PROJECT

CHU GIAI 2022_14

CHU GIAI 2022_14

lắp với một vật khác hoặc các phương 

pháp tương tự. 
67.01- Da và các bộ phận khác của loài chim có lông vũ hoặc lông tơ, 
lông vũ, các phần của lông vũ, lông tơ và các sản phẩm làm 
từ chúng (trừ các mặt hàng thuộc nhóm 05.05 và các ống, 
lông cánh, lông đuôi đã chế biến). 
Trừ một số hàng hoá nhất định được đề cập cụ thể hoặc được xếp trong 
nhóm khác và được nêu trong những trường hợp loại trừ dưới đây, nhóm 
này bao gồm: 
(A) Các loại da và các phần khác của chim có lông vũ hoặc lông tơ, lông 
vũ và lông tơ, các phần của lông vũ, nhưng chưa tạo thành những 
sản phẩm hoàn chỉnh, đã trải qua quá trình xử lý trừ các biện pháp 
xử lý đơn giản như làm sạch, khử trùng hoặc xử lý để bảo quản 
chúng (xem Chú giải chi tiết của nhóm 05.05); ví dụ, hàng hoá của 
nhóm này có thể được tẩy trắng, nhuộm, uốn quăn hoặc cuộn lại. 
(B) Các mặt hàng chế biến từ da hoặc từ các phần khác của chim có lông 
vũ và lông tơ, các sản phẩm làm từ lông vũ, lông tơ hoặc những 
phần của lông vũ, ngay cả khi lông vũ hoặc lông tơ ... chưa được xử 
lý hoặc mới chỉ được làm sạch, nhưng không bao gồm các sản 
phẩm được làm từ các ống, lông cánh hoặc lông đuôi chim. Do đó, 
nhóm bao gồm: 
(1) Các loại lông vũ đơn phần ống đã được bọc hoặc buộc lại để sử 
dụng ví dụ như lông chim trên mũ phụ nữ, và lông vũ hỗn hợp 
đơn được lắp ghép từ nhiều thành phần khác nhau. 
(2) Các loại lông vũ được ghép lại để tạo thành chùm, và các loại 
lông vũ và lông tơ được ghép lại bằng keo hoặc được đính chặt 
vào tấm vải dệt hoặc được gắn vào một đế khác. 
(3) Các đồ dùng để trang trí được làm từ chim, các bộ phận của 
chim, từ lông vũ hoặc lông tơ, được đính trên mũ, khăn quàng 

lông, cổ áo, áo măng tô hoặc những loại quần áo khác hoặc các 
phụ kiện của quần áo. 
(4) Các loại quạt được làm bằng lông vũ trang trí, có khung được 
làm bằng mọi chất liệu. Tuy nhiên, quạt có khung được làm 
bằng kim loại quí được xếp vào nhóm 71.13. 
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm những sản phẩm là quần áo và 
phụ kiện của quần áo trong đó lông vũ, hoặc lông tơ chỉ tạo thành những 
phần trang trí hoặc lớp lót đệm. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Giày, dép làm từ lông vũ hoặc lông tơ (Chương 64). 
(b) Mũ và các vật đội đầu khác làm từ lông vũ hoặc lông tơ  
(Chương 65). 
(c) Các sản phẩm thuộc nhóm 67.02. 
d) Các mặt hàng thuộc bộ đồ giường…vv, trong trường hợp lông vũ chỉ 
được đưa vào sử dụng như chất liệu để nhồi hoặc lót ở trong (thuộc 
nhóm 94.04). 
(e) Các sản phẩm thuộc Chương 95 (ví dụ, quả cầu lông, đồ chơi ném 
phi tiêu bằng lông vũ hoặc phao của cần câu cá). 
(f) Các ống, lông cánh, lông đuôi đã gia công (ví dụ, tăm xỉa răng thuộc 
nhóm 96.01), chổi lông (nhóm 96.03), và nùi bông thoa phấn và 
đệm bằng lông tơ được sử dụng trong ngành chế tạo mỹ phẩm hoặc 
các chế phẩm vệ sinh (nhóm 96.16). 
(g) Các vật phẩm sưu tập (nhóm 97.05). 
67.02 Hoa, cành, lá, quả nhân tạo và các phần của chúng; các sản 
phẩm làm bằng hoa, cành, lá hoặc quả nhân tạo. 
 6702.10 - Bằng plastic 
 6702.90 - Bằng vật liệu khác. 
Nhóm này bao gồm: 

(1) Hoa, lá và quả nhân tạo ở dạng giống với những sản phẩm tự nhiên, 
được tạo ra bởi việc ghép các phần khác nhau (bằng cách chằng 
buộc, dán bằng keo gắn, hoặc lắp với một vật khác hoặc bằng các 
phương pháp tương tự). Loại này cũng bao gồm các loại tượng trưng 
cho hoa, lá hoặc quả thông thường được làm sẵn theo kiểu hoa nhân 
tạo … 
(2)  Các phần của hoa, lá hoặc quả nhân tạo, (ví dụ, nhị hoa, nhụy hoa, 
bầu hoa, cánh hoa, đài hoa, lá, và cuống hoa). 
(3)  Những sản phẩm được làm từ hoa, lá hay quả nhân tạo (ví dụ, các bó 
hoa, tràng hoa, vòng hoa, các loại cây) và các sản phẩm khác, để sử 
dụng làm trang trí hoặc phụ kiện trang sức, được làm bằng cách lắp 
ghép hoa, lá hoặc quả nhân tạo. 
Nhóm bao gồm hoa, lá hoặc quả nhân tạo gắn với ghim hoặc các thiết bị 
cài chặt nhỏ khác. 
Các sản phẩm thuộc nhóm này chủ yếu được sử dụng để trang trí (ví dụ, 
trang trí trong nhà hoặc tại nhà thờ), hoặc trang trí trên mũ, quần áo… 
Nằm trong những trường hợp bị loại trừ được nêu dưới đây, những hàng 
hoá này có thể được làm bằng nguyên liệu dệt, nỉ, giấy, nhựa, cao su, da, 
lá kim loại, lông vũ, vỏ sò ốc hoặc các nguyên liệu khác có nguồn gốc từ 
động vật (ví dụ: cành lá nhân tạo có được làm nguồn gốc sinh vật biển, 
đã được nhuộm và chế biến, gồm có những phần mềm dẻo của thuỷ tức 
hoặc động vật hình rêu) v.v... Với điều kiện chúng có những đặc tính đã 
được quy định trong những đoạn trước đây, tất cả những sản phẩm này 
được xếp trong nhóm này và không phụ thuộc mức độ hoàn chỉnh của 
chúng. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Hoa và cành, lá tự nhiên thuộc nhóm 06.03 hoặc 06.04 (ví dụ: được 
nhuộm, tráng bạc, mạ vàng). 
 (b) Mẫu ren rời hình hoa, vải thêu hoặc vải dệt khác, nhìn chung chúng 
có thể được sử dụng như vật trang trí cho quần áo, nhưng chúng 
không được chế tạo theo cách làm hoa nhân tạo (ví dụ: bằng cách 
lắp ráp nhiều phần khác nhau (cánh hoa, nhị hoa, cuống hoa vv...) 
và được gắn chặt với dây kim loại, nguyên liệu dệt, giấy, cao su  

bằng dán keo hoặc bằng những phương pháp khác) (Phần XI). 
(c) Mũ và các vật đội đầu khác làm từ hoa hoặc cành lá nhân tạo 
(Chương 65). 
(d) Các sản phẩm bằng thuỷ tinh (Chương 70). 
(e) Hoa, lá, cành hoặc quả nhân tạo bằng gốm, đá, kim loại, gỗ hoặc vật 
liệu khác, được làm trên một tấm lá bằng cách đúc, luyện, khắc, dập, 
hoặc các cách khác, hoặc gồm các bộ phận được lắp ráp lại với nhau 
trừ việc ghép, gắn bằng keo, lắp với một sản phẩm khác hoặc các 
phương pháp tương tự. 
(f) Dây kim loại cắt thành đoạn được bọc ngoài bằng chất liệu dệt, bằng 
giấy, v.v... để cuống của hoa nhân tạo (Phần XV). 
(g) Những mặt hàng có thể rõ ràng nhận dạng là được dùng làm đồ chơi 
hoặc những mặt hàng dùng trong lễ hội (Chương 95). 
67.03 - Tóc người, đã được chải, chuốt, tẩy hoặc xử lý bằng cách 
khác; lông cừu hoặc lông động vật khác hoặc các loại vật liệu dệt 
khác, được chế biến để dùng làm tóc giả hoặc sản phẩm tương tự. 
Loại trừ tóc người mới chỉ được xử lý đơn giản như rửa sạch hoặc gột 
tẩy hoặc sắp xếp theo độ dài (nhưng chưa được sắp xếp để đầu và chân 
tóc chải được xếp cùng nhau) và các phế liệu tóc (nhóm 05.01); nhóm 
này bao gồm những loại tóc đã được chải, kể cả khi chúng đã được xử lý 
bằng cách khác (ví dụ, chuốt, khử màu, tẩy, nhuộm, uốn quăn, uốn làn 
sóng, vv...) để phục vụ cho việc sản xuất tóc giả (ví dụ, bộ tóc giả, ,lọn 
tóc, búi tóc) hoặc sử dụng cho các mục đích khác. 
Khái niệm “đã được chải” bao gồm tóc mà từng sợi tóc đã được sắp xếp 
để chân tóc, và ngọn tóc theo cùng chiều. 
Nhóm này còn bao gồm cả lông cừu, lông động vật (ví dụ: lông của bò tây 
tạng, lông của dê cái angora hoặc lông của dê tây tạng) và các loại nguyên 
liệu dệt khác (ví dụ các loại sợi dệt nhân tạo) được sử dụng để làm tóc giả 
và các sản phẩm tương tự, hoặc để làm các bộ tóc giả cho búp bê. Các sản 

phẩm được chế tạo theo các mục đích trên cụ thể bao gồm: 
(1) Các mặt hàng gồm 1 miếng nhỏ, thông thường bằng lông cừu hoặc 
lông động vật, được quấn xung quanh hai dây mảnh song song và 
được mang dáng vẻ của một bím tóc. Những sản phẩm được gọi là 
“tóc bồng” thường dài và trọng lượng khoảng 1kg. 
(2) Những sợi xơ dệt được uốn làn sóng bằng sợi dệt có chiều dài từ 14 - 
15m, được uốn thành những bó nhỏ nặng khoảng 500g. 
(3) Các “dải được tết lại” được làm từ những sợi dệt nhân tạo đã được 
nhuộm số lượng lớn, được gập làm đôi để tạo thành các búi rồi tết 
liên kết lại với nhau ở các đầu gập bằng một dải tết bằng sợi dệt có 
chiều rộng khoảng 2mm. Các “dải tết” này mang hình dáng của mái 
tóc ngang trán có chiều dài xác định. 
Lông cừu, lông động vật khác hoặc những loại sợi dệt khác dưới dạng 
cuôn dây thô hoặc dùng để kéo sợi, được phân loại vào Phần XI. 
67.04 - Tóc giả, râu, lông mi, lông mày giả, tóc độn và các loại sản 
phẩm tương tự, bằng tóc người hoặc lông động vật hoặc các 
loại vật liệu dệt; các sản phẩm bằng tóc người chưa được chi 
tiết hoặc ghi ở nơi khác. 
       - Bằng vật liệu dệt tổng hợp: 
6704.11 - - Bộ tóc giả hoàn chỉnh 
6704.19 - - Loại khác 
6704.20 - Bằng tóc người 
6704.90 - Bằng vật liệu khác 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Những món tóc giả dưới tất cả các dạng được làm từ tóc thật, lông 
động vật hoặc bằng các loại vật liệu dệt. Những sản phẩm này bao 
gồm tóc giả, râu, lông mi, lông mày, độn tóc, lọn tóc, bím tóc, râu mép, 
và các sản phẩm tương tự. Các sản phẩm này thường thuộc dạng cao 
cấp được sử dụng để trang điểm cá nhân hoặc cho các công việc 

chuyên môn khác (như tóc giả dùng trong các nhà hát kịch). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Tóc giả dùng cho búp bê (nhóm 95.03). 
(b) Những sản phẩm dùng cho lễ hội, thường là nguyên liệu có chất 
lượng thấp hơn và được hoàn thiện (nhóm 95.05).  
(2) Các mặt hàng bằng tóc, chưa được nêu hoặc đưa vào những 
phần khác, đặc biệt nguyên liệu nhẹ dệt bởi tóc người.  
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Vải lọc (filtering hoặc straining) loại làm bằng tóc thuộc nhóm 
(b) Lưới bao tóc (nhóm 65.05). 
(c) Mạng lọc bằng lông cầm tay (nhóm 96.04). 

PHẦN XIII 
SẢN PHẨM BẰNG ĐÁ, THẠCH CAO, XI MĂNG, AMIĂNG, 
MICA HOẶC CÁC VẬT LIỆU TƯƠNG TỰ; ĐỒ GỐM;  
SỨ (CERAMIC); THUỶ TINH VÀ CÁC SẢN PHẨM BẰNG 
THUỶ TINH 
Chương 68 
Sản phẩm làm bằng đá, thạch cao, xi măng, amiăng, mica hoặc các 
vật liệu tương tự 
Chú giải 
1. Chương này không bao gồm: 
(a) Hàng hoá thuộc Chương 25; 
(b) Giấy và bìa đã được tráng, ngâm tẩm hoặc phủ thuộc nhóm 48.10 
hoặc 48.11 (ví dụ, giấy và bìa đã được tráng graphit hoặc bột mica, 
giấy và bìa đã được bi-tum hóa hoặc asphalt hóa); 
(c) Vải dệt đã được tráng, ngâm tẩm hoặc phủ thuộc Chương 56 hoặc 
59 (ví dụ, vải đã được tráng hoặc phủ bột mica, vải đã được 
asphalt hóa hoặc bi-tum hóa); 
(d) Các sản phẩm của Chương 71; 
(e) Dụng cụ hoặc các bộ phận của dụng cụ, thuộc Chương 82; 
(f) Đá in litô thuộc nhóm 84.42; 
(g) Vật liệu cách điện (nhóm 85.46) hoặc các phụ kiện làm bằng vật 
liệu cách điện thuộc nhóm 85.47; 
(h) Đầu mũi khoan, mài dùng trong nha khoa (nhóm 90.18); 
(ij) Các sản phẩm thuộc Chương 91 (ví dụ, đồng hồ thời gian và vỏ 
đồng hồ thời gian); 
(k) Các sản phẩm thuộc Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, đèn 
(luminaires) và bộ đèn, nhà lắp ghép);  
(l) Các sản phẩm của Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi và 
dụng cụ, thiết bị thể thao); 
(m) Các sản phẩm của nhóm 96.02, nếu làm bằng các vật liệu đã được 

ghi trong Chú giải 2(b) của Chương 96, hoặc của nhóm 96.06 (ví 
dụ, khuy), của nhóm 96.09 (ví dụ, bút chì bằng đá phiến) hoặc 
nhóm 96.10 (ví dụ, bảng đá phiến dùng để vẽ) hoặc của nhóm 
96.20 (chân đế loại một chân (monopod), hai chân (bipod), ba 
chân (tripod) và các sản phẩm tương tự); hoặc 
(n) Các sản phẩm thuộc Chương 97 (ví dụ, các tác phẩm nghệ thuật). 
2. Trong nhóm 68.02, khái niệm "đá xây dựng hoặc đá làm tượng đài đã 
được gia công" được áp dụng không chỉ đối với nhiều loại đá đã được 
nêu ra trong nhóm 25.15 hoặc 25.16 mà còn đối với tất cả các loại đá 
tự nhiên khác (ví dụ, đá thạch anh, đá lửa, dolomit và steatit) đã được 
gia công tương tự; tuy nhiên, không áp dụng đối với đá phiến. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm: 
(A) Các loại sản phẩm  thuộc Chương 25 đã được gia công vượt qua 
mức độ được cho phép theo chú giải 1 của Chương đó 
(B) Các sản phẩm không được đưa vào Chương 25 theo Chú giải 2 (f) 
của Chương đó. 
(C) Một số sản phẩm nhất định được làm  bằng các nguyên liệu khoáng 
thuộc Phần V. 
(D)  Các sản phẩm được làm từ một số các  nguyên vât liệu thuộc 
Chương 28 ( ví dụ,  vật liệu mài nhân tạo). 
Một số  sản phẩm  ở mục (C)  hoặc (D)  có thể được gắn kết  bằng cách 
sử dụng các chất  kết dính, có chứa các chất  độn, có thể được gia cố, 
hoặc trong trường hợp các sản phẩm như vật liệu mài hoặc mica  có thể 
được gắn/dính  vào mặt sau hoặc mặt nền của chất liệu vải, giấy, bìa các 
tông, hoặc các nguyên vật liệu khác. 
Phần lớn các  sản phẩm này và các thành phẩm thu được bằng các công 
đoạn (như tạo hình, tạo khuôn), mà sẽ làm thay đổi hình dạng hơn là bản 
chất của các nguyên vật liệu cấu thành. Một số sản phẩm thu được bằng 
sự kết tụ (ví dụ các sản phẩm hắc ín, hoặc một số sản phẩm nhất định 
như các bánh mài mà được kết tụ bằng phương pháp thuỷ tinh hóa các 

vật liệu kết dính); các sản phẩm khác có thể được tôi cứng trong các nồi 
hấp (các loại gạch làm bằng vôi – cát). Chương này cũng bao gồm một 
số sản phẩm nhất định thu được nhờ các công đoạn liên quan đến sự biến 
đổi cơ bản các nguyên liệu thô ban đầu (ví dụ nấu chảy để tạo ra sợi xỉ, 
bazan nung chảy, v.v...). 
Các sản phẩm thu được trong quá trình nung đất đã được tạo hình từ 
trước, (ví dụ các sản phẩm gốm)  nhìn chung đều được  xếp vào Chương 
69, trừ trường hợp các vật liệu mài ceramic thuộc nhóm 68.04. Thủy 
tinh và đồ thuỷ tinh, bao gồm các sản phẩm bằng gốm - thuỷ tinh, thạch 
anh nung chảy hoặc silic nung chảy khác, đều được xếp vào Chương 70.  
Ngoài một số sản phẩm nhất định được đề cập riêng tại phần loại trừ 
của Chú giải Chương này còn không bao gồm:  
(a) Kim cương, các loại đá quý và bán quý khác (đá tự nhiên, tổng hợp 
hoặc tái tạo),  các sản phẩm được tạo ra từ các loại đá này  và các mặt 
hàng khác thuộc Chương 71.  
(b) Các loại đá in ly tô thuộc nhóm 84.42. 
(c) Các tấm  (bằng đá phiến, đá cẩm thạch, amiăng- ximăng) được  
khoan hoặc được làm bằng cách khác để làm bảng điều khiển (nhóm 
85.38); vật liệu cách điện và các phụ kiện bằng vật liệu cách điện, 
thuộc các nhóm 85.46 hoặc 85.47. 
(d) Các mặt hàng thuộc Chương 94 (ví dụ: đồ nội thất, đèn (luminaires) 
và các bộ đèn, nhà lắp ghép ). 
(e) Đồ chơi, thiết bị trò chơi và dụng cụ, thiết bị thể thao  (Chương 95). 
(f) Các vật liệu chạm khắc có nguồn gốc khoáng chất được nêu trong 
Chú giải 2 (b) của Chương 96, đã được gia công hoặc ở dạng sản 
phẩm hoàn chỉnh (nhóm 96.02). 
(g) Nguyên bản tác phẩm điêu khắc và tượng tạc, các vật phẩm sưu tập 
và đồ cổ của Chương 97. 
68.01 - Các loại đá lát, đá lát lề đường và phiến đá lát đường, bằng  68.01 - Setts, curbstones and flagstones, of natural stone (except slate). 

