PROJECT

CHU GIAI 2022_17

CHU GIAI 2022_17

 cho xây dựng thuộc nhóm 73.08) và ống máng; 
đai hoặc vòng đai để kẹp hoặc xiết chặt (vòng xiết ống mềm) sử 
dụng để kẹp hệ thống ống mềm dẻo hoặc ống mềm vào ống dẫn 
cứng vững, vòi nước,...; giá treo, cột chống đỡ và các trụ đỡ 
tương tự để cố định hệ thống đường ống và hệ thống ống (trừ kẹp 
và các bộ phận khác được thiết kế đặc biệt để lắp ráp các thành 
phần hình ống cho các kết cấu kim loại, những loại mà đã rơi vào 
nhóm 73.08); các dụng cụ đo sức chứa (trừ các loại dùng trong 
gia đình - nhóm 73.23); các đê khâu vá; đinh phân chia luồng 
đường; các loại móc đã rèn, ... cho cần cẩu; móc có lò xo cho tất 
cả các mục đích; thang và bậc thang; mễ; trụ đỡ hoặc con mã đúc 
(trừ các loại đinh của xưởng đúc, xem nhóm 73.17) cho các thao 
đúc ở xưởng đúc; hoa hoặc bộ lá cây giả bằng sắt hoặc thép đã 
được gia công (nhưng không bao gồm các sản phẩm thuộc nhóm 
83.06 và đồ trang sức giả thuộc nhóm 71.17). 
(2)  Các sản phẩm từ dây thép, ví dụ như lưới bẫy, cái bẫy, các bẫy 
chuột, giỏ bắt lươn và các sản phẩm tương tự, dây cột thức ăn cho 
súc vật bằng thép, ...; các tanh cho lốp xe; dây kép hoặc dây đôi để 
làm dây go máy dệt và được tạo thành bằng cách hàn hai dây đơn lại 
với nhau, vòng đeo ở mũi động vật; cái móc đệm, móc treo ở hàng 
thịt, quai treo ngói gạch,..., sọt giấy loại.  
(3)  Một số hộp và hòm, ví dụ như các hộp và hòm dụng cụ, không được 
tạo dáng đặc biệt hoặc được gắn ở bên trong để chứa các dụng cụ 
đặc biệt có hoặc không có các phụ tùng của chúng (xem Chú giải 
cho nhóm 42.02); các hộp đựng vật mẫu thực vật hoặc hộp sưu tập, 
... của nhà sưu tầm học, hộp đựng đồ trang sức rẻ tiền; các hộp và 

tráp đựng phấn trang điểm và đồ trang điểm; hộp xì gà, hộp đựng 
thuốc lá, hộp kẹo cao su, ..., nhưng không bao gồm các đồ chứa 
thuộc nhóm 73.10 các đồ chứa dùng trong gia đình (nhóm 73.23), 
cũng không bao gồm các đồ chứa dùng để trang trí (nhóm 83.06).  
Nhóm này còn bao gồm các bình chân không đựng thức uống (tay hãm 
máy hút) bao gồm đế, tay cầm và một cần gạt chân không, và vòng đệm 
cao su được định sẵn để được gắn tạm thời vào một vật (đặc biệt là bằng 
thuỷ tinh) với ý định cho phép vật này di chuyển được.  
Nhóm này không bao gồm những vật rèn là những sản phẩm thuộc 
những nhóm khác của Danh mục (ví dụ những bộ phận rời có thể nhận 
dạng của máy móc hoặc các đồ dùng cơ khí) hoặc các vật rèn chưa hoàn 
thiện mà đòi hỏi sự gia công tiếp theo nhưng có đặc tính cần thiết của 
những sản phẩm như vậy đã hoàn thiện.  
Nhóm này cũng không bao gồm:  
(a) Các sản phẩm thuộc nhóm 42.02.  
(b) Các bể chứa, két, thùng và các đồ chứa tương tự thuộc nhóm 73.09 
hoặc 73.10.   
(c) Thùng rác và thùng rác di động (kể loại sử dụng bên ngoài) của nhóm 
(d) Các sản phẩm đúc bằng sắt hoặc thép (nhóm 73.25).  
(e) Thiết bị văn phòng để bàn, ví dụ như kệ giữ sách, giá để lọ mực, 
khay để bút, bàn thấm, cái chẹn giấy và giá để con dấu cơ quan 
(nhóm 83.04)  
(f) Tượng, bình, lọ, bình đựng tro hoả táng và cây thánh giá thuộc loại 
dùng để trang trí (nhóm 83.06).  
(g) Vật liệu để đóng kệ, giá cỡ lớn để lắp đặt cố định trong các cửa hàng, 
phân xưởng, nhà kho,... (nhóm 73.08) và đồ nội thất dạng giá kệ 
thuộc nhóm 94.03.  
(h) Khung sườn bằng dây thép để làm các chụp đèn bằng vải hoặc giấy 
(nhóm 94.05) 

Chú giải phân nhóm.  
Các phân nhóm 7326.11 và 7326.19  
Sau khi rèn hoặc,  các sản phẩm thuộc các phân nhóm này có thể đã phải 
chịu sự gia công hoặc các quá trình xử lý bề mặt sau:  
Loại bỏ các ba via , phần mấp mô và các khuyết tật dập khác bằng cách 
hớt ba via, mài thô, rèn dập, đục hoặc trám; loại bỏ sự ủ bằng cách 
nhúng axít; sự phun cát làm sạch đơn giản; gia công thô hay sự tẩy trắng 
thô và các quy trình khác được dành riêng để phát hiện các vết nứt rạn 
trong kim loại; áp dụng sự phủ thô graphit, dầu, hắc ín, bột chì đỏ hoặc 
các sản phẩm tương tự, hoàn toàn được dành để bảo vệ các vật thể khỏi 
gỉ hoặc khỏi các kiểu ôxy hoá khác; dập nổi, dập, in ..., với những chữ 
viết đơn giản ví dụ như các nhãn hiệu.  

Chương 74 
Đồng và các sản phẩm bằng đồng 
Chú giải. 
Trong Chương này các khái niệm sau có nghĩa:  
(a) Đồng tinh luyện 
Kim loại có ít nhất 99,85% tính theo trọng lượng là đồng; hoặc 
Kim loại có ít nhất 97,5% tính theo trọng lượng là đồng, với điều 
kiện hàm lượng các tạp chất không vượt quá giới hạn ghi trong 
bảng sau: 
BẢNG - Các nguyên tố khác 
Nguyên tố 
Hàm lượng giới hạn (% trọng lượng) 
Bạc 
Chì 
Lưu huỳnh 
Thiếc 
Kẽm 
Các nguyên tố khác 
(*), tính cho mỗi 
nguyên tố 
* Các nguyên tố khác, ví dụ: Al (Nhôm), Be (Berili), Co 
(Cobal), Fe (sắt), Mn (Mangan), Ni (Niken), Si (Silic) 
(b) Hợp kim đồng 
Vật liệu kim loại trừ đồng chưa tinh luyện trong đó hàm lượng 
đồng tính theo trọng lượng lớn hơn so với từng nguyên tố khác, 

với điều kiện: 
(i) hàm lượng của ít nhất một trong các nguyên tố khác phải lớn 
hơn giới hạn đã nêu trong bảng trên; hoặc 
(ii) Tổng hàm lượng của các nguyên tố khác lớn hơn 2,5% 
(c) Các hợp kim đồng chủ 
 Hợp kim chứa các nguyên tố khác với hàm lượng lớn hơn 10% 
tính theo trọng lượng của đồng, không có tính rèn và thường sử 
dụng như chất phụ gia trong sản xuất các hợp kim khác hoặc như 
tác nhân khử ô-xi, khử lưu huỳnh hoặc tác dụng tương tự trong 
ngành luyện kim màu. Tuy nhiên, đồng photphua (phosphor 
copper) có hàm lượng phospho trên 15% tính theo trọng lượng 
phải xếp vào nhóm 28.53. 
Chú giải phân nhóm. 
1. Trong Chương này các khái niệm sau có nghĩa: 
(a) Hợp kim đồng-kẽm (đồng thau) 
Hợp kim đồng và kẽm, có hoặc không có các nguyên tố khác. 
Khi có các nguyên tố khác: 
- hàm lượng kẽm trội hơn so với hàm lượng của mỗi nguyên tố 
khác; 
- hàm lượng niken dưới 5% tính theo khối lượng (xem phần hợp 
kim đồng-niken-kẽm (bạc niken)); và 
- hàm lượng thiếc dưới 3% tính theo khối lượng (xem phần hợp 
kim đồng-thiếc (đồng thanh)). 
(b) Hợp kim đồng-thiếc (đồng thanh) 
Hợp kim đồng và thiếc, có hoặc không có các nguyên tố khác. 
Trường hợp có nguyên tố khác, hàm lượng thiếc phải trội hơn so 
với hàm lượng của từng nguyên tố khác, trừ trường hợp khi 
thành phần thiếc từ 3% trở lên thì hàm lượng kẽm có thể cao 
hơn thiếc nhưng phải dưới 10% tính theo khối lượng. 
(c) Hợp kim đồng-niken-kẽm (bạc niken) 

Hợp kim đồng, niken và kẽm, có hoặc không có các nguyên tố 
khác. Hàm lượng niken từ 5% tính theo khối lượng trở lên (xem 
phần hợp kim đồng kẽm (đồng thau)). 
(d) Hợp kim đồng-niken 
Hợp kim đồng và niken, có hoặc không có các nguyên tố khác 
nhưng trong mọi trường hợp, hàm lượng kẽm chứa trong đó 
không quá 1% tính theo khối lượng. Trong trường hợp có 
nguyên tố khác, hàm lượng của niken phải trội hơn so với hàm 
lượng của từng nguyên tố khác. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm đồng và hợp kim của nó và các sản phẩm chủ yếu 
bằng đồng. 
Đồng được chiết tách từ nhiều loại quặng khác nhau (xem chú giải cho 
nhóm 26.03) và cũng được làm từ kim loại ở trạng thái ban đầu, hoặc 
được tái chế từ phế liệu và mảnh vụn. 
Đồng được sản xuất từ quặng sunphua của nó bằng quá trình tách khô 
mà trong đó quặng đã được nghiền thành dạng bột và tuyển chọn được 
thiêu kết tới độ cần thiết để loại lưu huỳnh và nấu chảy trong lò nung để 
tạo ra đồng thô (đồng sten) hoặc đồng chưa luyện. 
Trong một vài trường hợp, quặng đã tuyển làm đậm đặc được nấu chảy 
trong lò nung chảy có thổi không khí hoặc ôxy ("Chảy đốt cháy") không 
có sự thiêu kết nung ban đầu. 
Hỗn hợp kim loại này được xử lý trong một lò chuyển để loại hầu hết 
sắt, lưu huỳnh và thu được các sản phẩm "đồng rỗ" (được gọi như vậy vì 
nó có bề mặt xù xì, rỗ). Đồng rỗ được tái tinh luyện trong lò lửa quặt để 
thu được đồng tinh luyện bằng lửa và tuỳ theo yêu cầu, có thể được tái 
tinh luyện hơn nữa bằng điện phân. 
Người ta thường sử dụng qui trình ướt (lọc) cho các quặng oxit và cũng 
cho các quặng khác và xỉ (xem Chú giải nhóm 74.01).  

Đồng rất mềm dẻo và dễ uốn; đồng là kim loại sau bạc, có độ dẫn nhiệt 
và dẫn điện tốt nhất. Đồng được sử dụng ở trạng thái tinh khiết, đặc biệt 
ở dạng dây để sử dụng làm dây điện hoặc ở dạng cuộn hoặc dạng tấm 
như một bộ phận làm lạnh, nhưng nó chủ yếu được sử dụng ở dạng hợp 
kim cho các mục đích thông dụng. 
Theo điều khoản của Chú giải 5 của Phần XV (xem Chú giải tổng quát 
cho Phần đó) các hợp kim đồng và các kim loại cơ bản có thể được 
phân loại theo đồng, bao gồm: 
(1)  Hợp kim trên cơ sở đồng-kẽm (đồng thau) (xem Chú giải phân 
nhóm 1 (a)) với các phần khác nhau của đồng và kẽm, ví dụ: đồng 
thau thông thường được sử dụng cho nhiều mục đích; kim loại dát 
vàng (đồng tombac) được sử dụng đặc biệt trong sản xuất đồ kim 
hoàn giả và các hàng hoá trang hoàng. 
Hợp kim đồng-kẽm có chứa lượng nhỏ các nguyên tố khác tạo 
thành dạng đồng thau đặc biệt với các đặc tính đặc trưng. Đồng 
thau đặc biệt bao gồm đồng thau có độ bền cao (thường hiểu là 
đồng mangan), được sử dụng trong đóng tầu, và cả đồng thau chì, 
đồng thau sắt, đồng thau nhôm, và đồng thau silic. 
(2)  Hợp kim trên cơ sở đồng-thiếc (đồng thanh), (xem Chú giải Phân 
nhóm 1 (b)), đôi khi có chứa các nguyên tố khác mà chúng tạo ra 
các đặc tính đặc biệt. Đồng thanh bao gồm đồng thanh dùng cho 
đúc tiền, đồng thanh cứng cho bánh răng hộp số, ổ trục hoặc các bộ 
phận máy móc khác; kim loại đúc chuông; đồng thanh cho điêu 
khắc; đồng thanh mạ chì sử dụng làm ổ trục, đồng thanh phospho 
(hoặc đồng thanh đã khử ôxy) được sử dụng trong sản xuất lò xo, 
lưới dây đan cho lọc, sàng... 
(3)  Hợp kim trên cơ sở kẽm đồng-niken (bạc niken) (xem Chú giải 
Phân nhóm 1 (c)) có tính chống ăn mòn tốt và bền. Hợp kim này 
thường được sử dụng chủ yếu trong thiết bị viễn thông (trong công 
nghiệp điện thoại ngoài các mặt hàng khác); các ứng dụng khác 
bao gồm để chế phụ kiện máy trong thiết bị, vòi nước và phụ kiện 

cho hệ thống ống cao cấp, làm khoá kéo, ứng dụng đa dạng trong 
công nghiệp điện như cái kẹp đầu dây, lò xo, đầu nối, phích điện..., 
kết cấu kim loại trong trang trí và kiến trúc, thiết bị chế biến hoá 
chất và thực phẩm. Một số loại nhất định của hợp kim này cũng 
được sử dụng trong sản xuất bộ đồ ăn ... 
(4)  Hợp kim trên cơ sở đồng-niken (đồng-kền), xem Chú giải Phân nhóm 
1 (d)), chúng thường có chứa lượng nhỏ của nhôm hoặc sắt. Hợp kim 
này đại diện cho loại hợp kim có đặc tính chống ăn mòn của nước biển, 
vì lý do như vậy nó  được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng đa dạng 
của ngành hàng hải và đóng tầu, đặc biệt cho các bộ phận ngưng tụ 
hoặc đường ống và trong sản xuất tiền kim loại hoặc điện trở. 
(5)  Đồng thanh nhôm bao gồm chủ yếu đồng pha thêm với nhôm và 
được sử dụng trong kỹ thuật mà ở đó độ bền cao, độ chống ăn mòn 
và độ cứng là yếu tố quan trọng. 
(6)  Đồng beryli (đôi khi được gọi là đồng thanh beryli) bao gồm chủ 
yếu đồng pha với beryli và do có độ cứng, độ bền cao và tính 
chống ăn mòn nên được sử dụng làm nhiều dạng lò xo, cũng như 
làm khuôn đúc plastic, điện cực hàn bấm và cho dụng cụ không 
gây tia lửa. 
(7)  Đồng - Silic bao gồm cơ bản đồng và pha thêm silic và có độ bền 
cao và chống ăn mòn. Nó được sử dụng, ví dụ: cho sản xuất bồn 
chứa, bulông và móc. 
(8)  Đồng crom chủ yếu sử dụng làm điện cục hàn bấm. 
Chương này bao gồm: 
(A)  Sten và các sản phẩm trung gian của luyện đồng, đồng chưa gia 
công, đồng phế liệu và mảnh vụn (nhóm 74.01 đến 74.05). 
(B)  Bột và vảy đồng (nhóm 74.06). 
(C)  Các sản phẩm thường thu được bởi cán, ép, kéo hoặc rèn đồng của 
nhóm 74.03 (nhóm 74.07 đến 74.10). 
(D)  Các mặt hàng khác đã chi tiết hoá ở nhóm 74.11 đến 71.18 và các 
mặt hàng khác xếp vào nhóm 74.19 bao gồm tất cả các mặt hàng 

bằng đồng khác trừ loại đã bao gồm bởi Chú giải 1 Phần XV hoặc 
các loại thuộc Chương 82 hoặc 83, hoặc đã chi tiết hoá hơn ở nơi 
khác trong Danh mục. 
Các sản phẩm và các mặt hàng đồng thường phải trải qua nhiều cách xử 
lý khác nhau để cải thiện đặc tính hoặc bề mặt của kim loại v.v. Những 
xử lý này, thông thường được tham khảo ở chú giải chung cho Chương 
72 và không ảnh hưởng đến việc phân loại hàng hoá. 
Sự phân loại của hàng hoá phức hợp, đặc biệt hàng hoá lắp ghép được 
giải thích ở Chú giải tổng quát phần XV. 
74.01 - Sten đồng; đồng xi măng hoá (đồng kết tủa). 
(A)  Sten đồng. 
Thu được bằng cách nung chảy quặng đồng sunphua đã thiêu kết 
để phân tách đồng sunphua từ quặng nghèo và các kim loại khác để 
hình thành một loại xỉ, nổi trên bề mặt của sten. Sten bao gồm phần 
chính là đồng và sắt sunphua và thông thường ở dạng hạt màu đen 
hoặc nâu (thu được bằng cách bởi rót sten nóng chảy vào nước) 
hoặc ở dạng khối thô với bề ngoài ánh kim, xỉn. 
 (B)  Đồng xi măng hóa (Đồng kết tủa). 
Đồng xi măng hóa (đồng kết tủa) là một sản phẩm thu được bởi sự 
kết tủa (sự xi măng hóa), ví dụ bằng cách thêm sắt vào dung dịch 
nước thu được từ ngâm chiết quặng nung hoặc cặn lắng. Sản phẩm 
này là bột màu đen phần mịn có chứa oxit và tạp chất không hoà 
tan. Sản phẩm này đôi khi được sử dụng trong sơn chống bẩn, và 
thuốc diệt nấm trong nông nghiệp, nhưng nó thường được thêm 
vào mẻ liệu trong lò nung chảy để sản xuất sten đồng. 
Đồng kết tủa không được nhầm lẫn với bột đồng của nhóm 74.06, 

là loại không chứa tạp chất. 
74.02 -  Đồng chưa tinh luyện; cực dương đồng dùng cho điện phân 
tinh luyện. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Đồng đen. Sản phẩm này bao gồm dạng không tinh khiết của đồng 
tạo ra bằng cách nấu chảy quặng đồng đã ô xy hoá hoặc mảnh vụn 
đồng không tinh khiết trong lò cao. Hàm lượng đồng thay đổi đáng 
kể, thường ở khoảng xấp xỉ 60 đến 85% tính theo trọng lượng. 
(2)  Đồng xốp. Sản phẩm này bao gồm dạng không tinh khiết của đồng 
sản xuất bằng cách thổi luồng không khí qua sten đồng nung chảy. 
Trong quá trình đảo, lưu huỳnh, sắt và tạp chất khác bị ô xy hoá. 
Hàm lượng đồng thường ở khoảng 98% tính theo trọng lượng. 
(3)  Anod đồng (đồng cực dương) dùng cho điện phân tinh luyện. 
Đồng tinh luyện từng phần bằng cách nung chảy hoàn toàn 
được đổ khuôn thành Anod để tinh luyện tiếp bằng điện phân. Các 
anod này thường ở dạng khuôn hình tấm, phiến với hai phần gờ 
(mấu) để treo chúng trong bể điện phân tinh luyện. Chúng không 
được nhầm lẫn với Anod để mạ đồng điện phân (nhóm 74.19). 
74.03 -  Đồng tinh luyện và hợp kim đồng, chưa gia công. 
       - Đồng tinh luyện: 
7403.11 - - Ca-tốt và các phần của ca-tốt 
7403.12 - - Thanh để kéo dây 
7403.19 - - Loại khác 
           - Hợp kim đồng: 
7403.21 - - Hợp kim đồng-kẽm (đồng thau) 
7403.22 - - Hợp kim đồng-thiếc (đồng thanh) 
7403.29 - - Hợp kim đồng khác (trừ các loại hợp kim đồng chủ 
thuộc nhóm 74.05) 

 Nhóm này bao gồm đồng đã tinh luyện và hợp kim đồng chưa gia công 
như định nghĩa tương ứng ở Chú giải 1 (a) và 1 (b) của Chương.  
Đồng tinh luyện có chứa ít nhất 99,85% tính theo trọng lượng đồng thu 
được bởi điện phân tinh luyện, chiết điện phân, tinh luyện hoá học hoặc 
tinh luyện bằng ngọn lửa. Dạng đồng tinh luyện khác (có chứa ít nhất 
97,5% tính theo trọng lượng đồng) thường được tạo ra bằng cách hợp 
kim hóa đồng tinh luyện đã nêu ở trên với một hoặc nhiều nguyên tố tới 
hàm lượng giới hạn cực đại đã chỉ ra ở bảng trong chú giải 1 (a) của 
Chương. 
Đồng tinh luyện là dạng đúc thành thỏi hoặc thỏi thanh để tái nung chảy 
(ví dụ để tạo hợp kim), hoặc ở dạng thanh dây, tấm để cán, que (bao gồm 
cả loại có mặt cắt ngang hình tròn) và dạng tương tự để cán, ép đùn, kéo 
hoặc rèn thành dạng tấm, lá, dải, dây, ống hoặc các sản phẩm khác. 
Đồng tinh luyện điện phân đôi khi ở dạng cathod, gồm các tấm, bản lá 
với hai cái móc, bằng những móc này mà các phiến, tấm trên được treo 
trong bể tinh luyện điện phân, hoặc dạng không có móc, hoặc cắt thành 
hình. 
Đồng tinh luyện cũng có thể ở dạng viên được sử dụng chủ yếu cho mục 
đích tạo hợp kim và đôi khi cho nghiền thành bột. Tuy nhiên, bột đồng 
và vảy đồng được phân loại ở nhóm 74.06. 
Nhóm này còn bao gồm dạng thỏi, thanh, que, được đúc và thiêu kết ... 
với điều kiện chúng không được gia công sau khi sản xuất ngoài việc 
cắt sửa đơn giản hoặc cạo gỉ (loại bỏ phần hoặc bề mặt phía trên chứa 
phần lớn đồng oxit) hoặc bằng cách cạo, đục, nghiền,... để loại bỏ các 
khuyết tật đúc hoặc các khuyết tật khi đông rắn lại hoặc được gia công 
một mặt nhằm mục đích kiểm tra (kiểm tra chất lượng). 
Các sản phẩm thiêu kết thu được từ bột đồng hoặc bột hợp kim đồng 
hoặc từ bột đồng trộn với các loại bột kim loại khác, bởi nén ép (khối) và 
thiêu kết (đốt nóng tới nhiệt độ thích hợp dưới điểm chảy của kim loại). 
Ở trạng thái thiêu kết, các sản phẩm ở dạng xốp, độ bền thấp và thường 
được cán, ép đùn, rèn v.v... để đạt được độ xếp chặt cần thiết. Các sản 
phẩm này được cán v.v..., bị loại trừ (ví dụ các nhóm 74.07, 74.09). 

Nhóm này cũng bao gồm thanh dây, que với các đầu mút được vuốt thon 
hoặc gia công đơn giản khác làm cho thuận tiện đưa vào máy móc để 
biến đổi chúng thành dạng khác, ví dụ: dạng dây nguyên liệu (dây cuộn) 
hoặc ống. 
Tuỳ theo các điều kiện đã chỉ ra ở trên liên quan đến gia công sau khi 
chế tạo, các thanh và que đúc của nhóm này có thể bao gồm, đặc biệt là: 
(1)  Các sản phẩm (thông thường được hiểu là “jets”) đúc chính xác 
trong khuôn đúc đặc biệt sản phẩm có mặt cắt hình tròn, hình 
vuông hoặc hình lục giác và thông thường có chiều dài không  
quá 1m. 
(2)  Các sản phẩm dài hơn thu được bởi quá trình đúc liên tục, ở quá 
trình này kim loại nóng chảy được đổ liên tục vào khuôn được làm 
mát bằng nước, ở đó nó nhanh chóng kết rắn lại. 
Cả "Jets" và các thanh đúc liên tục thường được sử dụng cho mục đích 
tương tự như cán, kéo hoặc đùn các thanh. 
74.04 - Phế liệu và mảnh vụn của đồng. 
Nội dung chú giải nhóm 72.04 quy định phế liệu và mảnh vụn của sắt 
được áp dụng, với những sửa đổi phù hợp, cho nhóm này, ngoại trừ tro 
và xỉ đồng thuộc nhóm 26.20. Đồng phế liệu của nhóm này bao gồm cặn 
kéo chuốt, thu được từ kéo chuốt đồng và chứa chủ yếu là bột đồng trộn 
với dầu nhờn sử dụng cho quá trình kéo chuốt. 
Nhóm này không bao gồm các loại thỏi thô hoặc các dạng chưa gia 
công tương tự đúc từ phế liệu đồng và mảnh vụn đồng nấu chảy lại 
(nhóm 74.03). 
74.05 - Hợp kim đồng chủ. 
Hợp kim chủ này được định nghĩa ở Chú giải Chương 1(c). 

