CHU GIAI 2022_15
ất các loại kính trên
7015.10 - Các loại kính hiệu chỉnh dùng cho kính đeo mắt.
7015.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(A) Kính, uốn cong, lồi, lõm hoặc tương tự, có hình dạng và kích thước
bất kỳ, có hoặc không có các mặt phẳng song song, được sử dụng
như kính đồng hồ thời gian hoặc đồng hồ cá nhân, nhóm này cũng
bao gồm tất cả các loại kính tương tự dùng cho các khung ảnh và
tương tự, các huy chương lớn để đeo ở cổ, ẩm kế, khí áp kế và các
dụng cụ tương tự. Nói cách khác, nhóm này bao gồm một loạt các
kính thuộc kiểu thường được thiết kế để bảo vệ mặt số hay mặt của
những sản phẩm đề cập tới, thậm chí khi trong các trường hợp đặc
biệt các loại kính này có mục đích để sử dụng như kính đồng hồ
phòng thí nghiệm hay để sản xuất gương.
Khi những loại kính kể trên không có các mặt song song, chúng có
thể có một số đặc tính quang học nhất định, nhưng trong khi mà
chức năng chủ yếu của các linh kiện bằng thuỷ tinh thuộc nhóm
70.14 là để tạo ra tác dụng quang học cần thiết, thì chức năng chính
của hàng hoá thuộc đoạn này là bảo vệ.
(B) Kính, uốn cong hoặc tương tự, sử dụng cho kính đeo mắt không hiệu
chỉnh (ví dụ kính râm và các kính đeo mắt bảo hộ khác), là loại kính
thường có chất lượng thấp hơn là kính đeo mắt để hiệu chỉnh.
Những kính này thường có các mặt song song, và trong thực tế
không định dùng để gia công quang học. Tuy nhiên, nếu chúng
được gia công về mặt quang học thì chúng sẽ bị loại trừ (nhóm
Những loại kính được mô tả trong các Mục (A) và (B) chủ yếu được
sản xuất bằng các quá trình sau:
(1) Thuỷ tinh được thổi thành một quả cầu rỗng có đường kính
thường không quá 80 cm. Quả cầu này được chia thành ba hay
bốn phần, những phần này lần lượt được cắt thành những mảnh
nhỏ nhờ một loại compa được bịt đầu bằng kim cương. Các
cạnh của những mảnh này sau đó được uốn cong vào phía trong
bởi áp lực nóng trong một khuôn.
(2) Các hình vuông hoặc đĩa nhỏ được cắt từ kính phẳng, sau đó
chúng được uốn cong bằng cách làm mềm trong một khuôn
lõm (hình lòng chảo) hoặc xoay quanh vòng tròn dưới tác dụng
của nhiệt, hoặc bằng sức ép nóng trong một khuôn.
(3) Thuỷ tinh nóng chảy được rót trực tiếp vào khuôn của máy ép
cơ khí.
(4) Một lỗ được mài trên một bề mặt của một miếng kính phẳng
hình tròn hoặc hình chữ nhật (kể cả hình vuông) để tạo một
khoảng rỗng cho kim đồng hồ báo thức hay đồng hồ cá nhân.
Ngoài những loại kính được tạo hình để sử dụng (hình tròn, hình ô
van hoặc hình chữ nhật bao gồm cả hình vuông), nhóm này cũng
bao gồm các quả cầu rỗng và các mảnh thu được bởi phương pháp
đã được mô tả trong mục (1) ở trên.
(C) Kính (kể cả các phôi, có nghĩa là những mảnh được ép đơn giản
hoặc được đổ khuôn nhưng chưa được gia công về mặt quang học)
để sử dụng cho các kính đeo mắt để hiệu chỉnh. Trong hầu hết các
trường hợp, ngành công nghiệp kính đeo mắt sử dụng loại kính thu
được bằng cách ép thuỷ tinh nóng chảy thành các phôi, những phôi
này thường có hình dạng của các thấu kính của kính đeo mắt thành
phẩm. Trong một số trường hợp, phôi thấu kính của kính đeo mắt
thu được bằng cách cắt các mẩu của kính tấm được sản xuất bằng
các quá trình cán hoặc kéo và sau đó làm mềm những mẩu kính
được cắt này trong lò nấu trước khi ép chúng thành phôi. Các phôi
từ mỗi nguồn đều đòi hỏi sự gia công bề mặt bổ sung, chủ yếu là
mài bóng, trước khi chúng có thể được sử dụng như các thấu kính
kính đeo mắt để hiệu chỉnh.
Nhóm này bao gồm các phôi để dùng cho các thấu kính của kính
đeo mắt để hiệu chỉnh, có nghĩa là các mẩu được đổ khuôn một
cách đơn giản và chưa được gia công về mặt quang học. Trước khi
đổ khuôn, dạng kính này tuỳ theo sẽ thuộc nhóm 70.03, 70.04,
70.05 hoặc 70.06.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Kính phẳng dùng cho các công dụng tương tự (đặc biệt các nhóm
70.05, 70.06 và 70.07).
(b) Các bộ phận quang học thuộc nhóm 70.14.
(c) Kính đồng hồ thời gian hoặc đồng hồ cá nhân đặc biệt được chế tạo
cho việc sử dụng trong phòng thí nghiệm (được khoan lỗ ở giữa,
được mài trên các cạnh để đảm bảo sự kín khí,...) (nhóm 70.17).
(d) Kính đeo mắt để hiểu chỉnh hoặc kính áp tròng, đã được gia công về
mặt quang học (Chương 90).
70.16 - Khối lát, tấm, gạch, tấm vuông, tấm lát (tiles) và các sản
phẩm khác bằng thủy tinh ép hoặc thủy tinh đúc, có hoặc
không có cốt lưới, thuộc loại được sử dụng trong xây dựng
hoặc mục đích xây dựng; khối thủy tinh nhỏ và đồ thủy tinh
nhỏ khác, có hoặc không có lớp lót nền, dùng để khảm hoặc
cho các mục đích trang trí tương tự; đèn phủ chì và các loại
tương tự; thủy tinh đa phân tử hoặc thuỷ tinh bọt dạng khối,
panel, tấm, lớp, vỏ hoặc các dạng tương tự.
7016.10 - Thủy tinh dạng khối và đồ thủy tinh nhỏ khác, có hoặc
không có lớp lót nền, dùng để khảm hoặc các mục
đích trang trí tương tự
7016.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm một loạt các sản phẩm thuỷ tinh thu được bằng
phương pháp ép hoặc phương pháp đúc khuôn (có hoặc không kết hợp
với phương pháp thổi), chúng chủ yếu được sử dụng làm mái nhà, vòm
mái nhà hoặc lối đi có mái vòm, nhưng khi kết hợp với bê tông chúng
cũng thường được sử dụng để ốp các vách bọc lót của các hầm chứa,
tầng hầm, hành lang dưới mặt đất, ...
Vì vậy nhóm này bao gồm cả gạch đặc hoặc rỗng, tấm vuông, tấm lát,
phiến và các sản phẩm đúc khác nhau (có hai đầu, ...). Nhóm này cũng
bao gồm cả các đồ trang trí kiến trúc (vành sứ hoa hồng, các trụ chính,
...) các bậc và thềm, tay vịn cầu thang, ...
Các sản phẩm này, khác nhau về độ trong mờ, có thể có các cạnh được
gia công hoặc được tạo rãnh, và có thể được trang trí bằng mẫu vẽ, có
cốt lưới hoặc được kết hợp với kim loại, bê tông hoặc các vật liệu khác.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Các khối khảm, thường được phủ màu hoặc một mặt được mạ vàng,
và các hình chữ nhật nhỏ bằng thuỷ tinh và các hình phẳng khác,
có hoặc không được mạ bạc, được sử dụng như vật liệu ốp tường, đồ
nội thất, ... Những sản phẩm này vẫn được phân loại ở đây, dù có
hoặc không có lớp lót nền bằng giấy, bìa cactông, vải dệt hoặc lớp
lót nền khác. Nhóm này cũng bao gồm các mảnh thuỷ tinh nhỏ
hoặc các mảnh vụn thuỷ tinh được phủ màu, thường bằng thuỷ
tinh mờ đục, những mảnh này được khảm trong chất gắn kết để tạo
ra các kiểu trang trí trên mặt chính của toà nhà.
(2) Đèn phủ chì dùng cho các nhà riêng, cửa sổ có kính màu cho nhà
thờ,... Những loại này bao gồm các panen, vành sứ hoa hồng,... được
tạo thành từ thuỷ tinh (thường được phủ màu toàn bộ, phủ màu bề
mặt hay được làm bằng kính cổ) có tất cả các hình dạng, được gắn
vào khung chì gắn kính, và đôi khi được gia cố bởi các thanh kim
loại.
Việc lắp ráp tương tự được làm với các can (vấu) bằng kim loại
khác, đặc biệt là tráng men đèn mạ đồng, để làm cho chúng có độ
bền nhiệt hơn.
(3) Kính nhiều ô hoặc kính bọt ở dạng khối, ván, tấm, vỏ hoặc các dạng
tương tự, thường thu được từ thuỷ tinh nóng chảy, khí nén được thổi
vào hoặc các tác nhân tách khí (bốc khí) được đưa vào trong thuỷ
tinh nóng chaỷ này. Điều này sẽ làm cho kính không màu hoặc
nhuộm màu có cấu trúc tương tự với cấu trúc của đá bọt, nó có trọng
lượng riêng không quá 0,5 (do đó công dụng của nó như một sản
phẩm thay thế cho lie), và được khoan, cưa, giũa, ... một cách dễ
dàng. Nó là một vật liệu cách nhiệt, cách âm và hấp thụ âm thanh,
được sử dụng, ở những dạng được đề cập ở trên, trong xây dựng, ...
Loại thuỷ tinh này cũng được sử dụng để sản xuất đai cứu sinh,
phao cứu hộ, các đồ trang trí, ... ở những dạng như vậy, nó bị loại
trừ khỏi nhóm này và được phân loại trong các nhóm có thể áp
dụng cho các sản phẩm tương tự bằng các thuỷ tinh khác (cụ thể là
các nhóm 70.13, 70.17 hoặc 70.20).
Nhóm này cũng loại trừ:
(a) Kính thuộc các nhóm 70.04 đến 70.06
(b) Kính hộp nhiều lớp (nhóm 70.08).
(c) Các panen hoàn thiện và các hoa văn trang trí khác được làm từ các
khối khảm (nhóm 70.20).
(d) Đèn phủ chì có tuổi trên 100 năm (nhóm 97.06).
70.17 - Đồ thủy tinh dùng cho phòng thí nghiệm, cho vệ sinh hoặc
dược phẩm, đã hoặc chưa được chia độ hoặc định cỡ
7017.10 - Bằng thạch anh nấu chảy hoặc dioxit silic nấu chảy
khác:
7017.20 - Bằng thủy tinh có hệ số giãn nở tuyến tính không quá
5 x 10-6 độ Kenvin khi ở nhiệt độ từ 0oC đến 300oC
7017.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các sản phẩm thuỷ tinh chung được có mục đích
sử dụng chung trong các phòng thí nghiệm (nghiên cứu, dược, công
nghiệp,...), bao gồm các chai chuyên dụng (chất làm sạch khí, thuốc thử,
Woulfs,...), các ống chuyên dụng (làm sạch khí, làm khô, ngưng tụ, bộ
lọc, buret khí, ống nghiệm,...), dụng cụ khuấy, bình chưng cất, bình chia
độ, bình nuôi cấy (Kolle, Roux,...), buret các loại, đĩa làm bay hơi, bình
đo thể tích, bình (hay nắp) thuỷ tinh hình chuông và các thùng chứa
(chân không, thót cổ,...), các bình nhỏ giọt chuyên dụng (được định cỡ,
chia độ,...), bình chưng, đĩa kết tinh, tang sấy khô, tấm và đĩa lọc, thìa,
tủ sấy, màng thẩm tách, ống lồng (đầu nối), thiết bị ngưng tụ, thùng chứa
cho các thiết bị chưng cất, các phễu chuyên dụng (có van đóng, các phễu
dạng hình cầu,...) các bình chứa hình trụ, nồi, nồi lọc, bình thót cổ
chuyên dụng (hình nón, nhiều chỗ thắt,...), đèn cồn chuyên dụng, cối, đĩa
cân hình thuyền, pipet (ống hút chia độ), bình chân không có các kiểu
chuyên dụng khác nhau (không được phân loại trong nhóm 96.17),
bình rửa, van đóng, dao trộn, bình (thùng) (lọc, kết tủa, nhiều chỗ
thắt,...), lò nung, nồi nấu kim loại, tấm dỡ, tiêu bản kính hiển vi và kính
bảo vệ,...
Cần tham khảo chú giải nhóm 90.27 về các nguyên tắc điều chỉnh việc
phân loại các dụng cụ và thiết bị phân tích lý, hoá, những loại mà dù có
khả năng thuộc nhóm 90.27 vẫn có thể đồng thời được coi như là dụng
cụ thuỷ tinh dùng trong phòng thí nghiệm của nhóm này. Việc tham
khảo này sẽ chỉ ra rằng nhóm này bao gồm như tỷ trọng kế axit (trừ
những loại thuộc nhóm 90.25), dụng cụ đo tỷ trọng sữa, dụng cụ đo tỷ
trọng dầu, dụng cụ đo tỷ trọng dầu - sữa, và các dụng cụ tương tự để
kiểm tra các sản phẩm sữa; abumen kế và uree kế, ống đo khí, thể tích kế
chất rắn, nitơ kế (dụng cụ định lượng nitơ), các thiết bị Kipps và
Kjeldahl và tương tự, canxi kế (xác định hàm lượng canxi), khí cụ đo
nhiệt độ đông lạnh và máy nghiệm sôi để xác định trong lượng phân
tử,...
Khái niệm "đồ thuỷ tinh dùng cho vệ sinh hoặc dược phẩm" đề cập đến
các sản phẩm có mục đích sử dụng chung không yêu cầu phục vụ cho
một nghề nhất định. Vì vậy nhóm này bao gồm các vòi phun (dùng cho
bơm tiêm, chất thụt rửa, ...), bồn đi tiểu tiện, cái bô, bô đi tiểu trên
giường, ống nhổ, đồ thuỷ tinh vuốt thúc rỗng, dụng cụ vắt sữa (có hoặc
không có quả bóp cao su), chén dùng để rửa mắt, máy xông khí dung và
dụng cụ khống chế lưỡi. Cũng bao gồm các lõi cuộn chỉ phẫu thuật.
Các sản phẩm thuộc nhóm này có thể được chia độ hoặc định cỡ. Chúng
có thể được làm bằng thuỷ tinh thông thường (đặc biệt cho các mục đích
dược hoặc vệ sinh), nhưng dụng cụ thuỷ tinh dùng cho phòng thí nghiệm
thường bằng thuỷ tinh borosilicat, thạch anh nấu chảy hoặc ôxit silic nấu
chảy khác do tính bền vững hoá học cao hơn và hệ số giãn nở của loại
thuỷ tinh này thấp.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các đồ chứa dùng trong vận chuyển hoặc đóng hàng (nhóm 70.10),
kính đồng hồ cá nhân uốn cong thông thường đôi khi được sử dụng
trong phòng thí nghiệm (nhóm 70.15), xem Chú giải Chi tiết nhóm
này), các chai hiển thị hóa học chuyên dụng và đồ thuỷ tinh sử dụng
cho mục đích công nghiệp (nhóm 70.20).
(b) Các dụng cụ và thiết bị thuỷ tinh thuộc Chương 90, ví dụ, bơm tiêm
dưới da, ống thông dò chuyên dụng và các sản phẩm khác là các
dụng cụ hoặc thiết bị y tế, phẫu thuật, nha khoa hoặc thú y (nhóm
90.18), tỷ trọng kế và các dụng cụ nổi, nhiệt kế, hoả kế và khí áp kế
thuộc nhóm 90.25 dụng cụ và thiết bị thuộc nhóm 90.26 (để đo và
kiểm tra lưu lượng chất lỏng,...) và các dụng cụ và thiết bị phân tích
hoá hoặc lý,... thuộc nhóm 90.27.
70.18 - Hạt bi thủy tinh, thủy tinh giả ngọc trai, thủy tinh giả đá quý 70.18 - Glass beads, imitation pearls, imitation precious or semi-
hoặc đá bán quý và các đồ vật nhỏ tương tự bằng thủy tinh,
và các sản phẩm làm từ các loại trên trừ đồ trang sức làm
bằng chất liệu khác; mắt thủy tinh trừ các bộ phận cơ thể giả
khác; tượng nhỏ và các đồ trang trí khác bằng thủy tinh
được gia công bằng đèn xì (lamp-worked), trừ đồ trang sức
làm bằng chất liệu khác; vi cầu thủy tinh có đường kính
không quá 1 mm.
7018. - Hạt bi thủy tinh, thủy tinh giả ngọc trai, thủy tinh giả đá
quý hoặc đá bán quý và các đồ vật nhỏ tương tự bằng
thủy tinh
7018.20 - Vi cầu thuỷ tinh có đường kính không quá 1 mm
7018.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm một loạt các sản phẩm đa dạng bằng thuỷ tinh, hầu
hết chúng được sử dụng trực tiếp hoặc sau khi gia công thêm cho các
mục đích trang trí và trang hoàng.
Nhóm này bao gồm:
(A) Hạt bi thuỷ tinh (ví dụ làm chuỗi hạt đeo cổ, tràng hạt, hoa giả, các
đồ trang trí cho mồ mả,..., để trang trí các sản phẩm dệt (đồ trang trí,
đồ thêu,...), túi xách hoặc các đồ tương tự, hoặc để sử dụng như các
vật cách điện). Những hạt này, có hoặc không nhuộm màu, ở dạng
các hạt cầu nhỏ được khoan lỗ, hầu như có hình tròn, chúng thu
được từ các ống mà được cắt thành các đoạn có chiều dài và đường
kính xấp xỉ bằng nhau. Các ống trụ nhỏ tạo thành sau đó cùng với
một hỗn hợp các nguyên liệu dạng bột (chì than, graphit, thạch
cao,...) được đưa vào trống kim loại quay trên lò. Nhiệt làm mềm
các ống trụ thuỷ tinh và lực ma sát (sự mài xát) sẽ tạo cho chúng có
hình dạng hâù như là hình cầu, trong khi nguyên liệu dạng bột ngăn
cho chúng khỏi dính chặt vào một hình trụ khác.
(B) Thủy tinh giả ngọc trai, rỗng hoặc đặc, có tất cả các màu, hình dạng,
kích cỡ, giống ngọc trai thật. Hầu hết các loại thủy tinh giả ngọc trai
rỗng thu được bằng cách thổi các quả cầu thuỷ tinh mỏng dọc theo ống
thuỷ tinh có đường kính rất nhỏ và sau đó tách chúng ra khỏi nhau. Do
quá trình sản xuất, những ngọc trai này có hai lỗ đối diện trực tiếp mà
qua đó một sợi dây có thể được xuyên qua. thủy tinh giả ngọc trai rỗng
cũng có thể được thổi dọc theo thanh thuỷ tinh. Một vật liệu có chứa
tinh chất ngọc trai (một chất sền sệt bao gồm một số vảy cá được hoà
tan trong dung dịch amoniac) sau đó được thổi thành các hạt cầu thuỷ
tinh, và đôi khi chúng được chứa đầy sáp parafin màu trắng để tăng sự
rắn chắc của chúng. Những hạt như vậy có thể được phân biệt dễ dàng
với ngọc trai thật thông qua độ nhẹ của chúng và thực tế rằng chúng có
thể bị nghiền nhỏ dưới áp lực rất nhẹ.
Thủy tinh giả ngọc trai đặc thu được bằng cách xoay tròn giọt thuỷ
tinh trên một dây đồng trong ngọn lưả hoặc bằng cách đúc thuỷ tinh
trong các khuôn nhỏ nằm ngang qua một ống đồng mỏng. Sau khi
làm nguội, kim loại được hoà tan trong axit nitric, thuỷ tinh không
bị ăn mòn và thủy tinh giả ngọc trai có một lỗ xuyên tâm. thủy tinh
giả ngọc trai này sau đó được phủ tinh chất ngọc trai và cuối cùng
phủ một lớp bảo vệ bằng sơn bóng trong suốt.
(C) Thuỷ tinh giả đá quý (kể cả thuỷ tinh giả đá bán quý) không được
nhầm lẫn với đá quý tổng hợp hoặc tái tạo thuộc nhóm 71.04 (xem
Chú giải tương ứng). Những loại thuỷ tinh giả đá quý này được làm
bằng thuỷ tinh đặc biệt (ví dụ thuỷ tinh Strass) có chỉ số khúc xạ
cao, thuỷ tinh giả đá quý này có thể không màu hoặc nhuộm màu
trực tiếp với ôxit kim loại.
Thuỷ tinh giả đá quý thường thu được bằng cách cắt các mảnh có
kích cỡ theo yêu cầu từ một khối thuỷ tinh, những mảnh này sau đó
được xếp trên một tấm kim loại phủ tripoli ( đá tảo silic) và được
đặt đặt vào lò nung nhỏ, trong đó các cạnh của các mảnh này được
làm tròn. Thuỷ tinh giả đá quý này sau đó có thể được cắt (thành
dạng hình thoi, hình thoi cắt hoa hồng,...) hoặc được chạm trổ (các
đồ trang sức đá chạm giả hoặc đá quý có hình chạm giả). Thuỷ tinh
giả đá quý cũng có thể thu được bằng cách đúc khuôn trực tiếp (ví
dụ trong trường hợp đá có hình dạng xác định dùng cho các đồ nữ
trang rẻ tiền). Mặt dưới thuỷ tinh giả đá quý này thường được phủ
sơn kim loại phản quang (hoàn thiện dạng ngọc).
(D) Các đồ vật nhỏ khác bằng thuỷ tinh như san hô giả.
(E) Các sản phẩm thuỷ tinh khác nhau (trừ đồ trang sức làm bằng
chất liệu khác), thu được bằng cách lắp ráp một số sản phẩm riêng
rẽ được đề cập ở trên, như hoa, bộ lá và các đồ trang trí ngọc trai
cho vòng hoa, các tua được làm từ các hạt hoặc bi và được định
dùng cho các chao đèn, kệ,..., rèm và màn che ở cửa ra vào được
làm bằng các hạt hoặc bi thuỷ tinh, và tấm trải bàn ăn được làm
tương tự, tràng hạt được làm từ các hạt bi thuỷ tinh hoặc thuỷ tinh
giả đá quý hoặc đá bán quý.
(F) Mắt thuỷ tinh (trừ những loại mắt để cho người sử dụng (nhóm
90.21), ví dụ, mắt thuỷ tinh cho búp bê, người máy, thú nhồi. Tuy
nhiên, mắt thuỷ tinh của búp bê được gắn với một cơ cấu nhắm mắt
mở mắt bị loại trừ (nhóm 95.03).
(G) Tượng nhỏ và các đồ trang trí khác (trừ đồ đồ trang sức làm
bằng chất liệu khác) bằng thuỷ tinh được gia công bằng đèn xì
(lamp-worked) thu được bằng cách gia công thuỷ tinh ở trạng
thái sền sệt với sự trợ giúp của một đèn thổi. Những sản phẩm
này được thiết kế để đặt trên các kệ (động vật, các cây nhỏ, tượng
nhỏ,...). Chúng thường được làm bằng thuỷ tinh trong suốt (pha
lê chì, strass,...) hoặc thuỷ tinh "tráng men".
(H) Vi cầu thuỷ tinh đường kính không quá 1mm, được sử dụng để
sản xuất các panen cho các hộp tín hiệu giao thông, màn hình
chiếu phim hoặc màn ảnh phản chiếu, hoặc trong việc làm sạch
động cơ phản lực máy bay hay các bề mặt kim loại. Chúng là các
hạt cầu hoàn hảo có mặt cắt ngang đặc.
Hoa, cành, lá và trái cây bằng thuỷ tinh đúc hoặc đổ khuôn, để trang trí
nội thất và tương tự, bị loại trừ (nhóm 70.13). Các sản phẩm trang trí xa
xỉ bằng thuỷ tinh được gia công bằng đèn xì kết hợp với kim loại quý
hoặc kim loại mạ kim loại quý trừ những loại như đồ trang trí nhỏ hơn,
hoặc để tạo thành đồ kim hoàn giả như được định rõ cho các mục đích
blinds and portières made of glass beads or bugles, and table mats
của Chương 71, sẽ thuộc Chương đó.
Nhóm này không bao gồm :
(a) Bột thuỷ tinh, thường được mạ bạc hoặc nhuộm màu, để trang trí bưu
thiếp, bưu ảnh, các đồ trang trí cây thông Nôen,... (nhóm 32.07).
(b) Túi xách và các sản phẩm tương tự bằng da hoặc hàng dệt, được
trang trí bằng các hạt/bi thuỷ tinh, thuỷ tinh giả ngọc trai hoặc thuỷ
tinh giả đá quý hay đá bán quý (nhóm 42.02).
(c) Bưu ảnh, thiệp Giáng sinh và các loại tương tự gắn đồ trang trí bằng
thuỷ tinh (nhóm 49.09).
(d) Sản phẩm dệt gắn vật liệu để đính trang trí bằng các hạt thuỷ tinh
(phần XI và đặc biệt là nhóm 58.10).
(e) Vải phủ các vi cầu để làm màn lọc quay phim,... (nhóm 59.07).