đá tự nhiên (trừ đá phiến) 
Nhóm này bao gồm đá tự nhiên trừ đá phiến (ví dụ:  granite, cát kết,  
porfia) được gia công thành các dạng thường dùng để lát vỉa hè hoặc lát 
viền lề đường hoặc tương tự; các loại đá này vẫn thuộc nhóm này thậm 
chí nếu chúng cũng thích hợp cho các mục đích sử dụng khác. Đá cuội, 
sỏi và các loại đá trải đường tương tự chưa được tạo hình được xếp vào 
nhóm 25.17.  
Các sản phẩm thuộc nhóm này thu được bằng cách xẻ, đẽo thô hoặc tạo 
hình đá hộc (đá tảng) bằng phương pháp thủ công hay bằng máy. Các 
loại đá lát (sett) và phiến đá lát đường (flagstone) thường có bề mặt hình 
chữ nhật (kể cả hình vuông), tuy nhiên trong khi phiến đá lát đường 
(flagstone) thường nhỏ về chiều dài và chiều rộng thì đá lát (sett) có khối 
thô hoặc hình tháp cụt. Đá lát lề đường (curbstone) có thể thẳng hoặc 
cong; chúng thường có mặt cắt ngang hình chữ nhật (trừ hình vuông). 
Nhóm này cũng bao gồm đá ở dạng dễ nhận biết như đá lát (sett), đá lát lề 
đường (curbstone) hoặc phiến đá lát đường (flagstone), thậm chí cả loại đá 
thu được đơn giản bằng cách xẻ, cưa hoặc cắt  thô thành hình vuông; nhóm 
này cũng bao gồm các loại đá đã được đẽo gọt, mài giũa bằng cát, mài, mài 
tròn các rìa, vát cạnh, đục và ghép mộng hoặc được gia công đặc biệt dùng 
cho lát đường (đá lát lề đường (curbstone) đã được tạo hình dùng cho hệ 
thống đường thoát nước hoặc lối ra của garage). 
Nhóm này không bao gồm đá lát lề đường,  ví dụ: bằng bêtông hoặc đá nhân 
tạo (nhóm 68.10) và các phiến đá lát đường bằng ceramic (Chương 69). 
68.02- Đá làm tượng đài hoặc đá xây dựng đã được gia công (trừ 
đá phiến) và các sản phẩm làm từ các loại đá trên, trừ các 
sản phẩm thuộc nhóm 68.01; đá khối dùng để khảm và các 
loại tương tự, bằng đá tự nhiên (kể cả đá phiến), có hoặc 
không có lớp lót; đá hạt, đá dăm và bột đá đã nhuộm màu 
nhân tạo, làm bằng đá tự nhiên (kể cả đá phiến) 
6802.10 -  Đá lát, đá khối và các sản phẩm tương tự, có hoặc 
không ở dạng hình chữ nhật (kể cả dạng hình vuông), mà 

mặt lớn nhất của nó có thể nằm gọn trong một hình vuông 
có cạnh nhỏ hơn 7 cm; đá hạt, đá dăm và bột đá đã 
nhuộm màu nhân tạo 
              - Đá làm tượng đài hoặc đá xây dựng khác và các sản 
phẩm làm từ chúng, mới chỉ cắt hoặc cưa đơn giản, có bề 
mặt nhẵn hoặc phẳng: 
6802.21 - - Đá hoa (marble), tra-véc-tin và thạch cao tuyết hoa 
6802.23 - -  Đá granit 
6802.29 - - Đá khác  
              -   Loại khác:  
6802.91 - - Đá hoa (marble), tra-véc-tin và thạch cao tuyết hoa  
6802.92 - - Đá vôi khác  
6802.93 - -  Đá granit 
6802.99 - - Đá khác  
 Nhóm này bao gồm các loại đá tự nhiên làm tượng đài hoặc đá dùng 
trong xây dựng (trừ đá phiến), đã được gia công hoàn chỉnh hơn so 
với các sản phẩm lấy từ mỏ thông thường thuộc Chương 25. Tuy 
nhiên, có một số trường hợp loại trừ đối với các sản phẩm được 
phân loại một cách cụ thể hơn tại các nhóm khác của Danh mục và 
các ví dụ của các trường hợp này được nêu ở phần cuối của Chú giải 
Chi tiết này và trong phần Chú giải Tổng quát của Chương này.    
Do đó, nhóm này bao gồm các loại đá đã được gia công thêm hơn là chỉ 
được tạo hình thành các khối, tấm hoặc phiến bằng cách xẻ, cắt thô hoặc 
cắt thành hình vuông thô hoặc cắt thành hình vuông bằng cách cưa (các 
bề mặt hình vuông hoặc hình chữ nhật).  
Do vậy  nhóm này gồm sản phẩm đá ở các dạng được tạo bởi thợ đá, thợ 
điêu khắc v.v, nghĩa là:  
(A) Các phôi được cưa thô; các tấm không ở dạng hình chữ nhật (có một 
hoặc nhiều mặt hình tam giác, ngũ giác, hình thang, hình tròn, v.v...)  
(B) Đá ở bất kỳ dạng nào (kể cả dạng khối, phiến hay tấm), đã hoặc chưa 
ở dạng thành phẩm mà đã được định hình (nghĩa là đá được gọi tên 

là “đá mặt thô” bằng cách làm nhẵn dọc theo các rìa trong khi loại 
bỏ các bề mặt lồi thô), được đẽo gọt bằng búa chim, búa gõ, hoặc 
bằng đục v.v, được xẻ rãnh bằng phay ren lược, v.v, được bào, mài 
giũa bằng cát, mài, mài bóng, vát cạnh, tạo khuôn, tiện, trang trí, 
khắc chạm, v.v.   
Do vậy nhóm này không chỉ bao gồm đá xây dựng (kể cả phiến lát-facing 
slab) được gia công như ở trên, mà còn bao gồm các sản phẩm như   bậc 
cầu thang hay nền cầu thang, mái đua, trán tường, cột lan can, chấn song, 
rầm chìa; khung cửa sổ hoặc cửa ra vào và lanh tô cửa, ngưỡng cửa ra vào; 
bệ lò sưởi; gờ cửa sổ; bậc cửa ra vào; bia mộ; cột ranh giới và cột cây số, 
cọc ngăn; biển chỉ đường (được tráng men hoặc không được tráng men); cột 
bảo vệ và vật chắn; chậu, máng, bể có đài phun nước, bi của máy nghiền; 
bình hoa, cột, đế và mũ cột; tượng, tượng nhỏ, bệ tượng đài; hình chạm nổi 
cao hoặc thấp (phù điêu); cây thập tự; tượng có hình các con thú; bát, bình, 
tách chén, hộp đựng kẹo cao su, hộp đựng bút, gạt tàn thuốc lá, cái chặn 
giấy, hoa quả và lá cây giả, v.v. Các sản phẩm đá dùng để trang trí được kết 
hợp với các vật liệu khác có thể được phân loại như đồ trang sức hoặc giả 
trang sức, hoặc các đồ trang sức bằng bạc hoặc vàng (xem phần Chú giải 
Chi tiết của Chương 71); các sản phẩm trang trí khác chủ yếu bằng đá nhìn 
chung được xếp vào nhóm này.   
Các phiến đá dùng làm bề mặt của các đồ nội thất (như tủ, bồn rửa mặt, 
bàn...) được xếp vào Chương 94 nếu chúng được trình bày cùng với các 
bộ phận của đồ nội thất (đã hoặc chưa được lắp ráp) và mục đích sử 
dụng rõ ràng sẽ được dùng làm bộ phận của chúng, tuy nhiên các sản 
phẩm dùng làm bề mặt của các đồ nội thất này được trình bày riêng thì 
vẫn được xếp trong nhóm này.  
Các sản phẩm bằng đá làm tượng đài hoặc xây dựng đã được gia công 
thường được tạo ra từ các loại đá thuộc nhóm 25.15 hay 25.16, tuy nhiên 
cũng có thể được tạo ra từ những loại đá tự nhiên khác trừ đá phiến, 
(như quaczit,  dolomit, đá lửa, steatit). Ví dụ: Steatite được dùng cho 
công trình kết cấu công nghiệp nơi cần có độ chịu nhiệt hoặc ăn mòn hoá 
học (ví dụ trong lò thu hồi nhiệt - recuperative furnace). Nó cũng được 
dùng trong nhà máy hoá chất và bột giấy.  

Nhóm này cũng bao gồm đá khối dùng để khảm nhỏ đã được gia công và 
các sản phẩm tương tự từ đá cẩm thạch, v.v dùng để ốp tường hoặc lát 
nền, v.v, đã hoặc chưa được lót giấy hoặc các loại vật liệu khác. Nhóm 
này cũng bao gồm thêm đá hạt, đá dăm và bột đá hoa cẩm thạch hoặc 
các loại đá tự nhiên khác được nhuộm màu nhân tạo (kể cả đá phiến) (ví 
dụ dùng để trưng bày trên các tủ kính bày hàng), tuy nhiên đá cuội, đá 
hạt, đá dăm chưa được xử lý và các loại cát tự nhiên được nhuộm màu 
được xếp vào Chương 25.    
Các sản phẩm như đá phiến,  gạch v.v… thu được bằng cách gắn kết các 
mảnh vụn của đá tự nhiên với xi măng  hoặc các chất kết dính khác (ví 
dụ nhựa), và các pho tượng nhỏ, cột, tách chén, ...vv được làm từ đá viên 
hoặc bột đá đã được gắn kết và tạo khuôn, cũng được phân loại là các 
sản phẩm đá nhân tạo thuộc nhóm 68.10.   
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Đá phiến và các sản phẩm bằng đá phiến đã được gia công, trừ đá 
khối dùng để khảm và sản phẩm tương tự  (nhóm 68.03,  96.09 và 
(b) Các sản phẩm bằng basan nung chẩy (nhóm 68.15). 
(c) Các sản phẩm từ đá steatit đã nung (Chương 69 hoặc Chương 85).  
(d)  Các sản phẩm giả trang sức (nhóm 71.17). 
(e) Các sản phẩm thuộc Chương 91 (ví dụ, đồng hồ và vỏ đồng hồ và 
các bộ phận của nó). 
(f)  Đèn (luminaires), bộ đèn và các bộ phận của nó (nhóm 94.05). 
(g) Khuy bằng đá (nhóm 96.06) và phấn viết thuộc nhóm 95.04 
hoặc 96.09. 
(h) Nguyên bản tác phẩm điêu khắc và tượng tạc (nhóm 97.03). 
68.03 - Đá phiến đã gia công và các sản phẩm làm bằng đá phiến 
hoặc làm bằng đá phiến kết khối (từ bột đá phiến kết lại 
thành khối). 
Đá phiến tự nhiên được xếp vào nhóm 25.14 khi ở dạng tảng, hoặc khối, 
tấm hoặc phiến được tạo bằng cách xẻ, cắt hoặc cắt thành hình vuông thô 

hoặc cắt thành hình vuông bằng cách cưa. Nhóm này bao gồm các sản 
phẩm tương tự được gia công hoàn chỉnh hơn (nghĩa là được cưa hoặc cắt 
trừ các loại hình chữ nhật (kể cả hình vuông), được mài, mài bóng, vát 
cạnh, khoan, đánh vecni, tráng, tạo khuôn hoặc được trang trí cách khác).  
Ngoài những cái khác, nhóm này bao gồm các sản phẩm được mài bóng 
hoặc được gia công bằng cách khác như gạch ốp tường, phiến đá lát đường 
và đá tấm (để lát, nhà xưởng, các thiết bị dùng trong ngành hoá chất, v.v); 
máng, bể chứa, bồn rửa, chậu rửa, hệ thống thoát nước và bệ lò sưởi. 
Nhóm này cũng bao gồm phiến đá lợp, đá ốp mặt và đá kè đập không chỉ 
ở các hình dạng đặc biệt (hình đa giác, hình tròn, v.v) mà còn ở dạng 
hình chữ nhật (kể cả hình vuông).  
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm đá phiến kết khối. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Đá viên, mảnh và bột làm từ đá phiến, không được nhuộm màu 
nhân tạo (nhóm 25.14). 
(b) Đá khối dùng để khảm và các loại tương tự, đá viên, mảnh và bột 
làm từ đá phiến được nhuộm màu nhân tạo (nhóm 68.02). 
(c)  Bút chì viết bảng đá đen (nhóm 96.09), bảng đá đen dùng để vẽ, 
hoặc viết có thể sử dụng được ngay và các bảng có hoặc không có 
khung (nhóm 96.10). 
68.04- Đá nghiền, đá mài, đá mài dạng hình tròn và tương tự, không 
có cốt, dùng để nghiền, mài, đánh bóng, giũa hoặc cắt, đá 
mài hoặc đá đánh bóng bằng tay, và các phần của chúng, 
bằng đá tự nhiên, bằng các vật liệu mài tự nhiên hoặc nhân 
tạo đã được kết khối, hoặc bằng gốm, có hoặc không kèm 
theo các bộ phận bằng các vật liệu khác (+). 
6804.10 - Đá nghiền (thớt cối xay) và đá mài để nghiền, mài 
hoặc  xay thành bột 
              - Đá nghiền, đá mài khác, đá mài dạng hình tròn và 
dạng tương tự: 
6804.21 - - Bằng kim cương tự nhiên hoặc kim cương nhân tạo 

đã được kết khối 
6804.22 - -Bằng vật liệu mài đã được kết khối hoặc bằng 
gốm khác. 
6804.23 - - Bằng đá tự nhiên  
6802.30 -   Đá mài hoặc đá đánh bóng bằng tay   
Nhóm này chủ yếu bao gồm: 
(1) Đá nghiền và đá mài thường có kích thước tương đối lớn, dùng để 
nghiền, mài, nghiền nhão, v.v... (ví dụ để nghiền hạt (đá tầng trên 
hoặc tầng dưới); nghiền gỗ, amiăng, v.v; đá mài các loại dùng 
trong sản xuất giấy, chất mầu... 
(2) Đá mài dùng để mài dao (cutlery) các dụng cụ, v.v và được thiết 
kế để gắn trên các máy vận hành bằng tay, bàn đạp hoặc điện. 
Đá mài và đá nghiền được mô tả ở hai mục trên thường ở dạng phẳng, 
hình trụ hoặc hình nón cụt. 
(3)  Mũi, đĩa, đầu, bánh mài dạng hình tròn, v.v được dùng trên các 
dụng cụ cơ khí, các dụng cụ cầm tay chạy cơ điện hoặc khí nén, 
dùng để xén, mài bóng, mài, giũa hoặc đôi khi dùng để cắt kim 
loại, đá, thuỷ tinh, nhựa, gốm, cao su, da, xà cừ, ngà voi, v.v.  
       Loại trừ một số loại đĩa cắt có thể có đường kính khá lớn, các sản 
phẩm này thường có kính thước nhỏ hơn nhiều các loại sản phẩm 
đã nêu ở trên, và chúng có thể có nhiều dạng khác nhau (ví dụ, 
hình phẳng, hình nón, hình cầu, hình đĩa, hình vòng, hình lõm hoặc 
hình bậc thang); chúng cũng có thể được bào hoặc gia công định 
hình ở các gờ.  
Nhóm này bao gồm các dụng cụ không chỉ khi chúng chủ yếu là 
các vật liệu mài, mà còn khi chúng chỉ có một đầu mài rất nhỏ gắn 
trên thân kim loại, hoặc lõi vật liệu cứng (kim loại, gỗ, nhựa, lie, 
v.v) mà trên đó các lớp bánh ép của vật liệu mài đã kết khối được 
gắn cố định (ví dụ các đĩa cắt bằng kim loại,v.v được gắn các vòng 
hoặc các đệm lót biên của các vật liệu mài). Nhóm này cũng bao 

gồm các thành phần mài dùng cho các đầu mài, có hoặc không 
được gắn vào các giá đỡ để cố định phần thân của đầu mài. 
Tuy nhiên cũng cần lưu ý một số dụng cụ mài bị loại trừ và được 
xếp vào Chương 82. Tuy nhiên, Chương 82 chỉ bao gồm các dụng 
cụ mài có răng cắt, đường máng, đường rãnh soi, v.v, và vẫn giữ 
được đặc tính và chức năng thậm chí sau khi gắn vật liệu mài 
(nghĩa là các dụng cụ không giống với các dụng cụ trong nhóm 
này, có thể được đưa vào sử dụng kể cả khi vật liệu mài chưa được 
gắn). Do vậy, các loại cưa có răng cắt được phủ vật liệu mài vẫn 
được xếp vào nhóm 82.02. Tương tự, các mũi khoan vành được 
dùng để cắt các loại đĩa từ các tấm thủy tinh, thạch anh, v.v được 
xếp vào nhóm này nếu cạnh cắt nhẵn trừ chất phủ vật liệu mài, 
nhưng được xếp vào nhóm 82.07 nếu cạnh cắt có răng (có hoặc 
không được phủ vật liệu mài). 
(4) Đá mài bóng, đá mài, đá dầu, đá mài dao cạo và các sản phẩm tương 
tự, có hoặc không có tay cầm được sử dụng trực tiếp bằng tay để mài, 
mài sắc, mài bóng hoặc mài sạch kim loại hoặc các vật liệu khác.  
Chúng có thể có nhiều hình dạng (ví dụ, hình chữ nhật, hình thang, 
hình quạt hoặc hình viên phân của hình tròn, hình lưỡi dao, hình 
thuôn có hai đầu dạng côn) và có thể có hình vuông, tam giác, hình 
tròn, hình bán nguyệt, v.v, theo tiết diện ngang. Chúng cũng có thể 
gồm có các tấm hình lăng trụ, chủ yếu bằng cacbua bo kết khối, được 
sử dụng bằng tay để mài hoặc mài sắc đá mài bằng vật liệu mài nhân 
tạo, và có chức năng phụ để mài sắc các dụng cụ kim loại. 
Các loại đá này đặc biệt được dùng để mài sắc các dụng cụ và các 
dụng cụ cắt (ví dụ, dao, kéo, lưỡi dao của máy gặt, hái, liềm, dao 
cắt cỏ khô, v.v) hoặc để mài bóng kim loại, v.v. 
Các dụng cụ có lưỡi cắt sắc (ví dụ, lưỡi dao cạo hoặc các dụng cụ 
phẫu thuật) được mài sắc bằng đá dầu hoặc đá mài dao cạo được 
làm từ đá phiến hoặc đá hạt mịn đặc biệt; các loại đá này thường 
được làm ẩm bằng nước hoặc dầu trước khi sử dụng. Một số loại 

đá (ví dụ, đá bọt) cũng được dùng cho các mục đích trong nhà vệ 
sinh, sơn sửa móng tay, móng chân, và cũng dùng để làm sạch, 
mài bóng, v.v, kim loại, v.v. 
Đá mài, đá mài dạng hình tròn, v.v, phải được làm chủ yếu bằng đá tự 
nhiên, được hoặc chưa kết khối (ví dụ đá cát kết, đá granite, dung nham, đá 
lửa tự nhiên, molát, đôlômit, thạch anh, trachit), bằng các vật liệu mài nhân 
tạo hoặc tự nhiên đã được kết khối (ví dụ, đá nhám, đá bọt, tripolite, đất tảo 
cát,  thuỷ tinh vụn, corundum, cacbua silic, ngọc thạch lựu, kim cương, 
cacbua bo) hoặc bằng gốm (bằng đất nung hoặc đất chịu lửa hoặc bằng sứ).  
Các đá mài dạng hình tròn đã kết khối, v.v được làm bằng cách trộn vật liệu 
mài hoặc đá với các chất kết dính như các vật liệu gốm (ví dụ, đất sét dạng 
bột hoặc cao lanh, đôi khi bổ sung thêm tràng thạch), natri silicat, xi măng 
(đặc biệt xi măng magie) hoặc các nguyên vật liệu xi măng ít cứng (như cao 
su, nhựa cánh kiến hoặc nhựa). Xơ dệt các loại như coton, nilon, hoặc lanh 
đôi khi được đưa vào các hỗn hợp. Các hỗn hợp này được tạo khuôn để tạo 
hình, sấy và sau đó được nung (nếu cần tới giai đoạn hoá thành thủy tinh 
trong trường hợp sử dụng các chất kết dính bằng gốm) hoặc được lưu hoá 
(trong trường hợp bằng cao su, nhựa, v.v, các chất kết dính). Các sản phẩm 
này sau đó được đẽo theo kích cỡ và hình dạng. 
Trong quá trình tạo một số loại đá mài bóng (đá dầu), có sử dụng bột 
mài đã được làm sạch.  
Các loại đá mài của nhóm này, và đặc biệt các loại đá dùng cho kho thóc 
hoặc cho bột giấy, đôi khi có bề mặt kẻ gân. Chúng có thể là một mảnh 
hoặc được tạo bởi nhiều đoạn ghép lại, được gắn với các ổ cắm, các 
mâm bánh bên trong hoặc bên ngoài, các quả đối trọng hoặc các hốc; 
chúng cũng có thể được gắn trên các trục, cọc sợi, nhưng chúng phải 
không có khung. Đá mài có khung được phân loại vào nhóm 82.05 nếu 
được vận hành bằng tay hoặc bàn đạp hoặc vào Chương 84 hoặc 
Chương 85 nếu được vận hành bằng điện. 
Ngoài các loại đá nghiền, đá mài  hoàn chỉnh, v.v được mô tả ở trên, 
nhóm này cũng bao gồm các phôi có thể nhận biết được; các đoạn và các 
bộ phận hoàn chỉnh của các sản phẩm này, nếu chủ yếu làm từ đá, vật 
liệu mài đã kết khối hoặc gốm. 

