CHU GIAI 2022_18
ụ chèn bulông và dụng cụ điều chỉnh.
(3) Dao kim cương cho các thợ cắt kính, kể cả dao cắt kính có hạt
kim cương kiểu compa gắn trên một dụng cụ chia độ (để cắt
vòng tròn) và mũi kim cương kẻ vạch để tạo mẫu trên kính. Các
loại dao kim cương trình bày riêng rẽ không xếp vào đây
(nhóm 71.02).
(4) Dụng cụ cho thợ rèn như búa chẽ, bàn đột lỗ, dụng cụ chặt thếp,
dụng cụ đột lỗ.
(5) Các dụng cụ dùng trong hầm mỏ làm đường xá… Ví dụ như
thanh choòng, đòn bẩy, đục cắt đá, đục lỗ và nêm.
(6) Các dụng cụ của thợ nề, thợ làm khuôn, công nhân làm xi măng,
thợ trát vữa, thợ sơn... như cái bay, bàn xoa, dụng cụ nạo vét,
dao thép, kim chải và làm sạch, trục quay lăn, dụng cụ cắt kính
với các bánh cắt, dao mỏng trộn sơn, mảng màu và dao quệt
(7) Các dụng cụ cầm tay hỗn tạp như dao xẻ của thợ đóng móng
ngựa, lưỡi dao cắt phía trước móng ngựa, búa đóng móng, máy
đóng cắt móng, đục nguội và dụng cụ đục lỗ, khoan của dụng
cụ tán đinh, đòn bẩy và dụng cụ tán đinh, đòn bẩy và đục, dụng
cụ nhổ đinh kiểu không có kìm, dụng cụ mở hộp và đóng ghim,
cái bảy vành lốp, dùi của thợ giày (không có lỗ sâu), dùi của thợ
làm ghế đệm hoặc của thợ đóng sách, mỏ hàn và dụng cụ hàn
của thợ thiếc, dụng cụ nạo vét bằng kim loại, bộ cưa không có
kìm, hộp mộng ghép chéo góc, dụng cụ lấy mẫu pho mát và các
dụng cụ tương tự, bùa lèn đất, dụng cụ sàng đất có bành, các
dụng cụ có dây buộc để đóng vào thùng thưa... Trừ những dụng
cụ thuộc nhóm 84.22 (Xem phần ghi chú giải thích), súng bắn
lò xo để rập ghim các kiện hàng, cáctông..., dụng cụ đóng đinh
rivê, nút tường..., các ống của người thổi thuỷ tinh, ống thổi ống
be, bình dầu và vịt dầu (kể cả những dụng cụ có bơm hoặc cơ
cấu vặn vít), ống bơm mỡ đặc.
(F) Đèn xì (ví dụ: Để hàn hoặc hàn bằng vảy đồng, tẩy sơn, khởi động
các máy có động cơ bán diezen) các loại đèn này thuộc 2 loại, cả hai
loại đều có bình tụ chứa, nhưng khác nhau ở kiểu sử dụng nhiên
liệu, hoặc có chứa bình chứa nhiên liệu là dầu mỏ hoặc nhiên liệu
lỏng khác (thường kèm theo có một bơm nhỏ) hoặc một bình khí có
thể thay thế được. Trong một vài trường hợp, một mỏ hàn hoặc vật
gắn khác được gắn trên đỉnh của đèn. Nhóm này không gồm có các
dụng cụ hàn dùng hơi ga (nhóm 84.68).
(G) Mỏ kẹp, bàn kẹp và các loại tương tự, kể cả mỏ kẹp cầm tay, mỏ
kẹp vào ghế hoặc bàn, cho người thợ ghép, thợ mộc, thợ khoá, thợ
súng, thợ sản xuất đồng hồ,… loại trừ các loại mỏ kẹp tạo thành các
bộ phận phụ hoặc các bộ phận của máy công cụ. Nhóm này cũng
bao gồm cặp và kẹp những loại này giống như mỏ cặp là những
dụng cụ cầm tay (ví dụ: Bàn kẹp của thợ làm đồ gỗ và bàn cặp của
thợ làm dụng cụ).
Nhóm này cũng có mỏ kẹp kim loại phủ một lớp vỏ phi kim loại
(Ví dụ: Gỗ, sợi...) để ngăn hư hại đối với các chi tiết cấu thành
thuộc mỏ cặp.
Tuy nhiên, nhóm này không gồm có vòng kẹp chén chân không (kẹp
hút), cái kẹp hút bao gồm một đế, một tay cầm và một đòn bay chân
không làm bằng kim loại cơ bản và các đĩa cao su, được gắn tạm thời với
một vật nhằm làm cho vật đó có thể chuyển được (ví dụ: nhóm 73.25,
73.26 hoặc 76.16).
(H) Đe, bộ đồ rèn xách tay, bàn mài quay hoạt động bằng tay hoặc
chân
Nhóm này gồm có :
(1) Đe (kể cả đe có 2 mỏ) mọi cỡ và mọi ứng dụng. Ví dụ: đe
thợ rèn, đe thợ đồng hồ hoặc của thợ kim hoàn, cho đến đe
của người làm giày, thợ chữa giày, đe cầm tay để điều chỉnh
lưỡi hái.
(2) Bộ rèn xách tay, thường được trang bị với các ống bễ và đôi khi
với một cái đe, thường được sử dụng trong các phân xưởng và
xưởng đóng tàu nhỏ…
(3) Bàn mài quay (quay-hoặc đạp, hoạt động bằng tay hoặc chân)
với giá gỗ hoặc các loại giá đỡ khác. Máy mài cơ khí được phân
loại trong Chương 84 hoặc 85. Đá mài và các sản phẩm tương
tự trình bày riêng lẻ được phân loại trong nhóm 68.04.
Các dụng cụ làm bằng kim loại nhưng có bộ phận vận hành bằng cao su,
da, nỉ... được phân loại theo như vật liệu cấu thành (Chương 40, 42,
Trừ như đã nêu trên, những dụng cụ sau bị loại trừ trong nhóm này:
(a) Kim khâu tay và các loại khác thuộc nhóm 73.19.
(b) Các dụng cụ có thể tháo lắp thay thế, được thiết kế để sử dụng trong
các dụng cụ cầm tay, dụng cụ cơ khí hoặc không, trong máy cắt gọt
kim loại (máy công cụ) hoặc dụng cụ cầm tay có động cơ (ví dụ mũi
văn vít, mũi khoan đá) (nhóm 82.07).
(c) Các dụng cụ để phóng, phân tán hoặc phun chất lỏng hoặc bột (ngay
cả thao tác bằng tay) (nhóm 84.24).
(d) Đế đỡ dụng cụ cầm tay (nhóm 84.66).
(e) Các dụng cụ vận hành bằng tay, bằng khí nén, thuỷ lực hoặc mô tơ
điện độc lập hoặc động cơ không dùng điện (nhóm 84.67).
(f) Các dụng cụ đánh dấu, đo lường kiểm tra hoặc định cỡ (Ví dụ: thước
mẫu và đục lỗ đánh dấu, đục lỗ giữa và mũi kẻ vạch cưa, thước cặp
và thước đo đánh dấu) thuộc Chương 90.
82.06 - Bộ dụng cụ từ hai nhóm trở lên thuộc các nhóm từ 82.02 đến
82.05, đã đóng bộ để bán lẻ.
Nhóm này bao gồm các bộ dụng cụ thuộc từ 2 nhóm trở lên từ nhóm 82.02
đến 82.05 với điều kiện là những dụng cụ đó được ghép thành bộ để bán lẻ
(Ví dụ: Trong hộp nhựa hoặc trong hộp dụng cụ bằng kim loại).
Ngoài những mặt hàng khác, nhóm này bao gồm:
(1) Các bộ dụng cụ cơ khí dùng cho ô tô, ví dụ Bộ đầu chìa vặn, bộ chìa
vặn đai ốc , bộ chìa khóa vặn 2 đầu, tuốc nơ vit, kìm.
2) Cụm dụng cụ đơn giản như các bộ chìa vặn đai ốc và bộ tuốc nơ vít.
Các bộ dụng cụ gồm các dụng cụ thứ yêu thuộc các nhóm hoặc chương
trong danh mục khác vẫn được phân loại trong nhóm này, với điều kiện
là những bộ phận nhỏ như vậy không làm thay đổi đặc điểm cơ bản
thuộc các bộ dụng cụ của hai mặt hàng hoặc nhiều hơn thuộc nhóm
82.02 đến 82.05.
82.07 - Các dụng cụ có thể thay đổi được dùng cho các dụng cụ
cầm tay, có hoặc không hoạt động bằng điện, hoặc dùng cho
máy công cụ (ví dụ, để ép, dập, đục lỗ, ta rô, ren, khoan, chuốt,
phay, cán, tiện hoặc bắt, đóng vít), kể cả khuôn kéo để kéo
hoặc ép đùn kim loại, và các loại dụng cụ để khoan đá hoặc
khoan đất.
- Dụng cụ để khoan đá hay khoan đất:
8207.13 - - Có bộ phận làm việc bằng gốm kim loại
8207.19 - - Loại khác, kể cả bộ phận
8207.20 - Khuôn dùng để kéo hoặc ép đùn kim loại
8207.30 - Dụng cụ để ép, dập hoặc đục lỗ
8207.40 - Dụng cụ để tarô hoặc ren
8207.50 - Dụng cụ để khoan, trừ các loại để khoan đá
8207.60 - Dụng cụ để doa hoặc chuốt
8207.70 - Dụng cụ để cán
8207.80 - Dụng cụ để tiện
8207.90 - Các dụng cụ có thể thay đổi được khác
Trong khi (trừ một số ngoại lệ như lưỡi cưa máy) những nhóm trước
thuộc chương này áp dụng cho các dụng cụ bằng tay để sử dụng khi các
dụng cụ này sẵn có hoặc sau khi gắn các tay nắm thì chương này bao
gồm một nhóm dụng cụ đặc biệt không phù hợp cho việc sử dụng
chúng một cách độc lập mà chúng được thiết kế để gắn vào nhau
trong những trường hợp khả dĩ như sau:
(A) Các dụng cụ cầm tay, có hoặc không có động cơ (Ví dụ khoan tay,
khoan tay, bàn ren),
(B) Dụng cụ cơ khí thuộc từ nhóm 84.57 đến nhóm 84.65 hoặc thuộc
nhóm 84.79 theo Chú giải 8 thuộc Chương 84,
(C) Các dụng cụ thuộc nhóm 84.67,
dùng để ép nghiền, dập, đục lỗ, tarô, ren, khoan, doa, chuốt, cán, gia
công răng, cán, tiện hay kéo... kim loại, cacbua kim loại, gỗ, đá, Ebonit,
một số nhựa hoặc các loại vật liệu rắn khác hoặc để vặn vít.
Nhóm này cũng có các dụng cụ sử dụng để khoan đá hoặc máy khoan
đất nhóm 84.30.
Khuôn dập, đục lỗ, khoan và các dụng cụ thay thế được khác dùng cho
các loại máy móc và cộng cụ trừ các dụng cụ riêng biệt ở trên được phân
loại như là các bộ phận của máy móc hoặc công cụ được định danh.
Các dụng cụ thuộc nhóm này có thể hoặc ở dạng đơn nhất hoặc ở dạng
dạng tổ hợp (phức hợp)
Dụng cụ đơn nhất được làm toàn từ một chất liệu, thường làm bằng hợp
kim thép hoặc bằng thép các bon cao.
Dụng cụ phức hợp bao gồm một hoặc nhiều bộ phận làm việc làm bằng
kim loại cơ bản, cacbua kim loại, hoặc bằng gốm kim loại, kim cương
hoặc các loại đá quý, đá bán quý khác gắn vào một cán kim loại, thường
ghép, hàn vĩnh viễn hoặc như các bộ phận rời. Trong trường hợp sau,
dụng cụ gồm có một thân dao bằng kim loại cơ bản và một hoặc nhiều
bộ phận vận hành (lưỡi, miếng, mũi dao) được khoá vào thân dao bằng
một cơ cấu gồm chẳng hạn một má kẹp, một vít hoặc một chốt hãm lò xo
với một mép sứt).
Nhóm này còn bao gồm các dụng cụ có bộ phận làm việc bằng kim loại
cơ bản gắn hoặc bọc bằng vật liệu chịu mòn miễn là những dụng cụ này
có răng cắt, có rãnh máng, có khía... Vẫn giữ chức năng và dạng của
chúng thậm chí sau khi xử dụng chất chịu mòn, có nghĩa là: các dụng cụ
có thể được đưa vào sử dụng ngay cả khi chất bào mòn không được áp
dụng. Tuy nhiên phần lớn các dụng cụ chịu mòn không được xếp vào
nhóm này (xem Chú giải Chi tiết nhóm 68.04).
Các dụng cụ được phân loại trong nhóm này bao gồm:
(1) Dụng cụ khoan đá hoặc khoan đào đất, kể cả các dụng cụ đào hầm
mỏ, khoan giếng dầu hoặc các dụng cụ dò sâu (Ví dụ: máy khoan,
mũi khoan và búa khoan).
(2) Khuôn kéo hoặc ép đùn kim loại, kể cả đĩa kéo.
(3) Các dụng cụ để ép, dập hoặc đục lỗ, kể cả các lỗ và khuôn để ép
nguội hoặc dập các tấm kim loại, khuôn rèn hoặc khuôn cắt hình và
các lỗ cho máy cắt gọt kim loại (máy công cụ).
(4) Các dụng cụ để tarô hoặc ren như mũi tarô, bàn ren và hộp ren.
(5) Các dụng cụ khoan trừ khoan đá, kể cả các mũi khoan (khoan
xoắn hoặc trôn ốc, mũi khoan giữa,...) mũi khoan tay...
(6) Dụng cụ để doa hoặc chuốt, kể cả việc xoáy rộng.
(7) Dụng cụ để phay. Ví dụ: lưỡi dao phay (cắt phẳng, cắt xoắy ốc, cắt
xếp và cắt góc) dao phay lăn răng...
(8) Dụng cụ để tiện.
(9) Các dụng cụ có thể tháo lắp, thay thế được khác, ví dụ:
(a) Các dụng cụ để dùng cho việc làm nhẵn bóng, dụng cụ máy bào
phẳng, dụng cụ cắt rãnh, dụng cụ rà, dụng cụ điều chỉnh.
(b) Các dụng cụ để đục lỗ mộng, làm khuôn hoặc xoi mộng gỗ, kể
cả xích cắt để đục lỗ mộng gỗ.
(c) Các dụng cụ để pha trộn, khuấy v.v.. các vật liệu như sơn, keo,
vữa, matit và lớp phủ chống trượt
(d) Các đầu lắp vào tuốc nơ vít.
Khuôn kéo thép dây, các dụng cụ tiện vẫn có trong nhóm này thậm chí
cả khi chúng đã gây phóng xa.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Đĩa đánh bóng, bánh xe và các dụng cụ khác có các bộ phận vận
hành bằng cao su, da, nỉ... được phân loại theo các chất liệu cấu
thành (Chương 40, 42, 59...).
(b) Các loại lưỡi cưa (nhóm 82.02).
(c) Lưỡi bào và các bộ phận tương tự của dụng cụ (nhóm 82.05).
(d) Dao và lưỡi cắt dùng cho máy hoặc các dụng cụ cơ khí (nhóm
(e) Đĩa cán, chọp và các bộ phận tương tự của các dụng cụ chưa lắp ráp,
làm bằng gốm kim loại (nhóm 82.09).
(f) Máy đùn ép sợi để đùn ra sợi nhân tạo (nhóm 84.48).
(g) Bộ phần kẹp dụng cụ của máy cơ khí hoặc dụng cụ cầm tay, bộ phận
tự mở (nhóm 84.66).
(h) Khuôn để kéo sợi thuỷ tinh (nhóm 84.75).
(ij) Ban chải (kim loại hoặc không) được sử dụng như những bộ phận
của máy) (nhóm 96.03).
82.08 - Dao và lưỡi cắt, dùng cho máy hoặc dụng cụ cơ khí.
8208.10 - Để gia công kim loại
8208.20 - Để chế biến gỗ
8208.30 - Dùng cho dụng cụ nhà bếp hoặc cho máy dùng trong công
nghiệp thực phẩm
8208.40 - Dùng cho máy nông nghiệp, làm vườn hoặc lâm nghiệp
8208.90 - Loại khác
Nhóm này áp dụng cho các loại dao chưa lắp hoặc các lưỡi cắt có hình
chữ nhật, hình tròn hoặc hình dạng khác, dùng cho các máy móc hoặc
thiết bị cơ khí. Tuy vậy nhóm này không bao gồm các lưỡi cắt hoặc dao
của các dụng cụ cầm tay thuộc nhóm 82.01 đến 82.05 (ví dụ: lưỡi bào).
Nhóm này bao gồm có các loại dao hoặc lưỡi cắt:
(1) Gia công kim loại:
(a) Lưỡi cắt và dao để ghép chặt vào các dụng cụ của máy cắt gọt
kim loại, ví dụ: Trong mũi dao xoáy hoặc dao phay
(b) Lưỡi cắt cho máy xén hình máy chém hoặc máy cắt để cắt kim
loại tấm, dây kim loại, thanh...
(2) Để chế biến gỗ:
(a) Lưỡi và lưỡi thép để bào hoặc dùng cho các máy chế biến gỗ
tương tự
(b) Lưỡi cho các máy cắt gỗ dán.
(3) Cho các thiết bị nhà bếp hoặc cho máy móc sử dụng trong công
nghiệp thực phẩm như là các lưỡi cắt dùng cho các dụng cụ hoặc máy
móc sử dụng trong việc trong nhà, hoặc của người hàng thịt, người bán
bánh, sử dụng chúng... (ví dụ: Các lưỡi cắt trong máy thái thịt, máy cắt
rau, máy cắt bánh mì, máy cắt thịt muối hoặc máy cắt dăm bông).
(4) Dùng cho máy nông nghiệp, làm vườn và lâm nghiệp. Ví dụ: lưỡi
cắt và dao cắt cho máy đào rễ, máy cắt rơm rạ... hoặc các lưỡi dùng
cho máy cắt cỏ, lưỡi hái và các đoạn của lưỡi cắt dùng cho máy gặt
và máy thu hoạch. Tuy vậy nhóm này không bao gồm các lưỡi cày
hoặc các đĩa bừa.
(5) Cho các máy móc khác và các dụng cụ cơ khí như:
(a) Lưỡi cắt và dao cắt, kể cả lưỡi cắt hình cung hoặc lưỡi cắt có
hình vòng bít dùng cho các loại máy móc sử dụng trong việc
tách, xén hoặc tỉa bề mặt của da thuộc.
(b) Lưỡi cắt và dao cắt dùng cho máy móc để xén giấy, hàng dệt,
nhựa... ; dùng cho các máy thái sợi thuốc lá...
82.09 - Chi tiết hình đĩa, thanh cỡ nhỏ, mũi chóp và các chi tiết
tương tự cho dụng cụ, chưa được gắn vào dụng cụ, làm bằng
gốm kim loại.
Những sản phẩm thuộc mục này thường có dạng đĩa, gậy, mũi chóp, que,
viên, vòng... và những sản phẩm này có đặc điểm là rất cứng và rất rắn
ngay cả khi nóng.
Do những thuộc tính đặc biệt, các chi tiết hình đĩa, hình chop... được hàn,
hàn bằng đồng hoặc được kẹp chặt trên dụng cụ máy tiện, máy phay, máy
khoan hoặc các dụng cụ cắt tốc độ cao khác được sử dụng để gia công kim
loại hoặc gia công các loại vật liệu cứng khác. Những chi tiết dụng cụ đó
xếp trong nhóm này dù đã mài sắc hoặc không hoặc đã được chuẩn bị
nhưng chưa gắn vào dụng cụ, trong trường hợp tương tự, những chi tiết này
được xếp vào nhóm dùng cho các dụng cụ, đặc biệt là nhóm 82.07.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Cacbua kim loại chưa pha trộn, chưa nung thiêu kết (nhóm 28.49).
(b) Các hỗn hợp cacbua kim loại đã pha chế, chưa thiêu kết nung (nhóm
(c) Chi tiết dạng miếng gốm, dạng thanh mỏng, dạng chóp và các dạng
tương tự cho các dụng cụ (nhóm 69.09).
(d) Ống phun thổi cát và các bộ phận chống mòn của máy móc bằng
gốm kim loại (Chương 84).
82.10 - Đồ dùng cơ khí hoạt động bằng tay, nặng 10 kg trở xuống,
dùng để chế biến, pha chế hoặc phục vụ đồ ăn hoặc đồ uống.
Nhóm này bao gồm các cộng cụ cơ khí không dùng điện, nói chung là
đồ dùng cầm tay nặng không quá 10 kg dùng để chế biến, pha chế hoặc
phục vụ việc làm đồ ăn hoặc đồ uống.
Về mục đích của nhóm này, một cộng cụ được xem như là dụng cụ cơ
khí, nếu công cụ đó có các cơ cấu như dụng cụ khởi động bằng tay quay,
dụng cụ có bánh răng, bơm tay, tác dụng xoắn vít Acximet (dùng lực tay
quay và cắu tạo trục xoắn ốc để vận chuyển chất lỏng) ..., tuy vậy, một
đòn bẩy đơn giản hoặc hoạt động liên quan đến ống bơm thì tự nó không
được coi như một đặc tính cơ khí liên quan đến việc phân loại trong
nhóm này trừ khi chúng được thiết kế để gắn trên tường hoặc bề mặt nổi
khác, hoặc được gắn trên những đĩa... đặt trên bàn, trên sàn...
Vì vậy, nhóm này bao gồm các công cụ có thể rơi vào nhóm 82.05 hoặc
chương 84 nhưng thực tế chúng chỉ đáp ứng những điều kiện sau:
(1) Nặng 10 kg trở xuống.
(2) Có các đặc tính cơ khí như đã mô tả.
Sau đây là các ví dụ về các mặt hàng có trong nhóm này với điều kiện là
các mặt hàng phù hợp các đặc điểm như đã nêu:
Máy xay cà phê hoặc máy xay các gia vị, cối cắt và nghiền rau, máy xay
thịt và máy cắt mỏng, máy ép thịt, máy mài pho mát... máy cắt rau và
hoa quả thành lát mỏng, máy cắt và máy bóc vỏ, kể cả máy thái khoai
tây,máy cắt bánh mì thành lát mỏng, máy cắt mì ống, các dụng cụ cho
các quả hạch (trừ các kiểu lò xo được giữ tự do trong tay) cái mở nút
chai và mở nút bần, các dụng cụ mở cơ khí (trừ dụng cụ mở đồ hộp đơn
giản thuộc nhóm 82.05), máy đóng kín hộp, máy đánh bơ, máy làm kem
và máy chia các phần, máy đánh và máy trộn trứng, kem hoặc nước xốt
Mayone, máy ép hoa quả và thịt, máy nghiền nước đá.
82.11 - Dao có lưỡi cắt, có hoặc không có răng cưa (kể cả dao tỉa),
trừ loại dao thuộc nhóm 82.08, và lưỡi của nó (+).
8211.10 - Bộ sản phẩm tổ hợp
- Loại khác:
8211.91 - - Dao ăn có lưỡi cố định
8211.92 - - Dao khác có lưỡi cố định
8211.93 - - Dao khác, trừ loại có lưỡi cố định
8211.94 - - Lưỡi dao
8211.95 - - Cán dao bằng kim loại cơ bản
Nhóm này bao gồm các loại dao có lưỡi cắt, có răng cưa hoặc không,
trừ loại dao thuộc nhóm 82.08, các dụng cụ nhất định, và dụng cụ bàn
ăn đôi khi được gọi là "dao" song bao hàm một cách rõ ràng hoặc ngấm
ngầm (ngụ ý) trong các nhóm khác thuộc chương này (ví dụ dao cắt cỏ
khô thuộc nhóm 82.01 và các loại dụng cụ khác được ghi trong phần
loại trừ ở cuối phần Chú giải này).
Nhóm này bao gồm:
(1) Các loại dao ăn không gấp, kể cả dao cắt hoặc dao ăn món tráng
miệng, các tay cầm và lưỡi của những dao này có thể được làm bằng
cùng một kim loại, hoặc chúng có thể gắn cán (tay cầm) bằng kim
loại cơ bản, gỗ, sừng, nhựa,...
(2) Các loại dao không gấp dùng cho nhà bếp, trong buôn bán hoặc
sử dụng ở nơi khác thường ít được trang trí so với các loại nêu
trên, ngoài những mặt hàng khác, nhóm này bao gồm:
Dao của người bán thịt, dao của người thợ đóng sách, cắt giấy, thợ
thuộc da, thợ làm lông thú, thợ làm yên ngựa; dao có cán hoặc
không cán cho thợ chữa giầy, dụng cụ (dao) của thợ lấy mật ong,
dao tỉa xén cành của người làm vườn v.v……, dao đi săn, dao nạy
sò (hào), dao bóc (gọt) trái cây.
(3) Các loại dao gấp, có cán bằng kim loại cơ bản, gỗ, sừng, nhựa...
nhóm này bao gồm:
Dao díp, dao nhỏ, dao xếp, dao của người cắm trại và các loại dao
dùng trong thể thao (tất cả những loại dao này có thể có nhiều lưỡi,
hoặc được trang bị với những đồ phụ như cái mở nút chai, que nhon,
tuốc nơ vit, kéo, cái mở đồ hộp... dao nhíp gấp dùng để tỉa, ghép
mắt, ghép cành...
(4) Dao có nhiều lưỡi có thể thay thế được, loại dao này có cán hoặc
không.
Nhóm này bao gồm các loại lưỡi cắt của các loại dao như đã liệt kê
ở trên, những loại dao này có dạng thô hoặc có những đoạn đã được
gia công trên máy, được đánh bóng hoặc là những lưỡi dao đã hoàn
chỉnh. Các cán dao làm bằng kim loại cơ bản cũng thuộc nhóm này.
