PROJECT

CHU GIAI 2022_19

CHU GIAI 2022_19

vệ đã được gia công đến mức có thể dễ dàng nhận 

biết là bộ phận của các xe trong Nhóm này. 
(6) Các dây cáp ly hợp, cáp dây phanh, dây cáp chân ga và các dây cáp 
tương tự, gồm vỏ bọc ngoài mềm và lõi cáp di động được. Chúng là 
đoạn cáp dài và có độ dài nhất định ở đầu mút 
87.11 - Mô tô (kể cả xe gắn máy có bàn đạp (moped)) và xe đạp có 
gắn động cơ phụ trợ, có hoặc không có thùng xe bên cạnh; thùng xe 
có bánh (side-cars). 
8711.10 - Loại sử dụng động cơ đốt trong kiểu piston dung tích xi 
lanh không quá 50 cc 
8711.20 - Loại sử dụng động cơ đốt trong kiểu piston dung tích xi 
lanh trên 50 cc nhưng không quá 250 cc 
8711.30 -  Loại sử dụng động cơ đốt trong kiểu piston dung tích xi 
lanh trên 250 cc nhưng không quá 500 cc 
8711.40 - Loại sử dụng động cơ đốt trong kiểu piston dung tích xi 
lanh trên 500 cc nhưng không quá 800 cc 
8711.50 - Loại sử dụng động cơ đốt trong kiểu piston dung tích xi 
lanh trên 800 cc 
8711.60 -  Loại dùng động cơ điện để tạo động lực 
       8711.90 - Loại khác. 
Nhóm này bao gồm nhóm những xe môtô hai bánh được thiết kế chủ yếu 
để chở người. 
Ngoài các xe mô tô thông thường, Nhóm này bao gồm cả các xe tay ga, 
có đặc điểm là bánh xe cỡ nhỏ và một sàn nằm ngang nối phần trước và 
phần sau xe; xe gắn máy có bàn đạp được trang bị cả động cơ và hệ 
thống bàn đạp chân; và xe đạp có lắp động cơ phụ trợ. 
Nhóm này cũng bao gồm xe 02 bánh chạy bằng động cơ điện, được thiết 
kế để chở 01 người, sử dụng trong khu vực giới hạn tốc độ thấp như vỉa 
hè, đường nhỏ, và làn xe đạp. Công nghệ của loại xe này cho phép 
người lái đứng thẳng trong khi hệ thống bao gồm cảm ứng con quay hồi 
chuyển và các vi xử lý sẽ duy trì cân bằng của xe và người lái một cách 

độc lập, bánh xe thì không đặt cái trước cái sau (02 bánh xe đặt song 
song). Xe mô tô của nhóm này, mà được đẩy bằng một hoặc hơn các 
động cơ điện, được gọi là “Xe mô tô điện”. Những xe mô tô này được 
gắn bộ ắc quy điện cung cấp năng lượng cho các mô tô điện.  Ắc quy 
điện của những mô tô điện loại “plug – in” này có thể được sạc băng 
cách cắm chúng vào một nguồn cấp điện hoặc trạm sạc. 
Các xe mô tô có thể được trang bị bảo vệ người lái tránh thời tiết xấu 
hoặc có trang bị một thùng xe gắn bánh xe bên hông xe. 
Cũng xếp trong nhóm này các xe ba bánh (ví dụ xe ba bánh chở hàng) 
với điều kiện là chúng không mang đặc tính của xe cơ giới thuộc nhóm 
87.03 hoặc nhóm 87.04 (xem chú giải chi tiết nhóm 87.03 và 87.04). 
Nhóm này cũng bao gồm tất cả các loại mô tô thùng, được thiết kế để 
chở người hoặc hàng hoá, loại mà xe và thùng xe không thể tách ra để 
sử dụng độc lập được. Ở xe đạp hay xe mô tô, thùng xe được gắn một 
bánh xe một bên, bên còn lại cố định vào ổ quay của xe, và chuyển 
động cùng với xe. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Xe mô tô bốn bánh dùng để chở người, có khung gầm hình ống và hệ 
thống lái loại xe hơi (ví dụ hệ thống lái dựa trên nguyên lý 
Acherman) (nhóm 87.03) 
(b) Các rơ moóc dùng để gắn vào xe mô tô hay xe đạp (nhóm 87.16). 
87.12 - Xe đạp hai bánh và xe đạp khác (kể cả xe xích lô ba bánh 
chở hàng), không lắp động cơ. 
Nhóm này bao gồm các xe đạp không lắp động cơ, nghĩa là có một hoặc 
nhiều bánh chuyển động nhờ các bàn đạp, ví dụ như xe đạp (bao gồm xe 
đạp của trẻ em), xe đạp ba bánh, xe đạp bốn bánh. 
Ngoài các xe đạp có kiểu dáng thông thường, nhóm này còn gồm cả các 

loại xe đạp đặc biệt khác sau đây: 
(1) Xe xích lô ba bánh chở hàng thường thiết kế dưới dạng khung có 
khớp nối với một thùng xe (đôi khi tách biệt nhau) đặt trên hai bánh 
trước chịu tải 
(2)  Các xe đạp đôi. 
(3)  Các xe đạp một bánh và xe đạp hai bánh được thiết kế đặc biệt cho 
các nghệ sĩ nhà hát, với đặc điểm là xe nhẹ, bánh xe cố định, v.v ... 
(4)  Xe đạp hai bánh được chế tạo đặc biệt cho người tàn tật (ví dụ như 
xe có gắn bộ phận đặc biệt cho phép đạp bằng một chân). 
(5)  Xe đạp hai bánh được lắp bộ đế thăng bằng gắn vào moay-ơ (đùm 
bạc đạn) bánh xe sau. 
(6)  Các xe đạp đua. 
(7)  Xe đạp 4 bánh có một vài chỗ ngồi và một vài bộ phận đạp, tất cả 
đặt trong một kết cấu gọn nhẹ. 
(8) Xe sử dụng bàn đạp (Pedal) chuyên dụng – tương tự xe scooter được 
thiết kế cho trẻ em, vị thành niên và người trưởng thành,  loại xe mà 
trụ lái và ghi đông có thể xoay được, bánh xe bơm hơi, khung và 
phanh tay, bàn đạp được gắn với hệ thống xích và líp. 
Các xe đạp trong Nhóm này có gắn thùng xe vẫn xếp loại ở đây, nhưng 
nếu thùng xe để riêng thì không thuộc Nhóm này (thuộc Nhóm 87.11). 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Các xe đạp có gắn động cơ phụ trợ (nhóm 87.11) 
(b) Các xe đạp dùng cho trẻ em (trừ xe đạp hai bánh cho trẻ em) (thuộc 
nhóm 9503) 
(c) Xe đạp đặc biệt chỉ dùng cho các trò vui trong hội chợ (nhóm 95.08) 
87.13 - Các loại xe dành cho người tàn tật, có hoặc không lắp động 
cơ hoặc cơ cấu đẩy cơ khí khác. 
8713.10 - Loại không có cơ cấu đẩy cơ khí 

8713.90 - Loại khác. 
Nhóm này bao gồm các loại xe, xe lăn, hoặc các xe tương tự, được thiết 
kế đặc biệt để chở người tàn tật, có hoặc không có cơ cấu đẩy dạng cơ 
khí. 
Xe trang bị cơ cấu đẩy dạng cơ khí  thường được chuyển động nhờ một 
động cơ nhẹ, hoặc đẩy bằng tay nhờ cơ cấu cần lắc hoặc tay quay. Các 
xe khác cho người tàn tật được đẩy bằng tay hoặc đẩy do tác động trực 
tiếp bằng tay trên bánh xe. 
Nhóm này loại trừ: 
 (a) Các xe thông thường được thay đổi đơn giản phù hợp để sử dụng 
cho người tàn tật, (ví dụ, xe ôtô lắp côn tay, ga tay, v.v...) (nhóm 87.03), 
hoặc các xe đạp hai bánh có bàn đạp đặc biệt để đạp được bằng một chân 
(nhóm 87.12) 
(b) Các xe cáng thương (nhóm 94.02) 
87.14 - Bộ phận và phụ kiện của xe thuộc các nhóm từ 87.11 đến 
8714.10 - Của mô tô (kể cả xe gắn máy có bàn đạp (moped)): 
8714.20 - Của xe dành cho người tàn tật  
             - Loại khác: 
8714.91 - - Khung xe và càng xe, và các bộ phận của chúng. 
8714.92 - - Vành bánh xe và nan hoa . 
8714.93 - - Moay ơ, trừ moay ơ kèm phanh (coaster braking hub) và 
phanh moay ơ, và líp xe. 
8714.94 - - Phanh, kể cả moay ơ kèm phanh (coaster braking hub) 
và phanh moay ơ, và các bộ phận của chúng. 
8714.95 - - Yên xe. 
8714.96 - - Pê đan và đùi đĩa, và bộ phận của chúng. 
8714.99 - - Loại khác. 

Nhóm này gồm các bộ phận và phụ kiện dùng cho xe mô tô (kể cả xe 
máy gắn bàn đạp), cho các xe đạp có động cơ phụ trợ, xe mô tô thùng, 
xe đạp không có động cơ, hoặc xe chuyên chở người tàn tật, miễn là 
chúng phải đáp ứng cả hai điều kiện sau: 
      (i) Chúng phải được xác định phù hợp để chỉ dùng hoặc chủ yếu 
dùng cho các loại xe trên. 
và (ii) Chúng phải không bị loại trừ bởi các qui định của Chú giải XVII 
(xem chú giải tổng quát tương ứng). 
Các bộ phận và phụ kiện trong nhóm này bao gồm: 
(1) Thân xe và các bộ phận của chúng dùng cho các xe ba bánh chở 
hàng, mô tô thùng hoặc xe cho người tàn tật (mui, cửa, sàn, v.v...) 
(2) Khung gầm và khung xe, và các bộ phận của chúng. 
(3) Cụm bánh răng, hộp số, bộ ly hợp và thiết bị truyền động khác, và 
các bộ phận của chúng, dùng cho xe mô tô. 
(4) Bánh xe và bộ phận của chúng (moay-ơ (đùm bạc đạn), vành, nan 
(5) Líp đĩa xích xe (Free-wheel sprocket-wheels).  
(6) Cơ cấu dẫn hướng (derailleurs), và cơ cấu chuyển tốc độ khác (gear 
mechanisms) và bộ phận của chúng. 
(7) Bộ bàn đạp và bộ phận của chúng (đĩa, đùi, trục, v.v...), các bàn đạp 
và bộ phận của nó (trục,v.v...); các bánh tỳ (cố định bàn đạp với 
chân đạp). 
(8) Cần đạp khởi động, các cần và khớp điều khiển khác. 
(9) Phanh các loại (phanh đòn, phanh dầu, phanh trống, phanh trục, 
phanh lắp trong moay-ơ (đùm bạc đạn), phanh đĩa,...) và bộ phận 
của chúng (như cần, giá đỡ, tang phanh, guốc phanh dùng cho phanh 
đùm, đòn gánh đối với phanh đòn).  
(10) Ghi đông, khớp nối ghi đông và tay cầm (bằng lie, bằng plastic, 
(11) Yên xe và cọc yên (seat-posts); vỏ yên. 
(12) Càng xe, bao gồm cả càng xe kiểu ống lồng và các bộ phận của nó 

(mũ, lưỡi, càng xe,  v.v...) 
(13) Các ống tuýp và các rắc co cho khung. 
(14) Các giảm sóc thủy lực và các bộ phận của chúng. 
(15) Các chắn bùn và giá đỡ của nó (cần chống, thanh kẹp, v.v...) 
(16) Tấm phản quang (có khung). 
(17) Các bộ phận bảo vệ quần áo (trừ các lưới thuộc nhóm 56.08), chắn 
xích; bàn để chân và bộ phận bảo vệ cẳng chân. 
(18) Các chân chống xe mô tô. 
(19) Các mui che cho xe scooter, các nắp che bánh xe dự phòng của xe 
(20) Các ống giảm âm (tiêu âm) và các bộ phận.  
(21) Các bình chứa nhiên liệu. 
(22) Các kính chắn gió. 
(23) Các giá đỡ hàng, giá lắp đèn, và giá treo bi đông nước. 
(24) Các cần kéo đẩy và tay quay để dẫn động xe, đệm tựa và giá điều 
chỉnh đệm tựa, bàn để chân và để đùi, các thanh tì tay, v.v... ở xe lăn 
dùng cho người tàn tật.  
(25) Các dây cáp dẫn động ly hợp, dây phanh, dây ga và các dây cáp 
tương tự có vỏ bọc ngoài mềm và lõi cáp di động bên trong. Chúng 
là sợi cáp đã cắt theo một chiều dài nhất định và có gắn các bộ 
phận ở đầu mút. 
87.15 - Xe đẩy trẻ em và bộ phận của chúng.  
Nhóm này bao gồm: 
(I) Các xe đẩy trẻ em, có hoặc không gấp, có hai hoặc nhiều bánh và 
thường đẩy bằng tay (các ghế đẩy, xe đẩy trẻ em, xe nôi, v.v...) 
(II) Bộ phận của các xe nêu trên, với điều kiện chúng đáp ứng cả hai 
tiêu chí sau: 

 (i) Chúng phải được xác định phù hợp để chi sử dụng hoặc chủ yếu 
dùng cho các xe của nhóm này. 
và   (ii) Chúng không bị loại trừ bởi các qui định trong Chú giải Phần 
XVII (xem Chú giải Tổng quan tương ứng). 
Bộ phận trong Nhóm này bao gồm:  
(1) Thân xe để gắn với khung gầm xe, kể cả loại thân của xe đẩy có thể 
tháo rời để dùng làm nôi. 
(2) Khung gầm và bộ phận của nó. 
(3) Bánh xe (đã hoặc chưa lắp lốp), và bộ phận của nó. 
87.16 - Rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc; xe khác, không có cơ cấu đẩy 
dạng cơ khí; các bộ phận của chúng. 
8716.10 - Rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc loại nhà lưu động, dùng làm 
nhà ở hoặc cắm trại. 
8716.20 –  Rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc loại tự bốc hoặc dỡ hàng 
dùng trong nông nghiệp 
- Rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc khác dùng để vận chuyển 
hàng hóa. 
8716.31 - - Rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc gắn xi téc. 
8716.39 - - Loại khác. 
8716.40 - Rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc khác. 
8716.80 -  Xe khác. 
       8716.90 - Bộ phận. 
Nhóm này gồm một tập hợp các loại xe vận hành không bằng cơ học 
(trừ  loại nêu ở các nhóm trước đây) có một hoặc nhiều bánh xe và thiết 
kế để chở hàng hoặc chở người. Nhóm này cũng bao gồm xe không phải 
xe cơ giới, không lắp bánh xe (ví dụ như: các xe trượt, xe trượt đặc biệt 
chạy trên ray gỗ). 

Những xe thuộc nhóm này được thiết kế để chuyển động nhờ lực kéo 
của xe khác (xe kéo, xe tải, xe môtô, xe đạp, v.v...), được kéo hoặc đẩy 
bằng tay, được đẩy bằng chân hoặc được kéo bằng động vật. 
Nhóm này bao gồm cả: 
(A) Rơmoóc và sơmi rơmoóc. 
Theo mục đích nhóm này, thuật ngữ "rơ moóc" và "sơmi rơ moóc" nghĩa 
là các xe (trừ các xe thùng) thuộc loại được thiết kế chỉ để mắc vào xe 
khác bằng thiết bị nối đặc biệt (tự động hoặc không tự động). 
Kiểu quan trọng nhất của rơmoóc và sơmi rơmoóc thuộc nhóm này được 
thiết kế để sử dụng với các xe có động cơ.  Rơmoóc thường có hai hoặc 
nhiều bộ bánh xe, và một hệ thống khớp nối được gắn ở các bánh xe 
trước có thể xoay được để chuyển hướng phương tiện. Sơmi rơmoóc chỉ 
có các bánh xe sau, phần trước xe đặt trên sàn của xe kéo và được nối 
bằng một thiết bị nối đặc biệt. 
Theo mục đích của chú giải chi tiết dưới đây, khái niệm “rơmoóc” bao 
gồm cả sơmi rơmoóc. 
Các rơmoóc thuộc nhóm này bao gồm:  
(1) Rơmoóc loại nhà lưu động (Rơmoóc du lịch) dùng làm nhà ở hoặc 
cắm trại. 
(2) Xe rơmoóc tự bốc hàng dùng trong nông nghiệp có gắn thiết bị bốc 
tự động và cũng có thể gắn công cụ băm rơm cỏ, thân cây ngô,... 
Nhóm này không bao gồm rơmoóc tự bốc hàng, có gắn cố định với thiết 
bị gặt hái, dùng để cắt, chặt và vận chuyển cỏ, ngô,... (nhóm 84.33) 
(3) Rơmoóc tự dỡ hàng để chở các hàng hóa khác nhau (rơm cỏ, phân 
tro, v.v...), với một sàn di động cho mục đích dỡ hàng; các phương 
tiện này có thể gắn các thiết bị khác nhau (thiết bị nghiền phân bón, 
thiết bị cắt vụn rơm cỏ, v.v...) để làm cho chúng phù hợp dùng để rải 
phân, phân phối rơm cỏ hoặc rễ rơm cỏ. 

(4) Các xe rơmoóc khác dùng để chở hàng như: 
(a) Xe rơmoóc chở xitéc (có hoặc không được trang bị bơm). 
(b) Xe rơmoóc dùng trong nông nghiệp, công chính,... (tự đổ hoặc 
không tự đổ). 
(c)Xe rơmoóc làm lạnh hoặc bảo ôn để chở hàng dễ hỏng.  
(d) Xe rơmoóc chuyển đồ. 
(e) Xe rơmoóc có một hoặc hai tầng để chở súc vật sống, ôtô, xe 
đạp,... 
(f) Xe rơmoóc thích hợp để chở một số hàng hoá nhất định (ví dụ, 
các tấm kính). 
(g) Xe rơmoóc chạy trên đường sắt (chủ yếu sử dụng như xe rơmoóc 
chạy trên đường bộ, nhưng được thiết kế để chúng có thể được 
vận chuyển trên những toa xe lửa đặc biệt có ray dẫn hướng). 
(h) Xe rơmoóc trang bị đường ray để vận chuyển các toa xe lửa trên 
đường bộ. 
(ij) Xe rơmoóc gầm có cầu chất dỡ hàng để vận chuyển thiết bị nặng 
(xe tăng, cần cẩu, máy ủi, biến thế điện,...) 
(k) Giá chuyển hướng chuyên vận chuyển gỗ cây có hai hoặc bốn 
bánh xe. 
(l) Xe rơ moóc vận chuyển gỗ. 
(m) Xe rơmoóc nhỏ được kéo bởi xe môtô hoặc xe đạp. 
(5) Các Rơmoóc khác như: 
(a) Xe rơmoóc có gắn động cơ được thiết kế đặc biệt để chở người. 
(b) Xe kéo lưu động dùng làm kiốt hoặc xe rơmoóc ở các chợ phiên 
(trừ loại được thiết kế đặc biệt để sử dụng cho và tạo thành các 
bộ phận của trò chơi hội chợ thuộc nhóm 95.08). 
(c) Xe rơmoóc phục vụ triển lãm. 
(d) Xe rơmoóc thư viện. 

(B) Xe điều khiển bằng tay hoặc chân: 
Nhóm này gồm có: 
(1) Các xe bốn bánh và xe gòong các loại kể cả loại chuyên dụng trong 
một số ngành công nghiệp (trong công nghiệp dệt, gốm, sữa, v.v...). 
(2) Xe cút kít, xe chở hành lý, xe có thùng hình phễu và xe có thùng lật 
(3) Xe thực phẩm, xe đẩy đồ ăn tự chọn (trừ loại thuộc nhóm 94.03), 
kiểu dùng trong nhà ga xe lửa. 
(4) Các xe đẩy tay ví dụ xe đổ rác. 
(5) Xe kéo tay chở người (Rickshaw). 
(6) Xe ba gác nhỏ có vách cách nhiệt dùng để bán kem.  
(7) Xe đẩy các kiểu để chở hàng. Các loại xe kết cấu nhỏ nhẹ này đôI khi 
được lắp thêm bánh hơi. 
(8) Xe trượt (kéo tay) dùng để chở gỗ ở vùng núi. 
(9)  Xe “Kicksleds” (xe trượt tuyết), được đẩy bởi lực chân người lái 
xuống mặt tuyết, được thiết kế đặc biệt để chuyên chở người ở vùng 
cận bắc cực. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Thùng rác di động (kể cả loại sử dụng bên ngoài) (ví dụ, nhóm 
39.24 hoặc 73.23). 
(b) Mặt hàng hỗ trợ đi bộ được gọi là “Khung tập đi”, thường bao gồm 
khung kim loại hình ống, có 3 hoặc 4 bánh xe (một số bánhhoặc tất 
cả đều có thể quay được), có tay nắm và phanh tay (nhóm 90.21) 
(b) Các thùng đựng hàng nhỏ có bánh xe (ví dụ giỏ hàng được lắp bánh 
xe) làm bằng mây tre, thép..., không có khung xương, thuộc loại 
dùng trong cửa hàng (được phân loại theo vật liệu cấu tạo nên 
chúng). 
(C) Xe súc vật kéo. 
Nhóm này gồm: 
(1) Xe ngựa loại kiểu toa xe, xe ngựa không chỗ ngồi, xe ngựa mui gập 
kiểu độc mã, xe ngựa cho thuê, xe ngựa hai chỗ ngồi mui trần. 
 (1) State (ceremonial) -coaches, coupés, calashes, hackney-coaches, 

(3) Xe đua ngựa (sulkys) 
(4) Xe chở trẻ em, dùng lừa hoặc ngựa giống nhỏ kéo, trong công viên, 
quảng trường, v.v... 
(5) Xe giao hàng các kiểu; xe mui cứng tháo rời. 
(6) Xe đẩy hàng các loại, bao gồm cả xe có thùng lật. 
(7) Xe trượt. 
CÁC LOẠI XE KẾT HỢP VỚI MÁY MÓC,... 
Việc phân loại hệ thống thiết bị gồm các xe có lắp sẵn cố định  các máy 
móc hoặc thiết bị được xác định theo đặc tính cơ bản của toàn bộ hệ 
thống thiết bị đó. Do đó, nhóm này bao gồm các hệ thống thiết bị mang 
đặc tính cơ bản của bản thân các xe lắp trên thiết bị đó. Ngược lại, những 
hệ thống thiết bị mang đặc tính cơ bản của máy móc hoặc thiết bị lắp vào 
hệ thống thì bị loại trừ 
Theo giải thích nêu trên thì: 
(I) Xe tải, xe hoặc rơmoóc có lắp xitéc, có hoặc không được trang bị 
bơm phụ để cho mục đích bơm hoặc xả, được phân loại ở đây. 
(II) Các loại dưới đây, ví dụ, được loại  trừ và thuộc nhóm liên quan đến 
máy móc hoặc thiết bị: 
(a) Xe đẩy tay, xe súc vật kéo hoặc thiết bị phun rải loại rơmoóc của 
nhóm 84.24. 
(b) Các máy móc và thiết bị lắp trên một khung đơn giản có bánh xe, 
được thiết kế để kéo, như các máy bơm hoặc máy nén khí lưu động 
(nhóm 84.13 hoặc 84.14), các cần cẩu và thang di động (nhóm 
84.26 hoặc 84.28). 
(c) Rơ moóc trộn bê tông (nhóm 84.74). 
CÁC BỘ PHẬN 
Nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của các xe đã nêu trên, miễn là bộ 

phận đó đáp ứng được hai điều kiện: 
(i) Chúng phải được xác định là phù hợp để sử dụng riêng hoặc chủ 
yếu sử dụng với các loại xe trên.  
và (ii) Chúng phải không bị loại trừ bởi các qui định trong Chú giải Phần 
XVII (xem Chú giải Tổng quát tương ứng). 
Các bộ phận trong nhóm này gồm: 
(1) Các khung gầm và bộ phận cấu thành của chúng (rầm dọc, thanh 
(2) Các trục xe. 
(3) Các thân xe và bộ phận của chúng.  
(4) Các bánh xe bằng thép hoặc bằng gỗ và các bộ phận của chúng, kể cả 
bánh xe có lắp lốp bơm hơi. 
(5) Các thiết bị móc nối. 
(6) Phanh và bộ phận của nó. 
(7) Tay cầm, càng kéo và các bộ phận tương tự. 
Các thiết bị thể thao mùa đông như xe trượt tuyết, xe trượt băng,...,  bị 
loại trừ (thuộc nhóm 95.06). 

Chương 88 
Phương tiện bay, tàu vũ trụ và các bộ phận của chúng 
1. - Theo mục đích của Chương này, khái niệm “phương tiện bay 
không người lái” có nghĩa là bất kỳ phương tiện bay nào, trừ các 
phương tiện bay thuộc nhóm 88.01, được thiết kế để bay mà không 
có người lái trên phương tiện bay. Chúng có thể được thiết kế để 
mang trọng tải hoặc được trang bị camera kỹ thuật số tích hợp vĩnh 
viễn hoặc các thiết bị khác cho phép chúng thực hiện các chức năng 
sử dụng thực tế trong suốt chuyến bay. 
Tuy nhiên, cụm từ “phương tiện bay không người lái” không bao 
gồm đồ chơi bay, được thiết kế chỉ cho mục đích giải trí (nhóm 
Chú giải phân nhóm. 
1.-  Theo mục đích của các phân nhóm từ 8802.11 đến 8802.40, khái 
niệm "trọng lượng không tải" nghĩa là trọng lượng của máy móc ở 
chế độ bay bình thường, không bao gồm trọng lượng của tổ bay và 
trọng lượng của nhiên liệu và thiết bị trừ các thiết bị được gắn cố 
định. 
2.-  Theo mục đích của các phân nhóm 8806.21 đến 8806.24 và 8806.91 
đến 8806.94, khái niệm "trọng lượng cất cánh tối đa" có nghĩa là 
trọng lượng tối đa của phương tiện bay ở chế độ bay bình thường, 
khi cất cánh, kể cả trọng lượng của trọng tải, thiết bị và nhiên liệu. 

TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm khí cầu và khinh khí cầu điều khiển được và 
phương tiện bay không dùng động cơ (nhóm 88.01), phương tiện bay 
khác (các nhóm 88.02 hoặc 88.06), tàu vũ trụ (kể cả vệ tinh) và phương 
tiện đẩy để phóng tầu vũ trụ (nhóm 88.02), một số thiết bị tương tự khác 
như dù (nhóm 88.04), thiết bị phóng dùng cho phương tiện bay, dàn hãm 
tốc độ dùng cho tàu sân bay và thiết bị huấn luyện bay mặt đất (nhóm 
Các phương tiện bay chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện (ví dụ 
phương tiện bay không trang bị động cơ hoặc thiết bị bên trong) được 
phân loại như là các phương tiện bay hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện, với 
điều kiện chúng mang những đặc điểm chủ yếu của phương tiện bay đã 
hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện. 
88.01- Khí cầu và khinh khí cầu điều khiển được; tàu lượn, tàu lượn 
treo và các phương tiện bay khác không dùng động cơ. 
(I) KHÍ CẦU VÀ KHINH KHÍ CẦU ĐIỀU KHIỂN ĐƯỢC 
Nhóm này bao gồm các phương tiện bay nhẹ hơn không khí, không phân 
biệt mục đích sử dụng (quân sự, thể thao, khoa học, quảng cáo...). Loại 
này gồm những khí cầu tự do và khí cầu có dây giữ (ví dụ, giữ chặt vào 
mặt đất bằng cáp), và những khinh khí cầu có thể điều khiển cơ khí được. 
Nhóm này cũng bao gồm các loại khí cầu được sử dụng trong ngành 
hàng không hoặc khí tượng: 
(1) Các khí cầu thăm dò. Những khí cầu này được sử dụng để đưa các 
máy móc thăm dò vô tuyến lên cao. Chúng có thể nặng đến 4.500g, 
nhưng trọng lượng thông thường của chúng giao động từ 350g đến 
(2) Các khí cầu hoa tiêu. Những khí cầu này được phóng lên để xác 
định tốc độ và hướng gió. Chúng thường nặng từ 50g đến 100g. 
(3) Các khí cầu đo độ cao mây. Loại này thường nhỏ hơn các loại được 
nêu tại các điểm (1) và (2) ở trên và thường có trọng lượng từ 4g 
đến 30g. Chúng được sử dụng để xác định độ cao của mây. 

Trong hầu hết các trường hợp, các khí cầu được sử dụng trong ngành khí 
tượng thường được chế tạo bằng cao su rất mỏng, chất lượng cao cho 
phép có mức độ giãn lớn. Các loại khí cầu đồ chơi của trẻ em bị loại trừ 
(nhóm 95.03). Chúng có thể được phân biệt bởi chất lượng thấp hơn, có 
cổ ngắn để bơm hơi và thường được trang trí hoặc  quảng cáo bên ngoài. 
(II) TÀU LƯỢN VÀ TÀU LƯỢN TREO 
Tàu lượn là những phương tiện bay nặng hơn không khí, hoạt động dựa 
theo các dòng khí quyển. Tuy nhiên, các tàu lượn trang bị hoặc được 
thiết kế có gắn động cơ được phân loại vào nhóm 88.02. 
Tàu lượn treo, đặc biệt, bao gồm cánh hình tam giác vuốt về sau (cánh 
đen ta), cho phép cố định một hoặc hai người vào tàu lượn bởi bộ dây treo 
để thực hiện một số thao tác bay. Những cánh bay này được làm từ các vật 
liệu (thường là vải dệt) được trùm lên một khung cứng, thường là hình ống 
và bằng kim loại, được gắn một thanh nằm ngang ở giữa khung để lái. Các 
dạng khác của tàu lượn treo có thể mang các hình dáng khác, nhưng tương 
tự như loại cánh đen ta về cấu trúc và cách vận hành khí động lực.  
(III) CÁC PHƯƠNG TIỆN BAY KHÁC  
KHÔNG DÙNG ĐỘNG CƠ 
Nhóm này bao gồm diều, là những phương tiện bay nặng hơn không khí, 
không có máy đẩy. Diều được đề cập ở đây là loại được nối giữ với mặt 
đất bằng một loại dây tương tự như những khí cầu có dây giữ và có thể 
được sử dụng, ví dụ, để mang các dụng cụ đo đạc khí tượng. 
Nhóm này không bao gồm diều được thiết kế làm đồ chơi (nhóm 
Nhóm này không bao gồm các mô hình, cho dù có được chế tạo chính 
xác theo tỷ lệ hay không, để trang trí (ví dụ, nhóm 44.20 hoặc 83.06), để 
trưng bầy (nhóm 90.23), hoặc các đồ chơi hoặc nhằm mục đích giải trí 
(nhóm 95.03) 

88.02 - Phương tiện bay khác (ví dụ, trực thăng, máy bay); trừ 
phương tiện bay không người lái thuộc nhóm 88.06; tàu vũ 
trụ (kể cả vệ tinh) và tàu bay trong quĩ đạo và phương tiện 
đẩy để phóng tàu vũ trụ. 
- Trực thăng: 
8802.11 - - Trọng lượng không tải không quá 2.000 kg 
8802.12 - - Trọng lượng không tải trên 2.000 kg 
8802.20 - Máy bay và phương tiện bay khác, có trọng lượng 
không tải không quá 2.000 kg 
8802.30 - Máy bay và phương tiện bay khác, có trọng lượng 
không tải trên 2.000 kg nhưng không quá 15.000kg 
8802.40 - Máy bay và phương tiện bay khác, có trọng lượng 
không tải trên 15.000 kg 
8802.60 - Tàu vũ trụ (kể cả vệ tinh) và tàu bay trong quĩ đạo và 
phương tiện đẩy để phóng tàu vũ trụ 
Nhóm này gồm có: 
(1)  Các phương tiện bay nặng hơn không khí hoạt động bằng một 
máy đẩy. Nhóm này bao gồm các loại máy bay (đỗ trên mặt đất, 
trên mặt nước và cả mặt đất mặt nước), máy bay ổn định nhờ hồi 
chuyển (được trang bị với một hoặc nhiều cánh quạt quay tự do 
quanh trục thẳng đứng), và các máy bay trực thăng (được trang bị 
một hoặc nhiều cánh quạt vận hành cơ khí). 
Các phương tiện bay này có thể được sử dụng vào mục đích quân 
sự, việc vận chuyển người hoặc hàng hoá hoặc cho những hoạt động 
như đào tạo, chụp ảnh trên không, nông nghiệp, cứu hộ, cứu hoả, 
quan sát khí tượng hoặc các mục đích khoa học khác. 
Các phương tiện bay được thiết kế một cách đặc biệt để có thể được 
sử dụng như các phương tiện hoạt động trên mặt đất được xếp trong 
nhóm này. 
(2) Tàu vũ trụ, là những phương tiện bay có khả năng di chuyển trong 
không gian bên ngoài bầu khí quyển của trái đất (ví dụ, những vệ 
tinh viễn thông hoặc vệ tinh dùng trong ngành khí tượng). 

(3) Các phương tiện đẩy để phóng tàu vũ trụ, có chức năng đưa một 
vật vào quỹ đạo quay xung quanh trái đất (“phương tiện phóng vệ 
tinh”) hoặc vào ảnh hưởng của một trường trọng lực nằm ngoài 
vùng sức hút của quả đất (“phương tiện phóng tàu vũ trụ”). Các 
phương tiện này truyền  đến vật phóng một vận tốc trên 7.000 
m/giây trước khi rời bệ phóng. 
(4) Các phương tiện phóng không hết một quỹ đạo thường theo 
đường cong parabol và thường mang ra ngoài bầu khí quyển quả đất 
những dụng cụ phục vụ mục đích khoa học hoặc kỹ thuật khác có 
thể thu hồi hoặc không thu hồi lại. Khi những vật có ích ấy được 
phóng đi, thì tốc độ mà các phương tiện truyền đến để đẩy vật phóng 
đi không vượt quá 7.000 m/giây. Các vật có ích rơi trở lại quả đất 
thường bằng dù để thu hồi. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các tên lửa chiến đấu, các tên lửa 
được dẫn đường, ví dụ “tên lửa đạn đạo”, và các vũ khí chiến tranh 
tương tự mà không truyền đến vật phóng một vận tốc lớn hơn 
7.000m/giây (nhóm 93.06). Các phương tiện phóng này mang theo các 
vũ khí chiến tranh như chất nổ, đầu đạn, hoá chất và sau khi bay theo 
một đường cong parabol thì vật bay này tác động tới mục tiêu. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Các mô hình, cho dù có được chế tạo chính xác theo tỷ lệ hay không, 
để trang trí (ví dụ, nhóm 44.20 hoặc 83.06), chỉ để  trưng bầy 
(nhóm 90.23). 
(b)  Phương tiện bay không người lái được nêu tại Chú giải 1 Chương 
này (nhóm 88.06). 
(c)  Các đồ chơi hoặc mô hình để giải trí (nhóm 95.03). 
(d)  Các mô hình được thiết kế đặc biệt cho trò chơi di chuyển trong 
công viên giải trí hoặc trong các trò chơi hội chợ (nhóm 95.08). 

88.04 - Dù (kể cả dù điều khiển được và dù lượn) và dù xoay; các bộ 
phận và phụ kiện của chúng. 
Nhóm này bao gồm các loại dù dùng thả người, thả thiết bị quân sự, 
dụng cụ khí tượng, pháo sáng, v.v...;  một số loại được sử dụng như dù ở 
đuôi máy bay để hãm máy bay phản lực. Tuỳ theo công dụng, các dù này 
có kích cỡ khác nhau và có thể được làm bằng lụa, bằng sợi dệt tổng 
hợp, bằng lanh, bằng sợi bông, bằng giấy, v.v.. 
Phần trên của kiểu dù thông thường, loại dành cho những người nhảy dù 
sử dụng, thường gồm một dù rút, kích thước nhỏ, được mở ra khi kéo 
dây. Dù rút làm cho chỏm của dù chính, nơi có gắn một số dây néo dù, 
mở rộng ra. Những dây này là những thừng chão dính liền nhau ở phía 
dưới, thành hai hoặc nhiều đai buộc chặt vào bộ áo của người nhảy dù và 
là một tập hợp những đai có khoá và móc lò xo. Dù rút, chỏm dù và dây 
néo dù được gấp cẩn thận vào một cái túi mở ra nhờ dây dù. 
Nhóm này cũng bao gồm những dù lượn, thiết kế để người nhảy dù tự 
nhảy từ sườn núi, từ mỏm vách đá, v.v... gồm một mặt dù gấp được, 
những dây néo dù đan nhau dùng để điều khiển hướng gió và một bộ áo 
của người lái. 
Tuy nhiên, cách hoạt động khí động lực học của loại dù này có khác các 
dù thường, vì trong những điều kiện nhất định và nếu hướng dòng gió 
cho phép người nhảy dù có thể bay theo những đường vòng. 
Nhóm này cũng bao gồm các dù xoay là loại dù có bộ phận cánh xoay 
được, dùng trong khí tượng để kiểm soát quá trình rơi xuống của các 
thiết bị dò sóng vô tuyến do tên lửa phóng lên. 
Nhóm này cũng bao gồm các bộ phận và phụ tùng dù, như túi, dây 
cương và các khung có lò xo dùng để mở dù, và các bộ phận và phụ tùng 
của dù xoay. 
88.05 - Thiết bị phóng dùng cho phương tiện bay; dàn hãm tốc độ 
dùng cho tàu sân bay hoặc thiết bị tương tự; thiết bị huấn 

luyện bay mặt đất; các bộ phận của các thiết bị trên. 
8805.10 - Thiết bị phóng dùng cho phương tiện bay và các bộ 
phận của chúng; dàn hãm tốc độ dùng cho tàu sân bay 
hoặc thiết bị tương tự và các bộ phận của chúng 
- Thiết bị huấn luyện bay mặt đất và các bộ phận của 
chúng: 
8805.21 - - Thiết bị mô phỏng tập trận trên không và các bộ phận 
của chúng 
8805.29 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm ba dạng sản phẩm hoàn toàn khác biệt: 
(A) Thiết bị phóng dùng cho phương tiện bay 
Các thiết bị phóng dùng cho phương tiện bay này thường được 
sử dụng trên tàu thuỷ, gồm một cấu trúc bằng kim loại để định 
hướng phương tiện bay. Sức đẩy và sự tăng tốc cần thiết cho 
việc cất cánh đạt được nhờ không khí nén, hơi, bằng sức nổ của 
đạn, v.v... trên một xe chở hoặc trên một pít tông mà phương 
tiện bay được gắn vào. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các tời máy dùng để phóng tàu lượn (nhóm 84.25). 
(b) Các bệ phóng tên lửa và tháp phóng tên lửa chỉ để định 
hướng tên lửa khi cất cánh mà không đẩy chúng, những hoả 
tiễn này tự bay lên nhờ vào năng lượng của chúng (nhóm 
(B) Dàn hãm tốc độ dùng cho tầu sân bay hoặc thiết bị tương tự.  
Những máy móc này, được sử dụng trên các tàu sân bay và 
một số sân bay nhỏ, được dùng để giảm tốc máy bay lúc tiếp 
đất, nhằm giảm bớt chiều dài đường băng cần thiết để phương 
tiện dừng lại hoàn toàn. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các thiết bị khác như 

thiết bị an toàn (ví dụ lưới) 
(C) Thiết bị huấn luyện bay mặt đất. 
Các ví dụ của những thiết bị này được sử dụng để huấn luyện 
phi công bao gồm: 
(1) Các máy mô phỏng bay hoạt động bằng điện tử. Các điều 
kiện bay được mô phỏng bằng các thiết bị điện tử mà đã được 
gắn vào bộ phận điều khiển một tổ hợp về “cảm giác” và cách 
đọc tương ứng với điều kiện bay cho sẵn.  
Thiết bị mô phỏng tập trận trên không là bất kỳ hệ thống điện tử 
hoặc cơ khí dùng để đào tạo phi công bằng cách mô phỏng 
điều kiện chiến đấu trên không trong suốt quá trình bay.  
Khi các máy mô phỏng bay lắp trên khung gầm ô tô hoặc trên 
rơmoóc, loại phương tiện này lần lượt được phân loại vào các 
nhóm 87.05 hoặc 87.16 (xem Chú giải Chi tiết của nhóm 
(2) Một thiết bị được gọi là “huấn luyện liên kết”, gồm có một ca 
bin nhỏ quay trên một bệ và được trang bị giống như một 
buồng lái máy bay, tạo cho người học khả năng thực hiện mọi 
thao tác cần thiết trong một chuyến bay thường.  
CÁC BỘ PHẬN  
Nhóm này cũng bao gồm bộ phận của các sản phẩm đã được nhắc đến ở 
trên, với điều kiện là các bộ phận đó đáp ứng đủ hai điều kiện sau: 
(i)  Chúng phải được nhận biết là phù hợp chỉ để sử dụng hoặc chủ 
yếu sử dụng cho các phương tiện này; 
và  (ii) Chúng không bị loại trừ theo các quy định của Chú giải Phần 
XVII (xem Chú giải Tổng quát tương ứng). 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các thiết bị mà chủ yếu được 
dùng để ghi lại những phản ứng của con người trong các điều kiện bay 
khó khăn (ví dụ, tăng tốc, thiếu ô xi v.v...); các máy móc này (ví dụ, các 
khoang được dựng lên trên một cánh tay quay mô phỏng các điều kiện 

của máy bay siêu âm) mang tính chất những máy móc kiểm tra phản xạ 
và những loại đó được phân loại vào nhóm 90.19. 
Các thiết bị không được thiết kế đặc biệt để huấn luyện bay cho phi công 
mà là để dạy chung cho các phi hành đoàn (ví dụ như các mô hình phóng 
to của máy bay ổn định nhờ hồi chuyển) thì bị loại trừ (nhóm 90.23). 
88.06 - Phương tiện bay không người lái. 
8806.10 - - Được thiết kế để vận chuyển hành khách 
              - Loại khác, chỉ sử dụng cho chuyến bay được điều khiển 
từ xa: 
8806.21 - - Trọng lượng cất cánh tối đa không quá 250 g 
8806.22 - - Trọng lượng cất cánh tối đa trên 250 g nhưng không 
quá 7 kg 
8806.23 - - Trọng lượng cất cánh tối đa trên 7 kg nhưng không quá 
8806.24 - - Trọng lượng cất cánh tối đa trên 25 kg nhưng không 
quá 150 kg 
8806.29 - - Loại khác 
              - Loại khác : 
8806.91 - - Trọng lượng cất cánh tối đa không quá 250 g 
8806.92 - - Trọng lượng cất cánh tối đa trên 250 g nhưng không 
quá 7 kg 
8806.93 - - Trọng lượng cất cánh tối đa trên 7 kg nhưng không quá 
8806.94 - - Trọng lượng cất cánh tối đa trên 25 kg nhưng không 
quá 150 kg 
8806.99 - - Loại khác 
Theo Chú giải 1 của Chương này, nhóm này bao gồm phương tiện không 
người lái, được thiết kế để bay mà không có người lái trên máy bay, trừ 
những loại được nêu trong nhóm 88.01. Phương tiện bay không người lái 
có thể chỉ có khả năng thực hiện chuyến bay điều khiển từ xa do người 
điều khiển từ nơi khác (ví dụ, mặt đất, tàu, phương tiện bay khác hoặc 

không gian) vào mọi lúc trong quá trình hoạt động bay, hoặc có khả 
năng bay được lập trình để được thực hiện mà không cần sự can thiệp 
của người vận hành. 
Mặc dù phương tiện bay không người lái có thể có nhiều hình dạng và 
kích cỡ khác nhau nhưng chúng thường được trang bị một hoặc nhiều 
cánh quạt hoặc rôto được điều khiển bằng động cơ, hoặc cánh cố định, 
và hệ thống liên lạc để chỉ huy và điều khiển bởi người điều khiển từ xa. 
Chúng cũng có thể kết hợp các máy thu Hệ thống Vệ tinh Định vị Toàn 
cầu (GNSS), (ví dụ, GPS, GLONASS hoặc BEIDOU) để di chuyển ổn 
định và bay trở lại điểm cất cánh và các hệ thống tránh chướng ngại vật, 
chức năng theo dõi và nhận dạng đối tượng. 
Phương tiện bay không người lái có thể được thiết kế để mang trọng tải 
hoặc được trang bị máy ảnh kỹ thuật số tích hợp vĩnh viễn hoặc thiết bị 
khác được sử dụng cho các chức năng tiện dụng như vận chuyển hàng 
hóa hoặc hành khách, chụp ảnh trên không, công việc nông nghiệp hoặc 
khoa học, nhiệm vụ cứu hộ, chữa cháy, giám sát hoặc vì mục đích quân 
sự. 
Nhóm này cũng loại trừ các đồ chơi hoặc mô hình bay được thiết kế chỉ 
nhằm mục đích giải trí, và không được thiết kế để thực hiện các chức 
năng thực dụng. Chúng có thể được phân biệt, ví dụ như bằng trọng 
lượng thấp, độ cao hạn chế, khoảng cách hoặc thời gian chúng có thể 
bay, tốc độ tối đa, không có khả năng bay tự động, hoặc không có khả 
năng mang tải/hàng hóa hoặc vì chúng không được trang bị thiết bị điện 
tử phức tạp (ví dụ, Hệ thống định vị toàn cầu, yêu cầu bay đêm hoặc tầm 
nhìn ban đêm) (nhóm 95.03). 
88.07 - Các bộ phận của các mặt hàng thuộc nhóm 88.01, 88.02 hoặc 
8807.10 - Cánh quạt và rôto và các bộ phận của chúng 
8807.20 - Bộ càng- bánh và các bộ phận của chúng 
8807.30 - Các bộ phận khác của máy bay, trực thăng hoặc 
phương tiện bay không người lái 
8807.90 - Loại khác 

Nhóm này bao gồm các bộ phận của các hàng hóa thuộc các nhóm 
88.01, 88.02 hoặc 88.06, nếu các bộ phận này đáp ứng đủ hai điều kiện 
(i)  Được xác định phù hợp để chỉ hoặc chủ yếu sử dụng cho các 
hàng hóa thuộc các nhóm đã nêu trên; và 
      (ii) Chúng không bị loại trừ theo những quy định của Chú giải của 
Phần XVII (xem Chú giải Tổng quát tương ứng). 
Các bộ phận trong nhóm này bao gồm: 
 (I) Các bộ phận của khí cầu và khinh khí cầu điều khiển được, như: 
(1) Vỏ khí cầu 
(2) Các vỏ ngoài và các bộ phận của chúng (dải hoặc thành tấm) 
(3) Các vòng trọng tải. 
(4) Các khí cầu nhỏ làm cơ cấu bù trừ (ballonet). 
(5) Các khung cứng và các đoạn của chúng. 
(6) Các bộ thăng bằng và bánh lái, đuôi lái. 
(7) Các cánh quạt của các khinh khí cầu điều khiển được. 
(II) Các bộ phận của các phương tiện bay, có hoặc không người lái, 
kể cả tàu lượn và diều, như: 
(1) Thân và vỏ máy bay; các phần của thân hoặc của vỏ máy bay; 
cũng như các bộ phận bên ngoài hoặc bên trong (vòm cho ăngten, 
rađa, mũi đuôi thân máy bay, các bộ phận phụ làm thon thân máy 
bay, các tấm, vách, ngăn hàng hoá, sàn, bảng điều khiển của 
buồng lái, khung, cửa ra vào và băng rãnh trượt để sơ tán người, 
cửa sổ, cửa sổ ở thành máy bay,...). 
(2) Cánh và các bộ phận của chúng (sải cánh, đường gân, thanh 
giằng).  
(3) Các mặt điều khiển, chuyển động hoặc không (cánh liệng, cánh 
phụ, các mũi công kích, bộ lệch dòng, bánh lái độ cao và định 
hướng, bộ ổn định, các bộ thăng bằng, v.v...). 
 (4) Vỏ khí cầu, nắp đậy, các giảm sức cản hình thoi (giỏ nôi hình 

thoi) và các cột để cố định động cơ phản lực. 
 (5) Các bộ bánh máy bay (kể cả phanh và phụ kiện của phanh) và 
các thiết bị gập bánh xe lại; bánh xe (có lốp hoặc không); các ván 
trượt hạ cánh. 
(6) Các phao cho thuỷ phi cơ. 
(7) Cánh quạt, rôto; các cánh của cánh quạt và cánh rôto; các thiết bị 
để điều chỉnh vòng xoắn cánh quạt và rôto. 
(8) Các cần điều khiển (cần điều khiển, bánh lái và các cần thao tác 
khác). 
(9) Bình chứa nhiên liệu, kể cả các bình phụ. 

Chương 89 
Tàu thuỷ, thuyền và các kết cấu nổi 
Chú giải. 
1.- Thân tàu, tàu chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện, đã lắp ráp, 
hoặc chưa lắp ráp hoặc tháo rời, hoặc tàu hoàn chỉnh chưa lắp ráp 
hoặc tháo rời, được phân loại vào nhóm 89.06 nếu không có đặc 
trưng cơ bản của một loại tàu cụ thể. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm tàu thuyền các loại (tự hành hoặc không) và cả các 
kết cấu nổi như giếng chìm hơi ép để làm việc dưới nước, các thùng nổi 
buộc tàu thuyền, bến tàu thủy, phao tiêu. Chương này cũng bao gồm các 
xe đệm không khí (tàu đệm khí) được thiết kế để di chuyển trên mặt 
nước ( biển, cửa sông, hồ), có thể hoặc không thể đỗ trên bãi biển hoặc 
bến tàu hoặc có thể di chuyển trên bề băng (xem Chú giải 5 Phần XVII) 
Chương này cũng bao gồm: 
(A) Tàu thuyền chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện (ví dụ tàu chưa 
lắp động cơ đẩy, khí cụ hàng hải, máy nâng hàng hoặc máy xếp dỡ 
hàng hoặc đồ nội thất) 
 (B) Thân tàu làm bằng bất cứ chất liệu gì. 
Tàu thuyền hoàn chỉnh ở dạng chưa lắp ráp hoặc tháo rời và thân tàu, tàu 
thuyền chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện (đã hoặc chưa lắp ráp), 
được phân loại vào một loại tầu thuyền cụ thể, nếu chúng có đặc trưng 
cơ bản của tàu thuyền đó. Trong các trường hợp khác, chúng được phân 
loại vào nhóm 89.06. 
Ngược với quy định liên quan đến thiết bị chuyên chở của những 
Chương khác thuộc Phần XVII, Chương này loại trừ các bộ phận ở 
dạng riêng lẻ (trừ thân tàu) và phụ kiện của tàu thuyền hoặc kết cấu nổi, 
mặc dù chúng có thể được xác định rõ ràng là bộ phận của tàu thuyền. 
Những bộ phận và phụ kiện như trên được phân loại vào nhóm phù hợp 
quy định tại mục khác thuộc Danh mục, ví dụ: 