Nhóm này không bao gồm:  
(a) Đá bọt thơm, được đóng gói thành khối, viên hoặc các dạng đã được 
gia công tương tự thuộc nhóm 33.04. 
(b)  Hạt hoặc bột mài tự nhiên  hoặc nhân tạo được phủ lên các vật liệu 
dệt, giấy, bìa cứng hoặc các vật liệu khác (nhóm 68.05), có hoặc 
không các vật liệu dệt, giấy này...được dán thêm lên trên các vật đỡ 
như đĩa hoặc dải gỗ mỏng (dũa mài dùng trong ngành công nghiệp sản 
xuất đồng hồ, kỹ thuật cơ khí v.v...) 
(c) Đầu mũi khoan, mài dùng trong nha khoa (nhóm 90.18). 
Chú giải chi tiết phân nhóm: 
Phân  nhóm 6804.10 
Các sản phẩm trong phân nhóm này được thiết kế dùng giảm kích cỡ hạt 
của các vật liệu  như hạt, bột, bột màu, v.v chứ không dùng để đẽo, mài 
bóng, mài sắc, giũa hoặc bóc tách vật liệu khác.  
Đá nghiền và đá mài để mài hoặc nghiền 
 Các loại đá này chủ yếu được đóng gói thành cặp, và có bề mặt hình 
nón (một viên đá có bề mặt lõm và một viên có bề mặt lồi), được xoi 
rãnh vào phía trong để các hạt đã nghiền có thể chảy qua tâm của đá.  
Đá mài và đá nghiền dùng để xay thành bột  
 Các sản phẩm này đều có kích thước lớn và thường nặng vài tấn, và 
được làm thành từng cục một hay từ nhiều khối ghép lại với nhau bằng 
keo. Chúng có đường kính lớn hơn 1.200 mm và độ dày trên 500 mm. 
68.05- Bột mài hoặc hạt mài tự nhiên hay nhân tạo, có nền bằng vật 
liệu dệt, giấy, bìa hoặc các vật liệu khác, đã hoặc chưa cắt 
thành hình hoặc đã khâu hoặc hoàn thiện bằng cách khác 

         6805.10 - Trên nền chỉ bằng vải dệt 
6805.20 - Trên nền chỉ bằng giấy hoặc bìa 
6805.30 - Trên nền bằng vật liệu khác 
Nhóm này gồm các vật liệu dệt, giấy, bìa giấy, sợi lưu hoá, da hoặc các 
vật liệu khác, dạng cuộn hoặc cắt theo hình (tấm, băng, dải, đĩa, đoạn 
nhỏ, v.v), hoặc dạng sợi chỉ hoặc dây bện, mà trên đó các vật liệu mài tự 
nhiên hoặc nhân tạo đã nghiền được phủ lên, thường bằng hồ dán hoặc 
plastic. Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm không dệt tương tự, theo 
đó các vật liêu mài được phân tán toàn bộ và được gắn trên các xơ dệt 
bằng chất kết dính. Các vật liệu mài được sử dụng bao gồm đá nhám, 
corundum, cacbua silic, ngọc thạch lựu, đá bọt, đá lửa tự nhiên, thạch 
anh, cát và bột thuỷ tinh. Các băng (dải), đĩa, v.v, có thể được khâu, gắn, 
dính hoặc bằng các cách khác; ví dụ, nhóm này bao gồm các dụng cụ 
như, dũa mài thường được làm bằng cách gắn cố định giấy mài hoặc vải 
lên các khối hoặc các dải gỗ mỏng, v.v. Tuy nhiên nhóm này không bao 
gồm các đá mài dạng hình tròn có vật đỡ cứng (ví dụ, bằng bìa, gỗ, kim 
loại) được gắn với lớp ép kết khối hơn là bằng bột hoặc hạt mài, và các 
dụng cụ cầm tay tương tự (nhóm 68.04). 
Các sản phẩm của nhóm này chủ yếu được dùng (bằng tay hoặc bằng 
máy) để làm nhẵn hoặc làm sạch kim loại, gỗ, lie, thuỷ tinh, da, cao su 
(đã hoặc chưa được đông cứng) hoặc plastic; cũng dùng để làm nhẵn 
hoặc mài bóng các bề mặt được đánh vecni hoặc dầu bóng hoặc để mài 
sắc vải nền kim chải. 
68.06 - Sợi xỉ, bông len đá (rock wool) (1) và các loại sợi khoáng 
tương tự; vermiculite nung nở, đất sét trương nở, xỉ bọt và các 
loại vật liệu khoáng trương nở tương tự; các hỗn hợp và các 
sản phẩm cách nhiệt, cách âm hoặc các vật liệu khoáng hấp 
thụ âm, trừ các sản phẩm thuộc nhóm 68.11 hoặc 68.12 hoặc 
Chương 69. 
 6806.10 - Sợi xỉ, bông len đá (rock wool) và các loại sợi khoáng 
tương tự (kể cả hỗn hợp của chúng), ở dạng rời, dạng tấm 

hoặc dạng cuộn 
 6806.20 - Vermiculite nung nở, đất sét trương nở, xỉ bọt và các 
loại vật liệu quặng khoáng trương nở tương tự (kể cả 
hỗn hợp của chúng) 
 6806.90 - Loại khác  
Sợi xỉ và bông len đá (ví dụ,  đá granite, bazan, đá vôi hoặc đolomit) thu 
được bằng cách nấu chảy một hoặc nhiều các thành phần này và chuyển 
hoá dòng chất lỏng thu được thành sợi, thường bằng quay ly tâm và làm 
chảy hoặc thổi luồng khí.  
Nhóm này cũng gồm loại sợi “alumino- silicat" còn được gọi là "sợi 
gốm". Chúng được tạo hình bằng cách nấu chảy hỗn hợp nhôm oxit và 
silic dioxyt, với tỉ lệ khác nhau, đôi khi bổ sung thêm một lượng nhỏ các 
ôxit khác như ôxít ziricon, crôm hay bo, và bằng cách thổi hoặc đùn các 
hợp chất đã nấu chảy thành khối lượng lớn sợi. 
Len khoáng vật của nhóm này, giống như len thuỷ tinh thuộc nhóm 
70.19, thường ở dạng kết bông hoặc có sợi. Len khoáng vật này khác với 
len thuỷ tinh bởi thành phần hoá học của chúng (xem Chú giải 4 của 
Chương 70), trong khi đó các sợi của chúng thường ngắn hơn và không 
trắng như len thuỷ tinh.  
Vermiculit nung nở hoặc trương nở thu được từ vermiculit (nhóm 
25.30) bằng cách xử lý nhiệt tạo nên một trương nở rất lớn vật liệu, đôi 
khi lớn gấp 35 lần so với khối lượng ban đầu.  
Nhóm này cũng bao gồm các dạng trương nở của peclit (đá trân châu), 
obniđi (đá vỏ chai), clorua v.v, thu được tương tự bằng cách xử lý nhiệt. 
Nhìn chung các sản phẩm này gồm các hạt hình phỏng cầu rất nhẹ. Đá 
chân trâu được hoạt tính bằng xử lý nhiệt sẽ có dạng bột vi lá mỏng màu 
trắng bóng và được phân loại vào nhóm 38.02.  
Đất sét trương nở thu được bằng cách nung các loại đất sét được lựa 
chọn đặc biệt, hoặc bằng cách nung hỗn hợp đất sét với các vật liệu khác 
(ví dụ dung dịch kiềm sunfit).  Bọt xỉ được tạo bằng cách thêm một 
lượng nhỏ nước vào xỉ nấu chảy, và không được nhầm lẫn với xỉ hạt (xỉ 
cát) có tỷ trọng cao hơn nhiều; xỉ hạt này được tạo bằng cách đổ xỉ nấu 

chảy vào nước và được phân loại vào nhóm 26.18.  
Tất cả vật liệu trên đều là loại sản phẩm không bắt cháy và cách nhiệt, 
cách âm hoặc hấp thu âm thanh cực tốt.  Các sản phẩm này đều được xếp 
ở nhóm này ngay cả khi chúng ở dạng khối. 
Tùy thuộc vào độ dung sai liên quan đến hàm lượng amiăng (xem phần 
dưới), nhóm này cũng bao gồm các hợp chất của các vật liệu khoáng ở 
dạng khối cách nhiệt, cách âm hoặc hấp thu âm thanh, ví dụ, các hỗn 
hợp gồm chủ yếu đất tảo cát, bột hoá thạch silic, cacbon magie, v.v 
thường được thêm thạch cao, xỉ, lie dạng bột, mùn cưa hoặc vỏ bào, xơ 
sợi dệt, v.v. Len khoáng vật được mô tả ở trên cũng có thể tạo thành một 
phần của các hỗn hợp này mà nói chung, được dùng như là vật liệu đóng 
gói, tấm cách nhiệt trần nhà, mái, tường, v.v.  
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm, thường có tỷ trọng thấp, được 
làm từ các sản phẩm hoặc hỗn hợp ở trên (ví dụ các khối, tấm, gạch xây, 
tấm lát, ống, vỏ xilanh dây mềm, tấm lót). Các sản phẩm này có thể được 
nhuộm màu nhân tạo nói chung, được thấm các chất chống cháy, có bề 
mặt bằng giấy hoặc được gia cố bằng kim loại. 
Các hợp chất và các mặt hàng được phân loại trong nhóm này có thể 
chứa một lượng nhỏ sợi amiăng để dễ sử dụng. Tỷ lệ amiăng được thêm 
vào thường không quá 5% tính theo trọng lượng. Nhóm này không bao 
gồm các sản phẩm bằng ximăng – amiăng (nhóm 68.11) và các hỗn hợp 
có thành phần cơ bản là amiăng hoặc amiăng và cabon magie (và các sản 
phẩm làm từ chúng) (nhóm 68.12).  
Nhóm này cũng gồm điatomit hoặc các loại đất silic khác được cưa 
thành khối hoặc các hình dạng khác.  
Các sản phẩm bằng bêtông nhẹ (kể cả bê tông được làm bằng cốt 
vermiculit nung nở, đất sét trương nở hoặc tương tự) đều bị loại trừ 
(nhóm 68.10). 

Các sản phẩm thu được bằng cách nung thì được xếp vào Chương 69. 
68.07 - Các sản phẩm bằng asphalt hoặc bằng vật liệu tương tự 
(ví dụ, bi-tum dầu mỏ hoặc hắc ín than đá). 
6807.10 - Dạng cuộn 
6807.90 -  Loại khác  
Nhóm này bao gồm các sản phẩm được làm  từ nhựa đường hoặc bi-tum 
tự nhiên, hắc ín than đá, bi-tum dầu mỏ, hỗn hợp bi-tum, v.v (xem nhóm 
27.08, 27.13, 27.14, hoặc 27.15). Các sản phẩm này thường chứa chất 
độn như  cát, xỉ, phấn, thạch cao, xi măng, bột tan, lưu huỳnh, sợi 
amiăng, bột gỗ, mùn cưa, chất thải li-e và nhựa tự nhiên. 
Nhựa đường (Asphalt), bi-tum, hắc ín, v.v ở dạng khối loại được nấu 
chảy lại trước khi sử dụng thì bị loại trừ (Chương 27) có hoặc không các 
vật liệu này đã được tinh chế hoặc khử nước, hoặc trộn với các vật liệu 
khác; mặt khác, các sản phẩm của nhóm này phải cho thấy là các sản 
phẩm cụ thể.  
 Nhóm này bao gồm: 
(1)  Tấm, gạch xây, tấm lát, phiến đá lát đường, được tạo bằng cách ép 
hoặc tạo khuôn và được dùng để lợp mái, ốp bề mặt, hoặc lát.  
(2)  Các tấm lợp mái bao gồm một lớp nền (ví dụ: bằng bìa, bằng  
màng xơ hoặc vải sợi thuỷ tinh, bằng vải từ các xơ nhân tạo hoặc 
đay hoặc bằng nhôm lá mỏng) được bọc hoặc phủ hoàn toàn ở cả 
hai mặt bằng một lớp nhựa đường  hoặc vật liệu tương tự.  
(3)  Ván xây dựng được làm bằng  một hoặc nhiều lớp vải dệt hoặc 
giấy được bọc hoàn toàn bằng nhựa đường hoặc vật liệu tương tự.   
(4)  Ống và các loại đồ chứa được đúc hoặc tạo khuôn. 
Ống và các loại đồ chứa bằng nhựa đường được phủ hoặc gia cố 
bằng kim loại được phân loại như là các sản phẩm bằng kim loại 
hoặc nhựa đường tuỳ theo thành phần nào tạo nên đặc trưng cơ bản 
của sản phẩm.  
Ống và các loại đồ chứa bằng kim loại (ví dụ bằng sắt hoặc thép 
đúc) được phủ  asphalt,  bi-tum, v.v vẫn được phân loại như các 

sản phẩm kim loại.  
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Giấy, chỉ được phủ, thấm hoặc bọc bằng hắc ín hoặc bằng vật liệu 
tương tự, để dùng, ví dụ, làm giấy gói  (nhóm 48.11). 
(b) Vải dệt được phủ, thấm tẩm hoặc bọc, ví dụ, bi-tum hoặc nhựa 
đường (asphalt) (Chương 56 hoặc Chương 59). 
(c) Các sản phẩm được làm chủ yếu bằng amiăng- xi măng có trộn 
thêm nhựa đường (asphalt) (nhóm 68.11).  
(d) Vải hoặc mạng, v.v bằng sợi thủy tinh,  được bọc hoặc thấm tẩm 
đơn giản bằng bi-tum hoặc bằng nhựa đường (asphalt) (nhóm 
68.08 – Panen, tấm, tấm lát (tiles), khối và các sản phẩm tương tự 
làm bằng sợi thực vật, rơm rạ hoặc bằng phoi bào, mạt gỗ, 
dăm gỗ, mùn cưa hoặc phế liệu khác, bằng gỗ, đã được kết 
khối bằng xi măng, thạch cao hoặc chất kết dính khoáng khác. 
Nhóm này gồm các panel, tấm, tấm lát (tiles) khối, v.v xây dựng hoặc 
cách nhiệt, cách âm hoặc hấp thụ âm, được chế tạo từ các  vật liệu thực 
vật (như sợi xen-lu-lô, bột gỗ, tơ sợi gỗ, mạt gỗ, phoi bào hoặc phế liệu 
từ gỗ, rơm rạ, mùn cưa, cây sậy, cây mây song hoặc sợi thực vật loại 
cứng khác) được kết khối và tạo khuôn bằng  các chất dính khoáng  như 
xi măng, (kể cả xi măng có ôxít clorua- magiê), thạch cao, vôi, hoặc 
silicat natri. Chúng cũng bao gồm các chất độn khoáng (như đất hoá 
thạch silic, magie, cát hoặc amiăng), hoặc được gia cố bằng kim loại.  
Các loại tấm, pa-nen, v.v của nhóm này đều tương đối nhẹ nhưng cứng, 
và các vật liệu từ thực vật vẫn giữ được đặc tính riêng của nó trong chất 
kết dính.  
Vì chúng phải được kết khối bằng các chất kết dính khoáng, chúng 
không được nhầm với ván dăm của nhóm 44.10 hoặc ván sợi ép của 
nhóm 44.11 vì các sản phẩm này phải được kết khối với các chất kết 
dính hữu cơ. Nhóm này cũng không bao gồm các lie được kết khối 
other wood waste, sawdust, straw, reeds, rushes or crin végétal), 

(nhóm 45.04) và các sản phẩm của nhóm 68.11 
68.09 - Các sản phẩm làm bằng thạch cao hoặc bằng các hỗn hợp 
có thành phần cơ bản là thạch cao 
             - Tấm, lá, panen, tấm lát (tiles) và các sản phẩm tương tự, 
chưa được trang trí:  
   6809.11 - - Được phủ mặt hoặc gia cố chỉ bằng giấy hoặc bìa 
  6809.19 - - Loại khác 
6809.90 - Các sản phẩm khác  
Nhóm này bao gồm các sản phẩm bằng thạch cao hoặc bằng các vật liệu 
làm từ thạch cao, đã hoặc chưa nhuộm màu, như vữa stucô (thạch cao 
được trộn với dung dịch hồ, và, sau khi tạo khuôn, thường có bề ngoài 
giống đá cẩm thạch), thạch cao có xơ sợi (thạch cao được gia cố với bó 
gai thô và thường được trộn với dung dịch gelatin hoặc hồ), thạch cao 
ngâm phèn (cũng được gọi là ximăng Keene hoặc ximăng Anh) và các 
chế phẩm tương tự mà có thể có chứa xơ dệt, bột gỗ, mùn cưa, cát, vôi, 
xỉ, photphat, v.v nhưng chứa thạch cao là thành phần chủ yếu.  
Các sản phẩm  này có thể được nhuộm, đánh bóng, đánh xi, sơn bóng, 
mạ đồng, mạ vàng, mạ bạc (bằng mọi phương pháp), hoặc đôi khi được 
phủ bằng nhựa đường (asphalt); chúng cũng có thể được gia cố. Nhóm 
này bao gồm  pa-nen, tấm, bảng hoặc gạch lát, đôi khi được phủ mặt 
bằng bìa, được dùng trong ngành xây dựng; và các sản phẩm được tạo 
khuôn như sản phẩm đúc, tượng, tượng nhỏ, vành sứ hoa hồng, cột, bát, 
bình, các đồ trang trí, khuôn đúc công nghiệp. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Băng cố định vết gẫy được phủ thạch cao, được đóng gói để bán lẻ 
(nhóm 30.05) và nẹp bằng thạch cao cố định vết gẫy (nhóm 90.21). 
(b) Các pa-nen, v.v được kết khối bằng thạch cao thuộc nhóm 68.06 
hoặc 68.08. 