(f) Giầy dép, mũ và vật đội đầu khăn trùm đầu, ba toong và các loại ô,
dù được trang trí các hạt thuỷ tinh, thuỷ tinh giả ngọc trai hoặc thuỷ
tinh giả đá quý hay đá bán quý (các Chương 64, 65 và 66).
(g) Thủy tinh giả ngọc trai, thủy tinh giả đá quý hoặc đá bán quý được
gắn hoặc nạm kim loại quý hay kim loại mạ kim loại quý (nhóm
71.13 hoặc 71.14) hoặc đồ trang sức làm bằng chất liệu khác, trong
nghĩa của nhóm 71.17 (xem Chú giải Chi tiết tương ứng).
(h) Khuy măng séc (phù hợp nhóm 71.13 hoặc 71.17).
(ij) Đồ chơi, thiết bị trò chơi trò giải trí, các đồ trang trí cây thông Nôen
(bao gồm cả các quả bóng nhỏ bằng thuỷ tinh thổi mỏng) (Chương
(k) Khuy áo và đinh khuy tán (phù hợp nhóm 96.06 hoặc Chương 71 ).
(d) Textile articles incorporating appliqué work of glass beads (Section
70.19 - Sợi thủy tinh (kể cả len thủy tinh) và các sản phẩm của nó (ví
dụ, sợi xe (yarn), sợi thô, vải dệt thoi) (+).
- Cúi sợi (sliver), sợi thô, sợi xe (yarn) và sợi bện đã cắt
đoạn và chiếu (mat) làm từ chúng:
7019.11 - - Sợi bện đã cắt đoạn, chiều dài không quá 50 mm
7019.12 - - Sợi thô
7019.13 - - Cúi sợi (sliver), sợi xe (yarn) khác
7019.14 - - Chiếu (mat) được liên kết bằng cơ học
7019.15 - - Chiếu (mat) được liên kết hóa học
7019.19 - - Loại khác
- Vải được liên kết bằng cơ học:
7019.61 - - Vải dệt thoi khổ đóng từ sợi thô
7019.62 - - Vải khổ đóng khác từ sợi thô
7019.63 - - Vải dệt thoi khổ đóng, dệt vân điểm, từ sợi xe, không
tráng hoặc ép lớp
7019.64 - - Vải dệt thoi khổ đóng, dệt vân điểm, tù sợi xe, được
tráng hoặc ép lớp
7019.65 - - Vải dệt thoi khổ mở có chiều rộng không quá 30 cm
7019.66 - - Vải dệt thoi khổ mở có chiều rộng trên 30 cm
7019.69 - - Loại khác
- Vải được liên kết hóa học:
7019.71 - - Voan (tấm mỏng)
7019.72 - - Vải khổ đóng khác
7019.73 - - Vải dệt khổ mở khác
7019.80 - Len thủy tinh và các sản phẩm từ len thủy tinh
7019.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm chính sợi thuỷ tinh và sợi thuỷ tinh (kể cả bông thuỷ
tinh như đã được định nghiã trong Chú giải 4 của Chương này) được làm
thành các dạng khác nhau, kể cả các sản phẩm từ sợi thuỷ tinh đã bị loại
trừ khỏi các nhóm khác do bản chất của chúng.
Sợi thuỷ tinh có các đặc tính sau: chúng kém mềm dẻo hơn sợi dệt có
nguồn gốc thực vật hoặc động vật (sợi chỉ thuỷ tinh không thể thắt nút
được dễ dàng); chúng bền chắc (bền chắc hơn bất kỳ sợi dệt nào thuộc
phần XI); và về độ bền kéo, chúng mạnh hơn thép có trọng lượng nhẹ
hơn); chúng không giãn ra hoặc co lại, mang lại sự ổn định kích thước
tốt; chúng không hút ẩm; chúng không cháy; và có độ dẫn âm và nhiệt
thấp (trong một số trường hợp); chúng không bị mục nát và có khả năng
chống nước và hầu hết các loại axit; chúng có độ nhạy tia cực tím thấp;
chúng là chất dẫn điện kém và có tính thấm điện môi; chúng tương thích
với ma trận hữu cơ.
Len thủy tinh (sợi định hướng ngẫu nhiên) là sản phẩm thủy tinh trong
đó các sợi thủy tinh được định hướng ngẫu nhiên, tạo thành một sản
phẩm cồng kềnh, chủ yếu được sử dụng cho mục đích cách nhiệt.
Có hai loại sợi thủy tinh:
(a) (liên tục) sợi thủy tinh dạng sợi bao gồm một số lượng lớn các sợi
nhỏ song song liên tục có đường kính thường từ 3 đến 34 µm
(microns); Sau khi tạo hình, các sợi liên tục đó được giữ lại với nhau
thành một sợi (một quy trình còn được gọi là "cắt hồ") được thiết kế
để tạo điều kiện thuận lợi cho các bước sản xuất tiếp theo (cắt, cuộn,
xoắn, dệt, v.v.).
(b) sợi thủy tinh không liên tục (sợi thủy tinh chủ yếu) bao gồm các sợi
được cắt hoặc đứt thành từng đoạn ngắn trong quá trình sản xuất và
được kéo thành một sợi liên tục gồm các sợi được lắp ráp lỏng lẻo.
Sợi thủy tinh có thể được tiếp tục chế biến thành các sản phẩm sau
của nhóm này:
- chiếu và vải lưới có các sợi liên kết hóa học, ví dụ chiếu sợi cắt
nhỏ, chiếu sợi liên tục và các loại vải thông thường không dệt,
như mạng che mặt (tấm mỏng), vải mỏng,…
- vải và chiếu có sợi liên kết cơ học, ví dụ vải dệt thoi, vải không
uốn, vải dệt kim, vải khâu, vải có kim như vải dệt thoi, vải lưới
hở, lưới,…
Trừ một vài ngoại lệ, sợi thuỷ tinh có thể thu được bởi các phương pháp
khác nhau. Những phương pháp này có thể được phân thành ba loại
chính:
(I) Phương pháp kéo bằng cơ khí.
Phương pháp này hỗn hợp cát, đá vôi và cao lanh được nấu chảy trong
lò để sản xuất thủy tinh. Tùy thuộc vào thành phần, các loại kính khác
nhau có thể được sản xuất. Thuỷ tinh chảy vào buồng đốt trước, mặt
dưới của nó được gắn với các khuôn kéo sợi thuỷ tinh (ống lót) được
làm từ hợp kim loại quý (thường bằng rôđi hoặc platin) để chịu nhiệt
độ cao. Các khuôn kéo sợi này được khoan rất nhiều lỗ nhỏ mà qua đó
các filament thuỷ tinh nóng chảy chảy qua. Sau một quá trình xử lý
định cỡ (ví dụ với silicon), các sợi được tạo thành này hoặc tiếp tục
được chuyển đến trục tâm tốc độ cao, trục này kéo chúng trên ống bìa
cứng hoặc cắt trực tiếp dưới ống lót. Các sợi thủy tinh thu được (sợi cắt
đoạn) có thể được tiếp tục xử lý thành chiếu và vải.
(II) Phương pháp kéo li tâm.
Ở phương pháp này, thuỷ tinh nấu chảy trong các nồi nấu được đổ
lên trên một đĩa bằng sét chịu lửa quay tròn ở tốc độ lớn và có gắn
dọc theo đường ngoại vi một số lượng rất lớn các răng. Thuỷ tinh
này dính chặt vào đĩa, đĩa được đốt nóng bởi ngọn lửa từ lò nấu,
nhưng đồng thời nó được kéo thành các sợi bởi lực ly tâm. Những
sợi này được thổi văng ra lên trên một bàn tĩnh và được cuộn vào
một tang trống làm nguội.
Bằng phương pháp này việc sản xuất các sợi ngắn như bông thuỷ
tinh, được sử dụng ở dạng đống mà không cần kéo sợi.
(III) Phương pháp kéo nhờ dung dịch lỏng.
Phương pháp này, việc kéo được thực hiện nhờ các tia hơi nước áp
suất cao hoặc không khí nén được thổi từ một cạnh vào các sợi thuỷ
tinh nóng chảy đến từ lò nấu qua một tấm kéo . Dưới tác dụng của
những tia này, các sợi bị đứt thành những đoạn ngắn, những đoạn
mà được phủ chất bôi trơn trong quá trình sản xuất.
Do đó, các sợi không liên tục thu được bằng cách này được cuộn vào
một tang trống để tạo thành hoặc là các tấm (dệt) được sử dụng (các
phôi cách điện), hoặc là các sợi xơ ngắn (staple) mà có thể được kéo
tiếp tục thành sợi chỉ.
Vải làm từ sợi thủy tinh thường thu được từ quá trình sản xuất và có thể
được nhóm thành hai loại chính:
(I) Liên kết hóa học:
(a) Quy trình làm màn che bằng kính, trải ướt hoặc khô
(b) Quá trình xếp chồng lên nhau.
(II) Liên kết cơ học:
(a) Quy trình dệt:
Máy dệt, hay khung dệt, đan xen các sợi dọc (theo chiều dọc) và sợi nhồi
(sợi ngang) theo các kiểu dệt khác nhau (dệt vân điểm, dệt leno, v.v.) để
tạo thành cấu trúc vải kín (closed) hoặc hở (open).
(b) Quy trình đan:
Máy dệt kim cho phép tạo ra các cấu trúc vải phẳng hoặc hình ống bằng
các vòng đan xen của các sợi được kết nối bằng hệ thống dệt kim theo
hướng dài (đan dọc) hoặc theo hướng rộng (đan ngang). Công nghệ dệt
kim dọc thường được sử dụng để may các loại vải nhiều lớp.
(c) Các quy trình công nghiệp dệt khác: khâu, khâu kim, v.v.
Vải có thể có cấu trúc kín (chẳng hạn như vải dệt thoi hoặc vải nhiều
trục) hoặc hở (chẳng hạn như vải dệt thoi dạng lưới hở hoặc vải lưới),
tùy thuộc vào yêu cầu kỹ thuật của các công đoạn sản xuất tiếp theo cần
thiết để có được sản phẩm cuối cùng. Cần có vải cấu trúc kín để ngâm
tẩm nhựa, trong khi vải hở với cấu trúc hở đều là cần thiết để sản xuất
màn chống muỗi hoặc lưới gia cố để sửa chữa tường, nơi mà lớp trát
hoặc thạch cao phải chảy qua cấu trúc lưới.
Đặc biệt Sợi thuỷ tinh và các sản phẩm bằng sợi thuỷ tinh thuộc nhóm
này có thể ở các dạng sau:
(A) Bông thuỷ tinh ở dạng đống, ván, tấm, nệm bằng bông thủy tinh.
(B) Mảnh, sợi thô, sợi chỉ và sợi bện được cắt đoạn.
(C) Vải liên kết bằng cơ học, kể cả vải khổ hẹp.
(D) Các loại vải được liên kết hóa học bao gồm các tấm màn (tấm mỏng)
hoặc các tấm vải mỏng.
Nhóm này cũng bao gồm tấm rèm (màng ngăn), màn (trướng) và các sản
phẩm khác bằng vải dệt từ thuỷ tinh.
Cần nhấn mạnh rằng mặc dù "đồ thêu hoá học" hoặc các đồ thêu không
lộ nền, trong đó các sợi chỉ thêu bao gồm các sợi thuỷ tinh, được phân
loại trong nhóm này, đồ thêu mà có trong bất kỳ sản phẩm dệt nào được
phân loại trong phần XI, mà trong đó một vài kết quả thu được bằng
những chỉ thêu được làm bằng sợi thuỷ tinh, sẽ bị loại trừ (nhóm
Việc sử dụng sợi thủy tinh và vải làm từ sợi thủy tinh rất nhiều, ví dụ:
(1) Đối với cơ sở hạ tầng, sử dụng môi trường và sản xuất năng lượng
xanh (ví dụ: vải đa trục gia cố cánh gió, vải địa kỹ thuật để gia cố
đường, vật liệu tổng hợp trong kết cấu cầu, v.v.).
(2) Trong lĩnh vực xây dựng và xây dựng (ví dụ: để gia cố màng lợp
hoặc ván lợp, chiếu, xi măng và tấm thạch cao, vải dệt kiến trúc, tấm
ốp mặt tiền, sửa chữa tường và hệ thống composite cách nhiệt bên
ngoài, v.v.).
(3) Cho đồ nội thất và trang trí nội thất (ví dụ, cho nệm ghế, đồ treo
tường, màn cửa, màn, mùng, màn chống nắng), ở dạng vải dệt, loại
mà có thể được nhuộm hoặc in.
(4) Cho các mục đích cách nhiệt và bảo vệ nhiệt độ cao (ví dụ: cho các
mái cách nhiệt, ống khói, nồi hơi, lò, đường ống hơi nước, thùng tua
bin hơi nước, ống và đường ống, tủ đá và các xe hoặc toa cách
nhiệt) ở dạng các sợi ở dạng đống, mấu nhỏ, dạ nỉ, lớp độn, lớp bọc
(cho các ống) hoặc dây bện (có hoặc không được thấm, tẩm keo, hồ,
nhựa hoặc các chất khác, hoặc bằng giấy, vải sợi dệt hay lưới thép).
(5) Để cách điện (ví dụ: cho dây điện, cáp hoặc thiết bị mang dòng điện
khác) ở dạng dây tóc, sợi, băng, dây bện, vải (có hoặc không được
ngâm tẩm bằng nhựa tự nhiên, nhựa, nhựa đường, v.v.) và để gia cố
PCB (board mạch in) dùng trong công nghiệp điện tử (máy xử lý dữ
liệu tự động, điện thoại…).
(6) Để cách âm (ví dụ cho các căn hộ, văn phòng, các cabin tàu thuyền,
nhà hát) ở dạng các sợi dạng đống, dạ nỉ, đệm hoặc các tấm ép cứng.
(7) Để gia cố nhựa nhiệt dẻo và nhiệt rắn trong các quy trình sản xuất
khác nhau và cho nhiều ứng dụng như thùng chứa, bể chứa và các
đường ống để cất giữ và vận chuyển chất lỏng, vỏ bọc hay nắp đậy
các máy móc và các bộ phận dập khuôn khác để sử dụng trong công
nghiệp và nông nghiệp, bộ giảm chấn cho ô tô, thiết bị cho các xe
xích, xe chạy đường ray hoặc máy bay, thiết bị gia dụng, vỏ thuyền,
cần câu, ván trượt, vợt tennis và các vật dụng thể thao khác, v.v.
(6) Để sản xuất nhiều loại sản phẩm công nghiệp khác nhau như:
các sản phẩm lọc cho sự điều hoà không khí hoặc cho ngành hóa
chất, gia cố bánh mài, chăm sóc y tế, gia cố bao bì, v.v.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các bán thành phẩm và các sản phẩm thu được bằng cách nén các sợi
thuỷ tinh, hoặc các lớp chồng lên mặt bằng sợi thuỷ tinh, được thấm
chất dẻo, nếu có đặc tính cứng, rắn và do đó mà làm mất đi đặc tính
của các sản phẩm bằng sợi thuỷ tinh (chương 39).
(b) Sợi khoáng (xem Chú giải 4 cho Chương 70) và các sản phẩm của
chúng thuộc nhóm 68.06.
(c) Tấm lợp có chất chứa vải dệt bằng sợi thuỷ tinh được bao phủ hoàn
toàn, hoặc phủ trên cả hai mặt, một lớp atphan (nhựa đường) hoặc
vật liệu tương tự (nhóm 68.07).
(d) Kính hộp nhiều lớp có một lớp xen giữa bằng sợi thuỷ tinh (nhóm
(e) Cáp sợi quang học thuộc nhóm 85.44, vật cách điện (nhóm 85.46) và
các phụ kiện bằng vật liệu cách điện (nhóm 85.47).
(f) Sợi quang, bó dây và cáp quang học thuộc nhóm 90.01.
(g) Bộ tóc giả của búp bê bằng sợi thuỷ tinh (nhóm 95.03) và cần câu
được làm bằng những sợi thuỷ tinh được thiêu kết với nhựa tổng
hợp (nhóm 95.07).
(h) Bàn chải bằng sợi thuỷ tinh (nhóm 96.03).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 7019.11
Sợi bện đã cắt đoạn được sản xuất bằng cách cắt những sợi bện có chứa
nhiều sợi song song. Nói chung, các sợi bện đã cắt đoạn được sử dụng để
tạo độ bền, ví dụ như cho chất dẻo hoặc vữa (hồ) hoặc cho các bộ lọc
khác nhau (không khí, dầu, v.v.).
Phân nhóm 7019.12
Sợi thô bằng thuỷ tinh là tập hợp các sợi song song (sợi thô được lắp
ráp hoặc nhiều đầu) hoặc các sợi song song (sợi thô trực tiếp hoặc một
đầu) được lắp ráp mà không cần xoắn có chủ ý từ các bánh sợi thủy tinh
(xem phần sau) và thường không có ống bìa cứng.
Các sợi thủy tinh thu được trong quá trình kéo cơ học và quấn dưới ống
lót trên các ống bìa cứng dẻo được gọi là “bánh sợi thủy tinh”. Những
bánh sợi thủy tinh không xoắn này là sản phẩm trung gian, việc xử lý và
phân loại tiếp theo phụ thuộc vào đường kính sợi (tính bằng micron) và
trọng lượng (tính bằng tex) của chúng.
Bánh sợi thủy tinh có đường kính sợi không quá 14 micron và nặng 300
tex trở xuống là loại sợi nhẹ và dày thường được gọi là “bánh dệt” và
được thiết kế để sản xuất sợi và vải mềm nhẹ. Những loại sợi dày và nhẹ
này không được xếp vào phân nhóm này (phân nhóm 7019.19).
Phân nhóm 7019.13
Phân nhóm này bao gồm mảnh. Một mảnh bao gồm các sợi rời có chiều
dài ngắn, thường chiều dài nhỏ hơn 380 mm. Sợi rời (sợi staple) được
sắp xếp một cách rời rạc, lỏng lẻo ở dạng song song thành một sợi bện
giống như dây thừng, xoắn ít hoặc không xoắn (dưới 5 vòng xoắn trên
một mét). Mảnh thường được sử dụng để sản xuất chỉ sợi staple, nhưng
cũng có thể chuyển qua sản xuất dây và cáp.
Sợi chỉ thuộc phân nhóm này được xoắn, và được làm từ sợi (filament)
liên tục hoặc từ sợi staple.
Sợi thường được cung cấp trên suốt chỉ nhựa hoặc trên dầm dọc kim
loại.
Chúng cũng có thể được kết cấu hoặc tạo khối. Trong quy trình này, sợi
thủy tinh được nạp quá nhiều trong một vòi phun, trong đó luồng không
khí tạo ra dòng chảy rối gây ra sự hình thành các vòng sợi và tạo ra độ
phồng nhẹ (tạo kết cấu) hoặc cao (làm phồng).
Những loại sợi này thường được cung cấp trên các ống bìa cứng và được
sử dụng trong nhiều ứng dụng khác nhau như:
- vải dệt phủ tường để tránh mặt phẳng,
- vải dệt để lợp mái,
- Sản phẩm cách nhiệt.
Phân nhóm 7019.14
Chiếu (mat) liên kết cơ học là sản phẩm gia cố phẳng bằng sợi thủy
tinh, bao gồm hàng trăm sợi sợi song song. Các sợi thủy tinh được phân
phối theo thứ tự ngẫu nhiên.
Trong chiếu liên kết cơ học, các sợi được khâu hoặc khâu lại với nhau.
Các sợi thủy tinh giữ nguyên hình dạng ở dạng các sợi song song được
phân bổ ngẫu nhiên, có thể tách riêng lẻ ra khỏi tấm chiếu bằng tay mà
không làm hỏng nó.
Phân nhóm 7019.15
Chiếu liên kết hóa học là sản phẩm gia cố phẳng của các sợi thủy tinh,
bao gồm hàng trăm sợi sợi song song được phân bổ theo thứ tự ngẫu
nhiên.
Trong chiếu liên kết hóa học, các sợi có thể được cắt (chiếu sợi không
liên tục) hoặc không cắt (chiếu sợi liên tục) và được giữ với nhau bằng
chất kết dính.
Chúng giữ nguyên hình dạng ở dạng các sợi song song được phân bổ
ngẫu nhiên, có thể tách riêng lẻ (sau khi phân giải chất kết dính) khỏi
chiếu bằng tay mà không làm hỏng nó.
Phân nhóm 7019.61
Vải dệt thoi cấu trúc kín (không có cấu trúc hở đều) được đan xen bằng
cách dệt trên khung dệt và không tráng hoặc ép lớp. Chúng thường có
trọng lượng trên 200 g/m2. Chúng chủ yếu được sử dụng cho các ứng
dụng vật liệu tổng hợp (ví dụ: năng lượng gió, công nghiệp ô tô).
Phân nhóm 7019.62
Các loại vải dệt thoi cấu trúc kín khác (không có cấu trúc hở đều),
được liên kết cơ học nhưng không dệt, chủ yếu được sử dụng cho các
ứng dụng tổng hợp.
Việc đóng gáy thường được thực hiện bằng cách khâu, nhưng cũng có
thể được thực hiện bằng kim.
Sản phẩm tiêu biểu là vải nhiều trục, phức hợp hoặc kết hợp (dệt sợi thô
của sợi thô nhiều đầu), là loại vải nhiều lớp được ghép lại với nhau bằng
đường khâu.
Phân nhóm 7019.63
Vải dệt thoi cấu trúc kín, dệt vân điểm, bằng sợi, chưa tráng hoặc ép
lớp. Ví dụ, chúng được sử dụng để che phủ các bức tường hoặc để cách
nhiệt và cách âm.
Vải dệt thoi cấu trúc kín, dệt vân điểm, bằng sợi, được tráng hoặc ép
lớp (với silicone, PTFE, nhôm) được sử dụng cho các ứng dụng công
nghiệp hoặc xây dựng khác nhau, ví dụ:
- ứng dụng kiến trúc,
- chống khói và chống cháy.
(Tráng phủ)
(ép lớp)
Phân nhóm 7019.65
Vải dệt thoi cấu trúc hở thuộc phân nhóm này có thể bao gồm các loại
vải lưới hở hẹp có cấu trúc “hở” đều đặn, ví dụ có hình tròn, hình bầu
dục, hình chữ nhật (kể cả hình vuông), hình tam giác đều hoặc đa giác
lồi đều, được liên kết cơ học. Chúng thường được sử dụng để gia cố góc
mặt tiền hoặc làm băng dán trên tường.
Phân nhóm 7019.66
Vải dệt thoi cấu trúc hở có cấu trúc “hở” đều đặn, ví dụ có dạng hình
tròn, hình bầu dục, hình chữ nhật (kể cả hình vuông), hình tam giác đều
hoặc đa giác lồi đều. Những loại vải dệt này có chiều rộng hơn 30 cm và
thường được sử dụng làm vật liệu gia cố cho mặt tiền trong các hệ thống
composite cách nhiệt bên ngoài, cho đá cẩm thạch và khảm, cho tấm
thạch cao, tường và sàn nhà.
Vải lưới nhẹ có lỗ hở dưới 1,8 mm thường được sử dụng làm lưới chắn
côn trùng hoặc chắn nắng.
Vải lưới hở nặng thường được gọi là vải địa kỹ thuật và được sử dụng
cho mục đích đất như gia cố hoặc ổn định mái dốc.
Vải lưới hở có lớp phủ thủy tinh silica hoặc kháng đặc biệt thường được
sử dụng để lọc ở nhiệt độ cao hoặc gia cố bánh mài.
Phân nhóm 7019.71
Tấm mỏng (voan) là những sản phẩm không dệt làm từ sợi thuỷ tinh
đơn lẻ (filament) phân bố theo thứ tự tuỳ tiện. Những sợi này được giữ
với nhau nhờ một chất dính kết và được ép và có thể hoặc không thể đưa
vào các chỉ gia cố, những chỉ mà hầu hết thường kéo căng theo chiều dài
khắp cả tấm.
Khác với chiếu thuỷ tinh, các sợi đơn lẻ của các sản phẩm này không thể
được tháo ra bằng tay mà không làm hư hại tấm này.
Các tấm mỏng có thể phân biệt với tấm dệt, đệm và các sản phẩm cách
nhiệt khác bởi độ dày thông thường của chúng, độ dày này không quá 10
Phân nhóm 7019.72
Các loại vải cấu trúc kín được liên kết hóa học khác có thể bao gồm
các tổ hợp sợi dệt thoi với các sợi được cắt nhỏ của sợi thô nhiều đầu, là
các loại vải nhiều lớp được ghép lại với nhau bằng liên kết bột và nhiệt.
Phân nhóm 7019.73
Các loại vải cấu trúc hở liên kết hóa học khác có thể bao gồm các lớp
vải lót được làm bằng các sợi (cấu trúc hở đều).
70.20 - Các sản phẩm khác bằng thuỷ tinh
Nhóm này bao gồm các sản phẩm bằng thuỷ tinh (kể cả các bộ phận của
sản phẩm bằng thuỷ tinh) không thuộc các nhóm khác của chương này
hoặc các chương khác trong Danh mục.
Những sản phẩm này vẫn thuộc nhóm này thậm chí khi được kết hợp với
các vật liệu khác trừ thuỷ tinh, với điều kiện chúng vẫn giữ nguyên đặc
tính cần thiết của các sản phẩm thuỷ tinh. Nhóm này bao gồm:
(1) Các sản phẩm công nghiệp như nồi, bát tô, xy lanh hoặc đĩa để đánh
bóng các loại da sống hoặc da, các thiết bị bảo vệ an toàn hoặc các
thiết bị khác, cốc tra mỡ, bộ phận dẫn hướng chỉ, lỗ quan sát và các
ống đo mức, các ống hình chữ S, cuộn dây, ống máng và máng
dùng cho các sản phẩm ăn mòn (thường bằng thạch anh nóng chảy
hoặc ôxit silic nóng chảy khác), các tang hấp thụ dùng cho axit
clohydric và các cột chảy nhỏ giọt
(2) Các sản phẩm dùng cho trồng trọt, chăn nuôi (thùng, máng xối,...) và
các dụng cụ làm vườn (lồng kính cho cây,...).