(1) Các bộ phận và đồ phụ trợ đã được định rõ tại Chú giải 2 Phần XVII. 
(2) Các mái chèo và giầm chèo bằng gỗ (nhóm 44.21). 
(3) Cáp và thừng chão bằng vật liệu dệt (nhóm 56.07). 
(4) Buồm (nhóm 63.06). 
(5) Cột buồm, cửa boong, cầu tàu, đường ray và vách ngăn của tàu hoặc 
thuyền và bộ phận của thân tàu, có đặc tính kết cấu bằng kim loại 
thuộc nhóm 73.08. 
(6) Cáp bằng sắt hoặc thép (nhóm 73.12). 
(7) Các neo bằng sắt hoặc thép (nhóm 73.16). 
(8) Chân vịt và bánh guồng nước tàu thủy (nhóm 84.87). 
(9) Bánh lái (các nhóm 44.21, 73.25, 73.26…) và các thiết bị lái hoặc 
thiết bị bánh lái khác của tàu hoặc thuyền (nhóm 84.79). 
Chương này không bao gồm: 
 (a) Các mô hình tàu thuyền dùng để trang trí (ví dụ như thuyền buồm và 
các thuyền chạy bằng sức gió khác) (nhóm 44.20, 83.06, ...). 
(b)  Các mẫu trưng bày và các mô hình thuộc nhóm 90.23. 
(c)  Ngư lôi, mìn và các loại đạn dược tương tự (nhóm 93.06). 
(d)  Đồ chơi lắp bánh xe hình thuyền thiết kế cho trẻ em chơi và các đồ 
chơi khác (nhóm 95.03). 
(e)  Các ván lướt trên mặt nước và các dụng cụ tương tự (nhóm 95.06). 
(f)  Các thuyền bé được thiết kế đặc biệt dùng trong trò chơi di chuyển 
trong công viên giải trí (amusement park rides), trò chơi công viên 
nước (water park amusements) hoặc trò chơi hội chợ (fairground 
amusements) (nhóm 95.08). 
(g)  Các cổ vật trên 100 tuổi (nhóm 97.06). 
Các xe cơ giới lội nước và các xe chạy bằng đệm khí được thiết kế để di 
chuyển cả trên đất liền và trên một số mặt nước (đầm,...) đều được phân 
loại như xe có động cơ của Chương 87, và thuỷ phi cơ và thuyền bay 

thuộc nhóm 88.02. 
89.01 -Tàu thủy chở khách, thuyền, xuồng du lịch, phà, tàu thuỷ chở 
hàng, xà lan và các tàu thuyền tương tự để vận chuyển người 
hoặc hàng hóa 
    8901.10  - Tàu thủy chở khách, thuyền, xuồng du lịch và các tàu 
thuyền tương tự được thiết kế chủ yếu để vận chuyển 
người; phà các loại. 
8901.20  - Tàu chở chất lỏng hoặc khí hoá lỏng. 
8901.30 - Tàu thuyền đông lạnh, trừ loại thuộc phân nhóm 
    8901.90 - Tàu thuyền khác để vận chuyển hàng hóa và tàu thuyền 
khác để vận chuyển cả người và hàng hóa 
Nhóm này bao gồm tất cả tàu thuyền dùng để vận chuyển người hoặc 
hàng hóa, trừ tàu thuyền thuộc nhóm 89.03 và xuồng cứu hộ (trừ loại 
thuyền dùng mái chèo), các tàu chở quân và tầu bệnh viện (nhóm 
89.06); các loại tàu thuyền này có thể sử dụng để đi biển hoặc đường 
thủy nội địa (ví dụ trên hồ, kênh, sông, cửa sông). 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Các tàu thuỷ chở khách và du thuyền. 
(2) Các loại phà, bao gồm cả phà chở tàu hoả, chở ôtô và phà chạy ở 
sông nhỏ.  
(3) Các tàu chở chất lỏng hoặc khí hoá lỏng (chở dầu, chở khí đốt 
lỏng, chở rượu, v.v...) 
(4) Các tàu đông lạnh để chở thịt, hoa quả, v.v... 
(5) Các loại tàu chở hàng (trừ tàu chở dầu và tàu đông lạnh) chuyên hoặc 
không chuyên dùng để vận chuyển một số hàng nhất định. Các loại tàu 
này bao gồm tàu chở quặng và tàu chở hàng rời (để chở ngũ cốc, than), 
các tàu chở côngtennơ, các tàu ro-ro (roll on roll off) và tàu LASH. 
6) Các loại xà lan, xà lan sàn phẳng và cấu trúc nổi (ponttoon) có sàn 

phẳng dùng để vận chuyển hàng hoá, và đôi khi vận chuyển người. 
(7) Tàu lướt, tàu cánh ngầm và tàu đệm khí. 
89.02 - Tàu thuyền đánh bắt thuỷ sản; tàu chế biến và các loại tàu 
khác dùng cho chế biến hay bảo quản thuỷ sản đánh bắt. 
Nhóm này bao gồm tất cả các loại tàu thuyền đánh bắt hải sản thiết kế 
cho nghề đánh bắt trên biển hoặc trên các mặt nước nội địa, trừ các 
thuyền đánh bắt thuỷ sản dùng mái chèo (nhóm 89.03). Chúng bao gồm 
tàu đánh cá ngừ và tàu đánh cá bằng lưới rà.  
Nhóm này cũng bao gồm cả các tàu nhà máy (dùng để bảo quản cá, 
Các tàu thuyền đánh cá có thể dùng để đi du lịch thường trong mùa du 
lịch, cũng được phân loại trong Nhóm này. 
Tuy nhiên, các tàu thuyền đánh cá thể thao bị loại trừ (nhóm 89.03). 
89.03 - Du thuyền hạng nhẹ và các loại tàu thuyền khác phục vụ 
nghỉ ngơi, giải trí hoặc thể thao; thuyền dùng mái chèo và 
canô (+). 
  - Thuyền, xuồng có thể bơm hơi (bao gồm cả thuyền, 
xuồng thân cứng có thể bơm hơi): 
8903.11 - - Được trang bị hoặc thiết kế để lắp với động cơ, trọng 
lượng không tải (tịnh) (không bao gồm động cơ) không 
quá 100 kg 
8903.12 - - Không được thiết kế để sử dụng với động cơ và trọng 
lượng không tải (tịnh) không quá 100 kg 
8903.19  - - Loại khác 
              - Thuyền buồm, trừ loại có thể bơm hơi, có hoặc không có 
động cơ phụ trợ: 
8903.21 - - Có chiều dài không quá 7,5 m 
8903.22 - - Có chiều dài trên 7,5 m nhưng không quá 24 m 

8903.23 - - Có chiều dài trên 24 m 
              - Thuyền máy, trừ loại có thể bơm hơi, không bao gồm 
thuyền máy có gắn máy bên ngoài: 
8903.31 - - Có chiều dài không quá 7,5 m 
8903.32 - - Có chiều dài trên 7,5 m nhưng không quá 24 m 
8903.33 - - Có chiều dài trên 24 m 
              - Loại khác: 
8903.93 - - Có chiều dài không quá 7,5 m 
8903.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm tất cả các tàu thuyền dùng cho giải trí hoặc thể thao 
cũng như tất cả các thuyền dùng mái chèo và xuồng (canô). 
Nhóm này cũng bao gồm cả thuyền buồm, thuyền phản lực và các 
thuyền buồm và thuyền máy khác, xuồng nhỏ, xuồng caiac, thuyền chèo 
mái đôi, thuyền đua một người chèo, thuyền đạp chân (loại thuyền dùng 
bàn đạp pedal), thuyền câu cá thể thao, xuồng bơm hơi và thuyền có thể 
gấp hoặc tháo rời được. 
Nhóm này cũng bao gồm thuyền cứu hộ dùng mái chèo (các thuyền cứu 
hộ khác thuộc nhóm 89.06). 
Tuy nhiên, các ván buồm bị loại trừ (nhóm 95.06). 
Chú giải chi tiết phân nhóm. 
Phân nhóm 8903.31, 8903.32 và 8903.33 
“Các động cơ gắn ngoài” được mô tả ở Chú giải chi tiết nhóm 84.07. 
89.04 -  Tàu kéo và tàu đẩy. 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Tàu kéo, là những tàu thiết kế chủ yếu để kéo các tàu khác. 
Chúng có thể thuộc loại dùng trên biển hoặc trên đường thủy 

nội địa. Chúng có thể phân biệt với các tàu khác nhờ thân tàu 
có hình dáng đặc biệt và vỏ tàu cứng, động cơ mạnh không tỷ 
lệ với kích cỡ của con thuyền và có nhiều đầu nối trên boong 
được thiết kế để mang thừng, cáp kéo, v.v... 
(B) Tàu đẩy, là những tàu được thiết kế đặc biệt để đẩy các sà 
lan... Chúng có đặc điểm chủ yếu là mũi tàu dẹt (để đẩy) và 
buồng lái đặt trên cao (có thể là kiểu ống lồng). 
Nhóm này cũng bao gồm các tàu lai đẩy (“pusher-tugs”) được thiết kế 
để vừa là tàu đẩy, vừa là tàu kéo; Giống như tàu đẩy, chúng có mũi dẹt, 
nhưng đuôi lại được làm nghiêng về phía sau để chúng có thể rẽ nước và 
kéo sà lan,.. 
Các tàu kéo được thiết kế để giúp các tàu bị nạn, cũng thuộc Nhóm 
này. 
Các tàu thuyền thuộc nhóm này không được thiết kế để vận chuyển 
người hoặc hàng hoá. Chúng có thể trang bị thiết bị chuyên dụng, để 
chữa cháy, bơm, sấy hàng hoá, v.v... Tuy nhiên, thiết kế để vận chuyển 
người hoặc hàng hoá. Chúng có thể trang bị thiết bị chuyên dụng, để 
chữa cháy, bơm, sấy hàng hoá, v.v... Tuy nhiên tàu thuyền cứu hoả thì bị 
loại trừ (nhóm 89.05). 
89.05 -Tàu đèn hiệu, tàu cứu hỏa, tàu hút nạo vét (tàu cuốc), cần cẩu 
nổi và tàu thuyền khác mà tính năng di động trên mặt nước 
chỉ nhằm bổ sung cho chức năng chính của các tàu thuyền 
này; ụ nổi sửa chữa tàu; dàn khoan hoặc dàn sản xuất nổi 
hoặc nửa nổi nửa chìm. 
8905.10 - Tàu hút nạo vét (tàu cuốc) 
8905.20 - Dàn khoan hoặc dàn sản xuất nổi hoặc nửa nổi nửa chìm 
8905.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm:  
(A) Các tàu đèn hiệu, tàu cứu hoả, tàu cuốc, cần cẩu nổi và các tàu 
thuyền khác mà tính năng di động trên mặt nước chỉ nhằm bổ 

sung cho chức năng chính của các tàu thuyền này. 
Các tàu thuyền này thường thực hiện chức năng chính tại vị trí cố 
định. Chúng bao gồm: tàu đèn hiệu, tàu khoan, tàu cứu hoả, tàu cuốc 
các loại (bằng gầu, bằng hút, v.v...), các tàu trục tàu đắm; các tàu 
phao cứu đắm; các tàu lặn; các cấu kiện nổi có trang bị máy nâng 
hoặc thiết bị xếp dỡ (ví dụ cần trục, cần cẩu, băng tải chuyển ngũ 
cốc, v.v...), và các cấu kiện nổi (pontoon) được thiết kế hoàn toàn để 
làm nền đặt các máy móc đó. 
Các nhà thuyền, tàu giặt và các nhà máy xay nổi đều thuộc nhóm 
này. 
(B) Ụ nổi sửa chữa tàu. 
Ụ nổi sửa chữa tàu là loại xưởng nổi dùng để thay thế xưởng chữa 
tàu trên cạn. 
Nói chung, chúng thường có cấu trúc mặt cắt hình chữ U gồm một 
sàn và các vách ngăn, chúng được trang bị các khoang bơm cho 
phép chúng nửa nổi nửa chìm giúp tàu thuyền có thể vào để sửa 
chữa. Trong một số trường hợp, chúng có thể được lai kéo. 
Một loại ụ nổi sửa chữa tàu khác cũng hoạt động kiểu tương tự 
nhưng là loại tự hành và được trang bị thêm động cơ công suất lớn. 
Chúng được sử dụng để sửa chữa hoặc vận chuyển các xe lội nước 
hoặc các tàu thuyền khác.  
(C) Các dàn khoan hoặc dàn sản xuất, nổi hoặc ngầm. 
Chúng thường được thiết kế để phát hiện hoặc khai thác các mỏ dầu 
hoặc khí tự nhiên ở ngoài khơi. Ngoài các thiết bị cần thiết cho việc 
khoan hoặc khai thác như tháp khoan, cần cẩu, bơm, những bộ phận 
để trám xi măng giếng dầu, tháp xi lô, v.v... chúng còn có các chỗ ở 
cho nhân viên. 
Các dàn này, được lai kéo hoặc trong một số trường hợp tự vận hành 
đến nơi khai thác hoặc nơi sản xuất và đôi khi có thể trôi từ chỗ này 
đến chỗ khác. Có thể chia thành các nhóm chính sau:  
(1) Dàn tự nâng gồm, ngoài bản thân dàn làm việc, còn được trang 
bị các thiết bị (vỏ, thùng, v.v...) cho phép nó nổi trên mặt nước 

và những cột trụ co duỗi được, hạ xuống chỗ làm việc sao cho 
chúng trụ trên đáy biển và nâng dàn làm việc cao hơn mặt nước. 
(2) Dàn ngầm mà cơ cấu hạ tầng ngập dưới nước tại những nơi làm 
việc với các thùng neo nằm ở đáy biển nhằm bảo đảm độ ổn 
định cao cho dàn làm việc nằm phía trên mặt nước. Các thùng 
(neo) có thể có những thân pít tông hoặc cột trụ thọc sâu ít 
nhiều vào đáy biển. 
(3) Dàn nửa ngầm, giống với các dàn ngầm, nhưng khác ở chỗ 
phần ngầm không trụ trên đáy biển. Khi làm việc, chúng được 
giữ ở vị trí cố định bằng những đường neo hoặc bằng cách tự 
cân bằng (đối trọng). 
Các dàn cố định dùng vào việc phát hiện hoặc khai thác mỏ dầu 
hoặc khí tự nhiên ở ngoài khơi, không ở dạng nổi hoặc không ở 
dạng ngầm đều bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm 84.30). 
Nhóm này cũng loại trừ phà (nhóm 89.01), các tàu chế biến hải sản 
(nhóm 89.02), tàu rải cáp và các tàu khí tượng (nhóm 89.06). 
89.06 -Tàu thuyền khác, kể cả tàu chiến và xuồng cứu sinh trừ thuyền 
dùng mái chèo. 
8906.10 - Tàu chiến 
8906.90 - Loại khác 
 Nhóm này bao gồm tất cả các tàu thuyền không được đề cập cụ thể hơn 
tại các nhóm từ 89.01 đến 89.05. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Tàu chiến các loại, bao gồm: 
(a) Tàu được thiết kế để chiến đấu, trang bị vũ khí tiến công và phòng 
thủ, có giáp chống đạn (bọc sắt, vách ngăn nước nhiều lớp) hoặc 

các thiết bị chìm (thiết bị phát hiện mìn chống từ tính). Nói chung, 
chúng được trang bị các thiết bị dò tìm và nghe ngóng như rađa, 
thiết bị đo sóng âm, máy dò tìm bằng tia hồng ngoại và các thiết bị 
làm nhiễu sóng vô tuyến. 
Tàu thuộc nhóm này có thể phân biệt với tàu thuyền thương mại 
nhờ tốc độ và khả năng cơ động lớn hơn, bởi số lượng thuỷ thủ 
nhiều hơn, téc chứa nhiên liệu lớn hơn và có các hầm đặc biệt để 
chở và sử dụng đạn dược trên biển. 
(b) Một số tàu có cấu tạo đặc biệt, tuy không trang bị vũ khí hoặc 
không bọc sắt, nhưng được xem là chỉ hoặc chủ yếu sử dụng để 
chiến đấu, như tàu đổ bộ hoặc các đội tàu hậu cần (chở đạn dược 
hoặc chở mìn, v.v...), tàu chở quân. 
(c) Tàu ngầm. 
(2) Tàu thuyền có một số đặc tính của tàu chiến nhưng do các cơ quan 
công quyền sử dụng (ví dụ hải quan, công an). 
(3) Các thuyền cứu hộ treo ở mạn tàu, cũng như đặt ở một số điểm nhất 
định trên bờ biển và để cứu các tàu bị nạn. Tuy nhiên, các thuyền 
cứu hộ dùng mái chèo thì thuộc nhóm 89.03. 
(4) Tàu nghiên cứu khoa học; tàu có phòng thí nghiệm; tàu khí tượng. 
5) Tàu chở và thả phao; tàu lắp đặt cáp ngầm dưới biển, ví dụ dùng cho 
viễn thông. 
(6) Các tàu hoa tiêu. 
(7) Các tàu phá băng. 
(8) Các tàu bệnh viện. 
(9) Xà lan chở bùn đã nạo vét... 
Nhóm này cũng bao gồm ví dụ như “ống nổi”, bộ phận sáng chế có thể 
gấp được dùng cho việc chuyên chở hàng hóa bằng đường thủy các chất 
lỏng và hàng hoá khác bao gồm ống mềm được gia cố bằng vải hồ có thể 
nhận biết bởi hình dạng (thường giống hình trụ nhọn) và các thiết bị gắn 
theo chúng như thiết bị thăng bằng, móc kéo, và đôi khi là các ống nổi. 

Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Phà (pontoons)  (thuyền có boong phẳng dùng để vận chuyển người 
hoặc hàng hoá) (nhóm 89.01) 
(b) Phao nổi (pontoons) được thiết kế rõ ràng để sử dụng làm nền đặt các 
cần cẩu nổi, v.v... (nhóm 89.05). 
(c) Các phao nổi (pontoons) hình trụ rỗng, dùng để đỡ các cầu tạm, v.v... 
và các loại mảng (nhóm 89.07). 
89.07 - Kết cấu nổi khác (ví dụ, bè mảng, thùng chứa chất lỏng, 
ketxon giếng kín (coffer-dams), cầu lên bờ, các loại phao nổi và 
mốc hiệu). 
8907.10 - Bè mảng có thể bơm hơi 
8907.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm một số loại cấu kiện nổi không mang đặc điểm của 
tàu thuyền. Chúng thường cố định khi sử dụng và gồm: 
(1) Các thùng rỗng hình trụ, dùng để đỡ các cầu tạm, v.v.... Tuy nhiên, 
các phao nổi (pontoons) mang đặc điểm của tàu thuyền thì bị loại 
trừ (nhóm 89.01 hoặc 89.05). 
(2) Thùng nổi dùng để chứa động vật giáp xác hoặc cá. 
(3) Thùng nổi sử dụng tại một số cảng để cung cấp nước, dầu... cho tàu 
thuyền 
(4) Két son (coffer-dam) để thi công cầu, v.v... 
 (5) Các bến tàu nổi. 
(6) Các loại phao như phao neo, phao tín hiệu, phao phát sáng hoặc  
phao chuông. 
(7) Đèn hiệu nổi dùng để đánh dấu luồng lạch, báo hiệu các trở ngại trên 
đường thuỷ, v.v... 
(8) Các phao nâng để trục tàu. 
(9) Thiết bị chống thuỷ lôi (chống mìn), loại phao này dùng để quét mìn. 

(10) Các loại bè mảng kể cả bè mảng nổi hình tròn phồng lên tự động 
khi tiếp xúc với nước và dùng để chở người đắm tàu. 
(11) Các cấu kiện nổi được thiết kế có chức năng như cổng của ụ nổi 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Các chuông lặn gồm có một buồng bằng kim loại được thả xuống 
hoặc kéo lên bằng một thiết bị đặt ngoài (ví dụ, phương tiện nâng); 
thường được phân loại thuộc nhóm 84.79 
(b) Dây an toàn và áo phao cứu hộ (được phân loại theo chất liệu cấu 
thành). 
(c) Ván buồm (nhóm 95.06). 
89.08 - Tàu thuyền và kết cấu nổi khác để phá dỡ. 
 Nhóm này chỉ bao gồm những tàu thuyền và các cấu kiện nổi khác 
thuộc các nhóm từ 89.01 đến 89.07, ở dạng để phá huỷ. Thường đây là 
những tàu thuyền đã bị hư hỏng, cũ nát, đôi khi đã tháo các thiết bị, máy 
móc, v.v... 

Chương 91 
Đồng hồ thời gian, đồng hồ cá nhân và các bộ phận của chúng 
Chú giải. 
1.-  Chương này không bao gồm: 
(a) Mặt kính đồng hồ thời gian hoặc đồng hồ cá nhân hoặc quả 
lắc đồng hồ (được phân loại theo vật liệu cấu thành); 
(b) Dây đeo đồng hồ cá nhân (tuỳ theo từng trường hợp, thuộc 
nhóm 71.13 hoặc 71.17); 
(c) Các bộ phận có công dụng chung đã định nghĩa trong Chú giải 
2 Phần XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV), hoặc các hàng 
hoá tương tự bằng plastic (Chương 39) hoặc bằng kim loại quý 
hoặc kim loại dát phủ kim loại quý (thường thuộc nhóm 71.15); 
tuy nhiên, lò xo đồng hồ thời gian hoặc đồng hồ cá nhân, được 
phân loại như các bộ phận của các loại đồng hồ đó (nhóm 
(d) Bi của ổ bi (tuỳ theo từng trường hợp, thuộc nhóm 73.26 hoặc 
(e) Các mặt hàng thuộc nhóm 84.12 được cấu tạo để làm việc mà 
không có bộ phận điều tốc; 
(f) Ổ bi (nhóm 84.82); hoặc 
(g) Các mặt hàng thuộc Chương 85, chưa lắp ráp với nhau hoặc với 
các bộ phận cấu thành khác để làm thành máy của đồng hồ cá 
nhân hoặc đồng hồ thời gian khác hoặc làm thành các mặt hàng 
chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng như các bộ phận của máy đồng hồ 
(Chương 85). 
2.-  Nhóm 91.01 chỉ bao gồm loại đồng hồ cá nhân có vỏ làm hoàn toàn 
bằng kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý, hoặc bằng 
cùng loại vật liệu kết hợp với ngọc trai thiên nhiên hoặc ngọc trai 
nuôi cấy, hoặc với đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc 
tái tạo) thuộc các nhóm từ 71.01 đến 71.04. Đồng hồ cá nhân với vỏ 
bằng kim loại khảm kim loại quý xếp vào nhóm 91.02. 
3.-  Trong Chương này, khái niệm "máy đồng hồ cá nhân" (bộ phận 

chuyển động của đồng hồ) được hiểu là các bộ phận được điều 
chỉnh bằng con lắc và dây tóc, tinh thể thạch anh hoặc bất kỳ một hệ 
thống nào khác có khả năng xác định khoảng cách thời gian, có kèm 
theo mặt hiển thị hoặc hệ thống có mặt hiển thị bằng cơ học. Máy 
đồng hồ cá nhân như vậy có chiều dày không quá 12 mm và chiều 
rộng, chiều dài hoặc đường kính không quá 50 mm. 
4.-  Ngoài các quy định đã nêu trong Chú giải 1, máy đồng hồ và các bộ 
phận khác sử dụng cho cả hai loại đồng hồ thời gian hoặc đồng hồ 
cá nhân và dùng cho các mặt hàng khác (ví dụ, thiết bị chính xác) 
được phân loại trong Chương này. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm những thiết bị nhất định được thiết kế chủ yếu để 
đo thời gian hoặc để tác động vào một số hoạt động liên quan đến thời 
gian. Chúng bao gồm các loại đồng hồ phù hợp để mang theo người (các 
loại đồng hồ đeo tay và đồng hồ bấm thời gian), các loại đồng hồ khác 
(các loại đồng hồ thời gian thông thường, đồng hồ với bộ phận máy 
đồng hồ, đồng hồ báo thức, đồng hồ hàng hải, đồng hồ thời gian dùng 
cho các xe có động cơ, vv…); và cả các loại thiết bị ghi nhận thời gian, 
các dụng cụ đo quãng thời gian và dụng cụ hẹn giờ; nói chung, chương 
này bao gồm cả các bộ phận của những mặt hàng nêu trên. 
Các mặt hàng được nêu trong Chương này có thể được làm bằng bất kỳ 
vật liệu gì (kể cả kim loại quý) và chúng cũng có thể được trang trí hay 
tô điểm bằng ngọc trai thiên nhiên hoặc nuôi cấy, hoặc bằng đá quý hay 
bán quý tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo (xem phần Chú giải Chi tiết 
nhóm 91.11 và 91.12). 
Việc phân loại các loại đồng hồ thời gian và đồng hồ cá nhân được gắn 
vào đồ vật khác (một món đồ của đồ nội thất, đèn, giá cài bút, chặn giấy, 
tập giấy viết, hộp đựng thuốc lá sợi, bật lửa, túi xách tay, hộp phấn trang 
điểm, hộp đựng thuốc lá, bút chì bấm, gậy ba-toong, v.v...) được quy 
định bởi các Quy tắc giải thích thuật ngữ của Danh mục. Ngay cả đồng 
hồ thời gian hoặc đồng hồ cá nhân chỉ thêm bộ phận chiếu sáng bên 
trong vẫn thuộc Chương này. 
Bên cạnh những loại trừ được nêu tại Chú giải chi tiết mỗi nhóm, 

Chương này không bao gồm:  
(a) Đồng hồ mặt trời và đồng hồ cát (được phân loại theo vật liệu cấu 
thành). 
(b) Thiết bị âm nhạc tự động (các loại nhạc cụ cơ khí tạo tiếng chim hót 
và những thứ tương tự) và các hộp phát nhạc  không có mặt đồng hồ 
(nhóm 92.08). 
(c) Đồng hồ đồ chơi hay phụ kiện đính lên cây Giáng sinh dưới dạng 
đồng hồ thời gian hay đồng hồ cá nhân, không có máy đồng hồ 
(nhóm 95.03 hay 95.05). 
(d) Các mô hình tự động và các vật trưng bày cử động được khác của 
loại dùng trong cửa hàng may mặc (nhóm 96.18). 
(e) Các tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm, và đồ cổ (Chương 97). 
Một chiêc đồng hồ thời gian hay đồng hồ cá nhân bao gồm hai phần 
chính: phần máy và phần vỏ chứa máy (hộp, vỏ, v.v…). 
Máy của đồng hồ thời gian hoặc đồng hồ cá nhân loại cơ khí gồm có các 
bộ phận sau: 
(1) Phần thân máy hoặc khung máy thường bao gồm phần mâm và các 
cầu nối. Mâm là vật đỡ cơ bản của bộ máy, trên đó lắp các cầu nối được 
cố định bằng ốc vít và chốt. Một số thân hoặc khung máy, ngoài các cầu 
nối và cái mâm phù hợp, còn có một hay nhiều mâm phụ (được gọi, ví 
dụ: mâm bao dưới, mâm mặt số) để giữ một số bộ phận nhất định của 
máy vào đúng vị trí (cơ cấu chuyển động, cơ cấu báo thức...). 
(2) Thiết bị truyền động cho máy, thường gồm có quả lắc hay lò xo; 
nguồn năng lượng cũng có thể là điện, hoặc là những thay đổi về 
nhiệt độ hay áp suất khí quyển. 
(3) Bộ truyền động, tức là chuỗi bánh răng nối thiết bị truyền động với 
bộ phận điều hòa chuyển động (cái hồi) để đo lường thời gian. 
(4) Cơ cấu chuyển động, tức là hàng loạt các bộ phận nó liên kết 
chuyển động của kim phút với chuyển động của kim giờ. Trong 
những bộ máy có đĩa mặt số, cơ cấu chuyển động thường được đặt 
giữa đĩa mặt số và đĩa máy. 
(5) Bộ phận điều hòa chuyển động (cái hồi); cung cấp cho bánh lắc và  
dây tóc năng lượng cần thiết và bảo đảm chuyển động của bộ truyền 

