiên sau :
(a) Nikel sulphua (millerite) (nhóm 25.30).
(b) Molipden sulphua (molybdenite) (nhóm 26.13).
(c) Vanadi sulphua (patronite) (nhóm 26.15).
(d) Bismuth sulphua (bismuthinite) (nhóm 26.17).
28.31 - Dithionit và sulphoxylat.
2831.10 - Của natri
2831.90 - Loại khác
là
dạng
muối
của
(“hydrosulphurous”) (H2S2O4) là chất không được phân lập ở trạng thái
tự do. Chúng thu được bằng cách khử (với bột kẽm) dung dịch hydro
sulphit bão hòa với lưu huỳnh dioxit (SO2). Chúng là tác nhân khử được
ứng dụng trong công nghiệp hóa, dệt hoặc công nghiệp đường, chủ yếu
được dùng để tẩy trắng.
Chất quan trọng nhất là natri dithionit(Na2S2O4), dạng bột màu trắng
khan, hòa tan trong nước, hoặc ngậm nước (với 2H2O) ở dạng tinh thể
không màu. Nó được sử dụng trong tổng hợp hữu cơ, trong công nghiệp
nhuộm và sản xuất giấy. Nó bị phân huỷ khá nhanh, thậm chí khi ở cả
dạng kết tinh. Đối với một số cách sử dụng (ví dụ, tẩy màu trong công
nghiệp dệt), natri dithionit vì vậy phải được ổn định với formaldehyt, đôi
khi thêm ZnO hoặc glyxerin. Nó cũng có thể được ổn định với axeton.
Dithionit của kali, canxi, magie và kẽm, chúng cũng được ổn định bằng
quy trình tương tự, là các sản phẩm tương tự natri dithionit về cả tính
chất và ứng dụng.
Nhóm này bao gồm tất cả các dithionit đã ổn định và các fomaldehyt
sulphoxylat như một sản phẩm tương tự.
Sulphit và thiosulphat được loại trừ (nhóm 28.32).
2832.20 - Sulphit khác
Ngoài các loại trừ như đã liệt kê trong phần giới thiệu của Phân Chương
này, nhóm này bao gồm:
(A) Sulphit kim loại - dạng muối của axit sulphurous (H2SO3) (nó chỉ
tồn tại trong dung dịch nước và tương ứng với lưu huỳnh dioxit
(SO2) thuộc nhóm 28.11).
(B) Thiosulphat kim loại - dạng muối của axit thiosulphuric (H2S2O3)
nó không tồn tại ở trạng thái tinh khiết.
Nhóm này loại trừ sulphit kiềm đậm đặc (nhóm 38.04), và sản phẩm
công nghiệp được hiểu như "hydrosulphit" được ổn định bằng các chất
hữu cơ (nhóm 28.31).
Nhóm này bao gồm cả hai dạng sulphit trung tính và axit.
(1) Natri sulphit. Gồm các loại natri hydro sulphit (NaHSO3), dinatri
disulphit (Na2SO3.SO2hoặc Na2S2O5) hoặc natri sulphit (Na2SO3).
(a) Natri hydro sulphit (“natri bisulphit”, natri axit sulphit) thu được
từ phản ứng giữa lưu huỳnh dioxit (SO2) và dung dịch nước của
natri carbonat (Na2CO3). Là dạng bột hoặc tinh thể không màu, ít
ổn định, có mùi của lưu huỳnh dioxit (SO2) và rất dễ hòa tan trong
nước; cũng tồn tại ở dạng dung dịch đậm đặc, có màu hơi vàng.
Được sử dụng như tác nhân khử trong tổng hợp hữu cơ, trong sản
xuất thuốc nhuộm màu chàm, cho tẩy trắng len hoặc lụa, như một
chất lưu hóa để xử lý mủ cao su, trong thuộc da, trong sản xuất
rượu nho (làm chất khử trùng để bảo quản rượu vang) và giảm tính
nổi của khoáng trong quá trình tuyển nổi.
(b) Dinatri disulphit (natri metabisulphit, pyrosulphit, sulphit khô
và, trong một số ngôn ngữ nước ngoài được gọi không đúng là
"tinh thể natri bisulphit"). Thu được từ hydro sulphit; oxy hóa
khá nhanh, đặc biệt trong không khí ẩm. Được sử dụng cho mục
đích tương tự như axit sulphit (H2SO3) và trong trồng nho và
chụp ảnh.
(c) Natri sulphit (natri sulphit trung tính), được điều chế bằng cách
trung hoà dung dịch hydro sulphit với natri carbonat. Dạng khan
(dạng bột) hoặc kết tinh (ngậm 7H2O) không màu, hòa tan trong
nước. Được sử dụng trong ngành ảnh, trong nhà máy sản xuất
bia, để xử lý côlôphan, dùng làm chất khử trùng hoặc chất tẩy
trắng, trong sản xuất các sulphit hoặc thiosulphat khác và các
thuốc nhuộm hữu cơ.
(2) Amoni sulphit ((NH4)2SO3.H2O). Thu được từ phản ứng của lưu
huỳnh dioxit (SO2) và amoniac (NH3). Dạng tinh thể không màu, hòa
tan trong nước, bị oxy hóa ngoài không khí. Được sử dụng trong
tổng hợp hữu cơ.
(3) Kali sulphit. Xuất hiện ở dạng tương tự như dạng natri sulphit.
(a) Kali hydro sulphit, dạng kết tinh, được sử dụng trong nhuộm và
trong sản xuất rượu nho.
(b) Dikali disulphit (kali metabisulphit), dạng bột trắng hoặc vảy,
được sử dụng trong ngành ảnh, cho nhuộm tóc màu hung trong
công nghiệp sản xuất mũ dạ hoặc như một chất khử trùng.