Bên cạnh những loại trừ trong đoạn đầu ở trên đây, nhóm này cũng
không bao gồm:
(a) Dao quắm và dao rựa (nhóm 82.01).
(b) Các loại dụng cụ cắt thuộc nhóm 82.14.
(c) Dao cắt cá và dao cắt bơ (nhóm 82.15).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 8211.10
Phạm vi của nhóm 8211.10 được giới hạn trong các bộ dao hoặc các bộ
dụng cụ tổ hợp trong đó dao chiếm tỷ lệ nhiều hơn các loại khác.
82.12 - Dao cạo và lưỡi dao cạo (kể cả lưỡi dao cạo chưa hoàn thiện
ở dạng dải).
8212.10 - Dao cạo
8212.20 - Lưỡi dao cạo an toàn, kể cả lưỡi dao cạo chưa hoàn thiện
ở dạng dải
8212.90 - Các bộ phận khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Dao cạo có lưỡi hở, kể cả những lưỡi trình bày riêng (hoàn tất hoặc
chưa) và các tay cầm làm bằng kim loại cơ bản trình bày riêng rẽ.
(2) Dao cạo râu an toàn và các bộ phận làm bằng kim loại cơ bản và
lưỡi của chúng, đã hoàn tất hoặc chưa
(3) Dao cạo râu nhựa đã lắp kèm các lưỡi dao.
Nhóm này cũng bao gồm dụng cụ cạo râu khô không dùng điện và các
loại lưỡi, tấm cắt và đầu dao dùng cho dao cạo không dùng điện.
Phôi lưỡi dao cạo râu cũng được kể đến trong nhóm này dưới dạng
đoạn thép đã nhiệt luyện hoặc chưa, với điều kiện là những phôi này đã
được khoan lỗ sẵn để gia công lưỡi dao cạo râu hoặc hình dạng cơ bản
của lưỡi cắt được rạch sẵn cho phép bằng một sức ép nhẹ có thể tách rời.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Dao cạo râu nhựa không có lưỡi ( nhóm 39.24).
(b) Dao cạo râu điện, lưỡi cắt và đĩa cắt của các loại dao cạo râu này
(nhóm 85.10).
82.13 - Kéo, kéo thợ may và các loại kéo tương tự, và lưỡi của
chúng.
Kéo được phân loại trong nhóm này gồm có 2 lưỡi chồng lên nhau đôi
khi lưỡi có răng cưa, có khớp trên một đinh vít hoặc trên một chốt gần
điểm giữa của kéo. Nói chung nhóm này chỉ bao gồm các loại kéo trong
đó mỗi lưỡi kéo gắn một vòng xỏ ngón tay ở đầu cuối. Những lưỡi cắt này
có thể liền một mảnh hoặc gồm những lưỡi cắt và tay cầm gắn với nhau.
Nhóm này cũng gồm có các loại kéo có khớp nối tại điểm nút và chỉ có
một vòng xỏ ngón tay (được sử dụng chủ yếu trong công nghiệp dệt).
Ngoài những mặt hàng khác, nhóm này bao gồm:
(1) Các loại kéo bình thường sử dụng trong nhà hoặc văn phòng hoặc
để may vá, với các lưỡi thẳng hoặc lưỡi cong.
(2) Kéo sử dụng trong nghề nghiệp. Ví dụ: Kéo thợ may, (Kể cả loại
kéo bấm lỗ), kéo thợ cắt tóc (Kể cả kéo tỉa thưa mỏng), kéo dùng
cho người bán vải, thợ da, người làm găng tay và người làm mũ.
(3) Kéo cắt móng tay, kể cả những loại có mặt lưỡi cắt tạo thành cái
giũa móng.
(4) Kéo gấp nhỏ. Ví dụ kéo cỡ nhỏ bỏ túi và kéo thêu, kéo cắt hoa cắt
nho, kéo cắt xì gà.
(5) Các loại đặc biệt như kéo trang trí, kéo đôi (4 lưỡi) để cắt các xấp
vải, kéo xén lông ngựa, kéo cắt móng ngựa, kéo tỉa cắt cành (với
một lưỡi cắt lồi và một lưỡi cắt lõm) nhưng chúng cũng có các xỏ
ngón tay vòng (ví dụ kéo để cắt hoa).
Nhóm này bao gồm các lưỡi kéo, đã làm hoàn chỉnh hay chưa
hoàn chỉnh.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Kéo cắt hàng rào, kéo cắt lông cừu... với các lưỡi không được gắn
các vòng xỏ ngón tay, kéo cắt cành, tỉa cây một cán tương tự và các
loại kéo (Kể cả kéo cắt lông gà vịt) thuộc nhóm 82.01.
(b) Các loại kéo đặc biệt có hai tay cầm dùng cho người đóng móng
ngựa để cắt móng động vật (nhóm 82.05).
82.14 - Đồ dao kéo khác (ví dụ, tông đơ cắt tóc, dao pha dùng cho
cửa hàng thịt hoặc làm bếp, dao bầu và dao băm, dao rọc giấy);
bộ đồ và dụng cụ cắt sửa móng tay hoặc móng chân (kể cả dũa
móng).
8214.10 - Dao rọc giấy, mở thư, dao cào giấy, vót bút chì và lưỡi
của các loại dao đó
8214.20 - Bộ đồ và dụng cụ cắt sửa móng tay hoặc móng chân (kể
cả dũa móng)
8214.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Dao dọc giấy, dao mở thư, dao cạo giấy, dao gọt bút chì (Kể cả
các loại bỏ túi) và các lưỡi của chúng, nhưng trừ các loại máy gọt
bút chì thuộc nhóm 84.72.
(2) Các bộ đồ dùng cắt sửa móng tay, móng chân kể cả giũa móng
tay móng chân (gấp được hoặc không). Những loại đồ dùng như
vậy cũng bao gồm dụng cụ làm sạch móng, kéo cắt chai chân, dao
cắt lớp biểu bì đã hoá sừng, dụng cụ ép và đẩy lớp biểu bì đã hoá
sừng. Bộ đồ sửa móng tay, móng chân thường có các loại đồ dùng
như vậy để trong các hộp, hom... thường bao gồm kéo, dụng cụ làm
bóng móng không phải là kim loại, dụng cụ nhổ lông mà nếu để
riêng rẽ sẽ được phân loại trong các nhóm thích hợp của chúng.
(3) Tông đơ cắt tóc cầm tay, không dùng điện.
Tông đơ cắt tóc dùng điện có gắn động cơ điện bên trong được phân
loại ở nhóm 85.10 kéo xén cơ khí dùng để xén lông động vật,
thường được gắn trên giá và được gắn với một dụng cụ chuyển tải
linh hoạt được phân loại tại nhóm 84.36.
Nhóm này không chỉ gồm có các phụ tùng của tông đơ cắt tóc mà
còn bao gồm các đĩa cắt và lưỡi cắt dùng cho kéo xén cơ khí của
nhóm 84.36.
(4) Dao mổ hoặc làm bếp, dao bầu và dao băm. Những loại này không
có hình dạng thông thường của một con dao, và được thiết kế để sử
dụng bằng một hoặc hai tay.
82.15 - Thìa, dĩa, muôi, thìa hớt kem, hớt bọt, đồ xúc bánh, dao ăn
cá, dao cắt bơ, kẹp gắp đường và các loại đồ dùng nhà bếp hoặc
bộ đồ ăn tương tự.
8215.10 - Bộ sản phẩm có ít nhất một thứ đã được mạ kim loại quý
8215.20 - Bộ sản phẩm tổ hợp khác
- Loại khác:
8215.91 - - Được mạ kim loại quý
8215.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Các loại thìa kể cả thìa xúc muối hoặc tương mù tạt.
(2) Nĩa ăn, nĩa lấy thịt, nĩa phục vụ thức ăn, nĩa đầu bếp, nĩa lấy bánh,
nĩa ăn sò, ốc, nĩa lấy thịt nướng.
(3) Muôi (để múc) và thìa hớt kem (đối với rau, đồ rán...).
(4) Dao cắt lát mỏng đối với cá, bánh, dâu tây, măng tây.
(5) Các loại dao ăn cá và dao phết bơ không cắt.
(6) Các loại kép gắp đường (cắt hoặc không), kẹp bánh, kẹp món khai
vị, kẹp măng tây, kẹp thịt, kẹp ốc kẹp thịt và kẹp đá (nước đá).
(7) Các bộ đồ ăn khác như kẹp gắp thịt gà, vịt và kẹp tôm hùm.
Những mặt hàng này có thể cùng một thứ vật liệu hoặc gắn có tay cầm
làm bằng kim loại cơ bản, gỗ, nhựa...
Theo như phần chú giải 3 của chương, nhóm này cũng gồm có các bộ
bao gồm một hoặc nhiều dao cắt thuộc nhóm 82.11 và ít nhất có số
lượng tương đương với các loại đồ dùng thuộc nhóm này.
Nhóm này không bao gồm dao cắt tôm hùm, hoặc dao xén lông gia cầm
thuộc thể loại kéo cắt cây hoặc thể loại kéo hai lưỡi (nhóm 82.01 hoặc
Chương 83
Hàng tạp hoá làm từ kim loại cơ bản
Chú giải.
1. Theo mục đích của Chương này, các bộ phận của sản phẩm bằng
kim loại cơ bản được phân loại theo sản phẩm gốc. Tuy nhiên, các
sản phẩm bằng sắt hoặc thép thuộc nhóm 73.12, 73.15, 73.17, 73.18
hoặc 73.20, hoặc các sản phẩm tương tự bằng kim loại cơ bản khác
(Chương 74 đến 76 và 78 đến 81) sẽ không được xem như các bộ
phận của các sản phẩm thuộc Chương này.
2. Theo mục đích của nhóm 83.02, thuật ngữ “bánh xe đẩy (castor)" có
nghĩa là loại bánh xe có đường kính không quá 75 mm (kể cả lốp,
tại các phân nhóm tương ứng) hoặc bánh xe có đường kính trên 75
mm (kể cả lốp, tại các phân nhóm tương ứng) với điều kiện là bánh
xe hoặc lốp lắp vào đó có chiều rộng dưới 30 mm.
TỔNG QUÁT
Trong khi từ các Chương 73 đến 76 và 78 đến 81 là các sản phẩm được
phân loại theo một kim loại cụ thể, thì Chương này tương tự như chương
82, bao gồm các mặt hàng cụ thể bất kể loại kim loại cơ bản mà chúng
cấu thành.
Nhìn chung, các bộ phận bằng kim loại cơ bản được phân loại theo sản
phẩm gốc (xem chú giải 1 của Chương). Tuy nhiên, chương này không
bao gồm các loại lò xo (kể cả loại chuyên dụng để làm khóa), xích, dây
cáp, đai ốc, bu lông, vít và các loại đinh; các mặt hàng này được phân
loại trong nhóm tương ứng ở các Chương 73 đến 76 và từ 78 đến 81
(xem Chú giải 2 của Phần XV và Chú giải 1 của Chương này).
83.01 - Khóa móc và ổ khoá (loại mở bằng chìa, số hoặc điện), bằng
kim loại cơ bản; móc cài và khung có móc cài, đi cùng ổ
khoá, bằng kim loại cơ bản; chìa của các loại khóa trên,
bằng kim loại cơ bản (+).
8301.10 - Khóa móc
8301.20 - Ổ khoá thuộc loại sử dụng cho xe có động cơ
8301.30 - Ổ khoá thuộc loại sử dụng cho đồ nội thất
8301.40 - Khóa loại khác
8301.50 - Móc cài và khung có móc cài, đi cùng với ổ khóa
8301.60 – Các bộ phận
8301.70 - Chìa rời
Nhóm này bao gồm các khóa sử dụng bằng chìa khóa (ví dụ loại ổ khoá
của xi lanh, đòn bẩy, lẫy khoá hoặc ổ khóa kiểu Bramah) hoặc được điểu
khiển bằng một tổ hợp các chữ cái hoặc con số (ổ khoá số).
Nhóm này bao gồm các ổ khoá hoạt động bằng điện (ví dụ, dùng cho các
loại cửa ra vào của các tòa nhà cao tầng hoặc các cửa thang máy).
Những loại khóa này có thể hoạt động được bằng cách, ví dụ gài vào đó
một tấm thẻ từ, hay nhập tổ hợp dữ liệu trên bảng khoá điện tử hoặc
bằng tín hiệu sóng radiô.
Do đó, ngoài những mặt hàng khác, nhóm này bao gồm :
(A) Khóa móc các loại dùng cho cửa ra vào, rương, hòm, tủ, túi xách, xe
đạp, v.v... bao gồm cả các loại then cửa có ổ khoá mở bằng chìa.
(B) Ổ khóa cho các loại cửa và cổng, các hộp đựng thư, két sắt, thùng
hoặc hộp, đồ nội thất, đàn piano, hòm, vali, túi xách, cặp tài liệu, …,
khóa cho xe ô tô, các toa tàu hỏa, các loại xe điện, v.v..., khóa cho
cầu thang máy, cửa chớp, cửa trượt v.v...
(C) Móc cài và khung có móc cài, đi cùng với ổ khóa.
Nhóm này cũng bao gồm :
(1) Các phụ tùng bằng kim loại cơ bản của những mặt hàng được đề
cập ở phía trên có thể nhận biết một cách rõ ràng (ví dụ: nắp che
bao quanh ổ khóa, chốt khóa, bát khóa và cò khóa, nắp lỗ khóa, thân
khóa, khe răng chìa khóa, cơ cấu truyền động và ổ lõi để tra chìa).
(2) Các loại chìa bằng kim loại cơ bản được dùng cho các loại khóa đề
cập ở trên, đã được hoặc chưa hoàn thiện (kể cả ở dạng đúc thô,
được rèn hoặc rập theo khuôn).
Nhóm này cũng bao gồm các loại chìa khóa đặc biệt dùng để đóng các
toa tầu hỏa, chìa khóa vạn năng (có thể mở rất nhiều loại ổ khóa…)
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm cả chốt cửa và then nhỏ đơn giản
… (nhóm 83.02) và các loại móc kéo và khóa móc cài (không vận hành
bằng chìa khóa hoặc khóa số) dùng cho các loại túi xách, cặp sách, valy
nhỏ… (nhóm 83.08).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 8301.30
Phân nhóm này bao gồm không chỉ các ổ khóa thuộc loại sử dụng cho đồ
nội thất gia đình mà còn bao gồm cả ổ khóa được sử dụng cho đồ nội
thất văn phòng.
83.02 - Giá, khung, phụ kiện và các sản phẩm tương tự bằng kim
loại cơ bản dùng cho đồ nội thất, cho cửa ra vào, cầu thang,
cửa sổ, mành che, thân xe (coachwork), yên cương, rương,
hòm hoặc các loại tương tự; giá để mũ, mắc mũ, chân giá đỡ
và các loại giá cố định tương tự bằng kim loại cơ bản; bánh xe
đẩy (castor) có giá đỡ bằng kim loại cơ bản; cơ cấu đóng cửa
tự động bằng kim loại cơ bản.
8302.10 - Bản lề (Hinges)
8302.20 - Bánh xe đẩy (castor)
8302.30 - Giá, khung, phụ kiện và các sản phẩm tương tự khác
dùng cho xe có động cơ
- Giá, khung, phụ kiện và các sản phẩm tương tự khác:
8302.41 - - Phù hợp cho xây dựng
8302.42 - - Loại khác, phù hợp cho đồ nội thất:
8302.49 - - Loại khác
8302.50 - Giá để mũ, mắc mũ, chân giá đỡ và các loại giá cố
định tương tự
8302.60 - Cơ cấu đóng cửa tự động
Nhóm này gồm các loại giá, khung, phụ kiện thông dụng bằng kim loại
cơ bản được sử dụng rộng rãi cho đồ nội thất gia đình, cửa ra vào, cửa
sổ, thân xe, … Các sản phẩm thông dụng vẫn được phân loại trong nhóm
này ngay cả khi chúng được thiết kế cho những mục đích đặc biệt (ví dụ,
các loại tay nắm cửa và bản lề dùng cho các loại cửa xe ô tô con). Tuy
nhiên, nhóm này không mở rộng cho những mặt hàng là bộ phận chủ
yếu trong kết cấu của một sản phẩm, như khung cửa sổ hay các khớp
xoay dùng cho ghế xoay tròn.
Nhóm này bao gồm:
(A) Bản lề các loại (ví dụ: bản lề cối, bản lề nâng thẳng đứng, bản lề
góc, bản lề quai và bản lề ganets).
(B) Bánh xe đẩy, như đã được định nghĩa tại Chú giải 2 của Chương.
Để được phân loại trong nhóm này, các loại bánh xe đẩy phải có
khung bằng kim loại cơ bản, nhưng các loại bánh xe có thể được
làm bằng vật liệu bất kỳ (trừ kim loại quý).
Trường hợp các loại bánh xe đẩy có lốp hơi, đường kính của bánh
xe đẩy phải được đo khi lốp đã được bơm căng ở mức bình thường.
Trong trường hợp có gắn kèm với nan hoa cũng không ảnh hưởng
đến việc phân loại các bánh xe đẩy trong nhóm này.
Các loại bánh xe đẩy không đáp ứng đầy đủ những điều kiện của
nội dung nhóm hoặc theo chú giải 2 của chương, bị loại trừ khỏi
nhóm này (ví dụ: Chương 87).
(C) Giá, khung, phụ kiện và các sản phẩm tương tự dùng cho các
kiểu xe có động cơ (ví dụ: xe ô tô, xe tải và xe ca), không phải là
bộ phận hay phụ tùng của Phần XVII. Ví dụ: các thanh nẹp dùng
để trang trí, các tấm dùng để gác chân, thanh để bám tay, tay vịn
hoặc tay nắm; các loại phụ kiện rèm (ví dụ như thanh treo rèm, giá
đỡ, các loại phụ kiện để xiết, bắt, cơ cấu lò xo…); các loại giá để
hành lý; các cơ cấu mở cửa sổ; các loại gạt tàn đặc biệt; bộ phận
đóng cửa sau của xe.
(D) Giá, khung, phụ kiện và các sản phẩm tương tự khác phù hợp
cho xây dựng
Nhóm này bao gồm:
(1) Các loại khóa móc cửa có xích, chốt cửa, ... ; các loại then ngang
hay chốt dọc cửa sổ và các phụ kiện; chốt cài và chốt chặn cửa sổ;
cơ cấu mở hoặc chốt chặn cho cửa hãm hay cửa mái và phụ kiện;
móc và khoen cài cửa phòng; móc và phụ kiện cho cửa sổ đôi; các
loại móc, chốt cài, chặn cửa và các đầu móc để cuộn (roller end)
dùng cho cửa chớp hoặc rèm; khe nhận thư lắp ở cửa; vòng/búa để
gõ cửa; lỗ quan sát lắp trên cánh cửa… (trừ loại đã được lắp với bộ
phận quang học).
(2) Các loại chốt (bao gồm cả loại chốt có lò xo bi), các loại khóa
chốt, then cài cửa, chốt cửa, … (ngoài các loại khóa chốt có chìa
thuộc nhóm 83.01) dùng cho cửa.
(3) Các loại khung cửa trượt theo rãnh của các loại cửa kính trong
các cửa hiệu, nhà để xe, nhà kho, nhà để máy bay… (ví dụ: các
thiết bị để làm rãnh trượt, làm bánh xe và con lăn).
(4) Các tấm mặt lỗ khóa và những tấm biển hiệu nhỏ gắn trên các
cánh cửa của các tòa nhà.
(5) Các loại phụ kiện để treo rèm hay mành cửa (ví dụ: các loại thanh
treo rèm, ống, nơ trang trí hình hoa hồng, giá đỡ, dải vén màn,
kẹp, vòng chạy hoặc trượt, thanh chặn); móc đỡ, móc để buộc
hoặc giữ dây kéo rèm…; phụ kiện cầu thang, như rìa bảo vệ bậc
cầu thang, các loại kẹp giữ tấm thảm cầu thang, thanh chặn để giữ
tấm thảm cầu thang, và các đầu của tay vịn cầu thang.
Các loại thanh treo rèm, ống phù hợp để treo rèm hoặc giữ thảm chỉ đơn
thuần được cắt theo chiều dài và khoan được phân loại theo kim loại
cấu thành.
(6) Các loại miếng bịt góc, tấm hoặc ke gia cố cho cửa đi, cửa sổ
hoặc cửa chớp.
(7) Các loại khóa nắp (nắp móc) dùng cho cửa ra vào; tay cầm và
nắm đấm của cửa ra vào, trong đó bao gồm các loại phụ kiện
trên cho ổ khóa và chốt.
(8) Những miếng kê chặn cửa ra vào và những bộ phận đóng cửa
(trừ những sản phẩm thuộc phần (H), ghi dưới đây).
(5) Curtain, blind or portière fittings (e.g., rods, tubes, rosettes,
(E) Giá, khung, phụ kiện và các sản phẩm tương tự khác phù hợp
cho đồ nội thất
Nhóm này bao gồm :
(1) Các loại đinh mũ (có 1 hoặc nhiều đầu nhọn) dùng để bảo vệ
chân các đồ vật trong nhà…; phụ kiện trang trí bằng kim loại;
bộ phận tự điều chỉnh độ cao của giá sách…; phụ kiện để lắp
ráp (ghép) các loại tủ hoặc giường ngủ bằng gỗ…; các tấm mặt
lỗ khóa.
(2) Các loại miếng bịt góc, tấm hoặc ke gia cố.
(3) Các loại khóa (bao gồm cả loại khóa có lò xo bi), các loại khóa
chốt,then cài cửa, chốt cửa … (trừ các loại khóa chốt có chìa
thuộc nhóm 83.01).
(4) Các loại khóa nắp (nắp móc) dùng cho tủ, hòm v.v…...
(5) Các loại tay cầm và nắm đấm, trong đó bao gồm cả tay cầm và
nắm đấm của ổ khóa và chốt.
(F) (1) Các loại phụ kiện và các sản phẩm tương tự của hòm, tủ, túi đồ
đạc và các đồ du lịch, ví dụ: các loại móc sắt dùng để khóa
(nhưng không bao gồm chốt móc cửa); tay nắm cửa, những
miếng bảo vệ góc, thanh chống và các thanh trượt; phụ kiện
cho các đồ chứa có thể mở rộng được; tuy nhiên những đồ phụ
trợ trang trí cho các loại túi xách được phân loại vào nhóm
(2) Các loại miếng bịt góc, tấm hoặc ke gia cố cho các loại rương,
hòm, tủ, hộp nữ trang, vali…
(3) Các phụ kiện và các mặt hàng tương tự dùng cho yên cương,
như là hàm thiếc, dây hàm thiếc ngựa, vai yên ngựa, bàn đạp,
dây kéo ngựa, bộ yên cương, vòng dây cương, đồ trang sức
bằng đồng đeo cho ngựa và các phụ kiện của yên cương.
(4) Các phụ kiện và các mặt hàng tương tự dùng cho việc đóng các
hộp trang sức và áo quan.
(5) Các phụ kiện và các mặt hàng tương tự dùng cho tàu thuyền.
(G) Các loại giá để mũ, mắc mũ (cố định, có bản lề hoặc móc treo) và
các đồ đạc tương tự như là giá treo áo măng tô, giá treo khăn, giá
treo khăn rửa bát, giá để bàn chải, giá treo chìa khóa.
Các loại giá treo áo măng tô… có tính chất là các đồ nội thất, tuy
nhiên nếu kết hợp với một giá để sách thì được phân loại vào
Chương 94.
(H) Bộ phận đóng cửa tự động, loại lò xo hoặc thủy lực, dùng cho các
loại cửa, cổng…
83.03 - Két an toàn đã được bọc thép hoặc gia cố, két bạc và cửa
bọc thép và két để đồ an toàn có khoá dùng cho phòng bọc thép,
hòm để tiền hoặc tủ đựng chứng từ tài liệu và các loại tương tự,
bằng kim loại cơ bản.
Nhóm này bao gồm những vật dụng để chứa đồ và cửa phòng bọc thép
được thiết kế để giữ an toàn đồ quý giá, đồ nữ trang, tài liệu… với mục
đích để phòng ngừa mất trộm và hỏa hoạn.
Các loại tủ và két an toàn của nhóm này là các tủ bằng thép mà thân
được bọc thép (ví dụ: làm bằng thép hợp kim có độ bền cao) hoặc làm
bằng thép tấm được gia cố, ví dụ với với bê tông cốt thép. Chúng thường
được sử dụng trong các ngân hàng, văn phòng, khách sạn ... Thông
thường chúng được trang bị khóa an toàn cao và thường có cửa kín và
vách/vỏ 2 lớp, bên trong khoảng cách giữa hai lớp vách thường được đổ
đầy chất liệu chịu nhiệt. Nhóm này bao gồm các loại cửa phòng bọc thép
(có hoặc không có khung cửa) và các két để đồ an toàn có khóa dùng cho
phòng bọc thép được sử dụng trong ngân hàng, nhà cho thuê có phòng
an toàn và két sắt, nhà máy… là các nơi yêu cầu không gian lưu trữ lớn.
Ngoài ra, nhóm này bao gồm cả các loại hộp để đựng tiền hay văn kiện
bằng kim loại (có hoặc không có ngăn kéo). Đây là loại hộp di động
(được lắp khóa vận hành bằng chìa hay khóa số), đôi khi có vách/vỏ bọc
2 lớp, tùy theo thiết kế và vật liệu cấu thành… nên chúng có khả năng
bảo vệ chống trộm và hỏa hoạn. Các loại hòm quyên tiền và các hộp
đựng tiền tiết kiệm … cũng được phân loại vào nhóm này miễn là chúng
được trang bị tương tự để đảm bảo an toàn; khi không đáp ứng điều kiện
này thì chúng được phân loại theo kim loại cấu thành hoặc đồ chơi.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các loại cửa an toàn làm bằng thép, loại sử dụng tại các căn hộ hoặc
nhà riêng (nhóm 73.08).