động được kiểm soát.  
(6) Các loại điều hòa chuyển động (cái hồi) thông thường nhất là mỏ 
neo hay đòn bẩy, tấm nâng (pin-pallet), xi lanh và chốt hãm. 
(7) Bộ điều tốc; có chức năng điều chỉnh chuyển động tạo nên bởi cơ 
cấu truyền động. Bộ điều tốc gồm có quả lắc, bánh xe cân bằng và 
vành tóc, âm thoa, một mặt kính thạch anh áp điện hay bất kỳ hệ 
thống nào khác có thể xác định các khoảng thời gian. 
(8) Cơ cấu lên dây cót và đặt giờ bằng tay (được thực hiện bằng một 
nút nhấn, núm kéo hoặc thanh gạt, v.v…). 
Máy đã lắp ráp cùng với mặt số và các kim được đặt gọn trong vỏ hoặc 
hộp máy.  
Bánh xe cân bằng, bộ phận điều chỉnh chuyển động và các bộ phận 
truyền động đều được quay một cách hài hòa. Đối với đồng hồ thời gian 
và đồng hồ cá nhân thuộc loại rẻ tiền, các bộ phận này quay trực tiếp 
trên mâm và các cầu nối kim loại, nhưng trong những loại đắt tiền thì 
các ổ quay thường được làm bằng đá quý để chống mài mòn. 
Đồng hồ thời gian và đồng hồ cá nhân có thể được lắp thêm bộ phận 
chuông báo giờ, chuông báo thức hay chuông ngân. Mỗi thiết bị này đều 
đòi hỏi một bộ chuyển động đặc biệt. 
Đồng hồ thời gian và đồng hồ cá nhân cơ học được lên dây bằng tay, 
bằng điện hoặc tự động. 
Các loại máy thuộc Chương này có thể là máy điện (bao gồm cả điện 
tử), ví dụ: 
(A) Các đồng hồ thời gian dùng pin khô hay ắc quy dự trữ yếu 
(khoảng vài phút). Những đồng hồ này có một tổ hợp  bánh xe cân 
bàng và dây tóc hoặc quả lắc thông thường, dây cót được lên dây 
định kỳ nhờ một nam châm điện. 
(B) Các đồng hồ thời gian nối với lưới điện có dự trữ mạnh (vài giờ). 
Những đồng hồ này cũng trang bị một tổ hợp  bánh xe cân bàng và 
dây tóc hoặc quả lắc thông thường hoặc quả lắc, dây cót được lên 

dây định kỳ nhờ một động cơ điện (đồng bộ, cảm ứng, v.v...) 
(C) Các đồng hồ quả lắc chạy bằng pin khô, ắc quy hoặc nối với lưới 
điện; quả lắc được giữ cho giao động bởi một thiết bị điện từ. 
(D) Các đồng hồ thời gian và đồng hồ cá nhân được cấp nguồn bằng 
pin khô hay ắc quy, với bộ điều tốc (âm thoa, mặt kính thạch anh 
áp điện, v.v...) được duy trì dao động bằng một mạch điện tử. 
(E) Các đồng hồ thời gian động cơ (mô tơ) đồng bộ. Những đồng hồ 
này được nối vào một dòng điện được điều chỉnh tần số, do đó chỉ 
gồm có mô tơ và hệ thống truyền động, không cần bộ điều tốc. 
Hệ thống đồng hồ thời gian chạy điện được đề cập cụ thể hơn trong Chú 
giải Chi tiết của nhóm 91.05. 
Một số loại đồng hồ thời gian chạy điện được lắp thêm thiết bị điều 
chỉnh giờ bằng điều khiển từ xa. 
Phục vụ cho mục đích định nghĩa các loại máy đồng hồ cá nhân theo 
Chú giải 3 của Chương này, các phương pháp đo lường kích thước sau 
đây được áp dụng: 
(a) Đo độ dày 
Độ dày của máy là khoảng cách từ mặt ngoài của chỗ đỡ mặt số 
(hay mặt nhìn thấy được của mặt số nếu mặt kia gắn chặt với 
máy) đến mặt ngoài đối diện xa nhất, không kể ốc, đai ốc hoặc 
các linh kiện cố định khác nhô lên trên bề mặt này. 
(b) Đo chiều rộng, chiều dài hay đường kính 
Tùy theo trường hợp, chiều rộng, chiều dài hay đường kính (được 
xác định bằng các trục đối xứng)  được đo mà không tính đến núm 
lên dây hay núm xoay. 
91.01 -  Đồng hồ đeo tay, đồng hồ bỏ túi và các loại đồng hồ cá nhân 
khác, kể cả đồng hồ bấm giờ, với vỏ làm bằng kim loại quý 

hay kim loại dát phủ kim loại quý.  
 - Đồng hồ đeo tay, hoạt động bằng điện, có hoặc không 
lắp kèm bộ phận bấm giờ: 
9101.11  - - Chỉ có mặt hiển thị bằng cơ học  
9101.19 - - Loại khác 
 - Đồng hồ đeo tay khác, có hoặc không lắp kèm bộ phận 
bấm giờ: 
 9101.21 - - Có bộ phận lên dây tự động 
 9101.29 - - Loại khác 
      - Loại khác 
 9101.91 - - Hoạt động bằng điện 
 9101.99 - - Loại khác 
Chú giải chi tiết của nhóm 91.02 áp dụng cho nhóm này với những sửa 
đổi chi tiết. 
Theo Chú giải 2 của Chương này, đồng hồ cá nhân thuộc nhóm này phải 
có vỏ hoàn toàn bằng kim loại quý hay kim loại mạ kim loại quý. Những 
đồng hồ này có thể được nạm đá quý hoặc nạm ngọc trai thiên nhiên hay 
nhân tạo và có thể có nắp hay dây đeo bằng kim loại quý (gắn đá quý 
hoặc không). 
Theo Chú giải 7 của Chương 71, khái niệm “kim loại dát phủ kim loại 
quý” được hiểu là vật liệu  có một lõi kim loại mà trên đó người ta phủ 
một hay nhiều lớp kim loại quý bằng cách hàn vảy, hàn cứng, hàn xì, cán 
nóng hay những phương pháp cơ học tương tự. 
Tuy nhiên, đồng hồ cá nhân có vỏ bằng kim loại quý hay kim loại dát 
phủ kim loại quý, có đáy bằng thép lại thuộc nhóm 91.02, cũng như 
đồng hồ cá nhân có vỏ bọc bằng kim loại cơ bản dát kim loại quý. 
91.02 -  Đồng hồ đeo tay, đồng hồ bỏ túi và các loại đồng hồ cá nhân 
khác, kể cả đồng hồ bấm giờ, trừ các loại thuộc nhóm 91.01. 

- Đồng hồ đeo tay, hoạt động bằng điện, có hoặc không  
lắp kèm bộ phận bấm giờ: 
9102.11 - - Chỉ có mặt hiển thị bằng cơ học 
9102.12 - - Chỉ có mặt hiển thị bằng quang điện tử 
9102.19 - - Loại khác 
- Đồng hồ đeo tay khác, có hoặc không lắp kèm bộ 
phận bấm giờ: 
9102.21 - - Có bộ phân lên dây tự động 
9102.29 - - Loại khác 
- Loại khác: 
9102.91 - - Hoạt động bằng điện 
9102.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các loại dụng cụ tính thời gian chạy bằng cơ và điện 
(chủ yếu là điện tử), có vỏ và máy, thuộc loại để đeo hoặc mang theo 
người và được thiết kế để vận hành ở mọi vị trí, chỉ giờ hay đo các 
khoảng thời gian, không kể độ dày của máy. Những dụng cụ này bao 
gồm đồng hồ đeo tay, đồng hồ bỏ túi, đồng hồ cài áo, đồng hồ mang theo 
túi xách tay, đồng hồ gắn vào ghim cài áo, nhẫn, v.v... 
Tuy nhiên, những đồng hồ có chân kê, dù đơn giản, cũng không được 
coi là đồng hồ cá nhân.  
Nhóm này không chỉ bao gồm những đồng hồ cá nhân có máy đơn giản 
mà còn gồm cả những loại có hệ thống phức tạp, (nghĩa là ngoài việc 
đơn giản chỉ giờ, phút, giây còn kết hợp thêm các yếu tố khác), ví dụ như 
đồng hồ cá nhân tính giờ, báo thức, báo giờ liên tục và có chuông, tự 
động, có lịch, nhắc lịch làm việc v.v... 
Nhóm này bao gồm cả những loại đồng hồ cá nhân có trang trí hay tính 
năng đặc biệt, như kín nước, chống "sốc" hay kháng từ; đồng hồ 8 ngày; 
lên dây tự động; đồng hồ có mặt số và kim dạ quang; đồng hồ có kim 
phụ ở giữa hay mặt số đặc biệt; đồng hồ không kim; đồng hồ thể thao 
(chẳng hạn đồng hồ cá nhân cho áo lặn có kim chỉ độ sâu), đồng hồ số 

nổi cho người mù. 
Loại đồng hồ cá nhân tính giờ chính xác là những đồng hồ có độ chính 
xác cao đã được kiểm tra ở các tư thế khác nhau và tại các mức nhiệt độ 
khác nhau. Nhóm này cũng bao gồm những đồng hồ cá nhân cho thuỷ 
thủ, nhưng không phải là loại đồng hồ đo thời gian hàng hải và các loại 
tương tự (nhóm 91.05). 
Đồng hồ cá nhân tính giờ không chỉ hiển thị thời gian trong ngày mà 
còn dùng để đo những khoảng thời gian tương đối ngắn. Những kiểu có 
kim thì ngoài ba kim thông thường (giờ, phút, giây) còn có thêm hai kim 
đặc biệt, tức là một kim phụ ở giữa chạy trọn một vòng trong một phút, 
kim này có thể cho chạy, dừng lại và trở về số không bằng một móc giật 
hoặc nút bấm, và một kim ghi số vòng mà kim phụ trung tâm đã thực 
hiện. Một số đồng hồ cá nhân tính giờ nhất định có thêm một kim giây. 
Nhóm này cũng bao gồm cả đồng hồ cá nhân bấm giờ. Loại này có kim 
khác với đồng hồ tính giờ đã mô tả ở trên ở chỗ chúng không có kim chỉ 
giờ, phút và giây thông thường mà chỉ có kim phụ trung tâm (có hoặc 
không có kim giây khác) và kim đếm phút. Tuy nhiên, các đồng hồ cá 
nhân bấm giờ điện tử thường có một thiết bị phụ để chỉ thời gian trong 
ngày. 
Các đồng hồ cá nhân tính giờ và đồng hồ cá nhân bấm giờ có thể chỉ rõ 
phần năm, phần mười, phần trăm hay phần nghìn giây. Đôi khi chúng 
được lắp thiết bị đặc biệt cho phép xác định tốc độ của vận động viên 
chạy đua, xe cộ, âm thanh,... nhịp đập, sản lượng của một máy, v.v... mà 
không cần phải tính toán. Một số thuộc loại này cũng có thiết bị ghi thời 
Dây đeo (đã lắp hoặc chưa lắp) đi kèm với  đồng hồ được phân loại vào 
nhóm này. 
Nhóm này không bao gồm những thứ sau khi chúng được trình bày 
riêng lẻ: vỏ đồng hồ cá nhân và các bộ phận của nó (nhóm 91.11), máy 
đồng hồ cá nhân (nhóm 91.08 hay 91.10), dây đeo, dải đeo và vòng đeo 
đồng hồ cá nhân (nhóm 91.13) và các bộ phận của máy (thường thuộc 
nhóm 91.10 hay 91.14). 

Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Đồng hồ đo bước (nhóm 90.29). 
(b) Đồng hồ thời gian có lắp máy đồng hồ cá nhân (nhóm 91.03). 
(c) Đồng hồ thời gian lắp trên bàn điều khiển phương tiện và các 
dạng tương tự dùng trên xe cộ, máy bay, tầu vũ trụ hay tàu thủy 
(nhóm 91.04). 
91.03 -  Đồng hồ thời gian có lắp máy đồng hồ cá nhân, trừ các loại 
đồng hồ thời gian thuộc nhóm 91.04. 
9103.10 - Hoạt động bằng điện 
9103.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các loại đồng hồ thời gian (kể cả đồng hồ báo thức 
nhưng không bao gồm đồng hồ thời gian thuộc nhóm 91.04) với điều 
kiện chúng được lắp máy đồng hồ cá nhân, và về cơ bản được làm ra để 
chỉ thời gian trong ngày. Theo Chú giải 3 của Chương, khái niệm “máy 
đồng hồ cá nhân” trong nhóm này được hiểu là máy móc được điều 
chỉnh bởi một bánh xe cân bằng và dây tóc, tinh thể thạch anh hay bất cứ 
hệ thống nào khác có thể xác định các khoảng thời gian, có bộ hiện số 
hay một hệ thống cho phép lắp bộ hiện số cơ. Những máy đồng hồ cá 
nhân như thế không được dày hơn 12 mm và chiều rộng, chiều dài hay 
đường kính không vượt quá 50 mm. 
Tuy nhiên, nên lưu ý rằng nhóm này không bao gồm: 
(a) Đồng hồ thời gian lắp trên bàn điều khiển phương tiện và các 
dạng đồng hồ thời gian tương tự, dùng trên xe cộ, máy bay, tầu 
vũ trụ hay tàu thủy; những loại này được phân loại vào nhóm 
91.04 bất kể chủng loại hay độ dày của máy. 
(b) Đồng hồ thời gian (bao gồm cả đồng hồ báo thức) không đáp ứng 
những điều kiện tại đoạn đầu tiên, ví dụ như đồng hồ quả lắc, 
đồng hồ thời gian có bất cứ hệ thống điều chỉnh nào khác có khả 
năng xác  định các khoảng thời gian mà độ dày vượt quá 12 mm, 
hoặc chiều rộng, chiều dài hay đường kính vượt quá 50 mm và 
đồng hồ thời gian mà máy không có hệ thống điều chỉnh (chẳng 

hạn chạy bằng động cơ đồng bộ). Những loại này thuộc nhóm 
Đồng hồ báo thức được lắp bộ chuông (thường dùng chính vỏ đồng hồ 
làm chuông) đổ chuông vào một giờ đã định trước trong ngày nhờ một 
kim đặc biệt. Bộ chuông đôi khi được thay thế bằng một thiết bị phát 
nhạc. 
Với điều kiện có máy đồng hồ cá nhân, ngoài những loại khác, nhóm 
này còn bao gồm: 
(i) Đồng hồ thời gian gia dụng hay văn phòng (kể cả đồng hồ báo 
thức) có chân, đặt trên đế, v.v... 
(ii) Đồng hồ thời gian du lịch có vỏ. 
(iii)Đồng hồ thời gian có lịch. 
(iv) Đồng hồ thời gian 8 ngày. 
(v) Đồng hồ thời gian điểm chuông theo giờ. 
(vi) Đồng hồ thời gian có mặt số và kim dạ quang.  
Nhóm này không bao gồm những loại sau khi chúng được trình bày 
riêng biệt: máy (nhóm 91.08 hay 91.10), vỏ đồng hồ thời gian (nhóm 
91.12) và các bộ phận của máy (thường thuộc nhóm 91.10 hay 91.14). 
91.04 -  Đồng hồ thời gian lắp trên bàn điều khiển phương tiện và 
các loại đồng hồ thời gian tương tự dùng cho xe cộ, phương 
tiện bay, tàu vũ trụ hoặc tàu thủy. 
Nhóm này bao gồm tất cả các loại đồng hồ thời gian, hoàn chỉnh với vỏ 
và máy, được đặc biệt chế tạo để lắp trên bàn điều khiển phương tiện, vô 
lăng, gương chiếu hậu, v.v... của xe cộ (xe có động cơ, xe đạp có động 
cơ, v.v…) máy bay, tàu vũ trụ  hay tàu thủy, bất kể chủng loại và độ dày 
của máy như thế nào. Chúng thường là đồng hồ thời gian chạy điện (chủ 
yếu là điện tử), đồng hồ lên dây tự động hay đồng hồ cơ 8 ngày. 
Nhóm này còn bao gồm cả đồng hồ tính giờ cho xe cộ, ngoài các kim 
bình thường còn có một kim tính giờ, một kim ghi phút và bộ phận ghi 
thời gian chạy. 
Nhóm này không bao gồm những loại sau khi chúng được trình bày 

riêng biệt: máy (nhóm 91.08 hay 91.10), vỏ đồng hồ thời gian (nhóm 
91.12) và các bộ phận của máy (thường thuộc nhóm 91.10 hay 91.14). 
91.05 - Đồng hồ thời gian khác. 
- Đồng hồ báo thức: 
9105.11 - - Hoạt động bằng điện 
9105.19  - - Loại khác 
                         - Đồng hồ treo tường: 
9105.21 - - Hoạt động bằng điện 
9105.29 - - Loại khác 
                         - Loại khác: 
9105.91 - - Hoạt động bằng điện 
9105.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm những loại đồng hồ, không được phân loại vào bất 
cứ nơi nào khác trong Chương này, mà chức năng cơ bản là chỉ thời gian 
trong ngày; do đó, chúng phải có máy khác với máy đồng hồ cá nhân. 
Đồng hồ thời gian và đồng hồ báo thức lắp máy đồng hồ cá nhân (như 
định nghĩa trong Chú giải 3 của Chương) bị loại trừ (nhóm 91.03). 
Các loại đồng hồ thời gian được phân loại ở đây có thể hoạt động bằng quả 
lắc, dây cót, điện hay điện tử; nhìn chung chúng được điều chỉnh bởi một 
quả lắc, một bánh xe cân bằng và dây tóc, một âm thoa hoặc một tinh thể 
thạch anh áp điện. Chúng thường được lắp thêm bộ chuông (báo giờ, nửa 
giờ, hoặc 15 phút) có quả chuông, đĩa chuông hay bộ chuông ngân. 
Theo những điều kiện kể trên, nhóm này bao gồm: 
Đồng hồ thời gian công cộng; đồng hồ thời gian ở các cửa hàng, trong 
gia đình, v.v...; các đồng hồ thời gian chu kỳ; các dạng đặc biệt theo 
vùng của đồng hồ trang trí (đồng hồ kiểu Neuchâtel, đồng hồ Paris, đồng 
hồ chim cúc cu, kiểu Westminster, v.v...); đồng hồ kiểu “con rối”; đồng 
hồ chạy bằng tiền xu, đồng hồ dùng cho thiên văn hay đài quan sát; đồng 
hồ lên dây tự động (ví dụ như lên dây bằng sự biến đổi nhiệt độ hay áp 
suất khí quyển); đồng hồ báo thức; đồng hồ có kim giây ở giữa; đồng hồ 
điện tử; đồng hồ thạch anh áp điện. 
regional forms of fancy clocks (Neuchâtel clocks, Paris clocks, 

Nhóm này còn bao gồm các đồng hồ thời gian dành cho các hệ thống 
đồng hồ điện được dùng trong các thành phố, nhà máy, tổng đài điện 
thoại, nhà ga, sân bay, ngân hàng, khách sạn, trường học, bệnh viện, 
v.v... Những hệ thống này bao gồm một đồng hồ chính điều chỉnh chính 
xác và nhiều đồng hồ phụ được điều khiển từ xa. Đồng hồ chính thường 
có máy cơ hay điện và một thiết bị tiếp xúc để truyền xung động điều 
khiển cho các đồng hồ phụ. Các đồng hồ phụ chỉ giờ và phút nhận xung 
động điều khiển vào thời điểm cuối của mỗi phút hoặc mỗi nửa phút. 
Chúng có một nam châm điện có lõi quay hay dao động, kích thích bộ 
truyền động và máy chuyển động; mỗi xung động của đồng hồ chính đẩy 
kim phút nhảy từng phút hay nửa phút. Bộ truyền động cũng có thể được 
vận hành  bằng  một dây cót lên dây bằng điện hay trực tiếp bằng một 
động cơ điện. Các đồng hồ phụ chỉ giây được lắp thêm kim giây ở giữa 
ngoài kim giờ và kim phút. Trong trường hợp này, ngoài thiết bị truyền 
xung phút, đồng hồ chính phải có một thiết bị đặc biệt phát xung động 
từng giây. Tuy nhiên nên chú ý rằng nhóm này không bao gồm những 
đồng hồ phụ chỉ có kim phút và kim giây hoặc chỉ độc có kim giây (để 
chỉnh các đồng hồ cá nhân, v.v...); những đồng hồ này thuộc nhóm 
Đồng hồ phụ có thể  được dùng trong hoặc ngoài nhà, có thể có hai hay nhiều 
mặt số, và có thể được thiết kế để đặt trên một mặt phẳng như  mặt  bàn. 
Đồng hồ chính đôi khi điều khiển các  thiết bị điện khác, như máy ghi 
thời gian,  đồng hồ chỉ báo của nhân viên bảo vệ, các thiết bị chuyển 
mạch, các máy ghi, các tín hiệu (chuông báo, còi báo động, đèn), đèn 
hiệu hàng hải hoặc đèn pha.  
Nhóm này cũng bao gồm các nhóm đồng hồ thời gian đồng bộ điều 
khiển chính mà những cài đặt khí được vận hành bằng khí nén, dùng cho 
việc đặt rơle và đồng bộ thời gian.  
Nhóm này còn bao gồm những đồng hồ hàng hải hoặc các loại tương 
tự, nghĩa là những đồng hồ cố định có độ chính xác cao, chủ yếu được 
thiết kế đặc biệt dùng để theo dõi thời gian trên các tàu thủy mặc dù một 
số còn được sử dụng cho các  mục đích khoa học. Các dụng cụ này nhìn 
chung thường lớn hơn các đồng hồ đo giờ cá nhân và được lắp trong 
hộp; có thể được hay không được treo trong khớp vạn năng (các-đăng). 

Một lần lên dây chúng thường  chạy từ 2 hoặc 8 ngày và nói chung có 
một chốt điều hòa chuyển động, một bánh côn, một thiết bị để biến đổi 
tác động của lò xo chính thành lực ép bất biến và một  bộ phận chỉ thời 
gian hoạt động dự trữ. 
Nhóm này không bao gồm những loại sau khi chúng được trình bày 
riêng biệt: vỏ đồng hồ thời gian (nhóm 91.12), máy (nhóm 91.09 hay 
91.10) và các bộ phận của máy (thường thuộc nhóm 91.10 hay 91.14). 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Đồng hồ cá nhân cho thủy thủ (nhóm 91.01 hay 91.02). 
(b) Đồng hồ thời gian lắp trên bàn điều khiển phương tiện và các loại 
tương tự dùng trên xe cộ, máy bay, tàu vũ trụ hay tàu thủy (nhóm 
91.06 -  Thiết bị ghi thời gian và các thiết bị dùng để đo, ghi hoặc 
biểu thị các khoảng thời gian bằng cách khác, kèm theo máy 
đồng hồ thời gian và đồng hồ cá nhân hoặc kèm theo động 
cơ đồng bộ (ví dụ, thiết bị chấm công (time-registers), thiết 
bị ghi thời gian). 
9106.10 - Thiết bị chấm công (time-registers), thiết bị ghi thời 
9106.90 -  Loại khác 
Với điều kiện chúng đươc vận hành bằng máy kiểu đồng hồ cá nhân 
hoặc đồng hồ thời gian, (bao gồm cả máy đồng hồ phụ hay máy đồng hồ 
động cơ đồng bộ) hoặc bằng một động cơ đồng bộ có hay không có bánh 
răng giảm tốc, nhóm này bao gồm: 
(i) Các loại thiết bị dùng để ghi thời gian trong ngày mà một hành động 
hay công việc bị tác động; và 
(ii) Các loại thiết bị, chưa được chi tiết ở nơi khác, dùng để đo, ghi, 
hoặc bằng cách khác chỉ ra những khoảng thời gian. 
Những thiết bị này có thể có mặt số chỉ giờ, phút hay giây. Tuy nhiên, 
một số thiết bị thuộc nhóm này, như thiết bị chấm công, đồng hồ chỉ báo 

của nhân viên bảo vệ và máy ghi thời gian dùng cho bồ câu đưa thư, đôi 
khi được chế tạo không có mặt số. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Thiết bị chấm công, dùng để ghi lại thời gian đến hoặc rời khỏi 
nhà máy, phân xưởng, v.v của những người làm công. Chúng bao 
gồm một chiếc hộp bên trong chứa một đồng hồ thời gian, một 
thiết bị ghi ngày giờ vận hành bằng máy đồng hồ, một búa và một 
ruy băng lăn mực. Người làm công đưa thẻ của mình vào máy, vận 
hành búa bằng cơ hay điện để búa in lên thẻ chính xác ngày, giờ 
và phút người đó đi qua. Do đó, xem thẻ có thể tính được số giờ 
người đó có mặt. Loại được sử dụng nhiều nhất là đồng hồ điện 
hay đồng hồ cơ chạy 8 ngày. Chúng có thể hoạt động độc lập, nối 
với đồng hồ chính hay đóng vai trò là đồng hồ chính. Trong 
trường hợp là đồng hồ chính, đôi khi chúng được nối với bộ 
chuông hay còi (xem Chú giải chi tiết nhóm 91.05). 
(2) Thiết bị ghi thời gian là những dụng cụ tương tự thiết bị chấm 
công được nêu ở điểm (1) ở trên, nhưng còn ghi cả tháng, năm, số 
thứ tự hay các dấu hiệu khác; một số loại thiết bị loại này còn 
được lắp thêm thiết bị cộng tổng thời gian làm việc (ví dụ: trong 
một ngày hay một tuần). Những thiết bị này còn có thể được sử 
dụng để đóng dấu lên thư tín hay giấy tờ kế toán, ghi ngày tháng 
của phiếu giá thành, .v.v. 
(3) Đồng hồ chỉ báo của nhân viên bảo vệ, thường là dụng cụ mang 
theo được (xách tay), có một máy đồng hồ thời gian làm quay mặt 
số bằng giấy hay thiết bị ghi ngày tháng. Nhờ một chìa khóa đặc 
biệt, người tuần tra (gác đêm) ghi lại các lần kiểm tra định kỳ của 
mình (giờ, phút, số điểm kiểm tra) tại các điểm kiểm soát bằng 
cách đục lỗ hay đóng dấu mặt số quay, hoặc in bằng ruy băng lăn 
mực trên một băng giấy. 
(4) Máy ghi thời gian dùng cho bồ câu đưa thư để đánh dấu thời 
điểm đến của bồ câu đưa thư trong các cuộc thi. Những thiết bị 
này dưới dạng hộp xách tay bên trong có một đồng hồ thời gian, 
một hộp tròn đựng vòng và một thiết bị ghi ngày, giờ, phút và giây 