(3) Các chữ cái, số hiệu, bảng hiệu và các hoạ tiết tương tự dùng cho biển
cửa hàng và các cửa kính cửa hàng, có hoặc không có tranh ảnh hay
phần chữ viết được in (trừ những sản phẩm thuộc nhóm 70.06, 70.09
hoặc 70.14 hay thuộc nhóm 94.05 nếu được chiếu sáng).
(4) Ruột thủy tinh của phích chân không hoặc các loại bình chân không
khác, ngoài những loại được biến đổi bởi lớp phủ hay bất kỳ loại vỏ
bảo vệ nào khác (hoàn toàn hay một phần) vào phích chân không
hoặc các loại bình chân không khác thuộc nhóm 96.17. Phần bên
trong của các sản phẩm thuộc nhóm này thường được làm bằng thủy
tinh thông thường hoặc thủy tinh với một hệ số mở rộng thấp.
Chúng thường có dạng như hình trụ với thành kép phía bên trong
được mạ bạc hoặc vàng. Không gian giữa các lớp gần như là bị rút
hết không khí và được bịt kín. Nhóm này chỉ bao gồm ruột thủy tinh
bên trong. Chúng có thể là dạng hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn chỉnh
và có thể có hay không có thiết bị chặn hay tấm chắn khác (có được
lắp vào cùng hay không)
(5) Các sản phẩm khác như các phao cho lưới đánh cá, tay nắm và tay
cầm cho cửa ra vào, xích thùng,..., bình đựng chất màu nước, các đồ
gá lắp cho lồng chim (các máng uống hoặc máng cho ăn,...), các
bình trưng bày cho các cửa hàng, ống nhỏ giọt, đèn cồn trừ những
loại thuộc nhóm 70.17, các cốc để dùng cho các chân đàn pianô
hoặc đồ đạc, các panen hoàn thiện và các hoa văn trang trí khác
được làm từ khối khảm bằng thuỷ tinh, có hoặc không có khung,
phao cứu hộ và đai cứu hộ.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Tay nắm, tay cầm và các dạng tương tự bằng thuỷ tinh dùng cho ô và
các ba toong (nhóm 66.03).
(b) Vật cách điện và các phụ tùng bằng vật liệu cách điện thuộc nhóm
85.46 hoặc 85.47.
(c) Các dụng cụ, thiết bị và các sản phẩm khác thuộc Chương 90.
(d) Các sản phẩm thuộc Chương 91 (ví dụ: vỏ đồng hồ bằng thuỷ tinh,
trừ các vật phủ chỉ để bảo vệ)
(e) Nhạc cụ và các bộ phận, phụ tùng của chúng, thuộc Chương 92 (ví
dụ: âm thoa bằng ôxit silic nấu chảy)
(f) Đồ nội thất bằng thuỷ tinh và các bộ phận của chúng (Chương 94).
(g) Đồ chơi, thiết bị trò chơi trò giải trí, đồ trang trí cây thông Nôen, các
vật dụng cần thiết cho câu cá và đi săn và các sản phẩm thuỷ tinh
khác thuộc Chương 95.
(h) Các sản phẩm thuỷ tinh thuộc Chương 96 (ví dụ khuy áo, quản bút
máy, quản bút chì, đầu ngòi bút, bật lửa, bình xịt nước thơm, bình
cách nhiệt chân không (phích) và các loại bình chân không khác,
đầy đủ).
(ij) Đồ cổ, là sản phẩm có tuổi thọ trên 100 năm (nhóm 97.06).
PHẦN XIV
NGỌC TRAI TỰ NHIÊN HOẶC NUÔI CẤY, ĐÁ QUÝ HOẶC ĐÁ
BÁN QUÝ, KIM LOẠI QUÝ, KIM LOẠI ĐƯỢC DÁT PHỦ KIM
LOẠI QUÝ, VÀ CÁC SẢN PHẨM CỦA CHÚNG; ĐỒ TRANG
SỨC LÀM BẰNG CHẤT LIỆU KHÁC; TIỀN KIM LOẠI
Chương 71
Ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quý hoặc đá bán quý, kim loại
quý, kim loại được dát phủ kim loại quý, và các sản phẩm của
chúng; đồ trang sức làm bằng chất liệu khác; tiền kim loại
Chú giải.
1.- Theo Chú giải 1 (A) của Phần VI và loại trừ những sản phẩm được
liệt kê ở các mục dưới đây, thì tất cả các sản phẩm gồm toàn bộ
hoặc từng phần bằng:
(a) Ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy hoặc bằng đá quý hoặc đá bán
quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo), hoặc
(b) Kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý, được phân loại
trong Chương này.
2.- (A) Nhóm 71.13, 71.14 và 71.15 không bao gồm các sản phẩm mà
trong đó kim loại quý hoặc kim loại được dát phủ kim loại quý
chỉ đóng vai trò như là thành phần phụ, chẳng hạn như các đồ
đính kèm hoặc đồ trang trí phụ (ví dụ, chữ lồng, đai và viền), và
mục (b) của Chú giải trên không áp dụng cho các sản phẩm này.
(B) Nhóm 71.16 không bao gồm các sản phẩm có chứa kim loại quý
hoặc kim loại dát phủ kim loại quý (trừ khi chúng được coi như
là thành phần phụ).
3.- Chương này không bao gồm:
(a) Hỗn hống của kim loại quý, hoặc kim loại quý dạng keo (nhóm
(b) Vật liệu khâu vô trùng trong phẫu thuật, các chất hàn răng hoặc
các hàng hoá khác thuộc Chương 30;
(c) Các sản phẩm thuộc Chương 32 (ví dụ, các chất bóng);
(d) Các chất xúc tác có nền (nhóm 38.15);
(e) Các sản phẩm thuộc nhóm 42.02 hoặc 42.03 ghi trong Chú giải 3
(B) của Chương 42;
(f) Các sản phẩm thuộc nhóm 43.03 hoặc 43.04;
(g) Hàng hoá thuộc Phần XI (nguyên liệu dệt và các sản phẩm dệt);
(h) Giày dép, mũ và các vật đội đầu khác hoặc các sản phẩm khác
thuộc Chương 64 hoặc 65;
(ij) Ô dù, batoong, gậy chống hoặc các sản phẩm khác thuộc Chương
(k) Những sản phẩm dùng để mài mòn thuộc nhóm 68.04 hoặc 68.05
hoặc Chương 82, có chứa bụi hoặc bột đá quý hoặc đá bán quý (tự
nhiên hoặc tổng hợp); các sản phẩm thuộc Chương 82 có bộ phận
làm việc bằng đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái
tạo); máy móc, các thiết bị cơ khí hoặc hàng điện tử, hoặc các bộ
phận của chúng, thuộc Phần XVI. Tuy nhiên, các sản phẩm và các
bộ phận của chúng, toàn bộ bằng đá quý hoặc đá bán quý (tự
nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo) vẫn được phân loại trong Chương
này, trừ đá saphia và kim cương đã được gia công nhưng chưa
được gắn dùng cho đầu kim máy hát (nhóm 85.22);
(l) Các sản phẩm thuộc Chương 90, 91 hoặc 92 (dụng cụ khoa học,
đồng hồ thời gian và đồng hồ cá nhân, nhạc cụ);
(m) Vũ khí hoặc các bộ phận của chúng (thuộc Chương 93);
(n) Các sản phẩm ghi trong Chú giải 2 của Chương 95;
(o) Các sản phẩm được phân loại trong Chương 96 theo Chú giải 4
của Chương đó; hoặc
(p) Các tác phẩm điêu khắc hoặc tượng tạc nguyên bản (nhóm 97.03),
đồ sưu tập (nhóm 97.05) hoặc đồ cổ trên 100 năm tuổi (nhóm
97.06), trừ ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy hoặc đá quý hoặc đá
bán quý.
4.- (A) Khái niệm "kim loại quý" nghĩa là bạc, vàng và bạch kim.
(B) Khái niệm "bạch kim" nghĩa là platin, iridi, osmi, palladi, rodi và
(C) Khái niệm "đá quý hoặc đá bán quý" không bao gồm bất cứ một
loại nào đã được ghi trong Chú giải 2(b) của Chương 96.
5.- Theo mục đích của Chương này, hợp kim bất kỳ (kể cả hỗn hợp thiêu
kết và hợp chất liên kết kim loại) có chứa kim loại quý được xem như
là một hợp kim của kim loại quý nếu kim loại quý đó cấu thành bằng
2% tính theo khối lượng của hợp kim. Các hợp kim của kim loại quý
được phân loại theo các quy tắc sau:
(a) Một hợp kim có chứa 2% trở lên, tính theo khối lượng, là bạch
kim thì được coi là một hợp kim của bạch kim;
(b) Một hợp kim có chứa 2% trở lên, tính theo khối lượng, là vàng,
nhưng không có bạch kim, hoặc có dưới 2% tính theo khối lượng,
là bạch kim, thì được coi là hợp kim vàng;
(c) Các hợp kim khác chứa 2% trở lên, tính theo khối lượng, là bạc
thì được coi là hợp kim bạc.
6.- Trong Danh mục này, trừ khi có yêu cầu khác, khi đề cập đến kim
loại quý hoặc bất kỳ một kim loại quý cụ thể cần đề cập đến cả các
hợp kim đã được coi như hợp kim của kim loại quý hoặc của kim loại
quý cụ thể đó theo quy định đã nêu trong Chú giải 5 trên đây, nhưng
không áp dụng với kim loại được dát phủ kim loại quý hoặc kim loại
cơ bản hoặc phi kim loại dát phủ kim loại quý.
7.- Trong toàn bộ Danh mục này khái niệm "kim loại được dát phủ kim
loại quý" có nghĩa là vật liệu có nền là kim loại mà trên một mặt hoặc
nhiều mặt của kim loại đó được phủ kim loại quý bằng cách hàn
thiếc, hàn hơi, hàn điện, cán nóng hoặc các phương pháp bọc phủ cơ
khí tương tự. Trừ khi có yêu cầu khác, thuật ngữ này cũng bao gồm
kim loại cơ bản được khảm dát kim loại quý.
8.- Theo Chú giải 1(A) Phần VI, các hàng hoá giống như mô tả của
nhóm 71.12 được phân loại vào nhóm đó và không được xếp vào
nhóm nào khác của Danh mục.
9.- Theo mục đích của nhóm 71.13, khái niệm "đồ trang sức" có nghĩa
là:
(a) Các đồ vật nhỏ để trang sức cá nhân (ví dụ, nhẫn, vòng đeo tay,
dây chuyền, trâm cài, hoa tai, dây đồng hồ, dây đeo đồng hồ bỏ túi, mặt
dây chuyền, ghim cài cà vạt, khuy cài cổ tay áo, khuy cúc khác, huy
chương và phù hiệu tôn giáo hoặc huy chương và phù hiệu khác); và
(b) Các sản phẩm sử dụng cho mục đích cá nhân loại thường bỏ túi,
để trong túi xách tay hoặc mang trên người (ví dụ, hộp đựng thuốc lá
điếu hoặc hộp đựng xì-gà, hộp đựng thuốc lá bột, hộp đựng kẹo cao su
hoặc hộp đựng thuốc viên, hộp phấn, ví tay có dây hoặc chuỗi tràng hạt).
Các sản phẩm này có thể được kết hợp hoặc là một bộ, ví dụ, với
ngọc trai tự nhiên hoặc ngọc trai nuôi cấy, đá quý hoặc đá bán quý,
đá quý hoặc đá bán quý tổng hợp hoặc tái tạo, mai rùa, xà cừ, ngà, hổ
phách tự nhiên hoặc tái tạo, hạt huyền hoặc san hô.
10.- Theo mục đích của nhóm 71.14, khái niệm "đồ kỹ nghệ vàng hoặc
bạc" kể cả các sản phẩm như các đồ vật trang trí, bộ đồ ăn, đồ vệ
sinh, đồ dùng của người hút thuốc và các sản phẩm khác sử dụng
trong gia đình, văn phòng hoặc tôn giáo.
11.- Theo mục đích của nhóm 71.17, khái niệm "đồ trang sức làm bằng
chất liệu khác" có nghĩa là các sản phẩm trang sức như đã mô tả
trong nội dung của mục (a) Chú giải 9 ở trên (nhưng không kể các
loại khuy cài hoặc các sản phẩm khác thuộc nhóm 96.06, hoặc lược
chải, trâm cài tóc hoặc các loại tương tự, hoặc ghim cài tóc, thuộc
nhóm 96.15), không gắn ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quý
hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo) cũng không gắn
kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý (trừ trường hợp
tráng mạ hoặc chỉ là thành phần phụ).
Chú giải phân nhóm.
1 - Theo mục đích của các phân nhóm 7106.10, 7108.11, 7110.11,
7110.21, 7110.31 và 7110.41, khái niệm "bột" và "dạng bột" có nghĩa
là các sản phẩm có 90% trở lên tính theo khối lượng lọt qua rây
(sàng) có đường kính mắt rây (sàng) 0,5 mm.
2.- Mặc dù đã quy định trong Chú giải 4 (B) của Chương này, nhưng
theo các phân nhóm 7110.11 và 7110.19, khái niệm "bạch kim"
không bao gồm iridi, osmi, paladi, rodi hoặc rutheni.
3.- Theo phân loại các hợp kim trong các phân nhóm của nhóm 71.10,
mỗi hợp kim được phân loại theo kim loại, bạch kim, paladi, rodi,
iridi, osmi hoặc rutheni có hàm lượng trội hơn so với mỗi kim loại
khác.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm:
(1) Trong các nhóm từ 71.01 đến 71.04, ngọc trai tự nhiên hoặc nhân
tạo, kim cương, các loại đá quý hoặc đá bán quý khác (tự nhiên,
tổng hợp hoặc tái tạo), ngọc trai thô hoặc ngọc trai thô, nhưng chưa
được gắn, nạm dát hoặc xâu chuỗi; trong nhóm 71.05, phế liệu từ
quá trình gia công các loại đá cũng nằm trong nhóm này.
(2) Trong các nhóm từ 71.06 đến 71.11, các kim loại quý và kim loại
được phủ kim loại quý, chưa được gia công, bán thành phẩm, hoặc ở
dạng bột, nhưng chưa đạt tới mức của các sản phẩm được phân loại
trong phân Chương III, và trong nhóm 71.12, phế liệu và phế thải
của kim loại quý hoặc kim loại được phủ kim loại quý, và phế liệu
và phế thải chứa kim loại quý hoặc các hợp chất kim loại quý, của
một loại chủ yếu được sử dụng để thu lại kim loại quý.
Theo Chú giải 4 của Chương này, khái niệm "kim loại quý" có nghĩa
là bạc, vàng và bạch kim. Cần chú ý rằng thuật ngữ "platinum" cũng
bao gồm iridi (Ir), osmi (Os), paladi (Pd), rodi (Rh) và ruteni (Ru).
Theo Chú giải 5 của chương này, các hợp kim (trừ các hỗn hợp -
nhóm 28.43) có chứa các kim loại quý thì được phân loại như sau:
(A) Là hợp kim bạch kim - nếu chứa 2% trọng lượng trở lên là
bạch kim.
(B) Là hợp kim vàng, nếu chứa 2% trọng lượng trở lên là vàng,
nhưng không có bạch kim hoặc dưới 2% trọng lượng là bạch kim.
(C) Là hợp kim bạc, nếu các hợp kim khác có chứa 2% trọng
lượng trở lên là bạc.
(D) Là hợp kim kim loại cơ bản (phần XV) - tất cả các hợp kim
có chứa dưới 2% trọng lượng là bạch kim và dưới 2% trọng lượng là
vàng và dưới 2% trọng lượng là bạc.
Theo Chú giải 6 của Chương này, trừ khi có các yêu cầu khác, khi tham
chiếu tới kim loại quý thì cũng phải tham chiếu cả các hợp kim của nó như
được nhắc đến ở mục (A), (B) và (C) trên đây, nhưng không áp dụng với
kim loại được phủ kim loại quý, và cũng không tham chiếu đến các kim
loại cơ bản hoặc phi kim loại có mạ bạc, vàng hoặc bạch kim.
Theo Chú giải 7 của Chương này, khái niệm "kim loại được phủ kim loại
quý" có nghĩa là các vật liệu được làm từ kim loại cơ bản. Trên một hoặc
nhiều mặt của kim loại đó được phủ một lớp kim loại quý có độ dày tùy
ý bằng cách hàn thiếc, hàn đồng thau, hàn hơi, hàn điện, cán nóng hoặc
các phương pháp cơ khí tương tự.
Các tấm và tấm mỏng, các thanh,... bằng kim loại mạ kim loại quý
thường được chế tạo bằng cách phủ kim loại quý lên một hoặc cả hai
mặt kim loại nền, "hàn" hai kim loại với nhau và sau đó cán chúng.
Dây thép mạ kim loại quý thu được bằng cách lồng một lõi kim loại cơ
bản vào trong một ống kim loại quý, sau đó "hàn" hai kim loại đó với
nhau và sau đó kéo chúng qua một khuôn kéo dây.
Trừ khi có yêu cầu khác, các sản phẩm kim loại cơ bản được dát khảm
kim loại quý cũng được phân loại như các sản phẩm kim loại mạ kim
loại quý (ví dụ : các tấm đồng được dát khảm các dải bạc để sử dụng
trong công nghiệp điện, và sản phẩm được gọi là gia công kiểu Damas
thép dát các dải hoặc các sợi đã được rèn)
Kim loại được phủ kim loại quý, như được định nghĩa trong chương này,
không được nhầm lẫn với các kim loại cơ bản được mạ kim loại quý
bằng cách điện phân, làm lắng đọng hơi, phun hoặc nhúng chìm trong
một dung dịch muối của kim loại quý,.... Những kim loại cơ bản được
mạ như vậy được phân loại trong các chương dành cho chúng bất kể
chiều dày của lớp mạ.
Chương này cũng không bao gồm:
(a) Các kim loại quý ở dạng keo hoặc các hỗn hợp của kim loại quý
(nhóm 28.43).
(b) Các đồng vị phóng xạ (ví dụ: iridi 192) bao gồm các kim loại quý ở
dạng kim, sợi chỉ hoặc tấm mỏng có chứa các đồng vị phóng xạ
(nhóm 28.44).
(c) Các hợp kim chế tạo đặc biệt cho các chất hàn răng (nhóm 30.06).
(3) Thông thường, các sản phẩm được làm toàn bộ hoặc từng phần bằng
ngọc trai tự nhiên hoặc nhân tạo, kim cương hoặc đá quý hoặc đá
bán quý khác (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo), các kim loại quý
hoặc kim loại phủ kim loại quý (thuộc các nhóm 71.13 đến 71.16).
Đặc biệt, nhóm này bao gồm đồ trang sức và đồ trang sức bằng
vàng hoặc bạc (xem Chú giải của các nhóm 71.13 và 71.14) nhưng
nhóm này không bao gồm:
(a) Các sản phẩm được nêu trong Chú giải 3 của Chương này.
(b) Các sản phẩm khác mà trong đó các bộ phận bằng kim loại quý
hoặc kim loại mạ kim loại quý chỉ là các thành phần phụ, chẳng
hạn như các đồ lắp ráp phụ (ví dụ: các chữ lồng, vòng sắt đệm,
măng sông và vành viền), với điều kiện các hàng hóa này không
chứa ngọc trai tự nhiên hoặc nhân tạo, kim cương, hoặc đá quý
hoặc đá bán quý khác (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo).
Dao, dao nhíp, bộ dụng cụ dao chạm trổ, dao cạo và các mặt hàng
dao kéo khác với các cán bằng kim loại cơ bản hoặc phi kim loại, vì
vậy được phân loại trong Chương 82, ngay cả khi chúng có các chữ
viết tắt, các chữ lồng, đai chuôi,... bằng kim loại quý hoặc bằng kim
loại mạ kim loại quý; (đồ dao kéo tương tự với cán cầm bằng kim
loại quý hoặc bằng kim loại mạ kim loại quý được phân loại trong
chương này).
Theo cách tương tự, bát, bình và các đồ sứ khác, bộ đồ ăn bằng sứ
hoặc thủy tinh được phân loại trong Chương 69 hoặc Chương 70,
ngay cả khi chúng có các đồ lắp ráp phụ hoặc trang trí (ví dụ: vành,
viền) bằng kim loại quý hoặc kim loại mạ kim loại quý.
Nhóm này cũng không bao gồm các sản phẩm bằng kim loại cơ bản
hoặc phi kim loại được mạ kim loại quý (trừ các sản phẩm bằng kim
loại được phủ kim loại quý).
(4) Đồ trang sức làm bằng chất liệu khác (nhóm 71.17) như đã được định
nghĩa trong Chú giải 11 của Chương này (xem Chú giải tương ứng),
trừ các mặt hàng được xác định trong Chú giải 3 của Chương này.
(5) Tiền kim loại (thuộc nhóm 71.18), trừ các đồ sưu tập quý hiếm của
các nhà sưu tập (thuộc nhóm 97.05).
PHÂN CHƯƠNG I
NGỌC TRAI TỰ NHIÊN HOẶC NUÔI CẤY VÀ ĐÁ QUÝ HOẶC
ĐÁ BÁN QUÝ
71.01 - Ngọc trai, tự nhiên hoặc nuôi cấy, đã hoặc chưa được gia
công hoặc phân loại nhưng chưa xâu thành chuỗi, chưa gắn hoặc
nạm dát; ngọc trai, tự nhiên hoặc nuôi cấy, đã được xâu thành chuỗi
tạm thời để tiện vận chuyển.
7101.10 - Ngọc trai tự nhiên
- Ngọc trai nuôi cấy:
7101.21 - - Chưa được gia công
7101.22 - - Đã gia công
Ngọc trai được phân loại trong nhóm này, chẳng hạn như xà cừ, là kết
quả của sự tiết chất tự nhiên của nhiều loại động vật thân mềm nước biển
và nước ngọt (đặc biệt là của con sò ngọc trai và con trai ngọc trai).
Ngọc trai có bề mặt sáng bóng và chủ yếu bao gồm những lớp bằng
cacbonat canxi được phủ lên một vật liệu sừng (conchiolin- vỏ ốc, vỏ
cuộn xà cừ). Những lớp cacbonat này tạo ra sự nhiễu quang và sự nhiễu
xạ và chính những hiện tượng này sẽ tạo ra ánh xà cừ đặc trưng của ngọc
trai ("nước ánh của ngọc trai"); conchiolin (vỏ ốc, vỏ cuộn xà cừ) cho
ngọc trai độ trong mờ hoặc "nước bóng láng".
Ngọc trai thường trắng, nhưng có thể chuyển mầu đậm hoặc bị nhuộm
mầu (ví dụ: xám, đen, đỏ tía, đỏ, vàng, xanh lục hoặc xanh da trời).
Ngọc trai thường có hình dáng tròn, nhưng đôi khi có dạng bán nguyệt
(ngọc trai hình khuy) hoặc không đều (ngọc trai Baroc hoặc ngọc trai có
bọt khí), và kích thước của chúng rất khác nhau. Xà cừ (các nhóm 05.08
và 96.01) gần như có cấu tạo rất giống với ngọc trai, nhưng thường là
mang hình dáng những tấm mỏng.
Nhóm này cũng bao gồm ngọc trai nuôi cấy (có nghĩa là những ngọc trai
được tạo ra với sự can thiệp của con người). Việc này được làm bằng
cách gắn một hạt xà cừ vào một nang cắt từ màng áo của một con trai và
sau đó cấy ghép bao nang này vào mô của một con sò khoẻ mạnh khác.
Sau một khoảng thời gian dài, hạt này sẽ từ từ bị bao trùm bởi các lớp
đồng tâm của xà cừ. Vì vậy, ngọc trai nuôi cấy có dáng vẻ bề ngoài rất
giống với ngọc trai thật nhưng vẫn có thể phân biệt được ngọc trai thật
bằng thiết bị đặc biệt (thiết bị nội soi) hoặc bằng sự soi tia X.
Nhóm này bao gồm ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, có thể chưa được
gia công, ví dụ chỉ được thu lượm lại và làm sạch để khử bỏ tạp chất một
cách đơn thuần (ví dụ: như nhờ trung gian là muối và nước), hoặc đã
được gia công, có nghĩa là được mài để loại bỏ những chi tiết khuyết tật,
khoan hoặc cắt (ví dụ: một nửa hoặc ba phần tư ngọc trai). Ngọc trai
thuộc nhóm này, có thể được xâu thành chuỗi tạm thời để tiện vận
chuyển. Những ngọc trai đã được nạm dát, gắn hoặc những ngọc trai đã
được xâu chuỗi sau khi phân loại được loại trừ (ví dụ: tuỳ trường hợp có
thể là nhóm 71.13, 71.14 hoặc 71.16).
Cần lưu ý rằng ngọc trai tự nhiên hoặc nhân tạo bị loại trừ khỏi Chương
97 (các đồ sưu tập quý hiếm, đồ cổ của các nhà sưu tập,...) và do đó mà
vẫn được phân loại trong chương này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Đồ giả ngọc trai (chất dẻo- nhóm 39.26, thuỷ tinh- nhóm 70.18;
sáp- nhóm 96.02).