(c) Sulphit trung tính, dạng kết tinh (với 2 H2O) được sử dụng trong
in vải dệt.
(4) Canxi sulphit, bao gồm:
(a) Canxi dihydro bis(sulphit) (canxi bisulphit) (Ca(HSO3)2), được
điều chế bằng cách cho phản ứng giữa lưu huỳnh dioxit (SO2)
với canxi hydroxit (Ca(OH)2). Được sử dụng để hòa tan lignin
trong điều chế bột giấy hóa học, cho tẩy trắng (ví dụ, cao su
xốp), như antichlor và chống vẩn đục bia.
(b) Canxi sulphit trung tính (CaSO3), là dạng bột kết tinh màu
trắng hoặc dạng hình kim ngậm nước (ngậm 2 H2O), khó hòa tan
trong nước, dễ thăng hoa ngoài không khí. Được sử dụng trong y
học hoặc trong sản xuất rượu nho.
(5) Các loại sulphit khác. Bao gồm magie sulphit (sử dụng tương tự
như canxi sulphit), kẽm sulphit (khử trùng và làm chất cẩn màu),
hoặc crom hydro sulphit (làm chất cẩn màu).
(1) Amoni thiosulphat ((NH4)2S2O3). Được điều chế từ natri
thiosulphat ((Na)2S2O3). Tinh thể không màu, chảy rữa và hòa tan
trong nước. Được sử dụng cho các bồn hãm màu ảnh và như một
chất khử trùng.
(2) Natri thiosulphat (Na2S2O3.5H2O). Thu được từ phản ứng của lưu
huỳnh với dung dịch natri sulphit. Dạng tinh thể không màu, rất dễ
hòa tan trong nước, không bị ảnh hưởng bởi không khí. Được sử
dụng làm chất hãm màu trong ngành ảnh và antichlor trong tẩy vải
sợi hoặc giấy, trong thuộc da crom và trong tổng hợp hữu cơ.
(3) Canxi thiosulphat (CaS2O3.H2O).Được điều chế bằng cách oxy hóa
canxi sulphit. Dạng bột kết tinh màu trắng, hòa tan trong nước. Được
sử dụng trong y học và điều chế các thiosulphat khác.
(4) Thiosulphat khác. Gồm: bari thiosulphat (thuốc màu với màu óng
ánh); nhôm thiosulphat (được sử dụng trong tổng hợp hữu cơ); chì
thiosulphat (được sử dụng trong sản xuất diêm không có phospho)
28.33 – Sulphat; phèn (alums); peroxosulphat (persulphat).
2833.19 - - Loại khác
- Sulphat loại khác:
2833.21 - - Của magiê
2833.22 - - Của nhôm
2833.24 - - Của niken
2833.25 - - Của đồng
2833.27 - - Của bari
2833.29 - - Loại khác
2833.30 - Phèn
Ngoài các loại trừ như đã liệt kê trong phần giới thiệu của Phân Chương
này, nhóm này bao gồm muối kim loại của axit sulphuric (H2SO4) (nhóm
28.07), nhưng loại trừ sulphat thuỷ ngân được phân loại vào nhóm
28.52, amoni sulphat, thậm chí ở dạng tinh khiết được phân loại vào
nhóm 31.02 hoặc 31.05 và kali sulphat, mà ở dạng không tinh khiết hoặc
tinh khiết, được phân loại vào nhóm 31.04 hoặc 31.05.
(1) Natri sulphat bao gồm:
(a) Dinatri sulphat (sulphat trung tính) (Na2SO4).Tồn tại ở dạng khan
hoặc trạng thái ngậm nước như dạng bột hoặc tinh thể lớn trong
suốt, thăng hoa ngoài không khí và khi hòa tan trong nước thì làm
giảm nhiệt độ. Dạng decahyrat (Na2SO4.10H2O) được biết với tên
muối Glauber. Dạng không tinh khiết của dinatri sulphat (Na2SO4)
(90 - 99% độ tinh khiết), thường được điều chế như sản phẩm phụ
của các quy trình sản xuất khác nhau, thường được miêu tả như
"muối đóng bánh" được phân loại trong nhóm này. Dinatri sulphat
được sử dụng như chất phụ trợ trong nhuộm; như chất làm chảy
trong sản xuất thủy tinh tạo ra hỗn hợp trong suốt (sản xuất chai lọ
thủy tinh, thủy tinh tinh thể và thủy tinh quang học); trong thuộc da
để bảo quản da sống; trong sản xuất giấy (sản xuất một số loại bột
giấy hóa học); cũng như làm nguyên liệu hồ trong công nghiệp dệt;
trong y học như làm thuốc tẩy,...
Natri sulphat tự nhiên (glauberite, bloedite, reussin, astrakhanite)
được loại trừ (nhóm 25.30).
(b) Natri hydro sulphat (axit sulphat) (NaHSO4). Là cặn muối
trong sản xuất axit HNO3 tồn tại ở dạng khối màu trắng, chảy
rữa. Được sử dụng để thay thế axit sulphuric (H2SO4), đặc biệt
cho tẩy kim loại, tái chế cao su, trong luyện antimon hoặc tantan
và như chất diệt cỏ.
(2) Magie sulphat. Nhóm này bao gồm magie sulphat nhân tạo
(MgSO4.7H2O) (muối Epsom, muối Seidlitz) thu được từ tinh chế
Kieserite, hoặc bởi phản ứng của H2SO4 với dolomite. Dạng tinh thể
không màu, thăng hoa ít ngoài không khí, hòa tan trong nước. Được
sử dụng làm chất đệm trong hồ vải dệt, trong thuộc da, cho chống
cháy và như một chất tẩy.
