CHU GIAI 2022_14
lắp với một vật khác hoặc các phương
pháp tương tự.
67.01- Da và các bộ phận khác của loài chim có lông vũ hoặc lông tơ,
lông vũ, các phần của lông vũ, lông tơ và các sản phẩm làm
từ chúng (trừ các mặt hàng thuộc nhóm 05.05 và các ống,
lông cánh, lông đuôi đã chế biến).
Trừ một số hàng hoá nhất định được đề cập cụ thể hoặc được xếp trong
nhóm khác và được nêu trong những trường hợp loại trừ dưới đây, nhóm
này bao gồm:
(A) Các loại da và các phần khác của chim có lông vũ hoặc lông tơ, lông
vũ và lông tơ, các phần của lông vũ, nhưng chưa tạo thành những
sản phẩm hoàn chỉnh, đã trải qua quá trình xử lý trừ các biện pháp
xử lý đơn giản như làm sạch, khử trùng hoặc xử lý để bảo quản
chúng (xem Chú giải chi tiết của nhóm 05.05); ví dụ, hàng hoá của
nhóm này có thể được tẩy trắng, nhuộm, uốn quăn hoặc cuộn lại.
(B) Các mặt hàng chế biến từ da hoặc từ các phần khác của chim có lông
vũ và lông tơ, các sản phẩm làm từ lông vũ, lông tơ hoặc những
phần của lông vũ, ngay cả khi lông vũ hoặc lông tơ ... chưa được xử
lý hoặc mới chỉ được làm sạch, nhưng không bao gồm các sản
phẩm được làm từ các ống, lông cánh hoặc lông đuôi chim. Do đó,
nhóm bao gồm:
(1) Các loại lông vũ đơn phần ống đã được bọc hoặc buộc lại để sử
dụng ví dụ như lông chim trên mũ phụ nữ, và lông vũ hỗn hợp
đơn được lắp ghép từ nhiều thành phần khác nhau.
(2) Các loại lông vũ được ghép lại để tạo thành chùm, và các loại
lông vũ và lông tơ được ghép lại bằng keo hoặc được đính chặt
vào tấm vải dệt hoặc được gắn vào một đế khác.
(3) Các đồ dùng để trang trí được làm từ chim, các bộ phận của
chim, từ lông vũ hoặc lông tơ, được đính trên mũ, khăn quàng
lông, cổ áo, áo măng tô hoặc những loại quần áo khác hoặc các
phụ kiện của quần áo.
(4) Các loại quạt được làm bằng lông vũ trang trí, có khung được
làm bằng mọi chất liệu. Tuy nhiên, quạt có khung được làm
bằng kim loại quí được xếp vào nhóm 71.13.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm những sản phẩm là quần áo và
phụ kiện của quần áo trong đó lông vũ, hoặc lông tơ chỉ tạo thành những
phần trang trí hoặc lớp lót đệm.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Giày, dép làm từ lông vũ hoặc lông tơ (Chương 64).
(b) Mũ và các vật đội đầu khác làm từ lông vũ hoặc lông tơ
(Chương 65).
(c) Các sản phẩm thuộc nhóm 67.02.
d) Các mặt hàng thuộc bộ đồ giường…vv, trong trường hợp lông vũ chỉ
được đưa vào sử dụng như chất liệu để nhồi hoặc lót ở trong (thuộc
nhóm 94.04).
(e) Các sản phẩm thuộc Chương 95 (ví dụ, quả cầu lông, đồ chơi ném
phi tiêu bằng lông vũ hoặc phao của cần câu cá).
(f) Các ống, lông cánh, lông đuôi đã gia công (ví dụ, tăm xỉa răng thuộc
nhóm 96.01), chổi lông (nhóm 96.03), và nùi bông thoa phấn và
đệm bằng lông tơ được sử dụng trong ngành chế tạo mỹ phẩm hoặc
các chế phẩm vệ sinh (nhóm 96.16).
(g) Các vật phẩm sưu tập (nhóm 97.05).
67.02 Hoa, cành, lá, quả nhân tạo và các phần của chúng; các sản
phẩm làm bằng hoa, cành, lá hoặc quả nhân tạo.
6702.10 - Bằng plastic
6702.90 - Bằng vật liệu khác.
Nhóm này bao gồm:
(1) Hoa, lá và quả nhân tạo ở dạng giống với những sản phẩm tự nhiên,
được tạo ra bởi việc ghép các phần khác nhau (bằng cách chằng
buộc, dán bằng keo gắn, hoặc lắp với một vật khác hoặc bằng các
phương pháp tương tự). Loại này cũng bao gồm các loại tượng trưng
cho hoa, lá hoặc quả thông thường được làm sẵn theo kiểu hoa nhân
tạo …
(2) Các phần của hoa, lá hoặc quả nhân tạo, (ví dụ, nhị hoa, nhụy hoa,
bầu hoa, cánh hoa, đài hoa, lá, và cuống hoa).
(3) Những sản phẩm được làm từ hoa, lá hay quả nhân tạo (ví dụ, các bó
hoa, tràng hoa, vòng hoa, các loại cây) và các sản phẩm khác, để sử
dụng làm trang trí hoặc phụ kiện trang sức, được làm bằng cách lắp
ghép hoa, lá hoặc quả nhân tạo.
Nhóm bao gồm hoa, lá hoặc quả nhân tạo gắn với ghim hoặc các thiết bị
cài chặt nhỏ khác.
Các sản phẩm thuộc nhóm này chủ yếu được sử dụng để trang trí (ví dụ,
trang trí trong nhà hoặc tại nhà thờ), hoặc trang trí trên mũ, quần áo…
Nằm trong những trường hợp bị loại trừ được nêu dưới đây, những hàng
hoá này có thể được làm bằng nguyên liệu dệt, nỉ, giấy, nhựa, cao su, da,
lá kim loại, lông vũ, vỏ sò ốc hoặc các nguyên liệu khác có nguồn gốc từ
động vật (ví dụ: cành lá nhân tạo có được làm nguồn gốc sinh vật biển,
đã được nhuộm và chế biến, gồm có những phần mềm dẻo của thuỷ tức
hoặc động vật hình rêu) v.v... Với điều kiện chúng có những đặc tính đã
được quy định trong những đoạn trước đây, tất cả những sản phẩm này
được xếp trong nhóm này và không phụ thuộc mức độ hoàn chỉnh của
chúng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Hoa và cành, lá tự nhiên thuộc nhóm 06.03 hoặc 06.04 (ví dụ: được
nhuộm, tráng bạc, mạ vàng).
(b) Mẫu ren rời hình hoa, vải thêu hoặc vải dệt khác, nhìn chung chúng
có thể được sử dụng như vật trang trí cho quần áo, nhưng chúng
không được chế tạo theo cách làm hoa nhân tạo (ví dụ: bằng cách
lắp ráp nhiều phần khác nhau (cánh hoa, nhị hoa, cuống hoa vv...)
và được gắn chặt với dây kim loại, nguyên liệu dệt, giấy, cao su
bằng dán keo hoặc bằng những phương pháp khác) (Phần XI).
(c) Mũ và các vật đội đầu khác làm từ hoa hoặc cành lá nhân tạo
(Chương 65).
(d) Các sản phẩm bằng thuỷ tinh (Chương 70).
(e) Hoa, lá, cành hoặc quả nhân tạo bằng gốm, đá, kim loại, gỗ hoặc vật
liệu khác, được làm trên một tấm lá bằng cách đúc, luyện, khắc, dập,
hoặc các cách khác, hoặc gồm các bộ phận được lắp ráp lại với nhau
trừ việc ghép, gắn bằng keo, lắp với một sản phẩm khác hoặc các
phương pháp tương tự.
(f) Dây kim loại cắt thành đoạn được bọc ngoài bằng chất liệu dệt, bằng
giấy, v.v... để cuống của hoa nhân tạo (Phần XV).
(g) Những mặt hàng có thể rõ ràng nhận dạng là được dùng làm đồ chơi
hoặc những mặt hàng dùng trong lễ hội (Chương 95).
67.03 - Tóc người, đã được chải, chuốt, tẩy hoặc xử lý bằng cách
khác; lông cừu hoặc lông động vật khác hoặc các loại vật liệu dệt
khác, được chế biến để dùng làm tóc giả hoặc sản phẩm tương tự.
Loại trừ tóc người mới chỉ được xử lý đơn giản như rửa sạch hoặc gột
tẩy hoặc sắp xếp theo độ dài (nhưng chưa được sắp xếp để đầu và chân
tóc chải được xếp cùng nhau) và các phế liệu tóc (nhóm 05.01); nhóm
này bao gồm những loại tóc đã được chải, kể cả khi chúng đã được xử lý
bằng cách khác (ví dụ, chuốt, khử màu, tẩy, nhuộm, uốn quăn, uốn làn
sóng, vv...) để phục vụ cho việc sản xuất tóc giả (ví dụ, bộ tóc giả, ,lọn
tóc, búi tóc) hoặc sử dụng cho các mục đích khác.
Khái niệm “đã được chải” bao gồm tóc mà từng sợi tóc đã được sắp xếp
để chân tóc, và ngọn tóc theo cùng chiều.
Nhóm này còn bao gồm cả lông cừu, lông động vật (ví dụ: lông của bò tây
tạng, lông của dê cái angora hoặc lông của dê tây tạng) và các loại nguyên
liệu dệt khác (ví dụ các loại sợi dệt nhân tạo) được sử dụng để làm tóc giả
và các sản phẩm tương tự, hoặc để làm các bộ tóc giả cho búp bê. Các sản
phẩm được chế tạo theo các mục đích trên cụ thể bao gồm:
(1) Các mặt hàng gồm 1 miếng nhỏ, thông thường bằng lông cừu hoặc
lông động vật, được quấn xung quanh hai dây mảnh song song và
được mang dáng vẻ của một bím tóc. Những sản phẩm được gọi là
“tóc bồng” thường dài và trọng lượng khoảng 1kg.
(2) Những sợi xơ dệt được uốn làn sóng bằng sợi dệt có chiều dài từ 14 -
15m, được uốn thành những bó nhỏ nặng khoảng 500g.
(3) Các “dải được tết lại” được làm từ những sợi dệt nhân tạo đã được
nhuộm số lượng lớn, được gập làm đôi để tạo thành các búi rồi tết
liên kết lại với nhau ở các đầu gập bằng một dải tết bằng sợi dệt có
chiều rộng khoảng 2mm. Các “dải tết” này mang hình dáng của mái
tóc ngang trán có chiều dài xác định.
Lông cừu, lông động vật khác hoặc những loại sợi dệt khác dưới dạng
cuôn dây thô hoặc dùng để kéo sợi, được phân loại vào Phần XI.
67.04 - Tóc giả, râu, lông mi, lông mày giả, tóc độn và các loại sản
phẩm tương tự, bằng tóc người hoặc lông động vật hoặc các
loại vật liệu dệt; các sản phẩm bằng tóc người chưa được chi
tiết hoặc ghi ở nơi khác.
- Bằng vật liệu dệt tổng hợp:
6704.11 - - Bộ tóc giả hoàn chỉnh
6704.19 - - Loại khác
6704.20 - Bằng tóc người
6704.90 - Bằng vật liệu khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Những món tóc giả dưới tất cả các dạng được làm từ tóc thật, lông
động vật hoặc bằng các loại vật liệu dệt. Những sản phẩm này bao
gồm tóc giả, râu, lông mi, lông mày, độn tóc, lọn tóc, bím tóc, râu mép,
và các sản phẩm tương tự. Các sản phẩm này thường thuộc dạng cao
cấp được sử dụng để trang điểm cá nhân hoặc cho các công việc
chuyên môn khác (như tóc giả dùng trong các nhà hát kịch).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Tóc giả dùng cho búp bê (nhóm 95.03).
(b) Những sản phẩm dùng cho lễ hội, thường là nguyên liệu có chất
lượng thấp hơn và được hoàn thiện (nhóm 95.05).
(2) Các mặt hàng bằng tóc, chưa được nêu hoặc đưa vào những
phần khác, đặc biệt nguyên liệu nhẹ dệt bởi tóc người.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Vải lọc (filtering hoặc straining) loại làm bằng tóc thuộc nhóm
(b) Lưới bao tóc (nhóm 65.05).
(c) Mạng lọc bằng lông cầm tay (nhóm 96.04).
PHẦN XIII
SẢN PHẨM BẰNG ĐÁ, THẠCH CAO, XI MĂNG, AMIĂNG,
MICA HOẶC CÁC VẬT LIỆU TƯƠNG TỰ; ĐỒ GỐM;
SỨ (CERAMIC); THUỶ TINH VÀ CÁC SẢN PHẨM BẰNG
THUỶ TINH
Chương 68
Sản phẩm làm bằng đá, thạch cao, xi măng, amiăng, mica hoặc các
vật liệu tương tự
Chú giải
1. Chương này không bao gồm:
(a) Hàng hoá thuộc Chương 25;
(b) Giấy và bìa đã được tráng, ngâm tẩm hoặc phủ thuộc nhóm 48.10
hoặc 48.11 (ví dụ, giấy và bìa đã được tráng graphit hoặc bột mica,
giấy và bìa đã được bi-tum hóa hoặc asphalt hóa);
(c) Vải dệt đã được tráng, ngâm tẩm hoặc phủ thuộc Chương 56 hoặc
59 (ví dụ, vải đã được tráng hoặc phủ bột mica, vải đã được
asphalt hóa hoặc bi-tum hóa);
(d) Các sản phẩm của Chương 71;
(e) Dụng cụ hoặc các bộ phận của dụng cụ, thuộc Chương 82;
(f) Đá in litô thuộc nhóm 84.42;
(g) Vật liệu cách điện (nhóm 85.46) hoặc các phụ kiện làm bằng vật
liệu cách điện thuộc nhóm 85.47;
(h) Đầu mũi khoan, mài dùng trong nha khoa (nhóm 90.18);
(ij) Các sản phẩm thuộc Chương 91 (ví dụ, đồng hồ thời gian và vỏ
đồng hồ thời gian);
(k) Các sản phẩm thuộc Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, đèn
(luminaires) và bộ đèn, nhà lắp ghép);
(l) Các sản phẩm của Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi và
dụng cụ, thiết bị thể thao);
(m) Các sản phẩm của nhóm 96.02, nếu làm bằng các vật liệu đã được
ghi trong Chú giải 2(b) của Chương 96, hoặc của nhóm 96.06 (ví
dụ, khuy), của nhóm 96.09 (ví dụ, bút chì bằng đá phiến) hoặc
nhóm 96.10 (ví dụ, bảng đá phiến dùng để vẽ) hoặc của nhóm
96.20 (chân đế loại một chân (monopod), hai chân (bipod), ba
chân (tripod) và các sản phẩm tương tự); hoặc
(n) Các sản phẩm thuộc Chương 97 (ví dụ, các tác phẩm nghệ thuật).
2. Trong nhóm 68.02, khái niệm "đá xây dựng hoặc đá làm tượng đài đã
được gia công" được áp dụng không chỉ đối với nhiều loại đá đã được
nêu ra trong nhóm 25.15 hoặc 25.16 mà còn đối với tất cả các loại đá
tự nhiên khác (ví dụ, đá thạch anh, đá lửa, dolomit và steatit) đã được
gia công tương tự; tuy nhiên, không áp dụng đối với đá phiến.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm:
(A) Các loại sản phẩm thuộc Chương 25 đã được gia công vượt qua
mức độ được cho phép theo chú giải 1 của Chương đó
(B) Các sản phẩm không được đưa vào Chương 25 theo Chú giải 2 (f)
của Chương đó.
(C) Một số sản phẩm nhất định được làm bằng các nguyên liệu khoáng
thuộc Phần V.
(D) Các sản phẩm được làm từ một số các nguyên vât liệu thuộc
Chương 28 ( ví dụ, vật liệu mài nhân tạo).
Một số sản phẩm ở mục (C) hoặc (D) có thể được gắn kết bằng cách
sử dụng các chất kết dính, có chứa các chất độn, có thể được gia cố,
hoặc trong trường hợp các sản phẩm như vật liệu mài hoặc mica có thể
được gắn/dính vào mặt sau hoặc mặt nền của chất liệu vải, giấy, bìa các
tông, hoặc các nguyên vật liệu khác.
Phần lớn các sản phẩm này và các thành phẩm thu được bằng các công
đoạn (như tạo hình, tạo khuôn), mà sẽ làm thay đổi hình dạng hơn là bản
chất của các nguyên vật liệu cấu thành. Một số sản phẩm thu được bằng
sự kết tụ (ví dụ các sản phẩm hắc ín, hoặc một số sản phẩm nhất định
như các bánh mài mà được kết tụ bằng phương pháp thuỷ tinh hóa các
vật liệu kết dính); các sản phẩm khác có thể được tôi cứng trong các nồi
hấp (các loại gạch làm bằng vôi – cát). Chương này cũng bao gồm một
số sản phẩm nhất định thu được nhờ các công đoạn liên quan đến sự biến
đổi cơ bản các nguyên liệu thô ban đầu (ví dụ nấu chảy để tạo ra sợi xỉ,
bazan nung chảy, v.v...).
Các sản phẩm thu được trong quá trình nung đất đã được tạo hình từ
trước, (ví dụ các sản phẩm gốm) nhìn chung đều được xếp vào Chương
69, trừ trường hợp các vật liệu mài ceramic thuộc nhóm 68.04. Thủy
tinh và đồ thuỷ tinh, bao gồm các sản phẩm bằng gốm - thuỷ tinh, thạch
anh nung chảy hoặc silic nung chảy khác, đều được xếp vào Chương 70.
Ngoài một số sản phẩm nhất định được đề cập riêng tại phần loại trừ
của Chú giải Chương này còn không bao gồm:
(a) Kim cương, các loại đá quý và bán quý khác (đá tự nhiên, tổng hợp
hoặc tái tạo), các sản phẩm được tạo ra từ các loại đá này và các mặt
hàng khác thuộc Chương 71.
(b) Các loại đá in ly tô thuộc nhóm 84.42.
(c) Các tấm (bằng đá phiến, đá cẩm thạch, amiăng- ximăng) được
khoan hoặc được làm bằng cách khác để làm bảng điều khiển (nhóm
85.38); vật liệu cách điện và các phụ kiện bằng vật liệu cách điện,
thuộc các nhóm 85.46 hoặc 85.47.
(d) Các mặt hàng thuộc Chương 94 (ví dụ: đồ nội thất, đèn (luminaires)
và các bộ đèn, nhà lắp ghép ).
(e) Đồ chơi, thiết bị trò chơi và dụng cụ, thiết bị thể thao (Chương 95).
(f) Các vật liệu chạm khắc có nguồn gốc khoáng chất được nêu trong
Chú giải 2 (b) của Chương 96, đã được gia công hoặc ở dạng sản
phẩm hoàn chỉnh (nhóm 96.02).
(g) Nguyên bản tác phẩm điêu khắc và tượng tạc, các vật phẩm sưu tập
và đồ cổ của Chương 97.
68.01 - Các loại đá lát, đá lát lề đường và phiến đá lát đường, bằng 68.01 - Setts, curbstones and flagstones, of natural stone (except slate).
đá tự nhiên (trừ đá phiến)
Nhóm này bao gồm đá tự nhiên trừ đá phiến (ví dụ: granite, cát kết,
porfia) được gia công thành các dạng thường dùng để lát vỉa hè hoặc lát
viền lề đường hoặc tương tự; các loại đá này vẫn thuộc nhóm này thậm
chí nếu chúng cũng thích hợp cho các mục đích sử dụng khác. Đá cuội,
sỏi và các loại đá trải đường tương tự chưa được tạo hình được xếp vào
nhóm 25.17.
Các sản phẩm thuộc nhóm này thu được bằng cách xẻ, đẽo thô hoặc tạo
hình đá hộc (đá tảng) bằng phương pháp thủ công hay bằng máy. Các
loại đá lát (sett) và phiến đá lát đường (flagstone) thường có bề mặt hình
chữ nhật (kể cả hình vuông), tuy nhiên trong khi phiến đá lát đường
(flagstone) thường nhỏ về chiều dài và chiều rộng thì đá lát (sett) có khối
thô hoặc hình tháp cụt. Đá lát lề đường (curbstone) có thể thẳng hoặc
cong; chúng thường có mặt cắt ngang hình chữ nhật (trừ hình vuông).
Nhóm này cũng bao gồm đá ở dạng dễ nhận biết như đá lát (sett), đá lát lề
đường (curbstone) hoặc phiến đá lát đường (flagstone), thậm chí cả loại đá
thu được đơn giản bằng cách xẻ, cưa hoặc cắt thô thành hình vuông; nhóm
này cũng bao gồm các loại đá đã được đẽo gọt, mài giũa bằng cát, mài, mài
tròn các rìa, vát cạnh, đục và ghép mộng hoặc được gia công đặc biệt dùng
cho lát đường (đá lát lề đường (curbstone) đã được tạo hình dùng cho hệ
thống đường thoát nước hoặc lối ra của garage).
Nhóm này không bao gồm đá lát lề đường, ví dụ: bằng bêtông hoặc đá nhân
tạo (nhóm 68.10) và các phiến đá lát đường bằng ceramic (Chương 69).
68.02- Đá làm tượng đài hoặc đá xây dựng đã được gia công (trừ
đá phiến) và các sản phẩm làm từ các loại đá trên, trừ các
sản phẩm thuộc nhóm 68.01; đá khối dùng để khảm và các
loại tương tự, bằng đá tự nhiên (kể cả đá phiến), có hoặc
không có lớp lót; đá hạt, đá dăm và bột đá đã nhuộm màu
nhân tạo, làm bằng đá tự nhiên (kể cả đá phiến)
6802.10 - Đá lát, đá khối và các sản phẩm tương tự, có hoặc
không ở dạng hình chữ nhật (kể cả dạng hình vuông), mà
mặt lớn nhất của nó có thể nằm gọn trong một hình vuông
có cạnh nhỏ hơn 7 cm; đá hạt, đá dăm và bột đá đã
nhuộm màu nhân tạo
- Đá làm tượng đài hoặc đá xây dựng khác và các sản
phẩm làm từ chúng, mới chỉ cắt hoặc cưa đơn giản, có bề
mặt nhẵn hoặc phẳng:
6802.21 - - Đá hoa (marble), tra-véc-tin và thạch cao tuyết hoa
6802.23 - - Đá granit
6802.29 - - Đá khác
- Loại khác:
6802.91 - - Đá hoa (marble), tra-véc-tin và thạch cao tuyết hoa
6802.92 - - Đá vôi khác
6802.93 - - Đá granit
6802.99 - - Đá khác
Nhóm này bao gồm các loại đá tự nhiên làm tượng đài hoặc đá dùng
trong xây dựng (trừ đá phiến), đã được gia công hoàn chỉnh hơn so
với các sản phẩm lấy từ mỏ thông thường thuộc Chương 25. Tuy
nhiên, có một số trường hợp loại trừ đối với các sản phẩm được
phân loại một cách cụ thể hơn tại các nhóm khác của Danh mục và
các ví dụ của các trường hợp này được nêu ở phần cuối của Chú giải
Chi tiết này và trong phần Chú giải Tổng quát của Chương này.
Do đó, nhóm này bao gồm các loại đá đã được gia công thêm hơn là chỉ
được tạo hình thành các khối, tấm hoặc phiến bằng cách xẻ, cắt thô hoặc
cắt thành hình vuông thô hoặc cắt thành hình vuông bằng cách cưa (các
bề mặt hình vuông hoặc hình chữ nhật).
Do vậy nhóm này gồm sản phẩm đá ở các dạng được tạo bởi thợ đá, thợ
điêu khắc v.v, nghĩa là:
(A) Các phôi được cưa thô; các tấm không ở dạng hình chữ nhật (có một
hoặc nhiều mặt hình tam giác, ngũ giác, hình thang, hình tròn, v.v...)
(B) Đá ở bất kỳ dạng nào (kể cả dạng khối, phiến hay tấm), đã hoặc chưa
ở dạng thành phẩm mà đã được định hình (nghĩa là đá được gọi tên
là “đá mặt thô” bằng cách làm nhẵn dọc theo các rìa trong khi loại
bỏ các bề mặt lồi thô), được đẽo gọt bằng búa chim, búa gõ, hoặc
bằng đục v.v, được xẻ rãnh bằng phay ren lược, v.v, được bào, mài
giũa bằng cát, mài, mài bóng, vát cạnh, tạo khuôn, tiện, trang trí,
khắc chạm, v.v.
Do vậy nhóm này không chỉ bao gồm đá xây dựng (kể cả phiến lát-facing
slab) được gia công như ở trên, mà còn bao gồm các sản phẩm như bậc
cầu thang hay nền cầu thang, mái đua, trán tường, cột lan can, chấn song,
rầm chìa; khung cửa sổ hoặc cửa ra vào và lanh tô cửa, ngưỡng cửa ra vào;
bệ lò sưởi; gờ cửa sổ; bậc cửa ra vào; bia mộ; cột ranh giới và cột cây số,
cọc ngăn; biển chỉ đường (được tráng men hoặc không được tráng men); cột
bảo vệ và vật chắn; chậu, máng, bể có đài phun nước, bi của máy nghiền;
bình hoa, cột, đế và mũ cột; tượng, tượng nhỏ, bệ tượng đài; hình chạm nổi
cao hoặc thấp (phù điêu); cây thập tự; tượng có hình các con thú; bát, bình,
tách chén, hộp đựng kẹo cao su, hộp đựng bút, gạt tàn thuốc lá, cái chặn
giấy, hoa quả và lá cây giả, v.v. Các sản phẩm đá dùng để trang trí được kết
hợp với các vật liệu khác có thể được phân loại như đồ trang sức hoặc giả
trang sức, hoặc các đồ trang sức bằng bạc hoặc vàng (xem phần Chú giải
Chi tiết của Chương 71); các sản phẩm trang trí khác chủ yếu bằng đá nhìn
chung được xếp vào nhóm này.