(b) Xà cừ, chưa được gia công hoặc mới được sơ chế (nhóm 05.08)
hoặc đã gia công (nhóm 96.01).
71.02 - Kim cương, đã hoặc chưa được gia công, nhưng chưa được
gắn hoặc nạm dát.
7102.10 - Kim cương chưa được phân loại
- Kim cương công nghiệp:
7102.21 - - Chưa được gia công hoặc chỉ được cắt, tách một cách
đơn giản hay mới chỉ được chuốt hoặc mài sơ qua
7102.29 - - Loại khác
- Kim cương phi công nghiệp:
7102.31 - - Chưa được gia công hoặc mới chỉ được cắt, tách một
cách đơn giản hay mới chỉ đuợc chuốt hoặc mài sơ qua
7102.39 - - Loại khác
Kim cương là một tinh thể và là dạng thù hình khác của cacbon, ở trạng
thái tinh khiết thì kim cương có chiết suất và năng suất tán sắc rất cao.
Kim cương được biết đến như là một khoáng vật cứng nhất. Vì những
đặc tính này mà kim cương được sử dụng để làm các sản phẩm trang sức
và trang trí và cũng được sử dụng cho các mục đích công nghiệp (đặc
biệt để kéo dây kim loại).
Nhóm này bao gồm kim cương chưa gia công, và kim cương đã được gia
công, ví dụ: bằng việc tách, cắt, chuốt, mài mặt, mài, đánh bóng, khoan,
chạm trổ (bao gồm đồ trang sức đá chạm và các thiết kế hoặc các sản
phẩm nghệ thuật đã được chạm khắc) chế tác như bản sao với điều kiện
chúng chưa được nạm dát hoặc gắn.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Bụi và bột của kim cương (thuộc nhóm 71.05)
(b) Kim cương đã gia công nhưng chưa được gắn cho kim máy hát hoặc
đầu từ (thuộc nhóm 85.22).
(c ) Kim cương gia công để được xác định như là những chi tiết các máy
đo, các dụng cụ đo hoặc hàng hóa khác thuộc Chương 90 (Chương
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 7102.10
Trước khi kim cương thô hoặc chưa gia công được định rõ là "công nghiệp"
hoặc "phi công nghiệp" thì chúng cần được phân loại và phân cấp theo các
quy định tiêu chuẩn kỹ thuật do các giám định viên kim cương tiến hành.
Tiêu chí kỹ thuật bao gồm kích cỡ và sự thích hợp về tinh thể học cho việc
cắt gọt. Cũng cần phải quan tâm đến hình dạng, độ trong suốt, màu sắc và
độ tinh khiết và chất lượng của tinh thể.
Phân nhóm này bao gồm những lô (gói) kim cương hoặc những loại kim
cương đơn lẻ mà vẫn chưa được thẩm định chuyên môn.
Phân nhóm này cũng bao gồm những gói kim cương thô mới chỉ được rây
và đóng gói tương ứng với kích thước của chúng mà chưa được thực hiện
bất kỳ giám định chuyên môn cao hơn.
Các phân nhóm 7102.21 và 7102.29
Các phân nhóm này bao gồm những dạng kim cương tự nhiên sau:
(1) Kim cương cơ bản, nghĩa là kim cương trong suốt hoặc trong mờ
mà do những đặc điểm đặc trưng của chúng mà loại kim cương này
không thể được sử dụng một cách thông thường cho đồ trang sức
hoặc các đồ kỹ nghệ vàng bạc.
(2) Kim cương đen, và các dạng tích tụ kiểu tinh thể kim cương khác,
bao gồm cả cacbonado, chúng là loại kim cương cứng hơn kim
cương trong suốt.
(3) Mảnh vụn của kim cương cơ bản, nghĩa là, các kim cương kém
phẩm chất và kim cương có cấu trúc tinh thể kém, (kể cả phế liệu
thu được từ gia công kim cương), thường là không thích hợp cho
việc cắt gọt.
(4) Vì các tính chất đặc trưng như (màu sắc, độ tinh khiết hoặc chất
lượng, độ trong suốt…) các loại kim cương này được mặc định dành
riêng cho các ứng dụng công nghiệp (như là dụng cụ chỉnh sửa,
khuôn kéo dây hay đầu đe kim cương) nhưng cũng thích hợp cho sử
dụng trong đồ trang sức.
Những kim cương này thường dùng để gắn lắp trong các dụng cụ (dao
cắt kim cương, các mũi khoan, ...) hoặc lắp vào các phụ kiện máy móc
hoặc thiết bị.
Phân nhóm 7102.21 bao gồm:
(1) Kim cương ở dạng tự nhiên… nghĩa là, như khi chúng xuất hiện
trong các khoáng sản hoặc tách ra từ đá gốc, được sắp xếp phân loại
vào các loạt hoặc các gói.
(2) Kim cương được cắt một cách đơn giản (ví dụ: thành các mảnh
mỏng), tách (bằng sự chia tách dọc theo mặt tự nhiên của các lớp)
dạng nguyên, dạng lộn xộn hay các loại kim cương mà nó chỉ có
một phần nhỏ bề mặt đã được đánh bóng (được gọi là các cửa sổ để
cho phép thực hiện việc giám định các tính chất bên trong của kim
cương thô), có nghĩa là, những loại đá chỉ có một hình dạng tạm thời
và rõ ràng là phải được gia công thêm. Các mảnh kim cương cũng
có thể được cắt thành những chi tiết hình đĩa, hình chữ nhật, hình
lục giác hoặc hình bát giác, với điều kiện là tất cả các mặt và các
đỉnh phải thô nhám, mờ và chưa được đánh bóng.
(3) Kim cương dạng lộn xộn có bề mặt đã được làm cho bóng và sáng loáng
bằng cách xử lý hóa chất, cách xử lý này còn được gọi là đánh bóng hóa
học. Đánh bóng hóa học khác với phương pháp mài bóng truyền thống,
phương pháp này không thực hiện phủ bóng từng viên kim cương riêng
lẻ và cũng không sử dụng một bánh quay để đánh bóng mà sẽ cho cả
một khối kim cương vào trong một bể xử lý hóa chất.
(4) Kim cương bị vỡ hay bị nghiền nát.
Phân nhóm 7102.29 bao gồm những viên kim cương được đánh bóng
hay được khoan, và những viên kim cương được khắc (trừ những viên
kim cương được khắc chỉ cho mục đích nhận dạng).
Các phân nhóm 7102.31 và 7102.39
Các phân nhóm này bao gồm những kim cương tự nhiên, vì những đặc
điểm đặc trưng của chúng (như màu sắc, độ tinh khiết, độ trong suốt, ...) mà
thích hợp cho những người làm đồ nữ trang, thợ vàng và thợ bạc sử dụng.
Phân nhóm 7102.31 bao gồm:
(1) Kim cương ở trạng thái tự nhiên, nghĩa là, khi nó xuất hiện ở lớp
trầm tích (lớp lắng đọng) hay được chiết từ phiến đá mẹ, được xếp
vào các loạt hoặc các gói.
(2) Kim cương được cắt một cách đơn giản (ví dụ: thành các mảnh
mỏng), tách (bằng sự chia tách dọc theo mặt tự nhiên của các lớp)
dạng nguyên, dạng lộn xộn hay các loại kim cương mà nó chỉ có
một phần nhỏ bề mặt đã được đánh bóng (được gọi là các cửa sổ để
cho phép thực hiện việc giám định các tính chất bên trong của kim
cương thô), ví dụ đá mà chỉ có một hình dạng tạm thời và rõ ràng là
phải được gia công thêm.
(3) Kim cương dạng lộn xộn có bề mặt đã được làm cho bóng và sáng
loáng bằng cách xử lý hóa chất, cách xử lý này còn được gọi là đánh
bóng hóa học. Đánh bóng hóa học khác với phương pháp mài bóng
truyền thống, phương pháp này không thực hiện phủ bóng từng viên
kim cương riêng lẽ và cũng không sử dụng một bánh quay để đánh
bóng mà sẽ cho cả một khối lộn xộn kim cương vào trong một bể xử
lý hóa chất.
Phân nhóm 7102.39 bao gồm:
(1) Kim cương đã được đánh bóng có nhiều lớp phẳng được đánh bóng
bề mặt hay các mặt kim cương, loại này không yêu cầu được gia
công thêm trước khi được sử dụng làm đồ trang sức.
(2) Kim cương đã được khoan hoặc đã được chạm khắc (bao gồm đồ
trang sức đá chạm và các thiết kế hoặc các sản phẩm nghệ thuật
đã được chạm khắc) và kim cương chế tác như những bản sao
đôi, sao ba.
(3) Kim cương đã đánh bóng và khoan, hay điêu khắc, bị vỡ trong các
quá trình gia công này, cũng như là kim cương được đánh bóng bị
vỡ trong suốt quá trình vận chuyển hay cất giữ.
Phân nhóm 7102.39 không bao gồm:
(a) Kim cương mà chỉ có một số ít mặt được đánh bóng ( ví dụ, khe hở
được tạo ra cho phép việc kiểm tra của chuyên gia đối với các đặc
tính kỹ thuật bên trong của kim cương thô) và nó rõ ràng phải được
gia công tiếp.
(b) Kim cương mà chỉ được khắc cho mục đích nhận dạng.
71.03 - Đá quý (trừ kim cương) và đá bán quý, đã hoặc chưa được
gia công hoặc phân loại nhưng chưa xâu chuỗi, chưa gắn hoặc
nạm dát; đá quý (trừ kim cương) và đá bán quý chưa được
phân loại, đã được xâu thành chuỗi tạm thời để tiện vận chuyển.
7103.10 - Chưa gia công hoặc mới chỉ được cắt đơn giản hoặc tạo
hình thô
- Đã gia công cách khác:
7103.91 - - Rubi, saphia và ngọc lục bảo
7103.99 - - Loại khác
Do các đặc điểm như màu sắc, độ sáng, độ bền và cũng thường là do độ
hiếm của chúng, những loại đá này, thường là tinh thể, được những
người làm đồ nữ trang, thợ vàng và thợ bạc sử dụng để làm các sản
phẩm trang điểm hoặc trang trí. Một số được sử dụng trong đồng hồ,
đồng hồ cá nhân, trong các dụng cụ vì độ cứng hoặc các tính chất đặc
biệt khác của chúng, hoặc chúng được sử dụng cho các mục đích công
nghiệp (ví dụ: đá rubi, saphia, mã não, thạch anh áp điện).
Các quy định của đoạn thứ hai trong Chú giải cho nhóm 71.02, với
những sửa đổi phù hợp, thì áp dụng cho nhóm này.
Nhưng nhóm này không bao gồm các đá thuộc những dạng sau, ngay
cả khi chúng chưa được gắn và nạm dát :
(a) Đá saphia đã gia công nhưng chưa gắn dùng cho kim đĩa hát (nhóm 85.22).
(b) Đá gia công để có thể được xem như các chi tiết của các máy đo, các
dụng cụ đo, đồng hồ hoặc đồng hồ cá nhân hoặc các hàng hóa khác
thuộc Chương 90 hoặc 91; cũng như các bộ phận quang học làm
bằng thạch anh (nhóm 90.01 hoặc 90.02).
Do đó, các loại đá thuộc nhóm này là những đá chủ yếu dùng để gắn
hoặc nạm dát trong các đồ kim hoàn hoặc các đồ kỹ nghệ vàng hoặc bạc;
nhưng với điều kiện chúng chưa được gắn, nhóm này cũng bao gồm
các đá dùng để lắp trong các dụng cụ thuộc các nhóm từ 82.01 đến 82.06
hoặc trong các máy móc,... thuộc Phần XVI (ví dụ: thạch anh áp điện đối
với các thiết bị tần số cao...).
Nhóm này không bao gồm các loại đá đã được chuyển thành các sản
phẩm, ví dụ như cối hoặc chày bằng mã não cắt, cây thánh giá và nhẫn
mã não, ly và cốc bằng ngọc hồng lựu, tượng nhỏ và các hàng trang trí
bằng đá ngọc bích, gạt tàn thuốc lá và cái chặn giấy bằng mã não dạng
dài hoặc onixơ cẩm thạch, các vòng của cần câu...; các sản phẩm như
vậy thường được phân loại trong nhóm 71.16.
Các loại đá thuộc nhóm này có thể được xâu thành chuỗi để tiện vận
chuyển với điều kiện phương pháp lắp ráp này chỉ là tạm thời và những
đá này vẫn chưa được phân loại và không thích hợp ngay cho việc sử
dụng như đồ kim hoàn. Đá quý và đá bán quý đã được nạm dát hoặc gắn
thì sẽ được xếp vào nhóm 71.13, 71.14 hoặc 71.16 (xem các Chú giải có
liên quan) trừ khi chúng được đưa vào những nhóm khác, theo các quy
định của Chú giải 1 của Chương này.
Nhóm này bao gồm các đá quý hoặc đá bán quý được nêu trong Phụ lục
của chương này, tên của các loại khoáng vật được đưa ra với những tên
thương mại; tất nhiên nhóm này cũng được hạn chế cho những loại đá
đó và những loại khác mà có chất lượng thích hợp để sử dụng trong các
đồ trang sức,...
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Một số loại đá cụ thể nào đó, mặc dù thuộc những loại khoáng vật
được dẫn ra ở trên nhưng vẫn là những loại đá không quý, hoặc có
chất lượng không thích hợp cho việc sử dụng trong đồ kim hoàn, đồ
kỹ nghệ vàng hoặc bạc, những loại đá này được phân loại trong
Chương 25, 26 hoặc 68.
(b) Khoáng vật steatit (chưa gia công, thuộc nhóm 25.26; đã gia công
thuộc, nhóm 68.02).
(c) Tuôcmalin đen (chưa gia công, thuộc nhóm 25.30; đã gia công thuộc
nhóm 96.02).
(d) Đá giả quý và bán quý được làm bằng thuỷ tinh (nhóm 70.18).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 7103.10
Phân nhóm này bao gồm những loại đá đã được gia công thô bằng cách xẻ
(ví dụ: xẻ thành những mảnh mỏng), tách (tách dọc theo tự nhiên của các
lớp) hoặc mài, ví dụ những loại đá mà chỉ có hình dạng tạm thời và rõ ràng
phải được gia công tiếp. Các mảnh đá cũng có thể được cắt thành những chi
tiết hình đĩa, hình chữ nhật, hình lục giác hoặc hình bát giác, với điều kiện
là tất cả các mặt và các đỉnh phải thô nhám, mờ và chưa được đánh bóng.
Phân nhóm 7103.91 và 7103.99
Phân nhóm 7103.91 và 7103.99 bao gồm các loại đá quí đã được đánh
bóng hoặc đã được khoan, đá quý được chạm trổ (bao gồm đồ trang sức
đá chạm và các hình chạm chìm) và đá quý đã được chế tác như những
bản sao đôi, sao ba.
71.04 - Đá quý hoặc đá bán quý tổng hợp hoặc tái tạo, đã hoặc chưa gia
công hoặc phân loại nhưng chưa xâu thành chuỗi, chưa gắn hoặc
nạm dát; đá quý hoặc đá bán quý tổng hợp hoặc tái tạo chưa phân
loại, đã được xâu thành chuỗi tạm thời để tiện vận chuyển (+).
7104.10 - Thạch anh áp điện
- Loại khác, chưa gia công hoặc mới chỉ được cắt đơn giản
hoặc tạo hình thô:
7104.21 - - Kim cương
7104.29 - - Loại khác
- Loại khác:
7104.91 - - Kim cương
7104.99 - - Loại khác
Những đá này được sử dụng với cùng mục đích như đá quý hoặc đá bán
quý tự nhiên thuộc hai nhóm trước.
(A) Đá quý và đá bán quý tổng hợp. Khái niệm này bao gồm một loạt
các loại đá được sản xuất bằng phương pháp hoá học mà:
- vó cùng một thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể như một đá
tự nhiên nào đó (ví dụ: như đá rubi, saphia, emerald, kim
cương, thạch anh áp điện); hoặc:
- do màu sắc, độ sáng chói, độ bền, và độ cứng mà được những
người làm đồ nữ trang, thợ vàng và thợ bạc sử dụng thay thế
cho những đá quý hoặc bán quý tự nhiên, thậm chí nếu chúng
không có cùng thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể như
những đá mà chúng giống, ví dụ: như đá garnet nhôm ytri
(YAG), đá zircon lập phương (CZ) và moissanite tổng hợp, tất
cả các loại đá này được sử dụng để làm giả kim cương.
Khi chưa được gia công, một số đá tổng hợp, như là ruby và shapphire,
có thể có hình trụ hoặc hình giọt sương, hình quả lê và được biết đến như
là "ngọc nhân tạo"; những đá này thường được tách dọc theo chiều dài
của chúng hoặc được cắt thành các chi tiết hình đĩa.
Khi chưa được gia công, một số kim cương tổng hợp được sản xuất bằng
phương pháp nhiệt độ cao, áp suất cao (HPHT), có thể ở dạng khối lập
phương cắt cụt đặc trưng mà, trong nhiều trường hợp, vị trí ban đầu của
tinh thể hạt vẫn còn nhìn thấy được trên đế của nó. Ngược lại, kim
cương tổng hợp chưa gia công được sản xuất bằng phương pháp lắng
đọng hơi hóa học (CVD) hầu hết có dạng hình vuông hoặc hình chữ
nhật, thường không có hình dạng tinh thể có thể nhìn thấy được.
Kim cương tổng hợp có thể được sản xuất bằng các phương pháp khác
ngoài phương pháp HPHT và CVD.
(B) Đá quý và đá bán quý tái tạo thu được theo cách nhân tạo bằng
nhiều phương pháp khác nhau, ví dụ như thiêu kết (kết tụ), nén ép
hoặc nung chảy (thường với sự trợ giúp của ống thổi tinh luyện) các
mảnh đá quý hoặc đá bán quý tự nhiên, những mảnh đá mà thường
bị nghiền ra thành bột.
Đá tổng hợp và tái tạo thông thường có thể được phân biệt với đá tự nhiên
bằng sự kiểm tra qua kính hiển vi (tốt nhất là trong một môi trường trừ
không khí), kính hiển vi sẽ biểu hiện những vân và bọt khí nhỏ.
Các quy định của Chú giải cho các nhóm 71.02 và 71.03, đặc biệt liên
quan đến sự gia công mà những loại đá này có thể phải chịu, cũng có thể
được áp dụng ở đây.
Đá tổng hợp và tái tạo không được nhầm với đá quý hoặc bán quý giả
bằng thuỷ tinh thuộc nhóm 70.18 (xem chú giải tương ứng).
Chú giải phân nhóm:
Phân nhóm 7104.10
Thạch anh áp điện khi chịu áp suất cơ học thì có đặc tính sinh ra điện
tích có cường độ thay đổi theo áp suất đó và ngược lại, thạch anh áp điện
có tính chất chuyển hoá chênh lệch điện thế (hiệu thế) mà nó phải chịu
sang áp suất cơ học.
Do đặc tính này, thạch anh áp điện được sử dụng trong công nghiệp thiết
bị điện nhằm các mục đích khác nhau: sản xuất chế tạo micrôphôn, loa,
dụng cụ truyền hoặc nhận sóng siêu âm; dụng cụ cho dao động tần số cố
định, ...
Thạch anh áp điện thuộc nhóm này thường ở dạng những tấm mỏng, bản
mỏng, thanh, ... đạt được bằng cách cắt thạch anh tổng hợp với một sự
cắt chính xác dọc theo đường trục điện.
Phân nhóm 7104.21
Phân nhóm này bao gồm những kim cương tổng hợp được xẻ, tách đơn
giản (bằng cách tách dọc theo mặt phẳng tự nhiên của các lớp) hoặc
được mài thô, hoặc chỉ có một số lượng nhỏ các mặt được đánh bóng,
tức là, những viên đá chỉ có hình dạng tạm thời và rõ ràng phải được gia
công thêm.
Phân nhóm 7104.29
Chú giải của phân nhóm 7103.10, với những sửa đổi phù hợp, cũng áp
dụng cho phân nhóm này.
Phân nhóm 7104.91
Phân nhóm này bao gồm:
(1) Kim cương tổng hợp được đánh bóng có nhiều bề mặt hoặc mặt được
đánh bóng phẳng, không cần phải gia công thêm trước khi sử dụng
trong đồ trang sức hoặc trong các ứng dụng công nghiệp cụ thể
(2) Kim cương tổng hợp, dù được khoan hay chạm khắc (kể cả loại
cameos và intaglios).
(3) Đá composit (đôi hoặc ba), được hình thành bằng cách ghép hai hoặc
nhiều thành phần lại với nhau để tạo thành thứ trông giống như một
viên đá duy nhất và chứa ít nhất một thành phần của kim cương tổng
hợp. Đá đôi kim cương tổng hợp/kim cương tự nhiên được tạo ra
bằng cách ghép một viên kim cương tổng hợp (thường là phần đế lớn
hơn) và một viên kim cương tự nhiên (thường là phần trên cùng nhỏ
hơn) vẫn được phân loại ở đây.
Phân nhóm 7104.99
Chú giải cho các phân nhóm 7103.91 và 7103.99, với những sửa đổi phù
hợp thì áp dụng cho phân nhóm này.
71.05 - Bụi và bột của đá quý hoặc đá bán quý tự nhiên hoặc
tổng hợp.
7105.10 - Của kim cương
7105.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm bụi và bột thu được, ví dụ: từ sự đánh bóng hoặc
mài các loại đá thuộc ba nhóm trước. Quan trọng nhất trong các bụi này
là những bụi thu được từ kim cương và đá garnet.
Bụi và bột kim cương tự nhiên thu được chủ yếu là bằng cách đập vụn,
nghiền mảnh vụn kim cương (các hạt kim cương loại công nghiệp). Bụi
và bột kim cương tổng hợp được tạo ra bằng biến đổi trực tiếp, thông
thường từ graphit, trong nhiệt độ và áp suất cao.
Bụi và bột này khác với những loại kim cương thuộc các nhóm 71.02 và
71.04 ở chỗ đối với các mục đích thực tế, chúng quá nhỏ để được gắn
riêng lẻ. Chúng thường được sử dụng cho các mục đích mài mòn. Kích
cỡ hạt của chúng thường không vượt quá 1.000 micromet (micron)
nhưng sự phân loại theo kích cỡ được thực hiện thông qua rây chứ
không phải bằng việc đo các hạt riêng lẻ. Có thể có mức độ trùng lặp
đáng kể giữa kích thước của các hạt bụi, hạt bột và hạt đá, nhưng trái lại
các đá được đếm từng hạt một để xác định số lượng, còn bụi và bột thì
được cân.
Bụi và bột kim cương được sử dụng để sản xuất đá mài, đá đánh bóng
hoặc đá mài khôn, các loại đá cắt, bột nhão đánh bóng, ...
Bột đá garnet chủ yếu được sử dụng để mài các thấu kính quang học
hoặc được sử dụng như chất liệu mài trên nền giấy hoặc vật liệu khác.
Nhóm này không bao gồm bột đá corindon nhân tạo (nhóm 28.18).
PHÂN CHƯƠNG II
KIM LOẠI QUÝ VÀ KIM LOẠI ĐƯỢC
DÁT PHỦ KIM LOẠI QUÝ
71.06 - Bạc (kể cả bạc được mạ vàng hoặc bạch kim), chưa gia công
hoặc ở dạng bán thành phẩm, hoặc dạng bột.
7106.10 - Dạng bột
- Dạng khác:
7106.91 - - Chưa gia công
7106.92 - - Dạng bán thành phẩm
Nhóm này bao gồm nhiều dạng khác nhau như chưa gia công, dạng bán
thành phẩm hoặc dạng bột của bạc hoặc các hợp kim bạc (như được
định nghĩa ở Chú giải chung), của bạc mạ vàng (bạc dát vàng) hoặc của
bạc mạ bạch kim. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm bạc phủ kim
loại quý.
Bạc là kim loại màu trắng, không bị gỉ trong môi trường không khí
nhưng có chiều hướng bị mờ đi; bạc là chất dẫn nhiệt và dẫn điện tốt
nhất, và nó là kim loại dẻo và dễ kéo sợi nhất sau vàng. Bạc rất mềm
trong trạng thái nguyên chất của nó, và do vậy thường làm thành hợp
kim với các kim loại khác. Tuy nhiên, bạc nguyên chất được sử dụng
rộng rãi trong ứng dụng điện (các chỗ tiếp xúc, công tắc, cầu chì...),
trong một số thiết bị sử dụng trong các ngành công nghiệp hóa chất và
công nghiệp thực phẩm hoặc trong phẫu thuật, và bạc còn được sử dụng
như một kim loại để mạ.
Theo các quy định của chú giải 5 cho chương này (xem chú giải chung ở
trên), các hợp kim bạc có thể được xếp vào nhóm này bao gồm:
(1) Hợp kim bạc đồng. Những hợp kim quan trọng nhất trong số này
được sử dụng trong sản xuất tiền kim loại hoặc các đồ kỹ nghệ vàng
hoặc bạc; một số hợp kim được sử dụng trong việc sản xuất các
công tắc điện.
(2) Các hợp kim bạc - đồng - cađimi, bạc - đồng - titan và bạc - inđi
được sử dụng trong sản xuất các đồ kỹ nghệ vàng hoặc bạc.
(3) Các hợp kim bạc - đồng - kẽm, đôi khi cũng có chứa cađimi, thiếc
hoặc phốt pho, được sử dụng như hợp kim hàn.