(b) Các loại tủ được thiết kế đặc biệt để chống lửa, chống và chạm hoặc
chống sập đổ và những vách đặc biệt nhưng không có khả năng
chống lại những nỗ lực phá vỡ chúng bằng việc khoan hoặc cắt
(nhóm 94.03).
83.04 - Tủ đựng hồ sơ, tủ đựng bộ phiếu thư mục, khay để giấy tờ, giá
kẹp giấy, khay để bút, giá để con dấu văn phòng và các loại đồ
dùng văn phòng hoặc các đồ dùng để bàn tương tự, bằng kim
loại cơ bản, trừ đồ nội thất văn phòng thuộc nhóm 94.03.
Nhóm này bao gồm tủ đựng hồ sơ, tủ đựng bộ phiếu thư mục, các loại hộp
phân loại và đồ dùng văn phòng tương tự dùng để lưu giữ, phân loại, sắp
xếp thư từ, phiếu thư mục và các giấy tờ khác, với điều kiện loại đồ dùng
này không được thiết kế để đặt đứng, kê trên sàn hoặc không thuộc các
mặt hàng đã nêu trong chú giải 2 của chương 94 (nhóm 94.03) (xem chú
giải tổng quát Chương 94). Nhóm này cũng bao gồm các khay giấy để
phân loại tài liệu, các loại giá giữ giấy để đánh máy dùng cho những
người đánh máy chữ, các loại giá hoặc kệ để bàn, đồ dùng để bàn (như là
ke (hay cọc) giữ sách, cái chặn giấy, khay đựng lọ mực hoặc lọ mực, hộp
bút, hộp đóng dấu và giá để con dấu, các loại bàn thấm).
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm các loại giỏ dùng để đựng giấy loại, nó
được phân loại theo kim loại cấu thành (ví dụ thuộc nhóm 73.26).
83.05 - Các chi tiết ghép nối dùng cho cặp giữ tờ rời hoặc hồ sơ tài
liệu rời, cái kẹp thư, để thư, kẹp giấy, kẹp phiếu mục lục và
các vật phẩm văn phòng tương tự, bằng kim loại cơ bản;
ghim dập dạng băng (ví dụ, dùng cho văn phòng, dùng cho
công nghệ làm đệm, đóng gói), bằng kim loại cơ bản.
8305.10 - Các chi tiết ghép nối dùng cho cặp giữ tờ rời hoặc hồ
sơ tài liệu rờ
8305.20 - Ghim dập dạng băng
8305.90 - Loại khác, kể cả bộ phận
Nhóm này bao gồm những chi tiết ghép nối bằng kim loại cơ bản (ví dụ
như cặp kẹp, dây nối, lò xo đẩy, vòng, vít…) để ghép nối dùng cho cặp
giữ tờ rời hoặc hộp giữ hồ sơ tài liệu. Nhóm này còn bao gồm các vòng
bảo vệ, dải đóng gáy, nẹp góc dùng cho các loại sổ, sách văn phòng;
tương tự như vậy là những đồ dùng văn phòng bằng kim loại được sử
dụng để đóng thành tập, ghim lại hoặc đánh dấu các loại giấy tờ tài liệu
rời (ví dụ: các loại kẹp ghim, kẹp giấy, nẹp giấy, để thư, kẹp phiếu mục
lục, kẹp đánh dấu hồ sơ, cây ghim giấy); ghim dập dạng băng loại được
dùng trong máy dập ghim, trong văn phòng, để bọc đệm, đóng gói…
Nhóm này không bao gồm:
(a) Đinh ấn (đinh rệp) (ví dụ: nhóm 73.17 hoặc 74.15).
(b) Các loại khóa và chốt cho sách, sổ…(nhóm 83.01 hoặc 83.08).
83.06 - Chuông, chuông đĩa và các loại tương tự, không dùng điện,
bằng kim loại cơ bản; tượng nhỏ và đồ trang trí khác, bằng
kim loại cơ bản; khung ảnh, khung tranh hoặc các loại
khung tương tự, bằng kim loại cơ bản; gương bằng kim loại
cơ bản.
8306.10 - Chuông, chuông đĩa và các loại tương tự
- Tượng nhỏ và đồ trang trí khác:
8306.21 - - Được mạ bằng kim loại quý
8306.29 - - Loại khác
8306.30 - Khung ảnh, khung tranh hoặc các loại khung tương
tự; gương
(A) CHUÔNG, CHUÔNG ĐĨA VÀ CÁC LOẠI TƯƠNG TỰ,
KHÔNG DÙNG ĐIỆN
Trong nhóm này bao gồm chuông, chuông đĩa bằng kim loại cơ bản
không dùng điện. Nhóm bao gồm cả chuông ở nơi thờ cúng, trường
học, các tòa nhà công cộng, nhà máy, tàu biển, xe cứu hỏa,… ; chuông
báo hiệu gắn ở cửa ra vào; chuông bàn, chuông lắc tay, các loại chuông
cho gia súc hoặc động vật khác; chuông cho xe đạp, xe đẩy trẻ em
(scooter) hoặc xe nôi; chuông báo cá cắn câu (không có kẹp bên ngoài
hoặc thiết bị lắp giữ/đỡ khác); chuông chùm ở cửa, chuông đĩa để bàn…;
chuông có trang trí hoa văn làm những đồ vật lưu niệm du lịch.
Nhóm này cũng bao gồm có các bộ phận bằng kim loại như quả lắc
chuông, tay cầm để kéo chuông, chỏm chuông (kể cả các bộ phận này
phù hợp cho cả loại chuông dùng bằng điện hoặc loại chuông khác).
Nhóm cũng bao gồm nút bấm và núm xoay bằng kim loại dùng cho các
loại chuông cửa hoặc chuông bàn không sử dụng điện.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Khung/giá dùng cho các loại chuông nhà thờ, được làm bằng sắt
hoặc thép (nhóm 73.08).
(b) Các loại dây kéo, đòn bẩy và phụ kiện cho loại chuông cửa vận
hành bằng cơ học (ví dụ: nhóm 73.25 hoặc 73.26).
(c) Chuông điện và các thiết bị báo hiệu khác thuộc nhóm 85.31.
(d) Bộ chuông hoà âm và chuông đĩa của đồng hồ (nhóm 91.14).
(e) Chuông chùm và chuông đĩa là các bộ phận của nhạc cụ thuộc
nhóm 92.06 hoặc 92.07.
(f) Các sản phẩm được gắn kèm chuông,... ví dụ như là các loại vòng
dùng buộc cổ chó (nhóm 42.01), nhạc cụ (ví dụ: trống lục lạc)
(Chương 92), các loại đồ chơi (nhóm 95.03), chuông cần câu được
gắn trên kẹp bên ngoài hoặc thiết bị lắp giữ/đỡ khác (nhóm 95.07).
(B) TƯỢNG NHỎ VÀ CÁC ĐỒ TRANG TRÍ KHÁC
Trong nhóm nhỏ này bao gồm nhiều loại đồ trang trí bằng kim loại cơ
bản (có hoặc không kết hợp với các phụ kiện bằng chất liệu không phải
là kim loại) được thiết kế phù hợp cho việc trang trí, ví dụ trong nhà,
văn phòng, phòng họp, nhà thờ cúng, vườn.
Cần lưu ý là nhóm nhỏ này không bao gồm các mặt hàng đã được nêu
trong nhóm riêng biệt thuộc Danh mục, kể cả khi các mặt hàng này có
bản chất hoặc được hoàn thiện phù hợp như đồ trang trí.
Nhóm nhỏ này bao gồm mặt hàng không có công năng sử dụng mà hoàn
toàn mang tính trang trí và các mặt hàng mà công dụng duy nhất của
chúng là để chứa đựng hay để hỗ trợ cho những đồ vật trang trí khác
hoặc để bổ sung hiệu ứng trang trí của chúng, ví dụ:
(1) Những bức tượng bán thân, tượng nhỏ và tượng trang trí khác;
những đồ trang trí (bao gồm cả những bộ phận cấu tạo nên bộ đồng
hồ) cho mặt lò sưởi, giá sách… (các bản sao hình các loài động vật,
những biểu tượng, những bức phóng dụ…); vật kỷ niệm chiến thắng
trong thể thao hoặc nghệ thuật (các kiểu cúp…); những đồ vật trang
trí trên tường kết hợp với các phụ kiện để treo (ví dụ như là các tấm
biển, khay, đĩa, huy chương lớn ngoại trừ các đồ vật này dùng cho
trang sức cá nhân); các loại hoa giả, các hình hoa hồng và các hàng
hóa trang trí tương tự làm bằng kim loại được đúc hoặc rèn (thông
thường làm bằng sắt đã gia công); các loại đồ trang trí nhỏ dùng đặt
trên giá sách hay trong tủ trưng bày gia đình.
(2) Các đồ vật được dùng để hành lễ trong các buổi lễ thờ cúng như là
hòm thánh tích, cốc rượu lễ, bình đựng nước thánh, mặt nhật hay
thánh giá.
(3) Các loại bình, lọ, chậu trồng hoa (kể cả đồ tráng men cloisonné).
Trong một số trường hợp cụ thể giải thích dưới đây, nhóm này còn bao
gồm một số hàng hoá thuộc hai loại sau đây mặc dù chúng có giá trị sử
dụng:
(A) Đồ dùng trong nhà hoặc các đồ dùng nội trợ, dù có khả năng được
xếp vào các nhóm riêng (ví dụ nhóm 73.23, 74.18 và 76.16) hoặc
xếp vào nhóm “các mặt hàng khác” (ví dụ: trường hợp hàng hoá
làm bằng ni-ken và thiếc nói riêng). Các mặt hàng gia dụng và đồ
dùng nội trợ thường được thiết kế chủ yếu để đáp ứng mục đích sử
dụng và bất kỳ sự trang trí nào đều có ý nghĩa thứ yếu để không làm
giảm mức hữu dụng của đồ vật. Do vậy, nếu các mặt hàng được
(3) Table-bowls, vases, pots, jardinières (including those of cloisonné
trang trí và đáp ứng được tính hữu dụng không kém so với các mặt
hàng tương ứng nhưng ở dạng đơn giản hơn thì chúng được phân
loại là hàng hoá dùng cho công việc nội trợ hơn là xếp vào nhóm
này. Trái lại, nếu sự hữu dụng rõ ràng kém hơn so với tính chất làm
đồ trang trí hoặc để làm cảnh thì mặt hàng đó được phân loại vào
nhóm này, ví dụ: khay trạm nổi cầu kỳ thì hoàn toàn mất tính hữu
dụng của cái khay; đồ trang trí tích hợp hoàn toàn ngẫu ngiên với
khay hoặc đồ đựng có thể được sử dụng làm đĩa trang trí hay cái gạt
tàn thuốc; các mô hình thu nhỏ không có giá trị thực sự (đồ dùng
nhà bếp thu nhỏ).
(B) Các mặt hàng, trừ mặt hàng gia dụng và đồ dùng cho việc nội trợ,
loại thường rơi vào các nhóm cuối cùng của mỗi chương kim loại
(ví dụ: bộ đồ dùng hút thuốc, hộp đựng nữ trang, hộp thuốc lá, bát
hương, bình đốt hương trầm, hộp đựng diêm). Những mặt hàng đó
được phân loại trong nhóm nhỏ này nếu được thiết kế rõ ràng ngay
từ ban đầu là cho mục đích làm đồ trang trí.
(C) KHUNG ẢNH, KHUNG TRANH HAY CÁC LOẠI KHUNG
TƯƠNG TỰ, BẰNG KIM LOẠI CƠ BẢN; GƯƠNG BẰNG KIM
LOẠI CƠ BẢN
Nhóm nhỏ này bao gồm khung ảnh, khung tranh, khung gương…
bằng kim loại cơ bản với tất cả các loại hình thù, kích thước. Các
khung này nếu được ghép với giá đỡ hoặc có tấm ốp lưng bằng bìa, gỗ
hay vật liệu khác, cũng vẫn được phân loại trong nhóm này. Nhóm nhỏ
này bao gồm cả khung ghép với kính phẳng, nhưng nếu khung bằng kim
loại đã lắp gương thì bị loại trừ (nhóm 70.09).
Tranh in và ảnh chụp có khung bằng kim loại cũng được xếp vào nhóm
này nếu những đặc trưng nổi trội so với tổng thể thuộc về khung tranh
tạo ra; trong trường hợp khác thì các mặt hàng này xếp vào nhóm 49.11.
Trong trường hợp các mặt hàng tranh vẽ, tranh phác họa và tranh bột
màu, tranh ghép và các tranh trang trí tương tự, bản in khắc, chữ in hoặc
bản in thạch bản đã được đóng khung, để xác định việc phân loại phần
khung theo tổng thể hay phân loại riêng theo phần khung, xem chú giải 6
chương 97 và chú giải chi tiết nhóm 97.01 và 97.02.
Nhóm này còn bao gồm cả gương kim loại (không kể các phần tử
quang học, xem chú giải chi tiết nhóm 90.01 và 90.02), ví dụ: gương
treo tường hoặc gương bỏ túi và gương chiếu hậu, thường chế tạo bằng
thép, hoặc crom, ni-ken hoặc thép mạ bạc, hoặc làm bằng đồng thau. Các
gương này có thể được đóng khung, có tấm ốp lưng hoặc lắp với giá đỡ,
hoặc được trình bày hoàn chỉnh với hộp, có đai bằng da, vải hoặc vật
liệu khác.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Chấn song, lan can được làm bằng sắt hoặc bằng kim loại khác đã
gia công (ví dụ: nhóm 73.08).
(b) Dao, thìa, dĩa (nĩa) (Chương 82).
(c) Khóa và các bộ phận của chúng (nhóm 83.01).
(d) Giá, khung, đồ dùng để lắp ráp, ghép, nối dùng cho các đồ đạc trong
nhà, cửa ra vào, cầu thang và cửa sổ (nhóm 83.02).
(e) Các dụng cụ và máy móc thiết bị thuộc Chương 90 (ví dụ: khí áp
kế và nhiệt kế ngay cả nếu những sản phẩm này có một tính chất rõ
ràng là để trang trí.
(f) Đồng hồ và vỏ đồng hồ, dù là vỏ này được trang trí hoặc bao gồm
cả các tượng nhỏ hay các sản phẩm tương tự được thiết kế một cách
rõ ràng để dùng làm vỏ đồng hồ (Chương 91).
(g) Các sản phẩm thuộc Chương 94.
(h) Các loại đồ chơi, thiết bị trò chơi (Chương 95).
(ij) Các loại bật lửa để bàn (nhóm 96.13) và các loại bình xịt nước hoa,
dầu thơm (nhóm 96.16).
(k) Các tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm và đồ cổ (Chương 97).
83.07 - Ống dễ uốn bằng kim loại cơ bản, có hoặc không có phụ kiện 83.07 - Flexible tubing of base metal, with or without fittings.
để ghép nối.
8307.10 - Bằng sắt hoặc thép
8307.90 - Bằng kim loại cơ bản khác
Dựa theo quy trình sản xuất, các loại ống dễ uốn bằng kim loại thường
được phân thành hai loại chủ yếu như sau:
(1) Ống dễ uốn làm từ dải hình được cuốn theo chiều xoắn, có hoặc
không được bắt chặt các cạnh. Loại ống này có thể được làm kín
nước hoặc khí bằng cách bọc cao su, amiăng hoặc vải sợi v.v...Sau
đó, nó thích hợp để sử dụng như vật liệu chống thấm nước cho cáp
điện hay hệ thống truyền dẫn mềm; ống hút bụi; đường dẫn khí nén,
hơi nước, ga, nước, xăng, dầu hoặc các chất lỏng khác trong động
cơ, máy công cụ, bơm, máy biến thế, thiết bị thuỷ lực, thiết bị khí
nén, lò cao v.v... Loại ống tương tự không có tính chất chống thấm
nước dùng để làm đường dẫn cát, hạt, bụi, vỏ bào v.v....và trong
một số trường hợp dùng làm ống bảo vệ dây cáp điện, các ống
truyền dẫn khác, ống cao su v.v.....
(2) Ống mềm dạng xếp nếp được chế tạo, ví dụ bằng cách gia công biến
dạng một ống trơn. Bản chất loại ống này đã kín nước và khí, vì thế
không cần gia công thêm để dùng cho các mục đích được mô tả ở
phần (1) ở trên.
Để tăng độ bền chịu áp suất, cả hai loại ống mềm có thể gia cường hoặc
trang bị với một hoặc nhiều ống bọc ngoài bện bằng dây hoặc dải kim
loại. Ống bọc ngoài đôi khi được bảo vệ bằng dây xoắn ốc và có thể
được phủ nhựa, cao su hay vật liệu dệt.
Nhóm này cũng bao gồm ống mềm làm từ dây được xoắn chặt (ví dụ
như làm vỏ bọc ngoài cho cáp “Bowden” hoặc cáp phanh xe đạp). Nhóm
này loại trừ các sản phẩm tương tự nhưng không sử dụng làm ống hoặc
ống dẫn (ví dụ: dây rèm kéo) (thường phân loại vào nhóm 73.26).
Ống mềm có độ dài ngắn dùng trong kỹ thuật nhiệt và chống rung (ống
ổn nhiệt hoặc vòng đệm dãn nở) vẫn được phân loại vào nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm ống đã ghép goăng, đệm…
Nhóm này không bao gồm:
(a) Loại ống bằng cao su kết hợp hoặc gắn với vỏ ngoài gia cố bằng
kim loại (nhóm 40.09).
(b) Ống dễ uốn được chế tạo thành dạng các bộ phận của máy móc hoặc
xe cộ v.v...... ví dụ đã lắp ráp với vật liệu khác (Phần XVI và XVII).
83.08 - Móc cài, khóa móc cài, khóa thắt lưng, cài thắt lưng, khóa có
chốt, mắt cài khóa, khoen và các loại tương tự, bằng kim loại
cơ bản, dùng cho quần áo hoặc phụ kiện quần áo, giày dép,
trang sức, đồng hồ đeo tay, sách, bạt che, đồ da, hàng du lịch
hoặc yên cương hoặc cho các sản phẩm hoàn thiện khác;
đinh tán hình ống hoặc đinh tán có chân xòe, bằng kim loại
cơ bản; hạt trang trí và trang kim, bằng kim loại cơ bản.
8308.10 - Khóa có chốt, mắt cài khóa và khoen
8308.20 - Đinh tán hình ống hoặc đinh tán có chân xòe.
8308.90 - Loại khác, kể cả các bộ phận
Nhóm này bao gồm :
(A) Khóa có chốt, mắt cài khóa và khoen dùng cho quần áo, giày dép,
vải bạt, lều hoặc vải buồm.
(B) Đinh tán hình ống hoặc đinh tán có chân xòe các loại. Chúng
được sử dụng trong quần áo, giày dép, vải bạt, lều, đồ dùng du lịch,
đồ da, thắt lưng v.v; chúng cũng được dùng trong kỹ thuật (ví dụ:
chế tạo máy bay). Nhóm này cũng bao gồm cả các loại đinh rút,
khi sử dụng phần lõi đinh rút được kéo vào hoặc ép vào thân đinh
rút và gãy ở ngay hoặc gần điểm tiếp xúc của mũ đinh và đầu đinh
bị chôn.
(C) Móc cài, khoá cài, quai có móc cài dùng cho túi xách, ví tiền, cặp
tài liệu, cặp hộp hoặc các đồ dùng du lịch khác, hoặc cho sách hoặc
đồng hồ đeo tay; nhưng nhóm này loại trừ ổ khoá (kể cả ổ khoá cài)
và quai có móc cài đã lắp khoá ổ (nhóm 83.01).
(D) Khoá thắt lưng (có kim gài hoặc không) và móc cài khóa thắt
lưng, có hay không được trang trí, dùng cho quần áo, dây thắt lưng,
dây đeo quần, găng tay, giày dép, ghệt, đồng hồ đeo tay, túi dết, đồ
dùng cho du lịch và hàng hoá bằng da.
(E) Chuỗi hạt kim loại và đồ trang kim còn được sử dụng làm đồ
trang sức mỹ kim hoặc để trang trí vải vóc, đồ thêu, quần áo v.v...
Chúng thường được làm bằng đồng, đồng hợp kim hoặc nhôm
(thường được mạ vàng hoặc bạc) và được thiết kế thích hợp để gắn
vào vị trí cố định bằng keo hoặc khâu chỉ v.v Các chuỗi hạt thường
có hạt hình cầu hoặc trụ rỗng, đôi khi được vát cạnh; đồ trang kim
thuờng ở dạng hình học (tròn, lục giác v.v....) được cắt từ lá kim
loại và thường tạo lỗ để xâu.
Các hàng hoá nêu ở phần (A), (C), (D) trên đây có thể có các bộ phận
bằng da, vải, nhựa, gỗ, sừng, nhựa ebonit, xà cừ, ngà, đá quý giả v.v...
miễn là hàng hoá đó vẫn giữ nguyên tính chất cần thiết của mặt hàng
bằng kim loại cơ bản. Các mặt hàng này còn được trang trí bằng cách
chế tác kim loại.
Nhóm này cũng loại trừ:
(a) Đồ trang trí, trừ khoá thắt lưng, dùng cho mũ, túi xách, giày, dây
lưng v.v... (nhóm 71.17).
(b) Vảy kim loại (đặc biệt thuộc Chương 74 đến 76).
(c) Đinh tán, trừ đinh tán hình ống hoặc đinh tán có chân xoè; vòng
hãm lò xo (thường thuộc Chương 73 đến 76).
(d) Khuy tán bấm và nút bấm (nhóm 96.06).
(e) Khoá kéo và các bộ phận của chúng (nhóm 96.07).
83.09 - Nút chai lọ, nút bịt và nắp đậy (kể cả nắp hình vương miện,
nút xoáy và nút một chiều), bao thiếc bịt nút chai, nút thùng có ren,
tấm đậy lỗ thoát của thùng, dụng cụ niêm phong và bộ phận đóng
gói khác, bằng kim loại cơ bản.
8309.10 - Nắp hình vương miện
8309.20 - Loại khác
Nhóm này bao gồm một tập hợp các sản phẩm bằng kim loại cơ bản
(thường có vòng đệm hoặc bộ phận ghép nối khác bằng nhựa, cao su,
lie,...) dùng để đóng nút chai lọ và bọc miệng thùng phuy, thùng tônô,
chai lọ … hay để làm kín các hòm, thùng hoặc các loại bao bì khác.
Những sản phẩm này gồm :
(1) Nút chai lọ, nút bịt và nắp đậy, ví dụ: nút hình vương miện, nút bịt
hình vương miện, niêm phong hình vương miện; mũ và nắp chụp
của đinh ốc, ghim, đòn bẩy, lò xo…, loại dùng để đóng nút chai bia,
chai nước khoáng, lọ bảo quản, tuýp chứa hay các đồ chứa tương tự.
Nhóm này không bao gồm những nút cơ học phần lớn làm bằng
nhựa, sứ…
(2) Nút ren ở các thùng kim loại.
(3) Nút để rót, nút định lượng, nút nhỏ giọt dùng cho chai rượu, dầu,
dược phẩm...
(4) Miếng bọc miệng cho chai sữa..., miếng bọc nút chai làm bằng lá
chì hoặc thiếc và để bọc trùm nút chai, dùng cho chai Champagne
hoặc chai rượu.
(5) Tấm bao nút thùng, ở dạng đĩa…, được cắt từ tấm kim loại và đặt
gắn cố định phía trên nút thùng để bảo vệ.
(6) Dây buộc bằng kim loại để buộc chặt nút bần của chai rượu
(7) Băng niêm phong các loại, thường bằng lá chì hoặc thiếc, để đảm
bảo cho các sọt, kiện hàng, tòa nhà, toa tầu xe cộ…, bao gồm cả
nhãn bảo hiểm.
(8) Cái chêm bảo vệ góc của hòm.
(9) Khóa cài để đóng kín túi, xắc, hay các đồ chứa tương tự, bao gồm
một hoặc hai sợi dây thép lồng giữa hai dải nhựa hoặc hai dải giấy.
(10) Nắp đậy có nắp được vạch sẵn và vòng kéo làm bằng kim loại cơ
bản, thường dùng cho lon đồ uống và đồ hộp.
83.10 - Biển chỉ dẫn, ghi tên, ghi địa chỉ và các loại biển báo tương
tự, chữ số, chữ và các loại biểu tượng khác, bằng kim loại cơ bản,
trừ các loại thuộc nhóm 94.05.
Trừ các biển báo, biển tên được chiếu sáng và các loại tương tự được
lắp một nguồn chiếu sáng cố định, cũng như các bộ phận của nó chưa
được chi tiết hoặc bao gồm ở nhóm khác (nhóm 94.05), nhóm này bao
gồm các bảng bằng kim loại cơ bản có các từ, chữ cái, con số hay hình
vẽ (bằng cách tráng men, phủ vecni, in, khắc, đục lỗ, in dấu, đúc, rập
nổi, tạo hình hoặc bất cứ quá trình gia công khác) mang lại tất cả các
thông tin cần thiết của một bản chỉ dẫn, biển tên, biển quảng cáo, biển
địa chỉ hoặc các biển tương tự. Đặc điểm của các tấm biển này là thường
được thiết kế để cố định lâu dài (ví dụ: biển chỉ đường, biển quảng cáo,
biển hiệu máy móc) hoặc được sử dụng nhiều lần (ví dụ: các loại thẻ và
tấm ghi số đồ gửi trông giữ).
Một số biển này có thể được thiết kế để gài các thông tin chi tiết vào sau
để bổ sung cho thông tin có sẵn trên biển (ví dụ: gài thêm số seri riêng
trên một biển chỉ dẫn các đặc điểm chính của một chiếc máy). Tuy
nhiên, nhóm này không bao gồm các biển, “nhãn”, thẻ và các loại khác
tương tự với nội dung được in..., mà chỉ đơn thuần phụ trợ cho thông tin
cần thiết được bổ sung sau vào biển ban đầu hoặc bằng cách khác.