Nhóm này loại trừ magie sulphat tự nhiên (kieserite) (nhóm 25.30)
(3) Nhôm sulphat (Al2(SO4)3). Thu được bằng cách xử lý boxit, hoặc nhôm
silicat tự nhiên, với H2SO4; tạp chất chủ yếu là hợp chất sắt. Ở trạng thái
ngậm nước (với 18 H2O) nó ở dạng tinh thể màu trắng, hòa tan trong
nước, có thể dễ vỡ và dễ bị cào xước bằng móng tay hoặc cứng và giòn
phụ thuộc vào mức độ đậm đặc của dung dịch điều chế; khi đun nóng
nhẹ nó mất dần nước và kết tinh, cuối cùng tạo dạng muối sulphat khan.
Được sử dụng trong nhuộm như làm chất cẩn màu; trong thuộc da dùng
bảo quản da sống và tạo ra phèn tanin; trong sản xuất giấy như là chất
hồ bột giấy; trong công nghiệp thuốc nhuộm để tạo màu đỏ tía, xanh
metylen hoặc thuốc nhuộm thiazole khác. Cũng được sử dụng cho lọc
mỡ động vật, tinh chế nước công nghiệp, chống cháy (dập tắt lửa),....
Loại nhôm sulphat cơ bản sử dụng trong nhuộm cũng được phân loại ở
đây.
(4) Crom sulphat. Được biết đến nhiều nhất là crom sulphat (Cr2(SO4)3),
được điều chế từ Cr(NO3)3 và H2SO4. Dạng bột kết tinh, màu xanh hoặc
tím, trong dung dịch nước. Được sử dụng như làm chất cẩn màu trong
nhuộm (cẩn màu crom) hoặc thuộc da (thuộc da crom). Sản phẩm chính
được sử dụng cho mục đích sau này là dạng dung dịch ít bền vững hơn
dạng crom sulphat basic (cơ bản) chuyển hóa từ crom sulphat hoặc từ
sulphat crom II (CrSO4). Dạng sulphat này cũng bao gồm ở đây.
(5) Niken sulphat. Dạng chung nhất của các sulphat này có công thức là
NiSO4. Khan ở dạng tinh thể vàng, hoặc ngậm nước ở dạng tinh thể
màu xanh ngọc (với 7H2O) hoặc dạng tinh thể hơi xanh (với 6 H2O);
hòa tan trong nước. Được sử dụng trong tấm niken điện phân, làm chất
cẩn màu trong nhuộm, trong các chế phẩm của mặt nạ khí và như một
chất xúc tác.
(6) Đồng sulphat.
(a) Đồng I sulphat (Cu2SO4).Làm chất xúc tác trong sản xuất
ethanol tổng hợp.
(b) Đồng II sulphat (CuSO4.5H2O). Là sản phẩm phụ của quá trình
điện phân đồng tinh luyện; nó cũng thu được bởi xử lý cặn đồng
hoặc vảy đồng với dung dịch loãng H2SO4. Tinh thể màu xanh
hoặc dạng bột kết tinh, hòa tan trong nước. Chuyển thành dạng
sulphat trắng khan khi bị nung khô (mất nước), nó cũng hút nước
mạnh. Được sử dụng làm thuốc diệt nấm trong nông nghiệp (xem
Chú giải Chi tiết nhóm 38.08); tạo hỗn hợp phun; tạo đồng oxit
hoặc các loại màu của đồng vô cơ; trong nhuộm (cho nhuộm
màu đen, tím hoặc hoa cà cho lụa hoặc len); trong điện phân
đồng tinh luyện hoặc điện phân tấm đồng; cũng như tác nhân
điều tiết tuyến nổi (để phục hồi sự nổi tự nhiên của quặng); như
một chất khử trùng,...
Sulphat đồng đã hydrat hóa tự nhiên (brochantite) bị loại trừ (nhóm
(7) Kẽm sulphat (ZnSO4.7H2O).Thu được bằng phản ứng của H2SO4
loãng với kẽm, ZnO, ZnCO3 hoặc nung quặng blende. Dạng khối
trắng trong hoặc tinh thể hình kim. Được sử dụng cho việc làm giảm
sự nổi tự nhiên của quặng trong quá trình tuyến nổi; như làm chất
cẩn màu trong nhuộm; cho điện phân tấm kẽm; như một chất khử
trùng; cho bảo quản gỗ; trong sản xuất các chất làm khô, lithopone
(nhóm 32.06), chất phát quang (ZnSO4 được hoạt hóa bởi đồng)
(nhóm 32.06) và của các các hợp chất kẽm khác.
(8) Bari sulphat. Nhóm này bao gồm bari sulphat nhân tạo hoặc kết tủa
(BaSO4)được điều chế bằng cách cho kết tủa dung dịch BaCl2 với
H2SO4 hoặc một sulphat kiềm. Thực tế là dạng bột màu trắng, rất
nặng (tỷ trọng khoảng 4,4) và không hòa tan trong nước, hoặc ở
dạng bột nhão đặc. Được sử dụng làm chất màu trắng, cũng như làm
chất đệm cho hồ vải dệt và trong sản xuất cao su, giấy bồi, bìa
catton, matit, chất màu đỏ tía, chất màu,... Nó là chất cản tia X và do
đó được sử dụng (dạng tinh khiết) trong ngành phóng xạ (lĩnh vực
phóng xạ).
Bari sulphat tự nhiên (barytes, spar nặng) được loại trừ (nhóm
(9) Sắt sulphat.