Các phiến đá dùng làm bề mặt của các đồ nội thất (như tủ, bồn rửa mặt,
bàn...) được xếp vào Chương 94 nếu chúng được trình bày cùng với các
bộ phận của đồ nội thất (đã hoặc chưa được lắp ráp) và mục đích sử
dụng rõ ràng sẽ được dùng làm bộ phận của chúng, tuy nhiên các sản
phẩm dùng làm bề mặt của các đồ nội thất này được trình bày riêng thì
vẫn được xếp trong nhóm này.
Các sản phẩm bằng đá làm tượng đài hoặc xây dựng đã được gia công
thường được tạo ra từ các loại đá thuộc nhóm 25.15 hay 25.16, tuy nhiên
cũng có thể được tạo ra từ những loại đá tự nhiên khác trừ đá phiến,
(như quaczit, dolomit, đá lửa, steatit). Ví dụ: Steatite được dùng cho
công trình kết cấu công nghiệp nơi cần có độ chịu nhiệt hoặc ăn mòn hoá
học (ví dụ trong lò thu hồi nhiệt - recuperative furnace). Nó cũng được
dùng trong nhà máy hoá chất và bột giấy.
Nhóm này cũng bao gồm đá khối dùng để khảm nhỏ đã được gia công và
các sản phẩm tương tự từ đá cẩm thạch, v.v dùng để ốp tường hoặc lát
nền, v.v, đã hoặc chưa được lót giấy hoặc các loại vật liệu khác. Nhóm
này cũng bao gồm thêm đá hạt, đá dăm và bột đá hoa cẩm thạch hoặc
các loại đá tự nhiên khác được nhuộm màu nhân tạo (kể cả đá phiến) (ví
dụ dùng để trưng bày trên các tủ kính bày hàng), tuy nhiên đá cuội, đá
hạt, đá dăm chưa được xử lý và các loại cát tự nhiên được nhuộm màu
được xếp vào Chương 25.
Các sản phẩm như đá phiến, gạch v.v… thu được bằng cách gắn kết các
mảnh vụn của đá tự nhiên với xi măng hoặc các chất kết dính khác (ví
dụ nhựa), và các pho tượng nhỏ, cột, tách chén, ...vv được làm từ đá viên
hoặc bột đá đã được gắn kết và tạo khuôn, cũng được phân loại là các
sản phẩm đá nhân tạo thuộc nhóm 68.10.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Đá phiến và các sản phẩm bằng đá phiến đã được gia công, trừ đá
khối dùng để khảm và sản phẩm tương tự (nhóm 68.03, 96.09 và
(b) Các sản phẩm bằng basan nung chẩy (nhóm 68.15).
(c) Các sản phẩm từ đá steatit đã nung (Chương 69 hoặc Chương 85).
(d) Các sản phẩm giả trang sức (nhóm 71.17).
(e) Các sản phẩm thuộc Chương 91 (ví dụ, đồng hồ và vỏ đồng hồ và
các bộ phận của nó).
(f) Đèn (luminaires), bộ đèn và các bộ phận của nó (nhóm 94.05).
(g) Khuy bằng đá (nhóm 96.06) và phấn viết thuộc nhóm 95.04
hoặc 96.09.
(h) Nguyên bản tác phẩm điêu khắc và tượng tạc (nhóm 97.03).
68.03 - Đá phiến đã gia công và các sản phẩm làm bằng đá phiến
hoặc làm bằng đá phiến kết khối (từ bột đá phiến kết lại
thành khối).
Đá phiến tự nhiên được xếp vào nhóm 25.14 khi ở dạng tảng, hoặc khối,
tấm hoặc phiến được tạo bằng cách xẻ, cắt hoặc cắt thành hình vuông thô
hoặc cắt thành hình vuông bằng cách cưa. Nhóm này bao gồm các sản
phẩm tương tự được gia công hoàn chỉnh hơn (nghĩa là được cưa hoặc cắt
trừ các loại hình chữ nhật (kể cả hình vuông), được mài, mài bóng, vát
cạnh, khoan, đánh vecni, tráng, tạo khuôn hoặc được trang trí cách khác).
Ngoài những cái khác, nhóm này bao gồm các sản phẩm được mài bóng
hoặc được gia công bằng cách khác như gạch ốp tường, phiến đá lát đường
và đá tấm (để lát, nhà xưởng, các thiết bị dùng trong ngành hoá chất, v.v);
máng, bể chứa, bồn rửa, chậu rửa, hệ thống thoát nước và bệ lò sưởi.
Nhóm này cũng bao gồm phiến đá lợp, đá ốp mặt và đá kè đập không chỉ
ở các hình dạng đặc biệt (hình đa giác, hình tròn, v.v) mà còn ở dạng
hình chữ nhật (kể cả hình vuông).
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm đá phiến kết khối.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Đá viên, mảnh và bột làm từ đá phiến, không được nhuộm màu
nhân tạo (nhóm 25.14).
(b) Đá khối dùng để khảm và các loại tương tự, đá viên, mảnh và bột
làm từ đá phiến được nhuộm màu nhân tạo (nhóm 68.02).
(c) Bút chì viết bảng đá đen (nhóm 96.09), bảng đá đen dùng để vẽ,
hoặc viết có thể sử dụng được ngay và các bảng có hoặc không có
khung (nhóm 96.10).
68.04- Đá nghiền, đá mài, đá mài dạng hình tròn và tương tự, không
có cốt, dùng để nghiền, mài, đánh bóng, giũa hoặc cắt, đá
mài hoặc đá đánh bóng bằng tay, và các phần của chúng,
bằng đá tự nhiên, bằng các vật liệu mài tự nhiên hoặc nhân
tạo đã được kết khối, hoặc bằng gốm, có hoặc không kèm
theo các bộ phận bằng các vật liệu khác (+).
6804.10 - Đá nghiền (thớt cối xay) và đá mài để nghiền, mài
hoặc xay thành bột
- Đá nghiền, đá mài khác, đá mài dạng hình tròn và
dạng tương tự:
6804.21 - - Bằng kim cương tự nhiên hoặc kim cương nhân tạo
đã được kết khối
6804.22 - -Bằng vật liệu mài đã được kết khối hoặc bằng
gốm khác.
6804.23 - - Bằng đá tự nhiên
6802.30 - Đá mài hoặc đá đánh bóng bằng tay
Nhóm này chủ yếu bao gồm:
(1) Đá nghiền và đá mài thường có kích thước tương đối lớn, dùng để
nghiền, mài, nghiền nhão, v.v... (ví dụ để nghiền hạt (đá tầng trên
hoặc tầng dưới); nghiền gỗ, amiăng, v.v; đá mài các loại dùng
trong sản xuất giấy, chất mầu...
(2) Đá mài dùng để mài dao (cutlery) các dụng cụ, v.v và được thiết
kế để gắn trên các máy vận hành bằng tay, bàn đạp hoặc điện.
Đá mài và đá nghiền được mô tả ở hai mục trên thường ở dạng phẳng,
hình trụ hoặc hình nón cụt.
(3) Mũi, đĩa, đầu, bánh mài dạng hình tròn, v.v được dùng trên các
dụng cụ cơ khí, các dụng cụ cầm tay chạy cơ điện hoặc khí nén,
dùng để xén, mài bóng, mài, giũa hoặc đôi khi dùng để cắt kim
loại, đá, thuỷ tinh, nhựa, gốm, cao su, da, xà cừ, ngà voi, v.v.
Loại trừ một số loại đĩa cắt có thể có đường kính khá lớn, các sản
phẩm này thường có kính thước nhỏ hơn nhiều các loại sản phẩm
đã nêu ở trên, và chúng có thể có nhiều dạng khác nhau (ví dụ,
hình phẳng, hình nón, hình cầu, hình đĩa, hình vòng, hình lõm hoặc
hình bậc thang); chúng cũng có thể được bào hoặc gia công định
hình ở các gờ.
Nhóm này bao gồm các dụng cụ không chỉ khi chúng chủ yếu là
các vật liệu mài, mà còn khi chúng chỉ có một đầu mài rất nhỏ gắn
trên thân kim loại, hoặc lõi vật liệu cứng (kim loại, gỗ, nhựa, lie,
v.v) mà trên đó các lớp bánh ép của vật liệu mài đã kết khối được
gắn cố định (ví dụ các đĩa cắt bằng kim loại,v.v được gắn các vòng
hoặc các đệm lót biên của các vật liệu mài). Nhóm này cũng bao
gồm các thành phần mài dùng cho các đầu mài, có hoặc không
được gắn vào các giá đỡ để cố định phần thân của đầu mài.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý một số dụng cụ mài bị loại trừ và được
xếp vào Chương 82. Tuy nhiên, Chương 82 chỉ bao gồm các dụng
cụ mài có răng cắt, đường máng, đường rãnh soi, v.v, và vẫn giữ
được đặc tính và chức năng thậm chí sau khi gắn vật liệu mài
(nghĩa là các dụng cụ không giống với các dụng cụ trong nhóm
này, có thể được đưa vào sử dụng kể cả khi vật liệu mài chưa được
gắn). Do vậy, các loại cưa có răng cắt được phủ vật liệu mài vẫn
được xếp vào nhóm 82.02. Tương tự, các mũi khoan vành được
dùng để cắt các loại đĩa từ các tấm thủy tinh, thạch anh, v.v được
xếp vào nhóm này nếu cạnh cắt nhẵn trừ chất phủ vật liệu mài,
nhưng được xếp vào nhóm 82.07 nếu cạnh cắt có răng (có hoặc
không được phủ vật liệu mài).
(4) Đá mài bóng, đá mài, đá dầu, đá mài dao cạo và các sản phẩm tương
tự, có hoặc không có tay cầm được sử dụng trực tiếp bằng tay để mài,
mài sắc, mài bóng hoặc mài sạch kim loại hoặc các vật liệu khác.
Chúng có thể có nhiều hình dạng (ví dụ, hình chữ nhật, hình thang,
hình quạt hoặc hình viên phân của hình tròn, hình lưỡi dao, hình
thuôn có hai đầu dạng côn) và có thể có hình vuông, tam giác, hình
tròn, hình bán nguyệt, v.v, theo tiết diện ngang. Chúng cũng có thể
gồm có các tấm hình lăng trụ, chủ yếu bằng cacbua bo kết khối, được
sử dụng bằng tay để mài hoặc mài sắc đá mài bằng vật liệu mài nhân
tạo, và có chức năng phụ để mài sắc các dụng cụ kim loại.
Các loại đá này đặc biệt được dùng để mài sắc các dụng cụ và các
dụng cụ cắt (ví dụ, dao, kéo, lưỡi dao của máy gặt, hái, liềm, dao
cắt cỏ khô, v.v) hoặc để mài bóng kim loại, v.v.
Các dụng cụ có lưỡi cắt sắc (ví dụ, lưỡi dao cạo hoặc các dụng cụ
phẫu thuật) được mài sắc bằng đá dầu hoặc đá mài dao cạo được
làm từ đá phiến hoặc đá hạt mịn đặc biệt; các loại đá này thường
được làm ẩm bằng nước hoặc dầu trước khi sử dụng. Một số loại
đá (ví dụ, đá bọt) cũng được dùng cho các mục đích trong nhà vệ
sinh, sơn sửa móng tay, móng chân, và cũng dùng để làm sạch,
mài bóng, v.v, kim loại, v.v.
Đá mài, đá mài dạng hình tròn, v.v, phải được làm chủ yếu bằng đá tự
nhiên, được hoặc chưa kết khối (ví dụ đá cát kết, đá granite, dung nham, đá
lửa tự nhiên, molát, đôlômit, thạch anh, trachit), bằng các vật liệu mài nhân
tạo hoặc tự nhiên đã được kết khối (ví dụ, đá nhám, đá bọt, tripolite, đất tảo
cát, thuỷ tinh vụn, corundum, cacbua silic, ngọc thạch lựu, kim cương,
cacbua bo) hoặc bằng gốm (bằng đất nung hoặc đất chịu lửa hoặc bằng sứ).
Các đá mài dạng hình tròn đã kết khối, v.v được làm bằng cách trộn vật liệu
mài hoặc đá với các chất kết dính như các vật liệu gốm (ví dụ, đất sét dạng
bột hoặc cao lanh, đôi khi bổ sung thêm tràng thạch), natri silicat, xi măng
(đặc biệt xi măng magie) hoặc các nguyên vật liệu xi măng ít cứng (như cao
su, nhựa cánh kiến hoặc nhựa). Xơ dệt các loại như coton, nilon, hoặc lanh
đôi khi được đưa vào các hỗn hợp. Các hỗn hợp này được tạo khuôn để tạo
hình, sấy và sau đó được nung (nếu cần tới giai đoạn hoá thành thủy tinh
trong trường hợp sử dụng các chất kết dính bằng gốm) hoặc được lưu hoá
(trong trường hợp bằng cao su, nhựa, v.v, các chất kết dính). Các sản phẩm
này sau đó được đẽo theo kích cỡ và hình dạng.
Trong quá trình tạo một số loại đá mài bóng (đá dầu), có sử dụng bột
mài đã được làm sạch.
Các loại đá mài của nhóm này, và đặc biệt các loại đá dùng cho kho thóc
hoặc cho bột giấy, đôi khi có bề mặt kẻ gân. Chúng có thể là một mảnh
hoặc được tạo bởi nhiều đoạn ghép lại, được gắn với các ổ cắm, các
mâm bánh bên trong hoặc bên ngoài, các quả đối trọng hoặc các hốc;
chúng cũng có thể được gắn trên các trục, cọc sợi, nhưng chúng phải
không có khung. Đá mài có khung được phân loại vào nhóm 82.05 nếu
được vận hành bằng tay hoặc bàn đạp hoặc vào Chương 84 hoặc
Chương 85 nếu được vận hành bằng điện.
Ngoài các loại đá nghiền, đá mài hoàn chỉnh, v.v được mô tả ở trên,
nhóm này cũng bao gồm các phôi có thể nhận biết được; các đoạn và các
bộ phận hoàn chỉnh của các sản phẩm này, nếu chủ yếu làm từ đá, vật
liệu mài đã kết khối hoặc gốm.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Đá bọt thơm, được đóng gói thành khối, viên hoặc các dạng đã được
gia công tương tự thuộc nhóm 33.04.
(b) Hạt hoặc bột mài tự nhiên hoặc nhân tạo được phủ lên các vật liệu
dệt, giấy, bìa cứng hoặc các vật liệu khác (nhóm 68.05), có hoặc
không các vật liệu dệt, giấy này...được dán thêm lên trên các vật đỡ
như đĩa hoặc dải gỗ mỏng (dũa mài dùng trong ngành công nghiệp sản
xuất đồng hồ, kỹ thuật cơ khí v.v...)
(c) Đầu mũi khoan, mài dùng trong nha khoa (nhóm 90.18).
Chú giải chi tiết phân nhóm:
Phân nhóm 6804.10
Các sản phẩm trong phân nhóm này được thiết kế dùng giảm kích cỡ hạt
của các vật liệu như hạt, bột, bột màu, v.v chứ không dùng để đẽo, mài
bóng, mài sắc, giũa hoặc bóc tách vật liệu khác.
Đá nghiền và đá mài để mài hoặc nghiền
Các loại đá này chủ yếu được đóng gói thành cặp, và có bề mặt hình
nón (một viên đá có bề mặt lõm và một viên có bề mặt lồi), được xoi
rãnh vào phía trong để các hạt đã nghiền có thể chảy qua tâm của đá.
Đá mài và đá nghiền dùng để xay thành bột
Các sản phẩm này đều có kích thước lớn và thường nặng vài tấn, và
được làm thành từng cục một hay từ nhiều khối ghép lại với nhau bằng
keo. Chúng có đường kính lớn hơn 1.200 mm và độ dày trên 500 mm.
68.05- Bột mài hoặc hạt mài tự nhiên hay nhân tạo, có nền bằng vật
liệu dệt, giấy, bìa hoặc các vật liệu khác, đã hoặc chưa cắt
thành hình hoặc đã khâu hoặc hoàn thiện bằng cách khác
6805.10 - Trên nền chỉ bằng vải dệt
6805.20 - Trên nền chỉ bằng giấy hoặc bìa
6805.30 - Trên nền bằng vật liệu khác
Nhóm này gồm các vật liệu dệt, giấy, bìa giấy, sợi lưu hoá, da hoặc các
vật liệu khác, dạng cuộn hoặc cắt theo hình (tấm, băng, dải, đĩa, đoạn
nhỏ, v.v), hoặc dạng sợi chỉ hoặc dây bện, mà trên đó các vật liệu mài tự
nhiên hoặc nhân tạo đã nghiền được phủ lên, thường bằng hồ dán hoặc
plastic. Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm không dệt tương tự, theo
đó các vật liêu mài được phân tán toàn bộ và được gắn trên các xơ dệt
bằng chất kết dính. Các vật liệu mài được sử dụng bao gồm đá nhám,
corundum, cacbua silic, ngọc thạch lựu, đá bọt, đá lửa tự nhiên, thạch
anh, cát và bột thuỷ tinh. Các băng (dải), đĩa, v.v, có thể được khâu, gắn,
dính hoặc bằng các cách khác; ví dụ, nhóm này bao gồm các dụng cụ
như, dũa mài thường được làm bằng cách gắn cố định giấy mài hoặc vải
lên các khối hoặc các dải gỗ mỏng, v.v. Tuy nhiên nhóm này không bao
gồm các đá mài dạng hình tròn có vật đỡ cứng (ví dụ, bằng bìa, gỗ, kim
loại) được gắn với lớp ép kết khối hơn là bằng bột hoặc hạt mài, và các
dụng cụ cầm tay tương tự (nhóm 68.04).
Các sản phẩm của nhóm này chủ yếu được dùng (bằng tay hoặc bằng
máy) để làm nhẵn hoặc làm sạch kim loại, gỗ, lie, thuỷ tinh, da, cao su
(đã hoặc chưa được đông cứng) hoặc plastic; cũng dùng để làm nhẵn
hoặc mài bóng các bề mặt được đánh vecni hoặc dầu bóng hoặc để mài
sắc vải nền kim chải.
68.06 - Sợi xỉ, bông len đá (rock wool) (1) và các loại sợi khoáng
tương tự; vermiculite nung nở, đất sét trương nở, xỉ bọt và các
loại vật liệu khoáng trương nở tương tự; các hỗn hợp và các
sản phẩm cách nhiệt, cách âm hoặc các vật liệu khoáng hấp
thụ âm, trừ các sản phẩm thuộc nhóm 68.11 hoặc 68.12 hoặc
Chương 69.
6806.10 - Sợi xỉ, bông len đá (rock wool) và các loại sợi khoáng
tương tự (kể cả hỗn hợp của chúng), ở dạng rời, dạng tấm
hoặc dạng cuộn
6806.20 - Vermiculite nung nở, đất sét trương nở, xỉ bọt và các
loại vật liệu quặng khoáng trương nở tương tự (kể cả
hỗn hợp của chúng)
6806.90 - Loại khác
Sợi xỉ và bông len đá (ví dụ, đá granite, bazan, đá vôi hoặc đolomit) thu
được bằng cách nấu chảy một hoặc nhiều các thành phần này và chuyển
hoá dòng chất lỏng thu được thành sợi, thường bằng quay ly tâm và làm
chảy hoặc thổi luồng khí.
Nhóm này cũng gồm loại sợi “alumino- silicat" còn được gọi là "sợi
gốm". Chúng được tạo hình bằng cách nấu chảy hỗn hợp nhôm oxit và
silic dioxyt, với tỉ lệ khác nhau, đôi khi bổ sung thêm một lượng nhỏ các
ôxit khác như ôxít ziricon, crôm hay bo, và bằng cách thổi hoặc đùn các
hợp chất đã nấu chảy thành khối lượng lớn sợi.
Len khoáng vật của nhóm này, giống như len thuỷ tinh thuộc nhóm
70.19, thường ở dạng kết bông hoặc có sợi. Len khoáng vật này khác với
len thuỷ tinh bởi thành phần hoá học của chúng (xem Chú giải 4 của
Chương 70), trong khi đó các sợi của chúng thường ngắn hơn và không
trắng như len thuỷ tinh.
Vermiculit nung nở hoặc trương nở thu được từ vermiculit (nhóm
25.30) bằng cách xử lý nhiệt tạo nên một trương nở rất lớn vật liệu, đôi
khi lớn gấp 35 lần so với khối lượng ban đầu.
Nhóm này cũng bao gồm các dạng trương nở của peclit (đá trân châu),
obniđi (đá vỏ chai), clorua v.v, thu được tương tự bằng cách xử lý nhiệt.
Nhìn chung các sản phẩm này gồm các hạt hình phỏng cầu rất nhẹ. Đá
chân trâu được hoạt tính bằng xử lý nhiệt sẽ có dạng bột vi lá mỏng màu
trắng bóng và được phân loại vào nhóm 38.02.
Đất sét trương nở thu được bằng cách nung các loại đất sét được lựa
chọn đặc biệt, hoặc bằng cách nung hỗn hợp đất sét với các vật liệu khác
(ví dụ dung dịch kiềm sunfit). Bọt xỉ được tạo bằng cách thêm một
lượng nhỏ nước vào xỉ nấu chảy, và không được nhầm lẫn với xỉ hạt (xỉ
cát) có tỷ trọng cao hơn nhiều; xỉ hạt này được tạo bằng cách đổ xỉ nấu
chảy vào nước và được phân loại vào nhóm 26.18.
Tất cả vật liệu trên đều là loại sản phẩm không bắt cháy và cách nhiệt,
cách âm hoặc hấp thu âm thanh cực tốt. Các sản phẩm này đều được xếp
ở nhóm này ngay cả khi chúng ở dạng khối.
Tùy thuộc vào độ dung sai liên quan đến hàm lượng amiăng (xem phần
dưới), nhóm này cũng bao gồm các hợp chất của các vật liệu khoáng ở
dạng khối cách nhiệt, cách âm hoặc hấp thu âm thanh, ví dụ, các hỗn
hợp gồm chủ yếu đất tảo cát, bột hoá thạch silic, cacbon magie, v.v
thường được thêm thạch cao, xỉ, lie dạng bột, mùn cưa hoặc vỏ bào, xơ
sợi dệt, v.v. Len khoáng vật được mô tả ở trên cũng có thể tạo thành một
phần của các hỗn hợp này mà nói chung, được dùng như là vật liệu đóng
gói, tấm cách nhiệt trần nhà, mái, tường, v.v.
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm, thường có tỷ trọng thấp, được
làm từ các sản phẩm hoặc hỗn hợp ở trên (ví dụ các khối, tấm, gạch xây,
tấm lát, ống, vỏ xilanh dây mềm, tấm lót). Các sản phẩm này có thể được
nhuộm màu nhân tạo nói chung, được thấm các chất chống cháy, có bề
mặt bằng giấy hoặc được gia cố bằng kim loại.
Các hợp chất và các mặt hàng được phân loại trong nhóm này có thể
chứa một lượng nhỏ sợi amiăng để dễ sử dụng. Tỷ lệ amiăng được thêm
vào thường không quá 5% tính theo trọng lượng. Nhóm này không bao
gồm các sản phẩm bằng ximăng – amiăng (nhóm 68.11) và các hỗn hợp
có thành phần cơ bản là amiăng hoặc amiăng và cabon magie (và các sản
phẩm làm từ chúng) (nhóm 68.12).
Nhóm này cũng gồm điatomit hoặc các loại đất silic khác được cưa
thành khối hoặc các hình dạng khác.
Các sản phẩm bằng bêtông nhẹ (kể cả bê tông được làm bằng cốt
vermiculit nung nở, đất sét trương nở hoặc tương tự) đều bị loại trừ
(nhóm 68.10).
Các sản phẩm thu được bằng cách nung thì được xếp vào Chương 69.
68.07 - Các sản phẩm bằng asphalt hoặc bằng vật liệu tương tự
(ví dụ, bi-tum dầu mỏ hoặc hắc ín than đá).
6807.10 - Dạng cuộn
6807.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các sản phẩm được làm từ nhựa đường hoặc bi-tum
tự nhiên, hắc ín than đá, bi-tum dầu mỏ, hỗn hợp bi-tum, v.v (xem nhóm
27.08, 27.13, 27.14, hoặc 27.15). Các sản phẩm này thường chứa chất
độn như cát, xỉ, phấn, thạch cao, xi măng, bột tan, lưu huỳnh, sợi
amiăng, bột gỗ, mùn cưa, chất thải li-e và nhựa tự nhiên.
Nhựa đường (Asphalt), bi-tum, hắc ín, v.v ở dạng khối loại được nấu
chảy lại trước khi sử dụng thì bị loại trừ (Chương 27) có hoặc không các
vật liệu này đã được tinh chế hoặc khử nước, hoặc trộn với các vật liệu
khác; mặt khác, các sản phẩm của nhóm này phải cho thấy là các sản
phẩm cụ thể.
Nhóm này bao gồm:
(1) Tấm, gạch xây, tấm lát, phiến đá lát đường, được tạo bằng cách ép
hoặc tạo khuôn và được dùng để lợp mái, ốp bề mặt, hoặc lát.
(2) Các tấm lợp mái bao gồm một lớp nền (ví dụ: bằng bìa, bằng
màng xơ hoặc vải sợi thuỷ tinh, bằng vải từ các xơ nhân tạo hoặc
đay hoặc bằng nhôm lá mỏng) được bọc hoặc phủ hoàn toàn ở cả
hai mặt bằng một lớp nhựa đường hoặc vật liệu tương tự.
(3) Ván xây dựng được làm bằng một hoặc nhiều lớp vải dệt hoặc
giấy được bọc hoàn toàn bằng nhựa đường hoặc vật liệu tương tự.
(4) Ống và các loại đồ chứa được đúc hoặc tạo khuôn.
Ống và các loại đồ chứa bằng nhựa đường được phủ hoặc gia cố
bằng kim loại được phân loại như là các sản phẩm bằng kim loại
hoặc nhựa đường tuỳ theo thành phần nào tạo nên đặc trưng cơ bản
của sản phẩm.