Hợp kim chủ của nhóm này là những hợp kim có chứa hơn 10% tính 
theo trọng lượng là đồng với các nguyên tố khác, do thành phần của 
chúng như vậy nên chúng quá giòn cho việc gia công kim loại thông 
thường. Bởi vậy chúng được sử dụng đưa vào thành đồng thau, đồng 
thanh hoặc đồng nhôm hoặc với các nguyên tố khác có điểm nóng chảy 
cao hơn hợp kim này hoặc các nguyên tố có tính ô xy hoá cao (ví dụ: 
nhôm, catmi, asen, magie) hoặc các nguyên tố dễ cháy hao ở nhiệt độ 
nóng chảy hoặc đặc tính khác nữa để tiện lợi cho việc chế biến hợp kim 
nào đó bằng cách thêm chất khử ô xy, khử lưu huỳnh hoặc các nguyên tố 
tương tự (ví dụ: canxi). 
Đồng đóng vai trò như dung môi hoặc chất pha loãng các nguyên tố khác 
và phải có hàm lượng đủ để làm giảm độ nóng chảy hoặc tác dụng ô xy 
hoá hoặc cháy hao của hợp kim chủ. Tuy nhiên nếu hàm lượng đồng quá 
cao, kim loại này hoà tan quá nhiều những nguyên tố khác vào hợp kim. 
Trong vật liệu này hàm lượng đồng thường từ 30 đến 90%, nhưng trong 
trường hợp đặc biệt, có thể vượt quá giới hạn này. 
Vì vậy nhóm này loại trừ hợp kim niken đồng, ngay cả khi được sử 
dụng như một hợp kim đồng chủ, do hợp kim đồng- niken dễ cán và rèn 
ở bất kỳ hàm lượng nào. Trong khi các hợp kim như hợp kim đồng - 
mangan và đồng silic, có dễ cán và rèn không là tuỳ thuộc vào hàm 
lượng của các kim loại cấu thành; chỉ xếp ở đây những hợp kim hầu như 
không thể cán hoặc rèn. 
Những hợp kim đồng chủ của nhóm này bao gồm đồng nhôm, đồng 
beryli, đồng bo, đồng catmi, đồng crom, đồng sắt, đồng magie, đồng 
mangan, đồng molybđen, đồng silic, đồng titan hoặc đồng vanađi. 
Hợp kim chủ thường ở dạng khối nhỏ hoặc dạng bánh đã phân chia để dễ 
gẫy, que dòn hoặc dạng viên và có hình dáng bề ngoài của các sản phẩm 
đúc thô. 
Đồng photphua (phosphor copper) có chứa trên 15% tính theo trọng 
lượng của phospho được xếp vào nhóm 28.53. 

74.06 - Bột và vảy đồng. 
7406.10 - Bột không có cấu trúc lớp 
7406.20 - Bột có cấu trúc lớp; vảy đồng 
Nhóm này bao gồm các loại bột đồng như định nghĩa ở Chú giải 8 (b) 
Phần XV và vảy đồng, trừ đồng xi măng hoá (đồng kết tủa), chúng là 
loại bột màu đen thuộc nhóm 74.01. Theo các điều khoản của Chú giải 7 
Phần XV, nhóm này cũng bao gồm bột đồng trộn với các bột kim loại cơ 
bản khác (ví dụ "bột đồng thanh" bao gồm hỗn hợp đơn giản của bột 
đồng và bột thiếc). 
Bột đồng thu được chủ yếu bằng phương pháp mạ lắng âm cực hoặc 
bằng cách phun (ví dụ bằng cách phun một dòng tia nhỏ kim loại nóng 
chảy vào vùng có nước, hơi nước, không khí hoặc khí khác đang phun 
ngang với vận tốc cao). 
Thêm vào 2 quá trình chính ở trên, bột đồng cũng có thể được sản xuất ở 
quy mô nhỏ hơn bằng khử khí của oxit đã phân chia mịn, bởi kết tủa của 
một số dung dịch hoặc thể rắn đã nghiền nhỏ. Bột có cấu trúc lớp và vảy 
thường được tạo ra bằng nghiền phiến lá mỏng. Hình dạng của cấu trúc 
lớp có thể nhìn bằng mắt thường hoặc qua kính lúp trong trường hợp là 
vảy và phải sử dụng kính hiển vi để quan sát cho loại bột thực sự. 
Phương pháp sản xuất quyết định các đặc tính như kích thước hạt và 
hình dạng (chúng có thể ít hoặc nhiều không đồng đều, dạng hình cầu 
hoặc cấu trúc lớp). Bột có cấu trúc lớp và vảy thường được tạo ra bằng 
nghiền phiến lá mỏng thường bóng và có thể có dấu vết của các chất mỡ 
hoặc sáp (ví dụ: axit stearic hoặc sáp paraphin) sử dụng trong qui trình 
sản xuất của chúng. 
Bột được sử dụng cho nén ép và thiêu kết để sản xuất ổ trục, bạc ổ trục 
và nhiều chi tiết kỹ thuật khác. Chúng cũng được sử dụng như thuốc thử 
hoá học hoặc thuốc thử luyện kim, cho hàn chảy và hàn đồng, trong sản 
xuất xi măng đặc biệt, cho phủ bề mặt các chất phi kim loại làm cơ sở 
cho mạ điện v.v. Bột dạng vảy được sử dụng chủ yếu như chất màu kim 
loại trong sản xuất mực và sơn. Dạng vảy được sử dụng trực tiếp như 

màu kim loại bằng cách thổi, ví dụ thổi lên trên bề mặt đã đánh vécni để 
chúng bám chặt ở đó. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Một sản phẩm đôi khi được gọi là "đồng thanh" hoặc "vàng", 
chúng thường ở dạng vảy hoặc bột và được dùng trong sản xuất 
sơn, nhưng thực tế chúng là các hợp chất hoá học, như muối 
antimon, thiếc disunphua... (Chương 28, hoặc Chương 32) nếu ở 
dạng sơn đã điều chế). 
(b)  Bột hoặc vảy điều chế làm chất màu, sơn hoặc dạng tương tự (ví dụ 
được tạo thành với chất màu khác hoặc được đóng dưới dạng nhũ 
tương, dạng phân tán hoặc dạng bột nhão với chất kết dính hoặc 
dung môi) (Chương 32). 
(c)  Đồng dạng hạt của nhóm 74.03. 
(d)  Hoa văn cắt từ đồng lá (nhóm 83.08). 
74.07 - Đồng ở dạng thanh, que và dạng hình.  
7407.10 - Bằng đồng tinh luyện 
              - Bằng hợp kim đồng: 
7407.21 - - Bằng hợp kim đồng kẽm (đồng thau) 
7407.29 - - Loại khác 
Thanh và que đã được định nghĩa ở Chú giải 9 (a) Phần XV và dạng 
hình ở Chú giải 9 (b) Phần XV. 
Sản phẩm của nhóm này thường thu được bằng cách cán, ép đùn hoặc 
kéo, nhưng cũng có thể thu được bằng rèn (với máy ép hoặc búa). Rồi 
sau đó chúng có thể được hoàn thiện nguội (nếu cần sau khi ủ) bằng cách 
kéo nguội, duỗi thẳng hoặc cách khác để sản phẩm có độ chính xác cao 
hơn. Chúng cũng có thể được gia công (ví dụ: khoan, đột, xoắn đôi hoặc 
gấp nếp, miễn là chúng không làm cho hàng hoá hoặc của sản phẩm có 
đặc tính của các nhóm khác. Nhóm này cũng bao gồm hình rỗng gồm 
ống và ống dẫn có gờ hoặc rãnh được tạo bởi ép đùn. Tuy nhiên, ống và 
ống dẫn có gờ hoặc rãnh được ghép nối vào, ví dụ bằng cách hàn, bị loại 

trừ - thông thường ở nhóm 74.19. 
Thanh và que thu được bằng cách đúc (bao gồm cả loại gọi là "Jets" và 
các thanh đúc liên tục) hoặc bằng thiêu kết thì xếp vào nhóm 74.03 với 
điều kiện chúng không được gia công sau khi chế tạo ngoại trừ cắt sửa 
đơn giản hoặc cạo gỉ. Tuy nhiên, nếu được gia công vượt quá trạng thái 
này thì chúng vẫn được phân loại ở nhóm này, miễn là chúng không có 
đặc tính của hàng hoá hoặc sản phẩm của các nhóm khác. 
Thanh dây và cây với các đầu của chúng đã được chuốt nhọn hoặc gia 
công khác đơn giản để thuận tiện khi đưa chúng vào máy móc để chuyển 
đổi chúng thành dạng khác, ví dụ: dạng dây nguyên liệu (dây cuộn) hoặc 
ống thì được phân loại ở nhóm 74.03. 
74.08 - Dây đồng. 
              - Bằng đồng tinh luyện: 
7408.11 - - Có kích thước mặt cắt ngang tối đa trên 6 mm 
7408.19 - - Loại khác 
              - Bằng hợp kim đồng: 
7408.21 - - Bằng hợp kim đồng kẽm (đồng thau) 
7408.22 - - Bằng hợp kim đồng niken (đồng kền) hoặc hợp kim 
đồng-niken-kẽm (bạc niken) 
7408.29 - - Loại khác 
Chú giải 9 (c) Phần XV định nghĩa dây. 
Dây thu được bởi cán, ép đùn nén hoặc kéo chuốt và ở dạng cuộn. Phần 
thứ 2 của chú giải nhóm 74.07 được áp dụng, với những sửa đổi phù 
hợp. 
 Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Dây đồng đã tiệt trùng rất mảnh được sử dụng cho phẫu thuật khâu 
vết thương (nhóm 30.06). 
(b)  Sợi trộn kim loại của nhóm 56.05. 

(c)  Dây xe hoặc sợi bện được gia cố với dây (nhóm 56.07). 
(d)  Dây bện tao, cáp và hàng hoá khác của nhóm 74.13. 
(e)  Điện cực hàn được phủ... (nhóm 83.11). 
(f)  Dây cách điện và cáp (bao gồm cả dây tráng men) (nhóm 85.44). 
(g)  Dây nhạc cụ (nhóm 92.09). 
74.09 - Đồng ở dạng tấm, lá và dải, có chiều dày trên 0,15 mm. 
    - Bằng đồng tinh luyện: 
7409.11 - - Dạng cuộn 
7409.19 - - Loại khác 
              - Bằng hợp kim đồng-kẽm (đồng thau): 
7409.21 - - Dạng cuộn 
7409.29 - - Loại khác 
              - Bằng hợp kim đồng-thiếc (đồng thanh): 
7409.31 - - Dạng cuộn 
7409.39 - - Loại khác 
7409.40 - Bằng hợp kim đồng-niken (đồng kền) hoặc hợp kim 
đồng-kẽm-niken (bạc-niken) 
7409.90 - Bằng hợp kim đồng khác 
Nhóm này bao gồm các sản phẩm đã định nghĩa ở Chú giải 9 (d) Phần 
XV khi chiều dày của nó quá 0,15 mm. 
Dạng tấm và dạng phiến thường thu được bằng cách cán nóng hoặc cán 
nguội một số sản phẩm của nhóm 74.03; dải đồng có thể được cán hoặc 
thu được bằng cách xẻ dọc các tấm. 
Tất cả hàng hoá vẫn được xếp trong nhóm nếu đã gia công (ví dụ cắt 
thành mẫu hình, đục lỗ, làm thành gợn sóng, tạo gờ, tạo rãnh, đánh bóng, 
phủ, đắp nổi hoặc làm tròn ở các cạnh) miễn là chúng không có đặc tính 
của hàng hoá và sản phẩm của nhóm khác (xem chú giải chương1 (g)). 
Độ dày giới hạn 0,15 mm bao gồm cả lớp phủ vécni … 

Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Lá mỏng có độ dày không quá 0,15 mm (nhóm 74.10). 
(b)  Sản phẩm dạng lưới bằng đồng được tạo hình bằng phương pháp 
đột dập và kéo dãn thành lưới (nhóm 74.19). 
(c)  Dải cách điện (nhóm 85.44). 
74.10 - Đồng lá mỏng (đã hoặc chưa in hoặc bồi trên giấy, bìa, 
plastic hoặc vật liệu bồi tương tự), với chiều dày (không kể 
phần bồi) không quá 0,15 mm. 
              - Chưa được bồi: 
7410.11 - - Bằng đồng tinh luyện 
7410.12 - - Bằng đồng hợp kim  
              -  Đã được bồi: 
7410.21 - - Bằng đồng tinh luyện 
7410.22 - - Bằng đồng hợp kim.  
Nhóm này bao gồm các sản phẩm đã định nghĩa ở Chú giải 9 (d) Phần 
XV khi độ dày của chúng không quá 0,15 mm. 
Dạng lá được phân loại ở nhóm này thu được bằng cách cán, rèn dập 
hoặc điện phân. Chúng thường ở dạng tấm rất mỏng (trong bất cứ trường 
hợp nào, chiều dày không vượt quá 0,15 mm).  
Dạng lá mỏng nhất được sử dụng để mạ giả vàng... là rất mỏng manh; 
chúng được xếp xen kẽ với các tờ giấy và tạo thành dạng cuộn sổ nhỏ. 
Dạng lá khác, nhất là đồ trang kim thường được bồi với giấy, bìa, plastic 
hoặc vật liệu bồi tương tự kể cả cho tiện lợi cầm tay hoặc vận chuyển 
hoặc để thuận tiện cho xử lý tiếp theo.v.v 
Dạng lá mỏng còn lại trong nhóm này đã hoặc chưa trạm nổi, đắp, cắt 
thành dạng hình (chữ nhật hoặc dạng khác), đục lỗ, phủ (vàng, bạc, 
vécni...) hoặc in. 
Độ dày giới hạn 0,15 mm bao gồm cả lớp phủ vécni... nhưng mặt khác, 

bồi lên giấy được loại trừ. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Lá phôi dập (cũng hiểu là lá hình khối) được hợp thành của bột 
đồng kết dính với gelatin, keo hoặc chất liên kết khác, hoặc đồng 
lắng đọng trên giấy, plastic hoặc vật khác và được sử dụng cho bìa 
sách in, dây mũ... (nhóm 32.12). 
(b)  Nhãn bằng đồng lá mỏng được in để chỉ hàng hoá cá biệt nhờ cách 
in (nhóm 49.11). 
(c)  Sợi phủ kim loại thuộc nhóm 56.05. 
(d)  Tấm, lá và dải, có độ dày trên 0,15 mm (nhóm 74.09). 
(e)  Dạng lá mỏng để trang trí cho cây thông Nô-en (nhóm 95.05). 
74.11 - Các loại ống và ống dẫn bằng đồng. 
 7411.10 - Bằng đồng tinh luyện 
               - Bằng hợp kim đồng: 
7411.21 - - Bằng hợp kim đồng-kẽm (đồng thau) 
7411.22 - - Bằng hợp kim đồng-niken (đồng kền) hoặc hợp kim 
đồng-niken-kẽm (bạc-niken) 
7411.29 - - Loại khác  
Chú giải 9 (e) Phần XV định nghĩa về ống và ống dẫn.  
Chú giải Chi tiết  nhóm 73.04 đến 73.06 áp dụng, với những sửa đổi phù 
hợp, với phạm vi của nhóm và các phương pháp sản xuất hàng hoá. 
Hầu hết ống và ống dẫn bằng đồng là đúc liền không hàn nhưng đôi khi 
được chế tạo bằng hàn đồng hoặc hàn cùng với mép của dải hoặc bởi 
phương pháp khác. Các ống và ống dẫn đúc liền không hàn thường tạo 
ra bằng cách khoan và ép thanh phôi thành dạng ống phôi mà chúng 
được cán nóng hoặc kéo thông qua một khuôn tạo kích thước hoàn 

chỉnh. Cho một số mục đích, ống và ống dẫn có thể ép đùn tới kích 
thước cuối cùng mà không phải kéo chuốt.  
Ống và ống dẫn bằng đồng được ứng dụng nhiều trong công nghiệp (ví 
dụ trong các thiết bị nấu, làm nóng, làm mát, chưng cất, tinh luyện hoặc 
thiết bị bay hơi) và được sử dụng trong xây dựng hệ thống cung cấp 
nước hoặc khí gas cho gia đình hoặc công cộng. Ống ngưng tụ bằng hợp 
kim đồng được sử dụng rộng rãi trong tàu và nhà máy điện vì tính chống 
ăn mòn mạnh của nó, đặc biệt là nước muối. 
 Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các dạng hình rỗng bao gồm ống và ống dẫn có gờ hoặc rãnh thu 
được bằng ép đùn (nhóm 74.07). 
(b)  Các loại ống nối của ống và ống dẫn (nhóm 74.12). 
(c)  Ống và ống dẫn có gờ hoặc rãnh được ghép nối vào, ví dụ bằng 
cách hàn (thường ở nhóm 74.19). 
(d)  Ống dễ uốn (nhóm 83.07). 
(e)  Ống và ống dẫn tạo thành hàng hoá dễ nhận biết của chương khác, 
ví dụ các bộ phận của máy (Phần XVI). 
74.12 - Phụ kiện để ghép nối của ống hoặc ống dẫn bằng đồng (ví dụ, 
khớp nối đôi, nối khuỷu, măng sông). 
7412.10 - Bằng đồng tinh luyện 
7412.20 - Bằng hợp kim đồng: 
Chú giải Chi tiết nhóm 73.07 áp dụng, với những sửa đổi phù hợp, cho 
nhóm này. 
 Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Bu lông và đai ốc sử dụng để lắp ráp hoặc cố định ống và ống dẫn 
(nhóm 74.15). 
(b)  Ống nối lắp ghép với vòi nước, van... (nhóm 84.81). 

74.13 - Dây bện tao, cáp, dây tết và các loại tương tự, bằng đồng, 
chưa được cách điện. 
Chú giải Chi tiết nhóm 73.12 áp dụng, với những sửa đổi phù hợp, cho 
các sản phẩm của nhóm này. 
Vì tính dẫn điện tuyệt vời, đồng thường được sử dụng trong sản xuất dây 
dẫn và cáp điện; được xếp trong nhóm những sản phẩm ngay cả khi có 
lõi thép hoặc kim loại khác với điều kiện là đồng hơn hẳn về trọng 
lượng (xem Chú giải 7 Phần XV). 
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm dây, cáp cách điện (nhóm 85.44). 
74.15 - Đinh, đinh bấm, đinh ấn, ghim dập (trừ các loại thuộc nhóm 
83.05) và các sản phẩm tương tự, bằng đồng hoặc bằng sắt 
hoặc thép có đầu bịt đồng; đinh vít, bu lông, đai ốc, đinh 
móc, đinh tán, chốt hãm, chốt định vị, vòng đệm (kể cả vòng 
đệm lò xo vênh) và các sản phẩm tương tự, bằng đồng (+). 
 7415.10 - Đinh và đinh bấm, đinh ấn, ghim dập và các sản 
phẩm tương tự 
              - Loại khác, chưa được ren: 
7415.21 - - Vòng đệm (kể cả vòng đệm lò xo) 
7415.29 - - Loại khác 
              - Loại khác, đã được ren: 
7415.33 - - Đinh vít; bu lông và đai ốc 
7415.39 - - Loại khác 
Chú giải nhóm 73.17 và 73.18 áp dụng, với những sửa đổi phù hợp, cho 
nhóm này, ngoại trừ việc nhóm cũng bao gồm đinh bằng sắt hoặc thép 
có đầu mũ bằng đồng (sử dụng chủ yếu trong công việc bọc ghế hoặc 
trang trí). 

Đế giày có hoặc không các điểm đóng thêm vào bị loại trừ (nhóm 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 7415.33 
Thuật ngữ "đinh vít" không bao gồm móc có vít và vòng có vít; chúng 
được xếp ở phân nhóm 7415.39. 
74.18 - Bộ đồ ăn, đồ nhà bếp hoặc đồ gia dụng khác và các bộ phận 
của chúng, bằng đồng; miếng cọ nồi và cọ rửa hoặc đánh 
bóng, găng tay và các loại tương tự, bằng đồng; đồ trang bị 
trong nhà vệ sinh và các bộ phận của chúng, bằng đồng. 
7418.10 - Bộ đồ ăn, đồ nhà bếp hoặc các đồ gia dụng khác và các bộ 
phận của chúng; miếng cọ nồi và cọ rửa hoặc đánh bóng, 
bao tay và các loại tương tự: 
7418.20 - Đồ trang bị trong nhà vệ sinh và các bộ phận rời của chúng 
Chú giải Chi tiết nhóm 73.21, 73.23 và 73.24 áp dụng, với những sửa 
đổi phù hợp, cho nhóm này. 
Nhóm này bao gồm dụng cụ làm nóng hoặc thiết bị nấu bằng đồng, loại 
sử dụng trong gia đình, ví dụ các dụng cụ nhỏ như bếp dầu, parafin, cồn 
thường được sử dụng cho du lịch, cắm trại,…và cho sử dụng gia dụng. 
Nhóm cũng bao gồm thiết bị gia đình được mô tả ở chú giải nhóm 73.22. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các thiết bị gia dụng có đặc tính của dụng cụ (Chương 82) (xem 

chú giải nhóm 73.23). 
(b)  Đèn xì (nhóm 82.05). 
(c)  Dao kéo và thìa, dĩa, muôi,... (nhóm 82.11 đến 82.15). 
(d)  Đồ trang trí thuộc nhóm 83.06. 
(e)  Các máy, thiết bị làm nóng, nấu, rang, chưng cất,…hoặc các thiết 
bị  thí nghiệm tương tự thuộc nhóm 84.19, ví dụ: 
(1)  Thiết bị nấu nước nóng tức thời hoặc lưu trữ không dùng điện 
(dù cho sử dụng trong gia đình hay không). 
(2)  Máy pha cà phê kiểu quầy hàng và một số thiết bị nấu, làm 
nóng đặc biệt khác không được sử dụng trong gia đình. 
(f)  Thiết bị gia dụng của chương 85 (đặc biệt các dụng cụ và thiết bị 
của nhóm 85.09 và 85.16). 
(g)    Các sản phẩm của Chương 94. 
(h)  Sàng tay (nhóm 96.04). 
(ij)  Bật lửa thuốc lá và bật lửa khác (nhóm 96.13). 
(k)  Bình, lọ xịt nước hoa và các loại bình, lọ xịt tương tự (nhóm 
74.19 - Các sản phẩm khác bằng đồng (+). 
7419.20 - Đã được đúc, đúc khuôn, rập hoặc rèn nhưng chưa 
được gia công thêm 
7419.80 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm tất cả các hàng hóa bằng đồng trừ các hàng hóa 
bằng đồng thuộc các nhóm trước của Chương này hoặc thuộc chú giải 1 
của Phần XV, hoặc các hàng hóa được chi tiết ở chương 82 hoặc 83, 
hoặc được mô tả chi tiết hơn ở các phần khác trong Danh mục. 

Nhóm này bao gồm, cụ thể: 
(1)  Kim băng và các đinh ghim khác (trừ ghim dài để cài vào mũ vào 
tóc và các loại ghim trang trí khác, đinh rệp), bằng đồng, chưa 
được chi tiết ở các nhóm khác. 
(2)  Thùng, két, bể chứa và các đồ chứa đựng tương tự dùng để chứa 
mọi loại vật liệu , bằng đồng, với bất cứ sức chứa nào, có hoặc 
không được lót hoặc cách nhiệt, nhưng không được gắn với thiết bị 
nhiệt hoặc cơ khí (xem Các chú giải thuộc các nhóm 73.09 và 
(3)  Các loại thùng chứa khí nén hoặc khí hóa lỏng (xem chú giải nhóm 
(4)  Xích và các bộ phận của xích, bằng đồng (xem chú giải nhóm 
73.15), trừ xích mang đặc tính của đồ trang sức giả kim (ví dụ dây 
đồng hồ đeo tay và những dây nữ trang rẻ tiền) (nhóm 71.17). 
(5)  Các sản phẩm bằng đồng được liệt kê trong các chú giải các nhóm 
73.25 và 73.26. 
(6)  Các sản phẩm mạ điện cực dương bằng đồng hoặc hợp kim đồng 
(ví dụ đồng thau) (xem phần (A) của chú giải nhóm 75.08). 
(7)  Ống và ống dẫn đã được đính kèm gờ hoặc rãnh, ví dụ bằng cách 
hàn, chưa được chi tiết ở các nhóm khác. 
(8)  Tấm đan, phên, lưới bằng dây đồng và sản phẩm dạng lưới được 
tạo hình bằng phương pháp đột dập và kéo giãn thành lưới bằng 
đồng. 
(9)  Lò xo trừ lò xo đồng hồ thời gian hoặc đồng hồ cá nhân thuộc 
nhóm 91.14. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Vải dệt thoi từ sợi kim loại, loại được sử dụng trong sản phẩm may 
mặc, như các loại vải trang trí nội thất hoặc loại tương tự (nhóm 
(b)  Tấm hàn điện kim loại đã gia công của lưới dây thép (nhóm 

(c)  Lưới để làm giần và sàng tay (nhóm 96.04). 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 7419. 20 
Chú giải các phân nhóm 7326.11 và 7326.19 áp dụng, với những sửa đổi 
phù hợp, cho các sản phẩm thuộc phân nhóm này. Trong trường hợp các 
sản phẩm đã được đúc hoặc đúc khuôn, các ống rót và đầu rót có thể  
loại bỏ. 

Chương 75 
Niken và các sản phẩm bằng niken 
Chú giải phân nhóm. 
1.-  Trong Chương này các khái niệm sau có nghĩa: 
(a) Niken không hợp kim 
 Là kim loại có tổng hàm lượng niken và coban tối thiểu 99% tính 
theo khối lượng, với điều kiện: 
(i) hàm lượng coban không quá 1,5% tính theo khối lượng, và 
(ii) hàm lượng tính theo khối lượng của bất kỳ nguyên tố nào 
khác không vượt quá giới hạn nêu trong bảng sau: 
BẢNG  Các nguyên tố khác 
(b) Hợp kim niken 
Vật liệu kim loại mà trong đó hàm lượng tính theo khối lượng của 
niken trội hơn so với hàm lượng tính theo khối lượng của từng 
nguyên tố khác với điều kiện: 
(i) hàm lượng của coban trên 1,5% tính theo khối lượng, 
(ii) hàm lượng tính theo khối lượng của ít nhất 1 trong các 
nguyên tố khác trong thành phần vượt quá giới hạn nêu ở 
bảng trên, hoặc 
(iii) tổng hàm lượng của các nguyên tố khác trừ niken và coban 
lớn hơn 1% tính theo khối lượng. 
2. Mặc dù đã quy định tại Chú giải 9 (c) Phần XV, theo mục đích của 
phân nhóm 7508.10 khái niệm “dây" chỉ áp dụng cho các sản phẩm, 
dù ở dạng cuộn hoặc không ở dạng cuộn, có hình dạng mặt cắt ngang 
bất kỳ, nhưng kích thước mặt cắt ngang không vượt quá 6 mm. 