(4) Hợp kim bạc - antimon - thiếc - chì, bạc - đồng - chì, bạc - cađimi
và các hợp kim chống ma sát bạc - tali.
(5) Các hợp kim nung kết bạc - vonfram, bạc - molipden, bạc - niken
và bạc - sắt, được sử dụng để làm các công tắc điện.
Nhóm này bao gồm bạc và hợp kim của nó ở các dạng sau:
(I) Dạng bột, thường ở dạng bột mịn, thu được bằng các phương pháp
cơ học hoặc hóa học khác nhau. Loại này được sử dụng trong luyện
kim và trong sản xuất các chất mạ kim loại để ứng dụng trong điện
tử và trong sản xất các chất gắn kết dẫn điện, nhiệt.
Nhóm này không bao gồm các loại bột hoặc các vảy mỏng được
chế biến như các chất nhuộm màu, sơn hoặc các chất tương tự (ví
dụ: như được kết hợp với chất màu khác hoặc được tạo ra ở hệ phân
tán dạng lỏng hoặc nhão trong một chất gắn hoặc dung môi) những
sản phẩm này được xếp vào nhóm 32.06, 32.07 (chất tráng men
lỏng và các hỗn hợp tương tự cho các ngành công nghiệp thủy tinh
và công nghiệp gốm), 32.08 đến 32.10, 32.12 hoặc 32.13.
(II) Bạc chưa gia công ở các dạng khối, hạt, thỏi, thanh đúc, viên...,
ngoài ra còn bạc tự nhiên ở dạng khối, cục, tinh thể, ... được tách ra
từ các đá quặng của chúng.
(III) Dạng thanh, que, đoạn, dây, bản, tấm mỏng và dải. Những dạng
này thường thu được bằng cách cán hoặc chuốt, kéo; dạng dải và
dạng đĩa đạt được bằng cách cắt bạc tấm mỏng. Nhóm này gồm cả
sợi bạc để sử dụng trong công nghiệp dệt với điều kiện sợi này vẫn
chưa được xe thành sợi hoặc kết hợp theo cách khác với sợi dệt
(Phần XI). Tuy nhiên, dây bạc vô trùng rất mảnh sử dụng cho chỉ
khâu trong phẫu thuật thì được phân loại trong nhóm 30.06.
Nhóm này cũng bao gồm các thỏi, bản, thanh, que, với nền bằng
"các bon", có chứa bạc (xem chú giải của nhóm 38.01).
(IV) Dạng ống, ống dẫn (gồm cả ống được cuộn) với điều kiện chúng
không được gắn vào các mặt hàng đã định dạng cụ thể (ví dụ: như
các bộ phận của thiết bị hóa học).
(V) Dạng lá (dùng để mạ bạc) thường thu được bằng cách rèn hoặc đập
các tấm bạc mỏng được tách ra dọc theo các lớp phủ ngoài của các
dụng cụ đập bằng vàng. Lá này thường được để vào trong các sách
nhỏ và có thể được cố định vào một lớp bồi bằng giấy, chất dẻo...
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm các lá dập nổi (cũng được
xem như là các lá in nổi) được tạo thành từ bột bạc được kết tụ với
gelatin, keo hoặc các chất dính kết khác, hoặc từ bạc kết tủa trên
giấy, chất dẻo hoặc các nền khác (nhóm 32.12).
(VI) Dạng viền rua, vảy và phoi. Viền rua là những sợi xe, bện bằng
dây bạc được sử dụng trong thêu hoặc trong các đồ trang hoàng.
Vảy và phoi, sử dụng cho cùng mục đích, là những mẩu nhỏ được
cắt thành dạng hình học (hình tròn, hình sao, ...) và thường được
xuyên lỗ ở giữa.
Nhóm này không bao gồm bạc đúc, kết tụ, dập nổi, dập ép, ... bạc ở
dạng bán thành phẩm cho các sản phẩm kim hoàn, ... thuộc phân
Chương III (ví dụ: như làm các khung để nạm dát, phôi vòng, huy hiệu,
hoa và các hình - con số).
71.07- Kim loại cơ bản được dát phủ bạc, chưa gia công quá mức
bán thành phẩm.
Kim loại phủ kim loại quý (gồm cả kim loại cơ bản được khảm dát kim
loại quý) được định nghĩa trong Chú giải 7 của Chương này và Chú giải
chung của Chương này.
Các hợp kim của thiếc, niken, kẽm và đặc biệt hợp kim của đồng đôi khi
được mạ bạc. Đồng nguyên chất và thép cũng có thể được mạ theo cách
này. Các kim loại như trên được sử dụng trong các đồ kỹ nghệ bạc (bộ
đồ ăn, các sản phẩm trang trí nội thất,...), và trong đường ống, bình và
thiết bị cho công nghiệp hóa chất và công nghiệp thực phẩm.
Kim loại cơ bản mạ bạc thuộc nhóm này thường ở dạng thanh, que,
đoạn, dây, bản, tấm mỏng, ống hoặc ống tẩu.
Nhìn chung, các quy định của Chú giải cho nhóm 71.06, với những sửa
đổi phù hợp, cũng sẽ áp dụng đối với kim loại cơ bản mạ bạc.
71.08 - Vàng (kể cả vàng mạ bạch kim) chưa gia công hoặc ở dạng
bán thành phẩm, hoặc ở dạng bột (+).
- Không phải dạng tiền tệ:
7108.11 - - Dạng bột
7108.12 - - Dạng chưa gia công khác
7108.13 - - Dạng bán thành phẩm khác
7108.20 - Dạng tiền tệ
Nhóm này bao gồm nhiều dạng khác nhau như chưa gia công, dạng bán
thành phẩm hoặc dạng bột của vàng hoặc hợp kim vàng (như được định
nghĩa trong Chú giải chung), hoặc của vàng mạ bạch kim. Tuy nhiên,
nhóm này không bao gồm vàng phủ kim loại quý.
Vàng có một màu vàng đặc trưng, nó không bị ô xi hoá thậm chí ở nhiệt
độ cao, và có tính trơ hoá học đặc biệt với hầu hết các thuốc thử, kể cả
các axít (tuy nhiên, chất cường toan có thể ăn mòn được vàng). Sau bạc
và đồng, vàng là chất dẫn điện và dẫn nhiệt tốt nhất. Vàng là kim loại dễ
dát mỏng và kéo sợi nhất trong tất cả các kim loại, nhưng nó rất mềm, và
vì vậy mà vàng rất ít khi được sử dụng nguyên chất trừ khi nó được sử
dụng để mạ điện hoặc được sử dụng như một lớp mạ điện.
Theo thuật ngữ của Chú giải 5 cho Chương này (xem Chú giải chung),
những hợp kim vàng mà có thể rơi vào nhóm này sẽ bao gồm:
(1) Hợp kim vàng - bạc, màu thay đổi từ vàng qua xanh đến trắng, tùy
theo tỷ lệ các kim loại cấu thành. Chúng được sử dụng trong đồ kim
hoàn và cũng được sử dụng trong các công tắc điện và trong các hợp
kim hàn có nhiệt độ nóng chảy cao đặc biệt.
(2) Hợp kim vàng - đồng, được sử dụng trong sản xuất tiền kim loại, đồ
kim hoàn hoặc đồ kỹ nghệ vàng hoặc trong các công tắc điện.
(3) Hợp kim vàng - bạc - đồng, chủ yếu được sử dụng trong đồ kim
hoàn, đồ kỹ nghệ vàng, trong hợp kim hàn răng hoặc được sử dụng
như hợp kim hàn. Những hợp kim này có thể chứa kẽm và cadimi và
sau đó cũng được sử dụng như những hợp kim hàn. Hợp kim được
gọi là "doré - thếp vàng" hoặc "bullion doré - nén vàng" gồm chủ yếu
là bạc và đồng sẽ được xếp vào nhóm này khi nó chứa 2% trọng lượng
trở lên là vàng. Hợp kim này thu được từ một số quặng pirit có đồng
“doré” or “bullion doré” consisting mainly of silver and copper falls
(quặng sunphit sắt có chứa đồng) hoặc từ những chất cặn bã nhận được
từ quá trình gia công đồng tái chế (đồng chưa tinh khiết) và tiếp tục
được tinh chế để tách riêng các kim loại thành phần của nó.
(4) Hợp kim vàng - đồng - niken, đôi khi chứa thêm kẽm và magiê, bao
gồm một loạt các hợp kim (được biết đến như vàng "trắng" hoặc ở
một số nước là vàng "xám") thường được sử dụng như một chất thay
thế cho bạch kim. Những vàng "trắng" khác chứa 2% trọng lượng
trở lên bằng paladi và vì vậy mà bị loại trừ (nhóm 71.10).
(5) Hợp kim vàng - niken, được sử dụng trong sản xuất các công tắc
điện.
Nhóm này bao gồm cả vàng và hợp kim vàng có cùng những dạng như
đã được mô tả đối với bạc. Các quy định của Chú giải cho nhóm 71.06 vì
vậy mà cũng áp dụng, với các sửa đổi thích đáng.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 7108.20
Phân nhóm này bao gồm vàng trao đổi giữa các cơ quan tiền tệ hoặc
ngân hàng ủy thác quốc gia hoặc quốc tế.
71.09 - Kim loại cơ bản hoặc bạc, dát phủ vàng, chưa được gia công
quá mức bán thành phẩm.
Kim loại dát phủ kim loại quý (gồm cả kim loại thường khảm dát kim
loại quý) được định nghĩa trong Chú giải 7 và trong Chú giải chung cho
Chương này. Kim loại cơ bản hoặc bạc dát phủ vàng thường ở những
dạng tương tự như các dạng được mô tả đối với kim loại cơ bản dát phủ
bạc (xem Chú giải của nhóm 71.07).
Kim loại cơ bản (ví dụ: như đồng hoặc các hợp kim của nó) hoặc bạc
được dát phủ vàng dùng cho sản xuất đồ kim hoàn (vòng đeo tay, dây
đồng hồ, hoa tai,...), vỏ hộp đồng hồ, hộp đựng thuốc lá và xì gà, bật lửa,
đồ kỹ nghệ vàng, các công tắc điện, các thiết bị hóa học...
71.10 - Bạch kim, chưa gia công hoặc ở dạng bán thành phẩm, hoặc
dạng bột.
- Bạch kim :
7110.11 - - Chưa gia công hoặc ở dạng bột
7110.19 - - Loại khác
7110.21 - - Chưa gia công hoặc ở dạng bột
7110.29 - - Loại khác
7110.31 - - Chưa gia công hoặc ở dạng bột
7110.39 - - Loại khác
- Iridi, osmi và ruteni:
7110.41 - - Chưa gia công hoặc ở dạng bột
7110.49 - - Loại khác
Giống như nhóm 71.06 đối với bạc và 71.08 đối với vàng, nhóm này bao
gồm bạch kim và các hợp kim của nó như đã được mô tả trong Chú giải
Thuật ngữ "bạch kim" bao gồm (xem Chú giải 4(B) của Chương 71):
(A) Bạch kim là một kim loại màu trắng xám, mềm và dễ kéo sợi,
không bị xỉn mờ trong nhiệt độ phòng và bền với a xít trừ nước
cường toan. Bạch kim có thể được tạo thành thanh, tấm mỏng, dải,
ống, dây và các dạng bán thành phẩm khác bằng cách rèn, cán hoặc
chuốt kéo.
Do đặc tính chống ăn mòn nổi bật, điểm nóng chảy cao và hoạt tính
xúc tác cao, bạch kim và các hợp kim của nó có nhiều ứng dụng
quan trọng trong công nghiệp vượt quá việc sử dụng chúng trong đồ
kim hoàn hoặc trong nha khoa, ví dụ: như trong công nghiệp điện để
sản xuất các cặp nhiệt điện và các nhiệt kế điện trở, cũng như các
công tắc điện và các điện cực cho những ứng dụng khác nhau; trong
công nghiệp dệt chúng đuợc sử dụng chế tạo khuôn kéo sợi nhân
tạo; trong công nghiệp thủy tinh chúng được dùng cho thiết bị nấu
chảy thủy tinh, như các khuôn kéo sợi thủy tinh để chế tạo sợi thủy
tinh, nồi nấu kim loại, các máy khuấy ...; trong công nghiệp hóa chất
và dầu mỏ như là 1 chất xúc tác (ví dụ, như trong quá trình ô-xi hóa
amoniắc để sản xuất axít nitric hoặc như một chất xúc tác nền); như
các thiết bị hoá học (ví dụ, các nồi nấu kim loại); trong công nghiệp
máy bay dùng cho các điện cực của bugi đánh lửa cho động cơ đốt
cháy bên trong của máy bay và dùng cho các bộ phận đánh lửa trong
tuabin chạy bằng khí đốt của động cơ máy bay.
Bạch kim và các hợp kim của nó cũng được ứng dụng trong sản xuất
các dụng cụ phẫu thuật (đặc biệt là các kim tiêm dưới da), trong một
số các bật lửa ga và được sử dụng cho nhiều ứng dụng khác như các
mẫu chuẩn đo, các dây tóc cho các dụng cụ quang học,...
(B) Paladi là một kim loại trắng bạc, mềm và rất dễ kéo sợi và có độ bền
cao, chống xỉn và ăn mòn. Paladi hoà tan trong nước cường toan và
axít nitric và bị ăn mòn bởi axít sunphuric đặc nóng. Paladi có thể
được làm thành các thanh, tấm mỏng, dải, ống, dây hoặc các dạng
bán thành phẩm khác bằng cách rèn, cán hoặc chuốt kéo.
Paladi chủ yếu được dùng cho các công tắc điện, trong các hợp kim
hàn đồng trong thiết bị tinh chế hydro, như là một chất xúc tác cho
sự hydro hoá, trong sản xuất đồ kim hoàn, đồng thời paladi còn
được sử dụng như một lớp tiếp xúc trung gian để làm cho quá trình
bọc phủ kim loại quý lên chất dẻo được dễ dàng hơn.
(C) Rodi là một kim loại trắng bạc, cứng nhưng là kim loại dễ uốn. Nó
được đặc trưng bởi hệ số phản xạ cao và có tính dẫn điện và dẫn
nhiệt cao nhất trong tất cả các kim loại thuộc nhóm bạch kim
(platinum). Rodi không bị ăn mòn trong hầu hết các dung dịch
chứa nước, kể cả axít vô cơ ở nhiệt độ cao.
Rodi có thể được làm thành các thanh, tấm mỏng, dải, dây và các
dạng bán thành phẩm khác bằng cách rèn, cán hoặc chuốt kéo.
Công dụng chính của Rodi là được sử dụng để tạo hợp kim với
platinum (bạch kim) và ở dạng hợp kim đó thì nó có một vài ứng
dụng trong công nghiệp điện và công nghiệp chế tạo thủy tinh. Do
có điện trở thấp và khả năng chống bị mờ xỉn cao nên kim loại này,
khi tồn tại ở dạng kết tủa điện phân, được dùng cho các công tắc
điện và ở những nơi cần bề mặt tiếp xúc chống mài mòn (ví dụ như
trong các vòng tiếp điện). Rodi cũng được sử dụng như một chất xúc
tác cả cho mạ bạc hoặc mạ bạc cho dao kéo, cả sản phẩm thủy tinh
thổi nhằm hoàn thiện khả năng chống lại làm xỉn bề mặt.
(D) Iridi là một kim loại trắng xám, cứng, chống ăn mòn axít, gồm cả
chất cường toan, ở cả nhiệt độ thường và nhiệt độ cao.
Iridi có thể được làm thành dải hoặc dây mảnh bằng cách cán hoặc
chuốt kéo.
Iridi được sử dụng như một thành phần của các hợp kim dùng cho
các cặp nhiệt điện; nồi nấu kim loại, hoặc các điện cực của bugi
đánh lửa cho động cơ đốt cháy bên trong của máy bay.
(E) Osmi là chất chịu nhiệt tốt nhất trong các kim loại thuộc nhóm này.
ở trạng thái rắn chắc (đặc sít), osmi có một màu trắng hơi xanh
tương tự như kẽm và bền với các axít. Khi được chia nhỏ, nó là một
chất bột đen vô định hình, và bị ăn mòn bởi axít nitric và chất cường
toan, đồng thời nó bị ôxi hóa chậm trong môi trường không khí.
Kim loại này được dùng chủ yếu trong các hợp kim không gỉ, cứng
dùng để bịt đầu các ngòi bút hoặc các trụ bản lề dụng cụ. Nó cũng
được sử dụng như một chất xúc tác.
(F) Ruteni là kim loại màu xám, cứng và giòn. Nó có một khả năng
chống gỉ cao. Không bị ăn mòn bởi chất cường toan, nhưng lại bị ăn
mòn dần dần bởi dung dịch natri hypoclorit. Ruteni có thể thu được
trên một tỷ lệ nhỏ ở dạng tấm, dải và dây.
Ruteni được sử dụng như một hợp kim bổ sung cho bạch kim,
paladi, molipđen, vonfram, ... (ví dụ: để sản xuất mũi ngòi bút và
trục la bàn). Ruteni cũng được sử dụng như một chất xúc tác, và ở
dạng kết tủa điện phân nó được dùng cho các công tắc điện và cho
các bề mặt tiếp xúc nơi mà khả năng chống gỉ có tầm quan trọng.
Theo các thuật ngữ của Chú giải 5 cho Chương này (xem chú giải
chung), những hợp kim của bạch kim với các kim loại khác (vàng, bạc
hoặc các kim loại cơ bản) mà có thể được xếp vào nhóm này, bao gồm:
(1) Hợp kim bạch kim – rodi, -dây cặp nhiệt điện; cuộn dây buồng đốt;
các thành phần trong công nghiệp thủy tinh, lưới chất xúc tác; máy
dệt sợi tổng hợp.
(2) Hợp kim bạch kim – iridi, - các công tắc điện; đồ trang sức; kim
khâu dưới da.
(3) Hợp kim bạch kim – ruteni, - các công tắc điện.
(4) Hợp kim bạch kim -đồng, (nhiều nhất là 5% đồng),- đồ trang sức.
(5) Hợp kim bạch kim – vonfram, - dây điện cực đèn điện tử; các dây
mồi bằng tia lửa.
(6) Hợp kim bạch kim – coba, - nam châm vĩnh cửu.
(7) Hợp kim paladi – ruteni, - đồ trang sức.
(8) Hợp kim paladi - bạc, - các hợp kim hàn đồng; màng khuyếch tán
hydro; công tắc điện.
(9) Hợp kim paladi - đồng, - công tắc điện, hàn đồng.
(10) Hợp kim paladi – nhôm, - dây cầu chì.
(11) Hợp kim rodi – iridi, - cặp nhiệt điện.
(12) Hợp kim iridi – osmi, - đầu bút.
(13) Hợp kim iridi – vonfram, - dây tóc nhiệt độ cao.
(14) Hợp kim vàng - bạch kim, - máy dệt sợi tổng hợp.
(15) Hợp kim vàng - bạc - paladi - đồng, - đồ trang sức; lò xo công tắc điện.
(16) Hợp kim bạc - đồng – paladin, - hợp kim hàn đồng.
(17) Osimiridi (iridosmine), một hợp kim thiên nhiên có chứa osmi,
iridi, ruteni và bạch kim; đây là nguồn osimi chính.
71.11 - Kim loại cơ bản, bạc hoặc vàng, dát phủ bạch kim, chưa gia
công quá mức bán thành phẩm.
Kim loại dát phủ kim loại quý (gồm cả những vật liệu được nạm dát kim
loại quý trên kim loại nền) được định nghĩa trong Chú giải 7 của Chương
này và trong Chú giải tổng quát. Chúng thường ở các dạng tương tự với
những dạng được mô tả đối với bạc trong Chú giải của nhóm 71.07.
Kim loại cơ bản (ví dụ: đồng, vonfram), bạc hoặc vàng, phủ bạch kim
được sử dụng chủ yếu trong đồ trang sức và trong các thiết bị điện.
71.12 - Phế liệu và mảnh vụn của kim loại quý hoặc kim loại dát phủ
kim loại quý; phế liệu và mảnh vụn khác chứa kim loại quý
hoặc các hợp chất kim loại quý, loại sử dụng chủ yếu cho việc
thu hồi kim loại quý trừ hàng hóa thuộc nhóm 85.49.
7112.30 - Tro (xỉ) có chứa kim loại quý hoặc các hợp chất kim loại
quý
- Loại khác:
7112.91 - - Từ vàng, kể cả kim loại dát phủ vàng trừ mảnh vụn có
chứa các kim loại quý khác
7112.92 - - Từ bạch kim, kể cả kim loại dát phủ bạch kim trừ mảnh
vụn có chứa các kim loại quý khác
7112.99 - - Loại khác:
Nhóm này cũng bao gồm phế liệu và mảnh vụn kim loại chỉ phù hợp
cho quá trình thu hồi kim loại quý, hoặc được sử dụng như thành phần
cơ bản sản xuất hóa chất.
Nhóm này cũng bao gồm phế liệu và mảnh vụn của bất kỳ vật liệu chứa
kim loại quý hoặc hợp chất kim loại quý, của một loại chủ yếu được sử
dụng để thu hồi kim loại quý.
Đặc biệt, nhóm này bao gồm:
(A) Tro có chứa kim loại quý hoặc hợp chất kim loại quý, thu được từ
việc thiêu phim chụp, các bảng mạch được in sẵn....
(B) Phế liệu và phế thải thu được từ sự gia công cơ khí kim loại quý
hoặc kim loại phủ kim loại quý, ở những nơi đúc tiền, các xưởng
của thợ vàng, thợ bạc, thợ kim hoàn,... ví dụ: các vụn, bụi, phoi,...
thu được từ sự tạo hình, khoan, gia công,...
(C) Phế thải của các sản phẩm hỏng hoặc gãy vỡ (Bộ đồ ăn, đồ kim
hoàn, trang sức bằng bạc, chất xúc tác dạng lưới kim loại của trang
sức...) không phù hợp lâu dài với mục đích sử dụng ban đầu. Không
áp khái niệm này với những vật có hoặc không sửa chữa hoặc phục
hồi, có thể được tái sử dụng với mục đích ban đầu của chúng, hoặc
có thể được chuyển sang các mục đích sử dụng khác mà không là
vật để xử lý thu hồi kim loại quí
(D) Những phế liệu và mảnh vụn của tấm kính của ảnh, của phim, giấy,
của bìa cactông hoặc giấy ảnh có chứa kim loại quý dưới dạng kim
loại hoặc dưới dạng hợp chất (halogenua bạc).
(E) Những chất phế thải có từ luyện kim, xử lý hoá học, điện phân, có
chứa kim loại quý (ví dụ xỉ, cặn từ quá trình tinh chế và mạ điện
phân kim loại quý, bạc còn lắng lại trong dung dịch định hình ảnh).
Nhóm này không bao gồm phế liệu và mảnh vụn của bảng mạch điện tử
và các chất mang tương tự có chứa kim loại quý (ví dụ, vàng hoặc bạc)
(nhóm 85.49).
PHÂN CHƯƠNG III
ĐỒ KIM HOÀN, ĐỒ KỸ NGHỆ VÀNG BẠC
VÀ CÁC SẢN PHẨM KHÁC
71.13 - Đồ trang sức và các bộ phận của đồ trang sức, bằng kim loại
quý hoặc kim loại được dát phủ kim loại quý.
- Bằng kim loại quý đã hoặc chưa mạ hoặc dát phủ kim loại
quý:
7113.11 - - Bằng bạc, đã hoặc chưa mạ hoặc dát phủ kim loại quý
khác
7113.19 - - Bằng kim loại quý khác, đã hoặc chưa mạ hoặc dát phủ
kim loại quý
7113.20 - Bằng kim loại cơ bản dát phủ kim loại quý
Nhóm này bao gồm các mặt hàng kim hoàn như được định nghĩa trong
Chú giải 9 của Chương này, mà toàn bộ hoặc từng phần kim loại quý,
hoặc bằng kim loại phủ kim loại quý, đó là :
(A) Các đồ trang sức cá nhân nhỏ (được nạm dát ngọc, đá quý hoặc
không) như nhẫn, vòng đeo tay, vòng cổ, trâm cài, hoa tai, dây đeo
cổ, dây đồng hồ và các dây trang trí khác; dây đeo đồng hồ bỏ túi,
mặt dây chuyền, ghim cài cà vạt và đồ cài áo, khuy măng sét, khuy
may mặc, khuy áo...; các chữ thập tôn giáo hoặc các chữ thập khác;
các huy chương hoặc huy hiệu, các vật trang trí mũ (rua trang trí,
khóa, vòng, ...); các đồ trang trí cho túi xách tay; khóa và con trượt
cho thắt lưng, giày, ..., trâm cài tóc, băng trang điểm đội đầu, lược
chải quần áo và các đồ trang trí tóc tương tự.
(B) Các sản phẩm sử dụng cá nhân thuộc loại mang theo thông
thường trong túi, trong túi xách tay hoặc mang trên người như
các hộp thuốc lá hoặc xì gà, hộp đựng thuốc lá bột, hộp kính đeo
mắt, hộp phấn, tay vặn của thỏi son, lược bỏ túi, hộp đựng kẹo cao
su, ví tay có dây, tràng hạt, vòng chìa khóa.
Để được xếp vào trong nhóm này thì các sản phẩm trên phải chứa một tỷ
lệ kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý (kể cả kim loại cơ
bản được khảm dát kim loại quý) lớn hơn tỷ lệ các thành phần phụ;
(như vậy một hộp thuốc lá bằng kim loại cơ bản với một chữ viết lồng
đơn giản bằng vàng hoặc bạc vẫn được phân loại như một mặt hàng bằng
kim loại cơ bản). Theo điều kiện này, hàng hóa cũng có thể chứa ngọc
trai (tự nhiên, nhân tạo hoặc giả), đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng
hợp hoặc tái tạo), đá giả, hoặc đồi mồi, xà cừ, ngà voi, hổ phách (tự
nhiên hoặc thiêu kết - tích tụ), đá đen huyền hoặc san hô.