(c) Các mô hình giải phẫu học,  mô hình pha lê, mô hình hình học, thuỷ 
tinh, bản đồ địa hình và các mô hình khác, được thiết kế chỉ cho mục 
đích trưng bày (nhóm 90.23). 
(d)  Ma-nơ-canh dùng trong ngành may, v,v (nhóm 96.18).  
(e)  Nguyên bản tác phẩm điêu khắc và tượng tạc, (nhóm 97.03). 
68.10 - Các sản phẩm bằng xi măng, bằng bê tông hoặc đá nhân tạo, 
đã hoặc chưa được gia cố (+). 
                    - Tấm lát (tiles), phiến đá lát đường, gạch xây và các 
sản phẩm tương tự: 
6810.11 - - Gạch và gạch khối xây dựng  
6810.19 - - Loại khác 
 -  Sản phẩm khác: 
6810.91 - - Các cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân 
dụng 
      6810.99 - - Loại khác  
 Nhóm này gồm các sản phẩm được đúc sẵn, ép hoặc quay li tâm (ví dụ, 
một số đường ống) bằng ximăng (kể cả ximăng xỉ), bằng bê tông hoặc 
bằng đá nhân tạo, trừ các sản phẩm thuộc nhóm 68.06, hoặc 68.08 
(trong sản phẩm xi măng chỉ là chất kết dính), hoặc nhóm 68.11 (các 
sản phẩm ximăng-amiăng).  
Nhóm này cũng gồm các cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật 
dân dụng. 
Đá nhân tạo là sản phẩm giả đá tự nhiên được tạo bằng cách kết khối các 
viên đá tự nhiên, hoặc đá tự nhiên dạng bột hoặc xay (đá vôi, đá cẩm 
thạch, granite, porfia, serpentin, v.v) với vôi hoặc xi măng hoặc các chất 
kết dính khác (ví dụ nhựa).  Các sản phẩm bằng đá nhân tạo gồm đá 
“granito” hoặc đá “terazo”. 
Nhóm này cũng gồm các sản phẩm được làm từ xi măng  xỉ. 
Ngoài các đề cập khác, nhóm này bao gồm khối đá, gạch xây, tấm lát, 
lưới thép hoặc ván gỗ dùng ốp trần nhà hoặc tường (gồm có khung lưới 
thép kết hợp với tỉ lệ bê tông vượt trội); phiến đá lát đường, xà, dầm, các 
tấm lát nền rỗng và các sản phẩm xây dựng khác; cột, cột trụ, cột mốc 

ranh giới, đá lát lề đường; ống các loại, bậc thang, rào chắn, bồn tắm, 
chậu rửa, chậu xí,   máng, thùng, bể chứa, bể phun nước, bia mộ, cột 
đèn, cọc, tà vẹt đường sắt; đoạn rãnh dẫn của tàu chạy trên đệm hơi, 
khung cửa ra vào, hoặc cửa sổ, ống khói, gờ cửa sổ, bậc cửa ra vào, viền 
dải gỗ trang trí, mái đua, bình, chậu hoa, đồ trang trí dùng trong kiến trúc 
hoặc trong vườn; tượng, tượng nhỏ, tượng thú; các sản phẩm trang trí. 
Nhóm này cũng gồm các loại gạch xây, tấm lát, và các sản phẩm cát và 
vôi khác được làm từ hỗn hợp nhão của cát, vôi và nước; sau khi tạo 
khuôn bằng áp lực, các sản phẩm này sẽ được  xử lý bằng hơi nước trong 
nhiều giờ trong nồi hấp nằm ngang với áp suất lớn, ở nhiệt độ khoảng 
140°C. Các sản phẩm này, mà có thể có màu trắng hoặc được nhuộm 
màu nhân tạo, được dùng với rất nhiều mục đích tương tự như các sản 
phẩm gạch xây, tấm lát thông thường v.v... 
Khi các cục thạch anh với các kích thước khác nhau được đưa vào hỗn 
hợp, sẽ thu được các sản phẩm đá nhân tạo. Các tấm làm từ cát vôi xốp 
và nhẹ dùng để cách nhiệt cũng được làm bằng cách thêm bột kim loại 
vào hỗn hợp sao cho khí gas bay hơi; tuy nhiên, các tấm này không được 
tạo khuôn bằng áp lực mà được đúc trước khi đưa vào nồi hấp.  
Các sản phẩm thuộc nhóm này có thể  được lót,  mài,  mài bóng, đánh 
vecni, mạ đồng, tráng men, được làm giả đá phiến, được đúc hoặc trang 
trí bằng cách khác, được nhuộm màu toàn bộ, được gia cố bằng kim loại, 
v.v (ví dụ: bê tông cốt thép hoặc bê tông dự ứng lực), hoặc được gắn với 
các phụ kiện của các vật liệu khác (ví dụ, bản lề, v.v). 
 Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các mảnh bê tông vỡ (nhóm 25.30) 
(b) Các sản phẩm làm từ đá phiến kết khối (nhóm 68.03). 
Chú giải chi tiết phân nhóm. 
Phân nhóm 6810.91. 
Phân nhóm này gồm các cấu  kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kĩ thuật 
dân dụng như  các tấm ốp lát mặt, tường bên trong, các cấu kiện của sàn 
nhà, trần nhà, hoặc móng, cột, các phần lò tuynen, các cấu kiện làm  

cổng hoặc đập nước, cầu tầu, gờ, mái đua. Các cấu kiện này, chủ yếu 
được làm bằng bê tông, thường có các thiết bị để tiện lắp ráp. 
68.11 - Các sản phẩm bằng xi măng-amiăng, bằng xi măng-sợi 
xenlulô hoặc tương tự. 
6811.40 - Chứa amiăng 
                         - Không chứa amiăng: 
6811.81 - - Tấm làn sóng 
6811.82 - - Tấm, panen, tấm lát (tiles) và các sản phẩm tương 
tự khác 
6811.89 - - Loại khác 
Nhóm này gồm các sản phẩm được tôi cứng  gồm chủ yếu hỗn hợp sợi 
trộn kỹ (ví dụ: amiăng, xen-lu-lô  hoặc các loại sợi thực vật khác, sợi 
polyme tổng hợp, sợi kim loại hoặc thuỷ tinh) và xi măng hoặc các chất 
kết dính thuỷ lực khác, các loại sợi hoạt động như các tác nhân gia cố. 
Các sản phẩm này có thể chứa nhựa đường asphalt, hắc ín, v.v. 
Các sản phẩm này thường được tạo ra bằng cách ép các lớp mỏng của 
hỗn hợp sợi, ximăng và nước với nhau hoặc bằng cách tạo khuôn (có thể 
bằng áp suất), bằng cách ép hoặc ép đùn. 
 Nhóm này gồm các tấm với nhiều kích cỡ và độ dày khác nhau, thu 
được theo cách như mô tả ở trên, và cũng bao gồm các sản phẩm được 
tạo bằng cách cắt các tấm này hoặc bằng cách ép, tạo khuôn hoặc uốn 
chúng trước khi chúng được tạo hình, ví dụ, tấm lợp mái, ốp mặt hoặc 
vách ngăn và tấm lát; các tấm làm đồ nội thất; gờ cửa sổ; biển chỉ dẫn, 
hình chữ và số; các rào chắn; tấm làn sóng; bể chứa, máng,  bồn chứa, 

chậu rửa, khớp nối ống, gioăng, và các khớp nối, pa-nen theo kiểu điêu 
khắc, ngói nóc, ống máng, khung cửa sổ, chậu hoa, ống thông gió, hoặc 
đường ống khác, ống dẫn dây cáp, nắp ống khói, v.v... 
Tất cả các mặt hàng này có thể được  nhuộm màu toàn bộ, đánh vec-ni, 
in, tráng men, trang trí, đục lỗ, giũa, bào, mài nhẵn, mài bóng, hoặc gia 
công theo cách khác; chúng cũng có thể được gia cố bằng kim loại,v.v.... 
68.12 - Sợi amiăng đã được gia công; các hỗn hợp với thành phần cơ 
bản là amiăng hoặc thành phần chính là amiăng và magie 
carbonat; các sản phẩm làm từ hỗn hợp đó hoặc làm từ 
amiăng (ví dụ, chỉ, vải dệt thoi, quần áo, mũ và vật đội đầu, 
giầy dép, các miếng đệm), đã hoặc chưa được gia cố, trừ các 
loại thuộc nhóm 68.11 hoặc 68.13 
6812.80 - Bằng crocidolite 
                         - Loại khác: 
6812.91 - - Quần áo, phụ kiện quần áo, giầy dép và vật     đội 
đầu 
6812.99 - - Loại khác 
Nhóm này gồm sợi amiăng được gia công hơn mức làm đập, làm sạch, 
chọn lọc hoặc phân loại (ví dụ, sợi đã được chải và nhuộm). Chúng có 
thể được dùng cho nhiều mục đích (như: kéo sợi, ép nỉ, v.v hoặc được 
dùng như là các vật liệu lọc, cách nhiệt, đóng gói v.v)... Các loại sợi 
amiăng thô hoặc sợi đã được phân loại đơn giản theo chiều dài, đã được 
đập hoặc làm sạch bị loại trừ (nhóm 25.24). 
 Nhóm này cũng gồm các hỗn hợp amiăng có cacbonat magie, sợi xen-
lu-lô, mùn cưa, đá bọt, talc, thạch cao, đất hoá thạch silic, xỉ, ôxit nhôm, 
sợi thuỷ tinh, lie, v.v, được dùng như vật liệu đóng gói cho các mục đích 
cách nhiệt, hoặc được dùng như các vật liệu lọc hoặc dùng để đúc sản 
phẩm amiăng. 
  Tuy nhiên nhóm này đặc biệt bao gồm các loại sản phẩm amiăng có 

thành phần duy nhất là amiăng hoặc hỗn hợp amiăng như đã đề cập ở 
đoạn trước và thường cũng có thêm nhựa tự nhiên, plastic, silicat natri, 
asphalt  hoặc cao su v.v. Các sản phẩm này có thể được làm bằng cách 
ép nỉ, kéo sợi, xe sợi, tết bện, dệt, may hoặc đúc khuôn.  
Đối với mô tả của amiăng crocidolite, xem Chú giải Chi tiết của nhóm 
Giấy, bìa và nỉ amiăng thường được  làm bằng cách nghiền các sợi thành 
bột mà sau đó được tạo hình và ép thành các tấm ví như trong quá trình 
làm các tấm ximăng-amiăng (nhóm 68.11). Các loại bìa cũng được tạo 
bằng cách kết dính các lớp chồng lên nhau của các tấm amiăng với 
plastic. Các sản phẩm này khác với các sản phẩm thuộc nhóm 68.11 ở 
chỗ các sợi amiăng tách riêng có thể phân biệt được dễ dàng. Chúng có 
thể ở dạng cuộn, bản mỏng, hoặc tấm, hoặc có thể được cắt thành các 
dạng dải, khung, đĩa, vòng, v.v. 
Trong quá trình sản xuất sợi, đơn sợi hoặc sợi kép, các sợi amiăng được 
đập, chải và sau đó được kéo thành sợi. Vì các sợi amiăng không thể kéo 
được nên các sợi dài được dùng để kéo sợi, trong khi các sợi ngắn hơn 
được dùng để sản xuất bìa, nỉ, giấy, ximăng amiăng hoặc bột amiăng.  
Các sản phẩm amiăng khác của nhóm này gồm  dây xoắn, dây tết bện, 
tết, vòng đệm; vải dạng miếng hoặc được cắt thành các hình; dải, bao vỏ, 
đường ống, ống dẫn, các khớp nối ống,  bình chứa, thanh, phiến, tấm lát, 
các khớp đóng gói (trừ các vòng đệm và các khớp nối tương tự bằng kim 
loại và amiăng và bộ vòng đệm và khớp nối thuộc nhóm 84.84); tấm lọc, 
vải trải bàn, quần áo bảo hộ, mũ và vật đội đầu, giày dép, dùng cho lính 
cứu hoả, các công nhân trong các ngành công nghiệp, hoá chất, bảo vệ dân 
dụng, v.v. (ví dụ, áo khoác, quần bảo hộ, tạp dề, túi đựng, găng tay, găng 
tay bao, ghệt, mũ trùm đầu và mặt nạ có mắt kính mica, mũ bảo hiểm, ủng 
có amiăng phần trên hoặc đế giày); đệm, tấm chắn của lính cứu hoả, tấm 
dập lửa, màn che rạp hát, vật hình cầu hoặc hình nón bằng sắt được phủ 
amiăng dùng để chữa cháy tại các đường ống dẫn khí đốt.  
Toàn bộ các sản phẩm này có thể được gia cố bằng kim loại (thường 
bằng dây đồng hoặc kẽm), hoặc bằng một số các vật liệu khác (ví dụ vải 
hoặc sợi thuỷ tinh); chúng cũng có thể được phủ bằng mỡ,  talc,  graphit,  

hoặc cao su, hoặc được đánh vec ni,  mạ đồng, nhuộm màu toàn bộ, đánh 
bóng, đục lỗ, nghiền, hoặc được gia công bằng  cách khác. 
Ngoài các sản phẩm bị loại trừ ở phần cChú giải tổng quá, nhóm này 
cũng không bao gồm: 
(a) Bột và mảnh lát amiăng  (nhóm 25.24). 
(b) Các vật liệu và các sản phẩm chủ yếu làm từ plastic dù có chứa 
amiăng như là một chất độn. (Chương 39). 
(c) Các sản phẩm bằng amiăng- ximăng (nhóm 68.11). 
(d)  Các vật liệu ma sát có thành phần cơ bản là amiăng (nhóm 68.13). 
68.13 - Vật liệu ma sát và các sản phẩm từ vật liệu ma sát (ví dụ, tấm 
mỏng, cuộn, dải, đoạn, đĩa, vòng đệm, tấm lót), chưa lắp ráp, 
để làm phanh, côn hoặc các sản phẩm tương tự, với thành 
phần chính cơ bản là amiăng, các chất khoáng khác hoặc 
xenlulo, đã hoặc chưa kết hợp với vật liệu dệt hoặc các vật 
liệu khác 
6813.20 - Chứa amiăng 
- Không chứa amiăng: 
6813.81 - - Lót và đệm phanh 
6813.89 - - Loại khác 
Vật liệu ma sát amiăng thường được làm bằng cách đổ khuôn áp suất cao 
hỗn hợp sợi amiăng, plastic, v.v. Nó cũng có thể được làm bằng cách 
nén các lớp amiăng đã dệt hoặc tết bện mà đã được thấm tẩm plastic, hắc 
ín hoặc cao su. Nó có thể được gia cố bằng dây đồng, kẽm hoặc chì, 
hoặc đôi khi có thể được làm từ dây kim loại hoặc sợi cotton phủ 
amiăng. Nhờ có hệ số ma sát cao và độ bền chịu nhiệt và mài mòn, vật 
liệu này được dùng để lót phanh, đĩa côn, v.v cho tất cả các loại phương 
tiện, cần cẩu, tàu hút nạo vét hoặc các loại máy móc khác. Nhóm này 
bao gồm các vật liệu ma sát tương tự có thành phần cơ bản là các vật 
liệu khoáng khác (ví dụ graphit, đất hoá thạch silic) hoặc sợi xen-lu-lô. 

Tuỳ theo mục đích sử dụng cụ thể, mà vật liệu ma sát của nhóm này có 
thể có dạng tấm, cuộn, dải, đoạn, đĩa, vòng đệm, miếng đệm hoặc được 
cắt thành các dạng khác. Vật liệu ma sát này cũng có thể được lắp ráp 
bằng cách khâu, khoan hoặc được gia công theo cách khác. 
 Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các vật liệu ma sát không chứa các vật liệu khoáng hoặc sợi xen-lu-
lô (ví dụ: các vật liệu bằng lie) và chúng thường được phân loại theo 
vật liệu cấu thành. 
(b) Lót phanh đã lắp ráp (kể cả vật liệu ma sát đã lắp cố định trên tấm 
kim loại có các lỗ/hốc xung quanh, các mộng đã đục lỗ, hoặc các phụ 
kiện tương tự, dùng cho phanh đĩa); các sản phẩm này được phân loại 
như các bộ phận của máy hoặc các phương tiện mà chúng được thiết 
kế để sử dung cho các máy hoặc phương tiện đó (nhóm 87.08). 
68.14 - Mica đã gia công và các sản phẩm làm từ mica, kể cả mica đã 
được liên kết khối hoặc tái chế, có hoặc không có lớp nền phụ 
trợ bằng giấy, bìa hoặc các vật liệu khác.  
 6814.10 - Tấm, tấm mỏng và dải bằng mica đã được kết khối 
hoặc tái chế, có hoặc không có lớp nền phụ trợ 
6814.90 - Loại khác 
Nhóm này gồm mica tự nhiên đã được gia công hơn mức chỉ xẻ và đẽo 
(ví dụ, được cắt thành hình) và cũng gồm các sản phẩm chứa mica kết 
khối (kết dính) hoặc mica nghiền bột (tái chế) và các sản phẩm làm từ 
các vật liệu này.  
Các tấm mỏng và các lớp thu được bằng cách chỉ tách và đẽo các khối 
mica khai thác từ mỏ được xếp vào nhóm 25.25.  
Nhóm này bao gồm các sản phẩm thu được bằng cách cắt các tấm xẻ và 
mỏng này. Vì chúng được tạo bằng khuôn dập nên các rìa tấm được cắt gọn. 
Mica tự nhiên thường được sử dụng ở dạng tấm xẻ hoặc tấm mỏng. Tuy 
nhiên, vì kích thước nhỏ của tinh thể và tính linh hoạt kém, chi phí cao, 

v.v, mica tự nhiên không thích hợp cho nhiều mục đích sử dụng, chúng 
thường được thay thế bằng mica kết khối (ví dụ, micanit, micafolium), 
thu được bằng cách kết dính các tấm xẻ mica chồng lên nhau hoặc sát 
cạnh nhau bằng cách sử dụng các chất kết dính như gôm sơn, nhựa tự 
nhiên, plastic, asphalt v.v. Mica kết khối được làm thành dạng tấm 
mỏng, tấm hoặc dải với độ dày khác nhau, thường có diện tích bề mặt 
khá lớn; các tấm, v., thường được phủ một hoặc cả hai mặt bằng vải dệt, 
vải sợi thủy tinh, giấy hoặc amiăng. 
Các tấm mica mỏng cũng có thể được làm mà không cần có chất kết 
dính bằng cách cho phế thải mica dạng nghiền và bột vào qui trình xử lý 
nhiệt, hoá chất và cơ khí tương tự như mica được dùng để sản xuất giấy 
(mica tái chế).  
Các tấm mỏng này sau đó được gắn vào mặt sau của giấy hoặc vải dệt sử 
dụng vật liệu kết dính thích ứng ; ngoài ra, chúng có thể được dùng để 
sản xuất các tấm và dải có độ dày định sẵn bằng cách xếp nhiều tấm 
mỏng chồng lên nhau và kết dính chúng bằng chất kết dính hữu cơ. 
Nhóm này bao gồm các tấm, dải và cuộn có độ dài bất kỳ; các mảnh 
được cắt thành các hình cho các mục đích sử đụng đặc biệt có dạng hình 
chữ nhật (kể cả hình vuông), đĩa, v.v, các sản phẩm được đổ khuôn như 
ống tuýp, ống dẫn, v.v. Toàn bộ các sản phẩm này có thể được nhuộm 
màu hoàn toàn, được sơn, khoan lỗ, nghiền hoặc được gia công theo 
cách khác. 
Do khả năng chịu nhiệt cao và độ trong mờ của chúng, ngoài các đề cập 
khác, mica chủ yếu được dùng để làm cửa lò, lò sấy, lò nung, v.v, các 
loại kính bảo hộ và đèn không vỡ, v.v. . . Tuy nhiên, do những ưu điểm 
về tính cách điện, chúng chủ yếu được sử dụng trong các ngành công 
nghiệp điện (trong việc chế tạo môtơ, biến thế, máy phát điện, tụ điện, 
điện trở ...). Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng các cách điện và bộ phận 
cách điện của các thiết bị điện bằng mica kể cả chưa được lắp ráp, được 
xếp vào các nhóm từ 85.46 đến 85.48, và thiết bị ngưng tụ cách điện 
bằng mica (tụ điện) được xếp vào nhóm 85.32.  
Nhóm này cũng không bao gồm: 

(a) Mica dạng bột và phế liệu mica (nhóm 25.25). 
(b) Giấy  hoặc bìa được phủ  bột mica (nhóm 48.10 hoặc 48.14), và 
vải dệt thoi được phủ bột mica (nhóm 59.07). Các sản phẩm này 
không  được nhầm với  mica đã liên kết khối hoặc tái chế như mô 
tả ở trên.  
(c) Vermiculit  trương nở (nhóm 68.06) (xem phần Chú giải Chi tiết 
tương ứng ). 
(d) Kính bảo hộ và kính mắt bằng mica  (nhóm 90.04). 
(e) Mica dùng làm trang trí cây thông Noel (nhóm 95.05). 
68.15 - Các sản phẩm bằng đá hoặc bằng các chất liệu khoáng khác (kể 
cả xơ carbon, các sản phẩm bằng xơ  carbon và các sản phẩm 
làm bằng than bùn), chưa được chi tiết hay ghi ở nơi khác. 
- Xơ carbon; các sản phẩm từ xơ carbon không phải là 
các sản phẩm điện; các sản phẩm khác làm từ graphit 
hoặc carbon khác không phải là các sản phẩm điện: 
6815.11 - - Xơ carbon 
6815.12 - - Vải dệt từ xơ carbon 
6815.13 - - Các sản phẩm khác từ xơ carbon 
6815.19 - - Loại khác 
         6815.20 - Sản phẩm từ than bùn 
                         - Các loại sản phẩm khác: 
6815.91 - - Có chứa magiezit, magiê oxit  ở dạng periclase, dolomit kể 
cả ở dạng dolime, hoặc cromit 
6815.99 - - Loại khác 
Nhóm này gồm các sản phẩm bằng đá hoặc bằng các chất  khoáng khác, 
chưa được xếp vào các nhóm trước của chương này và chưa được ghi ở 
nơi khác trong Danh mục; do vậy nhóm này không bao gồm, ví dụ, các 
sản phẩm gốm của Chương 69. 
 Nhóm này  bao gồm: 
(1) Các sản phẩm làm từ graphit tự nhiên hoặc nhân tạo không phải là 

sản phẩm điện (kể cả dạng hạt nhân), hoặc bằng loại cac-bon khác, ví 
dụ: bộ lọc, vòng đệm, ổ bi đũa, ống tuýp và lớp bảo vệ; gạch xây 
dựng và tấm lát đã được gia công; khuôn để sản xuất các sản phẩm 
nhỏ được thiết kế tinh xảo (ví dụ: tiền xu, huân, huy chương, bộ sưu 
tập lính chì...). 
(2) Xơ carbon và các sản phẩm bằng xơ carbon. Xơ carbon thường được 
làm bằng cách carbon hoá polyme hữu cơ ở dạng sợi. Ví dụ, các sản 
phẩm được sử dụng để gia cố. 
(3) Các sản phẩm  được làm từ than bùn (ví dụ, tấm, vỏ xilanh, bình 
dùng để trồng cây). Tuy nhiên các sản phẩm dệt bằng xơ than bùn 
không bị loại trừ  (Phần XI). 
(4) Gạch xây chưa nung được làm bằng dolomit được kết khối với  
hắc ín. 
(5) Gạch xây và các hình khối khác (đặc biệt các sản phẩm bằng magiê 
hoặc magiê crom), được liên kết bằng hoá học, nhưng chưa được 
nung. Các sản phẩm này  được nung trong quá trình nung đầu tiên 
của lò mà chúng đã được xếp trong đó. Các sản phẩm tương tự sau 
nung được loại trừ (nhóm 69.02 hoặc 69.03). 
(6) Bình chứa bằng nhôm hoặc silic chưa nung (ví dụ, được dùng cho 
thuỷ tinh nấu chảy).  
(7) Đá thử dùng để thử các kim loại quý; chúng có thể là đá tự nhiên (ví 
dụ, đá lidit, loại đá cứng, đen và có hạt mịn chịu được axit).  
(8) Khối và phiến lát vỉa hè  thu được bằng cách đổ khuôn xỉ nấu chảy 
không có chất kết dính, tuy nhiên loại trừ các sản phẩm có đặc tính 
của các sản phẩm cách nhiệt thuộc nhóm 68.06.  
(9) Ống tuýp lọc bằng thạch anh hoặc bằng đá lửa đã được nghiền mịn 
và kết khối. 
(10) Các khối, miếng, tấm và các sản phẩm khác bằng bazan nung chảy; do 
độ bền lớn, các sản phẩm này được dùng làm lớp lót ống dẫn, băng 
chuyền, máng chuyển than cốc, than đá, quặng, sỏi, đá, v.v.   
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Khối, tấm, và các bán thành phẩm tương tự bằng graphit nhân tạo, hoặc 

bằng loại “carbon khác”, chủ yếu được dùng để cắt thành các chổi điện 
(nhóm 38.01), (xem phần Chú giải Chi tiết tương ứng). 
(b) Các sản phẩm chịu lửa, được nung như các sản phẩm gốm, có thành 
phần cơ bản là chất carbon (graphit, than cốc, v.v…) và nhựa chưng 
hắc ín than đá hoặc đất sét (nhóm 69.02 hoặc 69.03, tuỳ trường hợp 
cụ thể). 
(c) Than, chổi, điện cực và các bộ phận hoặc sản phẩm khác sử dụng 
trong ngành điện (nhóm 85.45). 