(a) Ferous sulphat (sắt II sulphat) (FeSO4). Thu được bằng cách xử
lý sắt bào (phoi sắt) với axit H2SO4loãng hoặc như sản phẩm phụ
từ việc sản xuất titan oxit; loại này thường chứa tạp chất như
đồng và Fe2(SO4)3 và asen. Rất dễ hòa tan trong nước; tồn tại chủ
yếu ở trạng thái ngậm nước (thông thường với 7 H2O) ở dạng
tinh thể màu xanh sáng và chuyển thành màu nâu khi để ngoài
không khí; khi đun nóng nó chuyển dạng muối sulphat khan màu
trắng. Dung dịch nước màu xanh nhưng chuyển thành màu hơi
nâu khi để ngoài không khí. FeSO4 được sử dụng điều chế mực
(mực sắt), chất màu (màu xanh Prussian) và dạng hỗn hợp (với
vôi tôi và mùn cưa) được sử dụng tinh chế khí than; trong
nhuộm; như thuốc tẩy trùng, chất khử trùng và thuốc diệt cỏ.
(b) Ferric sulphate (sắt III sulphat) (Fe2(SO4)3). Được điều chế từ
FeSO4. Dạng bột hoặc dạng phiến mỏng màu nâu nhạt. Rất dễ
hòa tan trong nước, với dạng ngậm nước màu trắng (ngậm 9
H2O). Được sử dụng cho tinh chế nước tự nhiên hoặc nước thải,
làm đông máu trong các lò sát sinh, trong thuộc da và làm thuốc
diệt nấm. Làm giảm bớt sự nổi của quặng, nó được sử dụng như
tác nhân để điều tiết quá trình tuyển nổi. Cũng được sử dụng làm
chất cẩn màu trong nhuộm và trong sản xuất đồng hoặc kẽm
bằng phương pháp điện phân .
(10) Coban sulphat (CoSO4.7H2O). Được điều chế từ oxit coban và axit
sulphuric; dạng tinh thể đỏ hòa tan trong nước. Được dùng cho tấm
coban điện phân, như một chất màu gốm sứ, như một chất xúc tác và
để điều chế nhựa coban kết tủa (thuốc làm khô).
(11) Stronti sulphat. Stronti sulphat nhân tạo (SrSO4) được kết tủa từ
dung dịch clorua là dạng bột màu trắng, ít hòa tan trong nước. Được
sử dụng trong pháo hoa, gốm sứ và sản xuất các muối stronti khác
Stronti sulphat tự nhiên (celestin) được loại trừ (nhóm 25.30).
(12) Cadimi sulphat (CdSO4). Dạng bột tinh thể không màu, hòa tan
trong nước, tồn tại hoặc ở dạng khan hoặc ở trạng thái ngậm nước
(với 8 H2O). Được sử dụng để điều chế cadimi màu vàng (cadimi
sulphua) hoặc các chất màu khác, và trong các sản phẩm y học; trong
các tế bào điện tiêu chuẩn (tế bào Weston); trong mạ điện và trong
thuốc nhuộm.
(13) Chì sulphat.
(a) Chì sulphat nhân tạo (PbSO4).Thu được từ chì nitrat hoặc
axetat chì bằng sự kết tủa với axit H2SO4; dạng bột hoặc tinh thể
màu trắng, không hòa tan trong nước. Được sử dụng trong sản
xuất muối chì.
(b) Chì sulphat cơ bản. Bột màu xám nhạt điều chế bằng cách nung
nóng litharge, NaCl và H2SO4 cùng với nhau. Cũng có thể thu
được qua quá trình luyện kim, trong trường hợp này sẽ thu được
dạng bột trắng. Được sử dụng trong sản xuất thuốc màu, matit và
hỗn hợp cho công nghiệp cao su.
Chì sulphat tự nhiên (anglestic) được loại trừ (nhóm 26.07).
(B) PHÈN
Phèn là muối kép sulphat ngậm nước, trong đó một gốc sulphat kết hợp
kim loại hóa trị 3 (nhôm, crom, mangan, sắt hoặc indi) và một gốc
sulphat kết hợp với kim loại hóa trị 1 (sulphat kiềm hoặc amoni sulphat ).
Được sử dụng trong nhuộm, như một chất khử trùng và trong các chế
phẩm hóa chất, mặc dù hiện đang có xu hướng thay chúng bằng các muối
sulphat đơn.
(1) Phèn nhôm.
(a) Nhôm kali sulphat (phèn thông thường hoặc phèn kali)
(Al2(SO4)3.K2SO4.24H2O). Thu được từ alunit tự nhiên (đá phèn)
(nhóm 25.30). (nghĩa là hỗn hợp nhôm - kali sulphat basic với
nhôm hydroxit (Al(OH)3)). Phèn được điều chế từ sulphat hai
thành phần. Dạng kết tinh rắn màu trắng, hòa tan trong nước. Khi
nung nóng tạo ra dạng bột màu trắng sáng, khan và kết tinh
(phèn nung). Được sử dụng cho mục đích tương tự như nhôm
sulphat, đặc biệt ở dạng chế phẩm màu, trong nhuộm và trong
thuộc da (phèn – thuộc da). Cũng được sử dụng trong ngành ảnh,
chế phẩm vệ sinh, v.v.
nhôm
(phèn
(Al2(SO4)3.(NH4)2SO4.24H2O). Dạng tinh thể không màu, tan
trong nước đặc biệt khi đun nóng. Được sử dụng trong điều chế
oxit nhôm tinh khiết và trong y học.
(c) Nhôm natri sulphat (phèn natri) (Al2(SO4)3.Na2SO4.24H2O).