Ống và các loại đồ chứa bằng kim loại (ví dụ bằng sắt hoặc thép
đúc) được phủ asphalt, bi-tum, v.v vẫn được phân loại như các
sản phẩm kim loại.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Giấy, chỉ được phủ, thấm hoặc bọc bằng hắc ín hoặc bằng vật liệu
tương tự, để dùng, ví dụ, làm giấy gói (nhóm 48.11).
(b) Vải dệt được phủ, thấm tẩm hoặc bọc, ví dụ, bi-tum hoặc nhựa
đường (asphalt) (Chương 56 hoặc Chương 59).
(c) Các sản phẩm được làm chủ yếu bằng amiăng- xi măng có trộn
thêm nhựa đường (asphalt) (nhóm 68.11).
(d) Vải hoặc mạng, v.v bằng sợi thủy tinh, được bọc hoặc thấm tẩm
đơn giản bằng bi-tum hoặc bằng nhựa đường (asphalt) (nhóm
68.08 – Panen, tấm, tấm lát (tiles), khối và các sản phẩm tương tự
làm bằng sợi thực vật, rơm rạ hoặc bằng phoi bào, mạt gỗ,
dăm gỗ, mùn cưa hoặc phế liệu khác, bằng gỗ, đã được kết
khối bằng xi măng, thạch cao hoặc chất kết dính khoáng khác.
Nhóm này gồm các panel, tấm, tấm lát (tiles) khối, v.v xây dựng hoặc
cách nhiệt, cách âm hoặc hấp thụ âm, được chế tạo từ các vật liệu thực
vật (như sợi xen-lu-lô, bột gỗ, tơ sợi gỗ, mạt gỗ, phoi bào hoặc phế liệu
từ gỗ, rơm rạ, mùn cưa, cây sậy, cây mây song hoặc sợi thực vật loại
cứng khác) được kết khối và tạo khuôn bằng các chất dính khoáng như
xi măng, (kể cả xi măng có ôxít clorua- magiê), thạch cao, vôi, hoặc
silicat natri. Chúng cũng bao gồm các chất độn khoáng (như đất hoá
thạch silic, magie, cát hoặc amiăng), hoặc được gia cố bằng kim loại.
Các loại tấm, pa-nen, v.v của nhóm này đều tương đối nhẹ nhưng cứng,
và các vật liệu từ thực vật vẫn giữ được đặc tính riêng của nó trong chất
kết dính.
Vì chúng phải được kết khối bằng các chất kết dính khoáng, chúng
không được nhầm với ván dăm của nhóm 44.10 hoặc ván sợi ép của
nhóm 44.11 vì các sản phẩm này phải được kết khối với các chất kết
dính hữu cơ. Nhóm này cũng không bao gồm các lie được kết khối
other wood waste, sawdust, straw, reeds, rushes or crin végétal),
(nhóm 45.04) và các sản phẩm của nhóm 68.11
68.09 - Các sản phẩm làm bằng thạch cao hoặc bằng các hỗn hợp
có thành phần cơ bản là thạch cao
- Tấm, lá, panen, tấm lát (tiles) và các sản phẩm tương tự,
chưa được trang trí:
6809.11 - - Được phủ mặt hoặc gia cố chỉ bằng giấy hoặc bìa
6809.19 - - Loại khác
6809.90 - Các sản phẩm khác
Nhóm này bao gồm các sản phẩm bằng thạch cao hoặc bằng các vật liệu
làm từ thạch cao, đã hoặc chưa nhuộm màu, như vữa stucô (thạch cao
được trộn với dung dịch hồ, và, sau khi tạo khuôn, thường có bề ngoài
giống đá cẩm thạch), thạch cao có xơ sợi (thạch cao được gia cố với bó
gai thô và thường được trộn với dung dịch gelatin hoặc hồ), thạch cao
ngâm phèn (cũng được gọi là ximăng Keene hoặc ximăng Anh) và các
chế phẩm tương tự mà có thể có chứa xơ dệt, bột gỗ, mùn cưa, cát, vôi,
xỉ, photphat, v.v nhưng chứa thạch cao là thành phần chủ yếu.
Các sản phẩm này có thể được nhuộm, đánh bóng, đánh xi, sơn bóng,
mạ đồng, mạ vàng, mạ bạc (bằng mọi phương pháp), hoặc đôi khi được
phủ bằng nhựa đường (asphalt); chúng cũng có thể được gia cố. Nhóm
này bao gồm pa-nen, tấm, bảng hoặc gạch lát, đôi khi được phủ mặt
bằng bìa, được dùng trong ngành xây dựng; và các sản phẩm được tạo
khuôn như sản phẩm đúc, tượng, tượng nhỏ, vành sứ hoa hồng, cột, bát,
bình, các đồ trang trí, khuôn đúc công nghiệp.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng cố định vết gẫy được phủ thạch cao, được đóng gói để bán lẻ
(nhóm 30.05) và nẹp bằng thạch cao cố định vết gẫy (nhóm 90.21).
(b) Các pa-nen, v.v được kết khối bằng thạch cao thuộc nhóm 68.06
hoặc 68.08.
(c) Các mô hình giải phẫu học, mô hình pha lê, mô hình hình học, thuỷ
tinh, bản đồ địa hình và các mô hình khác, được thiết kế chỉ cho mục
đích trưng bày (nhóm 90.23).
(d) Ma-nơ-canh dùng trong ngành may, v,v (nhóm 96.18).
(e) Nguyên bản tác phẩm điêu khắc và tượng tạc, (nhóm 97.03).
68.10 - Các sản phẩm bằng xi măng, bằng bê tông hoặc đá nhân tạo,
đã hoặc chưa được gia cố (+).
- Tấm lát (tiles), phiến đá lát đường, gạch xây và các
sản phẩm tương tự:
6810.11 - - Gạch và gạch khối xây dựng
6810.19 - - Loại khác
- Sản phẩm khác:
6810.91 - - Các cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân
dụng
6810.99 - - Loại khác
Nhóm này gồm các sản phẩm được đúc sẵn, ép hoặc quay li tâm (ví dụ,
một số đường ống) bằng ximăng (kể cả ximăng xỉ), bằng bê tông hoặc
bằng đá nhân tạo, trừ các sản phẩm thuộc nhóm 68.06, hoặc 68.08
(trong sản phẩm xi măng chỉ là chất kết dính), hoặc nhóm 68.11 (các
sản phẩm ximăng-amiăng).
Nhóm này cũng gồm các cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật
dân dụng.
Đá nhân tạo là sản phẩm giả đá tự nhiên được tạo bằng cách kết khối các
viên đá tự nhiên, hoặc đá tự nhiên dạng bột hoặc xay (đá vôi, đá cẩm
thạch, granite, porfia, serpentin, v.v) với vôi hoặc xi măng hoặc các chất
kết dính khác (ví dụ nhựa). Các sản phẩm bằng đá nhân tạo gồm đá
“granito” hoặc đá “terazo”.
Nhóm này cũng gồm các sản phẩm được làm từ xi măng xỉ.
Ngoài các đề cập khác, nhóm này bao gồm khối đá, gạch xây, tấm lát,
lưới thép hoặc ván gỗ dùng ốp trần nhà hoặc tường (gồm có khung lưới
thép kết hợp với tỉ lệ bê tông vượt trội); phiến đá lát đường, xà, dầm, các
tấm lát nền rỗng và các sản phẩm xây dựng khác; cột, cột trụ, cột mốc
ranh giới, đá lát lề đường; ống các loại, bậc thang, rào chắn, bồn tắm,
chậu rửa, chậu xí, máng, thùng, bể chứa, bể phun nước, bia mộ, cột
đèn, cọc, tà vẹt đường sắt; đoạn rãnh dẫn của tàu chạy trên đệm hơi,
khung cửa ra vào, hoặc cửa sổ, ống khói, gờ cửa sổ, bậc cửa ra vào, viền
dải gỗ trang trí, mái đua, bình, chậu hoa, đồ trang trí dùng trong kiến trúc
hoặc trong vườn; tượng, tượng nhỏ, tượng thú; các sản phẩm trang trí.
Nhóm này cũng gồm các loại gạch xây, tấm lát, và các sản phẩm cát và
vôi khác được làm từ hỗn hợp nhão của cát, vôi và nước; sau khi tạo
khuôn bằng áp lực, các sản phẩm này sẽ được xử lý bằng hơi nước trong
nhiều giờ trong nồi hấp nằm ngang với áp suất lớn, ở nhiệt độ khoảng
140°C. Các sản phẩm này, mà có thể có màu trắng hoặc được nhuộm
màu nhân tạo, được dùng với rất nhiều mục đích tương tự như các sản
phẩm gạch xây, tấm lát thông thường v.v...
Khi các cục thạch anh với các kích thước khác nhau được đưa vào hỗn
hợp, sẽ thu được các sản phẩm đá nhân tạo. Các tấm làm từ cát vôi xốp
và nhẹ dùng để cách nhiệt cũng được làm bằng cách thêm bột kim loại
vào hỗn hợp sao cho khí gas bay hơi; tuy nhiên, các tấm này không được
tạo khuôn bằng áp lực mà được đúc trước khi đưa vào nồi hấp.
Các sản phẩm thuộc nhóm này có thể được lót, mài, mài bóng, đánh
vecni, mạ đồng, tráng men, được làm giả đá phiến, được đúc hoặc trang
trí bằng cách khác, được nhuộm màu toàn bộ, được gia cố bằng kim loại,
v.v (ví dụ: bê tông cốt thép hoặc bê tông dự ứng lực), hoặc được gắn với
các phụ kiện của các vật liệu khác (ví dụ, bản lề, v.v).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các mảnh bê tông vỡ (nhóm 25.30)
(b) Các sản phẩm làm từ đá phiến kết khối (nhóm 68.03).
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Phân nhóm 6810.91.
Phân nhóm này gồm các cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kĩ thuật
dân dụng như các tấm ốp lát mặt, tường bên trong, các cấu kiện của sàn
nhà, trần nhà, hoặc móng, cột, các phần lò tuynen, các cấu kiện làm
cổng hoặc đập nước, cầu tầu, gờ, mái đua. Các cấu kiện này, chủ yếu
được làm bằng bê tông, thường có các thiết bị để tiện lắp ráp.
68.11 - Các sản phẩm bằng xi măng-amiăng, bằng xi măng-sợi
xenlulô hoặc tương tự.
6811.40 - Chứa amiăng
- Không chứa amiăng:
6811.81 - - Tấm làn sóng
6811.82 - - Tấm, panen, tấm lát (tiles) và các sản phẩm tương
tự khác
6811.89 - - Loại khác
Nhóm này gồm các sản phẩm được tôi cứng gồm chủ yếu hỗn hợp sợi
trộn kỹ (ví dụ: amiăng, xen-lu-lô hoặc các loại sợi thực vật khác, sợi
polyme tổng hợp, sợi kim loại hoặc thuỷ tinh) và xi măng hoặc các chất
kết dính thuỷ lực khác, các loại sợi hoạt động như các tác nhân gia cố.
Các sản phẩm này có thể chứa nhựa đường asphalt, hắc ín, v.v.
Các sản phẩm này thường được tạo ra bằng cách ép các lớp mỏng của
hỗn hợp sợi, ximăng và nước với nhau hoặc bằng cách tạo khuôn (có thể
bằng áp suất), bằng cách ép hoặc ép đùn.
Nhóm này gồm các tấm với nhiều kích cỡ và độ dày khác nhau, thu
được theo cách như mô tả ở trên, và cũng bao gồm các sản phẩm được
tạo bằng cách cắt các tấm này hoặc bằng cách ép, tạo khuôn hoặc uốn
chúng trước khi chúng được tạo hình, ví dụ, tấm lợp mái, ốp mặt hoặc
vách ngăn và tấm lát; các tấm làm đồ nội thất; gờ cửa sổ; biển chỉ dẫn,
hình chữ và số; các rào chắn; tấm làn sóng; bể chứa, máng, bồn chứa,
chậu rửa, khớp nối ống, gioăng, và các khớp nối, pa-nen theo kiểu điêu
khắc, ngói nóc, ống máng, khung cửa sổ, chậu hoa, ống thông gió, hoặc
đường ống khác, ống dẫn dây cáp, nắp ống khói, v.v...
Tất cả các mặt hàng này có thể được nhuộm màu toàn bộ, đánh vec-ni,
in, tráng men, trang trí, đục lỗ, giũa, bào, mài nhẵn, mài bóng, hoặc gia
công theo cách khác; chúng cũng có thể được gia cố bằng kim loại,v.v....
68.12 - Sợi amiăng đã được gia công; các hỗn hợp với thành phần cơ
bản là amiăng hoặc thành phần chính là amiăng và magie
carbonat; các sản phẩm làm từ hỗn hợp đó hoặc làm từ
amiăng (ví dụ, chỉ, vải dệt thoi, quần áo, mũ và vật đội đầu,
giầy dép, các miếng đệm), đã hoặc chưa được gia cố, trừ các
loại thuộc nhóm 68.11 hoặc 68.13
6812.80 - Bằng crocidolite
- Loại khác:
6812.91 - - Quần áo, phụ kiện quần áo, giầy dép và vật đội
đầu
6812.99 - - Loại khác
Nhóm này gồm sợi amiăng được gia công hơn mức làm đập, làm sạch,
chọn lọc hoặc phân loại (ví dụ, sợi đã được chải và nhuộm). Chúng có
thể được dùng cho nhiều mục đích (như: kéo sợi, ép nỉ, v.v hoặc được
dùng như là các vật liệu lọc, cách nhiệt, đóng gói v.v)... Các loại sợi
amiăng thô hoặc sợi đã được phân loại đơn giản theo chiều dài, đã được
đập hoặc làm sạch bị loại trừ (nhóm 25.24).
Nhóm này cũng gồm các hỗn hợp amiăng có cacbonat magie, sợi xen-
lu-lô, mùn cưa, đá bọt, talc, thạch cao, đất hoá thạch silic, xỉ, ôxit nhôm,
sợi thuỷ tinh, lie, v.v, được dùng như vật liệu đóng gói cho các mục đích
cách nhiệt, hoặc được dùng như các vật liệu lọc hoặc dùng để đúc sản
phẩm amiăng.
Tuy nhiên nhóm này đặc biệt bao gồm các loại sản phẩm amiăng có
thành phần duy nhất là amiăng hoặc hỗn hợp amiăng như đã đề cập ở
đoạn trước và thường cũng có thêm nhựa tự nhiên, plastic, silicat natri,
asphalt hoặc cao su v.v. Các sản phẩm này có thể được làm bằng cách
ép nỉ, kéo sợi, xe sợi, tết bện, dệt, may hoặc đúc khuôn.
Đối với mô tả của amiăng crocidolite, xem Chú giải Chi tiết của nhóm
Giấy, bìa và nỉ amiăng thường được làm bằng cách nghiền các sợi thành
bột mà sau đó được tạo hình và ép thành các tấm ví như trong quá trình
làm các tấm ximăng-amiăng (nhóm 68.11). Các loại bìa cũng được tạo
bằng cách kết dính các lớp chồng lên nhau của các tấm amiăng với
plastic. Các sản phẩm này khác với các sản phẩm thuộc nhóm 68.11 ở
chỗ các sợi amiăng tách riêng có thể phân biệt được dễ dàng. Chúng có
thể ở dạng cuộn, bản mỏng, hoặc tấm, hoặc có thể được cắt thành các
dạng dải, khung, đĩa, vòng, v.v.
Trong quá trình sản xuất sợi, đơn sợi hoặc sợi kép, các sợi amiăng được
đập, chải và sau đó được kéo thành sợi. Vì các sợi amiăng không thể kéo
được nên các sợi dài được dùng để kéo sợi, trong khi các sợi ngắn hơn
được dùng để sản xuất bìa, nỉ, giấy, ximăng amiăng hoặc bột amiăng.
Các sản phẩm amiăng khác của nhóm này gồm dây xoắn, dây tết bện,
tết, vòng đệm; vải dạng miếng hoặc được cắt thành các hình; dải, bao vỏ,
đường ống, ống dẫn, các khớp nối ống, bình chứa, thanh, phiến, tấm lát,
các khớp đóng gói (trừ các vòng đệm và các khớp nối tương tự bằng kim
loại và amiăng và bộ vòng đệm và khớp nối thuộc nhóm 84.84); tấm lọc,
vải trải bàn, quần áo bảo hộ, mũ và vật đội đầu, giày dép, dùng cho lính
cứu hoả, các công nhân trong các ngành công nghiệp, hoá chất, bảo vệ dân
dụng, v.v. (ví dụ, áo khoác, quần bảo hộ, tạp dề, túi đựng, găng tay, găng
tay bao, ghệt, mũ trùm đầu và mặt nạ có mắt kính mica, mũ bảo hiểm, ủng
có amiăng phần trên hoặc đế giày); đệm, tấm chắn của lính cứu hoả, tấm
dập lửa, màn che rạp hát, vật hình cầu hoặc hình nón bằng sắt được phủ
amiăng dùng để chữa cháy tại các đường ống dẫn khí đốt.
Toàn bộ các sản phẩm này có thể được gia cố bằng kim loại (thường
bằng dây đồng hoặc kẽm), hoặc bằng một số các vật liệu khác (ví dụ vải
hoặc sợi thuỷ tinh); chúng cũng có thể được phủ bằng mỡ, talc, graphit,
hoặc cao su, hoặc được đánh vec ni, mạ đồng, nhuộm màu toàn bộ, đánh
bóng, đục lỗ, nghiền, hoặc được gia công bằng cách khác.
Ngoài các sản phẩm bị loại trừ ở phần cChú giải tổng quá, nhóm này
cũng không bao gồm:
(a) Bột và mảnh lát amiăng (nhóm 25.24).
(b) Các vật liệu và các sản phẩm chủ yếu làm từ plastic dù có chứa
amiăng như là một chất độn. (Chương 39).
(c) Các sản phẩm bằng amiăng- ximăng (nhóm 68.11).
(d) Các vật liệu ma sát có thành phần cơ bản là amiăng (nhóm 68.13).
68.13 - Vật liệu ma sát và các sản phẩm từ vật liệu ma sát (ví dụ, tấm
mỏng, cuộn, dải, đoạn, đĩa, vòng đệm, tấm lót), chưa lắp ráp,
để làm phanh, côn hoặc các sản phẩm tương tự, với thành
phần chính cơ bản là amiăng, các chất khoáng khác hoặc
xenlulo, đã hoặc chưa kết hợp với vật liệu dệt hoặc các vật
liệu khác
6813.20 - Chứa amiăng
- Không chứa amiăng:
6813.81 - - Lót và đệm phanh
6813.89 - - Loại khác
Vật liệu ma sát amiăng thường được làm bằng cách đổ khuôn áp suất cao
hỗn hợp sợi amiăng, plastic, v.v. Nó cũng có thể được làm bằng cách
nén các lớp amiăng đã dệt hoặc tết bện mà đã được thấm tẩm plastic, hắc
ín hoặc cao su. Nó có thể được gia cố bằng dây đồng, kẽm hoặc chì,
hoặc đôi khi có thể được làm từ dây kim loại hoặc sợi cotton phủ
amiăng. Nhờ có hệ số ma sát cao và độ bền chịu nhiệt và mài mòn, vật
liệu này được dùng để lót phanh, đĩa côn, v.v cho tất cả các loại phương
tiện, cần cẩu, tàu hút nạo vét hoặc các loại máy móc khác. Nhóm này
bao gồm các vật liệu ma sát tương tự có thành phần cơ bản là các vật
liệu khoáng khác (ví dụ graphit, đất hoá thạch silic) hoặc sợi xen-lu-lô.
Tuỳ theo mục đích sử dụng cụ thể, mà vật liệu ma sát của nhóm này có
thể có dạng tấm, cuộn, dải, đoạn, đĩa, vòng đệm, miếng đệm hoặc được
cắt thành các dạng khác. Vật liệu ma sát này cũng có thể được lắp ráp
bằng cách khâu, khoan hoặc được gia công theo cách khác.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các vật liệu ma sát không chứa các vật liệu khoáng hoặc sợi xen-lu-
lô (ví dụ: các vật liệu bằng lie) và chúng thường được phân loại theo
vật liệu cấu thành.
(b) Lót phanh đã lắp ráp (kể cả vật liệu ma sát đã lắp cố định trên tấm
kim loại có các lỗ/hốc xung quanh, các mộng đã đục lỗ, hoặc các phụ
kiện tương tự, dùng cho phanh đĩa); các sản phẩm này được phân loại
như các bộ phận của máy hoặc các phương tiện mà chúng được thiết
kế để sử dung cho các máy hoặc phương tiện đó (nhóm 87.08).
68.14 - Mica đã gia công và các sản phẩm làm từ mica, kể cả mica đã
được liên kết khối hoặc tái chế, có hoặc không có lớp nền phụ
trợ bằng giấy, bìa hoặc các vật liệu khác.
6814.10 - Tấm, tấm mỏng và dải bằng mica đã được kết khối
hoặc tái chế, có hoặc không có lớp nền phụ trợ
6814.90 - Loại khác
Nhóm này gồm mica tự nhiên đã được gia công hơn mức chỉ xẻ và đẽo
(ví dụ, được cắt thành hình) và cũng gồm các sản phẩm chứa mica kết
khối (kết dính) hoặc mica nghiền bột (tái chế) và các sản phẩm làm từ
các vật liệu này.
Các tấm mỏng và các lớp thu được bằng cách chỉ tách và đẽo các khối
mica khai thác từ mỏ được xếp vào nhóm 25.25.
Nhóm này bao gồm các sản phẩm thu được bằng cách cắt các tấm xẻ và
mỏng này. Vì chúng được tạo bằng khuôn dập nên các rìa tấm được cắt gọn.
Mica tự nhiên thường được sử dụng ở dạng tấm xẻ hoặc tấm mỏng. Tuy
nhiên, vì kích thước nhỏ của tinh thể và tính linh hoạt kém, chi phí cao,
v.v, mica tự nhiên không thích hợp cho nhiều mục đích sử dụng, chúng
thường được thay thế bằng mica kết khối (ví dụ, micanit, micafolium),
thu được bằng cách kết dính các tấm xẻ mica chồng lên nhau hoặc sát
cạnh nhau bằng cách sử dụng các chất kết dính như gôm sơn, nhựa tự
nhiên, plastic, asphalt v.v. Mica kết khối được làm thành dạng tấm
mỏng, tấm hoặc dải với độ dày khác nhau, thường có diện tích bề mặt
khá lớn; các tấm, v., thường được phủ một hoặc cả hai mặt bằng vải dệt,
vải sợi thủy tinh, giấy hoặc amiăng.
Các tấm mica mỏng cũng có thể được làm mà không cần có chất kết
dính bằng cách cho phế thải mica dạng nghiền và bột vào qui trình xử lý
nhiệt, hoá chất và cơ khí tương tự như mica được dùng để sản xuất giấy
(mica tái chế).
Các tấm mỏng này sau đó được gắn vào mặt sau của giấy hoặc vải dệt sử
dụng vật liệu kết dính thích ứng ; ngoài ra, chúng có thể được dùng để
sản xuất các tấm và dải có độ dày định sẵn bằng cách xếp nhiều tấm
mỏng chồng lên nhau và kết dính chúng bằng chất kết dính hữu cơ.
Nhóm này bao gồm các tấm, dải và cuộn có độ dài bất kỳ; các mảnh
được cắt thành các hình cho các mục đích sử đụng đặc biệt có dạng hình
chữ nhật (kể cả hình vuông), đĩa, v.v, các sản phẩm được đổ khuôn như
ống tuýp, ống dẫn, v.v. Toàn bộ các sản phẩm này có thể được nhuộm
màu hoàn toàn, được sơn, khoan lỗ, nghiền hoặc được gia công theo
cách khác.
Do khả năng chịu nhiệt cao và độ trong mờ của chúng, ngoài các đề cập
khác, mica chủ yếu được dùng để làm cửa lò, lò sấy, lò nung, v.v, các
loại kính bảo hộ và đèn không vỡ, v.v. . . Tuy nhiên, do những ưu điểm
về tính cách điện, chúng chủ yếu được sử dụng trong các ngành công
nghiệp điện (trong việc chế tạo môtơ, biến thế, máy phát điện, tụ điện,
điện trở ...). Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng các cách điện và bộ phận
cách điện của các thiết bị điện bằng mica kể cả chưa được lắp ráp, được
xếp vào các nhóm từ 85.46 đến 85.48, và thiết bị ngưng tụ cách điện
bằng mica (tụ điện) được xếp vào nhóm 85.32.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Mica dạng bột và phế liệu mica (nhóm 25.25).
(b) Giấy hoặc bìa được phủ bột mica (nhóm 48.10 hoặc 48.14), và
vải dệt thoi được phủ bột mica (nhóm 59.07). Các sản phẩm này
không được nhầm với mica đã liên kết khối hoặc tái chế như mô
tả ở trên.
(c) Vermiculit trương nở (nhóm 68.06) (xem phần Chú giải Chi tiết
tương ứng ).
(d) Kính bảo hộ và kính mắt bằng mica (nhóm 90.04).
(e) Mica dùng làm trang trí cây thông Noel (nhóm 95.05).
68.15 - Các sản phẩm bằng đá hoặc bằng các chất liệu khoáng khác (kể
cả xơ carbon, các sản phẩm bằng xơ carbon và các sản phẩm
làm bằng than bùn), chưa được chi tiết hay ghi ở nơi khác.
- Xơ carbon; các sản phẩm từ xơ carbon không phải là
các sản phẩm điện; các sản phẩm khác làm từ graphit
hoặc carbon khác không phải là các sản phẩm điện:
6815.11 - - Xơ carbon
6815.12 - - Vải dệt từ xơ carbon
6815.13 - - Các sản phẩm khác từ xơ carbon
6815.19 - - Loại khác
6815.20 - Sản phẩm từ than bùn
- Các loại sản phẩm khác:
6815.91 - - Có chứa magiezit, magiê oxit ở dạng periclase, dolomit kể
cả ở dạng dolime, hoặc cromit
6815.99 - - Loại khác
Nhóm này gồm các sản phẩm bằng đá hoặc bằng các chất khoáng khác,
chưa được xếp vào các nhóm trước của chương này và chưa được ghi ở
nơi khác trong Danh mục; do vậy nhóm này không bao gồm, ví dụ, các
sản phẩm gốm của Chương 69.