lúc đến, bằng cách in trên ruy băng hay đục lỗ ở đĩa hay băng 
giấy. 
(5) Thiết bị kiểm soát tần số chính sử dụng với các hệ thống đồng 
hồ động cơ đồng bộ, công tắc định thời gian, vv. Những thiết bị 
này có mặt số chỉ giờ chuẩn, giờ của đồng hồ động cơ đồng bộ và 
khoảng cách biệt giữa hai loại giờ này. Về cơ bản những thiết bị 
này bao gồm một bộ máy chỉ ra sự khác biệt về thời gian, một máy 
đồng hồ phụ điều khiển bởi một đồng hồ chính và chỉ thời gian 
chuẩn, một máy đồng hồ động cơ đồng bộ và nhiều  thiết bị tiếp 
xúc, tín hiệu hay điều chỉnh. 
(6) Các đồng hồ dùng để đo thời gian diễn ra các hiện tượng ngắn, 
giới hạn bởi sự đóng mở của công tắc điện. Những đồng hồ này 
được sử dụng để kiểm tra các công tơ điện, đo tốc độ phản ứng 
của con người, vv. Những bộ phận chính của chúng là một động 
cơ đồng bộ, một liên kết điện từ và một công tơ có mặt số tính đến 
giây và phần trăm giây, toàn bộ đựng trong một chiếc hộp. Khi 
thiết bị này hoạt động, động cơ đồng bộ chạy liên tục và được liên 
kết với công tơ trong suốt thời gian xảy ra hiện tượng. 
Các đồng hồ dùng để đo thời gian chạy bằng điện hay điện tử nếu 
không có máy kiểu đồng hồ hoặc không có động cơ đồng bộ bị 
loại trừ (nhóm 90.31). 
(7) Đồng hồ để bàn hay đồng hồ ở sân vận động dùng cho các hoạt 
động thể thao, nhằm để chỉ thời gian tới đích hay thời gian thi 
đấu theo phút và giây. 
Tuy nhiên, đồng hồ thời gian ở sân vận động có mặt số chỉ thời 
gian bị loại trừ (nhóm 91.05). 
(8) Đồng hồ bấm giờ và các đồng hồ khác được sử dụng để đo 
khoảng thời gian của một số quá trình. Chúng có mặt số chỉ 
giây, mặt số cộng phút và một cần khởi động và kết thúc. 
(9) Đồng hồ đo thời gian nói chuyện điện thoại, hoạt động như 
đồng hồ bấm giờ và có thể lắp thêm bộ chuông. 
(10) Đồng hồ ghi thời gian, dùng cho các hoạt động thể thao, có 

máy đồng hồ động cơ đồng bộ điều khiển bởi một máy tạo dao 
động thạch anh. Loại này cho phép ghi thời gian một cách chính 
xác tới 1/100 của giây, và thứ tự về đích hay xuất phát; chúng có 
thể họat động bằng cách chụp ảnh, hoặc bằng cách in hay đục lỗ 
trên băng giấy dịch chuyển với tốc độ đều. 
Các dụng cụ phụ trợ cho đồng hồ bấm giờ thể thao (hộp và bàn 
giữ đồng hồ, công tắc đường đua, thiết bị tế bào quang điện, bộ 
phận truyền âm, thiết bị truyền điện hay hay truyền điện báo radio, 
.v.v.) được phân loại vào những nhóm thích hợp của chúng. 
Đồng hồ ghi tiến trình dùng cho một khoảng thời gian ngắn. 
Những đồng hồ này đổ chuông sau một số phút nhất định định 
trước (thường là đến 60 phút); chúng được lắp một máy đồng hồ 
báo thức và một mặt số thường đánh số từ 0 đến 10, 0 đến 30 hay 
0 đến 60. Chúng được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực mà thời 
gian tiến trình cần được kiểm soát. 
Tuy nhiên, các thiết bị đóng ngắt định giờ, khác với các đồng hồ 
ghi tiến trình nói trên ở chỗ đáng lẽ đổ chuông vào thời điểm đã 
định thì chúng “ngắt” hay “đóng” mạch điện, bị loại trừ (nhóm 
(12) Đồng hồ phụ (được điều khiển bởi đồng hồ chính), chỉ có kim 
phút và kim giây hoặc chỉ có kim giây (để điều chỉnh đồng 
hồ,.v.v.). 
(13) Máy đếm cho trò chơi bi-a, có máy đồng hồ thời gian, chỉ thời 
gian chơi hoặc tính luôn ra số tiền phải trả tính trên thời gian đó. 
(14) Đồng hồ bấm giờ cho những người chơi cờ, gồm hai  máy đồng 
hồ cá nhân hoặc đồng hồ thời gian có mặt số chỉ thời gian tính 
bằng giờ và phút, hai nút bấm hay cần để cho đồng hồ chạy hay 
dừng. 
Nhóm này không bao gồm những mặt hàng sau đây nếu được trình bày 
riêng: vỏ cho các thiết bị mô tả ở trên (được phân loại vào nhóm 91.12 
hoặc vào các nhóm tương ứng với chúng, xem Chú giải nhóm 91.12), 
máy đồng hồ cá nhân hoặc đồng hồ thời gian (các nhóm từ 91.08 đến 
91.10), và các bộ phận của máy đồng hồ này (thường thuộc nhóm 91.10 

Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Dụng cụ và thiết bị của Chương 90, dù có hay không có máy đồng 
hồ cá nhân hay đồng hồ thời gian, nhưng không có mặt số thời gian, 
ví dụ như: máy ghi thủy triều và máy ghi địa chấn (nhóm 90.15), 
máy ghi khí áp và máy ghi nhiệt (nhóm 90.25), áp kế (nhóm 90.26), 
đồng hồ đo lượng cung cấp hay tiêu thụ khí, chất lỏng hoặc điện 
(nhóm 90.28), máy đếm vòng quay, máy đếm sản phẩm, đồng hồ 
tốc độ, máy đo tốc độ góc, đồng hồ tính tiền gắn trên tắc xi, đồng hồ 
đếm bước và các thiết bị hay dụng cụ dùng tính khoảng cách thời 
gian ngắn bằng việc đếm (nhóm 90.29), cũng như máy đo đường 
cong (nhóm 90.31). 
(b) Đồng hồ cá nhân tính giờ chính xác, đồng hồ tính giờ và đồng hồ 
bấm giờ (nhóm 91.01 hoặc 91.02). 
(c) Máy nhịp (nhóm 92.09). 
91.07 -  Thiết bị đóng ngắt định giờ (time switches) có máy đồng hồ 
cá nhân hoặc đồng hồ thời gian hoặc có động cơ đồng bộ. 
Nhóm này gồm các thiết bị không có đặc tính của đồng hồ thời gian 
thuộc nhóm 91.05, nhưng được thiết kế chủ yếu để tự động nối hoặc ngắt 
mạch điện tại thời điểm đã định, thường là theo chương trình hàng ngày 
hay hàng tuần đã lập trước. Để được phân loại vào nhóm này, những 
thiết bị này phải có một máy thuộc loại đồng hồ cá nhân hoặc đồng hồ thời 
gian (bao gồm cả máy đồng hồ phụ hay máy đồng hồ động cơ đồng bộ) 
hoặc chỉ có một động cơ đồng bộ có hay không có bánh răng giảm tốc.  
Thiết bị đóng ngắt định giờ được sử dụng điều khiển các hệ thống 
chiếu sáng (cho các khu vực công cộng, cửa hàng, cầu thang, biển hiệu, 
v.v), hệ thống đốt nóng (máy đun nước, v.v), hệ thống làm lạnh, trạm 
bơm và đồng hồ điện 2 tốc độ, vv. Về cơ bản chúng bao gồm một máy 
đồng hồ cơ hay điện thuộc loại đồng hồ cá nhân hay đồng hồ thời gian 
hoặc một động cơ đồng bộ và thường có một mặt số có hay không có 
kim, một thiết bị điều chỉnh giờ (cần và chốt), cùng các hệ thống rơ le 

điều khiển, thiết bị đóng ngắt và chuyển mạch. Toàn bộ được đặt trong 
một vỏ chứa có các cực đấu dây. Mặt số thường dùng chỉ giờ và đôi khi 
cả ngày và tháng; xung quanh mặt số có các cần hoặc chốt để khởi động 
các thiết bị tiếp xúc vào giờ đã định. 
Thiết bị đóng ngắt định giờ có thể được điều khiển bằng bộ ổn nhiệt, bộ 
điều áp, bộ điều chỉnh mực nước, v.v. 
Nhóm này cũng bao gồm các công tắc để đóng và mở mạch cung cấp 
nguồn cho các thiết bị điện (máy thu hình, bàn là, máy giặt, đèn bi-
a,.v.v.) bật lên khi cho đồng tiền xu vào và tắt đi thông qua hoạt động 
của một mô tơ đồng bộ, khoảng thời gian giữa hai động thái này được 
xác định bằng số đồng tiền xu được đưa vào. 
Nhóm này không bao gồm những mặt hàng sau nếu được trình bày 
riêng:  hộp (vỏ) cho các thiết bị được mô tả bên trên (có thể được phân 
vào nhóm 91.12 hay vào nhóm tương ứng với chúng, xem Chú giải Chi 
tiết nhóm 91.12), máy đồng hồ cá nhân hay đồng hồ thời gian (các 
nhóm từ 91.08 đến 91.10) và bộ phận của các máy này (thường thuộc 
nhóm 91.10 hay 91.14). 
91.08 - Máy đồng hồ cá nhân, hoàn chỉnh và đã lắp ráp.  
- Hoạt động bằng điện: 
9108.11 - - Chỉ có mặt hiển thị bằng cơ học hoặc có một thiết bị 
được kết hợp với mặt hiển thị bằng cơ học 
9108.12 - - Chỉ có mặt hiển thị bằng  quang điện tử 
9108.19 - - Loại khác. 
9108.20 - Có bộ phận lên dây tự động 
9108.90 - Loại khác 
Nhóm này áp dụng đối với các máy đồng hồ đã lắp ráp, không có vỏ, 
nghĩa là đã hoàn chỉnh và sẵn sàng để sử dụng. Những máy đồng hồ như 
vậy có thể là một trong 5 loại cơ bản: 
(1) máy cơ; 
(2) máy điện tử, loại lên dây cót; 

(3) máy điện tử có bộ cộng hưởng uốn (âm thoa); 
(4) máy thạch anh có bộ hiện số theo công nghệ analog (kim). 
(5) máy thạch anh có màn hình hiện số điện tử số (đi-ốt phát sáng 
(LED) hoặc màn hình tinh thể lỏng (LCD)). 
Các  máy cơ hay điện tử có bộ hiện số theo công nghệ analog có thể 
được trình bày dưới dạng không có mặt số hay kim. Trong máy điện tử 
(dạng rắn) với bộ hiện số theo công nghệ kỹ thuật số, bộ phận cảm ứng 
hiển thị là một bộ phận không tách rời của máy; nếu không có nó thì 
máy không thể chạy và do đó không thể xem là hoàn chỉnh và đã lắp ráp 
theo đúng nghĩa của nhóm này. 
Theo Chú giải 3 của Chương, khái niệm “máy đồng hồ cá nhân” thuộc 
nhóm này có nghĩa là những thiết bị điều chỉnh bởi bánh xe cân bằng và 
dây tóc, tinh thể thạch anh hay bất kỳ hệ thống nào khác có khả năng xác 
định khoảng thời gian, với một màn hình hay một hệ thống mà có thể 
được gắn kèm màn hình hiện số cơ. Những máy đồng hồ loại này có độ 
dày không vượt quá 12 mm và chiều rộng, chiều dài hay đường kính 
phải không vượt quá 50 mm. Vì vậy, những máy này chủ yếu sử dụng 
cho các đồng hồ cá nhân, đồng hồ thời gian thuộc các nhóm từ 91.01 đến 
91.03, ngoài ra chúng vẫn được phân loại vào nhóm này cho dù chúng 
được sử dụng để kết hợp với các hàng hóa khác thuộc Chương này hoặc 
thậm chí cho những dụng cụ hay thiết bị của các Chương khác (dụng cụ 
đo lường hay dụng cụ chính xác, đồng hồ đếm bước, khí cụ nổ, .v.v.). 
Nhóm này không bao gồm những máy đồng hồ không đáp ứng các điều 
kiện trên đây (nhóm 91.09 hay 91.10), và các động cơ hoạt động bằng 
dây cót thuộc nhóm 84.12. 
Máy đồng hồ thuộc nhóm này có thể ở dạng đã hoặc chưa được đánh 
bóng, được mạ niken, được mạ rhodium, được mạ bạc, được mạ vàng, 
quét véc ni, v.v. 
Máy đồng hồ cá nhân chạy pin hay ắc qui vẫn được phân loại trong 
nhóm này cho dù có kèm pin hay ắc qui hay không. 
91.09 - Máy đồng hồ thời gian, hoàn chỉnh và đã lắp ráp. 
9109.10 - Hoạt động bằng điện 

9109.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các loại máy đồng hồ thời gian đã lắp ráp, có thể nói 
là hoàn chỉnh và sẵn sàng sử dụng; những máy đồng hồ này có thiết bị 
hiển thị thời gian theo công nghệ analog (kim), có thể có hay không có 
mặt số hay kim. 
Máy đồng hồ thuộc nhóm này chủ yếu sử dụng cho hàng hóa của các 
nhóm từ 91.04 đến 91.07, nhưng chúng vẫn được phân loại vào nhóm 
này cho dù dùng để lắp vào các dụng cụ hay thiết bị thuộc các Chương 
khác (dụng cụ đo lường hay dụng cụ chính xác, công tơ, khí cụ nổ, v.v.). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Mô tơ chạy bằng dây cót hoặc đối trọng, v.v., không được lắp, cũng 
không phù hợp để lắp bộ phận điều tốc, thuộc nhóm 84.12 (ví dụ 
những mô tơ sử dụng trong hộp âm nhạc). 
(b) Máy đồng hồ cá nhân theo định nghĩa ở Chú giải 3 của Chương 
(xem Chú giải chi tiết nhóm 91.08). 
Do đó, nhóm này bao gồm, không kể những cái khác, máy đồng hồ hoạt 
động bởi bánh xe cân bằng và dây tóc hoặc bởi  bất kỳ bộ điều chỉnh nào 
khác có khả năng xác định các khoảng thời gian, có độ dày trên 12 mm hay 
có chiều rộng, chiều dài hay đường kính trên 50 mm; máy đồng hồ quả lắc; 
máy đồng hồ thời gian chạy bằng điện, dù có hay không có bộ điều chỉnh 
(máy đồng hồ thời gian phụ, máy đồng hồ thời gian đồng bộ, .v.v.) 
Để được phân loại vào nhóm này, máy đồng hồ thời gian đồng bộ và 
máy đồng hồ thời gian phụ phải kết hợp thêm, ngoài một động cơ đồng 
bộ hay nam châm điện, với một bộ truyền động đồng hồ tức là một bộ 
truyền động bao gồm các bộ phận như bánh xe trung tâm, bánh xe 
chuyền, bánh xe gai, bánh xe kim giờ, phút. Nếu để riêng, động cơ đồng 
bộ và động cơ nam châm điện được phân loại theo nhóm thích hợp với 
chúng, dù chúng có được gắn bánh răng giảm tốc điều chỉnh tốc độ của 
trục hay không. 
Máy đồng hồ thời gian này có thể ở dạng đã hoặc chưa được đánh bóng, 
được mạ niken, mạ rhodium, mạ bạc, vàng, quét véc ni, .v.v.. 
91.10  - Máy đồng hồ thời gian hoặc đồng hồ cá nhân đủ bộ, chưa  91.10 - Complete watch or clock movements, unassembled or partly 

lắp ráp hoặc đã lắp ráp từng phần (cụm máy); máy đồng hồ 
thời gian hoặc máy đồng hồ cá nhân chưa đủ bộ, đã lắp ráp; 
máy đồng hồ thời gian hoặc máy đồng hồ cá nhân chưa đủ 
bộ, chưa lắp ráp. 
- Của đồng hồ cá nhân 
9110.11 - - Máy đồng hồ đủ bộ, chưa lắp ráp hoặc đã lắp ráp từng 
phần (cụm máy) 
9110.12 - - Máy đồng hồ chưa đủ bộ, đã lắp ráp 
9110.19 - - Máy đồng hồ chưa đủ bộ, chưa lắp ráp 
9110.90 - Loại khác 
Cụm máy là một bộ hoàn chỉnh các bộ phận chưa lắp ráp hay được lắp 
ráp một phần của máy đồng hồ thời gian hay máy đồng hồ cá nhân (mua 
bán được dưới dạng này). Trong trường hợp  máy đồng hồ có bộ hiện số 
cơ thì có thể có hoặc không có mặt số và bộ kim. 
Máy cơ chưa đủ bộ của đồng hồ cá nhân hay đồng hồ thời gian là 
những máy đã được lắp nhưng còn thiếu một số bộ phận ngoài mặt số, 
kim hay ti (suốt) lên dây (ví dụ, bộ phận bộ phận điều tốc hay cầu ổ cót). 
Máy chưa hoàn chỉnh của đồng hồ cá nhân điện tử hay đồng hồ thời 
gian điện tử là những máy đã được lắp nhưng còn thiếu một số bộ phận 
trừ pin (ví dụ: bộ hiện số, một phần mạch điện tử hay các chi tiết của bộ 
phận này). 
Máy ở dạng chưa hoàn chỉnh có mặt hiện số cơ của đồng hồ cá nhân 
điện tử hoặc máy đồng hồ thời gian điện tử là những máy đã được lắp 
nhưng còn thiếu một số bộ phận ngoài mặt số, kim, ti (suốt) lấy giờ hoặc 
pin (ví dụ, thiếu mạch điện tử hay các chi tiết của bộ phận này, động cơ). 
Máy đồng hồ chưa đủ bộ và chưa lắp ráp của đồng hồ cá nhân hay 
đồng hồ thời gian là những bộ phận chưa được lắp ráp của máy đồng hồ 
cá nhân hay đồng hồ thời gian bao gồm mâm (cả các mâm phụ), các cầu, 
bộ truyền động, máy chuyển động, bộ phận lên dây và lấy giờ và các bộ 
phận phụ trợ như bộ phận lên dây tự động, bộ phận lịch, bấm giờ, báo 
thức, v.v, nhưng không có bộ phận điều tốc, bánh xe cân bằng và dây tóc 
hoặc các thiết bị điều tốc khác, lò xo chính, mặt số hay kim. Những bộ 

phận này có thể được trình bày có hoặc không có hộp chứa. 
91.11 - Vỏ đồng hồ cá nhân và các bộ phận của nó. 
9111.10 - Vỏ đồng hồ bằng kim loại quý hoặc bằng kim loại dát 
phủ kim loại quý 
9111.20 -  Vỏ bằng kim loại cơ bản, đã hoặc chưa được mạ 
vàng hoặc mạ bạc 
9111.80 - Vỏ đồng hồ loại khác 
9111.90 – Các bộ phận 
Nhóm này bao gồm:  
(A) Vỏ đồng hồ cá nhân thuộc nhóm 91.01 hoặc 91.02 (đồng hồ bỏ 
túi, đồng hồ đeo tay, đồng hồ tính giờ, v.v.), có hay không có mặt 
kính, được trình bày không có máy đồng hồ. 
(B) Bộ phận của các loại vỏ này bao gồm: 
(1) Thân vỏ, nghĩa là phần khung của vỏ. Chúng có thể có bản lề để 
lắp đáy và ở đồng hồ bỏ túi, thân vỏ còn có bản lề để lắp nắp trong 
và vòng đệm gắn vào mặt đồng hồ. 
(2) Dây đeo (xích), hàn vào khung vỏ, cùng với vòng (khâu) (đồng hồ 
bỏ túi) và gút. 
(3) Nắp trong, bộ phận bên trong để che, bảo vệ máy đồng hồ (không 
có ở những đồng hồ cá nhân thông thường). 
(4) Vòng đệm gắn vào mặt đồng hồ, phần để cố định kính. Gờ để cố 
định kính được gọi một cách chính xác hơn là đường rãnh. 
(5) Đáy, phần đậy kín đồng hồ ở mặt đối diện với mặt kính. Đồng hồ 
cá nhân thông thường chỉ có một đáy trong khi loại đồng hồ có 
nắp kim loại che mặt kính có mặt đáy thứ hai tương tự (mặt trên) 
để bảo vệ mặt kính. 
Vỏ đồng hồ đeo tay không có dây đeo (xích) hoặc cũng không có vòng, 
nhưng có tai (quai) để lắp dây đeo. Tai (quai) này gồm một số bộ phận, 
trong đó thanh ngang có thể được cố định hay được vận hành bằng lò 

xo. Một số loại đồng hồ đeo tay của phụ nữ không có tai mà có những 
vấu để móc dây đeo. 
Vỏ đồng hồ đeo tay thường chỉ có hai bộ phận, thân vỏ và mặt đáy là 
một khối. Một số trường hợp mặt đáy và vòng đệm gắn vào mặt đồng hồ 
đỡ một phần nắp trong hoặc vòng đệm gắn vào mặt đồng hồ liền với 
thân vỏ. Trong những loại được hoàn thiện ở mức cao thì máy đồng hồ 
là vật đầu tiên được gắn nắp trong bảo vệ. 
Vỏ đồng hồ cá nhân và bộ phận của chúng có thể được làm bằng mọi 
chất liệu. Chúng chủ yếu làm bằng kim loại cơ bản (thép, niken, v.v, 
được đánh bóng, mạ crôm, mạ bạc hay mạ vàng), hoặc làm từ  kim loại 
quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý, hay đôi khi bằng plastic, ngà, 
mã não, xà cừ hay đồi mồi. Chúng có thể được trang trí (chạm, khắc, 
khảm ngọc trai tự nhiên hay nuôi cấy, đá quý hay đá bán quý thuộc loại 
tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo, v.v.). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Vỏ bảo vệ đơn giản đồng hồ cá nhân, không bao gồm mặt kính 
đồng hồ cá nhân; những thứ này được phân loại vào những nhóm 
tương ứng của chúng. 
(b) Bộ phận có công dụng chung đã định trong Chú giải 2 của Phần XV 
(bao gồm cả lò xo của vỏ đồng hồ đeo tay), làm bằng kim loại cơ 
bản (Phần XV) và các mặt tương tự làm bằng plastic (Chương 39). 
(c) Vỏ đồng hồ thời gian và các loại tương tự dùng cho các mặt hàng 
khác của Chương này, và các bộ phận của chúng (nhóm 91.12) 
91.12 - Vỏ đồng hồ thời gian và vỏ của các loại tương tự dùng cho 
các mặt hàng khác của Chương này, và các bộ phận của 
chúng. 
9112.20 - Vỏ  
9112.90 - Bộ phận 
Nhóm này bao gồm vỏ đồng hồ thời gian, và vỏ của các mặt hàng khác 
thuộc Chương này với điều kiện chúng là loại tương tự như vỏ đồng hồ 

thời gian; do vậy, nhóm này bao gồm vỏ cho đồng hồ báo thức, đồng hồ 
hàng hải, đồng hồ dùng cho xe cộ, thiết bị chấm công, máy ghi thời gian, 
hoặc máy ghi mốc thời gian, máy đếm thời gian (đếm phút, đếm giây, 
v.v) hoặc các loại đồng hồ thời gian khác của Chương này. Các loại vỏ 
nêu trên vẫn được phân loại ở Chương này cho dù chúng có mặt kính 
hay không và đã hoàn chỉnh hay chưa hoàn chỉnh. Tuy nhiên, nhóm này 
không bao gồm vỏ giống như loại dùng cho đồng hồ thời gian thông 
thường mà là vỏ của loại được dùng cho các thiết bị khoa học, công tơ 
điện, v.v. (vỏ đồng hồ bấm giờ, máy ghi thời gian hoặc công tắc định 
thời gian đôi khi cũng thuộc loại này); các loại vỏ này được phân loại 
trong các nhóm tương ứng với chúng. 
Vỏ được phân loại vào nhóm này có nhiều dạng khác nhau; chúng 
thường làm từ kim loại (kể cả kim loại quý), gỗ, plastic, da, đồi mồi, xà 
cừ, cẩm thạch, thạch cao tuyết hoa, vật liệu gốm, đá onyx, mã não hay 
ngà. Chúng có thể được trang trí, khảm ngọc trai tự nhiên hay nuôi cấy, 
đá quý hay đá bán quý thuộc loại tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo, hoặc 
kết hợp với các họa tiết, tác phẩm điêu khắc, tượng nhỏ, hình con vật, 
Các bộ phận của vỏ đồng hồ thời gian như vành lắp kính, khung, giá, đế 
và chân cũng thuộc nhóm này. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Vỏ bảo vệ, thường làm bằng thuỷ tinh, được trình bày riêng (nhóm 70.20). 
(b) Các bộ phận có công dụng chung được định nghĩa  trong Chú giải 2 
của Phần XV (bao gồm lò xo của vỏ đồng hồ thời gian), làm bằng 
kim loại cơ bản (Phần XV) và các mặt hàng tương tự bằng plastic 
được phân loại trong Chương 39. 
(c) Vỏ đồng hồ cá nhân (nhóm 91.11). 
91.13  - Dây đeo, quai đeo và vòng đeo đồng hồ cá nhân, và các bộ 
phận của chúng.  
9113.10 - Bằng kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý 
9113.20 - Bằng kim loại cơ bản, đã hoặc chưa mạ vàng hoặc bạc 