Nhóm này bao gồm:
(1) Biển tên địa phương, đường…; biển tên hoặc biển số cho các nhà
cao tầng, mộ chí…; biển chỉ dẫn cho dịch vụ công (cảnh sát, cứu
hoả…), biển cấm (“Cấm hút thuốc”, “Cấm săn bắn”…); cột tín hiệu
hoặc biển chỉ dẫn giao thông v.v.
(2) Ký hiệu tượng trưng của quán trọ, cửa hiệu, nhà máy.
(3) Biển quảng cáo.
(4) Bảng số dùng cho nhà, cửa ra vào, hộp thư, xe cộ, vòng đeo cổ cho
chó…; thẻ chú thích cho cây cối trong vườn; thẻ chìa khóa, thẻ và
giấy ghi số đồ gửi trông giữ.
(5) Biển, biểu tượng tương tự dùng cho máy móc, đồng hồ đo, xe ô tô
(ví dụ: biển số)…
Nhóm này cũng bao gồm cả các con số, chữ cái và các họa tiết riêng biệt
(hoặc bộ của chúng) để tạo thành biển báo như nêu ở phần trên, được
dùng để trang trí cửa sổ cửa hàng, bảng chỉ dẫn giờ tàu hỏa…
Tuy nhiên, các khuôn tô sẽ được phân loại theo kim loại cấu thành.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Những biển không có chữ, số hay hình vẽ, hoặc chỉ ngẫu nhiên có
thông tin cần thiết được bổ sung vào sau (ví dụ: nhóm 73.25, 73.26,
(b) Các chữ in của máy in (nhóm 84.42); chữ in của máy đánh chữ và
bản dùng cho máy in địa chỉ (nhóm 84.73).
(c) Các biển báo, tấm, và cột tín hiệu để chỉ đường giao thông thuộc
nhóm 86.08.
83.11 - Dây, que, ống, tấm, điện cực và các sản phẩm tương tự,
bằng kim loại cơ bản hoặc carbua kim loại, được bọc, phủ hoặc có
lõi bằng chất trợ dung, loại dùng để hàn xì, hàn hơi, hàn điện hoặc
bằng cách ngưng tụ kim loại hoặc carbua kim loại; dây và que, từ
bột kim loại cơ bản được kết tụ, sử dụng trong phun kim loại.
8311.10 - Điện cực bằng kim loại cơ bản, đã được phủ chất trợ
dung, để hàn hồ quang điện
8311.20 - Dây hàn bằng kim loại cơ bản, có lõi là chất trợ dung,
dùng để hàn hồ quang điện
8311.30 - Que hàn được phủ, bọc và dây hàn có lõi, bằng kim
loại cơ bản, dùng để hàn chảy, hàn hơi hoặc hàn bằng
ngọn lửa
8311.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại dây, que, ống, tấm, điện cực và các sản
phẩm tương tự, bằng kim loại cơ bản hoặc cacbua kim loại, để sử dụng
trong hàn xì, hàn hơi, hàn điện hoặc ngưng tụ kim loại hoặc carbide kim
loại, với điều kiện chúng được bọc, phủ hoặc có lõi bằng chất trợ dung.
Trong trường hợp có lõi bằng chất trợ dung, phần vỏ ngoài thường là
ống hoặc đôi khi là dạng dải được quấn hình xoắn ốc. Các dây, que, ống,
tấm, điện cực… bằng kim loại thường không được bọc hoặc không có
lõi bằng chất trợ dung bị loại trừ (Chương 72 đến 76 và 78 đến 81).
Các vật liệu dùng để bọc hoặc làm lõi là chất trợ dung (ví dụ: clorua
kẽm, clorua amoni, borac, thạch anh, nhựa hoặc mỡ lông cừu) để tránh
phải thêm những chất này kèm khi hàn hơi, hàn xì, hàn điện. Điện cực
cũng có thể kim loại phụ gia ở dạng bột. Trong hàn điện, lớp phủ ngoài
có thể còn chứa một chất liệu chịu nhiệt (amiang…), hướng hồ quang
điện lên phần được hàn.
Để hàn hồ quang điện người ta sử dụng điện cực hàn được phủ hoặc dây
được có lõi. Que hàn điện trước đây gồm có một lõi bằng kim loại và
một lớp phủ ngoài phi kim loại, lớp bao này có thể có độ dày và các
thành phần khác nhau. Dây có lõi là các vật rỗng được nhồi vật liệu
giống như vật liệu dùng để bọc điện cực hàn. Dây này có thể ở dạng
vòng cuộn hoặc cuộn có lõi cuốn.
Các tấm hàn kim loại đã được gia công được đặt vào giữa các phần được
ghép nối (thường là sắt hoặc thép). Chúng gồm một dải, lưới hay vỉ kim
loại được phủ chất trợ dung; chúng có thể được tạo hình đặc biệt để sử
dụng hoặc làm thành dạng dải để cắt theo yêu cầu.
Ngoài ra, nhóm này còn bao gồm dây và que sản xuất bằng phương pháp
ép đùn từ bột kim loại thường cơ bản (thông thường là nickel) được kết
tụ với chất độn dựa trên chất dẻo và được dùng để phun kim loại lên các
chất liệu khác nhau (ví dụ như kim loại hay xi măng).
Nhóm này không bao gồm dây và que có chất hàn làm lõi không phải
chất trợ dung, chất hàn là hợp kim có chứa bất kỳ một kim loại quý nào
có hàm lượng từ 2% trở lên (Chương 71).
Phần XVII
XE CỘ, PHƯƠNG TIỆN BAY, TÀU THUYỀN VÀ CÁC THIẾT BỊ
VẬN TẢI LIÊN HỢP
Chú giải.
1.- Phần này không bao gồm các mặt hàng thuộc các nhóm 95.03 hoặc
95.08, hoặc xe trượt băng, xe trượt tuyết hoặc loại tương tự thuộc
nhóm 95.06.
2.- Khái niệm "bộ phận" và "bộ phận và phụ kiện" không áp dụng cho
các sản phẩm sau đây, dù chúng có hoặc không được nhận biết như
những bộ phận dùng cho hàng hoá thuộc Phần này:
(a) Tấm đệm, vòng đệm hoặc loại tương tự bằng vật liệu bất kỳ
(được phân loại theo vật liệu cấu thành hoặc được xếp vào
nhóm 84.84) hoặc các sản phẩm khác bằng cao su lưu hoá trừ
cao su cứng (nhóm 40.16);
(b) Các bộ phận có công dụng chung, như đã định nghĩa tại Chú
giải 2 Phần XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV), hoặc các
hàng hóa tương tự bằng plastic (Chương 39);
(c) Các mặt hàng thuộc Chương 82 (dụng cụ các loại);
(d) Các mặt hàng thuộc nhóm 83.06;
(e) Máy móc hoặc thiết bị thuộc nhóm 84.01 đến 84.79, hoặc các bộ
phận của chúng, trừ các bộ tản nhiệt dùng cho các mặt hàng
thuộc Phần này; các mặt hàng thuộc nhóm 84.81 hoặc 84.82
hoặc, các mặt hàng thuộc nhóm 84.83 với điều kiện là chúng
cấu thành các bộ phận bên trong của động cơ hoặc mô tơ;
(f) Máy điện hoặc thiết bị điện (Chương 85);
(g) Các mặt hàng thuộc Chương 90;
(h) Các mặt hàng thuộc Chương 91;
(ij) Vũ khí (Chương 93);
(k) Đèn (luminaires) và bộ đèn và các bộ phận của chúng thuộc
nhóm 94.05; hoặc
(l) Bàn chải các loại được sử dụng như là bộ phận của các phương
tiện (nhóm 96.03).
3.- Khi đề cập đến các Chương từ 86 đến Chương 88 khái niệm “bộ
phận” hoặc "phụ kiện" không áp dụng cho loại bộ phận hoặc phụ
kiện không phù hợp để chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với các mặt
hàng thuộc các Chương này. Một loại bộ phận hoặc phụ kiện đáp
ứng mô tả trong hai hoặc nhiều nhóm thuộc các Chương này phải
phân loại vào nhóm tương ứng với công dụng chủ yếu của loại bộ
phận hoặc phụ kiện ấy.
4.- Theo mục đích của Phần này:
(a) Các phương tiện được thiết kế đặc biệt để chạy cả trên đường bộ và
đường ray được phân loại vào nhóm thích hợp của Chương 87;
(b) Xe lội nước có động cơ được phân loại vào nhóm thích hợp của
Chương 87;
(c) Phương tiện bay được thiết kế đặc biệt để cũng có thể sử dụng
như loại phương tiện đường bộ được phân loại vào nhóm thích
hợp của Chương 88.
5. Các phương tiện chạy trên đệm không khí được phân loại trong Phần
này cùng với các phương tiện giống chúng nhất cụ thể như sau:
(a) Xếp vào Chương 86 nếu chúng được thiết kế để chạy trên đường
ray dẫn (tàu hoả chạy trên đệm không khí);
(b) Xếp vào Chương 87 nếu chúng được thiết kế để chạy trên đất
hoặc trên cả đất và nước;
(c) Xếp vào Chương 89 nếu chúng được thiết kế để chạy trên nước,
có hoặc không có khả năng đỗ xuống bờ hoặc bến tàu hoặc
cũng có thể chạy trên băng.
Bộ phận và phụ kiện của các phương tiện chạy trên đệm không khí
được phân loại theo cách phân loại các phương tiện chạy trên đệm
không khí đã quy định trên đây.
Các bộ phận cố định và khớp nối của đường ray tàu chạy trên đệm
không khí được phân loại như các bộ phận cố định và ghép nối của
đường ray đường sắt, và thiết bị tín hiệu, an toàn hoặc điều khiển
giao thông dùng cho hệ thống vận tải trên đệm không khí, được
phân loại như thiết bị tín hiệu, an toàn hoặc điều khiển giao thông
của đường sắt.
TỔNG QUÁT
(I) NỘI DUNG TỔNG QUÁT CỦA PHẦN NÀY
Phần này bao gồm tất các phương tiện chạy trên đường ray và tàu
chạy trên đệm không khí (chương 86), các phương tiện chạy trên
mặt đất khác, kể cả các phương tiện chạy trên đệm khí (chương 87),
phương tiện bay và tàu vũ trụ (chương 88) và tàu biển, xuồng, tàu
chạy nhờ đệm khí và cấu trúc nổi (chương 89), trừ những trường
hợp sau:
(a) Một số loại máy di động (xem Phần (II) dưới đây).
(b) Các mẫu dùng để trưng bày thuộc nhóm 90.23.
(c) Các đồ chơi, một số thiết bị thể thao mùa đông, và các phương
tiện được thiết kế đặc biệt cho trò chơi di chuyển trong công
viên giải trí (amusement park rides) và trò chơi công viên nước
(water park amusements); trò chơi hội chợ (fairground
amusements). Phần này không bao gồm, ví dụ, các xe đạp đồ
chơi (trừ xe đạp thường), xe ô tô đạp, vv… được thiết kế để trẻ
em sử dụng, các xuồng đồ chơi và phương tiện bay đồ chơi
(nhóm 95.03); xe trượt tuyết, xe trượt bằng và loại tương tự
(nhóm 95.06); trò chơi xe đụng (dodge em car), xe kéo và các
phương tiện khác, kể cả rơ- moóc, được thiết kế đặc biệt cho và
là bộ phận cấu thành của trò chơi hội chợ (ví dụ, xe rơ-moóc
cho trò chơi ném vòng (ring-stand trailers)) (nhóm 95.08).
Hơn nữa, Phần này cũng bao gồm một số loại phương tiện vận tải
như công ten nơ được thiết kế đặc biệt và được trang bị để vận
chuyển theo một hoặc nhiều phương thức, một số thiết bị hoặc dụng
cụ đường ray đường sắt hoặc ray xe điện, và các máy (kể cả điện cơ)
thiết bị tín hiệu (Chương 86) và dù các loại, thiết bị phóng tàu vũ
trụ, bàn phanh hoặc thiết bị tuơng tự và các thiết bị huấn luyện bay
(Chương 88).
Theo các quy định của phần (III) dưới đây, Phần này cũng bao gồm
các bộ phận và phụ kiện của các xe cộ, phương tiện bay, vv… của
các Chương từ 86 đến 88.
(II) CÁC LOẠI MÁY TỰ HÀNH HOẶC MÁY DI ĐỘNG KHÁC
Một số loại máy hoặc thiết bị (đặc biệt là loại thuộc phần XVI) có
thể được lắp lên khung gầm các phương tiện hoặc trên các đế nổi
(floating base) của phần XVII; việc phân loại máy di động có được
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, đặc biệt là loại đế.
Ví dụ, tất cả các loại máy di động, được tạo thành bởi việc lắp một
máy lên trên một đế nổi được phân loại trong Chương 89 (ví dụ, cần
cẩu nổi, máy nạo vét lòng sông, máy hút hạt ngũ cốc, vv…). Để
phân loại các máy di động được tạo thành bởi việc lắp thiết bị trên
một khung xe cộ thuộc chương 86 hoặc 87, xem Chú giải chi tiết
của nhóm 86.04, 87.01, 87.09 hoặc 87.16.
(III) CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ TÙNG
Cần chú ý là Chương 89 không quy định cho các bộ phận (trừ thân
tàu) hoặc các phụ kiện của tàu biển, thuyền hoặc các cấu trúc nổi.
Những bộ phận và phụ kiện như vậy, ngay cả khi có được nhận
dạng là dùng cho các tàu biển, vv… được phân loại vào các nhóm
tương ứng của chúng tại các chương khác. Các chương khác thuộc
phần này quy định việc phân loại các bộ phận và phụ kiện của các
xe cộ, phương tiện bay hoặc thiết bị liên quan.
Tuy nhiên, cần chú ý là những nhóm này chỉ áp dụng cho những bộ
phận và phụ kiện thỏa mãn với cả ba điều kiện sau:
(a) Chúng không được loại trừ theo quy định của Chú giải 2 của
Phần này (xem đoạn (A) dưới đây).
và (b) Chúng phải phù hợp để sử dụng duy nhất hoặc chủ yếu cho các
sản phẩm thuộc các chương từ 86 đến 88 (xem đoạn (B) dưới
đây).
và (c) Chúng không được nêu cụ thể hơn ở bất kỳ nơi khác nào trong
Danh mục (xem đoạn (C) dưới đây).
(A) Các bộ phận và phụ kiện bị loại trừ
theo Chú giải 2 của Phần XVII
Chú giải này loại trừ các bộ phận và phụ kiện sau, dù cho chúng có
hoặc không được xác định là hàng hóa của Phần này:
(1) Khớp nối, miếng đệm, vòng đệm hoặc loại tương tự, bằng vật
liệu bất kỳ (được phân loại theo vật liệu cấu thành hoặc được
xếp vào nhóm 84.84) và các sản phẩm khác bằng cao su lưu
hoá trừ cao su cứng (ví dụ, vành chắn bùn và cái bọc bàn đạp)
(nhóm 40.16);
(2) Các bộ phận có công dụng chung như đã được định nghĩa tại
Chú giải 2 của phần XV, ví dụ, dây cáp và xích (đã hoặc chưa
được cắt theo chiều dài nhất định hoặc được gắn với các thiết bị
đầu cuối, trừ cáp phanh, cáp kéo hoặc các loại tương tự phù hợp
cho việc sử dụng trong phương tiện có động cơ của Chương
87), đinh, chốt, chi tiết, vòng đệm, then và chốt định vị, lò xo
(kể cả lò xo lá của các xe cộ) (các sản phẩm như thế bằng kim
loại cơ bản được xếp trong các Chương từ 73 đến 76 và 78
đến 81, và các sản phẩm tương tự bằng nhựa được xếp vào
Chương 39), và khoá, thiết bị hoặc khung của thùng xe (ví dụ
được các trang trí thành xe, bản lề, tay cầm mở cửa, tay phanh,
chỗ để chân, có chế mở cửa sổ), biển số, biển quốc tịch, vv…
(những hàng hoá như thế làm bằng kim loại cơ bản được xếp
trong Chương 83, và các hàng hoá tương tự bằng nhựa được
xếp vào Chương 39).
(3) Chìa vặn đai ốc, cờ lê và các dụng cụ khác thuộc chương 82.
(4) Chuông (ví dụ, dùng cho xe đạp) và các sản phẩm khác
thuộc nhóm 83.06.
(5) Các máy và dụng cụ cơ khí, và các bộ phận của chúng, thuộc
các nhóm 84.01 đến 84.79, ví dụ:
(a) Nồi hơi và trang thiết bị nồi hơi (nhóm 84.02 hoặc 84.04).
(b) Máy sản xuất chất khí (ví dụ, dùng cho xe ô tô) (nhóm
(c) Tua bin hơi nước thuộc nhóm 84.06
(d) Động cơ các loại kể cả động cơ có gắn hộp số và các bộ
phận của chúng, được xếp trong các nhóm từ 84.07 đến
(e) Bơm, máy nén và quạt (nhóm84.13 hoặc 84.14).
(f) Các máy điều hoà không khí (nhóm 84.15).
(g) Các dụng cụ cơ khí để phun, phun rải hoặc phun áp lực các
chất lỏng hoặc bột; bình cứu hoả (nhóm 84.24).
(h) Các máy nâng, chuyển hàng, xếp hoặc dỡ hàng, (ví dụ, tời
nâng, kích, cần cẩu), các máy dùng để di chuyển, phân loại,
san ủi, cạp đất, xúc, đầm đất, nén, tách hoặc máy khoan đào,
cho đất, khoáng sản hoặc quặng (nhóm 84.25, 84.26, 84.28,
84.30 hoặc 84.31).
(ij) Các máy nông nghiệp của nhóm 84.32 hoặc 84.33 (ví dụ
máy đập lúa, gieo hạt, chuyển hạt, vv…và phụ kiện kèm
theo) được thiết kế để lắp trên xe cộ.
(k) Máy thuộc loại đã được mô tả trong nhóm 84.74.
(l) Cơ cấu lau kính chắn gió xe ô tô thuộc nhóm 84.79.
(6) Một số sản phẩm khác thuộc chương 84, ví dụ:
(a) Vòi, vòi nuớc, van và các thiết bị tương tự (ví dụ, vòi hút tản
nhiệt, van săm) (nhóm 84.81).
(b) Ổ bi hoặc ổ đũa (nhóm 84.82).
(c) Các bộ phận bên trong của động cơ hoặc máy (trục khủyu,
trục cam, bánh lái, vv…) được xếp trong nhóm 84.83.
(7) Các máy hoặc thiết bị điện thuộc chương 85, ví dụ:
(a) Động cơ điện, máy phát điện, máy biến biến thế, vv… thuộc
nhóm 85.01 hoặc 85.04.
(b) Nam châm điện, ly hợp điện từ, phanh điện từ, vv… thuộc
nhóm 85.05.
(c) Ắc quy điện (nhóm 85.07).
(d) Thiết bị đánh lửa hoặc khởi động bằng điện loại được dùng cho
các động cơ đốt trong đốt cháy bằng tia lửa điện hoặc bằng sức
nén (bu gi, động cơ khởi động, vv...) (nhóm 85.11).
(e) Thiết bị chiếu sáng , phát tín hiệu, gạt nước, chống tạo
sương và tuyết họat động bằng điện dùng cho xe đạp hoặc
các phương tiện có động cơ (nhóm 85.12); thiết bị báo tín
hiệu họat động bằng điện dùng cho các xe cộ khác (ví dụ
dùng cho tàu hoả) hoặc cho phương tiện bay hoặc tàu biển
(nhóm 85.31); các thiết bị chống tạo sương hay tuyết họat
động bằng điện cho những phương tiện khác, phương tiện
bay hay tàu biển (nhóm 85.43).
(f) Thiết bị làm nóng bằng điện dùng cho ô tô hoặc tàu hỏa,
phương tiện bay,... (nhóm 85.16).
(g) Micro, loa, và các thiết bị điện khuếch đại âm tần (nhóm
(h) Bộ thu và phát sóng vô tuyến (nhóm 85.25 hoặc 85.27).
(ij) Tụ điện (nhóm 85.32).
(k) Thiết bị truyền tải điện và các thiết bị góp điện khác dùng
cho các xe kéo điện, cầu trì, công tắc và các thiết bị điện
khác thuộc nhóm 85.35 hoặc 85.36.
(l) Đèn điện dây tóc và các đèn phóng điện, kể cả đèn pha gắn
kín, thuộc nhóm 85.39.
(m) Các thiết bị điện khác, như dây và cáp cách điện (kể cả các
bộ dây dẫn điện) và các sản phẩm điện bằng than chì hoặc
các bon, đã hoặc chưa gắn với các đầu nối; cách điện, thiết bị
cách điện (các nhóm từ 85.44 đến 85.48).
(8) Các dụng cụ và thiết bị thuộc Chương 90, kể cả các loại được
sử dụng trên một số phương tiện như:
(a) Máy ảnh hoặc máy quay phim (nhóm 90.06 hoặc 90.07).
(b) Thiết bị và dụng cụ dẫn đường (nhóm 90.14).
(c) Thiết bị và dụng cụ được sử dụng trong các ngành y tế, phẫu
thuật, nha khoa hoặc thú y (nhóm 90.18).
(d) Các thiết bị sử dụng tia X và các thiết bị khác thuộc nhóm
(e) Cáp kế (nhóm 90.26).
(f) Máy đếm vòng quay, đồng hồ tính tiền gắn trên xe tắc-xi,
đồng hồ chỉ thị tốc độ và máy đo tốc độ góc và các dụng cụ,
thiết bị khác thuộc nhóm 90.29.
(g) Dụng cụ đo lường hoặc kiểm tra, dụng cụ và máy thuộc
nhóm 90.31.
(9) Đồng hồ (ví dụ, các bảng đồng hồ) (Chương 91).
(10) Vũ khí (Chương 93)
(11) Đèn (Luminaires) và bộ đèn (ví dụ, đèn pha dùng cho
phương tiện bay hoặc xe lửa) của nhóm 94.05.
(12) Chổi (ví dụ, chổi lắp trên xe quét đường) (nhóm 96.03).
(B) Tiêu chí chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng.
(1) Các bộ phận và phụ kiện có thể phân loại vào cả Phần XVII
và Phần khác.
Theo Chú giải 3 của Phần, các bộ phận và phụ kiện không phù
hợp để chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với các mặt hàng thuộc
Chương 86 đến 88 bị loại trừ khỏi các Chương đó.
Do đó, Chú giải 3 có hiệu lực khi một bộ phận hoặc phụ kiện có
thể phân loại vào một hoặc nhiều Phần khác cũng như vào Phần
XVII, việc phân loại cuối cùng được quyết định bởi mục đích
sử dụng chính của mặt hàng. Theo đó, cơ cấu lái, hệ thống
phanh, bánh xe, chắn bùn, v.v., được dùng trên nhiều loại máy
di động thuộc Chương 84, gần như giống hệt với loại dùng trên
xe tải thuộc Chương 87, và do mục đích sử dụng chính của các
bộ phận và phụ kiện đó là với các xe tải nên chúng được phân
loại ở Phần này.
(2) Các bộ phận và phụ kiện có thể phân loại vào hai hoặc nhiều
nhóm của Phần này.
Một số bộ phận và phụ kiện phù hợp sử dụng cho nhiều hơn một
loại phương tiện (ô tô, phương tiện bay, xe mô tô, v.v); ví dụ về
các mặt hàng như vậy gồm phanh, hệ thống lái, bánh xe, trục xe,
v.v. Các bộ phận và phụ kiện như vậy được phân loại và nhóm
liên quan đến bộ phận và phụ kiện của phương tiện mà chúng
được chủ yếu dùng cùng.
(C) Các bộ phận và phụ kiện được mô tả cụ thể hơn tại nơi khác
trong Danh mục.
Các bộ phận và phụ kiện, ngay cả khi xác định được sử dụng cho
hàng hóa thuộc Phần này vẫn bị loại trừ nếu chúng được mô tả cụ
thể hơn bởi một nhóm thuộc Phần khác trong Danh mục, ví dụ:
(1) Dạng hình của cao su lưu hóa trừ cao su cứng, đã hoặc chưa cắt
thành từng đoạn (nhóm 40.08).
(2) Băng truyền bằng cao su lưu hóa (nhóm 40.10).
(3) Lốp, hoa lốp, lót vành và săm thay thế được, bằng cao su
(nhóm 40.11 đến 40.13).
(4) Túi đựng dụng cụ bằng da thuộc hoặc da thuộc tổng hợp, bằng
sợi lưu hóa, v.v. (nhóm 42.02).
(5) Lưới xe đạp hay khí cầu (nhóm 56.08).
(6) Thừng kéo (nhóm 56.09).
(7) Thảm dệt (Chương 57).
(8) Kính an toàn chưa có khung bao gồm kính tôi hoặc kính dán
nhiều lớp, đã hoặc chưa được định hình (nhóm 70.07).
(9) Gương chiếu hậu (nhóm 70.09 hoặc Chương 90 – xem chú giải
chi tiết tương ứng).
(10) Kính chưa có khung cho đèn pha của phương tiện
(nhóm 70.14) và hàng hóa của Chương 70 nói chung.
(11) Trục mềm cho chỉ báo tốc độ, máy đếm vòng quay, v.v.
(nhóm 84.83).
(12) Ghế ngồi của phương tiện thuộc nhóm 94.01.
Chương 86
Đầu máy, các phương tiện di chuyển trên đường sắt hoặc đường tàu
điện và các bộ phận của chúng; các bộ phận cố định và ghép nối
đường ray đường sắt hoặc tàu điện và bộ phận của chúng; thiết bị
tín hiệu giao thông bằng cơ khí (kể cả cơ điện) các loại
Chú giải.