Nhóm này cũng bao gồm mặt hàng trang sức bán thành phẩm hoặc chưa
hoàn thiện và các bộ phận có thể nhận dạng của đồ trang sức, với điều
kiện chúng chứa tỷ lệ kim loại quý hoặc kim loại phủ dát kim loại quý
lớn hơn tỷ lệ các thành phần phụ, ví dụ: các hoạ tiết để gắn trên nhẫn,
trâm cài,...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các sản phẩm thuộc nhóm 42.02 hoặc 42.03 được nhắc đến trong
Chú giải 3 (B) của Chương 42.
(b) Các hàng hóa thuộc nhóm 43.03 hoặc 43.04 (các sản phẩm bằng da
lông thú hoặc bằng da nhân tạo).
(c) Giày dép, mũ và các vật đội đầu các mặt hàng khác thuộc Chương
64 hoặc Chương 65 với các bộ phận bằng các vật liệu thuộc
Chương này.
(d) Đồ trang sức làm bằng chất liệu khác nhóm 71.17.
(e) Tiền kim loại, trừ những loại được gắn như đồ kim hoàn (nhóm
71.18 hoặc Chương 97).
(f) Các mặt hàng thuộc Chương 90 (ví dụ: kính đeo mắt, ống nhòm... ,
và các khung, giá của nó).
(g) Đồng hồ và đồng hồ đeo tay (Chương 91).
(h) Các mặt hàng thuộc Chương 96, trừ các hàng thuộc các nhóm
96.01 đến 96.06 hoặc 96.15, ví dụ: bút máy, bút máy ngòi ống, quản
bút mực, quản bút chì, và các loại quản bút tương tự (ngoài ra còn
các bộ phận và các phụ tùng của chúng); bật lửa, tẩu thuốc, đót xì gà
hoặc đót thuốc lá, và bộ phận của chúng); bình xịt dầu thơm hoặc
các loại bình xịt tương tự có đặc tính sử dụng cho các mục đích vệ
sinh, và các đầu xịt của nó.
(ij) Đồ kim hoàn có từ hơn 100 năm (nhóm 97.06).
71.14 - Đồ kỹ nghệ vàng hoặc bạc và các bộ phận của đồ kỹ nghệ
vàng bạc, bằng kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý.
- Bằnng kim loại quý, đã hoặc chưa mạ hoặc dát phủ kim
loại quý :
7114.11 - - Bằng bạc, đã hoặc chưa mạ hoặc dát phủ kim loại quý
khác
7114.19 - - Bằng kim loại quý khác, đã hoặc chưa mạ hoặc dát phủ
kim loại quý
7114.20 - Bằng kim loại cơ bản dát phủ kim loại quý
Nhóm này bao gồm các mặt hàng là đồ kỹ nghệ vàng hoặc bạc như được
định nghĩa trong Chú giải 10 của chương này mà toàn bộ hoặc từng phần
của kim loại quý, hoặc bằng kim loại phủ kim loại quý. Nói chung những
hàng hóa này nhiều hơn các đồ kim hoàn thuộc nhóm 71.13; bao gồm:
(A) Các sản phẩm là bộ đồ ăn như dao để bàn, bộ dao chạm trổ; thìa cà
phê, dĩa, muôi; các dụng cụ kẹp thịt; khay, đĩa, bát và đĩa đựng súp
và rau; đĩa hoặc lọ đựng nước chấm, nước sốt; đĩa đựng hoa quả; bát
đựng đường; bình đựng cà phê; bình trà; tách trà và tách cà phê; ly
có chân; chén nhỏ đựng trứng luộc, bình thon cổ đựng nước - rượu,
bộ đồ dùng cho rượu mùi; giá và rổ cho bánh mỳ, bánh ngọt, hoa
quả, ...; khay đựng cá; khay đựng bánh ngọt; thùng ướp lạnh rượu;
lọ đựng tiêu muối; kẹp gắp đường; giá để dao, vòng treo khăn ăn;
chuông để bàn; các nút trang trí...
(B) Các thiết bị vệ sinh như: gương cầm tay; lọ và hộp đựng bột (loại
trừ những loại thuộc nhóm 71.13); giá chổi điện, bàn chải quần áo -
bộ đồ giường, bàn chải móng chân, móng tay, bút lông cứng, lược
(loại trừ lược chải quần áo và lược bỏ túi thuộc chương 71.13);
bình.... Bình xịt dầu thơm không thuộc nhóm này (nhóm 96.16).
(C) Thiết bị văn phòng và bàn làm việc như lọ mực, giá để lọ mực, ke
giữ sách, cái chặn giấy, dao dọc giấy.
(D) Các vật dụng hút thuốc như hộp xì gà và thuốc lá, lọ thuốc lá, gạt
tàn, giá để bao diêm, ...; nhưng không bao gồm các sản phẩm thuộc
nhóm 96.13 hoặc 96.14 (bật lửa châm thuốc lá và các loại bật lửa
khác, tẩu hút thuốc, đót thuốc lá, ...)
(E) Các sản phẩm khác dùng trong gia đình hoặc các mục đích
tương tự, ví dụ như tượng bán thân, tượng nhỏ và các hình tượng
khác để trang trí nội thất; hộp nữ trang; vật trang trí giữa bàn, bình,
lọ, chậu hoa trang trí; khung ảnh; đèn, giá để đèn nến, giá đỡ một
centre-pieces, vases, jardinières; picture frames; lamps, candelabra,
hoặc nhiều cây nến, đèn treo nhiều ngọn; đồ trang trí mặt lò sưởi,
các loại đĩa trang hoàng, mề đay, huy hiệu (loại trừ những thứ dùng
để trang điểm cá nhân); các cúp thể thao; vòi phun nước hoa,...
(F) Các sản phẩm dùng trong tôn giáo như hòm, chén thánh, bình
đựng nước thánh, thánh giá, giá đỡ một hoặc nhiều cấy nến, đèn.
Nhóm này cũng bao gồm các bán thành phẩm và các sản phẩm chưa
hoàn thiện của kỹ nghệ vàng hoặc bạc và các bộ phận rời có thể nhận
dạng của đồ kỹ nghệ vàng hoặc bạc, ví dụ như tay cầm bằng bạc cho bộ
đồ ăn, mặt sau bằng bạc của các bàn chải vệ sinh, ...
Giống như đồ trang sức và theo cùng điều kiện hạn chế liên quan đến
các thành phần phụ, hàng hóa thuộc nhóm này phải chứa kim loại quý
hoặc kim loại dát phủ kim loại quý; chúng cũng có thể chứa ngọc trai (tự
nhiên, nhân tạo hoặc giả), đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp
hoặc tái tạo), đá giả, mai rùa, xà cừ, ngà voi, hổ phách (tự nhiên và thiêu
kết), đá đen huyền hoặc san hô.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Ô dù, gậy đi bộ và các sản phẩm khác thuộc nhóm 66.01 hoặc 66.02
có các phụ kiện bằng các vật liệu thuộc chương này, cũng như các
bộ phận, phụ kiện và bộ phận phụ trợ của các sản phẩm này, toàn bộ
hay từng phần bằng những vật liệu này (nhóm 66.03).
(b) Các sản phẩm thuộc Chương 90 (ví dụ: ống nhòm và kính thiên
văn).
(c) Đồng hồ và đồng hồ đeo tay và hộp đựng đồng hồ (Chương 91).
(d) Các nhạc cụ (Chương 92).
(e) Vũ khí và các bộ phận của chúng thuộc Chương 93 (vũ khí đeo bên
cạnh mình, súng ngắn, súng lục ổ quay,...).
(f) Bình xịt dầu thơm và các loại bình xịt tương tự của các loại dùng cho
mục đích vệ sinh cá nhân, và các đầu xịt của nó (nhóm 96.16).
(g) Các nguyên bản tác phẩm tượng tạc hoặc điêu khắc (nhóm 97.03);
các đồ sưu tập thuộc nhóm 97.05 và đồ cổ thuộc nhóm 97.06.
71.15 - Các sản phẩm khác bằng kim loại quý hoặc kim loại dát phủ
kim loại quý.
7115.10 - Vật xúc tác ở dạng tấm đan hoặc lưới, bằng bạch kim
7115.90 - Loại khác:
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm mà toàn bộ hoặc từng phần bằng
kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý mà không tạo thành đồ
kim hoàn, các bán thành phẩm hoặc chưa hoàn thiện bằng đồ kim hoàn
hoặc các bộ phận bằng đồ kim hoàn (nhóm 71.13) hoặc các đồ kỹ nghệ
vàng hoặc bạc, các sản phẩm chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện
bằng các đồ kỹ nghệ vàng hoặc bạc hoặc các bộ phận rời của chúng bằng
các đồ vàng hoặc bạc (nhóm 71.14), và không được loại trừ theo các
quy định của Chú giải 2(A) hoặc 3 của chương này.
Nhóm này không bao gồm, ví dụ:
(a) Các sản phẩm mà trong đó kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim
loại quý được biểu hiện chỉ như là thành phần phụ.
(b) Các vật liệu khâu vô trùng trong phẫu thuật, các chất hàn răng và các
hàng hóa khác thuộc Chương 30.
(c) Vải dệt thuộc nhóm 58.09 và các hàng hóa khác thuộc Phần XI.
(d) Máy móc, các dụng cụ cơ khí và các đồ điện và các bộ phận rời dễ
nhận biết của chúng, thuộc Phần XVI (ví dụ: máy kéo sợi tổng hợp
bằng bạch kim, ổ lăn chống ma sát; các ổ gối đỡ chịu lực chống ma
sát; các bộ phận của máy móc hóa chất hoặc công nghiệp, các công
tắc điện).
(e) Các sản phẩm thuộc Chương 90 (ví dụ: chân, tay, răng nhân tạo và
các bộ phận nhân tạo khác của cơ thể; đĩa cố định chỗ xương gãy,
các dụng cụ phẫu thuật hoặc y học, hỏa kế với cặp nhiệt điện bằng
kim loại quý, các dụng cụ và thiết bị thí nghiệm và các bộ phận của
chúng bằng vàng, bạc hoặc bạch kim); các sản phẩm thuộc Chương
91 (đồng hồ thời gian và đồng hồ cá nhân), hoặc thuộc Chương 96
(ví dụ: bật lửa ga bằng bạch kim xốp).
Do đó, nhóm này giới hạn ở các mặt hàng để sử dụng trong thí nghiệm
hoặc kỹ thuật như nồi nấu kim loại, chén thử và một số dao trộn (ví dụ:
bằng bạch kim hoặc bằng các kim loại thuộc nhóm bạch kim); bạch kim
hoặc hợp kim bạch kim ở dạng tấm đan hoặc lưới để sử dụng như các
chất xúc tác,...; bình (đã hoặc chưa được bọc lót hoặc được cách nhiệt,
không được gắn lắp cũng như không được thiết kế để được lắp với thiết
bị cơ và nhiệt; các anốt mạ điện. Các anốt bằng vàng có thể ở dạng tấm
mỏng bằng vàng nguyên chất được cắt theo kích cỡ yêu cầu và được
khoan tại hai góc để gắn các móc treo chúng trong các bể mạ điện. Anốt
bằng bạc cũng có thể ở dạng này hoặc ở dạng các mặt cắt đẩy ra có một
mặt cắt ngang "dạng xương chó" và được khoan tại từng đầu mút. Anốt
bằng bạch kim thường bao gồm hoặc là các tấm bạch kim gấp nếp nhỏ,
hoặc là các dải mà một dải hẹp bằng bạch kim được hàn vào đó nhằm
treo chúng trong bể mạ điện, hoặc lưới đan bằng bạch kim gắn với một
mẩu dây bạch kim hoặc dải hẹp bằng lưới bạch kim để cho các mục đích
treo chúng.
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm như túi xách tay, .. , mà trong đó
kim loại quý hoặc kim loại phủ kim loại quý sẽ tạo ra cho sản phẩm này
tính chất đặc trưng của nó. Những sản phẩm như thế có thể gắn ngọc
trai, đá quý, đá bán quý, mai rùa, ..., như là đồ lắp ráp hoặc đồ trang trí.
71.16 - Sản phẩm bằng ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quý
hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo).
7116.10 - Bằng ngọc trai tự nhiên hoặc nuôi cấy
7116.20 - Bằng đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái
tạo)
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm (trừ những sản phẩm bị loại trừ
theo Chú giải 2(B) và 3 của chương này), toàn bộ ngọc trai tự nhiên hoặc
nhân tạo, đá quý hoặc bán quý, hoặc gồm một phần của ngọc trai tự
nhiên hoặc nhân tạo hoặc đá quý hoặc bán quý, nhưng không chứa kim
loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý (trừ khi chúng được coi như
là thành phần phụ) (xem Chú giải 2(B) của chương này).
Vì vậy, nhóm này bao gồm:
(A) Các đồ trang sức cá nhân và các sản phẩm trang trí khác (ví dụ:
khóa cài và các khung cho túi xách tay...; lược, bàn chải; hoa tai,
khuy cài cổ tay áo, khuy may mặc và các sản phẩm tương tự) có
chứa ngọc trai tự nhiên và nhân tạo, đá quý hoặc đá bán quý (tự
nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo), đã được nạm dát hoặc gắn trên kim
loại cơ bản (đã hoặc chưa được dát phủ kim loại quý), ngà voi, gỗ,
chất dẻo, ...
Nhóm này cũng bao gồm ngọc trai hoặc đá đã được phân loại theo
kích cỡ, chất lượng, sự chuyển màu,...và tạo nên sản phẩm có thể sử
dụng ngay như đồ kim hoàn. Nhưng nhóm này loại trừ ngọc trai
hoặc đá chưa được phân loại, chỉ được xâu chuỗi tạm thời để tiện
vận chuyển mà không có bất cứ sự nạm dát hoặc gắn kim loại hoặc
vật liệu khác nào; những sản phẩm này sẽ được xếp vào nhóm
71.01, 71.03 hoặc 71.04 (xem Chú giải của các nhóm 71.01 đến
Theo Chú giải 2(B) của chương này, các hàng hóa thuộc nhóm này
có thể chứa kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý như
những thành phần phụ (ví dụ: một vòng cổ bằng ngọc trai với một
móc cài bằng vàng). Mặt khác nhóm này không bao gồm hàng hóa
(ví dụ: như hoa tai với kẹp bằng vàng) mà trong đó kim loại quý
hoặc kim loại dát phủ kim loại quý mà tỷ lệ của chúng lớn hơn các
thành phần phụ (nhóm 71.13).
(B) Các sản phẩm khác mà toàn bộ hoặc từng phần của đá quý, hoặc đá
bán quý; những sản phẩm này cũng có thể chứa các vật liệu khác
gồm cả kim loại quý hoặc kim loại dát phủ kim loại quý, với điều
kiện là kim loại quý hoặc kim loại phủ kim loại quý được biểu hiện
chỉ như những thành phần phụ. Theo những điều kiện này, nhóm
này do đó mà bao gồm cây thánh giá và các vòng (thường bằng mã
não), vòng xuyến (trừ các vòng đồng hồ đeo tay), ly và tách (thường
bằng garnet); tượng nhỏ và các đồ trang trí (ví dụ: bằng ngọc bích);
cối giã và chày (ví dụ:bằng mã não); lưỡi dao hoặc ổ trục đỡ bằng
mã não hoặc bằng đá quý hoặc đá bán quý khác cho các thiết bị cân;
các thanh dẫn xe sợi bằng mã não; các nút trang trí với phần trên
bằng mã não ...; các dụng cụ đánh bóng bằng mã não dùng cho mạ
vàng, cho việc đánh bóng da, giấy ...; các vòng mã não cho cần câu,
dao dọc giấy, giá để lọ mực, cái chặn giấy, gạt tàn thuốc lá (ví dụ:
bằng mã não hoặc đá onic).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Hàng hóa thuộc Chương 82 với một phần gia công bằng đá quý hoặc
đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp và tái tạo) trên nền kim loại cơ bản,
cacbua kim loại hoặc gốm kim loại, đã hoặc chưa được lắp ráp (ví
dụ: kim cương của dao cắt kính đã gắn).
(b) Máy móc, các dụng cụ cơ khí hoặc đồ điện và các bộ phận của nó
thuộc Phần XVI, (xem Chú giải 3 (k) cho chương này).
(c) Các sản phẩm thuộc Chương 90, như các phần tử quang học bằng
thạch anh đã hoặc chưa được gắn, thích hợp cho việc lắp các dụng
cụ hoặc thiết bị.
(d) Đá quý hoặc đá bán quý đã gia công, đã hoặc chưa được gắn, là các
bộ phận của đồng hồ thời gian hoặc đồng hồ cá nhân, hoặc là các bộ
phận thích hợp cho việc sử dụng cả trong đồng hồ thời gian hoặc
đồng hồ cá nhân và cả trong các mặt hàng khác (xem Chú giải 4 cho
Chương 91).
71.17 - Đồ trang sức làm bằng chất liệu khác.
- Bằng kim loại cơ bản, đã hoặc chưa được mạ kim loại
quý :
7117.11 - - Khuy măng sét và khuy rời
7117.19 - - Loại khác
7117.90 - Loại khác
Theo mục đích của nhóm này, khái niệm đồ trang sức, như được định
nghĩa trong Chú giải 11 của chương này, được hạn chế cho các đồ trang
sức cá nhân nhỏ, như những sản phẩm được liệt kê trong mục (A) của
Chú giải cho nhóm 71.13, ví dụ: nhẫn, vòng xuyến (trừ các dây đồng hồ
đeo tay), vòng đeo cổ, hoa tai, khuy măng sét, ..., nhưng không bao
gồm các cúc áo và các sản phẩm khác thuộc nhóm 96.06, hoặc các lược
chải quần áo, trâm cài tóc hoặc các sản phẩm tương tự, và ghim cài tóc
thuộc nhóm 96.15, với điều kiện chúng không gắn với kim loại quý
hoặc kim loại dát phủ kim loại quý (trừ trường hợp các kim loại này
được xem như là chất để mạ hoặc như các thành phần phụ theo định
nghĩa trong Chú giải 2(A) của chương này, ví dụ: các chữ lồng, vòng sắt
đệm, măng sông và vành viền) và cũng không gắn ngọc trai tự nhiên
hoặc nhân tạo, đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hoặc tái tạo).
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn
thiện đồ trang sức làm bằng chất liệu khác (hoa tai, vòng xuyến, vòng
cổ, ... ) như:
(a) Vòng bán thành phẩm, bao gồm dây nhôm đã xử lý anốt, thường
được xoắn hoặc đã gia công bề mặt, đã hoặc chưa gắn với một khóa
cài thô chưa chế biến, đôi khi được sử dụng như hoa tai mà không
cần gia công thêm ;
(b) Các họa tiết trang trí bằng kim loại cơ bản, đã hoặc chưa được đánh
bóng, được gắn bởi một mắt xích nhỏ vào những dải có chiều dài
không xác định.
Cần chú ý rằng những đồ sử dụng cá nhân thuộc loại thường được để trong
túi, túi xách tay hoặc mang trên người, như những sản phẩm được liệt kê ở
mục (B) của Chú giải cho nhóm 71.13 (hộp đựng thuốc lá, hộp phấn, ...) sẽ
không được coi như đồ trang sức làm bằng chất liệu khác.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Các sản phẩm được nêu rõ trong Chú giải 3 của chương này.
(b) Các sản phẩm thuộc nhóm 83.08 (khóa thắt lưng, móc cài khóa thắt
lưng, móc cài, móc, khoen, ...).
71.18 - Tiền kim loại (+).
7118.10 - Tiền kim loại (trừ tiền vàng), không được coi là tiền tệ
chính thức
7118.90 - Loại khác
Nhóm này áp dụng cho những đồng tiền kim loại bằng kim loại bất kỳ
(kể cả kim loại quý) theo trọng lượng và hình dáng tạo mẫu trang trí
được qui định chính thức, được phát hành dưới sự kiểm soát của chính
phủ như một loại tiền tệ chính thức. Các đồng tiền kim loại riêng lẻ hoặc
bộ đồng tiền kim loại mà là tiền tệ chính thức phát hành trong quốc gia
thì được phân loại trong nhóm này, ngay cả khi chúng được đem bán
công khai trong các trường hợp trưng bày. Nhóm này gồm cả tiền kim
loại không còn giá trị tiền tệ hợp pháp nhưng loại trừ những đồ sưu tầm
của các nhà sưu tập (xem Chú giải của nhóm 97.05).
Tiền kim loại được làm bằng cách dập nổi các phôi từ kim loại tấm;
những phôi này sau đó được dập với những khuôn dập thích hợp để tạo
ra được đồng thời các đường nét trên cả hai mặt.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Huy chương ngay cả khi được dập cùng một cách như tiền kim loại;
những huy chương này thường được xếp vào nhóm 71.13, 71.14
hoặc 71.17 hoặc nhóm 83.06 (xem các Chú giải tương ứng).
(b) Tiền kim loại được gắn trên trâm cài đầu, ghim hoa cài ở cổ áo, ghim
cài cà vạt hoặc các đồ trang sức cá nhân khác (nhóm 71.13 hoặc
(c) Tiền kim loại bị vỡ, cắt hoặc dập nát thuộc dạng có thể sử dụng được
chỉ như kim loại phế thải và phế liệu
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 7118.10
Phân nhóm này bao gồm :
(1) Tiền kim loại có giá trị tiền tệ hợp pháp nhưng không được đưa vào
lưu thông.
(2) Tiền kim loại được dập ở một nước được đưa vào lưu thông ở nước
khác, tại thời điểm đưa qua biên giới, chúng chưa được cấp có thẩm
quyền phát hành để có giá trị hợp pháp.
PHỤ LỤC
Danh mục các loại đá quý hoặc bán quý được xếp trong nhóm 71.03.
Tên khoáng Tên Thương mại
PHẦN XV
KIM LOẠI CƠ BẢN VÀ CÁC SẢN PHẨM BẰNG KIM LOẠI CƠ
BẢN
Chú giải.
1. Phần này không bao gồm:
(a) Sơn, mực hoặc các sản phẩm khác đã được pha chế với chất cơ bản là
vảy hoặc bột kim loại (các nhóm từ 32.07 đến 32.10, 32.12, 32.13
hoặc 32.15);
(b) Hợp kim ferro-xeri hoặc các hợp kim tự cháy khác (nhóm 36.06);
(c) Mũ và các vật đội đầu khác hoặc các bộ phận của chúng thuộc nhóm
65.06 hoặc 65.07;
(d) Khung ô hoặc các sản phẩm khác thuộc nhóm 66.03;
(e) Hàng hoá thuộc Chương 71 (ví dụ, hợp kim kim loại quý, kim loại cơ
bản dát phủ kim loại quý, đồ trang sức làm bằng chất liệu khác);
(f) Các sản phẩm thuộc Phần XVI (máy móc, các thiết bị cơ khí và đồ
điện);
(g) Đường ray đường sắt hoặc đường ray tàu điện đã được lắp ráp (nhóm
86.08) hoặc các sản phẩm khác thuộc Phần XVII (xe, tàu và thuyền,
phương tiện bay);
(h) Dụng cụ hoặc thiết bị phụ tùng thuộc Phần XVIII, kể cả dây cót của
đồng hồ cá nhân hoặc đồng hồ thời gian khác;
(ij) Các viên chì nhỏ được chế tạo để sản xuất đạn dược (nhóm 93.06)
hoặc các sản phẩm khác thuộc Phần XIX (vũ khí và đạn dược);
(k) Các mặt hàng thuộc Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, khung nệm, đèn
(luminaires) và bộ đèn, biển hiệu được chiếu sáng, nhà lắp ghép);
(l) Các sản phẩm thuộc Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi,
dụng cụ, thiết bị thể thao);
(m) Giần, sàng bằng tay, khuy, bút máy, quản bút chì, ngòi bút, chân
đế loại một chân (monopod), hai chân (bipod), ba chân (tripod) và
các sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm khác thuộc Chương 96
(các mặt hàng khác); hoặc
(n) Các sản phẩm thuộc Chương 97 (ví dụ, các tác phẩm nghệ thuật).
2. Trong Danh mục này, khái niệm “các bộ phận có công dụng chung”
có nghĩa:
(a) Các sản phẩm thuộc nhóm 73.07, 73.12, 73.15, 73.17 hoặc 73.18
và các sản phẩm tương tự bằng kim loại cơ bản khác, trừ các sản
phẩm được thiết kế đặc biệt để chuyên dùng cấy ghép trong y tế,
phẫu thuật, nha khoa hoặc thú y (nhóm 90.21);
(b) Lò xo và lá lò xo, bằng kim loại cơ bản, trừ dây cót dùng cho
đồng hồ cá nhân hoặc đồng hồ thời gian khác (nhóm 91.14); và
(c) Sản phẩm thuộc các nhóm 83.01, 83.02, 83.08, 83.10 và khung và
gương, bằng kim loại cơ bản, thuộc nhóm 83.06.
Từ Chương 73 đến Chương 76 và từ Chương 78 đến Chương 82
(nhưng trừ nhóm 73.15) các bộ phận của hàng hoá thuộc các
chương này không bao gồm các bộ phận có công dụng chung như
đã nêu ở trên.