9113.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các loại dây đeo, quai đeo và vòng đeo của đồng hồ 
cá nhân, tức là tất cả những gì có thể giữ chắc đồng hồ trên cổ tay. 
Dây đeo, quai đeo và vòng đeo đồng hồ cá nhân có thể được làm bằng 
mọi chất liệu, ví dụ, kim loại cơ bản, kim loại quý, da, plastic hay vật 
liệu dệt. Chúng cũng có thể được trang trí một cách đặc sắc nhưng không 
vì thế mà làm thay đổi việc phân loại. 
Nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của dây đeo, quai đeo và vòng đeo 
đồng hồ làm từ bất cứ chất liệu gì khi có thể nhận biết được chúng. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Những thứ để đeo khác (vòng đeo cổ, dây đeo, dây xích, nhẫn, kim 
gài, v.v). Chúng được phân loại vào các nhóm tương ứng với chúng. 
(b) Khoá và khoá bấm bằng kim loại quý hay kim loại dát phủ kim loại 
quý (nhóm 71.15) hoặc bằng kim loại cơ bản (nhóm 83.08). 
(c) Dây đeo, quai đeo và vòng đeo trình bày cùng với đồng hồ cá nhân 
của chúng nhưng không gắn vào đồng hồ (nhóm 91.01 hay 91.02). 
91.14 - Các bộ phận khác của đồng hồ thời gian hoặc đồng hồ cá nhân. 
9114.30 - Mặt số 
9114.40 - Mâm và trục 
9114.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm toàn bộ các bộ phận của đồng hồ cá nhân hoặc đồng 
hồ thời gian, trừ: 
(a) Các bộ phận bị loại trừ bởi Chú giải 1 của Chương này, đó là: 
(1) Quả lắc đồng hồ, mặt kính đồng hồ cá nhân hay đồng hồ thời 
gian, dây đồng hồ, vòng bi và bi của vòng bi (chẳng hạn của đồng 
hồ lên dây tự động). 
(2) Các bộ phận có công dụng chung theo định nghĩa trong Chú giải 
2 của Phần XV, như vít (của trục, vành, mặt số, bánh cóc, lẫy, nắp 
chân kính,đĩa gắn kim, vòng kẹp, thanh định vị, v.v...), các loại 

chốt, dây đồng hồ, chữ số của mặt số làm bằng kim loại cơ bản 
(Phần XV) hoặc các mặt hàng tương tự làm bằng plastic (Chương 
39) hay bằng kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý 
(thường thuộc nhóm 71.15). 
Những bộ phận này được phân loại vào những nhóm tương ứng 
của chúng. Tuy nhiên, dây cót đồng hồ cá nhân hay đồng hồ thời 
gian (lò xo chính, dây tóc, v.v) vẫn thuộc nhóm này. 
(b) Các bộ phận được nêu cụ thể tại các nhóm khác của Chương này 
(như máy đồng hồ trọn bộ và đã lắp ráp thuộc nhóm 91.08 hay 
91.09, máy đã lắp ráp thành cụm, máy đồng hồ cá nhân hay đồng hồ 
thời gian chưa đủ bộ, đã lắp ráp, máy đồng hồ cá nhân hay đồng hồ 
thời gian chưa đủ bộ, chưa lắp ráp thuộc nhóm 91.10, vỏ đồng hồ 
thuộc nhóm 91.11 hay 91.12 và dây đeo, quai đeo và vòng đeo đồng 
hồ cá nhân thuộc nhóm 91.13). 
Ngoài quy định trong đoạn (a) hay (b) trên đây, những bộ phận vừa có 
thể sử dụng cho cả đồng hồ cá nhân, đồng hồ thời gian và các mặt hàng 
khác, ví dụ đồ chơi, công tơ hoặc dụng cụ đo lường hay dụng cụ chính 
xác (dây cót, bộ truyền động, chân kính, kim...) được phân loại vào 
nhóm này (xem Chú giải 4 của Chương). Tuy nhiên, nhóm này không 
bao gồm những bộ phận không rõ là bộ phận của đồng hồ cá nhân hay 
đồng hồ thời gian (ví dụ, thiết bị in hoặc tính dùng cho thiết bị chấm 
công, và một số bộ phận nhất định khác được sử dụng trong những mặt 
hàng thuộc nhóm 91.06 hay 91.07). 
Nhóm này bao gồm mặt hàng có thể nhận biết được là ‘phôi’ của bộ 
phận đồng hồ cá nhân hoặc đồng hồ thời gian nhưng những mảnh bằng 
kim loại chưa thểnhận biết được là bộ phận của đồng hồ thời gian và 
đồng hồ cá nhân bị loại trừ khỏi nhóm này (ví dụ mâm, trục, v.v., trực 
tiếp từ máy tiện hoặc mới cắt thô thành hình, chưa khoan lỗ, khoét hõm, 
v.v). Chúng được phân loại theo vật liệu cấu thành của chúng.  
Bộ phận của đồng hồ cá nhân hay đồng hồ thời gian của nhóm này có 
thể ở dạng đã hoặc chưa đánh bóng, được mạ niken, mạ rhodium, mạ 
bạc, mạ vàng, quét vécni, vv….., hoặc nạm đá quý. 
Căn cứ vào những quy định nêu trên, bộ phận chính của đồng hồ thời 

gian hay đồng hồ cá nhân thuộc nhóm này bao gồm : 
(A) CÁC BỘ PHẬN CỦA MÁY ĐỒNG HỒ CÁ NHÂN 
 (không kể đến tính  phức tạp của hệ thống) 
Chúng bao gồm: 
(1) Khung máy: mâm (và bất kỳ mâm phụ), trục (của tang, bánh xe 
trung tâm, bánh xe chuyền, bánh xe cân bằng, bộ phận điều tốc, 
bánh răng,.v.v.) 
(2) Thiết bị truyền động cho máy: lò xo chính, tang, bọc tang, trục 
tang và chốt, cơ cấu bánh cóc, lò xo ngàm. 
(3) Bộ truyền động: bánh xe trung tâm và bánh răng, bánh xe truyền và 
bánh răng, bánh lắc và bánh răng. 
(4) Máy chuyển động: trục, bánh xe và bánh răng phút, bánh xe kim 
giờ. 
(5) Bộ phận điều tốc (kiểu mỏ neo hoặc đòn bẩy, khay pin, xy lanh, 
bánh cóc…): bánh xe và bánh răng thoát, đòn bẩy, trục khay, trục 
cán, pin xung, xy lanh. 
(6) Bộ điều tốc: vành tóc, trục vành tóc, dây tóc (mặt phẳng, Bresguet, 
hình trụ), âm thoa, chốt, ống kẹp (collet), bộ điều chỉnh, chốt chỉ số 
(index stud), mâm chỉ số hoặc mũ chân kính, kể cả các bộ phận đặc 
biệt cho các thiết bị chống sốc. 
(7)  Cơ cấu lên giây và lấy giờ: núm, ti và bánh răng, bánh răng khế, 
bánh ly hợp, bánh điều chỉnh, bánh cóc, lõi bánh cóc, vòng kẹp 
(thanh lắc), thanh định vị, lò xo nhảy và lò xo tay gạt. 
(8) Các bộ phận của máy đồng hồ điện tử: các mạch cấu tạo của đồng 
hồ cá nhân bao gồm, ví dụ, một miếng cách điện được in các mạch 
nối cùng các thành phần riêng biệt khác loại bằng cách in (ví dụ, 
cuộn cảm, tụ, kháng, điốt và điện trở), có thể đi kèm một mạch tích 
hợp. 
(9) Cầu ngựa bao gồm mâm, trục, bộ điều tốc, bánh xe cân bằng và dây 
(6) Regulating device: balance, balance staff, hairspring (flat, Bréguet, 

tóc, và bộ điều chỉnh của máy đồng hồ cá nhân hay đồng hồ thời 
gian, có hay không có bộ truyền động. Chúng được phân loại vào 
nhóm này cho dù đã được lắp với bộ điều chỉnh chuyển động hay 
chưa.  
     Cầu ngựa lắp ráp hoàn chỉnh thường để lắp vào các thiết bị sử dụng 
máy đồng hồ cá nhân hay đồng hồ thời gian (thiết bị chấm công, công 
tắc định thời gian, vv), và đôi khi cho cả đồng hồ thời gian nhỏ hay 
đồng hồ báo thức. 
(B) BỘ PHẬN CỦA MÁY ĐỒNG HỒ THỜI GIAN HOẶC ĐỒNG 
HỒ BÁO THỨC 
Rất nhiều bộ phận của máy đồng hồ này về cơ bản giống như các bộ 
phận của máy đồng hồ cá nhân nhưng kích thước lớn hơn. 
Bộ phận đặc thù của máy đồng hồ thời gian bao gồm quả lắc, bao gồm 
cả quả lắc bù trừ (bằng thuỷ ngân, ống hợp kim invar,...), giá đỡ, cạnh, 
cạnh bánh răng, bộ điều tốc bật lại, bộ điều tốc chạy giật (hoặc 
Graham),..., chìa khoá lên giây riêng. Bộ phận của máy đồng hồ báo 
thức bao gồm chìa khoá lên giây cố định và các núm lấy giờ. 
(C) BỘ PHẬN CỦA CHUÔNG ĐỒNG HỒ 
(1) Chuông của đồng hồ báo thức: chốt hoặc hãm, đĩa có khấc, bánh 
xe li hợp, bánh xe chuông, hãm chuông, khay, búa gõ chuông.v.v. 
(2) Chuông của đồng hồ thời gian (loại đĩa khóa, loại cơ cấu thanh 
răng,…): vành hoặc tang và khung bánh răng, hộp cót chuông và 
bánh xe ổ cót (great wheel), bánh xe hãm (pin wheel), bánh đà (third 
wheel), warning wheel, lá gió (fly), chốt hãm (detents), levers or fly 
springs (đòn bẩy hoặc lò xo), repeater rack, bánh xe hình ốc sên 
(snail), búa (hammer), khay nâng (lifting piece), trục chính (arbor), 
bộ điều chỉnh tốc độ (fly wheel) cam tính nhạc giờ (gathering 
pallet), càng, cào, thanh răng (rack), bi (ball), chuông đĩa (gong), bộ 
hoà âm. 

(D) CHÂN KÍNH 
Nhóm này chỉ bao gồm đá quý đã được gia công, tức là đã được tiện, cắt 
gọt, đánh bóng, khoan lỗ, khoét trũng,.. hay đã được lắp vào thân máy 
(trong một bộ hoặc bắt vít). Đá quý dạng chưa gia công hay xẻ thô bị 
loại trừ (Chương 71). Chân kính đồng hồ thường có kích thước rất nhỏ, 
đường kính hiếm khi trên 2 mm và độ dày hiếm khi trên 0,5mm. 
Các loại đá quý chính được sử dụng trong đồng hồ là rubi (hồng ngọc), 
saphia (lam ngọc) và grônat (ngọc hồng lựu) tự nhiên hay nhân tạo, đôi 
khi bằng kim cương. Trong các loại đồng hồ rẻ tiền, đôi khi người ta 
dùng thuỷ tinh giả ngọc hay thay chân kính bằng vỏ bọc kim loại. 
Chân kính của đồng hồ cá nhân hay đồng hồ thời gian mang tên bộ phận 
mà nó bảo vệ… ví dụ như chân kính bánh xe trục giữa, chân kính bánh 
xe chuyền, chân kính bánh xe gai, chân kính bánh nhện và chân kính 
bánh xe cân bằng. Ổ trục bánh xe thường là chân kính khoan lỗ hoặc bọc 
thêm một chân kính không khoan lỗ đỡ lấy đầu trục. Có những ổ có chân 
kính khoét lỗ hình chóp. 
Ngoài những chân kính tròn làm ổ đỡ chân trục, những đồng hồ có ngựa 
hình mỏ neo còn có 3 chân kính đặc biệt: hai chân kính dẹt (cắt vát gắn ở 
hai đầu ngựa) và một chân kính lá trang (hình bán nguyệt) hay hình elip 
(đá ở phần này thường nửa tròn hoặc tam giác làm ổ đỡ chân trục). 
Chân kính có thể được lắp bằng tay, sử dụng một đá quý có khuôn, hoặc, 
thường sử dụng hơn, bằng cách ép.  
(E) MẶT SỐ 
Mặt số thường có vạch chia hay số chỉ giờ, phút và giây. Mặt số có thể 
phẳng hay khum. Chúng thường được mạ bạc, vàng, được sơn, làm oxy 
hóa hoặc mạ đồng thau, tráng men đồng, phủ vàng hoặc bạc, hoặc đôi 
khi bằng giấy, thuỷ tinh hay gốm hay plastic. Chữ số và vạch chia được 
làm bằng nhiều cách khác nhau (dịch chuyển, vẽ, rập...). Mặt số có thể 
có số hoặc các ký tự dạ quang. 
Mặt số được lắp cố định vào mâm (hoặc vào mâm phụ, gọi là ”mâm mặt 
số”) bằng ốc vít, chân hoặc bằng vòng kim loại bên ngoài. 

Bao gồm kim chỉ giờ, phút và giây. Nhóm này cũng bao gồm những loại 
kim đặc biệt cho đồng hồ tính giờ, và kim cho đồng hồ báo thức,... Kim 
của đồng hồ thời gian hay đồng hồ cá nhân có thể phẳng hay khum, và 
có thể được làm bằng thép, bằng đồng thau hay bằng đồng, thường được 
đánh bóng, o-xi hóa, mạ niken, mạ crôm, mạ bạc, mạ vàng hoặc sơn; đôi 
khi chúng được làm bằng vàng và thậm chí cả bằng xương. Kim dạ 
quang có các kẽ hở được quét một hợp chất mà cơ sở là muối phóng xạ 
(radio-thorium, meso-thorium,...). Có rất nhiều kiểu kim được thiết kế 
phù hợp với từng loại mặt số. 

Chương 92 
Nhạc cụ; các bộ phận và phụ kiện của chúng  
Chú giải. 
1.- Chương này không bao gồm: 
(a) Các bộ phận có công dụng chung, như đã định nghĩa trong 
Chú giải 2 Phần XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV), 
hoặc các mặt hàng tương tự bằng plastic (Chương 39); 
(b) Micro, amply, loa phóng thanh, tai nghe, công tắc, dụng cụ 
quan sát hoạt động máy (máy hoạt nghiệm) hoặc thiết bị 
phụ trợ khác, máy hoặc thiết bị của Chương 85 hoặc 90, sử 
dụng phối hợp nhưng không lắp hoặc ghép vào cùng một 
vỏ như các thiết bị của Chương này 
(c) Dụng cụ hoặc nhạc cụ đồ chơi (nhóm 95.03); 
(d) Chổi để làm sạch nhạc cụ (nhóm 96.03); hoặc chân đế loại 
một chân (monopod), hai chân (bipod), ba chân (tripod) và 
các mặt hàng tương tự (nhóm 96.20); hoặc 
(e) Bộ sưu tập hoặc đồ cổ (nhóm 97.05 hoặc 97.06).  
2.- Cần kéo và que và các dụng cụ tương tự để chơi nhạc cụ thuộc 
nhóm 92.02 hoặc 92.06 đi kèm những loại nhạc cụ đó với số lượng 
kèm theo thông thường và được xác định rõ là sử dụng cùng với nhạc 
cụ, được phân loại cùng nhóm với nhạc cụ liên quan. 
  Thẻ, đĩa và trục quay thuộc nhóm 92.09 đi kèm với nhạc cụ được xem là 
một mặt hàng riêng biệt và không phải là bộ phận cấu thành nhạc cụ đó. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm :  
(A) Những nhạc cụ (từ nhóm 92.01 đến 92.08). 
(B) Các bộ phận và phụ kiện của chúng (nhóm 92.09). 
Một số nhạc cụ ( đàn pianô, ghita...) có thể có các thiết bị điện để đọc và 
khuếch đại âm thanh, vẫn được phân loại vào các nhóm tương ứng của 

Chương này trong trường hợp nếu không có các thiết bị điện nói trên 
chúng vẫn sử dụng được như những nhạc cụ thông thường tương tự. 
Những thiết bị điện trên trừ khi tạo nên một bộ phận không tách rời của 
nhạc cụ hoặc lắp vào cùng một vỏ với nhạc cụ đều không thuộc 
Chương này (thuộc 85.18). 
Các nhạc cụ điện hay điện tử (trừ đàn piano tự động thuộc nhóm 92.01) 
mà không sử dụng được nếu thiếu các thiết bị điện hoặc điện tử, thuộc 
nhóm 92.07 (xem phần Chú giải Chi tiết tương ứng). Nhóm 92.07 sẽ bao 
gồm, ví dụ như, những nhạc cụ điện, điện tử hay những loại tương tự 
như ghita, đàn óc,  piano, đàn accordion, chuông chùm.  
Những nhạc cụ và thiết bị Chương này có thể được làm bằng mọi chất 
liệu, kể cả kim loại quý hay kim loại được dát phủ bằng kim loại quý, và 
có thể đính kèm đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hay tái tạo). 
Theo Chú giải 2 của Chương này, cần kéo và miếng gảy cho các loại 
nhạc cụ có dây thuộc nhóm 92.02, và que gõ (bao gồm cả que gõ có đầu 
mềm) và dùi cho những nhạc cụ thuộc bộ gõ của nhóm 92.06, khi đi kèm 
với những nhạc cụ này với số lượng kèm theo thông thường, và được 
xác định rõ là sử dụng cùng với nhạc cụ, sẽ được phân loại vào cùng 
nhóm nhạc cụ liên quan và không thuộc vào nhóm 92.09. Tuy nhiên, 
thẻ, đĩa và trục quay thuộc nhóm 92.09 đi kèm với nhạc cụ được xem là 
mặt hàng riêng biệt và không phải là bộ phận cấu thành nhạc cụ đó. 
Bên cạnh những loại trừ đề cập cụ thể trong phần Chú giải Chi tiết dưới 
đây, Chương này còn loại trừ: 
(a) Các môđun điện tử âm nhạc (nhóm 85.43) 
(b) Những nhạc cụ mà có thể xác định rõ ràng là đồ chơi dựa trên 
đặc tính của vật liệu chế tạo, độ trau chuốt không cao, không có 
chất lượng âm thanh hoặc bằng bất cứ đặc tính nào khác 
(Chương 95). Ví dụ như  một số loại đàn organ thổi, đàn 
viôlông, đàn accordion, kèn trompet, trống, hộp nhạc. 
(c) Các vật phẩm sưu tập (nhóm 97.05) (ví dụ những nhạc cụ có 
ý nghĩa lịch sử hay dân tộc học), hoặc đồ cổ có tuổi trên 100 

năm (nhóm 97.06). 
92.01- Đàn piano, kể cả piano tự động; đàn clavecin (hapsichords) 
và các loại đàn dây có phím bấm khác (+). 
9201.10 - Đàn piano loại đứng 
9201.20 - Đại dương cầm (grand piano) 
9201.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Đàn piano, với bàn phím và dây đàn được gõ bằng những chiếc búa 
gõ, dù có hoặc không gắn với một thiết bị điện để đọc và khuếch đại 
âm thanh, nghĩa là: 
(a) Đàn piano loại đứng, có miếng gỗ tăng âm trên đó các dây đàn 
được căng theo chiều thẳng đứng, và khi chéo nhau thì những 
dây trầm bắt qua các dây còn lại. 
(b) Đại dương cầm (đàn piano cánh lớn và cánh nhỏ) có dây được 
căng ngang suốt chiều dài hộp đàn tạo thành một dạng đuôi (cánh). 
Nhóm này bao gồm đàn piano tự động dù có bàn phím hay không được 
vận hành bởi những phương tiện như những băng giấy hay bìa đục lỗ; 
những đàn này có thể chạy bằng cơ, khí động hay điện. 
Tuy nhiên, “đàn piano điện tử” cũng như những nhạc cụ điện tử, có thể 
hòa với piano để tạo hiệu ứng âm thanh của những nhạc cụ khác trong 
khi đàn piano đang chơi, thuộc nhóm 92.07 (xem Chú giải Tổng quát 
của Chương này) 
(2) Đàn clavecin và các loại đàn dây có phím bấm khác như đàn 
xpinet (spinet) và đàn clavichord. 
Chú giải Phân nhóm. 
Các Phân nhóm 9201.10 và 9201.20 
Các phân nhóm này cũng bao gồm đàn piano tự động. 

92.02 - Các nhạc cụ có dây khác (ví dụ, ghi ta, vi-ô-lông, đàn hạc). 
9202.10 - Loại sử dụng cần kéo 
9202.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(A)  Nhạc cụ sử dụng cần kéo 
Những nhạc cụ tiêu biểu trong loại nhóm này là đàn vi-ô-lông, viôn 
và antơ (hai loại sau có kích thước hơi lớn hơn viôlông thường), vi-
ô-lông xen và viôn trầm và công trơ baxo. 
(B) Các nhạc cụ có dây khác 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Đàn dây gảy, loại đàn dùng ngón tay hay miếng gảy nhỏ 
(môdiatô) bằng gỗ, ngà, đồi mồi, plastic, vv..., làm dịch chuyển 
dây đàn trong giây lát tạo ra âm thanh. Loại này gồm: 
(a) Đàn Măngđolin (măngđolin Napôli có mặt đàn khum,  
măngđolin phẳng, măngđon,...) 
(c) Đàn Luýt Đức (một loại măngđolin) 
(d) Đàn Băng giô (loại đàn cán dài, mặt sau thân đàn tròn và 
phẳng, mặt đàn phẳng và  bịt da như mặt trống). 
(e) Đàn Uculêlê (loại ghita kích thước nhỏ, cán dầy). 
(f) Đàn Xita, loại đàn có hộp phẳng, gần giống hình thang với 
nhiều dây thường là bằng kim loại. 
(g) Đàn Balalaika. 
(h) Đàn Hạc, Là các loại nhạc cụ có dây hình tam giác, gảy bằng 
tay, độ dài các dây đàn theo thang bậc. 
(2) Các nhạc cụ khác như: 

(a) Đàn Harp Êôliêng hay harp Êôlơ. Nhạc cụ để ngoài vườn, .... 
Chúng gồm một số dây căng trên một hộp cộng hưởng, khi để 
theo hướng gió làm rung dây đàn tạo thành những hoà âm. 
(b) Đàn Ximbalum, nhạc cụ gồm một khung căng dây đàn bằng thép. 
Chúng được gõ bằng dùi có đầu mềm, và được dùng trong các 
dàn nhạc digan. 
Ở một số nhạc cụ, nhất là ghita, âm thanh có thể được tăng âm điện tử 
nhưng chúng không bị loại trừ khỏi nhóm này; tuy nhiên, các nhạc cụ 
điện tử như ghita không có hộp cộng hưởng thuộc nhóm 92.07 (xem 
Chú giải Tổng quát của Chương này). 
92.05  - Nhạc cụ hơi (ví dụ, các loại đàn organ ống có phím, đàn 
accordion, clarinet, trumpet, kèn túi), trừ các loại đàn organ 
phiên chợ, đàn quay gió của người hát rong trên đường phố. 
9205.10 - Các loại kèn đồng 
9205.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các nhạc cụ hơi không được nêu trong nhóm 92.08 
(ví dụ, đàn organ phiên chợ, đàn quay gió của người hát rong trên đường 
phố, dụng cụ âm thanh phát tín hiệu.v.v..) mặc dù ở một mức độ nào đó 
chúng cũng có thể được coi là nhạc cụ hơi.        
Nhóm này bao gồm:  
(A) Các loại kèn đồng. 
Thuật ngữ “kèn đồng” căn cứ vào chất lượng âm thanh của nhạc cụ 
được sử dụng ở một vị trí đặc biệt trong dàn nhạc, chứ không dựa 
vào chất liệu làm nên nhạc cụ. Nhóm này gồm những nhạc cụ, 
thường được làm bằng kim loại (đồng thau, bạc niken, bạc, v.v.) có 

dạng ống hình nón có đáy loe ra thành vòm; chúng có thể được cuộn 
xoắn theo nhiều mức độ. Những nhạc cụ này được lắp mỏ kèn được 
khoét rỗng, dùng môi để thổi và thường dùng van bấm. Các loại này 
bao gồm kèn cocnê, kèn trompet (trompet đơn, trompet trong dàn 
nhạc, v.v.), kèn bugle, kèn khớ xacooc, kèn baritôn và kèn bugle 
trầm, kèn trầm (tuba trầm), kèn xuxaphon trầm, kèn trombon (van 
bấm hay thanh trượt), kèn co trong dàn nhạc (ví dụ: kèn co kiểu 
Pháp v.v.) và kèn co không có van sử dụng trong dàn nhạc (ví dụ: 
kèn co dựng khi đi săn). 
(B) Các loại nhạc cụ hơi khác.  
Nhóm này bao gồm: 
(1) Đàn organ ống có phím (loại dùng trong nhà thờ). Đây là 
những nhạc cụ hơi mà những chuyển động của phím đàn được 
truyền tới các ống nhạc hơi bằng điện, điện khí nén hoặc cơ học.  
Nhóm này cũng bao gồm tủ đàn ống hoặc hộp đựng đàn (tức là, đồ 
gỗ để đựng đàn organ và thường được thiết kế để trang trí) đi kèm 
với đàn. Nếu không đi kèm với nhau, thì chúng bị loại trừ (nhóm 
Nhóm này không bao gồm đàn ống, đàn organ trên đường phố và 
nhạc cụ ống tương tự, không có bàn phím, có thể được điều khiển tự 
động hoặc bằng tay quay (nhóm 92.08). Đàn organ điện tử được 
phân loại vào nhóm 92.07. 
(2) Đàn đạp hơi và các nhạc cụ có phím tương tự với giăm kèn 
bằng kim loại, nhưng không có ống. 
(3) Đàn accordion (đàn xếp) và các nhạc cụ tương tự, đàn 
côngxectina, đàn bandoneon và đàn accordion có bộ ống gió 
bàn đạp.   
Nhóm này không bao gồm đàn accordion điện tử (xem Chú giải 
Chi tiết của nhóm 92.07, và Chú giải Tổng quát của Chương 
này). 
(4) Đàn organ thổi (kèn acmônica). 
(5) Các nhạc cụ được gọi là “nhạc cụ hơi”. Các nhạc cụ này được 

tạo nên từ một ống (bằng kim loại, bằng gỗ hoặc bằng sậy, bằng 
nhựa, bằng cao su cứng, bằng thuỷ tinh) có đục lỗ thường được 
gắn phím bấm, vòng. Chúng thường phát ra âm thanh bằng giăm 
kèn. Nhóm này bao gồm ống sáo, ống tiêu, ống địch, sáo dọc cổ, 
kèn ôboa, clarinet, kèn co kiểu Anh, kèn fagôt, kèn xăcxôphone 
và xarut. 
Nhóm này cũng bao gồm kèn ôcarina (nhạc cụ có hình quả trứng 
nhỏ làm bằng kim loại hay đất nung, có âm thanh như tiếng sáo), và 
còi có thanh trượt (bằng kim loại hay cao su cứng). 
(6) Các nhạc cụ hơi khác (ví dụ, kèn túi, kèn Breton hoặc kèn bễ, 
được cấu tạo bởi một ống bầu hoặc túi bằng da hoặc bong bóng, 
có thể được lắp từ ba đến năm ống, một trong những ống này 
phát ra một nốt cố định, còn các ống khác thực hiện những điệu 
biến tấu). 
92.06 - Nhạc cụ thuộc bộ gõ (ví dụ, trống, mộc cầm, chũm chọe, 
castanet, chuông gõ (maraca)). 
Nhạc cụ thuộc bộ gõ là những nhạc cụ mà người chơi hay biểu diễn phải 
đập (đánh) bằng một vật như đũa (dùi) hay một dụng cụ tương tự, hoặc 
bằng tay không. Những nhạc cụ này thường được gọi là “nhạc cụ để 
đánh”. 
Những nhạc cụ chính trong nhóm này là: 
(A)    Nhạc cụ có lớp da được kéo căng, ví dụ: 
(1) Trống nhỏ và trống lục lạc. 
(2) Trống (trống tang mỏng, trống trầm hoặc trống lớn,...). 
Chúng gồm những trống hình trụ bằng gỗ hay kim loại bọc da 
ở hai đầu (trống hai mặt) và đánh bằng một hoặc hai dùi trơn 
hay bọc da ở đầu. 
(3) Trống Timpano và trống thùng (trống một mặt). Chúng gồm 
có hình bán cầu bằng đồng (có kích thước khác nhau và 

thường đặt trên mặt đất), mặt trống bằng da thuộc 
(parchment). Chúng được chỉnh âm theo một nốt xác định và 
đánh bằng  dùi. 
(4) Trống lục lạc với tiếng leng keng nhỏ. Chúng gồm có một 
vòng đai nhỏ bọc da gắn lục lạc hay lá đồng. Âm thanh phát ra 
khi rung nhạc cụ này theo những cách khác nhau, hay vỗ bằng 
lòng bàn tay, đầu ngón tay,... 
(5) Trống tam tam. 
(B)  Các nhạc cụ thuộc bộ gõ khác như: 
(1) Chũm chọe (Cymbals). Chúng là những đĩa tròn, âm thanh tạo 
ra khi đập, xoa chiếc nọ vào chiếc kia; trong một vài trường 
hợp, đối với chũm chọe đơn thường sử dụng dùi có đầu mềm. 
(2) Cồng (ví dụ cồng Trung Hoa), là đĩa kim loại thường đánh 
bằng dùi nặng bọc da hay dạ phớt. 
(3) Thanh kẻng ba góc, là que thép gấp thành hình tam giác đều, 
đánh bằng que sắt. 
(4) Lục lạc hình nón (pavilon Trung Hoa, crescent Thổ Nhĩ Kỳ), 
nhạc cụ hình nón có gắn lục lạc và chuông nhỏ, phát ra tiếng 
nhạc khi cầm lá rung lên. 
(5) Phách (castenet), nhạc cụ nhỏ mặt lõm hay hình vỏ sò, bằng 
gỗ, xương hay ngà; chúng có thể  cố định vào ngón tay, hay gắn 
vào tay nắm (chuôi), âm thanh phát ra khi đập vào nhau. 
(6) Mộc cầm gồm nhiều phiến gỗ có chiều dài tăng dần, được gắn 
vào hai thanh đỡ và chơi bằng cách gõ dùi (đũa). 
(7) Đàn phiến kim loại (Metallophone), tương tự như đàn mộc 
cầm nhưng các phiến gỗ được thay thế bằng các thanh kim loại 
hẹp (thép hay duralumin (hợp kim nhôm)); (cả mộc cầm và đàn 
phiến kim loại thường được gắn thêm các miếng hoặc ống cộng 
hưởng bằng kim loại ở phía dưới). Nhóm này cũng bao gồm 
những nhạc cụ tương tự bằng phiến thủy tinh. 

