PROJECT

CHU GIAI 2022_16

CHU GIAI 2022_16
đặc tính của
kim loại.  
(b)  Sự làm sạch gỉ, tẩy gỉ bằng axít, cạo và các quá trình khác
nhằm bóc vẩy ôxít và vẩy cứng hình thành trong quá trình
nung kim loại.  
(c)  Sự tráng thô chỉ để nhằm bảo vệ sản phẩm khỏi gỉ hoặc sự
ôxy hoá khác, ngăn ngừa sự trượt trong quá trình vận
chuyển và làm cho thuận lợi quá trình xử lý ..., sơn có chứa
một chất màu hoạt tính chống gỉ (bột chì đỏ, bột kẽm, ôxít
kẽm, kẽm cromat, ôxít sắt, sắt minium, bột đỏ của hiệu kim
hoàn), và các lớp phủ ngoài không nhuộm màu với nền bằng
dầu, mỡ bôi trơn, sáp, sáp parafin, graphit, hắc ín hoặc
(d)  Xử lý hoàn thiện (gia công tinh) bề mặt, bao gồm:  
(i) đánh bóng và miết bóng hoặc sự xử lý tương tự;  
(ii) sự ôxy hoá nhân tạo (bằng các quá trình hoá học khác nhau,
ví dụ, như sự nhúng chìm trong một dung dịch ôxy hoá),
tráng nước bóng, nhuộm xanh (sự ủ xanh), nhuộm nâu hoặc
tạo màu xám đồng (bằng các kỹ thuật khác nhau), những quá
trình mà cũng tạo thành một màng mỏng ôxít trên bề mặt của
sản phẩm, nhằm làm tốt hơn hình dạng bề ngoài của nó.
Những quy trình này sẽ làm tăng tính chống gỉ;  
(iii)  xử lý bề mặt bằng phương pháp hoá học, như là:
⦁    sự phốt phát hoá, quá trình này gồm sự nhúng chìm
sản phẩm trong một dung dịch các phốt phát axít kim
loại, đặc biệt là những phốt phát axít của mangan, sắt
và kẽm; quá trình này được biết như là sự tráng phốt
phát chống gỉ hoặc sự phốt phát hoá, phụ thuộc vào
khoảng thời gian của quy trình và nhiệt độ dung dịch
của bể nhúng;
⦁    oxalat hoá, borat hoá, ... sử dụng như các phương pháp
tương tự các phương pháp đối với sự phốt phát hoá,
với các muối hoặc axít thích hợp;
⦁    cromat hoá là quá trình bao gồm sự nhúng chìm sản
phẩm trong một dung dịch mà thành phần chính của
dung dịch là axit cromic hoặc các cromat; quá trình
này để xử lý bề mặt, ví dụ như tấm thép được mạ hoặc
bọc kẽm.  
Những phương pháp xử lý bề mặt bằng phương pháp
hoá học có lợi thế là bảo vệ được bề mặt của kim loại,
làm thuận lợi hơn cho bất kỳ sự biến dạng nguội tiếp
theo nào của sản phẩm được xử lý và sử dụng các loại
sơn hoặc các lớp phủ phi kim loại bảo vệ khác.
(iv)  lớp phủ với kim loại (sự mạ kim loại), các  
quá trình chính là:
⦁    nhúng trong một bể của kim loại hoặc hợp kim nóng
chảy, ví dụ như mạ kẽm nhúng nóng, mạ thiếc, phủ
nóng bằng chì và lớp phủ nhôm ;
⦁    mạ điện (sự kết tủa ở catốt của một kim loại phủ trên
sản phẩm được phủ, bằng điện phân một dung dịch
các muối kim loại thích hợp) ví dụ như kẽm, cađimi,
thiếc, chì, crôm, crôm/cromat, đồng, niken, vàng hoặc
bạc;
⦁    sự tẩm hoặc khuếch tán (bằng cách nung sản phẩm sẽ
được phủ với kim loại phủ yêu cầu ở dạng bột, ví dụ
như tráng kẽm (sự xementit hoá với kẽm) và sự thấm
nhôm (xementit hoávới nhôm) và sự thấm crôm (với
sự khuếch tán crôm);
⦁    sự phun (sự phun mù kim loại nóng chảy và hướng bụi
nước phun vào phía sản phẩm sẽ được phủ) ví dụ như
quá trình Schoop (phun bột kim loại qua lửa) và súng
bắn khí, hồ quang, plasma và các quá trình phun tĩnh
điện;
⦁    sự mạ kim loại bằng việc làm bay hơi kim loại dùng để
mạ trong chân không,..;
⦁    sự mạ kim loại bằng cách bắn phá kim loại dùng để mạ
với các ion trong sự phóng điện phát sáng (mạ ion);
⦁    phủ bằng sự bay hơi ở catốt (sự sôi lên);
(v) phủ bằng các chất không kim loại, ví dụ sự tráng men, sự
sơn bóng (đánh véc ni), sơn mài, quét sơn, sơn in bề mặt,
phủ gốm hoặc chất dẻo, bao gồm cả các quá trình đặc
biệt như phóng điện phát sáng, hiện tượng điện chuyển,
phóng tĩnh điện và nhúng chìm trong một dung dịch hoá
lỏng tĩnh điện sau đó đốt bằng bức xạ,...
(e)   mạ (cladding), có nghĩa là sự liên kết các lớp kim loại có
màu hoặc bản chất khác nhau bằng sự thâm nhập phân tử
vào nhau của các bề mặt tiếp xúc. Sự khuếch tán có giới
hạn này là đặc trưng của các sản phẩm mạ và cũng để
phân biệt chúng với những sản phẩm được tráng kim loại
theo cách được nêu ở trước (ví dụ bằng sự mạ điện thông
thường).  
Nhiều quá trình mạ (cladding) còn bao gồm cả việc rót
kim loại mạ nóng chảy vào kim loại nền, tiếp theo là cán,
việc cán nóng đơn giản kim loại mạ để đảm bảo việc hàn
có hiệu quả vào kim loại nền, bất kỳ phương pháp kết tủa
nào khác hoặc sự chồng kim loại mạ tiếp theo bất kỳ quá
trình cơ khí hoặc nhiệt nào nhằm đảm bảo cho sự hàn (ví
dụ mạ điện), mà trong đó kim loại mạ (niken, crôm, ...)
được đặt vào kim loại nền bằng phương pháp mạ điện, sự
thâm nhập phân tử vào nhau của các bề mặt tiếp xúc sau
đó sẽ nhiệt luyện ở nhiệt độ thích hợp và cán nguội tiếp
Các sản phẩm có chứa sắt mạ kim loại màu vẫn trong các
nhóm tương ứng của chúng trong Chương 72 với điều
kiện rằng sắt hoặc thép là kim loại trội về trọng lượng
(xem Chú giải 5 của Phần XV). Các sản phẩm sắt và thép
mạ kim loại đen khác, tuỳ theo thành phần của sản phẩm
gốc hoặc của kim loại mạ  có thể thuộc phân Chương (II,
III hoặc IV), tương tự phải được phân loại phù hợp với
kim loại trội về trọng lượng (Xem Chú giải 2 của Chương
này); ví dụ, một thanh thép không hợp kim thông thường
mạ thép không gỉ được phân loại trong phân Chương II
nếu kim loại nói trên trội hơn về mặt trọng lượng, hoặc
nếu không thì sẽ được phân loại trong phân Chương III.  
(f)  Sự lấy đi những phần nhỏ của kim loại nhằm mục đích
thử nghiệm.
(g)  Sự cán dát mỏng, ví dụ, để chồng các lớp kim loại lên
một lớp ở giữa của vật liệu vitcô đàn hồi, lớp này sẽ tạo
âm thanh.v.v.., chất cách điện.
Sự phân loại các hợp kim của kim loại đen và của các sản phẩm  hợp
chất được nêu trong Chú giải chung của phần XV.
PHÂN CHƯƠNG I
NGUYÊN LIỆU THÔ, CÁC SẢN PHẨM Ở DẠNG HẠT HOẶC
DẠNG BỘT
TỔNG QUÁT
Phân chương bao gồm:
(1)  Các vật liệu thô của luyện kim sắt và gang (gang thỏi, gang kính,
hợp kim fero, các sản phẩm chứa sắt được hoàn nguyên trực tiếp từ
quặng sắt và các sản phẩm sắt xốp khác, phế liệu và mảnh vụn và
thỏi đúc phế liệu nấu lại) và sắt có hàm lượng nguyên chất tối thiểu
99.94 % (nhóm 72.01 tới 72.04).
(2)  Hạt và bột của gang thỏi, gang kính, sắt hoặc thép (nhóm 72.05).
72.01 - Gang thỏi và, gang kính ở dạng thỏi, dạng khối hoặc dạng thô
khác.
7201.10 - Gang thỏi không hợp kim có hàm lượng phospho từ
0,5% trở xuống tính theo trọng lượng  
7201.20 - Gang thỏi không hợp kim có hàm lượng phospho trên
0,5% tính theo trọng lượng  
7201.50 - Gang thỏi hợp kim; gang kính  
(A) GANG THỎI
Gang thỏi được định nghĩa trong Chú giải 1 (a) của chương này. Tuy
nhiên thép crôm có chứa hơn 2% Cacbon bằng việc áp dụng Chú giải
1(d) của chương sẽ được phân loại cùng với các thép hợp kim khác
trong Phân chương IV.
Gang thỏi là sản phẩm thô chủ yếu của công nghiệp sắt và thép, về
nguyên tắc được sản xuất bằng việc hoàn nguyên và nấu luyện quặng
sắt trong lò cao hoặc bằng việc nấu luyện phế thải và phế liệu có chứa
sắt trong các lò điện hoặc lò nấu gang. Đây là một hợp kim sắt -
cacbon ngoài ra có chứa các thành phần khác như Silic, Mangan, Lưu
huỳnh và Phôt pho, thu được từ quặng, phế liệu, chất trợ dung, hoặc
nhiên liệu, và đôi khi còn chứa các nguyên tố khác như Crôm, Niken,
được thêm vào để truyền các tính chất đặc biệt.  
Nhóm này bao gồm cả gang thỏi thô và gang thỏi được nấu chảy lại
cho thuận lợi và để đạt  đến độ tinh khiết, pha trộn hoặc hợp kim hoá
nhất định, với điều kiện thành phần của kim loại vẫn nằm trong giới
hạn qui định trong định nghĩa của chú giải 1 (a). Gang thỏi có thể ở
dạng thỏi, khối, cục, có hoặc không gãy vỡ, hoặc ở trạng thái nóng
chảy, nhưng nhóm này không mở rộng cho các sản phẩm được tạo
hình hoặc gia công (ví dụ các sản phẩm đúc hay các đường ống ).  
Tính đặc trưng của gang thỏi là giòn và không gia công được; tính chất
này có thể được khắc phục ở mức độ nào đó bằng phương pháp ủ.
Phương pháp này sẽ cung cấp cho sản phẩm một số đặc tính của thép,
sản phẩm được biết như " gang dẻo" (lõi trắng hoặc lõi đen). Trong
thực tiễn, sự nhiệt luyện được áp dụng chung cho các sản phẩm đúc,
những sản phẩm sẽ được phân loại ở một nơi khác, nhưng bất kỳ một
vật liệu nào như vậy ở dạng thô như thỏi, khối,.., sẽ rơi vào nhóm này
với điều kiện hàm lượng Cacbon lớn hơn 2% theo trọng lượng.  
Gang thỏi hợp kim là gang thỏi mà theo trọng lượng có chứa một hoặc
nhiều nguyên tố được đề cập trong Chú giải 1 (a) của Phân chương
theo tỷ lệ được qui định rõ trong chú giải này.
(B) GANG KÍNH
Gang kính được định nghĩa trong Chú giải 1(b) của Chương này. Đôi
khi trong thương mại gang kính được xem như là một hợp kim sắt
nhưng lại được phân loại trong cùng nhóm với gang thỏi vì gang kính
nói chung thu được trực tiếp từ quặng.
Gang kính được sử dụng chính trong sản xuất thép nhằm khử ôxy và
cácbit hoá lại sắt, và để hợp kim hoá. Gang kính biểu hiện một bề mặt
lấp lánh trên mặt gẫy bởi vì hàm lượng mangan cao, và nó được biểu
hiện trong cùng các dạng như gang thỏi.
72.02 - Hợp kim fero.
7202.11 - - Có hàm lượng carbon trên 2% tính theo trọng lượng
7202.19 - - Loại khác
7202.21 - - Có hàm lượng silic trên 55% tính theo trọng lượng
7202.29 - - Loại khác
- Fero-crôm:
7202.41 - - Có hàm lượng carbon trên 4% tính theo trọng lượng
7202.49 - - Loại khác
7202.50 - Fero-silic-crôm  
7202.70 - Fero-molipđen
7202.80 - Fero - vonfram và fero - silic - vonfram
- Loại khác:
7202.91 - - Fero - titan và fero - silic - titan  
7202.99 - - Loại khác.  
Các hợp kim fero được định nghĩa trong Chú giải 1(c) của
Chương này.
Các hợp kim fero khác biệt với gang thỏi ở chỗ chúng chứa một tỷ lệ
sắt nhỏ hơn, tỷ lệ mà chỉ có tác dụng như một "dung môi" cho các tỷ lệ
lớn các nguyên tố hợp kim (ví dụ: Mangan, Crôm, Vonfram, Silic, Bo
hoặc Niken) và ở chỗ chúng có thể chứa hàm lượng Cacbon bằng hoặc
nhỏ hơn 2%.
Các hợp kim fero thường không được sử dụng để cán, rèn hoặc các qui
trình gia công khác, ít nhất là không được dùng cho các mục đích công
nghiệp, mặc dầu một số chúng có tính rèn. Chúng được sử dụng trong
công nghịêp sắt thép chủ yếu là để thêm những tỷ lệ xác định các thành
phần hợp kim cho thép hoặc gang thỏi với mục đích thu được chất
lượng đặc biệt, thường là trong các trường hợp mà việc sử dụng bản
thân các nguyên tố nguyên chất là không thể thực hiện được hoặc
không kinh tế. Một số còn được sử dụng như những chất khử ôxy, các
tác nhân khử lưu huỳnh hay khử nitơ hoặc trong sản xuất thép lắng còn
số khác được sử dụng cho công nghệ hàn hoặc kết tủa kim loại.  
Một số hợp kim fero có thể sử dụng trực tiếp cho công nghệ đúc. Để
thuộc nhóm này, các hợp kim fero phải ở dạng thỏi, khối, tảng hoặc
các dạng thô tương tự, ở dạng hạt hoặc bột hay ở các dạng đạt được
bằng việc đúc liên tục (ví dụ như thỏi, phôi).  
Fero-silic, ở dạng bột hạt cầu mà bề mặt của chúng được tôi bởi một
phương pháp đặc biệt, còn được sử dụng như một môi trường đậm đặc
("bùn khoáng") trong sự chia tách bằng trọng lực (sự tuyển nổi) các
quặng kim loại, tuy nhiên Fero-silic vẫn ở trong nhóm này.
Nhóm này ngoài ra còn bao gồm các sản phẩm của dạng này trước tiên
được biến đổi thành dạng bột hoặc hạt và được kết tụ thành các dạng
bánh, hình trụ, tấm mỏng,... nhờ xi măng hoặc các chất dính kết, và
trong một số trường hợp, với các chất phụ gia phát nhiệt.  
Mặc dầu một số hợp kim sắt (ví dụ Fero-mangan hoặc Fero-silic) có
thể được sản xuất trong các lò cao, nhưng chúng thường được luyện
trong các lò điện, hoặc nồi nấu kim loại bởi quá trình "nhiệt",...
Các dạng chính là:
(4) Fero - crôm  
(5) Fero - silic - crôm  
(7) Fero - molipđen  
(8) Fero - vonfram và fero – silic - vonfram  
(9) Fero - titan và fero - silic - titan  
(12) Fero - silico - magiê và fero - silico - canxi.  
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Các sản phẩm hoá học sử dụng cho cùng mục đích và trong cùng
cách như các hợp kim sắt, ví dụ như Ôxit Môlipđen, Môlipđat Canxi
và Silic Cacbua, và ngoài ra nếu chúng chứa theo trọng lượng ít hơn
4% sắt, silicid canxi và silicid mangan (chương 28).  
(b) Fero -Urani (nhóm 28.44).  
(c) Hợp kim xeri-sắt và các hợp kim tự cháy khác ở tất cả các dạng
(nhóm 36.06).  
(d) Các sản phẩm mà ở một số quốc gia đôi khi được biết như Fero-
Niken hay Fero-Niken-Crôm, đồng thời chúng dẻo và không thường
được sử dụng như "các vật liệu bổ sung" trong ngành luyện sắt và
thép (các nhóm 72.18 đến 72.29 hoặc Chương 75).
72.03 - Các sản phẩm chứa sắt được hoàn nguyên trực tiếp từ quặng
sắt và các sản phẩm sắt xốp khác, dạng tảng, cục hoặc các
dạng tương tự; sắt có độ tinh khiết tối thiểu là 99,94%, ở dạng
tảng, cục hoặc các dạng tương tự.
7203.10 - Các sản phẩm chứa sắt được hoàn nguyên trực tiếp từ
quặng sắt
7203.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các sản phẩm có chứa sắt bằng cách hoàn nguyên
quặng sắt không nung chảy (xem các Chú giải chung cho Chương này,
phần (I) - (B)). Những sản phẩm này thu được từ quặng ở dạng cục
hoặc hạt hoặc thu được từ quặng tinh ở dạng bánh hoặc viên. Chúng
thường chứa hơn 80% sắt kim loại theo trọng lượng và có một cấu trúc
xốp (sắt xốp). Chúng được sử dụng trong sản xuất thép. Các sản phẩm
thuộc nhóm này, ở dạng bánh hoặc hạt viên, không được lẫn với những
sản phẩm bao gồm quặng kết tinh thuộc nhóm 26.01; sản phẩm được
đề cập trước khác với những sản phẩm sau đáng chú ý là bởi bề ngoài
sáng bóng của mặt cắt của chúng.
Các sản phẩm có chứa sắt thu được bằng việc hoàn nguyên trực tiếp sẽ
dễ dàng phân biệt với các sản phẩm có chứa sắt xốp khác (thu được từ
gang thỏi nóng chảy bằng kỹ thuật phun mù) bởi thực tế rằng các sản
phẩm được đề cập trước có bề mặt thô nhám và rỗ, nhưng trái lại loại
sau có một bề mặt hình tròn biểu hiện rõ ràng rằng nó đã đi qua trạng
thái nóng chảy.  
Nhóm này còn bao gồm sắt rất nguyên chất (có nghĩa là sắt có một
hàm lượng tạp chất không vượt quá 0,06%). Sắt này, được sử dụng
trong các phòng thí nghiệm nghiên cứu và một số ngành của công
nghiệp gia công sắt (ví dụ trong ngành luyện kim bột), là một chất pha
loãng tốt cho các kim loại.  
Nhóm này không bao gồm bùi nhùi bằng thép, ..., đôi khi được biết
như "vật liệu xốp bằng thép" (nhóm 73.23).
72.04 - Phế liệu và mảnh vụn sắt; thỏi đúc phế liệu nấu lại từ sắt  
hoặc thép.
7204.10 - Phế liệu và mảnh vụn của gang đúc
- Phế liệu và mảnh vụn của thép  hợp kim:
7204.21 - - Bằng thép không gỉ
7204.29 - - Loại khác
7204.30 - Phế liệu và mảnh vụn của sắt hoặc thép tráng thiếc  
- Phế liệu và mảnh vụn khác:
7204.41 - - Phoi tiện, phoi bào, mảnh vỡ, vảy cán, mạt cưa, mạt
giũa, phoi cắt và bavia, đã hoặc chưa được ép thành
khối hay đóng thành kiện, bánh, bó  
7204.49 - - Loại khác
7204.50 - Thỏi đúc phế liệu nấu lại
(A) PHẾ LIỆU VÀ MẢNH VỤN
Nhóm này bao gồm phế liệu và sắt thép vụn, như được định nghĩa
trong Chú giải 8(a) của phần XV.  
Phế liệu và mảnh vụn sắt hoặc thép như vậy ở trạng thái pha tạp và nói
chung có dạng:  
(1) Phế liệu và mảnh vụn từ sản xuất hoặc gia công cơ khí sắt hoặc thép
(ví dụ: đầu mẩu, mạt giũa, phoi tiện).  
(2) Các sản phẩm sắt hoặc thép, rõ ràng không sử dụng được nữa vì đứt
gãy, cắt ra từng mảnh, mài mòn hoặc các nguyên nhân khác và phế
liệu và mảnh vụ của các sản phẩm đó; phế liệu và mảnh vụn của sắt
hoặc thép như vậy thường được xử lý nhờ các phương pháp sau, với
mục đích phù hợp với kích thước và chất lượng mà người sử dụng
đòi hỏi:  
(a)  Cắt xén hoặc cắt bằng ngọn lửa các phôi dài và nặng.  
(b)  Ép nén thành kiện, gói, đặc biệt trong trường hợp phế liệu nhẹ, ví
dụ sử dụng một máy ép nén thủy lực.  
(c)  Sự phân mảng vỡ (sự cắt vụn) các khung xe ôtô và phế liệu nhẹ
khác, tiếp theo là phân loại (có thể nhờ thiết bị từ tính) với ý định
thu được một sản phẩm có tỷ trọng cao mà đã được làm sạch.
(d)  Nghiền tán và kết tụ thành dạng bánh từ các mạt giũa và phoi
tiện sắt thép.  
(e)  Đập vỡ các sản phẩm gang cũ.  
Phế liệu và mảnh vụn nói chung được sử dụng để tái sinh kim loại
bằng việc nấu chảy lại hoặc là để sản suất các hoá chất.  
Nhưng nhóm này không bao gồm các sản phẩm, có hay không có sự
tu sửa hoặc phục hồi, có thể được tái sử dụng cho các mục đích trước
của chúng hoặc có thể được điều chỉnh cho các mục đích khác; nhóm
này cũng không bao gồm những sản phẩm mà có thể được tạo dáng lại
thành những hàng hoá khác mà không nhằm mục tiêu hàng đầu là thu
hồi kim loại. Vì vậy, nó loại trừ, ví dụ như kết cấu thép có thể sử dụng
được sau khi tân trang các chi tiết đã hư hỏng, các thanh ray đường sắt
mà có thể sử dụng được như trụ chống lò hoặc có thể được biến đổi
thành các sản phẩm khác bằng việc cán lại, các giũa thép có khả năng
tái sử dụng sau khi đã làm sạch và mài sắc.  
Ngoài ra nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Xỉ, xỉ luyện kim, vụn xỉ hoặc phế liệu khác từ sản xuất sắt hoặc
thép, thậm chí thích hợp cho việc thu hồi kim loại (nhóm 26.19).  
(b)   Phế liệu và mảnh vụn phế liệu không thể sử dụng trực tiếp trong
công nghiệp sắt hoặc thép, vì nó phóng xạ (nhóm 28.44).
(c) Các mẩu gãy của gang thỏi hoặc gang kính (nhóm 72.01).  
(B) THỎI ĐÚC PHẾ LIỆU NẤU CHẢY LẠI
Những sản phẩm này được định nghĩa trong Chú giải 1(g) của Chương
này. Chúng bao gồm các thỏi đúc hoặc cục thô thường từ thép hợp kim
cao, thu được bằng cách nấu chảy lại và đúc rót phế liệu và thép vụn
sạch (ví dụ bụi mài hoặc phoi tiện mịn). Chúng không được cán và
được sử dụng như những vật liệu bổ sung trong sản xuất thép. Chúng
có một bề mặt thô nhám và không bằng phẳng, với những rỗ khí,
đường nứt, vết rạn và các lỗ rỗ do co ngót, gây ra bởi thực tế việc đúc
được thực hiện trong các khuôn kim loại. Việc đúc ở dạng thỏi được
thực hiện không cần phễu. Bởi vậy chúng không có đầu rót và đậu
ngót, có một bề mặt không đều, đôi khi ở dạng nếp uốn lõm tại mặt
trên. Bề mặt này thường có vết nứt ở dạng vết lõm mà trong đó xỉ xốp
có thể được quan sát thấy.
72.05 - Hạt và bột, của gang thỏi, gang kính, sắt hoặc thép.  
7205.10 - Hạt
- Bột:
7205.21 - - Của thép hợp kim  
7205.29 - - Loại khác
(A) HẠT
Hạt được định nghĩa trong Chú giải 1(h) của Chương này.  
Nhóm này bao gồm các hạt, có nghĩa là hạt kim loại hầu như ít nhiều
có hình dạng tròn, và "sạn" có góc cạnh.  
Hạt kim loại được tạo ra bằng việc rót gang hoặc thép lỏng vào nước
lạnh hoặc vào một luồng hơi nước; còn các sạn thu được bằng cách
nghiền tán các hạt kim loại, hoặc bằng cách nghiền tán nguội các tấm
mỏng,... của kim loại được tôi cứng.
Những hàng hoá này vẫn ở trong nhóm này bất kể chúng đã được phân
loại theo kích cỡ hay chưa.  
Hạt kim loại và sạn được sử dụng để làm sạch và cạo gỉ hoặc làm cứng
(tôi) bề mặt kim loại (rèn hạt kim loại bằng búa), để đánh bóng và
chạm trổ trên kim loại hoặc kính, cho việc gia công đá, ... Chúng đôi
khi cũng được thêm vào bê tông như một chất làm tăng độ cứng hoặc
để làm tăng tính không xuyên thấm của bê tông với các tia X và tia
Nhóm này cũng bao gồm các mẩu dây được sản xuất bằng cách cắt
các dây sắt hoặc thép, và được sử dụng cho các mục đích đã được đề
cập ở trên.  
(B) BỘT
Bột được định nghĩa trong Chú giải 8(b) của Phần XV.  