Theo nội dung trên và theo Chú giải 1 của Chương 83, các sản phẩm
thuộc Chương 82 hoặc 83 được loại trừ khỏi các Chương từ Chương 72
đến Chương 76 và từ Chương 78 đến Chương 81.
3. Trong Danh mục này, khái niệm “kim loại cơ bản” có nghĩa là: sắt và
thép, đồng, niken, nhôm, chì, kẽm, thiếc, vonfram, molypđen, tantan,
magiê, coban, bismut, cađimi, titan, zircon, antimon, mangan, berili,
crôm, gemani, vanadi, gali, hafini, indi, niobi (columbi), rheni và tali.
4. Trong Danh mục này, khái niệm “gốm kim loại” chỉ các sản phẩm có
sự kết hợp dị thể của một thành phần kim loại và một thành phần
gốm trong cấu trúc tế vi. Khái niệm “gốm kim loại” cũng kể cả
carbua kim loại thiêu kết (carbua kim loại thiêu kết với một kim loại).
5. Việc phân loại các hợp kim (trừ hợp kim fero và các hợp kim chủ như
đã được xác định trong Chương 72 và 74):
(a) Một hợp kim cấu thành từ các kim loại cơ bản được phân loại vào
nhóm hợp kim của kim loại có hàm lượng trội hơn so với từng kim
loại khác có trong hợp kim;
(b) Một hợp kim mà thành phần gồm các kim loại cơ bản thuộc Phần này
và các nguyên tố không thuộc Phần này thì hợp kim đó sẽ được coi
như hợp kim của các kim loại thuộc phần này nếu tổng khối lượng
của các kim loại cơ bản đó bằng hoặc lớn hơn tổng khối lượng của
các thành phần khác có mặt trong hợp kim;
(c) Trong Phần này khái niệm "hợp kim" kể cả hỗn hợp bột kim loại
thiêu kết, hỗn hợp dị thể trộn kỹ thu được bằng cách nung chảy (trừ
gốm kim loại), và hợp chất liên kết kim loại (thường gọi là hợp chất
liên kim).
6. Trừ khi có những yêu cầu khác, khi việc xem xét có liên quan đến bất
cứ một kim loại cơ bản nào trong Danh mục này, cũng cần phải xem
xét những hợp kim mà chúng được phân loại như những hợp kim của
kim loại đó theo Chú giải 5 ở trên.
7. Việc phân loại các sản phẩm hỗn hợp:
Trừ khi các nhóm có yêu cầu khác, các sản phẩm bằng kim loại cơ
bản (kể cả các sản phẩm bằng nguyên vật liệu pha trộn được coi như
sản phẩm bằng kim loại cơ bản theo các Quy tắc tổng quát giải thích
việc phân loại hàng hóa) gồm hai hoặc nhiều kim loại cơ bản thì được
coi như sản phẩm của kim loại cơ bản nào có hàm lượng trội hơn tính
theo khối lượng so với từng kim loại khác.
Theo mục đích này:
(a) Sắt và thép, hoặc các dạng khác của sắt hoặc thép, được coi như là
một và là cùng một kim loại;
(b) Một hợp kim được coi như chứa toàn bộ một loại kim loại khi mà
hợp kim của kim loại đó được phân loại theo Chú giải 5; và
(c) Gốm kim loại của nhóm 81.13 được coi như một loại kim loại cơ
bản.
8. Trong Phần này, các khái niệm sau đây có nghĩa:
(a) Phế liệu và mảnh vụn
(i) Tất cả phế liệu và mảnh vụn kim loại;
(ii) các sản phẩm bằng kim loại chắc chắn không thể sử dụng được vì
nguyên nhân bị gãy, cắt ra, bị mài mòn hoặc các nguyên nhân khác.
(b) Bột
Là sản phẩm có hàm lượng từ 90% trở lên tính theo khối lượng lọt
qua được rây (sàng) có đường kính mắt rây bằng 1 mm.
9. Theo mục đích của các Chương từ 74 đến 76 và 78 đến 81, các khái
niệm sau đây có nghĩa:
(a) Thanh và que
Các sản phẩm được cán, ép đùn, kéo hoặc rèn, không ở dạng cuộn, có
mặt cắt ngang đông đặc đều nhau dọc theo chiều dài, hình dạng mặt
cắt là hình tròn, bầu dục, chữ nhật (kể cả hình vuông), tam giác đều
hoặc đa giác đều lồi (kể cả "hình tròn phẳng" và "hình chữ nhật biến
dạng", có hai cạnh đối diện là vòng cung lồi, hai cạnh kia thẳng,
chiều dài bằng nhau và song song). Các sản phẩm có mặt cắt ngang
là hình chữ nhật (kể cả hình vuông), tam giác hoặc đa giác có thể có
góc được làm tròn dọc theo chiều dài. Chiều dày của các sản phẩm có
mặt cắt ngang hình chữ nhật (kể cả "hình chữ nhật biến dạng") phải
trên 1/10 chiều rộng. Khái niệm này cũng áp dụng cho các sản phẩm
được đúc hoặc thiêu kết có cùng hình dạng và kích thước đã được gia
công thêm sau khi sản xuất (trừ cách cắt gọt đơn giản hoặc cạo gỉ),
với điều kiện bằng cách đó chúng không mang đặc tính của các mặt
hàng hoặc sản phẩm của các nhóm khác.
Tuy nhiên, các loại que và thanh dây thuộc Chương 74 có các đầu
được làm nhọn hoặc được xử lý đơn giản khác để dễ đưa vào máy
cho quá trình gia công tiếp theo, ví dụ, thành thanh kéo (thanh dây)
hoặc ống, được đưa vào đồng chưa gia công thuộc nhóm 74.03. Quy
định này áp dụng với những sửa đổi thích hợp đối với các sản phẩm
thuộc Chương 81.
(b) Dạng hình
Các sản phẩm được cán, ép đùn, kéo, rèn hoặc tạo hình, ở dạng cuộn
hoặc không, mặt cắt ngang đều nhau dọc theo chiều dài, và khác với
định nghĩa về thanh, que, dây, tấm, phiến, dải, lá mỏng, ống hoặc ống
dẫn. Khái niệm này cũng kể cả các sản phẩm được đúc hoặc thiêu
kết, có cùng hình dạng, đã được gia công thêm sau khi sản xuất (trừ
cách cắt gọt đơn giản hoặc cạo gỉ), với điều kiện là bằng cách đó
chúng không mang đặc tính của các mặt hàng hoặc sản phẩm của
nhóm khác.
(c) Dây
Các sản phẩm được cán, ép đùn hoặc kéo, ở dạng cuộn, có mặt cắt
ngang đặc đều nhau dọc theo chiều dài, hình dạng mặt cắt là hình
tròn, bầu dục, chữ nhật (kể cả hình vuông), tam giác đều hoặc đa giác
đều lồi (kể cả "hình tròn phẳng" và "hình chữ nhật biến dạng", có hai
cạnh đối diện là vòng cung lồi, hai cạnh kia thẳng, chiều dài bằng
nhau và song song). Các sản phẩm có mặt cắt ngang hình chữ nhật
(kể cả hình vuông), tam giác hoặc đa giác có thể có góc được làm
tròn dọc theo chiều dài. Chiều dày của các sản phẩm này có mặt cắt
ngang hình chữ nhật (kể cả "hình chữ nhật biến dạng") phải trên 1/10
chiều rộng.
(d) Tấm, lá, dải và lá mỏng
Các sản phẩm có bề mặt được làm phẳng (trừ các sản phẩm chưa gia
công), ở dạng cuộn hoặc không, có mặt cắt ngang đặc hình chữ nhật
(trừ hình vuông) có hoặc không có các góc được làm tròn (kể cả
"hình chữ nhật biến dạng", có 2 cạnh đối diện là vòng cung lồi, hai
cạnh kia thẳng, chiều dài bằng nhau và song song) chiều dày bằng
nhau, cụ thể:
- với dạng hình chữ nhật (kể cả hình vuông) chiều dày không quá
1/10 chiều rộng;
- với các hình dạng khác trừ hình chữ nhật và hình vuông, với mọi
loại kích thước, với điều kiện chúng không mang đặc tính của mặt
hàng hoặc sản phẩm của nhóm khác.
Các nhóm của tấm, lá, dải và lá mỏng, không kể những đề cập khác,
áp dụng cho các tấm, lá, dải và lá mỏng đã gia công theo hình mẫu
(ví dụ, rãnh, gân, carô, hình giọt nước, hình núm, hình thoi) và các
sản phẩm đó được khoan, làm lượn sóng, đánh bóng hoặc tráng với
điều kiện là bằng cách đó chúng không mang các đặc tính của mặt
hàng hoặc sản phẩm của nhóm khác.
(e) Ống và ống dẫn
Các sản phẩm rỗng, cuộn hoặc không, có mặt cắt ngang rỗng đều
nhau dọc theo chiều dài, mặt cắt là hình tròn, bầu dục, chữ nhật (kể
cả hình vuông), tam giác đều hoặc đa giác đều lồi, độ dày thành ống
bằng nhau. Các sản phẩm có mặt cắt ngang là hình chữ nhật (kể cả
hình vuông), tam giác đều hoặc đa giác đều lồi có thể có góc được
làm tròn dọc theo chiều dài, cũng được coi là ống hoặc ống dẫn với
điều kiện là mặt cắt ngang bên trong và bên ngoài đồng tâm, đồng
dạng và đồng hướng. Ống và ống dẫn có mặt cắt ngang như vậy có
thể được đánh bóng, tráng, uốn cong, ren, khoan, thắt lại, nở ra, hình
côn hoặc nối với các mặt bích, mép, đai hoặc vòng.
TỔNG QUÁT
Phần này bao gồm kim loại cơ bản (bao gồm cả kim loại ở trạng thái tinh
khiết hóa học) và các sản phẩm của chúng. Danh mục các sản phẩm
bằng kim loại cơ bản không được bao gồm tại phần này được liệt kê lại
tại phần cuối của Chú giải này. Phần này cũng bao gồm kim loại tự
nhiên được tách ra từ đất đã lấy quặng và sten đồng, nicken hoặc cô ban
(cobalt). Quặng kim loại và kim loại tự nhiên vẫn chứa đựng trong đất
lấy quặng bị loại trừ (nhóm 26.01 tới 26.17).
Để phù hợp với Chú giải 3 phần này, trong toàn bộ Danh mục, thuật ngữ
“kim loại cơ bản” có nghĩa: sắt và thép, đồng, nicken, nhôm, chì, kẽm,
thiếc, vonfram, molipden, tantan, magiê, côban, bismut, cađimi, titan,
indi, niobi, rheni và tali.
Các Chương từ 72 tới 76 và 78 tới 81 bao gồm các kim loại cơ bản riêng
chưa được gia công và các sản phẩm của kim loại đó như thanh, que,
dây, lá và các sản phẩm của chúng, trừ một số các sản phẩm kim loại cơ
bản cụ thể, không tính đến bản chất kim loại kết cấu, được phân loại vào
Chương 82 và 83, các chương này được giới hạn trong các sản phẩm
cụ thể.
(A) HỢP KIM CỦA KIM LOẠI CƠ BẢN
Phù hợp với Chú giải 6 phần này, ngoại trừ những nội dung yêu cầu
khác (ví dụ: trường hợp hợp kim thép), thì bất cứ dẫn chiếu về kim loại
cơ bản từ Chương 72 tới 76 và 78 tới 81 hoặc nơi nào khác trong Danh
mục cũng bao gồm hợp kim của kim loại đó. Tương tự, bất cứ dẫn chiếu
nào tại Chương 82 hoặc 83 hoặc nơi khác về “kim loại cơ bản” bao gồm
hợp kim được phân loại như hợp kim của kim loại cơ bản.
Theo Chú giải 5 Chương 71 và Chú giải 5 của phần này thì hợp kim kim
loại cơ bản được phân loại như sau:
(1) Hợp kim của kim loại cơ bản với kim loại quý.
Hợp kim này được phân loại như kim loại cơ bản với điều kiện là
không một kim loại quý nào (bạc, vàng, bạch kim) cấu thành tới 2%
trọng lượng của hợp kim. Các hợp kim khác của kim loại cơ bản với
kim loại quí được phân loại vào Chương 71.
(2) Hợp kim của kim loại cơ bản
Các hợp kim này được phân loại theo kim loại chiếm tỷ trọng trội
hơn, loại trừ hợp kim Fero (xem Chú giải nhóm 72.02) và hợp kim
đồng chủ (xem Chú giải nhóm 74.05).
(3) Hợp kim của kim loại cơ bản của phần này với phi kim loại hoặc
với kim loại nhóm 28.05.
Được phân loại như hợp kim của kim loại cơ bản thuộc Phần này với
điều kiện là tổng trọng lượng kim loại cơ bản thuộc Phần này lớn hơn
hoặc bằng tổng trọng lượng các thành phần khác. Nếu không thì hợp
kim này thường được phân vào nhóm 38.24.
(4) Hỗn hợp đã thiêu kết, hỗn hợp dị thể trộn kỹ thu được bằng cách
nung chảy (trừ gốm kim loại) và hợp chất liên kim.
Hỗn hợp bột kim loại thiêu kết và hỗn hợp dị thể trộn kỹ thu được
bằng cách nung chảy (trừ gốm kim loại) được coi như hợp kim. Loại
hỗn hợp thứ hai bao gồm các thỏi đặc biệt có thành phần thay đổi thu
được từ nung chảy kim loại vụn.
Tuy nhiên, phân loại hỗn hợp bột kim loại không được thiêu kết được
hướng dẫn tại Chú giải 7 phần này (Các sản phẩm hỗn hợp - xem
phần (B) dưới đây).
Hợp chất liên kim gồm hai hay nhiều kim loại cơ bản cũng được coi
như hợp kim. Sự khác biệt cơ bản giữa hợp chất liên kim và hợp kim
là trong hợp chất liên kim thì các nguyên tử của kim loại khác nhau
trong mạng tinh thể của hợp chất liên kim được sắp xếp có trật tự,
trong khi trong một hợp kim thì không theo trật tự.
(B) CÁC SẢN PHẨM KIM LOẠI CƠ BẢN
Theo Chú giải Phần 7, các sản phẩm kim loại cơ bản gồm hai hay nhiều
kim loại cơ bản được phân loại theo các sản phẩm của kim loại có hàm
lượng trội hơn các kim loại khác, trừ khi nhóm có những yêu cầu khác
(Ví dụ: đinh sắt hoặc thép có đầu bịt đồng được phân loại vào nhóm
74.15 thậm chí khi đồng không phải là kết cấu chính). Qui tắc tương tự
được áp dụng đối với các sản phẩm được làm một phần từ phi kim loại
với điều kiện là theo Qui tắc Chú giải tổng quát, kim loại cơ bản tạo cho
các sản phẩm tính chất chủ yếu của chúng.
Để tính toán tỷ lệ các kim loại theo mục đích của qui tắc này, nên lưu
ý rằng:
(1) Tất cả các loại sắt và thép được coi như cùng một kim loại.
(2) Hợp kim được coi như chứa toàn bộ một loại kim loại khi mà hợp
kim của kim loại đó được phân loại (ví dụ: vì một số mục đích, một
phần được làm từ đồng pha kẽm (đồng thau) cũng được coi như nó
hoàn toàn bằng đồng).
(3) Gốm kim loại của nhóm 81.13 được coi như một loại kim loại cơ bản
(C) BỘ PHẬN CỦA CÁC SẢN PHẨM
Nói chung, bộ phận của các sản phẩm xác định được thì phân loại như
bộ phận đó theo các nhóm thích hợp của chúng trong danh mục.
Tuy nhiên, những bộ phận có công dụng chung (được định nghĩa tại Chú
giải 2 Phần này) được trình bày riêng lẻ không được xem xét như là bộ
phận của những sản phẩm nhưng vẫn được phân loại vào các nhóm phù
hợp trong Phần này. Nhóm này cũng áp dụng, ví dụ, trong trường hợp với
bu lông dùng trong lò sưởi trung tâm hoặc vòng đệm đặc biệt dùng trong
xe mô tô. Bu lông thì được phân loại tại nhóm 73.18 (đối với bu lông) mà
không phải nhóm 73.22 (như là những phần của lò sưởi trung tâm). Vòng
đệm thì được phân loại tại nhóm 73.20 (đối với vòng đệm) và không
được phân loại 87.08 (như là bộ phận của phương tiện môtô).
Cũng cần phải lưu ý rằng lò xo của đồng hồ cá nhân hoặc đồng hồ thời
gian bị loại trừ bởi Chú giải (2) của Phần này và thuộc nhóm 91.14.
Ngoài những mặt hàng được đề cập tại Chú giải 1 của Phần này, nhóm
này không bao gồm:
(a) Hỗn hống của kim loại cơ bản (nhóm 28.53).
(b) Dạng keo lỏng của kim loại cơ bản (thuộc nhóm 30.03 hoặc 30.04).
(c) Xi măng hàn răng và các chất hàn răng khác (nhóm 30.06).
(d) Các tấm để tạo ảnh có phủ lớp chất nhạy bằng kim loại, ví dụ bản
khắc ảnh (nhóm 37.01).
(e) Vật liệu chiếu sáng dùng trong chụp ảnh thuộc nhóm 37.07.
(f) Sợi trộn kim loại (nhóm 56.05), vải dệt thoi từ sợi kim loại hoặc từ chỉ
kim loại, sử dụng để trang trí, như các loại vải trang trí nội thất hoặc
tương tự (nhóm 58.09).
(g) Hàng thêu và các hàng hoá khác được miêu tả tại Phần XI, của chỉ
kim loại.
Các bộ phận của giày, dép trừ các loại đã được đề cập tại Chú giải 2
Chương 64 ( cụ thể: bộ phận bảo vệ, khoen, móc cài, khóa cài) (nhóm
(ij) Tiền kim loại (nhóm 71.18).
(k) Phế liệu và phế thải của các loại pin và ắc quy điện; các loại pin và ắc
quy điện đã sử dụng hết (nhóm 85.49).
(l) Bàn chải (nhóm 96.03).
Chương 72
Sắt và thép
Chú giải.
1. Trong Chương này và, trong các Chú giải (d), (e) và (f) của Danh
mục, các khái niệm sau có nghĩa:
(a) Gang thỏi
Là loại hợp kim sắt-carbon không có tính rèn, có hàm lượng
carbon trên 2% tính theo khối lượng và có thể chứa một hoặc
nhiều nguyên tố khác trong giới hạn dưới đây:
- Crôm không quá 10%
- Mangan không quá 6%
- Phospho không quá 3%
- Silic không quá 8%
- Tổng các nguyên tố khác không quá 10%.
(b) Gang kính (gang thỏi giàu mangan)
Là loại hợp kim sắt-carbon chứa trên 6% nhưng không quá 30%
mangan tính theo khối lượng và các thành phần khác theo giới
hạn đã nêu ở điểm (a) nêu trên.
(c) Hợp kim fero
Là các hợp kim có dạng thỏi, khối, cục hoặc dạng thô tương tự,
các dạng thu được bằng phương pháp đúc liên tục và cũng như
dạng hạt hoặc dạng bột, đã hoặc chưa kết tụ, thường được sử
dụng như một chất phụ gia cho quá trình sản xuất các hợp kim
khác hoặc như tác nhân khử ôxy, khử lưu huỳnh hoặc cho mục
đích tương tự trong ngành luyện kim đen và thông thường hợp
kim này không có tính rèn, có hàm lượng sắt từ 4% trở lên tính
theo khối lượng và một hoặc nhiều nguyên tố khác dưới đây:
- Crôm trên 10%
- Mangan trên 30%
- Phospho trên 3%
- Silic trên 8%
- Tổng các nguyên tố khác trên 10%, trừ carbon, riêng hàm lượng
của đồng tối đa là 10%.
(d) Thép
Là các vật liệu dễ uốn có chứa sắt trừ các vật liệu thuộc nhóm
72.03 (không kể loại được sản xuất bằng phương pháp đúc) và có
hàm lượng carbon không quá 2% tính theo khối lượng. Tuy
nhiên, riêng thép crôm có thể có hàm lượng carbon cao hơn.
(e) Thép không gỉ
Là loại thép hợp kim có hàm lượng carbon không quá 1,2% tính
theo khối lượng và crôm từ 10,5% trở lên tính theo khối lượng,
có thể chứa hoặc không chứa các nguyên tố khác.
(f) Thép hợp kim khác
Là những loại thép có thành phần không tuân theo định nghĩa của
"thép không gỉ" và chứa ít nhất một trong các nguyên tố với hàm
lượng sau:
- Nhôm từ 0,3% trở lên
- Bo từ 0,0008% trở lên
- Crôm từ 0,3% trở lên
- Coban từ 0,3% trở lên
- Đồng từ 0,4% trở lên
- Chì từ 0,4% trở lên
- Mangan từ 1,65% trở lên
- Molybđen từ 0,08% trở lên
- Nikel từ 0,3% trở lên
- Niobi từ 0,06% trở lên
- Silic từ 0,6% trở lên
- Titan từ 0,05% trở lên
- Vonfram từ 0,3% trở lên
- Vanadi từ 0,1% trở lên
- Zircon từ 0,05% trở lên
- Các nguyên tố khác tính cho mỗi nguyên tố từ 0,1% trở lên (trừ
lưu huỳnh, phostpho, carbon và nitơ).
(g) Các thỏi sắt hoặc thép từ phế liệu nấu lại
Các sản phẩm đúc thô dạng thỏi không có đậu rót hoặc đậu ngót,
có những khuyết tật bề mặt rõ ràng và thành phần hoá học của
chúng không giống với gang thỏi, gang kính hoặc hợp kim fero.
(h) Hạt
Là những sản phẩm có dưới 90% tính theo khối lượng lọt qua
mắt sàng 1 mm và 90% trở lên tính theo khối lượng lọt qua mắt
sàng 5 mm.
(ij) Bán thành phẩm
Các sản phẩm đúc liên tục có mặt cắt đông đặc, đã hoặc chưa qua
cán nóng thô; và
Các sản phẩm khác có mặt cắt đông đặc, chưa được gia công quá
mức cán nóng thô hoặc được tạo hình thô bằng phương pháp rèn,
kể cả phôi để tạo các sản phẩm dạng góc, khuôn hoặc hình.
Các sản phẩm này không ở dạng cuộn.
(k) Các sản phẩm được cán phẳng
Các sản phẩm cán có mặt cắt ngang đông đặc hình chữ nhật (trừ
hình vuông), không thích hợp như định nghĩa tại mục (ij) nêu
trên ở dạng sau:
- cuộn từ các lớp được chồng lên nhau liên tiếp, hoặc
- đoạn thẳng, nếu chiều dày của nó dưới 4,75 mm thì chiều rộng
tối thiểu phải gấp 10 lần chiều dày hoặc nếu chiều dày từ 4,75
mm trở lên thì chiều rộng phải trên 150 mm và tối thiểu phải gấp
2 lần chiều dày.
Các sản phẩm cán phẳng kể cả các sản phẩm đó với các hình nổi
được tạo ra trực tiếp từ quá trình cán (ví dụ, rãnh, gân, kẻ carô,
hình giọt nước, hình núm, hình thoi) và các sản phẩm được
khoan, gấp nếp hoặc đánh bóng, với điều kiện là bằng cách đó
chúng không mang đặc tính của các mặt hàng hoặc sản phẩm của
các nhóm khác.
Các sản phẩm cán phẳng có hình dạng khác với dạng hình chữ nhật
hoặc hình vuông, với mọi kích thước, được phân loại như các sản
phẩm có chiều rộng từ 600 mm trở lên, với điều kiện là chúng không
mang đặc tính của các mặt hàng hoặc các sản phẩm thuộc nhóm khác.
(l) Thanh và que, cán nóng, ở dạng cuộn cuốn không đều
Các sản phẩm cán nóng dạng cuộn cuốn không đều, có mặt cắt ngang
đông đặc hình tròn, hình dẻ quạt, bầu dục, chữ nhật (kể cả hình
vuông), tam giác hoặc đa giác lồi (kể cả "hình tròn phẳng" và "hình
chữ nhật biến dạng", có 2 cạnh đối diện là vòng cung lồi, 2 cạnh kia
thẳng, chiều dài bằng nhau và song song). Các sản phẩm này có thể
được khía răng cưa, gân, rãnh hoặc các dạng khác được tạo ra trong
quá trình cán (thanh và que gia cố).
(m) Thanh và que khác
Các sản phẩm không phù hợp với các định nghĩa tại mục (ij), (k)
hoặc (l) ở trên hoặc định nghĩa về dây, có mặt cắt ngang đông đặc
đều nhau dọc theo chiều dài hình dạng mặt cắt là hình tròn, hình rẻ
quạt, bầu dục, chữ nhật (kể cả hình vuông), tam giác hoặc đa giác lồi
(kể cả "hình tròn phẳng" và "hình chữ nhật biến dạng", có 2 cạnh đối
diện là vòng cung lồi, 2 cạnh kia thẳng, chiều dài bằng nhau và song
song). Các sản phẩm này có thể:
- có khía răng cưa, rãnh, gân hoặc các dạng khác được tạo ra trong
quá trình cán (thanh và que gia cố);
- được xoắn sau khi cán.
(n) Góc, khuôn và hình
Các sản phẩm có mặt cắt ngang đông đặc đều nhau dọc chiều dài và
không thích hợp với mọi định nghĩa về sản phẩm tại mục (ij), (k), (l)
hoặc (m) ở trên hoặc định nghĩa về dây.
Chương 72 không kể đến các sản phẩm của nhóm 73.01 hoặc 73.02.