TỔNG QUÁT 
Chương này gồm niken, các hợp kim của niken và các hàng hóa từ 
Niken là một kim loại tương đối cứng, màu trắng xám (nóng chảy ở 
1453oC). Nó có tính sắt từ, dễ uốn dẻo, dễ kéo sợi, bền và chống được ăn 
mòn và ô xy hoá. 
Niken được sử dụng chủ yếu trong sản xuất một số hợp kim đặc biệt là 
thép hợp kim, dùng để phủ lên kim loại khác bằng mạ điện âm cực và 
làm chất xúc tác trong nhiều phản ứng hoá học. Niken không hợp kim 
cũng được sử dụng để chế tạo các thiết bị hoá học. Mặt khác niken và 
các hợp kim của niken được sử dụng cho đúc tiền. 
Các hợp kim niken cơ bản thuộc chương này tuân thủ quy định của chú 
giải 5 phần XV bao gồm như sau: 
(1)  Hợp kim niken-sắt. Gồm vật liệu sử dụng trong cáp ngầm dưới 
biển, lõi cuộn cảm,  do độ nhiễm từ lớn và độ từ trễ thấp. 
(2)  Hợp kim niken-crom hoặc hợp kim niken-crom-sắt. Chúng gồm 
các loại vật liệu có giá trị thương mại có độ bền tốt, chống ô xy hoá 
rất tốt ở nhiệt độ cao và một số môi trường gây ăn mòn. Các vật 
liệu này được dùng để sản xuất bộ phận đốt nóng trong các thiết bị 
đốt nóng bằng điện trở và cũng được sử dụng làm bộ phận cấu 
thành như lò múp (lò nhiệt luyện) và lò buồng để nhiệt luyện thép 
hoặc kim loại khác, hoặc làm ống dẫn và ống cho xử lý hoá chất 
hoặc hoá dầu ở nhiệt độ cao. Cũng thuộc vào nhóm này là các hợp 
kim đặc biệt được gọi là “siêu hợp kim” có độ bền cao nhằm để 

chịu ở nhiệt độ cao, chúng được dùng phổ biến trong việc chế tạo 
tuốc bin máy bay như ở bộ phận cánh tuốc bin, đường dẫn chất đốt, 
các bộ phận chuyển tiếp... Các hợp kim này thường chứa molyđen, 
vonfram, niobi, nhôm, titan... chúng làm tăng đáng kể độ bền của 
hợp kim có cơ sở là niken. 
(3)  Các hợp kim niken-đồng. Các hợp kim này, ngoài khả năng 
chống ăn mòn còn có độ bền tốt, chúng được sử dụng trong một số 
ứng dụng như trục cánh quạt hoặc các thiết bị kẹp và chúng cũng 
được sử dụng trong các máy bơm, van, hệ thống ống hoặc các 
thiết bị khác tiếp xúc với môi trường axit vô cơ hoặc hữu cơ, các 
chất kiềm và muối. 
Chương này bao gồm: 
(A)  Sten Niken, niken oxit thiêu kết và các sản phẩm trung gian khác 
của luyện niken và niken chưa gia công, niken phế liệu và mảnh 
vụn (nhóm 75.01 đến 75.03). 
(B)  Niken bột và vảy (nhóm 75.04). 
(C)  Các sản phẩm thông thường thu được bằng cán, rèn, kéo dãn, ép 
đùn phôi niken chưa gia công của nhóm 75.02 (nhóm 75.05 và 
(D)  Ống, ống dẫn và ống nối (nhóm 75.07), các bản cực anod mạ điện 
và hàng hóa khác thuộc nhóm 75.08, trừ các loại này được nêu ở 
chú giải 1 Phần XV hoặc thuộc Chương 82 hoặc 83 hoặc được mô 
tả chi tiết hơn ở các phần khác trong danh mục. 
Các sản phẩm và hàng hoá bằng niken thường được xử lý khác nhau để 
cải thiện đặc tính riêng hoặc bề mặt của kim loại... Các cách xử lý này 

được nêu trong phần cuối chú giải tổng quát Chương 72 và không ảnh 
hưởng tới việc phân loại của các hàng hoá này. (Tuy nhiên, xem trường 
hợp đặc biệt của bản cực anod mạ điện (nhóm 75.08)). 
Việc phân loại của các hàng hoá phức hợp được giải thích tại chú giải 
tổng quát ở Phần XV. 
75.01 - Sten niken, oxit niken thiêu kết và các sản phẩm trung gian 
khác của quá trình luyện niken. 
       7501.20 - Oxít niken thiêu kết và các sản phẩm trung gian khác của 
quá trình luyện niken 
Các sten này thu được bởi các công đoạn (nung, nấu chảy...) quặng 
niken và thành phần, tuỳ theo loại quặng và quá trình được sử dụng, 
niken-sắt sunphua, niken-sắt-đồng sunphua, niken sunphua hoặc 
niken-đồng sunphua. 
Sten thường ở dạng khối đúc hoặc tấm đúc (thường được đập vỏ 
thành mẩu nhỏ để thuận tiện đóng gói và vận chuyển), dạng hạt hoặc 
bột (đặc biệt ở trường hợp của một số sten niken sunphua). 
Dạng sten này được sử dụng trong sản xuất niken chưa gia công. 
(2) Các sản phẩm trung gian khác của quá trình luyện niken. 
Nhóm này bao gồm: 
(i) Oxit niken không tinh khiết, ví dụ oxit niken thiêu kết, oxit 
niken ở dạng bột (“ôxit niken xanh”), thu được bởi quá trình  xử lý 
quặng sunphua hoặc quặng oxit có chứa niken. Các loại oxit 
không tinh khiết này phần lớn được sử dụng trong sản xuất thép 
hợp kim. 
Oxit niken thiêu kết thường có dạng bột hoặc mẩu nhỏ kích 

thước có thể đạt đến 50 mm. 
(ii)  Fero-niken không tinh khiết, do có hàm lượng lớn lưu huỳnh 
(0,5% hoặc hơn), phospho và các tạp chất khác nên không thể 
được sử dụng như sản phẩm hợp kim trong công nghiệp luyện 
thép mà không có sự tinh luyện ban đầu. Fero-niken đã tinh 
luyện được sử dụng gần như duy nhất trong công nghiệp luyện 
thép để cung cấp niken cần thiết cho sản xuất một số thép đặc biệt. 
Do vậy Niken được phân loại như hợp kim fero ở nhóm 72.02 
theo các quy định chú giải 1 (c) Chương 72. 
(iii) Xỉ niken, có nghĩa là hỗn hợp asenua dạng cục; hiện nay xỉ 
Niken không còn quan trọng lắm về thương mại. 
75.02 - Niken chưa gia công. 
         7502.10 - Niken, không hợp kim 
         7502.20 - Hợp kim niken 
 Niken chưa gia công thường ở dạng thỏi, dạng cục, viên, tấm, hình 
khối, vành, viên gạch, hạt, cathod hoặc dạng thanh mạ điện âm cực 
khác. Những dạng ban đầu này thường được sử dụng như phụ gia trong 
sản xuất thép hợp kim và hợp kim không chứa sắt và trong sản xuất một 
số hoá chất. Một số dạng được sử dụng làm giỏ titan trong mạ Niken 
hoặc để sản xuất bột niken. 
Niken chưa được tinh luyện thường được đúc thành anod để sau đó tinh 
luyện bằng điện phân. Anod của nhóm này thường ở dạng tấm phiến đúc 
với hai quai nhằm treo chúng vào trong bể tinh chế điện phân. Không 
được nhầm lẫn với anod mạ Niken được nêu trong chú giải nhóm 75.08.  
Các cathod dạng tấm thu được bởi kết tủa điện phân trên tấm ban đầu 
của niken tinh luyện có hai móc niken được bắt chặt để treo chúng vào 
bể điện phân tinh luyện. Khi Lớp lắng đọng niken tinh chế được hình 
thành, các “tấm ban đầu” trở thành một khối đồng nhất và không thể 
tách rời của cathod. 

Các loại cathod chưa được gọt rũa thường được vận chuyển mà không 
loại bỏ móc nên thường có vết phồng của niken kết tủa ở mối hàn và 
không được nhầm lẫn với quai móc treo anod để mạ Niken. Các cathod 
chưa được gọt rũa thường có kích cỡ lớn hơn (khoảng 96 x 71 x 1,25cm) 
so với anot để mạ Niken ở dạng tấm (hiếm khi có chiều rộng lớn hơn 
Những cathod đã được đẽo gọt một cách đơn giản hoặc được cắt thành 
dải hoặc các miếng hình chữ nhật nhỏ vẫn được xếp ở nhóm này mà 
không kể đến kích thước của chúng hay mục đích sử dụng của chúng. 
Chúng có thể phân biệt với anod điện phân của nhóm 75.08 bởi chúng 
không có móc nhúng hoặc đã gia công (ví dụ: đục lỗ, tạo ren) để làm 
móc treo. 
Nhóm này cũng không bao gồm bột và vảy niken (nhóm 75.04). 
75.03 - Phế liệu và mảnh vụn niken. 
Các quy định liên quan đến phế liệu và mảnh vụn ở chú giải nhóm 72.04 
được áp dụng, với những điều chỉnh phù hợp, cho nhóm này. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Xỉ, tro và cặn bã từ việc sản xuất niken (nhóm 26.20). 
(b) Thỏi và các dạng đúc chưa gia công tương tự từ phế liệu và mảnh 
vụn của niken được tái nấu chảy (nhóm 75.02). 
75.04 - Bột và vảy niken. 
Nhóm này bao gồm tất cả các dạng bột và vảy niken bất kể mục đích sử 
dụng của chúng. Bột được định nghĩa ở chú giải 8 (b) Phần XV. 
Tùy thuộc tính chất vật lý, dạng bột và vảy được sử dụng ở tấm không 
hợp kim trong ắc quy Niken - cadmi, trong sản xuất niken sunphat, niken 
clorua và các muối Niken khác với vai trò là tác nhân liên kết cho cacbit 
kim loại, cho sản xuất hợp kim niken (ví dụ: thép hợp kim) hoặc làm 
chất xúc tác. 
Chúng cũng được sử dụng cả ở trạng thái tinh khiết lẫn hợp kim hoặc hỗn 
hợp với bột kim loại khác (ví dụ bột sắt) để ép và thiêu kết thành hàng hoá kỹ 

thuật như nam châm hoặc để trực tiếp dát thành tấm, dải và lá mỏng. 
Nhóm này loại trừ oxit niken thiêu kết (nhóm 75.01). 
75.05 - Niken ở dạng thanh, que, hình và dây. 
              - Thanh, que và hình : 
7505.11 - - Bằng niken không hợp kim 
7505.12 - - Bằng hợp kim niken 
               - Dây : 
7505.21 - - Bằng niken không hợp kim 
7505.22 - - Bằng hợp kim niken 
Những sản phẩm này, được định nghĩa ở Chú giải 9 (a), 9 (b) và 9 (c) 
Phần XV, tương tự với các mặt hàng bằng đồng, trừ qui định đặc biệt 
cho anod mạ điện (xem chú giải nhóm 75.08). Liên quan đến loại trừ 
này, qui định ở chú giải nhóm 74.07 và 74.08 được áp dụng, với các sửa 
đổi phù hợp, cho nhóm này.  
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Sợi trộn kim loại (nhóm 56.05). 
(b)  Thanh, que hoặc các dạng hình, đã được gia công để sử dụng làm 
kết cấu (nhóm 75.08). 
(c)   Thanh đã bọc cách điện (được hiểu chung là “thanh góp”) và dây 
(bao gồm cả dây tráng men) (nhóm 85.44). 
75.06 - Niken ở dạng tấm, lá, dải và lá mỏng. 
7506.10 - Bằng niken không hợp kim 
7506.20 - Bằng hợp kim niken 
 Nhóm này bao gồm tấm, lá, dải và lá mỏng quy định tại Chú giải 9 (d) 
Phần XV; những sản phẩm này tương tự với sản phẩm bằng đồng đã 
miêu tả trong chú giải nhóm 74.09 và 74.10. 

Dạng tấm và lá có thể được sử dụng để tráng sắt hoặc thép bằng cách 
hàn, cán... và sử dụng cho kết cấu của các thiết bị, đặc biệt là trong công 
nghiệp hoá chất. 
Nhóm này loại trừ sản phẩm dạng lưới được tạo hình bằng phương pháp 
đột dập và kéo dãn thành lưới (nhóm 75.08). 
75.07 -  Các loại ống, ống dẫn và các phụ kiện để ghép nối của ống hoặc 
ống dẫn bằng niken (ví dụ, khớp nối đôi, khuỷu, măng sông). 
               - Ống và ống dẫn: 
7507.11 - - Bằng niken, không hợp kim 
7507.12 - - Bằng niken hợp kim 
7507.20 - Phụ kiện để ghép nối của ống hoặc ống dẫn 
Chú giải 9 (e) Phần XV định nghĩa ống và ống dẫn.  
Các quy định của chú giải các nhóm 73.04 đến 73.07 được áp dụng, với 
những sửa đổi phù hợp, cho nhóm này.  
Do đặc tính chống ăn mòn (với axit, hơi nước...) các loại ống, ống dẫn 
và phụ kiện bằng niken hoặc hợp kim niken được sử dụng trong kết cấu 
của các thiết bị cho công nghiệp hoá chất, thực phẩm, sản xuất giấy..., 
trong sản xuất bộ ngưng tụ, của kim tiêm dưới da... 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các dạng hình rỗng (nhóm 75.05). 
(b)  Bulông và đai ốc niken dùng để lắp ráp và gắn ống (nhóm 75.08). 
(c)  Phụ kiện để ghép nối với vòi, van (nhóm 84.81). 
(d)   Ống, ống dẫn và phụ kiện để ghép nối của ống hoặc ống dẫn được 
chế tạo thành hàng hóa dễ nhận biết, ví dụ bộ phận máy móc (Phần 

75.08 - Sản phẩm khác bằng niken. 
7508.10 - Tấm đan, phên và lưới, bằng dây niken 
7508.90 - Loại khác. 
(A) CÁC SẢN PHẨM MẠ ĐIỆN CỰC DƯƠNG,  
BAO GỒM CẢ CÁC SẢN PHẨM SẢN XUẤT BẰNG  
PHƯƠNG PHÁP ĐIỆN PHÂN 
Nhóm này bao gồm anod niken tinh luyện dùng cho mạ điện Anod bằng 
phương pháp điện phân kết tủa. Chúng có thể là dạng đúc, cán, kéo, ép 
đùn hoặc có thể tạo từ cathod, hoặc dạng lắng động điện phân của nhóm 
75.02. Các anod này được thể hiện bao gồm: 
(1)  hình dạng đặc biệt (hình sao, vòng, hình đặc thù) để tạo ra bề mặt 
lớn nhất phù hợp với hàng hoá được mạ và trường hợp của anod 
dạng thanh (chúng thường có dạng ô van, e lip, hình thoi hoặc hình 
bình hành) có chiều dài thích hợp để sử dụng làm điện cực anod; 
hoặc 
(2)  hoặc là dạng tấm (phẳng hoặc cong), dải, tấm mỏng, đĩa (phẳng 
hoặc cuộn làn sóng), hình bán cầu hoặc hình cầu. Để được phân 
loại trong nhóm này thì các sản phẩm phải có các đặc tính chỉ ra 
sản phẩm là tấm anod điện phân, có nghĩa là chúng phải được gắn 
các móc để treo chúng trong bể điện phân hoặc đã được gia công 
để làm móc treo (ví dụ: đục lỗ, tạo ren). 
Các loại anod này thường có độ tinh khiết cao. Tuy nhiên lượng nhỏ các 
tạp chất có thể còn lại sau quá trình sản xuất hoặc được chủ ý thêm vào 
ví dụ, để khử cực anod để đảm bảo điện phân được thực hiện đều trên 
toàn bộ bề mặt và tránh sự mất mát niken do tạo thành cặn. Các đặc tính 
này, cùng với các đặc điểm đã nêu ở trên, phân biệt các anod mạ điện 
với các anod dành cho tinh chế bằng phương pháp điện phân được nêu 
trong đoạn 2 của Chú giải Chi tiết nhóm 75.02 bị loại trừ khỏi nhóm 
này. 

Các anod điện phân thông thường dùng cho mạ Niken thường được thay 
thế bằng anod dạng giỏ, ví dụ các dạng chưa gia công như vòng khuyên 
niken trong các giỏ titan (xem chú giải nhóm 75.02). 
Nhóm này cũng loại trừ các loại sau đây, dù được sử dụng trong mạ kền 
hoặc để chuyển đổi thành anod điện phân hay không: 
(a)  Các tấm (cathod) thu được đơn giản bằng phương pháp điện phân, 
chưa gọt dũa hoặc đã gọt dũa hoặc được cắt thành các dải hoặc các 
miếng nhỏ hình chữ nhật nhưng chưa được gia công thêm (nhóm 
(b)  Các thỏi chưa gia công (nhóm 75.02) 
(c)  Các thanh đúc đơn giản, được cán hoặc ép đùn mà chưa đáp ứng 
được các yêu cầu về hình dáng, chiều dài hoặc cách thức gia công 
được chỉ ra ở trên (nhóm 75.02 hoặc 75.05). 
(d)  Các tấm được cán đơn giản (nhóm 75.06). 
(B) LOẠI KHÁC 
Nhóm này bao gồm tất cả các mặt hàng bằng niken trừ các loại thuộc 
các mục hoặc nhóm trước của Chương này hoặc được định nghĩa tại 
chú giải 1 Phần XV hoặc hàng hóa đã được chi tiết hoặc nằm trong 
chương 82 hoặc 83 hoặc được mô tả chi tiết hơn trong các phần khác 
của danh mục. 
Ngoài những đề cập khác, nhóm này bao gồm: 
(1)  Các kết cấu như khung cửa sổ và các bộ phận được gia công của chúng. 
(2)  Bể chứa, thùng chứa và các đồ chứa tương tự, bất kỳ dung tích nào, 
không lắp với thiết bị cơ khí  hoặc thiết bị nhiệt. 
(3)  Tấm đan, phên, lưới và sản phẩm dạng lưới bằng niken được tạo hình 
bằng phương pháp đột dập và kéo dãn thành lưới bằng dây niken. 
(4)  Đinh, đinh mũ, đai ốc, bu lông, ốc vít và các sản phẩm khác của 
các loại đã miêu tả ở chú giải nhóm 73.17 và 73.18. 
(5)  Lò xo, trừ lò xo đồng hồ thời gian và đồng hồ cá nhân của nhóm 91.14. 
(6)  Các dụng cụ gia đình và dụng cụ vệ sinh và các bộ phận của chúng. 

(7)  Phôi cho đúc tiền ở dạng đĩa với phần mép nhô lên. 
(8)  Các sản phẩm bằng niken tương ứng với các sản phẩm sắt hoặc thép 
đề cập tại chú giải nhóm 73.25 và 73.26. 

Chương 76 
Nhôm và các sản phẩm bằng nhôm 
Chú giải phân nhóm. 
1. Trong Chương này các khái niệm sau có nghĩa: 
(a) Nhôm, không hợp kim 
Là kim loại có hàm lượng nhôm chiếm ít nhất 99% tính theo khối 
lượng, với điều kiện hàm lượng của bất kỳ nguyên tố nào khác 
không vượt quá giới hạn nêu trong bảng sau: 
BẢNG – Các nguyên tố khác 
Nguyên tố 
Giới hạn hàm lượng % theo 
trọng lượng 
Fe+ Si (Sắt + Silic) 
Các nguyên tố khác (1),  
tính cho mỗi nguyên tố 
(1) Các nguyên tố khác, ví dụ Cr, Cu, Mg, Mn, Ni, Zn. 
(2) Tỷ lệ đồng cho phép lớn hơn 0,1%, nhưng không quá 
0,2%, với điều kiện hàm lượng crôm cũng như hàm 
lượng mangan đều không quá 0,05%. 
(b) Hợp kim nhôm 
Vật liệu kim loại mà trong đó hàm lượng nhôm lớn hơn so với hàm 
lượng của mỗi nguyên tố khác tính theo khối lượng, với điều kiện: 
(i) hàm lượng của ít nhất 1 trong các nguyên tố khác hoặc tổng hàm 
lượng của sắt với silic phải lớn hơn giới hạn nêu ở bảng trên; 
hoặc 
(ii) tổng hàm lượng của các nguyên tố khác trong thành phần vượt 
quá 1% tính theo khối lượng. 
2. Mặc dù đã quy định tại Chú giải 9 (c) của Phần XV, theo mục đích 
của phân nhóm 7616.91, khái niệm "dây" chỉ áp dụng cho các sản 
phẩm ở dạng cuộn hoặc không ở dạng cuộn, mặt cắt ngang ở hình 

dạng bất kỳ, kích thước mặt cắt ngang không quá 6 mm. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm nhôm và hợp kim nhôm và các sản phẩm bằng nhôm. 
Nhôm được điều chế chủ yếu từ Bô-xít, một loại nhôm Hydrat thô (xem 
chú giải nhóm 26.06). Giai đoạn chiết xuất đầu tiên là nhằm chuyển Bô-
xít sang oxit nhôm tinh khiết. Để làm được điều này, quặng thô được 
nung và sau đó được xử lý bằng Natri Hydroxit để tạo ra một dung dịch 
Natri nhôm. Sau đó nó được lọc để loại bỏ các tạp chất không có khả 
năng hoà tan (Oxit sắt, Silicat...). Nhôm sau đó được làm kết tủa thành 
hydroxit nhôm. Hydroxit nhôm được nung để tạo ra loại nhôm tinh khiết 
dưới dạng bột màu trắng. Tuy nhiên hydroxit nhôm và oxit nhôm được 
phân loại vào Chương 28. 
Ở giai đoạn thứ hai, kim loại được tách bằng phương pháp điện phân 
oxit nhôm đã được hoà tan trong Criolit nấu chảy (chất sau này là florua 
natri nhôm, nhưng nó chỉ đóng vai trò như một chất dung môi). Phương 
pháp điện phân này được tiến hành trong các bể lót than chì có tác dụng 
như một cực âm Catôt, những thanh than được sử dụng như anôt. Nhôm 
được kết tủa ở đáy bể từ đó nhôm được hút đi bằng xifông. Thông 
thường sau khi tinh chế, nhôm được đúc thành dạng khối, thỏi, phôi, 
tấm, thanh phôi để kéo dây.... Bằng cách điện phân lặp lại, nhôm thu 
được gần như hoàn toàn tinh khiết 
Nhôm cũng có thể được điều chế từ một số loại quặng khác như quặng 
leuxit (là muối kép của silicat nhôm và kali), bằng cách nấu chảy lại các 
phế liệu và mảnh vụn của nhôm hoặc bằng quá trình xử lý các chất cặn 
còn sót lại (xỉ, cặn, bã). 
Nhôm là một loại kim loại có màu trắng hơi xanh được nhận dạng bởi 
màu sáng của nó. Nhôm rất dẻo và dễ cán, kéo, rèn, dập và có thể đúc. 
Giống như các loại kim loại mềm khác, nhôm cũng là chất rất phù hợp 
cho việc đúc ép và đúc áp lực (đúc trong khuôn kim loại). Trong ứng 
dụng hiện đại nó có thể được làm hợp kim hàn. Nhôm là một chất dẫn 
nhiệt và điện rất tốt và là một chất phản quang tốt. Lớp mỏng của oxit 

nhôm trên bề mặt bảo vệ nhôm kim loại hình thành một cách tự nhiên, 
người ta đã chế tạo ra lớp màng bảo vệ dày hơn bằng cách anot hóa hoặc 
bằng phản ứng hóa học; đôi khi cũng nhuộm màu bề mặt kim loại trong 
các quá trình phản ứng này. 
Độ cứng, độ bền ... của nhôm có thể được cải thiện rất đáng kể bởi việc 
hợp kim hoá với các nguyên tố khác như: Đồng, magiê, silicon, kẽm 
hoặc mangan. Khi được gia công cơ - nhiệt, các hợp kim nhôm này có 
các thuộc tính cơ học tăng lên đáng kể.  
Các hợp kim nhôm chính có thể được phân loại trong chương này theo 
nội dung chú giải 5 của phần XV (chú giải chung của phần) là: 
(1) Các hợp kim nhôm đồng. Là hợp kim nhôm cơ bản với hàm lượng 
đồng thấp. 
(2) Các hợp kim nhôm-đồng-kẽm 
(3) Các hợp kim nhôm- silicon (ví dụ “Alpax”, “silumin”) 
(4) Các hợp kim nhôm- magie - mangan  
(5) Các hợp kim nhôm-silicon – magie (ví dụ “Almelec”, “Aldrey”) 
(6) Các hợp kim nhôm mangan - magie - đồng (ví dụ “Duralumin”) 
(7) Các hợp kim nhôm - magie (ví dụ “magnalium”) 
(8) Các hợp kim nhôm - mangan  
(9) Các hợp kim nhôm - magiê - thiếc. 
Hầu hết các hợp kim này cũng có thể chứa các hàm lượng nhỏ của sắt, 
niken, crom... chúng thường được mua bán dưới các tên thương mại 
khác nhau tuỳ theo nước xuất xứ. 
Do các thuộc tính đặc biệt của nhôm và các hợp kim của nhôm, nó được sử 

dụng rộng rãi: trong công nghiệp chế tạo máy bay,  ô tô hoặc công nghiệp 
đóng tàu; trong công nghiệp xây dựng, trong việc đóng toa xe lửa hoặc xe 
điện, trong công nghiệp điện (ví dụ: như dây cáp), cho tất cả các loại thùng 
chứa (bể chứa và chum vại các cỡ, thùng vận chuyển, thùng trống...), cho 
đồ dùng gia đình hoặc nhà bếp, cho việc sản xuất lá nhôm mỏng v.v... 
Chương này bao gồm: 
(A) Nhôm chưa gia công, nhôm phế liệu và nhôm mảnh vụn (nhóm 
76.01 và 76.02). 
(B) Bột nhôm và vảy nhôm (nhóm 76.03). 
(C) Các sản phẩm nhìn chung thu được bởi việc cán, ép đùn, kéo, rèn 
nhôm chưa gia công thuộc nhóm 76.01 (các nhóm 76.04 tới 76.07) 
(D) Các hàng hóa khác nhau được liệt kê nhóm 76.08 đến 76.15 và các 
hàng hóa khác thuộc phần còn lại của nhóm 76.16, bao gồm tất cả 
các mặt hàng nhôm khác ngoại trừ các mặt hàng được xếp trong 
chương 82 hoặc 83, hoặc được đề cập cụ thể hơn ở phần nào khác 
trong danh mục. 
Các sản phẩm thu được bằng việc thiêu kết nhôm và oxit nhôm hay còn 
gọi là gốm kim loại và được loại trừ khỏi chương này (nhóm 81.13). 
Các sản phẩm và hàng hóa làm bằng nhôm thường được xử lý bằng cách 
khác nhau nhằm cải thiện thuộc tính hoặc vẻ ngoài của kim loại, để tăng 
khả năng chống ăn mòn...  Những quá trình xử lý này thông thường được 
đề cập ở phần cuối của chú giải chung tại chương 72 và không làm ảnh 
hưởng tới việc phân loại hàng hoá. 
Việc phân loại các hàng hoá phức hợp, đặc biệt các sản phẩm hoàn 
thiện, được giải thích trong Chú giải Tổng quát của Phần XV. 