Nhóm này bao gồm:
(1) Các sản phẩm làm từ graphit tự nhiên hoặc nhân tạo không phải là
sản phẩm điện (kể cả dạng hạt nhân), hoặc bằng loại cac-bon khác, ví
dụ: bộ lọc, vòng đệm, ổ bi đũa, ống tuýp và lớp bảo vệ; gạch xây
dựng và tấm lát đã được gia công; khuôn để sản xuất các sản phẩm
nhỏ được thiết kế tinh xảo (ví dụ: tiền xu, huân, huy chương, bộ sưu
tập lính chì...).
(2) Xơ carbon và các sản phẩm bằng xơ carbon. Xơ carbon thường được
làm bằng cách carbon hoá polyme hữu cơ ở dạng sợi. Ví dụ, các sản
phẩm được sử dụng để gia cố.
(3) Các sản phẩm được làm từ than bùn (ví dụ, tấm, vỏ xilanh, bình
dùng để trồng cây). Tuy nhiên các sản phẩm dệt bằng xơ than bùn
không bị loại trừ (Phần XI).
(4) Gạch xây chưa nung được làm bằng dolomit được kết khối với
hắc ín.
(5) Gạch xây và các hình khối khác (đặc biệt các sản phẩm bằng magiê
hoặc magiê crom), được liên kết bằng hoá học, nhưng chưa được
nung. Các sản phẩm này được nung trong quá trình nung đầu tiên
của lò mà chúng đã được xếp trong đó. Các sản phẩm tương tự sau
nung được loại trừ (nhóm 69.02 hoặc 69.03).
(6) Bình chứa bằng nhôm hoặc silic chưa nung (ví dụ, được dùng cho
thuỷ tinh nấu chảy).
(7) Đá thử dùng để thử các kim loại quý; chúng có thể là đá tự nhiên (ví
dụ, đá lidit, loại đá cứng, đen và có hạt mịn chịu được axit).
(8) Khối và phiến lát vỉa hè thu được bằng cách đổ khuôn xỉ nấu chảy
không có chất kết dính, tuy nhiên loại trừ các sản phẩm có đặc tính
của các sản phẩm cách nhiệt thuộc nhóm 68.06.
(9) Ống tuýp lọc bằng thạch anh hoặc bằng đá lửa đã được nghiền mịn
và kết khối.
(10) Các khối, miếng, tấm và các sản phẩm khác bằng bazan nung chảy; do
độ bền lớn, các sản phẩm này được dùng làm lớp lót ống dẫn, băng
chuyền, máng chuyển than cốc, than đá, quặng, sỏi, đá, v.v.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Khối, tấm, và các bán thành phẩm tương tự bằng graphit nhân tạo, hoặc
bằng loại “carbon khác”, chủ yếu được dùng để cắt thành các chổi điện
(nhóm 38.01), (xem phần Chú giải Chi tiết tương ứng).
(b) Các sản phẩm chịu lửa, được nung như các sản phẩm gốm, có thành
phần cơ bản là chất carbon (graphit, than cốc, v.v…) và nhựa chưng
hắc ín than đá hoặc đất sét (nhóm 69.02 hoặc 69.03, tuỳ trường hợp
cụ thể).
(c) Than, chổi, điện cực và các bộ phận hoặc sản phẩm khác sử dụng
trong ngành điện (nhóm 85.45).
Chương 69
Đồ gốm, sứ
Chú giải.
1.- Chương này chỉ áp dụng đối với những sản phẩm gốm, sứ đã được
nung sau khi tạo hình:
(a) Các nhóm từ 69.04 đến 69.14 chỉ áp dụng đối với những sản phẩm
như vậy trừ những sản phẩm được phân loại trong các nhóm từ
69.01 đến 69.03;
(b) Các sản phẩm được gia nhiệt ở nhiệt độ dưới 800°C cho các mục
đích như đóng rắn nhựa, tăng tốc phản ứng hydrat hóa, hoặc để
loại bỏ nước hoặc các thành phần dễ bay hơi khác, không được coi
là nung. Các sản phẩm như vậy bị loại trừ khỏi Chương 69; và
(c) Các sản phẩm gốm, sứ thu được bằng cách nung các vật liệu phi
kim loại, vô cơ đã được chuẩn bị và tạo hình trước đó ở nhiệt độ
phòng nói chung. Các nguyên liệu thô bao gồm, không kể những
đề cập khác, đất sét, vật liệu silic kể cả silica nung chảy, các vật
liệu có nhiệt độ nóng chảy cao, như oxit, carbua, nitrua, graphit
hoặc carbon khác, và trong một số trường hợp là chất kết dính như
phốt phát hoặc đất sét chịu lửa.
2. Chương này không bao gồm:
(a) Các sản phẩm thuộc nhóm 28.44;
(b) Các sản phẩm thuộc nhóm 68.04;
(c) Các sản phẩm thuộc Chương 71 (ví dụ, đồ trang sức làm bằng chất
liệu khác);
(d) Gốm kim loại thuộc nhóm 81.13;
(e) Các sản phẩm thuộc Chương 82;
(f) Vật cách điện (nhóm 85.46) hoặc các phụ kiện làm bằng vật liệu
cách điện thuộc nhóm 85.47;
(g) Răng giả (nhóm 90.21);
(h) Các sản phẩm thuộc Chương 91 (ví dụ, đồng hồ thời gian và vỏ
đồng hồ thời gian);
(ij) Các sản phẩm thuộc Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, đèn
(luminaires) và bộ đèn, nhà lắp ghép);
(k) Các sản phẩm của Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi và
dụng cụ, thiết bị thể thao);
(l) Các sản phẩm thuộc nhóm 96.06 (ví dụ, khuy) hoặc thuộc nhóm
96.14 (ví dụ, tẩu hút thuốc); hoặc
(m) Các sản phẩm thuộc Chương 97 (ví dụ, các tác phẩm nghệ thuật).
TỔNG QUÁT
Thuật ngữ “các sản phẩm gốm” áp dụng cho các sản phẩm thu được:
(A) Bằng cách nung các vật liệu phi kim loại, vô cơ đã được chuẩn bị và
tạo hình trước đó, thường ở mức nhiệt độ trong phòng. Các nguyên
liệu thô bao gồm đất sét, vật liệu silic kể cả silica nung chảy, các vật
liệu có điểm nóng chẩy cao như ô xít, cacbua, nitrua, graphit hoặc
cacbon khác và trong một số trường hợp, các chất kết dính như đất
sét chịu lửa hoặc phốt phát.
(B) Từ đá (ví dụ, steatit), được nung sau khi tạo hình.
Quá trình sản xuất các sản phẩm gốm được đề cập ở phần (A)- nêu trên
(mọi vật liệu cấu thành của chúng) đều bao gồm các công đoạn chính
(i) Chuẩn bị bột nhão (hay phần xương).
Trong một số trường hợp (ví dụ, sản xuất các sản phẩm nhôm được
thiêu kết), vật liệu cấu thành được sử dụng trực tiếp ở dạng bột có
thêm một lượng nhỏ chất bôi trơn. Tuy nhiên, trong hầu hết các
trường hợp, nguyên liệu trước tiên phải được làm thành bột nhão.
Điều này liên quan đến việc định lượng và trộn các thành phần khác
nhau và, nếu cần, phải nghiền, sàng, ép-lọc, nhào, đánh nhuyễn và
khử không khí. Một số sản phẩm chịu lửa cũng được làm từ hỗn hợp
các cốt liệu mịn đã được phân loại, có bổ sung thêm một lượng nhỏ
chất kết dính lỏng, mà có thể ở dạng nước (ví dụ, hắc ín, vật liệu
nhựa, axít phôtphoric, dung dịch chất gỗ (linh-in)).
(ii) Tạo hình.
Bột hoặc bột nhão đã chuẩn bị sau đó được tạo hình gần giống với
hình mong muốn.
Công đoạn này được thực hiện bằng cách đùn (thông qua khuôn
đùn), ép, đổ khuôn, đúc hoặc tạo hình bằng tay, trong một số trường
hợp được thực hiện theo mức độ của máy.
(iii) Sấy khô sản phẩm thu được.
Ở công đoạn này, “sản phẩm màu lục” được nung ở mức nhiệt độ
800 °C hoặc cao hơn tuỳ thuộc vào bản chất của sản phẩm. Sau khi
nung, các hạt kết dính chặt lại với nhau như là kết quả của sự
khuyếch tán, sự chuyển đổi hoá học hoặc sự nóng chảy từng phần.
Các sản phẩm được nung ở mức nhiệt độ dưới 800 °C cho các mục
đích như đóng rắn nhựa, làm tăng nhanh phản ứng hyđrat hoá, hoặc
dùng để loại bỏ nước hoặc các thành phần dễ bay hơi khác, sẽ không
được coi là được nung cho các mục đích sử dụng ở của Chú giải 1
của Chương này. Các sản phẩm này bị loại trừ khỏi Chương 69.
(v) Hoàn thiện.
Các công đoạn hoàn thiện phụ thuộc vào mục đích sử dụng của sản
phẩm gốm. Đôi khi cần phải có máy hoàn thiện có độ chính xác cao.
Công đoạn hoàn thiện cũng có thể bao gồm việc đánh dấu hàng, mạ
kim loại hoặc thấm tẩm.
Các sản phẩm gốm cũng thường được nhuộm màu (ở phần xương hoặc
bề mặt), được trang trí hoặc tráng men bằng cách sử dụng thích hợp các
chất màu hoặc chất ờ cản quang được pha chế đặc biệt, men kính hoặc
men sứ, men sành, chất láng bóng, v.v.
Sau khi tạo hình, công đoạn nung là cơ sở phân biệt chủ yếu giữa các
sản phẩm của chương này với các sản phẩm khoáng hoặc đá được phân
loại ở Chương 68 mà nhìn chung không được nung, và các sản phẩm
thuỷ tinh của Chương 70 trong đó hỗn hợp có thể thuỷ tinh hoá đã được
nấu chảy hoàn toàn.
Tùy theo thành phần và qui trình nung được áp dụng, có thể thu được
các sản phẩm sau:
I. Hàng hóa bằng bột hóa thạch silíc hoặc bằng đất silíc tương tự và các
sản phẩm chịu lửa thuộc phân Chương I (từ nhóm 69.01 đến nhóm
II. Các sản phẩm gốm khác, chủ yếu gồm đồ gốm, đồ đá, đồ đất, đồ sứ
thông thường, v.v, thuộc phân Chương II (từ nhóm 69.04 đến
Chương này không bao gồm:
(a) Gốm vỡ và các mảnh gạch xây vỡ (nhóm 25.30)
(b) Các sản phẩm thuộc nhóm 28.44
(c) Các khối, tấm, thanh và bán sản phẩm tương tự bằng graphít hoặc
bằng các loại cac-bon khác, hoặc hợp chất graphit-kim loại hoặc
bằng hợp chất khác được dùng, ví dụ, để cắt thành chổi điện (nhóm
38.01) (xem Chú giải chi tiết tương ứng).
(d) Các phần cắt rời, chưa được lắp ráp, bằng vật liệu gốm áp điện từ,
ví dụ bằng titanat bari hoặc bằng zircotitanat chì (nhóm 38.24)
(e) Các sản phẩm thuộc nhóm 68.04.
(f) Các sản phẩm gốm- thủy tinh (Chương 70)
(g) Các hỗn hợp thiêu kết bằng bột kim loại cơ bản và hỗn hợp kim loại
dị thể trộn kỹ cơ bản thu được bằng cách nấu chảy (Phần XV).
(h) Gốm kim loại thuộc nhóm 81.13
(ij) Chi tiết hình đĩa, thanh cỡ nhỏ, mũi chóp và các chi tiết tương tự
cho dụng cụ, chưa được gắn vào dụng cụ, làm bằng gốm kim loại
(nhóm 82.09) và sản phẩm khác của Chương 82.
Phân chương I
CÁC LOẠI HÀNG HOÁ BẰNG BỘT HOÁ THẠCH SILIC HOẶC
BẰNG CÁC LOẠI ĐẤT SILIC TƯƠNG TỰ,
VÀ CÁC SẢN PHẦM CHỊU LỬA
TỔNG QUÁT
Phân chương này bao gồm, có hoặc không chứa đất sét:
(A) Trong nhóm 69.01 các sản phẩm ceramic (gốm) thu được bằng
cách nung sau khi tạo hình bột hoá thạch silic hoặc đất silic tương
tự như kiezingur (đất tảo cát), tripolit (đá tảo silic) hoặc diatomit
(đá tảo silic) (hầu hết được xếp vào nhóm 25.12) hoặc silica thu
được bằng cách nung một số các sản phẩm thực vật (ví dụ tro quả
nang gạo). Các vật liệu này thường được trộn với các chất kết dính
(như đất sét hoặc magie) và đôi khi được trộn với các chất khác (ví
dụ amiăng, lông (tóc), mùn cưa, bụi than).
Các sản phẩm này thường có trọng lượng rất nhẹ, và kết cấu xốp
của chúng khiến chúng trở thành vật liệu cách nhiệt rất tốt dùng
trong xây dựng, lớp cách ống hơi nước và khí gas. Một số các sản
phẩm này cũng được dùng như vật liệu chịu lửa trong việc xây
dựng lò, lò luyện, nung công nghiệp, nồi tạo hơi, hoặc các nhà máy
công nghiệp khác và cho các ứng dụng khác mà cần đến vật liệu
nhẹ, độ dẫn nhiệt thấp, cũng như độ bền chịu nhiệt. Các sản phẩm
khác được dùng như các vật liệu cách nhiệt để gia công ở mức
nhiệt độ dưới 1.0000C.
(B) Trong nhóm 69.02 và 69.03 các sản phẩm chịu lửa, nghĩa là các
sản phẩm đã nung có đặc tính đặc biệt chịu được nhiệt độ cao phù
hợp với các ngành công nghiệp thuỷ tinh, luyện kim, v.v (ví dụ ở
mức 1.5000C hoặc cao hơn). Tùy theo mục đích sử dụng cụ thể mà
chúng được dự kiến sử dụng, các sản phẩm chịu lửa cũng có thể
cần chịu được các thay đổi nhanh về nhiệt độ, cần phải là các vật
liệu dẫn nhiệt hoặc cách nhiệt tốt, cần phải có hệ số giãn nở nhiệt
thấp, phải xốp và không thấm, chịu được các tác động mài mòn
của các sản phẩm mà chúng tiếp xúc, phải có độ bền cơ khí và sức
chịu mài mòn cao, v.v.
Tuy nhiên, để xếp vào nhóm 69.02 hoặc 69.03 như các sản phẩm
chịu lửa, các sản phẩm không chỉ có khả năng phải chịu được nhiệt
độ cao, mà chúng còn phải được thiết kế phù hợp khi làm việc ở
mức nhiệt độ cao. Do vậy nhóm 69.03 sẽ bao gồm các nồi nấu kim
loại bằng nhôm thiêu kết, tuy nhiên các gạt dẫn chỉ máy dệt bằng
vật liệu tương tự sẽ được xếp vào nhóm 69.09 vì chúng được thiết
kế rõ ràng dành cho các mục đích sử dụng không chịu lửa.
Các loại sản phẩm chịu lửa chính là:
(1) Vật liệu chịu lửa cao bằng nhôm được làm từ bauxit, mulit hoặc
corundum (đôi khi được trộn với đất sét) hoặc từ kialit, silimanit
hoặc andalisit (nhôm silicat) trộn với đất sét hoặc nhôm thiêu kết.
(2) Vật liệu chịu lửa nhôm silicat (ví dụ được làm từ đất sét nung với
samot hoặc grog (sét nung chịu lửa).
(3) Vật liệu chịu lửa silic điôxit hoặc bán silic đioxit (được làm từ cát,
thạch anh nghiền, đá lửa tự nhiên, v.v, và được kết dính bằng đất sét
hoặc vôi).
(4) Vật liệu chịu lửa magie được làm từ magie, magie nước biển hoặc
đôlômit; các loại vật liệu chịu lửa được làm từ crom hoặc oxit crom;
các loại vật liệu chịu lửa magie-crom.
(5) Vật liệu chịu lửa làm từ cacbua silic.
(6) Vật liệu chịu lửa oxit kẽm hoặc silicat kẽm, thường được kết khối với
đất sét; các vật liệu chịu lửa được làm từ ôxit beryli, ôxit thori, oxit
(7) Vật liệu chịu lửa làm từ graphit hoặc cacbon khác, thường được kết
khối bằng nhựa, hắc ín hoặc đất sét. (Các sản phẩm làm từ graphit
hoặc cácbon khác loại được dùng cho các mục đích sử dụng điện
được xếp vào nhóm 85.45).
(8) Vật liệu chịu lửa làm từ các vật liệu khác, ví dụ nitrua silic, nitrua bo,
titanat nhôm và các hợp chất liên quan.
Các vật liệu chịu lửa được dùng chủ yếu để lót lò thổi, lò than, các thiết
bị cracking xăng dầu, các lò nấu thuỷ tinh, lò nung gốm và các lò công
nghiệp khác, và trong việc sản xuất các loại bình, nồi nấu kim loại và các
thiết bị khác trong ngành công nghiệp hoá chất, thuỷ tinh, ximăng, nhôm
và luyện kim khác.
Tuy nhiên các nhóm 69.02 và 69.03 không bao gồm các sản phẩm mặc
dù đôi khi được mô tả như là vật liệu chịu lửa hoặc bán chịu lửa, không
có khả năng chịu được các mức nhiệt độ công nghiệp như đã mô tả ở
trên. Các sản phẩm này sẽ được xếp vào nhóm thích hợp của Phân
chương II.
69.01 - Gạch, gạch khối, tấm lát (tiles) và các loại hàng gốm, sứ khác
làm từ bột silic hóa thạch (ví dụ, đất tảo cát, đá tảo silic hoặc
diatomit) hoặc từ các loại đất silic tương tự.
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm được làm từ các nguyên vật liệu
trong tiêu đề nhóm, ở bất kỳ dạng nào (ví dụ: gạch xây, gạch khối, đá
phiến, tấm, ngói, gạch rỗng, vỏ xilanh, ống dẫn) có hoặc không có tính
chịu lửa.
Nhóm này không bao gồm :
(a) Gạch xốp không chịu lửa không chứa bột hóa thạch silic hoặc đất
silíc tương tự (ví dụ: các sản phẩm được làm từ khối có chứa
hỗn hợp mùn rơm rạ, mùn cưa, sợi than bùn, v.v, các chất hữu
cơ được thiêu cháy trong quá trình nung để lại kết cấu xốp)
(nhóm 69.04).
(b) Các tấm lọc làm từ khối có chứa đất tảo cát và thạch anh (nhóm
69.02 - Gạch, gạch khối, tấm lát (tiles) chịu lửa và các loại vật liệu
xây dựng bằng gốm, sứ chịu lửa tương tự, trừ các sản phẩm
làm bằng bột silic hóa thạch hoặc đất silic tương tự (+).
6902.10 - Chứa trên 50% tính theo trọng lượng là một hay nhiều
nguyên tố magie (Mg), canxi (Ca) hoặc crom (Cr), thể
hiện ở dạng magie oxit (MgO), canxi oxit (CaO) hoặc
6902.20 - Chứa trên 50% tính theo trọng lượng là oxit nhôm
(Al2O3), đioxit silic (SiO2) hoặc hỗn hợp hay hợp chất
của các chất này
6902.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm một nhóm các sản phẩm chịu lửa (trừ sản phẩm
thuộc nhóm 69.01) thường được dùng trong xây dựng lò, lò nung, lò nấu
hoặc các thiết bị khác cho các ngành công nghiệp luyện kim, hoá chất,
gốm, thuỷ tinh và các ngành công nghiệp khác.
Nhóm này bao gồm:
(1) Gạch xây thuộc tất cả các loại hình dạng (hình hộp, hình nêm,
hình trụ, hình bán trụ.v.v...) bao gồm cả đá đỉnh vòm và gạch
xây có hình dạng đặc biệt khác (ví dụ: gạch rôto, có rãnh lõm
ở một mặt và mặt kia phẳng) ngay cả khi chúng được nhận biết
rõ ràng như là loại gạch được thiết kế để dùng riêng trong xây
dựng nhà máy hoặc máy móc của Phần XVI.
(2) Gạch lát, gạch khối chịu lửa để lát nền, ốp tường, lò v.v.
Nhóm này không gồm các loại ống tuýp, ống dẫn (kể cả các đường dẫn
ở dạng bán hình trụ) và các góc, các khuỷu nối ống và ống hoặc các phụ
kiện đường ống tương tự bằng vật liệu chịu lửa (nhóm 69.03).
Chú giải chi tiết phân nhóm .
Phân nhóm 6902.10
Vấn đề quyết định để được xếp vào phân nhóm này là hàm lượng ô xít
ma giê (MgO), ô xit can xi (CaO) hoặc ô xít crôm (Cr2O3). Điều này
thường được thực hiện bằng cách xác định hàm lượng của các thành
phần có mặt (nghĩa là magie, canxi hoặc crom), và từ các hàm lượng này
có thể tính được hàm lượng ôxit tương ứng. Ví dụ, 40% canxi (Ca)
tương đương với 56% CaO và 24% Mg tương đương với 40% MgO. Do
vậy, một sản phẩm được làm từ silic oxit canxi (Canxi Silicate) có chứa
40% Ca (tương đương với 56%CaO) sẽ được xếp vào phân nhóm này.
69.03 - Các loại hàng gốm, sứ chịu lửa khác (ví dụ, bình cổ cong, nồi
nấu kim loại, lò muffle, nút, phích cắm, giá đỡ, chén thử vàng
bạc, các loại ống, ống dẫn, bao vỏ, tay cầm và cửa trượt), trừ
các sản phẩm làm bằng bột silic hóa thạch hoặc đất silic
tương tự (+).
6903.10 - Có hàm lượng trên 50% tính theo khối lượng là
carbon tự do
6903.20 - Chứa trên 50% tính theo trọng lượng là oxit nhôm
(Al2O3) hoặc hỗn hợp hay hợp chất của oxit nhôm
và của đioxit silic (SiO2)
6903.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm chịu lửa chưa được nêu cụ thể
hoặc được xếp trong các nhóm trước.
Các sản phẩm này bao gồm:
(1) Các sản phẩm mà, không giống với các sản phẩm chịu lửa thuộc
nhóm 69.02, trong nhiều trường hợp không phải là sản phẩm cố
định thường xuyên, như bình cổ cong, bình phản ứng, nồi nấu kim
loại, chén nung và các sản phẩm tương tự dùng cho các ngành công
nghiệp hoặc phòng thí nghiệm, lò nung cách lửa, vòi phun, phích
cắm, vòi đốt, và các bộ phận tương tự của lò; áo gốm, giá đỡ và các
dụng cụ khác của lò để đỡ hoặc tách đồ gốm trong quá trình nung;
vỏ bọc và thanh; giá đỡ cho các nồi nấu kim loại; khuôn thỏi đúc;
cửa trượt, con lăn, phôi, dụng cụ tạo hình và bình;...
(2) Ống tuýp, ống dẫn (kể cả các đường dẫn ở dạng bán hình trụ), và các
góc, khuỷu nối ống và ống hoặc các phụ kiện đường ống tương tự,
thậm chí có thể được dùng như các sản phẩm có tính chất cố định
thường xuyên trong công việc xây dựng.
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm nón Seger (chất thử gia nhiệt gốm
sứ) (xem phần chú giải chi tiết của nhóm 38.24); các sản phẩm này
không được nung sau khi tạo hình.
Phân nhóm 6903.10
Theo mục đích của phân nhóm này, thuật ngữ “cacbon tự do” áp dụng cho
các loại cacbon như graphit, cacbon vô định hình (muội cacbon) và
cacbon hữu cơ (hắc ín (pitch, tar) hoặc nhựa).
Phân chương II
CÁC SẢN PHẨM GỐM, SỨ KHÁC
TỔNG QUÁT
Phân chương này bao gồm các sản phẩm gốm trừ các sản phẩm làm từ
bột hoá thạch silic hoặc đất silic tương tự và các sản phẩm chịu lửa thuộc
phân Chương I.
Dành cho mục đích của Danh mục này, các sản phẩm này được phân loại
theo chủng loại (gạch xây, ngói, các thiết bị vệ sinh, v.v) và việc phân
loại không bị ảnh hưởng bởi bản chất của các sản phẩm gốm, sứ được
dùng trong quá trình sản xuất chúng, ngoại trừ trường hợp bộ đồ ăn, bộ
đồ nhà bếp, đồ gia dụng và đồ sứ vệ sinh khác, được xếp vào nhóm
69.11 khi bằng sứ (china) và nhóm 69.12 nếu thuộc loại đồ gốm, sứ
khác.
(I) SỨ HOẶC ĐỒ SỨ
Sứ hoặc đồ sứ nghĩa là sứ cứng, sứ mềm, sứ mộc (kể cả parian) và sứ xương.
Tất cả các sản phẩm gốm này hầu như được tạo thành thuỷ tinh hoàn toàn
(vitrified), cứng và chủ yếu không thấm nước (thậm chí chúng không được
tráng men). Chúng có màu trắng hoặc được nhuộm màu nhân tạo, trong mờ
(trừ khi chúng có độ dày tương đối lớn), và có độ vang.
Sứ cứng được làm từ xương chứa caolanh (hoặc đất sét chứa caolanh),
thạch anh, tràng thạch (hoặc fenspatthoid), và đôi khi có chứa cacbonat
canxi. Nó được phủ một lớp men trong suốt không màu được nung đồng
thời với xương và do đó bị nấu chảy với nhau.
