PROJECT

CHU GIAI 2022_20

CHU GIAI 2022_20

 liệu dệt  (nhóm 62.17) để đeo 
kiếm, lưỡi lê,... cũng như các dây cầm gươm (thường thuộc nhóm 
(b) Dao dùng đi săn, dao đi cắm trại và các loại dao khác (nhóm 82.11), 
hoặc  vỏ  của chúng (thường thuộc nhóm 42.02). 
(c) Bao và bọc (dao) bằng kim loại quý hoặc bằng kim loại được dát 
phủ kim loại quý (nhóm 71.15). 
(d) Kiếm dùng trong môn thể thao đấu kiếm (nhóm 95.06). 

Phần XX 
CÁC MẶT HÀNG KHÁC 
Chương 94 
Đồ nội thất; bộ đồ giường, đệm, khung đệm, nệm và các đồ dùng 
nhồi tương tự; đèn (luminaires) và bộ đèn, chưa được chi tiết hoặc 
ghi ở nơi khác; biển hiệu được chiếu sáng, biển đề tên được chiếu 
sáng và các loại tương tự; nhà lắp ghép 
Chú giải. 
1.- Chương này không bao gồm: 
(a) Đệm, gối hoặc nệm, bằng hơi hoặc nước, thuộc Chương 39, 40 
hoặc 63; 
(b) Gương được thiết kế để đặt trên sàn hoặc nền (ví dụ, gương 
đứng ngả được (gương quay)) thuộc nhóm 70.09; 
(c) Các mặt hàng thuộc Chương 71; 
(d) Các bộ phận có công dụng chung như đã định nghĩa trong Chú 
giải 2 của Phần XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV), hoặc các 
loại hàng hoá tương tự bằng plastic (Chương 39), hoặc két an 
toàn thuộc nhóm 83.03; 
(e) Đồ nội thất được thiết kế đặc biệt như bộ phận của các thiết bị 
làm lạnh hoặc kết đông thuộc nhóm 84.18; đồ nội thất được 
thiết kế đặc biệt dùng cho máy khâu (nhóm 84.52); 
(f)  Đèn hoặc nguồn sáng và bộ phận của chúng thuộc Chương 85; 
(g) Đồ nội thất được thiết kế đặc biệt như bộ phận của các thiết bị 
thuộc nhóm 85.18 (nhóm 85.18), thuộc nhóm 85.19 hoặc 85.21 
(nhóm 85.22) hoặc thuộc các nhóm từ  85.25 đến 85.28 (nhóm 
(h) Các mặt hàng thuộc nhóm 87.14; 
(ij) Ghế nha khoa có gắn kèm các dụng cụ chữa răng thuộc nhóm 
90.18 hoặc ống nhổ dùng trong nha khoa (nhóm 90.18); 
(k)  Các mặt hàng thuộc Chương 91 (ví dụ, đồng hồ thời gian và vỏ 

đồng hồ thời gian); 
(l) Đồ nội thất có tính chất đồ chơi hoặc đèn (luminaires) và bộ đèn 
đồ chơi (nhóm 95.03), bàn bi-a hoặc đồ nội thất khác được cấu 
tạo đặc biệt dùng cho các trò chơi (nhóm 95.04), đồ nội thất 
cho trò ảo thuật hoặc để trang trí (trừ các loại dây đèn) như đèn 
lồng Trung Quốc (nhóm 95.05); hoặc 
(m)  Chân đế loại một chân (monopod), hai chân (bipod), ba chân 
(tripod) và các mặt hàng tương tự (nhóm 96.20). 
2.- Các mặt hàng (trừ các bộ phận) thuộc các nhóm từ 94.01 đến 94.03 
được phân loại trong các nhóm này chỉ khi chúng được thiết kế để 
đặt trên nền hoặc sàn. 
Tuy nhiên, các đồ vật sau đây được phân loại vào các nhóm kể trên 
dù là chúng được thiết kế để treo, gắn vào tường hoặc để đứng trên 
1 đồ vật khác: 
(a)  Tủ có ngăn, giá sách, đồ nội thất có ngăn (bao gồm kệ đơn với 
các bộ phận phụ trợ để cố định chúng trên tường) và đồ nội thất 
một khối; 
(b)  Ghế và giường. 
3.-   (A) Bộ phận của hàng hóa trong các nhóm từ  94.01 đến 94.03 
không bao gồm các dạng tấm hoặc phiến (đã hoặc chưa cắt theo 
hình mẫu nhưng không kết hợp với các bộ phận khác) bằng 
thuỷ tinh (kể cả gương), bằng đá hoa (marble) hoặc đá khác 
hoặc bằng loại vật liệu bất kỳ khác thuộc Chương 68 hoặc 69. 
Hàng hoá mô tả trong nhóm 94.04, dưới hình thức tách 
biệt, thì không phân loại như bộ phận của các hàng hoá trong 
nhóm 94.01, 94.02 hoặc 94.03. 
4.- Theo mục đích của nhóm 94.06, khái niệm "nhà lắp ghép" có nghĩa 
là nhà đã hoàn chỉnh trong nhà máy hoặc đóng gói như các bộ phận 
nhà đi kèm với nhau, để lắp ghép tại chỗ, như nhà ở hoặc nhà làm 
việc, văn phòng, trường học, cửa hàng, lán trại, gara hoặc các loại 
nhà tương tự.  
Nhà lắp ghép bao gồm "các khối mô-đun xây dựng" bằng thép, 

thường được trình bày với kích thước và hình dạng của một công-
ten-nơ vận chuyển tiêu chuẩn, nhưng được lắp sẵn một phần hoặc 
toàn bộ bên trong. Các khối mô-đun xây dựng như vậy thường được 
thiết kế để lắp ráp lại với nhau tạo thành các nhà vĩnh cửu. 
TỔNG QUÁT 
Trừ những trường hợp loại trừ được đề cập trong phần Chú giải 
Chương, Chương này bao gồm: 
(1) Đồ nội thất các loại và bộ phận của chúng (các nhóm từ 94.01 đến 
(2) Khung đệm, đệm và các mặt hàng khác thuộc bộ đồ giường hoặc 
các đồ nội thất tương tự, có gắn lò xo, nhồi hoặc lắp bên trong bằng 
bất cứ vật liệu nào, hoặc bằng cao su xốp hay plastic xốp, có hoặc 
không bọc (nhóm 94.04). 
(3) Đèn (luminaires), các bộ đèn và bộ phận của chúng, chưa được chi 
tiết hoặc đề cập ở nơi khác, làm từ mọi vật liệu (trừ những vật liệu 
được mô tả tại Chú giải 1 của Chương 71), và biển hiệu được chiếu 
sáng, biển đề tên được chiếu sáng và loại tương tự, có  nguồn sáng  
cố định thường xuyên, và bộ phận của chúng chưa được chi tiết 
hoặc đề cập ở nơi khác (nhóm 94.05). 
(4) Nhà lắp ghép (nhóm 94.06). 
Theo mục đích của Chương này, khái niệm "đồ nội thất" nghĩa là: 
(A) Mọi đồ vật “có thể di chuyển” (không kể đến những mặt hàng đã 
nêu tại các nhóm cụ thể khác trong Danh mục), mà có đặc điểm chủ 
yếu là được thiết kế để đặt trên nền hoặc sàn, và chúng được sử 
dụng chủ yếu cho một mục đích thiết thực nào đó để trang bị cho 
căn hộ, khách sạn, nhà hát, rạp chiếu phim, văn phòng, nhà thờ, 
trường học, quán giải khát, quán ăn, phòng thí nghiệm, bệnh viện, 
phẫu thuật nha khoa, v.v…hoặc trên tàu thủy, phương tiện bay, toa 
xe lửa, xe ôtô, xe rơ moóc được thiết kế để làm nhà lưu động hoặc 
các phương tiện vận tải tương tự (cần chú ý rằng, theo mục đích 
schools, cafés, restaurants, laboratories, hospitals, dentists’ 

của Chương này, những mặt hàng được coi là đồ nội thất “có thể di 
chuyển được” ngay cả khi chúng được thiết kế để bắt chặt xuống 
sàn, vv., ví dụ ghế được sử dụng trên tàu thủy). Những mặt hàng 
tương tự (ghế băng, ghế tựa, v.v…) sử dụng trong vườn hoa, quảng 
trường, nơi giải trí công cộng, v.v… cũng thuộc loại này. 
(B)  Các mặt hàng sau: 
(i) Tủ có ngăn, giá sách, các đồ nội thất có ngăn khác (kể cả các kệ 
đơn để đồ đi kèm với giá đỡ để gắn chúng lên tường) và bộ đồ 
nội thất, được thiết kế để treo, gắn vào tường hoặc để đặt chồng 
lên nhau hay cạnh nhau, để giữ nhiều loại đồ vật hay mặt hàng 
khác nhau (sách, đồ sành sứ, dụng cụ nhà bếp, đồ thủy tinh, vải, 
dược phẩm, đồ vệ sinh, máy thu thanh hay thu hình, đồ trang 
trí, v.v) và các bộ phận của bộ đồ nội thất được trình bày riêng. 
(ii) Ghế hoặc giường được thiết kế để treo hay gắn lên tường. 
Trừ những mặt hàng nêu trong điểm B trên đây, khái niệm ‘‘đồ nội 
thất’’ không áp dụng với những mặt hàng được sử dụng như là đồ nội 
thất nhưng được thiết kế để đặt trên những đồ nội thất khác hoặc đặt trên 
giá (kệ) hoặc để treo lên tường hay trần nhà. 
Vì vậy, chương này không bao gồm những đồ vật khác cố định trên 
tường, như giá treo áo, mũ và các loại giá tương tự, giá treo chìa khoá, 
giá treo quần áo có gắn bàn chải và giá để báo, hay các đồ dùng như tấm 
che. Tương tự, chương này không bao gồm những mặt hàng sau không 
được thiết kế để đặt trên sàn:  các đồ gỗ mỹ thuật nhỏ và đồ dùngnhỏ 
trong nhà bằng gỗ (nhóm 44.20), và thiết bị văn phòng (như tủ nhiều 
ngăn chẳng hạn, các khay giấy) làm bằng plastic hay kim loại cơ bản 
(nhóm 39.26 hay 83.04).  
Tuy nhiên, đối với các thiết bị (tủ có ngăn, tấm che, v.v) được lắp hay 
thiết kế để lắp, xuất trình cùng với cấu kiện nhà lắp ghép của nhóm 
94.06 và là bộ phận không tách rời của các cấu kiện này, thì chúng vẫn 
được phân loại vào nhóm này. 
Nhóm 94.01 đến 94.03 bao gồm các đồ vật của các đồ nội thất làm bằng 

mọi chất liệu (gỗ, liễu, tre, mây-song, nhựa, kim loại cơ bản, thủy tinh, 
da, đá, gốm, sứ v.v). Những đồ đạc này được phân loại vào những nhóm 
trên cho dù được nhồi hay có phủ ngoài hay không, với bề mặt đã hoặc 
chưa gia công, chạm, khảm, vẽ trang trí, lắp gương hay gỗ đã được định 
vị với kính khác, hoặc được gắn trên bánh lăn, v.v. 
Tuy nhiên, cần chú ý rằng đồ nội thất sẽ bị loại trừ nếu nó gắn với 
nhiều thành phần phụ (ví dụ: chữ lồng, băng, đai, …)làm bằng kim loại 
quí hoặc kim loại được dát phủ kim loại quí (Chương 71). 
Đồ nội thất được trình bày ở dạng tháo rời hoặc chưa lắp ráp được 
phân loại như đồ nội thất đã lắp ráp hoàn chỉnh, với điều kiện những bộ 
phận đó được trình bày cùng nhau. Vẫn phân loại như vậy cho đồ nội 
thất đã hoặc chưa được lắp với các tấm, phụ kiện hoặc các bộ phận khác 
bằng gương, đá hay vật liệu khác (ví dụ một cái bàn gỗ với mặt bàn 
bằng kính, tủ quần áo có gắn gương, tủ bufet được ốp đá cẩm thạch trên 
bề mặt). 
CÁC BỘ PHẬN 
Chương này chỉ bao gồm các bộ phận, dạng thô hay hoàn thiện, của 
hàng hóa thuộc các nhóm 94.01 đến 94.03 và nhóm 94.05, với điều kiện 
hình dạng bên ngoài của chúng hay tính năng cụ thể của chúng được 
thiết kế để chỉ sử dụng hay chủ yếu sử dụng cho các sản phẩm thuộc các 
nhóm trên. Chúng được phân loại vào Chương này khi không được mô 
tả cụ thể hơn tại các Chương khác. 
Các bộ phận của nhà lắp ghép thuộc nhóm 94.06, được trình bày riêng, 
được phân loại vào các nhóm tương ứng với chúng trong mọi trường 
hợp. 
Bên cạnh những ngoại lệ nêu trong các chú giải riêng dưới đây, Chương 
này không bao gồm: 
(a) Gờ dạng chuỗi hạt và khuôn đúc, thuộcnhóm 44.09. 
(b) Miếng ván dăm bào rãnh, được phủ plastic hoặc các vật liệu khác, 
dùng để cắt và gấp dọc theo vết cắt thành hình chữ “U” để tạo thành 
một bộ phận của đồ nội thất (ví dụ vách ngăn của ngăn kéo) (nhóm 

(c) Các tấm bằng thủy tinh (kể cả gương), đá cẩm thạch hoặc đá khác 
hay bằng các loại chất liệu khác nêu trong Chương 68 hay 69, đã 
hoặc chưa cắt thành hình, trừ khi chúng đã được ghép vào các bộ 
phận khác để có thể xác định rõ là chúng là bộ phận của đồ nội thất 
(ví dụ, cánh cửa gương của tủ quần áo). 
(d) Lò xo, ổ khoá và các bộ phận khác có công dụng chung như đã định 
nghĩa trong Chú giải 2 của Phần XV, bằng kim loại cơ bản (Phần 
XV), và các hàng hóa tương tự bằng nhựa (Chương 39). 
(e) Đồ nội thất dạng đồ chơi và đèn hoặc bộ đèn đồ chơi(nhóm 95.03). 
(f) Đồ sưu tập và đồ cổ (Chương 97). 
94.01 -  Ghế ngồi (trừ các loại thuộc nhóm 94.02), có hoặc không 
chuyển được thành giường, và bộ phận của chúng (+). 
9401.10 - Ghế dùng cho phương tiện bay 
9401.20 - Ghế dùng cho xe có động cơ 
 - Ghế quay có điều chỉnh độ cao: 
9401.31  - - Bằng gỗ 
9401.39  - - Loại khác 
 - Ghế  có thể chuyển thành giường, trừ ghế trong 
vườn hoặc đồ cắm trại: 
9401.41  - - Bằng gỗ 
9401.49  - - Loại khác 
- Ghế bằng mây, liễu gai, tre hoặc các vật liệu tương 
tự 
9401.52 - - Bằng tre 
 9401.53 - - Bằng song, mây 
9401.59 - - Loại khác 

         - Ghế khác, có khung bằng gỗ: 
9401.61 - - Đã nhồi đệm 
9401.69 - - Loại khác 
               - Ghế khác, có khung bằng kim loại: 
9401.71 - - Đã nhồi đệm 
9401.79 - - Loại khác 
9401.80 - Ghế khác 
9401.90 - Bộ phận: 
9401.91  - - Bằng gỗ 
9401.99  - - Loại khác 
Trừ những loại trừ nêu dưới đây, nhóm này bao gồm toàn bộ các loại 
ghế ngồi (kể cả các loại dùng cho xe cộ, với điều kiện chúng đáp ứng 
điều kiện quy định trong Chú giải 2 của Chương này), ví dụ: 
Ghế dài, ghế có tay tựa, ghế xếp, ghế võng, ghế cao cho trẻ sơ sinh và 
ghế trẻ em được thiết kế để treo vào lưng ghế khác (kể cả ghế cho xe ô 
tô), ghế bành, đi văng  (kể cả  loại  có gắn thiết bị sưởi ấm), ghế tràng 
kỉ, ghế xôfa, ghế dài có nệm và các loại tương tự,  ghế đẩu (như  loại 
dùng cho chơi đàn piano, ghế đẩu dùng cho hoạ sĩ, người đánh máy 
chữ, và ghế hai tác dụng dùng làm ghế đẩu và dùng làm bậc thang), 
ghế được tích hợp với một hệ thống âm thanh và thích  hợp để sử dụng 
với bảng điều khiển máy trò chơi video và máy, ti vi hoặc thiết bị thu 
sóng vệ tinh, cũng như với DVD, đĩa nhạc CD, máy MP3 hoặc máy 
video cát xét. 
Ghế thuộc nhóm này có thể kết hợp với các bộ phận bổ trợ không phải 
là ghế, ví dụ, các bộ phận đồ chơi, chức năng rung, máy nghe nhạc hoặc 
âm thanh, cũng như các tính năng chiếu sáng. 
Ghế có tay tựa, đi văng, trường kỷ,... vẫn được phân loại vào nhóm này 
nếu chúng có thể chuyển được thành giường. 

Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm: 
(a) Bậc thang (thường thuộcnhóm 44.21 và 73.26). 
(b) Gậy tay cầm có thể chuyển thành ghế (nhóm 66.02). 
(c) Các mặt hàng của nhóm 87.14 (ví dụ: yên xe). 
(d) Ghế quay để thử phản xạ có thể điều chỉnh tốc độ (nhóm 90.19). 
(e) Ghế thuộc nhóm 94.02. 
(f) Ghế đẩu và ghế để cuối giường (có hoặc không đung đưa được) 
được thiết kế để đặt chân, xe tập đi trẻ em và hòm đựng quần áo và 
những hòm tương tự có công dụng phụ như ghế (nhóm 94.03). 
BỘ PHẬN 
Nhóm này cũng bao gồm những bộ phận có thể xác định được của ghế, 
như lưng ghế, mặt ghế và tay tựa (đã hoặc chưa bọc rơm hay bọc bằng 
mây đan, nhồi hay lắp lò xo), vỏ bọc ghế hoặc tựa lưng để gắn vĩnh viễn 
vào ghế, và các bộ lò xo xoắn ốc đã được lắp ráp cho ghế bọc. 
Các loại đệm, đệm ghế loại dài, có gắn lò xo hoặc bọc hoặc lắp bên 
trong bằng vật liệu bất kỳ hoặc bằng cao su xốp hoặc plastic xốp, đã 
hoặc chưa bọc nếu được trình bày riêng thì bị loại trừ (nhóm 94.04) 
cho dù chúng chỉ được sử dụng như là một bộ phận của các loại ghế bọc 
(ví dụ: đi văng, tràng kỷ, xôfa). Tuy nhiên, khi các đồ vật này được lắp 
vào các bộ phận khác của các loại ghế thì sẽ phân loại vào nhóm này. 
Chúng cũng được phân loại vào nhóm này khi trình bày cùng với ghế 
mà chúng là một bộ phận của những chiếc ghế đó. 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 9401.31 
Ghế quay bằng gỗ có điều chỉnh độ cao thay đổi là loại ghế có chỗ ngồi 
có thể xoay và trong một số trường hợp, có thể nghiêng. Đối với ghế 
quay có tựa lưng, tựa lưng này có thể nghiêng độc lập với chỗ ngồi. Hầu 

hết diện tích của chỗ ngồi, và cả phần tựa lưng, nếu có, phải bằng gỗ. 
Chỗ ngồi được nâng lên hoặc hạ xuống bằng xi lanh hoặc vít thủy 
lực/khí. Chúng có thể có hoặc không có bánh xe. 
Phân nhóm 9401.61 và 9401.71 
“Ghế bọc” là loại ghế có một lớp lót mềm, ví dụ bằng bông, lanh, lông 
thú, nhựa xốp hay cao su xốp, được định dạng theo ghế (cố định hay 
không), được bọc bằng các vật liệu như vải, da hay tấm phủ bằng nhựa. 
Cũng phân loại vào ghế bọc cho những ghế mà vật bọc không được bọc 
hoặc chỉ có phủ bằng một lớp vải trắng (thường được biết đến như loại 
ghế bọc vải muxơlin), các loại ghế để cùng với đệm mặt ghế hoặc đệm 
tay đặt có thể tháo lắp được và  không sử dụng được nếu không có 
những bộ phận này, cũng như các loại ghế có lò xo xoắn ốc bên trong 
(cho ghế). Ngược lại, nếu chỉ là lò xo căng theo chiều ngang, được thiết 
kế để bắt chặt vào khung một lưới mắt cáo bằng dây thép, một tấm dệt, 
v.v…. thì không đáp ứng để phân loại theo ghế bọc. Tương tự như vậy, 
những loại ghế được bọc trực tiếp bằng tấm dệt, da, tấm plastic, ở giữa 
không có vật liệu bọc, cũng không có lò xo, và những ghế chỉ được bọc 
bởi một lớp tấm dệt với lần lót là một lớp mỏng bằng plastic xốp, đều 
không được coi là ghế bọc. 
Phân nhóm 9401.80 
Phân nhóm này cũng bao gồm các loại ghế an toàn thích hợp sử dụng 
cho trẻ nhỏ và trẻ em mới biết đi trong xe có động cơ hoặc phương tiện 
đi lại khác. Chúng có thể tháo ra lắp vào và được gắn với ghế ngồi của 
xe bằng cách sử dụng dây an toàn hoặc một dây đai. 
94.02 - Đồ nội thất trong ngành y, giải phẫu, nha khoa hoặc thú y (ví 
dụ, bàn mổ, bàn khám, giường bệnh có lắp các bộ phận cơ 
khí, ghế nha khoa); ghế cắt tóc và các loại ghế tương tự, có 

thể xoay, ngả và nâng hạ; bộ phận của các mặt hàng trên. 
9402.10 - Ghế nha khoa, ghế cắt tóc hoặc các loại ghế tương tự 
và các bộ phận của chúng  
9402.90 - Loại khác 
(A) ĐỒ NỘI THẤT TRONG NGÀNH Y, GIẢI PHẪU, NHA 
KHOA HAY THÚ Y 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Bàn mổ dùng trong các cuộc phẫu thuật nói chung hoặc cho các 
phẫu thuật chuyên khoa, được thiết kế cho phép đặt bệnh nhân ở 
các vị trí thích hợp để thực hiện hoạt động phẫu thuật khác nhau, 
bằng cách  điều chỉnh nghiêng, xoay, nâng hạ bàn. 
(2) Bàn phẫu thuật chỉnh hình chuyên dụng dùng cho các ca mổ phức 
tạp (ví dụ: mổ ở hông, vai, cột sống). 
(3) Bàn phẫu thuật cho súc vật và các loại bàn tương tự, thông thường 
các bàn này có thiết bị căng giữ đi kèm. 
(4) Bàn, bàn - giường và những thứ tương tự để khám, điều trị y tế, mát 
xa (xoa bóp), v.v, cũng như các loại giường và các loại ghế dùng 
trong khám và mổ sản khoa, phụ khoa, tiết niệu, bọng đái, v.v…. 
hoặc sử dụng trong điều trị tai, mũi, họng hoặc mắt. 
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, nhóm này loại trừ các loại ghế và bàn 
chuyên dùng cho điều trị hoặc khám X quang, v.v.. (nhóm 90.22). 
(5) Ghế đặc biệt cho bác sĩ và các nhà phẫu thuật. 
(6) Giường đẻ, thường được lắp một cái chậu trượt bên dưới và thanh 
trượt ở phía trên của chậu. 
(7) Giường có cơ cấu nâng không gây chấn động cho người bị thương 
hay người ốm, hoặc để khi làm vệ sinh cho họ mà không phải di 
chuyển. 
(8) Giường có lắp khung nệm kèm bản lề hỗ trợ, thiết kế đặc biệt để 

điều trị bệnh lao phổi và các bệnh khác. 
(9) Giường gắn với nẹp hoặc các dụng cụ để điều trị các trường hợp bị 
gãy xương, sai khớp và tổn thương các khớp chân tay, ngực, v.v.. 
Tuy nhiên, khi các dụng cụ loại này được thiết kế ở dạng gá lắp đơn 
giản, mà không được gắn cố định vào giường, được phân loại vào 
nhóm 90.21; giường không có các bộ phận cơ khí  được xếp vào 
nhóm 94.03. 
(10) Các loại cáng hay băng ca cũng như băng ca - xe đẩy để di chuyển 
bệnh nhân trong bệnh viện, trạm xá,v.v….. 
Tuy nhiên xe dùng để chở người tàn tật ngoài phố được loại trừ 
khỏi nhóm này (Chương 87). 
(11) Các loại bàn nhỏ, bàn tủ và các đồ tương tự, có hoặc không có bánh 
xe (xe đẩy), thuộc loại được thiết kế riêng để đựng dụng cụ hoặc 
bông băng, các dụng cụ dùng trong ngành yhoặc giải phẫu hoặc các 
thiết bị gây mê; xe khử trùng đẩy tay; các chậu rửa vô trùng đặc biệt, 
thùng chứa tự mở đựng quần áo vô trùng (thường được gắn bánh xe) 
và thùng rác chứa bông băng bẩn (cho dù có được gắn bánh xe hay 
không);  giá để chai lọ, giá để ống rửahoặc ống thụt và các đồ tương 
tự, cho dù có được gắn trên một trục quay tròn hay không; tủ hay tủ 
kính đựng dụng cụ đặc biệt hoặc quần áo, bông băng. 
(12) Ghế nha khoa (kể cả loại vừa làm ghế, vừa làm giường dùng gây 
mê) không đi kèm các dụng cụ nha khoa của nhóm 90.18, với cơ 
cấu (thường là hệ thống ống lồng) để nâng, nghiêng và đôi khi xoay 
trên trụ chính, đã hoặc chưa lắp các thiết bị khác như dụng cụ chiếu 
sáng. 
Máy súc miệng kèm ống nhổ của nha sĩ (có hoặc không được đặt 
trên bệ hay giá đỡ), và ghế nha khoa có lắp dụng cụ nha khoa của 
nhóm 90.18, bị loại trừ (nhóm 90.18). 
Cần chú ý rằng nhóm này giới hạn đối với những đồ nội thất thuộc loại 
được thiết kế đặc biệt để sử dụng trong ngành y, giải phẫu, nha khoa 
hoặc thú y; đồ nội thất có công dụng chung không có những đặc điểm 
này đều bị loại trừ. 