76.01 - Nhôm chưa gia công 
 7601.10 - Nhôm, không hợp kim 
 7601.20 - Hợp kim nhôm 
 Nhóm này bao gồm nhôm chưa gia công ở trạng thái lỏng, khối, thỏi, 
phiến, tấm dày, thanh phôi kéo dây, hoặc các dạng tương tự thu được 
bằng việc đúc nhôm đã được điện phân hoặc hoặc bằng việc nấu chảy 
phế liệu hoặc mảnh vụn kim loại. Những sản phẩm này thường được 
dùng để cán mỏng, rèn, kéo, ép, dập... hoặc dùng để nấu chảy và đúc tạo 
thành các sản phẩm đã được tạo hình. 
Nhóm này bao gồm các viên nhôm, chủ yếu được dùng trong ngành 
luyện kim (đóng vai trò như tác nhân khử ôxy hóa, đặc biệt trong sản 
xuất sắt hoặc thép). 
Nhóm này cũng bao gồm các thanh đúc hoặc các thanh đã được thiêu 
kết... (áp dụng chú giải nhóm 74.03 cho nhóm này với những sửa đổi 
phù hợp). 
Nhóm này không bao gồm bột và vảy nhôm (nhóm 76.03). 
76.02 - Phế liệu và mảnh vụn nhôm 
Các mục liên quan đến chất phế liệu và mảnh vụn trong chú giải nhóm 
72.04 cũng áp dụng cho nhóm này với những sửa đổi phù hợp. 
Phế liệu và mảnh vụn nhôm là một nguồn nguyên liệu thô quan trọng 
trong công nghiệp nhôm. Nó cũng được sử dụng như một tác nhân khử 
ôxy và khử cacbon trong luyện kim.  
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Cặn bã, xỉ,…thu được từ sản xuất sắt hoặc thép có chứa nhôm có khả 
năng thu hồi lại ở dạng Silicat (nhóm 26.18 hoặc 26.19) 
(b) Xỉ, tro và cặn từ quá trình sản xuất nhôm (nhóm 26.20). 
(c) Các thỏi và các dạng tương tự chưa gia công, được đúc từ phế liệu và 
mảnh vụn nhôm được nấu chảy lại (nhóm 76.01). 

76.03 - Bột và vảy nhôm 
7603.10 - Bột không có cấu trúc lớp 
7603.20  - Bột có cấu trúc lớp; vảy nhôm 
Nhóm này bao gồm bột nhôm được định nghĩa ở Chú giải 8(b), phần XV 
và vảy nhôm. Nhìn chung, các sản phẩm này tương ứng với các sản 
phẩm bằng đồng, bởi vậy chú giải nhóm 74.06 cũng áp dụng cho nhóm 
này với những sửa đổi phù hợp. Tuy nhiên, bột và vảy nhôm cũng được 
sử dụng trong kỹ thuật làm pháo hoa như chất sinh nhiệt (ví dụ: trong 
quá trình xử lý nhiệt), để bảo vệ các kim loại khác khỏi bị ăn mòn (ví dụ: 
nhiệt hoá, hàn kim loại...), trong chất nổ đẩy tên lửa và trong việc điều 
chế các vật liệu hàn đặc biệt. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Bột hoặc vảy, được dùng như là chất tạo màu, sơn hoặc các chất 
tương tự khác (ví dụ, được tạo thành cùng với chất màu khác hoặc 
đóng gói như là các chất keo tụ, chất phân tán, hoặc bột nhão với 
một chất gắn hoặc dung môi (Chương 32). 
(b) Các viên nhôm (nhóm 76.01) 
(c) Các vân hoa cắt từ nhôm lá mỏng (nhóm 83.08). 
76.04 - Nhôm ở dạng thanh, que và hình. 
 7604.10 - Bằng nhôm, không hợp kim 
               - Bằng hợp kim nhôm: 
7604.21 - - Dạng hình rỗng 
7604.29 - - Loại khác 
 Các sản phẩm này được định nghĩa trong chú giải 9 (a) và 9 (b) Phần 
XV, giống như các mặt hàng tương tự được chế tạo từ đồng. Vì vậy, các 
mục của chú giải nhóm 74.07 áp dụng cho nhóm này với những sửa đổi 
cho phù hợp. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các thanh và các dạng hình, dùng cho trong các  kết cấu (nhóm 

(b) Các điện cực hàn đã được bọc phủ,.... (nhóm 83.11) 
76.05 - Dây nhôm. 
                - Bằng nhôm, không hợp kim: 
7605.11 - - Kích thước mặt cắt ngang lớn nhất trên 7mm 
7605.19 - - Loại khác 
              - Bằng hợp kim nhôm: 
7605.21 - - Kích thước mặt cắt ngang lớn nhất trên 7mm 
7605.29 - - Loại khác 
Dây được định nghĩa trong Chú giải 9 (c) Phần XV.  
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Sợi kim loại (nhóm 56.05) 
(b) Dây bện và dây thừng được gia cố với dây nhôm (nhóm 56.07) 
(c) Dây bện tao, cáp và các hàng hoá khác của nhóm 76.14 
(d) Các điện cực hàn đã được bọc phủ (nhóm 83.11)  
(e) Dây điện và cáp điện cách điện (kể cả loại đã tráng men cách điện 
hoặc mạ lớp cách điện) (nhóm 85.44) 
(f) Dây nhạc cụ (nhóm 92.09). 
76.06 - Nhôm ở dạng tấm, lá và dải, chiều dày trên 0,2 mm 
                     - Hình chữ nhật (kể cả hình vuông):  
7606.11 - - Bằng nhôm, không hợp kim 
7606.12 - - Bằng hợp kim nhôm 
              - Loại khác: 
7606.91 - - Bằng nhôm, không hợp kim 
7606.92 - - Bằng hợp kim nhôm 
Các sản phẩm này được định nghĩa trong Chú giải 9 (d) Phần XV, giống 

như các mặt hàng tương tự được chế tạo từ đồng. Vì vậy, nội dung của 
chú giải nhóm 74.09 cũng áp dụng cho nhóm này với những sửa đổi phù 
hợp.  
 Nhóm này không bao gồm : 
(a) Lá mỏng có độ dày không quá 0,2mm (nhóm 76.07). 
(b) Sản phẩm dạng lưới được tạo hình bằng phương pháp đột dập và kéo 
giãn thành lưới (nhóm 76.16) 
76.07 - Nhôm lá mỏng (đã hoặc chưa in hoặc bồi trên giấy, bìa, 
plastic hoặc vật liệu bồi tương tự) có chiều dày (trừ phần bồi) 
không quá 0,2 mm (+). 
              - Chưa được bồi: 
7607.11 - - Đã được cán nhưng chưa gia công thêm 
7607.19 - - Loại khác 
7607.20 - Đã được bồi 
Nhóm này bao gồm các sản phẩm định nghĩa trong Chú giải 9 (d) Phần 
XV khi bề dày không vượt quá 0,2 mm. 
Nội dung của chú giải nhóm 74.10 liên quan tới các đồng lá mỏng cũng 
áp dụng cho nhóm này với những sửa đổi phù hợp. 
Nhôm lá mỏng được sử dụng trong sản xuất nắp chai và bao bọc nút 
chai, trong đóng gói thực phẩm, xì gà, thuốc lá điếu, thuốc lá sợi,... 
Nhôm lá mỏng cũng được sử dụng để sản xuất các loại bột mịn thuộc 
nhóm 76.03, trong sản xuất các tấm uốn để cách nhiệt, để mạ bạc nhân 
tạo, và như là một tấm phủ lên vết thương trong phẫu thuật thú y. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các lá nhôm mỏng dập ép (cũng được gọi là lá phôi dập) bao gồm 
bột nhôm được làm kết dính bằng Gelatin, keo hoặc chất gắn kết 
khác, hoặc bằng nhôm được phủ trên giấy, nhựa hoặc các chất hỗ 
trợ khác, và được sử dụng cho việc in bìa sách, các băng dải trên 
mũ... (nhóm 32.12) 
(b) Giấy và bìa dùng để sản xuất bao bì đựng sữa, nước ép hoa quả, các 
sản phẩm thực phẩm khác và được lót với lá nhôm (ví dụ, ở mặt lớp 

lót trong của bao bì) với điều kiện vật liệu này vẫn giữ lại thuộc tính 
cơ bản của giấy và bìa (nhóm 48.11). 
(c) Lá nhôm đã được in để ghi nhãn các hàng hóa riêng biệt nhờ công 
dụng của việc in ấn (nhóm 49.11). 
(d) Đĩa, tấm và dải, chiều dày vượt quá 0,2mm (nhóm 76.06) 
(e) Nhôm lá mỏng ở dạng trang trí cây nôen (nhóm 95.05). 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 7607.11 
Ngoài việc xử lý bằng cán nóng hoặc cán nguội, các sản phẩm thuộc 
phân nhóm này có thể được gia công hoặc xử lý bề mặt: 
 (1)  Xử lý nhiệt, như việc giảm ứng suất hoặc ủ. Quá trình xử lý này 
cũng loại bỏ các dầu cặn bôi trơn máy cán. 
(2)  Cắt mép, xẻ rãnh hoặc cắt thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông)... 
tức là chia tách dải rộng thành dải hẹp hơn. 
(3)  Tách (tháo giãn) các tấm mỏng nhiều lớp. Công việc này là cần thiết 
khi hai hoặc nhiều cuộn lá mỏng được cán cùng một lúc trong suốt 
hành trình làm việc cuối cùng của máy cán. 
(4)  Làm sạch hoặc rửa hoá học. Đây là cách thông thường được thực 
hiện để loại bỏ dầu cặn khi không xử lý nhiệt. 
76.08 - Các loại ống và ống dẫn bằng nhôm. 
7608.10 - Bằng nhôm, không hợp kim 
7608.20 - Bằng hợp kim nhôm 
Chú giải 9 (e) Phần XV đã định nghĩa các loại ống và ống dẫn 
Các loại ống và ống dẫn của nhóm này có thể được sản xuất bởi các quá 
trình như sau: 
(a)  bằng việc ép đùn qua khuôn đúc rỗng hoặc thỏi tròn có lỗ. 

(b)  bằng việc hàn nối theo chiều dọc hoặc xoắn ốc khuôn hoặc bán 
thành phẩm đã cán phẳng, dạng cuộn (dải hoặc tấm). 
(c)  bằng việc ép đùn. 
(d)  bằng việc đúc. 
Các loại ống được đùn hoặc được hàn có thể được xử lý kéo nguội để 
thu được các ống có thành mỏng hơn, kích thước chính xác và hoàn 
chỉnh hơn. 
Các loại ống và ống dẫn của nhóm này được sử dụng cho nhiều mục 
đích ví dụ như làm đường ống dẫn dầu hoặc dẫn nước, làm ống dẫn dây 
điện, trong việc sản xuất đồ nội thất, bộ trao đổi nhiệt, các kết cấu. 
Nhóm này bao gồm các ống và ống dẫn có thể có hoặc không có ren ở 
hai đầu, lắp với ống nối, các mặt bích, các đầu mối, các vòng đai... 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Dạng hình rỗng (nhóm 76.04) 
(b) Các phụ kiện để ghép nối của ống hoặc ống dẫn (nhóm 76.09) 
(c) Ống dễ uốn nhóm 83.07) 
(d) Các ống và ống nối làm thành các sản phẩm đặc trưng, như các sản 
phẩm được dùng trong các kết cấu (nhóm 76.10) các bộ phận của 
máy móc hoặc của phương tiện giao thông (các Phần XVI và 
76.09 - Các phụ kiện để ghép nối của ống hoặc ống dẫn (ví dụ, khớp 
nối đôi, nối khuỷu, măng sông) bằng nhôm. 
Nội dung chú giải các nhóm 73.07 và 74.12 được áp dụng cho nhóm này 
với những sửa đổi phù hợp. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Kẹp và các dụng cụ khác được thiết kế chuyên dùng cho các bộ 
phận lắp ráp của các kết cấu (nhóm 76.10). 
(b)  Các giá treo và móc treo để đỡ đường ống, các bulông và đai ốc 
nhôm sử dụng cho việc lắp ráp hoặc cố định ống hoặc ống dẫn 
(nhóm 76.16). 
(c)  Các khớp nối với vòi, van... (nhóm 84.81). 

76.10 - Các kết cấu bằng nhôm (trừ nhà lắp ghép thuộc nhóm 94.06) 
và các bộ phận của các kết cấu bằng nhôm (ví dụ, cầu và nhịp 
cầu, tháp, cột lưới, mái nhà, khung mái, cửa ra vào và cửa sổ và 
các loại khung cửa và ngưỡng cửa ra vào, cửa chớp, lan can, cột 
trụ và các loại cột); tấm, thanh, dạng hình, ống và các loại tương 
tự bằng nhôm, đã được gia công để sử dụng làm kết cấu. 
7610.10 - Cửa ra vào, cửa sổ và các loại khung cửa và ngưỡng cửa 
ra vào 
7610.90 - Loại khác 
Nội dung của chú giải nhóm 73.08 được áp dụng, với những sửa đổi phù 
hợp cho nhóm này. 
Trong trường hợp nhôm, các bộ phận kết cấu đôi khi được gắn kết với 
nhau bằng nhựa tổng hợp hoặc các hợp chất cao su thay cho việc cố định 
bởi các phương pháp thông thường như tán đinh, ghép bằng bulông.... 
Vì đặc tính nhẹ nên nhôm và các hợp kim của nhôm đôi khi được sử 
dụng thay cho sắt hoặc thép trong sản xuất các khung kết cấu, các siêu 
kết cấu của tàu thuỷ, cầu cống, các cửa ra vào dạng trượt, các mạng điện 
hoặc các tháp phát thanh, dàn chống cho kính thiên văn, khuôn cửa ra 
vào hoặc cửa sổ, tay vịn... 
 Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các bộ phận lắp ráp được xác định như các bộ phận của sản phẩm 
của Chương 84 tới 88. 
(b) Các kết cấu nổi của Chương 89.  
(c) Nhà lắp ghép (nhóm 94.06). 
76.11 - Các loại bể chứa, két, bình chứa và các loại tương tự, dùng 
để chứa các loại vật liệu (trừ khí nén hoặc khí hóa lỏng), có 
dung tích trên 300 lít, bằng nhôm, đã hoặc chưa lót hoặc cách 
nhiệt, nhưng chưa lắp ghép với thiết bị cơ khí hoặc thiết bị 
nhiệt. 
Chú giải Chi tiết nhóm 73.09 cũng áp dụng cho nhóm này, với những 

sửa đổi phù hợp. 
Vì đặc tính nhẹ và chống ăn mòn nên nhôm có khuynh hướng thay thế 
sắt và thép trong việc sản xuất ra các loại bể chứa nước, két chứa... đặc 
biệt là trong các ngành công nghiệp hoá chất, các nhà máy bia, các nhà 
máy bơ sữa, các nhà máy sản xuất pho mát 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm các thùng đựng hàng được thiết 
kế đặc biệt và trang bị để chuyên chở bởi một hoặc nhiều phương thức 
vận chuyển (nhóm 86.09) 
76.12 - Thùng phuy, thùng hình trống, lon,  hộp và các loại đồ chứa 
tương tự (kể cả các loại thùng chứa hình ống cứng hoặc có thể 
xếp lại được), dùng để chứa mọi loại vật liệu (trừ khí nén hoặc 
khí hóa lỏng), dung tích không quá 300 lít, đã hoặc chưa lót 
hoặc cách nhiệt, nhưng chưa lắp ghép với thiết bị cơ khí hoặc 
thiết bị nhiệt.  
7612.10 - Thùng chứa hình ống có thể xếp lại được 
7612.90 - Loại khác 
Nội dung Chú giải Chi tiết nhóm 73.10 được áp dụng cho nhóm này với 
những sửa đổi phù hợp. 
Thùng phuy, thùng hình trống bằng nhôm chủ yếu được sử dụng cho 
việc vận chuyển sữa, bia, rượu vang... Các lon và hộp nhôm thường sử 
dụng trong đóng gói thực phẩm. Nhóm này cũng bao gồm các đồ chứa 
cứng hình ống (ví dụ: dùng cho các sản phẩm tân dược như các vỉ, viên 
nén...) và các đồ chứa hình ống có thể xếp lại được để đựng kem, thuốc 
đánh răng... 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Hàng hóa thuộc nhóm 42.02 
(b) Các thùng bánh qui, hộp đựng trà, hộp đường và các đồ dùng gia 
dụng tương tự khác hoặc các thùng chứa và các hộp nhỏ bằng kim 
loại dùng trong nhà bếp (nhóm 76.15). 
(c) Hộp đựng thuốc lá, hộp đựng bột, hộp dụng cụ và các đồ chứa tương 

tự dùng cho cá nhân hoặc chuyên dụng (nhóm 76.16). 
(d) Các sản phẩm thuộc nhóm 83.04. 
(e) Các hộp trang trí (nhóm 83.06). 
(f) Các đồ chứa được thiết kế đặc biệt và được làm thiết bị để vận 
chuyển bởi một hoặc nhiều hình thức vận chuyển (nhóm 86.09). 
(g) Phích chân không và các loại bình chân không hoàn chỉnh, thuộc 
nhóm 96.17. 
76.13 - Các loại thùng chứa khí nén hoặc khí hóa lỏng bằng nhôm. 
Xem chú giải nhóm 73.11. 
76.14 - Dây bện tao, cáp, băng tết và các loại tương tự, bằng nhôm, 
chưa cách điện.  
7614.10 - Có lõi thép 
7614.90 - Loại khác 
Chú giải Chi tiết liên quan tới nhóm 73.12 áp dụng cho nhóm này với 
những sửa đổi phù hợp. 
Vì là vật liệu dẫn điện nhẹ và tốt, nhôm và các hợp kim nhôm - mangiê - 
silic như "hợp kim Almelec" và “hợp kim aldrey" thường được sử dụng 
thay cho đồng trong việc xây dựng các đường dây và cáp điện. 
Cáp nhôm có lõi bằng thép hoặc các kim loại khác với điều kiện là 
nhôm phải lớn hơn về tỷ trọng (xem chú giải 7 phần XV). 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm dây và cáp đã bọc cách điện 
(nhóm 85.44). 
76.15 - Bộ đồ ăn, đồ nhà bếp hoặc các loại đồ gia dụng khác và các 
bộ phận của chúng, bằng nhôm; miếng dùng để cọ nồi và cọ rửa 
hoặc đánh bóng, găng tay và các loại tương tự bằng nhôm; đồ 
trang bị trong nhà vệ sinh và các bộ phận của chúng, bằng 

nhôm. 
7615.10 - Bộ đồ ăn, đồ nhà bếp hoặc các đồ gia dụng khác và các bộ 
phận của chúng; miếng cọ nồi và cọ rửa hoặc đánh bóng, 
găng tay và các loại tương tự: 
7615.20 - Đồ trang bị trong nhà vệ sinh và bộ phận của chúng: 
Nhóm này bao gồm các sản phẩm cùng loại như đã được mô tả trong các 
chú giải nhóm 73.23 và 73.24, đặc biệt là các đồ dùng nhà bếp, các sản 
phẩm sử dụng trong vệ sinh và toilet được mô tả trong các nhóm đó. 
Nhóm này cũng bao gồm đồ thiết bị nấu hoặc đun nóng bằng nhôm hoặc 
các thiết bị nhiệt tương tự được mô tả trong chú giải nhóm 74.18. 
 Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm: 
(a) Can, hộp và các đồ chứa tương tự thuộc nhóm 76.12 
(b) Đồ gia dụng mang đặc tính của dụng cụ (Chương 82) (Xem chú giải 
nhóm 73.23). 
(c) Dao kéo, thìa, muôi, dĩa và các sản phẩm khác thuộc nhóm 82.11 đến 
(d) Đồ trang trí (nhóm 83.06). 
(e) Thiết bị đun nước nóng nhanh hoặc thiết bị đun chứa nước nóng và 
các thiết bị khác của nhóm 84.19. 
(f) Các thiết bị điện gia dụng của Chương 85 (Cụ thể là đối với các thiết 
bị và máy móc thuộc nhóm 85.09 và 85.16). 
(g) Hàng hóa thuộc Chương 94. 
(h) Bật lửa châm thuốc lá và các loại bật lửa khác (nhóm 96.13). 
(ij) Các loại phích và các loại bình chân không khác thuộc nhóm 96.17. 
76.16 - Các sản phẩm khác bằng nhôm. 
7616.10 - Đinh, đinh bấm, ghim dập (trừ các loại thuộc nhóm 
83.05), đinh vít, bu lông, đai ốc, đinh móc, đinh tán, chốt 
hãm, chốt định vị, vòng đệm và các sản phẩm tương tự: 

              - Loại khác : 
7616.91 - - Tấm đan, phên, lưới và rào, bằng dây nhôm 
7616.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm bằng nhôm trừ các hàng hóa 
nằm trong các nhóm trước của chương này, hoặc chú giải 1 phần XV, 
hoặc các hàng hóa được chi tiết hoặc thuộc chương 82 hoặc 83 hoặc 
được mô tả cụ thể hơn ở bất cứ phần nào trong danh mục. 
Cụ thể nhóm này bao gồm: 
(1) Đinh, đinh bấm, ghim dập (trừ các loại thuộc nhóm 83.05), vít, bu 
lông, đai ốc, vít treo, đinh tán, chốt hãm, chốt định vị, vòng đệm và 
các sản phẩm tương tự được mô tả trong các chú giải các nhóm 
73.17 và 73.18. 
(2) Các loại kim đan, cái xỏ dây, kim móc, kim thêu, kim băng và các 
loại kim khác thuộc loại đã được mô tả trong chú giải nhóm 73.19. 
(3) Xích và các bộ phận của xích làm bằng nhôm 
(4) Tấm đan, phên và lưới làm bằng dây nhôm và sản phẩm dạng lưới 
được tạo hình bằng phương pháp đột dập và kéo giãn thành lưới 
(xem chú giải nhóm 73.14). Sản phẩm dạng lưới được tạo hình bằng 
phương pháp đột dập và kéo giãn thành lưới được sử dụng để trưng 
bày bán hàng, lưới màng loa, với múc đích phòng chống nổ được 
dùng trong vận chuyển và chứa các chất lỏng dễ bay hơi và khí... 
(5) Các mặt hàng bằng nhôm tương ứng với các mặt hàng bằng sắt và 
bằng thép được đề cập tới trong các chú giải nhóm 73.25 và 73.26 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Vải dệt thoi từ sợi kim loại sử dụng để trang trí như các loại vải trang 
trí nội thất hoặc các mục đích tương tự (nhóm 58.09). 
(b) Vải kim loại,..., đã được tạo dáng thành các bộ phận của máy (ví dụ: 
bằng việc lắp ráp với các vật liệu khác) Chương 84 hoặc 85). 
(c) Vải kim loại,..., cấu thành nên các loại sàng thô và sàng tay. (nhóm 

Chương 78 
Chì và các sản phẩm bằng chì 
Chú giải phân nhóm. 
1. Trong Chương này khái niệm “chì tinh luyện" có nghĩa: 
Là kim loại có hàm lượng chì chiếm ít nhất 99,9% tính theo khối lượng, 
với điều kiện hàm lượng của bất kỳ nguyên tố nào khác trong thành 
phần không vượt quá giới hạn nêu trong bảng sau: 
BẢNG - Các nguyên tố khác 
Nguyên tố 
Giới hạn tỷ lệ TL % 
Nguyên   
tố khác 
Bạc 
Đồng 
Sắt 
Lưu huỳnh 
Thiếc 
Kẽm 
(ví dụ Telua), 
mỗi nguyên tố 
TỔNG QUÁT 
Chương này gồm chì, các hợp kim của chì và các hàng hóa từ chì. 
Chì chủ yếu thu được từ Galena, là một loại quặng chì sunfua tự nhiên 
thường có chứa bạc. Sau khi làm giàu bằng phương pháp tuyển nổi, 
quặng nghiền vụn thường được nung hoặc thiêu kết và sau đó được khử 
bằng nấu chảy. Trong quá trình nung hoặc thiêu kết, muối sunphua phần 
lớn được chuyển thành dạng ôxit; trong quá trình nấu chảy, ôxit được 

khử thành chì bằng than cốc và một chất trợ dung. Theo cách này thu 
được "chì dạng thỏi" hoặc "chì gia công"; loại này có chứa một số tạp 
chất, thường bao gồm bạc. Bởi vậy nhìn chung chì phải được tinh luyện 
thêm để tạo ra chì hoàn toàn tinh khiết. 
Chì cũng thu được bởi việc nấu lại phế thải và các mảnh chì vụn. 
Chì là kim loại nặng có màu xanh xám, nó rất dễ dát mỏng, dễ nấu chảy 
và rất mềm (có thể dễ dàng dùng móng tay vạch nét trên mặt kim loại 
này). Chì chống lại tác dụng của hầu hết các axit (ví dụ: axit sunfuaric 
hoặc axit clohydric) và bởi vì vậy nó được sử dụng trong việc xây dựng 
nhà máy hoá chất. 
Do điểm nóng chảy của chì thấp nên nó dễ dàng tạo thành hợp kim với 
các nguyên tố khác. Các hợp kim chì chủ yếu có thể nằm trong chương 
này theo qui định của chú giải 5 Phần XV (xem chú giải chi tiết tổng 
quát của phần đó), bao gồm: 
(1)  Hợp kim chì-thiếc được dùng, ví dụ vật liệu hàn trên cơ sở chì, 
trong các tấm mỏng tráng chì và trong giấy bạc để gói chè. 
(2)  Hợp kim chì-antimon-thiếc được dùng trong các loại máy in và 
trong các vòng bi chống ma sát. 
(3)  Hợp kim chì-asen sử dụng làm đạn chì. 
(4)  Hợp kim chì-antimoan (chì cứng) được sử dụng trong sản xuất đạn, 
các bản cực ắc quy... 
(5)  Hợp kim chì-can xi, chì-canxi-antimon, chì-telu: 
Chương này bao gồm: 
(A)  Chì chưa gia công, phế liệu và các mảnh chì vụn (các nhóm 78.01 
và 78.02). 
(B)  Các sản phẩm thu được bởi việc cán hoặc ép đùn chì chưa gia công 

của nhóm 78.01 (nhóm 78.04 và 78.06), bột và vảy chì (nhóm 
(C)  Các ống, ống dẫn và phụ kiện và các sản phẩm còn lại của nhóm 
78.06 mà nó bao gồm tất cả các sản phẩm chì khác trừ các sản 
phẩm được mô tả trong chú giải 1 Phần XV hoặc nằm trong 
Chương 82 hoặc Chương 83 hoặc được mô tả chi tiết hơn ở các 
phần khác trong danh mục. 
Các sản phẩm và hàng hóa bằng chì có thể được đưa qua nhiều quá trình 
xử lý để nâng cao thuộc tính và hình dáng bên ngoài của kim loại... Nhìn 
chung những quá trình gia công đó được đề cập tại phần cuối chú giải 
tổng quát của Chương 72 và không ảnh hưởng tới việc phân loại hàng 
hoá. 
Việc phân loại các sản phẩm phức hợp được giải thích trong Chú giải 
Tổng quát Phần XV. 
78.01 -  Chì chưa gia công. 
 7801.10 - Chì tinh luyện 
               - Loại khác: 
7801.91 - - Có hàm lượng antimon tính theo khối lượng là lớn nhất 
so với hàm lượng của các nguyên tố khác ngoài chì 
7801.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm chì chưa gia công ở mức độ tinh khiết khác nhau, 
từ các thỏi chì không tinh khiết hoặc chì có chứa bạc đến chì tinh khiết 
bằng phương pháp điện phân. Nó có thể ở dạng khối, thỏi, bánh, tấm, 
hoặc các dạng tương tự, hoặc ở dạng thanh đúc. Hầu hết các dạng đó là 
để đưa vào cán hoặc ép đùn, để chế tạo các loại hợp kim, hoặc cho việc 
đúc thành các sản phẩm dạng hình. Nhóm này cũng bao gồm các thanh 
anôt đúc sử dụng trong tinh chế bằng phương pháp điện phân, que đúc, 