Bột gang thỏi, gang kính, sắt hoặc thép là những vật liệu thích hợp cho
việc nén ép hoặc thiêu kết tụ và được sản xuất bằng sự phun mù sắt
hoặc thép nóng chảy, bằng khử ôxit sắt (phương pháp khô), bằng việc
nghiền tán gang thỏi, sắt xốp hoặc dây thép, bằng sự kết tủa (phương
pháp ướt), bằng sự phân huỷ fero - cacbonyl, bằng sự điện phân các
dung dịch muối sắt hoặc bằng cách nghiền sắt hoặc thép thành bột (bao
gồm cả mạt giũa được nghiền thành bột).  
Những bột này (bao gồm cả bột sắt xốp) có thể được thiêu kết thành
các sản phẩm khác nhau, gồm cả các lõi cho cuộn dây điện từ trong
điện thoại, trong manhêtô. Chúng cũng được sử dụng trong sản xuất
các điện cực hàn và bột hàn, trong công nghiệp hoá chất (đặc biệt như
những chất khử), và đôi khi trong điều chế các sản phẩm dược (bột thu
được bằng việc nghiền các mạt giũa sắt thành bột).  
Nhóm này không bao gồm:  
(a)  Bột sắt phóng xạ (các đồng vị) (nhóm 28.44).  
(b)  Bột sắt được đóng gói như dược phẩm theo quan niệm chung của
nhóm 30.03 hoặc 30.04.  
(c) Hạt và bột hợp kim fero (nhóm 72.02).  
(d) Mạt giũa hoặc phoi tiện phế thải bằng sắt hoặc thép (nhóm
(e)  Bi ổ trục nhỏ có khuyết tật, những bi mặc dầu thường được sử
dụng cho cùng những mục đích như hạt kim loại, sẽ được phân
loại trong nhóm 73.26 theo Chú giải 7 của Chương 84. Những
viên bi ổ trục như thế khác với hạt kim loại bởi vì chúng có hình
dạng bề ngoài đều và hoàn thiện hơn và được làm bằng thép chất
lượng tốt hơn.  
PHÂN CHƯƠNG II
SẮT VÀ THÉP KHÔNG HỢP KIM
TỔNG QUÁT
Nếu là sắt hoặc thép không hợp kim thì phân chương này bao gồm:
(1) Thỏi đúc hoặc các dạng thô khác như thanh, cọc, khối, cục bao gồm
cả thép ở trạng thái nấu chảy (nhóm 72.06).
(2) Bán thành phẩm như cán thô, phôi thanh, cốt thép tròn, tấm, thanh,
mảnh được tạo hình thô bằng phương pháp rèn, kể cả phôi để tạo các
sản phẩm dạng góc, khuôn hoặc hình (nhóm 72.07).
(3) Các sản phẩm được cán phẳng (nhóm 72.08 tới 72.12).
(4) Thanh và que, cán nóng, ở dạng cuộn cuốn không đều (nhóm 72.13)
và các thanh và que khác (nhóm 72.14 hoặc 72.15)
(5) Góc, khuôn và hình (nhóm 72.16).
(6) Dây (nhóm 72.17).
72.06 - Sắt và thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc các dạng thô
khác (trừ sắt thuộc nhóm 72.03).
7206.10 - Dạng thỏi đúc
7206.90 - Loại khác  
(I) DẠNG THỎI ĐÚC
Dạng thỏi đúc là dạng thô mà kim loại đen được đúc thành sau khi sản
xuất bởi một trong các phương pháp được mô tả trong Chú giải chung
cho chương này. Chúng có mặt cắt thường ở dạng hình vuông, hình
chữ nhật hoặc hình bát giác, và một đầu dày hơn đầu khác để thuận
tiện cho việc lấy ra khỏi khuôn. Chúng có bề mặt đều và đồng dạng và
đặc biệt là không được có khuyết tật.
Thỏi được cán hoặc rèn tiếp thường thì thành các bán thành phẩm
nhưng đôi khi trực tiếp thành các thanh, tấm hoặc các sản phẩm hoàn
thiện khác.
(II) CÁC DẠNG THÔ KHÁC
Ngoài thép ở trạng thái nóng chảy, nhóm này cũng bao gồm các khối,
cục hoặc thanh khuấy luyện và cọc.
Khối và cục chủ yếu thu được từ những sản phẩm thiêu kết hoặc những
tập hợp sản xuất bằng cách hoàn nguyên trực tiếp quặng sắt hoặc bằng sự
kết tủa điện phân. Khi mà phần lớn của vảy xỉ đã được tách khỏi các khối
hoặc cục, sản phẩm ở trạng thái nhão, sử dụng một máy dập hoặc bằng
việc đánh ép xỉ ra hoặc rèn dập chúng, cọc và thanh khuấy luyện nhận
được sau đó đem cán sẽ thu được một sản phẩm với cấu trúc thớ sợi đặc
trưng vì hàm lượng xỉ của nó. Những sản phẩm này có ích cho những ứng
dụng đặc biệt, ví dụ như xích neo và móc nâng.  
Nhóm này không bao gồm:
(a) Thỏi đúc phế liệu nấu chảy lại (nhóm 72.04).
(b) Các sản phẩm thu được bằng việc đúc liên tục (nhóm 72.07).
72.07 - Sắt hoặc thép không hợp kim ở dạng bán thành phẩm.  
- Có hàm lượng carbon dưới 0,25% tính theo trọng
lượng:
7207.11 - - Mặt cắt ngang hình chữ nhật (kể cả hình vuông), có
chiều rộng nhỏ hơn hai lần chiều dày
7207.12 - - Loại khác, có mặt cắt ngang hình chữ nhật (trừ hình
vuông)
7207.19 - - Loại khác
7207.20  -  Có hàm lượng carbon từ 0,25% trở lên tính theo trọng
lượng
Các bán thành phẩm được định nghĩa trong Chú giải 1(ij) của
chương này. Với các mục đích của Chú giải này, khái niệm "phải qua
cán nóng thô" áp dụng cho những sản phẩm đã chịu một quy trình cán,
tạo cho chúng một bề ngoài thô nhám.  
Nhóm này bao gồm phôi thép cán thô, phôi thanh, cốt thép tròn, phiến,
phôi tấm, các mảnh rời được tạo hình thô bằng việc rèn, các phôi để
tạo sản phẩm cho thép góc, khuôn hoặc hình, và tất cả các sản phẩm
thu được bằng việc đúc liên tục.  
(A) PHÔI THÉP CÁN THÔ, PHÔI THANH, CỐT THÉP TRÒN,
PHIẾN VÀ PHÔI TẤM
Tất cả các sản phẩm thu được qua cán nóng hoặc rèn các thỏi, cọc và
thanh khuấy luyện được phân loại trong nhóm 72.06. Chúng là những
bán thành phẩm dùng cho cán nóng hoặc rèn tiếp theo. Vì vậy mà
chúng không đòi hỏi phải được làm chính xác về kích cỡ, các cạnh
mép không chính xác và các bề mặt thường lồi hoặc lõm và có thể vẫn
còn giữ lại các dấu vết gây ra trong quá trình sản xuất (ví dụ các dấu
của trục lăn).  
Phôi thép cán thô thường có hình vuông theo mặt cắt ngang và lớn
hơn phôi thanh; dạng phôi thanh có thể có hình vuông hoặc hình chữ
nhật. Cả hai loại được sử dụng để cán lại thành các thanh, que, góc,
khuôn và hình, hoặc để sản xuất các vật rèn.  
Cốt thép tròn có mặt cắt ngang hình tròn hoặc hình đa giác với số
cạnh lớn hơn bốn và chủ yếu được sử dụng như những sản phẩm trung
gian để sản xuất các ống thép không ghép nối. Chúng có thể được phân
biệt với các thanh và thỏi không chỉ bởi các tính chất chung chung cho
tất cả các bán thành phẩm mà còn bởi thực tế là chúng thường được
cung cấp với chiều dài 1 đến 2 mét và các đầu của chúng thường được
cắt bằng đèn hàn xì - dụng cụ mà không được dùng cho trường hợp các
thanh, với các thanh thì thường được cắt chính xác hơn.  
Phiến và phôi tấm cũng có hình chữ nhật (trừ hình vuông) ở mặt cắt
ngang nhưng chúng có chiều rộng lớn hơn đáng kể so với chiều dày,
các phiến dày hơn các phôi tấm. Các phiến vì vậy mà thường được cán
lại thành các tấm, trong khi các phôi tấm thường được sử dụng để sản
xuất các tấm mỏng và dải. Các thanh thép tráng thiếc (sắt tây) là một
dạng của phôi tấm được sử dụng trong sản xuất tấm thép tráng thiếc
(sắt tây). Để đánh giá sự khác biệt giữa phiến và phôi tấm và thép tấm
nào đó, xem Chú giải của nhóm 72.08 ở dưới.
(B) CÁC MẢNH RỜI ĐƯỢC TẠO HÌNH THÔ  
BẰNG VIỆC RÈN
Những loại này là bán thành phẩm có hình dạng ngoài thô nhám và
dung sai về kích thước lớn, được sản xuất từ khối hoặc thỏi bằng tác
động của búa máy hoặc các máy rèn dập. Chúng có hình dạng thô để
sản phẩm cuối cùng được sản xuất không có quá nhiều dư thừa, nhưng
nhóm này chỉ bao gồm những mảnh rời đòi hỏi sự tạo hình đáng kể
tiếp theo trong lò rèn, máy dập, máy tiện... Ví dụ nhóm này sẽ bao gồm
một thỏi được rèn thô thành hình chữ chi phẳng và đòi hỏi tạo hình tiếp
theo nhằm sản xuất một trục khuỷu dùng trong hàng hải, nhưng nhóm
này sẽ không bao gồm một trục khuỷu rèn đã sẵn sàng cho gia công
cắt gọt cuối cùng. Nhóm này tương tự cũng loại trừ các vật rèn khuôn
và các vật dập được sản xuất bởi phương pháp rèn giữa các khuôn vì
các sản phẩm được sản xuất bằng những qui trình này đã sẵn sàng cho
sự gia công cắt gọt cuối cùng.  
(C) CÁC PHÔI ĐỂ TẠO GÓC, KHUÔN HOẶC HÌNH
Các phôi tạo góc, khuôn hoặc hình có thể có một mặt cắt ngang dạng
phức hợp được làm cho thích hợp với hình dạng của các thành phẩm
và quá trình cán tương ứng. Nhóm này bao gồm ví dụ như các phôi để
làm các dầm có bản cánh rộng hoặc dầm xà.
(D) BÁN THÀNH PHẨM THU ĐƯỢC BẰNG QUÁ TRÌNH ĐÚC
LIÊN TỤC
Nhóm này bao gồm tất cả các bán thành phẩm sắt hoặc thép không hợp
kim, theo bất cứ dạng nào, thu được bằng quá trình đúc liên tục.
Trong quá trình này thép được chuyển từ nồi rót trong một bộ phân phối,
bộ phân phối này cấp các đường dòng chảy đúc khác nhau. Những
đường dòng chảy này bao gồm:  
(a) Một khuôn đúc, không có đáy, cùng với các bộ phận làm nguội của
nó;
(b) Một hệ thống bên ngoài khuôn đúc để phun mù nước nhằm làm
nguội kim loại đúc;
(c) Một nhóm các con lăn băng chuyền cho phép tách đều kim loại đã
đông đặc;  
(d) Một hệ thống các máy cắt, tiếp theo là một bộ phận kéo rút phôi.
Về các tiêu chuẩn để tạo nên sự khác biệt giữa các sản phẩm thu được
bằng quá trình đúc liên tục và các sản phẩm khác, xem mục (III) của
Chú giải chung cho chương này.
72.08 - Các sản phẩm sắt hoặc thép không hợp kim được cán phẳng,
có chiều rộng từ 600mm trở lên, được cán nóng, chưa dát phủ
(clad), phủ, mạ (coated) hoặc tráng (plated) (+).
7208.10 - Dạng cuộn, chưa được gia công quá mức cán nóng, có
hình dập nổi
⦁    Loại khác, dạng cuộn, chưa được gia công quá mức
cán nóng, đã ngâm tẩy gỉ:
7208.25 - - Chiều dày từ 4,75 mm trở lên  
7208.26 - - Chiều dày từ 3mm đến dưới 4,75 mm
7208.27 - - Chiều dày dưới 3 mm
- Loại khác, dạng cuộn, chưa được gia công quá mức
cán nóng:  
7208.36 - - Chiều dày trên 10 mm
7208.37 - - Chiều dày từ 4,75 mm đến 10 mm
7208.38 - - Chiều dày từ 3 mm đến dưới 4,75 mm
7208.39 - - Chiều dày dưới 3 mm
7208.40 - Không ở dạng cuộn, chưa được gia công quá mức cán
nóng, có hình dập nổi trên bề mặt
⦁    Loại khác, không ở dạng cuộn, chưa được gia công
quá mức cán nóng:
7208.51 - - Chiều dày trên 10 mm
7208.52 - - Chiều dày từ 4,75 mm đến 10mm  
7208.53 - - Chiều dày từ 3 mm đến dưới 4,75 mm
7208.54 - - Chiều dày dưới 3 mm:  
7208.90 - Loại khác
Các sản phẩm cán phẳng được định nghĩa trong các Chú giải 1 (k)
của Chương này.
Các sản phẩm thuộc nhóm này có thể đã phải chịu những xử lý bề mặt
sau đây:
(1) Sự cạo gỉ, tẩy gỉ bằng axít, cạo vảy và các phương pháp khác nhằm
bóc vảy ôxít hoặc vỏ cứng hình thành trong quá trình nung kim loại.  
(2) Lớp tráng thô có dụng ý duy nhất là bảo vệ sản phẩm khỏi sự gỉ hoặc
sự ôxy hoá khác, nhằm ngăn ngừa sự trượt trong quá trình vận
chuyển và làm thuận lợi cho quá trình xử lý, ví dụ: Sơn có chứa một
chất màu hoạt tính chống gỉ như bột chì đỏ, bột kẽm, ôxít kẽm, kẽm
crômat, ôxít sắt (sắt minium, bột đỏ của hiệu kim hoàn) và các lớp
tráng không nhuộm màu với nền là dầu, mỡ bôi trơn, sáp, sáp
paraphin, graphit, hắc ín và bitum.  
(3) Đánh bóng, miết bóng hoặc các xử lý tương tự.  
(4) Sự ôxy hoá nhân tạo (bằng một số phương pháp hoá học, như sự
nhúng chìm trong một dung dịch ôxy hoá), tráng nước bóng, nhuộm
xanh (sự ủ xanh) nhuộm nâu hoặc tạo màu xám đồng (bằng các kỹ
thuật khác nhau), những phương pháp này cũng tạo một màng ôxít
trên bề mặt sản phẩm, nhằm làm hình dạng bề ngoài của chúng tốt
hơn. Các quy trình này làm tăng tính chống gỉ.  
(5) Xử lý bề mặt bằng các phương pháp hoá học, như:
⦁    sự phốt phát hoá, bao gồm sự nhúng chìm sản phẩm trong một
dung dịch các phốt phát axít kim loại, đặc biệt là những phốt
phát axít mangan, sắt và kẽm; quá trình này được hiểu là quá
trình tráng phốt phát chống gỉ hoặc quá trình phốt phát hoá, tuỳ
thuộc vào khoảng thời gian của quy trình và nhiệt độ bể dung
dịch;
⦁    oxalat hoá, borat hoá,.. sử dụng các phương pháp tương tự như
các phương pháp đối với sự phốt phát hoá, với các muối và axit
thích hợp
⦁    crômat hoá, bao gồm sự nhúng chìm sản phẩm trong một dung
dịch mà các thành phần chính của nó là axit crômic và crômat;
Những quá trình xử lý bề mặt bằng phương pháp hoá học này có lợi
thế bảo vệ bề mặt kim loại, làm thuận lợi cho bất kỳ sự biến dạng
nguội sau này của sản phẩm xử lý và cho việc sử dụng các loại sơn
hoặc các lớp tráng bảo vệ phi kim loại khác.
Các sản phẩm cán phẳng thuộc nhóm này có thể có các hình dập nổi
thu được trực tiếp từ quá trình cán, như khe rãnh, gờ, ô vuông, hình
giọt lệ, núm hình thoi, hoặc chúng có thể đã được gia công sau khi
cán (ví dụ như đục lỗ, làm gợn sóng, vát cạnh, lượn tròn ở các rìa
cạnh), với điều kiện bằng cách đó chúng không mang tính chất của
các sản phẩm hoặc mặt hàng thuộc các nhóm khác.  
Nhóm này tuy nhiên không bao gồm các sản phẩm cán phẳng,
những sản phẩm đã được tráng, mạ hoặc phủ kim loại hoặc phủ các
chất phi kim loại như sơn, men hoặc chất dẻo (nhóm 72.10).  
Nhóm này cũng không bao gồm những sản phẩm cán phẳng đã
được mạ các kim loại quí (Chương 71).  
"Sản phẩm cán phẳng được làm gợn sóng" có nghĩa là những sản phẩm
có hình gợn sóng đều ở dạng một đường uốn cong (ví dụ có hình sin).
Đối với mục đích xác định việc phân loại, độ rộng của cạnh được làm
lượn sóng sẽ được hiểu như độ dài có thực của nó ở dạng đã được làm
lượn sóng. Tuy nhiên, nhóm này loại trừ những sản phẩm được gọi là
có gân có một mặt cắt góc cạnh (ví dụ như hình vuông, hình tam giác,
hoặc hình thang) (thường thuộc nhóm 72.16).
Nhóm này cũng gồm các sản phẩm cán phẳng có một hình dạng
khác với hình chữ nhật hoặc hình vuông, có kích cỡ bất kỳ, với điều
kiện chúng không mang đặc tính của các mặt hàng sản phẩm thuộc
các nhóm khác.  
Nhóm này bao gồm, ngoài những mặt hàng khác, "cuộn rộng", "thép
lá" và "thép tấm".
Nhóm này cũng bao gồm một số các sản phẩm có tên "thép tấm
rộng" (một số trong chúng được gọi là"thép tấm phổ dụng" ở một số
nước trên thế giới.
Với các mục đích của nhóm này, "thép tấm rộng" là những sản phẩm
có mặt cắt ngang hình chữ nhật (không phải là hình vuông), không ở
dạng cuộn, được cán nóng trên cả bốn mặt trong một khuôn hộp kín
hoặc máy cán vạn năng, có chiều dày không nhỏ hơn 4 mm, và có
chiều rộng từ 600 mm trở lên nhưng không vượt quá 1.250 mm.  
Do đó, "thép tấm rộng" có các cạnh thẳng hơn nhiều và được gia
công tinh chính xác hơn và các rìa sắc hơn so với các cạnh và rìa của
các "cuộn rộng", "thép lá " hoặc " thép tấm". Chúng không bao giờ
được cán lại nhưng được sử dụng trong kết cấu thép, ... mà không
cần sự gia công cắt gọt các rìa tiếp theo.  
"Cuộn rộng", "thép tấm" và "thép lá" được tạo ra bằng cách cán nóng
các thỏi, phiến và phôi tấm, đôi khi được gia công tiếp theo bởi qui
trình cắt ngang và cắt dọc.  
"Cuộn rộng" có thể khác biệt với "thép lá" và "thép tấm " vì "thép
tấm" và "thép lá" biểu hiện dạng phẳng dẹt trong khi "cuộn rộng"
biểu hiện ở dạng quấn trong các cuộn gồm các lớp kế tiếp chồng lên
nhau với các mặt cạnh hầu như phẳng.  
"Cuộn rộng" cán nóng hoặc được sử dụng trực tiếp trong cùng phạm
vi như "thép tấm lá" và "thép tấm bản" hoặc được biến đổi thành các
sản phẩm khác như "thép lá" và "thép tấm", ống thép hàn, tạo thành
các góc, khuôn hoặc hình.
"Thép lá" và "thép tấm" được sử dụng trong công nghiệp đóng tàu,
đầu máy toa xe đường sắt, thùng, nồi hơi, cầu và các kết cấu khác
nơi mà đòi hỏi độ bền lớn. Một số "thép lá" và "thép tấm" có thể có
kích thước tương tự như kích thước của phiến và phôi tấm. Tuy
nhiên, chúng có thể khác biệt với phiến và phôi tấm vì:
(1) Chúng phần lớn thường được cán ngang (dọc và ngang) và đôi khi
được cán xiên chéo trong khi mà phiến và phôi tấm được cán thô chỉ
theo chiều dọc (trong máy cán phôi tấm hoặc máy cán thô).
(2) Các cạnh mép của chúng thường bị cắt hoặc cắt bằng ngọn lửa
và biểu hiện các dấu vết của dụng cụ cắt hoặc ngọn lửa trong khi
mà các phiến và phôi tấm có các cạnh mép lượn tròn.  
(3) Dung sai đối với độ dày và các khuyết tật bề mặt là rất chặt chẽ
trong khi mà các phiến và phôi tấm không có độ dày đều và biểu
hiện các khuyết tật bề mặt khác nhau.  
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Sản phẩm dạng lưới được tạo hình bằng phương pháp đột dập và
kéo  dãn thành lưới của sắt hoặc thép (nhóm 73.14).  
(b) Các phôi của các mặt hàng thuộc Chương 82.
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm: 7208.10, 7208.25, 7208.26, 7208.27, 7208.36,
7208.37, 7208.38, 7208.39, 7208.40, 7208.51, 7208.52, 7208.53 và
Ngoài cán nóng, các sản phẩm thuộc phân nhóm này có thể đã qua
quá trình gia công hoặc những xử lý bề mặt sau:  
(1) Cán phẳng nóng (là phẳng).  
(2) Ủ, tôi cứng, ram, tôi cứng bề mặt, nitrua hoá và những xử lý nhiệt  
tương tự nhằm làm tốt hơn các đặc tính của kim loại.
(3) Không tính đến những nội dung yêu cầu khác, những xử lý bề mặt
được mô tả trong các mục (1) và (2) của đoạn thứ hai trong Chú
giải cho nhóm 72.08.  
Tẩy sạch gỉ có thể được thực hiện:  
(a) tẩy gỉ bằng axít hoặc xử lý bằng sự khử (các phương pháp hoá
học hoặc phương pháp nhiệt), có hoặc không kết hợp với xử lý
bằng vôi tôi (sự tôi vôi).  
(b) bằng cách làm sạch gỉ cơ học (bào, mài thô, đánh cát thô, phun
cát ...).  
Các sản phẩm được làm sạch gỉ bằng các phương pháp cơ học thông
thường có thể được nhận dạng bởi các đặc tính sau:
Thép bào có một bề mặt sáng bóng với những dấu vết
thô nhám song song liên tiếp có thể nhìn thấy được rõ
ràng bằng mắt thường và có thể cảm nhận bằng xúc
giác;  
Các bề mặt mài thô hoặc đánh cát thô thường gồ ghề
không phẳng, với một bề mặt đánh bóng mờ. Những dấu
vết để lại bởi dụng cụ mài có thể nhìn thấy rất rõ. Mặt
khác sự mài tinh sẽ tạo một bề mặt hoàn toàn nhẵn bóng
sáng và có thể còn có tính phản chiếu. Thường thì
những dấu vết do dụng cụ gia công để lại hầu như không
nhìn thấy được.  
(4)  Việc thực hiện qui trình gia công lớp bề mặt và sự ép đã mô tả trong
đoạn cuối cùng của phần (IV) (B) của Chú giải chung cho chương
này.  
(5) Dập nổi, dập, in,... với các chữ viết đơn giản, ví dụ như nhãn hiệu.  
(6) Cắt thành hình chữ nhật (gồm cả hình vuông).  
(7) Những qui trình dành riêng để phát hiện các vết nứt rạn trong  
kim loại.
72.09 - Các sản phẩm sắt hoặc thép không hợp kim được cán phẳng,
có chiều rộng từ 600 mm trở lên, cán nguội (ép nguội), chưa
dát phủ (clad), phủ, mạ (coated) hoặc tráng (plated) (+).
⦁    Ở dạng cuộn, chưa được gia công quá mức cán nguội
(ép nguội):
7209.15 - - Có chiều dày 3 mm trở lên
7209.16  - - Có chiều dày trên 1 mm đến dưới 3 mm
7209.17 - - Có chiều dày từ 0,5 mm đến 1 mm
7209.18 - - Có chiều dày dưới 0,5 mm
- Không ở dạng cuộn, chưa được gia công quá mức cán
nguội (ép nguội):
7209.25 - - Có chiều dày từ 3 mm trở lên  
7209.26 - - Có chiều dày trên 1 mm đến dưới 3 mm
7209.27 - - Có chiều dày từ 0,5 mm đến 1 mm
7209.28 - - Có chiều dày dưới 0,5 mm
7209.90 - Loại khác
Các điều khoản của Chú giải cho nhóm 72.08, với những sửa đổi thích
hợp, áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này.
Các tiêu chuẩn về sự khác biệt giữa các sản phẩm cán nguội thuộc nhóm này
và các sản phẩm được cán nóng thuộc các nhóm 72.08 được trình bày trong
Chú giải chung cho Chương này - xem phần (IV) (B).
Bởi vì các tính chất đặc biệt của chúng (bề mặt hoàn thiện hơn, có khả
năng dập nguội tốt hơn, sai số cho phép về kích thước chặt chẽ hơn,
chiều dày thường giảm mỏng hơn, độ bền cơ học cao hơn, ...), các sản
phẩm thuộc nhóm này nói chung được sử dụng cho những mục đích
khác với những mục đích của những bộ phận cán nóng tương ứng có thể
đổi lẫn được của chúng, những bộ phận mà chúng ngày càng có chiều
hướng thay thế. Các sản phẩm thuộc nhóm này đặc biệt được sử dụng
trong sản xuất thân xe ô tô, đồ đạc bằng kim loại, đồ dùng trong nhà, lò
sưởi trung tâm và để sản xuất các góc, khuôn và hình bằng một phương
pháp nguội (hoặc tạo hình hoặc ghép hình). Chúng dễ được tráng (bằng
sự mạ thiếc, mạ điện, sơn bóng, tráng men, sơn mài, sơn, phủ chất
dẻo,...).  