(B) GHẾ CẮT TÓC VÀ CÁC LOẠI GHẾ TƯƠNG TỰ, CÓ TRỤC 
XOAY, NGẢ VÀ NÂNG HẠ 
Nhóm này bao gồm ghế cắt tóc và các loại ghế tương tự, có trục xoay, 
ngả và nâng hạ. 
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nhóm này loại trừ ghế đẩu cho piano, ghế 
kiểu bập bênh, ghế quay, vv….(nhóm 94.01). 
(C) BỘ PHẬN 
Bộ phận của những loại ghế trên được phân loại vào nhóm này với điều 
kiện chúng phải được nhận biết là bộ phận. 
Những bộ phận này bao gồm: 
(1)  Một số bộ phận được thiết kế riêng để lắpcố định vào bàn mổ nhằm 
giữ bất động bệnh nhân (như kẹp giữ vai, chân, đùi, dụng cụ đỡ 
chân, giá tựa cố định đầu, giá đỡ cánh tay, ngực và những thứ 
tương tự). 
(2)  Một số bộ phận có thể nhận biết rõ ràng là bộ phận của ghế nha 
khoa (ví dụ như giá tựa đầu, lưng ghế, bậc để chân, tựa tay, gác 
khuỷu tay,vv). 
94.03 -  Đồ nội thất khác và các bộ phận của chúng. 
9403.10 -  Đồ nội thất bằng kim loại được sử dụng trong văn 
phòng 
9403.20 - Đồ nội thất bằng kim loại khác 
9403.30 - Đồ nội thất bằng gỗ được sử dụng trong văn phòng 
9403.40 - Đồ nội thất bằng gỗ được sử dụng trong nhà bếp 
9403.50 - Đồ nội thất bằng gỗ được sử dụng trong phòng 
ngủ 
9403.60 - Đồ nội thất bằng gỗ khác 
9403.70 - Đồ nội thất bằng plastic 

- Đồ nội thất bằng vật liệu khác, kể cả mây, liễu gai,  
tre hoặc các vật liệu tương tự: 
9403.82 - - Bằng tre 
9403.83 - - Bằng song, mây 
9403.89 - - Loại khác 
9403.90 - Bộ phận: 
9403.91 - - Bằng gỗ 
9403.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các đồ nội thất và bộ phận của chúng, chưa được 
nêu tại các nhóm trước. Nhóm này bao gồm những đồ nội thất có công 
dụng chung (ví dụ: tủ, tủ bầy hàng, bàn, bàn điện thoại, bàn giấy, bàn 
viết có ngăn kéo, giá sách, và những đồ dùng có ngăn khác, (bao gồm cả 
kệ đơn được trình bày để cố định chúng vào tường), vv..) và cũng bao 
gồm những đồ nội thất sử dụng cho mục đích chuyên dụng. 
Nhóm này bao gồm những đồ nội thất sử dụng trong: 
(1)  Nhà ở, khách sạn, vv…. như rương, hòm, tủ đựng quần áo, tủ hay 
hòm đựng bánh mỳ; tủ ngăn kéo, tủ ngăn kéo cao; đôn, giá để cây; 
bàn trang điểm; bàn một chân; tủ treo quần áo, tủ đứng nhiều ngăn 
để quần áo; giá mắc áo, giá ô; bàn ăn, chạn bát đĩa, tủ ly; chạn để đồ 
ăn; tủ đầu giường; giường (kể cả giường tủ, giường cắm trại, 
giường gấp, cũi trẻ em); bàn khâu; ghế đẩu và ghế để chân (có hoặc 
không bập bênh) được thiết kế để đặt chân, tấm chắn lò sưởi, bình 
phong; gạt tàn trên đế; tủ đựng bản nhạc, giá nhạc; xe nôi; bàn phục 
vụ có bánh xe (cho dù có được gắn đĩa hâm nóng hay không). 
(2) Văn phòng, như: tủ cất quần áo, tủ hồ sơ, xe đẩy hồ sơ, cặp đựng 
hồ sơ theo danh mục, v.v….. 
(3) Trường học, như: bàn ghế học sinh, bàn ghế giảng viên, giá (treo 
bảng đen v.v..). 
(4) Nhà thờ, như: ban thờ, phòng xưng tội, bục giảng kinh, ghế cầu 

nguyện, giá đỡ kinh hát lễ, vv. 
(5) Cửa hiệu, kho tàng, xưởng thợ,...như: quầy hàng; giá áo khoác; giá 
xích đông, tủ nhiều ngăn; tủ đựng dụng cụ, vv; các đồ nội thất riêng 
cho xưởng in (hộp con chữ hay ô kéo). 
(6) Phòng thí nghiệm hoặc phòng kỹ thuật, như: bàn để kính hiển vi, 
ghế cho phòng thí nghiệm (có hay không có ngăn kính, đầu ống dẫn 
ga, vòi nước, vv); tủ hấp, bàn vẽ không kèm dụng cụ. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Rương, hòm du lịch và những đồ tương tự, không có đặc điểm của 
đồ nội thất (nhóm 42.02). 
(b) Cầu thang, bậc thang, giàn giáo, bàn thợ mộc và các loại tương tự 
không có đặc điểm của đồ nội thất; chúng được phân loại theo vật 
liệu cấu thành (các nhóm 44.21, 73.26, vv…). 
(c) Các bộ phận lắp ráp của tủ, .v.v. (khung, cánh cửa, giá ngăn) sẽ 
được gắn vào tường (nhóm 44.18, nếu làm bằng gỗ). 
(d) Sọt đựng giấy (bằng plastic, nhóm 39.26; bằng mây tre đan, nhóm 
46.02; bằng kim loại cơ bản, nhóm 73.26, 74.19, v.v.). 
(e)  Võng (thường thuộc nhóm 56.08 hoặc 63.06). 
(f) Gương được thiết kế đứng trên mặt đất, chẳng hạn gương đứng ngả 
được, gương cho các cửa hàng giầy, thợ may, vv….(nhóm 70.09). 
(g) Két sắt (nhóm 83.03). Ngược lại các tủ được thiết kế đặc biệt để 
chống lửa, chống va chạm và đập phá và đặc biệt là các mặt của tủ 
không có sức chống đỡ khỏi ý đồ đập phá bằng khoan, cắt, sẽ được 
phân loại vào nhóm này. 
 (h) Tủ lạnh, máy làm kem, vv…. (tức là tủ, vv có đặc trưng của đồ nội 
thất và được lắp hoặc thiết bị làm lạnh hoặc một máy bốc hơi thuộc 
nhóm làm lạnh hoặc được thiết kế để tiếp nhận một thiết bị như thế 
(nhóm 84.18) (xem Chú giải (1) (e) của Chương này). Tuy nhiên, 

hộp đựng đá, các hòm đựng đá và những thứ tương tự, cũng như 
các tủ cách nhiệt không được trang bị hay thiết kế có chứa bộ phận 
làm lạnh chủ động, việc cách nhiệt chỉ đơn giản là dùng sợi thuỷ 
tinh, lie, len, vv…,vẫn được phân loại trong nhóm này. 
(ij) Đồ nội thất được thiết kế riêng để chứa hoặc làm giá đặt máy khâu, 
ngay cả khi nó có thêm chức năng phụ là sử dụng như một đồ nội 
thất khi không dùng may khâu; đồ che phủ, ngăn kéo, bàn kéo dài 
và các bộ phận cấu thành khác của đồ nội thất này (nhóm 84.52). 
(k) Đồ nội thất được thiết kế riêng như bộ phận của các thiết bị thuộc 
nhóm 85.18 (nhóm 85.18), của nhóm 85.19 hoặc 85.21 (nhóm 
85.22) hoặc của các nhóm từ 85.25 đến 85.28 (nhóm 85.29). 
(l) Bàn vẽ có gắn các bộ phận như máy thu phóng (nhóm 90.17). 
(m) Ống nhổ cho phòng răng của nha sĩ (nhóm90.18). 
(n) Khung đệm (nhóm 94.04). 
(o) Đèn cây và các loại đèn (luminaires), bộ đèn khác (nhóm 94.05). 
(p) Bàn bi-a hoặc các đồ nội thất khác làm ra để dùng cho các trò chơi 
nhóm 95.04 và bàn cho các trò ảo thuật thuộc nhóm 95.05. 
94.04 - Khung đệm; các mặt hàng thuộc bộ đồ giường và các loại 
tương tự (ví dụ, đệm, chăn quilt, chăn nhồi lông, nệm, đệm ghế loại 
dài và gối) có gắn lò xo hoặc nhồi hoặc lắp bên trong bằng vật liệu 
bất kỳ hoặc bằng cao su xốp hoặc plastic xốp, có hoặc không bọc. 
9404.10 - Khung đệm 
              - Đệm: 
9404.21 - - Bằng cao su xốp hoặc plastic xốp, đã hoặc chưa bọc  
9404.29 - - Bằng vật liệu khác 

9404.30 - Túi ngủ 
9404.30 - Chăn quilt, chăn phủ giường (bedspreads), chăn nhồi 
lông và chăn nhồi bông (comforters) 
9404.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Khung đệm, là phần lò xo của chiếc giường, thông thường gồm 
một khung gỗ hoặc khung kim loại có lắp lò xo hoặc lưới dây thép 
(khung lò xo hoặc khung dây thép), hoặc bằng khung gỗ với lò xo 
bên trong và được bọc vải bên ngoài lớp nhồi (đệm). 
Nhưng nhóm này loại trừ các lò xo xoắn được lắp với nhau sử 
dụng cho các loại ghế (nhóm 94.01) và tấm dây sắt hoặc thép lưới, 
chưa được lắp ráp (nhóm 73.14). 
(B) Các mặt hàng thuộc bộ đồ giường và các loạitương tự, có gắn lò 
xo hoặc nhồi hoặc lắp vào bên trong bằng vật liệu bất kỳ (bông, len, 
lông ngựa, lông tơ, sợi tổng hợp, vv), hoặc bằng cao su xốp hoặc 
plastic xốp (đã hoặc chưa bọc vải sợi, nhựa, vv). Ví dụ: 
(1) Đệm, kể cả đệm có khung kim loại. 
(2) Chăn quilt và khăn trải giường (kể cả chăn bông phủ giường, và 
chăn quilt cho xe nôi), chăn lông vũ và chăn nhồi lông 
(comforters) (cho dù được nhồi bằng lông tơ hay bằng vật liệu 
nhồi khác), bọc đệm (một loại đệm mỏng dùng để ngăn cách 
đệm với khung đệm), gối ôm, gối, nệm, nệm dùng làm ghế,… 
(3) Túi ngủ. 
Các mặt hàng này vẫn được phân loại vào nhóm này dù có hay không 
kết hợp với các bộ phận làm nóng bằng điện. 
Nhóm này cũng loại trừ: 
(a) Đệm nước (thường thuộc nhóm 39.26 hoặc 40.16). 
(b) Đệm hoặc gối hơi (nhóm 39.26, 40.16 hoặc 63.06) hoặc các miếng 
nệm hơi (nhóm 39.26, 40.14, 40.16, 63.06 hoặc 63.07). 

(c) Lớp bọc da dùng cho nệm ghế (nhóm 42.05). 
(d) Chăn (nhóm 63.01). 
(e)  Vỏ gối, vỏ chăn lông vịt (nhóm 63.02). 
(f) Vỏ miếng nệm (nhóm 63.04). 
Xem Chú giải chi tiết nhóm 94.01 liên quan đến miếng nệm hoặc đệm 
có đặc tính của bộ phận ghế ngồi. 
94.05 - Đèn và bộ đèn kể cả đèn pha và đèn rọi và bộ phận của 
chúng, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác; biển hiệu 
được chiếu sáng, biển đề tên được chiếu sáng và các loại 
tương tự, có nguồn sáng cố định thường xuyên, và bộ phận 
của chúng chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác. 
- Bộ đèn chùm và đèn điện trần hoặc đèn điện tường 
khác, trừ các loại được sử dụng ở các không gian mở 
công cộng hoặc đường phố lớn: 
9405.11 - - Được thiết kế chỉ để sử dụng với các nguồn sáng đi-
ốt phát quang (LED) 
9405.19 - - Loại khác 
              - - Đèn bàn, đèn giường hoặc đèn cây dùng điện: 
9405.21 - - Được thiết kế chỉ để sử dụng với các nguồn sáng đi-
ốt phát quang (LED) 
9405.29 - - Loại khác 
              - Dây đèn dùng cho cây Nô-en: 
9405.31 - - Được thiết kế chỉ để sử dụng với các nguồn sáng đi-
ốt phát quang (LED) 
9405.39 - - Loại khác 
              - Đèn và bộ đèn điện khác: 
9405.41 - - - - Loại quang điện, được thiết kế chỉ để sử dụng với 
các nguồn sáng đi-ốt phát quang (LED) 

9405.42 - - Loại khác, được thiết kế chỉ để sử dụng với các 
nguồn sáng đi-ốt phát quang (LED) 
9405.49 - - Loại khác 
9405.50 - Đèn và bộ đèn không hoạt động bằng điện 
             - Biển hiệu được chiếu sáng, biển đề tên được chiếu sáng 
và các loại tương tự: 
9405.61 - - Được thiết kế chỉ để sử dụng với các nguồn sáng đi-
ốt phát quang (LED) 
9405.69 - - Loại khác 
              - Bộ phận: 
9405.91 - - Bằng thủy tinh 
9405.92 - - Bằng plastic 
9405.99 - - Loại khác 
(I) ĐÈN (LUMINAIRES) VÀ BỘ ĐÈN CHƯA ĐƯỢC CHI TIẾT  
HOẶC GHI Ở NƠI KHÁC 
Đèn (luminaires) và bộ đèn của nhóm này có thể cấu thành từ các loại 
vật liệu (trừ vật liệu được mô tả tại Chú giải 1 của Chương 71) và sử 
dụng bất cứ nguồn sáng nào (nến, dầu, xăng, dầu hoả, khí đốt, a xê ti 
len, điện,vv). Đèn (luminaires) điện và bộ đèn điện của nhóm này có thể 
được trang bị cả đui đèn, công tắc, dây điện và phích cắm, máy biến áp, 
vv… hoặc, như trong trường hợp đèn ống huỳnh quang, có tắc te hoặc 
chấn lưu. 
Cụ thể, nhóm này bao gồm: 
(1) Đèn (luminaires) và các bộ đèn thường sử dụng cho chiếu sáng 
phòng, ví dụ: đèn treo, đèn tròn, đèn trần, đèn chùm, đèn tường, 
đèn cây, đèn bàn, đèn cạnh giường, đèn văn phòng, đèn ngủ, đèn 
kín nước. 
(2) Đèn (luminaires) chiếu sáng bên ngoài, ví dụ: đèn đường, đèn hiên 
và cổng nhà; đèn chuyên dụng cho các công trình công cộng, tượng 
đài, công viên. 

(3) Đèn chuyên dụng, ví dụ: đèn phòng tối; đèn máy (được trình bày 
riêng); đèn dùng cho các phòng chụp ảnh; đèn kiểm tra (trừ loại 
đèn của nhóm 85.12), đèn hiệu không nhấp nháy dùng cho sân bay; 
đèn tủ kính cửa hiệu; dây đèn (kể cả các đèn trang trí cho các lễ hội 
hoặc các mục đích giải trí hoặc trang trí cây nôen). 
(4) Đèn (luminaires) và bộ đèn cho xe cộ của Chương 86, cho tàu 
bay, tàu thủy, thuyền, ví dụ: đèn pha của tàu hoả; đèn lồng của 
đầu máy, toa xe; đèn pha của tàu bay; đèn lồng của tàu, thuyền. Tuy 
nhiên, phải chú ý rằng đèn chùm hàn kín được phân loại vào nhóm 
(5) Đèn xách tay (trừ đèn thuộc nhóm 85.13), ví dụ: đèn bão, đèn 
lồng xách tay, đèn thợ mỏ; đèn dùng cho khai thác đá. 
(6) Đèn nến nhiều ngọn, đèn nến, giá cắm nến, ví dụ dùng cho 
Nhóm này còn bao gồm cả đèn pha rọi và đèn rọi. Những thiết bị này cho 
phép rọi một luồng ánh sáng (thường là luồng ánh sáng này có thể điều 
chỉnh được) qua một khoảng cách tới một điểm hay một mặt phẳng xác 
định, bằng một gương phản chiếu và một thấu kính, hoặc chỉ với một 
gương phản chiếu. Gương phản chiếu thường làm bằng thuỷ tinh tráng bạc 
hoặc bằng kim loại được đánh bóng, tráng bạc hoặc crôm. Thấu kính thì 
thường là loại thấu kính phẳng-lồi hoặc theo thang mực (thấu kính Fresnel). 
Một số đèn pha rọi được sử dụng, ví dụ, trong tác chiến phòng không, 
và đèn rọi được dùng trên các sân khấu và trong các phòng ảnh hoặc 
phòng quay phim. 
(II) BIỂN HIỆU ĐƯỢC CHIẾU SÁNG, BIỂN ĐỀ TÊN CÓ CHIẾU 
SÁNG VÀ LOẠI TƯƠNG TỰ 
Nhóm này bao gồm các đèn quảng cáo, biển hiệu, bảng hiệu đề tên có 
chiếu sáng (kể cả các ký hiệu chỉ đường) và các mặt hàng tương tự như 
biển quảng cáo và biển địa chỉ, làm bằng mọi chất liệu, với điều kiện là 

chúng có một nguồn sáng cố định thường xuyên.  
BỘ PHẬN 
Nhóm này cũng bao gồm những mặt hàng mà có thể nhận biết được là bộ 
phận của đèn (luminaires) và bộ đèn, biển hiệu được chiếu sáng, biển đề 
tên được chiếu sáng và các loại tương tự, chưa được đề cập cụ thể ở nơi 
khác, ví dụ: 
Hệ thống treo đã được lắp ráp (cứng hoặc là dây xích) dùng cho 
đèn treo. 
Chao đèn. 
Chân đế, tay nắm và lồng bảo vệ cho đèn xách tay.  
Mỏ của đèn; bộ phận giữ măng xông. 
Khung đèn lồng. 
Bộ phận phản xạ ánh sáng. 
Kính đèn hoặc thông phongđèn  (có hình cổ chai, vv). 
Bộ phận nhỏ dạng hình trụbằng thuỷ tinh dầy dùng cho đèn an 
toàn của thợ mỏ. 
 Bộ phận tán phát (kể cả khuyếch tán thạch cao tuyết hoa). 
(10) Bát đèn, chụp đèn (kể cả bộ khung dây thép làm thành chụp đèn), 
chao đèn và các mặt hàng tương tự. 
(11) Các bộ phận của đèn chùm như quả tròn, các giọt hình trái lê, các 
mảnh hình hoa lá, quả treo, các lá nhỏ và các mặt hàng tương tự 
mà có thể nhận biết được thông qua kích thước của chúng, hoặc 
qua kết cấu để gắn hoặc móc. 
Các bộ phận không dùng điện của các mặt hàng thuộc nhóm này khi kết 
hợp với các bộ phận điện vẫn được phân loại ở nhóm này. Phụ tùng điện 
(như: công tắc, đui đèn, dây, biến áp, tắc te, chấn lưu) nếu được để riêng 
bị loại trừ(Chương 85). 
Nhóm này loại trừ: 

(a) Nến (nhóm 34.06). 
(b) Đuốc nhựa thông (nhóm 36.06). 
(c) Biển hiệu, biển tên và các loại tương tự, không được chiếu sáng 
hoặc chiếu sáng bởi một nguồn sáng không gắn cố định thường 
xuyên (nhóm 39.26, Chương 70, nhóm 83.10, vv). 
(d) Quả địa cầu in, có đèn sáng ở trong thuộc nhóm 49.05. 
(e) Bấc đèn được dệt, tết hoặc đan bằng vật liệu dệt (nhóm 59.08). 
(f) Các hạt thủy tinh và các đồ vật trang trí bằng thủy tinh (ví dụ các 
viền tua) làm bằng cách xâu hạt thủy tinh thành chuỗi nhằm trang trí 
chochụp đèn (nhóm 70.18). 
(g) Thiết bị chiếu sáng và thiết bị tín hiệu bằng điện dùng cho xe đạp và 
xe có động cơ (nhóm 85.12). 
(h) Đèn dây tóc, đèn phóng điện (kể cảđèn pha hàn kín và bóng đèn tia 
cực tím hoặc tia hồng ngoại cũng như loại bóng đèn có hình dạng 
phức tạp như uốn cong, hình chữ cái, hình chữ số, hình sao,...), 
bóng đèn hồ quang và nguồn sáng đi-ốt phát quang (nhóm 85.39). 
(ij) Các loại đèn chớp để chụp ảnh (kể cả bóng đèn phóng điện tử) 
(nhóm 90.06). 
(k) Thiết bị báo sáng bằng chùm tia quang học (nhóm 90.13). 
(l) Các đèn để chẩn đoán, thăm dò, phát xạ, vv dùng trong y tế (nhóm 
(m)  Đồtrang trí, như đèn lồng kéo quân (nhóm 95.05). 
94.06 -Nhà lắp ghép (+). 
9406.10 - Bằng gỗ 
9406.20 - Các khối mô-đun xây dựng, bằng thép 
9406.90 - Loại khác 

Nhóm này bao gồm nhà lắp ghép, hay còn gọi là “nhà công nghiệp”, 
bằng mọi chất liệu. 
Những loại nhà này, được thiết kế cho nhiều mục đích, như làm nhà ở, 
lán trại công trường, văn phòng, trường học, cửa hàng, kho, gara, nhà 
kính, và thường xuất hiện dưới dạng: 
- nhà hoàn thiện, đã được lắp ráp đầy đủ, sẵn sàng sử dụng ngay; 
- nhà hoàn thiện, chưa được lắp ráp; 
- nhà chưa hoàn thiện, đã hoặc chưa lắp ráp, đã mang đặc tính cơ bản 
của nhà lắp ghép. 
Trong trường hợp nhà được trình bày ở dạng chưa lắp ráp, các bộ phận 
cần thiết có thể được  trình bày dưới dạng lắp sẵn một phần (ví dụ: 
tường, giàn, vì kèo) hoặc đã cắt thành các kích thước nhất định (cụ thể 
như xà, rầm) hoặc đối với một số trường hợp, dưới dạng độ dài không 
xác định hoặc bất kỳ để có thể điều chỉnh tại công trường (ngưỡng cửa, 
vật liệu cách ly, v.v…..). 
Nhà của nhóm này có thể được lắp thiết bị hoặc không. Tuy nhiên, chỉ 
những thiết bị đi kèm thường được sử dụng cho việc xây lắp nhà mới 
được phân loại vào nhóm này. Chúng bao gồm thiết bị điện (dây dẫn, 
phích cắm, ngắt điện, cầu chì, chuông,vv….), thiết bị sưởi ấm hoặc điều 
hoà nhiệt độ (nồi đun nước, lò sưởi, máy điều hoà, v.v….), thiết bị vệ 
sinh (bồn tắm, hoa sen, bình đun nước nóng,vv) hoặc thiết bị bếp (chậu 
rửa, chụp hút khói, bếp đun, vv) cũng như các đồ nội thất gắn vào tường 
hoặc thiết kế để gắn vào tường (tủ tường, vv…). 
Nhà lắp ghép bao gồm “các khối mô-đun xây dựng” có kết cấu thép, còn 
được gọi là mô-đun. Chúng thường được trình bày ở kích cỡ và hình 
dạng của một container vận chuyển tiêu chuẩn dùng cho vận tải đa 
phương thức. Tuy nhiên, ở bên trong chúng được lắp sẵn một cách cơ 
bản hoặc toàn bộ với lớp tường trong (internal wall), sàn, trần, cửa ra 
vào, cửa sổ và các thiết bị điện và hệ thống ống nước phù hợp với loại 
mô-đun tòa nhà. Chúng cũng có thể được trang bị các đồ đạc và phụ 
kiện khác như cầu thang, đồ nội thất âm tường, thiết bị nhà bếp, thiết bị 
vệ sinh, tấm ốp bên ngoài và mái nhà. Chúng có cấu trúc tự hỗ trợ và 

được thiết kế để lắp ráp với các mô-đun khác theo chiều ngang hoặc 
chiều dọc để trở thành các công trình lâu dài, chẳng hạn như bệnh viện, 
khách sạn, khu dân cư, cơ sở công cộng hoặc trường học. Chúng có thể 
được trình bày ở dạng có kèm theo các bộ phận lắp ráp dùng để liên kết 
các mô-đun.  
Tuy nhiên, các khối mô-đun xây dựng không bao gồm các đơn vị có 
khung cố định (“nhà di động”) (Chương 87). 
Vật liệu để lắp ráp và hoàn thiện các cấu kiện nhà lắp ghép (ví dụ: đinh, 
keo dán, thạch cao, vữa, dây thép và cáp điện, ống dẫn, sơn, giấy dán 
tường, thảm) được phân loại cùng nhóm với các cấu kiện trên với điều 
kiện là chúng được xuất trình bày với số lượng thích hợp cùng các cấu 
kiện đó. 
Các bộ phận của nhà và các thiết bị, nếu để riêng, cho dù có thể nhận 
biết được là sử dụng cho những cấu kiện này đều bị loại trừ khỏi nhóm 
này, và trong mọi trường hợp được phân loại theo các nhóm tương ứng 
với chúng. 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 9406.10 
Theo mục đích của phân loại trong nhóm này, khái niệm "bằnggỗ" đề 
cập đến các tòa nhà lắp ghép có kết cấu bằng gỗ, bên ngoài bức tường, 
sàn nhà (nếu sàn hiện tại), và các yếu tố mang tính xây dựng khác bao 
gồm chủ yếu là gỗ.  
Phân nhóm 9406.20 
Phân nhóm này không bao gồm nhà lắp ghép được trình bày dưới dạng 
"gói phẳng" hoặc trong các đơn vị lắp ráp không có cấu trúc tự hỗ trợ 
(phân nhóm 9406.90) và các công trình hoàn toàn khép kín, chẳng hạn 
như những loại được sử dụng làm ki-ốt trên đường phố hoặc văn phòng 
tại công trường, loại mà được chế tạo bằng cách sử dụng các công-ten-

nơ vận chuyển bằng thép nhưng không được thiết kế để lắp ráp với các 
mô-đun khác (phân nhóm 9406.90). 