Chương 69 
Đồ gốm, sứ 
Chú giải. 
1.- Chương này chỉ áp dụng đối với những sản phẩm gốm, sứ đã được 
nung sau khi tạo hình: 
(a) Các nhóm từ 69.04 đến 69.14 chỉ áp dụng đối với những sản phẩm 
như vậy trừ những sản phẩm được phân loại trong các nhóm từ 
69.01 đến 69.03; 
(b) Các sản phẩm được gia nhiệt ở nhiệt độ dưới 800°C cho các mục 
đích như đóng rắn nhựa, tăng tốc phản ứng hydrat hóa, hoặc để 
loại bỏ nước hoặc các thành phần dễ bay hơi khác, không được coi 
là nung. Các sản phẩm như vậy bị loại trừ khỏi Chương 69; và 
(c) Các sản phẩm gốm, sứ thu được bằng cách nung các vật liệu phi 
kim loại, vô cơ đã được chuẩn bị và tạo hình trước đó ở nhiệt độ 
phòng nói chung. Các nguyên liệu thô bao gồm, không kể những 
đề cập khác, đất sét, vật liệu silic kể cả silica nung chảy, các vật 
liệu có nhiệt độ nóng chảy cao, như oxit, carbua, nitrua, graphit 
hoặc carbon khác, và trong một số trường hợp là chất kết dính như 
phốt phát hoặc đất sét chịu lửa. 
2. Chương này không bao gồm: 
(a) Các sản phẩm thuộc nhóm 28.44; 
(b) Các sản phẩm thuộc nhóm 68.04; 
(c) Các sản phẩm thuộc Chương 71 (ví dụ, đồ trang sức làm bằng chất 
liệu khác); 
(d) Gốm kim loại thuộc nhóm 81.13; 
(e) Các sản phẩm thuộc Chương 82; 
(f) Vật cách điện (nhóm 85.46) hoặc các phụ kiện làm bằng vật liệu 
cách điện thuộc nhóm 85.47; 
(g) Răng giả (nhóm 90.21); 
(h) Các sản phẩm thuộc Chương 91 (ví dụ, đồng hồ thời gian và vỏ 
đồng hồ thời gian); 
(ij) Các sản phẩm thuộc Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, đèn 

(luminaires) và bộ đèn, nhà lắp ghép); 
(k) Các sản phẩm của Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi và 
dụng cụ, thiết bị thể thao); 
(l) Các sản phẩm thuộc nhóm 96.06 (ví dụ, khuy) hoặc thuộc nhóm 
96.14 (ví dụ, tẩu hút thuốc); hoặc 
(m) Các sản phẩm thuộc Chương 97 (ví dụ, các tác phẩm nghệ thuật). 
TỔNG QUÁT 
Thuật ngữ  “các sản phẩm gốm” áp dụng cho các sản phẩm thu được:  
(A) Bằng cách nung các vật liệu phi kim loại, vô cơ đã được chuẩn bị và 
tạo hình trước đó, thường ở mức nhiệt độ trong phòng. Các nguyên 
liệu thô bao gồm đất sét, vật liệu silic kể cả silica nung chảy, các vật 
liệu có điểm nóng chẩy cao như ô xít, cacbua, nitrua, graphit hoặc 
cacbon khác và trong một số trường hợp, các chất kết dính như đất 
sét chịu lửa hoặc phốt phát. 
(B)  Từ đá (ví dụ, steatit), được nung sau khi tạo hình.  
Quá trình sản xuất các sản phẩm gốm được đề cập ở phần (A)- nêu trên 
(mọi vật liệu cấu thành của chúng) đều bao gồm các công đoạn chính 
(i)  Chuẩn bị bột nhão (hay phần xương). 
Trong một số trường hợp (ví dụ, sản xuất các sản phẩm nhôm được 
thiêu kết), vật liệu cấu thành được sử dụng trực tiếp ở dạng bột có 
thêm một lượng nhỏ chất bôi trơn. Tuy nhiên, trong hầu hết các 
trường hợp, nguyên liệu trước tiên phải được làm thành bột nhão. 
Điều này liên quan đến việc định lượng và trộn các thành phần khác 
nhau và, nếu cần, phải nghiền, sàng, ép-lọc, nhào, đánh nhuyễn và 
khử không khí. Một số sản phẩm chịu lửa cũng được làm từ hỗn hợp 
các cốt liệu mịn đã được phân loại, có bổ sung thêm một lượng nhỏ 
chất kết dính lỏng, mà có thể ở dạng nước (ví dụ, hắc ín, vật liệu 
nhựa, axít phôtphoric, dung dịch chất gỗ (linh-in)). 
(ii) Tạo hình. 

Bột hoặc bột nhão đã chuẩn bị sau đó được tạo hình gần giống với 
hình mong muốn.  
Công đoạn này được thực hiện bằng cách đùn (thông qua khuôn 
đùn), ép, đổ khuôn, đúc hoặc tạo hình bằng tay, trong một số trường 
hợp được thực hiện theo mức độ của máy.  
(iii) Sấy khô sản phẩm thu được. 
Ở công đoạn này, “sản phẩm màu lục” được nung ở mức nhiệt độ 
800 °C hoặc cao hơn tuỳ thuộc vào bản chất của sản phẩm. Sau khi 
nung, các hạt kết dính chặt lại với nhau như là kết quả của sự 
khuyếch tán, sự chuyển đổi hoá học hoặc sự nóng chảy từng phần.   
Các sản phẩm được nung ở mức nhiệt độ dưới 800 °C cho các mục 
đích như đóng rắn nhựa, làm tăng nhanh phản ứng hyđrat hoá, hoặc 
dùng để loại bỏ nước hoặc các thành phần dễ bay hơi khác, sẽ không 
được coi là được nung cho các mục đích sử dụng ở của Chú giải 1 
của Chương này. Các sản phẩm này bị loại trừ khỏi Chương 69. 
(v) Hoàn thiện. 
Các công đoạn hoàn thiện phụ thuộc vào mục đích sử dụng của sản 
phẩm gốm. Đôi khi cần phải có máy hoàn thiện có độ chính xác cao. 
Công đoạn hoàn thiện cũng có thể bao gồm việc đánh dấu hàng, mạ 
kim loại hoặc thấm tẩm.   
Các sản phẩm gốm cũng thường được nhuộm màu (ở phần xương hoặc 
bề mặt), được trang trí hoặc tráng men bằng cách sử dụng thích hợp các 
chất màu hoặc chất ờ cản quang được pha chế đặc biệt, men kính hoặc 
men sứ, men sành, chất láng bóng, v.v. 
 Sau khi tạo hình, công đoạn nung là cơ sở phân biệt chủ yếu giữa các 
sản phẩm của chương này với các sản phẩm khoáng hoặc đá được phân 
loại ở Chương 68 mà nhìn chung không được nung, và các sản phẩm 
thuỷ tinh của Chương 70 trong đó hỗn hợp có thể thuỷ tinh hoá đã được 
nấu chảy hoàn toàn.  
 Tùy theo thành phần và qui trình nung được  áp dụng, có thể thu được 
các sản phẩm sau: 

I. Hàng hóa bằng bột hóa thạch silíc hoặc bằng đất silíc tương tự và các 
sản phẩm chịu  lửa thuộc phân Chương I (từ nhóm 69.01 đến nhóm 
II. Các sản phẩm gốm khác, chủ yếu gồm đồ gốm, đồ đá, đồ đất, đồ sứ 
thông thường, v.v, thuộc phân Chương II (từ nhóm 69.04 đến 
Chương này không bao gồm: 
(a) Gốm vỡ và các mảnh gạch xây vỡ (nhóm 25.30) 
(b) Các sản phẩm thuộc nhóm 28.44 
(c) Các khối, tấm, thanh và bán sản phẩm tương tự bằng graphít hoặc 
bằng các loại cac-bon khác, hoặc hợp chất graphit-kim loại hoặc 
bằng hợp chất khác được dùng, ví dụ, để cắt thành chổi điện (nhóm 
38.01) (xem Chú giải chi tiết tương ứng). 
(d) Các phần cắt rời, chưa được lắp ráp, bằng  vật liệu gốm áp điện từ, 
ví dụ bằng titanat bari hoặc bằng zircotitanat chì (nhóm 38.24) 
(e) Các sản phẩm thuộc nhóm 68.04. 
(f) Các sản phẩm gốm- thủy tinh (Chương 70) 
(g) Các hỗn hợp thiêu kết bằng bột kim loại cơ bản và hỗn hợp kim loại 
dị thể trộn kỹ cơ bản thu được bằng cách nấu chảy (Phần XV). 
(h) Gốm kim loại thuộc nhóm 81.13 
(ij) Chi tiết hình đĩa, thanh cỡ nhỏ, mũi chóp và các chi tiết tương tự 
cho dụng cụ, chưa được gắn vào dụng cụ, làm bằng gốm kim loại 
(nhóm 82.09) và sản phẩm khác của Chương 82. 
Phân chương I  
 CÁC LOẠI HÀNG HOÁ BẰNG BỘT HOÁ THẠCH SILIC HOẶC 
BẰNG CÁC LOẠI ĐẤT SILIC TƯƠNG TỰ,  
VÀ CÁC SẢN PHẦM CHỊU LỬA 
TỔNG QUÁT 
Phân chương này bao gồm, có hoặc không chứa đất sét: 

(A) Trong nhóm 69.01 các sản phẩm ceramic (gốm) thu được bằng 
cách nung sau khi tạo hình bột hoá thạch silic hoặc đất silic tương 
tự như kiezingur (đất tảo cát), tripolit (đá tảo silic) hoặc diatomit 
(đá tảo silic) (hầu hết được xếp vào nhóm 25.12) hoặc silica thu 
được bằng cách nung một số các sản phẩm thực vật (ví dụ tro quả 
nang gạo). Các vật liệu này thường được trộn với các chất kết dính 
(như đất sét hoặc magie) và đôi khi được trộn với các chất khác (ví 
dụ amiăng, lông (tóc), mùn cưa, bụi than). 
Các sản phẩm này thường có trọng lượng rất nhẹ, và kết cấu xốp 
của chúng khiến chúng trở thành vật liệu cách nhiệt rất tốt dùng 
trong xây dựng, lớp cách ống hơi nước và khí gas. Một số các sản 
phẩm này cũng được dùng như vật liệu chịu lửa trong việc xây 
dựng lò, lò luyện, nung công nghiệp, nồi tạo hơi, hoặc các nhà máy 
công nghiệp khác và cho các ứng dụng khác mà cần đến vật liệu 
nhẹ, độ dẫn nhiệt thấp, cũng như độ bền chịu nhiệt. Các sản phẩm 
khác được dùng như các vật liệu cách nhiệt để gia công ở mức 
nhiệt độ dưới 1.0000C. 
(B) Trong nhóm 69.02 và 69.03 các sản phẩm chịu lửa, nghĩa là các 
sản phẩm đã nung có đặc tính đặc biệt chịu được nhiệt độ cao phù 
hợp với các ngành công nghiệp thuỷ tinh, luyện kim, v.v (ví dụ ở 
mức 1.5000C hoặc cao hơn). Tùy theo mục đích sử dụng cụ thể mà 
chúng được dự kiến sử dụng, các sản phẩm chịu lửa cũng có thể 
cần chịu được các thay đổi nhanh về nhiệt độ, cần phải là các vật 
liệu dẫn nhiệt hoặc cách nhiệt tốt, cần phải có hệ số giãn nở nhiệt 
thấp, phải xốp và không thấm, chịu được các tác động mài mòn 
của các sản phẩm mà chúng tiếp xúc, phải có độ bền cơ khí và sức 
chịu mài mòn cao, v.v. 
Tuy nhiên, để xếp vào nhóm 69.02 hoặc 69.03 như các sản phẩm 
chịu lửa, các sản phẩm không chỉ có khả năng phải chịu được nhiệt 
độ cao, mà chúng còn phải được thiết kế phù hợp khi làm việc ở 
mức nhiệt độ cao. Do vậy nhóm 69.03 sẽ bao gồm các nồi nấu kim 
loại bằng nhôm thiêu kết, tuy nhiên các gạt dẫn chỉ máy dệt  bằng 
vật liệu tương tự sẽ được xếp vào nhóm 69.09 vì chúng được thiết 

kế rõ ràng dành cho các mục đích sử dụng không chịu lửa. 
Các loại sản phẩm chịu lửa chính là: 
(1) Vật liệu chịu lửa cao bằng nhôm được làm từ bauxit, mulit hoặc 
corundum (đôi khi được trộn với đất sét) hoặc từ kialit, silimanit 
hoặc andalisit (nhôm silicat) trộn với đất sét hoặc nhôm thiêu kết. 
(2) Vật liệu chịu lửa nhôm silicat (ví dụ được làm từ đất sét nung với 
samot hoặc grog (sét nung chịu lửa). 
(3) Vật liệu chịu lửa silic điôxit hoặc bán silic đioxit (được làm từ cát, 
thạch anh nghiền, đá lửa tự nhiên, v.v, và được kết dính bằng đất sét 
hoặc vôi). 
(4) Vật liệu chịu lửa magie được làm từ magie, magie nước biển hoặc 
đôlômit; các loại vật liệu chịu lửa được làm từ crom hoặc oxit crom; 
các loại vật liệu chịu lửa magie-crom. 
(5) Vật liệu chịu lửa làm từ cacbua silic. 
(6) Vật liệu chịu lửa oxit kẽm hoặc silicat kẽm, thường được kết khối với 
đất sét; các vật liệu chịu lửa được làm từ ôxit beryli, ôxit thori, oxit 
(7) Vật liệu chịu lửa làm từ graphit hoặc cacbon khác, thường được kết 
khối bằng nhựa, hắc ín hoặc đất sét. (Các sản phẩm làm từ graphit 
hoặc cácbon khác loại được dùng cho các mục đích sử dụng điện 
được xếp vào nhóm 85.45). 
(8) Vật liệu chịu lửa làm từ các vật liệu khác, ví dụ nitrua silic, nitrua bo, 
titanat nhôm và các hợp chất liên quan. 
Các vật liệu chịu lửa được dùng chủ yếu để lót lò thổi, lò than, các thiết 
bị cracking xăng dầu, các lò nấu thuỷ tinh, lò nung gốm và các lò công 
nghiệp khác, và trong việc sản xuất các loại bình, nồi nấu kim loại và các 
thiết bị khác trong ngành công nghiệp hoá chất, thuỷ tinh, ximăng, nhôm 
và luyện kim khác. 
Tuy nhiên các nhóm 69.02 và 69.03 không bao gồm các sản phẩm mặc 
dù đôi khi được mô tả như là vật liệu chịu lửa hoặc bán chịu lửa, không 
có khả năng chịu được các mức nhiệt độ công nghiệp như đã mô tả ở 
trên. Các sản phẩm này sẽ được xếp vào nhóm thích hợp của Phân 
chương II. 

69.01 - Gạch, gạch khối, tấm lát (tiles) và các loại hàng gốm, sứ khác 
làm từ bột silic hóa thạch (ví dụ, đất tảo cát, đá tảo silic hoặc 
diatomit) hoặc từ các loại đất silic tương tự.  
Nhóm này bao gồm  tất cả các sản phẩm được làm từ các nguyên vật liệu 
trong tiêu đề nhóm, ở bất kỳ dạng nào (ví dụ: gạch xây, gạch khối, đá 
phiến, tấm, ngói, gạch rỗng, vỏ xilanh, ống dẫn) có hoặc không có tính 
chịu lửa. 
Nhóm này không bao gồm : 
(a) Gạch xốp không chịu lửa  không chứa bột hóa thạch silic hoặc đất 
silíc tương tự  (ví dụ: các sản phẩm được làm từ khối có chứa 
hỗn hợp mùn rơm rạ, mùn cưa, sợi than bùn, v.v, các chất hữu 
cơ được thiêu cháy trong quá trình nung để lại kết cấu xốp) 
(nhóm 69.04).  
(b) Các tấm lọc làm từ khối có chứa đất tảo cát và thạch anh (nhóm 
69.02 - Gạch, gạch khối, tấm lát (tiles) chịu lửa và các loại vật liệu 
xây dựng bằng gốm, sứ chịu lửa tương tự, trừ các sản phẩm 
làm bằng bột silic hóa thạch hoặc đất silic tương tự (+). 
6902.10 - Chứa trên 50% tính theo trọng lượng là  một hay nhiều 
nguyên tố magie (Mg), canxi (Ca) hoặc crom (Cr), thể 
hiện ở dạng magie oxit (MgO), canxi oxit (CaO) hoặc 
6902.20 - Chứa trên 50% tính theo trọng lượng là oxit nhôm 
(Al2O3), đioxit silic (SiO2) hoặc hỗn hợp hay hợp chất 
của các chất này 
6902.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm một nhóm các sản phẩm chịu lửa (trừ sản phẩm 
thuộc nhóm 69.01) thường được dùng trong xây dựng lò, lò nung, lò nấu 

hoặc các thiết bị khác cho các ngành công nghiệp luyện kim, hoá chất, 
gốm, thuỷ tinh và các ngành công nghiệp khác.  
 Nhóm này bao gồm: 
(1)  Gạch xây thuộc tất cả các loại hình dạng (hình hộp, hình nêm, 
hình trụ, hình bán trụ.v.v...) bao gồm cả đá đỉnh vòm và gạch 
xây có hình dạng đặc biệt khác (ví dụ: gạch rôto, có rãnh lõm 
ở một mặt và mặt kia phẳng) ngay cả khi chúng được nhận biết 
rõ ràng như là loại gạch được thiết kế để dùng riêng trong xây 
dựng nhà máy hoặc máy móc của Phần XVI.  
(2) Gạch lát, gạch khối chịu lửa để lát nền, ốp tường, lò v.v.  
Nhóm này không gồm các loại ống tuýp, ống dẫn (kể cả các đường dẫn 
ở dạng bán hình trụ) và các góc, các khuỷu nối ống và ống hoặc các phụ 
kiện đường ống tương tự bằng vật liệu chịu lửa (nhóm 69.03).  
Chú giải chi tiết phân nhóm . 
Phân nhóm 6902.10 
Vấn đề quyết định để được xếp vào phân nhóm này là hàm lượng ô xít 
ma giê (MgO), ô xit can xi (CaO) hoặc ô xít crôm (Cr2O3). Điều này 
thường được thực hiện bằng cách xác định hàm lượng của các thành 
phần có mặt (nghĩa là magie, canxi hoặc crom), và từ các hàm lượng này 
có thể tính được hàm lượng ôxit tương ứng. Ví dụ, 40% canxi (Ca) 
tương đương với 56% CaO và 24% Mg tương đương với 40% MgO. Do 
vậy, một sản phẩm được làm từ silic oxit canxi (Canxi Silicate) có chứa 
40% Ca (tương đương với 56%CaO) sẽ được xếp vào phân nhóm này.   
69.03 - Các loại hàng gốm, sứ chịu lửa khác (ví dụ, bình cổ cong, nồi 
nấu kim loại, lò muffle, nút, phích cắm, giá đỡ, chén thử vàng 
bạc, các loại ống, ống dẫn, bao vỏ, tay cầm và cửa trượt), trừ 
các sản phẩm làm bằng bột silic hóa thạch hoặc đất silic 
tương tự (+). 