Sứ mềm chứa ít nhôm nhưng nhiều silic và chất giúp chảy (ví dụ tràng
thạch). Sứ xương, mà chứa ít nhôm, chứa photphat canxi (ví dụ ở dạng
tro xương); xương trong mờ bởi vậy thu được ở mức nhiệt độ nung thấp
hơn so với sứ cứng. Men thường được ứng dụng bằng cách nung thêm ở
mức nhiệt độ thấp hơn, do vậy cho phép phạm vi trang trí men lót rộng
hơn.
Sứ mộc là sứ chưa tráng men, trong đó sứ parian (đôi khi được gọi là sứ
Carrara) là loại đặc biệt, hạt mịn, hơi vàng, có chứa nhiều tràng thạch, và
bề ngoài thường giống đá cẩm thạch Paros.
(II) CÁC SẢN PHẨM GỐM, SỨ KHÁC
Các sản phẩm gốm, sứ trừ các sản phẩm sứ hoặc đồ sứ, gồm có:
(A) Các sản phẩm gốm, sứ có xương xốp mà, không giống sứ, mờ đục,
có khả năng thấm các chất lỏng, dễ bị xây xước bởi sắt và có vết nứt
bám vào mộng. Các sản phẩm gốm, sứ này bao gồm:
(1) Đồ gốm làm bằng đất sét chứa vôi và sắt thông thường (đất làm
gạch). Nó có kết cấu bằng đất xỉn, và thường có màu nâu, đỏ
hoặc vàng.
(2) Một loạt các loại gốm, sứ trắng hoặc màu (đồ đất nung, majolica,
đồ gốm, v.v). Xương xốp và phải được tráng men để tạo ra các
sản phẩm không có tính thấm (ví dụ các loại men trong hoặc mờ
như các ôxit kim loại trắng hoặc màu). Đồ đất nung
(earthenware) v.v được làm từ các loại đất sét đã được sàng mịn
được trộn với nước. Nó có xương hạt mịn được tạo bằng cách
nung tới mức nhiệt độ cao hơn so với trường hợp đồ gốm được
làm từ loại đất sét thông thường; nó khác với sứ hoặc đồ sứ bởi vì
nó không được thủy tinh hóa toàn phần.
(B) Đồ gốm đá (stoneware) mà mặc dù tỷ trọng và độ cứng đủ để chịu
được sự xây xước bởi sắt nhọn, thép, khác hẳn với với đồ sứ bởi vì
nó mờ đục và thường chỉ được thủy tinh hóa một phần. Đồ gốm đá
có thể là đồ thuỷ tinh (không thấm nước) hoặc bán thuỷ tinh. Nó
thường có màu xám hoặc hơi nâu do các tạp chất có chứa trong đất
sét được dùng để sản xuất chúng, và thường được tráng men.
(C) Một số loại sản phẩm được gọi là “bán sứ” hoặc “giả sứ”, đôi khi
được làm, trang trí và tráng men để có vẻ bề ngoài là sản phẩm sứ.
Không cần thực sự mờ đục giống như đồ đất nung, hoặc thực sự
trong suốt giống như đồ sứ, các sản phẩm này có thể hơi trong suốt
ở các bộ phận mỏng hơn như phần đáy của cốc chén. Tuy nhiên, các
sản phẩm này có thể được phân biệt với sản phẩm sứ thực thụ bởi vì
vết nứt của chúng nổi hạt sần, xỉn và không tạo thành thuỷ tinh. Do
đó chúng xốp ở dưới lớp men và vết nứt bám vào mộng. Hơn nữa,
chúng dễ bị xây xước bằng dao thép, mặc dù cần phải lưu ý rằng
một số sứ mềm cũng có thể bị xây xước bởi thép. Các sản phẩm “giả
sứ” này không được xem như là sản phẩm sứ hoặc đồ sứ.
Phân chương này cũng bao gồm một số sản phẩm được làm bằng cách
tạo hình và nung steatit dạng bột, v.v, thường được trộn với đất sét (ví dụ
caolanh), fenspat, v.v. nhưng cũng cần lưu ý rằng rất nhiều các sản phẩm
làm từ các nguyên liệu này được thiết kế cho các mục đích sử dụng điện
và do vậy được phân loại vào Chương 85. Phân chương này cũng bao
gồm các sản phẩm được tạo bằng cách nung steatit được tạo hình bằng
cách cưa.
Một số sản phẩm gốm, sứ được làm từ các vật liệu chịu lửa (ví dụ nhôm
thiêu kết) cũng có thể được xếp vào phân Chương II nếu nó không thuộc
loại được thiết kế cho mục đích sử dụng là các sản phẩm chịu lửa (xem
Chú giải Chi tiết của nhóm 69.09).
69.04 - Gạch xây dựng, gạch khối lát nền, tấm đỡ hoặc tấm lót và
các loại tương tự bằng gốm, sứ.
6904.10 - Gạch xây dựng
6904.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm gạch gốm, sứ không chịu lửa (nghĩa là loại gạch không
thể chịu được nhiệt độ 1500ºC hoặc cao hơn) thuộc loại thường được dùng
để xây tường, nhà, thân ống khói công nghiệp, v.v. Các loại gạch này vẫn
được xếp trong nhóm thậm chí nếu chúng cũng có thể được dùng cho các
mục đích sử dụng khác (ví dụ gạch thủy tinh hóa mà có thể được dùng để
lát vỉa hè hoặc trụ cầu, cũng như cho việc xây dựng nhà xưởng.
Gạch thường tương đối xốp (đồ gốm thông thường), tuy nhiên một số
loại ít nhiều được thuỷ tinh hóa (đồ gốm hoặc gạch dùng trong kỹ thuật)
và sau đó được dùng trong công việc xây dựng do độ bền cơ học hoặc độ
bền axit cao (ví dụ trong nhà máy hoá chất).
Nhóm này gồm:
(1) Gạch đặc thông thường hình chữ nhật, bề mặt phẳng hoặc khoét lỗ.
(2) Gạch cong, đôi khi được tạo lỗ, dùng cho thân ống khói công nghiệp.
(3) Gạch rỗng , gạch lỗ, gạch khối lát nền rỗng, dài và các tấm xây
dựng đặc biệt được dùng để lát nền, trần nhà, v.v kết hợp với kết
cấu thép và tấm đỡ hoặc tấm lót (nghĩa là các phụ kiện gốm, sứ
được thiết kế để đỡ các khối trong khi đóng cốt pha các dầm.)
(4) Gạch lát (ví dụ để lát nhà hoặc tường, khu vực xung quanh cửa ra
vào hoặc cửa sổ kể cả gạch xây đặc biệt dùng làm mũ cột, đường
viền, đường gờ hoặc các trang trí kiến trúc khác).
Gạch “kép” được tạo lỗ đặc biệt theo chiều dài, có thể tách trước khi sử
dụng, vẫn được xếp vào nhóm này miễn là chúng giữ được các đặc tính
của gạch xây dựng sau khi tách.
Toàn bộ các loại gạch này, đặc biệt các loại gạch dùng để lát, có thể
được mài bóng, được phủ cát (bằng cách nấu chảy cát lên bề mặt trong
quá trình nung), được phủ một lớp mỏng có màu trắng hoặc nước áo
màu che giấu màu của xương, được hun khói hoặc đốt, tạo màu trong
xương hoặc trên bề mặt (bằng cách bổ sung thêm ôxit kim loại, bằng
cách sử dụng đất sét chứa sắt, hoặc bằng cách nung ở môi trường không
khí khử bằng cacbon hyđro hoặc cacbon), được thấm nhựa đường, hoặc
được tráng men, v.v. Chúng cũng có thể được tạo khuôn, được chạm nổi
hoặc dùng để trang trí trên một mặt hoặc cả hai mặt.
Nhóm này cũng bao gồm gạch xốp được làm từ các hỗn hợp chứa mùn
cưa, sợi than bùn, mùn rơm, v.v, mà được đốt cháy trong quá trình nung,
để lại kết cấu rất xốp.
Nhóm này không bao gồm :
(a) Gạch kizengua,v.v. (nhóm 69.01) và gạch chịu lửa (nhóm
(b) Các loại phiến lát đường và gạch lát đường, lát nền và lòng lò
hoặc gạch ốp tường (xem phần Chú giải Chi tiết nhóm 69.07).
69.05 – Ngói lợp, ống khói, chụp ống khói, lớp lót trong ống khói, hàng
trang trí kiến trúc và hàng xây dựng bằng gốm, sứ khác
6905.10 – Ngói lợp mái
6905.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại sản phẩm không chịu lửa, thường là đồ gốm
thông thường nhưng đôi khi ít nhiều được tạo thành thuỷ tinh, mà, giống
như gạch, được dùng trong công việc xây dựng.
Nhóm này bao gồm :
(1) Ngói lợp mái (để làm mái, tường phủ, v.v.). Các loại ngói này
thường được thiết kế thêm các khe, được tạo lỗ để đóng đinh, hoặc
có thể được tạo khuôn để khoá liên động, và về khía cạnh này chúng
khác với loại gạch lát thuộc nhóm 69.07. Chúng có thể ở dạng
phẳng, bán trụ hoặc các dạng đặc biệt dùng cho các mái đua, nóc
nhà, góc đỉnh hồi hoặc các thung lũng, v.v.
(2) Chụp ống khói, nắp chụp, lớp lót ống khói, hộp ống dẫn khói, v.v.
(3) Các đồ trang trí kiến trúc cho các toà nhà, trên tường, cổng, v.v (ví
dụ các mái đua và các đường gờ); đầu rìa biên, trán tường, hình
hoa, lan can, rầm chìa, nóc, mũ cột, mi nhà, mái đua, nóc nhà, và
các đồ trang trí mái, v.v.
(4) Các sản phẩm xây dựng bằng gốm khác, ví dụ: ống thông gió, lưới
thép trát đất sét được dùng như là giá đỡ sản phẩm thạch cao và
được tạo hình bằng lưới thép có các chạc chữ thập hoặc các tấm
bằng đất sét nung tại các phần giao nhau, đất sét nung tạo thành
thành phần chính.
Các sản phẩm này được xếp vào nhóm này cho dù chúng ở dạng phẳng,
được phủ cát, được phủ lớp áo, được nhuộm màu toàn bộ, được thấm các
chất khác, được tráng men, tạo gờ, tạo rãnh, tạo khía hoặc được trang trí
cách khác bằng cách tạo khuôn.
Nhóm này không bao gồm các loại ống dẫn, máng dẫn và các sản phẩm
tương tự như ống thoát nước mưa (nhóm 69.06), kể cả khi được dùng
cho các mục đích xây dựng.
69.06 - Ống dẫn, máng dẫn, máng thoát nước và các phụ kiện để lắp
ráp bằng gốm, sứ.
Nhóm này áp dụng cho hệ thống ống dẫn không chịu lửa, v.v, được thiết
kế, theo qui tắc chung, để khoá liên động và dùng để thoát hoặc phân
phối các chất lỏng. Chúng có thể có hình dạng hoặc đoạn bất kỳ (thẳng,
cong, có nhánh, có đường kính không đổi hoặc biến đổi, v.v), và có thể
được tráng men.
Nhóm này bao gồm:
(1) Ống dẫn nước tưới tiêu dùng trong nông nghiệp và ngành trồng hoa,
bằng đồ gốm xốp thông thường, chỉ được nung ở mức nhiệt độ thấp
và được hoàn thiện thô.
(2) Các loại ống dẫn, máng dẫn và máng thoát nước khác (ví dụ ống thoát
nước mưa, ống cống rãnh, ống dẫn để bảo vệ cáp điện nhưng không
được thiết kế để làm vật liệu cách điện, các loại sản phẩm ống cắt nửa có
dạng máng thoát nước hoặc đường dẫn, các ống thoát trên tường).
Các ống dẫn này, v.v …có thể là đồ gốm thông thường chưa tráng
men, nhưng thuờng được làm thành các sản phẩm không thấm nước
bằng cách tráng men hoặc bằng cách tạo thành thuỷ tinh (ví dụ: hệ
thống ống dẫn hoá chất)
(3) Các phụ kiện đường ống để nối hoặc chia nhánh (vòng đai, mặt bích,
ống khuỷu, các đoạn nối hình chữ T, si phông,v.v……)
Nhóm này không gồm:
(a) Các bộ phận ống khói có dạng ống (ví dụ: ống khói, chụp ống khói,
lớp lót trong ống khói và hộp dẫn ống khói) (nhóm 69.05).
(b) Các ống dẫn nhỏ và hệ thống ống dẫn (ví dụ ống đốt), thường bằng
sứ hoặc đồ sứ, được thiết kế đặc biệt để dùng trong phòng thí
nghiệm (nhóm 69.09).
(c) Các khớp nối và hệ thống ống dẫn cách điện, và toàn bộ các phụ
kiện dạng ống được thiết kế cho mục đích sử dụng điện (đặc biệt
là nhóm 85.46 và 85.47).
69.07 - Các loại phiến lát đường và gạch lát đường, lát nền và lòng lò 69.07 - Ceramic flags and paving, hearth or wall tiles; ceramic
hoặc gạch ốp tường bằng gốm, sứ; các khối khảm và các loại sản
phẩm tương tự bằng gốm, sứ, có hoặc không có lớp nền; Các sản
phẩm gốm, sứ để hoàn thiện (+).
- Các loại phiến lát đường và gạch lát đường, lát nền và
lòng lò hoặc gạch ốp tường trừ loại thuộc phân nhóm
6907.30 và 6907.40 :
6907.21 - - Của loại có độ hút nước không vượt quá 0.5% tính theo
trọng lượng
6907.22 - - Của loại có độ hút nước vượt quá 0.5% nhưng không
vượt quá 10% tính theo trọng lượng
6907.23 - - Của loại có độ hút nước trên 10% tính theo trọng lượng
6907.30 - Khối khảm và các sản phẩm tương tự, trừ loại thuộc
phân nhóm 6907.40
6907.40 - Các sản phẩm gốm, sứ để hoàn thiện
Nhóm này bao gồm phiến lát đường và tấm lát bằng gốm, sứ, bao gồm
cả gạch lát nền, thường được sử dụng để lát hoặc ốp tường, lát nền và
lòng lò, vv.
Các loại phiến lát đường và gạch lát đường, lát nền và lòng lò hoặc gạch ốp
tường có kích thước bề mặt mỏng hơn so với gạch xây dựng. Trong khi
gạch xây dựng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, để tạo khung nhà
thì phiến lát và tấm lát được dùng đặc biệt hơn để ốp lên bề mặt các bức
tường hiện có, bằng xi măng, chất kết dính hoặc bằng phương tiện khác vv.
Phiến lát đường và tấm lát khác ngói lợp ở chỗ chúng thường phẳng và
không cần khoan lỗ hoặc gắn đầu nhọn hoặc định hình để lồng ghép vào
nhau, và được thiết kế để xếp cạnh nhau mà không chồng lên nhau. Phiến
lát đường lớn hơn tấm lát và thường có hình chữ nhật; tấm lát có thể ở dạng
hình học khác (như hình lục giác, bát giác, v.v). Tấm lát chủ yếu được sử
dụng để ốp tường, lò sưởi, nền và lòng lò sưởi, sàn nhà và lối đi; phiến lát
đường thường được sử dụng đặc biệt hơn để lát sân và sàn, hoặc bệ đặt
trước lò đốt (hearth slab). Cả hai loại có thể được làm từ đất sét hoặc các
chất liệu thô vô cơ khác, thường được định hình bằng cách ép đùn hoặc ép
ở nhiệt độ phòng, nhưng có thể được hình thành bởi các quá trình khác, rồi
sấy khô và sau đó nung ở nhiệt độ đủ để biểu lộ các thuộc tính cần thiết.
Tuy nhiên những loại phải chịu sự mài mòn cao thường được thuỷ tinh hoá,
ví dụ, tấm lát của đồ gốm, hoặc sứ, hoặc từ steatit đã nung (ví dụ tấm lát
dùng để lót máy nghiền, v.v).
Khả năng kháng mài mòn và tốc độ thủy tinh hóa tùy thuộc vào cấu trúc
của tấm lát. Những đặc điểm cấu trúc này được biểu hiện bởi khả năng
hấp thụ nước. Mức độ hấp thụ nước cao tương ứng với cấu trúc xốp.
Mức độ hấp thụ nước thấp tương ứng với cấu trúc rắn chắc (được thuỷ
tinh hoá).
Độ xốp hoặc hệ số hấp thụ nước (ký hiệu E) được xác định bằng tỷ lệ
phần trăm của nước theo khối lượng sau khi bão hòa các mẫu sản phẩm
khô (tấm lát) trong nước.
Việc xác định mức độ hấp thu nước được dựa trên phương pháp chân
không quy định trong tiêu chuẩn ISO 10.545-3.
Công thức tính sự hấp thu nước được xác định bởi phương trình sau:
E = {(Mf-Mi) / Mi }x 100 Trong đó:
E = Sự hấp thụ nước thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm
Mi = Khối lượng khô của mẫu vật
Mf = Khối lượng bão hòa của mẫu vật
Không giống như gạch xây dựng, một số tấm lát gốm, sứ nhất định chỉ
được sử dụng cho việc lát đường, thường có hình lập phương hoặc ở
dạng ở dạng hình nón cụt. Thực tế, chúng thường làm bằng gốm hoặc,
đặc biệt, bằng sứ (ví dụ, phiến lát cho các phần đường giao nhau dành
cho người đi bộ).
Do vậy việc phân loại các sản phẩm trong nhóm này được xác định bởi
hình dạng và kích thước của chúng, hơn là dựa vào thành phần của
chúng; vì vậy gạch phù hợp để dùng cả trong xây dựng và cho lát đường
được loại trừ (thuộc nhóm 69.04).
Hàng hoá của nhóm này có thể được nhuộm màu toàn bộ, được cẩm
thạch hoá, tạo vân nổi, tạo khe (channeled), tạo rãnh (fluted), làm bóng
Theo các điều kiện nêu trên, nhóm này cũng bao gồm:
(1) Các sản phẩm gốm sứ để hoàn thiện như các miếng tấm lát bao
viền, gờ đỉnh tường, ốp chân tường, đường viền, góc hoặc các viên,
tấm ghép khác được dùng để hoàn thiện việc ốp, lát, vv., các sản
phẩm trên có đặc tính của những mảnh để hoàn thiện có hoặc không
có các cạnh tròn, dạng không phẳng hoặc dạng ba chiều. Trong
trường hợp cụ thể đối với các miếng tấm lát bao viền, gờ đỉnh
tường, ốp chân tường, đường viền, miếng góc, chèn trang trí và phụ
kiện gốm, sứ khác cần phải phù hợp với các tấm lát cơ bản khác, vì
vậy bề mặt của chúng thường có cùng màu hoặc cùng lớp hoàn
thiện của tấm lát bình thường. Chúng thường được bán theo tấm
hoặc theo mét.
(2) Ngói đôi được tách ra trước khi sử dụng.
(3) Bộ phận đất nung đã được sơn phủ dùng trong ngành công nghiệp
xây dựng cho mục đích ốp bên ngoài hoặc bên trong, có kích thước
khác nhau, cùng một cấu trúc mô đun, được gắn bởi, ví dụ như kẹp
kim loại cho việc định hình kim loại ngang hoặc dọc được gắn vào
các bức tường của cấu trúc chính.
(4) Khối khảm hoặc các sản phẩm tương tự, có hoặc không có lớp nền
bằng giấy hoặc lớp nền khác, và chúng thường có kích thước nhỏ.
Mặt khác, nhóm này không bao gồm:
(a) Tấm lát được dùng như là tấm lót bàn ăn (table mats), vv. (nhóm
69.11 hoặc 69.12).
(b) Đồ trang trí và các sản phẩm tương tự thuộc nhóm 69.13.
(c) Tấm lát gốm, sứ được thiết kế đặc biệt cho bếp, lò (nhóm 69.14).
Chú Giải Chi Tiết Phân Nhóm.
Phân nhóm 6907.40
Hình ảnh của một số loại sản phẩm gốm sứ để hoàn thiện thuộc phân
nhóm này được mô tả như sau.
69.09 - Đồ gốm sứ dùng trong phòng thí nghiệm, dùng trong lĩnh
vực hóa học hoặc kỹ thuật khác; máng, chậu và các vật
chứa tương tự dùng trong nông nghiệp bằng gốm, sứ; bình,
hũ, liễn và các sản phẩm tương tự bằng gốm, sứ dùng trong
việc chuyên chở hoặc đóng hàng (+)
- Đồ gốm sứ dùng trong phòng thí nghiệm, dùng trong
hóa học hoặc kỹ thuật khác:
6909.11 - - Bằng sứ
6909.12 - - Các sản phẩm có độ cứng tương đương từ 9 trở
lên trong thang đo độ cứng Mohs
6909.19 - - Loại khác
6909.90 - Loại khác
Nhóm này gồm toàn bộ các sản phẩm khác nhau thường được làm từ
gốm đã được thủy tinh hóa (đồ gốm, sứ hoặc đồ sứ, gốm steatit, v.v) đã
tráng men hoặc chưa tráng men. Tuy nhiên nhóm này không bao gồm
sản phẩm chịu lửa các loại được thiết kế để chịu được các mức nhiệt độ
cao như đã mô tả ở phần Chú giải giải tổng quát của Phân chương I. Tuy
nhiên các sản phẩm không được thiết kế phù hợp với các mức nhiệt
độ cao vẫn được xếp vào nhóm này ngay cả khi chúng được làm từ các
vật liệu chịu lửa (ví dụ các thanh dẫn sợi dệt, thiết bị nghiền, v.v bằng
nhôm thiêu kết).
Cụ thể, nhóm này bao gồm :
(1) Đồ dùng trong phòng thí nghiệm (ví dụ, cho mục đích nghiên cứu
hoặc công nghiệp...), như chén nung và nắp của chén nung, cupen,
cối và chày, thìa múc axit, dao phết, giá đỡ bộ lọc và chất xúc tác,
đĩa lọc, ống dẫn, nến, côn, phễu, v.v; bể chứa nước, cốc có mỏ, bình
chứa có khắc chia độ (trừ các bình chứa có khắc chia độ dùng trong
gia đình); đĩa dùng trong phòng thí nghiệm, máng chứa thủy ngân,
các ống dẫn nhỏ (ví dụ các ống đốt bao gồm các ống phân tích ước
tính lưu huỳnh, cacbon v.v).
(2) Đồ gốm, sứ dùng cho mục đích kỹ thuật khác, như bơm, van, bình cổ
cong, thùng to, bể chứa hoá chất và các bình chứa tĩnh khác có một
hoặc hai thành (ví dụ dùng để đúc điện, chứa axit); vòi dẫn a xít,
cuộn dây, cột và cuộn dây phân đoạn hoặc chưng cất… vòng
Raschig dùng cho các thiết bị phân đoạn sử dụng xăng dầu; các thiết
bị nghiền và bi nghiền, v.v dùng cho máy nghiền; các thanh dẫn sợi
dệt cho máy dệt và các khuôn để đùn sợi dệt nhân tạo; tấm, thanh,
và các sản phẩm tương tự dùng cho các dụng cụ cầm tay.
(3) Bình chứa các loại dùng để chuyên chở hoặc đóng gói sản phẩm, ví
dụ các bình chứa lớn, bình axit, v.v để chuyên chở axit và các sản
phẩm hoá chất khác; hũ, liễn sành, bình đựng,...dùng để đựng thực
phẩm (ví dụ: mứt, mù tạt, gia vị, gan béo, rượu mùi, rượu, dầu,....),
hoặc dùng để chứa dược phẩm và các loại mỹ phẩm, (ví dụ: mỡ bôi,
thuốc bôi dạng kem, kem...) hoặc để đựng mực...v.v...
(4) Máng, chậu và các đồ chứa tương tự dùng trong nông nghiệp.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các sản phẩm thuộc nhóm 68.04
(b) Các loại bình cổ cong, chén nung thường, chén nung cupen và các
sản phẩm tương tự bằng vật liệu chịu lửa (nhóm 69.03).
(c) Các bình chứa dùng trong gia đình và nhà bếp (hộp dựng chè, thùng
đựng bánh mì, hộp đựng bánh bích qui,...) (nhóm 69.11 hoặc
(d) Các hộp, bình chứa cho mục đích chung, dùng cho phòng thí nghiệm
và các loại lọ dùng trong cửa hàng dược phẩm, cửa hàng bán mứt
kẹo (nhóm 69.14).
(e) Các sản phẩm bằng gốm kim loại (nhóm 81.13).
(f) Các thiết bị điện (ví dụ: bộ chuyển mạch, hộp nối, công tắc, cầu
chì....) thuộc các nhóm từ 85.33 đến 85.38 cũng như các bộ phận
cách điện, các phụ kiện cách điện, v.v thuộc các nhóm 85.46 hoặc
Chú giải chi tiết phân nhóm
Phân nhóm 6909.12
Phân nhóm này gồm các sản phẩm gốm có đặc tính cao. Các sản phẩm
này bao gồm một ma trận ceramic tinh thể (ví dụ: bằng nhôm, các bua
silic, Ziriconi, hoặc nitrua silic, bo hoặc nhôm, hoặc bằng hợp chất của
chúng); tơ hoặc sợi của các vật liệu gia cố (ví dụ: bằng kim loại, hay
graphit) cũng có thể bị phân tán trong ma trận để tạo ra một nguyên liệu
gốm hỗn hợp.
Các sản phẩm này có đặc điểm là ma trận có độ xốp rất thấp và trong đó
kích cỡ hạt rất nhỏ; có độ chịu mài mòn, độ ăn mòn và sức chịu va đập
nhiệt cao; có độ bền ở nhiệt độ cao; và có các tỉ lệ tương quan giữa độ
bền và trọng lượng có thể bằng hoặc cao hơn sơ với các tỉ lệ của thép.
Các sản phẩm này thường được dùng để thay thế cho các bộ phận bằng
thép, hoặc bằng các kim loại khác dùng trong các ứng dụng cơ khí đòi hỏi
độ dung sai về kích thước ít (ví dụ rô to của máy nén tua bin trong động
cơ, giá đỡ máy cán và các dụng cụ của máy).