Chương 95 
Đồ chơi, thiết bị trò chơi và dụng cụ thể thao; 
các bộ phận và phụ kiện của chúng 
Chú giải. 
1.- Chương này không bao gồm: 
(a) Nến (nhóm 34.06); 
(b) Pháo hoa hoặc các sản phẩm pháo hoa khác thuộc nhóm 36.04; 
(c) Sợi, monofilament, dây bện hoặc dây cước hoặc các loại dây tương 
tự dùng cho đánh bắt thuỷ sản, đã cắt thành từng đoạn nhưng chưa 
làm thành dây câu, thuộc Chương 39, nhóm 42.06 hoặc Phần XI; 
(d) Túi thể thao hoặc bao bì khác thuộc nhóm 42.02, 43.03 hoặc 
(e) Quần áo hoá trang, bằng vải dệt, thuộc Chương 61 hoặc 62; quần 
áo thể thao và các mặt hàng may mặc đặc biệt bằng vải dệt, thuộc 
Chương 61 hoặc 62, có hoặc không gắn với các thành phần bảo vệ 
như miếng lót hoặc phần lót ở khuỷu tay, đầu gối hoặc phần háng 
(ví dụ, quần áo dùng cho môn đấu kiếm hoặc áo cho thủ môn bóng 
đá);   
(f) Cờ hoặc cờ đuôi nheo bằng vải dệt, hoặc buồm dùng cho thuyền, 
ván lướt hoặc ván trượt, thuộc Chương 63; 
(g) Giày dép thể thao (trừ loại đã gắn lưỡi trượt băng hoặc trượt 
patanh) thuộc Chương 64, hoặc mũ và các vật đội đầu thể thao 
thuộc Chương 65; 
(h) Gậy chống để đi bộ, roi, roi điều khiển súc vật hoặc các mặt hàng 
tương tự (nhóm 66.02), hoặc các bộ phận của chúng (nhóm 66.03); 
(ij) Mắt thuỷ tinh chưa lắp dùng cho búp bê hoặc đồ chơi khác, thuộc 
nhóm 70.18; 
(k) Các bộ phận có công dụng chung, như định nghĩa trong Chú giải 2 
của Phần XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV), hoặc các hàng hoá 
tương tự bằng plastic (Chương 39); 
(l) Chuông, cồng chiêng hoặc các loại tương tự thuộc nhóm 83.06; 
(m) Bơm chất lỏng (nhóm 84.13), thiết bị lọc hoặc tinh chế chất lỏng 

hoặc chất khí (nhóm 84.21), động cơ điện (nhóm 85.01), máy biến 
điện (nhóm 85.04), đĩa, băng, các thiết bị lưu trữ bền vững, thể rắn 
(các thiết bị bán dẫn không mất dữ liệu khi không có nguồn điện 
cung cấp), “thẻ thông minh” và các phương tiện lưu trữ thông tin 
khác để ghi âm hoặc ghi các hiện tượng khác, đã hoặc chưa ghi 
(nhóm 85.23), thiết bị điều khiển từ xa bằng sóng vô tuyến (nhóm 
85.26) hoặc thiết bị điều khiển từ xa không dây bằng tia hồng 
ngoại (nhóm 85.43); 
(n) Xe thể thao (trừ xe trượt băng, xe trượt tuyết và các loại xe tương 
tự) thuộc Phần XVII; 
(o) Xe đạp trẻ em (nhóm 87.12); 
(p)   Phương tiện bay không người lái (nhóm 88.06);  
(q) Tàu thuyền thể thao như ca nô và xuồng nhỏ (Chương 89), hoặc 
phương tiện đẩy của chúng (Chương 44 dùng cho các mặt hàng 
bằng gỗ); 
(r) Kính đeo, kính bảo hộ hoặc các loại kính tương tự, dùng cho thể 
thao hoặc cho các trò chơi ngoài trời (nhóm 90.04); 
(s) Dụng cụ tạo âm thanh để nhử mồi hoặc còi (nhóm 92.08); 
(t) Vũ khí hoặc các mặt hàng khác thuộc Chương 93; 
(u)  Dây đèn các loại (nhóm 94.05); 
(v) Chân đế loại một chân (monopod), hai chân (bipod), ba chân 
(tripod) và các mặt hàng tượng tự (nhóm 96.20); 
(w) Dây căng vợt, lều bạt hoặc các đồ phục vụ cắm trại khác, hoặc 
găng tay, găng tay hở ngón và găng bao tay (phân loại theo vật liệu 
cấu thành); hoặc 
(x) Bộ đồ ăn, bộ đồ bếp, vật dụng toilet, thảm và tấm trải sàn bằng vải 
dệt khác, đồ thêu, vỏ ga, vỏ gối, khăn trải giường (bed linen), khăn 
trải bàn, khăn vệ sinh, khăn nhà bếp và các vật dụng tương tự có 
chức năng sử dụng thực tế (được phân loại theo vật liệu cấu thành). 
2.-  Chương này bao gồm cả các sản phẩm trong đó có ngọc trai thiên nhiên 
hoặc nuôi cấy, đá quý hoặc đá bán quý (thiên nhiên, tổng hợp hoặc tái 
tạo), kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý chỉ là thành phần 

thứ yếu. 
3.-  Theo Chú giải 1 ở trên, các bộ phận và phụ kiện chỉ dùng hoặc chủ yếu 
dùng với các mặt hàng của Chương này được phân loại cùng với các 
mặt hàng đó. 
4.-  Theo nội dung Chú giải 1 nêu trên, không kể những đề cập khác, nhóm 
95.03 được áp dụng cho các sản phẩm của nhóm này đã được kết hợp 
với một hoặc nhiều chi tiết, không được xem như là một bộ theo điều 
kiện của qui tắc 3 (b) của Nguyên tắc phân loại chung, và nếu trình bày 
riêng lẻ, thì sẽ được phân loại vào nhóm khác, với điều kiện là các sản 
phẩm được đóng thành bộ để bán lẻ và sự kết hợp tạo nên đặc trưng cơ 
bản của đồ chơi. 
5.-  Nhóm 95.03 không bao gồm các mặt hàng mà, theo thiết kế, hình dáng 
hoặc vật liệu cấu thành, có thể xác định chúng chỉ được sử dụng riêng 
cho động vật, ví dụ, "đồ chơi cho vật nuôi cảnh trong gia đình" (phân 
loại vào nhóm thích hợp của chúng). 
6. Theo nội dung của nhóm 95.08: 
(a) Khái niệm "trò chơi di chuyển trong công viên giải trí" (amusement 
park rides) có nghĩa là một thiết bị hoặc tổ hợp các thiết bị hoặc máy để 
mang, vận chuyển hoặc dẫn một người hoặc nhiều người đi trên hoặc đi 
qua một tuyến đường cố định hoặc giới hạn, bao gồm cả đường nước, 
hoặc trong một khu vực xác định cho mục đích chính là vui chơi hoặc 
giải trí. Các thiết bị trò chơi này có thể được kết hợp trong công viên 
giải trí, công viên theo chủ đề (theme park), công viên nước hoặc khu 
hội chợ. Các thiết bị trò chơi di chuyển này không bao gồm các thiết bị 
loại thường được lắp đặt trong các khu dân cư hoặc sân chơi; 
(b)  Khái niệm “trò chơi công viên nước” (water park amusements) có 
nghĩa là một thiết bị hoặc tổ hợp các thiết bị hoặc máy có đặc trưng bởi 
một khu vực nước cụ thể, không bao gồm đường đi (no purposes built 
path). Thiết bị vui chơi giải trí trong công viên nước chỉ bao gồm các 
thiết bị được thiết kế đặc biệt cho công viên nước; và 
(c) Khái niệm “trò chơi hội chợ” (fairground amusements) có nghĩa là các 
trò chơi may mắn, sức mạnh hoặc kỹ năng, thường có người điều hành 

hoặc người phục vụ và có thể được lắp đặt trong các tòa nhà kiên cố 
hoặc quầy nhượng quyền độc lập (independent concession stalls). Các 
trò chơi hội chợ không bao gồm thiết bị thuộc nhóm 95.04. 
Nhóm này không bao gồm thiết bị đã được quy định chi tiết hơn ở nơi 
khác trong Danh mục. 
Chú giải phân nhóm:  
1.- Phân nhóm 9504.50 bao gồm: 
(a) Các bộ điều khiển trò chơi video mà hình ảnh được tái tạo trên một 
bộ thu truyền hình, một màn hình hoặc bề mặt bên ngoài khác; hoặc 
(b) Các máy trò chơi video loại có màn hình video, có hoặc không có tay 
cầm. 
Phân nhóm này không bao gồm các máy hoặc thiết bị trò chơi điện tử 
video hoạt động bằng đồng xu, tiền giấy, thẻ ngân hàng, token 
hoặc bất kỳ phương tiện thanh toán khác (phân nhóm 9504.30). 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm đồ chơi các loại được thiết kế để giải trí cho trẻ em 
hoặc người lớn. Nó cũng bao gồm thiết bị trò chơi trong nhà hoặc ngoài trời, 
các thiết bị và dụng cụ dùng cho các môn thể thao, thể dục thể hình hoặcđiền 
kinh, một số vật dụng cần thiết cho săn bắn hoặc câu cá, và các sàn quay và 
những trò giải trí kháctại các hội chợ . 
Mỗi nhóm của Chương này cũng bao gồm các bộ phận và các đồ phụ trợ có 
thể xác định được là của các mặt hàng trong Chương này mà chỉ phù hợp 
hay chủ yếu sử dụng cho mặt hàng đó, và chúng không bị loại trừ bởi Chú 
giải 1 của Chương này. 
Nói chung, các mặt hàng của Chương này có thể được làm bằng bất kỳ vật 
liệu nào, loại trừngọc trai nuôi cấy hoặc ngọc trai tự nhiên, đá quý hoặc đá 
bán quý (tự nhiên, nhân tạo hoặc tái chế),  kim loại quý, kim loại dát phủkim 
loại quý. Tuy nhiên chúng có thể bao gồm các bộ phận cấu thành rất nhỏ 

được làm từ các vật liệu này.    
Ngoài các mặt hàng bị loại trừ bởi các Chú giải chi tiết dưới đây, chương 
này cũng loại trừ: 
Pháo hoa hoặc các sản phẩm pháo khác thuộc nhóm 36.04 
Lốp cao su và các mặt hàng khác của nhóm 40.11,  40.12 hoặc 40.13. 
Lều và các dụng cụ cắm trại (nói chung thuộc nhóm 63.06). 
Bơm chất lỏng (nhóm 84.13), thiết bị lọc hoặc tinh chế chất lỏng 
hoặc chất khí (nhóm 84.21), các động cơ điện (nhóm 85.01), máy 
biến điện (nhóm 85.04), đĩa, băng, các thiết bị lưu trữ bền vững, thể 
rắn, “thẻ thông minh” và các phương tiện lưu trữ thông tin khác để 
ghi âm thanh hoặc các nội dung, hình thức thể hiện khác, đã hoặc 
chưa ghi (nhóm 85.23), thiết bị điều khiển từ xa bằng sóng vô tuyến 
(nhóm 85.26) hoặc thiết bị điều khiển từ xa hồng ngoại không dây 
Vũ khí và các mặt hàng khác của Chương 93. 
95.03- Xe đạp ba bánh, xe đẩy, xe có bàn đạp và đồ chơi tương tự có 
bánh; xe của búp bê; búp bê; đồ chơi khác; mẫu thu nhỏ theo 
tỷ lệ ("scale") và các mẫu đồ chơi giải trí tương tự, có hoặc 
không vận hành; các loại đồ chơi đố trí (puzzles). 
Nhóm này bao gồm :  
(A) Đồ chơi có bánh. 
Các mặt hàng này thường được thiết kế tự đẩy bằng bàn đạp, cần gạt 
tay hoặc các thiết bị đơn giản khác mà qua đó lực được truyền vào 
bánh xe nhờ một dây xích hoặc thanh kéo, hoặc, như trong trường hợp 
của một số xe đẩy, nhờ sức ấn trực tiếp bằng chân xuống mặt đất. Loại 
đồ chơi khác có bánh xe được thiết kế để có thể được kéo hoặc đẩy nhờ 
người khác một cách đơn giản hoặc được vận hành bằng một  động cơ. 

Các loại đồ chơi này bao gồm: 
(1) Xe ba bánh của trẻ em và các mặt hàng tương tự, nhưng loại trừ xe 
đạp hai bánh của nhóm 87.12. 
(2) Xe đẩy hai hoặc ba bánh được thiết kế để cho trẻ em, cũng như vị 
thành niên và người lớn đi, có một thanh trụ để lái có thể điều chỉnh 
hoặc không điều chỉnh được và các bánh nhỏ cứng đặc hoặc có thể 
bơm được. Loại xe này đôi khi được lắp kèm một thanh lái dạng xe 
đạp hai bánh, phanh tay hoặc phanh chân trên bánh sau. 
(3) Đồ chơi có bánh xe, có hình dạng động vật, hoạt động nhờ một bàn 
đạp hoặc một tay quay. 
(4) Ô tô có bàn đạp, thường có hình dạng mô phỏng xe thể thao, xe 
jeep, xe tải... 
(5) Đồ chơi có bánh xe hoạt động nhờ cần gạt tay. 
(6) Đồ chơi có bánh xe (không có hệ thống truyền lực cơ khí) được 
thiết kế để kéo hoặc đẩy, và đủ lớn cho một đứa trẻ ngồi điều 
khiển. 
(7) Xe mô tô có động cơ cho trẻ em. 
(B) Xe dành cho búp bê (ví dụ, xeđẩy), kể cả kiểu gấp. 
Nhóm này bao gồm xe dành cho búp bê, kiểu gấp hoặc không, được lắp 
2 bánh xe hoặc nhiều hơn, ví dụ như ghế đẩy, xe đẩy trẻ con, xe tập đi 
v.v.. Nhóm này cũng gồm bộ đồ giường cho xe, tương tự loại dùng cho 
giường búp bê. 
(C) Búp bê. 
Nhóm này bao gồm không chỉ các búp bê được thiết kế để làm đồ chơi 
cho trẻ em mà còn cả búp bê dùng cho mục đích trang trí (búp bê 
phòng phụ nữ, búp bê linh vật), hoặc dùng trong nhà hát múa rối hoặc 
các búp bê kiểu tranh biếm hoạ. 
Búp bê thường làm bằng cao su, plastic, vật liệu vải, sáp, gốm sứ, gỗ, 
giấy bồi, cactông hoặc kết hợp các vật liệu này. Chúng có thể được 
ghép lại bằng đoạn nối và có cơ chế cho phép búp bê cử động chân tay, 
quay đầu hoặc chớp mắt, phát ra tiếng bắt chước tiếng người... Chúng 
cũng có thể được mặc quần áo. 
Bộ phận và phụ kiện của búp bê thuộc nhóm này bao gồm: đầu, mình, 
ceramics, wood, paperboard, papier maché or combinations of these 

tứ chi, mắt (trừ mắt thuỷ tinh chưa lắp của nhóm 70.18), các cơ chế 
chuyển động mắt, phát ra tiếng nói hoặc các cơ chế khác, bộ tóc giả, 
quần áo, giày dép và mũ. 
(D) Đồ chơi khác 
Nhóm này bao gồm đồ chơi chủ yếu dùng giải trí cho con người (trẻ 
em và người lớn). Tuy nhiên, đồ chơi mà theo thiết kế của chúng, về 
hình dạng hoặc vật liệu cấu thành, được xác định như là dùng để dành 
rêng cho động vật, ví dụ như các con vật cảnh nuôi thì không thuộc 
nhóm này, nhưng được phân vào nhóm thích hợp cho riêng chúng. 
Nhóm này bao gồm: 
Tất cả các đồ chơi không gồm đồ chơi từ mục (A) đến mục (C). 
Nhiều loại đồ chơi thuộc nhóm này hoạt động bằng cơ học hoặc bằng 
điện . 
Chúng bao gồm: 
(i) Các đồ chơi thể hiện động vật hoặc các sinh vật không phải người, 
thậm chí về cơ bản có đặc tính thể chất của con người (thiên thần, 
rôbôt, quỷ, ma...), kể cả các đồ chơi dùng trong các tiết mục nhà hát 
múa rối. 
(ii) Súng đồ chơi các loại. 
(iii) Đồ chơi xây dựng (bộ lắp ráp xây dựng, hình khối, v.v). 
(iv) Xe ô tô đồ chơi (khác với loại thuộc nhóm A), xe hoả (chạy điện 
hoặc không), máy bay, tàu thủy, v...v, và các phụ tùng của chúng 
(đường ray, đường băng, tín hiệu) 
(v) Đồ chơi được thiết kế để trẻ em ngồi lên nhưng không lắp bánh xe, 
ví dụ như ngựa bập bênh. 
(vi) Động cơ đồ chơi không chạy điện, máy hơi nước đồ chơi… 
(vii) Khinh khí cầu và diều đồ chơi. 
(viii) Các chú lính chì và tương tự, vũ khí đồ chơi. 
(ix) Các dụng cụ thể thao mang tính chất đồ chơi, có hoặc không được 
đóng thành bộ (bộ đồ chơi gôn, quần vợt, bắn cung, bi-a; gậy chơi 
bóng chầy, bóng bầu dục, hốc-cây...) 
(x) Dụng cụ và công cụ đồ chơi; xe cút-kít cho trẻ em. 

(xi) Máy chiếu phim đồ chơi, đèn ảo thuật, v...v, ví dụ kính biểu diễn 
đồ chơi. 
(xii) Các dụng cụ và thiết bị âm nhạc có tính chất đồ chơi (pianô, kèn 
trompét, trống, máy hát, acmônica, accoóc, xilôphôn, hộp nhạc...). 
(xiii) Nhà và đồ đạc nội thất cho búp bê, gồm cả giường 
(xiv) Bộ đồ ăn đồ chơi và các đồ gia dụng đồ chơi khác; cửa hàng đồ 
chơi và tương tự; bộ đồ sân trại, v...v. 
(xv) Bàn tính đồ chơi. 
(xvi) Máy khâu đồ chơi. 
(xvii) Đồng hồ đồ chơi. 
(xviii) Đồ chơi tính chất giáo dục (bộ đồ chơi về hoá học, in ấn, bộ đồ 
khâu vá và đan lát). 
(xix) Vòng, dây nhảy có tay nắm (trừ loại thuộc nhóm 95.06),trò chơi 
cuộn chỉ leo dây và tay cầm, con quay (spinning and humming 
tops), bóng (trừ các loại bóng thuộc nhóm 95.04 hoặc 95.06). 
(xx) Sách hoặc giấy bao gồm chủ yếu là các tranh ảnh, đồ chơi hoặc 
mô hình để cắt ra và ghép lại, và sách gồm các hình vẽ minh họa 
động hoặc nổi lên khi mở sách, miễn là chúng có đặc tính căn bản 
của đồ chơi (xem Chú giải giải chi tiết nhóm 49.03). 
(xxi) Viên bi làm trò chơi (ví dụ bi ve có vân dưới mọi hình dạng hoặc 
bóng thuỷ tinh mọi loại đóng gói để cho trẻ em giải trí). 
(xxii) Hộp tiết kiệm tiền, lúc lắc, hộp quà kiểu hình nộm (có thể có 
nhạc), nhà hát nhỏ đồ chơi có hay không có nhân vật... 
(xxiii) Lều đồ chơi dành cho trẻ con chơi trong nhà hoặc ngoài trời. 
Một số các mặt hàng nói trên (đồ chơi vũ khí, công cụ, bộ dụng cụ làm 
vườn, lính chì, v.v...) thường được đóng thành bộ. 
Một số đồ chơi (ví dụ bàn là điện, máy khâu, dụng cụ âm nhạc,...) có 
thể có khả năng hạn chế công dụng; nhưng nói chung chúng có thể 
phân biệt theo kích thước và công dụng hạn chế so với những chiếc 
máy khâu thực sự,.... 
(E) Các mẫu thu nhỏ và các mẫu giải trí tương tự . 

Nó gồm các kiểu chủ yếu dùng cho mục đích giải trí, ví dụ mô hình 
hoạt động hoặc mô hình thu nhỏ của các tầu thuyền, máy bay, tàu hoả, 
ôtô, .... và bộ vật liệu và các bộ phận làm ra các mô hình đó, ngoại trừ 
các bộ mang đặc tính trò chơi thi đấu của nhóm 95.04 (thí dụ bộ xe đua 
có đường đua). 
Nhóm này cũng bao gồm mặt hàng được sao chép theo kích thước thực 
hoặc phóng to với mục đích giải trí. 
(F) Các đồ đố trí mọi loại. 
Bộ sưu tập các đồ vật, mà từng sản phẩm của nó nếu trìnhbàyriêng lẻ có 
thể được phân loại vào các nhóm khác của Danh mục, chúng được phân 
loại trong nhóm này khi được làm ở dạng mà công dụng của nó rõ ràng là 
đồ chơi (ví dụ, đồ chơi giảng dạy như hóa học, may vá… bộ đồ chơi). 
Cũng tương tự, như các nội dung nêu tại Chú giải 4 của Chương này, căn 
cứ theo Chú giải 1 của Chương này, nhóm này cũng bao gồm hàng hóa 
của nhóm này kết hợp với một mặt hàng hoặc nhiều mặt hàng mà các mặt 
hàng này có thể được phân loại trong các nhóm khác nhau nếu được để 
riêng, với điều kiện là: 
(a) tập hợp hàng hóa này được đóng gói chung để bán lẻ, nhưng bộ kết 
hợp này không được xem như là một bộ sản phẩm như khái niệm của 
Quy tắc 3 (b); và 
(b) tập hợp hàng hóa này có đặc tính cơ bản của đồ chơi. Bộ kết hợp như 
vậy thường bao gồm một mặt hàng thuộc nhóm này và một hoặc 
nhiều mặt hàng không quan trọng lắm (ví dụ hàng khuyến mại nhỏ 
hoặc một lượng nhỏ bánh kẹo). 
BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN 
Nhóm này cũng bao gồm các bộ phận và đồ phụ trợ có thể được xác định là 
của các mặt hàng thuộc nhóm này, chúng phù hợp để chỉ sử dụng hoặc chủ 

yếu sử dụng cho các mặt hàng trên, với điều kiện là chúng không phải là 
các mặt hàng bị loại trừ bởi Chú giải 1 của Chương này. Bộ phận và đồ phụ 
trợ này bao gồm: 
(1)  Bộ phận chuyển động của các hộp âm nhạc, mà qua hình dáng, chất 
liệu cấu thành và cấu trúc giản đơn, không thể sử dụng trong các hộp 
âm nhạc của nhóm 92.08. 
(2)   Các động cơ đốt trong có pít tông và các động cơ khác,thu nhỏ (trừ 
các động cơ điện thuộc nhóm 85.01) ví dụ được thiết kế cho mô hình 
máy bay, tàu thuỷ, chúng có đặc tính là códung tích xi lanh và công 
suất nhỏ, trọng lượng nhẹ và kích thước nhỏ. 
Nhóm này cũng loại trừ:  
(a)Bộ mầu cho trẻ em chơi (nhóm 32.13). 
(b)Chất dẻo để nặn, làm giải trí cho trẻ em (nhóm 34.07). 
(c)  Tranh, sách vẽ hoặc tô mầu dành cho trẻ em (nhóm 49.03). 
(d) Giấy sao chép (nhóm 49.08). 
(e) Chuông (gồm cả chuông dành cho xe đạp ba bánh hoặc cho đồ chơi 
có bánh khác), thanh la hoặc các mặt hàng tương tự của nhóm 
(f) Phương tiện bay không người lái (nhóm 88.06). 
(g)Hộp âm nhạc có búp bê kèm theo (nhóm 92.08) 
(h) Cỗ bài (nhóm 95.04). 
(ij) Mũ giấy,“kèn lưỡi”, mặt nạ, mũi giả và đồ tương tự (nhóm 95.05). 
(k)  Phấn viết và sáp mầu (chì mầu) cho trẻ em chơi, thuộc nhóm 
(l) Bảng nhỏ và bảng đen, thuộc nhóm 96.10. 
(m) Tượng người mẫu và mô hình tự động dùng cho cửa hàng may 
mặc (nhóm 96.18). 
(n) Bóng nhảy có một hoặc nhiều tay cầm được thiết kế để tập thể dục. 
95.04 - Các máy và thiết bị trò chơi điện tử video, các trò chơi trên 

bàn hoặc trong phòng khách, kể cả trò chơi bắn bi (pin-table), 
bi-a, bàn chuyên dụng dùng cho trò chơi ở sòng bạc và thiết bị 
chơi bowling tự động, máy giải trí hoạt động bằng đồng xu, 
tiền giấy, thẻ ngân hàng, token hoặc bất kỳ phương tiện thanh 
toán khác. 
9504.20  - Các mặt hàng và phụ kiện dùng cho trò chơi bi-a 
9504.30  - Máy trò chơi khác, hoạt động bằng đồng xu, tiền giấy, 
thẻ ngân hàng, xèng hoặc các loại tương tự, trừ các 
thiết bị dùng cho đường chạy bowling tự động 
9504.40   - Bộ bài 
9504.50  - Các máy và bộ điều khiển trò chơi video,  trừ loại thuộc 
phân nhóm 9504.30 
9504.90  - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Bàn bi-a các loại (có hoặc không có chân), và đồ phụ trợ của chúng (ví 
dụ, gậy, gối gậy, bóng, phấn bi-a, bảng ghi điểm bóng hoặc loại trượt). 
Nhưng nhóm này loại trừ máy đếm điểm (loại trục lăn và tương tự) 
(nhóm 90.29), bộ đếm sử dụng như đồng hồ để xác định thời gian 
chơi hoặc số tiền phải trả tính theo khoảng thời gian đó (nhóm 91.06), 
và giá để gậy bi-a (được phân vào nhóm 94.03 hoặc theo chất liệu cấu 
thành). 
(2) Các bộ điều khiển trò chơi video và máy móc như định nghĩa tại Chú 
giải phân nhóm 1 của Chương này. 
Bộ điều khiển trò chơi video và máy móc có đặc tính và chức năng 
chính là chúng được thiết kế nhằm mục đích giải trí (chơi trò chơi) thì 
vẫn được phân loại vào nhóm này, dù có hoặc không đáp ứng đầy đủ 
các điều kiện của Chú giả 5 (A) Chương 84 liên quan đến máy xử lý 
dữ liệu tự động.  
Nhóm này cũng gồm thiết bị và phụ kiện của bộ điều khiển trò chơi 
video và máy (ví dụ hộp đựng, hộp trò chơi, thiết bị điều khiển, bánh 
lái) với điều kiện chúng đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại Chú giải 3 
của Chương này.  

Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm:  
(a) Thiết bị tùy chọn ngoại vi (bàn phím, chuột, thiết bị lưu trữ đĩa 
…) đáp ứng điều kiện tại Chú giải 5 (C) của Chương 84 (Phần 
(b) Đĩa quang học đã được ghi phần mềm trò chơi và chỉ sử dụng 
cho máy trò chơi của nhóm này (nhóm 85.23). 
(3) Các bàn có kiểu đồ nội thất được thiết kế riêng cho các trò chơi (ví dụ 
bàn để chơi cờ đam).  
Các bàn đặc biệt cho trò chơi ở sòng bạc hoặc trong nhà (ví dụ cò 
quayhoặccá ngựa); cào của nhà cái,... 
Bàn bóng đá hoặc các trò chơi tương tự. 
Máy móc, hoạt động bằng cách đút tiền xu, tiền giấy, xèng hoặc các hình 
thức thanh toán khác, đặt trong các nhà chơi, các quán cà phê và hội 
chợ... dùng cho các trò chơi may rủi hoặc dùng kỹ năng của người chơi 
(ví dụ, như máy xu, bi-a điện, bàn bắn bi các loại). 
Thiết bị dùng cho đường chạy bowling tự động, có hoặc không được 
trang bị động cơ và bộ phận cơ điện. 
Theo mục đích của nhóm này, khái niệm “thiết bị đường chạy 
bowling tự động” áp dụng không chỉ cho thiết bị có các tay gạt được 
xếp theo hình tam giác mà còn áp dụng cho các loại khác (ví dụ thiết 
bị có các tay gạt được xếp theo hình vuông). 
Trò chơi croquet trong nhà và các trò chơi ky. 
Bộ xe đua với đường đua, có tính chất trò thi đấu. 
(10) Bảng phi tiêu và tiêu. 
(11) Trò chơi bài mọi loại và mọi kích thước (bài bridge, tarot, lexicon…). 
(12) Bàn và quân cờ (của môn cờ tướng, cờ đam…), cờ đô-mi-nô, cò nhảy, 
lô-tô, mạt chược, cò quay... 
(13) Một số đồ phụ trợ chung khác cho một số trò chơi thuộc nhóm này, ví 
dụ xúc xắc, cốc đổ xúc xắc, xu, xèng, quân tính điểm, thảm chuyên 
dụng (ví dụ, dành cho trò cò quay).  
Nhóm này không bao gồm: 
means of payment, of the kind used in amusement arcades, cafés, 

(a) Vé xổ số, “thẻ cào”, vé sổ số thưởng bằng hiện vật và vé xổ số 
tôngbôla (thường là nhóm 49.11). 
(b) Bàn để chơi bài thuộc Chương 94. 
(c) Ghế ngồi có lắp hệ thống âm thanh và thích hợp để sử dụng với các bộ 
điều khiển và máy chơi video, vô tuyến hoặc thiết bị nhận vệ tinh cũng 
như với DVD, đĩa nhạc CD, MP3 hoặc đầu băng video (nhóm 94.01). 
(d) Trò chơi đố trí (nhóm 95.03). 
Chú giải chi tiết phân nhóm 
Phân nhóm 9504.50. 
Phân nhóm này không bao gồm bộ điều khiển và máy trò chơi video hoạt 
động bằng đồng xu, tiền giấy, thẻ ngân hàng, thẻ xu hoặc bất kỳ phương tiện 
thanh toán nào khác; những thiết bị đó được phân loại thuộc phân  nhóm 
95.05 - Đồ dùng trong lễ hội, hội hoá trang hoặc trong các trò chơi giải 
trí khác, kể cả các mặt hàng dùng cho trò chơi ảo thuật hoặc 
trò vui cười. 
9505.10 - Đồ dùng trong lễ Nô-en 
9505.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Các dụng cụ dùng trong lễ hội, hội hoá trang hoặc các trò giải trí 
khác, xét về mục đích sử dụng, thường được làm bằng vật liệu không 
bền. Chúng bao gồm: 
(1) Đồ trang trí lễ hội được dùng để trang trí phòng, bàn,.... (như 
tràng hoa, đèn lồng,...); các đồ trang trí cây Nô-en (kim tuyến, 
bó́ng màu, động vật hoặc các h́ình thù khác...); đồ trang trí truyền 
thống thông dụng trong một lễ hội nào đó (như là động vật, cờ). 