 6903.10 - Có hàm lượng trên 50% tính theo khối lượng là 
carbon tự do 
6903.20 - Chứa trên 50% tính theo trọng lượng là oxit nhôm 
(Al2O3) hoặc hỗn hợp hay hợp chất của oxit nhôm 
và của đioxit silic (SiO2)  
6903.90 - Loại khác  
Nhóm này bao gồm tất cả các sản phẩm chịu lửa chưa được nêu cụ thể 
hoặc được xếp trong các nhóm trước.  
Các sản phẩm này bao gồm:  
(1)  Các sản phẩm mà, không giống với các sản phẩm chịu lửa thuộc 
nhóm 69.02, trong nhiều trường hợp không phải là sản phẩm cố 
định thường xuyên, như bình cổ cong, bình phản ứng, nồi nấu kim 
loại, chén nung và các sản phẩm tương tự dùng cho các ngành công 
nghiệp hoặc phòng thí nghiệm, lò nung cách lửa, vòi phun, phích 
cắm, vòi đốt, và các bộ phận tương tự của lò; áo gốm, giá đỡ và các 
dụng cụ khác của lò để đỡ hoặc tách đồ gốm trong quá trình nung;  
vỏ bọc và thanh; giá đỡ cho các nồi nấu kim loại; khuôn thỏi đúc; 
cửa trượt, con lăn, phôi, dụng cụ tạo hình và bình;... 
(2) Ống tuýp, ống dẫn (kể cả các đường dẫn ở dạng bán hình trụ), và các 
góc, khuỷu nối ống và ống hoặc các phụ kiện đường ống tương tự, 
thậm chí có thể được dùng như các sản phẩm có tính chất cố định 
thường xuyên trong công việc xây dựng.  
Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm nón Seger (chất thử gia nhiệt gốm 
sứ) (xem phần chú giải chi tiết của nhóm 38.24); các sản phẩm này 
không được nung sau khi tạo hình. 
Phân nhóm 6903.10 
Theo mục đích của phân nhóm này, thuật ngữ “cacbon tự do” áp dụng cho 
các loại cacbon như graphit, cacbon vô định hình (muội cacbon) và 
cacbon hữu cơ (hắc ín (pitch, tar) hoặc nhựa). 

Phân chương II 
CÁC SẢN PHẨM GỐM, SỨ KHÁC  
TỔNG QUÁT 
Phân chương này bao gồm các sản phẩm gốm trừ các sản phẩm làm từ 
bột hoá thạch silic hoặc đất silic tương tự và các sản phẩm chịu lửa thuộc 
phân Chương I. 
Dành cho mục đích của Danh mục này, các sản phẩm này được phân loại 
theo chủng loại (gạch xây, ngói, các thiết bị vệ sinh, v.v) và việc phân 
loại không bị ảnh hưởng bởi bản chất của các sản phẩm gốm, sứ được 
dùng trong quá trình sản xuất chúng, ngoại trừ trường hợp bộ đồ ăn, bộ 
đồ nhà bếp, đồ gia dụng và đồ sứ vệ sinh khác, được xếp vào nhóm 
69.11 khi bằng sứ (china) và nhóm 69.12 nếu thuộc loại đồ gốm, sứ 
khác. 
(I) SỨ HOẶC ĐỒ SỨ 
Sứ hoặc đồ sứ nghĩa là sứ cứng, sứ mềm, sứ mộc (kể cả parian) và sứ xương. 
Tất cả các sản phẩm gốm này hầu như được tạo thành thuỷ tinh hoàn toàn 
(vitrified), cứng và chủ yếu không thấm nước (thậm chí chúng không được 
tráng men). Chúng có màu trắng hoặc được nhuộm màu nhân tạo, trong mờ 
(trừ khi chúng có độ dày tương đối lớn), và có độ vang.  
Sứ cứng được làm từ xương chứa caolanh (hoặc đất sét chứa caolanh), 
thạch anh, tràng thạch (hoặc fenspatthoid), và đôi khi có chứa cacbonat 
canxi. Nó được phủ một lớp men trong suốt không màu được nung đồng 
thời với xương và do đó bị nấu chảy với nhau. 
Sứ mềm chứa ít nhôm nhưng nhiều silic và chất giúp chảy (ví dụ tràng 
thạch). Sứ xương, mà chứa ít nhôm, chứa photphat canxi (ví dụ ở dạng 
tro xương); xương trong mờ bởi vậy thu được ở mức nhiệt độ nung thấp 
hơn so với sứ cứng. Men thường được ứng dụng bằng cách nung thêm ở 
mức nhiệt độ thấp hơn, do vậy cho phép phạm vi trang trí men lót rộng 
hơn. 
Sứ mộc là sứ chưa tráng men, trong đó sứ parian (đôi khi được gọi là sứ 

Carrara) là loại đặc biệt, hạt mịn, hơi vàng, có chứa nhiều tràng thạch, và 
bề ngoài thường giống đá cẩm thạch Paros. 
(II) CÁC SẢN PHẨM GỐM, SỨ KHÁC 
Các sản phẩm gốm, sứ trừ các sản phẩm sứ hoặc đồ sứ, gồm có: 
(A) Các sản phẩm gốm, sứ có xương xốp mà, không giống sứ, mờ đục, 
có khả năng thấm các chất lỏng, dễ bị xây xước bởi sắt và có vết nứt 
bám vào mộng. Các sản phẩm gốm, sứ  này bao gồm: 
(1) Đồ gốm làm bằng đất sét chứa vôi và sắt thông thường (đất làm 
gạch). Nó có kết cấu bằng đất xỉn, và thường có màu nâu, đỏ 
hoặc vàng. 
(2) Một loạt các loại gốm, sứ trắng hoặc màu (đồ đất nung, majolica, 
đồ gốm, v.v). Xương xốp và phải được tráng men để tạo ra các 
sản phẩm không có tính thấm (ví dụ các loại men trong hoặc mờ 
như các ôxit kim loại trắng hoặc màu). Đồ đất nung 
(earthenware) v.v được làm từ các loại đất sét đã được sàng mịn 
được trộn với nước. Nó có xương hạt mịn được tạo bằng cách 
nung tới mức nhiệt độ cao hơn so với trường hợp đồ gốm được 
làm từ loại đất sét thông thường; nó khác với sứ hoặc đồ sứ bởi vì 
nó không được thủy tinh hóa toàn phần. 
(B) Đồ gốm đá (stoneware) mà mặc dù tỷ trọng và độ cứng đủ để chịu 
được sự xây xước bởi sắt nhọn, thép, khác hẳn với với đồ sứ bởi vì 
nó mờ đục và thường chỉ được thủy tinh hóa một phần. Đồ gốm đá 
có thể là đồ thuỷ tinh (không thấm nước) hoặc bán thuỷ tinh. Nó 
thường có màu xám hoặc hơi nâu do các tạp chất có chứa trong đất 
sét được dùng để sản xuất chúng, và thường được tráng men. 
(C) Một số loại sản phẩm được gọi là “bán sứ” hoặc “giả sứ”, đôi khi 
được làm, trang trí và tráng men để có vẻ bề ngoài là sản phẩm sứ. 
Không cần thực sự mờ đục giống như đồ đất nung, hoặc thực sự 
trong suốt giống như đồ sứ, các sản phẩm này có thể hơi trong suốt 
ở các bộ phận mỏng hơn như phần đáy của cốc chén. Tuy nhiên, các 

sản phẩm này có thể được phân biệt với sản phẩm sứ thực thụ bởi vì 
vết nứt của chúng nổi hạt sần, xỉn và không tạo thành thuỷ tinh. Do 
đó chúng xốp ở dưới lớp men và  vết nứt bám vào mộng. Hơn nữa, 
chúng dễ bị xây xước bằng dao thép, mặc dù cần phải lưu ý rằng 
một số sứ mềm cũng có thể bị xây xước bởi thép. Các sản phẩm “giả 
sứ” này không được xem như là sản phẩm sứ hoặc đồ sứ. 
Phân chương này cũng bao gồm một số sản phẩm được làm bằng cách 
tạo hình và nung steatit dạng bột, v.v, thường được trộn với đất sét (ví dụ 
caolanh), fenspat, v.v. nhưng cũng cần lưu ý rằng rất nhiều các sản phẩm 
làm từ các nguyên liệu này được thiết kế cho các mục đích sử dụng điện 
và do vậy được phân loại vào Chương 85. Phân chương này cũng bao 
gồm các sản phẩm được tạo bằng cách nung steatit được tạo hình bằng 
cách cưa. 
Một số sản phẩm gốm, sứ được làm từ các vật liệu chịu lửa (ví dụ nhôm 
thiêu kết) cũng có thể được xếp vào phân Chương II nếu nó không thuộc 
loại được thiết kế cho mục đích sử dụng là các sản phẩm chịu lửa (xem 
Chú giải Chi tiết của nhóm 69.09). 
69.04 - Gạch xây dựng, gạch khối lát nền, tấm đỡ hoặc tấm lót và 
các loại tương tự bằng gốm, sứ. 
6904.10 - Gạch xây dựng  
6904.90 - Loại khác  
Nhóm này  bao gồm gạch gốm, sứ không chịu lửa (nghĩa là loại gạch không 
thể chịu được nhiệt độ 1500ºC hoặc cao hơn) thuộc loại thường được dùng 
để xây tường, nhà, thân ống khói công nghiệp, v.v. Các loại gạch này vẫn 
được xếp trong nhóm thậm chí nếu chúng cũng có thể được dùng cho các 
mục đích sử dụng khác (ví dụ gạch thủy tinh hóa mà có thể được dùng để 
lát vỉa hè hoặc trụ cầu, cũng như cho việc xây dựng nhà xưởng.  
Gạch thường tương đối xốp (đồ gốm thông thường), tuy nhiên một số 
loại ít nhiều được thuỷ tinh hóa (đồ gốm hoặc gạch dùng trong kỹ thuật) 
và sau đó được dùng trong công việc xây dựng do độ bền cơ học hoặc độ 

bền axit cao (ví dụ trong nhà máy hoá chất). 
Nhóm này gồm: 
(1) Gạch đặc thông thường hình chữ nhật, bề mặt phẳng hoặc khoét lỗ. 
(2)  Gạch cong, đôi khi được tạo lỗ, dùng cho thân ống khói công nghiệp. 
(3) Gạch  rỗng , gạch  lỗ, gạch khối lát nền rỗng, dài và các tấm xây 
dựng đặc biệt được dùng để lát nền, trần nhà, v.v kết hợp với kết 
cấu thép và tấm đỡ hoặc tấm lót (nghĩa là các phụ kiện  gốm, sứ 
được thiết kế để đỡ các khối trong khi đóng cốt pha các dầm.) 
(4) Gạch lát (ví dụ để lát nhà hoặc tường, khu vực xung quanh cửa ra 
vào hoặc cửa sổ kể cả gạch xây đặc biệt dùng làm mũ cột, đường 
viền, đường gờ hoặc các trang trí kiến trúc khác).  
 Gạch “kép” được tạo lỗ đặc biệt theo chiều dài, có thể tách trước khi sử 
dụng, vẫn được xếp vào nhóm này miễn là chúng giữ được các đặc tính 
của gạch xây dựng sau khi tách.  
 Toàn bộ các loại gạch này, đặc biệt các loại gạch dùng để lát, có thể 
được mài bóng, được phủ cát (bằng cách nấu chảy cát lên bề mặt trong 
quá trình nung), được phủ một lớp mỏng có màu trắng hoặc nước áo 
màu che giấu màu của xương, được hun khói hoặc đốt, tạo màu trong 
xương hoặc trên bề mặt (bằng cách bổ sung thêm ôxit kim loại, bằng 
cách sử dụng đất sét chứa sắt, hoặc bằng cách nung ở môi trường không 
khí khử bằng cacbon hyđro hoặc cacbon), được thấm nhựa đường, hoặc 
được tráng men, v.v. Chúng cũng có thể được tạo khuôn, được chạm nổi 
hoặc dùng để trang trí trên một mặt hoặc cả hai mặt.  
Nhóm này cũng bao gồm gạch xốp được làm từ các hỗn hợp chứa mùn 
cưa, sợi than bùn, mùn rơm, v.v, mà được đốt cháy trong quá trình nung, 
để lại kết cấu rất xốp.  
 Nhóm này không bao gồm : 
(a) Gạch kizengua,v.v. (nhóm 69.01) và gạch chịu lửa (nhóm 
(b) Các loại phiến lát đường và gạch lát đường, lát nền và lòng lò 
hoặc gạch ốp tường (xem phần Chú giải Chi tiết nhóm 69.07). 

69.05 – Ngói lợp, ống khói, chụp ống khói, lớp lót trong ống khói, hàng 
trang trí kiến trúc và hàng xây dựng bằng gốm, sứ khác 
6905.10 – Ngói lợp mái 
6905.90 - Loại khác  
Nhóm này bao gồm các loại sản phẩm không chịu lửa, thường là đồ gốm 
thông thường nhưng đôi khi ít nhiều được tạo thành thuỷ tinh, mà, giống 
như gạch, được dùng trong công việc xây dựng.  
Nhóm này bao gồm : 
(1) Ngói lợp mái (để làm mái,  tường phủ, v.v.). Các loại ngói này 
thường được thiết kế thêm các khe, được tạo lỗ để đóng đinh, hoặc 
có thể được tạo khuôn để khoá liên động, và về khía cạnh này chúng 
khác với loại gạch lát thuộc nhóm 69.07. Chúng có thể ở dạng 
phẳng, bán trụ hoặc các dạng đặc biệt dùng cho các mái đua, nóc 
nhà, góc đỉnh hồi hoặc các thung lũng, v.v.  
(2)  Chụp ống khói, nắp chụp, lớp lót ống khói, hộp ống dẫn khói, v.v.   
(3) Các đồ trang trí kiến trúc cho các toà nhà, trên tường, cổng, v.v (ví 
dụ các mái đua và các đường gờ);   đầu rìa biên, trán tường, hình 
hoa, lan can, rầm chìa, nóc, mũ cột, mi nhà, mái đua, nóc nhà, và 
các đồ trang trí mái, v.v.  
(4) Các  sản phẩm  xây dựng bằng gốm khác, ví dụ: ống thông gió, lưới 
thép trát đất sét được dùng như là giá đỡ sản phẩm thạch cao và 
được tạo hình bằng lưới thép có các chạc chữ thập hoặc các tấm 
bằng đất sét nung tại các phần giao nhau, đất sét nung tạo thành 
thành phần chính. 
 Các sản phẩm này được xếp vào nhóm này cho dù chúng ở dạng phẳng, 
được phủ cát, được phủ lớp áo, được nhuộm màu toàn bộ, được thấm các 
chất khác, được tráng men, tạo gờ, tạo rãnh, tạo khía hoặc được trang trí 
cách khác bằng cách tạo khuôn.   
Nhóm này không bao gồm các loại ống dẫn, máng dẫn và các sản phẩm 
tương tự như ống thoát nước mưa (nhóm 69.06), kể cả khi được dùng 
cho các mục đích xây dựng. 

69.06 - Ống dẫn, máng dẫn, máng thoát nước và các phụ kiện để lắp 
ráp bằng gốm, sứ. 
Nhóm này áp dụng cho hệ thống ống dẫn không chịu lửa, v.v, được thiết 
kế, theo qui tắc chung, để khoá liên động và dùng để thoát hoặc phân 
phối các chất lỏng. Chúng có thể có hình dạng hoặc đoạn bất kỳ (thẳng, 
cong, có nhánh, có đường kính không đổi hoặc biến đổi, v.v), và có thể 
được tráng men. 
Nhóm này bao gồm:  
(1) Ống dẫn nước tưới tiêu dùng trong nông nghiệp và ngành trồng hoa, 
bằng đồ gốm xốp thông thường, chỉ được nung ở mức nhiệt độ thấp 
và được hoàn thiện thô.    
(2) Các loại ống dẫn, máng dẫn và máng thoát nước khác (ví dụ ống thoát 
nước mưa, ống cống rãnh, ống dẫn để bảo vệ cáp điện nhưng không 
được thiết kế để làm vật liệu cách điện, các loại sản phẩm ống cắt nửa có 
dạng máng thoát nước hoặc đường dẫn, các ống thoát trên tường). 
 Các ống dẫn này, v.v …có thể là đồ gốm thông thường chưa tráng 
men, nhưng thuờng được làm thành các sản phẩm không thấm nước 
bằng cách tráng men hoặc bằng cách tạo thành thuỷ tinh (ví dụ: hệ 
thống ống dẫn hoá chất) 
(3) Các phụ kiện đường ống để nối hoặc chia nhánh (vòng đai, mặt bích, 
ống khuỷu, các đoạn nối hình chữ T, si phông,v.v……) 
Nhóm này không gồm: 
(a)  Các bộ phận ống khói có dạng ống (ví dụ: ống khói, chụp ống khói, 
lớp lót trong ống khói và hộp dẫn ống khói) (nhóm 69.05). 
(b)  Các ống dẫn nhỏ và hệ thống ống dẫn (ví dụ ống đốt), thường bằng 
sứ hoặc đồ sứ, được thiết kế đặc biệt để dùng trong phòng thí 
nghiệm (nhóm 69.09). 
(c)  Các khớp nối và hệ thống ống dẫn cách điện, và toàn bộ các phụ 
kiện dạng ống được thiết kế cho mục đích sử dụng điện (đặc biệt 
là nhóm 85.46 và 85.47). 
69.07 - Các loại phiến lát đường và gạch lát đường, lát nền và lòng lò  69.07 - Ceramic flags and paving, hearth or wall tiles; ceramic 

hoặc gạch ốp tường bằng gốm, sứ; các khối khảm và các loại sản 
phẩm tương tự bằng gốm, sứ, có hoặc không có lớp nền; Các sản 
phẩm gốm, sứ để hoàn thiện (+). 
- Các loại phiến lát đường và gạch lát đường, lát nền và 
lòng lò hoặc gạch ốp tường trừ loại thuộc phân nhóm 
6907.30 và 6907.40 : 
6907.21 - - Của loại có độ hút nước không vượt quá 0.5% tính theo 
trọng lượng  
6907.22 - - Của loại có độ hút nước vượt quá 0.5% nhưng không 
vượt quá 10% tính theo trọng lượng 
6907.23 - - Của loại có độ hút nước trên 10% tính theo trọng lượng  
6907.30 - Khối khảm và các sản phẩm tương tự, trừ loại thuộc 
phân nhóm 6907.40  
6907.40 - Các sản phẩm gốm, sứ để hoàn thiện  
Nhóm này bao gồm phiến lát đường và tấm lát bằng gốm, sứ, bao gồm 
cả gạch lát nền, thường được sử dụng để lát hoặc ốp tường, lát nền và 
lòng lò, vv. 
Các loại phiến lát đường và gạch lát đường, lát nền và lòng lò hoặc gạch ốp 
tường có kích thước bề mặt mỏng hơn so với gạch xây dựng. Trong khi 
gạch xây dựng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, để tạo khung nhà 
thì phiến lát và tấm lát được dùng đặc biệt hơn để ốp lên bề mặt các bức 
tường hiện có, bằng xi măng, chất kết dính hoặc bằng phương tiện khác  vv. 
Phiến lát đường và tấm lát khác ngói lợp ở chỗ chúng thường phẳng và 
không cần khoan lỗ hoặc gắn đầu nhọn hoặc định hình để lồng ghép vào 
nhau, và được thiết kế để xếp cạnh nhau mà không chồng lên nhau. Phiến 
lát đường lớn hơn tấm lát và thường có hình chữ nhật; tấm lát có thể ở dạng 
hình học khác (như hình lục giác, bát giác, v.v). Tấm lát chủ yếu được sử 
dụng để ốp tường, lò sưởi, nền và lòng lò sưởi, sàn nhà và lối đi; phiến lát 
đường thường được sử dụng đặc biệt hơn để lát sân và sàn, hoặc bệ đặt 
trước lò đốt (hearth slab). Cả hai loại có thể được làm từ đất sét hoặc các 