ví dụ cho cán hoặc kéo hoặc đúc lại thành những sản phẩm dạng hình 
Nhóm này loại trừ bột hoặc vảy chì (nhóm 78.04). 
78.02 - Phế liệu và mảnh vụn chì. 
Các nội dung liên quan tới phế liệu và mảnh vụn trong chú giải nhóm 
72.04 áp dụng, với những sửa đổi phù hợp, cho nhóm này. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Xỉ, tro và các chất cặn còn lại từ việc sản xuất chì (ví dụ: Sten chì) 
(nhóm 26.20). 
(b)  Các thỏi thô và các dạng chì chưa gia công tương tự đúc từ nấu lại 
chì phế liệu và mảnh vụn chì (nhóm 78.01). 
78.04 - Chì ở dạng tấm, lá, dải và lá mỏng; bột và vảy chì. 
             - Chì ở dạng tấm, lá, dải và lá mỏng: 
7804.11 - - Lá, dải và lá mỏng có chiều dày (trừ phần bồi) không 
quá 0,2 mm 
7804.19 - - Loại khác 
7804.20 - Bột và vảy chì 
Chì ở dạng tấm, lá, dải và lá mỏng được định nghĩa trong Chú giải 9 
(d) Phần XV. 
Các điều khoản của chú giải nhóm 74.09 và 74.10 áp dụng, với những 
sửa đổi phù hợp, cho nhóm này. 
Dạng tấm, lá và dải của chì được sử dụng chủ yếu là cho mục đích lợp 
mái, mạ kim loại, trong các bể chứa, các bình chứa và trong xưởng hoá 
chất khác, cho việc sản xuất tấm chắn tia X,... 
Chì ở dạng lá mỏng được sử dụng chủ yếu trong việc đóng gói (đặc biệt 
cho hộp chè có lớp tráng trong hoặc các hòm đựng tơ lụa). Trong một số 

trường hợp các lá mỏng được mạ hoặc được bao bọc bởi thiếc hoặc các 
kim loại khác. 
Nhóm này cũng bao gồm bột chì như định nghĩa ở chú giải 8 (b) phần 
XV và vảy chì. Các điều khoản của chú giải chi tiết nhóm 74.06 áp 
dụng, với những sửa đổi phù hợp, cho nhóm này…. 
Nhóm này không bao gồm bột và vảy chì, được điều chế thành chất 
màu, sơn hoặc các loại tương tự (ví dụ: phối hợp với chất màu khác hoặc 
được đóng dưới dạng nhũ tương, dạng phân tán hoặc dạng bột nhão với 
chất kết dính hoặc dung môi) (Chương 32). 
78.06 - Các sản phẩm khác bằng chì. 
 Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm của chì ngoại trừ các sản phẩm 
thuộc các nhóm trước của Chương này, hoặc thuộc Chương 82 hoặc 
Chương 83, hoặc được mô tả chi tiết hơn ở các phần khác trong danh 
mục (xem chú giải 1 phần XV) dù các sản phẩm này đã được đúc khuôn, 
ép và dập.... 
Trong trường hợp đặc biệt, nó áp dụng, đối với các loại ống có thể bóp 
để chứa chất màu hoặc sản phẩm khác, các thùng chứa, bể chứa, thùng 
hình trống và các thùng chứa tương tự (sử dụng để chứa axit, các sản 
phẩm phóng xạ hoặc các hoá chất khác), không gắn với các thiết bị máy 
và thiết bị nhiệt; quả dọi chì cho lưới đánh cá, các quả dọi cho quần áo, 
rèm,... quả lắc đồng hồ, và các đối trọng thông dụng, các cuộn chỉ lỏng, 
con sợi (len, dây thừng) và các loại dây thừng (chão, cáp) bằng sợi chì 
hoặc các dây được dùng cho bao gói hoặc cho việc trám các mối nối 
ống, các bộ phận của cấu trúc nhà, sống thuyền buồm, các tấm che ngực 
của thợ lặn, các Anốt mạ điện (xem phần (A) thuộc chú giải nhóm 
75.08); thanh, que, hình và dây chì được định nghĩa trong Chú giải 9 (a), 
9 (b) và 9 (c) Phần XV (trừ các que đúc dự định, ví dụ, để cán hoặc kéo 
hoặc để đúc lại thành các sản phẩm dạng hình (nhóm 78.01), dạng que 

đã được phủ (nhóm 83.11)). 
Nhóm này cũng bao gồm các ống và ống dẫn được định nghĩa trong Chú 
giải 9 (e) Phần XV và phụ kiện kết nối bằng chì cho ống và ống dẫn (ví 
dụ, khớp nối đôi, khuỷu, măng sông), (trừ các phụ kiện để ghép nối với 
vòi, van v.v. (nhóm 84.81), ống và ống dẫn làm thành những sản phẩm 
có thể nhận dạng đặc biệt, chẳng hạn như các bộ phận máy móc (Phần 
XVI) và cáp có vỏ bọc ngoài bằng chì để cách điện (nhóm 85.44)). 
Những mặt hàng này tương ứng với các mặt hàng sắt hoặc thép được đề 
cập trong chú giải nhóm 73.04 tới 73.07. 

Chương 79 
Kẽm và các sản phẩm bằng kẽm 
Chú giải phân nhóm. 
1.- Trong Chương này các khái niệm sau có nghĩa: 
(a) Kẽm, không hợp kim 
Là kim loại có hàm lượng kẽm ít nhất 97,5% tính theo khối lượng. 
(b) Hợp kim kẽm 
Vật liệu kim loại mà trong đó hàm lượng của kẽm lớn hơn so với hàm 
lượng của mỗi nguyên tố khác, với điều kiện tổng hàm lượng tính theo 
khối lượng của các nguyên tố khác trên 2,5%. 
(c) Bụi kẽm 
Bụi thu được từ quá trình ngưng tụ hơi kẽm, bao gồm những hạt hình 
cầu nhỏ hơn bột kẽm. Có tối thiểu 80% tính theo khối lượng các hạt lọt 
qua mắt sàng 63 micromét (microns). Hàm lượng của kẽm ít nhất là 85% 
tính theo khối lượng. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm kẽm và các hợp kim của kẽm, và một số sản phẩm 
của nó. 
Kẽm chủ yếu thu được từ quặng sunfua (hỗn hợp kẽm hoặc các 
Sphalerit) mặc dù nó cũng được chiết xuất từ quặng Cacbonat và Silicat 
(Smithsonite, Hemimorphite...) (xem chú giải giải thích nhóm 26.08). 
Trong cả hai trường hợp, đầu tiên quặng được tuyển và sau đó được 
nung hoặc nung khô để tạo ra oxit kẽm (trong trường hợp của quặng 
Sulphat và cacbonat) hoặc Silicat Kẽm đã được khử nước (trong trường 
hợp là quặng Silicate). Kẽm thu được từ quá trình này bằng phương 
pháp khử nhiệt hoặc bằng phương pháp điện phân (trừ trong trường hợp 

là quặng Silicat). 
(I)  Phương pháp khử nhiệt: được tiến hành bằng cách nung nóng ôxit 
hoặc Silicate với than cốc trong nồi chưng cất kín. Kẽm tại nhiệt độ 
đủ cao sẽ bốc hơi sau đó được chưng cất qua máy ngưng tụ. Phần 
lớn kim loại được thu lại là "Kẽm tạp chất". Kẽm không tinh khiết 
này có thể được sử dụng trực tiếp cho công nghệ mạ kẽm, hoặc có 
thể được tinh chế bằng các phương pháp khác. 
Một số kim loại không tinh khiết cũng được kết tủa (trầm tích) trong 
những phần nối của nồi chưng cất dưới dạng bột mịn được biết như 
là bụi kẽm hoặc bột xanh. 
Sự cải tiến của quá trình này dựa trên cơ sở liên tục khử ôxit kẽm và 
chưng cất kẽm trong các lò thẳng đứng. Quá trình này tạo ra kim 
loại rất tinh khiết phù hợp với việc tạo ra các hợp kim đúc áp lực. 
(II)  Phương pháp điện phân: Ôxit kẽm được hoà tan trong dung dịch 
Axit Sunphuric pha loãng. Dung dịch Sunphat kẽm này được tinh 
lọc cẩn thận để loại ra Cadi, Sắt, Đồng... và sau đó nó được điện 
phân để tạo ra một loại kẽm rất tinh khiết.  
Kẽm cũng thu được từ việc nấu luyện lại chất phế liệu và mảnh vụn  
của kẽm. 
Kẽm là một kim loại có màu trắng xanh có thể được cán, kéo, dập, ép... 
ở những nhiệt độ thích hợp, và nó có thể dùng trong công nghệ đúc. 
Kẽm là chất có khả năng chống lại sự ăn mòn trong bầu khí quyển và 
bởi vậy nó được sử dụng trong công trình xây dựng (ví dụ: sử dụng cho 
việc lợp mái) và để tạo nên các lớp vỏ bọc bảo vệ những kim loại khác, 
đặc biệt là sắt và thép (ví dụ: bằng việc mạ nhúng nóng, mạ điện âm 
cực, mạ kẽm, sơn hoặc phun). 
Kẽm cũng được áp dụng trong việc sản xuất các loại hợp kim, nhiều loại 
(ví dụ: đồng thau) chứa một lượng nhiều hơn của các kim loại khác, 

nhưng dưới đây là các hợp kim kẽm chính mà có thể nằm trong chương 
này theo các điều khoản của Chú giải 5 Phần XV. 
(1) Hợp kim kẽm-nhôm, thông thường có bổ sung đồng hoặc magiê 
dùng cho quá trình đúc áp lực, đặc biệt dùng cho các bộ phận ô tô 
(thân của bộ chế hoà khí, lưới của bộ tản nhiệt, bảng đồng hồ...) các 
bộ phận của xe đạp (bàn đạp, các hộp Dynamo...) các bộ phận của 
Radio, các bộ phận của tủ lạnh... Các hợp kim của các kim loại cùng 
loại được dùng để sản xuất, các tấm cứng hơn kẽm bình thường, các 
dụng cụ ép, và như là Anốt bảo vệ Ca-tôt (A-nôt tự tiêu) để bảo vệ 
các đường ống, các tụ điện... chống lại ăn mòn kim loại. 
(2) Hợp kim kẽm- đồng (hợp kim kim loại núm) sử dụng để đúc dập... 
Xem chú giải phân nhóm 1 (a) và 1 (b) liên quan đến việc phân biệt 
giữa kẽm và hợp kim của kẽm. 
Chương này bao gồm: 
(A) Kẽm thương phẩm và kẽm chưa qua gia công, phế liệu và các mảnh 
vụn (nhóm 79.01 và 79.02). 
(B) Bụi, bột và vẩy kẽm (nhóm 79.03). 
(C) Các sản phẩm nói chung thu được, bởi các phương pháp cán, kéo, 
ép. Kẽm chưa qua gia công thuộc nhóm 79.01 (các nhóm 79.04 và 
(D) Các ống, ống dẫn và các phụ kiện, các sản phẩm khác của nhóm 
79.07, bao gồm tất cả các sản phẩm kẽm khác trừ các sản phẩm 
nằm trong Chú giải 1 của Phần XV hoặc thuộc Chương 82 hoặc 
Chương 83 hoặc các sản phẩm được mô tả chi tiết hơn thuộc nơi 
khác của Danh mục.. 
Các sản phẩm và mặt hàng bằng kẽm có thể qua nhiều quá trình xử lý để 
nâng cao thuộc tính hoặc hình dáng bên ngoài của kim loại... Các 
phương pháp xử lý đó nói chung được đề cập tại phần cuối của chú giải 

chi tiết Chương 72 và không ảnh hưởng đến việc phân loại hàng hoá. 
Việc phân loại các sản phẩm phức hợp được giải thích trong chú giải 
Tổng quát phần XV. 
79.01 - Kẽm chưa gia công. 
              - Kẽm, không hợp kim: 
7901.11 - - Có hàm lượng kẽm từ 99,99% trở lên tính theo khối 
lượng 
7901.12 - - Có hàm lượng kẽm dưới 99,99% tính theo khối lượng 
7901.20 - Hợp kim kẽm 
Nhóm này bao gồm kẽm chưa gia công ở các mức độ khác nhau về độ 
tinh khiết từ kẽm thương phẩm (Xem chú giải chung ở trên) đến kẽm đã 
được tinh chế, nó có thể ở dạng khối, tấm, thỏi, phiến hoặc các dạng 
tương tự hoặc có dạng viên. Các sản phẩm của nhóm này thường được 
dự định sử dụng trong mạ kẽm (bởi phương pháp nhúng nóng hoặc quá 
trình (kết tủa điện phân) mạ âm cực, tạo ra các hợp kim, cán, kéo, hoặc 
ép đùn, hoặc đúc thành các sản phẩm định hình. 
Nhóm này loại trừ bụi, bột, vẩy kẽm (nhóm 79.03). 
79.02 - Phế liệu và mảnh vụn kẽm. 
Các điều khoản liên quan đến phế liệu và mảnh vụn trong chú giải nhóm 
72.04, với những bổ sung thích hợp, cũng được áp dụng cho nhóm này. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Xỉ, tro và chất thải từ quá trình sản xuất kẽm, từ quá trình mạ kẽm 
(ví dụ: Cặn kết tủa trong quá trình mạ kẽm và chất thải kim loại từ 
các thùng nhúng (nhóm 26.20). 

(b)  Kẽm ở dạng thỏi và các dạng tương tự chưa qua gia công được đúc 
từ kẽm phế liệu và mảnh vụn được nấu lại (nhóm 79.01). 
79.03 - Bột, bụi và vảy kẽm. 
7903.10 - Bụi kẽm 
7903.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Bụi kẽm như định nghĩa bởi chú giải phân nhóm 1(c) Chương này 
thu được từ quá trình ngưng tụ hơi kẽm mà nó được sản xuất hoặc 
trực tiếp từ quá trình khử quặng kẽm hoặc phương pháp xử lý nhiệt 
của các vật liệu chứa kẽm bằng việc đun nóng. Các sản phẩm đó 
nhất thiết không được nhầm lẫn với bụi ống khói, nó được biết dưới 
nhiều tên như "Bụi lò kẽm", "bụi lò ôxit kẽm" hoặc "bụi ống khói 
nhà lọc túi kẽm" mà chúng được phân loại trong nhóm 26.20. 
(2)  Kẽm dạng bột như đã định nghĩa trong chú giải 8b Phần XV và 
kẽm ở dạng vảy. Các điều khoản của chú giải nhóm 74.06 với sự 
sửa đổi thích hợp cũng được áp dụng cho nhóm này. 
Kẽm ở dạng bụi, bột và vảy chủ yếu được sử dụng để phủ các kim loại 
khác bằng quá trình gắn kết kim loại (sự mạ kẽm), dùng trong việc sản 
xuất các loại sơn với vai trò là tác nhân khử hoá chất... 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Kẽm ở dạng bụi, bột hoặc vẩy, được pha chế làm thuốc màu, các 
loại sơn phủ hoặc các sản phẩm tương tự (ví dụ: được tạo với chất 
màu khác hoặc được đưa vào như thể huyền phù, phân tán hoặc bột 
nhão, với một chất liên kết hoặc dung môi (Chương 32). 

(b)  Kẽm ở dạng viên (nhóm 79.01). 
79.04 - Kẽm ở dạng thanh, que, hình và dây. 
Các sản phẩm này được định nghĩa trong các Chú giải 9 (a), 9 (b) và 9 
(c) Phần XV, tương ứng với những hàng hoá làm từ đồng. Các điều 
khoản của chú giải 74.07 và 74.08, với sự sửa đổi thích hợp, cũng được 
áp dụng cho nhóm này. 
Kẽm dạng que, dạng hình thường được dùng để tạo ra cấu kiện xây dựng 
(nhóm 79.07), kẽm dạng dây sử dụng chủ yếu như một nguồn kẽm để 
phun lên kim loại bằng mỏ hàn ôxi - Axetylen.     
Nhóm này bao gồm các que hàn hơi hoặc hàn điện bằng hợp kim mà 
phần chủ yếu là kẽm (thường làm từ phương pháp ép đùn) dù có cắt 
thành độ dài hay không, với điều kiện là chúng không bị bọc phủ bởi 
chất trợ dung. Các que được bọc phủ được loại trừ (nhóm 83.11). 
Nhóm này cũng không bao gồm các que dạng đúc được dự định, ví dụ, cho 
việc cán, kéo hoặc đúc lại thành các sản phẩm được tạo hình (nhóm 79.01). 
79.05 - Kẽm ở dạng tấm, lá, dải và lá mỏng. 
Nhóm này bao gồm các tấm, lá, dải và lá mỏng được định nghĩa trong 
Chú giải 9 (d) Phần XV; các sản phẩm này tương ứng với các sản phẩm 
bằng đồng được mô tả trong chú giải nhóm 74.09 và 74.10. 
Kẽm ở dạng tấm và lá được sử dụng để sản xuất mái lợp, các hộp chứa 
pin khô, các tấm kẽm chụp ảnh, các tấm in litô hoặc các tấm in ấn khác, 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Sản phẩm dạng lưới được tạo hình bằng phương pháp đột dập và kéo 
giãn thành lưới (nhóm 79.07) 
(b) Các tấm in đã được làm sẵn thuộc nhóm 84.42. 

79.07 - Các sản phẩm khác bằng kẽm. 
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm bằng kẽm trừ các sản phẩm được 
bao hàm bởi các nhóm đứng trước của chương này, hoặc bởi chú giải 1 
phần XV, hoặc các sản phẩm được chi tiết hoặc thuộc Chương 82 hoặc 83 
hoặc được chỉ định rõ ràng hơn ở bất cứ phần nào trong Danh mục. 
Ngoài những mặt hàng khác, nhóm này bao gồm: 
(1) Các bể chứa, thùng chứa, thùng hình trống và các thùng chứa tương 
tự không gắn thiết bị cơ khí hoặc thiết bị nhiệt. 
(2) Các đồ chứa hình ống để đóng gói các sản phẩm dược. 
(3) Vải lưới và các loại lưới làm bằng dây kẽm, và các sản phẩm dạng lưới 
được tạo hình bằng phương pháp đột dập và kéo giãn thành lưới. 
(4) Đinh, đinh bấm, đai ốc, bulông, đinh vit bằng kẽm và các mặt hàng 
khác thuộc loại đã được mô tả trong chú giải các nhóm 73.17 và 
(5) Các mặt hàng gia dụng hoặc sản phẩm vệ sinh như các loại xô, 
thùng, bồn rửa, bồn tắm, chậu, các thùng tưới nước, vòi hoa sen, bàn 
cọ và các loại bình (Tuy nhiên những mặt hàng như vậy được làm 
bằng sắt hoặc thép đã mạ và bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm 
73.23 và 73.24)). 
(6) "Các nhãn hiệu" bằng kẽm (dùng gắn cho các cây, hoặc các nhánh 
cây...) không mang chữ, số hoặc các phác hoạ, hoặc chỉ mang 
những chi tiết cá biệt đối với thông tin quan trọng mà nó sẽ được 
thêm vào sau. "Các nhãn hiệu" đầy đủ tất cả thông tin quan trọng sẽ 
nằm trong nhóm 83.10. 
(7)  Khuôn tô. 
(8)  Các giá treo gạch lát và các sản phẩm linh tinh bằng kẽm tương ứng 
với các sản phẩm bằng sắt hoặc thép được đề cập đến trong các chú 

giải các nhóm 73.25 và 73.26. 
(9)  Các cực dương mạ điện (xem phần A của chú giải nhóm 75.08). 
(10) Cực dương bảo vệ cực âm (anôt tự tiêu) được dùng cho việc bảo vệ 
các ống dẫn, các bể chứa trên tàu thuỷ... khỏi ăn mòn kim loại. 
(11) Ống máng, mái nhà, khung cửa sổ của mái nhà, các chóp chống 
nước mưa, các khung cửa sổ, cửa ra vào lan can, tay vịn, các khung 
của nhà kính và các bộ phận dùng trong xây dựng nhà cửa tương 
ứng với các mặt hàng bằng sắt và thép được đề cập tới trong chú 
giải của nhóm 73.08. 
(12) Nhóm này cũng bao gồm các loại ống và ống dẫn đã nêu trong Chú 
giải 9 (e) Phần XV và các phụ kiện của ống, ống dẫn (ví dụ như 
khớp nối, khuỷu, măng sông), bằng kẽm (trừ các sản phẩm dạng 
hình rỗng (nhóm 79.04), các phụ kiện đã lắp với vòi, khóa, van,… 
(nhóm 84.81) và các loại ống, ống dẫn được chế tạo thành các chi 
tiết của những sản phẩm xác định, như những bộ phận của máy móc 
(Phần XVI)). Các sản phẩm này giống như các hàng hóa bằng sắt 
hoặc thép được nêu trong chú giải chi tiết của các nhóm từ 73.04 
đến 73.07. 

Chương 80 
Thiếc và các sản phẩm bằng thiếc 
Chú giải phân nhóm. 
1. Trong Chương này các khái niệm sau có nghĩa: 
(a)  Thiếc, không hợp kim 
Là kim loại có hàm lượng thiếc chiếm ít nhất 99% tính theo khối lượng, 
với điều kiện hàm lượng của bismut hoặc đồng phải thấp hơn giới hạn ở 
bảng sau: 
BẢNG - Các nguyên tố khác 
Nguyên tố 
Hàm lượng giới hạn tính theo 
khối lượng (%) 
Cu                            Đồng 
(b) Hợp kim thiếc 
Vật liệu kim loại mà trong đó hàm lượng thiếc lớn hơn so với hàm lượng 
của mỗi nguyên tố khác tính theo khối lượng, với điều kiện:  
(i) tổng hàm lượng các nguyên tố khác trên 1% tính theo khối lượng; 
hoặc 
(ii) hàm lượng của bismut hoặc đồng phải bằng hoặc lớn hơn giới hạn 
nêu ở bảng trên. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm thiếc và các hợp kim của thiếc, và một số sản 
phẩm làm bằng thiếc. 

Về mặt thương mại, thiếc chiết xuất từ các quặng ôxit Cassiterite (hoặc 
đá thiếc) được phân loại trong nhóm 26.09, quặng này có thể xuất hiện 
hoặc trong mạch quặng hoặc trong những lớp lắng của đất bồi. 
Các giai đoạn chính trong quá trình chiết xuất diễn ra như sau: 
(I) Quá trình tuyển quặng bằng phương pháp rửa, nghiền và tuyển nổi 
(II) Quá trình xử lý ôxit bằng việc nung, tách bằng từ tính, hoặc với các 
loại axit hoặc các dung môi khác để loại bỏ các tạp chất như Sulphur 
Asen, đồng, chì, sắt và tungsten. 
(III) Quá trình khử của các ôxit tinh khiết bằng than cốc để sản xuất thiếc 
thô. 
(IV) Tinh luyện thiếc thô bằng nhiều phương pháp có thể tạo ra được 
kim loại trong trạng thái hầu như hoàn toàn tinh khiết. 
Thiếc cũng được thu hồi từ các mảnh vụn tráng thiếc bằng phương pháp 
xử lý Clo hoá hoặc điện phân, hoặc bằng phương pháp nấu chảy lại phế 
liệu và mảnh vụn thiếc. Quá trình thu hồi lại đó cũng có thể tạo ra thiếc 
rất tinh khiết. 
Thiếc tinh khiết có màu trắng bạc và rất bóng, nó không thật dẻo, nhưng 
có thể rèn được, dễ dàng bị nấu chảy và mềm (mặc dù cứng hơn chì). 
Thiếc có thểdễ dàng được tạo hình qua đúc khuôn dập, cán hoặc ép đùn. 
Thiếc là chất chống lại được sự ăn mòn khí quyểnnhưng lại bị ăn mòn 
bởi các loại axit đậm đặc. 
Thiếc chủ yếu được dùng trong quá trình mạ thiếc cho các kim loại cơ 
bản khác đặc biệt là sắt và thép (ví dụ: quá trình sản xuất tôn tráng thiếc, 
đặc biệt cho ngành công nghiệp đồ hộp) và trong việc tạo ra các hợp kim 
(đồng thanh...). Ởtrạng thái tinh khiết hoặc hợp kim, thiếc cũng được sử 
dụng trong sản xuất các thiết bị, đường ống và hệ thống ống dẫn cho 
ngành công nghiệp thực phẩm, phần vòi của các thùng cất, các bộ phận 

của tủ lạnh, các bể chứa công nghiệp, các bình chứa... Hợp kim thành 
hình que, dây..., các sản phẩm trang trí và bộ đồ ăn (ví dụ: trong đồ dùng 
bằng thiếc), đồ chơi, các ống của đàn hộp... Nó cũng được dùng dạng lá 
mỏng hoặc các ống có thể bóp được. 
Các hợp kim chính của thiếc có thể được phân loại trong chương này 
theo các điều khoản của chú giải 5 phần XV (Xem chú giải tổng quát 
phần đó) bao gồm: 
(1) Các hợp kim thiếc - chì được sử dụng, ví dụ, thiếc được sử dụng như 
các kim loại hàn mềm, nền chủ yếu là thiếc, trong các vật dụng làm 
bằng thiếc, trong sản xuất đồ chơi, cho một số thước đo dung lượng. 
(2) Các hợp kim thiếc-antimon, thườngcó đồng (ví dụ: kim loại 
Britannia) được sử dụng cho các bộ đồ ăn, sản xuất các vòng bạc 
đỡ... 
(3) Các hợp kim thiếc-chì-antimon, đôi khi có đồng (ví dụ: các kim loại 
chống ma sát thành phần cơ bản là thiếc) sử dụng để làm khuôn đúc 
(đặc biệt là bạc đỡ) sử dụng làm bao bì. 
(4) Các hợp kim thiếc-Cadimi, đôi khi cũng có kẽm, được dùng như các 
kim loại chống ma sát. 
Chương này bao gồm: 
(A) Thiếc chưa qua gia công và thiếc phế liệu và mảnh vụn (nhóm 80.01 
và 80.02). 
(B) Các sản phẩm thường thu được từ phương pháp cán hoặc ép thiếc 
chưa gia công thuộc nhóm 80.01 (nhóm 80.03 và nhóm 80.07), thiếc 
ở dạng bột và vảy (nhóm 80.07). 
(C) Các ống, ống dẫn và các phụ kiện, các sản phẩm khác thuộc nhóm 
80.07 bao gồm tất cả các sản phẩm bằng thiếc khác trừ các sản 
phẩm đã nêu trong chú giải 1 phần XV hoặc thuộc Chương 82 hoặc 