(2) Các mặt hàng truyền thốngdùng trong dịp lễ Nô-en, ví dụ cây 
Nôel nhân tạo, cảnh Chúa giáng sinh, hình chúa giáng sinh và 
động vật, thiên thần, bánh Thánh, tất,  củi Giáng sinh nhân tạo, 
ông già  Nô-en. 
(3) Các mặt hàng để hoá trang, ví dụ mặt nạ, mũi giả, tai giả, tóc giả, 
râu ria giả (không phải là mặt hàng của nhóm 67.04), và mũ giấy. 
Tuy nhiên, nhóm này loại trừ các bộ quần áo trang trí bằng chất 
liệu dệt của Chương 61 hoặc Chương 62. 
(4) Bóng ném làm bằng giấy hoặc len – cô tông, giải băng giấy (băng 
lễ hội), kèn trompet làm bằng bìa các tông, công fet ti, “kèn lưỡi”, 
ô dù... 
Nhóm này không bao gồm tượng và các vật tương tự dùng để trang 
trí nơi thờ cúng. 
Nhóm này cũng loại trừ các mặt hàng có thiết kế phục vụ lễ hội, trang 
trí, biểu tượng hoặc motip và có chức năng ứng dụng như bộ đồ ăn, bộ 
đồ bếp, đồ dùng vệ sinh, thảm và các mặt hàng trải sàn bằng chất liệu 
dệt, quần áo, vải lanh trải giường, trải bàn, dùng vệ sinh và nhà bếp. 
(B)   Các vật dùng cho ảo thuật, mua vui như bộ bài, bàn, màn chiếu và 
đồ chứa, được thiết kế riêng cho biểu diễn ảo thuật; bột gây hắt hơi, 
kẹo đánh lừa, vòng phun nước và "Hoa Nhật bản" dùng để mua vui.  
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Cây thông Nô-en tự nhiên (Chương 6). 
(b)  Nến (nhóm 34.06). 
(c)  Bao bì làm bằng nhựa hoặc giấy dùng trong dịp lễ hội (phân loại theo 
vật liệu cấu thành ví dụ như Chương 39 hoặc Chương 48). 
(d)  Chân đế cho cây Nôel (phân loại theo vật liệu cấu thành). 
(e)  Cờ và dây cờ bằng vật liệu vải (nhóm 63.07). 
(f)  Tràng hoa điện mọi loại (nhóm 94.05). 
95.06 - Dụng cụ và thiết bị dùng cho tập luyện thể chất nói chung, thể 

dục, điền kinh, các môn thể thao khác (kể cả bóng bàn) hoặc 
trò chơi ngoài trời, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác 
trong Chương này; bể bơi và bể bơi nông (paddling pools). 
- Ván trượt tuyết và các thiết bị trượt tuyết khác: 
9506.11 - - Ván trượt tuyết 
9506.12 - - Dây buộc ván trượt 
9506.19 - - Loại khác 
- Ván trượt nước, ván lướt sóng, ván buồm và các thiết bị 
thể thao dưới nước khác: 
9506.21  - -Ván buồm 
9506.29 - - Loại khác  
- Gậy chơi gôn và các thiết bị chơi gôn khác: 
9506.31 - - Gậy, bộ gậy chơi gôn 
9506.32 - - Bóng 
9506.39 - - Loại khác 
9506.40 - Dụng cụ và thiết bị cho môn bóng bàn 
- Vợt tennis, vợt cầu lông hoặc các vợt tương tự khác, đã 
hoặc chưa căng lưới: 
9506.51 - -Vợt tennis, đã hoặc chưa căng lưới 
9506.59 - - Loại khác 
- Bóng, trừ bóng chơi gôn và bóng chơi bóng bàn: 
9506.61 - - Bóng tennis 
9506.62 - - Bóng có thể bơm hơi 
9506.69 - - Loại khác 
9506.70 - Lưỡi giày trượt băng và lưỡi trượt có bánh xe, kể cả giày 
trượt có gắn lưỡi trượt 
- Loại khác: 
9506.91 - - Các mặt hàng và thiết bị cho tập luyện thể chất nói 
chung, thể dục hoặc điền kinh 
9506.99 - - Loại khác 

Nhóm này bao gồm: 
(A)    Các dụng cụ và thiết bị dùng cho tập luyện thể chất nói dung, thể 
dục hoặc điền kinh, chẳng hạn:  
Thanh và vòng treo; xà đơn và xà kép; cầu thăng bằng; ngựa gỗ; ngựa 
tay quay; bàn nhảy; dây leo và thang; thang sát tường; gậy; tạ đơn và 
tạ thanh; bóng thuốc;bóng nhảyvới một hoặc hai tay cầm được thiết 
kế dùng cho tập luyện thể chất; các thiết bị tập chèo thuyền, đạp xe và 
tập luyện khác; dây lò xo để tập ngực; tay nắm để tập bàn tay; bàn 
đạp chạy; rào cản; cột nhảy xa; xà; gậy chống nhảy cao; lao, đĩa, quả 
tạ ném; bóng đấm (bao phi) và bao đấm; đài cho đấu bốc hoặc vật; 
tường xung kích; dây nhảy có tay nắm được thiết kế dùng trong các 
hoạt động thể thao và các lớp thể hình. 
(B) Thiết bị cho các môn thể thao khác và trò chơi ngoài trời (trừ đồ 
chơi đóng bộ hoặc tách rời, của nhóm 95.03) chẳng hạn:  
Bàn trượt tuyết và các thiết bị trượt tuyết khác (khoá cài (dây 
buộc), phanh, gậy trượt). 
Ván trượt nước, ván lướt sóng, ván buồm và các thiết bị thể 
thao dưới nước khác như bậc (nền) lặn, xe trượt, chân nhái và 
mặt nạ thở khí khi lặn dưới nước loại không dùng bình ôxy hoặc 
khí nén, và các ống thở dưới nước đơn giản (thường được gọi là 
tuba) thiết kế cho người bơi hoặc lặn. 
Gậy đánh gôn và các thiết bị chơi gôn khác như bóng, mốc phát 
bóng. 
Các dụng cụ và thiết bị cho môn bóng bàn như bàn (có hoặc 
không có chân), vợt, bóng và lưới. 
Vợt tennis, cầu lông, hoặc tương tự (ví dụ vợt bóng quần), đã 
hoặc chưa căng dây. 
Bóng, trừ bóng chơi gôn hoặc bóng chơi bóng bàn chẳng hạn 
bóng tennis, bóng đá, bóng bầu dục và các loại bóng tương tự 
(kể cả ruột và vỏ bóng); bóng cho trò chơi dưới nước, bóng rổ 
và các loại bóng có van tương tự; bóng cricket. 

Lưỡi và bánh trượt băng, kể cả giầy trượt có gắn lưỡi ở dưới. 
Gậy cho hốc-cây trên cỏ, cricket, hốc-cây trên băng; đĩa cầu cho 
môn hốc – cây trên băng; bi đá. 
Lưới cho các trò chơi khác nhau (tennis, cầu lông, bóng chuyền, 
bóng đá, bóng rổ, ...) 
(10) Dụng cụ cho đấu kiếm như kiếm, gươm, và các bộ phận của 
chúng (lưỡi, giáp, giao găm hoặc nút bấm và nút hãm)... 
(11) Các dụng cụ để bắn cung, chẳng hạn cung, tên, mục tiêu. 
(12) Thiết bị của loại dùng trong các sân chơi trẻ em (ví dụ cầu bập 
bênh, cầu trượt, đu). 
(13) Thiết bị bảo vệ cho các môn thể thao hoặc thi đấu như mặt nạ 
và giáp che ngực cho môn đấu kiếm,tấm đệm khuỷu tay và đầu 
gối, tấm bảo vệ dùng trong môn cricket, tấm ốp bảo vệ ống 
chân, quần có lắp sẵn các tấm đệm và bảo vệ dùng cho môn 
hockey trên băng. 
(14) Các vật dụng và thiết bị khác như vật dụng thiết yếu cho môn 
tennis đất nện, vòng hoặc bát; bàn trượt có bánh xe; khung ép 
vợt, vồ cho bóng polo và cricket; bu-mơ-rang; rìu cuốc băng; bồ 
câu bằng đất sét, máy phóng bồ câu đất; xe bobsleigh, xe luge 
và xe tương tự không có động cơ dùng cho lướt trên băng hoặc 
tuyết. 
(C) Các bể bơi và bể bơi nông . 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Dây căng vợt tennis trên cỏ và vợt khác (Chương 39, nhóm 42.06 hoặc 
Phần XI) 
(b) Túi thể thao và túi khác của nhóm 42.02, 43.03 hoặc 43.04. 
(c) Găng và găng tay hở ngón dùng cho thể thao (thường thuộcnhóm 
(d) Lưới hàng rào và túi lưới để đựng bóng đó, bóng ten nít,... (thường 
thuộcnhóm 56.08). 
(e)Quần áo thể thao bằng vật liệu dệt của Chương 61 hoặc Chương 62, có 

hoặc không gắn kèm bộ phận bảo vệ như miếng lót ở khủy tay, đầu khối 
hoặc vùng háng (bộ quần áo trong đấu kiếm hoặc cho thủ môn bóng đá). 
(f) Buồm cho thuyền, thuyền buồm hoặc thuyền cạn thuộc nhóm 63.06. 
(g) Giầy dép (ngoại trừ giầy trượt băng có gắn lưỡi trượt hoặc bánh xe) của 
Chương 64 và mũ thể thao của Chương 65. 
(h) Gậy chống, roi ngựa, roi và các mặt hàng tương tự (nhóm 66.02) cũng 
như các bộ phận của chúng (nhóm 66.03). 
(ij) Các thuyền thể thao (chẳng hạn scooter trên biển, canô và xuồng nhỏ) 
và các xe thể thao (ngoại trừ  xe trượt băng và loại tương tự) của Phần 
(k) Kính mắt cho người nhái và các loại kính bảo hộ khác (nhóm 90.04). 
(l) Thiết bị y tế bằng điện và các thiết bị và dụng cụ khác của nhóm 90.18. 
(m) Các thiết bị trị liệu cơ học (nhóm 90.19). 
(n) Các thiết bị thở loại dùng bình ôxy hoặc khí nén (nhóm 90.20). 
(o)  Các đồ dùng thể thao (Chương 91). 
(p)  Các vật dụng thiết yếu mọi loại dùng cho môn bowling (kể cả thiết bị 
đường chạy bowling tự động) và thiết bị khác dùng cho các môn thi 
đấu trong nhà, trên bàn hoặc tại hội chợ (nhóm 95.04). 
(q)  Bể hoạt động (activity pool) và bể tạo sóng được thiết kế dành cho trò 
chơi di chuyển trong công viên giải trí, trò chơi công viên nước hoặc 
trò chơi hội chợ, chúng luân chuyển nước để giải trí, để đẩy hoặc giảm 
ma sát cho người di chuyển dọc theo đường chuyển động hoặc để tạo 
sóng và dòng chảy (nhóm 95.08). 
95.07 - Cần câu, lưỡi câu và các loại dây câu khác; vợt lưới bắt cá, vợt 
lưới bắt bướm và các loại lưới tương tự; chim giả làm mồi (trừ 
các loại thuộc nhóm 92.08 hoặc 97.05) và các dụng cụ cần thiết 
dùng cho săn hoặc bắn tương tự. 

9507.10 - Cần câu. 
9507.20 - Lưỡi câu cá, có hoặc không có dây cước. 
9507.30 - Bộ cuộn dây câu. 
9507.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Lưỡi câu tất cả các loại (ví dụ lưỡi đơn hoặc lưỡi chùm) và đủ mọi 
kích thước, thông thường bằng thép và có thể mạ đồng, mạ kẽm, mạ bạc 
hoặc mạ vàng. 
(2) Vợt lưới bắt cá, vợt lưới bắt bướm và các loại lưới tương tự. Chúng 
thường gồm lưới có dạng túi làm bằng sợi dệt hoặc dây vải, giữ mở bởi 
một khung thép và được gắn vào tay cầm. 
(3) Cần câu và các loại dụng cụ câu khác.Cần câu đủ loại kích thước và 
bằng mọi loại vật liệu (tre, gỗ, sợi thủy tinh, kim loại, nhựa...). Chúng 
bao gồm cả một đoạn hay nhiều đoạn ghép lại với nhau. Dụng cụ câu 
bao gồm ống và cuộn dây; mồi giả (ví dụ cá, ruồi, sâu bọ, giun giả) và 
lưỡi câu có gắn các loại mồi giả; mồi kéo; dây câu, lưỡi câu và mồi câu 
gắn với nhau; phao câu (bấc, thủy tinh, lông ống…) kể cả phao lấp 
lánh, khung quấn dây câu, thiết bị giật cá tự động, các vòng câu gắn 
cùng (trừ vòng làm bằng đá quí hoặc bán quí); chì câu, chuông cần câu 
khi được gắn với cái kẹp bên ngoài hoặc thiết bị tương tự. 
(4) Một số vật dụng thiết yếu dùng cho săn bắn như là chim làm giả mồi 
(nhưng không bao gồm dụng cụ tạo âm thanh để nhử mồi các loại (nhóm 
92.08) hoặc chim nhồicủanhóm 97.05), gương chiếu nhử mồi .  
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Lông vũ dùng để làm ruồi giả (nhóm 05.05 hoặc 67.01) 
(b) Sợi, sợi đơn, dây, chỉ khâu (thật hay nhân tạo) cắt thành từng đoạn dài, 
nhưng chưa làm thànhdây câu (Chương 39, nhóm 42.06 hoặc Phần 
(c) Túi thể thao và các loại bao bì khác (ví dụ hộp cần câu và túi thi đấu) 
của nhóm 42.02, 43.03 hoặc 43.04. 
(d) Các vòng để riêng (xếp vào các nhóm tương ứng). 
(e) Bẫy, sập và đơm đó,... (phân loại theo vật liệu cấu thành) 

(f)Chuông không có điện bằng kim loại cơ bản dành cho dây câu, không 
được gắn với thiết bị giữ bên ngoài(nhóm 83.06). 
(g) Chim bồ câu mồi bằng đất sét (nhóm 95.06). 
95.08 - Rạp xiếc lưu động và bầy thú xiếc lưu động; trò chơi di chuyển 
trong công viên giải trí (amusement park rides) và trò chơi 
công viên nước (water park amusements); trò chơi hội chợ 
(fairground amusements), kể cả khu bắn súng giải trí; rạp lưu 
động. 
9508.10 - Rạp xiếc lưu động và bầy thú xiếc lưu động 
              - Trò chơi di chuyển trong công viên giải trí và trò chơi 
công viên nước:  
9508.21 - - Tàu lượn siêu tốc 
9508.22 - - Đu quay, đánh đu và vòng quay ngựa gỗ 
9508.23 - - Trò chơi xe đụng 
9508.24 - - Thiết bị mô phỏng chuyển động và rạp mô phỏng 
chuyển động 
9508.25 - - Cầu trượt nước 
9508.26 - - Trò chơi công viên nước 
9508.29 - -  Loại khác 
9508.30 - Trò chơi hội chợ 
9508.40 - Rạp lưu động 
Các trò chơi tại khu giải trí, rạp xiếc, bầy thú xiếc và rạp hát lưu động thuộc 
nhóm này với điều kiện chúng bao gồm tất cả các yếu tố cơ bản để hoạt 
động bình thường. Nhóm này cũng bao gồm cả các thiết bị phụ trợ miễn là 
chúng được sử dụng cùng như là những bộ phận cấu thành của các trò chơi 
giải trí này, tuy nhiên nếu chúng để riêng (ví dụ tăng bạt, thú, dụng cụ và 

thiết bị âm nhạc, các cụm phát điện, máy biến áp, động cơ, thiết bị chiếu 
sáng, chỗ ngồi, vũ khí và đạn dược) thì sẽ xếp vào các nhóm khác của danh 
mục. 
Theo nội dung của Chú giải 1 thuộc Chương này, các vật phẩm có thể xác 
định được thiết kế riêng hoặc chủ yếu như những bộ phận hoặc đồ phụ trợ 
cho những trò giải trí nêu trên (ví dụ thuyền đánh đu và cầu trượt nước) vẫn 
được xếp ở đây ngay khi chúng để riêng. 
Trò chơi di chuyển trong công viên giải trí và trò chơi công viên nước thuộc 
nhóm này bao gồm: 
(1)  Tàu lượn siêu tốc. Chúng sử dụng xe chuyên dụng trong đó người 
chơi ngồi và được giữ chặt khi di chuyển trên đường ray lên xuống 
theo kiểu thiết kế, đôi khi có một hoặc nhiều lần đảo ngược (chẳng 
hạn như vòng thẳng đứng). Tàu lượn siêu tốc có thể có một hoặc 
nhiều xe. 
(2)  Đu quay, đánh đu và vòng quay ngựa gỗ. Chúng hoạt động ở một mức 
duy nhất trên một lộ trình hoặc đường di chuyển cố định, được kiểm 
soát. 
(3) Xe đụng hoặc trò chơi xe đụng. 
(4)  Thiết bị mô phỏng chuyển động và rạp mô phỏng chuyển động. Đây là 
trò chơi di chuyển có chỗ ngồi, nơi khán giả được xem một bộ phim 
hoặc trải nghiệm thực tế ảo trong khi ghế của họ chuyển động để 
tương ứng với khung cảnh và hoạt động của trò chơi. 
(5)  Cầu trượt nước. Hệ thống tuần hoàn nước được sử dụng để đẩy hoặc 
giảm ma sát cho người di chuyển dọc theo đường chuyển động, trong 
đó hoạt động của trò chơi có thể và nhằm nhúng toàn bộ hoặc một 
phần cơ thể của người chơi trong nước. 
(6)  Trò chơi công viên nước. Chúng có đặc trưng bởi một khu vực nước 
cụ thể, không bao gồm đường đi (no purposes built path). Chúng có 
thể bao gồm cầu trượt, các cấu phần trò chơi dưới nước có thể trèo và 
chống leo trèo, cấu kiện trò chơi dưới nước phức hợp, bộ điều khiển 
của người chơi, vòi phun nước, đài phun nước, tác động của sóng, 

sông thư giãn và hồ xoáy. 
Trò chơi hội chợ thuộc nhóm này bao gồm: 
Các trò chơi may mắn, sức mạnh hoặc kỹ năng, chẳng hạn như bắn súng, 
ném dừa, tung đồng xu, mê cung và xổ số (ví dụ, vòng quay may mắn). 
Chúng thường có người điều hành hoặc người phục vụ và có thể được lắp 
đặt trong các tòa nhà kiên cố hoặc quầy nhượng quyền độc lập (independent 
concession stalls). Các trò chơi hội chợ không bao gồm các thiết bị thuộc 
nhóm 95.04 và 95.06, hoặc các mặt hàng được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác 
trong Chương này. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Quầy bán hàng di động (bánh kẹo và các sản phẩm khác) để quảng 
cáo hoặc giáo dục hoặc phục vụ cho các mục đích quảng cáo tương 
tự.  
(b) Máy kéo và các xe vận tải khác, kể cả rơmoóc, ngoại trừ các loại được 
thiết kế đặc biệt dành cho và là mộtbộ phận của trò giải trí (ví dụ rơ 
moóc đóng vai trò hỗ trợ cho thú vật). 
(c) Các máy giải trí hoạt động bằng đồng xu, tiền giấy, thẻ ngân hàng, token 
hoặc bất kỳ phương tiện thanh toán khác (nhóm 95.04). 
(d) Các mặt hàng để phân phối giải thưởng. 

Chương 96 
Các mặt hàng khác 
Chú giải. 
1.-  Chương này không bao gồm: 
(a)  Bút chì dùng để trang điểm (Chương 33); 
(b)  Các mặt hàng thuộc Chương 66 (ví dụ, các bộ phận của ô hoặc 
gậy chống); 
(c)  Đồ trang sức làm bằng chất liệu khác (nhóm 71.17); 
(d)  Các bộ phận có công dụng chung, như đã định nghĩa trong Chú 
giải 2 Phần XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV), hoặc các 
hàng hóa tương tự bằng plastic (Chương 39); 
(e)  Dao kéo hoặc các mặt hàng khác thuộc Chương 82 có cán hoặc 
các bộ phận khác được khảm hoặc đúc; tuy nhiên, cán hoặc các 
bộ phận khác được khảm hoặc đúc của các mặt hàng này được 
trình bày riêng lẻ thuộc nhóm 96.01 hoặc 96.02; 
(f)  Các mặt hàng thuộc Chương 90 (ví dụ, gọng kính đeo (nhóm 
90.03), bút vẽ toán học (nhóm 90.17), bàn chải chuyên dùng 
trong nha khoa hoặc y tế, phẫu thuật hoặc thú y (nhóm 90.18)); 
(g)  Các mặt hàng thuộc Chương 91 (ví dụ, vỏ đồng hồ cá nhân 
hoặc vỏ đồng hồ thời gian); 
(h) Nhạc cụ hoặc bộ phận hoặc phụ kiện của chúng (Chương 92); 
(ij)  Các mặt hàng thuộc Chương 93 (vũ khí và bộ phận của chúng);  
(k)  Các mặt hàng thuộc Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, đèn 
(luminaires) và bộ đèn); 
(l)  Các sản phẩm thuộc Chương 95 (đồ chơi, trò chơi, dụng cụ, 
thiết bị thể thao); hoặc 
(m) Tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm hoặc đồ cổ (Chương 97). 
2.- Trong nhóm 96.02 khái niệm "vật liệu chạm khắc có nguồn gốc thực 
vật hoặc khoáng chất" có nghĩa là: 
(a)  Hạt cứng, hột, vỏ quả và quả hạch và vật liệu từ thực vật tương 
tự dùng để chạm khắc (ví dụ, quả dừa ngà và cọ dum); 
(b)  Hổ phách, đá bọt, hổ phách và đá bọt kết tụ, hạt huyền và chất 

khoáng thay thế cho hạt huyền này. 
3.- Trong nhóm 96.03 khái niệm "túm và búi đã làm sẵn để làm chổi 
hoặc bàn chải" chỉ bao gồm những túm và búi chưa được buộc bằng 
lông động vật, xơ thực vật hoặc vật liệu khác, đã chuẩn bị sẵn để bó 
mà không phân biệt là để làm chổi hoặc làm bàn chải, hoặc mới chỉ 
gia công đơn giản hơn như cắt tỉa để tạo dáng ở ngọn, cho đủ điều 
kiện để bó. 
4.- Các mặt hàng thuộc Chương này, trừ các nhóm từ 96.01 đến 96.06 
hoặc 96.15, vẫn được phân loại vào Chương này dù có hoặc không 
chứa một phần hoặc toàn bộ kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim 
loại quý, ngọc trai thiên nhiên hoặc nuôi cấy, hoặc đá quý hoặc đá 
bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo). Tuy nhiên, các nhóm từ 
96.01 đến 96.06 và 96.15 kể cả các mặt hàng có chứa ngọc trai thiên 
nhiên hoặc nuôi cấy, đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp 
hoặc tái tạo), kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý nhưng 
những chất liệu này chỉ là thành phần phụ. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm các vật liệu để chạm trổ và để đúc và các sản 
phẩm làm từ chúng, một số mặt hàng chổi, bàn chải vàrây sàng, đồ may 
vá, văn phòng phẩm, dụng cụ cho người hút thuốc, đồ dùng nhà vệ sinh, 
một số sản phẩm vệ sinh thấm nước (băng (miếng) và nút bông vệ sinh, 
tã lót và khăn lót vệ sinh cho trẻ và các mặt hàng tương tự làm bằng bất 
cứ chất liệu gì) và các vật dụng khác chưa được chi tiết tại các nhóm 
khác trong Danh mục. 
Các mặt hàng được mô tả trong các nhóm 96.07 đến 96.14 và 96.16 đến 
96.18 có thể làm bằng toàn bộ hoặc một phần ngọc trai thiên nhiên hoặc 
nuôi cấy, đá quý, hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo), kim 
loại quý, kim loại mạ kim loại quý. Tuy nhiên, các mặt hàng mô tả trong 
nhóm 96.01 đến 96.06 và 96.15 có thể chứa các chất liệu này chỉ với 
hàm lượng rất nhỏ. 