Tương tự phèn kali, tồn tại ở dạng tinh thể dạng bông, hòa tan
trong nước. Được sử dụng trong nhuộm làm chất cẩn màu.
(2) Phèn crom
(a) Crom kali sulphat (phèn crom) (Cr2(SO4)3.K2SO4.24H2O). Thu
được nhờ sự khử dung dịch kali dicromat (K2Cr2O7) trong axit H2SO4
với SO2. Dạng tinh thể đỏ tím, hòa tan trong nước và thăng hoa ngoài
không khí. Được sử dụng trong nhuộm như làm chất cẩn màu, trong
thuộc da (crom – thuộc da), trong ngành ảnh, v.v.
(b) Amoni crom sulphat (phèn crom amoni). Bột kết tinh màu xanh,
được sử dụng trong thuộc da và trong gốm sứ.
(3) Phèn sắt. Amoni sắt bis (sulphat) ((NH4)2SO4.Fe2(SO4)3.24H2O),
dạng tinh thể màu tím khử nước và chuyển thành màu trắng trong
không khí; sắt III kali sulphat cũng ở dạng tinh thể tím. Cả hai
được sử dụng trong nhuộm.
Thuật ngữ peroxosulphat (persulphat) nói đến muối của axit
peroxosulphuric (persulphuric) thuộc nhóm 28.11. Chúng khá bền ở dạng
khô nhưng ở dạng dung dịch nước chúng bị phân hủy khi đun nóng. Là
tác nhân oxy hóa mạnh.
(1) Diamoni peroxodisulphat ((NH4)2S2O8). Được điều chế từ điện
phân dung dịch amoni sulphat đậm đặc và axit H2SO4; dạng tinh thể
không màu, hòa tan trong nước, bị phân hủy bởi ẩm và nhiệt. Được
sử dụng trong ngành ảnh; trong tẩy vải dệt hoặc quá trình nhuộm;
trong sản xuất tinh bột tan; trong điều chế peroxodisulphat khác và
trong một số bể điện phân; trong tổng hợp hữu cơ, v.v.
(2) Dinatri peroxodisulphat (Na2S2O8). Dạng tinh thể không màu, rất dễ
hòa tan trong nước. Được sử dụng làm chất tẩy trùng, tẩy trắng, như
một chất phân cực (ăc quy) và cho trạm trổ lên các hợp kim đồng.
(3) Dikali peroxodisulphat (K2S2O8). Dạng tinh thể không màu, rất dễ
hòa tan trong nước. Được dùng để tẩy trắng, sản xuất xà phòng,
trong ngành ảnh, như một chất khử trùng, v.v.
Canxi sulphat tự nhiên (thạch cao, anhydrit, karsteine) được loại trừ
(nhóm 25.20).
2834.21 - - Của kali
2834.29 - - Loại khác
Ngoài các loại trừ đã nêu trong phần giới thiệu của Phân Chương này,
nhóm này bao gồm nitrit, muối kim loại của axit nitrơ (HNO2) (nhóm
(1) Natri nitrit (NaNO2). Được điều chế bằng phản ứng khử natri nitrat
với chì; cũng được tạo ra trong quá trình sản xuất chì oxit. Dạng tinh
thể không màu, hút ẩm và rất dễ tan trong nước. Được sử dụng như tác
nhân oxy hóa trong bể nhuộm; trong tổng hợp hữu cơ; để tẩy thịt, trong
ngành ảnh; như làm thuốc bả chuột,....
(2) Kali nitrit (KNO2). Được điều chế với phương pháp tương tự natri
nitrit, hoặc bằng phản ứng giữa lưu huỳnh dioxit với hỗn hợp CaO và
KNO3. Bột kết tinh màu trắng hoặc hình que hơi vàng, thường có các
muối khác như các tạp chất. Dễ hòa tan trong nước, rất dễ chảy rữa và
bị hỏng trong không khí. Được sử dụng với mục đích tương tự natri
(3) Bari nitrit (Ba(NO2)2). Dạng tinh thể được sử dụng trong pháo hoa.
(4) Các nitrit khác. Bao gồm amoni nitrit (NH4NO2), là dạng không bền
vững và dễ nổ; được sử dụng làm dung môi trong sản xuất nitơ trong
phòng thí nghiệm.
Nhóm này loại trừ cobaltinitrites (nhóm 28.42).
Ngoài các loại trừ đã nêu trong phần giới thiệu ở Phân Chương này,
nhóm này bao gồm nitrat, các muối kim loại của axit HNO3 (nhóm
28.08), trừ amoni nitrat và natri nitrat, tinh khiết hoặc không tinh khiết
(nhóm 31.02 hoặc 31.05). (Xem các loại trừ khác dưới đây).
Dạng nitrat cơ bản cũng được phân loại ở đây.
(1) Kali nitrat (KNO3) (cũng được gọi là salpetre hoặc nitre). Thu được
từ NaNO3 và KCl. Tồn tại ở dạng tinh thể không màu, khối trong hoặc
dạng bột kết tinh trắng, dễ hòa tan trong nước và hút ẩm khi không tinh
khiết. Sử dụng tương tự NaNO3; cũng để sản xuất thuốc súng, kíp nổ
hóa học, pháo hoa, diêm và chất làm chảy trong luyện kim.
(a) Bismut nitrat trung tính (Bi(NO3)3.5H2O).Thu được từ phản
ứng của axit HNO3 với bismut; dạng tinh thể lớn, không màu,
chảy rữa. Được dùng để điều chế bismut oxit hoặc muối bismith
và một số vecni.