83, hoặc các sản phẩm được mô tả chi tiết hơn thuộc nơi khác của 
danh mục. 
Các sản phẩm và mặt hàng bằng thiếc có thể được đưa qua các phương 
pháp xử lý đa dạng để nâng cao tính chất hoặc hình dạng của kim loại. 
Các phương pháp xử lý đó nói chung được đề cập tới tại phần cuối của 
chú giải chi tiết Chương 72 và không ảnh hưởng tới việc phân loại hàng 
hoá. 
Việc phân loại hàng hoá các sản phẩm phức hợp được giải thích chung 
trong Chú giảicTổng quát Phần XV. 
80.01 - Thiếc chưa gia công. 
8001.10 - Thiếc, không hợp kim 
8001.20 - Hợp kim thiếc 
Nhóm này bao gồm thiếc chưa gia công ở dạng hình khối, thỏi, thanh, 
que, cục, phiến hoặc các dạng tương tự, và các mảnh, các hạt và các sản 
phẩm tương tự bằng thiếc. Hầu hết các sản phẩm thuộc nhóm này được 
dự định đưa vào sử dụng trong việc mạ thiếc, cho quá trình cán hoặc đúc 
ép, cho sản xuất các loại hợp kim đúc thành các sản phẩm có hình dạng. 
Nhóm này loại trừ thiếc ở dạng bột và vảy (nhóm 80.07). 
80.02 - Phế liệu và mảnh vụn thiếc. 
Các khoản liên quan tới phế liệu và mảnh vụn trong chú giải chi tiết 
nhóm 72.07 với sửa đổi phù hợp cũng áp dụng cho nhóm này. 
Nhóm này loại trừ: 
(a) Xỉ, tro và các chất thải từ việc sản xuất thiếc (nhóm 26.20). 
(b) Thiếc ở dạng thỏi và các dạng chưa gia công tương tự đúc từ phế liệu 
và mảnh vụn thiếc được nấu lại (nhóm 80.01) 

80.03 - Thiếc ở dạng thanh, que, dạng hình và dây. 
Các sản phẩm này, được định nghĩa trong Chú giải 9 (a), 9 (b) và 9 (c) 
Phần XV, tương ứng đối với các sản phẩm tương tự làm bằng đồng. Bởi 
vậy các điều khoản của Chú giải Chi tiết nhóm 74.07 hoặc 74.08 với các 
sửa đổi thích hợp cũng áp dụng cho nhóm này. 
Nhóm cũng bao gồm các thanh của kim loại hàn cơ bản là thiếc (nhìn 
chung được chế tạo từ phương pháp ép đùn) có thể có hoặc không bị cắt 
thành từng đoạn, với điều kiện là chúng không bị tẩm phủ các chất trợ 
dung, các thanh được bọc phủ bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm 83.11). 
Nhóm này cũng loại trừ các thanh đúc, ví dụ, để cán hoặc kéo hoặc để 
đúc lại thành các sản phẩm có hình dạng ((nhóm 80.01). 
80.07 - Các sản phẩm khác bằng thiếc. 
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm bằng thiếc, trừ các sản phẩm 
được bao hàm bởi các nhóm đứng trước của chương này hoặc bởi chú 
giải 1 phần XV, hoặc các sản phẩm đã được chỉ tiết hoặc được bao hàm 
trong Chương 82 hoặc 83, hoặc được mô tả cụ thể hơn ở một phần khác 
trong Danh mục. 
Trong trường hợp đặc biệt, nó áp dụng cho: 
(1) Các thùng chứa, bề chứa, thùng hình trống và các thùng chứa khác 
(không phù gắn với các thiết bị cơ khí hoặc nhiệt). 
(2) Các ống có thể bóp được sử dụng để làm hộp đựng kem đánh răng, 
các chất màu hoặc các sản phẩm khác. 

(3) Các đồ gia dụng và các bộ đồ ăn (luôn làm bằng thiếc) như các bình, 
khay, đĩa, chén, ống xi phông và nắp đậy cốc ống bia... 
(4) Các thước đo dung lượng. 
(5) Các anốt mạ điện (xem phần A của chú giải chi tiết nhóm 75.08). 
(6) Bột thiếc (xem Chú giải 8(b) của Phần XV) và vảy thiếc. 
(7) Tấm, lá và dải thiếc; lá thiếc mỏng (có hoặc không được in, lót bằng 
giấy, giấy bìa, nhựa hoặc vật liệu lót tương tự). Các sản phẩm này 
được mô tả trong Chú giải 9 (d) Phần XV. 
(8) Các loại ống và ống dẫn nêu trong Chú giải 9 (e) Phần XV và các 
loại phụ kiện của ống, ống dẫn (ví dụ như nối đôi, nối khuỷu, măng 
sông) bằng thiếc (trừ các sản phẩm dạng hình rỗng (nhóm 80.03), 
phụ kiện của ống, ống dẫn đã lắp vòi, khóa, van,…(nhóm 84.81), và 
các loại ống, ống dẫn được chế tạo thành các chi tiết của những sản 
phẩm xác định, như những bộ phận của máy móc (Phần XVI)). Các 
sản phẩm này giống như các hàng hóa bằng sắt hoặc thép được nêu 
trong Chú giải Chi tiết của các nhóm từ 73.04 đến 73.07. 

Chương 81 
Kim loại cơ bản khác; gốm kim loại; các sản phẩm của chúng 
TỔNG QUÁT 
Chương này chỉ giới hạn bao gồm sau đây: các kim loại cơ bản, các hợp 
kim của chúng, và các sản phẩm của chúng mà không được đề cập riêng 
ở bất cứ phần nào trong Danh mục.  
(A) Vôn-fram (wolfram) (nhóm 81.01), Molybden (Mo) (nhóm 81.02), 
Tantan(Ta) nhóm 81.03), Magie(Mg) (nhóm 81.04), Coban(Co), 
bao gồm các phụ phẩm  và các sản phẩm trung gian khác của Coban  
thu được trong quá trình luyện kim Coban (nhóm 81.05), Bitmut(Bi) 
(nhóm 81.06), Titan(Ti) (nhóm 81.08), Zirconi(Zr) (nhóm 81.09), 
Antimon(Sb) (nhóm 81.10) và Mangan(Mn) (nhóm 81.11). 
(B) Berili (Be), crôm (Cr), hafini (Hf), reni (Re), tali (TI), cađimi (Cd), 
gecmani (Ge), vanadi(V), gali (Ga), indi (In) và niobi (Nb) 
(columbi) (nhóm 81.12). 
Chương này cũng bao gồm gốm kim loại (nhóm 81.13). 
Các kim loại cơ bản không được mô tả trong chương này hoặc trong các 
chương trước thuộc phần XV thì được phân loại vào Chương 28. 
Hầu hết các kim loại được phân loại trong chương này được sử dụng chủ 
yếu dưới dạng hợp kim hoặc dạng carbid (cacbua hoá) hơn là ở dạng tinh 
khiết. Việc phân loại những hợp kim như vậy tuân theo các quy tắc được 
trình bày trong chú giải 5 phần XV, các hợp chất cacbua kim loại bị loại 
trừ khỏi chương này. 
Việc phân loại các hàng hoá phức hợp, đặc biệt là các mặt hàng đã 
hoàn thiện, được giải thích trong Chú giải Tổng quát của Phần XV. 
Chú giải 8 Phần XV đã định nghĩa "Chất phế liệu và mảnh vụn" và "bột". 
81.01 - Vonfram và các sản phẩm làm từ vonfram, kể cả phế liệu và  81.01 - Tungsten (wolfram) and articles thereof, including waste and 

mảnh vụn. 
8101.10 - Bột 
             - Loại khác: 
8101.94 - - Vonfram chưa gia công, kể cả thanh và que thu được từ 
quá trình thiêu kết 
8101.96  - - Dây 
8101.97 - - Phế liệu và mảnh vụn 
8101.99 - - Loại khác 
Volfram chủ yếu thu được từ các quặng Volframit (wonframat sắt-
mangan) và Sêêlit (khoáng vật chứa Canxi Volfram). Các quặng được 
chuyển đổi thành dạng ôxit, sau đó khử bởi Hydro trong lò điện hoặc 
bằng nhôm hoặc cacbon trong nồi nấu kim loại ở nhiệt độ cao. Bột kim 
loại thu được sau đó được ép thành các dạng khối hoặc thanh, chúng 
được thiêu kết trong môi trường Hydro trong lò điện. Những thanh đã 
thiêu kết ở dạng bánh ép sau đó được đập rèn cơ học, và cuối cùng được 
cán hoặc kéo thành lá kim loại, thanh có tiết diện nhỏ hơn hoặc dây. 
Volfram là một kim loại nặng (tỷ trọng lớn) có màu xám của thép, có 
điểm nóng chảy cao. Nó dễ gẫy, cứng và có tính chống lại sự ăn mòn 
kim loại cao (tính chịu mòn cao). 
Volfram được sử dụng làm sợi dây tóc của các bóng đèn và các đèn điện 
tử; các thành phần dùng cho lò điện, đối Catôt cho các ống dẫn tia X, các 
công tắc điện, các lò xo không từ tính cho các thiết bị đo điện hoặc đồng 
hồ hiển thị, các thước ngắm cho thấu kính của kính viễn vọng, nó cũng 
được sử dụng làm điện cực cho việc hàn hồ quang Hydro... 
Công dụng quan trọng nhất của volfram (thường sử dụng ở dạng ferro - 
volfram, xem Chương 72), là trong quá trình chế luyện các loại thép đặc 
biệt. Nó cũng được sử dụng trong việc điều chế cacbua volfram. 
Các hợp kim chủ yếu của Volfram có thể được phân loại trong chương 
này nếu phù hợp với Chú giải 5 Phần XV, thì đều được chế luyện bởi 
phương pháp thiêu kết. Chúng bao gồm: 

(1) Các hợp kim Volfram-đồng (ví dụ, dùng cho các tiếp điểm điện). 
(2) Các hợp kim Volfram-Niken-đồng sử dụng trong sản xuất màn hình 
của tia X, một số bộ phận của máy bay... 
Volfram nằm trong nhóm này có thể có ở các dạng sau: 
(A) Dạng bột; 
(B) Kim loại chưa gia công, ví dụ ở dạng khối, thỏi, các thanh và que 
được thiêu kết, hoặc như phế liệu và mảnh vụn (với loại tương tự 
xin xem ở chú giải giải thích nhóm 72.04); 
(C) Kim loại đã gia công, ví dụ các thanh đã được cán hoặc kéo, dạng 
hình, tấm và lá, dải hoặc dây. 
(D) Các sản phẩm công nghiệp không được bao hàm trong Chú giải 1 
Phần XVII hoặc thuộc Chương 82 hoặc 83 hoặc được mô tả riêng ở 
bất cứ phần nào trong Danh mục. Hầu hết các sản phẩm Volfram, trừ 
lò xo, thực tế được phân loại trong Phần XVI hoặc XVII. Ví dụ, công 
tắc điện nằm trong Chương 85, trong khi đó một tấm Tungsten được 
sử dụng để chế tạo một tiếp điểm như vậy được xếp vào nhóm này. 
Nhóm này không bao gồm cacbua Volfram, ví dụ được sử dụng trong 
việc sản xuất các đầu kim loại vận hành, lưỡi dao của các dụng cụ cắt 
hoặc khuôn dập. Cacbua này được phân loại như sau: 
(a) Bột chưa pha trộn trong nhóm 28.49. 
(b) Các hỗn hợp đã chuẩn bị nhưng chưa được thiêu kết (ví dụ: Pha trộn 
với cacbua của Molipden hoặc tantan, với hoặc không có tác nhân 
liên kết) trong nhóm 38.24. 
(c) Tấm, que, đầu (mũi) mút và những thứ tương tự cho các dụng cụ, đã 
thiêu kết nhưng chưa lắp ráp, trong nhóm 82.09 (Xem Chú giải chi 
tiết tương ứng). 
81.02 - Molypđen và các sản phẩm làm từ molypđen, kể cả phế liệu 
và mảnh vụn. 
8102.10  -  Bột 

               - Loại khác: 
8102.94 - -  Molypđen chưa gia công, kể cả thanh và que thu được 
từ quá trình thiêu kết 
8102.95 - -  Thanh và que, trừ các loại thu được từ quá trình thiêu 
kết, dạng hình, tấm, lá, dải và lá mỏng 
8102.96  - -  Dây 
81.02.97 - -  Phế liệu và mảnh vụn 
8102.99 - -  Loại khác 
Molipden chủ yếu thu được từ quặng Molipden (Sunphít Molipden) và 
wulfenite (Molipdat chì) chúng được thu gom bởi quá trình thu gom nổi, 
được chuyển thành dạng oxit và sau đó được khử với kim loại 
Kim loại thu được hoặc ở dạng bánh ép phù hợp cho quá trình cán 
kéo...hoặc ở dạng bột mà nó có thể được thiêu kết như Volfram (xem 
Chú giải Chi tiết nhóm 81.01). 
Molipden ở dạng ép giống như chì về bề ngoài nhưng cực kỳ rắn và 
nóng chảy ở nhiệt độ cao. Nó có thể dát mỏng và chống lại sự ăn mòn ở 
nhiệt độ thường. 
Molipđen được sử dụng (hoặc như kim loại hoặc dạng ferro-molipden, 
thuộc Chương 72) cho việc sản xuất thép hợp kim. Kim loại Molipđen 
cũng được sử dụng trong các cọc đỡ dây tóc bóng đèn điện, mạng lưới 
của đèn điện tử, nguyên tố hóa học dùng trong lò điện, các bộ nắn dòng 
điện và các công tắc điện. Nó cũng được sử dụng trong nha khoa, và như 
là một chất thay thế cho Platinum trong đồ trang sức bởi nó không bị 
xỉn. 
Các hợp kim Molipđen trong sử dụng thông thường không chứa một 
hàm lượng vượt trội đối với Molipden và bởi vậy nó cũng bị loại trừ 
khỏi nhóm này theo Chú giải 5 Phần XV. 
Do việc luyện kim của Molipden giống như của Volfram, phần thứ hai 
của chú giải chi tiết nhóm 81.01 (liên quan tới các dạng mà kim loại 
được bán trên thị trường, và việc phân loại của cacbua) với sửa đổi chi 
tiết phù hợp cũng được áp dụng cho nhóm này. 

81.03 - Tantan và các sản phẩm làm từ tantan, kể cả phế liệu và 
mảnh vụn. 
8103.20 - Tantan chưa gia công, kể cả thanh và que thu được từ quá 
trình thiêu kết; bột 
8103.30 -  Phế liệu và mảnh vụn 
       -  Loại khác: 
8103.91 - - Chén nung (crucible) 
8103.99 - - Loại khác 
Tantan chủ yếu được tách từ các loại quặng Tantan và Niobite 
(columbite) (nhóm 26.15) bằng phương pháp khử oxit hoặc điện phân 
Fluoride Tantan-Potassium đã nóng chảy. 
Nó có thể thu được dưới dạng kim loại bánh (ép), hoặc dạng bột dùng 
cho việc thiêu kết như Volfram hoặc Molupdenum. 
Bột Tantan có màu đen, ở dạng khác nó có màu trắng khi được đánh 
bóng và có màu xanh thép khi không bị đánh bóng. Nó rất dẻo và dễ kéo 
sợi khi ở dạng tinh khiết. Nó đặc biệt chịu được sự ăn mòn kim loại, bao 
gồm cả tác động của hầu hết các axit. 
Tantan được dùng trong việc sản xuất cacbua và (như ferro - tantan chứa 
sắt, xem chương 72) trong việc điều chế các loại thép hợp kim. Nó cũng 
được sử dụng để chế tạo các cực lưới và Anôt cho các đèn điện tử, các 
bộ nắn dòng, các nồi nấu kim loại, bộ trao đổi nhiệt và các thiết bị hoá 
chất khác, các máy kéo sợi nhân tạo, các thiết bị nha khoa và các dụng 
cụ phẫu thuật. Nó cũng được sử dụng cho việc cố định xương (nẹp 
xương)... trong phẫu thuật, và trong quá trình sản xuất các bộ thu hút khí 
(hút hết không khí trong sản xuất các đèn điện tử). 
Các hợp kim Tantan có thể được phân loại ở đây phù hợp với chú giải 
5 phần XV bao gồm các hợp kim Tantan-Volfram với hàm lượng Tantan 
cao được dùng, ví dụ: trong sản xuất đèn điện tử. 
Nhóm này bao gồm Tantan ở tất cả các dạng của nó: dạng bột, khối, phế 
liệu và mảnh vụn, các thanh, dây, sợi, lá, dải, lá mỏng, dạng hình, các 

loại ống và các sản phẩm khác (ví dụ: các lò xo và vải kim loại (lưới 
thép)) không được đề cập riêng biệt hơn ở bất cứ nơi nào khác. 
Việc phân loại cacbua Tantan cũng theo sự phân loại cacbua Volfram 
(xem Chú giải Chi tiết nhóm 81.01). 
81.04 - Magie và các sản phẩm của magie, kể cả phế liệu và mảnh 
vụn (+). 
              - Magie chưa gia công: 
8104.11 - - Có chứa hàm lượng magiê ít nhất 99,8% tính theo khối 
lượng 
8104.19 - - Loại khác 
8104.20 - Phế liệu và mảnh vụn 
8104.30  - Mạt giũa, phoi tiện và hạt, đã được phân loại theo kích 
cỡ; bột 
8104.90 - Loại khác 
Magie được tách từ một số các nguyên liệu thô mà hầu như tất cả chúng 
không nằm ở trong chương 26 (các loại quặng), mà ở trong chương 25 
hoặc 31, ví dụ Dolomite (nhóm 25.18), magiesite (hoặc Grobertite) 
nhóm 25.19 và Carmallite (nhóm 31.04). Nó cũng được tách từ nước 
biển hoặc nước mặn tự nhiên (nhóm 25.01) và từ dung dịch kiềm có 
chứa Clorua magie. 
Ở giai đoạn đầu của công nghiệp sản xuất kim loại này, Clorua magie 
hoặc oxit Magie (Magiesia) được sản xuất bằng các phương pháp khác 
nhau tuỳ thuộc nguồn magie được sử dụng, việc chế luyện kim loại đó 
thường dựa trên cơ sở một trong 2 loại phản ứng sau: 
(A) Điện phân Clorua magie hoà tan được pha trộn với các chất trợ 
dụng như muối Clorua kim loại kiềm hoặc muối Florua magie đã được 
tách sẽ thu được trên bề mặt của catốt và clorine bị rút ra tại anôt. 
(B) Phương pháp khử nhiệt của oxit magie bằng cacbon, fero silic, 
cacbua silic cacbua calci, nhôm... Khi phản ứng trong nhiệt độ cao sẽ 
làm bốc hơi kim loại này rồi ngưng tụ ở dạng rất tinh khiết ngay khi 

nguội lạnh. 
Kim loại thu được bằng phương pháp điện phân thông thường đòi hỏi 
phải tinh chế sâu, magie thu được bằng phương pháp khử nhiệt thường 
có độ tinh khiết đến mức mà nó có thể được nấu chảy và đúc thỏi mà 
không cần tinh chế hơn nữa. 
Magie là kim loại có màu sáng bạc như nhôm nhưng nó thậm chí còn 
nhẹ hơn nhôm. Nó có thể đạt được mức độ bóng rất cao nhưng độ bóng 
đó mất đi khá nhanh khi để lộ ra ngoài không khí vì hình thành lớp oxit 
mỏng để bảo vệ kim loại chống lại ăn mòn. Magie ở dạng dây, dải, lá 
mỏng, và bột cháy dữ dội với ánh sáng chói loà và phải cẩn thận khi xử 
lý. Có khả năng gây nổ bột magie mịn nguyên chất khi hòa với không 
khí. 
Magie không hợp kim được sử dụng trong điều chế các hợp chất hoá 
học, như tác nhân khử ôxi và sunfua trong quá trình luyện kim (Ví dụ: 
trong sản xuất sắt, đồng, niken và các hợp kim của chúng) trong sản xuất 
pháo hoa... 
Kim loại tinh khiết có thuộc tính cơ học kém, nhưng khi kết hợp với các 
nguyên tố hoá học khác nó tạo nên hợp kim rất bền, nó có thể được cán, 
kéo đùn ép và đúc, và bởi vậy chúng có nhiều ứng dụng công nghiệp 
trong ngành công nghiệp kim loại nhẹ. 
Các hợp kim Magie chủ yếu, có thể được phân loại trong chương này 
theo các điều khoản của Chú giải 5 Phần XV (Xem chú giải tổng quát 
của phần) gồm: 
(1) Các hợp kim Magie - Nhôm hoặc Magie-Nhôm-Kẽm thường thường 
chứa Mangan. Có một số hợp kim cơ bản là Magie thuộc thể loại 
"elektron" hoặc "Dow". 

(2) Các hợp kim Magie-Zicronium, thường có chứa thêm kẽm. 
(3) Hợp kim Magie-Mangan hoặc Magie-Cerium. 
Tính nhẹ, bền và chống ăn mòn kim loại của các hợp kim tạo cho chúng 
phù hợp khi sử dụng trong công nghiệp máy bay. Ví dụ: Sản xuất vỏ 
động cơ, bánh xe, bộ phận chế hoà khí, các bệ đỡ Manhetô, các thùng 
chứa xăng hoặc dầu), trong công nghiệp ôtô, trong xây dựng nhà, trong 
sản xuất các bộ phận máy và các phụ tùng, đặc biệt là các máy dệt (thoi, 
suốt chỉ, máy cuốn chỉ) các máy công cụ, máy chữ, máy khâu, cưa xích, 
máy cắt cỏ, thang hoặc thiết bị gia công nguyên vật liệu hoặc như các 
loại khuôn in Litô... 
Việc phân loại các sản phẩm Magie không bị ảnh hưởng bởi các phương 
pháp xử lý như đã được mô tả trong Chú giải chi tiết Phần tổng quát 
chung Chương 72, nhằm cải tiến thuộc tính, hình dáng... của kim loại. 
Nhóm này bao gồm : 
(1) Magie chưa gia công ở dạng thỏi, các thanh có khía rãnh, phiến, 
que, bánh, khối lập phương và các dạng tương tự. Những hàng hoá 
đó nhìn chung dùng cho việc cán, kéo, đùn ép hoặc rèn, hoặc đúc 
thành sản phẩm đã định dạng. 
(2)  Magie ở dạng phế liệu và mảnh vụn. Chú giải Chi tiết nhóm 72.04 
với sửa đổi phù hợp cũng được áp dụng cho nhóm này. 
Nhóm này bao gồm mạt giũa, phoi tiện và dạng hạt khi chúng chưa 
được phân loại hoặc lựa chọn theo kích thước. Mạt giũa, phoi tiện 
và hạt đã được phân loại hoặc lựa chọn theo kích cỡ được mô tả 
trong nhóm (3) phía dưới. 
(3) Các thanh, que, dạng hình, , tấm, lá và dải, lá mỏng, dây các loại 
ống và ống dẫn, dạng hình rỗng, dạng bột và vảy, mạt giũa, phoi 
tiện và dạng hạt có kích cỡ đồng dạng. 
Nhóm này bao gồm các loại Magie ở dạng thương mại như sau: 
(a) Các sản phẩm (các thanh đã gia công, que, dạng hình, dây, tấm, 
lá, dải và lá mỏng) thu được bởi việc cán kéo, đùn, ép, rèn... các 

sản phẩm của nhóm (1) ở trên, các loại ống và ống dẫn và dạng 
hình rỗng (Xem chú giải giải thích tương ứng các nhóm cho sản 
phẩm tương tự của các kim loại cơ bản khác). 
Những hàng hoá này được tính đến khi nguyên tố kim loại cấu 
thành đòi hỏi phải vừa nhẹ vừa bền (Xem phía trên). 
(b) Mạt giũa, phoi tiện và hạt cùng kích cỡ và tất cả các loại ở dạng 
bột và vảy. Các sản phẩm này được sử dụng trong sản xuất pháo 
hoa (các sản phẩm cháy, tín hiệu...) các tác nhân khử trong 
ngành hoá học hoặc luyện kim... Mạt giũa, phoi tiện và dạng hạt 
đặc biệt được tạo ra và phân loại để sử dụng riêng cho những 
mục đích này. 
(4) Các sản phẩm khác. 
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm của Magie không được mô 
tả trong các nhóm trước hoặc tại Chú giải 1 Phần XV hoặc trong 
Chương 82 hoặc 83, hoặc được mô tả riêng biệt ở một nhóm trong 
Danh mục. 
Do magie chủ yếu được sử dụng trong việc sản xuất máy bay, xe cộ 
và các bộ phận máy (xem ở trên) nên phần lớn các sản phẩm của 
magie được phân loại ở một nhóm khác (đặc biệt trong các Phần 
XVI và XVII). 
Các sản phẩm được phân loại ở đây gồm: 
(a) Các kết cấu và các phần của kết cấu. 
(b) Các bể chứa, thùng chứa và các đồ chứa tương tự, không gắn 
với các thiết bị cơ khí hoặc thiết bị nhiệt và các thùng phuy, thùng 
hình trống và bình chứa. 
(c) Lưới kim loại. 
(d) Bulông, đai ốc, ốc vít... 
Nhóm này không bao gồm xỉ, tro và phần còn lại của quá trình sản xuất 
của magie (nhóm 26.20). 

Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 8104.11 và 8104.19 
Các phân nhóm này cũng bao gồm các thỏi và các dạng chưa gia công 
tương tự được đúc từ phế liệu và mảnh vụn của magie nấu lại. 
81.05 - Coban sten và các sản phẩm trung gian khác từ luyện coban; 
coban và các sản phẩm bằng coban, kể cả phế liệu và mảnh vụn. 
8105.20 - Coban sten và các sản phẩm trung gian khác từ luyện 
coban; coban chưa gia công; bột 
8105.30 - Phế liệu và mảnh vụn 
8105.90 - Loại khác 
Coban thu chủ yếu từ quặng Heterogenite (Hydrateldoxide coban) 
Linnalite (Sulffat coban và Niken) và Smaltite (Coban Asen). Khi được 
nấu chảy, quặng sunphat và Arsennide tạo ra các chất sten và các sản 
phẩm trung gian khác. Sau khi xử lý để loại trừ các kim loại khác, ôxit 
coban thu được và được khử bằng cacbon, Nhôm... Kim loại đó cũng thu 
được bằng quá trình điện phân và bằng quá trình xử lý các phần còn lại 
từ quá trình tinh luyện đồng, niken, bạc... 
Coban có màu bạc, là kim loại chống lại sự ăn mòn, cứng hơn Niken và 
là kim loại có từ tính cao nhất trong các kim loại không chứa sắt. 
Ở trạng thái tinh khiết, nó được sử dụng như một chất phủ các kim loại 
khác (bởi việc kết tủa điện phân) như một chất xúc tác, như một chất liên 
kết trong việc sản xuất các dụng cụ cắt gọt bằng cácbua kim loại, như 
một thành phần của nam châm Samaricoban hoặc của một số loại thép 
hợp kim... 
Có nhiều hợp kim Coban, có thể nằm trong nhóm phù hợp với Chú giải 
5 Phần XV bao gồm: 
(1) Nhóm coban-Crom-volfram "Stelit" (thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong 
các nguyên tố khác). Nó được sử dụng trong sản xuất van và chân 
van, các dụng cụ,... do khả năng chống lại sự mài mòn và ăn mòn ở 

nhiệt độ cao. 
(2) Các hợp kim Coban-Sắt-Crôm. Ví dụ: loại dẫn nhiệt thấp và có khả 
năng từ tính lớn. 
(3) Hợp kim Coban – Crôm – Molybden, được sử dụng trong sản xuất 
động cơ phản lực. 
Nhóm này bao gồm coban sten, các sản phẩm trung gian trong quá luyện 
kim coban và coban ở tất cả các dạng của nó, ví dụ: thỏi, catot, hạt nhỏ, 
bột, phế liệu và mảnh vụn và những sản phẩm chưa được chi tiết ở nơi 
khác 
81.06 - Bismut và các sản phẩm làm từ bismut, kể cả phế liệu và 
mảnh vụn. 
8106.10  -  Chứa hàm lượng bismut trên 99,99%, tính theo khối 
lượng 
8106.90  -  Loại khác 
Kim loại này xuất hiện ở trạng thái tự nhiên, nhưng nó chủ yếu thu được 
từ việc tinh chế các phần còn lại của chì, đồng... hoặc bởi việc chiết tách 
từ các quặng Sulphat hoặc cacbonat (ví dụ, Bismuthini và Bismutite). 
Bismut có màu trắng với sắc độ hồng, dễ gãy, rất khó để gia công và là 
chất dẫn (điện, nhiệt…) kém. 
Nó được dùng trong thiết bị khoa học và điều chế các hỗn hợp hoá chất 
dùng cho dược học. 
Nó hình thành các hợp kim dễ nóng chảy (một số có độ nóng chảy dưới 
100 °C) mà một số hợp kim sau đây có thể nằm trong nhóm phù hợp với 
Chú giải 5 Phần XV : 
(1)  Các hợp kim Bismut-chì-thiếc (đôi khi có Cadmium...) Ví dụ: các 
hợp kim của Darcet, Lipowit, Newton hoặc Wood được sử dụng 
như các hợp kim hàn, các hợp kim đúc, các thành phần dễ nóng 
chảy cho các bình dập lửa, các nồi hơi. 
(2)  Các hợp kim Bismut-indium-chì-thiếc-cadmium, làm các khuôn đúc. 

81.08 - Titan và các sản phẩm làm từ titan, kể cả phế liệu và mảnh 
vụn. 
8108.20 - Titan chưa gia công; bột 
8108.30 - Phế liệu và mảnh vụn 
8108.90 - Loại khác 
Titan thu được bởi khử các quặng ôxit Rutile và Brookite và từ Ilmenite 
(Quặng sắt- Titanferousiron). Tuỳ thuộc theo cách sử dụng, kim loại này 
có thể được thu ở dạng khối đặc, như một loại bột cho việc thiêu kết 
(như trong trường hợp Volfram) hoặc ở dạng fero- titan (Chương 72) 
hoặc cacbua Titan. 
Titan có màu trắng và sáng bóng khi ở dạng rắn chắc (đặc) và có màu 
đen xám khi ở dạng bột, nó có khả năng chống lại sự ăn mòn kim loại, 
cứng và dòn trừ khi ở dạng rất tinh khiết. 
Fero-Titan có chứa sắt và Fero-Titan - Silic (Chương 72) được sử dụng 
trong sản xuất thép, kim loại này cũng tạo thành hợp kim với nhôm, 
đồng, niken... 
Titan chủ yếu được sử dụng trong công nghiệp máy bay, đóng tàu, cho 
việc chế tạo, ví dụ : thùng chứa, máy khuấy, máy trao đổi nhiệt, van và 
bơm cho ngành hoá học, cho việc khử mặn nước biển và cho việc xây 
dựng các nhà máy điện hạt nhân. 
Nhóm này bao gồm titan ở tất cả các dạng: Đặc biệt ở dạng đá bọt, thỏi 
(đúc), bột, Anot, thanh và que, tấm và lá, phế liệu và mảnh vụn và các 
sản phẩm trừ các sản phẩm được mô tả tại các chương khác của Danh 
mục (nói chung Phần XVI hoặc XVII) như là các cánh quạt của máy 
bay trực thăng, cánh chân vịt tàu, các bơm hoặc van. 
Việc phân loại của cácbua tuân theo việc phân loại của cácbua volfram 
(xem chú giải chi tiết nhóm 81.01). 
81.09 - Zircon và các sản phẩm làm từ zircon, kể cả phế liệu và 
mảnh vụn.  
              - Zircon chưa gia công; bột: 
8109.21 - - Chứa hàm lượng hafini trong zircon dưới 1/500 tính theo 

khối lượng 
8109.29 - - Loại khác 
              - Phế liệu và mảnh vụn: 
8109.31 - - Chứa hàm lượng hafini trong zircon dưới 1/500 tính theo 
khối lượng 
8109.39 - - Loại khác 
              - Loại khác: 
8109.91 - - Chứa hàm lượng hafini trong zircon dưới 1/500 tính theo 
khối lượng 
8109.99 - - Loại khác 
Zircon thu được quặng silicat, zircon, bằng việc khử oxit, chloride... 
hoặc bằng điện phân. 
Nó có màu xám bạc, và là kim loại dẻo và dễ kéo sợi. 
Nó được sử dụng trong các bóng đèn nháy chụp ảnh, sản xuất của bộ 
phận thu hút khí hoặc các bộ phận hấp thụ trong các đèn điện tử Radio. 
Fero-Zircon (Chương 72) được sử dụng trong sản xuất thép, và kim loại 
này cũng tạo hợp kim với Niken,... 
Zircon, ở dạng đơn chất hoặc đã hợp kim với thiếc (Zircalloy), cũng 
được sử dụng trong việc sản xuất các lớp bảo vệ của các hộp đựng nhiên 
liệu hạt nhân và sản xuất các kết cấu kim loại cho nhà máy hạt nhân. 
Hợp kim Zircon-Plutonium và hợp kim Zircon-Uranium được sử dụng 
như nhiên liệu hạt nhân. Để đảm bảo yêu cầu về hạt nhân, các vết 
Hafnium phải được loại bỏ đầu tiên. 
81.10 - Antimon và các sản phẩm làm từ antimon, kể cả phế liệu và 
mảnh vụn. 
8110.10 - Antimon chưa gia công; bột 
8110.20 - Phế liệu và mảnh vụn 
8110.90 - Loại khác 
Antimon chủ yếu thu được từ quặng Sulphat Stibnite bởi: 
(1) Sự cô đặc và nấu chảy tinh chế kim loại tạo ra một cái gọi là 
"Antimon thô" mà thực ra nó là sunphat thô thuộc nhóm 26.17. 
(2) Sự nấu chảy tạo ra Antimoan không tinh khiết được biết như "thuần 

nhât" (Antimon không tinh khiết). 
(3) Sự nấu chảy kỹ hơn để tạo ra "những chiếc bát hình sao" mà sau quá 
trình tinh chế sẽ tạo ra những dạng tinh khiết nhất, "Antimon sao" 
hoặc "Kim loại của Pháp". 
Antimon là một kim loại có màu trắng bóng với một màu xanh nhạt, dòn 
và dễ nghiền thành bột 
Rất ít khi sử dụng antimon ở dạng không hợp kim. Tuy nhiên nó là hợp 
kim, đặc biệt khi hợp kim với chì và thiếc, làm cho chúng cứng thêm, để 
tạo ra các hợp kim làm ổ trục, các loại máy in và các hợp kim làm khuôn 
đúc khác, hợp kim gốc thiếc, kim loại Britannia,...(xem Chương 78 và 
80 nơi mà các hợp kim đó được xếp vào bởi vì hàm lượng trội hơn của 
chì hoặc thiếc). 
81.11 - Mangan và các sản phẩm làm từ mangan, kể cả phế liệu và 
mảnh vụn. 
Mangan được tách ra bởi việc khử của các quặng ôxit, Pyrolusite, 
Braunite và Manganite, nó cũng thu được bằng điện phân. 
Là kim loại mà bản thân nó, có màu hồng xám, cứng và dòn, hiếm khi 
được sử dụng ở dạng như vậy. 
Tuy nhiên nó là một thành phần của gang kính, Fero Mangan, Silico-
Mangan, các loại gang hợp kim và các loại thép hợp kim, các sản phẩm 
này thường nằm trong Chương 72, nhưng Fero Mangan và Silico- 
Mangan đôi khi có thể xếp vào trong nhóm này nếu hàm lượng sắt là rất 
thấp (Xem Chú giải 1(c) Chương 72). Mangan cũng được hợp kim với 
đồng, niken, nhôm... 
81.12 - Beryli, crôm, hafini, reni, tali, cađimi,  germani, vanadi, gali, 
indi và niobi (columbi), và các sản phẩm từ các kim loại này, kể 
cả phế liệu và mảnh vụn. 
8112.12 - - Chưa gia công; bột 
8112.13 - - Phế liệu và mảnh vụn  

8112.19 - - Loại khác 
              - Crôm: 
8112.21 - -   Chưa gia công; bột 
8112.22 - -   Phế liệu và mảnh vụn 
8112.29 - -   Loại khác 
8112.31 - - Chưa gia công; phế liệu và mảnh vụn; bột 
8112.39 - - Loại khác 
8112.41 - - Chưa gia công; phế liệu và mảnh vụn; bột 
8112.49 - - Loại khác 
8112.51  - -  Chưa gia công; bột 
8112.52  - -  Phế liệu và mảnh vụn 
8112.59  - -  Loại khác 
- Cađimi: 
8112.61 - - Phế liệu và mảnh vụn 
8112.69 - - Loại khác 
-  Loại khác: 
8112.92  - -  Chưa gia công; phế liệu và mảnh vụn; bột 
81.12.99 - -  Loại khác 
Berili thu được hầu như chỉ từ Beryl, một loại silicat kép của berili và 
nhôm, nó được phân loại theo nhóm 26.17 trừ khi nó ở dạng đá quý (ví 
dụ: ngọc xanh) (Chương 71). 
Phương pháp tách xuất mang tính thương mại chủ yếu của kim loại này là: 
(1)  Điện phân ở nhiệt độ cao hỗn hợp của ôxy + fluorua Berili được 
sản xuất từ quặng (BeO2F2) và Bari hoặc các loại Fluorua khác. Mỗi 
nồi nấu Graphite được sử dụng như Anôt và kim loại này được thu 
lại trên catôt sắt được làm mát bằng nước. 

(2)  Khử Fluoride Berili bằng magie. 
Berili là một kim loại màu xám thép, rất nhẹ và cứng nhưng cực giòn, nó 
chỉ có thể được cán hoặc kéo theo các điều kiện rất đặc biệt. 
Berili không hợp kim được sử dụng trong sản xuất cửa sổ cho các loại 
ống dẫn tia X; các nguyên liệu cho các lò phản ứng hạt nhân; trong 
ngành công nghiệp hàng không và vũ trụ; trong ngành công nghiệp chế 
tạo vũ khí; đích ngắm cho máy gia tốc; trong các điện cực cho đèn 
nêông...; tác nhân khử ôxit trong công nghiệp luyện kim. 
Nó cũng được dùng trong việc chế tạo nhiều hợp kim, ví dụ với thép (lò 
xo thép...) với đồng (ví dụ hợp kim đồng Berili được sử dụng cho sản 
xuất các lò xo, đồng hồ hoặc các bộ phận của đồng hồ, các dụng cụ...); 
với niken. Tuy nhiên, các hợp kim này được phân loại tương ứng trong 
Chương 72, 74 hoặc 75 do chúng chỉ chứa các tỷ lệ rất nhỏ Berili. 
Nhóm này bao gồm Berili ở tất cả các dạng của nó, kim loại chưa gia 
công (ở dạng khối, hạt, lập phương...) các sản phẩm (dạng thanh, que, 
dây, lá...) và các mặt hàng. Tuy nhiên, các hàng hoá tạo nên các mặt 
hàng đặc trưng dễ nhận dạng như các bộ phận máy, các bộ phận của 
các thiết bị... bị loại trừ khỏi nhóm này (xem các Chương 85 và 90). 
(B) CRÔM 
Crôm chủ yếu thu được từ Chromrite (quặng sắt Crôm) nó được 
chuyển đổi thành dạng Sesquioxyde sau đó nó bị khử để tạo ra kim 
loại.  
Có màu xám thép khi chưa đánh bóng, nhưng trắng sáng khi đánh 
bóng, rất cứng và chống lại ăn mòn kim loại, nhưng nó không dẻo hoặc 
không dễ kéo sợi. 
Crôm tinh khiết cấu thành lớp phủ nhiều mặt hàng thuộc các kim loại 
khác (phủ Crôm bằng điện phân). Công dụng chủ yếu crôm (thường ở 
dạng fero-crôm, xem chương 72) là ở trong quá trình luyện thép không 

gỉ. Tuy nhiên, hầu hết các hợp kim của kim loại này (ví dụ: với Niken 
hoặc Coban) bị loại trừ khỏi nhóm này theo Chú giải 5 Phần XV. 
Một số hợp kim có thành phần cơ bản là Crôm được sử dụng trong động 
cơ phản lực, các loại ống bảo vệ cho các bộ phận sưởi nóng bằng điện,,.. 
Germani được tách từ các chất thải của quá trình sản xuất kẽm, từ 
quặng Gemanit (Sulphat Germani đồng) và từ bụi lò... 
Germani là kim loại có màu trắng hơi xám với một số thuộc tính ion điện 
đặc biệt chúng có khả năng được sử dụng trong việc sản xuất các linh 
kiện điện tử (ví dụ: diôt, transitor, đèn). Nó cũng được sử dụng cho việc 
hợp kim với thiếc, nhôm và vàng. 
Vanadi chủ yếu được tách từ quặng Patronite hoặc Carnotite, thường 
bởi việc khử các ôxit, hoặc từ các chất thải của quá trình sản xuất sắt, 
Radium hoặc uranium. Với tư cách là kim loại nguyên chất ít có công 
dụng, nó thường được tạo ra fero-vanadi chứa sắt (chương 72) hoặc như 
hợp kim mầu Vanadi đồng (chương 74), chúng còn được sử dụng trong 
hợp kim với thép, đồng, nhôm... 
Gali thu được dưới dạng một sản phẩm phụ trong quá trình khai thác 
nhôm, kẽm, đồng và germani, hoặc từ bụi lò... 
Gali là kim loại mềm, có màu trắng xám nhạt, điểm nóng chảy ở vào 
khoảng 30°C và có điểm bốc hơi cao. Do nó tồn tại ở trạng thái lỏng qua 
một khoảng rộng nhiệt độ, bởi vậy được sử dụng thay cho thuỷ ngân 
trong nhiệt kế và đèn hồ quang. Nó cũng được dùng trong các hợp kim 
cho nha khoa và cho việc mạ bạc các loại gương đặc biệt. 
Hafnium được tách từ cùng một loại quặng như khi tách Zirconium 
(zircon...) và có các tính chất rất tương tự với kim loại đó. 
Do tỷ lệ hấp thụ các nơtron chậm của Hafnium cao nên đặc biệt được sử 
dụng cho sản xuất các bộ phận điều khiển và kim màn hình hiển thị kiểm 

tra các lò phản ứng hạt nhân. 
Indium được tách từ các chất thải của kẽm.  
Nó là kim loại mềm có màu ánh bạc và có khả năng chống lại ăn mòn 
kim loại.  
Bởi vậy được sử dụng một mình hoặc với kẽm... để phủ lên kim loại 
khác. Nó cũng được hợp kim với bismut, chì hoặc thiếc (hợp kim được 
sử dụng làm khuôn đúc phẫu thuật) với đồng hoặc chì (các hợp kim chịu 
lực ma sát) và với vàng (trong đồ trang sức, các hợp kim dùng cho nha 
Niobium thu được từ các quặng niobite (columbite) và Tantante, chúng 
được xử lý để thu được Fluoride Niobium-Potasium. Kim loại này sau 
đó được tách bằng điện phân hoặc các phương pháp khác. 
Niobium là một kim loại có màu xám bạc được sử dụng trong sản xuất 
các máy thu nhận khí (để làm mất đi dấu vết cuối cùng trong sản xuất 
đèn radio). 
Niobium và hợp kim fero của nó (chương 72) cũng được sử dụng trong 
sản xuất thép và các hợp kim khác. 
Rhenium thu được dưới dạng một sản phẩm phụ trong quá trình tách 
Molypden, đồng... 
Hiện nay, nó không được sử dụng nhiều, nhưng rhenium được đề cập 
đến trong việc mạ sử dụng làm chất xúc tác. 
Thallium được tách từ các chất thải của quá trình xử lý quặng pyrit và 
các loại quặng khác. Nó là kim loại mềm, có màu trắng xám nhạt giống 
như chì. 
Thalium được hợp kim với chì (để nâng cao điểm nóng chảy, và để tăng 
độ bền, khả năng chống ăn mòn kim loại...) và với bạc (để ngăn ngừa  

sự xỉn). 
(L) CAĐIMI 
Cađimi thu được chủ yếu từ phần còn lại của quá trình tách kẽm, đồng 
hoặc chì, thường bằng các phương pháp chưng cất hoặc điện phân. 
Cađimi tương tự như kẽm về hình dạng nhưng  mềm hơn. 
Nó được sử dụng chủ yếu để tráng phủ các kim loại khác (bằng phương 
pháp phun hoặc mạ điện) như một chất khử ôxy trong sản xuất đồng, 
bạc, niken...  
Do tỷ lệ hấp thụ các hạt Nơtron chậm rất cao, nó cũng được sử dụng cho 
việc sản xuất bộ phận điều khiển cơ động và các kim màn hình hiển thị 
cho lò phản ứng hạt nhân. 
Các hợp kim Cađimi chính có thể phân loại vào trong nhóm này phù 
hợp với Chú giải 5 Phần XV là các hợp kim Cađimi -kẽm được sử dụng 
cho việc tráng phủ chất chống ăn mòn kim loại bằng phương pháp nhúng 
nóng, như hợp kim hàn và cho việc hàn bằng đồng. 
Tuy nhiên các hợp kim khác có chứa các kim loại cùng loại (ví dụ: một 
số hợp kim làm ổ đỡ) có thể bị loại trừ. 
81.13 - Gốm kim loại và các sản phẩm làm từ gốm kim loại, kể cả 
phế liệu và mảnh vụn. 
Gốm kim loại chứa cả hai cấu thành: một cấu thành là gốm (chịu nhiệt 
và có điểm nóng chảy cao) và một cấu thành là kim loại.Quá trình sản 
xuất các sản phẩm này, và cả các tính chất lý học và hoá học của chúng, 
có liên quan tới cả hai cấu thành gốm và kim loại, bởi vậy chúng có tên 
là Gốm kim loại. 
Cấu thành gốm luôn luôn bao gồm oxit, cacbua, Borides,... 
Cấu thành kim loại gồm: Sắt, Niken, Nhôm, Crôm hoặc Coban. 
Gốm kim loại được chế tạo bởi việc thiêu kết, phân tán hoặc bởi các quá 
trình khác.  

Gốm kim loại quan trọng nhất thu được từ: 
(1) Một kim loại và một ôxit, ví dụ: Oxit Magie-sắt, ôxit Magie-Niken, 
ôxit- nhôm-Crôm, ôxit nhôm-nhôm. 
(2) Zirconium hoặc Borua crôm, các sản phẩm đó được biết dưới cái tên 
(3) Zirconium, crôm, tungsten... các cacbua với coban, niken hoặc 
(4) Cacbua Bo và nhôm: các sản phẩm mạ nhôm được biết dưới cái tên 
gốm kim loại boral. 
Nhóm này bao gồm: các loại Gốm kim loại đã hoặc chưa qua gia công 
hoặc ở dạng của các mặt hàng không được phân loại ở một nơi khác 
trong Danh mục.  
Gốm kim loại được sử dụng trong công nghiệp hàng không và công 
nghiệp hạt nhân và trong tên lửa, chúng cũng được sử dụng trong các lò 
đốt và các lò đúc kim loại (ví dụ: như các nồi rót, vòi phun, các ống) 
trong việc sản xuất các ổ trục, các lớp lót phanh...) 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Gốm kim loại chứa các chất phân hạch hoặc phóng xạ (nhóm 28.44). 
(b) Các tấm, que, các đầu mẩu và những thứ tương tự để làm dụng cụ 
bằng Gốm kim loại với một nền tảng của cacbua kim loại được kết tụ 
bằng quá trình thiêu kết (nhóm 82.09). 

Chương 82 
Dụng cụ, đồ nghề, dao, kéo, bộ đồ ăn làm từ kim loại cơ bản; các bộ 
phận của chúng làm từ kim loại cơ bản 
Chú giải. 
1.-   Ngoài các mặt hàng như đèn hàn, bộ bệ rèn xách tay, các loại đá mài 
có lắp gá đỡ, bộ sửa móng tay hoặc móng chân, và các mặt hàng 
thuộc nhóm 82.09, Chương này chỉ bao gồm các sản phẩm có lưỡi, 
cạnh sắc, bề mặt làm việc hoặc bộ phận làm việc khác bằng:  
(a) Kim loại cơ bản; 
(b) Cacbua kim loại hoặc gốm kim loại; 
(c) Đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo) gắn với 
nền kim loại cơ bản, carbua kim loại hoặc gốm kim loại; hoặc 
(d) Vật liệu mài gắn với nền kim loại cơ bản, với điều kiện các sản 
phẩm đó có răng cắt, đường máng, đường rãnh soi hoặc tương 
tự, bằng kim loại cơ bản, các sản phẩm đó vẫn giữ được đặc 
tính và chức năng sau khi được gắn với vật liệu mài. 
2.-  Các bộ phận bằng kim loại cơ bản của các sản phẩm thuộc Chương 
này được phân loại theo các sản phẩm đó, trừ các bộ phận được chi 
tiết riêng và tay cầm cho các loại dụng cụ cầm tay (nhóm 84.66). 
Tuy nhiên, các bộ phận có công dụng chung nêu trong Chú giải 2 
Phần XV được loại trừ khỏi Chương này trong mọi trường hợp. 
Đầu, lưỡi dao và lưỡi cắt của máy cạo râu dùng điện hoặc tông đơ 
cắt tóc dùng điện được xếp vào nhóm 85.10. 
3.-  Bộ gồm một hoặc nhiều dao thuộc nhóm 82.11 và ít nhất là một số 
lượng tương đương các sản phẩm thuộc nhóm 82.15 được phân loại 
trong nhóm 82.15. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm một số loại sản phẩm đặc biệt làm từ kim loại cơ 
bản, mang tính chất của các dụng cụ, đồ nghề, dao, kéo, bộ đồ ăn..., 
chúng được loại trừ khỏi các chương trước của phần XV và chúng không 
phải là máy móc hoặc trang thiết bị thuộc Phần XVI (xem ở dưới) cũng 

không phải là dụng cụ hoặc thiết bị thuộc Chương 90, không phải là các 
sản phẩm thuộc nhóm 96.03 hoặc 96.04. 
Chương này bao gồm: 
(A) Các dụng cụ được sử dụng bằng tay, ngoài các ngoại lệ đã được chi 
tiết (ví dụ: lưỡi cưa máy) (các nhóm 82.01 tới 82.05). 
(B) Bộ dụng cụ từ hai nhóm trở lên thuộc các nhóm từ 82.02 đến 82.05, 
đã đóng bộ để bán lẻ (nhóm 82.06). 
(C) Các dụng cụ có thể tháo lắp thay thế được dùng cho các dụng cụ cầm 
tay, dùng cho các máy công cụ hoặc dùng cho các dụng cụ cầm tay 
hoạt động bằng điện (nhóm 82.07), dao và lưỡi cắt cho các máy móc 
hoặc các thiết bị cơ khí (nhóm 82.08) và các chi tiết hình đĩa, thanh 
cỡ nhỏ, mũi chóp và các chi tiết tương tự dùng cho dụng cụ (nhóm 
(D) Các mặt hàng dao, kéo (mục đích chuyên dùng, cho cá nhân hoặc 
mục đích gia dụng) một số các thiết bị cơ khí gia dụng, thìa và nĩa 
và bộ đồ ăn tương tự và các dụng cụ dùng trong nhà bếp (nhóm 
82.10 tới 82.15). 
Nhìn chung, Chương này bao gồm các dụng cụ có thể được sử dụng độc 
lập bằng tay, có thể có hoặc không việc chúng kết hợp với một số cơ chế 
đơn giản khác như bánh răng, tay quay điều khiển, pit tông, cơ cấu ren 
vít hoặc cần bẫy. Tuy nhiên các thiết bị nhìn chung được phân loại trong 
Chương 84 nếu chúng được thiết kế cho việc cố định vào một chiếc ghế, 
vào tường... hoặc nếu chúng được gắn với các tấm bệ, giá đỡ, khung 
chịu lực... để đứng trên sàn, trên ghế... do lý do về trọng lượng kích cỡ 
hoặc mức độ dùng lực được đòi hỏi cho sự sử dụng của chúng. 
Bởi vậy một chiếc khoan tay mà người công nhân sử dụng nó một cách 
thoải mái bằng tay, không có hỗ trợ là một dụng cụ được xếp trong 
nhóm 82.05 mặc dù nó bao gồm một cơ chế bánh răng đơn giản; mặt 
khác, một chiếc khoan thiết kế gắn với một giá đỡ hoặc khung chịu lực 
sẽ được phân loại trong nhóm 84.59. Tương tự, các dụng cụ cắt kim loại 
kiểu kìm được phân loại trong nhóm 82.03, trái lại dụng cụ cắt kiểu máy 
chém gắn một giá đỡ hoặc bệ tựa lại được phân loại trong nhóm 84.62 

thậm chí nếu nó được sử dụng bằng tay. 
Tuy nhiên, có các ngoại lệ đối với quy luật này, về cả 2 phương diện, 
tuỳ thuộc bản chất của dụng cụ. Như vậy những mỏ cặp, bánh mài kèm 
theo khung và bộ bệ rèn có thể di chuyển được được đặc biệt xếp vào 
nhóm 82.05. Tương tự như vậy một số dụng cụ cơ khí (Cối xay cà phê, 
máy ép hoa quả, cối xay thịt...) được phân loại trong nhóm 82.10 có 
những tiêu chuẩn đặc biệt áp dụng cho chúng (Xem phần chú giải dưới). 
Mặt khác, Chương 84  bao gồm những dụng cụ nhất định được sử dụng 
bằng tay một cách độc lập như những dụng cụ dùng để phun chất lỏng 
và bọt (nhóm 84.24), những dụng cụ chạy bằng khí nén (nhóm 84.67), 
máy đóng ghim văn phòng không phải kiểu súng lục (nhóm 84.72), một 
vài dụng cụ thiết bị ngày nay là những dụng cụ rất nhỏ khó có thể diễn tả 
do chúng có những tấm đế hoặc có giá đỡ. 
Các dụng cụ, dao, kéo... nhìn chung không xếp trong chương này, trừ khi 
những dụng cụ đó có lưỡi, bề mặt làm việc hoặc bộ phận làm việc khác 
cấu tạo từ kim loại cơ bản, từ cácbua kim loại (Xem phần chú giải nhóm 
28.49) hoặc từ gốm kim loại (Xem phần chú giải nhóm 81.13) miễn là 
chúng đáp ứng được điều kiện này, những dụng cụ này vẫn nằm trong 
chương thậm chí chúng có gắn những cán tay, hoặc phần thân không 
phải là kim loại có trọng lượng vượt quá trọng lượng của bộ phận làm 
việc được làm từ kim loại (ví dụ một cái bào bằng gỗ với một lưỡi bào 
kim loại). 
Tuy vậy Chương này cũng bao gồm những dụng cụ mà bộ phận làm việc 
được làm từ đá tự nhiên, đá tổng hợp hoặc đá quý được tái tạo hoặc đá 
bán quý (ví dụ kim cương đen) gắn với một giá (bệ) đỡ là kim loại cơ 
bản, cácbua kim loại hoặc gốm kim loại; hơn nữa, trong một vài trường 
hợp nhất định, bộ phận làm việc có thể là kim loại cơ bản được gắn hoặc 
được bọc bằng các chất liệu chịu mòn. 
Đối với những quy tắc chung này cũng có những ngoại lệ trong trường 
hợp của các dụng cụ nhất định, đã được đề cập riêng trong các nhóm(Ví 
dụ: Bệ rèn có thể di chuyển được và  bánh mài gắn kèm theo giá đỡ). 
Hơn thế nữa, rất ít các loại dụng cụ mài nằm trong phạm vi của chương 