96.01- Ngà, xương, đồi mồi, sừng, nhánh gạc, san hô, xà cừ và các 
vật liệu chạm khắc có nguồn gốc động vật khác đã gia công, và 
các mặt hàng làm từ các vật liệu này (kể cả các sản phẩm đúc). 
9601.10 - Ngà đã gia công và các vật phẩm bằng ngà 
9601.90 – Loại khác 
Nhóm này liên quan đến các chất liệu có nguồn gốc động vật (trừ chất 
liệu nêu trong nhóm 96.02) đã gia công chủ yếu bằng chạm trổ hoặc cắt 
gọt. Phần lớn trong số này cũng có thể được tạo hình. 
Theo mục đích của nhóm này, khái niệm "đã gia công" dùng để chỉ các 
vật liệu đã được xử lý trên mức sơ chế so với nguyên vật liệu thô của 
nhóm liên quan (xem Chú giải chi tiết nhóm 05.05 đến 05.08). Bởi vậy, 
nhóm này bao gồm các mảnh ngà voi, xương, mai rùa, sừng, gạc, san hô, 
xà cừ... dưới dạng tấm, phiến, que,… đã cắt gọt thành hình (kể cả hình 
vuông hoặc chữ nhật), hoặc đánh bóng hoặc gia công bằng cách mài, 
khoan, phay, tiện... 
Tuy nhiên, các mảnh có thể xác định là các bộ phận của vật phẩm thuộc 
một nhóm khác của Danh mục thì bị loại khỏi nhóm này. Vì vậy, các 
phím đàn pianô và các mảnh gắn vào báng súng được xếp lần lượt vào 
nhóm 92.09 và 93.05. Tuy nhiên, các chất liệu đã gia công nhưng không 
thể xác định là các bộ phận của vật phẩm thì vẫn xếp vào nhóm này (ví 
dụ các đĩa, tấm, dải hoặc các sợi đơn giản dùng để khảm,…, hoặc dùng 
để sản xuất các phím pianô). 
Đặc biệt người ta xếp ở nhóm này, miễn là khi chúng đã được gia công 
chế tác hoặc dưới dạng vật phẩm: 
(I) Ngà. Trong suốt Danh mục, ngà voi, răng của con hà mã, hải cẩu, 
kỳ lân biển, lợn lòi, sừng của tê giác và răng của mọi loài động vật 
đều được xem là ngà (xem Chú giải 3 của Chương 5). 
(tiếng anh thiếu mất con moóc, cần tìm hiểu) 
(II) Xương, là phần đặc, cứng của cơ thể của nhiều động vật và hầu như 

được gia công bằng cách cắt gọt. 
(III) Đồi mồi hầu như chỉ lấy từ rùa biển. Mai rùa có màu vàng, màu 
nâu hoặc màu đen, khi được xử lý nhiệt, nó rất dẻo và dễ uốn, khi 
nguội nó giữ lại hình dạng đã định. 
(IV) Sừng, gạc lấy từ trán của động vật nhai lại. Lõi sừng không dùng 
làm vật liệu cho chạm hoặc khắc mà chủ yếu chỉ dùng để nấu cao 
(V)  San hô tự nhiên (xương can xi hoá của loài pô líp biển) và san hô 
tái tạo. 
(VI)  Xà cừ, lớp vỏ của một số loại trai có màu trắng đục, bóng láng, 
óng ánh nhiều màu sắc; mặc dù bề mặt của nó có vẻ như hình gợn 
sóng, nhưng thực tế nó hoàn toàn nhẵn. 
(VII)  Guốc, móng, vuốt và mỏ. 
(VIII) Xương và các chất liệu tương tự lấy từ động vật biển có vú.  
(IX) Ống lông vũ. 
(X)  Vỏ, mai của động vật giáp sát và động vật không xương sống. 
Nhóm này bao gồm : 
(A) Các vật liệu có nguồn gốc động vật dùng để chạm trổ đã được 
gia công 
Các vật liệu chạm trổ nêu trong nhóm này được xếp ở đây miễn là 
chúng đã được gia công ở mức cao hơn là làm sạch hoặc cạo sạch, 
cắt gọt đơn giản để loại bỏ các phần không dùng được, xẻ (đôi khi 
tiếp theo là bào thô) và trong một số trường hợp, tẩy trắng, mài 
nhẵn, gọt rũa hoặc chẻ nhỏ. 
Như vậy, đồi mồi bị loại khỏi nhóm nếu nó chưa trải qua các chế 
tác vượt quá mức nắn thẳng và làm phẳng bề mặt (thao tác cuối 
cùng này ngoại lệ vì mai rùa chưa gia công hầu như dưới dạng 
miếng có độ dày không đều và bề mặt cong) (xem Chú giải chi tiết 
của nhóm 05.07, Phần (B)). Tương tự, nhóm này cũng loại trừ san 
hô chỉ bị loại bỏ lớp vỏ phía ngoài (nhóm 05.08). 
Nhóm này cũng bao gồm các vật phẩm được tạo hình dưới bất kỳ 
hình dạng nào được làm từ mai rùa, vẩy hoặc móng, hoặc từ các 

chất liệu tái tạo lấy từ bột hoặc phế liệu của bất kỳ vật liệu chạm 
khảm của nhóm này. 
Một trong những thuộc tính của mai rùa là tự nó có thể dính lại với nhau 
dưới ảnh hưởng của sức nóng mà không cần đến chất kết dính nào. 
Người ta lợi dụng thuộc tính này để tạo ra các miếng tương đối dầy bằng 
cách chồng các lớp mỏng lên nhau. Sừng có đặc tính là khi làm nóng nó 
trở nên mềm ra và sau đó có thể làm phẳng hoặc biến thành bột nhão. 
Bởi vậy nó có thể gia công bằng cách ép khuôn như mai rùa. 
Các đĩa đã hoặc chưa được đánh bóng không có đặc điểm của khuy chưa 
hoàn chỉnh (về mặt hàng này xem Chú giải chi tiếtcủa nhóm 96.06) và 
ngọc trai Jerusalem (bao gồm các viên ngọc trai không đều, mới chỉ đục 
lỗ nhưng chưa đánh bóng, chưa phân loại hoặc chưa gia công thêm) vẫn 
được xếp vào trong nhóm này ngay khi chúng mới tạm xâu thành dây. 
(B) Các vật phẩm làm bằng nguyên vật liệu chạm khắc có nguồn gốc 
động vật thuộc nhóm này : 
Nhóm này bao gồm: 
Hộp đựng thuốc lá hoặc xì gà, hộp đựng thuốc lá hít, hộp phấn, 
khoá vòng, cặp gài, hộp đựng son môi. 
Tay cầm và thân (giá) bàn chải, để riêng rẽ. 
(3)  Các loại hộp khác nhau, hộp đựng kẹo cachou, hộp bảo vệ  
đồng hồ. 
(4)  Cán (tay cầm) của các dụng cụ, dao, nĩa, dao cạo râu,..., thuộc 
Chương 82, được trình bày riêng. 
Dao rọc giấy, mở thư, cái đánh dấu sách. 
Khung ảnh, khung tranh, v.v. 
Bọc sách. 
Các vật phẩm dùng cho tôn giáo. 
Kim móc, kim đan. 
(10) Các vật trang sức nhỏ, chẳng hạn đồ nữ trang rẻ tiền, các mặt hàng 
điêu khắc trừ những mặt hàng của nhóm 97.03. 
Xỏ giầy. 

(12)  Các vật phẩm phục vụ bàn ăn như giá để dao, vòng để thìa nhỏ 
và khăn ăn. 
(13)  Sừng và gạc treo để trang trí (vật kỷ niệm thành tích, v.v.). 
(14)  Đá màu chạm nổi và đá màu chạm chìm, trừ loại dùng làm đồ 
trang sức. 
Nhóm này cũng bao gồm các vật phẩn làm từ các loại vỏ đặc biệt và các 
vật phẩm (chẳng hạn như tăm xỉa răng, đầu ngậm xì gà) làm bằng lông 
ống. Tuy nhiên, nhóm này loại trừ lông ống mới cắt thành đoạn và chưa 
gia công thêm (nhóm 05.05), và lông ống đã xử lý để làm phao câu 
(nhóm 95.07). 
Các vật phẩm được khảm nổi hoặc khảm chìm bằng các nguyên liệu 
chạm khảm có nguồn gốc động vật được xếp vào nhóm này nếu yếu tố 
khảm tạo nên đặc tính chính của thành phẩm. Đó là trường hợp các hộp, 
hòm bằng gỗ,... được khảm ngà voi, xương, mai rùa hoặc sừng. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Các vật phẩm của Chương 66, (ví dụ như các bộ phận của ô, dù, 
can (gậy chống),...,  tay cầm, thân và đầu).  
(b)  Gương thuỷ tinh có khung (nhóm 70.09) 
(c)  Các vật phẩm làm bằng vật liệu chạm khắc có nguồn gốc từ động 
vật, bao gồm một phần là kim loại quý, kim loại mạ kim loại quý, 
hoặc bao gồm các hạt trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, hoặc bằng đá quý, 
hoặc bán quý (tự nhiên, tổng hợp hay tái tạo) (Chương 71). Tuy 
nhiên các vật phẩm loại này vẫn được xếp trong nhóm này khi các 
hạt trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, 
tổng hợp hay tái tạo), các kim loại quý, hoặc kim loại mạ kim loại 
quý  chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ ( ví dụ kí tự đầu, dấu hiệu viết tắt, vành, 
rìa...) 
(d)  Các vật phẩm là đồ trang sức giả quý (nhóm 71.17). 
(e)  Bộ dao/muỗng/nĩa và những vật phẩm khác của Chương 82 có cán, 
tay cầm, quai, móc  hoặc các bộ phận khác bằng vật liệu chạm khắc 

hoặc tạo hình.Tuy nhiên, khi để riêng thì cán, tay cầm, quai, móc,  
hoặc các bộ phận trên được xếp vào nhóm này. 
(f)  Các vật phẩm của Chương 90 (ví dụ ống nhòm, gọng kính mắt và 
các bộ phận của gọng kính mắt, kính cặp mũi không gọng, kính cầm 
tay, kính bảo hộ và các vật phẩm tương tự). 
(g)  Các vật phẩm của Chương 91 (ví dụ vỏ đồng hồ). Tuy nhiên, nắp 
bảo vệ cho đồng hồ đeo tayvẫn được xếp vào nhóm này. 
(h)  Các vật phẩm của Chương 92, ví dụ, các nhạc cụ và các bộ phận 
của chúng (kèntù và, phím pianô hoặc ácoocđiông, chốt của đàn, cầu 
đàn). 
(ij)  Các vật phẩm của Chương 93, (ví dụ, các bộ phận vũ khí). 
(k)  Các vật phẩm của Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, đèn (luminaires) 
và bộ đèn). 
(l)  Các vật phẩm của Chương 95 (đồ chơi, trò chơi, dụng cụ thể thao). 
(m) Các vật phẩm của nhóm 96.03 (ví dụ, chổi và bàn chải) và của 
nhóm 96.04. Tuy nhiên các cán hoặc bàn cắm lông bàn chải nếu để 
riêng thì vẫn được xếp vào nhóm này. 
(n)  Các vật phẩm của nhóm 96.05, 96.06, 96.08, 96.11 hoặc 96.13 đến 
96.16, (ví dụ, khuy và khuychưa thành phẩm; bút mực, quản bút,...; 
tẩu hút thuốc, bát và ống điếu và các bộ phận của điếu; xì gà và ống 
hút thuốc và các bộ phận của chúng, lược). 
(o) Các vật phẩm của Chương 97 (ví dụ, các nguyên bản điêu khắc hoặc 
tượng tạc, các mẫu vật sưu tập về động thực vật). 

96.02- Vật liệu khảm có nguồn gốc thực vật hoặc khoáng đã được 
gia công và các sản phẩm làm từ các loại vật liệu này; các vật 
liệu đúc hay chạm khắc bằng sáp, bằng stearin, bằng gôm tự 
nhiên hay nhựa tự nhiên hoặc bằng bột nhão làm mô hình, và 
sản phẩm được đúc hay chạm khắc khác, chưa được chi tiết 
hay ghi ở nơi khác; gelatin đã chế biến nhưng chưa đóng 
cứng (trừ gelatin thuộc nhóm 35.03) và các sản phẩm làm 
bằng gelatin chưa đóng cứng. 
Từ carving cần dịch là chạm trổ, khảm trong tiếng anh là “mosaic” hoặc 
“inlay” nghĩa là đưa hêm vật liệu trang trí khác dính vào bề mặt một vật. 
Về định nghĩa của thuật ngữ "đã gia công", đoạn 2 của Chú giải chi 
tiếtcho nhóm 96.01 được áp dụng cho nhóm này với những điều chỉnh 
cần thiết (ví dụ cũng xem Chú giải chi tiết nhóm 14.04, 15.21, 25.30, 
(I) VẬT LIỆU CHẠM TRỔ CÓ NGUỒN GỐC THỰC VẬT HOẶC 
KHOÁNG ĐÃ ĐƯỢC GIA CÔNG VÀ CÁC SẢN PHẨM LÀM 
TỪ CÁC LOẠI VẬT LIỆU NÀY 
(A) Vật liệu chạm trổ nguồn gốc thực vật được gia công. 
Nhóm này bao gồm các vật liệu chạm trổ có nguồn gốc thực vật, đã 
được gia công thuộc loại nêu tại Chú giải 2(a) của Chương này. 
Chúng bao gồm corozo (còn được gọi là ngà thực vật), hạt của cọ 
đum và hạt tương tự của các cây cọ khác (Tahiti, Palmira,v.v.), vỏ 
dừa, hạt của nhiều loại sậy, hạt của Abrrus (hoặc cây tràng hạt) hạt 
của chà là và ô liu, hạt cọ Piassa và hạt minh quyết. 
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm được làm bằng cách đúc 
khuôn bột của vật liệu chạm khảm có nguồn gốc thực vật. 
(B) Vật liệu chạm trổ từ nguồn khoáng, được gia công. 
Nhóm này bao gồm các vật liệu chạm trổ có nguồn gốc từ khoáng 
đã được gia công thuộc loại nêu tại Chú giải 2(b) của Chương này. 
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm sau đây (xếp vào nhóm 
(i)  Các khối, các miếng bọt biển hoặc hổ phách thô; 

(ii) Bọt biển tái tạo và hổ phách tái tạo thu được từ phế thải của bọt biển 
tự nhiên và vụn hổ phách được tái tạo hoặc đúc khuôn, dưới dạng các 
mảnh, tấm nhỏ, que, gậy và các hình tương tự, chưa qua gia công sau 
khi đúc khuôn. 
(C) Các vật phẩm chạm trổ có nguồn gốc thực vật hoặc khoáng. 
Theo các quy định loại trừ nêu dưới đây, nhóm này bao gồm các vật 
phẩm làm bằng vật liệu chạm trổ có nguồn gốc thực vật hoặc 
khoáng như: 
(i)  Các đồ trang trí nhỏ (ví dụ tượng). 
(ii)  Các vật phẩm nhỏ như hộp, bao, túi. 
(iii)  Các đĩa đã hoặc chưa đánh bóng (trừkhuy chưa hoàn chỉnh, xem 
Chú giải chi tiết nhóm 96.06). 
CÁC VẬT LIỆU ĐÚC BẰNG KHUÔN HOẶC CHẠM 
KHẮCBẰNG SÁP, BẰNG STEARIN, BẰNG GÔM TỰ 
NHIÊN HAY NHỰA TỰ NHIÊN, BẰNG BỘT NHÃO 
ĐỂ LÀM MÔ HÌNH VÀ CÁC VẬT PHẨM ĐƯỢC ĐÚC 
HAY CHẠM KHẮC KHÁC, CHƯA ĐƯỢC CHI TIẾT 
HAY GHI Ở NƠI KHÁC, KEO ĐỘNG VẬT CHƯA 
ĐÓNG CỨNG ĐƯỢC GIA CÔNG VÀ CÁC VẬT 
PHẨM BẰNG KEO ĐỘNG VẬT CHƯA ĐÓNG CỨNG 
Một mặt nhóm này bao gồm các vật phẩm được đúc khuôn hoặc 
chạm khắc làm bằng nhiều vật liệu khác nhau, miễn là chúng chưa 
được chi tiết hoặc nêu tại các nhóm khác của Danh mục (chẳng hạn 
các sản phẩm nhựa của Chương 39, hoặc sản phẩm làm bằng êbônit 
của Chương 40,...). Nhóm này cũng bao gồm gelatin chưa đóng 
cứng được gia côngvà các vật phẩm bằng vật liệu này (trừ các vật 
phẩm của nhóm 35.03 hoặc của Chương 49). 
Theo mục đích sử dụng của các vật liệu này, khái niệm "các vật phẩm 
được đúc khuôn" có nghĩa là các vật phẩm được đúc theo hình 
dạng phù hợp với mục đích sử dụng. Trái lại, không xếp vào nhóm 
này các vật liệu được đúc khuôn dưới dạng hình khối, hình lập 

phương, tấm, thanh, thỏi, ... cho dù chúng đã hoặc chưa ép hình 
trong quá trình đúc. 
Theo các loại trừ nêu ở dưới đây, nhóm này bao gồm : 
(1)  Các vật phẩm đúc khuôn hoặc chạm trổ làm bằng sáp: 
(i)  Tàng ong nhân tạo. 
(ii)  Các hình đúc dùng cho mạ điện. 
(iii) Hoa, cành, lá hoặc quả giả được đúc khuôn thành một chỉnh thể 
hoặc được lắp ráp lại với nhau theo cách khác với cách xử lý 
(như buộc, gắn hồ hoặc phương pháp tương tự) khiến cho 
chúng có thể phân vào nhóm 67.02. 
(iv)  Tượng bán thân, đầu, tượng nhân vật hoặc tượng nhỏ (trừ các 
vật phẩm thuộc loại dùng như manơcanh xem Chú giải chi tiết 
của nhóm 96.18 và các nguyên bản điêu khắc và tạc tượng 
(xem nhóm 97.03). 
(v)  Các hạt trai bằng sáp. 
(vi)  Các ống hình chữ T làm từ chế phẩm gốc sáp và được dùng 
trong một số loại phẫu thuật thẩm mỹ. 
(vii) Kẹo giả, thanh sô cô la giả và các vật phẩm mô phỏng khác 
bằng sáp dùng để trưng bày trong tủ kính của cửa hiệu. 
(viii)Bịt tai bằng sáp có vành bằng len pha bông. 
(ix)  Dải băng bằng sáp bọc ngoài bằng vật liệu dệt dùng để bịt các 
lỗ hổng trong các hình đúc làm bằng gỗ.  
(2)  Các sản phẩm đúc hoặc chạm khắc bằng paraphin (đặc biệt là bình 
chứa axit fluo hydric). 
(3)  Các sản phẩm đúc hoặc chạm khắc bằng stearin. 
(4)  Các sản phẩm đúc hoặc chạm khắc bằng rôsin là nhựa cây thông hay 
một số cây khác (ví dụ rôsin dùng xát vào vĩ đàn viôlông). 
(5)  Các sản phẩm đúc hoặc chạm khắc bằng côpan (thường là các đồ giả 
hổ phách). 
(6)  Các sản phẩm đúc hoặc chạm khắc làm bằng sáp làm mô hình (ví dụ 
hoa hoặc cây đúc thành một mẩuvật, tượng nhân vật, tượng nhỏ và 
các đồ vật trang trí khác tương tự). 

(7)  Các sản phẩm đúc hoặc chạm khắc làm từ gốc bột hoặc tinh bột, 
trộn với gôm, rồi phủ sơn (hoa hoặc quả giả, đúc thành một mẩu vật, 
các tượng nhỏ,v.v.). 
(8)  Các phiến keo động vật chưa đóng cứng cắt thành hình không 
phải hình vuông hay hình chữ nhật. Những phiến cắt thành hình 
chữ nhật (kể cả hình vuông) đã hoặc chưa gia công bề mặt được xếp 
vào nhóm 35.03 hoặc Chương 49 (ví dụ bưu thiếp) (xem Chú giải 
chi tiếtcủa nhóm 35.03). Các vật phẩm bằng gelatin chưa đóng 
cứng, ví dụ: 
(i) Đĩa nhỏ dùng để dính đầu gậy bi-a.  
(ii)  Vỏ nhộng cho sản phẩm dược và đựng nhiên liệu cho bật  
lửa cơ. 
Các vật phẩm được phủ hoặc khảm bằng vật liệu chạm khắc nguồn gốc 
thực vật hoặc khoáng vật hoặc bằng vật liệu đúc được xếp trong nhóm 
này, nếu yếu tố phủ hoặc khảm tạo nên đặc tính chính của sản phẩm 
hoàn thiện. Điều này cũng có thể áp dụng trong trường hợp các hộp, hòm 
bằng gỗ, được phủ hoặc khảm bằng vật liệu mô tả trong nhóm này. 
Các qui định của Chú giải chi tiết cho nhóm 96.01 đối với các sản phẩm 
bị loại trừ khỏi nhóm đó cũng có thể áp dụng cho nhóm này. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Sáp để niêm phong, kể cả loại gắn nút chai (nhóm 32.14 hoặc 
(b)  Nến, nến cây và các loại tương tự bằng parafin hoặc bằng sáp, 
stearin,... khác (nhóm 34.06). 
(c)  Chất dẻo dùng để làm mô hình (kể cả chất dẻo đóng hộp cho trẻ em 
chơi) và các chế phẩm như “sáp nha khoa” hay “sáp lấy khuôn răng” 
đóng thành bộ, trong các túi bán lẻ hoặc thành tấm, hình móng ngựa, 

thỏi hoặc dưới các dạng tương tự (nhóm 34.07). 
(d)  Các chất dẻo dùng để sao chép gốc keo động vật (nhóm 38.24). 
(e)  Các vật phẩm đúc khuôn bằng than bùn (nhóm 68.15). 
(f)  Các mô hình để minh họa (nhóm 90.23). 
96.03 -Chổi, bàn chải (kể cả các loại bàn chải là những bộ phận của 
máy, dụng cụ hoặc xe), dụng cụ cơ học vận hành bằng tay để 
quét sàn, không có động cơ, giẻ lau sàn và chổi bằng lông vũ; 
túm và búi đã làm sẵn để làm chổi hoặc bàn chải; miếng thấm 
và con lăn để sơn hoặc vẽ; chổi cao su (trừ con lăn bằng cao su). 
9603.10 - Chổi và bàn chải, gồm các cành nhỏ hoặc các chất liệu 
từ thực vật khác buộc lại với nhau, có hoặc không có 
cán 
-  Bàn chải đánh răng, chổi xoa bọt cạo râu, bàn chải chải 
tóc, chổi sơn móng tay, chải mi mắt và bàn chải vệ sinh 
khác dùng cho người, kể cả bàn chải tương tự là bộ 
phận của các thiết bị gia dụng: 
9603.21 - - Bàn chải đánh răng, kể cả bàn chải dùng cho răng mạ 
9603.29 - - Loại khác 
9603.30 - Bút lông vẽ, bút lông để viết và bút lông tương tự dùng 
cho việc trang điểm 
9603.40 - Chổi quét sơn, chổi quét keo, chổi quét vecni hoặc các 
loại chổi tương tự (trừ các loại bút lông thuộc phân nhóm 
9603.30); miếng thấm và con lăn để quét sơn hoặc vẽ 
9603.50 - Các loại bàn chải khác là các bộ phận của máy móc, 
thiết bị gia dụng hoặc xe 
9603.90 - Loại khác 
(A) CHỔI VÀ BÀN CHẢI GỒM CÁC CÀNH NHỎ HOẶC CÁC 
CHẤT LIỆU THỰC VẬT KHÁC ĐƯỢC BUỘC LẠI VỚI NHAU, 
CÓ HOẶC KHÔNG CÓ CÁN 

Nhóm này bao gồm các vật phẩm được làm khá thô, có hoặc không có 
tay cầm chủ yếu dùng để quét dọn mặt đất (đường phố, sân, chuồng 
trại...), hoặc sàn (ví dụ, sàn xe). Chúng thường gồm một bó các nguyên 
liệu thực vật (cành nhỏ, rơm rạ...) được bó lại với nhau, hoặc một hay 
nhiều bó rơm hoặc hay bó sậy dày, làm thành lõi mà trong lõi đó phần 
rơm dài và mảnh hơn được buộc cố định bằng sợi dệt; các sợi dệt này 
đồng thời có thể tạo thành các hoa văn trang trí. Thông thường, các mặt 
hàng này sau đó được gắn trên một tay cầm để tiện sử dụng.  
Nhóm này cũng bao gồm chổi đuổi ruồi, làm theo cách tương tự, nhưng 
bằng các vật liệu nhẹ hơn. 
Những loại chổi và bàn chải nói chung được làm từ các cành nhỏ của 
bạch dương, cây phỉ, cây nhựa ruồi, cây thạch nam hoặc cây đậu chổi, 
thân cây cao lương, kê, cải cúc dầu..., rơm (hoặc truỳ), hoặc bằng sợi của 
cây lô hội, xơ dừa, sợi cọ (đặc biệt loại piassava), ... hoặc thân cây tam 
giác mạch. 
(B) CÁC LOẠI CHỔI VÀ BÀN CHẢI KHÁC 
Nhóm này bao gồm nhiều mặt hàng, khác nhau đáng kể cả về vật liệu và 
hình dáng, dùng chủ yếu cho các mục đích vệ sinh, lau chùi trong nhà, 
để quét sơn, dán và quét các sản phẩm lỏng và dính, và cho một số hoạt 
động công nghiệp (lau chùi, đánh bóng...) 
Nói chung, chổi và bàn chải thuộc nhóm này gồm các búi, hoặc túm sợi 
hoặc sợi tơ mềm và đàn hồi được gắn vào thân bàn chải, hoặc chổi, hoặc 
như trong trường hợp bút vẽ, chổi sơn, búi tóc hoặc sợi được gắn chặt 
vào đầu của thân hoặc tay cầm được hoặc không được gia cố bằng vòng 
sắt hoặc thiết bị giữ tương tự. 
Nhóm này cũng bao gồm chổi và bàn chải cao su hoặc plastic, được đúc 
liền khối. 
Nguyên liệu thô dùng để sản xuất các vật phẩm trên rất đa dạng. Những 
nguyên liệu dùng để làm búi lông bao gồm:  
(A) Vật liệu có nguồn gốc động vật: lông lợn nhà hoặc lông lợn lòi; lông 
ngựa hoặc bò; lông dê, lông lửng, chồn, chồn hôi, sóc, chồn puy toa, 
sóc xám bạc, ...; sợi lấy từ sừng; ống lông. 

(B)  Vật liệu có nguồn gốc thực vật: rễ cỏ gà, sợi thùa (hoặc sợi thùa 
Mehicô), sợi cây dừa, hoặc sợi piassava, cỏ alfa, sợi của cao lương, 
hoặc tre chẻ. 
(C)  Sợi nhân tạo (ví dụ nilon, hoặc sợi vítcô). 
(D) Bằng sợi kim loại (thép, đồng, đồng thiếc, ...) hoặc bằng các chất 
liệu khác: sợi hoặc sợi xe bông hoặc len, sợi thuỷ tinh. 
Các vật liệu làm đế bao gồm các loại sau: gỗ, nhựa, xương, sừng, ngà, 
mai rùa, ebônit, một số kim loại (thép, nhôm, đồng...). ở một số bàn chải 
(bàn chải quay tròn cho máy móc và bàn chải dùng cho máy quét đặc 
biệt) người ta còn dùng cả da, các tông, phớt hoặc vải. Các ống lông 
cũng được dùng làm đế cho một số loại bút vẽ, chổi sơn. 
Nhóm này cũng bao gồm các bàn chải mà trong đó, kim loại quí, kim 
loại mạ kim loại quí, ngọc trai thiên nhiên hoặc nuôi cấy, đá quí hoặc đá 
bán quí (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo) chỉ chiếm một phần rất nhỏ 
(monogram, gờ, mép). 
Nhóm này không bao gồm các bàn chải có chứa kim loại quí, kim loại 
mạ kim loại quí, ngọc trai thiên nhiên hoặc nuôi cấy, đá quí hoặc đá bán 
quí (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo), mà các thành phần này không 
chiếm một phần nhỏ (Chương 71).  
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Bàn chải răng, kể cả bàn chải đánh hàm răng giả. 
(2)  Bàn chải xoa xà phòng để cạo râu. 
(3)  Bàn chải dùng cho vệ sinh (bàn chải tóc, bàn chải râu, ria, bàn chải 
mi mắt, bàn chải móng tay, bàn chải nhuộm tóc, ...); bàn chải xoa 
cổ của thợ cắt tóc. 
(4)  Bàn chải bằng cao su hoặc bằng plastic đúc liền khối, dùng cho vệ 
sinh (cọ rửa tay...), dùng để cọ hố xí, v.v. 
Bàn chải quần áo, mũ hoặc giầy, bàn chải lược. 
(6)  Bàn chải dùng trong gia đình (ví dụ bàn chải để cọ, bàn chải bát 
đĩa, bàn chải cọ chậu rửa, bàn chải cọ nhà vệ sinh, bàn chải đồ đạc, 
bàn chải lò sưởi, bàn chải để chải vụn thức ăn). 
(7)  Chổi và bàn chải dùng để quét đường, sàn nhà,... 