(b) Bismut nitrat bazơ (BiNO3(OH)2). Thu được từ bismut nitrat
trung tính; bột trắng lấp lánh, không hòa tan trong nước. Được sử
dụng trong y học (trị bệnh đau dạ dày); trong gốm sứ (màu óng
ánh); trong mỹ phẩm; trong sản xuất kíp nổ (fulminate
(3) Magie nitrat (Mg(NO3)2.6H2O). Dạng tinh thể không màu, hòa tan
trong nước. Được sử dụng trong sản xuất pháo hoa, các sản phẩm
chịu nhiệt (với MgO), trong sản xuất mạng đèn măng xông,....
(4) Canxi nitrat (Ca(NO3)2).Thu được bằng cách xử lý từ đá vôi đã
nghiền với axit HNO3. Dạng khối màu trắng chảy rữa, hòa tan trong
nước, rượu và axeton: được sử dụng trong sản xuất pháo, trong sản
xuất thuốc nổ, diêm, phân bón,....
(5) Sắt III nitrat (Fe(NO3)3.6 hoặc 9 H2O).Dạng tinh thể màu xanh.
Được sử dụng làm chất cẩn màu trong nhuộm và in (độc lập hoặc kết
hợp với axetat). Ở dạng dung dịch nước tinh khiết được sử dụng
trong y học.
(6) Coban nitrat (Co(NO3)2.6H2O).Dạng tinh thể tím, hơi đỏ hoặc hơi
nâu, hòa tan trong nước, dễ chảy rữa. Được sử dụng sản xuất mực
hóa học màu xanh coban hoặc màu vàng; trong trang trí đồ gốm; cho
điện phân thanh coban,....
(7) Niken nitrat (Ni(NO3)2.6H2O).Dạng dung dịch nước, tinh thể màu
xanh dễ chảy rữa. Được sử dụng trong công nghiệp gốm (bột màu
nâu); trong nhuộm (chất cẩn màu); trong mạ điện niken, tạo oxit
niken hoặc sản xuất chất xúc tác niken tinh khiết.
(8) Đồng II nitrat (Cu(NO3)2).Đồng hòa tan trong axit HNO3, kết tinh
thu được nitrat đồng (ngậm 3 hoặc 6 H2O phụ thuộc vào nhiệt độ).
Tinh thể màu xanh hoặc xanh da trời, hòa tan trong nước, hút ẩm,
độc. Được sử dụng trong kỹ nghệ sản xuất pháo hoa; trong công
nghiệp thuốc nhuộm; trong nhuộm hoặc in vải dệt (chất cẩn màu);
trong điều chế CuO và giấy ảnh; trong phiến điện cực, tạo lớp bóng
cho kim loại, v.v.
(9) Stronti nitrat (Sr(NO3)2). Cho SrO hoặc SrS tác dụng với axit HNO3
sẽ tạo dạng muối khan khi ấm, và dạng muối ngậm nước (với 4 H2O)
khi lạnh. Dạng bột kết tinh không màu, dễ chảy rữa, hòa tan trong
nước, bị phân hủy khi đun nóng. Được sử dụng trong kỹ nghệ sản
xuất pháo hoa cho ánh sáng đỏ; cũng dùng trong sản xuất diêm.
(10) Cadimi nitrat (Cd(NO3)2.4H2O). Điều chế từ oxit. Dạng hình kim
không màu, hòa tan trong nước và chảy rữa. Được dùng như một
chất pha màu trong gốm sứ hoặc làm thủy tinh.
(Ba(NO3)2).Điều chế từ muối cacbonat tự nhiên (witherite) (nhóm
25.11). Dạng bột kết tinh hoặc tinh thể không màu hoặc màu trắng,
hòa tan trong nước, độc. Được sử dụng trong kỹ nghệ sản xuất pháo
hoa tạo ánh sáng màu xanh; trong sản xuất thuốc nổ, thủy tinh quang
học, men gốm sứ, các muối bari hoặc các nitrat.....
(12) Chì nitrat (Pb(NO3)2).Nitrat chì thu được như một sản phẩm phụ
của việc điều chế chì dioxit bằng cách cho axit HNO3 tác dụng với
chì đỏ. Là dạng tinh thể không màu, hòa tan trong nước, độc. Được
sử dụng trong kỹ nghệ sản xuất pháo hoa (ánh sáng vàng); trong sản
xuất diêm, chất nổ và một số chất tạo màu; trong thuộc da; trong
ngành ảnh và in lito; cho điều chế muối chì và như một tác nhân oxy
hóa trong tổng hợp hữu cơ.
Ngoài các loại trừ đã nêu trước đây, các sản phẩm sau cũng bị loại trừ:
(a) Thủy ngân nitrat (nhóm 28.52).
(b) Axetonitrat (Chương 29) (ví dụ, sắt axetonitrat, được sử dụng
như chất cẩn màu).
(c) Muối kép, tinh khiết hay không tinh khiết, của (NH4)2SO4 và
NH4NO3 (nhóm 31.02 hoặc 31.05)
(d) Các chất nổ có chứa hỗn hợp của các nitrat kim loại (nhóm
28.35 - Phosphinat (hypophosphit), phosphonat (phosphit) và
phosphat; polyphosphat, đã hoặc chưa xác định về mặt hoá
học.
2835.10 - Phosphinat (hypophosphit) và phosphonat (phosphit)
2835.22 - - Của mono- hoặc dinatri
2835.24 - - Của kali
2835.26 - - Các phosphat khác của canxi
2835.29 - - Loại khác
2835.39 - - Loại khác
Ngoài các loại trừ được liệt kê trong phần giới thiệu của Phân Chương
này, nhóm này bao gồm phosphinat (hypophosphit), các muối kim loại
của axit phosphinic (hypophosphorous) (H3PO2) (nhóm 28.11).