Chúng thường được xuất xưởng sau khi ủ, thường hóa hoặc sự xử lý
nhiệt khác. Nếu chúng rất mỏng (thường dưới 0,5 mm) nếu bề mặt của
chúng đã được tẩy gỉ nhằm làm cho chúng thích hợp để mạ thiếc, sơn
bóng hoặc in, chúng có thể được mô tả như "tôn đen", thậm chí cả khi
chúng được cuộn.  
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 7209.15, 7209.16, 7209.17, 7209.18, 7209.25,
7209.26, 7209.27 và 7209.28
Ngoài cán nguội, các sản phẩm thuộc những phân nhóm này đã qua
quá trình gia công hoặc xử lý bề mặt sau:  
(1) Cán phẳng.  
(2) Ủ, tôi cứng, ram, tôi cứng bề mặt, nitrua hoá và các quá trình xử lý
nhiệt tương tự nhằm cải thiện các đặc tính của kim loại;  
(3) Tẩy gỉ.  
(4) Các quá trình xử lý bề mặt đã được mô tả trong Mục (2) của đoạn
thứ hai trong Chú giải cho nhóm 72.08.  
(5) Dập nổi, dập, in,... các chữ viết đơn giản, ví dụ như các nhãn hiệu.  
(6) Cắt thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông).  
(7) Những qui trình được dùng riêng để phát hiện các khuyết tật, hư
hỏng trong kim loại.
72.10 - Các sản phẩm sắt hoặc thép không hợp kim được cán phẳng,
có chiều rộng từ 600mm trở lên, đã dát phủ (clad), phủ, mạ
(coated) hoặc tráng (plated) (+).
⦁    Được mạ hoặc tráng thiếc:
7210.11 - - Có chiều dày từ 0,5 mm trở lên
7210.12 - - Có chiều dày dưới 0,5 mm
7210.20 - Được mạ hoặc tráng chì, kể cả hợp kim chì thiếc
7210.30 - Được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân
-  Được mạ hoặc tráng kẽm bằng các phương pháp khác:
7210.41 - - Dạng lượn sóng  
7210.49 - - Loại khác
7210.50 - Được mạ hoặc tráng bằng oxit Crom hoặc bằng Crom
và oxit Crom  
- Được mạ hoặc tráng nhôm:
7210.61 - - Được mạ hoặc phủ hợp kim nhôm - kẽm
7210.69 - - Loại khác
7210.70 - Được sơn, quét vécni hoặc phủ plastic
7210.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm cùng một dạng sản phẩm như được mô tả trong
nhóm 72.08 hoặc 72.09, nhưng để xếp vào nhóm này chúng phải được
phủ, mạ hoặc tráng.  
Với mục đích của nhóm này, khái niệm "được mạ, phủ, hoặc tráng" áp
dụng cho những sản phẩm mà đã phải chịu một trong các xử lý được mô
tả trong phần (C) (2), các mục (d) (iv), (d) (v) và (e) của Chú giải chung
cho Chương này.  
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Các sản phẩm cán phẳng phủ kim loại quí (Chương 71).  
(b) Các sản phẩm thuộc nhóm 83.10.
Chú giải phân nhóm:
Với mục đích của các phân nhóm thuộc nhóm 72.10, các sản phẩm đã
chịu hơn một quá trình trong số các quá trình tráng, mạ hoặc phủ thì sẽ
được phân loại theo quá trình sau cùng. Tuy nhiên, các quá trình xử lý bề
mặt bằng phương pháp hoá học, ví dụ như Crômat hoá, không được xem
như quá trình sau cùng.
Các phân nhóm 7210.30, 7210.41, 7210.49
Các sản phẩm của phân nhóm, 7210.30 đã chịu sự gia công đã mô tả
trong phần (IV) (C) (2) (d) (iv), phần viết lui vào đầu dòng thứ hai của
Chú giải chung cho Chương 72 và các sản phẩm của các phân nhóm
7210.41, 7210.49 đã chịu bất kỳ qui trình gia công nào trong số những
qui trình gia công khác được mô tả trong phần (IV) (C) (2) (d) (iv) của
Chú giải.  
Để phân biệt giữa các sản phẩm được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương
pháp điện phân và các sản phẩm được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương
pháp khác, có thể sử dụng phương pháp sau:
⦁    Các sản phẩm trước tiên phải được xem xét hình dạng bề ngoài hoặc
nếu không thì xem xét vảy kim loại bởi sự quan sát bằng mắt thường
hoặc kính hiển vi.
⦁    Nếu vảy kim loại được phát hiện, thì chúng là những sản phẩm được
tráng kẽm bằng phương pháp nhúng nóng. Nếu vảy kim loại mà
không bị phát hiện, ngay cả khi được phóng đại 50 lần, thì lớp tráng
phải được phân tích hoá học.
⦁    Nếu nhôm được phát hiện, hoặc chì được phát hiện quá 0,5%, thì
chúng là những sản phẩm được tráng kẽm bằng cách nhúng chìm.
Nếu không, chúng là những sản phẩm được tráng kẽm bằng phương
pháp điện phân.
72.11 - Các sản phẩm sắt hoặc thép không hợp kim cán phẳng, có
chiều rộng dưới 600mm, chưa dát phủ (clad), phủ, mạ (coated)
hoặc tráng (plated) (+).
⦁    Chưa được gia công quá mức cán nóng:
7211.13 - - Được cán 4 mặt hoặc ở dạng khuôn hộp kín, có chiều
rộng trên 150 mm và chiều dày không dưới 4 mm,
không ở dạng cuộn và không có hình dập nổi
7211.14 - - Loại khác, có chiều dày từ 4,75 mm trở lên
7211.19 - - Loại khác
⦁    Chưa được gia công quá mức cán nguội (ép nguội):
7211.23 - - Có hàm lượng carbon dưới 0,25% tính theo trọng
lượng
7211.29 - - Loại khác
7211.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm cùng loại sản phẩm được mô tả trong nhóm 72.08
hoặc 72.09, nhưng để xếp vào nhóm này, chúng phải có một chiều rộng
dưới 600 mm.  
Các điều khoản của các Chú giải cho các nhóm 72.08 và 72.09, với
những sửa đổi phù hợp, áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này
ngoại trừ những sản phẩm có liên quan đến độ rộng (xem Chú giải chung
cho chương này).  
Các sản phẩm thuộc nhóm này gồm cả "thép tấm rộng" ("thép tấm phổ
dụng ") có chiều rộng trên 150 mm nhưng dưới 600 mm, và vành đai,
dải.  
Đai và dải thường được chế tạo bằng việc cán nóng lại các bán thành
phẩm thuộc nhóm 72.07. Chúng tiếp theo có thể được cán nguội để cung
cấp một sản phẩm mỏng hơn và chất lượng tốt hơn. Dải còn được sản
xuất bằng cách xẻ dọc "cuộn rộng", "thép lá" hoặc "thép tấm" thuộc
nhóm 72.08 hoặc 72.09.  
Các sản phẩm thuộc nhóm này có thể được gia công (ví dụ như làm gợn
sóng, làm có gân, chạm nổi, vát cạnh hoặc lượn tròn ở các cạnh mép),
với điều kiện là chúng bằng cách đó không mang tính chất của các mặt
hàng hoặc sản phẩm thuộc các nhóm khác.
Chúng được sử dụng cho nhiều mục đích, ví dụ như đóng đai các hộp,
thùng và các đồ chứa khác; được sử dụng như nền cho việc mạ thiếc; sản
xuất các ống hàn, dụng cụ (ví dụ lưỡi cưa), các góc, khuôn và hình được
tạo hình nguội, băng chuyền và dây đai thiết bị, trong công nghiệp ô tô
và cho việc sản xuất nhiều mặt hàng khác (bằng việc dập nổi, tạo nếp,
Nhóm này không bao gồm:  
(a)  Đai xoắn bằng sắt hoặc thép, có đặc tính sử dụng để làm hàng rào
(nhóm 73.13).  
(b)  Dải lượn sóng với một cạnh mép có hình răng cưa hoặc vát
nghiêng, có đinh gấp theo chiều dài được sử dụng  
để lắp ráp
các bộ phận bằng gỗ (nhóm 73.17).
(b)  Các phôi của các mặt hàng thuộc Chương 82 (gồm cả phôi lưỡi
dao cạo ở dạng dải).
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 7211.13, 7211.14, 7211.19
Xem Chú giải các phân nhóm 7208.10, 7208.25, 7208.26, 7208.27,
7208.53 và 7208.54.
Các phân nhóm 7211.23, 7211.29
Xem Chú giải cho các phân nhóm: 7209.15, 7209.16, 7209.17, 7209.18,
7209.25, 7209.26, 7209.27 và 7209.28.
72.12 - Các sản phẩm sắt hoặc thép không hợp kim cán phẳng, có
chiều rộng dưới 600mm, đã dát phủ (clad), phủ, mạ (coated)
hoặc tráng (plated) (+).
7212.10 - Được phủ, mạ hoặc tráng thiếc
7212.20 - Được phủ, mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện
phân
7212.30 - Được phủ, mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp khác
7212.40 - Được sơn, quét vécni hoặc phủ plastic
7212.50 - Được phủ, mạ hoặc tráng bằng phương pháp khác
7212.60 - Được dát phủ
Nhóm này bao gồm cùng loại sản phẩm như được mô tả trong nhóm
72.10 nhưng để thuộc nhóm này, chúng phải có chiều rộng dưới  
Nhóm này không bao gồm dải cách điện (nhóm 85.44).
Chú giải phân nhóm.
Xem Chú giải cho các phân nhóm thuộc nhóm 72.10 đối với các sản
phẩm đã chịu nhiều hơn một quá trình bọc, phủ, hoặc mạ.  
Các phân nhóm 7212.20, 7212.30
Xem Chú giải cho các phân nhóm 7210.30, 7210.41, và 7210.49.
72.13 - Sắt hoặc thép không hợp kim, dạng thanh và que, ở dạng cuộn
cuốn không đều, được cán nóng.  
7213.10 - Có răng khía, rãnh, gân hoặc các dạng khác được tạo
thành trong quá trình cán
7213.20 - Loại khác, bằng thép dễ cắt gọt  
- Loại khác:
7213.91 - - Có đường kính mặt cắt ngang hình tròn dưới 14 mm
7213.99 - - Loại khác
Các thanh và que, được cán nóng, ở dạng cuộn cuốn không đều được
định nghĩa trong Chú giải 1 (l) của chương này.
Những sản phẩm này (còn được biết như phôi để cán kéo dây) chủ yếu
được sử dụng để kéo thành dây (nhóm 72.17) nhưng chúng còn được
sử dụng cho những mục đích khác đặc biệt trong vật liệu xây dựng (ví
dụ như lưới hàn), trong công nghiệp đai ốc và bulông, trong công
nghiệp kéo nguội, và để sản xuất các que hàn.
Nhóm này còn gồm cả các thanh và que làm cốt thép của bê tông,
những sản phẩm này được cán với những mấu lồi hoặc các vết lõm (ví
dụ như răng, rãnh, bích), với điều kiện hình dạng mặt cắt ngang chính
của chúng tương tự với một trong các dạng hình học được định rõ trong
Chú giải 1(l) của chương. Những mấu lồi hoặc các vết lõm chỉ có mục
đích để cải thiện sự liên kết với bê tông,...  
Nhóm này không bao gồm các thanh và que của kiểu này, đã được nắn
thẳng và cắt theo chiều dài (nhóm 72.14).
72.14 - Sắt hoặc thép không hợp kim ở dạng thanh và que khác, chưa
được gia công quá mức rèn, cán nóng, kéo nóng hoặc ép đùn
nóng, nhưng kể cả những dạng này được xoắn sau khi cán.
7214.10 - Đã qua rèn
7214.20 - Có răng khía, rãnh, gân hoặc các dạng khác được tạo
thành trong quá trình cán hoặc xoắn sau khi cán
7214.30 - Loại khác, bằng thép dễ cắt gọt
- Loại khác:
7214.91 - - Mặt cắt ngang hình chữ nhật (trừ hình vuông)
7214.99 - - Loại khác
Các thanh và que khác được định nghĩa trong Chú giải 1 (m) cho
Chương này.  
Các thanh và que thuộc nhóm này thường được làm ra bởi quá trình
cán nóng hoặc rèn các phôi cán thô, phôi thanh,  cừ, thanh khuấy luyện,
đôi khi chúng cũng được làm ra bởi các quá trình kéo nóng hoặc đúc ép
nóng. Nhìn chung, các thanh và que có thể phân biệt được với các sản
phẩm được cán, rèn hoặc kéo khác vì:  
Chúng biểu hiện một dạng ngoài được hoàn thiện và chính xác
hơn các thanh khuấy luyện (nhóm 72.06), thép cán thô, phôi
thanh, cốt thép tròn, tấm phiến hoặc phôi tấm (nhóm 72.07). Mặt
cắt ngang của chúng đồng đều và khi là hình vuông hoặc hình
chữ nhật thì chúng có các cạnh rìa sắc.  
Tỷ lệ giữa chiều dầy và chiều rộng của chúng lớn hơn hẳn so với
những sản phẩm thuộc nhóm 72.08 hoặc 72.11.
Các thanh và que thuộc nhóm này chủ yếu được xuất xưởng dưới dạng
các đoạn thẳng hoặc trong các bó uốn cong.  
Các sản phẩm thuộc nhóm này có thể đã chịu các quá trình xử lý bề
mặt sau đây:  
Cạo gỉ, tẩy gỉ bằng axít, cạo và các quá trình khác nhằm bóc vảy
ôxít và vỏ cứng được tạo thành trong quá trình nung kim loại.  
Lớp phủ ngoài chỉ nhằm mục đích là để bảo vệ các sản phẩm
khỏi gỉ hoặc ôxy hoá khác, nhằm ngăn ngừa sự trơn trượt trong
quá trình vận chuyển và làm thuận lợi cho việc vận chuyển, ví
dụ như sơn có chứa chất màu hoạt tính chống gỉ như bột chì đỏ,
bột kẽm, ôxít kẽm, kẽm crômat, ôxít sắt (sắt minium, bột đỏ của
hiệu kim hoàn) và các lớp phủ ngoài không nhuộm màu với nền
là dầu, mỡ bôi trơn, sáp, sáp paraphin, graphit, hắc ín hoặc
Lấy những phần nhỏ kim loại cho các mục đích thử nghiệm.
Nhóm này cũng bao gồm:  
Các thanh hoặc que đã được cán với những mấu lồi hay vết lõm
(ví dụ như răng, rãnh, bích), với điều kiện là hình dạng mặt cắt
ngang chính của chúng tương tự với một trong các dạng hình
học được định rõ ở Chú giải 1(m) của Chương; những mấu lồi
hoặc vết lõm này phải có ý định là chỉ để làm tốt hơn sự liên kết
với bê tông, ...  
Các thanh và que đã được xoắn riêng sau khi cán, ví dụ như các
thanh đã được cán với hai bích dọc trở lên, những thanh này do
sự xoắn mà có dạng xoắn ốc (thép "xoắn"); và  
Các thanh và que có đục lỗ đơn nhằm làm việc vận chuyển được
thuận tiện.  
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm:  
Những sản phẩm gồm hai hay nhiều thanh cán được xoắn với
nhau (nhóm 73.08).  
Các mẩu cắt từ các thanh hoặc que với chiều dài không vượt quá
kích thước lớn nhất của mặt cắt ngang (nhóm 73.26).
72.15 - Sắt hoặc thép không hợp kim ở dạng thanh và que khác (+).
7215.10 - Bằng thép dễ cắt gọt, chưa được gia công quá mức tạo
hình nguội hoặc gia công kết thúc nguội
7215.50 - Loại khác, chưa được gia công quá mức tạo hình nguội
hoặc gia công kết thúc nguội
7215.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các thanh hoặc que trừ những thanh và que thuộc
nhóm 72.13 hoặc 72.14.  
Các thanh hoặc que thuộc nhóm này có thể:  
Thu được bằng sự tạo hình dáng nguội hoặc hoàn thiện nguội,
có nghĩa là đã chịu một qui trình gia công nguội qua một hoặc
nhiều khuôn kéo (các thanh được kéo nguội) hoặc đã chịu một
quá trình mài hoặc tiện (các thanh được mài hoặc được định cỡ).  
Đã chịu sự gia công (ví dụ như khoan hoặc định cỡ, hoặc đã chịu
các quá trình gia công bề mặt tiếp theo sau những qua trình xử lý
cho phép đối với những sản phẩm thuộc nhóm 72.14, như mạ,
tráng, phủ (xem phần (IV) (C) của Chú giải chung cho chương
này), với điều kiện rằng bằng cách đó chúng không mang đặc
tính của những mặt hàng hoặc sản phẩm thuộc các nhóm khác;  
Các thanh và que đã được tạo hình dáng nguội hoặc hoàn thiện nguội,
được xuất xưởng ở dạng các đoạn thẳng và do đó mà được phân biệt
với dây thuộc nhóm 72.17 luôn ở dạng cuộn.  
Nhóm này không bao gồm:
Sắt hoặc thép không hợp kim ở dạng thanh và que khác được
xoắn sau khi cán nóng (nhóm 72.14).  
Những thanh và que được khoan rỗng (nhóm 72.28).  
Các sản phẩm gồm hai hay nhiều thanh cán được xoắn với nhau
(nhóm 73.08).  
Sắt hoặc thép ở dạng thanh và que đã được vuốt thon (nhóm
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 7215.10, 7215.50
Ngoài sự tạo hình dáng nguội hoặc sự kết thúc nguội, các sản phẩm
thuộc phân nhóm này có thể đã chịu các quá trình gia công hoặc xử lý
bề mặt sau:  
Sự nắn thẳng.  
Những xử lý bề mặt được mô tả trong Mục (2) của đoạn thứ hai
của Chú giải cho nhóm 72.08.
Dập nổi, dập, in, .. với những chữ viết đơn giản, ví dụ như những
nhãn hiệu.  
Các qui trình được định sẵn dành riêng để phát hiện những
khuyết tật (vết nứt, vết rạn…) trong kim loại.
72.16 - Sắt hoặc thép không hợp kim dạng góc, khuôn, hình (+).
7216.10 - Hình chữ U, I hoặc H, chưa được gia công quá mức
cán nóng, kéo nóng hoặc ép đùn, có chiều cao dưới 80
- Hình chữ L hoặc chữ T, chưa được gia công quá mức cán
nóng, kéo nóng hoặc ép đùn, có chiều cao dưới 80 mm:
7216.21 - - Hình chữ L
7216.22 - - Hình chữ T
⦁    Hình chữ U, I hoặc H, chưa được gia công quá mức
cán nóng, kéo nóng hoặc ép đùn có chiều cao từ 80
mm trở lên:
7216.31 - - Hình chữ U
7216.32 - - Hình chữ I  
7216.33 - - Hình chữ H
7216.40 - Hình chữ L hoặc chữ T, chưa được gia công quá mức
cán nóng, kéo nóng hoặc ép đùn, có chiều cao từ 80
mm trở lên
7216.50 - Góc, khuôn và hình khác, chưa được gia công quá mức
cán nóng, kéo nóng hoặc ép đùn qua khuôn
⦁    Góc, khuôn và hình khác, chưa được gia công quá mức
tạo hình nguội hoặc gia công kết thúc nguội:  
7216.61 - - Thu được từ các sản phẩm cán phẳng
7216.69 - - Loại khác
- Loại khác:
7216.91 - - Được tạo hình nguội hoặc gia công kết thúc nguội từ
các sản phẩm cán phẳng
7216.99  - - Loại khác
Góc, khuôn và hình được định rõ trong Chú giải 1(n) của  
Chương này.
Các mặt cắt phổ biến nhất xếp vào nhóm này là mặt cắt hình chữ H, I,
T, Ômêga hoa (), Z và U (gồm cả thép chữ U) , các góc tù, nhọn và
vuông (L). Các góc có thể vuông hoặc lượn tròn, các nhánh có thể bằng
hoặc không bằng nhau, và các cạnh mép có thể được hoặc không được
làm hình bình cầu (các góc có hình bình cầu hoặc các dầm dùng trong
ngành đóng tàu).  
Các góc, khuôn và hình, mặt cắt thường được làm ra bởi các phương
pháp cán nóng, kéo nóng hoặc ép đùn nóng qua khuôn hoặc rèn nóng
hay rèn các phôi cán thô hoặc phôi dạng thanh.  
Nhóm này bao gồm cả những mặt hàng đã được tạo hình dáng nguội
hoặc hoàn thiện nguội (bằng phương pháp kéo nguội, ...) và còn bao
gồm các góc, khuôn và hình được làm bởi quá trình tạo hình dáng trên
một máy cán chữ hoặc bởi sự tạo dáng các tấm mỏng, tấm hoặc dải trên
một máy dập. Những loại được gọi là "tấm mỏng và tấm phiến có gân"
có tiết diện góc cạnh cũng được phân loại ở đây.  
Các sản phẩm thuộc nhóm này có thể đã chịu quá trình gia công như
khoan, dập hoặc xoắn hoặc đã chịu sự xử lý bề mặt như bọc, phủ hoặc
mạ - xem phần (IV) (C) của Chú giải chung cho chương này, với điều
kiện bằng cách đó chúng không mang đặc tính của các mặt hàng hoặc
sản phẩm thuộc các nhóm khác.
Những góc, khuôn và hình, có khối lượng nặng hơn (ví dụ như dầm, xà,
trụ cột và thanh dầm) được sử dụng trong các công trình xây dựng cầu, toà
nhà, cấu tạo tàu thuyền, ...; những sản phẩm nhẹ hơn được sử dụng trong
sản xuất các nông cụ, máy móc, thiết bị, ô tô, hàng rào, đồ đạc, cửa trượt
hoặc các đường ray mành chắn, gọng ô dù và nhiều mặt hàng khác.
Nhóm này không bao gồm:  
Các góc, khuôn và hình được hàn, và các tấm cọc cừ (nhóm
73.01), và vật liệu xây dựng đường ray xe điện và xe lửa (nhóm
Các mặt hàng được chuẩn bị để sử dụng trong cấu kiện công
trình (nhóm 73.08).
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 7216.10, 7216.21, 7216.22, 7216.31, 7216.32,
Nhằm phân loại các mặt cắt hình chữ U, I, H, L hoặc T trong những
phân nhóm này, chiều cao được xác định như sau:  
Các mặt cắt hình chữ U, I, hoặc H: Khoảng cách giữa các mặt
ngoài của hai mặt song song.  
Các mặt cắt hình L: Chiều cao của cạnh ngoài lớn nhất.
Các mặt cắt hình T: Tổng chiều cao của mặt cắt.  
Mặt cắt hình chữ I (bích hẹp hoặc bích trung bình) là một sản phẩm
với những bích (gờ) có chiều rộng không quá 0,66 lần chiều cao của
mặt cắt và dưới 300 mm.  
Các phân nhóm 7216.10, 7216.21, 7216.22, 7216.31, 7216.32,
7216.33, 7216.40 và 7216.50
Những điều khoản của Chú giải 72.14 liên quan đến các xử lý bề mặt
cũng được áp dụng cho những sản phẩm của những phân nhóm này.
Các phân nhóm 7216.61 và 7216.69  
Xem chú giải cho các phân nhóm 7215.10, 7215.50.
72.17 – Dây của sắt hoặc thép không hợp kim (+).
7217.10 - Không được mạ hoặc tráng, đã hoặc chưa được đánh
bóng
7217.20 - Được mạ hoặc tráng kẽm
7217.30 - Được mạ hoặc tráng kim loại cơ bản khác
7217.90 - Loại khác
Dây thuộc nhóm này được định nghĩa trong Chú giải 1(o) của  
chương này.  
Dây phần lớn được làm ra từ các thanh hoặc que được cán nóng thuộc
nhóm 72.13 bằng cách kéo chúng qua một khuôn nhưng cũng có thể
thu được bằng bất kỳ quá trình tạo hình dáng nguội nào khác (ví dụ cán
nguội). Dây biểu hiện ở dạng cuộn (với dạng cuộn không xoắn ốc hoặc
cuộn theo đường xoắn ốc, có hoặc không có trục đỡ).  
Dây mà đã được gia công (ví dụ: bằng cách tạo nếp uốn) vẫn thuộc
nhóm này, với điều kiện bằng cách đó nó không mang đặc tính của các
mặt hàng hoặc sản phẩm của các nhóm khác.
Dây được bao phủ bởi một vật liệu như vật liệu dệt nơi mà lõi sắt hoặc
thép là một yếu tố cần thiết và vật liệu khác chỉ đóng vai trò như một
lớp phủ (ví dụ dây sắt hoặc thép để sản xuất khung mũ (dây cho hiệu
làm mũ), và các cuống cho hoa nhân tạo hoặc ống cuốn tóc) cũng được
phân loại trong nhóm này.  
Dây được đưa vào sử dụng nhiều ví dụ như sản xuất vật liệu làm hàng
rào, lưới thép mịn, lưới đan, đinh, dây thừng, đinh ghim, kim, dụng cụ
và lò xo.  
Nhóm này không bao gồm:  
Sợi trộn kim loại (nhóm 56.05), dây xe hoặc dây thừng được gia
cố với dây (nhóm 56.07).  
Dây bện tao, dây thừng, dây cáp và các sản phẩm tương tự thuộc
nhóm 73.12.  
Dây thép gai, dây dẹt đơn xoắn (có gai hoặc không) được dùng
cho các vật liệu làm hàng rào (nhóm 73.13).  
Dây đôi như được sử dụng để làm bộ go máy dệt và được tạo
thành bởi việc hàn (bằng hợp kim dễ nóng chảy) hai nhánh dây
lại với nhau sau khi kéo, dây được xoắn vào các lỗ xâu hoặc các
vòng tại một hoặc cả hai đầu để buộc (nhóm 73.26).  