chất liệu thô vô cơ khác, thường được định hình bằng cách ép đùn hoặc ép 
ở nhiệt độ phòng, nhưng có thể được hình thành bởi các quá trình khác, rồi 
sấy khô và sau đó nung ở nhiệt độ đủ để biểu lộ các thuộc tính cần thiết. 
Tuy nhiên những loại phải chịu sự mài mòn cao thường được thuỷ tinh hoá, 
ví dụ, tấm lát của đồ gốm, hoặc sứ, hoặc từ steatit đã nung (ví dụ tấm lát 
dùng để lót máy nghiền, v.v).  
Khả năng kháng mài mòn và tốc độ thủy tinh hóa tùy thuộc vào cấu trúc 
của tấm lát. Những đặc điểm cấu trúc này được biểu hiện bởi khả năng 
hấp thụ nước. Mức độ hấp thụ nước cao tương ứng với cấu trúc xốp. 
Mức độ hấp thụ nước thấp tương ứng với cấu trúc rắn chắc (được thuỷ 
tinh hoá). 
Độ xốp hoặc hệ số hấp thụ nước (ký hiệu E) được xác định bằng tỷ lệ 
phần trăm của nước theo khối lượng sau khi bão hòa các mẫu sản phẩm 
khô (tấm lát) trong nước. 
Việc xác định mức độ hấp thu nước được dựa trên phương pháp chân 
không quy định trong tiêu chuẩn ISO 10.545-3. 
Công thức tính sự hấp thu nước được xác định bởi phương trình sau: 
E = {(Mf-Mi) / Mi }x 100  Trong đó: 
E = Sự hấp thụ nước thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm 
Mi = Khối lượng khô của mẫu vật 
Mf = Khối lượng bão hòa của mẫu vật 
Không giống như gạch xây dựng, một số tấm lát gốm, sứ nhất định chỉ 
được sử dụng cho việc lát đường, thường có hình lập phương hoặc ở 
dạng ở dạng hình nón cụt. Thực tế, chúng thường làm bằng gốm hoặc, 
đặc biệt, bằng sứ (ví dụ, phiến lát cho các phần đường giao nhau dành 
cho người đi bộ).  
Do vậy  việc phân loại các sản phẩm trong nhóm này được xác định bởi 
hình dạng và kích thước của chúng, hơn là dựa vào thành phần của 
chúng; vì vậy gạch phù hợp để dùng cả trong xây dựng và cho lát đường 
được loại trừ (thuộc nhóm 69.04).  
Hàng hoá của nhóm này có thể được nhuộm màu toàn bộ, được cẩm 

thạch hoá, tạo vân nổi, tạo khe (channeled), tạo rãnh (fluted), làm bóng 
Theo các điều kiện nêu trên, nhóm này cũng bao gồm: 
(1) Các sản phẩm gốm sứ để hoàn thiện như các miếng tấm lát bao 
viền, gờ đỉnh tường, ốp chân tường, đường viền, góc hoặc các viên, 
tấm ghép khác được dùng để hoàn thiện việc ốp, lát, vv., các sản 
phẩm trên có đặc tính của những mảnh để hoàn thiện có hoặc không 
có các cạnh tròn, dạng không phẳng hoặc dạng ba chiều. Trong 
trường hợp cụ thể đối với các miếng tấm lát bao viền, gờ đỉnh 
tường, ốp chân tường, đường viền, miếng góc, chèn trang trí và phụ 
kiện gốm, sứ khác cần phải phù hợp với các tấm lát cơ bản khác, vì 
vậy bề mặt của chúng thường có cùng màu hoặc cùng lớp hoàn 
thiện của tấm lát bình thường. Chúng thường được bán theo tấm 
hoặc theo mét. 
(2) Ngói đôi được tách ra trước khi sử dụng.  
(3) Bộ phận đất nung đã được sơn phủ dùng trong ngành công nghiệp 
xây dựng cho mục đích ốp bên ngoài hoặc bên trong, có kích thước 
khác nhau, cùng một cấu trúc mô đun, được gắn bởi, ví dụ như kẹp 
kim loại cho việc định hình kim loại ngang hoặc dọc được gắn vào 
các bức tường của cấu trúc chính.  
(4) Khối khảm hoặc các sản phẩm tương tự, có hoặc không có lớp nền 
bằng giấy hoặc lớp nền khác, và chúng thường có kích thước nhỏ. 
Mặt khác, nhóm này không bao gồm:  
(a) Tấm lát được dùng như là tấm lót bàn ăn (table mats), vv. (nhóm 
69.11 hoặc 69.12). 
(b) Đồ trang trí và các sản phẩm tương tự thuộc nhóm 69.13. 
(c) Tấm lát gốm, sứ được thiết kế đặc biệt cho bếp, lò (nhóm 69.14). 
Chú Giải Chi Tiết Phân Nhóm. 
Phân nhóm 6907.40 

Hình ảnh của một số loại sản phẩm gốm sứ để hoàn thiện thuộc phân 
nhóm này được mô tả như sau.                        

69.09 - Đồ gốm sứ dùng trong phòng thí nghiệm, dùng trong lĩnh 
vực hóa học hoặc kỹ thuật khác; máng, chậu và các vật 
chứa tương tự dùng trong nông nghiệp bằng gốm, sứ; bình, 
hũ, liễn và các sản phẩm tương tự bằng gốm, sứ dùng trong 
việc chuyên chở hoặc đóng hàng (+) 
 - Đồ gốm sứ dùng trong phòng thí nghiệm, dùng trong 
hóa học hoặc kỹ thuật khác:  
6909.11 - - Bằng sứ 
6909.12 - - Các sản phẩm có độ cứng tương đương từ 9 trở 
lên trong thang đo độ cứng Mohs 
6909.19 - - Loại khác 
6909.90 - Loại khác 
Nhóm này gồm toàn bộ các sản phẩm khác nhau thường được làm từ 
gốm đã được thủy tinh hóa (đồ gốm, sứ hoặc đồ sứ, gốm steatit, v.v) đã 
tráng men hoặc chưa tráng men. Tuy nhiên nhóm này không bao gồm 
sản phẩm chịu lửa các loại được thiết kế để chịu được các mức nhiệt độ 
cao như đã mô tả ở phần Chú giải giải tổng quát của Phân chương I. Tuy 
nhiên các sản phẩm không được thiết kế phù hợp với các mức nhiệt 
độ cao vẫn được xếp vào nhóm này ngay cả khi chúng được làm từ các 
vật liệu chịu lửa (ví dụ các thanh dẫn sợi dệt, thiết bị nghiền, v.v bằng 
nhôm thiêu kết). 
Cụ thể, nhóm này bao gồm : 
(1) Đồ dùng trong phòng thí nghiệm (ví dụ, cho mục đích nghiên cứu 
hoặc công nghiệp...), như chén nung và nắp của chén nung, cupen, 
cối và chày, thìa múc axit, dao phết, giá đỡ bộ lọc và chất xúc tác,  
đĩa lọc, ống dẫn, nến, côn, phễu, v.v; bể chứa nước, cốc có mỏ, bình 
chứa có khắc chia độ (trừ các bình chứa có khắc chia độ dùng trong 
gia đình); đĩa dùng trong phòng thí nghiệm, máng chứa thủy ngân, 
các ống dẫn nhỏ (ví dụ các ống đốt bao gồm các ống phân tích ước 
tính lưu huỳnh, cacbon v.v).  

(2) Đồ gốm, sứ dùng cho mục đích kỹ thuật khác, như bơm, van, bình cổ 
cong, thùng to, bể chứa hoá chất và các bình chứa tĩnh khác có một 
hoặc hai thành (ví dụ dùng để đúc điện, chứa axit); vòi dẫn a xít, 
cuộn dây, cột và cuộn dây phân đoạn hoặc chưng cất… vòng 
Raschig dùng cho các thiết bị phân đoạn sử dụng xăng dầu; các thiết 
bị nghiền và bi nghiền, v.v dùng cho máy nghiền; các thanh dẫn sợi 
dệt cho máy dệt và các khuôn để đùn sợi dệt nhân tạo; tấm, thanh, 
và các sản phẩm tương tự dùng cho các dụng cụ cầm tay.  
(3)  Bình chứa các loại dùng để chuyên chở hoặc đóng gói sản phẩm, ví 
dụ các bình chứa lớn, bình axit, v.v để chuyên chở axit và các sản 
phẩm hoá chất khác;  hũ, liễn sành, bình đựng,...dùng để đựng thực 
phẩm  (ví dụ: mứt, mù tạt, gia vị, gan béo, rượu mùi, rượu, dầu,....), 
hoặc dùng để chứa dược phẩm và các loại mỹ phẩm,  (ví dụ: mỡ bôi, 
thuốc bôi  dạng kem, kem...) hoặc để đựng mực...v.v... 
(4) Máng, chậu và các đồ chứa tương tự dùng trong nông nghiệp.  
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các sản phẩm thuộc nhóm 68.04 
(b) Các loại bình cổ cong, chén nung thường, chén nung cupen và các 
sản phẩm tương tự bằng vật liệu chịu lửa (nhóm 69.03). 
(c) Các bình chứa dùng trong gia đình và nhà bếp (hộp dựng chè, thùng 
đựng bánh mì, hộp đựng bánh bích qui,...)  (nhóm 69.11 hoặc 
(d) Các hộp, bình chứa cho mục đích chung, dùng cho phòng thí nghiệm 
và các loại lọ dùng trong cửa hàng dược phẩm, cửa hàng bán mứt 
kẹo (nhóm 69.14). 
(e) Các sản phẩm bằng gốm kim loại (nhóm 81.13). 
(f) Các thiết bị điện (ví dụ: bộ chuyển mạch, hộp nối, công tắc, cầu 
chì....) thuộc các nhóm từ 85.33 đến 85.38 cũng như các bộ phận 
cách điện, các phụ kiện cách điện, v.v thuộc các nhóm 85.46 hoặc 

Chú giải  chi tiết phân nhóm 
Phân nhóm 6909.12 
Phân nhóm này gồm các sản phẩm gốm có đặc tính cao. Các sản phẩm 
này bao gồm một ma trận ceramic tinh thể (ví dụ: bằng nhôm, các bua 
silic, Ziriconi, hoặc nitrua silic, bo hoặc nhôm, hoặc bằng hợp chất của 
chúng); tơ hoặc sợi của các  vật liệu gia cố (ví dụ: bằng kim loại, hay 
graphit) cũng có thể bị phân tán trong  ma trận để tạo ra một nguyên liệu 
gốm hỗn hợp. 
Các sản phẩm này có đặc điểm là ma trận có độ xốp rất thấp và trong đó 
kích cỡ hạt rất nhỏ; có độ chịu mài mòn, độ ăn mòn và sức chịu va đập 
nhiệt cao; có độ bền ở nhiệt độ cao; và có các tỉ lệ tương quan giữa độ 
bền và trọng lượng có thể bằng hoặc cao hơn sơ với các tỉ lệ của thép.  
Các sản phẩm này thường được dùng để thay thế cho các bộ phận bằng 
thép, hoặc bằng các kim loại khác dùng trong các ứng dụng cơ khí đòi hỏi 
độ dung sai về kích thước ít (ví dụ rô to của máy nén tua bin trong động 
cơ, giá đỡ máy cán và các dụng cụ của máy). 
Thang Mohs được đề cập đến trong phân nhóm này phân loại vật liệu theo 
khả năng làm xây xước bề mặt của vật liệu ở dưới độ cứng của nó trên 
thang Mohs. Các vật liệu được phân loại từ 1 (đối với bột tan) đến 10 (đối 
với kim cương). Đa số các vật liệu gốm có đặc tính cao được xếp ở phần 
trên của thang. Các bua silic và ô xít nhôm, cả hai nguyên liệu này đều 
được dùng để sản xuất các sản phẩm gốm có đặc tính cao, được xếp thứ 9 
hoặc cao hơn trong thang Mohs. Để phân biệt các vật liệu cứng hơn, thang 
Mohs đôi khi được mở rộng thêm, với bột tan là 1 và kim cương là 15. 
Trên thang Mohs được mở rộng, nhôm nóng chảy có độ cứng tương 
đương với 12 và cacbua silic có độ cứng tương đương với 13. 
69.10 - Bồn rửa, chậu rửa, bệ chậu rửa, bồn tắm, bệ rửa vệ sinh 
(bidets), bệ xí, bình xối nước, bệ đi tiểu và các sản phẩm vệ 
sinh tương tự bằng gốm, sứ gắn cố định.  

 6910.10 - Bằng sứ 
            6910.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các thiết bị được thiết kế để gắn cố định trong nhà, 
v.v, thường bằng cách nối với các hệ thống nước hoặc nước thải. Do vậy 
chúng phải được thiết kế không thấm nước bằng cách tráng men hoặc 
bằng cách nung kéo dài (ví dụ, đồ sứ, đồ gốm, sứ vệ sinh bằng đất sét 
nung, đồ giả sứ, hoặc đồ sứ dạng thuỷ tinh). Ngoài các thiết bị được liệt 
kê cụ thể trên, nhóm này còn bao gồm các hạng mục như bể chứa 
(cistern) dùng trong phòng vệ sinh.  
Bình xối nước bằng  gốm vẫn được xếp trong nhóm này, cho dù chúng 
có được trang bị các bộ phận bằng cơ khí hay không. 
Tuy nhiên, nhóm này không gồm các phụ kiện vệ sinh hoặc các phụ 
kiện nhỏ cho nhà tắm, như đĩa đựng xà bông, hộp đựng đá kỳ, giá để bàn 
chải đánh răng, móc treo khăn tắm và giá để giấy vệ sinh, kể cả loại 
được thiết kế để gắn cố định lên tường và cũng không bao gồm các thiết 
bị vệ sinh có thể dịch chuyển như bồn tắm, tiểu treo; các sản phẩm này 
được xếp vào nhóm 69.11 hoặc 69.12. 
69.11 - Bộ đồ ăn, bộ đồ nhà bếp, đồ gia dụng và đồ sứ vệ sinh khác, 
bằng sứ. 
 6911.10 - Bộ đồ ăn và bộ đồ nhà bếp 
 6911.90 - Loại khác 
Xem phần chú giải chi tiết của nhóm 69.12. 
69.12 - Bộ đồ ăn, bộ đồ nhà bếp, đồ gia dụng và đồ vệ sinh bằng 
gốm, trừ loại bằng sứ 
Bộ đồ ăn, bộ đồ bếp, đồ gia dụng và đồ dùng vệ sinh được xếp vào 
nhóm 69.11 nếu các sản phẩm này được làm bằng sứ  và vào nhóm 
69.12  nếu các sản phẩm đó bằng gốm  như  đồ gốm, đồ giả sứ (xem 
Chú giải tổng quát của phân Chương II).   
Do vậy nhóm này bao gồm:  

(A) Bộ đồ ăn như  các bộ uống chè, cà phê, các loại đĩa, nồi đựng súp, 
bát đựng xa lát,  đĩa và khay các loại, bình pha cà phê, ấm chè, lọ 
đựng đường, tách uống nước, bát đựng nước xốt, đĩa  đựng món ăn 
khai vị, mâm bồng, giỏ và làn đựng (ví dụ để đựng bánh, hoa quả...), 
lọ đựng bơ, đĩa đựng xà lách, lọ đựng mù tạt, cốc đánh trứng, phần 
đế của đĩa đựng, cái để dao, thìa, mắc treo khăn mặt... 
(B) Các loại dụng cụ dùng trong nhà bếp như: xoong, chảo, nồi nấu, nồi 
hầm các hình dạng và kích cỡ, đĩa để quay hoặc nướng đồ ăn, chậu, 
khuôn làm bánh hoặc đổ thạch jelly, hũ đựng, lọ đựng mứt, đựng 
mỡ, đựng đồ ăn, muối, , các loại lọ đựng trong bếp, (ví dụ lọ đựng 
bột trà, hộp đựng bánh mỳ, ....vv), phễu các loại, muôi, dụng cụ nhà 
bếp có chia độ, có thước đo, cây lăn bột... 
(C) Các loại đồ gia dụng khác  như  gạt tàn thuốc lá, bình nước nóng, 
hộp đựng bao diêm.... 
(D)  Đồ vệ sinh (cho dù được dùng trong gia đình hay không) như bộ đồ 
vệ sinh (bình, chậu, v.v) , bồn tắm vòi hoa sen, chậu vệ sinh,  tiểu  
treo, bình nhổ, bốc thụt rửa, chậu tắm; hộp đựng xà phòng, xà treo 
khăn, cái treo bàn chải đánh răng, giá treo giấy vệ sinh, móc treo 
khăn  tắm, và các sản phẩm tương tự dùng để sử dụng trong buồng 
tắm, phòng vệ sinh, nhà bếp, cho dù chúng được thiết kế để gắn 
hoặc lắp lên tường hay không.  
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Bình, hũ, liễn và các sản phẩm tương tự bằng gốm, sứ dùng trong 
việc chuyên chở hoặc đóng hàng (nhóm 69.09). 
(b)  Bồn tắm, bệ xí, bồn rửa và các phụ kiện vệ sinh tương tự  (nhóm 69.10). 
(c) Tượng nhỏ và các  sản phẩm trang trí khác  thuộc nhóm 69.13. 
(d)  Đồ gốm có các chỉnh sửa bavia nhỏ bằng kim loại quý hoặc được 
mạ kim loại với kim loại quý (Chương 71).  
(e)  Cối xay cà phê và xay gia vị  có các hộp đựng bằng gốm và có  các 
bộ phận bằng kim loại (nhóm 82.10). 
(f)  Các  thiết bị nhiệt-điện (dùng để nấu, nung nóng, v.v) kể cả các bộ 
phận làm nóng bằng điện (đĩa nấu, điện trở làm nóng, v.v) thuộc 
nhóm 85.16.  
(g) Các sản phẩm thuộc Chương 91, kể cả vỏ hộp đồng hồ.  