Chúng hòa tan trong nước và phân hủy khi đun nóng với sự tạo ra hydro
phosphit H3P - tự bốc cháy. Phosphinat kiềm là tác nhân khử.
Các chất quan trọng nhất là:
(I) Natri phosphinat (hypophosphit) (NaPH2O2), dạng viên hoặc bột kết
tinh màu trắng, hút ẩm.
(II) Canxi phosphinat (hypophosphit)(Ca(PH2O2)2), dạng bột màu
trắng hoặc tinh thể không màu (thu được do phản ứng của phospho
trắng với nước vôi đun nóng).
Cả hai sản phẩm này được sử dụng trong y học như thuốc bổ hoặc
thuốc hồi phục sức khỏe.
(III) Amoni, sắt, hoặc chì phosphinat (hypophosphit).
Ngoài các loại trừ nêu trong phần giới thiệu của Phân Chương này,
nhóm này bao gồm phosphonat (phosphit) muối kim loại (trung tính hoặc
axit) của axit phosphonic (phosphorous) (H3PO3) (nhóm 28.11).
Dạng phosphat quan trọng nhất là dạng amoni, Na, K, Ca của nó, hòa tan
trong nước và có tác dụng như tác nhân khử.
(C) PHOSPHAT VÀ POLYPHOSPHAT
Ngoài các loại trừ nêu trong phần giới thiệu của Phân Chương này,
nhóm này bao gồm phosphat và polyphosphat kim loại có nguồn gốc từ
axit của nhóm 28.09, nghĩa là:
(I) Phosphat - muối kim loại của axit phosphoric (H3PO4).Đây là
những hợp chất quan trọng nhất và thường được gọi với tên
"phosphat" mà không cần xác định thêm. Dạng muối này được tạo
bởi axit phosphoric với các kim loại có hóa trị 1 có thể là mono-, di-
hoặc tribazơ phosphat tương ứng (với các kim loại hóa trị 1 chúng
chứa 1 - 2 hoặc 3 nguyên tử kim loại); đó là, ví dụ ba natri phosphat:
(Na2HPO4))và
Muối
loại
của
(III) Metaphosphat - Muối kim loại của axit metaphosphoric (HPO3)n.
(IV) Các polyphosphat khác - Muối kim loại của axit polyphosphoric
có mức độ Polyme hóa cao.
Phosphat và polyphosphat quan trọng nhất là:
(1) Amoni phosphat và polyphosphat.
(a) Triamoni orthophosphat((NH4)3PO4),bền vững trong dung dịch
nước.
(b) Amoni polyphosphat. Đây là một vài loại amoni polyphosphat
có mức độ polyme hóa trong khoảng từ vài đơn vị đến vài ngàn
đơn vị.
Chúng xuất hiện dạng bột kết tinh trắng, hòa tan hoặc không hòa
tan trong nước; được sử dụng để chế tạo phân bón hóa học, phụ
gia chống cháy cho vecni hoặc cho các chế phẩm chống cháy.
Chúng vẫn ở trong nhóm này cho dù mức độ polyme hóa của
chúng không được xác định.
Amoni dihydroorthophosphat (monoamoni phosphat) và diamoni
hydroorthophosphat (diamoni phosphat), tinh khiết hay không
tinh khiết, và hoặc dạng hỗn hợp của chúng, được loại trừ khỏi
nhóm này (nhóm 31.05).
(2) Natri phosphat và polyphosphat.
(NaH2PO4.2H2O).Tinh thể không màu, hòa tan trong nước, mà
dưới tác động của nhiệt bị mất nước (phosphat phá hủy thành
bột) để trở thành pyrophosphat và, cuối cùng là metaphosphat.
Được sử dụng trong y học, trong công nghiệp sợi nhân tạo, như
chất gây đông cho protein, trong mạ điện, v.v.
(Na2HPO4),dạng khan (bột trắng) hoặc dạng kết tinh (với 2, 7
hoặc 12 H2O). Hòa tan trong nước. Được sử dụng trong hồ lụa
(với thiếc clorua), cho vải, giấy hoặc gỗ chống cháy, như chất
cẩn màu cho vải dệt, cho thuộc da bằng crom, trong sản xuất
thủy tinh quang học, trong men gốm sứ, trong sản xuất bột nở,
trong sản xuất các chất màu và chất hàn chảy, trong mạ điện và
trong y học,....
Dạng tinh thể không màu, hoà tan trong nước, giải phóng 1 phần
nước kết tinh khi đun nóng. Được sử dụng làm chất trợ dung hòa
tan ôxit kim loại, trong ngành ảnh, chất tẩy rửa, làm mềm nước
công nghiệp và khử cặn nồi hơi, gạn lọc đường và xăng, trong
thuộc da, trong y học, v.v.
(diphosphat trung tính) (Na4P2O7). Dạng bột trắng không hút ẩm,
tan trong nước. Được sử dụng trong giặt là, sản xuất các chế
phẩm tẩy rửa, trong hỗn hợp để chống đông máu, sản phẩm làm
lạnh và thuốc sát khuẩn, sản xuất phomat, v.v.
cũng có nhận dạng tương tự, được sử dụng làm chất trợ dung cho
men sứ, làm kết tủa casein từ sữa, và trong sản xuất bột nướng,
bột sữa mạch nha, v.v.
(e) Natri triphosphat(Na5P3O10) (pentanatri triphosphat cũng được
hiểu là natri tripolyphosphat). Bột kết tinh trắng; được sử dụng
làm mềm nước, như tạo nhũ dịch hoặc bảo quản đồ ăn.
(f) Natri metaphosphat (công thức cơ bản (NaPO3)n).Hai
metaphosphat biết được trong trường hợp này là natri cyclo-
triphosphat và natri cyclo- tetraphosphat.