Các điện cực hàn đã được phủ, (nhóm 83.11)  
Dây có răng để sử dụng như kim chải, (kim chải bằng thép hoàn
toàn) (nhóm 84.48).  
Dây cách điện (gồm cả dây tráng men) (nhóm 85.44).  
Dây đàn cho các nhạc cụ (nhóm 92.09).  
Chú giải phân nhóm.
Xem chú giải cho các phân nhóm thuộc nhóm 72.10 đối với những sản
phẩm đã qua trên một qui trình trong các qui trình phủ, bọc, mạ.
PHÂN CHƯƠNG III
THÉP KHÔNG GỈ
TỔNG QUÁT
Thép chịu nhiệt, thép chống rão và bất cứ loại thép nào phù hợp với
tiêu chuẩn qui định tại Chú giải 1(e) chương này được phân loại là thép
không gỉ.
Do có độ chống gỉ cao nên thép không gỉ được đưa vào sử dụng phạm
vi rất rộng rãi ví dụ: trong nhà máy sản xuất thiết bị giảm thanh, bộ
chuyển đổi xúc tác hoặc bình chứa biến áp.
Phân chương này bao gồm thép không gỉ theo các dạng được nêu tại
nhóm 72.18 tới 72.23.
72.18 - Thép không gỉ ở dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác; bán thành  72.18 - Stainless steel in ingots or other primary forms; semi-finished
phẩm của thép không gỉ.
7218.10 -  Ở dạng thỏi đúc và các dạng thô khác
-  Loại khác:  
7218.91 - - Có mặt cắt ngang hình chữ nhật (trừ hình vuông)
7218.99 - - Loại khác
Những điều khoản của Chú giải cho các nhóm 72.06 và 72.07, với
những sửa đổi thích hợp áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này.
72.19 – Các sản phẩm của thép không gỉ cán phẳng, có chiều rộng từ
600 mm trở lên (+).
- Chưa được gia công quá mức cán nóng, ở dạng cuộn:  
7219.11 - - Có chiều dày trên 10 mm  
7219.12 - - Chiều dày từ 4,75 mm đến 10 mm  
7219.13 - - Chiều dày từ 3 mm đến dưới 4,75 mm  
7219.14 - - Chiều dày dưới 3 mm
⦁    Chưa được gia công quá mức cán nóng, không ở dạng
cuộn:  
7219.21 - - Chiều dày trên 10 mm  
7219.22 - - Chiều dày từ 4,75 mm đến 10 mm  
7219.23 - - Chiều dày từ 3 mm đến dưới 4,75 mm  
7219.24 - - Chiều dày dưới 3 mm  
- Chưa gia công quá mức cán nguội (ép nguội):
7219.31 - - Chiều dày từ 4,75 mm trở lên  
7219.32 - - Chiều dày từ 3 mm đến 4,75 mm  
7219.33 - - Chiều dày trên 1 mm đến dưới 3 mm
7219.34 - - Chiều dày 0,5 mm đến 1 mm  
7219.35 - - Chiều dày dưới 0,5 mm  
7219.90 - Loại khác  
Những điều khoản của các Chú giải cho các nhóm 72.08 đến 72.10, với
những sửa đổi thích hợp, áp dụng cho những sản phẩm thuộc nhóm này.  
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 7219.11, 7219.12, 7219.13, 7219.14, 7219.21,
7219.22, 7219.23, và 7219.24  
Xem Chú giải cho các phân nhóm 7208.10, 7208.25, 7208.26, 7208.27,
7208.53 và 7208.54.
Các phân nhóm 7219.31, 7219.32, 7219.33, 7219.34 và 7219.35
Xem Chú giải cho các phân nhóm 7209.15, 7209.16, 7209.17, 7209.18,
72.20 - Các sản phẩm thép không gỉ được cán phẳng, có chiều rộng
dưới 600 mm (+)
- Chưa được gia công quá mức cán nóng:  
7220.11 - - Chiều dày từ 4,75 mm trở lên
7220.12 - - Chiều dày dưới 4,75 mm:
7220.20 - Chưa được gia công quá mức cán nguội (ép nguội)
7220.90 - Loại khác
Những điều khoản của Chú giải cho nhóm 72.11 hoặc 72.12, với những
sửa đổi thích hợp, áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này.  
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 7220.11 và 7220.12
Xem Chú giải cho các phân nhóm 7208.10, 7208.25, 7208.26, 7208.27,
Phân nhóm 7220.20  
Xem Chú giải cho các phân nhóm 7209.15, 7209.16, 7209.17, 7209.18,
7209.25, 7209.26, 7209.27 và 7209.28.  
72.21 - Thanh và que thép không gỉ được cán nóng, dạng cuộn cuốn
không đều.  
Những điều khoản của Chú giải cho nhóm 72.13, với những sửa đổi
thích hợp, áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này.  
72.22 - Thép không gỉ dạng thanh và que khác; thép không gỉ ở dạng
góc, khuôn và hình khác (+).  
- Dạng thanh và que, chưa được gia công quá mức cán
nóng, kéo nóng hoặc ép đùn qua khuôn:  
7222.11 - - Có mặt cắt ngang hình tròn
7222.19 - - Loại khác
7222.20 - Dạng thanh và que, chưa được gia công tạo hình nguội
hoặc gia công kết thúc nguội
7222.30 - Các thanh và que khác
7222.40 - Các dạng góc, khuôn và hình
Những điều khoản của Chú giải cho các nhóm 72.14 đến 72.16,
với những sửa đổi thích hợp, áp dụng cho các sản phẩm thuộc
nhóm này.  
Chú giải phân nhóm  
Phân nhóm 7222.20
Xem Chú giải cho các phân nhóm 7215.10, 7215.50.
72.23 – Dây thép không gỉ.
Những điều khoản của chú giải cho nhóm 72.17, với những sửa đổi
thích hợp, áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này.  
Nhóm này không bao gồm dây thép không gỉ mảnh vô trùng sử dụng
cho chỉ phẫu thuật (nhóm 30.06).
PHÂN CHƯƠNG IV
THÉP HỢP KIM KHÁC; CÁC DẠNG THANH, QUE RỖNG
BẰNG THÉP HỢP KIM HOẶC KHÔNG HỢP KIM
TỔNG QUÁT
Thép hợp kim khác được định nghĩa tại chú giải 1 (f) chương này và
các dạng thanh, que rỗng tại Chú giải 1(p) chương này.
Phân chương này bao gồm thép hợp kim loại trừ thép không gỉ, ở các
dạng thỏi hoặc dạng thô khác, các bán sản phẩm (ví dụ: cán thô, thỏi,
cốt thép tròn, tấm, thanh,  mảnh  được tạo thành bằng phương pháp
rèn), các sản phẩm cán phẳng có hoặc không ở dạng cuộn (được gọi là
các tấm dát mỏng rộng, cuộn khổ rộng, tấm, miếng hoặc dải), thanh và
que, góc, khuôn hoặc hình, hoặc dây.  
Tất cả các sản phẩm này có thể đã được gia công với điều kiện là
chúng không có các đặc tính của sản phẩm thuộc các nhóm khác (xem
Chú giải các nhóm 72.06 tới 72.17).
Các kim loại thường có nhất trong thép hợp kim khác là mangan,
nicken, crom, vonfram, molipden, vanadi và cô ban; chất phụ gia phi
kim loại thông thường nhất là silic. Các vật liệu hợp kim này tạo cho
thép các đặc tính riêng biệt, ví dụ: chống va đập và hao mòn (ví dụ:
thép mangan); cải thiện tính chất điện (thép silic); cải thiện tính chất
ram tốt hơn (ví dụ: thép vanadi); hoặc tăng tốc độ cắt (ví dụ: thép
Các thép hợp kim khác được sử dụng cho nhiều mục đích yêu cầu chất
lượng đặc biệt (ví dụ: Tính bền, độ cứng cao, tính đàn hồi, sức bền) ví
dụ: vũ khí, dụng cụ và dao kéo và máy móc.
Thép hợp kim phân chương này bao gồm:
Thép cơ khí và xây dựng hợp kim thường chứa các thành phần
sau: crom, mangan, molipden, nicken, silicon và vanadi.
Thép hợp kim cải thiện độ bền kéo và đặc tính hàn chứa một số
lượng riêng rất nhỏ của Bo (hàm lượng 0.0008% hoặc lớn hơn)
hoặc niobi (hàm lượng 0.06% hoặc lớn hơn).  
Thép hợp kim chứa crom hoặc đồng chịu được thời tiết.
Thép hợp kim được gọi là tấm “nam châm” (có sự tổn thất từ
tính thấp) thường chứa từ 3% - 4% silic và có thể cả nhôm.
Thép hợp kim dễ cắt gọt không chỉ phù hợp với các yêu cầu của
Chú giải 1(f) mà còn chứa ít nhất một trong các thành phần sau:
chì, lưu huỳnh, selen, telua hoặc bitmut.
Thép chịu lực hợp kim (thường chứa crom).
Thép lò so hợp kim magiê-silic  (chứa magiê, silicon và có thể
có cả crom hoặc molipden) và các loại thép lò so hợp kim khác.
Thép hợp kim không có từ tính chống va đập và mài mòn, có
lượng magiê cao.
Thép gió: thép hợp kim chứa ít nhất 2 trong 3 nguyên tố
molybden, vonfram và vanadi với hàm lượng tổng cộng tử 7%
trở lên tính theo trọng lượng, carbon từ 0,6% trở lên tính theo
trọng lượng và crôm từ 3% đến 6% tính theo trọng lượng, có
hoặc không có các nguyên tố hợp kim khác.
(10)  Thép làm dụng cụ không biến dạng: thường chứa hàm lượng
12% crom hoặc lớn hơn tính theo trọng lượng và 2% cácbon
hoặc lớn hơn tính theo trọng lượng.  
(11)  Thép làm dụng cụ hợp kim khác.
(12)  Thép từ tính vĩnh cửu chứa nhôm, nicken và côban.
(13)  Thép hợp kim không từ tính thể hiện đặc tính là chứa lượng
magiê hoặc nicken, loại trừ các loại bao gồm tại Phụ chương III.
(14)  Thép dùng làm que điều khiển trong lò phản ứng hạt nhân (có
hàm lượng Bo cao).
Phân chương này cũng bao gồm các thanh và que rỗng bằng thép hợp
kim hoặc không hợp kim (nhóm 72.28).
72.24 - Thép hợp kim khác ở dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác; các
bán thành phẩm bằng thép hợp kim khác.
7224.10 - Ở dạng thỏi đúc và dạng thô khác  
7224.90 - Loại khác
Những điều khoản của Chú giải cho các nhóm 72.06 và 72.07, với
những sửa đổi thích hợp, áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này.
72.25 - Thép hợp kim khác được cán phẳng, có chiều rộng từ 600 mm
trở lên (+).
- Bằng thép silic kỹ thuật điện:  
7225.11 - - Các hạt (cấu trúc tế vi) kết tinh có định hướng
7225.19 - - Loại khác
7225.30 - Loại khác, chưa được gia công quá mức cán nóng, ở
dạng cuộn
7225.40 - Loại khác, chưa được gia công quá mức cán nóng,
không ở dạng cuộn
7225.50  - Loại khác, chưa được gia công quá mức cán nguội (ép
nguội)
- Loại khác:  
7225.91 - - Được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện
phân
7225.92 - - Được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp khác
7225.99 - - Loại khác:
Những điều khoản của Chú giải cho các nhóm 72.08 đến 72.10, với
những sửa đổi thích hợp, áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này.  
Chú giải phân nhóm.  
Các phân nhóm 7225.30 và 7225.40
Xem Chú giải cho các phân nhóm 7208.10, 7208.25, 7208.26, 7208.27,
Phân nhóm 7225.50  
Xem Chú giải cho các phân nhóm 7209.15, 7209.16, 7209.17, 7209.18,
Các phân nhóm 7225.91 và 7225.92
Xem Chú giải các phân nhóm 7210.30, 7210.41 và 7210.49
72.26 – Sản phẩm của thép hợp kim khác được cán phẳng, có chiều
rộng dưới 600 mm (+).
⦁    Bằng thép silic kỹ thuật điện:  
7226.11 - - Các hạt tinh thể (cấu trúc tế vi) có định hướng:  
7226.19 - - Loại khác:
7226.20 - Bằng thép gió  
- Loại khác:
7226.91 - - Chưa được gia công quá mức cán nóng
7226.92 - - Chưa được gia công quá mức cán nguội (ép nguội)  
7226.99 - - Loại khác
Những điều khoản của Chú giải cho nhóm 72.11 và 72.12, với những
sửa đổi thích hợp, áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 7226.91
Xem Chú giải cho các phân nhóm 7208.10, 7208.25, 7208.26, 7208.27,
Phân nhóm 7226.92
Xem Chú giải cho các phân nhóm 7209.15, 7209.16, 7209.17, 7209.18,
72.27 - Các dạng thanh và que, của thép hợp kim khác, được cán
nóng, dạng cuộn không đều.
7227.10 - Bằng thép gió
7227.20 - Bằng thép mangan- silic  
7227.90 - Loại khác
Những điều khoản của Chú giải cho nhóm 72.13, với những sửa đổi
thích hợp áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này.  
72.28 - Các dạng thanh và que khác bằng thép hợp kim khác; các
dạng góc, khuôn và hình, bằng thép hợp kim khác; thanh và
que rỗng, bằng thép hợp kim hoặc không hợp kim.  
7228.10 - Ở dạng thanh và que, bằng thép gió
7228.20 - Ở dạng thanh và que, bằng thép silic-mangan
7228.30 - Dạng thanh và que khác, chưa được gia công quá mức
cán nóng, kéo nóng hoặc ép đùn
7228.40 - Các loại thanh và que khác, chưa gia công quá mức rèn
7228.50 - Các loại thanh và que khác, chưa được gia công quá
mức cán nguội hoặc gia công kết thúc nguội
7228.60 - Các loại thanh và que khác
7228.70 - Các dạng góc, khuôn và hình
7228.80 - Thanh và que rỗng
(A) CÁC DẠNG THANH VÀ QUE KHÁC; CÁC DẠNG GÓC,
KHUÔN VÀ HÌNH
Những điều khoản của các Chú giải cho các nhóm 72.14 đến 72.16, với
những sửa đổi thích hợp, áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này.
(B) CÁC DẠNG THANH VÀ QUE KHOAN RỖNG
Thanh và que khoan rỗng được định nghĩa trong Chú giải 1(p) của
chương này. Chúng còn được biết như là thép làm mũi khoan.  
Thép làm mũi khoan được làm ra bằng cách khoan xuyên qua các thỏi
thép hợp kim hoặc không hợp kim, những thỏi mà sau đó được cán lại.
Những mặt cắt thông thường có hình tròn, hình lục giác, bát giác hoặc
một phần tư bát giác (hình vuông với các góc bị xén bỏ). Thép này có
thể được cắt thành các mẩu ngắn để sản xuất các mũi khoan, những
mũi khoan này xếp vào nhóm 82.07; Chúng còn được sử dụng ở những
chiều dài lên tới năm hay sáu mét để truyền lực khi khoan ở khoảng
cách xa. Lỗ khoan dọc theo chiều dài sẽ dẫn chất lỏng tới điểm cắt để
bôi trơn và để giảm đến mức tối thiểu độ rộng của bụi bặm.  
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 7228.50
Xem Chú giải cho các phân nhóm 7215.10, 7215.50.
72.29 – Dây thép hợp kim khác.
7229.20 - Bằng thép silic-mangan
7229.90 - Loại khác
Những điều khoản của Chú giải cho nhóm 72.17, với những sửa đổi
thích hợp, áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này.
Chương 73
Các sản phẩm bằng sắt hoặc thép
Chú giải.
1.    Trong Chương này khái niệm “gang đúc” áp dụng cho các sản phẩm
thu được từ quá trình đúc trong đó hàm lượng sắt tính theo khối
lượng lớn hơn hàm lượng của từng nguyên tố khác và thành phần hoá
học của nó khác với thành phần hóa học của thép theo định nghĩa của
Chú giải 1(d) Chương 72.
2.    Trong chương này từ "dây" là các loại sản phẩm được tạo hình nóng
hoặc nguội, có hình dạng mặt cắt ngang bất kỳ với kích thước không
quá 16 mm.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm số lượng nhất định các sản phẩm đặc trưng trong các
nhóm 73.01 đến 73.24 và trong các nhóm 73.25 và 73.26 một nhóm các sản
phẩm không được định rõ hoặc không thuộc Chương 82 hoặc 83 và không
thuộc các Chương khác của Danh mục, bằng sắt (gồm cả gang đúc như
được định nghĩa trong Chú giải 1 cho Chương này) hoặc bằng thép.  
Với các mục đích của Chương này, các định nghĩa "ống và ống dẫn" và
"thanh dạng rỗng" có các nghĩa sau:  
(1) Ống và ống dẫn
Là những sản phẩm rỗng đồng tâm, có mặt cắt ngang đồng nhất với
chỉ một khoảng trống chứa đựng dọc theo toàn bộ chiều dài của
chúng, có các bề mặt ở trong và ở phía ngoài có cùng dạng. Các ống
thép chủ yếu có các mặt cắt ngang hình tròn, ôvan, chữ nhật (kể cả
hình vuông) nhưng ngoài ra có thể bao gồm cả các mặt cắt ngang
hình tam giác đều và các hình đa giác lồi đều khác. Các sản phẩm có
mặt cắt ngang trừ hình tròn, với các góc lượn tròn dọc theo cả chiều
dài của nó, và các ống với các đầu chồn cũng sẽ được xem như là
các ống. Chúng có thể được đánh bóng, phủ, uốn cong (gồm cả ống
cuộn), có ren và được nối hoặc không có ren hoặc không được nối,
được khoan lỗ, thắt hẹp, mở rộng, có hình nón hoặc được gắn với
các mặt bích, vòng đai hoặc vành ống.  
(2) Thanh hình rỗng
Là những sản phẩm rỗng không theo định nghĩa ở trên và chủ yếu
những sản phẩm này không có bề mặt ở phía trong và phía ngoài
cùng dạng.
Chú giải Tổng quát Chương 72, với những sửa đổi thích hợp, áp dụng
cho Chương này.  
73.01 - Cọc cừ (sheet piling) bằng sắt hoặc thép, đã hoặc chưa khoan
lỗ, đục lỗ hoặc ghép từ các bộ phận lắp ráp; sắt hoặc thép, ở
dạng góc, khuôn và dạng hình, đã được hàn.
7301.10 - Cọc cừ
7301.20 - Dạng góc, khuôn và hình  
Cọc cừ bao gồm các thép hình thu được bằng cách cán, kéo, nén, gấp nếp
⦁    dập hoặc được tạo hình dáng trong các máy cán, hoặc bằng cách lắp ráp
các bộ phận đã được cán (ví dụ như bằng sự tán đinh, hàn, hoặc gấp nếp).
Những thép hình này có thể được gắn với nhau bằng cách được khoá liên
động một cách đơn giản hoặc thậm chí bằng cách mang các cạnh dọc
được đặt cạnh nhau. Với mục đích này, ít nhất trên các cạnh dọc, đều có
các bộ phận nối (ví dụ như rãnh, mặt bích, khoá liên động).  
Nhóm này bao gồm:  
(1)  Góc cọc cừ hoặc các mẩu góc, là những mặt cắt dùng để tạo các góc;
với mục đích này thì sử dụng hoặc là các mặt cắt đã được gấp, hoặc
những mặt cắt đã được cắt dọc theo chiều dài của chúng, những bộ
phận thu được bằng cách đó sau đó được hàn hoặc tán đinh để tạo
thành một góc.  
(2)  Các mặt cắt cọc cừ lắp ráp với ba hoặc bốn cạnh để làm các vách
ngăn.  
(3)  Các mặt cắt cọc cừ mắc nối mà hình dạng của chúng cho phép chúng
sẽ được sử dụng để nối các loại cọc cừ khác nhau.  
(4)  Các cột và đường ống cọc cừ mà được dẫn tiếp đất theo cách cho
chúng lắp ráp với nhau mà cần được khoá liên động chặt. Các
đường ống cọc cừ được làm gợn sóng (tạo nếp) trên hình dạng. Các
cột cọc cừ được làm từ hai mặt cắt được hàn với nhau.
Cọc cừ thường được sử dụng để làm tường trên đất có cát, úng nước
hoặc bị ngập nước cho các công trình xây dựng như đập, đê hoặc
mương.  
Nhóm này còn bao gồm các góc, khuôn, hình đã hàn. Chú giải cho nhóm
72.16 với những sửa đổi thích hợp, áp dụng cho các thanh dạng thu được
bằng cách hàn.  
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Thanh dạng rỗng đã được hàn (nhóm 73.06).  
(b) Cọc cừ được lắp ráp thành những cọc mà không có khoá liên động để
có thể sử dụng cho việc lắp ráp bên ngoài (nhóm 73.08).
73.02 - Vật liệu xây dựng đường ray đường sắt hoặc đường ray tàu
điện bằng sắt hoặc thép, như: ray, ray dẫn hướng và ray có
răng, lưỡi ghi, ghi chéo, cần bẻ ghi và các đoạn nối chéo khác,
tà vẹt (dầm ngang), thanh nối ray, gối ray, tấm đệm ray, tấm
đế (đế ray), thanh chống xô, bệ đỡ (bedplate), tà vẹt và vật liệu
chuyên dùng khác cho việc ghép hoặc định vị đường ray.
7302.30 - Lưỡi ghi, ghi chéo, cần bẻ ghi và các đoạn nối chéo
khác  
7302.40 - Thanh nối ray và tấm đế
7302.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm vật liệu xây dựng đường ray xe lửa và xe điện bằng
sắt hoặc thép, hoặc có khổ đường bình thường hoặc có khổ hẹp.  
(1)  Ray cho đường xe lửa hay đường xe điện là những sản phẩm cán nóng.
Nhóm này bao gồm tất cả các chiều dài của những loại ray kể cả ray
đầu tròn, ray có rãnh trượt (hoặc thanh đáy phẳng), ray xe điện lòng
máng, ray có rãnh cho các đường xe điện, và các ray dẫn,...
Nhóm này bao gồm tất cả các ray loại thường được sử dụng cho các
đường ray đường xe lửa hoặc đường xe điện, bất chấp công dụng
ban đầu của chúng (tàu điện treo, cần trục lưu động, ...). Tuy nhiên
nhóm này không bao gồm những ray không có dạng kiểu của
đường xe điện hoặc xe hoả (ví dụ như các ray cửa trượt và ray thang
máy).  
Ray dẫn hướng, còn được biết như thanh chắn hoặc thanh ray an
toàn, được cố định vào các ray của đường ray nhằm ngăn ngừa sự
trật bánh ở các ngã tư và các đường cong.  
Ray có răng được dùng cho các đường sắt dốc đứng. Một kiểu gồm
hai thanh dài song song được nối bởi các thanh ngang được chia
cách gần nhau, các khoảng giữa những thanh này được thiết kế để
ăn khớp với răng của bánh răng ở dưới đầu máy xe lửa. Kiểu thứ hai
gồm một ray có răng tương tự cũng ăn khớp với bánh răng.  
Tất cả những loại ray trên có thể thẳng, cong hoặc được khoan các
lỗ lắp bu lông.  
(2) Lưỡi ghi, ghi chéo, cần bẻ ghi và các đoạn nối chéo khác, những
sản phẩm này có thể được đúc hoặc thu được bằng cách khác, được
sử dụng tại những nút đường hoặc chỗ giao nhau của đường cố định.  
(3) Tà vẹt (dầm ngang) bằng sắt hoặc thép được sử dụng để đỡ các ray
và giữ chúng song song.  
Chúng thường được nén thành hình dạng cuối cùng sau khi cán,
nhưng chúng còn có thể được lắp ráp bằng cách hàn hoặc tán đinh
vài chi tiết với nhau. Chúng thường có một mặt cắt ngang ở dạng
chữ " U " hoặc chữ Ômêga hoa có chân rất ngắn, và chúng vẫn trong
nhóm này dù có hoặc không được khoan, đục lỗ, xọc rãnh, hoặc
được gắn với các gối ray hoặc tấm đế, hoặc gắn với ray được tạo
dáng nguyên gắn chặt với các thân rãnh.  
(4) Thanh nối ray là những sản phẩm được cán nóng, rèn hoặc đúc với
những hình dạng khác nhau (phẳng, có gờ, có góc, ...) được sử dụng
để nối một ray với ray tiếp theo. Chúng được xếp vào nhóm này dù
có hoặc không được khoan lỗ hoặc đục lỗ.  
(5) Gối ray (thường bằng gang đúc) được sử dụng để cố định ray đầu tròn
vào tà vẹt; chúng được làm kiên cố bởi các vít đầu vuông hoặc bu lông.  
Tấm đệm ray được sử dụng để giữ chặt các ray trong các gối ray.
Tấm đế (đế ray, tấm tà vẹt) được sử dụng trong việc cố định các
thanh đáy phẳng vào tà vẹt. Chúng bảo vệ các tà vẹt và được cố định
vào các tà vẹt bằng các vòng kẹp, bu lông, vít đầu vuông, đinh ray
hoặc trong trường hợp bằng thép thì được cố định bằng cách hàn.  
Thanh chống xô tương tự được sử dụng để cố định các thanh đáy
phẳng vào các tà vẹt. Chúng được bắt vít vào tà vẹt và kẹp xiết đáy
phẳng của ray vào chúng.  
Nhóm này còn bao gồm các khí cụ định vị ray khiến đường ray
cứng vững khác, ví dụ như những khí cụ thu được bằng cách uốn
cong một thanh thép thành một hình gần như chữ L, cạnh ngắn nhất
dập tiếp xúc với gờ ray và cạnh dài nhất, với đầu của nó được cán
phẳng mảnh nhưng không mài nhọn, được cố định trong một lỗ
được khoan trước tiên trong rầm ngang.  
Hơn nữa, các khí cụ kẹp chặt ray co giãn cũng thuộc nhóm này.