(8)  Bàn chải xe ôtô chuyên dụng bằng vật liệu dệt, đã hoặc chưa thấm, 
tẩm các chất tẩy rửa. 
(9)  Các bàn chải lông động vật (ngựa, chó...). 
(10)  Bàn chải để thoa dầu cho vũ khí, xe đạp... 
(11)  Bàn chải lau đĩa nhạc, kể cả loại gắn vào đầu từ để tự động lau đĩa. 
(12)  Bàn chải để lau con chữ in và thanh con chữ in của máy đánh chữ. 
(13)  Bàn chải để lau bugi đánh lửa, lau rửa, lau các bộ phận trước khi 
hàn. 
(14)  Bàn chải rêu hoặc vỏ cây khô của cây hoặc bụi rậm. 
(15)  Bàn chải dùng để bôi màu khuôn in, có hoặc không có bình đựng 
mực và thiết bị điều chỉnh mực chẩy ra. 
(16)  Chổi sơn và các bàn chải khác (tròn hoặc dẹt) dùng cho thợ thạch 
cao, thợ sơn nhà cửa, thợ trang trí, thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật, nghệ 
sĩ-họa sĩ.... Ví dụ, bàn chải để cọ rửa các bức tranh cũ, chổi vẽ màu 
keo, quét vôi, chổi dán giấy, chổi đánh bóng..., chổi để vẽ tranh 
sơn dầu, hoặc thuốc nước, chổi thoa màu nước lên tranh, chổi dùng 
để vẽ trên sành sứ, mạ vàng thếp, các bàn chải nhỏ dùng cho văn 
phòng. 
Nhóm này cũng bao gồm: 
Các bàn chải gắn vào dây kim loại (thông thường các dây kim loại 
được xoắn lại với nhau), ví dụ bàn chải ống khói, bàn chải  cọ chai 
lọ, bàn chải cọ thuỷ tinh đèn ống, chổi cọ các loại ống dẫn, v.v...; 
bàn chải cọ tẩu thuốc, bàn chải cọ súng trường, súng côn hoặc 
súng lục; bàn chải cọ các bộ phận hình ống của dụng cụ âm nhạc. 
(II)  Các bàn chải cấu thành các bộ phận của máy, chẳng hạn; các bàn 
chải trang bị cho xe quét rửa đường; bàn chải cho máy đánh và dệt 
sợi, cho máy nghiền, đánh bóng hoặc cho máy công cụ khác; cho 
máy xay, cho máy làm giấy; cho bàn tiện của thợ chữa đồng hồ và 
thợ kim hoàn; cho máy móc dùng trong công nghiệp thuộc da, 
lông, đóng giầy. 

(III) Các bàn chải cho các thiết bị điện gia dụng (ví dụ: máy đánh bóng 
hoặc đánh bóngsàn, máy hút bụi). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Đế hoặc tay cầm bàn chải (phân loại theo vật liệu cấu thành). 
(b)  Đĩa và miếng gạc để đánh bóng, làm bằng chất liệu dệt (nhóm 
(c)  Kim chải (nhóm 84.48). 
(d)  Đĩa để lau ổ đĩa trong các máy ADP,... (nhóm 84.73). 
(e)  Bàn chải chuyên dụng dùng trong nha khoa hoặc y tế, giải phẫu, 
hoặc thú y (bàn chải soi họng, bàn chải được thiết kế để gắn trên 
máy khoan răng) (nhóm 90.18). 
(f) Bàn chải mang tính chất đồ chơi (nhóm 95.03). 
(g) Nùi bông thoa phấn dùng trong trang điểm hoặc các sản phẩm vệ 
sinh (nhóm 96.16). 
(C) MÁY QUÉT SÀN CƠ KHÍ VẬN HÀNH BẰNG 
TAY, KHÔNG LẮP MÔ TƠ. 
Đây là những thiết bị đơn giản, thường gồm một hộp gắn trên bánh xe, 
có chứa một hoặc nhiều bàn chải hình xi lanh, vận hành theo sự chuyển 
động của các bánh xe, đẩy bằng tay nhờ một tay cầm và dùng để lau chùi 
các tấm thảm. 
Nhóm này không bao gồm máy quét có gắn môtơ (nhóm 84.79) 
(D) GIẺ LAU SÀN VÀ CHỔI PHẤT TRẦN BẲNG LÔNG VŨ. 
Giẻ lau sàn gồm một búi sợi dệt hoặc sợi thực vật gắn trên một tay cầm. 
Một số loại giẻ lau gồm một miếng ở đầu bằng chất liệu dệt hoặc chất 
liệu khác gắn với một khung hoặc đế khác gắn với tay cầm. Bao gồmgiẻ 
lau bụi, giẻ lau nước và giẻ bằng bọt biển dùng để lau khô hoặc ướt vết 

bẩn hoặc tràn chất lỏng, lau sàn, rửa chén… 
Chổi phất trần gồm một búi lông vũ gắn trên một tay cầm và được 
dùng để phủi bụi trên các đồ đạc, giá ngăn, cửa kính...Loại chổi phất trần 
khác thì phần lông vũ được thay thế bằng lông cừu, vật liệu dệt... được 
gắn cố định hoặc bọc quanh tay cầm. 
Nhóm này không bao gồm khăn lau làm bằng nguyên liệu dệt được 
thiết kế để dùng như là khăn lau tay hoặc gắn vào đầu khung của giẻ lau 
hoặc đế khác, khi chúng được để riêng lẻ (Phần XI). 
(E) TÚM, BÚI ĐÃ LÀM SẴN 
Theo Chú giải 3 của Chương này, nhóm này giới hạn ở các túm, búi làm 
bằng lông động vật, bằng sợi thực vật, tơ tổng hợp hoặc nhân tạo... chưa 
gá lắp, sẵn sàng để dùng mà không phải chia nhỏ thành chổi hoặc bàn 
chải, hoặc chỉ cần xử lý đôi chút như xén bằng đầu để lắp ráp. 
Bởi vậy, nhóm này không bao gồm, không kể đến những cái khác, các 
bó (hoặc các qui cách thương mại tương tự) các lông động vật, sợi tơ 
thực vật, các chất liệu khác chưa làm sẵn để làm chổi hoặc bàn chải. 
Nhóm này cũng không bao gồm tập hợp lông động vật hoặc sợi đã làm 
sẵn để làm chổi hoặc bàn chải, nhưng vẫn cần phải chia thành các túm 
nhỏ trước khi gắn vào đầu chổi hoặc bàn chải... 
Các túm, búi làm sẵn thuộc vào nhóm này, chủ yếu được dùng để làm 
chổi thoa xà phòng cạo râu, chổi sơn hoặc chổi vẽ. 
Để buộc chúng thành một bó chắc chắn, các túm (hoặc các búi) sợi 
thường được nhúng ngập đến khoảng một phần tư chiều dài thân vào véc 
ni hoặc một chất liệu phủ khác; đôi khi cũng cho thêm cả bụi mùn cưa để 
làm chắc thêm. Các búi hoặc túm được tra thêm khâu bịt cán (thông 
thường bằng kim loại) bị loại trừ và xếp vào nhóm (B) ở trên. 
Các túm hoặc búi đã làm sẵn trải qua công đoạn hoàn thiện khác (gọt 
tròn đầu, mài đầu sợi cho đủ độ mềm cần thiết...) sau khi đã gắn cán vẫn 
thuộc nhóm này. 
(F) MIẾNG THẤM VÀ CON LĂN ĐỂ QUÉT SƠN HOẶC VẼ; 

CHỔI CAO SU (TRỪ CHỔI CAO SU DÙNG CON LĂN) 
Các con lăn để quét sơn bao gồm con lăn được bọc bằng da cừu non 
hoặc chất liệu khác có gắn tay cầm. 
Miếng thấm bao gồm một mặt phẳng ví dụ bằng len dạ gắn trên phần 
thân cứng, thường bằng plastic; chúng có thể có tay cầm. 
Chổi cao su nói chung được làm bằng dải nhựa, cao su hoặc dạ kẹp giữa 
hai mảnh gỗ hoặc kim loại..., hoặc gắn trên một khối gỗ hoặc kim loại... 
và được dùng để quét dọn trên các bề mặt ẩm thấp 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm chổi cao su dùng con lăn, gồm 
một hoặc nhiều con lăn lắp trên một tay cầm và được dùng trong nghề 
chụp ảnh (nhóm 90.10). 
96.04 - Giần và sàng tay. 
Thuật ngữ "giầnvà sàng tay" chỉ các vật phẩm được làm bằng lưới lọc 
hoặc vật liệulưới khác (có kích cỡ mắt lưới khác nhau) được cố định trên 
một khung hình chữ nhật hoặc tròn (thường bằng gỗ hoặc bằng kim loại) 
và được dùng để tách các chất liệu rắn theo kích cỡ hạt. 
Chất liệu thông dụng nhất để làm lưới là: lông ngựa, sợi đơn nhân tạo, 
sợi tơ, ruột mèo xe, sợi kim loại (sắt hoặc thép, dây đồng,…). 
Nhóm này bao gồm: 
Giần và sàng tay tro, cát, hạt, đất vườn,...; sàng bằng vải thô; giần dùng 
trong gia đình (ví dụ, để rây bột) ; sàng dùng trong phòng thí 
nghiệm (để thử độ mịn của xi măng, cát làm khuôn đúc, phân bón, 
bột gỗ...) kể cả các loại sàng nối với nhau thành một lô; sàng chính 
xác để sàng đá quí hoặc bán quí (ví dụ, kim cương).  
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các sàng và giần mang tính chất các sản phẩm cố định (ví dụ phên 
mắt cáo hoặc lưới sắt đặt trên mặt đất để sàng đất hoặc sỏi, nói 
chung thuộc nhóm 73.26). 
(b)  Cái lọc giản đơn (ví dụ, để lọc pho mát) gồm một bộ phận chứa có 

đáy bằng kim loại đục lỗ; những chiếc phễu có thiết bị lọc; các chao 
lọc sữa, các cái lọc vôi, sơn, các dung dịch chống nấm... (nói chung 
thuộc Chương 73). 
(c)  Các giần và sàng được thiết kế gắn trên các máy móc hoặc thiết bị 
(ví dụ dùng cho công nghệ xay sát, trong nông nghiệp, để sàng đá, 
quặng...), các sản phẩm này được xếp loại như các bộ phận của máy, 
theo như Chú giải 2 của Phần XVI, nói chung  là cùng nhóm với 
máy mà chúng chỉ hoặc chủ yếu được thiết kế cho máy đó (ví dụ, 
nhóm 84.37 hoặc 84.74). 
96.05-Bộ đồ du lịch dùng cho vệ sinh cá nhân, bộ đồ khâu hoặc bộ 
đồ làm sạch giầy dép hoặc quần áo. 
Nhóm này bao gồm một số bộ đồ du lịch, gồm các vật phẩm riêng biệt 
thuộc các nhóm khác nhau của Danh mục, hoặc bao gồm các mặt hàng 
khác nhau của cùng một nhóm. 
Nhóm này bao gồm:  
(1) Bộ đồ dùng cho vệ sinh, đựng trong một túi bằng da, vải hoặc 
plastic..., có chứa, chẳng hạn, các hộp nhựa đúc, bàn chải, lược, kéo, 
nhíp, mài móng tay, gương, hộp đựng dao cạo, bấm móng tay. 
(2) Bộ đồ khâu vá, đựng trong một hộp bằng da, vải hoặc plastic, có 
chứa kéo, thước đo, cái xỏ chỉ, kim, chỉ, kim băng, đê, các cúc, và 
khuy bấm. 
(3) Bộ đồ chùi giầy dép, đựng trong một hộp bằng da, vải hoặc plastic 
hoặc bằng các tông tráng plastic, có chứa ví dụ bàn chải, một hộp 
hoặc một ống thiếc đựng xi và một giẻ lau bằng vải. 
Nhóm này không bao gồm bộ cắt sửa móng tay, chân (nhóm 82.14). 
Nhóm này cũng không bao gồm các bộ đồ do các hãng hàng không phát 
cho hành khách (trong các chuyến bay hoặc khi hạ cánh nếu không thấy 
hành lý) gồm túi vải có chứa các vật phẩm thuộc loại liệt kê tại các Mục 
từ (1) đến (3) nêu trên, mỹ phẩm, nước hoa hoặc đồ vệ sinh, khăn tay 
làm bằng loại bông nỉ xenlulô, nhưng cũng có khi cả đồ dệt may như bộ 
pygiama, áo chui đầu, quần dài, quần đùi.... Những vật phẩm trong các 

bộ đồ này có phân loại theo nhóm tương ứng của chúng. 
96.06-Khuy, khuy bấm, khoá bấm và khuy tán bấm, lõi khuy (loại 
khuy bọc) và các bộ phận khác của các mặt hàng này; khuy 
chưa hoàn chỉnh (button blank). 
9606.10 - Khuy bấm, khóa bấm và khuy tán bấm và bộ phận của 
chúng 
9606.21 - - Bằng plastic, không bọc vật liệu dệt 
9606.22 - - Bằng kim loại cơ bản, không bọc vật liệu dệt 
9606.29 - - Loại khác 
9606.30 - - Lõi khuy và các bộ phận khác của khuy; khuy chưa 
hoàn chỉnh 
Nhóm này bao gồm cúc, khuy rời và các loại tương tự dùng để cài hoặc 
trang điểm cho quần áo, đồ vải gia dụng, .... Chúng được làm bằng các 
vật liệu khác nhau và có thể chứa ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá 
quí hoặc đá bán quí (tổng hợp hoặc tái tạo), các kim loại quí hoặc kim 
loại mạ kim loại quí miễn là chúng chỉ chiếm một phần rất ít, nếu 
không chúng thuộc Chương 71.  
Các vật liệu chính dùng để làm cúc, khuy rời, v.v, là kim loại cơ bản, gỗ, 
ngà thực vật, cọ đum, xương, sừng, plastic, gốm, thuỷ tinh, ebônít, các 
tông ép, da, da tổng hợp, ngà, mai rùa hoặc xà cừ. Chúng có thể bao 
gồm sự kết hợp của những nguyên liệu này và có thể được bọc 
nguyên liệu dệt. 
Nhóm này bao gồm cả: 
(A) Khuy đục lỗ và khuy có chân. Chúng có thể có kích cỡ và hình 
dạng khác nhau tuỳ theo mục đích sử dụng (đồ lót, quần áo khoác 
ngoài, giầy dép...). 
Các khuy hình cầu được phân biệt với các hạt tròn ở chỗ lỗ để xỏ 
chỉ không xuyên qua tâm. 
Ở một số khuy có chân, phần chân ở dạng bản lề kiểu lò xo cho 

phép cố định khuy vào quần áo mà không phải khâu; loại khác (ví 
dụ loại "cúc mỏ neo") được đính vào đồ may mặc bằng một cơ chế 
khoá. 
 (B) Cúc bấm, khoá bấm và khuy tán bấm. Loại này gồm hai hoặc 
nhiều phần và hoạt động bằng cơ chế khoá. Chúng được thiết kế để 
có thể khâu hoặc tán vào đồ may mặc... (ví dụ, khuy bấm cho găng 
Các cúc bấm và loại tương tự vẫn được xếp vào nhóm này khi các 
bộ phận riêng lẻ được đính sẵn trên mặt dải ruy băng hẹp.  
Nhóm này cũng bao gồm: 
(1)  Khuôn cúc. Đó là phần bên trong hoặc cốt của một số loại cúc và 
được thiết kế để được phủ lên bằng vải, giấy, da... Chúng được phân 
loại vào đây chỉ khi chúng có thể nhận thấy rõ ràng được thiết kế 
để sản xuất cúc. Các loại khuôn này có thể làm bằng gỗ, bằng rễ cây 
orit(khác irit, cùng họ)... song loại phổ biến nhất gồm hai phần bằng 
kim loại; một phần được phủ vải..., trong khi phần kia gắn vào bên 
trong phần đầu và giữ cố định vải. 
(2)  Các bộ phận khác của khuy hoặc cúc có thể xác định được (ví dụ 
thân, đế, đầu). 
(3)  Khuy trơn. Loại này bao gồm: 
(i)  Khuy đúc trơn thu được từ quá trình đúc và chưa thể dùng làm 
khuy được. Thông thường chúng còn cần phải mài, đục lỗ và 
đánh bóng, nhưng có thể phân biệt được ngay là để sản xuất 
(ii)  Khuy kim loại dập trơn gồm hai bộ phận cấu thành (vỏ và đế) 
được thiết kế để gắn vào nhau.  
(iii) Khuy trơn làm bằng xà cừ (vỏ trai), dừa ngà, gỗ... đã gia 
công (ví dụ, mài tròn hoặc khoét rỗng một hoặc hai mặt, hoặc 
tạo hình bằng cách khác, có rìa cắt tỉa, đánh bóng, đục lỗ) khiến 
chúng có thể xác định rõ ràng là để làm khuy. Trái lại, một đĩa 

mới chỉ được cắt, gọt hoặc đánh bóng, nhưng chưa được gia 
công thêm không được xem là khuy trơn và sẽ phải phân loại 
theo vật liệu cấu thành. 
Nhóm này không bao gồm khuy măng sét (nhóm 71.03 hoặc 71.17). 
96.07 - Khóa kéo và các bộ phận của chúng. 
          - Khóa kéo: 
9607.11 - - Có răng bằng kim loại cơ bản 
9607.19 - - Loại khác 
9607.20 - Bộ phận 
Nhóm này bao gồm:  
(1) Các khoá kéo thuộc mọi kích thước và cho mọi mục đích sử dụng 
(quần áo, giầy, các đồ du lịch, v.v.) 
Đại bộ phận khoá kéo bao gồm hai dải hẹp làm bằng chất liệu dệt, 
rìa mỗi giải gắn các răng (bằng kim loại, plastic, v.v...)  có thể cài 
vào nhau nhờ một con trượt. Một loại khoá kéo khác gồm hai dải 
plastic, mỗi dải đều có rìa cấu tạo đặc biệt được thiết kế khoá hai 
bên lại với nhau bằng cách kéo con trượt. 
 (2) Các phụ tùng của khoá kéo, ví dụ răng xích, con trượt, cái mảnh 
khoá đuôi, đầu, và các dải dài khác nhau gắn răng xích (phéc mơ tuya). 
96.08- Bút bi; bút phớt và bút phớt có ruột khác và bút đánh dấu; 
bút máy, bút máy ngòi ống và các loại bút khác; bút viết giấy 
nhân bản (duplicating stylos); các loại bút chì bấm hoặc bút 
chì đẩy; quản bút mực, quản bút chì và các loại quản bút 
tương tự; bộ phận (kể cả nắp và kẹp bút) của các loại bút kể 
trên, trừ các loại thuộc nhóm 96.09. 
9608.10 - Bút bi 
9608.20 - Bút phớt và bút phớt có ruột khác và bút đánh dấu 
9608.30 - Bút máy, bút máy ngòi ống và các loại bút khác 

9608.40 - Bút chì bấm hoặc bút chì đẩy 
9608.50 - Bộ vật phẩm có từ hai mặt hàng trở lên thuộc các phân 
nhóm trên 
9608.60 - Ruột thay thế của bút bi, gồm cả bi và ống mực 
- Loại khác: 
9608.91 - - Ngòi bút và bi ngòi 
9608.99 - -  Loại khác. 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Các bút bi. Nói chung loại này có thân bút bao quanh ống mực với 
một đầu gắn bi. 
(2)  Các bút phớt, bút phớt có ngòi xốp khác và bút đánh dấu, bao 
gồm cả loại bút mực. 
(3)  Các bút máy (bút máy ngòi ống) và các loại bút khác (bơm, vỏ, 
pittông, ống chân không...)  đã hoặc chưa lắp ngòi bút hoặc bi ngòi 
bút. 
(4)  Bút viết giấy than. 
(5)  Bút chì bấm hoặc bút chì đẩy, loại có một hay nhiều thanh chì; 
kể cả thanh chì dự phòng chứa ở bên trong. 
(6)  Quản bút làm thành từ một hoặc nhiều bộ phận, có hoặc không có 
ngòi bút hoặc nắp đậy. 
(7)  Quản bút chì và quản bút tương tự (ví dụ quản bút màu, thân giữ 
than vẽ).  
CÁC PHỤ KIỆN 
Nhóm này cũng bao gồm các phụ tùng có thể xác định là của các mặt 
hàng trên, chưa nêu cụ thể ở nơi khác trong danh mục. Ví dụ: 
Ngòi bút thuộc mọi thể loại, kể cả ngòi bút chưa hoàn chỉnh mới được 
cắt theo hình ngòi bút, các kẹp, ống mực thay thế cho bút bi bao gồm cả 
bi và ống mực; quản bút bi và phớt làm bút đánh dấu; thiết bị điều chỉnh 
mực; ruột bút máy, bút chì; cơ chế hút bơm mực; túi mực bằng cao su 

hoặc bằng chất liệu khác; bộ phận bảo vệ bi; các bộ phận ngòi bút có thể 
thay mới (bao gồm ngòi bút, bộ phận tiếp mực và vòng nhẫn); bi ngòi 
bút là các viên bi nhỏ bằng hợp kim platin hoặc bằng một số loại hợp 
kim tungstene, dùng làm ngòi bút giúp chống mòn. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Ống mực để bơm cho bút máy (nhóm 32.15). 
(b) Bi bằng thép cho bút bi hoặc bút chì bi (nhóm 73.26 hoặc 84.82). 
(c)  Bút vẽ kỹ thuật (nhóm 90.17). 
(d)  Ruột chì (nhóm 96.09). 
96.09- Bút chì (trừ các loại bút chì thuộc nhóm 96.08), bút màu, ruột 
chì, phấn màu, than vẽ, phấn vẽ hoặc viết và phấn thợ may. 
9609.10 - Bút chì và bút chì màu, có lõi chì trong vỏ  
9609.20 - Ruột chì, đen hoặc màu 
9609.90 - Loại khác 
Các vật phẩm thuộc nhóm này chia làm hai loại: 
(A) Loại không có vỏ bọc (loại trần) hoặc được bọc đơn giản bằng băng 
giấy để bảo vệ (ví dụ phấn, than vẽ, ruột chì, một số loại chì màu, 
phấn mầu và bút chì đá). 
(B) Bút chì và chì màu, có lõi chì đặt trong vỏ gỗ hoặc plastic hoặc đôi 
khi đặt trong vỏ cứng gồm nhiều lớp giấy. 
Thành phần của ruột chì, của phấn, của phấn mầu và chì màurất đa dạng 
tuỳ theo cách dùng dự tính. 
Nhóm này bao gồm cả: 
(1) Bút chì đá làm bằng đá tự nhiên hoặc đá ép. 
(2) Phấn tự nhiên dạng que (thu được bằng cưa xẻ hoặc cắt). 
(3) Phấn chế biến, thường làm từ sunphát canxi hoặc sunphát và 
cácbônát canxi, đôi khi pha thêm chất mầu. 

(4) Than vẽ thường lấy từ việc đốt gỗ cành cây thành than. 
(5) Chì mầu và phấn màu, thường làm từ hỗn hợp phấn hoặc đất sét, 
chất mầu, gôm lắc hoặc sáp, cồn và nhựa thông. 
(6) Bút chì và chì màu có thanh chì ở trong vỏ. 
(7) Ruột chì (ví dụ, ruột chì đen, gồm hỗn hợp đất sét và than chì; chì 
màu, gồm oxit kim loại hoặc sắc tố khoáng khác kết hợp với đất sét, 
phấn hoặc sáp; ruột chì tô gồm đất sét chứa chất nhuộm như là 
anilin hoặc fuexin). 
(8) Chì in litô làm từ muội đèn, sáp, xà phòng, mỡ động vật. 
(9) Chì màu "gốm" làm từ chất mầu thuỷ tinh hoá, chất béo, bơ cacao, 
sáp,.. . 
Nhóm này cũng bao gồm cả các bút chì có gắn thêm tẩy hoặc các bộ 
phận khác. 
Nhóm này cũng bao gồm phấn dùng cho thợ may (được tạo thành bởi 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Phấn dạng thô (nhóm 25.09) 
(b)  Bút chì y tế (ví dụ trị chứng đau nửa đầu) (nhóm 30.04) 
(c)  Bút chì để trang điểm hoặc vệ sinh (chì kẻ mắt, chì cầm máu) 
(nhóm 33.04 hoặc 33.07) 
(d)  Phấn xoa đầu gậy bi-a (nhóm 95.04) 
96.10 - Bảng đá đen và bảng, có bề mặt dùng để viết hoặc vẽ, có hoặc 
không có khung. 
Nhóm này bao gồm bảng đá đen và bảng, rõ ràng được thiết kế để dùng 
để viết hoặc vẽ bằng bút chì đá, phấn hoặc bút dạ hoặc bút sợi đầu to (ví 
dụ, bảng đá cho học sinh, bảng đen và một số bảng thông báo). 
Các sản phẩm này, có hoặc không có khung, có thể làm bằng đá phiến, 

kể cả đá ép, hoặc làm bằng bất kỳ chất liệu nào khác (gỗ, giấy bồi, vật 
liệu dệt, amiăng ximăng ...), được đắp lên một hoặc hai mặt một chất bột 
đá hoặc bất kỳ một lớp sơn phủ nào khác thích hợp để viết hoặc một lớp 
Bảng hoặc bảng đá đen có chứa sẵn các ký hiệu (dòng kẻ, ô vuông, danh 
mục hàng hoá...) và có thể chứa các khung tính. 
Nhóm này không bao gồm các bảng dùng để viết hoặc vẽ nhưng chưa 
sẵn sàng để sử dụng (nhóm 25.14 hoặc 68.03). 
96.11- Con dấu ngày, con dấu niêm phong hay con dấu đánh số, và 
loại tương tự (kể cả dụng cụ để in hay dập nổi nhãn hiệu), 
được thiết kế để sử dụng thủ công; con dấu đóng để sử dụng 
thủ công và các bộ in bằng tay kèm theo các con dấu đó. 
Nhóm này bao gồm dấu đóng ngày, dấu niêm phong và các loại dấu 
tương tự và con dấu in chữ với điều kiện chúng là loại được thiết kế để 
sử dụng hoàn toàn thủ công (dấu đóng ngày, dấu niêm phong và các loại 
dấu tương tự có đế để cố định trên bàn,... hoặc được thiết kế để hoạt 
động trên giá bị loại trừ khỏi nhóm này, xem Chú giải chi tiết cho 
nhóm 84.72) 
Trong số các sản phẩm này có thể kể tới: 
(1)  Con dấu niêm phong dùng với sáp niêm phong có hay không có 
biểu tượng, có hoặc không có lắp tay cầm. 
(2)  Con dấu các loại, có hay không có băng in, hoặc thiết bị bôi mực tự 
động; ví dụ các dấu ngày tháng, dấu đa hình thể, dấu đóng thẻ và vé, 
dấu đập số (loại tự nhảy số hoặc không), dấu ổ quay, dấu bỏ túi 
(thường gồm một con dấu và miếng đệm mực trong hộp bảo vệ). 
(3)  Những con dấu đóng được thiết kế để tiếp nhận các ký tự có thể 
hoán đổi; một số con dấu đóng này có thể biểu hiện một dấu in cố 
định ký tự hoặc biểu trưng (ví dụ, dấu đóng bưu điện, trong đó 
người ta chỉ thay đổi các chỉ số ngày tháng). 