Thang Mohs được đề cập đến trong phân nhóm này phân loại vật liệu theo
khả năng làm xây xước bề mặt của vật liệu ở dưới độ cứng của nó trên
thang Mohs. Các vật liệu được phân loại từ 1 (đối với bột tan) đến 10 (đối
với kim cương). Đa số các vật liệu gốm có đặc tính cao được xếp ở phần
trên của thang. Các bua silic và ô xít nhôm, cả hai nguyên liệu này đều
được dùng để sản xuất các sản phẩm gốm có đặc tính cao, được xếp thứ 9
hoặc cao hơn trong thang Mohs. Để phân biệt các vật liệu cứng hơn, thang
Mohs đôi khi được mở rộng thêm, với bột tan là 1 và kim cương là 15.
Trên thang Mohs được mở rộng, nhôm nóng chảy có độ cứng tương
đương với 12 và cacbua silic có độ cứng tương đương với 13.
69.10 - Bồn rửa, chậu rửa, bệ chậu rửa, bồn tắm, bệ rửa vệ sinh
(bidets), bệ xí, bình xối nước, bệ đi tiểu và các sản phẩm vệ
sinh tương tự bằng gốm, sứ gắn cố định.
6910.10 - Bằng sứ
6910.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các thiết bị được thiết kế để gắn cố định trong nhà,
v.v, thường bằng cách nối với các hệ thống nước hoặc nước thải. Do vậy
chúng phải được thiết kế không thấm nước bằng cách tráng men hoặc
bằng cách nung kéo dài (ví dụ, đồ sứ, đồ gốm, sứ vệ sinh bằng đất sét
nung, đồ giả sứ, hoặc đồ sứ dạng thuỷ tinh). Ngoài các thiết bị được liệt
kê cụ thể trên, nhóm này còn bao gồm các hạng mục như bể chứa
(cistern) dùng trong phòng vệ sinh.
Bình xối nước bằng gốm vẫn được xếp trong nhóm này, cho dù chúng
có được trang bị các bộ phận bằng cơ khí hay không.
Tuy nhiên, nhóm này không gồm các phụ kiện vệ sinh hoặc các phụ
kiện nhỏ cho nhà tắm, như đĩa đựng xà bông, hộp đựng đá kỳ, giá để bàn
chải đánh răng, móc treo khăn tắm và giá để giấy vệ sinh, kể cả loại
được thiết kế để gắn cố định lên tường và cũng không bao gồm các thiết
bị vệ sinh có thể dịch chuyển như bồn tắm, tiểu treo; các sản phẩm này
được xếp vào nhóm 69.11 hoặc 69.12.
69.11 - Bộ đồ ăn, bộ đồ nhà bếp, đồ gia dụng và đồ sứ vệ sinh khác,
bằng sứ.
6911.10 - Bộ đồ ăn và bộ đồ nhà bếp
6911.90 - Loại khác
Xem phần chú giải chi tiết của nhóm 69.12.
69.12 - Bộ đồ ăn, bộ đồ nhà bếp, đồ gia dụng và đồ vệ sinh bằng
gốm, trừ loại bằng sứ
Bộ đồ ăn, bộ đồ bếp, đồ gia dụng và đồ dùng vệ sinh được xếp vào
nhóm 69.11 nếu các sản phẩm này được làm bằng sứ và vào nhóm
69.12 nếu các sản phẩm đó bằng gốm như đồ gốm, đồ giả sứ (xem
Chú giải tổng quát của phân Chương II).
Do vậy nhóm này bao gồm:
(A) Bộ đồ ăn như các bộ uống chè, cà phê, các loại đĩa, nồi đựng súp,
bát đựng xa lát, đĩa và khay các loại, bình pha cà phê, ấm chè, lọ
đựng đường, tách uống nước, bát đựng nước xốt, đĩa đựng món ăn
khai vị, mâm bồng, giỏ và làn đựng (ví dụ để đựng bánh, hoa quả...),
lọ đựng bơ, đĩa đựng xà lách, lọ đựng mù tạt, cốc đánh trứng, phần
đế của đĩa đựng, cái để dao, thìa, mắc treo khăn mặt...
(B) Các loại dụng cụ dùng trong nhà bếp như: xoong, chảo, nồi nấu, nồi
hầm các hình dạng và kích cỡ, đĩa để quay hoặc nướng đồ ăn, chậu,
khuôn làm bánh hoặc đổ thạch jelly, hũ đựng, lọ đựng mứt, đựng
mỡ, đựng đồ ăn, muối, , các loại lọ đựng trong bếp, (ví dụ lọ đựng
bột trà, hộp đựng bánh mỳ, ....vv), phễu các loại, muôi, dụng cụ nhà
bếp có chia độ, có thước đo, cây lăn bột...
(C) Các loại đồ gia dụng khác như gạt tàn thuốc lá, bình nước nóng,
hộp đựng bao diêm....
(D) Đồ vệ sinh (cho dù được dùng trong gia đình hay không) như bộ đồ
vệ sinh (bình, chậu, v.v) , bồn tắm vòi hoa sen, chậu vệ sinh, tiểu
treo, bình nhổ, bốc thụt rửa, chậu tắm; hộp đựng xà phòng, xà treo
khăn, cái treo bàn chải đánh răng, giá treo giấy vệ sinh, móc treo
khăn tắm, và các sản phẩm tương tự dùng để sử dụng trong buồng
tắm, phòng vệ sinh, nhà bếp, cho dù chúng được thiết kế để gắn
hoặc lắp lên tường hay không.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Bình, hũ, liễn và các sản phẩm tương tự bằng gốm, sứ dùng trong
việc chuyên chở hoặc đóng hàng (nhóm 69.09).
(b) Bồn tắm, bệ xí, bồn rửa và các phụ kiện vệ sinh tương tự (nhóm 69.10).
(c) Tượng nhỏ và các sản phẩm trang trí khác thuộc nhóm 69.13.
(d) Đồ gốm có các chỉnh sửa bavia nhỏ bằng kim loại quý hoặc được
mạ kim loại với kim loại quý (Chương 71).
(e) Cối xay cà phê và xay gia vị có các hộp đựng bằng gốm và có các
bộ phận bằng kim loại (nhóm 82.10).
(f) Các thiết bị nhiệt-điện (dùng để nấu, nung nóng, v.v) kể cả các bộ
phận làm nóng bằng điện (đĩa nấu, điện trở làm nóng, v.v) thuộc
nhóm 85.16.
(g) Các sản phẩm thuộc Chương 91, kể cả vỏ hộp đồng hồ.
(h) Bật lửa thuộc nhóm 96.13 và các bình xịt nước hoa (nhóm 96.16).
69.13 - Các loại tượng nhỏ và các loại sản phẩm trang trí bằng gốm,
sứ khác
6913.10 - Bằng sứ
6913.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại sản phẩm bằng gốm, sứ được thiết kế chủ
yếu để trang trí nội thất trong nhà, văn phòng phòng họp, nhà thờ....
hoặc dùng để trang trí bên ngoài (ví dụ trang trí vườn).
Tuy nhiên, nhóm này không gồm các sản phẩm thuộc các nhóm mô tả
cụ thể hơn của Danh mục ngay cả khi chúng thích hợp vì lý do bản chất
hoặc phù hợp cho mục đích trang trí, v.v :
(a) Mái đua, viền chân tường và các sản phẩm trang trí kiến trúc tương
tự (nhóm 69.05).
(b) Hàng hóa có các phụ kiện nhỏ nhiều hơn được làm bằng kim loại quý
hoặc kim loại mạ kim loại quý (Chương 71).
(c) Đồ trang sức làm bằng vật liệu khác (nhóm 71.17).
(d) Khí áp kế, nhiệt kế và các thiết bị khác thuộc Chương 90.
(e) Đồng hồ, cũng như vỏ của chúng, kể cả khi các sản phẩm này được
trang trí, ví dụ: các bức tượng nhỏ và các vật tương tự được thiết
kế làm vỏ hộp đồng hồ. (Chương 91).
(f) Đèn (luminaires) và bộ đèn và kể cả bộ phận của chúng thuộc nhóm
(g) Đồ chơi, thiết bị trò chơi, và dụng cụ, thiết bị thể thao (Chương 95).
(h) Khuy, tẩu hút thuốc, bật lửa bàn, các bình xịt nước hoa và các sản
phẩm khác thuộc Chương 96.
(ij) Tranh, tác phẩm hội họa hoàn toàn được làm bằng tay cũng như các
các bức tượng độc đáo và các sản phẩm trong các bộ sưu tập, đồ cổ
hơn 100 năm (Chương 97).
Nhóm này bao gồm:
(A) Các sản phẩm mà không còn giữ được giá trị sử dụng nhưng
hoàn toàn là các sản phẩm trang trí, và các sản phẩm chỉ được
dùng để đỡ hoặc chứa các sản phẩm trang trí khác hoặc để tăng
thêm hiệu quả trang trí, ví dụ:
(1) Các bức tượng, tượng nhỏ, tượng bán thân, các bức phù điêu
chạm nổi và các mô típ trang trí tương tự dùng để trang trí nội
thất hoặc bên ngoài; các vật trang trí (bao gồm các vật tạo thành
các bộ phận của bộ đồng hồ) cho các vật ốp trên mặt lò sưởi,
các giá để, v.v (các động vật, các chi tiết hình tượng hoặc phúng
dụ, v.v); cúp thể thao hoặc nghệ thuật; các vật trang trí trên
tường kèm theo các phụ kiện để treo (đĩa, khay); các tấm lắc,
vách ngăn lò sưởi, hoa, quả, lá nhân tạo, v.v; vòng hoa và các
vật trang trí tương tự dùng cho các bia mộ; các loại đồ mỹ nghệ
bày trên giá hoặc trong tủ kính.
(2) Cây thánh giá và các đồ trang trí nhà thờ hoặc tôn giáo khác.
(3) Các loại bình, chậu cảnh, bát cắm hoa để bàn và lọ độc bình
được sử dụng hoàn toàn để trang trí.
(B) Bộ đồ ăn và các đồ dùng gia đình trong đó tính chất trang trí quan
trọng hơn tính chất sử dụng trong gia đình, ví dụ mâm có các mô típ
trang trí chạm nổi không cho phép sử dụng bình thường, gạt tàn thuốc
lá có cấu tạo đặc biệt mà chức năng dùng để đựng, chứa chỉ là phụ, các
đồ vật có các tiểu tiết không có khả năng sử dụng trong thực tế. Tuy
nhiên, thông thường, bộ đồ ăn và đồ dùng gia đình được thiết kế chủ
yếu để phục vụ mục đích hữu dụng và các chi tiết trang trí thường là
phụ sao cho không làm suy yếu sự hữu ích. Khi đó, khả năng sử dụng
thực tế của các sản phẩm được trang trí cũng giống như tính năng của
các sản phẩm không được trang trí, các sản phẩm trên thuộc các nhóm
69.11 và 69.12, và không thuộc nhóm này.
(C) Các sản phẩm (trừ bát đĩa và đồ dùng trong gia đình) được sử
dụng nhằm mục đích trang trí nhà ở, phòng làm việc... Ví dụ, bộ
dụng cụ cho người hút thuốc, hộp đựng đồ trang sức , hộp đựng
kẹo, hộp đựng thuốc lá, lư hương, hộp mực, ke giữ sách, chặn giấy
và các đồ dùng văn phòng tương tự và các khung ảnh.
(3) Purely ornamental table-bowls, vases, pots, jardinières.
69.14 - Các sản phẩm khác bằng gốm , sứ khác
6914.10 - Bằng sứ
6914.90 - Loại khác
Nhóm này gồm toàn bộ các sản phẩm bằng gốm, sứ không thuộc các
nhóm khác của chương này hoặc ở các chương khác của Danh mục hàng
hoá.
Nhóm này gồm:
(1) Lò sưởi và các thiết bị làm nóng, được làm chủ yếu bằng gốm
(thường bằng đồ gốm sành, đôi khi bằng gốm thông thường, v.v);
các tấm bên bằng gạch nung không chịu lửa, các bộ phận gốm của
lò hoặc lò sưởi, các lớp lót gốm cho lò đốt bằng gỗ, kể cả gạch các
loại được thiết kế đặc biệt cho lò nung. Tuy nhiên, các thiết bị làm
nóng bằng điện được phân loại vào nhóm 85.16.
(2) Chậu hoa không trang trí (ví dụ dùng trong làm vườn)
(3) Các phụ kiện của cửa ra vào, cửa sổ, v.v... như nắm tay mở cửa,
núm cửa, tấm chắn hoặc tay nắm, núm cửa kéo cho nhà vệ sinh.
(4) Chữ cái, chữ số, tấm biển chỉ dẫn, và các mô tuýp tương tự dùng làm
biển hiệu cho cửa hàng, cửa sổ, có hoặc không có tranh ảnh hoặc nội
dung được in sẵn, trừ khi được chiếu sáng (nhóm 94.05).
(5) Các nút có tay gạt bằng lò xo, v.v chủ yếu bằng gốm, sứ (ví dụ dùng
cho các chai đựng nước chanh)..
(6) Lọ và các vật chứa đựng có mục đích dùng chung cho phòng thí
nghiệm và lọ trưng bày trong hiệu thuốc, cửa hàng bánh mứt kẹo).
(7) Các sản phẩm phẩm khác như chuôi dao và lọ mực của học sinh,
thiết bị làm ẩm trong bộ tản nhiệt của máy sưởi trung tâm, các đồ
phụ kiện của lồng chim...v.v.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Răng giả bằng gốm, sứ (nhóm 90.21).
(b) Đồ chơi, thiết bị trò chơi, và dụng cụ, thiết bị thể thao (Chương 95).
(c) Khuy, ống tẩu và các sản phẩm khác của Chương 96.
Chương 70
Thuỷ tinh và các sản phẩm bằng thủy tinh
Chú giải.
1. - Chương này không bao gồm :
(a) Hàng hoá thuộc nhóm 32.07 (ví dụ, men kính và men sứ, frit
thủy tinh, thuỷ tinh khác ở dạng bột, hạt hoặc vẩy);
(b) Các sản phẩm thuộc Chương 71 (ví dụ, đồ trang sức làm bằng
chất liệu khác);
(c) Cáp sợi quang thuộc nhóm 85.44, vật cách điện (nhóm 85.46)
hoặc các phụ kiện bằng vật liệu cách điện thuộc nhóm 85.47;
(d) Kính chắn gió phía trước (kính chắn gió), cửa sổ phía sau và các
cửa sổ khác, có khung, dùng cho các loại phương tiện thuộc
Chương 86 đến Chương 88;
(e) Kính chắn gió phía trước (kính chắn gió), cửa sổ phía sau và các
cửa sổ khác, có hoặc không có khung, có gắn thiết bị sưởi hoặc
các thiết bị điện hoặc điện tử khác, dùng cho các loại phương
tiện thuộc Chương 86 đến Chương 88;
(f) Sợi quang học, các bộ phận quang học đã được gia công quang
học, ống tiêm dưới da, mắt giả, nhiệt kế, dụng cụ đo khí áp, máy
đo tỷ trọng chất lỏng hoặc các sản phẩm khác của Chương 90;
(g) Đèn (luminaires) hoặc bộ đèn, các biển hộp được chiếu sáng, các
biển đề tên được chiếu sáng hoặc các loại tương tự, có nguồn
sáng cố định thường xuyên, hoặc các bộ phận của chúng thuộc
nhóm 94.05;
(h) Đồ chơi, thiết bị trò chơi, dụng cụ, thiết bị thể thao, các đồ trang
trí cây thông Nô-en hoặc các sản phẩm khác thuộc Chương 95
(trừ mắt thuỷ tinh không có bộ phận điều khiển, dùng cho búp bê
hoặc cho các sản phẩm khác thuộc Chương 95); hoặc
(ij) Khuy, bình chân không, bình xịt dầu thơm hoặc các bình xịt
tương tự hoặc các sản phẩm khác thuộc Chương 96.
2. - Theo mục đích của các nhóm 70.03, 70.04 và 70.05:
(a) Thuỷ tinh không được coi là "đã gia công" bởi bất cứ một quá
trình nào trước khi tôi luyện;
(b) Việc cắt thành hình không ảnh hưởng đến phân loại thuỷ tinh
dạng tấm;
(c) Khái niệm "lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu"
có nghĩa là lớp phủ cực mỏng bằng kim loại hoặc bằng hợp chất
hoá học (ví dụ oxit kim loại) mà lớp đó có tác dụng hấp thụ, ví
dụ, hấp thụ tia hồng ngoại hoặc để tăng tính phản chiếu của kính
trong khi vẫn giữ được độ trong suốt hoặc mờ; hoặc không cho
ánh sáng phản chiếu từ bề mặt của kính
3. - Những sản phẩm được kể đến trong nhóm 70.06 vẫn được phân loại
trong nhóm đó cho dù có hoặc không có đặc trưng của hàng hoá.
4.- Theo mục đích của nhóm 70.19, khái niệm "len thuỷ tinh" có nghĩa
là:
(a) Len khoáng vật với hàm lượng dioxit silic (SiO2) không dưới
60% tính theo trọng lượng;
(b) Len khoáng vật với hàm lượng dioxit silic (SiO2) dưới 60% tính
theo trọng lượng nhưng với một hàm lượng oxit kiềm (K2O hoặc
Na2O) trên 5% tính theo trọng lượng hoặc hàm lượng oxit boric
(B2O3) trên 2% tính theo trọng lượng.
Len khoáng vật không có những đặc điểm kỹ thuật ở trên được phân
loại trong nhóm 68.06.
5. - Trong bảng Danh mục này, khái niệm "thuỷ tinh" kể cả thạch anh
nấu chảy và dioxit silic nấu chảy khác
Chú giải phân nhóm.
1. Theo mục đích của các phân nhóm 7013.22, 7013.33, 7013.41 và
7013.91, khái niệm "pha lê chì" có nghĩa là chỉ loại thuỷ tinh có hàm
lượng chì monoxit (PbO) tối thiểu là 24% theo khối lượng.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm thuỷ tinh ở tất cả các dạng và các sản phẩm bằng
thuỷ tinh (trừ các sản phẩm được loại trừ tại chú giải 1 của chương này
hoặc những sản phẩm được đề cập một cách cụ thể hơn bởi các nhóm
khác của danh mục).
Thuỷ tinh (Trừ thạch anh thạch anh nung chảy và dioxit silic nung chảy
khác được đề cập dưới đây) là một hỗn hợp nấu chảy đồng nhất, theo
những tỷ lệ thay đổi, của silicat kiềm (natri hoặc kali) với một hay nhiều
silicat của canxi và chì, và các chất phụ trợ các silicate của bari, nhôm,
mangan, magiê, ...
Căn cứ vào thành phần của thuỷ tinh thì có rất nhiều loại thủy tinh (ví
dụ: thuỷ tinh Bohem, thuỷ tinh cron, thuỷ tinh pha lê chì, thuỷ tinh
quang học, thuỷ tinh giả kim cương Strass). Những loại thuỷ tinh này
không kết tinh (vô định hình) và hoàn toàn trong suốt.
Các nhóm khác nhau của chương này bao gồm các sản phẩm tương ứng
không phụ thuộc vào các dạng thuỷ tinh mà chúng bao gồm.
Các phương pháp sản xuất thay đổi đáng kể bao gồm:
(A) Phương pháp đúc (ví dụ: để sản xuất kính tấm).
(B) Phương pháp cán (ví dụ để sản xuất kính tấm hoặc kính có cốt lưới).
(C) Phương pháp làm nổi (để sản xuất kính nổi).
(D) Phương pháp đổ khuôn, có hoặc không kết hợp với các phương pháp
ép, thổi hoặc kéo (ví dụ: để sản xuất chai lọ, cốc vại, một số loại
kính quang học, gạt tàn thuốc lá).
(E) Phương pháp thổi, cơ khí hoặc phi cơ khí, có hoặc không có khuôn
(ví dụ, để sản xuất chai, ống dạng ampoule, đồ trang trí và đôi khi
để sản xuất kính tấm).
(F) Phương pháp kéo hoặc đùn (đặc biệt dùng cho sản xuất kính tấm,
thanh, ống và ống dẫn, và thuỷ tinh sợi).
(G) Phương pháp ép, dùng với khuôn, thường được sử dụng như quá
trình sản xuất gạt tàn thuốc lá, và cũng kết hợp với phương pháp cán
(ví dụ đối với kính cán hoa văn) hoặc phương pháp thổi (ví dụ, để
sản xuất chai).
(H) Phương pháp gia công đèn xì, với sự trợ giúp của một đèn xì (để sản
xuất ống dạng ampoule, các sản phẩm trang trí,... từ thanh hoặc ống
thuỷ tinh).
(IJ) Phương pháp cắt các sản phẩm theo yêu cầu từ các phôi, khối cầu,...
thu được bởi bất kỳ quá trình nào (đặc biệt là các sản phẩm từ thạch
anh nung chảy hoặc dioxit silic nung chảy khác thu được từ các phôi
có tiết diện đặc hoặc rỗng).
Đối với thuỷ tinh đa bào, xem Chú giải Chi tiết của nhóm 70.16.
Trong một số trường hợp, phương pháp sản xuất các sản phẩm quyết
định việc phân loại của chúng trong chương này. Ví dụ, nhóm 70.03 chỉ
áp dụng đối với thuỷ tinh đúc hoặc cán, và nhóm 70.04 chỉ áp dụng đối
với thuỷ tinh kéo và thổi.
Chú giải 5 Chương này quy định rằng khái niệm "thuỷ tinh" bao gồm cả
thạch anh nung chảy và dioxit silic nung chảy khác.
Chương này cũng bao gồm:
(1) Thuỷ tinh trắng đục hoặc mờ đục: là những thuỷ tinh trong mờ và
thu được bằng cách bổ sung thêm các nguyên liệu như canxi florua
hoặc tro xương (theo tỷ lệ khoảng 5%) vào cả khối thuỷ tinh; vật
liệu được bổ sung thêm này làm tăng sự kết tinh từng phần của khối
nấu chảy trong quá trình làm nguội hay làm nóng lại.
(2) Các vật liệu đặc biệt được biết đến như gốm thuỷ tinh, là loại mà
trong đó thuỷ tinh được chuyển thành vật liệu gần như hoàn toàn kết
tinh bởi một quá trình kết tinh được kiểm soát. Chúng được tạo ra
bằng cách thêm vào phối liệu thuỷ tinh các chất tạo mầm kết tinh
thường là ôxit kim loại (ví dụ như titan điôxit và ôxit ziriconi) hoặc
các kim loại (như bột đồng). Sau khi sản phẩm được tạo hình bằng
các phương pháp kỹ thuật làm thủy tinh thông thường, nó được duy
trì ở mức nhiệt độ đủ để đảm bảo sự kết tinh của khối thuỷ tinh xung
quanh các tinh thể tạo mầm (sự hoá mờ). Gốm thuỷ tinh có thể mờ
đục hoặc đôi khi trong suốt. Chúng có các đặc tính bền cơ học, đặc
tính điện và chịu nhiệt tốt hơn nhiều so với thuỷ tinh thông thường.
(3) Thuỷ tinh có hệ số giãn nở thấp, ví dụ như thuỷ tinh borosilicat.
70.01 - Thủy tinh vụn và thủy tinh phế liệu và mảnh vụn khác, trừ
thủy tinh từ ống đèn tia ca-tốt hoặc thủy tinh hoạt tính khác
thuộc nhóm 85.49; thủy tinh ở dạng khối.
Nhóm này bao gồm:
(A) Thuỷ tinh vụn và thủy tinh phế liệu của tất cả các loại thu được từ
quá trình gia công thuỷ tinh (bao gồm cả phế liệu thuỷ tinh bắn ra
bên ngoài bể nấu và sau đó được thu hồi), và các sản phẩm bị vỡ.
Thuỷ tinh phế liệu nói chung có đặc điểm là các cạnh sắc.
(B) Thuỷ tinh ở dạng khối (kể cả thuỷ tinh "tráng men"), (ít nhiều ở
dạng các khối thông thường), không có mục đích sử dụng cụ thể.
Thuỷ tinh "tráng men" có tính nóng chảy lớn hơn và tỷ trọng cao
hơn so với hầu hết các loại thuỷ tinh thông thường. Loại thuỷ tinh
này thường mờ đục mặc dù thỉnh thoảng trong suốt, nó có thể không
màu hoặc có các màu khác nhau. Nó được phân loại trong nhóm này
khi ở dạng khối (ở dạng cục hoặc tấm, phiến). Nó được sử dụng để
nhuộm màu hoặc làm mờ đục thuỷ tinh khác, để gia công bằng đèn
xì thành các đồ trang trí,... và để tráng men đồ gốm,...
Nhóm này cũng bao gồm vitrit ở dạng khối, một loại thuỷ tinh có điểm
nóng chảy thấp, được dùng để cách điện các điểm tiếp xúc tại chân các
bóng đèn điện. Nó có hàm lượng điôxit mangan cao tạo cho nó có màu
hơi đen để che các phụ tùng bên trong của chân bóng.
Thuỷ tinh (kể cả vitrit và thuỷ tinh "tráng men") ở dạng bột, hạt hoặc vẩy
là bị loại trừ ( nhóm 32.07).
70.02 - Thuỷ tinh ở dạng hình cầu (trừ loại vi cầu thủy tinh thuộc
nhóm 70.18), dạng thanh hoặc ống, chưa gia công.
7002.10 - Dạng hình cầu
7002.20 - Dạng thanh
- Dạng ống:
7002.31 - -Bằng thạch anh nung chảy hoặc các dạng điôxit silic
nung chảy khác
7002.32 - -Bằng thuỷ tinh khác có hệ số giãn nở tuyến tính không
vượt quá 5x10-6/độ Kêvin khi ở nhiệt độ từ 00C đến
7002.39 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(1) Thủy tinh ở dạng hình cầu đặc, thường được sản xuất bằng cách đúc
hoặc ép hoặc bằng máy đùn trục vít đôi, và những loại mà không kể
đến các mục đích khác có thể được sử dụng như nguyên liệu thô để
sản xuất sợi, hoặc cho việc chuẩn bị các bản in litô.