Những khí cụ này được sản xuất từ thép lò xo và kẹp xiết ray với dầm
ngang hoặc tấm đế. Lực xiết thu được bởi sự uốn cong hình học chi tiết
kẹp chặt từ điều kiện “như được sản xuất”. Một bộ phận giảm sóc hoặc
cách điện, thường bằng cao su hoặc chất dẻo, được đặt xen vào giữa
chi tiết kẹp chặt và ray hoặc giữa chi tiết kẹp chặt và dầm ngang.
(6) Bệ đỡ và tà vẹt (ties) được sử dụng để cố định các ray ở vị trí song
song của chúng.
Các tà vẹt đặt cách thưa nhau riêng biệt và các thanh thép góc được
thiết kế để được bắt vít vào một số các tà vẹt liên tiếp bằng gỗ; như
vậy khi mà được cố định ở các góc vuông vào các tà vẹt thì thực
hiện phận sự ngăn ngừa sự biến dạng (hoặc "rão") của đường ray tại
một số điểm.  
(7) Các cóc đường ray đặc trưng khác là những thiết bị được gắn
hoặc xiết vào ray nơi mà xuất hiện sự rão theo chiều dọc. Những
thiết bị này chịu tải chống lại tà vẹt hoặc tấm đế có khả năng ngăn
ngừa sự dịch chuyển theo chiều dọc.  
Nhóm này không bao gồm:  
(a)  Đinh vít, bu lông, đai ốc, đinh tán và đinh ray được sử dụng để cố
định các vật liệu xây dựng đường ray (nhóm 73.17 và 73.18).  
(b)  Đường ray đã lắp ráp, vòng quay đường ray, bộ giảm chấn nền bệ và
thước đo kích thước chất hàng (nhóm 86.08).
73.03 – Các loại ống, ống dẫn và thanh hình rỗng, bằng gang đúc.
Nhóm này áp dụng cho các ống, ống dẫn và thanh hình rỗng được sản
xuất bằng gang đúc như được định rõ trong Chú giải 1 của Chương này.  
Chúng có thể được sản xuất bằng cách đúc trong khuôn hoặc bằng cách
đúc ly tâm; trong trường hợp sau, gang nóng chảy được rót vào một trụ
nằm ngang được quay nhanh để kim loại bị lực ly tâm bắn vào thành
khuôn nơi mà gang nóng chảy đông đặc.  
Những ống, ống dẫn và các thanh hình rỗng có thể thẳng hoặc uốn cong,
trơn, có bavia hoặc có phiến. Chúng có thể có đầu nối, có mặt bích hoặc
có bích do sự hàn hoặc cắt ren. Để lắp ráp được thuận tiện, các ống dẫn
có đầu nối có một đầu mở rộng để chứa được đầu của ống dẫn thứ hai.
Các ống dẫn có mặt bích có thể được lắp ráp nhờ các vòng đai, đai ốc,
bu lông, vòng kẹp, ..., trong khi các ống dẫn đầu có ren hoặc trơn được
lắp ráp nhờ những khớp nối, vành ống hoặc vòng đai.  
Nhóm này còn bao gồm các ống, ống dẫn và thanh hình rỗng với những
lỗ nhiều nhánh hoặc lỗ nối chạc ba, và bao gồm cả các ống, ống dẫn và
thanh hình rỗng được bao phủ ví dụ như bao phủ bằng kẽm, chất dẻo,
Các ống và ống dẫn thuộc nhóm này chủ yếu được sử dụng cho các
đường ống nước, rút tháo nước bằng áp lực hoặc lực hút, cho sự phân
phối khí bằng áp lực thấp, cũng như ống máng hay ống tháo nước, hoặc
cho các hệ thống thoát nước.  
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Các phụ kiện ghép nối cho ống và ống dẫn (nhóm 73.07).
(b) Các ống, ống dẫn và các thanh dạng rỗng được làm thành các bộ
phận có thể nhận dạng của các sản phẩm, được phân loại trong các
nhóm tương ứng, ví dụ như các bộ phận của lò sưởi trung tâm (nhóm
73.22) và các chi tiết máy (Phần XVI).
73.04 – Các loại ống, ống dẫn và thanh hình rỗng, không nối, bằng
sắt (trừ gang đúc) hoặc thép (+).
⦁    Ống dẫn sử dụng cho đường ống dẫn dầu hoặc khí:
7304.11.00 - - Bằng thép không gỉ
7304.19.00 - - Loại khác
⦁    Ống chống, ống và ống khoan, sử dụng cho khoan dầu
hoặc khí:
7304.22 - - Ống khoan bằng thép không gỉ
7304.23 - - Ống khoan khác
7304.24 - - Loại khác, bằng thép không gỉ
7304.29 - - Loại khác:
⦁    Loại khác, có mặt cắt ngang hình tròn, bằng sắt hoặc thép
không hợp kim:
7304.31 - - Được kéo nguội hoặc cán nguội (ép nguội):
7304.39 - - Loại khác
⦁    Loại khác, có mặt cắt ngang hình tròn, bằng thép không
gỉ:
7304.41 - - Được kéo nguội hoặc cán nguội (ép nguội)
7304.49 - - Loại khác
⦁    Loại khác, có mặt cắt ngang hình tròn, bằng thép hợp kim
khác:
7304.51 - - Được kéo nguội hoặc cán nguội (ép nguội)
7304.59 - - Loại khác
7304.90 - Loại khác
Các ống, ống dẫn và các thanh dạng rỗng thuộc nhóm này có thể được
sản xuất bằng các phương pháp sau:  
(A) Cán nóng một sản phẩm trung gian, sản phẩm có thể là một thỏi,
được cán và bóc vỏ, một phôi vuông hoặc tròn thu được bằng cách
cán hoặc đúc liên tục. Quá trình sản xuất này bao gồm:
(1)  Khoan lỗ trong máy cán ngang (quá trình Mannesmann), trong
máy nghiền kiểu đĩa hoặc trong mũi khoan dạng nón để thu
được một phôi rỗng có độ dày thành và đường kính ngoài lớn
hơn và có chiều dài nhỏ hơn so với sản phẩm cuối cùng.  
(2)  Cán nóng trên một trục gá hoặc một đầu ống:
⦁    trong một máy cán duỗi ba trục nghiêng (quá trình Assel hoặc
Transval) sử dụng phần lớn để sản xuất các ống ổ trục hoặc
trong một máy cán duỗi hai trục nghiêng với các đĩa dẫn (quá
trình Diescher) hoặc trong một máy kéo dài, hoặc
⦁    trong một "máy cán ống liên tục" có các bộ trục khác nhau
trên một trục gá "di động tự do" hoặc trục gá hạn chế nửa di
động (quá trình Neuval hoặc Dalmine), hoặc
⦁    trong một máy cán bước răng cưa, hoặc
⦁    trong một máy cán Stiefel, hoặc
⦁    trong một bàn ép bằng cách ép phôi cán thô trong một dãy
trục, hoặc
⦁    trong một máy tóp vuốt dài. Trong trường hợp này sản phẩm
thu được là một ống hoàn thiện.  
(B) Đúc ép nóng trong một máy dập có sử dụng thuỷ tinh (quá trình
Ugine - Sejournet) hoặc chất bôi trơn khác, có hình tròn. Phương
pháp này trong thực tế bao gồm các qui trình sau: khoan lỗ, mở rộng
hoặc không, và đúc ép.  
Các qui trình được mô tả ở trên được gia công tiếp theo bằng các qui
trình hoàn thiện khác:
⦁    hoàn thiện nóng: trong trường hợp này, các phôi cán thô sau khi
nung lại sẽ đi qua một máy cán định cỡ hoặc một máy cán giãn
dài và cuối cùng trong một máy cán nắn thẳng, hoặc
⦁    hoàn thiện nguội trên một trục gá, bằng cách kéo nguội trên một
giá kéo hoặc cán nguội (ép nguội) trên một máy cán bước răng
cưa (quá trình Mannesmann hoặc Megaval). Từ các ống đã cán
nóng hoặc đúc ép nóng, được sử dụng như phôi cán thô, những
qui trình này cho khả năng nhận được các ống có độ dày thành
(cần chú ý rằng quá trình Transval cho phép sản xuất trực tiếp
các ống có chiều dầy thành giảm) hoặc đường kính nhỏ hơn,
ngoài ra còn cho phép thu được các ống có sai số kích thước
cho phép của đường kính hoặc độ dày thành chặt chẽ hơn. Các
phương pháp gia công nguội còn bao gồm cả sự mài khôn và
miết, làm bóng bằng con lăn nhằm thu được các bề mặt được
đánh bóng theo yêu cầu (các ống với mức độ nhám thấp), ví dụ
như đối với các kích khí nén hoặc xy lanh thuỷ lực.  
(C) Đúc hoặc đúc ly tâm.  
(D) Sự kéo sâu một đĩa được đặt trên một khuôn tạo hình, phôi cán thô
được làm ra bằng cách được kéo nóng liên tiếp.  
(E) Rèn.  
(F) Gia công cơ khí các thanh tiếp theo các quy trình kéo nguội hoặc cán
nguội (ép nguội) (loại trừ các thanh khoan rỗng thuộc nhóm 72.28).
Xem Chú giải tổng quát cho chương này có liên quan đến sự khác biệt
giữa các ống với các ống dẫn và mặt khác với các thanh dạng rỗng.
Các sản phẩm thuộc nhóm này có thể phủ, ví dụ như phủ chất dẻo (nhựa)
hoặc phủ bông thuỷ tinh kết hợp với bitum.  
Nhóm này còn bao gồm các ống hoặc ống dẫn và các thanh dạng rỗng có
bavia hoặc có phiến ví dụ như những ống có bavia hay có phiến toàn bộ
với các bavia dọc hoặc ngang.  
Các sản phẩm thuộc nhóm này đặc biệt bao gồm các ống dẫn thuộc loại
sử dụng cho dầu hoặc khí, ống chống, đường ống và các ống khoan sử
dụng trong việc khoan dầu và khí, các ống và ống dẫn thích hợp để sử
dụng trong các nồi hơi, thiết bị tăng nhiệt, bộ trao đổi nhiệt, bộ ngưng tụ,
lò tinh luyện, thiết bị đun nước cho các trạm điện năng, các ống hoá đen
và mạ điện (được gọi là ống dẫn khí đốt) để dẫn hơi nước áp suất cao
hoặc trung bình, hoặc sử dụng trong phân phối nước hoặc khí đốt ở các
nhà cao tầng, cũng như các ống cho đường trục phân phối nước và chất
đốt trên đường phố. Ngoài ra các ống và ống dẫn được sử dụng để sản
xuất các bộ phận cho ô tô hoặc máy móc, các vành cho ổ bi, ổ hình trụ, ổ
có ống lót côn hoặc ổ kim hoặc cho các sử dụng cơ khí khác, cho các vật
liệu làm giàn giáo, các kết cấu dạng ống hoặc kết cấu nhà cao tầng.
Nhóm này không bao gồm:  
(a)  Ống và ống dẫn bằng gang đúc (nhóm 73.03) và các ống và ống dẫn
bằng sắt hoặc thép thuộc nhóm 73.05 hay 73.06.  
(b)  Các thanh dạng rỗng bằng gang đúc (nhóm 73.03) và các thanh
dạng rỗng bằng sắt hoặc thép thuộc nhóm 73.06.  
(c) Ống hoặc phụ kiện ống dẫn bằng sắt hoặc thép (nhóm 73.07).  
(d) Ống dễ uốn bằng sắt hoặc bằng thép có hay không có các phụ kiện
(gồm cả ống của bộ điều chỉnh nhiệt và mối nối bù) (nhóm 83.07).  
(e) Ống dẫn được cách điện (nhóm 85.47).  
(f) Các ống, ống dẫn và các thanh dạng rỗng được làm thành những sản
phẩm đặc thù có thể nhận dạng, ví dụ như những sản phẩm được
làm để sử dụng trong các kết cấu (nhóm 73.08), những thanh dạng
ống của lò sưởi cho thiết bị sưởi ấm trung tâm (nhóm 73.22), các
ống xả cho động cơ đốt trong kiểu pít tông (nhóm 84.09), các bộ
phận máy móc khác (Phần XVI), bình xả (hộp giảm thanh) và ống
xả của xe cộ thuộc chương 87 (ví dụ, nhóm 87.08 hoặc 87.14), trục
bàn đạp và khung xe đạp (nhóm 87.14).
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 7304.11, 7304.19, 7304.22, 7304.23, 7304.24 và
Các phân nhóm này bao gồm tất cả các mặt hàng không kể đến các tiêu
chuẩn hoặc các thông số kỹ thuật mà chúng đáp ứng (ví dụ các tiêu
chuẩn API 5L hay 5LU cho ống dẫn và các tiêu chuẩn 5A, 5AC hay
5AX cho các ống chống, ống và ống khoan của viện Dầu lửa Mỹ (API)).
Các phân nhóm 7304.31, 7304.39, 7304.41, 7304.49, 7304.51 và
Với mục đích phân biệt giữa các sản phẩm gia công nguội và các sản
phẩm khác thuộc các phân nhóm này, xem Chú giải chung của chương
72, Phần IV (B), đoạn thứ hai.
73.05 - Các loại ống và ống dẫn khác bằng sắt hoặc thép (ví dụ, được
hàn, tán bằng đinh hoặc ghép với nhau bằng cách tương tự), có
mặt cắt ngang hình tròn, đường kính ngoài trên 406,4 mm (+).
⦁    Ống dẫn được sử dụng cho đường ống dẫn dầu hoặc khí:  
7305.11 - - Hàn chìm theo chiều dọc bằng hồ quang
7305.12 - - Loại khác, hàn theo chiều dọc
7305.19 - - Loại khác
7305.20 - Ống chống sử dụng trong khoan dầu hoặc khí
- Loại khác, được hàn:  
7305.31 - - Hàn theo chiều dọc
7305.39 - - Loại khác
7305.90 - Loại khác
Các ống và ống dẫn thuộc nhóm này thu được, ví dụ bằng cách hàn hoặc
tán đinh các dạng được tạo hình trước (được tạo hình trước bằng cách
hàn hoặc tán đinh), có hình ống, hở được làm từ các sản phẩm cán
phẳng.  
Các dạng hình ống có thể được sản xuất:
⦁    theo chiều dọc hoặc theo đường xoắn ốc trong một qui trình liên tục
nhờ một bộ trục cán, đối với các sản phẩm cán dẹt ở dạng cuộn; hoặc
⦁    theo chiều dọc trong một qui trình không liên tục nhờ một máy dập hoặc
máy cán, đối với các sản phẩm cán phẳng không ở dạng cuộn.  
Trong trường hợp các sản phẩm hàn, các cạnh mép tiếp xúc được hàn
không có phụ gia kim loại bằng cách hàn chảy giáp mối, hàn bằng điện
trở hay hàn bằng cảm ứng điện, hoặc bằng cách hàn hồ quang dưới lớp
trợ dung với kim loại phụ gia và chất trợ dung hoặc lớp bảo vệ khí nhằm
ngăn ngừa sự ô xi hoá. Về các sản phẩm thu được bằng cách tán đinh,
các cạnh mép tiếp xúc được phủ chồng và ghép nối bằng các đinh tán.  
Các sản phẩm thuộc nhóm này có thể được phủ, ví dụ như phủ plastic
hoặc len thuỷ tinh kết hợp với bitum.  
Chúng bao gồm cả các ống dẫn thuộc loại sử dụng cho khí hoặc dầu, các
ống chống cho các giếng dầu mỏ hoặc giếng khí, ống cho các đường ống
nước khoảng cách xa hoặc các đường ống dẫn than hoặc các vật liệu rắn
khác, các ống để đóng cọc hoặc cho các cột kết cấu, cũng như các đường
ống dẫn trong thuỷ điện, thường được gia cố với các vành đai ống.  
Nhóm này không bao gồm:  
(a)  Ống, ống dẫn và thanh dạng rỗng, thuộc nhóm 73.03, 73.04 hoặc 73.06.  
(b)  Phụ kiện của ống hoặc ống dẫn bằng sắt hoặc thép (nhóm 73.07).  
(c)  Ống hoặc ống dẫn làm thành các sản phẩm đặc thù dễ nhận dạng.  
Chú giải phân nhóm.  
Các phân nhóm 7305.11, 7305.12,7305.19 và 7305.20  
Các qui định của Chú giải cho các phân nhóm 7304.11, 7304.19,
7304.22, 7304.23, 7304.24 và 7304.29, với những sửa đổi thích hợp sẽ
áp dụng cho các phân nhóm này.  
Phân nhóm 7305.11  
Phân nhóm này bao gồm các ống được sản xuất từ tấm thép bằng cách
gia công định hình trong một máy dập hoặc bằng cách cán, và bằng cách
hàn hồ quang điện với bổ sung kim loại và chất trợ dung nhằm ngăn
ngừa sự ôxi hoá kim loại tại thời điểm nóng chảy.  
Sau khi hàn có một mối hàn do kim loại đắp lên, "mối hàn" có thể nhìn
thấy rõ ràng trên bề mặt ngoài của ống đã hoàn thiện.  
Phân nhóm 7305.12  
Phân nhóm này bao gồm chủ yếu là các ống được sản xuất từ các cuộn
dây thép bằng cách tạo hình dạng liên tục thông qua một dãy các trục
cán định hình và bằng cách hàn điện điện trở hoặc cảm ứng điện mà
không thêm kim loại. Sau khi hàn không có mối hàn kim loại đắp lên
trên bề mặt ngoài của ống hoàn thiện.
73.06 - Các loại ống, ống dẫn và thanh hình rỗng khác, bằng sắt
hoặc thép (ví dụ, nối hở hoặc hàn, tán đinh hoặc ghép bằng cách
tương tự) (+).
⦁    Ống dẫn sử dụng cho đường ống dẫn dầu hoặc khí:
7306.11 - - Hàn, bằng thép không gỉ
7306.19 - - Loại khác
⦁    Ống chống và ống sử dụng cho khoan dầu hoặc khí :
7306.21 - - Hàn, bằng thép không gỉ
7306.29 - - Loại khác
7306.30 - Loại khác, được hàn, có mặt cắt ngang hình tròn, bằng sắt
hoặc thép không hợp kim
7306.40 - Loại khác, được hàn, có mặt cắt ngang hình tròn, bằng
thép không  gỉ
7306.50 - Loại khác, được hàn, có mặt cắt ngang hình tròn, bằng
thép hợp kim khác
⦁    Loại khác, được hàn, có mặt cắt ngang không phải hình
tròn:
7306.61 - - Mặt cắt ngang hình vuông hoặc hình chữ nhật
7306.69 - - Loại khác, có mặt cắt ngang không phải là hình tròn
7306.90 - Loại khác
Những qui định của Chú giải cho nhóm 73.05 với những sửa đổi thích
hợp, sẽ được áp dụng cho các sản phẩm thuộc nhóm này.  
Nhóm này cũng bao gồm:  
(1) Các ống và ống dẫn được hàn bằng cách rèn, được biết như là những
ống và ống dẫn được hàn giáp mối.  
(2) Các ống và ống dẫn với các cạnh mép kín, có nghĩa là các ống và ống
dẫn mà trong đó các cạnh mép tiếp xúc hoặc bao bọc lẫn nhau và
chúng được biết như những ống nối hở. Tuy nhiên các sản phẩm có
một khe hở dọc theo cả chiều dài sẽ được phân loại như các loại
hình trong nhóm 72.16, 72.22 hay 72.28.  
(3) Các ống và ống dẫn mà trong đó các cạnh mép tiếp xúc được nối
bằng cách kẹp.
Một số các ống và ống dẫn hàn theo chiều dọc thuộc nhóm này trải qua
các quá trình kéo nóng hoặc nguội hoặc cán nhằm thu được các sản
phẩm có đường kính ngoài hoặc độ dày thành giảm hơn và có các sai số
kích thước cho phép chặt chẽ hơn. Những phương pháp gia công nguội
này còn cho phép gia công tinh bề mặt khác nhau bao gồm cả bề mặt đã
được đánh bóng như được đề cập trong Chú giải cho nhóm 73.04.  
Xem Chú giải tổng quát cho chương này liên quan đến sự khác biệt giữa
các ống, các ống dẫn và các thanh dạng rỗng.  
Nhóm này đặc biệt bao gồm các ống dẫn thuộc loại sử dụng cho dầu và khí,
ống chống và ống thuộc loại sử dụng trong việc khoan dầu và khí, những
ống và ống dẫn thích hợp để sử dụng trong các nồi hơi, thiết bị tăng nhiệt,
bộ trao đổi nhiệt, bộ ngưng tụ, ống cấp nước của bộ gia nhiệt cho các trạm
điện năng, các ống hoá đen hoặc mạ điện (được gọi là ống dẫn khí đốt) để
phân phối hơi nước và nước áp suất cao hay trung bình trong các toà nhà
cao tầng, cũng như các ống làm đường trục phân phối nước hoặc chất đốt
trên đường phố. Các ống, ống dẫn và các thanh dạng rỗng được sử dụng để
sản xuất các bộ phận, chi tiết cho ô tô hoặc cho máy móc, khung xe đạp, xe
đẩy trẻ con, hoặc sử dụng cho kết cấu khác, vật liệu làm giàn giáo, các kết
cấu dạng ống hoặc kết cấu nhà cao tầng. Các “ống nối mở” được sử dụng ví
dụ như các khung của các đồ nội thất kim loại.  
Nhóm này còn bao gồm cả các ống, ống dẫn và các thanh dạng rỗng
được phủ plastic hoặc phủ len thuỷ tinh kết hợp với bibum, cũng như các
ống có bavia hoặc có phiến với các bavia dọc hoặc ngang.  
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các ống và ống dẫn bằng gang đúc (nhóm 73.03) và ống và ống dẫn
bằng sắt hoặc thép thuộc nhóm 73.04 hoặc 73.05.
(b) Các thanh dạng rỗng bằng gang đúc (nhóm 73.03) và các thanh dạng
rỗng bằng sắt hoặc thép thuộc nhóm 73.04.  
(c) Các phụ kiện ghép nối cho ống hoặc ống dẫn bằng sắt hoặc thép
(nhóm 73.07).  
(d) Ống dễ uốn bằng sắt hoặc thép, có hay không có các phụ kiện ghép
nối (gồm cả các ống của bộ điều chỉnh nhiệt và các mối nối bù)
(nhóm 83.07).  
(e) Ống dẫn được cách điện (nhóm 85.47).
(f) Các ống, ống dẫn và các thanh dạng rỗng được làm thành các sản
phẩm đặc thù để nhận dạng, ví như những sản phẩm được làm để sử
dụng trong các kết cấu (nhóm 73.08), những mặt cắt dạng ống của lò
sưởi cho thiết bị sưởi ấm trung tâm (nhóm 73.22), các ống xả cho
động cơ đốt trong kiểu pittông (nhóm 84.09), các bộ phận máy móc
khác (Phần XVI), bình xả (hộp giảm thanh) và ống xả của xe cộ
thuộc Chương 87 (ví dụ: nhóm 87.08 hoặc 87.14) trục bàn đạp và
khung xe đạp (nhóm 87.14).  
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 7306.11, 7306.19 7306.21 và 7306.29
Các qui định của Chú giải cho các phân nhóm 7304.11, 7304.19,
7304.22, 7304.23, 7304.24 và 7304.29, với những sửa đổi thích hợp, sẽ
áp dụng cho các phân nhóm này.
73.07 - Phụ kiện ghép nối cho ống hoặc ống dẫn (ví dụ, khớp nối đôi,
khuỷu, măng sông), bằng sắt hoặc thép.
- Phụ kiện dạng đúc:
7307.11 - - Bằng gang đúc không dẻo
7307.19 - - Loại khác
- Loại khác, bằng thép không gỉ :
7307.21 - - Mặt bích
7307.22  - - Ống khuỷu, khuỷu nối ống và măng sông, loại có ren để
ghép nối
7307.23 - - Loại hàn giáp mối
7307.29 - - Loại khác
- Loại khác:  
7307.91 - - Mặt bích  
7307.92 - - Ống khuỷu, khuỷu nối ống và măng sông, loại có ren để  
ghép nối
7307.93 - - Loại hàn giáp mối
7307.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các phụ kiện bằng sắt hoặc thép, chủ yếu được sử
dụng để nối các đầu lỗ của hai ống với nhau, hoặc để nối một ống với
thiết bị khác nào đó, hoặc để đóng lỗ ống. Nhóm này tuy nhiên không
bao gồm các sản phẩm tuy dùng để lắp đặt các ống dẫn và ống nhưng lại
không tạo thành một bộ phận của đầu lỗ (ví dụ như các vòng treo, thanh
chống và các trụ đỡ tương tự, những sản phẩm mà chỉ dùng để cố định
hay chống đỡ các ống và ống dẫn trên tường, kẹp hoặc xiết chặt các đai
hay vòng đai (vòng kẹp ống mềm) được sử dụng để kẹp chặt đường ống
dễ uốn hay ống mềm vào hệ thống đường ống cứng vững, vòi, các chi
tiết nối, ...) (nhóm 73.25 hoặc 73.26).  
Chi tiết nối thu được bằng cách:
⦁    vặn vít, khi sử dụng các phụ kiện có ren bằng thép hoặc gang đúc;
⦁    hoặc hàn, khi sử dụng các phụ kiện hàn giáp mối hoặc hàn ống nối
bằng thép. Trong trường hợp hàn giáp mối, các đầu phụ kiện và đầu
ống được cắt góc vuông hoặc vát góc;
⦁    hoặc tiếp xúc, khi sử dụng các phụ kiện bằng thép tháo mở được.
Nhóm này vì vậy mà bao gồm cả các bích dẹt và bích với các chi tiết vòng
đai rèn, ống khuỷu và khuỷu nối ống và các đầu nối hình chữ U, ống nối
chuyển tiếp, ống chữ T (ống ba nhánh), khớp nối chữ thập, nắp và đầu ống,
đầu nhánh cụt của mối nối chồng, các phụ tùng của tay vịn hình ống và các
cấu kiện, nhánh bên, các chi tiết nhiều nhánh, các khớp nối, hoặc măng
sông, bộ gom làm sạch, đai ốc nối, đầu nối, vòng kẹp và vòng đai.  