(8) Đàn Celesta và những nhạc cụ tương tự, dùng trong nhóm nhạc 
cụ thuộc bộ gõ như vật để thay thế cho loại chuông hoà âm cổ 
điển. Chúng có hình dáng bên ngoài giống như một pianô nhỏ 
có bàn đạp và mỏ chặn. Âm thanh được tạo nên bởi những lưỡi 
gà dày bằng thép đặc biệt  rung lên do bị “búa” đập, điều khiển 
bằng cơ từ bàn phím. 
(9) Chuông, bộ chuông, chuông hoà âm và chuông hình ống (bộ 
ống treo trên khung,  gõ bằng tay không hay dùng búa). 
(10) Maracas và những nhạc cụ tương tự gồm các chuông hoặc ống 
rỗng, phát ra âm thanh khi lắc. 
(11) “Phách” bằng đôi que (claves) gồm một đôi gậy ngắn bằng gỗ 
cứng. 
(12) Flexatone, nhạc cụ gồm một tấm kim loại gắn trên tay nắm và 
hai cục gỗ tròn gắn trên hai mặt của tấm kim loại. Khi lắc nhạc 
cụ, hai cục gỗ đập vào tấm kim loại phát ra âm thanh. Âm thanh 
được điều chỉnh khi uốn cong tấm kim loại bằng ngón tay cái. 
Một số nhạc cụ trên đây đôi khi được kết hợp để một người cùng một lúc 
có thể sử dụng được nhiều thứ. Chẳng hạn trong dàn nhạc, trống lớn 
đánh bằng vồ đạp chân, ghép thêm chũm choẹ, cồng (gông), hộp cộng 
hưởng bằng gỗ gắn chuông nhỏ hay tạo thành mộc cầm, v.v...  
Bộ chuông hoà âm (carillon) cho các tòa nhà có thể phát ra các giai 
điệu, cũng được phân loại vào nhóm này. 
Tuy nhiên, những nhạc cụ điện tử thuộc bộ gõ được phân loại vào nhóm 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các loại chuông và cồng (gông) để bàn hoặc mắc ở cửa, chuông hòa 
âm,... không phải là nhạc cụ (nhóm 83.06 hay 85.31). 
(b) Chuông hoà âm và các bộ gõ khác cho đồng hồ  thời gian (nhóm 

92.07 -  Nhạc cụ, mà âm thanh được tạo ra, hoặc phải khuếch đại, 
bằng điện (ví dụ, đàn organ, ghita, accordion).  
9207.10 - Nhạc cụ có phím bấm, trừ accordion 
9207.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm những nhạc cụ mà âm thanh được tạo ra hoặc 
khuếch đại bằng điện (kể cả điện tử) (nghĩa là những nhạc cụ này 
không thể phát ra những âm thanh để nghe bình thường nếu không có 
các thiết bị điện hay điện tử, cho dù những bộ rung được lắp trên chúng 
có thể tạo ra những âm thanh yếu). Về điểm này, những nhạc cụ nêu trên 
khác với một số nhạc cụ khác (ví dụ, piano, accordion, ghita)  mà dù có 
thể lắp thiết bị điện thu và tăng âm nhưng vẫn là những nhạc cụ độc lập, 
có thể biểu diễn như các nhạc cụ tương tự loại thông thường khác mà 
không cần những thiết bị như vậy. Đàn piano điện tử tự động bị loại trừ 
(nhóm 92.01). 
Những nhạc cụ thuộc nhóm này thường căn cứ vào việc sử dụng:  
(A) Máy tạo âm thanh điện từ.  
Ở một trong những hệ thống dựa trên nguyên tắc này, bộ phận tạo 
âm thanh gồm một trục mô tơ, ghép linh hoạt (co giãn) với một mô 
tơ đồng bộ để chạy với tốc độ đều. Các khớp răng có đường kính 
khác nhau được bố trí từng đôi dọc theo trục môtơ, mỗi khớp răng 
kéo theo những bánh răng gọi là bánh âm thanh hay thanh âm. Khi 
nhạc cụ được nối với nguồn điện, mô tơ đồng bộ chạy, các bánh 
thanh âm quay theo các tốc độ khác nhau tương ứng với các đường 
kính khác nhau của các khớp răng. Một nam châm vĩnh cửu với một 
đầu có cuộn cảm được gắn song song với bánh thanh âm. Khi các 
bánh này quay, các răng cách đều của chúng lần lượt đi qua dưới 
cực của mỗi nam châm tương ứng; điều này làm thay đổi từ trường, 
tạo ra những rung động yếu của dòng điện trong cuộn cảm. Các 

dòng điện với tần số đã biết này được khuếch đại bằng điện và 
truyền ra loa. 
Nguyên lý này được sử dụng chủ yếu cho nhạc cụ kiểu đàn organ. 
Trong hệ thống khác, một “lưỡi gà tự do” (giống như của đàn hoà 
âm) di chuyển qua một trong các cực của nam châm vĩnh cửu, 
những rung động của lưỡi gà tạo nên những biến thiên của từ trường 
trong cuộn cảm quay quanh nam châm. Từ đó tạo nên dòng điện 
trong bôbin, rồi được khuyếch đại và truyền ra loa. 
(B) Máy tạo âm thanh tĩnh điện, trong số đó có các loại: 
(1) Máy tạo âm thanh bằng dây kéo căng. Trong các loại này, 
những rung động được tạo ra khi một dây mang một dòng điện 
bị tác động bởi búa, làm phát sinh các biến thiên về điện dung 
giữa dây và các bộ phận kim loại (đinh tán) liền kề với nó. 
Những biến thiên về điện dung này hoàn toàn tương ứng với 
những dao động của dây nên khi được khuếch đại, chúng tái tạo 
một cách chính xác những rung động này. 
(2) Tạo âm thanh bằng lưỡi gà tự do rung động, ở loại này dòng 
điện được tạo ra bởi lưỡi gà thay vì dây. 
(3) Tạo âm thanh bằng tụ điện biến thiên, ở loại này các tụ điện 
(tụ) quay với tốc độ đều bằng mô tơ. 
(C)  Máy tạo âm thanh dao động bằng van (hoặc ống) điện tử, kể cả 
các máy dao động dùng ống phóng điện chất khí. 
(D) Máy tạo âm thanh dùng tế bào quang điện. Trong các máy này, 
một tia sáng đi qua một đĩa đục lỗ chiếu lên một tế bào. Bằng cách 
tính chính xác số lỗ trên đĩa, người ta tạo nên một số tương ứng 
những biến thiên của dòng điện, mà khi được khuếch đại tạo ra âm 
thanh mong muốn. 
Một số nhạc cụ nhóm này, tuỳ theo trường hợp có tên là điện từ, tĩnh 
điện, điện tử, vô tuyến điện, quang điện, piano, organ, accordion, 
carillon,... nhưng hầu như bao giờ cũng được định danh theo tên thương 
mại đã đăng ký. Chúng có thể tạo ra âm thanh trung thực của hầu như tất 
cả các nhạc cụ bằng cách đơn giản là thay đổi khoảng âm. Người ta gọi 

những nhạc cụ này là loại một “bè” khi chúng chỉ tạo ra những âm thanh 
đơn hoặc "phức điệu" nếu chúng tạo ra đồng thời nhiều âm thanh (như 
trường hợp đàn organ).  
Một số nhạc cụ loại này có thể chơi độc lập; một số khác phối hợp với 
đàn piano cổ điển, người biểu diễn chơi nhạc cụ bằng tay phải, trong khi 
đệm đàn piano bằng tay trái. Trong trường hợp này, nhạc cụ vẫn được 
phân loại vào nhóm này dù có đi cùng với đàn piano hay không. 
Mặc dù chúng có thể cần thiết cho các nhạc cụ của nhóm này hoạt động 
bình thường, các dụng cụ điện hay điện tử (nhất là hệ thống tăng âm – 
loa) đều bị loại trừ và thuộc vào các nhóm tương ứng của chúng 
(Chương 85) khi chúng không được gắn vào nhạc cụ. Tuy nhiên, khi 
những dụng cụ này được lắp vào hay để trong cùng hòm với nhạc cụ thì 
được phân loại cùng với nhạc cụ này, kể cả khi chúng được đóng gói 
riêng để dễ chuyên chở. 
Nhóm này không bao gồm đồng hồ thời gian loại thông thường (có mặt 
số chỉ giờ) sử dụng với một số chuông điện tử để đánh tự động mỗi giờ, 
30 phút, .v.v….(Chương 91). 
92.08 - Hộp  nhạc, đàn organ phiên chợ, đàn quay gió của người 
hát rong trên phố, nhạc cụ cơ khí tạo tiếng chim hót, đàn 
kéo và các nhạc cụ khác không thuộc bất kỳ nhóm nào khác 
của Chương này; dụng cụ tạo âm thanh để nhử mồi các 
loại; còi, tù và và dụng cụ thổi bằng miệng khác để tạo âm 
9208.10 - Hộp nhạc 
9208.90 - Loại khác 
(A) CÁC NHẠC CỤ KHÔNG THUỘC BẤT KỲ NHÓM NÀO 
KHÁC CỦA CHƯƠNG NÀY. 
Bao gồm: 
(1)  Hộp nhạc. Chúng là những máy cơ khí nhỏ tự động phát ra những 
điệu nhạc, được đặt trong hộp hoặc những vật đựng khác. Bộ phận 

chủ yếu là một bộ xilanh (trục) có nhiều gai hay mấu (theo các nốt 
của giai điệu được phát ra); về chuyển động quay, các chốt nối với 
các lưỡi gà bằng kim loại được bố trí như răng lược làm cho các 
lưỡi gà rung lên và phát ra nốt nhạc. Các thành phần được gắn với 
nhau trên một mâm và trục được quay bởi động cơ hoạt động bằng 
dây cót (hoạt động kiểu đồng hồ) làm cho trục quay bằng chìa khóa 
hay trực tiếp bằng tay. Trong một số trường hợp, trục có thể được 
thay thế bằng một mâm kim loại mỏng đục lỗ hay khắc nổi các nốt 
của điệu nhạc. 
Những mặt hàng có lắp cơ chế có nhạc này nhưng chức năng chủ 
yếu là tiện dụng hay trang trí (ví dụ, đồng hồ, đồ gỗ nội thất nhỏ, 
bình thuỷ tinh cắm hoa giả, tượng nhỏ bằng gốm) không được coi là 
"hộp nhạc" theo nghĩa của nhóm này. Những mặt hàng này được 
phân loại vào cùng các nhóm như các mặt hàng tương ứng không có 
cơ chế có nhạc.  
Ngoài ra, các mặt hàng như đồng hồ đeo tay, cốc và thiếp chúc 
mừng có các môđun âm nhạc điện tử không được coi là hàng hóa 
thuộc nhóm này. Các mặt hàng đó được phân loạicùng nhóm với các 
mặt hàng tương ứng không lắp kèm các môđun đó. 
(2) Đàn organ phiên chợ, ví dụ như "orchestrion" và các nhạc cụ 
tương tự. Một số đàn organ phiên chợ có kích thước lớn gắn hai bàn 
phím giả, trong đó một có chức năng làm rung các dây kim loại nhờ 
một cơ cấu đàn piano, còn bàn phím kia điều khiển các ống đàn 
organ; ngoài ra còn có hệ thống lưỡi gà làm rung các dây đàn. 
Những nhạc cụ này có thể kết hợp với trống, chũm chọe (cymbal), 
accordion, vv..., vì vậy, tạo ra ấn tượng như một dàn nhạc. Chúng 
chủ yếu được sử dụng trong các khu công viên vui chơi hay ở chợ 
phiên... Chúng có thể được vận hành bằng tay hoặc mô tơ, và phát 
ra các giai điệu bằng bìa hay giấy đục lỗ. 
(3) Đàn quay gió của người hát rong trên đường phố. Các loại này 
gồm một thùng (hoặc một ống hình trụ) có các mấu đồng, khi quay 
bằng tay các mấu này sẽ điều khiển các van trên những ống bằng gỗ 
hay bằng kim loại. 

(4) Nhạc cụ cơ khí tạo tiếng chim hót. Nhạc cụ này là những thiết bị 
nhỏ tự động thường được đặt trong lồng. Dưới đáy lồng có một 
động cơ lò xo (hoạt động kiểu đồng hồ) khởi động một bộ các piston 
và các ống gió tạo những tiếng ngân nga và làm đầu và thân của con 
chim giả chuyển động. 
(5) Đàn kéo. Loại nhạc cụ này có lưỡi  thép đặc biệt, phát ra tiếng nhạc 
khi làm rung lên bằng vĩ hay búa bọc dạ phớt. 
(6) Các nhạc cụ độc đáo khác như cái lúc lắc, còi thổi bằng miệng. 
Các loại thẻ, đĩa và trục quay, đi kèm hay không với các nhạc cụ của 
nhóm này (xem Chú giải 2 của Chương này), luôn được phân loại vào 
nhóm 92.09. 
(B) DỤNG CỤ TẠO ÂM THANH ĐỂ NHỬ MỒI CÁC LOẠI VÀ 
NHẠC CỤ THỔI BẰNG MIỆNG 
(1) Dụng cụ tạo âm thanh, tạo hiệu ứng để nhử mồi, v.v...là những 
dụng cụ nhỏ dùng miệng thổi hoặc dùng tay làm giả tiếng chim  hay 
tiếng kêu của các động vật khác nhằm thu hút chúng. 
(2) Dụng cụ tạo âm thanh thổi bằng miệng như: 
(i)    Tù và và kèn coocnê, bằng sừng, xương, kim loại, vv... 
(ii)  Còi thổi bằng miệng làm từ  kim loại, gỗ,vv.. để đưa ra các tín 
hiệu,... 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Chuông cửa, chuông để  bàn, chuông xe đạp, vv… (nhóm 83.06 hay 
(b)  Còi dùng quả bóp và còi cảnh báo (ví dụ, loại dùng cho xe cộ), còi 
tàu, còi đặt trên mái nhà hoạt động bằng tay loại cố định hoặc dịch 
chuyển được; những dụng cụ này được phân loại theo chất liệu cấu 
thành, hay tuỳ theo trường hợp được phân vào Phần XVI hoặc Phần 
(c) Dụng cụ hoặc thiết bị tạo âm thanh bằng điện (nhóm 85.12 hay 
85.31, tuỳ theo trường hợp). 

92.09 - Các bộ phận (ví dụ, bộ phận cơ cho hộp nhạc) và các phụ 
kiện (ví dụ, thẻ (card), đĩa và trục quay dùng cho nhạc cụ cơ 
học) của nhạc cụ; máy nhịp, thanh mẫu, tiêu và sáo các loại. 
9209.30 - Dây nhạc cụ 
  - Loại khác 
9209.91 - - Bộ phận và phụ kiện của đàn piano 
9209.92 - - Bộ phận và phụ kiện cho nhạc cụ thuộc nhóm 
9209.94 - - Bộ phận và phụ kiện cho nhạc cụ thuộc nhóm 
9209.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Máy nhịp, thanh mẫu, ống tiêu và sáo các loại 
Nhóm bao gồm máy nhịp, thanh mẫu, tiêu và sáo các loại   được  
dùng  trong âm nhạc hay mục đích khác. 
Máy nhịp là những thiết bị cơ khí nhỏ được sử dụng để xác định 
chính xác nhịp của bản nhạc sẽ được trình diễn; thông thường chúng 
được đặt trong hộp hình tháp và có thể được gắn chuông. Bộ phận 
chính là một tay đòn đánh nhịp quay xung quanh trục ở đầu thấp của 
tay đòn. Chuyển động của tay đòn có thể  điều chỉnh nhanh  hay chậm  
theo số ghi trên thang chia độ ở mặt sau. 
Nhóm này cũng bao gồm những máy nhịp được lắp công tắc điện 
dùng trong công nghiệp. 
Thanh mẫu (âm thoa) là những thanh kim loại nhỏ hình chữ U khi 
rung phát ra một nốt nhạc nhất định; nhóm này cũng bao gồm những 
âm thoa loại lớn dùng cho phòng hòa nhạc bao gồm lưỡi kim loại gắn 
trên một hộp âm và được gõ bằng búa. 
Ống tiêu và sáo là một thiết bị thổi bằng miệng và bao gồm một hay 
nhiều lưỡi gà hay ống nhạc hơi; thường phát ra nhiều nốt nhạc  
(4 hoặc 6).  

Nhóm này còn bao gồm âm thoa sử dụng trong y tế (cụ thể cho việc 
kiểm tra thính giác, trong trường hợp này, chúng được điều chỉnh để 
phát ra một gam âm thanh dao động rộng và thường được đặt trong 
hòm cùng với nhiều dụng cụ khác), để quan sát chớp. Một số loại 
được lắp các thiết bị điện nhằm duy trì dao động. 
(B)  Bộ phận cơ cho hộp nhạc. 
Xem Chú giải của nhóm 92.08. 
(C)  Dây nhạc cụ 
Nhóm này bao gồm các dây đàn cho những nhạc cụ có dây (pianô, 
đàn hạc, viôlông, viôlôngxen, măngđôlin, vv). Thường được chế tạo 
bằng : 
(1) Ruột súc vật (thường là ruột cừu). Dây gồm một số sợi tuỳ theo 
yêu cầu về độ dày, mỗi sợi là một mảng cắt theo chiều dọc, hoặc 
cả đoạn ruột. 
(2) Tơ. Dây tơ thường gồm 140 sợi tơ, bề ngoài trông giống  dây làm 
từ ruột súc vật. Chúng đươc  phủ một lớp gôm arập mỏng và 
láng bóng bằng sáp trắng. 
(3) Sợi đơn từ những vật liệu sợi nhân tạo (thường là nilông) 
(4) Dây  thép (thường là thép không gỉ), nhôm, bạc, đồng, vv… Dây 
thép có thể là dây đơn hay dây gồm một lõi kim loại và lớp dây 
cuốn bọc ngoài cũng bằng kim loại. Những dây thuộc loại này 
được gọi là ”dây bọc kim loại”. 
(5) Ruột súc vật, tơ hay nilông được bọc ngoài bằng dây kim loại 
(nhôm hoặc kim loại cơ bản khác được tráng bạc hay không 
tráng bạc, vv). Sợi dây kim loại được quấn bao quanh lõi và 
những dây này được gọi là dây lõi ruột súc vật, tơ, hay nilông. 
Các dây nhạc cụ có thể được nhận biết bởi tính hoàn thiện của chúng. 
(Dây bằng  thép được làm từ kim loại đã chuốt bóng và có đường kính 
rất đúng cỡ, dây làm từ  ruột súc vật hoàn toàn đồng nhất và có đường 
kính cố định; trong đó một số có màu trắng và trong mờ, một số  khác 
như dây đàn hạc đôi khi được nhuộm màu xanh lơ hoặc đỏ,vv). Dây 
nhạc cụ còn có thể được nhận biết thông qua  cách đóng gói (túi giấy 

con, bao nhỏ hoặc những bao gói tương tự và thường có in chỉ dẫn sử 
dụng). Hơn nữa, một số dây nhạc cụ (nhất là dây làm từ kim loại) có chỗ 
vòng hoặc cục tròn nhỏ bằng kim loại để móc vào nhạc cụ. 
Nhóm này không bao gồm các dây, dây làm từ ruột súc vật và từ các vật 
liệu dệt tổng hợp (cho dù đã được cắt thành từng đoạn hay chưa), khi 
không xác định được chúng là dây nhạc cụ (chúng được xếp vào các 
nhóm phù hợp với chúng). 
(D) Các bộ phận và phụ kiện khác. 
Nhóm này bao gồm các bộ phận và phụ kiện của các nhạc cụ (ngoài 
những thứ đã nêu trong mục B và C trên đây), nhưng trừ bộ khuếch 
đại âm tần và loa  (nhóm 85.18), các thiết bị phát âm thanh, thiết bị 
điện nói chung (mô tơ, tế bào quang điện,vv...),  khi không được lắp 
cùng các bộ phận hay phụ kiện của nhạc cụ. 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Các bộ phận đàn pianô, organ, đàn đạp hơi hay những nhạc cụ 
tương tự, ví dụ như:  
Bàn phím hoàn chỉnh (tức là một bộ phím hoàn chỉnh đã lắp trên 
một khung); các cơ cấucủa đàn piano (tức là các vận hành phím 
liên quan đến búa, bao gồm cả các giảm âm); hộp đàn pianô hoặc 
đàn đạp hơi (harmoniums); bảng cộng hưởng (khuếch đại âm 
thanh); các khung bằng gang hay gỗ; bộ phận cơ của bàn đạp hay 
bàn đạp; trục căng dây; lưỡi gà bằng kim loại của đàn đạp hơi, 
phím đàn rời; búa; mỏ chặn, cán và càng búa, v.v; ống, ống bầu, 
ống gió và những bộ phận khác (bao gồm cả vỏ đàn) của những 
loại đàn organ. 
Phím bấm, phím chặn, ống gió và bàn phím của đàn phong cầm 
cũng được phân loại ở đây. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm những mảnh nhỏ làm từ  
ngà, xương hay nhựa mới chỉ được cắt đơn giản theo hình chữ nhật 
và phải mài bóng, làm tròn các góc hay các khâu gia công khác 
trước khi sử dụng để dán bao phủ lên phím đàn; những mảnh này 
được phân loại vào những nhóm thích hợp của chúng (nhóm 96.01 

hay Chương 39). 
(2)  Các bộ phận và phụ kiện của những nhạc cụ thuộc nhóm 92.02 
(nhạc cụ có dây) như: 
Hộp đàn măngđôlin, ghi ta hay các nhạc cụ tương tự; các bộ phận 
cơ của đàn ghita hay măngđôlin (tức là, hệ thống trục và vít và 
bánh răng ở đầu cán đàn để giữ và căng dây); các bộ phận của đàn 
vi-ô-lông, vi-ô-lôngxen, hay các nhạc cụ tương tự, ví dụ như đáy, 
mặt và cán đàn (ở dưới dạng thô hay không), bàn phím, đai ốc, cầu 
ngựa, chốt mắc dây (trên đó dây được gắn vào) và các nút của 
chúng, mảnh gỗ làm hông đàn (giữa mặt và đáy đàn), chốt (loại 
phím lắp vào cán để thay đổi độ căng dây đàn), khoá lên dây, vv, 
giá đỡ  đàn vi-ô-lônhxen và côngxtơ baxơ (để dựng đàn trên mặt 
đất); vĩ và các bộ phận của vĩ (cần kéo, đầu vĩ, vít căng dây, vv…) 
bao gồm cả lông ngựa đã được tết làm vĩ; miếng gảy, chặn tiếng và 
mảnh tựa cằm. 
(3)  Các bộ phận và phụ kiện của những nhạc cụ thuộc nhóm 
92.07, như: 
Hộp đàn (piano, organ, bộ chuông hòa âm điện tử), bộ phận cơ của 
bàn đạp và bàn đạp, phím bấm, bánh thanh âm (nhất là của đàn 
Xem Chú giải chi tiết của nhóm 92.07 đối với các bộ phận và phụ 
kiện  điện tử 
(4) Các bộ phận và phụ kiện của những nhạc cụ hơi làm bằng gỗ  
thuộc nhóm 92.05, như: 
Các mảnh bằng gỗ được tiện sử dụng cho các nhạc cụ hơi làm 
bằng gỗ (clarinet, sáo và các nhạc cụ tương tự); thân kim loại của 
các nhạc cụ; các thanh trượt; đoạn nối; miệng kèn các loại và vỏ 
miệng kèn; lưỡi gà; piston, núm piston, khoá, vòng nối, khâu, 
chuông, chặn tiếng; bàn phím nhỏ (cho sáo, kèn clarinet, v.v) 
(5)   Các bộ phận và phụ kiện của các nhạc cụ bộ gõ, như: 
Dùi, được bọc mềm ở đầu hay không; búa các loại; chổi lau trống; 

bàn đạp cho các ban nhạc; giá chũm choẹ; tang trống và dây căng 
trống, v.v….; các phiến, khung cho đàn phiến gỗ hay các nhạc cụ 
tương tự; da dựng cho trống và những thứ tương tự được cắt thành 
hình tròn hoặc hình dạng gần tròn có thể xác định rõ ràng dùng 
làm mặt trống; dây (thườngbằng sợi gai dầu, đay hay sợi xidan) 
được sử dụng để căng mặt một số nhạc cụ nhất định như trống; và 
dây bằng ruột súc vật hay dây kim loại khi xác định được làm dây 
mặt trống (dây căng dưới mặt trống để tăng âm) của trống cơm. 
Nhóm này cũng bao gồm: (1) Giá đỡ để sửa chữa nhạc cụ. Bệ (trừ các 
loại chân đế loại một chân (monopods), hai chân (bipods), ba chân 
(tripods) và các sản phẩm tương tự của nhóm 96.20) để đỡ một nhạc cụ 
(ví dụ, trống cơm hoặc saxophone). 
(2) Các bộ phận cơ để chơi dụng cụ âm nhạc. Chúng là những thiết bị 
phụ sử dụng cho những nhạc cụ có bàn phím để những nhạc cụ này 
có thể chơi theo cách cơ học bằng các thẻ, đĩa hoặc trục quay; 
những thiết bị này được điều khiển bằng tay quay, bàn đạp hoặc ống 
gió, hoặc có thể chạy bằng cơ học hay sử dụng điện. Chúng có thể 
được đặt bên trong hay bên ngoài nhạc cụ (thường là pianô hay đàn 
đạp hơi) 
(3) Thẻ, đĩa hay trục quay cho các nhạc cụ tự động; các mặt hàng này 
được phân loại vào nhóm này cho dù chúng được để cùng với các 
thiết bị sử dụng chúng hay không (xem Chú giải 2 của Chương này). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các mặt hàng có công dụng chung đã định nghĩa trong Chú giải 2 
của phần XV như bản lề, tay nắm, đồ trang trí (ví dụ, cho đàn 
piano), các mặt hàng bằng kim loại cơ bản (Phần XV), và các mặt 

hàng tương tự bằng plastic (Chương 39). 
(b) Các dụng cụ so dây (nhóm 82.05). 
(c) Động cơ chạy bằng dây cót (hoạt động kiểu đồng hồ) không gắn 
các bộ phận khác sử dụng cho hộp nhạc hoặc dụng cụ cơ khí tạo 
tiếng chim hót (nhóm 84.12). 
(d) Máy đồng hồ cá nhân và đồng hồ thời gian không gắn kèm các 
bộ phận hay phụ kiện của các nhạc cụ (nhóm 91.08 đến 91.10). 
(e) Ghế đẩu để ngồi chơi đàn pianô (nhóm 94.01), giá đỡ hoặc bàn 
được thiết kế đặt trên mặt đất, mặt sàn (nhóm 94.03) và giá cắm 
nến cho pianô (nhóm 94.05). 
(f) Colophan đã đổ khuôn, dùng cho vĩ (nhóm 96.02). 
(g)  Chổi làm sạch cho sáo, kèn ôboa, ... (nhóm 96.03). 