1. Chương này không bao gồm:
(a) Tà vẹt đường ray đường sắt hoặc tàu điện bằng gỗ hoặc bằng bê
tông, hoặc đường ray dẫn bằng bê tông của tàu chạy trên đệm
không khí (nhóm 44.06 hoặc 68.10);
(b) Vật liệu xây dựng đường ray đường sắt hoặc tàu điện bằng sắt
hoặc thép thuộc nhóm 73.02; hoặc
(c) Thiết bị tín hiệu, an toàn hoặc điều khiển giao thông bằng điện
thuộc nhóm 85.30.
2. Nhóm 86.07, không kể những mặt hàng khác, áp dụng cho:
(a) Trục, bánh xe, bộ trục bánh xe (bánh răng truyền động), đai bánh
xe, mâm bánh và moay ơ và các bộ phận khác của bánh xe;
(b) Khung, bệ xe, giá chuyển hướng và trục bitxen;
(c) Hộp trục ; cơ cấu hãm;
(d) Bộ giảm chấn đầu đấm cho các phương tiện di chuyển trên
đường ray; móc và các bộ phận ghép nối khác và các phần nối ở
hành lang toa xe;
(e) Thân toa.
3. Theo các quy định của Chú giải 1 trên đây, không kể những đề cập
khác, nhóm 86.08 áp dụng cho:
(a) Đường ray đã lắp ghép, bàn quay, thanh đệm chắn va ở bậc thềm
đường sắt, khổ giới hạn vận dụng;
(b) Cột tín hiệu, đĩa tín hiệu cơ, thiết bị điều khiển chỗ chắn tàu,
dụng cụ chỉ đường và đánh tín hiệu, và các thiết bị điều khiển
giao thông, tín hiệu hoặc an toàn bằng cơ học (kể cả cơ điện)
khác, đã hoặc chưa lắp đặt cho hệ thống điện chiếu sáng, cho
đường sắt, đường tàu điện, đường bộ, đường thủy nội địa, bến
đỗ, cảng hoặc sân bay.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm các đầu máy và toa xe, và các bộ phận của
chúng, và một số bộ phận cố định và khớp nối, cho đường sắt hoặc
đường tàu điện các loại (kể cả đường ray có khoảng cách hẹp,
đường sắt một ray...). Chương này cũng bao gồm các công-ten-nơ
được thiết kế và trang bị đặc biệt để vận chuyển bằng một hoặc
nhiều phương thức vận tải. Chương này cũng bao gồm Thiết bị tín
hiệu, an tòan hoặc điều khiển giao thông các lọai bằng cơ (kể cả cơ
điện) (kể cả loại dùng cho việc đỗ xe).
Trong toàn bộ chương này, khái niệm “đường sắt” và “đường tàu
điện” không chỉ đề cập đến đường sắt và tàu điện sử dụng các ray
thép, mà còn gồm các hệ thống đường dẫn hướng như những loại có
sử dụng đệm từ hoặc đường rãnh bê tông.
Những hàng hoá khác nhau này được phân loại như sau:
(A) Phương tiện đường sắt tự hành các lọai, như đầu máy, toa xe
hay toa tàu điện và ô tô chạy trên đường ray đã được gắn động
cơ (nhóm 86.01 đến 86.03). Nhóm 86.02 cũng bao gồm các toa
tiếp liệu đầu máy. Đầu máy vận hành bằng hai loại năng lượng
được phân loại trong nhóm tương ứng với loại sử dụng năng
lượng chính.
(B) Xe bảo dưỡng hay phục vụ dùng trong đường sắt hay đường xe
điện, có hoặc không tự hành (nhóm 86.04).
(C) Các loại xe kéo (toa xe chở khách dùng cho đường sắt hoặc
đường tàu điện và hành lý, xe lửa hoặc xe điện chở hàng, toa
gòong và toa trần, v.v...) (nhóm 86.05 và 86.06).
(D) Bộ phận của đầu máy hoặc của phương tiện di chuyển trên
đường sắt hoặc đường tàu điện (nhóm 86.07) hoặc của thiết bị
di chuyển trên đường sắt, và cũng như bộ phận cố định và ghép
nối của đường ray đường sắt và đường tàu điện, và thiết bị cơ
học (kể cả cơ điện), để phát tín hiệu để hoặc điều khiển giao
thông đường bộ, đường sắt hoặc các phương tiện khác, tàu thủy
hoặc phương tiện bay (nhóm 86.08).
(E) Công-ten-nơ được thiết kế và trang bị đặc biệt để vận chuyển
theo một hoặc nhiều phương thức (nhóm 86.09).
Chương này cũng bao gồm các phương tiện chạy trên đệm không
khí được thiết kế để di chuyển trên đường được dẫn hướng (tàu chạy
trên đệm hơi), bộ phận của các phương tiện trên, và thiết bị cố định,
khớp nối và thiết bị tín hiệu, an tòan hoặc điều khiển bằng cơ (kể cả
cơ điện) để hệ thống vận chuyển tàu chạy trên đệm hơi (xem Chú
giải 5 của Phần XVII).
Các phương tiện chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện được
phân loại cùng nhóm với các phương tiện hoàn chỉnh hoặc hòan
thiện, với điều kiện chúng đã có những đặc điểm chủ yếu của các
phương tiện đó. Các phương tiện như vậy có thể bao gồm:
(1) Các đầu máy hoặc toa xe di chuyển trên đường ray đường sắt
hoặc đường tàu điện có động cơ, chưa được lắp bộ phận cấp
điện, công cụ đo lường, thiết bị an tòan hay thiết bị phục vụ.
(2) Các toa chở khách chưa được lắp ghế ngồi.
(3) Khung gầm của toa xe hoàn chỉnh có hệ thống treo và bánh xe.
Mặt khác, thân của các toa xe di chuyển trên đường ray đường sắt
hoặc đường tàu điện có động cơ, của toa cung ứng, toa goòng hoặc
toa trần hoặc của toa tiếp liệu, chưa được lắp trên khung gầm,
được phân loại như bộ phận của đầu máy hoặc toa xe di chuyển trên
đường ray đường sắt hoặc đường tàu điện (nhóm 86.07)
Chương này loại trừ:
(a) Các mô hình của toa xe đường sắt hoặc đường tàu điện cho mục
đích trưng bày, thuộc nhóm 90.23.
(b) Pháo hạng nặng được lắp trên toa chở hàng (nhóm 93.01).
(c) Xe lửa đồ chơi (nhóm 95.03);
(d) Thiết bị không cấu thành đầu máy, toa xe lửa riêng, được thiết
kế đặc biệt sử dụng cho trò chơi di chuyển trong công viên giải
trí (amusement park rides), trò chơi công viên nước (water park
amusements) hoặc trò chơi hội chợ (nhóm 95.08).
86.01 – Đầu máy di chuyển trên đường ray chạy bằng nguồn điện
bên ngoài hoặc bằng ắc qui điện.
8601.10 – Loại chạy bằng nguồn điện bên ngoài
8601.20 - Loại chạy bằng ắc qui điện
Nhóm này bao gồm tất cả các lọai đầu máy chạy điện trong đó năng
lượng điện cần thiết được cung cấp từ ắc qui đặt trên phương tiện, hoặc
từ các đường dẫn điện bên ngoài có thể là đường ray hoặc đường cáp
điện treo.
86.02 – Đầu máy di chuyển trên đường ray khác; toa tiếp liệu đầu
máy.
8602.10 - Đầu máy diesel truyền động điện
8602.90 - Loại khác
(A) ĐẦU MÁY (xe lửa)
Nhóm này bao gồm tất cả các đầu máy đường sắt trừ loại được cung cấp
nguồn điện từ bên ngoài hoặc từ các ắc quy điện (nhóm 86.01) không
phụ thuộc vào lọai động cơ (động cơ hơi nước, động cơ diesel, tua bin
khí, động cơ xăng, máy khí nén v.v ..).
Loại này bao gồm:
(1) Các đầu máy điêzen của ba loại sau:
(a) Các đầu máy điện – diesel trong đó động cơ diesel cung cấp
năng lượng cho một máy phát điện từ đó nguồn điện sinh ra cung
cấp năng lượng cho các các động cơ kéo các bánh xe.
(b) Các đầu máy thuỷ lực - diesel trong đó năng lượng của động cơ
diesel được truyền đến các bánh xe bởi một hệ thống thuỷ lực.
(c) Các đầu máy cơ - diesel, trong đó năng lượng của động cơ
diesel tác động lên bánh xe thông qua một ly hợp hoặc ngẫu lực
thuỷ lực và một hộp số.
(2) Các đầu máy hơi nước các loại, kể cả các đầu máy có tua bin sử
dụng một động cơ điện để khởi động, các đầu máy có mang két nước
và các đầu máy không có lò lửa, ví dụ, những loại này lắp bồn chứa
hơi thay vì nồi đun tạo hơi mà bồn hơi này được nạp hơi từ một thiết
bị công nghiệp.
Nhóm này bao gồm một số đầu máy xe lửa có công suất vừa phải không
có giá chuyển hướng và thường được gắn chỉ với hai trục dẫn động.
Chúng chủ yếu được sử dụng ở các ga tàu hoả để di chuyển các toa xe
goòng và các phương tiện công nghiệp được nối với đường sắt.
B) TOA TIẾP LIỆU
Toa tiếp liệu là phương tiện, được móc vào các đầu máy hơi nuớc,
chúng chở nước và nhiên liệu cần thiết cho hoạt động của nồi hơi. Chúng
bao gồm chủ yếu một khung được chở trên hai hoặc nhiều trục và một
siêu cấu trúc kim loại bao gồm một chiếc bể đựng nước kín và một hầm
chứa than đá hoặc bể chứa dầu FO.
Các xe kéo được chế tạo để có thể vừa di chuyển trên đường ray và cả
trên đường bộ được loại trừ khỏi nhóm này (nhóm 87.01).
86.03 – Toa xe khách, toa xe hàng và toa xe hành lý, loại tự hành
dùng trên đường sắt hoặc đường tàu điện, trừ loại thuộc
nhóm 86.04
8603.01 - Loại chạy bằng nguồn điện bên ngoài
8603.90 - Loại khác
Toa xe khách tự hành của đường sắt hoặc đường tàu điện, toa xe hàng và
toa xe hành lý, khác với các đầu máy xe lửa, ngoài việc được trang bị
một bộ phận sinh công, chúng cũng được thiết kế để chuyên chở hành
khách hoặc hàng hoá. Các phương tiện này có thể được thiết kế để di
chuyển đơn lẻ, hoặc được ghép với một hay nhiều phương tiện cùng loại,
hoặc ghép với một hoặc nhiều toa moóc.
Đặc điểm chủ yếu của xe này là chúng được gắn với khoang điều khiển
có thể là ở một hoặc cả hai đầu, hoặc ở một vị trí cao (tháp điều khiển) ở
giữa khoang.
Các toa xe khách, toa xe hàng và toa xe hành lý loại tự hành bao gồm:
(A) Các xe chở khách tự hành chạy điện mà trong xe này nguồn điện
được cung cấp từ một nguồn bên ngoài cố định, ví dụ, thông qua
một máy truyền tải điện hoặc cần lấy điện trong trường hợp đường
dây điện ở trên không, hoặc thông qua các vành góp điện lắp trên
giá chuyển hướng trong trường hợp có đường ray thứ ba.
Các toa tàu điện. Loại này đôi khi sử dụng hai ray dẫn được đặt
trong khe ray và việc tiếp điện nhờ một thiết bị đặc biệt được biết
đến dưới tên gọi là “cần tiếp điện”.
(B) Các ô tô ray, ví dụ, là những phương tiện tự hành, di chuyển bằng
chính nguồn năng lượng của nó và được trang bị một động cơ diesel
hoặc một động cơ đốt trong...
Một số ô tô ray được lắp bánh xe đặc hoặc bánh hơi và một số khác
là lọai ray răng.
(C) Phương tiện tự hành hoạt động bằng pin lưu trữ
Nhóm này cũng bao gồm các phương tiện đường sắt hồi chuyển điện.
Nguyên tắc của hệ thống này dựa vào sự tích tụ động năng trong một
bánh đà quay tốc độ cao. Năng lượng này, thông qua một máy phát điện,
cung cấp dòng điện cho động cơ kéo. Phạm vi sử dụng của hệ thống này
phần nào bị hạn chế, nhưng nó có thể được áp dụng cho các ô tô ray nhẹ
hoặc tàu điện.
Cần ghi nhớ rằng nhóm này loại trừ các xe buýt đường bộ được chuyển
đổi thành ô tô ray đơn giản bằng cách thay đổi bánh xe và khóa hệ thống
lái, động cơ còn lại không thay đổi (nhóm 87.02).
86.04 - Xe bảo dưỡng hoặc phục vụ dùng trong đường sắt hoặc
đường tàu điện, loại tự hành hoặc không (ví dụ, toa xưởng, xe
gắn cần cẩu, máy chèn đường, máy đặt ray, toa xe thử
nghiệm (1) và xe kiểm tra đường ray)
Các phương tiện thuộc nhóm này, tự hành hay không tự hành, được thiết
kế chủ yếu theo mục đích sử dụng, ví dụ, trong việc lắp đặt đường sắt,
phục vụ và bảo dưỡng các nền và cấu trúc nằm dọc theo đường ray.
Nhóm này bao gồm:
(1) Loại xe sửa chữa (workshop van) có trang bị dụng cụ, máy công cụ,
máy phát điện, máy nâng (kích, palăng,...), các thiết bị hàn, dây
xích, cáp ....
(2) Cần cẩu cứu hộ và các loại cần cẩu khác; đầu máy hoặc cần cẩu nâng
toa; cần cẩu để nâng hoặc đặt đường ray; cần cẩu để xếp hoặc dỡ
hàng hoá tại các nhà ga.
(3) Xe có tời kéo.
(4) Xe được gắn thiết bị đặc biệt để dọn hoặc chèn đá đường ray.
(5) Xe được gắn máy trộn bê tông sử dụng trên đường ray (đối với móng
của cột treo cáp điện).
(6) Xe để kiểm định độ chịu tải của cầu .
(7) Các xe có giàn giáo để lắp đặt và bảo dưỡng đường cáp điện.
(8) Các xe phun diệt cỏ dại.
(9) Các phương tiện tự hành dùng cho việc bảo dưỡng đường ray (ví dụ
xe nắn đường ray, được trang bị một hay nhiều động cơ mà các
phương tiện này không chỉ bảo đảm sự vận hành của máy lắp trên
đó (thiết bị chỉnh đường ray, lót đá đường ray...) và đẩy các phương
tiện trong khi công việc đang diễn ra, mà còn làm cho xe di chuyển
một cách nhanh chóng trên đường ray, như loại tự hành, khi máy
công cụ không hoạt động
(10) Các xe thử nghiệm đường ray có gắn thiết bị đặc biệt như dụng cụ
tự động kiểm tra sự vận hành của động cơ, phanh…(ví dụ, để đo
lường tải trọng kéo, kiểm tra sự hư hỏng của đường ray, nền đường
ray, cầu...); các xe kiểm tra đuờng ray ghi lạinhững điều bất thường
của đường ray, trong khi di chuyển.
(11) Các xe goòng kiểm tra đường loại có cơ cấu đẩy kể cả xe đạp trên
ray được trang bị động cơ, sử dụng bởi nhân viên đường sắt để bảo
dưỡng đường ray. Các thiết bị này thường có gắn động cơ đốt trong,
loại tự hành và cho phép vận chuyển nhanh các nhân viên bảo
dưỡng và vật liệu được chuyên chở hoặc thu gom được dọc theo
đường ray.
(12) Các xe goòng kiểm tra đường loại không có cơ cấu đẩy, bao gồm xe
đạp trên ray, được sử dung bởi nhân viên kiểm tra đường ray (ví dụ,
loại di chuyển bằng cách đẩy tay hoặc đạp chân).
Khi được định vị trên một bệ có bánh xe và không lắp trên các khung
gầm đường sắt hoặc tàu điện đích thực (do đó, không tạo thành toa xe
đường sắt và tàu điện đích thực), các máy móc, thiết bị đo đạc và các
thiết bị khác, bị loại trừ khỏi nhóm này và được xếp trong các nhóm cụ
thể hơn (nhóm 84.25, 84.26, 84.28, 84.29, 84.30 v.v...).
86.05 – Toa xe chở khách không tự hành dùng cho đường sắt hoặc
đường tàu điện; toa xe hành lý, toa xe bưu vụ và toa xe
chuyên dùng khác cho đường sắt hoặc đường tàu điện, không
tự hành (trừ các loại thuộc nhóm 86.04).
Nhóm này gồm một nhóm các toa xe di chuyển trên đường sắt hay
đường tàu điện loại không tự hành (bao gồm các toa móoc tàu điện và
toa đường sắt có dây cáp kéo), loại thường được gắn với tàu chở khách.
Nhóm này bao gồm :
(1) Toa chở khách các loại, kể cả toa giường nằm, toa ăn, toa phòng
khách, toa giải trí (được trang bị đặc biệt dùng để giải trí, khiêu vũ
(2) Toa xe lửa bằng cáp kéo.
(3) Toa moóc tàu điện.
(4) Toa đặc biệt để vận chuyển công nhân dưới hầm mỏ.
(5) Toa cho nhân viên đường sắt ở.
(6) Toa hành lý và toa hỗn hợp người hành lý.
(7) Toa bưu điện di động.
(8) Toa cứu thương, bệnh viện, toa chụp tia X hoặc các lọai toa tương tự.
(9) Toa chở tù.
(10) Toa bọc thép.
(11) Toa có trang bị đặc biệt với các thiết bị vô tuyến hoặc thiết bị điện
tín.
(12) Các toa huấn luyện được lắp các thiết bị, máy móc hoặc mô hình
thu nhỏ (ví dụ loại để huấn luyện nhân viên đường sắt).
(13) Toa triển lãm.
86.06 – Toa xe hàng và toa gòong dùng trên đường sắt hoặc đường
tàu điện, không tự hành.
8606.10 - Toa xe xi téc và các loại toa tương tự
8606.30 - Toa chở hàng và toa goòng tự dỡ tải, trừ loại thuộc
phân nhóm 8606.10.
- Loại khác:
8606.91 - - Lọai có nắp đậy và đóng kín
8606.92 - - Loại mở, với các thành bên không thể tháo rời có
chiều cao trên 60 cm
8606.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các phương tiện dùng để chuyên chở hàng hoá trên các
mạng đường sắt (của các loại đường ray). Nhóm này cũng bao gồm các
phương tiện nhỏ hoặc toa chở hàng để vận chuyển hàng hoá bằng đường
sắt, trong mỏ, trên các công trường xây dựng, trong nhà máy, kho hàng...
Những phương tiện vừa nêu thường khác với các toa tàu, toa chở hàng đich
thực... ở chỗ chúng không thích hợp lắp với các lò xo giảm xóc.
Ngoài những toa tàu và toa hàng không mui thông thường (toa trần, toa
tự đổ …) và các toa có mái che, nhóm này bao gồm các dạng chuyên
dụng sau đây :
(1) Toa xe xitec và tương tự (ví dụ, toa bồn, toa thùng chứa).
(2) Các toa tàu và toa chở hàng được cách nhiệt hoặc được làm lạnh.
(3) Các toa tàu và toa chở hàng bốc dỡ tự động (toa tự đổ, toa có phễu
tiếp nhận hàng...)
(4) Toa sàn rất thấp để vận chuyển thiết bị nặng
(5) Toa chở gỗ cây
(6) Các toa bồn có chất liệu gốm sứ…, các bồn dùng vận chuyển hoá
chất.
(7) Toa chở ngựa
(8) Toa 2 tầng (ví dụ, để chở ô tô).
(9) Toa trang bị đặc biệt để chở gia cầm sống hoặc cá sống.
(10) Toa sàn để chở những toa khác.
(11) Các toa cho đường sắt khổ hẹp các lọai.
(12) Xe goòng trong hầm mỏ.
(13) Các xe đẩy dùng cho vận chuyển đường ray, rầm,...
(14) Toa hàng có gắn ray, để chuyên chở các rơ moóc đường ray.
(15) Toa xe và toa hàng được thiết kế đặc biệt để chuyên chở các sản
phẩm phóng xạ ở mức độ cao.
Các rơ moóc đường sắt được thiết kế để vận chuyển bởi các toa chở
hàng gắn với đường ray dẫn hướng bị loại trừ (nhóm 87.16).
86.07 Các bộ phận của đầu máy hoặc của phương tiện di chuyển
trên đường sắt hoặc đường tàu điện.
- Giá chuyển hướng, trục bitxen, trục và bánh xe và
các phụ tùng của chúng:
8607.11 - - Giá chuyển hướng và trục bitxen của đầu máy
8607.12 - - Giá chuyển hướng và trục bitxen khác
8607.19 - - Loại khác, kể cả phụ tùng
- Hãm và các phụ tùng hãm:
8607.21 - - Hãm gió ép và phụ tùng hãm gió ép
8607.29 - - Loại khác
8607.30 - Móc toa và các dụng cụ ghép nối toa khác, bộ đệm
giảm chấn, và phụ tùng của chúng
- Loại khác:
8607.91 - - Của đầu máy
8607.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các bộ phận của đầu máy hoặc của phương tiện di
chuyển trên đường sắt hoặc đường tàu điện, với điều kiện là chúng đáp
ứng cả hai điều kiện sau đây :
(i) Chúng phải được xác định là phù hợp để chỉ sử dụng hoặc chủ yếu sử
dụng với các phương tiện nêu trên;
(ii) Chúng không bị loại trừ bởi các quy định của Chú giải phần XVII.
Các bộ phận của đầu máy xe lửa hoặc tàu điện hoặc của thiết bị di
chuyển trên đường sắt hay đường tàu điện bao gồm :
(1) Các giá chuyển hướng, có hai hoặc nhiều trục, và giá chuyển hướng
bitxen gồm một khung với một trục duy nhất.
(2) Các trục thẳng hoặc trục khủy, đã hoặc chưa được lắp ráp.
(3) Bánh xe và các bộ phận của chúng (ốp bánh, vành kim loại….).
(4) Các hộp trục, cũng được biết đến như hộp dầu hoặc hộp mỡ, và các
bộ phận của chúng (ví dụ, thân hộp trục).
(5) Các thiết bị phanh các loại, bao gồm:
(a) Phanh tay, được điều khiển trực tiếp ở từng toa xe (hãm cần và
hãm vít).
(b) Phanh liên tục với điều khiển duy nhất cho tất cả các toa xe của
đoàn tàu. Loại này bao gồm phanh hơi nén và các phanh chân
không.
(c) Các bộ phận của các thiết bị phanh gồm chân phanh, xilanh, cần
(6) Bộ giảm va
(7) Móc nối toa (ví dụ, móc, vít hoặc dây xích, bánh răng kéo); một số
thiết bị móc toa có thể là tự động.
(8) Các khung và các bộ phận cấu thành chúng (xàdọc, dầm ngang, ổ
trục dẫn...); các khối khung đúc nguyên khối.
(9) Các chi tiết nối hành lang và chi tiết các bậc lên xuống.
(10) Các phần thân (không được lắp trên khung xe) cho các phương tiện
di chuyển trên đường ray đường sắt hay tàu điện có động cơ hay
không tự hành (ví dụ đối với các toa xe, toa chở hàng, các toa goòng
…); các bộ phận của các thân xe này, (ví dụ, cửa toa hay cửa toa
hàng, vách, thành gắn bản lề cho các toa xe, trụ chống sàn tàu, bậc lên
xuống, các bể nước của toa tiếp liệu).
(11) Các ống gắn các đầu nối dùng cho hệ thống phanh hoặc hệ thống
gia nhiệt.
(12) Các thiết bị gỉảm chấn thủy lực dùng cho các giá chuyển hướng.
Tuy nhiên, cần chú ý rằng, các phần góc, dạng hình, đoạn đường sắt,
phiến, bản mỏng và các bộ phận khác của khung, cũng như các ống và
ống dẫn...., bằng kim loại cơ bản, vẫn được xếp vào phần XV trừ khi
chúng được gia công trong phạm vi khiến chúng có thể được nhận dạng
như dạng các bộ phận đầu máy tàu hoả hay của các thiết bị di chuyển
trên đường ray đường sắt hoặc tàu điện.
86.08 – Bộ phận cố định và ghép nối của đường ray đường sắt hoặc
tàu điện; các thiết bị phát tín hiệu, an toàn hoặc điều khiển
giao thông bằng cơ khí (kể cả cơ điện) dùng cho đường sắt,
đường tàu điện, đường bộ, đường thủy nội địa, điểm dừng đỗ,
cảng hoặc sân bay; các bộ phận của các loại trên..
(A) BỘ PHẬN CỐ ĐỊNH VÀ GHÉP NỐI CỦA ĐƯỜNG RAY
ĐƯỜNG SẮT HOẶC TÀU ĐIỆN
Nhóm này bao gồm:
(1) Các đường ray đã lắp ráp, ví dụ, đường ray đã cố định vào tà
vẹt hoặc các giá đỡ khác. Các đường ray này thường ở dạng
khớp nối, cái ghi (switch) hoặc điểm cắt giao nhau, các đoạn
cong hoặc thẳng, v.v...
(2) Vòng quay, có hoặc không hoạt động bằng điện, ví dụ, một bệ
rộng thường là hình tròn, nó có thể quay quanh trung tâm, và nó
được nối với đường ray đường sắt hoặc tàu điện; hầu hết thường
được trang bị các con lăn bên vành của bệ này.
Các đầu máy v.v... , do đó có thể được di chuyển xung quanh
vòng quay và hướng sang một hướng mới. Nhóm cũng bao gồm
các vòng quay được điều khiển bằng tay, dùng trong các đường
ray hẹp trên công trường, mỏ khai thác đá…
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các đầu máy hoặc sàn
chuyển toa xe mà các loại này thực hiện việc chuyển các
phương tiện đường sắt từ đường ray này sang đường ray khác.
Các loại này cũng như một số thiết bị khác dùng vận hành các
đầu máy toa xe trên đường sắt hoặc đường tàu điện (thiết bị lật
toa, thiết bị đẩy xe gòong) được xếp trong nhóm 84.28.