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Vòng kẹp và các khí cụ khác được đặc biệt thiết kế để lắp ráp các bộ
phận cấu kiện (nhóm 73.08).
(b) Bulông, đai ốc, đinh vít, ... sử dụng trong lắp ráp phụ kiện của ống
hoặc ống dẫn (nhóm 73.18).  
(c) Bộ điểu chỉnh nhiệt và các mối nối bù (nhóm 83.07).  
(d) Vòng treo, thanh chống và các sản phẩm tương tự, như được mô tả ở
trên; và các đầu ống, có ren hoặc không có ren, được gắn với một
vành ống, móc,. .. (ví dụ những loại sử dụng để cố định đường ống
rửa (nhóm 73.26).  
(e) Các phụ tùng được trang bị với vòi, van, van phân phối, ... (nhóm
(f) Mối nối được cách điện cho đường dẫn điện (nhóm 85.47).  
(g) Các chi tiết nối để lắp ráp khung xe đạp hoặc khung mô tô (nhóm
73.08 - Các kết cấu (trừ nhà lắp ghép thuộc nhóm 94.06) và các bộ
phận rời của các kết cấu (ví dụ, cầu và nhịp cầu, cửa cống, tháp,
cột lưới, mái nhà, khung mái, cửa ra vào, cửa sổ, và các loại
khung cửa, ngưỡng cửa ra vào, cửa chớp, lan can, cột trụ và các
loại cột khác), bằng sắt hoặc thép; tấm, thanh, góc, khuôn, hình,
ống và các loại tương tự, đã được gia công để dùng làm kết cấu,
bằng sắt hoặc thép (+).
7308.10 - Cầu và nhịp cầu  
7308.20 - Tháp và cột lưới (kết cấu giàn)
7308.30 - Cửa ra vào, cửa sổ và các loại khung cửa và ngưỡng cửa
ra vào
7308.40 - Thiết bị dùng cho giàn giáo, ván khuôn, vật chống hoặc
cột trụ chống hầm lò
7308.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các kết cấu kim loại hoàn chỉnh hoặc không hoàn
chỉnh, cũng như các bộ phận kết cấu rời. Để phù hợp với mục đích của
nhóm này, những kết cấu này được đặc trưng bởi thực tế là một khi
chúng được đặt đúng vị trí nào thì chúng thường vẫn ở đúng vị trí đó.
Chúng thường được làm thành từ các thanh, que, ống, góc, hình, mặt cắt,
thép lá, tấm bản rộng kể cả những thứ được gọi là thép tấm phổ dụng,
vành, dải, vật rèn hoặc vật đúc, bằng cách tán đinh, bắt bulông, hàn,...
Các kết cấu như vậy đôi khi lắp vào các sản phẩm thuộc các nhóm khác
ví dụ như các tấm dây kim loại đan hoặc sản phẩm dạng lưới được tạo
hình bằng phương pháp đột dập và kéo giãn thành lưới thuộc nhóm
73.14. Các bộ phận rời của cấu kiện bao gồm cả vòng kẹp và các khí cụ
khác được thiết kế đặc biệt để lắp ráp những kết cấu xây dựng kim loại
có mặt cắt ngang hình tròn (có dạng ống hoặc các dạng khác). Những
khí cụ này thường có những mấu lồi với các lỗ được ren nơi mà các đinh
vít được gắn vào, tại thời điểm lắp ráp, nhằm cố định các vòng kẹp vào
đường ống.  
Không kể đến các kết cấu và các bộ phận rời được đề cập trong nhóm,
thì nhóm này còn bao gồm các sản phẩm như:  
Các khung nhà tháp liên hợp trên miệng giếng và các kết cấu bên trên,
các trụ điều chỉnh được hay trụ ống lồng (kính viễn vọng), các trụ dạng
ống, các dầm chống thành giếng có thể kéo dài, vật liệu giàn giáo hình
ống, các thiết bị tương tự; cửa cống, ke, đê chắn sóng và đập chắn sóng
biển; kết cấu phần trên của hải đăng; cột buồm, cầu tàu, ray, vách
khoang tàu,... đối với tàu biển; ban công và mái hiên; cửa chớp, cổng,
cửa ra vào trượt, lan can và hàng rào đã lắp ráp; cửa rào chắn và các loại
hàng rào tương tự; bộ khung cho nhà kính và khung nhà kính; vật liệu
đóng kệ (giá) cỡ lớn để lắp ráp và lắp đặt cố định trong các cửa hàng,
phân xưởng, nhà kho, ... quầy hàng và giá đỡ; một số hàng rào bảo vệ
cho đường ô tô cao tốc, được làm từ kim loại tấm hoặc từ các góc, khuôn
và hình.  
Nhóm này còn bao gồm các bộ phận như các sản phẩm cán phẳng, "tấm
rộng" kể cả những loại được gọi là thép tấm phổ dụng, dải, que, góc,
hình, mặt cắt và ống, mà đã được gia công (ví dụ như khoan, uốn cong
hoặc cắt rãnh) để sử dụng trong các cấu kiện.  
Nhóm này còn bao gồm những sản phẩm gồm có các thanh cán riêng biệt được
xoắn với nhau, được sử dụng cho công việc gia cường cốt thép hoặc cốt thép bê
tông đã chịu tác dụng của ứng suất trước (cốt thép bê tông dự ứng lực).  
Nhóm này không bao gồm:  
(a)  Cọc cừ đã lắp ráp (nhóm 73.01)  
(b)  Panen chống thành giếng dùng để đổ bê tông, có tính chất của
khuôn (nhóm 84.80)  
(c)  Các kết cấu dễ nhận dạng như các bộ phận máy móc (Phần XVI)  
(d)  Các kết cấu thuộc Phần XVII, ví dụ như các chi tiết cố định và các
phụ kiện của đường ray xe lửa và xe điện, và thiết bị truyền tín hiệu
cơ học, thuộc nhóm 86.08; khung gầm cho đầu máy xe lửa, ... hoặc
ô tô (Chương 86 hoặc 87), và kết cấu nổi thuộc Chương 89.  
(e)  Đồ nội thất đã được đóng thành kệ có thể di chuyển (nhóm 94.03).
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Phân nhóm 7308.30
Phân nhóm này cũng bao gồm loại cửa bảo vệ bằng thép, cho mọi loại
nhà ở.
73.09 - Các loại bể chứa, két, bình chứa và các thùng chứa tương tự
dùng để chứa mọi loại vật liệu (trừ khí nén hoặc khí hóa lỏng),
bằng sắt hoặc thép, có dung tích trên 300 lít, đã hoặc chưa được
lót hoặc được cách nhiệt, nhưng chưa được lắp ráp với thiết bị
cơ khí hoặc thiết bị nhiệt.
Những thùng chứa này thường được lắp đặt như những thiết bị cố định
để sử dụng trong bảo quản hoặc sản xuất, ví dụ như trong nhà máy, nhà
máy hoá chất, xưởng nhuộm, nhà máy sản xuất khí đốt, nhà máy bia, nhà
máy rượu và nhà máy lọc dầu và theo một kích thước nhỏ hơn trong các
nhà, cửa hiệu,... Nhóm này bao gồm các đồ chứa cho bất kỳ vật liệu nào
trừ khí nén và khí hoá lỏng. Những đồ chứa cho những chất khí như vậy
được phân loại trong nhóm 73.11 không kể đến dung tích của chúng.
Các đồ chứa được lắp với thiết bị cơ khí hoặc thiết bị nhiệt ví dụ như bộ
phận khuấy, ống xoắn gia nhiệt hay ống xoắn làm lạnh hoặc các thành
phần điện sẽ thuộc Chương 84 hoặc 85.  
Mặt khác những đồ chứa đã được lắp đơn giản với các vòi nước, van,
máy cao đạc, van an toàn, áp kế, ..., vẫn thuộc nhóm này.
Các đồ chứa có thể hở hoặc kín, được lót ebônit, plastic hoặc các kim
loại màu, hoặc gắn lớp phủ cách nhiệt (ví dụ: amian, sợi xỉ hoặc len thuỷ
tinh), chất liệu cách nhiệt này được hoặc không được bảo vệ bởi lớp bọc
kim loại tấm trên cùng.  
Nhóm này còn bao gồm những đồ chứa được cách nhiệt nhờ bởi những
thành kép hoặc đáy hai ngăn với giả thiết là không làm sẵn để luân
chuyển các chất lỏng làm lạnh và làm nóng giữa các thành. (Các đồ chứa
với qui định như vậy bị loại trừ, xem nhóm 84.19).  
Nhóm này bao gồm:  
Các bể chứa xăng hoặc dầu; các thùng sử dụng trong buồng ủ mầm để
ngâm cây đại mạch; thùng ủ men cho các chất lỏng (rượu, bia,...); các
thùng lắng gạn hoặc lọc gạn cho các chất lỏng các loại; các thùng để ram
và ủ các sản phẩm kim loại; két tích trữ nước (trong nhà hoặc ở các nơi
khác) bao gồm cả các bể chứa co giãn cho thiết bị sưởi ấm trung tâm;
các thùng chứa cho các chất rắn.  
Nhóm này không bao gồm các thùng chứa thiết kế và trang bị đặc biệt
để chuyên chở bởi một hoặc nhiều phương thức vận tải (nhóm 86.09).
73.10 - Các loại đồ chứa dạng két, thùng phuy, thùng hình trống, hình
hộp, lon và các loại đồ chứa tương tự, dùng để chứa mọi loại vật liệu
(trừ khí nén hoặc khí hóa lỏng), bằng sắt hoặc thép, dung tích không
quá 300 lít, đã hoặc chưa được lót hoặc được cách nhiệt, nhưng
chưa được ghép với thiết bị cơ khí hoặc thiết bị nhiệt.
7310.10 - Có dung tích từ 50 lít trở lên  
- Có dung tích dưới 50 lít:
7310.21   - - Lon, hộp được đóng kín bằng cách hàn hoặc gấp nếp (vê mép)
7310.29 - - Loại khác
Trong khi nhóm trước áp dụng cho các đồ chứa có dung tích trên
300l; thường được lắp đặt như những vật  cố định trong các nhà
máy,... thì nhóm này bao gồm các đồ chứa bằng sắt hoặc thép lá hoặc
thép tấm có dung tích không vượt quá 300l, nhưng có kích cỡ dễ di
chuyển hoặc xách tay, được sử dụng phổ biến để chuyên chở thương
mại và đóng gói hàng hoá, và cả những đồ chứa như vậy được lắp đặt
như những vật cố định.  
Những đồ chứa lớn hơn thuộc nhóm này bao gồm các thùng hình trống
chứa nhựa đường hoặc dầu; bình xăng, thùng đựng sữa; thùng và thùng
hình trống để chứa rượu, latec, xút ăn da, canxi cacbua, thuốc nhuộm
hay các hoá chất khác. Những đồ chứa nhỏ hơn bao gồm hộp, bình, hộp
sắt tây,... chủ yếu được sử dụng như các bao bì bán hàng cho bơ, sữa,
bia, các đồ cần bảo quản, trái cây hoặc nước trái cây, bánh qui, chè, bánh
mứt kẹo, thuốc lá, xì gà, kem đánh giày, thuốc men,...  
Các thùng và thùng trống đặc biệt có thể được lắp đai hoặc gắn các phụ
kiện khác để làm thuận tiện cho việc lăn hoặc vận chuyển, hoặc được gia
cố. Tất cả các đồ chứa có thể được trang bị với các lỗ rót, nút, nắp hoặc
các vật đóng kín khác thuận lợi cho việc rót đầy và dốc sạch thùng.  
Nhóm này cũng bao gồm các thùng,... được cách nhiệt nhờ bởi thành đôi
hoặc đáy kép với giả thiết là không làm sẵn để luân chuyển các chất lỏng
làm lạnh và làm nóng giữa các thành. (Các đồ chứa với những điều
khoản như vậy bị loại trừ, xem nhóm 84.19).
Nhóm này cũng không bao gồm:  
(a)  Các sản phẩm thuộc nhóm 42.02.
(b)  Các thùng bích qui tròn, hộp trà, hộp sắt tây đựng đường và các
thùng chứa và hộp nhỏ tương tự dùng trong nhà hoặc trong bếp
(nhóm 73.23).  
(c)   Các hộp xì gà, hộp phấn sáp bỏ túi, hộp đựng đồ nghề và các hộp
chứa tương tự cho sử dụng cá nhân hoặc sử dụng trong nghề nghiệp
(nhóm 73.25 hoặc 73.26).  
(d)   Két sắt, các hòm đựng tiền hoặc tủ đựng chứng từ tài liệu, và các đồ
chứa tương tự (nhóm 83.03).  
(e)  Các mặt hàng thuộc nhóm 83.04.
(f)  Các hộp dùng để trang trí (nhóm 83.06).  
(g)  Các thùng chứa được thiết kế và trang bị đặc biệt để chuyên chở bởi
một hoặc nhiều phương thức vận tải (nhóm 86.09).
(h)  Phích chân không và các bình chân không khác hoàn chỉnh, thuộc
nhóm 96.17.
73.11 - Các loại thùng chứa khí nén hoặc khí hóa lỏng, bằng sắt  
hoặc thép.  
Nhóm này bao gồm các loại thùng chứa có dung tích bất kỳ được sử
dụng để vận chuyển hoặc bảo quản các khí nén hoặc khí hoá lỏng (ví dụ
như hêli, ôxy, agon, hyđrô. axêtylen, cacbon điôxit hay butan).  
Một số là những xylanh, ống, chai lọ,... cứng, vững chắc,  đã thử sức
chịu đựng ở áp suất cao, những loại này có thể không hàn hoặc được hàn
(ví dụ được hàn ở các đáy, hàn vòng quanh điểm giữa hoặc dọc theo
chiều dài). Số khác bao gồm một bình ở trong và một hay nhiều lớp vỏ
bên ngoài, khoảng trống xen giữa được chèn vật liệu ngăn cách, được
duy trì trong chân không hoặc được bố trí để chứa một chất lỏng làm
lạnh, cách này làm cho một số khí hoá lỏng sẽ được giữ ở áp suất khí
quyển hoặc áp suất thấp.  
Những đồ chứa này có thể được gắn với các dụng cụ kiểm tra, điều
chỉnh và đo lường ví dụ như van, vòi nước, áp kế, cái chỉ mức,...  
Một số (ví dụ, dùng để chứa axêtylen) chứa một chất xốp trơ ví dụ như
kizengua (đất tảo cát), than củi hoặc amiăng, với một chất kết dính như
xi măng và đôi khi được tẩm axêton, nhằm làm thuận tiện cho việc nạp
đầy và để ngăn ngừa nguy cơ bị nổ nếu axêtylen bị nén một mình.
Ở một số khác, ví dụ như những đồ chứa được thiết kế để cung cấp chất
lỏng hoặc khí theo yêu cầu, khí hoá lỏng sẽ được làm bay hơi chỉ dưới
tác động của nhiệt độ khí quyển, bằng cách cho đi qua đường ống dạng
một cuộn dây được gắn vào thành trong của lớp vỏ ngoài.
Nhóm này loại trừ các loại ắc quy hơi nước (nhóm 84.04)
73.12 - Dây bện tao, thừng, cáp, băng tết, dây treo và các loại tương
tự, bằng sắt hoặc thép, chưa cách điện.
7312.10 - Dây bện tao, thừng và cáp
7312.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm dây bện tao (hoặc cáp dây) thu được bằng cách xoắn
chặt hai hay nhiều dây đơn lại với nhau, và những loại dây cáp và thừng
tất cả các kích cỡ mà lần lượt được tạo hình bằng cách xoắn những tao
dây như vậy lại với nhau. Với điều kiện chúng nhất thiết vẫn là những
mặt hàng bằng dây, thừng và cáp bằng sắt hoặc thép có thể có lõi sợi bên
trong (sợi gai dầu, sợi đay, ...) hoặc được bọc bằng các chất liệu như vải,
Các loại thừng và cáp thường có hình tròn ở mặt cắt ngang, nhưng nhóm
này cũng bao gồm cả các băng, thường có mặt cắt hình chữ nhật (kể cả hình
vuông), được tạo thành bằng cách tết các dây đơn hoặc dây bện tao lại.  
Nhóm này bao gồm những dây thừng, cáp, băng... kể cả chúng có hoặc
không được cắt theo chiều dài, hoặc được gắn với các móc, móc lò xo,
khớp xoay, vòng đai, đầu cáp, vòng xiết, ống nối, ... (với điều kiện là
bằng cách đó chúng không mang tính chất của các sản phẩm thuộc các
nhóm khác), hoặc được làm thành các dây treo, dây đai đơn hoặc phức.  
Những hàng hoá này được sử dụng để nâng (trục tải) (với cần trục, trục
cuộn, ròng rọc, máy nâng,...) trong khai thác mỏ, khai thác đá, xếp hàng
xuống tàu, ...; để nâng hoặc kéo; được sử dụng như các cáp kéo; như dây
đai truyền động; như để chằng buộc và xích cột buồm, cột tháp, ...; như
tao dây làm hàng rào; như tao dây cưa đá (thường dây bện tao ba sợi
bằng thép đặc biệt),...
Nhóm này không bao gồm:  
(a)  Dây thép gai, và dây kép xoắn lỏng, không có gai để làm hàng rào
("torsades") (nhóm 73.13).  
(b)  Dây cáp điện có cách điện (nhóm 85.44).  
(c)  Cáp phanh, cáp gia tốc và các loại dây cáp tương tự thích hợp sử
dụng trong phương tiện vận tải thuộc Chương 87.  
73.13 - Dây gai bằng sắt hoặc thép; dây đai xoắn hoặc dây đơn dẹt,
có gai hoặc không có gai, và dây đôi xoắn, dùng làm hàng rào,
bằng sắt hoặc thép.
Nhóm này bao gồm các kiểu vành đai và dây để dựng hàng rào hoặc làm
hàng rào vây quanh (dây như được định nghĩa trong Chú giải 2 của
chương):  
(1) Dây có gai bao gồm các dây sắt hoặc thép được xoắn với nhau khá
lỏng, với các ngạnh hoặc đôi khi với các mẩu nhỏ sắc nhọn bằng
kim loại mảnh tại các quãng đều đặn.
(2)  Dây hoặc dây đai dẹt hẹp có răng ở những cự ly và được sử dụng
cùng một cách như dây có gai.  
(3)  Dây đai xoắn hoặc dây dẹt đơn. Dây băng dải làm hàng rào này
thường được sử dụng dưới cái tên "torsades". Nó bao gồm đai hẹp,
dải hoặc dây dẹt mà có thể được xoắn nhẹ. Những hàng hoá này xếp
vào nhóm này có hoặc không có gai.  
(4)  Dây xoắn lỏng gồm có hai dây sắt hoặc thép và hoàn toàn thích hợp
cho việc dùng làm hàng rào. Nó còn được biết như là "torsades".  
Nhóm này còn bao gồm "dannerts" và các hàng rào dây thép gai tương
tự, đôi khi đã được gắn trên các cột bằng kim loại hay bằng gỗ, được sử
dụng cho các mục đích quân sự, làm hàng rào,...  
Dây đai và dây được sử dụng thường được mạ điện, hoặc phủ bằng cách
khác (ví dụ như phủ plastic).  
Nhóm này loại trừ cáp hoặc dây tao xoắn chặt, đôi khi cũng được sử
dụng để làm hàng rào (nhóm 73.12).
73.14 - Tấm đan (kể cả đai liền), phên, lưới và rào, làm bằng dây sắt
hoặc thép; sản phẩm dạng lưới được tạo hình bằng phương
pháp đột dập và kéo giãn thành lưới bằng sắt hoặc thép (+).
- Tấm đan dệt thoi:
7314.12 - - Loại đai liền dùng cho máy móc, bằng thép không gỉ  
7314.14 - - Tấm đan dệt thoi khác, bằng thép không gỉ
7314.19 - - Loại khác
7314.20 - Phên, lưới và rào, được hàn ở mắt nối, bằng dây với kích
thước mặt cắt ngang tối đa từ 3 mm trở lên và có cỡ mắt
lưới từ 100 cm2 trở lên
⦁    Các loại phên, lưới và rào khác, được hàn ở các mắt nối:
7314.31 - - Được mạ hoặc tráng kẽm
7314.39 - - Loại khác
- Tấm đan (cloth), phên, lưới và rào khác:
7314.41 - - Được mạ hoặc tráng kẽm.  
7314.42 - - Được tráng plastic
7314.49 - - Loại khác
7314.50 - Sản phẩm dạng lưới được tạo hình bằng phương pháp đột
dập và kéo giãn thành lưới
(A) TẤM ĐAN (KỂ CẢ ĐAI LIỀN), PHÊN, LƯỚI VÀ RÀO
Những sản phẩm thuộc nhóm này nói chung được sản xuất bằng cách
bện, đan, đan lưới,... dây sắt hoặc thép bằng tay hoặc máy móc. Những
phương pháp sản xuất này rõ ràng giống với các phương pháp sử dụng
trong công nghiệp dệt vải (đối với hàng dệt sợi dọc và sợi ngang đơn
giản, các loại vải dệt kim hoặc vải đan móc, ...).
Nhóm này bao gồm phên lưới mà trong đó các dây được hàn tại các
điểm tiếp xúc hoặc được liên kết với nhau tại những điểm này nhờ một
dây bổ sung, những dây này có hoặc không được bện.
Thuật ngữ "dây" có nghĩa là những sản phẩm được tạo hình nóng hoặc
nguội có hình dạng mặt cắt ngang bất kỳ với kích thước mặt cắt ngang
không vượt quá 16 mm, như dây thép cán, que phôi để cán kéo dây và
dải dẹt cắt từ tấm mỏng (xem chú giải 2 của chương này).  
Vật liệu thuộc nhóm này có thể được sử dụng cho nhiều mục đích, ví dụ
cho việc rửa đãi, sấy khô hoặc lọc nhiều loại vật liệu; để làm hàng rào,
lớp phủ bảo vệ thức ăn và màn che chắn côn trùng, lưới chắn bảo vệ máy
móc, dây đai băng chuyền, vật liệu để đóng kệ giá, vật liệu làm đệm, đồ
nệm, các loại rây và sàng,...; và để gia cố bê tông,...  
Vật liệu có thể ở dạng cuộn, đai liền (ví dụ đối với dây đai) hoặc ở dạng
tấm, có hoặc không được cắt thành hình; có thể có hai hay nhiều tao.
(B) SẢN PHẨM DẠNG LƯỚI ĐƯỢC TẠO HÌNH BẰNG
PHƯƠNG PHÁP ĐỘT DẬP VÀ KÉO DÃN THÀNH LƯỚI
Kim loại kéo giãn là một lưới có các mắt lưới dạng thoi được tạo hình
dáng bằng cách kéo căng tấm kim loại hoặc dải kim loại mà trên đó
những vết rạch song song đã được cắt.  
Vật liệu này khá cứng vững và chắc chắn, và nó được sử dụng thay cho
phên lưới hoặc các tấm đục lỗ để làm hàng rào, lưới chắn bảo vệ máy móc,
ván lát của cầu cạn (cầu cho người đi bộ) hoặc đường sàn cần trục, cốt thép
các vật liệu xây dựng khác nhau (ví dụ: bê tông, xi măng, vữa, kính);...  
Ngoài các sản phẩm được làm thành từ lưới thép đan thường bị loại ra
khỏi nhóm này, các sản phẩm dưới đây sẽ thuộc các chương khác, đó là:  
(a)  Vải dệt thoi từ sợi dây kim loại, thuộc loại dùng trong các mặt hàng
quần áo, y phục như vải trang trí nội thất hoặc các mặt hàng tương
tự (nhóm 58.09).
(b)  Plastic hoặc amiăng được gia cố bằng lưới thép, sợi thuỷ tinh (lần lượt ở
các Chương 39, 68 và 70); lưới thép trát vữa bricanion (một lưới thép
được đưa vào trong đất sét nung và được sử dụng cho các mục đích xây
dựng) (chương 69); những tấm lợp bằng giấy thường được tẩm nhựa
đường và gia cố bằng lưới thép (Chương 48). Tuy nhiên, dây thép đan,...
được phủ mỏng plastic (thậm chí nếu các mắt được làm đầy), và lưới và
rào dây kim loại với một lớp lót bằng giấy như được sử dụng trong việc
gắn xi măng, trát vữa, ... vẫn ở trong nhóm này.  
(c)  Lưới thép,... được làm thành hình dạng các chi tiết máy, ví dụ bằng
cách lắp ráp với các vật liệu khác (Chương 84 hoặc 85).
(d) Lưới thép,... được làm thành các loại sàng, rây bằng tay (nhóm
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 7314.12 , 7314.14 và 7314.19  
Thuật ngữ "tấm đan" áp dụng chỉ với những sản phẩm dây kim loại được
sản xuất trong cùng cách như các hàng vải dệt đan, với hai hệ thống sợi
cắt giao theo các góc vuông (900).  
Tấm đan thường có kiểu dệt thô, mặc dầu nó còn có thể có kiểu dệt chéo
hoặc kiểu dệt khác. Sợi ngang là một tao dây liên tục, được dệt tới lui bắt
ngang sợi dọc. Tấm đan được sản xuất trên các máy dệt hoạt động liên
tục. Các điểm mà tại đó các tao dây giao nhau có thể được gia cố (ví dụ
như bằng cách buộc bởi một tao dây phụ). Các sản phẩm dệt kiểu này có
thể bao gồm các tao dây có khoảng cách tương đối thưa, tạo thành lưới
mắt vuông. Những loại được tạo nếp uốn khác nhau được làm từ các tao
dây đã uốn nếp; khoá liên động các chỗ uốn làm cho các điểm giao nhau
cứng vững hơn. Một cách khác, tấm đan có thể được đan từ các tao dây
thẳng, sau đó được dập; sự biến dạng kết quả tại các điểm giao nhau sẽ
gia cố tấm dệt.  