(g) Natri polyphosphat có mức độ polyme hóa cao. Một vài loại
natri polyphosphat được gọi không đúng Natri metaphosphat. Có
một số loại natri polyphosphat mạch thẳng có độ polyme hóa cao
từ vài chục tới vài trăm đơn vị. Mặc dù chúng thường xuyên xuất
hiện ở dạng polyme có độ polyme hóa không đặc trưng, chúng
vẫn nằm trong nhóm này.
Chúng bao gồm:
Sản phẩm được hiểu sai là natri hexametaphosphat (một hỗn hợp
trùng hợp có công thức ((NaPO3)n cũng được hiểu là muối
Graham. Dạng trong hoặc bột màu trắng, hòa tan trong nước. Ở
dạng dung dịch nước, sản phẩm này sẽ cô lập canxi và magie có
trong nước, vì vậy nó được sử dụng để làm mềm nước. Nó cũng
được sử dụng để điều chế các chất tẩy rửa và keo casein, để nhũ
hóa tinh dầu, trong ngành ảnh, công nghiệp sản xuất phomat, v.v.
Được
biết
nhiều
nhất
là
dạng
dihydroorthophosphat (monokali phosphat) (KH2PO4).Thu được từ
việc xử lý phấn phosphat với axit orthophosphoric và kali sulphat.
Dạng tinh thể không màu, hòa tan trong nước. Được sử dụng làm
men dinh dưỡng và làm phân bón.
(CaHPO4.2H2O). Thu được bằng cách cho dung dịch canxi
clorua đã được axit hóa tác dụng với dinatri hydroorthophosphat.
Dạng bột màu trắng, không hòa tan trong nước. Được sử dụng
làm phân bón; làm chất khoáng bổ sung cho thức ăn chăn nuôi,
và
sản
xuất
thủy
thuốc,
hydroorthophosphat có chứa không ít hơn 0,2% khối lượng là flo
tính toán theo sản phẩm khô khan được loại trừ (nhóm 31.03
hoặc 31.05).
(CaH4(PO4)2. 1 or 2 H2O). Thu được từ việc xử lý xương với axit
H2SO4 hoặc axit HCl. Xuất hiện ở dạng dung dịch đậm đặc; bị
mất nước kết tinh dưới tác dụng nhiệt. Nó là canxi phosphat duy
nhất hòa tan trong nước. Được sử dụng trong điều chế bột
nướng, như một loại thuốc,....
(c) Tricanxi bis(orthophosphat) (canxi phosphat trung tính)
(Ca3(PO4)2). Nhóm này bao gồm canxi phosphat đã kết tủa (tức
là, canxi phosphat thông thường). Được điều chế từ việc xử lý
tricanxi phosphat có chứa trong xương, đầu tiên với axit HCl và
sau đó với NaOH, hoặc bằng cách cho kết tủa dung dịch trinatri
orthophosphat bằng CaCl2với sự có mặt của NH3. Dạng bột
trắng vô định hình, không mùi và không hòa tan trong nước.
Được sử dụng làm chất cẩn màu trong nhộm; làm trong syro; tẩy
sạch kim loại; trong sản xuất thủy tinh hoặc đồ gốm; trong điều
chế
và
thuốc
(ví
dụ,
Canxi phosphat tự nhiên bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm 25.10).
(5) Nhôm phosphat. Nhôm orthophosphat nhân tạo(AlPO4),điều chế từ
trinatri orthophosphat và Al2(SO4)3, tồn tại ở dạng bột màu trắng, hơi
xám hoặc hơi hồng. Được sử dụng làm chất trợ dung trong gốm, cho
hồ lụa (với thiếc oxit), và trong chế phẩm xi măng hàn răng.
Nhôm phosphat tự nhiên (wavellite) được loại trừ (nhóm 25. 30).
(6) Mangan phosphat(Mn3(PO4)2.7H2O).Thu được từ MnCl2 và axit
H3PO4. Nó là dạng bột màu tím, ở dạng đơn hoặc hỗn hợp với sản
phẩm khác, là thành phần tạo nên màu tím Nuremberg, được sử dụng
trong nghệ thuật và trong men sứ. Kết hợp với (NH4)3PO4, nó tạo thành
dạng màu tím Burgundy.
(7) Coban phosphat. Tricoban bis (orthophosphat) (Co3(PO4)2.2 hoặc 8
H2O) được điều chế từ natri octhophosphat và coban axetat. Dạng
bột vô định hình màu hồng, không hòa tan trong nước. Khi đun nóng
với Al2O3 cho màu xanh Thenard được sử dụng trong men sứ. Kết
hợp với AlPO4, nó được sử dụng trong sản xuất các chế phẩm màu
tím coban.
(8) Các Phosphat khác. Chúng bao gồm phosphat của bari (đục mờ),
crom (màu gốm) , kẽm (chất màu cho gốm , xi măng hàn răng, điều
khiển quá trình lên men, trong y học), sắt (thuốc) và đồng (chất màu
cho gốm).
Nhóm này cũng không bao gồm một số dạng phosphat nhất định:
(a) Canxi phosphat tự nhiên, apatit và canxi nhôm phosphat tự nhiên
(nhóm 25.10).
(b) Các loại khoáng phosphat tự nhiên khác của Chương 25 hoặc 26.
(c) Amoni dihydroorthophosphat (monoamoni phosphat) và diamomi
hydroorthophosphat (diamoni phosphat), tinh khiết hay không tinh
khiết (nhóm 31.05).
(d) Đá quý và bán quý (nhóm 71.03 hoặc 71.05).
thương phẩm có chứa amoni carbamat.