(Xem các phần chú giải thuộc các nhóm 82.02 và 82.07) do nhóm 68.04 
gồm có bánh mài, các dụng cụ tương tự (Kể cả các thiết bị mài, mài sắc, 
đánh bóng, điều chỉnh và cắt ...) làm từ đá tự nhiên, từ các chất chịu mòn 
đã thiêu kết, hoặc từ gốm có hoặc không có lõi, chuỗi, lỗ cắm, trục hoặc 
các dụng cụ tương tự bằng các chất liệu khác nhưng không có giá đỡ. 
Các dụng cụ có thể tháo lắp thay thế được, làm từ kim loại cơ bản, dùng 
cho các dụng cụ cầm tay, dùng cho các máy công cụ hoặc dùng cho các 
dụng cụ cầm tay hoạt động bằng điện bị loại khỏi chương này bởi vì bộ 
phận làm việc không được làm bằng một trong những chất liệu cụ thể 
trong chú giải 1, được xếp theo vật liệu cấu thành của bộ phận làm việc. 
Ví dụ: Những bộ phận làm bằng cao su (Chương 40), bằng da (Chương 
42), bằng da lông thú (Chương 43), bằng lie (Chương 45), bằng vải dệt 
(Chương 59), bằng các vật liệu gốm (nhóm 69.09). Các loại bàn chải để 
sử dụng trong các loại máy được phân loại trong nhóm 96.03. 
Các bộ phận là kim loại cơ bản có thể xác định được của các dụng cụ, 
dao kéo... (Ví dụ: các khung cưa, lưỡi bào) thông thường được phân loại 
trong những nhóm tương tự như các mặt hàng hoàn thiện. Quy tắc này 
tuy nhiên không áp dụng đối với các bộ phận là đối tượng thuộc một 
nhóm đặc biệt. Các dây xích, đinh, bulông, đai ốc, vít, đinh tán, lò xo (Ví 
dụ: dùng trong: kéo cắt cành) và các bộ phận có công dụng chung khác 
như định nghĩa ở chú giải 2 phần XV bị loại trừ khỏi chương này và 
nằm trong các chương phù hợp (các Chương 73 tới 76 và 78 tới 81). 
Bộ dao kéo và các mặt hàng khác được phân loại trong nhóm 82.08 tới 
82.15 có thể gắn đầu tỉa nhỏ bằng kim loại quý hoặc kim loại dát bằng kim 
loại quý (ví dụ: chữ lồng hoặc giải nẹp) tuy nhiên nếu chúng bao gồm các 
bộ phận khác (ví dụ: cán hoặc lưỡi) bằng kim loại quý hoặc nếu chúng chứa 
đựng các hạt ngọc trai tự nhiên hoặc nhân tạo (nuôi), hoặc các loại đá quý, 
hoặc bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái chế) (trừ các bộ phận làm việc 
miêu tả ở trên) chúng được phân loại trong Chương 71. 
Chương này không bao gồm: 
(a) Các dụng cụ, kéo và các bộ dụng cụ cắt khác thuộc loại được sử dụng 

như các thiết bị hoặc dụng cụ dùng cho ngành y, nha khoa, phẫu 
thuật hoặc thú y (nhóm 90.18). 
(b) Các dụng cụ rõ ràng mang tính chất đồ chơi (Chương 95). 
82.01- Dụng cụ cầm tay, gồm: mai, xẻng, cuốc chim, cuốc, dụng cụ 
xới và làm tơi đất, chĩa và cào; rìu, câu liêm và các dụng cụ 
tương tự dùng để cắt chặt; kéo cắt cây và kéo cắt tỉa các loại; 
hái, liềm, dao cắt cỏ, kéo tỉa xén hàng rào, cái nêm gỗ và các 
dụng cụ khác dùng trong nông nghiệp, làm vườn hoặc trong lâm 
nghiệp. 
8201.10 - Mai và xẻng 
8201.30 - Cuốc chim, cuốc, dụng cụ xới và cào đất 
8201.40 - Rìu, câu liêm và các dụng cụ tương tự dùng để cắt chặt 
8201.50 - Kéo cắt cây và kéo cắt tỉa và kéo để tỉa loại lớn tương tự, 
loại sử dụng một tay (kể cả kéo cắt gia cầm) 
8201.60 - Kéo tỉa xén hàng rào, kéo tỉa xén sử dụng hai tay và các 
loại kéo tương tự loại sử dụng hai tay 
8201.90 - Dụng cụ cầm tay khác thuộc loại sử dụng trong nông 
nghiệp, làm vườn hoặc lâm nghiệp 
Nhóm này bao gồm dụng cụ cầm tay chủ yếu sử dụng trong nông nghiệp 
làm vườn hoặc lâm nghiệp, mặc dầu một số loại cũng có thể được dùng 
cho mục đích khác (ví dụ: Làm đường, xúc đất, khai mỏ, khai thác đá, 
nghề mộc hoặc nghề nội trợ). 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Mai và xẻng bao gồm xẻng xúc than dùng trong gia đình và các loại đặc 
biệt (Ví dụ: dụng cụ đào rãnh cho người đi cắm trại, cho quân lính...) 
(2)  Chĩa: Bao gồm cả chĩa cán dài (dễ xỉa rơm) 
(3)  Cuốc chim, cuốc, dụng cụ xới, làm tơi đất và cào, bao gồm cả các loại 
cào cỏ, các loại cào và cuốc kết hợp, dụng cụ xới đất, dọn cỏ và xới. 
(4) Các loại rìu, câu liêm và các dụng cụ chặt đốn tương tự, kể cả rìu 
đốn gỗ, rìu tay, rìu nhỏ, dao pha, rìu cong, dao cắt, dao rựa. 
(5) Kéo tỉa cây và kéo cắt tỉa tương tự loại sử dụng một tay (kể cả 

kéo xén lông gia cầm). Những dụng cụ này thường bao gồm hai tay 
cầm được khớp với nhau bằng một chiếc chốt nằm ở 3/4 chiều dài 
của chúng. Một trong những tay cầm này thường giới hạn trong một 
mặt lõm và một tay cầm khác giới hạn trong một mặt cắt lồi (liềm 
vẹt). Những loại dụng cụ này khác xa với các loại kéo thuộc nhóm 
82.13 vì chúng không có các vòng xỏ ngón tay vào. 
Những loại dụng cụ này hầu như luôn có một cái lò xo, lò xo nén 
làm hai tay tầm tách ra sau khi cắt và một móc hoặc kẹp để cho 
chúng có thể được mở hoặc đóng một cách dễ dàng bằng một tay. 
Khi cắt, chúng được thao tác (thực hiện) bằng một tay và chúng có 
một tác dụng rất mạnh. 
Nhóm này còn bao gồm các loại kéo cắt cây cho người làm vườn, 
các loại kéo cắt hoa hoặc quả, các loại kéo dùng để cắt nho có lưỡi 
hẹp nhỏ. 
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm các loại kéo cắt cành có lưỡi 
với vòng xỏ ngón tay (Xem phần ghi chú giải thích nhóm 82.13). 
(6) Các loại kéo cắt hàng rào, các loại kéo xén, tỉa cầm hai tay và các 
loại kéo có cầm hai tay tương tự, bao gồm cả kéo cắt cỏ và kéo 
xén cây cảnh. 
(7) Các dụng cụ gia công bằng tay khác thuộc loại được sử dụng 
trong nông nghiệp, nghề làm vườn và lâm nghiệp. Những dụng cụ 
này bao gồm những cái hái cắt cỏ, loại liềm (Kể cả móc đóng bao, gặt 
hái hoặc móc cỏ) các loại dao cắt cỏ khô hoặc cắt rơm thuộc tất cả 
các dạng, dụng cụ trồng, gieo hạt, đào hốc, máy cầy và các xẻng bứng 
cây, thu hoạch hoa quả, lược chải cho bò, bàn chải ngựa và bàn chải 
cọ lợn. Dao cạo vỏ cây và các loại dao bóc vỏ cây, nêm gỗ, các dụng 
cụ của người đốn gỗ (dao quắm, kìm, búa chèn gỗ, các lưỡi vát), các 
dụng cụ bằng sắt dùng để xén cỏ, kéo cắt lông cừu. 
Tất cả những dụng cụ trên nằm trong nhóm này cho dù chúng có gắn tay 
cầm hoặc không 
Nhóm này cũng bao gồm các bộ phận bằng kim loại cơ bản có thể dễ 
nhận biết của các dụng cụ đó.  

Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Kìm đánh dấu tai cừu và kìm đánh dấu động vật khác (nhóm 82.03). 
(b) Các dụng cụ hình nêm dùng che đá, các loại đe có lưỡi cắt (nhóm 
(c) Dao tỉa (nhóm 82.11). 
(d) Các trục làm vườn, bừa, máy cắt cỏ và các dụng cụ tương tự, những 
dụng cụ này được đẩy hoặc kéo bằng tay (Chương 84). 
(e) Rìu phá băng dành cho người trượt tuyết (nhóm 95.06). 
82.02 - Cưa tay; lưỡi cưa các loại (kể cả các loại lưỡi rạch, lưỡi khía 
răng cưa hoặc lưỡi cưa không răng). 
8202.10 - Cưa tay 
8202.20 - Lưỡi cưa vòng 
              - Lưỡi cưa đĩa (kể cả các loại lưỡi cưa đã rạch hoặc khía): 
8202.31 - - Có bộ phận làm việc làm bằng thép 
8202.39 - - Loại khác, kể cả các bộ phận 
8202.40 - Lưỡi cưa xích 
              - Lưỡi cưa khác: 
8202.91 - - Lưỡi cưa thẳng, để gia công kim loại 
8202.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Cưa tay dùng để cưa gỗ, cưa kim loại, đá hoặc các chất liệu khác, 
hoặc dùng cho thương mại hoặc sử dụng trong nhà. 
Các loại cưa này bao gồm cưa hình cung, cưa rìu, cưa lượn, và các 
loại cưa khác có khung gỗ hoặc kim loại (cưa rộng bản), cưa cắt 
mộng, cưa hình cung, cưa cắt ngang (Thường có một tay cầm ở mỗi 
đầu), cưa gấp có hình dạng giống như một cái dao (gấp được hoặc 
không) những người làm vườn và thợ mỏ sử dụng chúng, các loại 
cưa đặc biệt cho thợ sửa đồng hồ và những người làm đồ trang sức, 
các bộ cưa lồng vào nhau, cưa có khớp dùng cho việc cắm trại, dùng 

cho quân sự, cưa bóc, cưa đi kèm với hộp hỗ trợ cưa, giúp tạo ra sản 
phẩm hoàn chỉnh có những đặc điểm thiết yếu riêng.     
(B) Lưỡi cưa các loại, dùng cho cưa tay và cưa máy và cho tất cả chất 
liệu, chúng bao gồm: 
(1)  Lưỡi cưa vòng hoặc lưỡi cưa đai vòng liền (ví dụ, dùng các 
loại cho máy cưa gỗ). 
  (2)  Lưỡi cưa đĩa (Kể cả lưỡi cưa đã rạch hoặc khía) dùng cho các 
máy fay). Loại sau này có thể phân biệt với máy cắt khía răng cưa 
qua tỷ lệ độ dày với đường kính, tỷ lệ này nhỏ hơn đối với máy 
cắt khía răng cưa và qua khớp răng, khớp răng chỉ được cắt trên 
đường ngoại biên với cưa đĩa thường, trái lại máy cắt khía răng 
cưa thường có các răng trên bề mặt của chúng hoặc có các răng 
lõm hoặc răng lồi 
(3)  Lưỡi cưa xích (dưới dạng xích) để đốn đổ cây, cưa thân cây… 
răng của các lưỡi cưa như vậy thường bao gồm các phần chế 
tạo bằng cácbua thuộc kim loại hoặc kim loại gốm 
(4)  Lưỡi cưa thẳng đối với các loại cưa cắt mộng, cưa rìu, cưa 
tấm... kể cả các loại cưa được xem như là "cưa vàng bạc" (các 
lưỡi cưa tròn có răng giống như một cái giũa, nhưng chúng 
được sử dụng để cưa giống như một lưỡi cưa lượn). 
(5) Lưỡi cưa cắt đá thẳng không có răng (hoặc được đập bằng 
búa hoặc mài bằng máy làm sao cho phẳng hoặc lượn sóng) với 
điều kiện là các đầu cùng của lưỡi cưa được xoi lỗ răng cưa 
hoặc tạo hình để cố định. 
(6) Các đĩa cắt không có răng (đĩa ma sát) để cắt đứt kim loại 
Nhóm này cũng bao gồm các lưỡi cưa lọng. Với điều kiện là chúng có 
răng, dải (hoặc cắt theo chiều dài hoặc không) và các đĩa (với 1 lỗ trung 
tâm để định vị đĩa vào trục quay). Những loại này thường bằng thép 
Các lưỡi cưa đã tạo răng sẵn hoặc được gắn những răng ghép xen kẽ với 
nhau hoặc các đoạn rộng (chẳng hạn như một số cưa đĩa), các răng có thể 
toàn bộ được làm bằng kim loại cơ bản hoặc bằng kim loại cơ bản được 

ghép hoặc bọc bằng các lớp cacbua kim loại, kim cương (đặc biệt là kim 
cương đen) hoặc trong một vài trường hợp được bọc phủ bằng các chất 
bột chịu mài mòn. Trong một số cưa, các răng có thể được thay thế bằng 
kim cương hoặc bằng các miếng cacbua kim loại bao quanh chu vi đĩa. 
Tuy nhiên các đĩa không có răng được phủ lớp rìa là chất chịu mài mòn 
(ví dụ, để cắt đá cẩm thạch, thạch anh hoặc kính) hoặc bằng một loạt 
chất chịu mài mòn bao quanh vành đĩa cũng bị loại khỏi nhóm này (xem 
phần Chú giải Chi tiết nhóm 68.04). 
Nhóm này bao gồm các bộ phận bằng kim loại cơ bản của cưa tay được 
trình bày riêng lẻ (Ví dụ: Khung, cánh cung, cán và thanh kéo) và các răng 
bằng kim loại cơ bản, các đoạn có răng để ghép xen kẽ lồng vào lưỡi cưa. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Dây cưa đá (thường là dây thép đặc biệt được chập 3) (nhóm 73.12). 
(b) Lưỡi cắt các chuỗi lỗ mộng (nhóm 82.07). 
(c) Cưa tay có gắn động cơ (nhóm 84.67). 
(d) Đàn kéo (nhóm 92.08). 
82.03 - Giũa, nạo, kìm (kể cả kìm cắt), panh, nhíp, kéo cắt kim loại, 
dụng cụ cắt ống, xén bu lông, mũi đột lỗ và các dụng cụ cầm tay 
tương tự. 
8203.10 - Giũa, nạo và các dụng cụ tương tự 
8203.20 - Kìm (kể cả kìm cắt), panh, nhíp và dụng cụ tương tự 
8203.30 - Lưỡi cắt kim loại và dụng cụ tương tự 
8203.40 - Dụng cụ cắt ống, xén bu lông, mũi đột lỗ và các dụng cụ 
tương tự 
Nhóm này bao gồm các dụng cụ có tay cầm như sau: 
(A) Giũa, nạo và các dụng cụ tương tự (Kể cả giũa, nạo đã kết hợp) 
các kiểu hình dạng (phẳng, tròn, nửa tròn, vuông, hình tam giác, 
hình ovan...) tất cả các cỡ dùng cho các chất liệu kim loại, gỗ hoặc 
khác. 
(B) Kìm (Kể cả kìm cắt) panh (kẹp), nhíp và dụng cụ tương tự, bao 

gồm: 
(1) Kìm (ví dụ: kìm kẹp chì niêm phong, kìm đánh dấu tai cừu và 
đánh dấu các động vật khác, kìm kẹp ống ga, kìm lồng hoặc rút 
chốt hãm, kìm mắt nhỏ (lỗ sâu) và kìm lỗ xâu đóng, bộ cưa kiểu 
kìm). 
(2) Kẹp (panh) (Ví dụ: kẹp dùng cho thợ đóng móng ngựa và kẹp 
dùng cho thợ rèn). 
(3) Nhíp (Ví dụ: nhíp cho thợ sửa đồng hồ, người bán hoa, người 
sưu tầm tem, nhíp lông…) 
(4) Kìm nhổ đinh (kiểu hàn kẹp, làm việc theo nguyên tắc kẹp) 
(C) Kéo cắt kim loại và các dụng cụ tương tự, kể cả kéo cắt tôn của 
thợ thiếc và các kéo cắt tấm kim loại hoặc dây thép. 
(D) Dụng cụ cắt ống, xén bulông, đột (đục) lỗ và các dụng cụ tương 
tự, bao gồm: 
(1) Dụng cụ cắt ống với các bánh cắt, xén bulông và dụng cụ xén, 
xích cắt dạng kìm. 
(2) Dụng cụ đột (đục) lỗ, ví dụ đột (đục) lỗ khuy, đục lỗ vé (trừ các 
loại đóng trên vé có ngày hoặc các chữ khác - nhóm 96.11), 
dụng cụ đục lỗ dùng cho thợ đóng yên ngựa,  đục lưới sắt... cho 
da, nỉ đục lỗ... hoặc theo kiểu kìm hoặc theo kiểu sử dụng búa 
(nhưng không có đinh rắn hoặc tương tự). 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Kìm đục lỗ và giũa (kể cả giũa tròn) cho máy công cụ (nhóm 
(b) Giũa móng tay, kìm bấm khóe móng tay và kiềm cắt móng tay 
(nhóm 82.14). 
 (c) Kẹp gắp đường (nhóm 82.15). 
(d) Máy cắt kim loại kiểu cơ khí (nhóm 84.62) và các dụng cụ đục lỗ 
trong văn phòng có một đế để cố định hoặc đặt gắn trên bàn... (nhóm 
 (e) Cái đột lỗ trên vé có ngày hoặc các chữ khác (nhóm 96.11). 

82.04 - Cờ lê và thanh vặn ốc (bu lông) và đai ốc loại vặn bằng tay 
(kể cả cờ lê định lực nhưng trừ thanh vặn tarô); đầu cờ lê có thể 
thay đổi được, có hoặc không có tay vặn. 
   - Cờ lê và thanh vặn ốc (bu lông) và đai ốc, loại vặn bằng tay: 
8204.11 - - Không điều chỉnh được 
8204.12 - - Điều chỉnh được 
8204.20 - Đầu cờ lê có thể thay đổi, có hoặc không có tay vặn 
Nhóm này bao gồm các dụng cụ cầm tay như sau: 
(1) Cờ lê và thanh vặn đai ốc bằng tay (Ví dụ: với các hàm kẹp cố 
định hoặc có thể điều chỉnh được, đầu clê (đui), hộp hoặc chìa vặn 
đai ốc, chìa vặn đai ốc có tay quay), thanh vặn đai ốc hoặc chìa vặn 
đai ốc cho các loại xe đạp, xe hơi, ốc vặn đinh vít, vòi máy nước 
hoặc ống (Kể cả loại chìa vặn đai ốc ống kiểu chuỗi), thanh vặn đai 
ốc có thước đo định lực (clê lực). Tuy vậy nhóm này không bao 
gồm thanh vặn tarô) (nhóm 82.05). 
(2) Đầu cờ lê (chìa) vặn đai ốc có thể thay đổi, có hoặc không có cán, 
kể cả bộ phận điều chỉnh và mở rộng (nới rộng). 
82.05 - Dụng cụ cầm tay (kể cả đầu nạm kim cương để cắt kính), 
chưa được ghi hoặc chi tiết ở nơi khác; đèn xì; mỏ cặp, bàn cặp 
và các đồ nghề tương tự, trừ các loại phụ kiện và các bộ phận 
phụ trợ của máy công cụ hoặc máy cắt bằng tia nước; đe; bộ bệ 
rèn xách tay; bàn mài quay hoạt động bằng tay hoặc chân. 
8205.10 - Dụng cụ để khoan, ren hoặc ta rô 
8205.20 - Búa và búa tạ 
8205.30 - Bào, đục, đục máng và dụng cụ cắt tương tự cho việc chế 
biến gỗ 
8205.40 - Tuốc nơ vít 
              - Dụng cụ cầm tay khác (kể cả đầu nạm kim cương để cắt 
kính): 

8205.51 - - Dụng cụ dùng trong gia đình 
8205.59 - - Loại khác 
8205.60 - Đèn hàn 
8205.70 - Mỏ cặp, bàn cặp và các đồ nghề tương tự 
8205.90 - Loại khác, bao gồm bộ dụng cụ của hai phân nhóm trở lên 
thuộc nhóm này  
Nhóm này bao gồm tất cả các dụng cụ cầm tay không bao hàm các 
dụng cụ trong các nhóm khác thuộc chương này, cùng với các dụng cụ 
khác trong phần phụ lục (Xem phần ghi Chú giải thích chung của 
Chương này) cùng với một số dụng cụ khác hoặc các dụng cụ được đề 
cập một cách cụ thể trong đầu đề.    
Nó bao gồm phần lớn các dụng cụ cầm tay (kể cả một số có cơ chế thao 
tác bằng tay đơn giản như tay quay, bánh cóc, hệ thống bánh răng).Cụm 
dụng cụ này gồm: 
(A) Dụng cụ để khoan, rèn hoặc Taro như dụng cụ soi lỗ, khoan lỗ 
(Kể cả các kiểu bánh cóc) khoan tỳ ngực và khoan tay; hộp khoan, 
tay vặn tarô và đĩa bàn ren. Các dụng cụ thay thế như khoan, mũi 
khoan, taro và khuôn để sử dụng với những dụng cụ cầm tay này bị 
loại khỏi nhóm (xem nhóm 82.07). 
(B) Búa và các loại búa tạ, như búa thợ rèn, thợ nồi hơi, thợ mộc, thợ 
đóng móng ngựa, công nhân khai thác đá, thợ khắc đá, thợ lắp kính, 
thợ nề, búa đập đá, phá đá hộc và các loại búa có gắn phụ tùng như 
đầu cuốc chim và nhổ đinh. 
(C) Bào, đục, đục lòng máng và dụng cụ cắt tương tự cho chế 
biến gỗ như bào, đục máy các loại (Bào phẳng, bào khía, bào 
đường rãnh, bào kích...) Cạo và nạo, dao chạm và dao vẽ dùng 
cho thợ mộc, thợ lắp đồ gỗ, thợ làm văn phòng, thợ đóng thùng, 
thợ trạm. 
(D) Tuốc nơ vit (Kể cả loại răng cóc). 
(E) Các dụng cụ cầm tay khác (Kể cả dao kim cương để cắt kính) 

Nhóm này gồm có: 
(1) Một số dụng cụ gia đình, kể cả một vài dụng cụ có lưỡi cắt 
nhưng không kể đến các dụng cụ cơ khí (Xem phần ghi Chú 
giải thích nhóm 82.10) mang tính chất dụng cụ nhưng không 
thích hợp với nhóm 73.23) như: 
 Bàn là phẳng (kiểu dùng chất khí đốt, Parafin, dầu hoả, than 
củi... nhưng không phải là bàn là điện thuộc nhóm 85.16) kẹp 
uốn tóc, cái mở chai, nút bấc, cái dụng cụ mở hộp đơn giản (Kể 
cả chìa khoá) cái kẹp hạt dẻ, cái đập hột anh đào (loại lò xo) 
móc khuy áo, miếng sắt đóng vào đế giày, các dụng cụ mài 
dao bằng kim loại, máy cắt bột nhão, bàn nạo pho mát, máy 
lạng “chớp nhoáng” (với các bánh cắt), máy cắt pho mát thành 
lát mỏng, máy thái rau, khuôn bánh quế, dụng cụ đánh kem 
hoặc đánh trứng, máy cắt trứng thành lát mỏng, đồ dùng lấy 
kem, búa để đập đá ăn, máy nghiền rau; que xiên thịt, que cời 
than, kìm kẹp, cái cào than và cơ cấu nhấc trong các bếp lò và 
lò sưởi. 
(2) Các dụng cụ của thợ sửa đồng hồ như dụng cụ ép chân kính, dụng 
cụ làm thăng bằng, cộc ghép đinh tán, máy cuộn dây cót chính, 
dụng cụ đóng chốt, dụng c