Tấm đan có thể được sắp xếp ở dạng cuộn hoặc ở dạng tấm được cắt
theo chiều dài hoặc cắt theo hình; các cạnh mép của các tấm có thể được
hàn hoặc hàn bằng đồng thau.
73.15 - Xích và các bộ phận của xích, bằng sắt hoặc thép.
- Xích gồm nhiều mắt được nối bằng khớp dạng bản lề và
các bộ phận của nó:
7315.11 - - Xích con lăn
7315.12 - - Xích khác
7315.19 - - Các bộ phận
7315.20 - Xích trượt
- Xích khác:
7315.81 - - Nối bằng chốt có ren hai đầu
7315.82 - - Loại khác, ghép nối bằng mối hàn.
7315.89 - - Loại khác
7315.90 - Các bộ phận khác
Nhóm này bao gồm các loại xích bằng gang đúc (thường là gang đúc
dẻo); sắt hoặc thép đã gia công, không kể tới các kích thước của chúng,
phương pháp sản xuất hoặc nói chung là công dụng được định sẵn của
chúng.  
Nhóm này bao gồm xích bản lề (ví dụ như xích lăn xích có răng đảo
ngược (xích "êm") và xích Gall), và xích không được nối bản lề kể cả
xích có mắt phẳng có tấm cách (hoặc được rèn, đúc, hàn, dập khuôn từ
kim loại tấm hoặc dải hoặc được làm từ dây,...), và xích bi.  
Nhóm này bao gồm:  
(1)  Xích truyền động sử dụng cho xe đạp, ô tô hoặc máy móc.  
(2)  Xích neo hoặc xích cột tàu thuyền (thả neo); các loại xích nâng,
chuyển tải hoặc kéo, xích trượt cho ô tô.  
(3)  Xích đệm, xích cho các nút chặn ống thải nước, bồn rửa, các bể
chứa bồn cầu,...  
Tất cả những loại xích này có thể được gắn với các bộ phận hoặc các
phụ tùng cuối cùng (ví dụ các móc, móc lò xo, khớp mắt xích, vòng kẹp,
ống nối, vòng đai, các vòng vẩy dầu và các chi tiết chữ T). Chúng có thể
hoặc không được cắt theo chiều dài, hoặc đã được định sẵn một cách rõ
ràng cho các sử dụng đặc biệt.  
Các bộ phận rời bằng sắt hoặc thép của các loại xích chuyên dụng theo
đúng nghĩa ví dụ như các mắt nối lề, con trượt, vít ép, ... đối với xích
được nối bản lề, mắt nối và vòng kẹp đối với xích không được nối bản
lề, cũng thuộc vào nhóm này.  
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Các loại xích có tính chất của đồ trang sức làm bằng vật liệu khác
trong quan niệm chung của nhóm 71.17 (ví dụ xích đồng hồ đeo
tay, xích của đồ nữ trang rẻ tiền).
(b) Các loại xích được gắn với các răng cắt,... và được sử dụng như các
cưa xích hay các dụng cụ cắt (Chương 82), hoặc các sản phẩm khác
mà trong đó xích đóng vai trò phụ ví dụ như xích gàu, xích móc
băng chuyền hoặc khung căng dùng để hoàn thiện các sản phẩm dệt.  
(c) Thanh chắn cửa ra vào được gắn với xích (nhóm 83.02).  
(d) Các xích dùng trong công việc trắc địa (nhóm 90.15).  
73.16 - Neo tàu, neo móc và các bộ phận của chúng, bằng sắt  
hoặc thép.
Nhóm này chỉ đề cập với kiểu neo được sử dụng để thả neo các tàu với
các loại trọng tải, chỗ đỗ ngoài khơi, phao, đèn hiệu, mìn nổi, ...; nhóm
này không bao gồm các loại sản phẩm khác mà đôi khi được gọi là
"neo" (ví dụ: những sản phẩm được sử dụng để lắp ráp công việc xây
hoặc để cố định các thanh kèo vào các tường của toà nhà).  
Neo có thể được gắn với một thanh ngang chữ thập hoặc đuôi neo, đôi
khi bằng gỗ, và các cần đầu càng mỏ neo có thể cứng vững hoặc không
cứng vững.  
Nhóm này còn bao gồm neo móc; những loại này nhỏ hơn neo và có hơn
hai cần (thường là bốn) nhưng không có đuôi neo. Chúng được sử dụng
để thả neo thuyền, tàu thuỷ nhỏ, để giữ tàu thuyền nhỏ khác,... để tìm
kiếm các vật bị chìm và để móc vào cây, núi đá,...  
Nhóm này còn bao gồm các bộ phận rời của neo hoặc neo móc.
73.17 - Đinh, đinh bấm, đinh ấn (đinh rệp), đinh gấp, ghim dập (trừ
các sản phẩm thuộc nhóm 83.05) và các sản phẩm tương tự,
bằng sắt hoặc thép, có hoặc không có đầu bằng vật liệu khác,
nhưng trừ loại có đầu bằng đồng.
Nhóm này bao gồm:  
(A) Đinh, đinh bấm, ghim dập (trừ các sản phẩm thuộc nhóm 83.05)
và các sản phẩm tương tự, thường được sản xuất bằng các phương
pháp sau:  
(1)  Dập nguội từ dây có chiều dầy theo yêu cầu. Những đinh bằng
dây thép như vậy thường có đầu phẳng dẹt hoặc lượn tròn, mặc
dù một số không có đầu và được mài nhọn tại một đầu hoặc cả
hai đầu. Đinh thân dạng côn và đinh bấm được làm theo cùng
một cách trừ một điều là chúng được cắt xiên chéo.  
(2)  Rèn (bằng tay hoặc bằng máy) từ một thanh sắt có độ dày cần
thiết, được rèn thành một mũi nhọn, sau đó đầu được dập bẹp
bằng một máy dập đinh.  
(3)  Cắt từ tấm hoặc dải, nếu cần thiết thì tiếp theo đó sẽ gia công
hoặc bằng máy hoặc bằng tay.  
(4)  Cán nóng các thanh trong những máy làm đinh mà trong đó đầu
và thân được được tạo hình đồng thời.  
(5)  Dập khuôn đầu từ một đĩa kim loại nhỏ và dập khuôn thân đã
gia công trước được ấn định đồng thời. Phương pháp này
thường được sử dụng cho các đinh với đầu lượn tròn ví dụ như
các đinh bọc đệm.  
(6)  Đúc.
Có nhiều kiểu hàng hoá này, bao gồm:  
Đinh bằng dây thép có mặt cắt ngang đồng dạng như được thợ mộc sử
dụng, ...; đinh của thợ làm khuôn; đinh lắp kính; đinh của thợ sửa giày;
đinh móc (cách điện hoặc không cách điện) được mài nhọn cả hai đầu,
dùng cho việc đặt đường dây điện, dùng cho khung tranh, làm hàng rào,
... và các đinh móc khác không được biểu hiện ở dạng dải; các vít gỗ
được mài nhọn với thân xoắn và các đầu không có rãnh; các đinh mũ và
đinh ghim cho thợ sửa giày, thợ bọc đệm, ...; đinh đầu to cho giày làm
việc nặng; các đinh cho các bức tranh, gương, hàng rào,...; đinh không
xẻ rãnh để đóng móng cho động vật; các đinh tán mặt mờ không xẻ rãnh
cho động vật; thước tam giác nhỏ,... (thường bằng tôn tráng thiếc) được
sử dụng để cố định ô kính cửa sổ; các đinh tán trang trí cho thợ bọc đệm;
đinh tán để ghim tà vẹt đường ray xe lửa.  
(B) Các kiểu đinh, đinh nhọn (đinh ray) đặc biệt khác, ... ví dụ như:  
(1) Các loại kẹp hoặc tốc (chốt) được rèn (thường với thân hình
góc, những thân được uốn nghiêng theo các góc vuông và được
mài nhọn tại các đầu) sử dụng để gắn chặt khối xây nề, gỗ súc
nặng,...; đinh giữ ray sử dụng để cố định các ray vào các thanh
tà vẹt.  
(2) Đinh gấp với một cạnh mép có hình răng cưa hoặc vát nghiêng,
để lắp ráp các bộ phận bằng gỗ; chúng được phân loại trong
nhóm này kể cả ở dạng dài (trong dạng dải).  
(3) Đinh móc và đinh vành, là những loại có thể được dập từ kim
loại tấm hoặc được rèn. Một đầu được mài nhọn và đầu kia
được uốn cong theo những góc vuông hoặc uốn cong thành một
vòng tròn sử dụng để treo các vật khác nhau.  
(4) Đinh bấm các loại để vẽ, được dùng cho các bàn vẽ, phòng vẽ ...
với đầu dẹt hoặc lượn tròn.  
(5) Đinh mũ chải cho các máy chải các sản phẩm dệt và các loại
tương tự.
Tất cả những hàng hoá đề cập ở trên vẫn ở trong nhóm này, chúng có
hoặc không có các đầu bằng kim loại màu (trừ đồng hoặc các hợp kim
của đồng) hoặc bằng các chất khác (sứ, kính, gỗ, cao su, plastic,...), và
chúng đã hoặc chưa được mạ. mạ đồng, mạ vàng, mạ bạc, sơn bóng,...
hoặc phủ vật liệu khác.  
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Đinh móc, đinh vòng, vít dẫn động mài nhọn với đầu xẻ rãnh và vít
dẫn động không được mài nhọn (nhóm 73.18).
(b) Thiết bị bảo vệ giày, có hoặc không có các mũi nhọn gắn vào; các
móc tranh vẽ với các đinh cố định; móc đai (nhóm 73.26).  
(c) Đinh, đinh bấm, ... với các đầu bằng đồng hoặc bằng hợp kim đồng
(nhóm 74.15).  
(d) Dập ghim ở dạng dải (ví dụ cho văn phòng, bọc nệm, đóng gói)
(nhóm 83.05).  
(e) Đinh gỗ (nhóm 92.09).
73.18 - Vít, bu lông, đai ốc, vít đầu vuông, vít treo, đinh tán, chốt
hãm, chốt định vị, vòng đệm (kể cả vòng đệm lò xo vênh) và các
sản phẩm tương tự, bằng sắt hoặc thép (+).
- Các sản phẩm đã được ren:
7318.11 - - Vít đầu vuông
7318.12 - - Vít khác dùng cho gỗ
7318.13 - - Đinh móc và đinh vòng
7318.14 - - Vít tự hãm
7318.15 - - Đinh vít và bu lông khác, có hoặc không có đai ốc hoặc
vòng đệm
7318.16 - - Đai ốc
7318.19 - - Loại khác
- Các sản phẩm không có ren:
7318.21 - - Vòng đệm lò xo vênh và vòng đệm hãm khác
7318.22 - - Vòng đệm khác
7318.23 - - Đinh tán
7318.24 - - Chốt hãm và chốt định vị
7318.29 - - Loại khác  
(A) ĐINH VÍT, BU LÔNG VÀ ĐAI ỐC
Bu lông và đai ốc (gồm cả các đầu bu lông), đinh tán có ren vít và các
đinh vít khác dùng cho kim loại, có hoặc không có ren hoặc được tarô,
đinh vít dùng cho gỗ và vít đầu vuông được cắt ren (ở trạng thái hoàn
thiện) và được sử dụng để lắp ráp hoặc gắn chặt các hàng hoá để sao cho
chúng có thể dễ dàng được tháo rời mà không hỏng.  
Bu lông và đinh vít dùng cho kim loại có dạng hình trụ, với một ren
chìm và chỉ nghiêng nhẹ, chúng ít khi được mài nhọn, và có thể có đầu
xẻ rãnh hay đầu được làm thích hợp để xiết chặt với một cờ lê hoặc
chúng có thể được đục rãnh. Một bu lông được thiết kế để ăn khớp trong
một đai ốc, trong khi mà các đinh vít cho kim loại thường xuyên hơn
được vặn vít vào một lỗ đã được ta rô trong vật liệu để được gắn chặt và
vì vậy mà thường được cắt ren trong suốt chiều dài của chúng trong khi
mà bu lông thường có một phần thân không được ren.  
Nhóm này bao gồm tất cả các kiểu bu lông gắn chặt và đinh vít kim loại
không kể đến hình dạng và công dụng, kể cả bu lông hình chữ U, các
đầu bu lông (ví dụ các que hình trụ có ren ở một đầu), đinh tán có ren
vít (có nghĩa là các que ngắn có ren ở cả hai đầu), và vít cấy (có nghĩa là
các que có ren toàn bộ).  
Đai ốc là những chi tiết kim loại được thiết kế để giữ bu lông tương ứng
ở vị trí. Chúng thường được ta rô xuyên suốt nhưng đôi khi có mũ.
Nhóm này bao gồm các loại đai ốc tai hồng,... Đai ốc hãm (thường mỏng
hơn và là đai ốc hoa) đôi khi được sử dụng với bu lông.  
Các phôi cán thô cho bu lông và các đai ốc không được ta rô cũng thuộc
nhóm này.  
Đinh vít dùng cho gỗ khác với bu lông và đinh vít kim loại ở chỗ chúng
được ta rô và mài nhọn, và chúng có một ren cắt dốc hơn vì chúng phải
ăn sâu đoạn thân của chính chúng vào vật liệu. Hơn nữa, các vít gỗ hầu
như luôn có đầu xẻ rãnh hoặc đục rãnh và chúng không bao giờ được sử
dụng với đai ốc.  
Vít đầu vuông (đinh vít ray) là những vít gỗ to với các đầu không xẻ
rãnh hình vuông hoặc hình lục giác. Chúng thường được sử dụng để cố
định đường ray vào các thanh tà vẹt và để lắp ráp các thanh kèo và các
đồ gỗ nặng tương tự.  
Nhóm này bao gồm cả vít tự cắt ren (vít Parker); những vít này giống
vít gỗ ở chỗ chúng có một đầu xẻ rãnh và một ren cắt và được mài nhọn
hoặc được ta rô ở đầu. Vì vậy chúng có thể cắt đường đi của chính chúng
vào các tấm mỏng bằng kim loại, đá hoa, đá phiến, plastic, ...  
Nhóm này còn bao gồm tất cả các loại vít dẫn động không mài nhọn
(hoặc đinh vít), và cũng bao gồm cả những loại vít dẫn động mài nhọn
với điều kiện rằng các đầu của chúng được xẻ rãnh. Các vít dẫn động có
các ren rất dốc và thường được dẫn vào vật liệu bởi một búa, nhưng
trong hầu hết các trường hợp chúng chỉ có thể được rút ra bằng việc sử
dụng một chìa vặn vít.  
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Đinh vít được mài nhọn với đầu không xẻ rãnh (nhóm 73.17).  
(b) Nút có ren (nhóm 83.09).  
(c) Các cơ cấu có ren, đôi khi được gọi là vít, được sử dụng để truyền
chuyển động, hoặc nếu không thì được sử dụng để làm nhiệm vụ như
một bộ phận hoạt động của một máy (ví dụ: bơm guồng nước
Acsimet (bơm vít); cơ cấu trục vít và các trục có ren cho các máy
dập; cơ cấu khoá van và vòi nước, ...) (Chương 84).  
(d) Đinh gỗ dùng cho đàn piano và các bộ phận được cắt ren tương tự
của các nhạc cụ (nhóm 92.09).  
(B) ĐINH MÓC VÀ ĐINH VÒNG
Những loại này được sử dụng để treo lơ lửng hoặc cố định các vật khác
và khác với đinh móc của nhóm trên chỉ ở chỗ chúng được cắt ren.  
(C) ĐINH TÁN
Đinh tán khác với các hàng hoá được mô tả ở trên ở chỗ chúng không
được cắt ren; chúng thường có hình trụ với đầu tròn, phẳng, hình lòng
chảo hoặc được khoét loe miệng.  
Chúng được sử dụng để lắp ráp cố định các bộ phận kim loại (ví dụ:
trong các khung lớn, tàu thuyền và các đồ chứa).  
Nhóm này không bao gồm các loại đinh tán có dạng ống hoặc phân
nhánh đôi dùng cho tất cả các mục đích (nhóm 83.08) nhưng những đinh
tán mà chỉ rỗng từng phần vẫn được phân loại trong nhóm này.  
(D) CHỐT ĐỊNH VỊ VÀ CHỐT HÃM
Chốt định vị thường ở dạng phân nhánh đôi, được sử dụng để gắn trong
các lỗ trong các trục chính, trục, bu lông, ... để ngăn ngừa những vật gắn
trên đó khỏi di chuyển dọc các trục, bu lông.  
Chốt hãm và chốt côn được sử dụng cho các mục đích tương tự nhưng
chúng thường to hơn và cứng hơn; chúng có thể được thiết kế, tương tự
như các chốt định vị để đóng qua các lỗ (trong trường hợp đó chúng
thường có dạng nêm), hoặc để gắn vào các khe hoặc rãnh cắt vòng quanh
trục, trục chính, ..., trong trường hợp đó chúng có thể có các hình dạng
khác nhau như hình móng ngựa hoặc hình nón.  
Các vòng hãm (kẹp) được sản xuất trong những dạng khác nhau từ một
vòng đơn với một khe hở đến những hình dạng phức tạp hơn (với những
lỗ xâu hoặc rãnh chữ V để làm thuận tiện hơn cho việc sử dụng nhờ kìm
đặc biệt). Chúng luôn được định sẵn, bất kể hình dạng nào của chúng, để
được đặt trong một khe, hoặc vòng quanh một trục hoặc ở bên trong một
calip hình trụ, để ngăn ngừa sự dịch chuyển tương đối của các bộ phận.  
(E) VÒNG ĐỆM
Các vòng đệm thường là những đĩa nhỏ, mỏng với một lỗ ở tâm; chúng
được đặt giữa đai ốc và một trong các bộ phận sẽ được cố định để bảo vệ
cho bộ phận này. Chúng có thể phẳng, được gọt, chẻ (ví dụ như các vòng
đệm lò xo Grover), uốn cong, có dạng côn, ...  
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 7318.12  
Thuật ngữ "đinh vít" không bao gồm các loại đinh móc và đinh vòng;
những loại này được phân loại trong phân nhóm 7318.13.  
Phân nhóm 7318.14  
Phân nhóm này bao gồm các vít Parker (vít tự cắt ren) được mô tả trong
Chú giải Chi tiết nhóm 73.18 Mục (A), đoạn thứ tám.
73.19 - Kim khâu, kim đan, cái xỏ dây, kim móc, kim thêu và các
loại tương tự, để sử dụng bằng tay, bằng sắt hoặc thép; ghim
băng và các loại ghim khác bằng sắt hoặc thép, chưa được ghi
hoặc chi tiết ở nơi khác.
7319.40 - Ghim băng và các loại ghim khác
7319.90 - Loại khác:
(A) KIM KHÂU, KIM ĐAN, CÁI XỎ DÂY, KIM MÓC, KIM
THÊU VÀ CÁC SẢN PHẨM TƯƠNG TỰ
Nhóm này bao gồm các loại kim được sử dụng bằng tay để khâu, đan,
thêu, cho công việc móc, để dệt thảm, ...  
Nó bao gồm:  
(1)  Kim khâu, kim mạng, kim thêu, kim khâu bao bì, kim làm đệm,
kim làm cánh buồm, kim đóng sách, kim dùng cho nghề nhồi đệm,
kim làm thảm và làm khăn trải giường, kim của hiệu sửa giầy (kể cả
cái dùi với một lỗ xâu dây), kim với đầu hình tam giác cho nghề làm
đồ da, ...  
(2)  Kim đan (các kim dài không có lỗ kim).  
(3)  Cái xỏ dây các loại (kể cả các dụng cụ bện dây cho quả bóng) để
xâu ren, dây buộc, ruy băng, ...  
(4)  Kim móc (kim được chuốt nhọn đầu thành một cái móc ở một đầu
và được sử dụng cho nghề móc).  
(5)  Kim thêu, được sử dụng để xoi lỗ chân kim cho vải trong nghề
thêu.  
(6)  Kim đan lưới, được mài nhọn ở một hoặc cả hai đầu.  
Một số những sản phẩm này đôi khi được gắn với tay cầm.  
Nhóm này còn bao gồm cả những phôi, ví dụ như thân chưa hoàn thành
(có hoặc không có lỗ kim); các kim có lỗ kim nhưng không được mài sắc
hoặc đánh bóng; kim thêu và lưỡi của cái xâu dây vẫn chưa được gắn với
một tay cầm.
Nhóm này không bao gồm:  
(a)  Các dùi không có lỗ xâu của hiệu giày, và các dụng cụ châm hoặc
đột lỗ có kiểu dùi dùng trong nghề làm đồ da, trong văn phòng, ...
(nhóm 82.05).  
(b)  Kim máy để đan, làm ren, thêu, ... (nhóm 84.48); kim máy khâu
(nhóm 84.52).  
(c)  Kim đầu từ của cần giữ kim trên máy hát (nhóm 85.22).  
(d)  Kim sử dụng trong y học, phẫu thuật, nha khoa hay thú y (nhóm
(B) GHIM BĂNG VÀ CÁC LOẠI GHIM KHÁC CHƯA ĐƯỢC
ĐỊNH RÕ HAY ĐƯỢC BAO GỒM Ở MỘT NƠI NÀO KHÁC
Các loại ghim thuộc nhóm này có thể có đầu hoặc các bộ phận phụ khác
bằng kim loại thường, thuỷ tinh, plastic, ... với điều kiện rằng chúng
không trở thành các sản phẩm có tính chất trang trí và rằng chúng thực
chất vẫn là các ghim bằng sắt hoặc thép. Nhóm này bao gồm:  
(1) Ghim băng.  
(2) Các loại ghim thông thường.  
Nhóm này còn bao gồm cả các thân được mài nhọn cho trâm gài đầu,
ghim gài cổ áo, huy hiệu (có hoặc không có các mối ghép khớp xoay
hoặc mối nối), ghim mũ, ..., ghim và các thân được mài nhọn để cố định
nhãn, gắn côn trùng, ...  
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Cây kẹp cà vạt, huy hiệu, ..., ghim mũ và các mặt hàng trang điểm cá
nhân tương tự (nhóm 71.17).  
(b) Đinh rệp (để ghim giấy vẽ) (nhóm 73.17).  
(c) Trâm cài tóc; cặp tóc; ghim uốn tóc, dụng cụ kẹp cuốn tóc, ống cuốn
tóc và các sản phẩm tương tự (nhóm 85.16 hoặc 96.15)  
73.20 - Lò xo và lá lò xo, bằng sắt hoặc thép.
7320.10 - Lò xo lá và các lá lò xo
7320.20 - Lò xo cuộn
7320.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm lò xo các loại bằng sắt hoặc thép, không kể đến
công dụng của chúng, trừ lò xo đồng hồ hoặc lò xo đồng hồ đeo tay
thuộc nhóm 91.14.  
Lò xo được làm từ kim loại tấm, dây hoặc que có đặc tính đàn hồi, do
đàn hồi chúng có đặc tính quay trở về dạng ban đầu của chúng ngay cả
sau sự dịch chuyển đáng kể.  
Nhóm này bao gồm các kiểu lò xo sau:  
(A)  Lò xo lá (lò xo một lá hoặc lò xo lá nhíp) chủ yếu được sử dụng
trong hệ thống treo của xe cộ (ví dụ các đầu máy xe lửa và các đoàn
tàu lăn, ô tô và các loại xe hai bánh).  
(B)  Lò xo cuộn mà hai nhóm chủ yếu của chúng là:  
(1) Lò xo xoắn cuộn, gồm có lò xo nén, lò xo kéo và lò xo xoắn,
được làm từ dây hoặc que có mặt cắt hình tròn và hình chữ
nhật. Chúng được sử dụng cho nhiều mục đích (ví dụ trong xe
cộ và ngành kỹ thuật thông thường).  
(2) Lò xo xoắn ốc, thường có dạng nón và được làm từ dây hoặc
que có mặt cắt hình chữ nhật hoặc ôvan, hoặc được làm từ dải
rộng. Chúng chủ yếu được sử dụng trong các bộ giảm xóc, bộ
giảm chấn trên các móc nối của đoàn tàu chòng chành, kéo cắt
cây, tông đơ cắt tóc, ...  
(C) Lò xo dẹt và lò xo xoắn ốc dẹt như được sử dụng trong các động cơ
vận hành đàn hồi, trong các khoá, ổ khoá,...  
(D) Lò xo đĩa và lò xo vòng (như được sử dụng trong các bộ giảm chấn
tàu hoả,...).  
Lò xo có thể được lắp ráp với bu lông hình chữ U (ví dụ đối với các lò
xo lá) hoặc các phụ kiện để lắp ráp hoặc gắn.  
Các lá của lò xo cũng được phân loại trong nhóm này.  
Nhóm này không bao gồm:
(a) Lò xo cho các trục hoặc cần của ô hoặc ô che nắng (nhóm 66.03).  
(b) Vòng đệm lò xo (nhóm 73.18).  
(c) Lò xo lắp ráp với các sản phẩm khác để tạo dáng, ví dụ các cơ cấu
đóng cửa tự động (nhóm 83.02), các bộ phận có thể nhận dạng của
máy móc (Phần XVI) hoặc của các thiết bị và dụng cụ thuộc
Chương 90, 91,...  
(d) Bộ giảm xóc, và các thanh xoắn thuộc Phần XVII.  
73.21 - Bếp, bếp có lò nướng, vỉ lò, bếp nấu (kể cả loại có nồi hơi phụ
dùng cho hệ thống gia nhiệt trung tâm), vỉ nướng, lò nướng, lò
ga hình vòng, dụng cụ hâm nóng dạng tấm và các loại đồ dùng
gia đình không dùng điện tương tự, và các bộ phận của chúng,
bằng sắt hoặc thép.