(2) Các thanh và ống thuỷ tinh có đường kính khác nhau, là những loại
thường thu được bằng quy trình kéo (kết hợp với phương pháp thổi
trong trường hợp làm thành ống), chúng có thể được sử dụng cho
nhiều mục đích (ví dụ, làm dụng cụ thí nghiệm hoá học hoặc thiết bị
công nghiệp; dùng trong công nghiệp dệt, hơn thế nữa là trong sản
xuất nhiệt kế, ống dạng ampoule, các bóng đèn điện hoặc đèn điện
tử, hoặc các đồ trang trí). Một số ống đèn huỳnh quang (được sử
dụng chủ yếu cho các mục đích quảng cáo) được kéo với những
vách ngăn chạy suốt chiều dài.
Nhóm này bao gồm cả thuỷ tinh "tráng men", ở dạng thanh, que hoặc
ống (thuỷ tinh "tráng men" được định nghĩa trong chú giải nhóm 70.01).
Dạng hình cầu thuộc nhóm này phải là loại chưa được gia công; Tương
tự, dạng thanh và dạng ống phải là loại chưa được gia công (như thu
được trực tiếp từ quá trình kéo hoặc chỉ được cắt thành các đoạn mà các
đầu đoạn có thể chỉ đơn giản được làm nhẵn).
Nhóm này không bao gồm các thành phẩm hoặc bộ phận của các thành
phẩm có thể nhận biết được ở dạng hình cầu, dạng thanh và ống, chúng
được phân loại theo nhóm thích hợp (ví dụ, nhóm 70.11, 70.17, 70.18
hoặc Chương 90). Nếu đã được gia công, nhưng không cho một mục
đích cụ thể, chúng sẽ được phân loại vào nhóm 70.02.
Nhóm này bao gồm các dạng ống (đã hoặc chưa được cắt thành đoạn)
bằng thuỷ tinh đã được thêm vật liệu phát huỳnh quang. Mặt khác, các
ống được phủ vật liệu phát huỳnh quang bên trong, đã hoặc chưa được
gia công cách khác, bị loại trừ (nhóm 70.11).
Thủy tinh ở dạng hình cầu có đặc tính của đồ chơi (thủy tinh có vân cẩm
thạch ở bất kỳ dạng nào, và Thủy tinh ở dạng hình cầu được đóng trong
các gói nhỏ dùng cho việc vui chơi giải trí của trẻ con) được phân loại
vào nhóm 95.03. Thủy tinh ở dạng hình cầu được mài nhẵn sau khi tạo
hình, sử dụng làm nút chai sẽ được xếp vào nhóm 70.10.
Nhóm này cũng không bao gồm vi cầu thủy tinh (đường kính không quá
1mm) được sử dụng như để sản xuất các biển báo hiệu giao thông, các biển
phản quang hoặc các màn hình chiếu bóng hoặc được sử dụng trong việc làm
sạch động cơ phản lực của máy bay hoặc bề mặt kim loại (nhóm 70.18).
70.03 - Thuỷ tinh đúc và thuỷ tinh cán, ở dạng tấm hoặc dạng hình,
đã hoặc chưa tráng lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không
phản chiếu, nhưng chưa gia công cách khác.
- Dạng tấm không có cốt lưới:
7003.12 - - Thuỷ tinh được phủ màu toàn bộ, mờ, sáng hoặc có
tráng lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản
chiếu:
7003.19 - - Loại khác
7003.20 - Dạng tấm có cốt lưới
7003.30 - Dạng hình
Nhóm này bao gồm tất cả các loại thuỷ tinh đúc và thuỷ tinh cán ở dạng
tấm (bất kể độ dầy và đã hoặc chưa cắt thành hình), hoặc dạng hình, đã
hoặc chưa tráng lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu,
nhưng chưa gia công cách khác.
Nhóm này bao gồm:
(A) Thuỷ tinh dạng tấm chưa được gia công. Loại này nói chung không
trong suốt do các bề mặt của nó nổi hạt và thô ráp. Loại này cũng có
thể được phủ màu nhân tạo toàn bộ bằng các ôxit kim loại hoặc các
muối khác. Thuỷ tinh dạng tấm đã được mài hoặc mài bóng bề mặt
không được đưa vào này (nhóm 70.05).
(B) Thuỷ tinh không trong suốt, mà ít nhiều bị mờ đi và đôi khi hoàn
toàn mờ đục. Nó thường có hình dạng bên ngoài giống với đá cẩm
thạch, đồ sứ hoặc thạch cao. Dạng thuỷ tinh này được gia công theo
các màu trắng, đen và các màu khác, trơn hoặc có vân, và được sử
dụng để ốp tường, để làm phần bề mặt bồn rửa, khay đựng xà
phòng, bề mặt quầy hàng, mặt bàn làm việc, mặt bàn, bàn phẫu
thuật,.... làm bia mộ, làm bảng quảng cáo, hộp tín hiệu,..
Dạng thuỷ tinh này có thể được đánh bóng cơ học trên một hoặc cả
hai mặt, nhưng khi đã được xử lý như vậy thì nó sẽ bị loại trừ khỏi
nhóm này (nhóm 70.05). Ở trạng thái chưa gia công dạng thuỷ tinh
này có dấu vết do tiếp xúc với con lăn hoặc có thể mang các dấu vết
tạo thành từ quá trình đúc. Bất kỳ loại thuỷ tinh mờ đục nào cũng có
một bề mặt gân hoặc thô nhằm thuận tiện cho việc cố định (không
rõ ý từ này).
(C) Một loại thuỷ tinh không trong suốt, với bề mặt không đều thu
được trong quá trình gia công. Nhóm này bao gồm thuỷ tinh đúc
thô, kính nhà thờ, kính nhà thờ đã được rèn,... thuỷ tinh cán có
một bề mặt được in họa tiết (đường kẻ sọc, các mẫu hình thoi, gờ,...)
thuỷ tinh được làm gợn sóng và thuỷ tinh đúc được gọi là thuỷ tinh
cổ (có nghĩa là thuỷ tinh có chứa các bọt khí, hoặc làm rạn trên bề
mặt, hoặc với những "lỗi sai sót" có chủ ý). thuỷ tinh thuộc các loại
này, những loại mà cũng có thể được phủ màu cả khối, được sử
dụng làm các cửa sổ của các nhà máy, cửa hàng, văn phòng, buồng
tắm, và nói chung là tất cả các công trình nhà cửa cần đến ánh sáng
nhưng với mức độ làm tối khác nhau.
Do tính chất của quá trình mà chúng được gia công, các loại thuỷ
tinh này không được làm phẳng bề mặt bằng cách xử lý thêm.
Như đã nêu, nhóm này chỉ bao gồm loại thuỷ tinh đúc và thuỷ tinh cán.
Phương pháp đúc (đang được thay thế bằng phương pháp cán, trừ trường
hợp bề mặt rộng), thuỷ tinh nóng chảy được đổ vào bàn đúc cố định. Có hai
gờ kim loại dọc theo các cạnh của bàn đúc để xác định độ dày của sản
phẩm. Thuỷ tinh nóng chảy được đổ ra hết khỏi nồi nấu kim loại đến phía
trước con lăn bằng kim loại nặng, con lăn này chạy trên các gờ và ép khối
thuỷ tinh sệt bằng độ dầy của các gờ. Ngay khi thuỷ tinh đạt độ đồng nhất
cần thiết, nó được đưa từ từ qua hầm ủ hoặc lò ủ thủy tinh, nơi có nhiệt độ
giảm dần về phía ngoài, tại đây nhiệt độ khá mát. Trong quá trình đúc, thủy
tinh dạng hình (ví dụ, hình chữ U) có thể thu được bằng cách uốn cong dải
thủy tinh theo chiều dọc khi còn ở trạng thái bán nóng chảy.
Phương pháp cán, thuỷ tinh nóng chảy đổ vào giữa các trục cán cho ra
thủy tinh dưới dạng dải liên tục hoặc ở dạng tấm hoặc dạng hình. Sau đó
nó được tự động chuyển vào lò ủ thủy tinh.
Phương pháp cán hoặc đúc, bề mặt của thủy tinh hoa văn, thủy tinh rèn,
v.v, sẽ được cán hoa văn. Với phương pháp đúc hoặc các bàn đúc hoặc
trục cán được khắc hoa văn để tạo hoa văn trên thuỷ tinh bán nóng chảy.
Với phương pháp cán, các hiệu ứng mong muốn thu được nhờ trục cán
cuối cùng được khắc hoa văn.
Các loại thủy tinh được mô tả ở trên có thể có những lỗ hổng thu được
trong quá trình gia công, hoặc có thể có cốt lưới. Kính tấm, kính hoa
văn, kính nhà thờ và các loại kính tương tự đôi khi được đặt cốt lưới ở
nơi mà cần sự bảo vệ khỏi sự nguy hiểm của các mảnh vỡ do bị nghiền
nát hoặc vỡ vụn, để phù hợp với mục đích xây dựng. Thủy tinh cốt lưới
thu được bằng cách đưa lưới bằng dây thép vào trong thuỷ tinh mềm
trong khi nó đang được cán.
Thủy tinh được phân loại trong nhóm này có thể được tráng lớp phản
chiếu, thông thường, trong quá trình gia công thuỷ tinh màu có thể được
tráng lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu, nhưng chưa
được gia công thêm.
Nhóm này loại trừ không chỉ thủy tinh đúc và thủy tinh cán, đã gia công
thêm phân loại vào các nhóm khác (ví dụ: nhóm 70.05, 70.06, 70.08
hoặc 70.09), mà còn loại trừ cả kính an toàn đã qua quá trình cán trong
khi gia công (nhóm 70.07).
70.04 - Kính kéo và kính thổi, ở dạng tấm, đã hoặc chưa tráng lớp
hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu, nhưng chưa
gia công cách khác.
7004.20 - Kính, được phủ màu toàn bộ, mờ, sáng, hoặc có tráng
lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu
7004.90 - Loại kính khác
Nhóm này được giới hạn cho kính kéo và kính thổi, được gia công và ở
dạng tấm (đã hoặc chưa được cắt thành hình).
Hiện nay, phương pháp thổi thủ công gần như được loại bỏ hoàn toàn
(trừ đối với một số dạng thuỷ tinh đặc biệt), đã được thay thế bằng các
phương pháp cơ khí thiết yếu khác như phương pháp kéo (ví dụ các các
phương pháp kéo Fourcault, Libbey-Owens hay Pittsburgh) hoặc
phương pháp kéo kết hợp với phương pháp thổi.
Nhìn chung, kính thuộc nhóm này có thể có các độ dày khác nhau
nhưng mỏng hơn so với thủy tinh đúc thuộc nhóm 70.03. Loại này có
thể được phủ màu hoặc làm mờ đục toàn bộ, hoặc được tráng lớp phản
chiếu với thuỷ tinh có màu khác khi gia công hoặc có thể được tráng lớp
hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu.
Kính kéo và kính thổi thường được dùng ở dạng mà chúng được sản
xuất ban đầu, không có bất kỳ sự gia công thêm nào. Ngoài công dụng
chính như làm kính dùng cho cửa sổ, cửa ra vào, hộp trưng bày, nhà
kính, đồng hồ, tranh ảnh,... những loại kính này còn được sử dụng như
các bộ phận của các mặt hàng đồ đạc, cho các tấm chụp ảnh, kính đeo
mắt thường,...
Nhóm này không bao gồm loại kính kéo và kính thổi đã được mài, mài
bóng bề mặt hoặc gia công cách khác (xem Chú giải Chi tiết các nhóm
70.05 - Kính nổi và kính đã mài hoặc đánh bóng bề mặt, ở dạng
tấm, đã hoặc chưa tráng lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc
không phản chiếu, nhưng chưa gia công cách khác.
7005.10 - Kính không có cốt lưới, có tráng lớp hấp thụ, lớp
phản chiếu hoặc không phản chiếu
- Kính không có cốt lưới khác:
7005.21 - - Phủ màu toàn bộ, mờ, sáng hoặc chỉ mài bề mặt:
7005.29 - - Loại khác
7005.30 - Kính có cốt lưới
Nhóm này bao gồm kính nổi ở dạng tấm. Các nguyên liệu thô của nó
được nấu chảy trong lò. Thủy tinh nóng chảy lấy ra khỏi lò và được đưa
vào bể nổi bằng kim loại nóng chảy. Tại bể nổi này, kính có được độ
phẳng của bể chất lỏng và kết thúc quá trình này sẽ giữ được độ bóng
nhẵn của chất lỏng phủ trên bề mặt. Trước khi đến điểm cuối của bể,
kính được làm nguội tới mức nhiệt độ mà tại đó nó đủ cứng để được
chuyển qua các trục lăn mà không bị in dấu hoặc làm biến dạng. Từ bể
nổi, kính được chuyển qua lò ủ, tại phía cuối của lò ủ, kính được làm
nguội và có thể được cắt. Kính này không được mài hay mài bóng bề
mặt: nó hoàn toàn phẳng sau quá trình sản xuất.
Nhóm này cũng bao gồm các loại thủy tinh thuộc các nhóm 70.03 và
70.04 đã được mài hoặc mài bóng bề mặt (hai quá trình này thường
được kết hợp).
Trong quá trình mài bề mặt, kính chịu sự tác động của các đĩa bịt sắt quay,
kết hợp với dòng nước có chứa các vật liệu mài sẽ làm mòn bề mặt thuỷ tinh
đến độ nhẵn. Độ trong suốt có được bằng cách mài bóng trong máy có các
đĩa phủ dạ, nỉ được thấm ôxit sắt). Quá trình mài bề mặt có thể liên tục và
các máy mài kép có khả năng gia công cả hai bề mặt của kính cùng một lúc.
Việc mài bóng cuối cùng đôi khi được thực hiện.
Kính thuộc nhóm này có thể được phủ màu hoặc làm mờ toàn bộ, hoặc
được tráng phản chiếu với kính có màu khác trong khi gia công hoặc có
thể được tráng một lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu.
Kính thuộc nhóm này thường được sử dụng làm cửa sổ và cửa ra vào, ô tô,
tàu thuỷ, máy bay,... để sản xuất gương, mặt bàn và bàn làm việc, các kệ, giá,
các hộp trưng bày,... và trong việc sản xuất kính an toàn thuộc nhóm 70.07.
Kính ở dạng tấm đã trải qua quá trình gia công không được đề cập trong
nội dung nhóm hoặc trong Chú giải 2 (b) của chương này, kể cả kính
lồi hoặc lõm, sẽ bị loại trừ (các nhóm 70.06, 70.07, 70.09,...).
70.06 - Kính thuộc các nhóm 70.03, 70.04 hoặc 70.05 đã uốn cong,
gia công cạnh, khắc, khoan, tráng hoặc gia công cách khác,
nhưng chưa làm khung hoặc lắp với các vật liệu khác.
Nhóm này bao gồm kính thuộc các loại được đề cập trong các nhóm
70.03 đến 70.05, những loại đã trải qua một hay các quá trình được đề
cập dưới đây. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm kính an toàn (nhóm
70.07), kính hộp nhiều lớp (nhóm 70.08) hoặc gương thủy tinh (nhóm
Nhóm này bao gồm:
(A) Kính lồi hoặc uốn cong như kính đặc biệt (ví dụ cho các ô cửa sổ
trưng bày) thu được bằng cách uốn cong nhiệt hoặc làm cong nhiệt
các tấm kính phẳng (trong lò thích hợp và trên các khuôn), tuy
nhiên loại trừ kính lồi hoặc uốn cong thuộc nhóm 70.15.
(B) Kính với các cạnh được gia công (được mài, mài bóng, làm tròn,
xẻ rãnh, vát cạnh, cắt vát, tạo dạng,...) mang đặc tính của các sản
phẩm như mặt bàn, mặt cân hoặc mặt thiết bị cân khác, mắt của thiết
quan sát và các loại tương tự, cho bảng hiệu các loại, các tấm gắn ở
cửa ra vào, kính cho khung ảnh,... ô kính cửa sổ, mặt trước bằng
kính cho đồ đạc,...
(C) Kính được khoan lỗ hoặc tạo rãnh như một thao tác tiếp theo,...
(D) Kính đã được gia công bề mặt sau khi sản xuất, ví dụ như kính đã
trải qua quá trình làm mờ ( kính phun cát, hoặc kính được làm cho mờ
đi bằng cách xử lý với bột mài hoặc axit), kính mờ, kính được khắc
hoặc khắc ăn mòn bởi bất kỳ quá trình nào, kính tráng men (có nghĩa
là kính được trang trí với men hoặc các thuốc màu có thể tạo thành
thuỷ tinh), kính có các hoạ tiết,, các trang trí, các hoạ tiết khác nhau,...
được gia công bởi bất kỳ quá trình nào (vẽ bằng tay, in, các hình ảnh in
trên kính trong suốt của cửa sổ,...) và tất cả các loại kính khác được
trang trí theo bất kỳ cách khác nào, trừ kính được vẽ bằng tay để tạo
thành một bức tranh thuộc nhóm 97.01.
Nhóm này không chỉ bao gồm kính phẳng ở dạng bán thành phẩm (ví
dụ dạng tấm không có bất kỳ mục đích đặc biệt nào), mà còn gồm các
sản phẩm kính phẳng được thiết kế cho mục đích đặc biệt, miễn là
chúng không được đóng khung, đệm lót, cũng không được gắn với vật
liệu nào khác ngoài thuỷ tinh. Vì vậy nhóm này bao gồm cả các tấm
tránh để lại dấu vân tay (cho cửa ra vào hoặc đệm công tắc) được làm
hoàn toàn bằng kính đã vát cạnh hoặc đã được đục lỗ và các tấm bảng
hiệu, thậm chí khi đã được vát cạnh, nhuộm màu hoặc có các hoạ tiết
hoặc các trang trí khác.
Mặt khác, các tấm kính được gắn vào gỗ hoặc vào kim loại, được dùng
làm khung tranh ảnh, bức tranh,... được phân loại trong nhóm 44.14
hoặc 83.06 tương ứng: gương kính để trang trí, có hoặc không được
làm khung, có các hình ảnh được in trên một mặt, được phân loại trong
nhóm 70.09 hoặc 70.13; khay phục vụ có tấm kính, có hoặc không
được phủ màu, có khung và tay cầm,... được phân loại trong nhóm
70.13; các biển quảng cáo, bảng hiệu, các bảng địa chỉ, panen, chữ, số và
các hoạ tiết tương tự được bọc lót bằng giấy, bìa cactông, dạ, nỉ, kim
loại,... hoặc được đóng khung sẽ được xếp vào nhóm 70.20 (hoặc trong
nhóm 94.05, nếu được minh hoạ). Tương tự, các tấm kính được đóng
khung hoặc gắn vào các vật liệu khác, và các bộ phận máy móc hay thiết
bị hoặc các bộ phận của các mặt hàng đồ đạc được phân loại với những
máy móc, thiết bị hay các mặt hàng đồ đạc này.
Các tấm kính cho các sản phẩm đồ gia dụng , không được đóng khung
hoặc gắn vào các vật liệu khác, vẫn được xếp trong nhóm này nếu được
để riêng lẻ, nhưng sẽ được phân loại cùng với các mặt hàng đồ gia dụng
nếu chúng được đi cùng tại thời điểm đó (có hoặc không được lắp ráp)
và rõ ràng được định dùng để hợp nhất lại sau đó.
Các tấm kính ảnh (đã phủ lớp nhạy sáng, được phơi sáng hoặc được
tráng) thuộc Chương 37. Các tấm kính có mạch điện bao gồm các tấm
kim loại dẫn điện, và các tấm kính nung nóng có các dải mạ kim loại
hoặc các đường nét tạo mẫu trang trí có tác dụng như các điện trở sẽ
thuộc Chương 85.
70.07 - Kính an toàn, bao gồm kính tôi hoặc kính dán nhiều lớp
- Kính tôi an toàn:
7007.11 - - Có kích cỡ và hình dạng phù hợp với từng loại xe,
máy bay, tàu vũ trụ hoặc tàu thuyền
7007.19 - - Loại khác
- Kính dán an toàn nhiều lớp:
7007.21 - - Có kích cỡ và hình dạng phù hợp với từng loại xe,
máy bay, tàu vũ trụ hoặc tàu thuyền.
7007.29 - - Loại khác
Thuật ngữ "kính an toàn" chỉ bao gồm những loại kính được mô tả dưới đây
và không đề cấp đến kính bảo hộ như kính có cốt lưới thông thường và
kính tráng lớp hấp thụ chọn lọc (ví dụ: kính chống chói, kính bảo vệ tia X).
(A) Kính tôi.
Đó là:
(1) Kính thu được bằng cách nung nóng lại các tấm kính cho đến
khi chúng mềm nhưng không mềm đến mức làm mất đi hình
dáng của chúng. Kính này sau đó được làm nguội nhanh bằng
các quá trình thích hợp (kính tôi nhiệt).).
(2) Kính mà độ bền cứng, tuổi thọ và tính dễ uốn của nó tăng lên
đáng kể do sự xử lý hoá lý phức hợp (ví dụ sự trao đổi ion), sự
xử lý này có thể bao gồm cả sự biến đổi kết cấu bề mặt (thường
được biết đến như là "kính tôi bằng phương pháp hoá học").
Loại kính này không thể được gia công sau khi sản xuất vì các ứng suất
bên trong được tạo nên bởi quá trình gia công và do vậy nó thường
được sản xuất theo các hình dạng và kích cỡ yêu cầu trước khi tôi.
(B) Kính dán nhiều lớp.
Kính an toàn thuộc loại này, thường được biết đến như kính dán
nhiều lớp, kính kiểu bánh sandwich ,... được làm ở dạng nhiều lớp,
có một hay nhiều lớp xen kẽ bằng nhựa dẻo ở giữa hai hay nhiều
tấm kính. Lõi của các chất dẻo này thường bao gồm các tấm bằng
xenluloza axetat, các sản phẩm acrylic hoặc vinyl. Sự bám dính
hoàn toàn thu được bằng cách sử dụng nhiệt và áp lực đáng kể, đôi
khi sau khi phun vào các mặt bên trong của các tấm kính một loại
chất kết dính đặc biệt. Phương pháp khác là tạo ra một màng nhựa
trực tiếp trên các tấm kính ; các tấm kính sau đó được hàn gắn với
nhau bằng cách sử dụng nhiệt và áp lực.
Một đặc tính của kính tôi an toàn là dưới tác dụng của lực va đập nó bị
vỡ thành các mảnh nhỏ không có các cạnh sắc hoặc thậm chí nó tan ra,
như vậy làm giảm bớt sự nguy hiểm do bị thương từ các mảnh vỡ văng
ra. Kính dán nhiều lớp an toàn thường rạn nứt mà không có sự đập vỡ,
nhưng nếu sự va đập đủ lớn để làm vỡ nó, và các mẩu văng ra thường
không đủ lớn để gây ra các vết cắt nghiêm trọng. Vì các mục đích đặc
biệt này, cốt lưới có thể được đưa vào kính dán nhiều lớp, hoặc các lớp
xen nhựa có thể được nhuộm màu.
Do những đặc tính này mà các loại kính này được sử dụng làm kính chắn
gió ô tô và các cửa sổ, cửa ra vào, các ô cửa sổ tàu thuỷ, kính bảo hộ
cho các công nhân công nghiệp hoặc lái xe, và thị kính đối với mặt nạ
phòng độc hoặc mũ phòng hộ cho thợ lặn. Kính chống đạn là một dạng
đặc biệt của kính dán nhiều lớp.
Nhóm này không phân biệt giữa kính chưa được tạo hình và đã tạo hình
(ví dụ lồi hoặc đã được uốn ).
Tuy nhiên, kính lồi an toàn có đặc tính của kính đồng hồ thời gian hoặc
kính đồng hồ cá nhân hoặc của loại được sử dụng cho kính râm thì sẽ
được phân loại trong nhóm 70.15. Kính an toàn được lắp vào các sản
phẩm khác và vì vậy ở dạng các bộ phận của máy móc, thiết bị hoặc xe
cộ sẽ được phân loại cùng với những máy móc, thiết bị hay xe cộ này,
tương tự kính bảo hộ có chứa các thấu kính bằng kính an toàn sẽ thuộc
nhóm 90.04.
Kính hộp nhiều lớp, ví dụ kính bao gồm một một hoặc hai tấm kính có
một lớp xen giữa bằng sợi thuỷ tinh, sẽ thuộc nhóm 70.08.
Các sản phẩm của kính tôi và gốm- thuỷ tinh, trừ những sản phẩm thuộc
loại được sử dụng cho các mục đích được đề cập ở trên, được phân loại
tuỳ theo tính chất đặc thù của chúng (ví dụ: các trống quay làm cứng, các
đĩa nung bằng borosilicat và các tấm bằng gốm thuỷ tinh thuộc nhóm
Nhựa được sử dụng thay thế cho kính an toàn sẽ được phân loại tuỳ theo
vật liệu cấu thành (Chương 39).
70.08 - Kính hộp nhiều lớp
Nhóm này bao gồm kính hộp nhiều lớp, dạng thông thường nhất của
chúng bao gồm hai hay nhiều panen bằng thuỷ tinh (tấm, bản, mảng hay
thậm chí những dạng như dạng được rèn hay dạng kính nhà thờ lớn)
được chia tách bởi một lớp khí khô hoặc khí trơ, đôi khi ở bên trong
được phân chia thành các ngăn. Những tấm này được hàn kín xung
quanh các cạnh bằng kim loại, plastic hay bằng các khớp nối khác, mà
tạo thành một bộ phận hoàn toàn kín khí.
Dạng khác của kính hộp nhiều lớp bao gồm một có hai tấm kính với
một lớp xen giữa bằng sợi thuỷ tinh.
Những loại kính này, được sử dụng để lắp kính cửa sổ, mái nhà,... sẽ tạo
một độ cách nhiệt, cách âm và làm giảm sự ngưng tụ.