(3) Bệ giảm chấn, ví dụ những thiết bị dừng bằng thuỷ lực hoặc
chịu tải bằng lò xo đặt ở cuối con đường để giảm sự va chạm
của đâu máy, toa xe trên đường sắt hoặc đường tàu điện khi nó
chưa dừng lại trước khi chạm đến điểm cuối đường ray. Chúng
được thiết kế để đặt trong một khu vực được xây dựng (ví dụ,
của ga cuối cùng) hoặc để cố định vào một khung vững chắc (ví
dụ, trong trạm dồn tàu).
(4) Khổ đường ray chất hàng (loading gauge), là những cấu trúc
hình vòng cung, nó đảm bảo để các đoàn tàu đi qua không vượt
quá những kích thước tối đa về chiều cao và chiều rộng cho
phép trên tuyến đường quy định.
Nhóm này không bao gồm các tà vẹt bằng gỗ (nhóm 44.06), tà vẹt bằng
bê tông (nhóm 68.10), hoặc và các tà vẹt, ray hoặc các bộ phận khác của
vật liệu xây dựng đường ray tháo rời, bằng sắt hoặc thép được chi tiết tại
nhóm 73.02 (xem Chú giải chi tiết tương ứng).
Các cột tháp và cổng dùng làm giá cho cáp điện không được xem là bộ
phận cố định và ghép nối cho đường sắt hay đường tàu điện và được
phân lọai theo chất liệu cấu thành lên nó trong các nhóm 68.10, 73.08...
(B) THIẾT BỊ PHÁT TÍN HIỆU, AN TOÀN HOẶC ĐIỀU KHIỂN
GIAO THÔNG BẰNG CƠ KHÍ (KỂ CẢ CƠ ĐIỆN) DÙNG CHO
ĐƯỜNG SẮT, ĐƯỜNG XE ĐIỆN, ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG THỦY
NỘI ĐỊA, ĐIỂM DỪNG ĐỖ, CẢNG HOẶC SÂN BAY.
Nhóm này chủ yếu gồm các thiết bị mà trong đó tín hiệu v.v... , được
hoạt động từ một điểm điều khiển, thường từ khoảng cách xa, thông qua
sự di chuyển của các cần gạt, tay quay, thanh treo, dây, xích v.v... hoặc
nhờ vào các thiết bị thủy khí động hoặc động cơ điện. Các thiết bị điều
khiển bằng điện khí nén (ví dụ, cho ngành đường sắt) cũng được phân
loại trong nhóm này. Trong loại này, các tín hiệu hoặc các ghi tàu được
điều khiển bởi một động cơ khí nén, việc tiếp nhận hay giải phóng khí ra
hoặc vào trong xy lanh động cơ được kiểm soát bởi một van điện từ
được điều khiển bởi bảng điện ở hộp tín hiệu. Tín hiệu và thiết bị điều
khiển nén hơi được xem như những thiết bị cơ khí của nhóm này, nhưng
bảng điện điều khiển v.v... thuộc Chương 85.
Khái niệm “thiết bị báo tín hiệu” đề cập đến thiết bị có thể được tạo ra để
chỉ hai hoặc nhiều hướng di chuyển cho phương tiện, tàu biển hoặc máy
bay. Loại này không bao gồm các biển báo hiệu cho đường bộ, đường
ray v.v.... không có tính chất cơ khí (ví dụ, biển báo giới hạn tốc độ, chỉ
hướng, độ dốc…); những biển báo này được phân loại theo nguyên liệu
cấu thành của chúng (ví dụ, trong các nhóm 44.21 hoặc 83.10).
Với điều kiện chúng được vận hành bằng cơ khí hoặc cơ - điện như
được mô tả ở trên, các thiết bị sau đây cũng thuộc nhóm này:
(1) Thiết bị hộp tín hiệu. Một thiết bị hoàn chỉnh bao gồm một số
cần điều khiển với bánh truyền động, cần, dây dẫn v.v... được
lắp trên một khung. Trong hầu hết các trường hợp các thiết bị
liên khóa với nhau để kết hợp ngăn chặn các tín hiệu hoặc các
ghi tàu được đặt trái ngược nhau.
(2) Các cột tín hiệu, đĩa tín hiệu, bảng tín hiệu báo tàu hoặc các
giàn tín hiệu.
(3) Các cơ cấu điều khiển hoặc cần rãnh trượt được gắn với các
tín hiệu tương hỗ lẫn nhau nhằm đảm bảo sự hoạt đồng đồng bộ
của chúng.
(4) Các thiết bị bên cạnh đường ray (ví dụ, khung mặt đất… của
cần, bàn đạp, tay quay hay các lọai khác ) để vận hành các ghi,
các tín hiệu...
(5) Máy kiểm tra ghi. Chúng hoạt động bởi việc di chuyển của
chính các ghi tàu; chuyển động của chúng được truyền lại hộp
tín hiệu mà nhờ đó người điều khiển ghi tàu biết được các ghi
tàu đã được đặt đúng vị trí.
(6) Bộ đóng ghi và then khóa ghi. Các thiết bị này, được trang bị
riêng cho các đường ray, và bảo đảm việc đoàn tàu chạy qua sẽ
tự động khoá các ghi tàu, để chúng không thể bị thay đổi từ hộp
tín hiệu cho đến khi tàu chạy qua.
(7) Các phanh ray. Các thiết bị này được sử dụng để làm chậm
hoặc dừng các toa xe (ví dụ, giảm tốc các toa tàu khi vào các
đường ray bên của bãi chứa dồn toa). Chúng thường gồm chủ
yếu một cặp thanh được gắn với mỗi ray của đường ray; dưới
tác động điều khiển bằng thủy lực hoặc khí nén, các thanh này
có thể tạo một áp lực phanh lên bánh xe của toa tàu đi trên
đường đường ray.
(8) Thiết bị rẽ bánh và dừng tàu. Khi được đặt trên đường ray,
những thiết bị này có thể cho toa xe đi qua, nhưng khi đặt ngang
trên đường ray chúng trở thành một thiết bị dừng tàu hoặc như
một lưỡi cắt làm “rẽ nhánh” toa xe khỏi đường ray.
(9) Hệ thống dừng tàu. Chúng thường bao gồm một thiết bị thanh
hình chữ T được gắn cố định dọc chiều dài đường ray và được
hoạt động bằng khí nén. Thanh này được kết nối với tín hiệu
nên khi tín hiệu báo nguy hiểm, thanh chữ T được nâng lên một
vị trí để nó sẽ “đóng ngắt” cần điều khiển phanh trên bất cứ
đoàn tàu đoàn tàu đi qua vùng cảnh báo.
(10) Thiết bị cảnh báo sương mù tự động. Những thiết bị này,
cũng thường vận hành bằng khí động lực, tự động đăt pháo hiệu
khi có sương mù trên đường ray mỗi khi có tín hiệu nguy hiểm.
(11) Các thiết bị điều khiển chỗ chắn tàu để nâng và hạ, hoặc
mở và đóng cổng. Thiết bị này thường gồm có bánh quay hoạt
động bằng tay và thiết bị bánh răng, hoặc bằng một hệ thống
cần gạt được điều khiển từ hộp tín hiệu như trường hợp các tín
hiệu, các ghi tàu.
Các chắn vượt đường tàu được phân loại theo nguyên liệu cấu
thành của chúng (nhóm 7308, nếu chúng được làm bằng sắt
hoặc bằng thép, hoặc nhóm 44.21, nếu được làm bằng gỗ),
nhưng các tín hiệu chỉ dẫn khi cửa mở hoặc đóng hoạt động
bằng cơ hay cơ điện thì được phân loại vào nhóm này.
(12) Các cột tín hiệu điều khiển bằng tay hoặc bằng điện cơ được
thiết kế để chỉ các dấu hiệu “Dừng lại” hoặc “Được phép đi”
trên đường bộ hoặc trên biển.
CÁC BỘ PHẬN
Nhóm này bao gồm các bộ phận có thể nhận dạng thuộc các thiết bị
được nhắc ở trên (ví dụ, sàn quay, cột chỉ tín hiệu và đĩa chỉ tín hiệu, cần
điều khiển, hộp khóa ghi, các cơ cấu khấc liên khoá).
Nhóm này cũng loại trừ:
(a) Các dây xích và các bộ phận có công dụng chung như định nghĩa
tại Chú giải 2 của phần XV, bằng kim loại cơ bản (Phần XV),
và các hàng hoá tương tự bằng plastic (Chương 39); các
nguyên liệu dùng chung (như dây và thanh reo) và các cơ cấu
bằng kim loại và bộ phận bằng kim loại của các cơ cấu đó,
thuộc Phần XV. Cần chú ý là các thanh khay chạy dưới đường
sắt để kết nối các cơ cấu giám sát rãnh đường ray với thanh ghi
thuộc nhóm 73.02 cùng với một số nguyên liệu xây dựng
đường ray hoặc đường xe điện cụ thể khác bằng sắt hoặc thép.
(b) Đèn tín hiệu (nhóm 85.30 hoặc 94.05)
(c) Còi, còi báo sương mù và thiết bị phát tín hiệu âm thanh khác
(được phân loại trong các nhóm thích hợp với chúng).
(d) Thiết bị cảnh báo lắp trên tàu, thuyền v.v.... (ví dụ, các thiết bị
phát tín hiệu báo động trên tàu, thiết bị báo tín hiệu khẩn cấp
của tàu biển,…) (được phân loại trong các nhóm thích hợp với
chúng).
86.09 - Công-ten-nơ (kể cả công-ten-nơ dùng vận chuyển chất lỏng)
được thiết kế và trang bị đặc biệt để vận chuyển theo một
hoặc nhiều phương thức.
Các công ten nơ (kể cả toa nâng hàng) là những thùng đựng được thiết
kế và trang bị đặc biệt để có thể chuyển đi bằng một hay nhiều phương
thức vận tải (ví dụ, đường bộ, đường sắt hay đường thuỷ hoặc đường
không). Chúng được trang bị với các phụ kiện (móc, vòng, bánh lăn, giá
đỡ v.v ...) để tạo thuận lợi cho việc chuyển hàng và xếp hàng lên xe, lên
máy bay hoặc tàu bè. Chúng được trang bị như vậy để phù hợp với việc
chuyên chở hàng hoá “đến tận đích” mà không cần đóng lại tại nơi trung
gian và, được cấu tạo vững chắc để có thể dùng được nhiều lần.
Loại thông thường nhất, nó có thể bằng gỗ hoặc kim loại, gồm một hộp
lớn được lắp cửa, hoặc lắp các vách có thể tháo lắp được.
Những dạng công ten nơ chính bao gồm:
(1) Các công ten nơ dùng để chuyển đồ đồ đạc.
(2) Các công ten nơ kín để chuyên chở thực phẩm hoặc hàng dễ
hỏng.
(3) Các công ten nơ (thường có hình trụ) để vận chuyển chất lỏng
hoặc khí. Các công ten nơ này chỉ được xếp ở nhóm này nếu
chúng kết hợp một giá đỡ cho phép chúng được lắp với các loại
phương tiện vận tải hay tàu thuyền; Nếu không thì chúng được
phân loại theo nguyên liệu cấu thành nên chúng.
(4) Các công ten nơ không có mui dùng để chuyên chở hàng hoá
công kềnh như than, quặng, đá, lát, gạch, ngói... Những loại
này thường có đáy và vách được lắp bản lề để dễ dàng cho việc
tháo dỡ.
(5) Các loại riêng biệt để chở hàng hoá đặc biệt, nhất là các sản
phẩm dễ vỡ như thuỷ tinh, gốm... hoặc các động vật sống.
Các công ten nơ thường có kích thước giao động từ 4 đến 145m3. Tuy
nhiên một số loại nhỏ hơn, nhưng có dung tích của chúng thường không
dưới 1m3.
Nhóm này loại trừ:
(a) Các loại hòm, thùng v.v... tuy được thiết kế để vận chuyển hàng
hoá “tới tận đích” không được cấu tạo đặc biệt như mô tả trên
đây để được gắn kẹp cho với các xe vận chuyển, máy bay hoặc
tàu biển; Những loại này được phân loại theo nguyên liệu cấu
thành nên chúng.
(b) Các xe moóc đường sắt (chủ yếu sử dụng như xe moóc trên
đường bộ, nhưng được thiết kế để chúng có thể được vận
chuyển trên toa xe đường sắt đặc biệt đã lắp ray dẫn hướng)
(nhóm 87.16).
(c) Các khối mô-đun xây dựng (nhóm 94.06).
Chương 87
Xe trừ phương tiện chạy trên đường sắt hoặc đường tàu điện, và các
bộ phận và phụ kiện của chúng
Chú giải.
1.- Chương này không bao gồm phương tiện chạy trên đường sắt hoặc
đường tàu điện được thiết kế chỉ để chạy trên đường ray.
2.- Theo mục đích của Chương này, "xe kéo" có nghĩa là phương tiện
được thiết kế chủ yếu để kéo hoặc đẩy một phương tiện, một thiết bị
hoặc một vật nặng khác, có hoặc không bao gồm bộ phận phụ trợ để
vận chuyển các loại công cụ, hạt giống (seeds), phân bón hoặc hàng
hoá khác, phù hợp với mục đích sử dụng chính của xe kéo.
Máy móc và công cụ làm việc được thiết kế để gắn vào xe kéo của
nhóm 87.01 mà các thiết bị này có thể thay đổi (tháo lắp) thì vẫn
được phân loại vào các nhóm tương ứng của chúng ngay cả khi
chúng đi kèm với xe kéo, và có hoặc không được gắn vào nó.
3.- Khung gầm có động cơ gắn với cabin xếp ở các nhóm từ 87.02 đến
87.04, và không thuộc nhóm 87.06.
4.- Nhóm 87.12 bao gồm tất cả xe đạp trẻ em các loại. Các loại xe trẻ em
khác được xếp trong nhóm 95.03.
Chú giải phân nhóm.
1.- Phân nhóm 8708.22 bao gồm:
(a)- kính chắn gió phía trước (kính chắn gió), kính cửa phía sau và
các kính cửa khác, có khung; và
(b)- kính chắn gió phía trước (kính chắn gió), kính cửa phía sau và
các kính cửa khác, có hoặc không có khung, có gắn thiết bị
sưởi hoặc các thiết bị điện hoặc điện tử khác,
khi chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng cho các xe có động cơ thuộc các
nhóm từ 87.01 đến 87.05.
KHÁI QUÁT CHUNG
Trừ một số máy móc di động nhất định thuộc phần XVI (xem Chú giải
chi tiết nhóm 87.01, 87.05 và 87.16), Chương này gồm các phương
tiện sau đây :
(1) Xe kéo (nhóm 87.01)
(2) Xe có động cơ được thiết kế để chở người (nhóm 87.02 hoặc 87.03),
hoặc chở hàng hóa (nhóm 87.04) hoặc xe chuyên dùng (nhóm
(3) Xe vận chuyển, loại tự hành, không lắp kèm thiết bị nâng hạ hoặc
cặp giữ, thuộc loại dùng trong nhà máy, kho hàng, bến cảng hoặc
sân bay để vận chuyển hàng hóa trong phạm vi gần; xe kéo loại
dùng trong sân ga đường sắt (nhóm 87.09).
(4) Xe chiến đấu bọc thép, loại cơ giới (nhóm 87.10)
(5) Xe mô tô và xe mô tô có gắn thùng có bánh bên cạnh; xe đạp và các
loại xe dành cho người tàn tật, có hoặc không lắp động cơ (nhóm
87.11 đến 87.13)
(6) Xe đẩy trẻ em (nhóm 87.15).
(7) Rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc, và xe khác, không có cơ cấu đẩy cơ khí,
ví dụ: các xe được kéo bằng xe khác, được kéo hoặc đẩy bằng tay
hoặc do súc vật kéo (nhóm 87.16)
Chương này còn bao gồm các phương tiện chạy trên đệm không khí
được thiết kế để chạy trên mặt đất hoặc cả mặt đất và một số vùng
nước (đầm lầy v.v..) (xem Chú giải 5 phần XVII).
Việc phân loại một chiếc xe động cơ không bị ảnh hưởng bởi các hoạt
động được tiến hành sau khi lắp ráp tất cả các bộ phận tạo thành một
một chiếc xe động cơ hoàn chỉnh, chẳng hạn như: cố định số nhận dạng
xe, hệ thống phanh sạc và xả khí từ hệ thống phanh, nạp của hệ thống
trợ lái (tay lái trợ lực) và các hệ thống làm mát, điều hòa không khí, điều
khiển đèn pha, điều khiển cơ cấu lái (căn chỉnh) và điều khiển của hệ
thống phanh. Việc phân loại những hàng hoá này áp dụng theo Quy tắc
giải thích tổng quát 2(a).
Xe chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện, đã hoặc chưa lắp ráp, An incomplete or unfinished vehicle, whether or not assembled, is
được phân loại như các xe đã hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện với điều kiện
chúng có các đặc trưng cơ bản của xe đã hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện
(xem Quy tắc giải thích tổng quát (2a)). Ví dụ:
(A) Xe có động cơ, chưa lắp bánh xe hoặc lốp và ắc quy.
(B) Xe có động cơ chưa lắp động cơ hoặc nội thất.
(C) Xe đạp không có yên và lốp.
Chương này cũng bao gồm các bộ phận và phụ tùng được coi là phù hợp
để chỉ sử dụng hoặc chủ yếu sử dụng cho các xe thuộc Chương này, theo
quy định của Chú giải Phần XVII (xem Chú giải tổng quát của
Phần này).
Cần chú ý là các xe lội nước được phân loại như xe có động cơ thuộc
Chương này. Tuy nhiên, Phương tiện bay được thiết kế đặc biệt để cũng
có thể sử dụng như loại phương tiện đường bộ vẫn được phân loại như
là phương tiện bay (nhóm 88.02).
Chương này loại trừ:
(a) Xe và bộ phận của xe, mô hình xe cắt ngang, được thiết kế cho mục
đích trưng bày, không sử dụng cho các mục đích khác (nhóm 90.23).
(b)Đồ chơi có bánh xe được thiết kế để trẻ em lái và xe đạp đồ chơi (trừ
xe đạp trẻ em) (nhóm 95.03)
(c) Thiết bị thể thao mùa đông như xe trượt băng, xe trượt tuyết và loại
tương tự (nhóm 95.06).
(d) Các phương tiện được thiết kế đặc biệt để sử dụng cho trò chơi di
chuyển trong công viên giải trí hoặc trong các trò chơi hội chợ
(nhóm 95.08).
87.01 - Xe kéo (trừ xe kéo thuộc nhóm 87.09) (+).
8701.10 - Máy kéo trục đơn
- Ô tô đầu kéo dùng để kéo sơ mi rơ moóc:
8701.21 - - Loại chỉ sử dụng động cơ đốt trong kiểu piston cháy do
nén (diesel hoặc bán diesel)
8701.22 - - Loại kết hợp động cơ đốt trong kiểu piston cháy do nén
(diesel hoặc bán diesel) và động cơ điện để tạo động lực
8701.23 - - Loại kết hợp động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy
bằng tia lửa điện và động cơ điện để tạo động lực
8701.24 - - Loại chỉ sử dụng động cơ điện để tạo động lực
8701.29 - - Loại khác
8701.30 - Xe kéo bánh xích
- Loại khác, có công suất máy:
8701.91 - - Không quá 18 kW
8701.92 - -Trên 18 kW nhưng không quá 37 kW
8701.93 - -Trên 37 kW nhưng không quá 75 kW
8701.94 - - Trên 75 kW nhưng không quá 130 kW
8701.95 - -Trên 130 kW
Theo mục đích của nhóm này, xe kéo có nghĩa là những xe chạy bằng bánh
hơi hoặc bánh xích sắt được chế tạo chủ yếu để kéo hoặc đẩy một phương
tiện, thiết bị hoặc vật nặng khác. Chúng có thể có một thiết bị phụ trợ cho
vận tải, kết hợp với công dụng chính của xe kéo để chuyên chở những dụng
cụ, các hạt nông sản, phân bón và các loại hàng hoá khác hoặc thiết bị phụ
trợ để lắp với dụng cụ sản xuất như một chức năng phụ.
Nhóm này không bao gồm bộ phận đẩy (propelling bases) được thiết
kế, chế tạo hoặc gia cố để tạo thành một bộ phận bên trong của một loại
máy để thực hiện chức năng như nâng hạ, đào xúc hoặc san, v.v... mặc
dù loại này (propelling bases) sử dụng sức kéo hoặc đẩy để thực hiện
chức năng này.
Loại trừ các xe kéo sử dụng ở sân ga đường sắt thuộc nhóm 8709,
nhóm này bao gồm xe kéo các loại (máy kéo nông nghiệp, xe kéo lâm
nghiệp, xe kéo đường bộ, máy kéo hạng nặng dùng trong xây dựng, tời
kéo, v.v...) sử dụng bất kỳ phương thức đẩy nào (động cơ đốt trong,
động cơ điện, v.v...). Nhóm này cũng bao gồm các xe kéo có thể sử dụng
cả trên đường ray và trên bộ, nhưng không bao gồm những xe kéo được
thiết kế riêng để sử dụng trên đường ray.
Các xe kéo trong nhóm này có thể có thân xe hoặc chúng có thể có các
chỗ ngồi cho tổ lái hoặc một buồng lái. Chúng có thể được trang bị một
hòm dụng cụ, thiết bị để nâng hạ dụng cụ nông nghiệp, một thiết bị móc
nối để kéo rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc (ví dụ loại thiết bị móc trên xe
kéo “Ngựa cơ khí” và các bộ phận kéo tương tự) hoặc một bộ phận
truyền động lực cho đầu máy như máy đập lúa, máy cưa đĩa.
Khung gầm của xe kéo có thể được lắp trên bánh hơi, bánh xích sắt,
hoặc cả bánh hơi và bánh sắt. Trong trường hợp có cả bánh hơi và bánh
sắt, chỉ có trục lái phía trước được lắp với bánh hơi.
Nhóm này cũng bao gồm các máy kéo trục đơn. Đây là các xe kéo nhỏ
dùng trong nông nghiệp, có một trục điều khiển đơn lắp trên một hoặc
hai bánh xe; như các xe kéo thông thường, chúng được thiết kế để sử
dụng vào việc thực hiện các công việc khác nhau và đóng vai trò là bộ
phận truyền lực. Chúng thường không có ghế và được điều khiển bằng
hai tay cầm (handles). Tuy nhiên, một số loại có một hoặc hai bánh có
thùng phía sau lắp ghế cho người lái.
Những máy kéo trục đơn tương tự cũng được sử dụng trong công
nghiệp.
Nhóm này bao gồm cả các xe kéo có trang bị tời kéo, (chẳng hạn dùng
để kéo một xe bị sa lầy, hoặc nhổ cây, di chuyển cây; hoặc móc kéo từ
xa những công cụ nông nghiệp).
Nhóm này cũng bao gồm cả các xe kéo có khung gầm nâng cao (stilt
tractors) dùng trong ruộng nho và trồng rừng.
Nhóm này loại trừ các xe cứu hộ, có trang bị cần cẩu, bộ nâng, tời
kéo,... (nhóm 87.05).
XE KÉO ĐƯỢC LẮP VỚI MÁY MÓC KHÁC
Cần chú ý là các máy nông nghiệp được thiết kế để lắp với xe kéo như là
thiết bị thay thế (cày, bừa, cuốc ...), vẫn xếp vào các nhóm tương ứng,
ngay khi đã được lắp ráp trên xe kéo. Trong các trường hợp đó, phần kéo
được xếp riêng vào nhóm này.
Các xe kéo và các công cụ lao động dùng trong công nghiệp cũng được
phân loại riêng khi xe kéo được thiết kế chủ yếu để kéo hoặc đẩy các
phương tiện hoặc vật nặng khác và giống như xe kéo trong nông nghiệp, nó
bao gồm các thiết bị đơn giản để vận hành (nâng, hạ, v.v...) các công cụ lao
động. Trong các trường hợp đó, các công cụ lao động có thể lắp lẫn cho
nhau này được phân loại trong nhóm phù hợp của chúng, cho dù được
hiện diện cùng với xe kéo và đã hoặc chưa được lắp trên xe kéo, trong khi
đó xe kéo với thiết bị vận hành của nó được xếp trong Nhóm này.
Trường hợp đối với xe ô tô tải có khớp nối với sơ mi rơ moóc, xe kéo
gắn với sơ mi rơ moóc, và xe kéo hạng nặng, tương tự như với sơ mi rơ
moóc, được gắn với những máy móc thuộc chương 84, phần máy kéo
được xếp vào nhóm này trong khi sơ mi rơ moóc hoặc máy móc (thuộc
Chương 84) được xếp vào nhóm thích hợp của nó.
Mặt khác, nhóm này không bao gồm các bộ phận đẩy (propelling bases)
của máy móc nêu ở các nhóm 84.25, 84.26, 84.29, 84.30 và 84.32, trong
đó bộ phận đẩy, bộ phận điều khiển, các công cụ lao động và các thiết bị
khởi động của chúng được thiết kế đặc biệt để lắp ráp cùng với nhau
thành một tổ hợp máy đồng bộ. Như trường hợp các máy xúc, các máy
ủi, các máy cày có động cơ, v.v...