- Dụng cụ nấu và dụng cụ hâm nóng dạng tấm:  
7321.11 -  - Loại dùng nhiên liệu khí hoặc dùng cả khí và nhiên liệu khác  
7321.12 - - Loại dùng nhiên liệu lỏng  
7321.19 - - Loại khác, kể cả dụng cụ dùng nhiên liệu rắn:  
- Dụng cụ khác:  
7321.81- - Loại dùng nhiên liệu khí hoặc dùng cả khí và nhiên liệu  
khác
7321.82 - - Loại dùng nhiên liệu lỏng  
7321.89 - - Loại khác, kể cả dụng cụ dùng nhiên liệu rắn.  
7321.90 - Bộ phận  
Nhóm này bao gồm một nhóm các dụng cụ thoả mãn những yêu cầu sau:  
(i)  được thiết kế để sản xuất và sử dụng nhiệt cho các mục đích sưởi ấm
không gian, nấu hoặc đun;  
(ii)  sử dụng nhiên liệu rắn, lỏng hoặc khí, hoặc nguồn năng lượng khác
(ví dụ năng lượng mặt trời);
(iii)  được sử dụng bình thường trong nhà hoặc cho cắm trại.  
Những dụng cụ này có thể nhận dạng, phù hợp với kiểu, bằng một hay
nhiều nét đặc trưng riêng như kích thước toàn bộ, thiết kế, công suất
nhiệt lớn nhất, công suất lò đốt và lò sưởi trong trường hợp nhiên liệu
rắn, kích cỡ của bình chứa khi dùng nhiên liệu lỏng. Tiêu chuẩn so sánh
để đánh giá những đặc trưng này là các dụng cụ được đề cập tới không
được hoạt động ở mức vượt quá các yêu cầu trong gia đình.  
Nhóm này bao gồm:  
(1) Lò sấy, thiết bị nung nóng, lò sưởi và vỉ lò thuộc loại dùng để nung
nóng không gian, các lò than, ...  
(2) Lò sưởi dầu và khí có kèm theo các phần tử đốt nóng, sử dụng cho
cùng công dụng.  
(3) Bếp có lò nướng, bếp lò và bếp nấu trong nhà bếp.  
(4) Các lò có kèm theo các phần tử đốt nóng (ví dụ để nung, làm bánh
ngọt và bánh mỳ).  
(5) Bếp dùng cồn hoặc các lò áp suất, bếp lò dùng cho cắm trại, bếp du
lịch,...; lò ga hình vòng (xéc măng ga); dụng cụ hâm nóng dạng tấm
có kèm theo nguồn dự trữ cho các phần tử đốt nóng.  
(6) Nồi giặt hơi với lò đốt hoặc các phần tử đốt nóng khác.  
Nhóm này còn bao gồm các lò sấy có kèm theo các nồi hơi phụ cho thiết
bị nhiệt trung tâm. Mặt khác nhóm này loại trừ những dụng cụ cũng sử
dụng điện cho các mục đích làm nóng, như trong trường hợp các bếp lò
tổ hợp điện - ga (nhóm 85.16).  
Tất cả những mặt hàng này có thể được tráng men, mạ niken, mạ
đồng,..., gắn với các phụ tùng bằng các kim loại thường khác, hoặc được
lót các vật liệu chịu nhiệt.  
Nhóm này còn bao gồm các bộ phận rời bằng sắt hoặc thép có thể nhận
dạng rõ ràng của các dụng cụ được đề cập ở trên (ví dụ các kệ lò bên
trong, vòng và tấm nấu, hố tro, hộp lửa và nôi lửa dời chuyển được,
buồng đốt ga, buồng đốt dầu, cửa, vỉ nướng, đế, tay vịn bảo vệ, thanh để
khăn lau và giá đỡ tấm).
Nhóm này cũng không bao gồm :  
(a) Lò sưởi cho thiết bị nhiệt trung tâm, thiết bị làm nóng không khí hoặc
bộ phân phối khí nóng, và các bộ phận rời của chúng, thuộc nhóm
(b) Lò và nồi hơi chưa được lắp với các phần tử đốt nóng (nhóm 73.23).  
(c) Đèn hàn xì và bộ bệ rèn xách tay (nhóm 82.05).  
(d) Buồng đốt của lò (nhóm 84.16).  
(e) Buồng đốt và lò sử dụng trong công nghiệp và phòng thí nghiệm
thuộc nhóm 84.17.  
(f) Các thiết bị hoặc máy móc đốt nóng, nấu, nung, chưng cất,... và thiết
bị tương tự trong phòng thí nghiệm thuộc nhóm 84.19. Ngoài những
đề cập khác, nhóm này bao gồm:  
(i) Đồ dùng đun nước tức thời hoặc đồ dùng đun nước tích nhiệt
không dùng điện (hoặc sử dụng trong gia đình hoặc sử dụng
ngoài gia đình).  
(ii) Một số thiết bị nung nóng, nấu đặc dụng mà không được sử
dụng thông thường trong gia đình (ví dụ: bình ngâm chiết cà
phê kiểu ống đếm, chảo sâu rán mỡ; bộ phận khử trùng, tủ hâm
nóng, tủ sấy khô và các thiết bị được nung nóng bằng hơi hoặc
được nung nóng gián tiếp, thường có kèm theo các cuộn dây
nung, thành đôi, đáy kép, ...).  
(g) Các thiết bị nhiệt điện thuộc nhóm 85.16.  
73.22 - Lò sưởi của hệ thống nhiệt trung tâm không dùng điện và các
bộ phận của chúng, bằng sắt hoặc thép; thiết bị làm nóng không
khí và bộ phận phân phối khí nóng (kể cả loại có khả năng phân
phối không khí tự nhiên hoặc khí điều hoà), không làm nóng
bằng điện, có lắp quạt hoặc quạt thổi chạy bằng mô tơ, và bộ
phận của chúng, bằng sắt hoặc thép.  
- Lò sưởi và bộ phận của chúng:
7322.11 - - Bằng gang đúc
7322.19 - - Loại khác
7322.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:  
(1) Lò sưởi của thiết bị nhiệt trung tâm, đó là những dụng cụ nung nóng
không gian thường bao gồm bộ “các phân đoạn” của các ống có gờ
hoặc có phiến hoặc một bộ các panen rỗng mà qua đó nước hoặc hơi
nước được luân chuyển từ nồi hơi. Những lò sưởi như vậy có thể
được đựng trong các hộp bằng gỗ hoặc bằng kim loại.  
Nhóm này còn bao gồm các thiết bị gồm một tổ hợp của một lò sưởi
mà qua đó nước nóng hoặc nước lạnh được luân chuyển, và các vòi
bơm phụt mà qua đó khí điều hoà dưới áp suất sẽ được chuyển qua.
Hai phần này được lắp đặt trong một thân hộp chung có gắn với một
vỉ lưới. Khi bộ phận lò sưởi bị ngắt, thì thiết bị này sẽ làm phận sự
như một bộ phân phối khí điều hoà.  
Nhóm này không bao gồm các bộ phận điều hoà (nhóm 84.15)
hoặc các lò sưởi điện (nhóm 85.16).  
(2) "Các phân đoạn" có thể nhận dạng và các bộ phận rời khác của
lò sưởi.  
Những bộ phận sau không được xem như các bộ phận rời của lò sưởi.  
(a) Các ống dẫn và phụ kiện để nối các nồi hơi của thiết bị nhiệt
trung tâm và các lò sưởi (các nhóm từ 73.03 đến 73.07).  
(b) Giá đỡ lò sưởi (nhóm 73.25 hoặc 73.26).  
(c) Các vòi, van nước nóng hoặc hơi nước,... (nhóm 84.81).  
(3)  Bộ phận làm nóng khí, sử dụng bất kỳ dạng nhiên liệu nào (ví dụ
như than, dầu nhiên liệu, ga).  
Những bộ phận nung nóng độc lập này, cố định hoặc di chuyển
được, chủ yếu bao gồm một buồng đốt (với buồng đốt) hoặc một vỉ
lò, một bộ trao đổi nhiệt (một bộ ống,...) nhiệt năng toả ra bởi khí
đốt cháy đi qua nó truyền cho không khí di chuyển dọc mặt ngoài
của ống, và một quạt chạy bằng động cơ hoặc máy quạt gió. Thông
thường những thiết bị làm nóng này được trang bị với một ống xả
cho khí đã đốt cháy.
Các bộ phận nung nóng khí (cố định hay di chuyển được), là những
bộ phận sinh ra khí nóng cho sự khuếch tán trực tiếp, khác với các
lò sưởi kèm theo các phần tử đốt nóng của chính chúng (như mô tả ở
Chú giải Nhóm 73.21) ở chỗ các bộ phận nung nóng khí kèm theo
một thiết bị thổi khí (quạt hoặc máy quạt gió), là thiết bị làm nhiệm
vụ phân phối hoặc hướng nguồn cung cấp khí nóng tới những khu
vực phải làm nóng khác nhau.  
Các bộ phận nung nóng khí có thể được trang bị với các thiết bị phụ
trợ khác nhau ví dụ như các buồng đốt (với bơm của chúng), các
quạt điện để cung cấp khí cho buồng đốt, các khí cụ điều chỉnh,
kiểm tra (bộ điều chỉnh nhiệt, bộ điều chỉnh lửa, ...), bộ lọc khí,...  
(4) Bộ phân phối khí nóng, bao gồm một phần tử đốt nóng khí thường
có chứa một bộ các ống có gờ hoặc có phiến và một quạt điện, được
lắp đặt trong một hộp chung được cung cấp với các lối thoát khí
(lưới hoặc cửa chắn điều chỉnh được).  
Những bộ phân phối này được thiết kế để nối với một nồi hơi của
thiết bị đốt nóng trung tâm và có thể được thiết kế để đặt đứng trên
mặt đất, để được cố định vào tường hoặc để treo lơ lửng trên trần,
xà, cột trụ,...  
Một số các thiết bị này có thể còn được lắp đặt với một cửa nạp khí
ở bên ngoài cho phép chúng được sử dụng như các bộ phân phối khí
mát khi phần tử đốt nóng bị ngắt.
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm các bộ phân phối khí điều
hoà, những bộ phân phối này dưới sự điều khiển của một bộ điều
chỉnh nhiệt phòng, sẽ pha trộn khí nóng và khí lạnh được cung cấp
dưới áp suất cao, và những bộ phân phối này nhất thiết phải bao
gồm một buồng pha trộn và hai vòi phun nạp gắn với các van điều
chỉnh vận hành bởi cơ cấu dẫn động khí nén, toàn bộ được lắp đặt
trong một hộp chung và không kèm theo lò sưởi mà cũng không
kèm theo quạt chạy bằng động cơ hoặc máy quạt gió (nhóm 84.79).
Các bộ phận nung nóng khí và bộ phân phối khí nóng bao gồm
trong nhóm này ở bất cứ nơi nào theo mục đích sử dụng định sẵn.
Nhóm này vì vậy mà bao gồm các bộ phận nung nóng khí để làm
nóng không gian và để sấy khô các vật liệu khác nhau (như thức ăn
gia súc, hạt ngũ cốc, ...), và các thiết bị để làm nóng các phương tiện
thuộc Phần XVII. Tuy nhiên những bộ phân phối khí nóng mà sử
dụng nhiệt tạo ra bởi động cơ phương tiện và cần thiết phải được nối
với động cơ thì sẽ được phân loại trong Phần XVII bởi sự áp dụng
Chú giải 1(g) cho Phần XV và Chú giải 3 cho Phần XVII.  
(5) Các bộ phận rời có thể nhận dạng của các bộ phận nung nóng khí
hoặc các bộ phân phối khí nóng (bộ trao đổi nhiệt, vòi phun, ống
khuếch tán trực tiếp, van điều tiết, lưới vỉ,...).  
Tuy nhiên, những bộ phận sau không được xem như các bộ phận rời:  
(a)  Các ống dẫn và phụ tùng để nối các nồi hơi với một số bộ phân phối
khí nóng (các nhóm 73.03 đến 73.07).  
(b)  Quạt (nhóm 84.14), bộ lọc khí (nhóm 84.21), các thiết bị kiểm tra
và điều chỉnh tự động (Chương 90),...  
73.23 - Bộ đồ ăn, đồ nhà bếp hoặc các loại đồ gia dụng khác và các
bộ phận của chúng, bằng sắt hoặc thép; bùi nhùi bằng sắt hoặc
thép; miếng cọ nồi và cọ rửa hoặc đánh bóng, bao tay và các loại
tương tự, bằng sắt hoặc thép.
7323.10 - Bùi nhùi bằng sắt hoặc thép; miếng cọ nồi và cọ rửa hoặc
đánh bóng, bao tay và các loại tương tự
- Loại khác:  
7323.91 - - Bằng gang đúc, chưa tráng men
7323.92 - - Bằng gang đúc, đã tráng men
7323.93 - - Bằng thép không gỉ
7323.94 - - Bằng sắt (trừ gang đúc) hoặc thép, đã tráng men  
7323.99 - - Loại khác
(A) BỘ ĐỒ ĂN, ĐỒ NHÀ BẾP, CÁC LOẠI GIA DỤNG KHÁC VÀ
CÁC BỘ PHẬN CỦA CHÚNG
Nhóm này bao gồm một phạm vi rộng các sản phẩm bằng sắt hoặc thép,
chưa được bao gồm một cách cụ thể hơn trong các nhóm của Danh
mục, sử dụng cho bàn ăn, nhà bếp hoặc các mục đích gia đình khác;
nhóm này bao gồm cả các hàng hoá tương tự để sử dụng trong khách
sạn, nhà hàng, nhà trọ, bệnh viện, căng tin, trại lính,...  
Những sản phẩm này có thể được đúc, hoặc tấm, lá, vành, dải, dây, vỉ
lưới dây thép, lưới kim loại,... bằng sắt hoặc thép và có thể có được sản
xuất bởi phương pháp bất kỳ (ép theo khuôn, rèn, dập, dập nổi,...).
Chúng có thể được gắn với nắp, tay cầm hoặc các bộ phận hay phụ tùng
khác bằng vật liệu khác với điều kiện là chúng vẫn còn nguyên tính chất
của các sản phẩm bằng sắt hoặc thép.  
Nhóm này bao gồm:  
(1) Các sản phẩm để sử dụng trong nhà bếp ví dụ như xoong chảo,
nồi hấp, nồi áp suất, nồi bảo quản, nồi hầm, xoong (có tay cầm), nồi
kho cá; chậu; chảo rán thức ăn, đĩa và bát đĩa đựng các món quay
hoặc món nướng; vỉ nướng chả, lò không được thiết kế để kèm theo
các phần tử đốt nóng; ấm đun nước, cái chao; rổ đựng đồ rán; khuôn
làm thạch, món nấu đông và khuôn làm bánh; bình nước; lon sữa gia
đình; hộp sắt tây và hộp nhỏ dùng để bảo quản trong nhà bếp (thùng
đựng bánh mỳ, hộp trà, hộp sắt tây đựng đường,...); máy rửa rau;
các bình đo sức chứa cho nhà bếp; giá đựng bát đĩa, phễu.  
(2) Các sản phẩm để sử dụng trên bàn như khay, đĩa, bát đĩa, đĩa đựng
rau và súp, đĩa lòng sâu để đựng nước sốt; tô đựng đường, đĩa đựng bơ;
bình đựng sữa hoặc kem; đĩa đựng món đồ nguội khai vị; ấm cà phê và
bình pha cà phê (nhưng không kể bình pha cà phê được cung cấp với
một nguồn nóng dùng trong gia đình (nhóm 73.21), bình trà, tách chén,
cốc, cốc vại; chén nhỏ đựng trứng luộc, tô đựng nước rửa tay trong khi
ăn; đĩa và rổ đựng bánh mỳ hoặc hoa quả; giá đặt bình trà hoặc các giá
tương tự; cái lọc trà, lọ tiêu muối; giá để dao; thùng làm lạnh rượu. ..,
giá rót rượu; vòng treo khăn ăn, kẹp khăn trải bàn ăn.  
(3) Các đồ gia dụng khác ví dụ như chậu giặt bằng đồng và nồi nước
nóng; thùng rác, và thùng rác di động (kể loại sử dụng bên ngoài),
thùng xô, xô và thùng đựng than; bình đựng nước; gạt tàn thuốc lá;
chai đựng nước nóng; giỏ đựng chai; máy đánh giày lưu động; bệ kê
bàn là; giỏ để đựng quần áo giặt ủi, giỏ đựng hoa quả, rau, ..., hòm
thư; mắc treo quần áo, vật dùng để giữ giày không bị co lại, hộp
đựng bữa ăn trưa.
Nhóm này còn bao gồm các bộ phận rời bằng sắt hoặc thép của các mặt
hàng đã được liệt kê ở trên, như nắp vung, chuôi, cán, tay cầm, các ngăn
phân chia cho nồi áp suất,...  
(B) BÙI NHÙI BẰNG SẮT HOẶC THÉP; MIẾNG CỌ NỒI VÀ CỌ
RỬA HOẶC ĐÁNH BÓNG, BAO TAY VÀ CÁC LOẠI
TƯƠNG TỰ
Bùi nhùi bằng sắt hoặc thép gồm dây hoặc dải rất mảnh được bện với
nhau và thường được sắp trong các gói nhỏ để bán lẻ.  
Dụng cụ cọ nồi, miếng xốp cọ rửa hay đánh bóng, bao tay và các loại
tương tự được làm thành từ dây, dải, bùi nhùi bằng thép ,..., đôi khi
được gắn với một tay cầm; với điều kiện chúng thực chất là các sản
phẩm kim loại, những hàng hoá này vẫn ở trong nhóm này khi chúng
được hoặc không được để xen lẫn với các vật liệu dệt.  
Trừ bùi nhùi bằng sắt hoặc thép là loại có nhiều công dụng khác nhau,
những hàng hoá này chủ yếu được sử dụng trong gia đình (ví dụ để cọ
rửa các đồ dùng trong bếp hoặc các dụng cụ trong nhà vệ sinh, để đánh
bóng các mặt hàng kim loại, để bảo dưỡng sàn gỗ, ván lát sàn gỗ và các
sản phẩm gỗ khác.)
Nhóm này không bao gồm:  
(a)  Bình, lon, hộp và các đồ chứa tương tự, thuộc nhóm 73.10.
(b)  Bếp, vỉ lò, bếp có lò nướng, bếp nấu, lò sưởi lửa,... thuộc nhóm
(c)  Sọt giấy loại (nhóm 73.25 hoặc 73.26 theo trường hợp có thể).  
(d)  Các đồ gia dụng có đặc tính của các dụng cụ,..., xẻng các loại; cái
mở nút chai; cái nạo pho mát,..., cái que đặt mỡ lợn; cái khui hộp;
cái kẹp hạt; cái khui chai; các đồ dùng xoắn, quấn bằng sắt, đồ dùng
dập ép bằng sắt; kẹp gắp than; dụng cụ đánh trứng; khuôn bánh quế;
máy xay cà phê, máy xay hạt tiêu; cối nghiền; máy chiết nước trái
cây, máy ép rau, máy nghiền rau (Chương 82).  
(e)  Dao và muỗng, nĩa, môi,... thuộc các nhóm từ 82.11 đến 82.15.  
(f)  Két an toàn, tủ bọc sắt, hòm đựng tiền mặt và hòm đựng văn bản
chứng từ (nhóm 83.03).  
(g)  Vật trang trí (nhóm 83.06).  
(h)  Các loại cân dùng trong gia đình (nhóm 84.23).  
(ij) Thiết bị điện dùng trong gia đình thuộc Chương 85 (đặc biệt các đồ
dùng và thiết bị thuộc các nhóm 85.09 và 85.16).  
(k) Tủ đựng thịt (thức ăn) loại nhỏ và các đồ đạc khác thuộc Chương 94.  
(l)  Đèn (luminaires) và bộ đèn thuộc nhóm 94.05.  
(m) Rây bằng tay (nhóm 96.04), bật lửa hút thuốc lá và các loại hộp quẹt
khác (nhóm 96.13), phích chân không (bình Dewar) và các bình
chân không khác của nhóm 96.17.
73.24 – Thiết bị vệ sinh và các bộ phận của chúng, bằng sắt hoặc
thép.  
7324.10 - Chậu rửa và bồn rửa, bằng thép không gỉ
- Bồn tắm :
7324.21 - - Bằng gang đúc, đã hoặc chưa được tráng men
7324.29 - - Loại khác
7324.90 - Loại khác, kể cả các bộ phận
Nhóm này bao gồm một phạm vi rộng các mặt hàng bằng sắt hoặc thép,
chưa được bao gồm một cách rõ ràng, riêng biệt hơn trong các nhóm
khác của Danh mục, được sử dụng cho các mục đích vệ sinh.  
Những mặt hàng này có thể được đúc, hoặc là tấm, lá, vành, dải, dây, vỉ
lưới dây thép, lưới kim loại bằng sắt hoặc bằng thép, , ..., và có thể được
sản xuất bởi phương pháp nào đó (ép theo khuôn, rèn, dập, dập nổi,...,).
Chúng có thể được gắn với nắp, tay cầm hoặc các bộ phận rời hay các
phụ tùng khác bằng vật liệu khác với điều kiện rằng chúng vẫn còn
nguyên tính chất của các mặt hàng bằng sắt hoặc thép.  
Nhóm này bao gồm bồn tắm, chậu thấp, bồn tắm ngồi nửa người, bồn
rửa chân, bồn rửa, chậu rửa, bộ đồ vệ sinh cá nhân; đĩa đựng xà bông và
giỏ đựng miếng bọt biển; bình vòi hoa sen, thùng vệ sinh, bồn tiểu tiện,
bô, lọ đựng nước tiểu, bồn để rửa mặt trong nhà vệ sinh và bồn nước xối
có hoặc không được trang bị với các cơ cấu máy móc của chúng, ống
nhổ, hộp kẹp giấy vệ sinh.  
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Bình, hộp và các đồ chứa tương tự thuộc nhóm 73.10.  
(b) Tủ nhỏ đựng thuốc và tủ tường vệ sinh và các đồ đạc khác thuộc
Chương 94.
73.25 - Các sản phẩm đúc khác bằng sắt hoặc thép.  
7325.10 - Bằng gang đúc không dẻo  
- Loại khác:
7325.91 - - Bi nghiền và các hàng hoá tương tự dùng cho máy
nghiền  
7325.99 - - Loại khác.
Nhóm này bao gồm các sản phẩm đúc bằng sắt hoặc thép, chưa được
định rõ hay bao gồm ở nơi khác.  
Nhóm này bao gồm các cửa sập kiểm tra, sàng, rây, nắp cống và các vật
đúc tương tự cho các hệ thống nước, nước thải,...; cột vòi nước chảy (ở
ngoài đường phố) và nắp đậy; vòi nước uống; cột hòm thư, cột vòi nước
phòng hoả, hàng cọc ngăn thấp (cọc neo, cọc ngăn…) , ...; ống máng và
vòi ống máng; hệ thống ống ở hầm mỏ; bi để sử dụng trong các máy
nghiền và máy xay; các loại gầu, nồi nấu kim loại trong luyện kim chưa
được gắn với thiết bị cơ khí hoặc thiết bị nhiệt; các đối trọng; hoa, bộ lá
cây giả,..., (trừ các mặt hàng thuộc nhóm 83.06); chai thủy ngân.  
Nhóm này không bao gồm những vật đúc là những sản phẩm rơi vào
các nhóm khác của Danh mục (ví dụ các bộ phận máy móc có thể nhận
dạng hoặc các đồ dùng cơ khí) hoặc các vật đúc chưa hoàn thiện mà đòi
hỏi sự gia công tiếp theo nhưng có đặc tính cần thiết của những sản
phẩm như thế nhưng đã hoàn thiện.  
Nhóm này cũng không bao gồm:  
(a) Các sản phẩm thuộc loại đã được mô tả ở trên thu được bằng các
phương pháp trừ đúc (ví dụ như thiêu kết) (nhóm 73.26).
(b) Tượng, bình, lọ, bình đựng tro hoả táng và các cây thánh giá thuộc
kiểu dùng để trang trí (nhóm 83.06).
73.26 - Các sản phẩm khác bằng sắt hoặc thép (+).
- Đã được rèn hoặc dập, nhưng chưa được gia công tiếp:
7326.11- - Bi nghiền và các hàng hoá tương tự dùng cho máy
nghiền  
7326.19 - - Loại khác
7326.20 - Sản phẩm bằng dây sắt hoặc thép
7326.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm bằng sắt hoặc thép thu được
bằng cách rèn hoặc dập, bằng cách cắt hoặc dập nổi hoặc bằng các
phương pháp khác như uốn nếp, lắp ráp, hàn, tiện, nghiền tán hoặc đục
lỗ trừ các sản phẩm thuộc các nhóm trên của chương này hoặc được bao
hàm bởi chú giải 1 cho phần XV hoặc thuộc Chương 82 hoặc 83 hoặc
được bao hàm cụ thể hơn ở nơi khác trong Danh mục.  
Nhóm này bao gồm:  
(1) Bịt móng ngựa; các vật bảo vệ giày hoặc bốt có hoặc không kèm
theo đầu nhọn gắn; bàn đạp để trèo cây; máy thông gió phi cơ
khí; tấm chắn Venetian; vòng đai ngầm cho các thùng tô nô, các
phụ tùng bằng sắt hoặc thép cho sự đặt đường dây điện (ví dụ trụ
đỡ, kẹp, vòng xiết, giá treo); các thiết bị treo và nối cho các chuỗi
sứ (thanh treo, vòng kẹp, phần nối thêm, lỗ xâu hoặc các vòng với
mối ghép đinh tán, ổ khớp cầu, vòng kẹp để treo, đinh kẹp cụt
một đầu,...); bi thép không được định cỡ (xem Chú giải 7
Chương 84); cột hàng rào, cọc căng dây lều, cọc để xích vật
nuôi,...; vành đai cho đường biên (ranh giới) vườn, thiết bị tập leo
cây, đậu ngọt,...; thiết bị nối để nối cho chắc dây thép gai; ngói
(trừ loại dùng