Phần XIX 
VŨ KHÍ VÀ ĐẠN; CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN CỦA CHÚNG 
Chương 93 
Vũ khí và đạn; các bộ phận và phụ kiện của chúng 
Chú giải. 
1.-   Chương này không bao gồm: 
(a) Hàng hoá thuộc Chương 36 (ví dụ, ngòi nổ, kíp nổ, pháo hiệu); 
(b) Những bộ phận có công dụng chung, như đã định nghĩa trong 
Chú giải 2 của Phần XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV), hoặc 
hàng hoá tương tự bằng plastic (Chương 39); 
(c) Xe chiến đấu bọc thép (nhóm 87.10); 
(d) Kính ngắm hoặc thiết bị quang học khác phù hợp để sử dụng với 
vũ khí, trừ loại đã được lắp với súng cầm tay hoặc loại được 
thiết kế phù hợp và đi cùng với súng cầm tay (Chương 90); 
(e) Cung, tên, kiếm bịt đầu hoặc đồ chơi (Chương 95); hoặc 
(f) Bộ sưu tập hoặc đồ cổ (nhóm 97.05 hoặc 97.06). 
2.-  Trong nhóm 93.06, khái niệm "bộ phận của chúng" không bao gồm 
thiết bị vô tuyến hoặc ra đa thuộc nhóm 85.26. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm: 
Các loại vũ khí dùng cho tác chiến trên bộ, biển hay trên không do 
quân đội, cảnh sát hay các lực lượng khác (hải quan, biên phòng, 
vv…) sử dụng. 
Các loại vũ khí  được sử dụng bởi cá nhân với mục đích tự vệ, săn 
bắn, bắn bia (ví dụ: ở trường bắn, phòng tập bắn hoặc ở hội chợ), 
Những khí cụ khác sử dụng sức nổ của thuốc súng (ví dụ: súng 
phóng dây, súng ngắn). 

Đạn và tên lửa (trừ những mặt hàng thuộc Chương 36). 
Trừ một vài trường hợp ngoại lệ (xem Chú giải của nhóm 93.05 và 
93.06) Chương này cũng bao gồm bộ phận và phụ kiện của các vũ khí và 
các bộ phận của đạn. 
Kính ngắm và các thiết bị quang học khác sử dụng với vũ khí và đã được 
lắp trên chúng (vũ khí), hay đi kèm với súng cầm tay được thiết kế để 
lắp chúng được phân loại cùng với loại vũ khí tương ứng. Các trường 
hợp cònlại, như những thiết bị quang họcnày bị loại trừ (Chương 90). 
Các phương tiện vận tải bị loại trừ khỏi Chương này cho dù chúng được 
thiết kế chỉ sử dụng cho mục đích quân sự và cho dù có được lắp vũ khí 
hay không. Do vậy, Chương này cũng loại trừ các phương tiện ví dụ: 
các phương tiện bọc thép được dùng trên đường sắt (Chương 86), xe 
tăng và xe thiết giáp (nhóm 87.10), máy bay quân sự (nhóm 88.01, 
88.02 hoặc 88.06), và chiến hạm (nhóm 89.06). Tuy nhiên, những vũ 
khí được trình bày riêng của các phương tiện này,... (như súng, súng 
máy, v.v.) vẫn thuộc Chương này (xem Chú giải nhóm 93.01 về một số 
loại vũ khí gắn trên những phương tiện đường sắt hay đường bộ). 
Những mặt hàng sau cũng bị loại trừ khỏi Chương này: 
(a) Mũ sắt và các loại mũ quân sự khác (Chương 65). 
(b) Áo giáp cá nhân ví dụ: áo giáp, áo giáp kim loại kiểu choàng, áo 
chống đạn, vv… (được phân loại theo vật liệu cấu thành). 
(c) Nỏ, cung và tên, cũng như những vũ khí khác mang tính chất đồ 
chơi (Chương 95). 
(d) Bộ sưu tập hay đồ cổ (nhóm 97.05 hay 97.06). 
Vũ khí và các bộ phận của chúng trong Chương này có thể có phần bằng 
kim loại quý, kim loại dát phủ bằng kim loại quý, dát ngọc trai tự nhiên 
hay nuôi cấy, đá quý hay đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp, hoặc tái tạo), 
đồi mồi, xà cừ, ngà và những chất liệu tương tự. 

93.01  - Vũ khí quân sự, trừ súng lục ổ quay, súng lục và các loại vũ 
khí thuộc nhóm 93.07. 
9301.10 -  Vũ khí pháo binh (ví dụ, súng, súng cối và súng 
moóc trê) 
9301.20  - Bệ phóng tên lửa; súng phun lửa; súng phóng lựu 
đạn; ống phóng ngư lôi và các loại súng phóng tương 
tự 
              9301.90 -  Loại khác 
Nhóm này bao gồm toàn bộ vũ khí dùng cho quân đội trừ súng lục ổ 
quay và súng lục thuộc nhóm 93.02 và vũ khí thuộc nhóm 93.07. 
Nhóm này cũng bao gồm những vũ khí và súng cầm tay được thiết kế 
theo dạng là bộ phận của các chiến hạm, toa xe bọc thép, phương tiện 
bay, xe tăng hoặc xe thiết giáp, khi chúng được trình bày riêng lẻ. 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Vũ khí pháo binh và các loại vũ khí hỗ trợ cho bộ binh, tức là 
các loại đại bác và pháo (đặt cố định hay gắn trên bánh hơi, bánh 
xích,.v.v.) như pháo mặt đất, pháo hạng trung, hạng nặng hay đại 
pháo, pháo tầm xa, pháo phòng không, pháo chống tăng, súng moóc 
trê và súng cối. 
Pháo  tầm xa được gắn trên xe goòng cũng được phân loại vào nhóm 
này (không thuộc Chương 86). Các loại pháo cơ động và tự hành 
cũng được phân loại ở nhóm này. Tuy nhiên cần phân biệt với xe 
tăng và các loại phương tiện bọc thép chiến đấu khác thuộc nhóm 
(2)  Các vũ khí bắn liên thanh và cực nhanh, trong đó một số là vũ khí 
cá nhân. 
Nhóm này bao gồm súng máy, súng tiểu liên và các loại súng bắn 
liên thanh khác. 
(3)  Các vũ khí dùng cho quân đội như súng trường và carbin. 
(4) Các loại súng phóng quân sự đặc biệt khác, ví dụ súng và ống 

phóng tên lửa khác với các loại thuộcnhóm 93.03, thiết bị phóng 
bom phá tầu ngầm, ống phóng thuỷ lôi, súng phun lửa (thiết bị để 
phóng một chất dễ cháy vào quân thù) trừ loại súng phun lửa 
chuyên dùng để diệt cỏ (nhóm 84.24). 
93.02  - Súng lục ổ quay và súng lục, trừ các loại thuộc nhóm 93.03 
hoặc 93.04. 
Nhóm này bao gồm súng lục ổ quay và súng lục các cỡ, có thể phóng ra 
một đầu đạn (không kể pháo hiệu) bằng sức nổ của một liều thuốc nổ và 
được chế tạo để cầm và bắn bằng tay. 
Súng lục ổ quay  là loại vũ khí một nòng có ổ đạn quay. 
Súng lục có một hay nhiều nòng. Chúng có thể thay đổi các nòng. Súng 
lục bán tự động khi có băng đạn, chứa nhiều viên, mỗi phát bắn phải bóp 
cò một lần. 
Nhóm này cũng bao gồm các kiểu súng lục và súng lục ổ quay; và cũng 
bao gồm những súng lục và súng lục ổ quay có hình dạng những đồ vật 
khác nhau như bút chì, dao nhíp hay bao thuốc lá, với điều kiện chúng 
thực sự là súng cầm tay. 
Nhóm này không bao gồm những loại vũ khí bắn liên thanh (tức là 
những vũ khí sử dụng đạn của súng ngắn và khi bóp cò thì đạn nổ liên 
tiếp cho đến khi hết băng đạn hoặc cho đến khi nhả cò); những vũ khí 
được phân loại vào nhóm 93.01 như là súng ngắn bắn liên thanh(tiểu 
liên). Chúng có thể cầm trên tay khi bắn nhưng thông thường  có báng 
có thể kéo dài. 
Ngoài ra nhóm này không bao gồm: 
(a) Súng bắn gia súc giết mổ, súng bắn pháo hiệu, súng lục hay súng lục 
ổ quay (nòng súng đặc hoặc bị bịt hoặc với ổ tiếp đạn hình nón) bắn 
đạn không đầu để ra lệnh xuất phát, dùng trên sân khấu, súng ngắn 
dùng ”thuốc đen” chỉ có thể nhồi thuốc vào nòng được thiết kế 

không phải để bắn đạn và cũng không thể bắn đạn (nhóm 93.03). 
(b)  Súng lục sử dụng lò xo, hơi hoặc khí ga (nhóm 93.04). 
93.03  - Súng cầm tay (firearm) khác và các loại tương tự hoạt động 
bằng cách đốt cháy lượng thuốc nổ đã nạp (ví dụ, súng 
shotgun thể thao và súng trường thể thao, súng cầm tay nạp 
đạn phía nòng, súng ngắn và các loại khác được thiết kế chỉ 
để phóng pháo hiệu, súng lục và súng lục ổ quay để bắn đạn 
giả, súng bắn gia súc giết mổ, súng phóng dây). 
9303.10 – Súng cầm tay nạp đạn phía nòng 
9303.20 - Súng shotgun thể thao, súng shotgun săn hoặc súng 
shotgun bắn bia khác, kể cả súng trường - shotgun kết 
hợp (combination shotgun-rifles) 
9303.30 -  Súng trường thể thao, súng trường săn hoặc súng 
trường bắn bia khác 
9303.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm tất cả các loại súng cầm taykhông thuộc các nhóm 
93.01 và 93.02, và cũng bao gồm một số thiết bị không phải vũ khí 
nhưng hoạt động bằng cách đốt cháy lượng thuốc nổ đã nạp. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Súng trường thể thao, súng trường đi săn và súng trường bắn 
bia, súng trường và súng carbin mọi kích cỡ, có nòng nhẵn hay 
rãnh xoắn các cỡ. Súng trường thể thao và súng trường đi săn 
thường có nhiều hơn một nòng súng, đôi khi có một nòng nhẵn và 
một nòng có rãnh xoắn và cũng có loại có nòng thay đổi được (có 
rãnh xoắn và nhẵn). Các bộ phận bằng kim loại của chúng thường 
được chạm trổ và báng được khắc. Súng trường bắn bia thường chỉ 
có một nòng. 
Các loại súng này có thể hoặc bắn mỗi lần một viên đạn và phải nạp 
đạn bằng tay sau mỗi phát bắn, hoặc chúng có thể được lắp băng 
đạn cho phép bắn liên tục, hoặc chúng có thể có cơ cấu cho phép 

bắn nhanh bán tự động. 
Loại súng trường thể thao trông giống như gậy chống cũng thuộc 
nhóm này. 
(2) Súng bắn vịt (súng bắn chim nước) được thiết kế riêng để bắn các 
loại chim trên mặt nước. Chúng thường được gắn trên một chân đỡ 
để có thể gắn cố định trên thuyền. 
(3) Súng cầm tay nạp đạn (thuốc súng đen) phía nòng được thiết kế 
không phải để bắn đạn và cũng không thể bắn đạn. 
(4) Súng ngắn và các loại khác được thiết kế chỉ để phóng pháo hiệu. 
(5) Súng giả, vật có hình dạng súng lục và súng lục ổ quay hoặc 
súng lục và súng lục ổ quay an toàn chỉ có thể bắn đạn không đầu. 
Nòng của những loại súng này có thể đặc, hoặc bị vít kín có một lỗ 
thoát khí. Một số loại súng lục ổ quay nhất định có ổ tiếp đạn hình 
nón, hay một số loại súng ngắn không nòng để ra hiệu lệnh hoặc 
dùng trên sân khấu. Khi dùng ra hiệu lệnh xuất phát chúng có thể 
được gắn với những thiết bị điện để khởi động các dụng cụ bấm giờ. 
(6) Súng bắn gia súc giết mổ. Loại này có bề ngoài giống như súng 
ngắn bắn đạn không đầu. Sức nổ đẩy một chốt trượt về phía trước 
trong nòng để giết chết hay làm choáng con vật. Chốt không rời 
khỏi súng và được kéo về vị trí cũ để bắn tiếp. 
Nhóm này không bao gồm loại súng bắn đạn (thường là loại đạn cỡ 
lớn),  đôi khi dùng để giết súc vật (nhóm 93.02). 
(7) Súng phóng dây, chủ yếu để sử dụng trên tàu thuyền hay trạm cứu 
nạn để cứu nạn và thiết lậpthông tin giúp cho các hoạt động cứu nạn 
được dễ dàng. 
(8) Súng phóng lao, dùng để phóng mũi lao được nối với một sợi dây 
nhằm bắt cá, các động vật biển có vú, rùa, .v.v. 
(9) Súng báo động, súng cối, và các loại tương tự, sử dụng đạn không 
đầu được dùng để báo động (ví dụ như ở các trạm cứu nạn), bắn 
trong ngày lễ hoặc để báo động có người xâm phạm, .v.v. 
(10) Đại bác tạo mưa (Hail cannon), loại đại bác chứa một miếng sắt 
hình nón cụt dùng bắn vào đám mây gây ra mưa. 
Nhóm này không bao gồm những dụng cụ đóng đinh tán, đóng 

chốt, v.v…hoạt động bằng sức nổ của thuốc nổ (nhóm 82.05). 
93.04  - Vũ khí khác (ví dụ, súng và súng lục sử dụng lò xo, hơi hoặc 
khí ga, dùi cui), trừ các loại thuộc nhóm 93.07. 
Nhóm này gồm những vũ khí khác với súng cầm tay các loại thuộc các 
nhóm từ 93.01 đến 93.03 và vũ khí thuộc nhóm 93.07. 
Nhóm này bao gồm: 
Dùi cui, gậy ngắn có bịt chì ở đầu, gậy và những thứ tương tự 
dùng cho cảnh sát, .v.v…và  gậy chống. 
Quả đấm sắt, là một vật bằng kim loại được lồng vào nắm tay để 
lực đấm mạnh hơn. 
Súng cao su, được thiết kế để bắn chim hoặc thú nuôi. Chúng có 
thể dưới dạng một chiếc gậy chống. 
Súng cao su đồ chơi bị loại trừ (nhóm 95.03). 
Các loại súng, súng trường và súng lục dùng hơi. Về hình dáng 
những vũ khí này giống như các chủng loại tương tự, nhưng có 
thiết bị nén không khí để khi bóp cò thiết bị này sẽ xả luồng khí 
nén vào nòng súng và phóng viên đạn đi. 
Các loại súng, súng trường, súng lục dựa trên cùng nguyên lý này, 
nhưng dùng ga thay cho không khí cũng được xếp vào nhóm này. 
Những vũ khí tương tự hoạt động bằng sức bật của lò xo. 
Các loại súng và súng lục, hoạt động bằng khí carbonic nén để 
phóng từ xa một "xơranh" (bơm tiêm) tự động chứa thuốc gây mê 
hay thuốc chữa bệnh (vắc xin, huyết thanh miễn dịch,v.v.) vào 
động vật thả rong. 
Bình xịt chứa hơi cay. 
93.05 - Bộ phận và phụ kiện của các loại vũ khí thuộc các nhóm từ 
93.01 đến 93.04. 
9305.10  -  Của súng lục ổ quay hoặc súng lục  

9305.20 - Của súng shotgun hoặc súng trường thuộc nhóm 
              - Loại khác: 
9305.91 - - Của vũ khí quân sự thuộc nhóm 93.01 
  9305.99 - -  Loại khác 
Các bộ phận và phụ kiện thuộc nhóm này bao gồm: 
(1) Các bộ phận của vũ khí quân sự, dù có hay không các thiết bị 
ngắm hay nạp đạn, ví dụ như nòng súng (vỏ ngoài của nòng), bộ 
phận giật và khóa nòng của súng các loại, tháp pháo, giá súng, chân 
đế ba chân và các loại giá đỡ đặc biệt khác cho súng, súng máy, tiểu 
liên, .v.v. 
(2) Các bộ phận bằng kim loại đúc, rèn hay dập của các loại vũ khí 
quân sự nhỏ cầm tay, súng thể thao và súng bắn bia,..., súng lục 
và súng lục ổ quay như nòng súng, khóa nòng, chốt khoá nòng, 
vành che cò súng, lẫy khóa, tay gạt kim hoả, cò súng, lẫy khoá, búa 
kim hoả, cơ phận bật và bắt vỏ đạn (của súng lục), tấm mặt, tấm 
đáy, khoá an toàn, ổ đạn (của súng lục ổ quay), thước ngắm, đầu 
ruồi, băng đạn. 
(3) Vỏ bọc, hộp bảo vệ của báng súng, thước ngắm, nòng súng hay 
khóa nòng. 
(4) Nòng phụ nhỏ (nòng Moris), gồm các nòng cỡ nhỏ lắp vào súng 
nòng lớn hoặc súng trường cỡ lớn để bắn tập ở cự li gần. 
(5) Báng súng và các bộ phận bằng gỗ kháccho súng, súng trường 
hay cacbin, cũng như báng súng và các tấm ốp (bằng gỗ, kim loại, 
ebonite, vv)  dùng cho súng lục và súng lục ổ quay. 
(6) Khoá, dây đeo, giá dựng súng, khớp nối và thanh ngắm dùng cho 
súng ngắn, súng trường hoặc súng cacbin. 
(7) Bộ phận giảm thanh (điều tiết âm thanh) 
(8) Bộ phận chống giật có thể thao lắp được dùng cho súng thể thao 
hay súng bắn bia. 
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Các bộ phận có công dụng chung đã định trong Chú giải 2 của Phần 

XV (ví dụ,  đinh vít, ri vê, lò xo), bằng kim loại cơ bản (Phần XV) 
hoặc hàng hóa tương tự bằng plastic (Chương 39). 
(b) Bao súng (nhóm 42.02). 
(c) Máy quay kiểm tra tác xạ dùng cho máy bay (nhóm 90.07). 
(d) Kính ngắm bắn xa và các loại kính ngắm tương tự dùng cho vũ khí 
(nhóm 90.13). 
(e) Các phụ kiện được bao hàm một cách cụ thể hơn ở các nhóm khác 
trong danh mục như dây thông giẻ lau nòng súng, que lau nòng súng 
và các dụng cụ khác để lau chùi vũ khí (nhóm 82.05, 96.03, vv….). 
93.06 - Bom, lựu đạn, ngư lôi, mìn, tên lửa và các loại đạn dược 
tương tự và bộ phận của chúng; đạn cát tút (cartridge) và 
các loại đạn khác và đầu đạn và các bộ phận của chúng, kể 
cả nùi đạn gém và nùi đạn cát tút (cartridge). 
- Đạn cát tút (cartridge) cho súng shotgun và các bộ phận 
của chúng; đạn viên cho súng hơi: 
9306.21 - - Đạn cát tút (cartridge) 
9306.29 - - Loại khác 
9306.30 - - Đạn cát tút (cartridge) khác và các bộ phận của chúng 
9306.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm:  
(A) Các loại đạn ví dụ như: 
(1)  Đạn pháo (đạn nổ, đạn trái phá, đạn xuyên giáp, đạn pháo sáng, 
đạn lửa,đạn vạch đường đạn khói. vv…) cũng như các loại đạn 
khác cho các loại súng và súng cối. 
(2)  Đạn cát tút (cartridge)các loại: không có đầu đạn (bao gồm đạn 
không nạp chì dùng cho dụng cụ tán đinh rivê hay dùng cho bộ 
phận đánh lửa nén hơi của động cơ piston đốt cháy trong), cho 
đạn "bắn" thông thường, đạn lửa, đạn mảnh, đạn dùng cho súng 
thể thao, vv. 
(3)  Đạn nhỏ (rỗng, hình cầu, thắt eo, vv…) và các mũi phi tiêu nhỏ 
dùng cho các loại súng, súng trường, súng ngắn sử dụng hơi, lò 

xo, ga, không kể đạn cho vũ khí là đồ chơi thuộc nhóm 95.03. 
(B) Tên lửa đạn đạo loại tên lửa có đầu đạn quay lại trái đất sau khi 
được phóng lên điểm cao nhất để tạo cho đầu đạn một vận tốc giới 
hạn không quá 7.000m/giây. 
(C) Các loại đạn có chứa những phương tiện đẩy riêng sau khi 
phóng, như ngư lôi, bom bay (loại tên lửa được gắn trên máy bay 
chiến đấu) và các loại tên lửa (kể cả loại có điều khiển). 
(D) Các loại đạn khác sử dụng trong chiến tranh, như các loại mìn và 
thuỷ lôi,bom chìm, lựu đạn ném bằng tay, phóng bằng súng và bom 
thả từ máy bay. 
(E) Các loại lao, cho dù có hay không có đầu nổ, dùng cho các loại 
súng phóng lao, vv. 
(F) Các bộ phận của đạndùng trong chiến tranh như: 
(1) Vỏ của các loại lựu đạn, mìn, bom, đạn trái phá và ngư lôi. 
(2) Vỏ và các bộ phận khác của đạn cartridge, ví dụ như đáy (bằng 
đồng), các chi tiết bên trong (bằng kim loại hay bìa), vật nhồi 
(bằng dạ phớt, giấy, lie, vv). 
(3) Đầu đạn hay đầu chì của viên đạn 
(4) Ngòi nổ các loại (ở đầu đạn, hoặc ở đáy), nổ chậm hay nổ ngay, 
ngòi nổ cận đíchđượcđiều khiển điện tử, .v.v. dùng cho đạn trái 
phá, ngư lôi, .v.v.; và các bộ phận của ngòi nổ bao gồm cả vỏ 
bảo vệ. 
(5) Các bộ phận cơ khí như chân vịt đặc biệt hay con quay hồi 
chuyển đặc biệt dùng cho ngư lôi. 
(6) Đầu nổ và khoang nổi của ngư lôi. 
(7) Kim hoả, chốt an toàn, mỏ gạt và các bộ phận khác của lựu đạn. 
(8) Bộ phận thăng bằng cho bom. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Thuốc phóng và thuốc nổ dù đã ở dạng sẵn sàng sử dụng cho các loại 
đạn (nhóm 36.01 và 36.02); ngòi an toàn, ngòi nổ, nụ xòe hoặc kíp 
nổ, bộ phận đánh lửa và kíp nổ điện, bao gồm cả mồi cho đạn trái phá 

(nhóm 36.03). 
(b) Pháo hiệu và pháo mưa (nhóm 36.04). 
(c) Chất liệu  nạp cho các dụng cụ chữa cháy cũng như lựu đạn  chữa 
cháy (nhóm 38.13). 
(d) Động cơ thuộc các nhóm 84.11  84.12 dùng cho tên lửa, ngư lôi và 
các tên lửa tương tự. 
(e) Các máy vô tuyến điện hay rada thuộc nhóm 85.26 (xem Chú giải 2 
của Chương này) 
(f) Máy đồng hồ cá nhân, đồng hồ thời gian và các bộ phận cuả chúng 
được dùng cho đạn hay các bộ phận của đạn (ví dụ cho các ngòi nổ) 
(các nhóm từ 91.08 đến 91.10 và nhóm 91.14). 
93.07  - Kiếm, đoản kiếm, lưỡi lê, giáo và các loại vũ khí tương tự và 
bộ phận của chúng, vỏ và bao cho chúng.  
Nhóm này bao gồm những vũ khí như kiếm (kể cả gậy có lưỡi kiếm bên 
trong), đoản kiếm, lưỡi lê, giáo, thương, lao, kích, dao quắm dùng cho 
lính biệt kích, dao găm của dân miền cao nguyên êcôt hoặc thủy thủ, dao 
găm nhỏ và dao găm. Lưỡi của các vũ khí này thường làm bằng thép tốt 
và trong một số trường hợp có vỏ bảo vệ đi kèm. 
Những vũ khí nói trên vẫn được phân loại vào nhóm này cho dù chúng 
chỉ được sử dụng trong các nghi lễ hay cho các mục đích trang trí hoặc 
làm đồ dùng biểu diễn trên sân khấu. 
Phần lớn các vũ khí này đều có một lưỡi cố định, nhưng một số dao 
găm và dao găm nhỏ có thêm một lưỡi cơ động thường nằm trong 
cán, lưỡi này có thể được bật  ra và cài cố định bằng tay hay bằng bộ 
phận lò xo. 
Nhóm này cũng bao gồm những bộ phận như lưỡi kiếm (kể cả lưỡi mới 
rèn, chưa hoàn chỉnh), vỏ, cán và chuôi,  bao dùng cho kiếm, lưỡi lê, dao 
găm, vv. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Thắt lưng to bản và những thứ tương tự để đeo kiếm, lưỡi lê, vv 

bằng da (nhóm 42.03) hay bằng vật