(4)  Các bộ in thủ công nhỏ (không phải là đồ chơi), gồm một hộp 
đựng một con dấu đóng thủ công, các chữ có thể hoán đổi, một cái 
kẹp và một hộp mực dấu. 
(5)  Dụng cụ đóng dấu lên vé thủ công có ngày và các ký tự khác, 
thậm chí có cả chức năng đục lỗ. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Kẹp chì, kẹp niêm phong và kẹp để đánh dấu gia súc (nhóm 82.03). 
(b) Dụng cụ dập nhãn hiệu (nhóm 82.05). 
(c)  Các con số, con chữ và các ký hiệu khác loại dùng cho máy in, chưa 
được lắp ráp (nhóm 84.42). Các loại ký tự khác chưa lắp ráp được 
phân loại theo vật liệu cấu thành. 
(d)  Các dấu đóng bằng tay có khay đế để đóng dấu nổi khô (nhóm 
(e)  Các máy đếm giờ để đóng dấu ghi nhận thời gian, ví dụ khi nhận 
thư... (nhóm 91.06). 
96.12 - Ruy băng máy chữ hoặc tương tự, đã phủ mực hay làm sẵn 
bằng cách khác để in ấn, đã hoặc chưa cuộn vào lõi hoặc nằm 
trong vỏ; tấm mực dấu, đã hoặc chưa tẩm mực, có hoặc 
không có hộp. 
9612.10 - Ruy băng 
9612.20 -Tấm mực dấu 
Nhóm này bao gồm:  
(1)  Các ruy băng, đã hoặc chưa cuộn vào thành ống hoặc để trong ruy 
băng dùng cho máy đánh chữ, máy tính hoặc bất kỳ loại máy nào 
khác có một thiết bị in bằng các ruy băng như vậy (cân tự động, máy 
chữ lập bảng, máy in têlê...) 
Nhóm này cũng bao gồm các ruy băng đã tẩm mực,v.v...thường có 

các phụ kiện cố định bằng kim loại,dùng cho máy đo khí áp, máy đo 
nhiệt độ... để in và ghi lại chuyển động của kim trong thiết bị ghi. 
Các ruy băng nói trên thường làm bằng chất liệu dệt, nhưng đôi khi 
chúng được làm bằng plastic hoặc bằng giấy. Để xếp vào nhóm này, 
các ruy băng phải được tẩm mực hoặc sẵn sàng để in ấn (ví dụ 
ngâm, thấm tẩm ruy băng dệt, hoặc tráng phủ dải ruy băng bằng 
plastic hoặc nhuộm màu, bôi mực lên ruy băng giấy,v.v.). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các cuộn dải giấy than hoặc giấy sao chép khác không phù hợp 
cho máy chữ, ..., ruy băng nhưng lại được thiết kế để sao chép 
trong máy tính, tại các quầy thu ngân.... Dải băng này thường 
rộng hơn ruy băng dùng cho máy chữ (thường rộng hơn 3cm). 
Chúng được xếp vào Chương 48. 
(b)  Các ruy băng không được bôi mực, không được tẩm, tráng... để 
có thể in; các ruy băng này có thể xếp vào Chương 39, của 
Phần XI... theo chất liệu cấu thành. 
(c)  Các cuộn băng rỗng (phân loại theo vật liệu cấu thành). 
(2) Tấm mực dấu đã hoặc chưa tẩm mực, dùng cho con dấu đóng 
ngày tháng,.... Nói chung chúng làm bằng chất liệu dạ, nỉ hoặc các 
chất liệu hút mực khác trên một giá bằng gỗ, bằng kim loại hoặc 
bằng plastic (thường ở dạng hộp). 
Các cuộn mực thao tác bằng tay không được xếp vào nhóm này và 
phân loại theo vật liệu cấu thành. 
96.13- Bật lửa châm thuốc lá và các bật lửa khác, có hoặc không 
dùng cơ hoặc điện, và các bộ phận của chúng trừ đá lửa và 
bấc. 
9613.10 - Bật lửa bỏ túi, dùng ga, không thể nạp lại 
9613.20 - Bật lửa bỏ túi, dùng ga, có thể nạp lại 
9613.80 - Bật lửa khác 
9613.90 - Bộ phận 

Nhóm này bao gồm:  
(1) Các bật lửa cơ. 
Loại này tạo ra tia lửa, thường bằng một bánh xe có cạnh giáp khi 
quay tiếp xúc với một viên đá lửa (thường bằng hợp kim fero-
(2) Các bật lửa điện: 
Dòng điện từ nguồn điện hoặc pin sinh ra tia lửa, hoặc ở một số 
dạng mà một số loại điện trở nóng đỏ sinh ra nhiệt. 
(3) Các bật lửa hoá học. 
Trong các dụng cụ này, chất xúc tác (thông thường là bạch kim xốp) 
nóng đỏ lên bởi một phản ứng xúc tác có sự hiện diện của khí ga. 
(4) Các bật lửa không dùng cơ. 
Một trong các kiểu của dụng cụ này bao gồm một bình chứa nhiên 
liệu, và một cần kim loại nhỏ có thể tháo mở được (cái đánh lửa) có 
gắn một điểm bằng thép ở đầu. Khi điểm thép quẹt vào đá gắn phía 
bên ngoài bình nhiên liệu, một tia lửa phát ra làm cháy vật liệu dễ 
bắt lửa đặt gần điểm quẹt. 
Bật lửa xếp trong nhóm này có thể thuộc loại bỏ túi, hoặc đặt trên bàn, 
hoặc có thể được thiết kế để gắn trên tường, gắn vào bếp ga... nhóm này 
cũng bao gồm các bật lửa loại dùng trong xe hơi hoặc xe cộ khác. 
Các bật lửa kết hợp với các đồ vật khác (ví dụ, hộp đựng thuốc lá, hộp 
phấn, đồng hồ nói chung có mặt hiển thị số, máy tính điện tử) được phân 
loại theo các Qui tắc giải thích tổng quát. 
Nhóm này cũng bao gồm các bộ phận có thể xác định là của bật lửa (ví 
dụ, vỏ bật lửa, bánh xe đánh lửa, bình chứa nhiên liệu rỗng hoặc đầy). 
Nhóm này không bao gồm các bộ phận đánh lửa của nhóm 36.03, đá 
lửa (nhóm 36.06), bấc (nhóm 59.08 hoặc 70.19) hoặc nhiên liệu đóng 
trong các bình chứa (lọ, chai, can...) thuộc loại dùng để cung cấp hoặc 
bơm lại cho bật lửa châm thuốc lá hoặc các loại bật lửa tương tự (nói 
chung nhóm 36.06). 
96.14- Tẩu thuốc (kể cả điếu bát) và đót xì gà hoặc đót thuốc lá, và  96.14- Smoking pipes (including pipe bowls) and cigar or cigarette 

bộ phận của chúng. 
Nhóm này bao gồm:  
(1) Tẩu thuốc các loại (kể cả tẩu dài của người da đỏ Bắc Mỹ, tẩu dài 
của người Thổ Nhĩ Kỳ, điếu ống,...). 
(2) Bát điếu. 
(3) Đót thuốc lá và xì gà. 
(4) Khối gỗ nhỏ hoặc rễ cây thạch thảo trắng được đẽo gọt thô thành 
hình để làm tẩu. 
Các vật liệu thường dùng nhất để sản xuất những sản phẩm này (hoặc 
thân, đầu tẩu hoặc các bộ phận khác) là đất nung và các vật liệu sứ khác, 
gỗ (hoàng dương, anh đào, ...), rễ cây thạch thảotrắng, hổ phách, bọt 
biển, nhựa côpan, ngà, xà cừ, êbônít, xteatit và đất sét. 
Nhóm này cũng bao gồm các bộ phận sau: thân và đầu tẩu; nắp tẩu; bát 
điếu; dụng cụ nhồi thuốc; các bộ phận bên trong (kể cả đầu lọc),....  
Nhóm này loại trừ: 
(a) Các đồ phụ trợ (ví dụ, cái nạo điếu và giẻ lau ống điếu...); chúng xếp 
vào các nhóm tương ứng của chúng. 
(b) Thiết bị điện tử dùng cho thuốc lá điện tử và các thiết bị điện hóa hơi 
cá nhân tương tự, có hoặc không có hình dạng tẩu thuốc hoặc tẩu nước 
(nhóm 85.43). 
96.15- Lược, trâm cài tóc và loại tương tự; ghim cài tóc, cặp uốn tóc, 
kẹp uốn tóc, lô cuộn tóc và loại tương tự, trừ các loại thuộc 
nhóm 85.16, và bộ phận của chúng. 
- Lược, trâm cài tóc và loại tương tự: 
9615.11 - -Bằng cao su cứng hoặc plastic 
9615.19 - - Loại khác 
9615.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm:  
(1) Lược vệ sinh các loại,  kể cả lược chải cho động vật. 

(2) Lược chải tóc các loại, cho trang điểm cá nhân hoặc để giữ tóc theo 
nếp. 
(3) Trâm cài tóc và các loại tương tự để tóc theo nếp hoặc để trang 
điểm. 
Những loại lược này thường bằng nhựa, ngà, xương, sừng, mai rùa, 
kim loại, v.v.. 
(4)  Kẹp tóc. 
(5)  Kẹp uốn tóc, cặp uốn tóc, cuộn uốn tóc và các loại tương tự, trừ 
loại thuộc nhóm 85.16, đã hoặc chưa bọc hoặc lót bằng vật liệu dệt, 
cao su hoặc bằng các vật liệu khác. 
Các sản phẩm này thường bằng kim loại cơ bản hoặc bằng plastic. 
Những sản phẩm này xếp vào Chương 71 nếu chứa kim loại quí hoặc 
kim loại mạ kim loại quí, chứa ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quí 
hoặc bán quí (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo),trừ loại có hàm lượng các 
chất trên quá nhỏ. 
Nhóm này loại trừ băng buộc đầu bằng chất liệu dệt (Phần XI) 
96.16-Bình, lọ xịt nước hoa hoặc bình, lọ xịt để trang điểm tương tự, 
và các bộ phận gá lắp và đầu xịt của chúng; miếng và tấm để 
xoa và chấm mỹ phẩm hoặc các sản phẩm trang điểm. 
9616.10 - Bình, lọ xịt nước hoa hoặc bình, lọ xịt để trang điểm 
tương tự, và các bộ phận gá lắp và đầu xịt của chúng 
9616.20 - Miếng và tấm để xoa và chấm mỹ phẩm hoặc các sản 
phẩm trang điểm 
Nhóm này bao gồm:  
(1)  Bình xịt nước hoa, gôm chải tóc và các loại bình xịt tương tự... 
loại để bàn, hoặc bỏ túi, và loại dùng cho cá nhân hoặc chuyên 
ngành. Chúng bao gồm một bình chứa, nói chung dạng lọ (bằng 
thuỷ tinh, plastic, kim loại hoặc chất liệu khác), trên lọ có gắn vòi; 
vòi này gắn chặt với một đầu (với cơ chế tạo bụi nước) và một quả 
bóp áp lực hơi (đôi khi bọc trong lưới làm bằng chất liệu dệt) hoặc 
một thiết bị píttông. 

(2)  Vòi bình xịt vệ sinh. 
(3)  Đầu của vòi bình xịt vệ sinh. 
(4)  Miếng và tấmdùng cho các loại mỹ phẩm hoặc chế phẩm vệ sinh 
(phấn thoa mặt, phấn hồng, bột tan...). Chúng có thể được làm bằng 
mọi chất liệu (lông vịt hoặc lông ngỗng, da, lông súc vật, nhung 
hoặc vải lông, mút cao su...) và dù chúng có tay cầm hoặc có trang 
trí bằng ngàhay không, bằng vỏ sò, xương, vật liệu plastic, kim loại 
thường, kim loại quí, hoặc kim loại mạ kim loại quí. 
Nhóm này không áp dụng cho: 
(a)  Vật chứa (lọ, bình, chai,...) dùng cho bình xịt, ở dạng riêng lẻ (được 
phân loại theo vật liệu cấu thành). 
(b)  Quả bơm taybằng cao su (nhóm 40.14) 
(c)  Dụng cụ tạo bụi nước hoặcphun sương của nhóm 84.24. 
(d)  Máy phun hơi của nhóm 84.76. 
96.17- Phích chân không và các loại bình chân không khác, hoàn 
chỉnh; bộ phận của chúng trừ ruột thủy tinh. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Các phích chân không và các bình chân không tương tự khác, 
với điều kiện chúng hoàn chỉnh. Nhóm này bao gồm các bình chân 
không, bình có tay cầm, lọ ... được thiết kế để giữ các chất lỏng, các 
đồ ăn hoặc các sản phẩm khác ở nhiệt độ tương đối ổn định trong 
một thời gian hợp lý. Các mặt hàng thường này gồm một bình có hai 
lớp vách ngăn (bên trong), thường bằng thủy tinh, với lớp chân 
không ở giữa hai vách ngăn đó, phía ngoài có một lớp vỏ bảo vệ 
bằng kim loại, bằng plastic, hoặc vật liệu khác, đôi khi được bọc bởi 
lớp giấy, da, vải giả da. Khoảng không giữa bình thuỷ tinh và vỏ 
phích có thể được nhồi các vật liệu cách nhiệt (sợi thuỷ tinh, li-e 
hoặc phớt). Nhóm này cũng bao gồm các bình cách nhiệt chân 
không bằng thép không gỉ hai lớp không có vỏ bảo vệ bên ngoài, có 
chức năng giữ nhiệt. Trong trường hợp các phích chân không, nắp 

đậy có thể được dùng như cốc uống. 
(2)  Vỏ ngoài, nắp đậy và cốc uống bằng kim loại, plastic... dùng cho 
phích chân không hoặc các loại bình chân không khác. 
Nhóm này không bao gồm các đồ thủy tinh bên trong khi để riêng 
(nhóm 70.20). 
96.18- Ma-nơ-canh dùng trong ngành may và các mô hình cơ thể 
khác; mô hình tự động và các vật trưng bày cử động được 
khác dùng cho cửa hàng may mặc. 
Nhóm này bao gồm:  
(1)  Ma-nơ-canh dùng trong ngành may. 
Đây là các mô hình cơ thể người được dùng để ướm thử quần áo 
trong khi may ; nói chung, các sản phẩm này được làm theo hình 
dáng của thân người. Chúng thường được đúc từ giấy nghiền, thạch 
cao, plastic..., nhưng một số mẫu được làm bằng vật liệu đan như 
mây, liễu gió và sậy. Các hình đúc thông thường được phủ bằng vật 
liệu dệt, và nói chung được đặt trên đế mà nhờ đó từ mặt đất có thể 
điều chỉnh được chiều cao cuả mẫu. 
(2)  Các manơcanh khác và các vật tương tự.  
Đây là hình cơ thể người hoặc các bộ phận của cơ thể người (ví dụ, 
đầu, mình, chân, cánh tay, tay) chủ yếu dùng để trình bầy quần áo, 
mũ, tất, găng... Các hình này, …ðýợc làm bằng chất liệu ðýợc nêu 
tại ðiểm (1) trên ðây. Trong trýờng hợp các vật mẫu thể hiện toàn bộ 
thân thể ngýời, các chi thýờng ðýợc nối khớp ðể làm cho các mẫu có 
thể ðýợc ðiều chỉnh theo nhiều tý thế khác nhau. Các mô hình này 
cũng còn được dùng làm mẫu cho nghệ sĩ và nhà điêu khắc, sinh 
viên y khoa thực tập các phương pháp băng bó, nẹp xương,…. 
Nhóm này không bao gồm các hình bóng hoặc chụp nghiêng của 
các mô hình, mặc dù đôi khi được dùng để trình bày một số vật 
phẩm, thường sử dụng để làm dấu chỉ dẫn. Mặt hàng này thường 
maché, plaster, plastics, etc., but some are made from certain 

chúng được làm bằng gỗ, bằng các tông hoặc kim loại và được phân 
loại theo vật liệu cấu thành. 
(3)  Mô hình tự động và các vật trưng bày cử động được khác dùng 
cho cửa hàng may mặc. 
Phạm vi nhóm này gồm từ các mô hình ở dạng hình người hoặc hình 
động vật cho đến những thiết bị điều khiển tự động khác thuộc loại 
dùng để trưng bày hàng hóa hoặc cho mục đích quảng cáo. Chúng 
được làm bằng mọi chất liệu và nói chung hoạt động bằng điện hoặc 
bằng cơ. Tuy bản thân chúng thường gây nên sự tò mò, nhưng chủ 
yếu chúng được sử dụng như là các phương pháp mới lạ thu hút sự 
chú ý đối với các hàng hoá trưng bày hoặc các mặt hàng nào đó 
trưng bày trong tủ kính. Hình thức của chúng có thể khác nhau tuỳ 
theo nội dung của hàng hoá, hoặc dịch vụ được quảng cáo. Chúng 
không chỉ là một phương tiện trình bày hấp dẫn mà trong một số 
trường hợp, nhờ minh họa bằng sự di chuyển hợp lý chúng cho thấy 
chất lượng, phương thức vận hành... của các hàng hoá trưng bày. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Máy hoặc các mẫu, được thiết kế chỉ cho mục đích minh hoạ của 
nhóm 90.23. 
(b)  Búp bê và đồ chơi (Chương 95). 
96.19 -  Băng vệ sinh (miếng) và băng vệ sinh dạng ống (tampon), 
khăn (bỉm), tã lót và các vật phẩm tương tự, bằng mọi vật 
liệu. 
Nhóm này bao gồm băng (miếng) và nút bông vệ sinh, khăn và tã lót và 
các vật phẩm tương tự, kể cả miếng thấm sữa, tã lót dành cho người lớn 
khi mắc bệnh đi tiểu không tự chủ và băng vệ sinh bằng mọi chất liệu. 
Thông thường, hàng hóa thuộc nhóm này được sử dụng một lần. Nhiều 

mặt hàng bao gồm (a) một lớp bên trong (ví dụ, bằng vải không dệt) 
được thiết kế để thấm chất lỏng từ da của người mặc và do đó ngăn ngừa 
sự kích ứng hoặc cọ sát của da; (b) một lớp thấm để hút và chứa chất 
lỏng cho tới khi sản phẩm không dùng được nữa; và (c) một lớp bên 
ngoài (ví dụ, bằng plastic) để ngăn chất lỏng trào ra khỏi lớp thấm. Sản 
phẩm thuộc nhóm này thường đã được tạo hình để vừa với cơ thể người. 
Nhóm này cũng bao gồm những sản phẩm truyền thống tương tự chỉ 
được làm bằng nguyên liệu dệt, và những mặt hàng này thường sử dụng 
lại được và giặt là được.  
Nhóm này không bao gồm sản phẩm như tấm phủ một lần dùng trong 
phẫu thuật và miếng thấm để trải giường trong bệnh viện,  bàn mổ và xe 
lăn hoặc miếng gắn vào ngực không thấm (dùng để ngăn sữa chảy) hoặc 
các sản phẩm không thấm khác (thông thường, được phân loại theo vật 
liệu cấu thành nên chúng). 
96.20 - Chân đế dạng đơn, dạng hai chân, ba chân và các sản phẩm 
tương tự. 
Nhóm này bao gồm các chân đế dạng đơn, dạng hai chân, ba chân và 
các loại tương tự, được sử dụng như công cụ hỗ trợ cho máy ảnh, máy 
quay video, dụng cụ chính xác, vv, để giảm chuyển động ngẫu nhiên. 
Chúng có thể được mở rộng và thường là xách tay và có thể được trang 
bị một thiết bị hỗ trợ mở nhanh chóng hoặc đầu giá để dễ lắp đặt và mở 
máy, dụng cụ. Những sản phẩm này này có thể được làm bằng vật liệu 
bất kỳ, ví dụ, gỗ, nhôm, carbon hoặc bằng một sự kết hợp giữa các vật 
liệu đó 
Một chân đế dạng đơn là một dụng cụ hỗ trợ một chân, đôi khi được 
gọi là "unipod". Một chân đế hai chân là một dụng cụ hỗ trợ hai chân để 
cung cấp sự ổn định dọc theo hai trục chuyển động. Một chân đế ba 
chân là một đế đứng ba chân, cung cấp sự ổn định đáng kể cho các thiết 
bị hỗ trợ. 
Đối với mục đích của nhóm này, khái niệm "sản phẩm tương tự" đề cập 
đến các thiết bị với bốn hoặc nhiều chân, có chức năng tương tự như các 
chân đế một chân, hai chân và chân đế ba chân trong việc làm giảm 

chuyển động ngẫu nhiên. Cây chụp ảnh tự sướng, loại được biết đến là 
"gậy chụp ảnh tự sướng", thiết kế để cầm trong tay, chứ không phải 
đứng trên mặt đất, để tự chụp chân dung ( "Ảnh tự sướng") bằng cách 
đặt một điện thoại thông minh, camera chụp ảnh, một máy ảnh kỹ thuật 
số hoặc một máy quay video trong một khay có thể điều chỉnh vào cuối 
của thanh, cũng thuộcnhóm này, dù có hoặc không được trang bị điều 
khiển từ xa có dây hoặc không dây để lấy hình ảnh. 
Nhóm này không bao gồm : 
(a) Chân đế dùng cho microphones (nhóm  85.18). 
 (b)  Chân đế dùng để giữ một dụng cụ (chẳng hạn, giữtrống thùng 
hoặc giữ kèn saxophones) (nhóm 92.09). 
(c) Chân đế dạng đơn, dạng hai chân, ba chân và các sản phẩm tương 
tự được thiết kế đặc biệt để sử dụng với các sản phẩm thuộc  
Chương 93.”. 

Phần XXI 
CÁC TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT, ĐỒ SƯU TẦM VÀ ĐỒ CỔ 
Chương 97 
Các tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm và đồ cổ 
Chú giải. 
1.- Chương này không bao gồm: 
(a)  Tem bưu chính hoặc tem thuế chưa sử dụng, bưu thiếp (đã đóng 
sẵn tem) hoặc loại tương tự, thuộc nhóm 49.07; 
(b)  Phông sân khấu, phông trường quay hoặc loại tương tự, bằng 
vải canvas đã sơn vẽ (nhóm 59.07) trừ khi chúng có thể phân 
loại được vào nhóm 97.06; hoặc 
(c)  Ngọc trai, tự nhiên hoặc nuôi cấy, hoặc đá quý hoặc đá bán quý 
(thuộc các nhóm từ 71.01 đến 71.03). 
2.-  Nhóm 97.01 không áp dụng cho tranh khảm được tái sản xuất hàng 
loạt, đồ đúc hoặc tác phẩm thủ công thông thường có tính chất 
thương mại, ngay cả khi các sản phẩm này được thiết kế hoặc tạo ra 
bởi các nghệ sĩ. 
3.-  Theo nội dung của nhóm 97.02, khái niệm “bản khắc, bản in và bản 
in lytô nguyên bản” có nghĩa là các bản in được in trực tiếp, đen và 
trắng hoặc in màu, bằng một hoặc một vài bản kẽm do các nghệ 
nhân thực hiện hoàn toàn bằng tay, không phân biệt quy trình hoặc 
loại nguyên liệu mà họ sử dụng, nhưng không bao gồm quá trình cơ 
học hoặc quang cơ. 
4.-  Nhóm 97.03 không áp dụng đối với các phiên bản hoặc tác phẩm 
được sản xuất hàng loạt bằng kỹ năng thông thường phục vụ cho 
mục đích thương mại, cho dù mặt hàng này được thiết kế hoặc tạo ra 
bởi các nghệ nhân. 
5.-   (A) Theo các Chú giải từ 1 đến 4 nêu trên, các mặt hàng thuộc 
Chương này phải được phân loại vào Chương này và không 
được phân loại vào bất kỳ Chương nào khác của Danh mục. 