(o) Dây
Các sản phẩm được tạo hình nguội, ở dạng cuộn, có mặt cắt ngang
đông đặc đều nhau dọc chiều dài, khác với định nghĩa về sản phẩm
được cán phẳng.
(p) Thanh và que rỗng
Thanh và que rỗng với mặt cắt ngang bất kỳ, thích hợp cho các mũi
khoan, kích thước bên ngoài lớn nhất của mặt cắt ngang trên 15 mm
nhưng không quá 52 mm, và kích thước bên trong lớn nhất của mặt
cắt không quá 1/2 kích thước bên ngoài lớn nhất. Thanh và que rỗng
bằng sắt hoặc thép không đúng như định nghĩa này được phân loại
vào nhóm 73.04.
2. Kim loại đen được phủ bằng một kim loại đen khác được phân loại
như những sản phẩm từ kim loại đen có khối lượng trội hơn.
3. Các sản phẩm sắt hoặc thép thu được bằng phương pháp điện phân,
bằng đúc áp lực hoặc thiêu kết được phân loại vào các nhóm của
Chương này như các sản phẩm được cán nóng tương tự, theo hình
dạng, thành phần và mô tả bề ngoài của chúng.
Chú giải phân nhóm.
1. Trong Chương này các khái niệm sau có nghĩa:
(a) Gang thỏi hợp kim
Gang thỏi chứa 1 hoặc nhiều nguyên tố có phần trăm tính theo khối
lượng như sau:
- Crôm trên 0,2%
- Đồng trên 0,3%
- Niken trên 0,3%
- Trên 0,1% của một trong các nguyên tố bất kỳ sau: nhôm,
(b) Thép không hợp kim dễ cắt gọt
Thép không hợp kim chứa 1 hoặc nhiều nguyên tố sau có phần trăm
tính theo khối lượng như sau:
- Lưu huỳnh từ 0,08% trở lên
- Chì từ 0,1% trở lên
- Selen trên 0,05%
- Telu trên 0,01%
- Bismut trên 0,05%.
(c) Thép silic kỹ thuật điện
Thép hợp kim có hàm lượng silic tối thiểu là 0,6% nhưng không quá
6% và chứa hàm lượng carbon không quá 0,08% tính theo khối
lượng. Trong thành phần của chúng có thể chứa nhôm không quá 1%
tính theo khối lượng và không chứa nguyên tố khác theo một tỷ lệ mà
khiến chúng mang đặc tính của thép hợp kim khác.
(d) Thép gió
Thép hợp kim chứa ít nhất 2 trong 3 nguyên tố molybden, vonfram và
vanadi với hàm lượng tổng cộng từ 7% trở lên tính theo khối lượng,
carbon từ 0,6% trở lên tính theo khối lượng và crôm từ 3% đến 6%
tính theo khối lượng, có hoặc không có các nguyên tố khác.
(e) Thép silic-mangan
Thép hợp kim có hàm lượng các nguyên tố sau tính theo khối
lượng :
- Carbon không quá 0,7%,
- Mangan từ 0,5% đến 1,9%, và
- Silic từ 0,6% đến 2,3%, nhưng không chứa nguyên tố khác theo
một tỷ lệ mà khiến chúng mang đặc tính của thép hợp kim khác.
2. Khi phân loại các hợp kim fero trong các phân nhóm của nhóm
72.02 cần lưu ý nguyên tắc sau:
Một hợp kim fero được coi như 2 nguyên tố và được phân loại vào
phân nhóm thích hợp (nếu có) nếu chỉ 1 trong các nguyên tố của
hợp kim vượt quá tỷ lệ phần trăm tối thiểu được nêu ở Chú giải 1
(c) của Chương này; tương tự, nó sẽ được coi như 3 hoặc 4 nguyên
tố nếu 2 hoặc 3 nguyên tố của hợp kim vượt quá phần trăm tối
thiểu trên.
Để áp dụng nguyên tắc này hàm lượng "mỗi nguyên tố khác"
không được nói rõ trong Chú giải 1 (c) của Chương này phải trên
10% tính theo khối lượng.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm các kim loại đen, có nghĩa là gang thỏi, gang kính,
hợp kim fero và các vật liệu thô khác (phân Chương I), cũng như một số
các sản phẩm của ngành công nghiệp sắt và thép (dạng thỏi và các dạng
thô khác, bán thành phẩm và các sản phẩm chính thu được trực tiếp từ
đó) bằng sắt hoặc thép không hợp kim (phân Chương II), bằng thép
không gỉ (phân Chương III) và bằng thép hợp kim khác (phân Chương
Các sản phẩm được gia công tiếp theo, như đúc, rèn, ... và cọc cừ, thép
góc, khuôn và hình được hàn, các đường ống và nguyên vật liệu xây
dựng đường ray xe lửa và đường tàu điện được phân loại ở Chương 73
hoặc, trong một số trường hợp được phân loại trong các chương khác.
Công nghiệp sắt và thép sử dụng nhiều quặng sắt tự nhiên khác nhau
làm nguyên liệu thô (quặng ôxít sắt, hydroxit, cacbonat sắt) được liệt kê
trong Chú giải cho nhóm 26.01, bã pirit thiêu (ôxit sắt được thiêu kết
còn lại sau khi thiêu hết lưu huỳnh từ pyrit, mackazit, pyrôtit, ..., ) và
phế thải và phế liệu sắt hoặc thép.
(I) Sự biến đổi (sự khử) quặng sắt
Quặng sắt được biến đổi bằng sự khử hoặc là thành gang thỏi, trong
các lò cao hoặc lò điện, hoặc là thành dạng xốp (sắt xốp) hoặc thành
nhiều cục bằng nhiều quá trình khử oxi trực tiếp khác nhau; chỉ khi
cần sắt có độ nguyên chất ngoại lệ được đòi hỏi cho công dụng đặc
biệt (ví dụ, trong công nghiệp hoá chất) thì nó thu được bằng sự điện
phân hoặc bằng các quá trình hoá học khác.
(A) Sự biến đổi quặng sắt bằng công nghệ lò cao
Đa số sắt thu được từ quặng sắt là được nấu luyện theo phương
pháp lò cao. Quá trình này chủ yếu sử dụng quặng như nguyên
vật liệu thô, nhưng kim loại phế thải và các mảnh nhỏ, quặng sắt
được biến đổi sơ bộ và phế thải có chứa sắt khác có thể cũng
được sử dụng.
Chất khử oxi trong lò cao cần chủ yếu là than cốc cứng, đôi khi
được kết hợp với những lượng nhỏ than hoặc Hydrocacbon ở
dạng lỏng hoặc khí.
Sắt được thu như vậy là ở dạng gang thỏi nóng chảy. Sản phẩm
phụ là xỉ, khí lò cao và bụi lò cao.
Phần lớn gang thỏi nóng chảy sản xuất theo cách này được biến
đổi trực tiếp thành thép trong nhà máy luyện thép.
Một số có thể được sử dụng trong các xưởng đúc (các nhà máy
sắt thép), cho sản xuất các khuôn đúc thép thỏi, đúc các đường
ống và ống gang đúc ....
Phần còn lại có thể được đúc thành dạng thỏi hoặc khối, trong
các máy đúc hoặc trong các khuôn cát; hoặc nó có thể được sản
xuất ở dạng các cục được tạo dáng không đều, đôi khi được biết
như "gang tấm", hoặc được kết tinh bằng cách rót vào nước.
Gang thỏi đặc hoặc được nấu luyện lại trong các nhà máy luyện
thép với phế liệu chứa sắt, để sản xuất ra thép, hoặc được nấu
luyện trong các xưởng đúc gang, trong các lò đứng hoặc lò điện,
cũng với phế liệu chứa sắt, và biến đổi thành sản phẩm đúc.
(B) Hoàn nguyên quặng sắt trong các thiết bị khử trực tiếp
Trái ngược với quá trình công nghệ đã được mô tả ở trên, ở đây
các chất khử thường là Hydrocacbon ở dạng khí hoặc lỏng hoặc
là than đá, như vậy loại trừ được sự cần thiết về than cốc cứng.
Trong các quá trình này, nhiệt độ khử thấp hơn cho nên sản
phẩm thu được (thường được biết như là sắt xốp) ở dạng các viên
quặng hoặc các cục được biến đổi sơ bộ, xốp mà không cần phải
qua trạng thái lỏng. Vì nguyên nhân này, mà hàm lượng Cacbon
của chúng thường thấp hơn so với gang thỏi thu được từ lò cao
(nơi mà kim loại nấu chảy được tiếp xúc chặt chẽ với Cacbon).
Phần lớn các sản phẩm thô này được nấu chảy trong các nhà máy
luyện thép và biến đổi thành thép.
(II) Sản xuất thép.
Gang thỏi hoặc gang đúc ở dạng nóng chảy hoặc rắn và các sản
phẩm chứa sắt thu được bằng việc khử trực tiếp (sắt xốp) tạo thành,
với thép phế thải và mảnh vụn thép là các vật liệu ban đầu của
luyện thép. Một số các chất được thêm vào những vật liệu này là
các chất tạo xỉ như vôi sống, Canxi - Florua, chất khử ôxy (ví dụ
như Feromangan, Ferosilic, Nhôm) và một số các nguyên tố hợp
kim khác nhau.
Có hai loại phương pháp nấu thép chính, tức là: phương pháp "thổi
khí" trong đó gang thỏi nóng chảy được tinh luyện trong lò thổi
hoặc bằng khí thổi, và phương pháp lò nung, như lò Martin hoặc lò
điện.
Phương pháp thổi khí không đòi hỏi nguồn nhiệt bên ngoài. Các
phương pháp này được sử dụng khi mẻ liệu chủ yếu gồm gang thỏi
nóng chảy. Sự ôxy hoá một số các thành phần có mặt trong gang
thỏi (ví dụ như Cacbon, Phốt pho, Silic và Mangan) sẽ sinh đủ nhiệt
để giữ thép ở thể lỏng và thậm chí còn nấu chảy bất kỳ thép phế
liệu thêm nào. Những phương pháp này gồm cả phương pháp thổi
ôxy nguyên chất vào kim loại nóng chảy (phương pháp Linz –
Donawitz: phương pháp LD hoặc LDAC, OBM, OLP, Kaldo và
các phương pháp khác) và cả những phương pháp, mà nay đã trở
nên lỗi thời, trong đó có sử dụng không khí, đôi khi đã được làm
giàu ôxy (phương pháp Thomas và Bessemer).
Tuy nhiên các phương pháp tinh luyện lò Martin đòi hỏi một nguồn
nhiệt bên ngoài. Những phương pháp này được sử dụng khi vật liệu
thô nạp vào lò ở trạng thái đặc (ví dụ sắt phế thải và phế liệu, sắt
xốp và gang thỏi đặc).
Hai phương pháp chính trong loại này là phương pháp lò Martin,
trong đó nhiệt được cung cấp bởi dầu nặng hoặc khí đốt, và phương
pháp lò hồ quang hoặc lò cảm ứng, nhiệt được cung cấp bằng điện.
Để sản xuất một số loại thép, hai phương pháp khác nhau có thể
được ứng dụng liên tiếp (phương pháp kép). Ví dụ, sự tinh luyện có
thể bắt đầu ở một lò Martin và kết thúc ở một lò điện; hoặc thép
được nấu chảy trong lò điện có thể được chuyển sang một lò thổi
đặc biệt nơi mà sự khử Cacbon được hoàn thành bằng việc thổi ôxy
và Argon vào mẻ liệu (ví dụ phương pháp được sử dụng trong việc
sản xuất thép không gỉ).
Nhiều phương pháp mới đã được sử dụng để sản xuất thép có thành
phần đặc biệt hoặc với các đặc tính đặc biệt. Những phương pháp
này gồm nấu luyện bằng lò điện hồ quang trong chân không, nấu
chảy bởi sự bắn phá bằng điện tử và phương pháp xỉ điện phân.
Trong tất cả các phương pháp này thép được sản xuất từ một điện
cực tự tiêu thụ, điện cực mà trong khi nấu chảy nó chảy nhỏ giọt
vào trong một khuôn đúc thép thỏi được làm lạnh bằng nước.
Khuôn này được làm trong một chi tiết, hoặc đáy có thể tháo mở
được để vật đúc đông đặc có thể được kéo ra ở phía dưới.
Thép lỏng thu được bằng các phương pháp đề cập ở trên, có hoặc
không được tinh luyện tiếp theo, thường được rót vào một nồi chứa.
Ở giai đoạn này các thành phần hợp kim hoặc các chất khử ôxy, ở
dạng rắn hoặc lỏng, có thể được thêm vào. Quá trình này có thể
được thực hiện trong chân không để đảm bảo tránh khỏi các tạp
chất khí.
Thép thu được bằng tất cả các phương pháp này tuỳ theo hàm lượng
các thành phần hợp kim của chúng mà được phân chia thành "thép
không hợp kim" và "thép hợp kim" (không gỉ hoặc các loại khác).
Tuỳ theo các tính chất đặc biệt của chúng mà chúng được phân chia
tiếp, ví dụ thành thép dễ cắt gọt, thép Silic kỹ thuật điện, thép gió
hoặc thép Silic - Mangan.
(III) Sản xuất thép ở dạng thỏi hoặc các dạng thô khác, và các bán
thành phẩm.
Mặc dầu thép nóng chảy có thể được đúc (ở các xưởng đúc) thành
hình dạng cuối cùng của nó trong các khuôn (các vật đúc thép),
hầu hết thép được đúc thành các thỏi trong các khuôn đúc
thép thỏi.
Ở giai đoạn đúc hoặc rót và ở giai đoạn trạng thái đông đặc, thép
được chia thành ba nhóm chính: thép sôi (sủi bọt mạnh), thép lặng
(hoặc không sủi bọt mạnh) và thép nửa lặng (hoặc thép được cân
bằng). Thép được đúc hoặc được rót trong trạng thái sôi được gọi
như vậy vì trong và sau quá trình rót có một phản ứng giữa ôxit sắt
và Cacbon hoà tan dẫn đến tách khí mạnh (sủi bọt). Trong giai
đoạn làm nguội, các tạp chất tập trung trong lõi trung tâm và nửa
trên của các thỏi. Lớp ngoài cùng, lớp mà không bị nhiễm các tạp
chất này sẽ tiếp tục cung cấp một hình dạng bề mặt tốt hơn cho
những sản phẩm cán thu được từ những thỏi này. Dạng thép kinh
tế hơn này cũng được sử dụng cho việc dập lòng đĩa nguội.
Trong nhiều trường hợp, thép không thỏa mãn được đúc trong
trạng thái “sủi bọt mạnh”. Áp dụng điều này, trong thực tế, cho
các thép hợp kim và thép cacbon hàm lượng cao. Trong những
trường hợp này, thép phải ở trạng thái lặng, có nghĩa là được khử
ôxy. Sự khử ôxy có thể được thực hiện một phần bằng việc xử lý
trong chân không, nhưng phổ biến hơn bằng việc thêm các nguyên
tố như silic, nhôm, canxi hoặc mangan. Bằng cách này, những tạp
chất còn lại sẽ được phân bố đều hơn khắp thỏi, đưa đến một đảm
bảo tốt hơn, cho những mục đích sử dụng nhất định, mà các đặc
tính của thép sẽ như nhau trong khắp khối lượng của nó.
Một số thép có thể được khử ôxy từng phần và thép này được biết
đến như thép nửa lặng (hoặc thép cân bằng).
Sau khi thỏi được đông đặc và nhiệt độ của chúng được cân
bằng, các thỏi sẽ được cán thành các bán thành phẩm (thép cán
thô, phôi thanh, thép tròn, tấm, phôi tấm) trong máy cán thô
hoặc máy cán phá (máy cán phôi, máy cán phôi tấm ...) hoặc
được biến dạng bằng búa thả hoặc trong máy rèn dập tạo thành
bán thành phẩm rèn.
Số lượng thép được đúc trực tiếp thành dạng bán thành phẩm trong
các máy đúc liên tục ngày càng tăng. Hình dạng mặt cắt ngang của
chúng trong một số trường hợp có thể tương tự như hình dạng mặt
cắt ngang của các thành phẩm. Các bán thành phẩm thu được bằng
quá trình đúc liên tục được đặc trưng bởi hình dạng bề mặt bên
ngoài của chúng, hình dạng mà thường cho thấy các vành chống
ngang có các màu khác nhau tại các khoảng cách đều hơn hay ít
đều hơn, cũng như được đặc trưng bởi bề mặt cắt ngang của chúng
thường với sự kết tinh hướng tâm do kết quả của sự làm nguội
nhanh. Thép đúc liên tục là loại thép lắng.
(IV) Sản xuất thành phẩm
Các bán thành phẩm và, trong một số trường hợp, là các thỏi được
biến đổi tiếp theo thành thành phẩm.
Những sản phẩm này thường được chia nhỏ thêm thành các sản
phẩm cán phẳng ("mặt phẳng rộng", gồm cả "thép tấm phổ
dụng", "cuộn rộng", tấm mỏng, tấm và dải) và các sản phẩm dài
(thanh và que, được cán nóng, ở dạng cuộn không đều, các thanh
và que khác, góc, khuôn, hình và dây).
Các sản phẩm này thu được bằng sự biến dạng dẻo, hoặc nóng trực
tiếp từ các thỏi hoặc bán thành phẩm (bằng việc cán nóng, rèn
hoặc kéo nóng), hoặc nguội - không trực tiếp từ các thành phẩm
nóng (bằng cán nguội, đúc ép, kéo dây, chuốt dây), một số trường
hợp bằng gia công hoàn thiện tiếp (ví dụ như các thanh hoàn thiện
nguội thu được bằng mài không tâm hoặc bằng sự tiện chính xác).
Theo Chú giải 3 của Chương này, các sản phẩm sắt và thép thu
được bằng sự kết tủa điện phân, bằng quá trình đúc dưới áp lực
hoặc bằng sự thiêu kết sẽ được phân loại theo hình dạng, thành
phần và dạng ngoài của chúng, trong các nhóm của Chương này
thích hợp với các sản phẩm cán nóng tương tự.
Đối với mục đích của Chú giải này, có quy định một số định nghĩa
(1) Đúc dưới áp lực (đúc bằng khuôn kim loại):
Phương pháp này gồm việc phun một hợp kim ở dạng lỏng
hoặc nhão vào một khuôn dưới một áp lực cao mức độ nào đó.
Đó là một phương pháp để sản xuất số lượng lớn được dễ
dàng và đảm bảo sự chính xác về kích thước.
(2) Sự thiêu kết
Đây là một quy trình thao tác của ngành luyện kim bột, nhờ
vào quy trình này tạo sản phẩm bột đặc sít chặt, thu được theo
hình dạng khuôn và thường đi kèm với ép dập, sau đó được
tiếp tục gia nhiệt trong một lò nung đặc biệt.
Quy trình hoạt động tạo nên những tính chất cuối cùng cho
các vật liệu thiêu kết, sẽ được thực hiện dưới các điều kiện
đặc biệt về nhiệt độ, thời gian và áp suất. Quy trình này tạo ra
một sự kết tụ ở dạng rắn ở dạng rắn. Sự thiêu kết cũng có thể
được thực hiện trong chân không.
(A) Sự biến dạng dẻo nóng
(1) Cán nóng có nghĩa là cán ở một nhiệt độ nằm giữa khoảng từ
điểm tái kết tinh nhanh và điểm bắt đầu nóng chảy. Khoảng
nhiệt độ phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như thành phần
của thép. Như một nguyên tắc, nhiệt độ cuối cùng của phôi gia
công trong cán nóng là khoảng 900°C.
(2) Rèn có nghĩa là sự biến dạng nóng của kim loại chủ yếu nhờ
búa thả hoặc trên các máy rèn, để thu được các phôi theo hình
dạng bất kỳ.
(3) Trong quá trình kéo nóng, thép được nung nóng và cho lọt qua
một khuôn kéo dây để sản xuất các thanh, ống hoặc các mặt cắt
có các hình dạng khác nhau.
(4) Sự rèn khuôn và dập khuôn nóng có nghĩa là tạo ra các phôi
hình và các đoạn cắt (thường trên đường băng chuyền) bằng
cách tạo hình nóng các phôi cắt trong các khuôn dập (đóng kín
hoặc với các mối nối rìa) nhờ các dụng cụ đặc biệt. Quá trình
gia công, được thực hiện giai đoạn liên tục bằng sự va đập hoặc
áp lực, thường được thực hiện trong các giai đoạn trình tự tiếp
theo các quy trình cán thô, rèn dập, rèn tay hoặc uốn cong.
(B) Sự biến dạng dẻo nguội
(1) Cán nguội được thực hiện trong nhiệt độ môi trường, có nghĩa
là thấp hơn nhiệt độ kết tinh lại.
(2) Sự rèn khuôn và sự dập khuôn nguội có nghĩa là tạo ra các
hình dạng và mặt cắt bằng các phương pháp nguội tương tự với
những phương pháp được mô tả ở Mục A(4) ở trên.
(3) Sự ép đùn là một quá trình công nghệ, thường là nguội, nhằm
làm biến dạng thép đa số dưới áp lực cao giữa một khuôn kim
loại và một dụng cụ ép, các khoảng trống bị bịt kín từ mọi phía
ngoại trừ phía mà qua đó vật ép đi qua, để tạo ra hình dạng
mong muốn.
(4) Kéo dây là một quá trình gia công nguội mà trong đó các
thanh hoặc que trong các cuộn dây được cuốn không đều được
kéo qua một hoặc nhiều khuôn kéo dây ở tốc độ cao nhằm thu
được dây có đường kính nhỏ hơn ở dạng cuộn.
(5) Chuốt dây là một quá trình gia công nguội mà trong đó các
thanh hoặc các que có hoặc không ở dạng cuộn không đều,
được kéo (với tốc độ tương đối thấp), qua một hoặc nhiều
khuôn nhằm thu được các sản phẩm có mặt cắt được tạo hình
khác nhau hoặc nhỏ hơn.
Các sản phẩm gia công nguội có thể được phân biệt với số sản phẩm
cán nóng hoặc kéo nóng bởi các tiêu chuẩn sau:
- bề mặt của các sản phẩm gia công nguội có một hình dạng ngoài
tốt hơn so với hình dạng ngoài của các sản phẩm thu được bởi
một quá trình nóng và không bao giờ có lớp vảy bong;
- đối với các sản phẩm gia công nguội, dung sai về kích thước nhỏ
hơn;
- các sản phẩm phẳng mỏng ("cuộn rộng" mỏng, tấm mỏng, tấm
bản và dải) thường được sản xuất bởi sự biến dạng nguội;
- sự kiểm tra bằng kính hiển vi các sản phẩm gia công nguội cho
thấy một sự biến dạng đáng kể của các hạt tinh thể và sự định
hướng các hạt tinh thể song song với phương gia công. Ngược
lại, các sản phẩm thu được bằng các quá trình nóng biểu hiện
hầu như các hạt tinh thể đều là nhờ sự kết tinh lại.
Ngoài ra, các sản phẩm gia công nguội có các đặc tính có thể giống
một số sản phẩm cán nóng hoặc kéo nóng:
(a) vì có sự biến dạng hoặc biến cứng khi gia công nguội mà chúng
đã chịu, các sản phẩm gia công nguội rất cứng và có độ bền kéo
lớn, mặc dù những đặc tính này có thể giảm đáng kể nhờ sự
nhiệt luyện;
(b) Độ giãn dài ở mặt gãy rất thấp trong các sản phẩm gia công
nguội; độ giãn này sẽ cao hơn trong các sản phẩm đã qua nhiệt
luyện thích hợp.
Quá trình cán nguội rất nhẹ (được biết như quá trình gia công là lớp
bề mặt hoặc gia công ép) được áp dụng cho một số sản phẩm cán
nóng phẳng không làm giảm đáng kể độ dày của chúng, sẽ không
làm thay đổi tính chất của các thành phẩm cán nóng đã hoàn chỉnh.
Quá trình gia công nguội dưới áp lực thấp thực chất sẽ chỉ tác động
lên bề mặt của các sản phẩm, nhưng trái lại quá trình cán nguội
(được biết như sự biến dạng nguội) theo ý nghĩa chính xác sẽ làm
thay đổi cấu trúc tinh thể của các phôi gia công bởi sự giảm đáng kể
mặt cắt ngang của nó.
(C) Sự gia công tiếp theo và sự gia công hoàn thiện
Các thành phẩm có thể chịu thêm các xử lý hoàn thiện hoặc biến đổi
thành các mặt hàng khác bởi một loạt các quá trình như:
(1) Gia công cơ khí, có nghĩa là tiện, phay, mài, đục lỗ hoặc dập,
tạo nếp, định cỡ, bóc vỏ, ...; tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng
quá trình tiện thô đơn thuần để loại bỏ lớp vảy ôxy hoá và vảy
cứng, và sự sửa ba via thô không được coi như là các quy trình
gia công tinh (gia công hoàn thiện) dẫn đến một sự thay đổi
trong phân loại.
(2) Sự xử lý bề mặt hoặc các quy trình khác, gồm cả sự mạ, nhằm
cải thiện các đặc tính hoặc hình dạng bề ngoài của kim loại, bảo
vệ nó chống lại sự gỉ và sự ăn mòn, .... Trừ những yêu cầu khác
được qui định trong một số nhóm, việc xử lý không làm ảnh
hưởng đến nhóm mà trong đó hàng hoá được phân loại. Chúng
bao gồm:
(a) Sự ủ, sự tôi cứng, sự ram, sự tôi cứng bề mặt, nitrua hoá và
các sự nhiệt luyện tương tự nhằm cải thiện các