Theo nguyên tắc chung, bộ phận đẩy (propelling base) tạo nên một phần
không thể tách rời của một máy được thiết kế để bốc xếp, xúc, đào,
v.v... có thể phân biệt với xe kéo trong nhóm này bởi đặc điểm kết cấu
đặc biệt của nó (hình dạng, khung, cách thức di chuyển, v.v...). Đối với
bộ phận đẩy (propelling base) của loại xe kéo này, cần xem xét những
đặc tính kỹ thuật khác nhau liên quan chủ yếu đến kết cấu của máy hoàn
chỉnh và liên quan đến thiết bị được thiết kế đặc biệt cho những chức
năng khác ngoài chức năng đẩy hoặc kéo . Ví dụ những bộ phận đẩy
(propelling base) mà không nằm trong nhóm này được tích hợp với các
bộ phận chịu lực (như giá đỡ, rầm đỡ, mâm quay của cần cẩu), tạo thành
một bộ phận hoặc gắn cố định, thường bằng cách hàn, với thân khung,
để đỡ thiết bị khởi động của công cụ lao động. Ngoài ra bộ phận đẩy có
thể bao gồm một số bộ phận điển hình sau: thiết bị động lực có lắp hệ
thống thuỷ lực để làm hoạt động các công cụ lao động (working tools);
Hộp số đặc biệt mà trong đó ví dụ như tốc độ cao nhất của số lùi không
nhỏ hơn tốc độ cao nhất của số tiến; Ly hợp thuỷ lực và bộ chuyển đổi
mômen xoắn; đối trọng; phần nối dài để tăng độ ổn định của bộ máy;
khung đặc biệt để lắp động cơ phía sau, v.v...
Chú giải chi tiết phân nhóm
Phân nhóm 8701.10
Xem chú giải chi tiết của nhóm 87.01, đoạn 6 và 7.
Các phân nhóm từ 8701.21 đến 8701.29
Theo mục đích của các phân nhóm này, “xe kéo đường bộ” đề cập đến
xe có động cơ được thiết kế để kéo sơ mi rơ moóc qua quãng đường dài.
Ô tô đầu kéo và sơ mi rơ moóc kết hợp thành xe được biết đến với nhiều
tên gọi (ví dụ, “xe tải kéo”, “đầu kéo rơ moóc”….). Các loại xe này
thường có động cơ diesel và có thể được lái ở tốc độ vượt quá tốc độ
giao thông đô thị trên mạng lưới đường bộ (mạng lưới đường bộ theo
nghĩa chung, bao gồm đường, đại lộ và xa lộ) với rơ moóc chở đầy hàng.
Các loại xe này có buồng kín cho người lái và hành khách (đôi khi có đồ
đạc trong buồng ngủ), đèn pha và kích thước được quy định trong nước,
và thường được trang bị khớp nối cho phép chuyển đổi nhanh các sơ mi
rơ moóc nhằm thực hiện các chức năng khác nhau.
Các xe tương tự được sử dụng để chuyên chở sơ mi rơ moóc trong phạm
vi hẹp được loại trừ khỏi các phân nhóm này (thường thuộc các phân
nhóm 8701.91 đến 8701.95).
Phân nhóm 8701.30
Phân nhóm này bao gồm cả các xe kéo kiểu liên hợp có cả bánh hơi và
bánh xích.
Phân nhóm 8701.91 đến 8701.95
Phân nhóm này bao gồm các loại xe được dùng kéo sơ mi rơ moóc trong
phạm vi hẹp. Những loại xe này được biết đến với nhiều tên gọi khác (ví
dụ., “xe kéo chuyên dùng trong nhà ga, sân bay, cảng”, “xe kéo chuyên
dùng tại bến cảng”….) và chúng được thiết kế để đặt hoặc di chuyển rơ
moóc trong một khu vực xác định. Các xe này không được thiết kế để
kéo trên quãng đường dài như các ô tô đầu kéo thuộc các phân nhóm
8701.21 đến 8701.29. Các xe này được phân biệt với các xe kéo đường
bộ ở chỗ nó thường được trang bị động cơ diesel có vận tốc tối đa
thường không quá 50 km/h và thường được trang bị ca-bin nhỏ kèm theo
ghế đơn chỉ dành cho lái xe.
87.02 - Xe có động cơ chở 10 người trở lên, kể cả lái xe.
8702.10 - Loại chỉ sử dụng động cơ đốt trong kiểu piston cháy do
nén (diesel hoặc bán diesel)
8702.20 - Loại kết hợp động cơ đốt trong kiểu piston cháy do nén
(diesel hoặc bán diesel) và động cơ điện để tạo động lực
8702.30 - Loại kết hợp động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy
bằng tia lửa điện và động cơ điện để tạo động lực
8702.40 - Loại chỉ sử dụng động cơ điện để tạo động lực
8702.90 - Loại khác.
Nhóm này bao gồm tất cả các xe có động cơ thiết kế để chở 10 người trở
lên, kể cả lái xe.
Nhóm này bao gồm xe buýt, xe khách, trolleybuses (tàu điện sử dụng
dây điện trần) và gyrobuses (xe buýt điện sử dụng bánh đà tích điện).
Các phương tiện thuộc nhóm này có thể có bất kỳ loại động cơ nào
(Loại động cơ đốt trong kiểu piston, động cơ điện, kết hợp giữa động cơ
đốt trong kiểu piston và một hoặc nhiều động cơ điện...
Các phương tiện, mà có sự kết hợp giữa động cơ đốt trong dạng piston
và một hoặc nhiều hơn động cơ điện, được biết đến như là “các phương
tiện điện hybrid – HEVs”. Đối với mục đích tạo lực cơ học những
phương tiện này nhận năng lượng từ cả nhiên liệu đốt lẫn từ thiết bị lưu
trữ năng lượng điện (VD: bình ắc qui điện, tụ điện, bánh đà /máy phát
điện). Có nhiều xe điện hybrid, mà có thể được phân biệt bởi cấu tạo hệ
truyền động (chẳng hạn như hybrid song song có cả động cơ đốt trong và
động cơ điện, hybrid loạt sử dụng điện pin, hydrid phân chia năng lượng
điện hoặc hybrid loạt kết hợp song song) và theo mức độ hybrid hoá (ví
dụ, full hybrid (hydric mạnh), mild hybrid (hydric trung) và plug-in
hybrid (hydic sạc)).
Các phương tiện chạy bằng điện được đẩy bằng động cơ điện hoặc các
động cơ có điện nhờ các phương tiện tích trữ.
Xe buýt điện sử dụng dây điện trần và xe buýt điện sử dụng bánh đà tích
điện được vận hành dựa trên nguyên lý động năng có thể tích trữ trong
bánh đà tốc độ cao và được sử dụng để vận hành thiết bị điện cung cấp
dòng điện đến động cơ.
Nhóm này cũng bao gồm cả các ôtô khách được chuyển đổi thành xe
chạy trên đường ray bằng cách thay bánh xe và chốt hệ thống lái, còn
động cơ không thay đổi.
87.03 - Ô tô và các loại xe khác có động cơ được thiết kế chủ yếu để
chở người (trừ các loại thuộc nhóm 87.02), kể cả ô tô chở người có
khoang hành lý chung (station wagons) và ô tô đua.
8703.10 - Xe được thiết kế đặc biệt để đi trên tuyết; xe chơi gôn (golf
car) và các loại xe tương tự:
- Loại xe khác, chỉ sử dụng động cơ đốt trong kiểu piston
đốt cháy bằng tia lửa điện:
8703.21 - - Loại dung tích xilanh không quá 1.000cc.
8703.22 - - Loại dung tích xilanh trên 1.000cc nhưng không quá
8703.23 - - Loại dung tích xilanh trên 1.500cc nhưng không quá
8703.24 - - Loại dung tích xilanh trên 3.000cc.
- Xe khác, loại chỉ sử dụng động cơ đốt trong kiểu piston
cháy do nén (diesel hoặc bán diesel):
8703.31 - - Loại dung tích xilanh không vượt quá 1.500cc.
8703.32 - - Loại dung tích xilanh trên 1.500cc nhưng không quá
8703.33 - - Loại dung tích xilanh trên 2.500cc.
8703.40 - Xe khác, loại kết hợp động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy
bằng tia lửa điện và động cơ điện để tạo động lực, trừ loại
có khả năng nạp điện từ nguồn điện bên ngoài
8703.50 - Xe khác, loại kết hợp động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy
do nén (diesel hoặc bán diesel) và động cơ điện để tạo
động lực, trừ loại có khả năng nạp điện từ nguồn bên ngoài
8703.60 - Xe khác, loại kết hợp động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy
bằng tia lửa điện và động cơ điện để tạo động lực, có khả
năng nạp điện từ nguồn điện bên ngoài
8703.70 - Xe khác, loại kết hợp động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy
do nén (diesel hoặc bán diesel) và động cơ điện để tạo
động lực, có khả năng nạp điện từ nguồn bên ngoài
8703.80 - Xe khác, loại chỉ sử dụng động cơ điện để tạo động lực:
8703.90 - Loại khác.
Nhóm này bao gồm nhiều loại xe có động cơ khác nhau (bao gồm cả xe
vừa chạy trên mặt đất vừa có thể lội nước) được thiết kế để chở người;
tuy vậy, nhóm này không bao gồm xe có động cơ thuộc nhóm 87.02.
Các xe trong nhóm này có thể được lắp các loại động cơ khác nhau
(động cơ piston đốt trong, động cơ điện, tua bin khí, kết hợp động cơ đốt
trong kiểu piston và một hoặc nhiều động cơ điện.v.v).
Nhóm bao gồm:
(1) Các phương tiện được thiết kế đặc biệt để chạy trên tuyết; xe chơi
golf và các phương tiện tương tự
(a) Các phương tiện được thiết kế đặc biệt để chạy trên tuyết; (ví
dụ, xe chạy bằng máy trên tuyết và băng).
(b) Xe chơi golf và các phương tiện tương tự.
(2) Các phương tiện khác
(a) Xe có động cơ (VD: limousine, taxi, ô tô thể thao và ô tô đua).
(b) Các phương tiện vận tải chuyên dụng như ô tô cứu thương, ô tô
chở tù nhân và ô tô tang lễ.
(c) Ô tô nhà ở lưu động (xe cắm trại v.v) phương tiện dùng để vận
chuyển người, được trang bị đặc biệt để ở (với các thiết bị dùng
cho việc ngủ, nấu ăn, vệ sinh.vv).
(d) Phương tiện bốn bánh có động cơ với khung dạng ống, với một
hệ thống điều khiển kiểu xe có động cơ (VD: hệ thống điều khiển
dựa trên nguyên lý Ackerman).
Theo mục đích của nhóm này, xe chở người có khoang hành lý chung
(station wagons) là những xe có chỗ ngồi tối đa cho 9 người (cả lái xe),
bên trong có thể được sử dụng, vừa để chở người vừa để chở hàng mà
không cần thay đổi lại kết cấu.
Việc phân loại xe có động cơ trong nhóm này được xác định bởi chức
năng chính là được thiết kế để chở người, không phải loại được thiết kế
để chở hàng hóa (nhóm 87.04). Những đặc trưng này đặc biệt hữu ích
trong việc phân loại đối với trường hợp xe có động cơ tổng trọng lượng
danh định nhỏ hơn 5 tấn và loại có một khoang cho cả người lái và hành
khách và khoang khác được sử dụng để chở người và vận chuyển hàng
hóa. Loại này bao gồm các xe có động cơ được biết đến là “xe đa dụng”
(ví dụ xe tải van, xe thể thao đa dụng – SUV, một số loại xe bán tải). Các
tính năng sau đây biểu thị cho các đặc tính thiết kế áp dụng cho xe có
động cơ thuộc nhóm này:
(a) Ghế cố định với các thiết bị an toàn (ví dụ đai an toàn hoặc điểm cố
định và phụ kiện để cài đai an toàn) cho mỗi người hoặc các điểm
cố định và phù hợp để cài đặt thiết bị an toàn phía đằng sau của lái
xe và hành khách ngồi trước; các ghế này có thể được cố định, gấp
lại cất đi, có thể di chuyển hoặc gập lại được.
(b) Cửa sổ phía sau dọc 02 bên khung xe.
(c) Cửa bên hông, cửa tự động, cửa nâng hoặc cửa, với cửa sổ ở bên
hông hoặc phía sau.
(d) Không có tấm hoặc thanh chắn giữa khoang của lái xe và ghế trước
với khoang sau có thể được sử dụng để chở người và vận chuyển
hàng hóa.
(e) Tại khoang hành khách phía sau có các tính năng tiện ích và nội thất
đầy đủ và được kết hợp với khu vực khách ngồi (như thảm trải sàn,
lọc gió, đèn nội thất, gạt tàn)
Nhóm bao gồm các phương tiện ba bánh hạng nhẹ như:
- các phương tiện được gắn động cơ và bánh xe máy, vv mà căn cứ theo
cấu trúc cơ khí của chúng, có những đặc tính của xe có động cơ thông
thường, nó có hệ thống lái của xe có động cơ hoặc cả số lùi lẫn vi sai;
- các phương tiện được gắn trên một trục hình chữ T, có hai bánh bên
sườn được điều khiển độc lập bằng các động cơ điện chạy bằng ắc qui
điện riêng biệt. Những phương tiện này thường được vận hành bởi một
tay cầm điều khiển trung tâm mà tài xế có thể khởi động, tăng tốc,
phanh, dừng hoặc lùi phương tiện, hoặc lái sang phải hoặc sang trái
bằng cách áp dụng một mô men xoắn vi sai cho bánh lái hoặc xoay bánh
trước.
Các phương tiện ba bánh có đặc điểm mô tả nêu trên được xếp vào
nhóm 87.04 nếu chúng được thiết kế dùng để chở hàng.
Những phương tiện thuộc nhóm này có thể thuộc loại có bánh hơi hoặc
loại bánh xích.
Các phương tiện, mà có sự kết hợp giữa động cơ đốt trong dạng piston
và một hoặc nhiều động cơ điện, được biết đến như là “các phương tiện
điện hybrid – HEVs”. Đối với mục đích tạo động năng những phương
tiện này nhận năng lượng từ cả nhiên liệu đốt lẫn từ thiết bị lưu trữ năng
lượng điện (VD: bình ắc qui điện, tụ điện, bánh đà /máy phát điện). Có
nhiều loại xe điện hybrid, mà có thể được phân biệt bởi cấu tạo hệ
truyền động (chẳng hạn như hybrid song song có cả động cơ đốt trong
và động cơ điện, hybrid loạt sử dụng điện pin, hydrid phân chia năng
lượng điện hoặc hybrid loạt – song song) và theo mức độ hybrid hoá (ví
dụ, full hybrid (hybrid mạnh), mild hybrid (hybrid trung) và plug-in
hybrid (hybrid sạc)).
Xe điện plug-in hybrid (PHEV) là những phương tiện có thể sạc lại ắc
quy điện bằng cách cắm chúng vào ổ cắm điện lưới hoặc trạm sạc.
Các phương tiện được đẩy bằng một hoặc nhiều động cơ điện chạy bằng
bộ ắc quy điện được gọi là “Các phương tiện chạy điện (EV)”.
Tuy nhiên, các phương tiện có nguồn điện, chẳng hạn như máy phát điện
xoay chiều/bộ khởi động tích hợp, chỉ được sử dụng cho các chức năng
không có động cơ đẩy thì không được phân loại là HEV. Những nguồn
năng lượng này có thể được sử dụng để chạy các hệ thống stop-start và
có thể có hệ thống quản lý sạc và hệ thống phanh tái tạo năng lượng.
Những phương tiện như vậy có thể được gọi là có “công nghệ hybrid”
hoặc là “micro hybrid”, nhưng không có động cơ điện để tạo động lực.
Các phương tiện được thiết kế đặc biệt để sử dụng cho trò chơi di
chuyển trong công viên giải trí và các trò chơi hội chợ, ví dụ, trò chơi xe
đụng (nhóm 95.08).
87.04 – Xe có động cơ dùng để chở hàng (+).
8704.10 - Xe tự đổ được thiết kế để sử dụng trên các loại đường
không phải đường quốc lộ.
- Loại khác, loại chỉ sử dụng động cơ đốt trong kiểu
piston đốt cháy do nén (diesel hoặc bán diesel)
8704.21 - - Khối lượng toàn bộ theo thiết kế không quá 5 tấn.
8704.22 - - - Khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 5 tấn nhưng
không quá 20 tấn
8704.23 - - Khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 20 tấn.
- Loại khác, chỉ sử dụng động cơ đốt trong kiểu piston
đốt cháy bằng tia lửa điện:
8704.31 - - Khối lượng toàn bộ theo thiết kế không quá 5 tấn.
8704.32 - - Khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 5 tấn.
- Loại khác, kết hợp động cơ đốt trong kiểu piston cháy do
nén (diesel hoặc bán diesel) và động cơ điện để tạo động
lực:
8704.41 - - Khối lượng toàn bộ theo thiết kế không quá 5 tấn
8704.42 - - Khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 5 tấn nhưng
không quá 20 tấn
8704.43 - - Khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 20 tấn
- Loại khác, kết hợp động cơ đốt trong kiểu piston đốt
cháy bằng tia lửa điện và động cơ điện để tạo động lực:
8704.51 - - Khối lượng toàn bộ theo thiết kế không quá 5 tấn
8704.52 - - Khối lượng toàn bộ theo thiết kế trên 5 tấn
8704.60 - Loại khác, chỉ sử dụng động cơ điện để tạo động lực
8704.90 - Loại khác
Đặc biệt nhóm này bao gồm:
Xe tải và xe van thông thường (có sàn phẳng, che bạt, đóng kín...); xe
giao hàng và xe van các loại, xe chuyển đồ; xe tải dỡ hàng tự động (xe
ben thùng lật); xe xitéc (có hoặc không trang bị bơm); xe tải trang bị hệ
thống làm lạnh hoặc cách nhiệt; xe tải có cấu tạo nhiều sàn để vận
chuyển các bình axit, các chai khí butan, v.v...; xe tải hạng nặng khung
hạ có cầu nghiêng để vận chuyển bồn chứa, máy nâng hoặc máy đào,
các biến thế điện,...; xe tải có kết cấu đặc biệt để chở bê tông ướt, trừ
các xe tải trộn bê tông thuộc nhóm 87.05; xe tải thu gom rác có hoặc
không lắp thiết bị bốc xếp, nén ép hoặc làm ẩm, v.v...
Nhóm này cũng bao gồm xe ba bánh hạng nhẹ, như là:
- loại lắp với động cơ và các bánh xe của môtô, v.v..., loại này do
cấu trúc cơ học của chúng, mang những đặc tính của xe ô tô thông
thường, đó là kiểu hệ thống lái loại như của xe ô tô, hoặc có cả số
lùi và bộ vi sai
- loại lắp trên một khung gầm hình chữ T, hai bánh sau của chúng
được điều khiển độc lập bởi động cơ điện chạy ắc quy riêng biệt.
Những xe này thường được điều khiển bằng một cần điều khiển
trung tâm duy nhất mà người lái dùng để khởi động, để tăng tốc,
giảm tốc, đứng lại và lùi phương tiện, cũng như quay sang trái hoặc
sang phải nhờ bộ truyền động vi sai lắp vào các bánh lái hoặc quay
bánh trước.
Xe ba bánh với các đặc tính mô tả ở trên được phân loại vào nhóm 87.03
nếu chúng được thiết kế để chở người.
Việc phân loại xe có động cơ trong nhóm này được xác định bởi chức
năng chính là được thiết kế để hàng hóa, không phải loại được thiết kế
để chở người (nhóm 87.03). Những đặc trưng này đặc biệt hữu ích trong
việc phân loại đối với trường hợp xe có động cơ có tổng trọng lượng
danh định nhỏ hơn 5 tấn, có một khoang sau đóng tách biệt hoặc một sàn
(platform) mở phía sau thường được sử dụng để vận chuyển hàng hóa,
nhưng có thể có ghế dài đằng sau mà không có đai an toàn, điểm cố định
hoặc các tiện nghi cho hành khách và gấp ngược lại để có thể cho phép
sử dụng toàn bộ sàn phía sau để vận chuyển hàng hóa. Loại này bao gồm
các xe có động cơ được biết đến là “xe đa dụng” (ví dụ xe tải van, xe bán
tải và xe thể thao đa dụng - SUV). Các tính năng sau đây biểu thị cho
các đặc tính thiết kế áp dụng cho xe có động cơ thuộc nhóm này
(a) Các ghế dài mà không có các thiết bị an toàn (ví dụ đai an toàn hoặc
điểm hoặc thiết bị cố định để cài đai an toàn) hoặc tiện nghi cho hành
khách tại khu vực phía sau đằng sau khu vực lái xe và ghế hành khách
ngồi trước; các ghế này thường gấp lại được để có thể sử dụng toàn bộ
sàn phía sau (xe tải van) hoặc có một sàn tách biệt (xe bán tải) để vận
chuyển hàng hóa;
(b) Khoang tách biệt dành cho lái xe và hành khách và một khu vực tách
biệt có các vách ngăn và một cửa hậu (xe bán tải);
(c) Không có cửa sổ phía sau dọc hai bên khung; Có cửa bên hông, cửa
tự động hoặc cửa mà không có cửa sổ, trên vách ngăn hoặc phía
đằng sau để chất hoặc dỡ hàng hóa (xe tải van);
(d) Có tấm hoặc thanh chắn giữa khoang của lái xe và hành khách phía
trước với khoang sau;
(e) Tại khoang để hàng kết hợp chở hành khách không có các tính năng
tiện ích với nội thất đầy đủ, được kết hợp với khu vực khách ngồi (như
không có thảm trải sàn,thông gió, đèn nội thất, gạt tàn)
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Xe tự đổ, xe được cấu tạo chắc chắn, với phần thân là thùng lật hoặc
thùng có nắp ở đáy, được thiết kế để chuyên chở đất đá hoặc các
loại vật liệu khác. Những phương tiện này có khung gầm cứng hoặc
có khớp nối, thường được trang bị loại bánh xe dùng cho địa hình
không có đường quốc lộ và có thể chạy trên nền đất mềm. Nhóm
này bao gồm các xe tự đổ hạng nặng và hạng nhẹ; loại hạng nhẹ đôi
khi có đặc trưng là có một ghế quay theo hai hướng đối diện, hai
ghế quay ngược chiều nhau hoặc hai tay lái, cho phép lái xe quay
mặt lại với thùng xe để điều khiển xe đổ hàng.
(2) Xe chạy đường ngắn, Các xe này được dùng trong hầm mỏ để
chuyên chở than hoặc quặng từ máy đục đến các băng tải. Đấy là
những xe hạng nặng có trọng tâm thấp, có bánh lốp và có động cơ
điện hoặc động cơ piston đốt trong; chúng tự động dỡ hàng bằng
băng truyền đặt ở sàn xe.
(3) Xe ô tô tự bốc hàng được trang bị các tời kéo, các thiết bị nâng,
v.v… nhưng chúng được thiết kế chủ yếu cho việc chuyên chở.
(4) Các xe tải chạy cả trên ray và trên bộ được thiết kế đặc biệt để có
thể di chyển trên cả đường ray và trên đường bộ. Những xe loại này,
với các bánh xe hơi không làm việc khi chạy trên ray, được lắp ở
phía trước và phía sau một bộ phận chuyển hướng có thể nâng lên
bằng một kích thuỷ lực cho phép xe chạy được trên đường bộ.
Khung gầm xe ô tô, đã lắp động cơ (engine) và cabin, cũng được xếp
trong nhóm này.
Nhóm này cũng loại trừ:
(a) Xe nâng hạ container (nâng bên trong) dùng trong nhà máy, kho tàng,
bến cảng, sân bay ... để nâng hạ những hàng có kích thước dài hoặc
côngtennơ (nhóm 84.26).
(b) Các xe vừa bốc dỡ vừa chở hàng trong hầm mỏ (nhóm 84.29)
(c) Các xe môtô, xe mô tô tay ga hoặc các xe đạp máy khác, được chế
tạo để chở hàng như xe mô tô, xe ba bánh giao hàng, ... chúng không
có đặc tính của phương tiện ba bánh của nhóm này (nhóm 87.11).
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Phân nhóm 8704.10
Các xe tự đổ này thường có thể được phân biệt với các xe chở hàng khác
(đặc biệt là các xe tải ben) bởi các đặc tính sau:
- Thùng xe tự đổ được chế tạo bằng các tấm thép có độ bền cao; phần
trước của thùng được kéo dài lên trên cabin của lái xe để bảo vệ
buồng lái; toàn bộ hoặc một phần sau xe dốc lên phía sau;
- Một số trường hợp, buồng lái chỉ bằng nửa chiều rộng sàn thực tế;
- Thiếu bộ phận hãm trục;
- Công suất hệ thống phanh lớn;
- Bị hạn chế tốc độ tối đa và phạm vi hoạt động;
- Lốp đặc chủng để chạy trên nền đất;
- Tỷ lệ giữa tự trọng của xe và trọng tải tối đa của hàng hoá không
vượt quá 1:1,6 do kết cấu vững chắc của xe;
- Thùng xe có thể được đốt nóng bằng khí xả để chống đông cứng hay
kết dính nguyên vật liệu chứa trong đó.
Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý là một số xe tự đổ được thiết kế đặc biệt để
làm việc trong hầm mỏ hay đường hầm, ví dụ, xe có cửa mở ở đáy thùng
xe. Chúng mang một số đặc điểm nêu ở trên, nhưng không có cabin và
thùng xe không có phần kéo dài lên phía trước để bảo vệ buồng lái.
Các phân nhóm 8704.21, 8704.22, 8704.23, 8704.31 và 8704.32
Khối lượng toàn bộ theo thiết kế của xe là tổng trọng lượng có tải tối đa của
xe khi chạy trên đường được thiết kế bởi nhà sản xuất. Tổng trọng lượng đó
gồm: trọng lượng của bản thân xe, trọng lượng hàng tối đa theo thiết kế,
trọng lượng của người lái xe và bình nhiên liệu ở trạng thái đầy.
87.05 - Xe chuyên dùng có động cơ, trừ các loại được thiết kế chủ
yếu dùng để chở người hay hàng hóa (ví dụ, xe cứu hộ, xe cần cẩu,
xe chữa cháy, xe trộn bê tông, xe quét đường, xe phun tưới, xe sửa
chữa lưu động, xe chụp X-quang).
8705.10 - Xe cần cẩu.
8705.20 - Xe cần trục khoan.
8705.30 - Xe chữa cháy.
8705.40 - Xe trộn bê tông.