(B) Nhóm 97.06 không áp dụng cho những mặt hàng thuộc các nhóm 
trên đây của Chương này. 
6.-  Khung của các bức tranh vẽ, tranh phác hoạ, tranh bột màu, hình 
ghép nghệ thuật hoặc phù điêu trang trí tương tự, bản khắc, bản in 
hoặc bản in lytô được phân loại cùng với các vật phẩm này, với điều 
kiện là chúng cùng chủng loại và có giá trị tương ứng với các mặt 
hàng này. Các loại khung mà không cùng chủng loại hoặc không có 
giá trị tương ứng với các vật phẩm được đề cập trong Chú giải này 
được phân loại riêng.  
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm: 
(A) Một số loại tác phẩm nghệ thuật nhất định: tranh vẽ, bản vẽ và tranh 
phấn màu, thể hiện hoàn toàn bằng tay, và các tác phẩm ghép nghệ 
thuật, tranh khảm và bức phù điêu trang trí tương tự (nhóm 97.01); 
các nguyên bản khắc, bản in, bản in li tô (nhóm 97.02); các nguyên 
bản tác phẩm điêu khắc và tượng tạc (nhóm 97.03). 
(B) Tem bưu điện, tem thuế và các loại tem tương tự, dấu tem bưu điện, 
phong bì có tem đóng dấu ngày phát hành đầu tiên, các ấn phẩm bưu 
chính (ấn phẩm đóng dấu tem) và các vật phẩm tương tự đã sử dụng 
hoặc chưa, ngoại trừ những loại thuộc nhóm 49.07 (nhóm 97.04). 
(C)  Bộ sưu tập và đồ sưu tầm về động vật học, thực vật học, khoáng vật 
học, giải phẫu học, lịch sử, khảo cổ học, cổ sinh vật học, dân tộc 
học, bộ sưu tập tiền cổ (nhóm 97.05). 
(D)  Đồ cổ có tuổi hơn 100 năm (nhóm 97.06). 
Các mặt hàng của Chương này có thể bao gồm các mặt hàng có ý nghĩa 
văn hóa bị hạn chế xuất khẩu hoặc nhập khẩu. 
Tuy nhiên, cần lưu ý, các vật phẩm này sẽ được xếp vào các Chương 
khác của Danh mục, nếu chúng không phù hợp với các điều kiện nêu tại 

Chú giải hoặc nhóm của Chương này. 
Các vật phẩm thuộc các nhóm từ 97.01 đến 97.05 vẫn được xếp vào các 
nhóm đó mặc dù chúng có trên 100 năm tuổi. 
97.01- Tranh vẽ, tranh phác họa và tranh bột màu, được vẽ hoàn 
toàn bằng tay, trừ các loại tranh phác họa thuộc nhóm 49.06 
và trừ các tác phẩm vẽ hoặc trang trí bằng tay; các tác phẩm 
ghép, tranh khảm và phù điêu trang trí tương tự. 
- Có tuổi trên 100 năm: 
9701.21 - - Tranh vẽ, tranh phác họa và tranh bột màu 
9701.22 - - Tranh khảm 
9701.29 - - Loại khác 
              - Loại khác: 
9701.91 - - Tranh vẽ, tranh phác họa và tranh bột màu 
9701.92 - - Tranh khảm 
9701.99 - - Loại khác 
(A) TRANH VẼ, BẢN VẼ VÀ TRANH BỘT MÀU VẼ HOÀN 
TOÀN BẰNG TAY, TRỪ CÁC BỨC VẼ THUỘC NHÓM 
49.06 VÀ CÁC PHIÊN BẢN CỦA CÁC TÁC PHẨM 
ĐƯỢC VẼ HOẶC TRANG TRÍ BẰNG TAY 
Nhóm này bao gồm các tranh vẽ, bản vẽ và tranh bột màu (dù là tranh cổ 
hay hiện đại), được thực hiện hoàn toàn bằng tay. Các tác phẩm này có 
thể là tranh sơn dầu, sáp màu, keo màu, tranh acrylic, tranh màu nước, 
tranh bột màu nước, tranh bột màu, bản vẽ thu nhỏ, bản vẽ tay có dạ 
quang, bản vẽ chì (gồm cả bản vẽ Conte), bản vẽ than hoặc bản vẽ bút 
sắt... được thể hiện trên bất cứ chất liệu nào. 
Vì các tác phẩm này phải hoàn toàn được thực hiện bằng tay nên các sản 
phẩm làm hoàn toàn hoặc một phần bằng một quy trình khác không bằng 
tay đều bị loại khỏi nhóm này.Ví dụ, các bức tranh, dù được thể hiện 
trên vải hay chất liệu khác, thu được nhờ quy trình nhân bản quang cơ; 
manuscripts, pencil drawings (including Conté drawings), charcoal or 

các bức tranh vẽ tay trên một phác thảo có sẵn hoặc trên một bức vẽ 
được in hoặc khắc sẵn thông thường; các “bản sao thực” của tranh vẽ, 
thu được bằng cách sử dụng một số khung lọc hoặc khuôn tô, ngay cả 
khi các bản copy đó được xác thực bởi tác giả. 
Tuy nhiên, các bản sao chép tranh vẽ vẫn thuộc nhóm này, bất kể giá trị 
nghệ thuật của chúng ra sao, nếu chúng được làm hoàn toàn bằng tay. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Các bản thiết kế và bản vẽ  dùng cho mục đích công nghiệp, kiến 
trúc hoặc kỹ thuật, là bản vẽ gốc bằng tay (nhóm 49.06). 
(b)  Các mẫu thiết kế hoặc các bức vẽ về thời trang, vàng bạc mỹ nghệ, 
giấy dán tường, vải, đồ nội thất có bản vẽ gốc bằng tay (nhóm 
(c)  Phông sân khấu, phông trường quay hoặc đồ vật tương tự, làm bằng 
vải canvas (vải bố) đã vẽ (nhóm 59.07 hoặc 97.06). 
(d)  Các đồ vật phiên bản trang trí bằng tay, như lớp phủ tường gồm lớp 
vải dệt vẽ tay, quà kỷ niệm ngày nghỉ, các loại hộp và  hòm, đồ sứ 
(đĩa, bình...). Chúng được phân loại theo các nhóm riêng tương ứng. 
(B) CÁC TÁC PHẨM HÌNH GHÉP NGHỆ THUẬT, TRANH 
KHẢM VÀ PHÙ ĐIÊU TRANG TRÍ TƯƠNG TỰ 
Nhóm này bao gồm các tác phẩm hình ghép nghệ thuật và phù điêu trang 
trí tương tự, gồm các mảnh nhỏ làm từ chất liệu động vật, thực vật hoặc 
chất liệu khác, được lắp ráp để tạo thành một bức tranh hoặc mẫu thiết 
kế, hoặc hình mẫu, được gắn hoặc dán trên một đế làm bằng gỗ, giấy 
hoặc vật liệu dệt. Nền tranh có thể để trơn, hoặc vẽ, hoặc in trang trí, 
hoặc theo các phần của bức tranh ghép, tạo nên các phần của thiết kế 
tổng thể. Các hình ghép nghệ thuật được phân loại theo chất lượng từ các 
mặt hàng rẻ tiền sản xuất hàng loạt để bán lẻ, ví dụ như đồ lưu niệm, cho 
tới các sản phẩm có yêu cầu cao về tay nghề và có thể là các tác phẩm 
nghệ thuật đích thực. 
Theo mục đích của nhóm này, thuật ngữ “phù điêu trang trí tương tự” 

không bao gồm các đồ vật được cấu thành từ chỉ một mảnh nhỏ của 
một chất liệu, cho dù chúng được gắn hoặc dán trên một tấm để, những 
đồ vật này được mô tả cụ thể hơn trong các nhóm khác của Danh mục, ví 
dụ như “đồ vật trang trí” bằng plastic, hoặc gỗ, kim loại thường... Các đồ 
vật như vậy được phân loại theo nhóm phù hợp (nhóm 44.20, 
Các bức tranh khảm của nhóm này được thực hiện bằng tay, tạo cho 
chúng đặc tính độc bản và không thể sao chép. Chúng được tạo ra bằng 
cách ghép các mảnh nhỏ bằng nhiều loại vật liệu khác nhau (được gọi là 
“tesserae”) lại với nhau tạo thành một bố cục gồm các hình vẽ, họa tiết 
hoặc mô hình hình học. Tranh khảm bao gồm các mảnh đá cứng, đất 
nung, gốm sứ, đá cẩm thạch, men, thủy tinh màu hoặc gỗ, có nhiều màu 
sắc khác nhau. 
Tranh khảm vẫn được phân loại vào nhóm 97.01 bất kể chúng được sản 
xuất vào thời điểm nào, miễn là chúng không mang tính chất thương 
mại, ví dụ, các bản sao được sản xuất hàng loạt, đồ đúc hoặc tác phẩm 
thủ công thông thường có tính chất thương mại, như được mô tả trong 
Chú giải 2 của Chương này. 
Các loại khung tranh, bức vẽ, tranh bột màu, hình ghép nghệ thuật hoặc 
phù điêu trang trí tương tự sẽ được phân loại cùng với các đồ vật trong 
nhóm này chỉ khi chúng thuộc loại và có giá trị phù hợp với các đồ vật 
nêu trên; trường hợp khác, các khung đó được phân loại riêng biệt theo 
các nhóm phù hợp như đồ vật bằng gỗ, kim loại... (xem Chú giải 6 của 
Chương này). 
97.02 - Nguyên bản các bản khắc, bản in và bản in lytô. 
9702.10 - Có tuổi trên 100 năm 
9702.90 - Loại khác 

Nhóm này bao gồm các nguyên bảncủa bản khắc, bản in và bản in lyto 
(cổ điển hoặc hiện đại), ví dụ, các bản in trực tiếp, đen trắng hoặc màu, 
từ một hoặc nhiều bản gốc được tác giả thực hiện hoàn toàn bằng tay, 
không phụ thuộc vào quy trình làm và vật liệu chế tạo của tác giả đó, 
nhưng loại trừ các quy trình cơ khí hoặc quang cơ (xem Chú giải 3 của 
Chương này) 
Nếu thỏa mãn các điều kiện mô tả trên đây, nhóm này bao gồm cả các 
vật nguyên bản, bản in lytô thực hiện bằng kỹ thuật đồ lại (trong đó với 
kỹ thuật in lytô, tác giả trước hết tạo bản vẽ của mình trên một loại giấy 
đặc biệt, sau đó chuyển mẫu thiết kế đó sang đá in). 
Bản in như trên được chế tạo từ các bản khắc theo các quy trình khác 
nhau, ví dụ như bản khắc sử dụng các đường nét, các điểm, bằng nước 
cường-toan (quy trình dùng axit), hoặc tạo các tập hợp điểm. 
Các nguyên bản in vẫn thuộc nhóm này, ngay cả khi chúng được sửa 
sang lại. 
Thường khó phân biệt giữa các bản gốc và bản sao, đồ vật giả hoặc đồ 
nhái, nhưng tương quan số lượng bản in nhỏ và chất lượng giấy có thể 
hữu dụng trong việc xác định bản gốc; mặt khác việc sử dụng màn trung 
gian (trong thuật khắc ảnh trên bản kẽm), và trong phần lớn các trường 
hợp, việc thiếu các dấu vết của bản gốc trên giấy, là bằng chứng chỉ ra 
đó là bản sao hoặc bản nhái được chế tạo lại. 
Các khung của bản khắc, bản in hoặc bản in lytô cũng được phân loại 
cùng các đồ vật đó trong nhóm này chỉ khi chúng thuộc loại và có giá trị 
phù hợp với các đồ vật đó; trong trường hợp khác, các loại khung được 
phân loại riêng biệt trong các nhóm tương ứng như đồ vật gỗ, kim loại ... 
(xem Chú giải 6 của Chương này). 
Cần lưu ý nhóm này loại trừ các bản khắc từ đồng, kẽm, gỗ, đá  hoặc 
vật liệu khác (thuộc nhóm 84.42). 

97.03 - Nguyên bản tác phẩm điêu khắc và tượng tạc, làm bằng mọi 
loại vật liệu. 
9703.10 - Có tuổi trên 100 năm 
9703.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các tác phẩm điêu khắc, tượng, cổ điển hoặc hiện 
đại. Chúng có thể được làm bằng bất cứ chất liệu nào (đá, đá hoàn 
nguyên, đất nung, gỗ, ngà, kim loại, sáp...), dưới dạng hình tròn, chạm 
chìm hoặc chạm nổi (tượng, tượng bán thân, tượng nhân vật, nhóm 
tượng, hình thú... gồm cả các hình đắp nổi dùng trong mục đích kiến 
trúc). 
Các đồ vật này có thể được chế tạo bằng nhiều cách khác nhau: tác giả 
có thể tác động trực tiếp lên vật liệu rắn, hoặc dùng vật liệu mềm để tạo 
hình, sau đó đổ khuôn đúc bằng đồng hoặc thạch cao, hoặc nung, hoặc 
làm cứng bằng cách khác, hoặc tái tạo bằng đá hoa cương hoặc vật liệu 
cứng khác. 
Trong quy trình tiếp theo, tác giả thường thực hiện các bước sau: 
Anh ta bắt đầu phác thảo ý tưởng của mình dưới dạng một mô hình, 
cũng thường được gọi là ma ket (thường là mẫu thu nhỏ), bằng đất sét 
hoặc bằng vật liệu plastic khác. Trên cơ sở mô hình này, anh ta dùng 
“đất sét” để tạo ra tác phẩm mẫu. Hình mẫu bằng đất sét này ít khi được 
đem bán, nhưng thường bị hủy sau khi đã làm khuôn đúc một số rất ít 
các bản sao mà nghệ sĩ đã định trước, hoặc để lưu trong bảo tàng để học 
tập. Các tác phẩm tái tạo này, trước tiên gồm “mẫu thạch cao” sản xuất 
trực tiếp từ “mẫu đất sét”. “Mẫu thạch cao” này được dùng như mô hình 
để thực hiện tác phẩm bằng đá hoặc bằng gỗ, hoặc dùng để làm khuôn 
đúc bằng kim loại hoặc bằng sáp. 
Bởi vậy mà một tác phẩm điêu khắc có thể được làm ra hai hoặc ba 
phiên bản bằng đá, gỗ hoặc sáp, đồng, v.v... và một vài bản bằng đất 
nung hoặc thạch cao. Không chỉ mẫu ban đầu mà cả “mẫu đất sét”, “mẫu 
thạch cao” và các phiên bản này đều là tác phẩm nguyên bản của tác giả 
đó. Thực tế các bản sao này không bao giờ giống hệt nhau vì tác giả đã 
can thiệp vào mỗi khâu tạo mẫu (qua việc chỉnh sửa khuôn đúc), cũng 

như tạo một lớp phủ cho mỗi tác phẩm. Hiếm khi tổng số lượng các 
nguyên bản vượt quá 12 bức. 
Do đó, nhóm này bao gồm không chỉ các mẫu gốc do nhà điêu khắc tạo 
ra mà còn cả bản sao, bản chụp các đồ vật đó, được tạo ra theo cách thứ 
hai như đã nêu ở trên cho dù chúng do chính tác giả hoặc do một nghệ sĩ 
khác tạo ra. 
Nhóm này loại trừ các đồ vật sau đây, thậm chí chúng do các tác giả 
thiết kế hoặc sáng tạo ra : 
(a) Tác phẩm điêu khắc mang tính chất thương mại. 
(b)  Tư trang và các đồ thủ công mỹ nghệ được sản xuất bằng kỹ năng 
thông thường mang tính chất thương mại (các vật trang sức,các hình 
nộm tôn giáo, ...). 
(c)  Các bản sao sản xuất hàng loạt bằng thạch cao, vữa giã đá, xi măng, 
giấy đá,v.v). 
Ngoại trừ đồ tư trang có thể được xếp ở nhóm 71.16 hoặc 71.17, tất cả 
các đồ vật này đều phân loại theo vật liệu cấu thành (nhóm 44.20 đối với 
gỗ, nhóm 68.02 hoặc 68.15 đối với đá, nhóm 69.13 đối với gốm, nhóm 
83.06 đối với kim loại thường,v.v.). 
maché, etc. 
97.04 -Tem bưu chính hoặc tem thuế, dấu tem bưu điện, phong bì có 
tem đóng dấu ngày phát hành đầu tiên, các ấn phẩm bưu 
chính (ấn phẩm có in sẵn tem), và các ấn phẩm tương tự, đã 
hoặc chưa sử dụng, trừ loại thuộc nhóm 49.07. 
Nhóm này bao gồm các sản phẩm sau, đã hoặc chưa qua sử dụng trừ 
loại thuộc nhóm 49.07:  
(A) Tem bưu điện các loại, tức là tem thông thường dùng để dán lên thư 
tín hoặc bưu phẩm, tem “cước phí bưu điện”, v.v. 
(B) Tem thuế các loại, tức là tem dán lên trên giấy biên nhận, tem đăng 

ký, tem cho phép lưu hành, tem lãnh sự, băng thu thuế có đóng 
dấu.... 
(C) Dấu tem bưu điện: tức là thư mang dấu bưu điện không cần tem, 
được sử dụng trước khi có tem thư ra đời. 
(D) Tem dán trên phong bì hoặc bưu thiếp, bao gồm cả phong bì dán một 
hoặc một bộ tem kỷ niệm ngày phát hành đầu tiên của một bộ tem 
và "bưu thiếp tối đa". Loại sau bao gồm các bưu thiếp có dán một 
con tem và minh họa lại kiểu dáng của con tem đó. Tem bưu điện 
này được huỷ bằng một con tem ngày bình thường hoặc đặc biệt chỉ 
rõ địa điểm gắn với hình minh họa và ngày phát hành con tem. 
(E) Ấn phẩm bưu điện (giấy đóng sẵn tem bưu điện) tức là phong bì, 
thiếp thư, bưu thiếp, giải băng bọc báo... có đóng dấu miễn cước 
phí.   
Các đồ vật thuộc nhóm này có thể được trình bày rời (tem rời, các góc 
đóng dấu ngày tháng, bộ tem liền tờ) hoặc dưới dạng bộ sưu tập. Album 
có chứa các bộ sưu tập các đồ vật này được xem như một phần của bộ 
sưu tập với điều kiện là chúng có giá trị tương ứng với bộ sưu tập đó. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các bưu thiếp tối đa và các phong bì kỷ niệm ngày phát hành của bộ 
tem (có hoặc không có minh họa), nhưng không dán tem bưu điện 
(nhóm 48.17 hoặc Chương 49). 
(b)  Các tem bưu điện, tem thuế, ấn phẩm bưu điện và các loại tương tự 
chưa qua sử dụng, hiện đang lưu hành hoặc mới phát trong nước và 
có (hoặc sẽ có) giá trị sử dụng bằng một mệnh giá ghi trên mặt con 
tem (nhóm 49.07). 
(c)  Phiếu khuyến mãi dưới dạng “ tem tiết kiệm” do các tổ chức tư nhân 
hoặc kinh doanh cấp cho khách hàng và các con tem đôi khi phân 
phối làm giải thưởng do những người bán lẻ phát cho khách hàng 
như là một khoản giảm giá khi mua hàng (nhóm 49.11). 
97.05 - Bộ sưu tập và các vật phẩm sưu tập chủng loại khảo cổ, dân  97.05 - Collections and collectors’ pieces of archaeological, 

tộc học, sử học, động vật, thực vật, khoáng vật, giải phẫu học, 
cổ sinh vật học hoặc các loại tiền. 
9705.10 - Bộ sưu tập và các vật phẩm sưu tập chủng loại khảo cổ, 
dân tộc học hoặc sử học 
             - Bộ sưu tập và các vật phẩm sưu tập chủng loại động 
vật, thực vật, khoáng vật, giải phẫu học hoặc cổ sinh 
vật học: 
9705.21 - - Tiêu bản người và các bộ phận của chúng 
9705.22 - - Các loài đã tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng 
và các bộ phận của chúng 
9705.29 - - Loại khác 
             - Bộ sưu tập và các vật phẩm sưu tập các loại tiền: 
9705.31 - - Có tuổi trên 100 năm 
9705.39 - - Loại khác 
Các đồ vật này thường ít có giá trị thực nhưng lại hấp dẫn vì vì sự hiếm 
hoi của chúng, vì nhóm của chúng hoặc vì hình thức của chúng. Nhóm 
này bao gồm: 
(A)  Bộ sưu tập và các vật phẩm sưu tập có giá trị khảo cổ, dân tộc 
học hoặc lịch sử. Bao gồm: 
(1) Các vật phẩm “có giá trị khảo cổ” cung cấp sự hiểu biết khoa 
học hoặc nhân văn về hành vi của con người trong quá khứ, 
bằng chứng về sự thích nghi văn hóa và biểu hiện nghệ thuật, 
chúng thường được phát hiện nhờ khai quật (ví dụ, một cách 
khoa học, bí mật khai hoặc tình cờ) hoặc tìm kiếm (ví dụ, trên 
cạn hoặc dưới nước). 
      Các mặt hàng này bao gồm, nhưng không giới hạn ở các bức 
tranh hang động, bích họa, tác phẩm điêu khắc cổ ở dạng tròn 
và phù điêu, tranh khắc đá và các yếu tố kiến trúc chạm khắc 

như đầu cột, lanh cửa, v.v.; dây chuyền, vòng tay, nhẫn, đồ 
trang trí ở tai và mũi, trâm cài, vương miện, ghim, vòng ngực, 
thắt lưng và nút môi; bảng đất sét có khắc chữ, vỏ hoặc xương 
có khắc chữ, đá có ký hiệu, biểu tượng và từ ngữ được khắc 
hoặc nổi lên và văn bản viết tay hoặc minh họa trên giấy cói, 
gỗ, lụa, giấy hoặc giấy da (parchment hoặc vellum). 
(2)  Các vật phẩm “có giá trị dân tộc học” nói chung là sản phẩm 
của một xã hội bản địa, bộ lạc hoặc phi công nghiệp và cần thiết 
cho việc thực hành các tôn giáo truyền thống hoặc quan trọng 
đối với di sản văn hóa của một dân tộc vì chúng có những đặc 
điểm riêng biệt, tương đối hiếm hoặc góp phần vào kiến thức về 
nguồn gốc, sự phát triển hoặc lịch sử của dân tộc đó. 
      Những vật phẩm như vậy bao gồm nhưng không giới hạn ở các 
biểu tượng tôn giáo và nghi lễ, các nhân vật và tác phẩm điêu 
khắc về tổ tiên và tôn giáo; di vật, thánh tích, đầu teo nhỏ 
(shrunken heads), da đầu, đầu lâu có trang trí, dụng cụ, nhạc cụ 
làm từ xương người; và các tài liệu hoặc văn bản viết tay, đôi 
khi có hình minh họa, trên gỗ, lụa, giấy da (parchment, vellum), 
giấy hoặc da. Tài liệu có thể được tìm thấy dưới dạng tờ riêng 
lẻ, cuộn hoặc tập đóng bìa. Ví dụ bao gồm Kinh thánh viết tay, 
Kinh Torah, Kinh Koran và các văn bản, thư từ, chuyên luận, 
học thuyết và tiểu luận tôn giáo khác. 
(3)  Các vật phẩm “có giá trị lịch sử” là do con người tạo ra, liên 
quan đến các sự kiện lịch sử quan trọng của quốc gia hoặc toàn 
cầu có ý nghĩa chính trị, khoa học, công nghệ, quân sự hoặc xã 
hội, hoặc cuộc đời hoặc thành tựu của các nhà lãnh đạo, nhà tư 
tưởng, nhà khoa học và nghệ sĩ nổi tiếng quốc gia hoặc toàn 
cầu. 
      Những vật phẩm như vậy bao gồm, nhưng không giới hạn, đồng 
phục hoặc vũ khí của người lính thời Trung Cổ, phù hiệu hoàng 
gia được sử dụng trong lễ đăng quang của vua chúa và vật chứa 

được sử dụng trong phòng thí nghiệm giả kim ở các nền văn 
minh cổ đại. 
(C) Bộ sưu tập và các vật phẩm sưu tập có giá trị về động vật, thực 
vật, khoáng vật, giải phẫu học hoặc cổ sinh vật học. Bao gồm: 
(1)  Động vật chết thuộc bất kỳ loài nào được bảo quản khô hay 
trong dung dịch; thú nhồi cho các bộ sưu tập. 
(2)  Trứng đã hút lòng, các côn trùng đựng trong hộp, ép trong 
khung kính… (ngoại trừ các mặt hàng giả đồ trang sức hoặc đồ 
nữ trang rẻ tiền), các vỏ sò rỗng ngoại trừ loại dùng cho công 
nghiệp. 
(3)  Hạt và cây phơi khô hoặc bảo quản trong dung dịch; tập bách 
thảo. 
(4)  Các khoáng chất (trừ đá quý hoặc bán quý thuộc Chương 71); 
hoá thạch. 
(5)  Các mẫu vật khoa xương (bộ xương, sọ, xương). 
(6)  Các mẫu vật giải phẫu và bệnh học. 
(7) Các vật phẩm “có giá trị về cổ sinh vật học” bao gồm, nhưng 
không giới hạn, các tàn tích, dấu vết hoặc vết tích của các sinh 
vật hóa thạch, dù là động vật hay thực vật, được bảo quản trong 
hoặc trên vỏ trái đất, cung cấp thông tin về lịch sử về sự sống 
các loài không phải loài người trên Trái đất. 
      Những vật phẩm như vậy bao gồm nhưng không giới hạn ở hóa 
thạch của khủng long, thực vật và động vật đã tuyệt chủng. 
(C) Bộ sưu tập và các mẫu vật của người sưu tập về lịch sử, dân tộc 
học, cổ sinh vật học hoặc khảo cổ, ví dụ: 
(1)  Các đồ vật là vật chứng cho một họat động của con người, phù 
hợp cho việc nghiên cứu về đời sống của các thế hệ, cụ thể như: 
xác ướp, quan quách, vũ khí, các vật thờ cúng, quần áo, y phục, 
các đồ vật thuộc về những nhân vật nổi tiếng. 

(2)  Các đồ vật cho phép nghiên cứu các họat động, phong tục, tập 
quán và đặc điểm của dân cư sống vào thời sơ khai như công 
cụ, vũ khí và các đồ thờ cúng. 
(3)  Các mẫu địa chất cho phép nghiên cứu các sinh vật hoá thạch 
(các chất hữu cơ đã bị phân hủy, chỉ còn để lại dấu vết trong các 
tầng địa chất) cho dù đó là động vật hoặc thực vật. 
(C) Bộ sưu tập và các mẫu vật của người sưu tập tiền cổ. 
Đây là các đồng tiền xu, tiền giấy không còn giá trị pháp lý, loại trừ 
những đồ vật thuộc nhóm 49.07 và huy chươngđược trình bày thành 
bộ sưu tập hoặc để riêng lẻ, trong trường hợp sau, mỗi bộ thường chỉ 
gồm một vài mẫu của bất kỳ loại tiền xu hoặc huy chương nào và 
chúng được xếp vào đây chỉ khi chúng rõ ràng dùng cho mục đích 
sưu tập. 
Nhóm này loại trừ tiền xu và huy chương được coi là mẫu vật của người 
sưu tập hoặc bộ sưu tập tiền cổ (chẳng hạn tập hợp nhiều tiền xu 
hoặc huy chương cùng một loại); chúng nói chung được xếp vào 
Chương 71, trừ “tiền xu” và “huy chương” bị dập hoặc bị bẻ cong, 
hoặc bị làm hư hại đến mức chúng chỉ thích hợp để nấu chảy... mà 
thoạt nhìn có thể xếp vào nhóm các phế liệu kim loại. 
Tiền xu là tiền tệ chính thức tại nước phát hành, được xếp vào nhóm 
71.18 cho dù chúng được tập hợp thành bộ để bán nhằm mục đích 
giới thiệu. 
Tiền xu hoặc huy chương dùng làm đồ trang sức được xếp vào Chương 
71 hoặc nhóm 97.06. 
Tiền giấy không còn là tiền tệ chính thức và không phải thuộc bộ 
sưu tập hoặc không hình thành bộ sưu tập thì được phân loại vào 
nhóm 49.07. 
Các đồ vật được sản xuất cho mục đích thương mại để ghi nhớ, để kỷ 
niệm hoặc minh họa một sự kiện hoặc một vấn đề nào khác, dù chúng 
được hay không được sản xuất với số lượng hạn chế hoặc không lưu 
hành rộng rãi, đều không được xếp vào nhóm này, như là các bộ sưu 

tập và vật mẫu về lịch sử hoặc tiền cổ trừ phi bản thân các đồ vật này sau 
này thu hút sự hấp dẫn nhờ tuổi và độ hiếm hoi của chúng. 
97.06 - Đồ cổ có tuổi trên 100 năm. 
9706.10 - Có tuổi trên 250 năm 
9706.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm mọi đồ vật cổ có hơn 100 năm tuổi, với điều kiện 
chúng không thuộc vào nhóm 97.01 đến 97.05. Sức hấp dẫn của các đồ 
vật này do tuổi của chúng, dẫn tới sự khan hiếm của chúng. 
Theo các điều kiện đó, nhóm này bao gồm: 
(1)  Các đồ đạc, khung và panen cổ. 
(2)  Các sản phẩm của công nghiệp in: sách in cổ trước năm 1500 và các 
sách khác, âm nhạc, bản đồ, bản khắc (trừ loại thuộc nhóm 97.02). 
(3)  Bình và các đồ vật bằng sứ khác. 
(4)  Các sản phẩm dệt: thảm, hàng thêu đăng ten và vải khác. 
(5)  Các đồ kim hoàn. 
(6)  Các sản phẩm của thợ vàng hoặc thợ bạc (bình nước, cốc, đèn, lọ, 
(7)  Cửa kính trong hoặc kính màu. 
(8)  Đèn chùm và đèn. 
(9)  Các sản phẩm của thợ sắt, thợ khoá. 
(10) Các đồ trang trí nhỏ trong phòng kính (hộp, hộp đựng kẹo, hộp 
đựng thuốc lá, hộp tư trang, quạt ...) 
(11) Nhạc cụ. 
(12) Đồng hồ các loại. 
(13) Các tác phẩm nghệ thuật chạm đá quý (đá màu trạm nổi, đá đã gọt 
dũa) và của ấn tín học (ấn tín, v.v.). 
Nếu chúng vẫn giữ lại được đặc tính ban đầu thì nhóm này bao gồm cả 
đồ cổ đã được sửa chữa và phục chế. Ví dụ các đồ đạc, giường tủ cổ 
được lắp thêm các bộ phận mới sản xuất (ví dụ dùng để gia cố hoặc sửa 

chữa); các loại thảm, đồ da hoặc vải cổ... được gắn trên nền gỗ hiện đại. 
Nhóm này không bao gồm ngọc trai thiên nhiên hoặc nuôi cấy và đá quý 
hoặc bán quý, cho dù tuổi của chúng thế nào (thuộc nhóm71.01 đến 71.03)