70.09 - Gương thuỷ tinh, có hoặc không có khung, kể cả gương chiếu
hậu
7009.10 - Gương chiếu hậu dùng cho xe
- Loại khác:
7009.91 - - Chưa có khung
7009.92 - - Có khung
Thuật ngữ "gương kính" áp dụng cho loại kính mà một mặt của nó đã
được phủ kim loại (thường là bạc, đôi khi là platin hoặc nhôm) để tạo
một sự phản chiếu rõ ràng và sáng loáng.
Với phương pháp tráng bạc, dung dịch amôniac loãng của nitrat bạc
(được trộn với dung dịch khử trên cơ sở tartrat natri kali hoặc đường
nghịch chuyển) được sử dụng. Những sản phẩm này được đổ lên trên bề
mặt của kính sau khi nó đã được làm sạch một cách tỉ mỉ. Sự khử muối
bạc sẽ tạo thành một chất kết tủa bạc kim loại bền vững và sáng loáng.
Với phương pháp kết tủa platin, hợp chất clorua platin được quét lên trên
kính, sau đó được gia nhiệt tới điểm hoá mềm. Quá trình này tạo ra một
lớp phủ chặt kim loại.
Lớp phủ kim loại (đặc biệt nếu là bạc) được phủ lớp bảo vệ, đôi khi bao
gồm một hay nhiều lớp phủ bằng vecni hoặc chất kết tủa đồng bằng
phương pháp điện phân, bản thân chất kết tủa này được bảo vệ bằng một
lớp phủ vecni.
Nhóm này bao gồm gương ở dạng tấm, có hoặc không được gia công
thêm. Nó cũng bao gồm gương đã được tạo hình các loại, ví dụ gương
sử dụng cho đồ đạc, cho trang trí nội thất, cho các toa xe chở khách, ...
gương nhà vệ sinh (kể cả gương cầm tay hoặc gương treo), gương bỏ túi
(có hoặc không có vỏ bảo vệ). Nhóm này bao gồm cả gương khuếch đại
hoặc gương thu nhỏ và gương chiếu hậu (ví dụ sử dụng cho xe cộ). Tất
cả các loại gương này có thể được đệm lót (bằng cáctông, vải sợi, ...)
hoặc được đóng khung (bằng kim loại, gỗ, plastic ...,) và bản thân khung
này có thể được trang trí với các vật liệu khác (vải sợi, vỏ cứng động vật,
xà cừ, mai rùa, ...). Các gương được thiết kế để đặt trên sàn hoặc trên
nền (ví dụ: gương đứng, ngả được, hay gương quay thuộc loại sử dụng
trong phòng thử đồ của thợ may hoặc trong các cửa hàng giầy dép) cũng
vẫn thuộc nhóm này theo chú giải 1 (b) của chương 94.
Nhóm này cũng bao gồm gương, có hoặc không có khung, có các hình
vẽ được in trên một mặt, với điều kiện chúng vẫn giữ được đặc tính cần
thiết của gương. Tuy nhiên, khi việc in ấn vượt quá công dụng của
gương, thì những sản phẩm này được phân loại vào nhóm 70.13 là các
sản phẩm trang trí bằng thuỷ tinh.
Tuy nhiên, cần chú ý rằng gương là bộ phận của các mặt hàng đồ nội
thất thuộc Chương 94 (ví dụ, cửa phòng thử đồ) được phân loaị cùng
với những mặt hàng đồ nội thất này.
Nhóm này còn không bao gồm:
(a) Gương đã trở thành các sản phẩm khác bằng cách bổ sung thêm một
vài bộ phận phụ, ví dụ một số loại khay phục vụ có tay cầm (nhóm
70.13) ; tuy nhiên phần trung tâm mặt bàn (xem lại từ này) bao gồm
một gương đơn giản vẫn được phân loại trong nhóm này.
(b) Gương có giá đỡ hoặc khung bằng kim loại quý hoặc kim loại mạ
kim loại quý, có hoặc không có ngọc trai tự nhiên hay nhân tạo hoặc
gắn kim cương hay đá quý hay đá bán quý khác (tự nhiên, tổng hợp
hoặc tái tạo) (trừ những loại với tư cách là đồ trang hoàng) (nhóm
71.14), hoặc theo cách khác giá đỡ hay khung của chúng có gắn
ngọc trai tự nhiên hay nhân tạo hoặc đá quý hay đá bán quý (tự
nhiên, tổng hợp hay tái tạo) (nhóm 71.16).
(c) Gương kính được gia công về mặt quang học (Chương 90) (xem các
chú giải tương ứng).
(d) Gương kết hợp với các yếu tố khác trở thành đồ chơi, thiết bị trò
chơi, hoặc dụng cụ săn bắn (ví dụ, gương để bẫy chim chiền chiện –
xem lại) (Chương 95).
(e) Gương có tuổi trên 100 năm (nhóm 97.06)
70.10 - Bình lớn có vỏ bọc ngoài, chai, bình thót cổ, lọ, ống, ống dạng
phial, ống dạng ampoule và các loại đồ chứa khác, bằng thủy
tinh, dùng trong vận chuyển hoặc đóng hàng; lọ, bình bảo
quản bằng thủy tinh; nút chai, nắp đậy và các loại nắp khác,
bằng thủy tinh
7010.10 - Ống dạng ampoule
7010.20 - Nút chai, nắp đậy và các loại nắp khác
7010.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm tất cả các đồ chứa bằng thuỷ tinh thuộc loại thường
dùng cho các mục đích thương mại để vận chuyển hoặc đóng các chất
lỏng hay các sản phẩm rắn khác (bột, hạt,...). Chúng bao gồm:
(A) Bình lớn, hũ rượu to cổ nhỏ, chai (kể cả bình sy phông), ống dạng
phial và các đồ chứa tương tự, với tất cả các hình dạng và kích cỡ,
được sử dụng làm đồ chứa hóa chất (axit,...), đồ uống, dầu, chất
chiết xuất từ thịt, các chế phẩm nước hoa, dược phẩm, mực viết, keo
hồ,...
Những sản phẩm này, trước đây được sản xuất bằng phương pháp
thổi, hiện nay hầu như đều được sản xuất bằng máy móc, tự động
đưa thuỷ tinh nóng chảy vào khuôn và sản phẩm được tạo thành bởi
tác động của khí nén. Chúng thường được làm từ thuỷ tinh thông
thường (không màu hoặc có màu) mặc dù một số chai (ví dụ, để
đựng nước hoa) có thể được làm bằng pha lê chì, và một số các bình
lớn được làm bằng thạch anh nung chảy hoặc oxit silic nung chảy
khác.
Những đồ chứa đề cập ở trên được thiết kế với kiểu nắp nào đó, các
nút chai này có thể có dạng các nút chai thông thường (bằng lie,
thuỷ tinh,...) quả cầu thuỷ tinh, nắp kim loại, nắp xoáy (bằng kim
loại hoặc plastic), hoặc các hình đặc biệt (ví dụ: cho các chai bia,
các chai đựng nước được sục khí, các sy phông nước uống có ga,...).
Những đồ chứa vẫn thuộc nhóm này thậm chí nếu chúng được mài,
cắt, thổi phun cát, khắc hoặc khắc, hoặc được trang trí (điều này đặc
biệt áp dụng cho một số chai lọ đựng nước hoa hoặc rượu mùi), có
nẹp, đan cây liễu gai hoặc được trang trí cách khác với các vật liệu
khác nhau (cây liễu gai, rơm, cây cọ dầu, kim loại,...), chúng cũng
có thể có các nắp lẫy khoá được gắn vào cổ. Chúng có thể được gắn
dụng cụ đo giọt hoặc có thể được chia độ, miễn là chúng không
thuộc loại được sử dụng như các dụng cụ thuỷ tinh phòng thí
nghiệm.
(B) Bình, lọ và các đồ chứa tương tự, để vận chuyển hoặc đóng thực
phẩm (gia vị, nước xốt, quả, chất bảo quản, mật ong,...), mỹ phẩm
hoặc các chế phẩm vệ sinh (kem bôi mặt, nước thơm cho tóc,...), các
sản phẩm dược (thuốc mỡ,...), chất đánh bóng, các chế phẩm làm
sạch,...
Những sản phẩm này thường được làm bằng thuỷ tinh thông thường
(không màu hoặc phủ màu) bằng phương pháp thổi khí nén tạo áp
lực trong khuôn. Chúng thường có miệng rộng, cổ ngắn và theo
nguyên tắc, có mép hoặc gờ để giữ nắp hoặc nắp đậy. Tuy nhiên,
một số những đồ chứa này có thể được đóng bởi những nút lie hay
các nắp xoáy.
Giống như chai, những sản phẩm này có thể được phun cát, cắt,
khắc hoặc chạm trổ, trang trí, gắn nẹp ,...
(C) Ống dạng ampoule, thường thu được từ một ống thuỷ tinh kéo, và có
mục đích sử dụng (sau khi hàn khí) để làm đồ đựng cho huyết thanh
hoặc các sản phẩm dược khác, hoặc cho các nhiên liệu lỏng (ví dụ
các ống đựng xăng cho các bật lửa hút thuốc lá), hoá chất, ...
(D) Các đồ chứa hình ống và các đồ chứa tương tự thu được từ phương
pháp gia công bằng đèn xì hoặc bằng phương pháp thổi các ống thuỷ
tinh, để vận chuyển hoặc đóng các sản phẩm dược hoặc các công
dụng tương tự
Nhóm này cũng bao gồm các bình bảo quản bằng thuỷ tinh.
Nắp bằng mọi chất liệu, đi kèm với đồ chứa mà chúng được dùng cho,
vẫn được phân loại trong nhóm này.
Nắp thủy tinh chịu nhiệt, được sử dụng để bảo vệ thực phẩm chứa trong
chảo hoặc xoong, v.v. khỏi bụi và sự bay hơi quá mức của hơi ẩm nhưng
được trình bày riêng biệt mà không có bất kỳ dụng cụ nấu nướng nào
trong nhà bếp, được phân loại vào nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm các nút và các nắp đậy khác, bằng thuỷ tinh,
hoặc được làm bằng thuỷ tinh thông thường, hoặc bằng pha lê chì, và có
hoặc không được mài, cắt, phun cát, khắc hoặc chạm trổ, hoặc được
trang trí. Nhóm này cũng bao gồm một số thuỷ tinh dạng hình cầu để
đậy các chai, loại này được cắt từ các tấm kính và được gia công cơ khí
sau khi đã được tạo hình thành hình cầu.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các chai và bình thót cổ, được bọc hoàn toàn hoặc phần lớn bằng da
thuộc hoặc da tổng hợp (nhóm 42.05).
(b) Ruột thủy tinh của phích hoặc các bình chân không khác (nhóm
(c) Bình đựng rượu, bộ đồ dùng để uống và các đồ chứa bằng thuỷ tinh
khác là đồ thuỷ tinh trong gia dụng (nhóm 70.13), nhưng không phải
những đồ chứa được sử dụng chủ yếu cho việc vận chuyển hoặc
đóng hàng trong thương mại.
(d) Bình sữa trẻ em (nhóm 70.13).
(e) Đồ thuỷ tinh dùng cho phòng thí nghiệm, cho vệ sinh hoặc dược
(nhóm 70.17).
(f) Các chai trưng bày chuyên dụng và các bình trưng bày thuộc loại sử
dụng trong các cửa hàng (nhóm 70.20).
(g) Các chai, bình thót cổ,... cho các bình xịt dầu thơm (nhóm 70.13),
bình, lọ xịt nước hoa (nhóm 96.16), và phích chân không và các loại
bình chân không khác (nhóm 96.17).
70.11 - Vỏ bóng đèn thủy tinh (kể cả bóng dạng bầu và dạng ống),
dạng hở, và các bộ phận bằng thủy tinh của vỏ bóng đèn,
chưa có các bộ phận lắp ghép, dùng cho đèn điện và các
nguồn sáng, ống đèn tia ca-tốt hoặc các loại tương tự.
7111.10 - Dùng cho đèn điện
7010.20 - Dùng cho ống đèn tia âm cực
7010.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm
(A) Tất cả các vỏ bóng đèn thuỷ tinh dạng hở (kể cả bóng dạng bầu và
dạng ống) có hình dạng và kích thước bất kỳ, không có các bộ
phận phụ trợ, dùng để sản xuất đèn điện, đèn điện tử và đèn ống, là
những loại để chiếu sáng hoặc cho các mục đích khác (đèn làm nóng
hoặc các đèn phóng điện bằng hơi, ống tia X (ống Rơnghen), đèn
điện tử rađiô, ống đèn tia catot, đèn chân không hoặc các đèn ống
điện tử hay đèn điện tử khác, đèn hồng ngoại, ...). Hầu hết những vỏ
bóng đèn này được sản xuất hàng loạt bằng các máy móc tự động ;
chúng có thể được làm mờ, phủ màu, làm mờ đục, mạ kim loại, phủ
vật liệu phát huỳnh quang ...
Các bộ phận bằng thuỷ tinh của vỏ bóng đèn (ví dụ như các tấm mặt
hay các chi tiết hình ống của đèn ống tia catôt cho các máy thu hình,
các gương phản xạ của bóng đèn chiếu) vẫn thuộc nhóm này.
(B) Ống đèn có đầu được làm hẹp lại rõ ràng dùng cho đèn điện và các
nguồn sáng, hoặc được uốn thành hình dùng cho biển quảng cáo.
(C) Ống được lót huỳnh quang (ví dụ, silicat kẽm, borat cađimi,
Nhờ một loạt các thao tác (kể cả việc gắn dây tóc hoặc điện cực, hút
chân không vỏ bóng đèn, đưa vào một hoặc nhiều khí khan hiếm, thuỷ
ngân,... việc ghép nối đầu chụp hoặc đầu nối), những vỏ bóng đèn này
được làm thành các đèn điện và các nguồn sáng, ống đèn tia catot hoặc
các loại tương tự thuộc Chương 85.
Tất cả các sản phẩm được đề cập ở trên có thể bằng thuỷ tinh thông
thường, thuỷ tinh pha lê hoặc thạch anh nung chảy.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Ống thuỷ tinh mới chỉ được cắt thành đoạn, các đầu có hoặc không
được mài bóng hoặc được làm nhẵn bằng cách khác, hoặc các ống
có các vật liệu phát huỳnh quang (ví dụ, uranate natri) được vào
thuỷ tinh ở dạng ống (nhóm 70.02).
(b) Bóng dạng bầu, dạng ống và vỏ bóng đèn, kín hoặc có các bộ phận
phụ trợ, và đèn dạng bầu, dạng ống và đèn điện tử đã hoàn thiện
(xem nhóm 85.39, 85.40, 90.22,...).
70.13 - Bộ đồ ăn, đồ nhà bếp, đồ vệ sinh, đồ dùng văn phòng, đồ
trang trí nội thất hoặc đồ dùng cho các mục đích tương tự
bằng thủy tinh (trừ các sản phẩm thuộc nhóm 70.10 hoặc
7013.10 - Bằng gốm thuỷ tinh
- Cốc (ly) có chân, bằng thuỷ tinh có chân, trừ loại
bằng gốm thuỷ tinh:
7013.22 - - Bằng pha lê chì
7013.28 - - Loại khác
- Cốc (ly) bằng thủy tinh khác, trừ bằng gốm thuỷ tinh:
7013.33 - - Bằng pha lê chì
7013.37 - - Loại khác
- Bộ đồ ăn (trừ bộ đồ dùng để uống) hoặc đồ nhà
bếp bằng thủy tinh, trừ loại bằng gốm thủy tinh:
7013.41 - - Bằng pha lê chì
7013.42 - - Bằng thuỷ tinh có hệ số giãn nở tuyến tính không quá
5 x 10-6 độ Kenvin khi ở nhiệt độ 0oC đến 3000C.
7013.49 - - Loại khác
- Đồ dùng bằng thuỷ tinh khác:
7013.91 - - Bằng pha lê chì
7013.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các dạng sản phẩm sau, hầu hết chúng thu được
bằng phương pháp ép hoặc phương pháp thổi theo khuôn:
(1) Bộ đồ ăn hoặc bộ đồ nhà bếp bằng thuỷ tinh, ví dụ như bộ đồ dùng
để uống bằng thuỷ tinh, cốc, ly có chân, cốc vại có tay cầm, bình đựng
rượu, bình sữa em bé, bình rót, hũ, đĩa, tô đựng xalat, tô đựng đường,
đồ đựng nước sốt hình thuyền, giá đặt hoa quả, giá đặt bánh ngọt, đĩa
đựng món đồ nguội khai vị, bát, tô, chén nhỏ đựng trứng luộc, đĩa đựng
bơ, lọ đựng dầu hoặc dấm, đĩa (để phục vụ bàn, nấu nướng, ...) nồi
hầm, xoong có tay cầm, khay, lọ đựng muối (để ở bàn ăn), rây đường,
giá để dao, dụng cụ trộn thực phẩm, chuông nhỏ để bản, ấm (bình) cà
phê và lọc cà phê, hộp đựng bánh mứt, các đồ dùng nhà bếp được chia
độ, lò làm ấm bát đĩa, lót bàn ăn, một số bộ phận của thùng đựng sữa
trong gia đình, tách cho máy xay hạt cà phê, đĩa đựng pho mát, dụng
cụ vắt nước chanh, xô đựng đá.
(2) Các sản phẩm vệ sinh ví dụ như đĩa đựng xà phòng, giỏ đựng bông
tắm, hộp đựng xà bông dạng lỏng, mắc và sào treo (để treo khăn
tắm, ...) bát đựng xà phòng bột, lọ nước hoa, các bộ phận của bình
xịt vệ sinh (trừ các đầu của chúng) và các đồ giữ bàn chải đánh
răng.
(3) Đồ dùng văn phòng bằng thuỷ tinh, ví dụ như đồ chặn giấy, giá để
lọ mực và lọ mực, ke giữ sách, các đồ chứa cho đinh ghim, khay để
bút và gạt tàn thuốc lá.
(4) Đồ trang trí nội thất bằng thuỷ tinh và đồ dùng thuỷ tinh khác (kể
cả những đồ dùng cho nhà thờ các đồ dùng tương tự), ví dụ như
bình (lọ) hoa, bát đựng trái cây để trang trí, tượng nhỏ, các sản phẩm
để trang trí (động vật, hoa, cành, lá, quả, ...), tâm bàn (chưa rõ từ
này) (trừ những loại thuộc nhóm 70.09), bể nuôi cá, lò đốt hương
trầm, ...., và các đồ lưu niệm có các hình vẽ.
Những sản phẩm này có thể ví dụ như bằng thuỷ tinh thông thường, pha
lê chì, thuỷ tinh có hệ số giãn nở thấp (ví dụ thuỷ tinh borosilicat) hoặc
bằng gốm thuỷ tinh (hai sản phẩm cuối đặc biệt dùng cho bộ đồ nhà
bếp). Chúng cũng có thể không màu, phủ màu hoặc tráng lớp phản
chiếu, và có thể được cắt, làm mờ, khắc hay chạm trổ, hoặc được trang
trí cách khác, hoặc mạ kim loại (ví dụ, một số khay được gắn với tay
cầm). Tuy nhiên các trung tâm bàn bao gồm một gương đơn giản sẽ bị
loại trừ (xem Chú giải Chi tiết nhóm 70.09).
Mặt khác, nhóm này bao gồm các sản phẩm để trang trí mà ở dạng
gương, nhưng không thể được sử dụng như gương do sự có mặt của các
hình vẽ được in, nếu không chúng được phân loại ở nhóm 70.09.
Các sản phẩm bằng thuỷ tinh kết hợp với các vật liệu khác (kim loại cơ
bản, gỗ,...), được phân loại trong nhóm này chỉ khi thuỷ tinh tạo cho
tổng thể đặc tính của các sản phẩm thuỷ tinh. Kim loại quý hay kim loại
mạ kim loại quý có thể có mặt chỉ như đồ trang điểm cho gương, các
sản phẩm mà trong đó những kim loại như vậy tạo thành những đồ vượt
quá công dụng trang trí sẽ bị loại trừ (nhóm 71.14).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Gương kính, có hoặc không được gắn khung (nhóm 70.09).
(b) Chai, bình thót cổ, bình và lọ thuộc loại thường được sử dụng thông
thường cho mục đích chuyên chở hay đóng hàng hoá, các bình bảo
quản và nắp đậy dụng cụ nấu ăn nhà bếp được trình bày riêng biệt
với dụng cụ nấu ăn (nhóm 70.10).
(c) Đèn phủ chì và các loại tương tự (nhóm 70.16).
(d) Các sản phẩm thuộc nhóm 70.18 phù hợp để trang trí nội thất (ví dụ
hoa giả và bộ lá bằng hạt thuỷ tinh và các hạt cườm thuỷ tinh trang
trí được gia công bằng đèn xì).
(e) Vỏ đồng hồ thời gian (nhóm 91.12).
(f) Đèn và bộ đèn và bộ phận của chúng thuộc nhóm 94.05.
(g) Bình, lọ xịt nước hoa và bình, lọ xịt để trang điểm tương tự (nhóm
(h) Phích chân không và các loại bình chân không khác thuộc nhóm
70.14 - Dụng cụ tín hiệu bằng thủy tinh và các bộ phận quang học
bằng thủy tinh (trừ những sản phẩm thuộc nhóm 70.15),
chưa được gia công về mặt quang học
Nhóm này bao gồm các sản phẩm sau với điều kiện chúng vẫn chưa
được gia công về mặt quang học:
(A) Dụng cụ tín hiệu bằng thuỷ tinh (không màu hoặc phủ màu) nhằm
mục đích dùng để gắn vào các hộp tín hiệu giao thông phản chiếu
(ví dụ: gắn vào các panen, bảng hiệu, biển chỉ đường,...), hoặc các
biển hiệu trưng bày, hoặc như các thiết bị phản quang đơn giản cho
xe đạp, ô tô,... Những sản phẩm này, thường có dạng lồi, bán cầu
hoặc phẳng với các rãnh thường chạy song song, có đặc tính phản xạ
ánh sáng chiếu lên chúng (ví dụ bởi đèn pha ô tô) và như vậy có thể
nhìn thâý từ đằng xa trong bóng tối.
(B) Các bộ phân quang học bằng thuỷ tinh (không màu hoặc nhuộm
màu). Nhóm này bao gồm các bộ phận được sản xuất bằng cách mà
chúng tạo ra tác dụng quang học cần thiết nào đó mà không cần
được gia công về mặt quang học. Những sản phẩm này bao gồm chủ
yếu các thấu kính và các sản phẩm tương tự dùng cho đèn pha ô tô,
các đèn báo dừng, đèn chỉ hướng, đèn hậu xe đạp, đèn tín hiệu giao
thông, một số phao (chiếu sáng), bóng đèn chiếu, đèn bỏ túi, ngọc
đuốc điện, đèn cho bảng điều khiển hoặc bảng hiệu, và còn một số
kính lúp (kính phóng đại) thông thường.
Nhóm này cũng bao gồm các phôi của các linh kiện quang học và
những linh kiện quang học mà đòi hỏi quá trình gia công quang học.
Quá trình gia công quang học bao gồm quá trình mài các bề mặt trước
tiên với các vật liệu mài thô và sau đó với các vật liệu mài dần dần mịn
hơn. vì vậy Các thao tác liên tiếp là quá trình gia công thô, chỉnh sửa,
mài nhẵn và mài bóng.
Các sản phẩm mà đã qua một hay nhiều quá trình gia công trước khi
mài bóng vẫn thuộc nhóm này. Nhưng những bộ phận mà đã được đánh
bóng toàn bộ hay một phần của một hay nhiều bề mặt của chúng để tạo
ra các đặc tính quang học theo yêu cầu sẽ bị loại trừ (nhóm 90.01 hoặc
90.02 tuỳ theo việc chúng chưa được lắp ráp hay đã lắp ráp - xem các
chú giải tương ứng).
Quá trình mài đơn giản các cạnh của đĩa hay thấu kính, không có sự gia
công tiếp theo, không được xem như quá trình gia công về mặt quang học.
Các sản phẩm thuộc nhóm này thường thu được bằng phương pháp đổ
khuôn đơn giản hoặc phương pháp ép hoặc cắt từ các tấm, dải, khối, cục
hoặc phiến.
Các sản phẩm này vẫn thuộc nhóm này thậm chí khi đã được đóng khung,
được đặt trong giá đỡ hay được lót đằng sau bề mặt phản quang, nhưng
những sản phẩm được xem là hoàn thiện (thành phẩm) sẽ bị loại trừ (ví dụ
nhóm 83.10 trong trường hợp các bảng tín hiệu, các số, chữ cái và các tín
hiệu khác, bằng kim loại cơ bản, nhóm 85.12 trong trường hợp các loại đèn
pha, đèn trước hoặc đèn báo dừng của xe đạp hoặc các loại mô tô).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các loại kính đeo để hiệu chỉnh hoặc không hiệu chỉnh (chưa được
gia công về mặt quang học) (xem Chú giải cho nhóm 70.15).
(b) "Các vi cầu" hình cầu bằng thuỷ tinh được biểu hiện theo đúng nghĩa
(xem Chú giải cho nhóm 70.18). Mặt khác, nhóm này bao gồm các
tấm phủ những vi cầu này và dự định dùng để cố định vào hộp tín
hiệu hoặc bảng hiệu giao thông.
(c) Các bộ phận quang học bằng thuỷ tinh đã được gia công về mặt
quang học, và các bộ phận quang học bằng các vật liệu khác trừ
thuỷ tinh (Chương 90).
(d) Đèn và bộ đèn và các bộ phận của chúng thuộc nhóm 94.05.
70.15 - Kính đồng hồ thời gian hoặc kính đồng hồ cá nhân và các
loại kính tương tự, các loại kính đeo để hiệu chỉnh hoặc
không hiệu chỉnh, được uốn cong, làm lồi, lõm hoặc tương tự,
chưa được gia công về mặt quang học; hạt cầu thủy tinh rỗng
và mảnh của chúng dùng để sản xu