8705.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm tập hợp những xe có động cơ, được chế tạo hoặc cải
tạo đặc biệt, được trang bị những thiết bị khác nhau tạo cho chúng khả
năng thực hiện một số chức năng nhất định ngoài chức năng vận tải,
nghĩa là mục tiêu cơ bản của các xe xếp trong nhóm này không phải là
chở người hay hàng hoá.
Nhóm này bao gồm:
(1) Xe cứu hộ gồm có khung gầm của xe tải, có hoặc không có sàn, có
gắn thiết bị nâng như cần cẩu không có mâm quay, giá đỡ, puli hoặc
tời, được thiết kế để nâng và kéo các xe bị hỏng trên đường.
(2) Xe có trang bị bơm, với các bơm thường được dẫn động bằng động
cơ của xe (ví dụ xe cứu hoả).
(3) Xe tải có lắp thang hoặc có sàn nâng dùng để bảo dưỡng dây cáp
điện, hệ thống chiếu sáng công cộng v.v… ; xe tải có sàn (“bệ
quay”) và cần điều chỉnh được dùng trong điện ảnh hoặc truyền
hình.
(4) Xe tải dùng để rửa đường, rãnh lề đường, đường băng sân bay v.v…
(ví dụ như xe quét đường, xe tưới đường, xe tưới quét và hút bùn bể
phốt).
(5) Xe ủi tuyết và xe thổi tuyết, có trang bị thiết bị chuyên dụng; ví dụ
những xe cơ giới được chế tạo chuyên để dọn tuyết và thường được
trang bị tua bin, cánh quạt, v.v ... được dẫn động bởi động cơ của xe
hoặc một động cơ riêng.
Tất cả các loại thiết bị ủi hoặc thổi tuyết có thể tháo lắp thay đổi
được, đã hoặc chưa lắp vào xe thì bị loại trừ (nhóm 84.30),.
(6) Xe tải phun rải các loại, có hoặc không lắp thiết bị làm nóng, dùng
để rải nhựa đường hoặc rải sỏi, dùng trong nông nghiệp, v.v.
(7) Các xe cần cẩu không dùng cho việc chở hàng, gồm một khung gầm
của xe có động cơ trên đó có lắp cố định một cabin và một cần cẩu
quay. Tuy nhiên, các xe tải có thiết bị tự bốc hàng bị loại trừ (thuộc
nhóm 87.04)
(8) Các xe cần trục khoan (ví dụ xe tải lắp một bộ cần trục, tời và các
thiết bị khác dùng để khoan, v.v…)
(9) Các xe tải có lắp cơ cấu bốc dỡ vật nặng (ví dụ có một sàn nâng
chuyển động theo một trụ thẳng đứng và thường được dẫn động
bằng động cơ ôtô). Tuy nhiên, các xe tự bốc xếp có trang bị tời, thiết
bị nâng v.v… nhưng được chế tạo chủ yếu để chở hàng thì loại trừ
nhóm này (thuộc nhóm 87.04)
(10) Xe tải trộn bê tông gồm một ca bin và một khung gầm xe cơ giới,
trên đó lắp cố định một máy trộn bê tông, có thể sử dụng cho cả
nhào trộn và vận chuyển bê tông.
(11) Xe trang bị máy phát điện di động, gồm một xe cơ giới trên đó có
một máy phát điện dẫn động bằng động cơ của xe hoặc của một
động cơ riêng biệt.
(12) Xe chụp X quang di động: ví dụ được lắp kèm phòng khám, phòng
tối và thiết bị đồng bộ để chụp X quang.
(13) Phòng khám di động (nội khoa hoặc nha khoa), có phòng phẫu
thuật, trang thiết bị gây mê và các thiết bị phẫu thuật khác.
(14) Xe tải chiếu rọi, gồm một đèn pha rọi gắn trên xe, sử dụng điện
cung cấp bởi máy phát điện dẫn động bằng động cơ xe.
(15) Xe phát thanh lưu động.
(16) Xe thu phát điện báo, điện báo sóng vô tuyến hoặc điện thoại sóng
vô tuyến; các xe rađa.
(17) Xe có trang bị máy tính tự động xác định kết quả thi đấu tại các
cuộc đua.
(18) Xe trang bị phòng thí nghiệm di động (ví dụ để kiểm tra tính năng
kỹ thuật của các máy nông nghiệp).
(19) Xe tải (test lorries), được lắp với dụng cụ ghi để xác định lực kéo
của xe cơ giới đang móc kéo nó.
(20) Xe làm bánh di động được trang bị đầy đủ thiết bị (thùng nhào bột,
lò nướng v.v ...); xe nhà bếp.
(21) Xe tải sửa chữa lưu động (workshop vans), được trang bị các máy
móc và các dụng cụ, các thiết bị hàn, v.v...
(22) Ngân hàng, thư viện và phòng trưng bày lưu động để giới thiệu
hàng hoá.
Nhóm này loại trừ:
(a) Các xe lu lăn đường tự hành (nhóm 84.29)
(b) Máy bừa đất dùng trong nông nghiệp (nhóm 84.32).
(c) Các thiết bị cầm tay di động có gắn động cơ bổ trợ (ví dụ, như máy
quét rác trong công viên, vườn cây công cộng, v.v... và máy sơn kẻ
đường) (nhóm 84.79).
(d) Ô tô nhà ở lưu động (có nội thất được thiết kế như căn hộ) (nhóm
KHUNG XE Ô TÔ HOẶC XE TẢI ( XE TẢI) KẾT HỢP VỚI MÁY
GIA CÔNG
Cần lưu ý rằng để được phân loại vào nhóm này, một phương tiện bao
gồm máy nâng hoặc xếp dỡ, máy san lấp mặt bằng, máy đào hoặc máy
khoan,…, phải thực tế tạo thành một khung gầm có động cơ hoàn chỉnh
về cơ bản hoặc xe tải trong đó nó bao gồm ít nhất các đặc điểm cơ khí
sau: động cơ đẩy, hộp số và bộ điều khiển chuyển số, các thiết bị lái và
Mặt khác, các máy tự hành (ví dụ, cần cẩu, máy xúc) trong đó một hoặc
nhiều bộ phận đẩy hoặc điều khiển nêu trên được đặt trong cabin của
máy làm việc được gắn trên khung có bánh xe hoặc khung đặt đường
ray, dù toàn bộ có thể được điều khiển trên đường bằng năng lượng của
chính nó hay không, vẫn được phân loại vào, ví dụ, nhóm 84.26, 84.29
hoặc 84.30.
Tương tự, nhóm này loại trừ các máy có bánh xe tự hành trong đó
khung gầm và máy làm việc được thiết kế đặc biệt cho nhau và tạo thành
một bộ phận cơ khí tích hợp (ví dụ, máy san gạt có động cơ tự hành).
Trong trường hợp này, máy không chỉ được lắp trên khung xe cơ giới,
mà còn được tích hợp hoàn toàn với khung xe, không thể sử dụng cho
mục đích khác và có thể kết hợp các tính năng thiết yếu của ô tô nêu
trên.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng máy cày tuyết hoặc máy thổi tuyết tự hành
có thiết bị tích hợp luôn thuộc nhóm này.
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Phân nhóm 8705.10
Xem Chú giải chi tiết nhóm 87.05, mục (7).
87.06 - Khung gầm đã lắp động cơ, dùng cho xe có động cơ thuộc
các nhóm từ 87.01 đến 87.05.
Nhóm này gồm khung gầm hoặc tổ hợp thân xe với khung gầm (kết cấu
khung xe hoặc khung với thân xe liền khối), của các xe cơ giới thuộc
các nhóm từ 87.01 đến 87.05, đã lắp động cơ, và hệ thống truyền động,
và cơ cấu lái và các cầu xe (có hoặc chưa có bánh xe). Nghĩa là Nhóm
này gồm những xe cơ giới chưa có thân xe.
Tuy nhiên, các khung gầm xếp trong nhóm này có thể được lắp nắp đậy
máy, kính chắn gió, chắn bùn trên bánh xe, các bậc lên xuống và bảng
khí cụ (có hoặc không có thiết bị). Khung gầm vẫn thuộc nhóm này, cho
dù chúng có hay không có lốp, chế hoà khí hoặc ắc quy hoặc những thiết
bị điện khác. Tuy nhiên, nếu các bộ khung gầm đó là một máy kéo hoàn
chỉnh hoặc một máy kéo gần như hoàn chỉnh hoặc các phương tiện
tương tự khác sẽ không nằm trong Nhóm này.
Nhóm này cũng loại trừ:
(a) Các khung gầm có lắp động cơ và cabin, carbin có thể hoàn chỉnh
hoặc chưa hoàn chỉnh (ví dụ chưa có chỗ ngồi) (nhóm 87.02 đến
87.04) (xem chú thích 3 của Chương này).
(b) Các khung gầm chưa lắp động cơ, đã hoặc chưa lắp các bộ phận máy
khác (nhóm 87.08).
87.07 - Thân xe (kể cả ca-bin), dùng cho xe có động cơ thuộc các
nhóm từ 87.01 đến 87.05
8707.10 – Dùng cho xe thuộc nhóm 8703
8707.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các thân xe (kể cả cabin) của các xe cơ giới, từ
nhóm 8701 đến 8705.
Nhóm này không chỉ bao gồm các thân xe được thiết kế để lắp trên
khung gầm mà còn bao gồm thân của các xe không có khung gầm
(trường hợp đó thân xe đã được thiết kế để gắn động cơ và các trục xe);
ngoài ra nhóm này còn bao gồm cả các thân xe liền khối trong đó một số
bộ phận của khung gầm được lắp lên thân xe.
Nhóm này bao gồm nhiều kiểu thân xe dùng cho các loại xe khác nhau
(ví dụ xe chở người, xe tải và xe chuyên dụng). Chúng thường được làm
bằng thép, bằng hợp kim nhẹ, bằng gỗ hoặc bằng nhựa.
Chúng có thể được trang bị hoàn chỉnh (ví dụ với tất cả thiết bị và đồ
phụ trợ như: bảng khí cụ, ngăn hành lý, ghế ngồi và đệm, tấm trải sàn,
khoan để hành lý và trang thiết bị điện).
Thân xe chưa hoàn chỉnh cũng thuộc nhóm này, ví dụ thân xe còn phải
lắp thêm kính chắn gió hoặc cửa, hoặc thân xe chưa bọc nệm ghế hoặc
chưa sơn xong.
Các loại buồng lái (ví dụ dùng cho xe tải, máy kéo) cũng được xếp trong
nhóm này.
87.08 - Bộ phận và phụ kiện của xe có động cơ thuộc các nhóm từ
87.01 đến 87.05
8708.10 - Thanh chắn chống va đập (ba đờ xốc) và bộ phận của nó.
- Bộ phận và phụ kiện khác của thân xe (kể cả ca-bin).
8708.21 - - Dây đai an toàn.
8708.22 - - Kính chắn gió phía trước (kính chắn gió), kính cửa phía
sau và các kính cửa khác được mô tả tại Chú giải Phân nhóm 1
Chương này
8708.29 - - Loại khác
8708.30 - Phanh và trợ lực phanh; bộ phận của nó.
8708.40 - Hộp số và bộ phận của chúng
8708.50 - Cầu chủ động có vi sai, có hoặc không kèm theo chi tiết
truyền lực khác,và các cầu bị động; các bộ phận của chúng
8708.70 - Cụm bánh xe và bộ phận và phụ kiện của chúng
8708.80 - Hệ thống giảm chấn và bộ phận của nó (kể cả giảm sóc)
- Các bộ phận và phụ kiện khác
8708.91 - - Két nước làm mát và bộ phận của chúng
8708.92 - - Ống xả và bộ giảm thanh; bộ phận của chúng
8708.93 - - Bộ ly hợp và các bộ phận của nó.
8708.94 - - Vô lăng, trụ lái và cơ cấu lái; bộ phận của nó
8708.95 - - Túi khí an toàn lắp với hệ thống bơm phồng; bộ phận
của nó
8708.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm toàn bộ các phụ tùng và bộ phận phụ trợ của xe cơ
giới từ nhóm 87.01 đến 87.05, với điều kiện là chúng phải đáp ứng cả
hai điều kiện sau đây:
(i) Chúng phải được xác định là bộ phận phù hợp để sử dụng duy
nhất và chủ yếu cho các loại phương tiện trên.
và (ii) Chúng phải không bị loại trừ theo các qui định của các Chú giải
cho Phần XVII (xem phần Chú giải tổng quát tương ứng).
Các phụ tùng và bộ phận phụ trợ thuộc nhóm này gồm:
(A) Khung gầm xe cơ giới đã lắp ráp (đã hoặc chưa lắp bánh xe nhưng
không có động cơ) và các phụ tùng đi kèm (dầm dọc, thanh dọc,
thanh ngang; đỡ hệ thống treo, giá đỡ thùng xe, động cơ, bậc lên
xuống, ắc quy, bình chứa nhiên liệu v.v...)
(B) Các bộ phận của thân xe và phụ kiện của chúng, ví dụ các tấm lót
sàn xe, thành xe, tấm chắn trước hoặc sau, khoang hành lý, v.v ...;
cửa và các bộ phận của nó; nắp ca pô; cửa sổ đã được gắn khung,
cửa sổ được trang bị nhiệt điện trở và đầu nối điện, khung cửa sổ;
bậc lên xuống; tấm hướng gió (vè xe); chắn bùn; bảng khí cụ; các
nắp của bộ tản nhiệt; các giá đỡ của biển số xe; ba đờ xốc và các bộ
phận của nó; giá đỡ cột lái; các giá chở hành lý phía ngoài xe; các
tấm che nắng; các thiết bị sưởi và làm tan giá không dùng điện, loại
này sử dụng nhiệt sinh ra từ động cơ xe; các dây đai an toàn để bảo
vệ người được thiết kế gắn cố định trong xe; các thảm trải sàn xe
(trừ loại làm bằng vải hoặc cao su mềm đã lưu hoá), v.v... Các cụm
chi tiết (gồm kết cấu khung gầm thân xe) chưa có tính chất của thân
xe chưa hoàn chỉnh, ví dụ không cửa, không tấm hướng gió (vè xe),
không mui che máy (ca-pô) và không nắp đậy sau xe... cũng xếp
vào nhóm này chứ không phải ở nhóm 87.07
(C) Các bộ ly hợp (côn, đĩa, thuỷ lực, tự động, ..., nhưng trừ các bộ ly
hợp điện từ thuộc nhóm 85.05), các vỏ ly hợp, các đĩa ma sát và đòn
ly hợp, các tấm ma sát
(D) Các loại hộp số (hộp truyền lực) (cơ khí, truyền động tăng tốc, hộp
số bán tự động (gài số trước khi số được sang), điện cơ, tự động...);
các cơ cấu biến đổi mô men; vỏ hộp số; các trục (trừ các bộ phận
bên trong động cơ hoặc mô tơ); các bánh răng hộp số; các khớp ly
hợp dẫn động trực tiếp và cần chuyển số, v.v...
(E) Cầu chủ động, cầu chủ động có gắn bộ vi sai; cầu bị động (trước hoặc sau);
vỏ của bộ truyền động vi sai; các bánh răng hộp số hành tinh (đồng tâm) ;
các trục bánh xe; trục thứ cấp (các gối trục), các giá đỡ trục thứ cấp.
(F) Các bộ phận và các cụm truyền động khác (ví dụ trục dẫn động, bán
trục, bánh răng, hệ thống bánh răng, các vòng bi trục trơn, các cơ
cấu giảm tốc, khớp các đăng (khớp trục cần đẩy). Tuy nhiên, nhóm
này trừ các bộ phận bên trong động cơ như tay biên (tay dên), thanh
đẩy (xú bắp) và con đội xú pắp thuộc nhóm 84.09 và các trục
khuỷu, trục cam và bánh đà thuộc nhóm 84.83.
(G) Các bộ phận của hệ thống lái (ví dụ, ống trục lái, các cần và thanh
kéo chuyển hướng lái, thanh nối khớp lái; vỏ trụ lái; các giá đỡ
thanh răng; các cơ cấu trợ lực lái).
(H) Các loại phanh (phanh guốc, phanh quanh đai, phanh đĩa...) và các
bộ phận của chúng (đĩa phanh, tang phanh, các xi lanh phanh, má
phanh, bình dầu cho phanh thuỷ lực, vv...); trợ lực phanh và các bộ
phận của chúng.
(IJ) Các giảm sóc treo (ma sát, thuỷ lực ...) và các bộ phận treo khác (trừ
các lò xo), các thanh xoắn.
(K) Bánh xe chạy trên đường bộ (bằng thép cán, có nan hoa v.v ...) có
hoặc chưa có lốp; xích và bộ bánh xe dùng cho xe bánh xích; các
vành bánh, đĩa, các nắp trục bánh xe và nan hoa.
(L) Các bộ phận điều khiển, ví dụ như vô lăng, trụ lái và cơ cấu lái, hộp
cơ cấu lái, trục tay lái; cần chuyển số và cần phanh tay; chân ga,
chân phanh và bàn đạp ly hợp; các thanh nối của phanh, ly hợp.
(N) Các dây cáp bộ ly hợp, cáp phanh, cáp bộ tăng tốc và các dây cáp
tương tự, gồm một vỏ ngoài dẻo và một cáp bên trong di chuyển
được. Chúng là sợi cáp có độ dài nhất định có gắn đầu nối.
(O) Túi khí an toàn các loại với hệ thống bơm phồng (ví dụ., túi khí phía
người lái, phía hành khách, các túi khí được lắp đặt tại các ốp cửa để
bảo vệ phía bên cạnh hoặc túi khí được lắp đặt tại trần xe để bảo vệ
đầu) và các bộ phận của chúng. Hệ thống bơm phồng bao gồm ngòi
nổ và chất nổ đẩy trong một ống chứa dẫn luồng khí trực tiếp vào túi
khí. Nhóm này không bao gồm các cảm biến từ xa hoặc các thiết bị
điều khiển điện tử, vì chúng không được xem là bộ phận của hệ
thống bơm phồng.
Nhóm này không bao gồm các xilanh thuỷ lực hoặc xi lanh khí thuộc
nhóm 84.12.
87.09 - Xe vận chuyển, loại tự hành, không lắp kèm thiết bị nâng hạ
hoặc cặp giữ, thuộc loại dùng trong nhà máy, kho hàng, bến
cảng hoặc sân bay để vận chuyển hàng hóa trong phạm vi hẹp;
xe kéo loại dùng trong sân ga, ke ga đường sắt; bộ phận của
các loại xe kể trên
8709.11 - - Loại chạy điện
8709.19 - - Loại khác
8709.90 - Các bộ phận
Nhóm này bao gồm một nhóm xe loại tự hành dùng trong nhà máy, kho
tàng, bến cảng hoặc sân bay để vận chuyển các hàng hoá khác nhau
trong phạm vi hẹp (hàng hoá hoặc côngtennơ) hoặc để kéo rơ moóc nhỏ
trên sân ga.
Các xe như vậy có nhiều chủng loại và kích thước khác nhau. Chúng có
thể chạy bằng một động cơ điện sử dụng điện ắc quy hoặc điện tạo ra bởi
một động cơ piston đốt trong hoặc động cơ khác.
Các đặc điểm chủ yếu chung cho các xe thuộc nhóm này thường được
phân biệt với các xe cộ thuộc các nhóm 87.01, 8703 hoặc 87.04, nói
chung có thể được tóm tắt như sau :
(1) Về nguyên lý, Kết cấu của chúng và đặc điểm thiết kế đặc biệt của
chúng, khiến chúng không thích hợp để chở người hoặc chở hàng
trên đường bộ hoặc các đường công cộng khác.
(2) Tốc độ tối đa của chúng khi chở hàng thường không vượt quá 30 đến
(3) Bán kính khi quay vòng của chúng gần bằng chiều dài xe.
Các xe thuộc nhóm này thường không có buồng lái kín, chỗ cho lái xe
thường chỉ là một khoảng sàn để người lái đứng điều khiển xe. Một số
loại có thể trang bị khung chắn, màn chắn bằng kim loại để bảo vệ v.v...
ở chỗ người lái.
Các xe trong nhóm này có thể là loại điều khiển bằng tay cầm.
Xe công trình là loại xe tải loại tự hành dùng để vận chuyển hàng hoá
được lắp, ví dụ sàn hoặc thùng xe để chở hàng.
Các xe xitec nhỏ thuộc loại thường sử dụng trong sân ga đường sắt, có
hoặc không trang bị bơm phụ trợ cũng được xếp vào Nhóm này.
Các xe kéo thuộc loại sử dụng trong sân ga đường sắt được thiết kế chủ
yếu để kéo hoặc đẩy các xe khác, ví dụ như các xe moóc nhỏ. Chúng
không tự vận chuyển hàng, và thường nhẹ hơn và có công suất nhỏ hơn
các máy kéo thuộc nhóm 87.01. Xe kéo loại này cũng có thể được sử
dụng trên các cầu cảng, nhà kho, v.v...
CÁC BỘ PHẬN
Nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của xe cộ nằm trong nhóm, miễn
là chúng đáp ứng cả hai điều kiện sau đây :
(i) Chúng phải được xác định là phù hợp để sử dụng riêng và chủ
yếu dùng cho các xe trên.
và (ii) Chúng phải không bị loại trừ khỏi Nhóm này bởi các qui định của
các chú giải phần XVII (xem chú giải chi tiết tương ứng).
Các bộ phận thuộc nhóm này bao gồm:
(1) Khung gầm.
(2) Thân xe, sàn xe, thành xe (detachable sides), các loại thùng lật
(3) Bánh xe, đã hoặc chưa có lốp.
(4) Bộ ly hợp.
(5) Hộp số, bộ vi sai.
(6) Trục xe.
(7) Tay lái hoặc các cần lái.
(8) Hệ thống phanh và bộ phận của chúng
(9) Cáp dẫn động ly hợp, cáp phanh, cáp chân ga và các dây cáp tương
tự, bao gồm vỏ bọc mềm và lõi cáp chuyển động bên trong. Chúng
là cáp dài có độ dài nhất định có gắn đầu nối. ở các đầu mút.
Nhóm này loại trừ:
(a) Thiết bị xếp dỡ container và xe tải công trình (work struck) có lắp
cần cẩu (nhóm 84.26)
(b) Các xe nâng hàng và xe tải công trình khác có gắn thiết bị nâng hạ,
cặp giữ hàng (nhóm 84.27)
(c) Các xe tự đổ (nhóm 87.04).
87.10 - Xe tăng và các loại xe chiến đấu bọc thép khác, loại cơ giới,
có hoặc không lắp kèm vũ khí, và bộ phận của các loại xe này.
Nhóm này bao gồm các xe tăng và các loại xe chiến đấu có bọc sắt khác,
loại cơ giới, có hoặc không trang bị vũ khí và các bộ phận của chúng.
Các xe tăng là xe chiến đấu bọc thép chạy bằng xích, và được trang bị
nhiều loại vũ khí (súng, súng máy, súng phun lửa ...) thường được đặt
trong một hay nhiều tháp pháo quay được. Đôi khi chúng có gắn thiết bị
định vị đặc biệt giúp ngắm bắn mục tiêu, không phụ thuộc vào chuyển
động của xe. Chúng có thể được trang bị thiết bị chống mìn như "tay
đập" (fail) (một tay quay đặt trên đòn tay ở phía trước xe, trên đó gắn các
đoạn xích có các quả tạ ở đầu) hoặc một số con lăn nặng gắn ở phía
trước xe.
Nhóm này cũng bao gồm xe tăng lội nước.
Xe bọc thép nhanh hơn và nhẹ hơn xe tăng và không thể lắp vỏ thép dầy
hoặc súng lớn như xe tăng. Đôi khi chúng chỉ bọc thép một phần. Chúng
chủ yếu được dùng trong nhiệm vụ cảnh sát, trinh sát hoặc chuyên chở
trong vùng có chiến đấu. Một số xe bọc thép chạy bằng bánh xích,
nhưng đa số dùng bánh hơi. Chúng có thể là loại xe lội nước (ví dụ, xe
bọc thép bánh xích dùng để đổ bộ).
Nhóm này cũng bao gồm :
(A) Các xe tăng có trang bị cần cẩu để thu hồi các phương tiện chiến
đấu.
(B) Các xe bọc thép dùng cho quân nhu, thường là loại bánh xích, dù có
hoặc không được thiết kế để vũ trang; chúng được sử dụng để tiếp tế
dầu xăng, đạn dược, v.v... trong vùng có chiến sự
(C) Xe tăng hạng nhẹ điều khiển từ xa, dùng để chuyển đạn dược phục
vụ pháo binh hoặc xe chiến đấu ở phía trước.
(D) Các xe bọc thép được lắp cố định các thiết bị phá huỷ đặc biệt.
(E) Xe chở người bọc thép.
Nhóm này không bao gồm các xe hơi, xe tải loại thông thường được bọc
thép mỏng hoặc trạng bị phần bọc thép phụ có thể tháo ra được (tương
ứng từ nhóm 87.02 đến nhóm 87.05).
Các khẩu pháo tự hành thuộc nhóm 93.01, đặc điểm nhận biết là chúng
được thiết kế để bắn tại chỗ và tự thân có thể di chuyển trong giới hạn.
CÁC BỘ PHẬN
Nhóm này cũng bao gồm các bộ phận của xe cơ giới nói trên, miễn là
những bộ phận đó đáp ứng được cả hai điều kiện sau :
(i) Chúng phải được xác định là phù hợp để sử dụng riêng hoặc chủ
yếu cho các xe nói trên.
và (ii) Chúng phải không bị loại trừ bởi theo các qui định của chú giải
Phần XVII (xem chú giải chi tiết tương ứng).
Các bộ phận thuộc nhóm này bao gồm:
(1) Các thân xe cơ giới bọc thép và các bộ phận của chúng (các tháp
pháo, cửa và nắp mui xe bọc thép ...)
(2) Các xích được chế tạo đặc biệt dùng cho xe tăng.
(3) Các bánh xe đặc biệt dùng cho ô tô bọc thép.
(4) Các bánh đẩy dùng cho xích xe tăng.
(5) Các tấm thép bảo