(h)  Bật lửa thuộc nhóm 96.13 và các bình xịt nước hoa (nhóm 96.16). 
69.13 - Các loại tượng nhỏ và các loại sản phẩm trang trí bằng gốm, 
sứ khác 
6913.10 - Bằng  sứ 
6913.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm  các loại sản phẩm bằng gốm, sứ được thiết kế chủ 
yếu để trang trí nội thất trong nhà, văn phòng  phòng họp, nhà thờ.... 
hoặc dùng để trang trí bên ngoài (ví dụ trang trí vườn). 
Tuy nhiên, nhóm này không gồm các sản phẩm thuộc các nhóm mô tả 
cụ thể hơn của Danh mục ngay cả khi chúng thích hợp vì lý do bản chất 
hoặc phù hợp cho mục đích trang trí, v.v :  
(a) Mái đua, viền chân tường và các sản phẩm trang trí kiến trúc tương 
tự  (nhóm 69.05). 
(b) Hàng hóa có các phụ kiện nhỏ nhiều hơn được làm bằng kim loại quý 
hoặc kim loại mạ kim loại quý  (Chương 71). 
(c) Đồ trang sức làm bằng vật liệu khác (nhóm 71.17). 
(d) Khí áp kế, nhiệt kế và các  thiết bị khác thuộc Chương 90. 
(e) Đồng hồ, cũng như vỏ của chúng, kể cả khi các sản phẩm này được 
trang trí, ví dụ:  các bức tượng nhỏ và các  vật tương tự được thiết 
kế làm vỏ hộp đồng hồ. (Chương 91). 
(f) Đèn (luminaires) và bộ đèn và kể cả bộ phận của chúng  thuộc nhóm 
(g) Đồ chơi, thiết bị trò chơi,  và dụng cụ, thiết bị thể thao (Chương 95). 
(h)  Khuy, tẩu hút thuốc, bật lửa bàn, các bình xịt nước hoa và các sản 
phẩm khác thuộc Chương 96. 
(ij) Tranh, tác phẩm hội họa hoàn toàn được làm bằng tay cũng như các  
các bức tượng độc đáo và các sản phẩm trong các bộ sưu tập, đồ cổ 
hơn 100 năm  (Chương 97). 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Các sản phẩm mà không còn giữ được giá trị sử dụng  nhưng 

hoàn toàn là các sản phẩm trang trí, và các sản phẩm chỉ được 
dùng để đỡ hoặc chứa các sản phẩm trang trí khác hoặc để tăng 
thêm hiệu quả trang trí, ví dụ: 
(1) Các bức tượng, tượng nhỏ, tượng bán thân, các bức phù  điêu 
chạm nổi và các mô típ trang trí tương tự dùng để trang trí nội 
thất hoặc bên ngoài; các vật trang trí (bao gồm các vật tạo thành 
các bộ phận của bộ đồng hồ) cho các vật ốp trên mặt lò sưởi, 
các giá để, v.v (các động vật, các chi tiết hình tượng hoặc phúng 
dụ, v.v); cúp thể thao hoặc nghệ thuật; các vật trang trí trên 
tường kèm theo các phụ kiện để treo (đĩa, khay); các tấm lắc, 
vách ngăn lò sưởi, hoa, quả, lá nhân tạo, v.v; vòng hoa và các 
vật trang trí tương tự dùng cho các bia mộ; các loại đồ mỹ nghệ 
bày trên giá hoặc trong tủ kính. 
(2) Cây thánh giá và các đồ trang trí nhà thờ hoặc tôn giáo khác. 
(3) Các loại bình,  chậu  cảnh,  bát cắm hoa để bàn và lọ độc bình 
được sử dụng hoàn toàn để trang trí. 
(B)  Bộ đồ ăn và các đồ dùng gia đình trong đó tính chất trang trí quan 
trọng hơn tính chất sử dụng trong gia đình, ví dụ mâm có các mô típ 
trang trí chạm nổi không cho phép sử dụng bình thường, gạt tàn thuốc 
lá có cấu tạo đặc biệt mà chức năng dùng để đựng, chứa chỉ là phụ, các 
đồ vật có các tiểu tiết không có khả năng sử dụng trong thực tế. Tuy 
nhiên, thông thường, bộ đồ ăn và đồ dùng gia đình được thiết kế chủ 
yếu để phục vụ mục đích hữu dụng và các chi tiết trang trí thường là 
phụ sao cho không làm suy yếu sự hữu ích. Khi đó, khả năng sử dụng 
thực tế của các sản phẩm được trang trí cũng giống như tính năng của 
các sản phẩm không được trang trí, các sản phẩm trên thuộc các nhóm 
69.11 và 69.12, và không thuộc nhóm này. 
(C) Các sản phẩm (trừ bát đĩa và đồ dùng trong gia đình) được sử 
dụng nhằm mục đích trang trí nhà ở, phòng làm việc... Ví dụ,  bộ 
dụng cụ cho người hút thuốc,  hộp đựng đồ trang sức , hộp đựng 
kẹo, hộp đựng thuốc lá, lư hương, hộp mực, ke giữ sách, chặn giấy 
và các đồ dùng văn phòng tương tự và các khung ảnh. 
(3) Purely ornamental table-bowls, vases, pots, jardinières. 

69.14 - Các sản phẩm khác bằng gốm , sứ khác 
6914.10 - Bằng sứ 
6914.90 - Loại khác 
Nhóm này gồm toàn bộ các sản phẩm bằng gốm, sứ không thuộc các 
nhóm khác của chương này hoặc ở các chương khác của Danh mục hàng 
hoá.  
Nhóm này gồm: 
(1) Lò sưởi và các thiết bị làm nóng, được làm chủ yếu bằng gốm 
(thường bằng đồ gốm sành, đôi khi bằng gốm thông thường, v.v); 
các tấm bên bằng gạch nung không chịu lửa, các bộ phận gốm của 
lò hoặc lò sưởi, các lớp lót gốm cho lò đốt bằng gỗ, kể cả gạch các 
loại được thiết kế đặc biệt cho lò nung. Tuy nhiên, các thiết bị làm 
nóng bằng điện được phân loại vào nhóm 85.16.  
(2) Chậu hoa không trang trí (ví dụ dùng trong làm vườn) 
(3) Các  phụ kiện  của cửa ra vào, cửa sổ, v.v... như  nắm tay mở cửa, 
núm cửa, tấm chắn hoặc tay nắm, núm cửa kéo cho nhà vệ sinh. 
(4) Chữ cái, chữ số, tấm biển chỉ dẫn, và các mô tuýp tương tự dùng làm 
biển hiệu cho cửa hàng, cửa sổ, có hoặc không có tranh ảnh hoặc nội 
dung được in sẵn, trừ khi được chiếu sáng (nhóm 94.05). 
(5) Các nút có tay gạt bằng lò xo, v.v chủ yếu bằng gốm, sứ (ví dụ dùng 
cho các chai đựng nước chanh).. 
(6) Lọ và các vật chứa đựng có mục đích dùng chung cho phòng thí 
nghiệm và lọ trưng bày trong hiệu thuốc, cửa hàng bánh mứt kẹo).  
(7) Các sản phẩm phẩm khác như chuôi dao và lọ mực của học sinh, 
thiết bị làm ẩm trong bộ tản nhiệt của máy sưởi trung tâm, các đồ 
phụ kiện của lồng chim...v.v. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Răng giả bằng gốm, sứ (nhóm 90.21). 
(b) Đồ chơi, thiết bị trò chơi,  và dụng cụ, thiết bị thể thao (Chương 95). 
(c)  Khuy, ống tẩu và các sản phẩm khác của Chương 96. 

Chương 70 
Thuỷ tinh và các sản phẩm bằng thủy tinh 
Chú giải. 
1. - Chương này không bao gồm : 
(a) Hàng hoá thuộc nhóm 32.07 (ví dụ, men kính và men sứ, frit 
thủy tinh, thuỷ tinh khác ở dạng bột, hạt hoặc vẩy); 
(b)  Các sản phẩm thuộc Chương 71 (ví dụ, đồ trang sức làm bằng 
chất liệu khác); 
(c)  Cáp sợi quang thuộc nhóm 85.44, vật cách điện (nhóm 85.46) 
hoặc các phụ kiện bằng vật liệu cách điện thuộc nhóm 85.47; 
(d) Kính chắn gió phía trước (kính chắn gió), cửa sổ phía sau và các 
cửa sổ khác, có khung, dùng cho các loại phương tiện thuộc 
Chương 86 đến Chương 88; 
(e) Kính chắn gió phía trước (kính chắn gió), cửa sổ phía sau và các 
cửa sổ khác, có hoặc không có khung, có gắn thiết bị sưởi hoặc 
các thiết bị điện hoặc điện tử khác, dùng cho các loại phương 
tiện thuộc Chương 86 đến Chương 88; 
(f) Sợi quang học, các bộ phận quang học đã được gia công quang 
học, ống tiêm dưới da, mắt giả, nhiệt kế, dụng cụ đo khí áp, máy 
đo tỷ trọng chất lỏng hoặc các sản phẩm khác của Chương 90; 
(g) Đèn (luminaires) hoặc bộ đèn, các biển hộp được chiếu sáng, các 
biển đề tên được chiếu sáng hoặc các loại tương tự, có nguồn 
sáng cố định thường xuyên, hoặc các bộ phận của chúng thuộc 
nhóm 94.05;  
(h)  Đồ chơi, thiết bị trò chơi, dụng cụ, thiết bị thể thao, các đồ trang 
trí cây thông Nô-en hoặc các sản phẩm khác thuộc Chương 95 
(trừ mắt thuỷ tinh không có bộ phận điều khiển, dùng cho búp bê 
hoặc cho các sản phẩm khác thuộc Chương 95); hoặc   
(ij)  Khuy, bình chân không, bình xịt dầu thơm hoặc các bình xịt 
tương tự hoặc các sản phẩm khác thuộc Chương 96. 

2. - Theo mục đích của các nhóm 70.03, 70.04 và 70.05: 
(a)  Thuỷ tinh không được coi là "đã gia công" bởi bất cứ một quá 
trình nào trước khi tôi luyện; 
(b)  Việc cắt thành hình không ảnh hưởng đến phân loại thuỷ tinh 
dạng tấm; 
(c)  Khái niệm "lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu" 
có nghĩa là lớp phủ cực mỏng bằng kim loại hoặc bằng hợp chất 
hoá học (ví dụ oxit kim loại) mà lớp đó có tác dụng hấp thụ, ví 
dụ, hấp thụ tia hồng ngoại hoặc để tăng tính phản chiếu của kính 
trong khi vẫn giữ được độ trong suốt hoặc mờ; hoặc không cho 
ánh sáng phản chiếu từ bề mặt của kính 
3. - Những sản phẩm được kể đến trong nhóm 70.06 vẫn được phân loại 
trong nhóm đó cho dù có hoặc không có đặc trưng của hàng hoá. 
4.- Theo mục đích của nhóm 70.19, khái niệm "len thuỷ tinh" có nghĩa 
là: 
(a)  Len khoáng vật với hàm lượng dioxit silic (SiO2) không dưới 
60% tính theo trọng lượng; 
(b)  Len khoáng vật với hàm lượng dioxit silic (SiO2) dưới 60% tính 
theo trọng lượng nhưng với một hàm lượng oxit kiềm (K2O hoặc 
Na2O) trên 5% tính theo trọng lượng hoặc hàm lượng oxit boric 
(B2O3) trên 2% tính theo trọng lượng. 
Len khoáng vật không có những đặc điểm kỹ thuật ở trên được phân 
loại trong nhóm 68.06. 
5. - Trong bảng Danh mục này, khái niệm "thuỷ tinh" kể cả thạch anh 
nấu chảy và dioxit silic nấu chảy khác 
Chú giải phân nhóm. 
1. Theo mục đích của các phân nhóm 7013.22, 7013.33, 7013.41 và 
7013.91, khái niệm "pha lê chì" có nghĩa là chỉ loại thuỷ tinh có hàm 
lượng chì monoxit (PbO) tối thiểu là 24% theo khối lượng. 

TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm thuỷ tinh ở tất cả các dạng và các sản phẩm bằng 
thuỷ tinh (trừ  các sản phẩm được loại trừ tại chú giải 1 của chương này 
hoặc những sản phẩm được đề cập một cách  cụ thể hơn bởi các nhóm 
khác của danh mục). 
Thuỷ tinh (Trừ thạch anh thạch anh nung chảy và dioxit silic nung chảy 
khác được đề cập dưới đây) là một hỗn hợp nấu chảy đồng nhất, theo 
những tỷ lệ thay đổi, của  silicat kiềm (natri hoặc kali) với một hay nhiều 
silicat của canxi và chì, và các chất phụ trợ các silicate của bari, nhôm, 
mangan, magiê, ... 
Căn cứ vào thành phần của thuỷ tinh thì có rất nhiều loại thủy tinh (ví 
dụ: thuỷ tinh Bohem, thuỷ tinh cron, thuỷ tinh pha lê chì, thuỷ tinh 
quang học, thuỷ tinh giả kim cương Strass). Những loại thuỷ tinh này 
không kết tinh (vô định hình) và hoàn toàn trong suốt. 
Các nhóm khác nhau của chương này bao gồm các sản phẩm tương ứng 
không phụ thuộc vào các dạng thuỷ tinh mà chúng bao gồm. 
Các phương pháp sản xuất thay đổi đáng kể bao gồm: 
(A)  Phương pháp đúc (ví dụ: để sản xuất kính tấm). 
(B)  Phương pháp cán (ví dụ để sản xuất kính tấm hoặc kính có cốt lưới). 
(C) Phương pháp làm nổi (để sản xuất kính nổi). 
(D) Phương pháp đổ khuôn, có hoặc không kết hợp với các phương pháp 
ép, thổi hoặc kéo (ví dụ: để sản xuất chai lọ, cốc vại, một số loại 
kính quang học, gạt tàn thuốc lá). 
(E) Phương pháp thổi, cơ khí hoặc phi cơ khí, có hoặc không có khuôn 
(ví dụ, để sản xuất chai, ống dạng ampoule, đồ trang trí và đôi khi 
để sản xuất kính tấm). 
(F) Phương pháp kéo hoặc đùn (đặc biệt dùng cho sản xuất kính tấm, 
thanh, ống và ống dẫn, và thuỷ tinh sợi). 
(G)  Phương pháp ép, dùng với khuôn, thường được sử dụng như quá 
trình sản xuất gạt tàn thuốc lá, và cũng kết hợp với phương pháp cán 
(ví dụ đối với kính cán hoa văn) hoặc phương pháp thổi (ví dụ, để 

sản xuất chai). 
(H) Phương pháp gia công đèn xì, với sự trợ giúp của một đèn xì (để sản 
xuất ống dạng ampoule, các sản phẩm trang trí,... từ thanh hoặc ống 
thuỷ tinh). 
(IJ) Phương pháp cắt các sản phẩm theo yêu cầu từ các phôi, khối cầu,... 
thu được bởi bất kỳ quá trình nào (đặc biệt là các sản phẩm từ thạch 
anh nung chảy hoặc dioxit silic nung chảy khác thu được từ các phôi 
có  tiết diện đặc hoặc rỗng). 
Đối với thuỷ tinh đa bào, xem Chú giải Chi tiết của nhóm 70.16. 
Trong một số trường hợp, phương pháp sản xuất các sản phẩm quyết 
định việc phân loại của chúng trong chương này. Ví dụ, nhóm 70.03 chỉ 
áp dụng đối với thuỷ tinh đúc hoặc cán, và nhóm 70.04 chỉ áp dụng đối 
với thuỷ tinh kéo và thổi. 
Chú giải 5 Chương này quy định rằng khái niệm "thuỷ tinh" bao gồm cả 
thạch anh nung chảy và dioxit silic nung chảy khác. 
Chương này cũng bao gồm: 
(1) Thuỷ tinh trắng đục hoặc mờ đục: là những thuỷ tinh trong mờ và 
thu được bằng cách bổ sung thêm các nguyên liệu như canxi florua 
hoặc tro xương (theo tỷ lệ khoảng 5%) vào cả khối thuỷ tinh; vật 
liệu được bổ sung thêm này làm tăng sự kết tinh từng phần của khối 
nấu chảy trong quá trình làm nguội hay làm nóng lại. 
(2) Các vật liệu đặc biệt được biết đến như gốm thuỷ tinh, là loại mà 
trong đó thuỷ tinh được chuyển thành vật liệu gần như hoàn toàn kết 
tinh bởi một quá trình kết tinh được kiểm soát. Chúng được tạo ra 
bằng cách thêm vào phối liệu thuỷ tinh các chất tạo mầm kết tinh 
thường là ôxit kim loại (ví dụ như titan điôxit và ôxit ziriconi) hoặc 
các kim loại (như bột đồng). Sau khi sản phẩm được tạo hình bằng 
các phương pháp kỹ thuật làm thủy tinh thông thường, nó được duy 
trì ở mức nhiệt độ đủ để đảm bảo sự kết tinh của khối thuỷ tinh xung 
quanh các tinh thể tạo mầm (sự hoá mờ). Gốm thuỷ tinh có thể mờ 
đục hoặc đôi khi trong suốt. Chúng có các đặc tính bền cơ học, đặc 

tính điện và chịu nhiệt tốt hơn nhiều so với thuỷ tinh thông thường. 
(3) Thuỷ tinh có hệ số giãn nở thấp, ví dụ như thuỷ tinh borosilicat. 
70.01 - Thủy tinh vụn và thủy tinh phế liệu và mảnh vụn khác, trừ 
thủy tinh từ ống đèn tia ca-tốt hoặc thủy tinh hoạt tính khác 
thuộc nhóm 85.49; thủy tinh ở dạng khối. 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Thuỷ tinh vụn và thủy tinh phế liệu của tất cả các loại thu được từ 
quá trình gia công thuỷ tinh (bao gồm cả phế liệu thuỷ tinh bắn ra 
bên ngoài  bể nấu và sau đó được thu hồi), và các sản phẩm bị vỡ. 
Thuỷ tinh phế liệu nói chung có đặc điểm là các cạnh sắc. 
(B) Thuỷ tinh ở dạng khối (kể cả thuỷ tinh "tráng men"), (ít nhiều ở 
dạng các khối thông thường), không có mục đích sử dụng cụ thể. 
Thuỷ tinh "tráng men" có tính nóng chảy lớn hơn và tỷ trọng cao 
hơn so với hầu hết các loại thuỷ tinh thông thường. Loại thuỷ tinh 
này thường mờ đục mặc dù thỉnh thoảng trong suốt, nó có thể không 
màu hoặc có các màu khác nhau. Nó được phân loại trong nhóm này 
khi ở dạng khối (ở dạng  cục hoặc tấm, phiến). Nó được sử dụng để 
nhuộm màu hoặc làm mờ đục thuỷ tinh khác, để gia công bằng đèn 
xì thành các đồ trang trí,... và để tráng men đồ gốm,... 
Nhóm này cũng bao gồm vitrit ở dạng khối, một loại thuỷ tinh có điểm 
nóng chảy thấp, được dùng để cách điện các điểm tiếp xúc tại chân các 
bóng đèn điện. Nó có hàm lượng điôxit mangan cao tạo cho nó có màu 
hơi đen để che các phụ tùng bên trong của chân bóng. 
Thuỷ tinh (kể cả vitrit và thuỷ tinh "tráng men") ở dạng bột, hạt hoặc vẩy 
là bị loại trừ ( nhóm 32.07).  
70.02 - Thuỷ tinh ở dạng hình cầu (trừ loại vi cầu thủy tinh thuộc 
nhóm 70.18), dạng thanh hoặc ống, chưa gia công. 
7002.10 - Dạng hình cầu 
7002.20 - Dạng thanh 
 - Dạng ống: 

7002.31 - -Bằng thạch anh nung chảy hoặc các dạng điôxit silic 
nung chảy khác 
7002.32 - -Bằng thuỷ tinh khác có hệ số giãn nở tuyến tính không 
vượt quá 5x10-6/độ Kêvin khi ở nhiệt độ từ 00C đến 
7002.39 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Thủy tinh ở dạng hình cầu đặc, thường được sản xuất bằng cách đúc 
hoặc  ép hoặc bằng máy đùn trục vít đôi, và những loại mà không kể 
đến các mục đích khác có thể được sử dụng như  nguyên liệu thô để 
sản xuất sợi, hoặc cho việc chuẩn bị các bản in litô. 
(2) Các thanh và ống thuỷ tinh có đường kính khác nhau, là những loại 
thường thu được bằng quy trình kéo (kết hợp với phương pháp thổi 
trong trường hợp làm thành ống), chúng có thể được sử dụng cho 
nhiều mục đích (ví dụ, làm dụng cụ thí nghiệm hoá học hoặc thiết bị 
công nghiệp; dùng trong công nghiệp dệt, hơn thế nữa là trong sản 
xuất nhiệt kế, ống dạng ampoule, các bóng đèn điện hoặc đèn điện 
tử, hoặc các đồ trang trí). Một số ống đèn huỳnh quang (được sử 
dụng chủ yếu cho các mục đích quảng cáo) được kéo với những 
vách ngăn  chạy suốt chiều dài. 
Nhóm này bao gồm cả thuỷ tinh "tráng men", ở dạng thanh, que hoặc 
ống (thuỷ tinh "tráng men" được định nghĩa trong chú giải nhóm 70.01). 
Dạng hình cầu thuộc nhóm này phải là loại chưa được gia công; Tương 
tự, dạng thanh và dạng ống phải là loại chưa được gia công (như thu 
được trực tiếp từ quá trình kéo hoặc chỉ được cắt thành các đoạn mà các 
đầu đoạn có thể chỉ đơn giản được làm nhẵn). 
Nhóm này không bao gồm các thành phẩm hoặc bộ phận của các thành 
phẩm có thể nhận biết được ở dạng hình cầu, dạng thanh và ống, chúng 
được phân loại theo nhóm thích hợp (ví dụ, nhóm 70.11, 70.17, 70.18 
hoặc Chương 90). Nếu đã được gia công, nhưng không cho một mục 
đích cụ thể, chúng sẽ được phân loại vào nhóm 70.02. 
Nhóm này bao gồm các dạng ống (đã hoặc chưa được cắt thành đoạn) 
bằng thuỷ tinh đã được thêm vật liệu phát huỳnh quang. Mặt khác, các 

ống được phủ vật liệu phát huỳnh quang bên trong, đã hoặc chưa được 
gia công cách khác, bị loại trừ (nhóm 70.11). 
Thủy tinh ở dạng hình cầu có đặc tính của đồ chơi (thủy tinh có vân cẩm 
thạch ở bất kỳ dạng nào, và Thủy tinh ở dạng hình cầu được đóng trong 
các gói nhỏ dùng cho việc vui chơi giải trí của trẻ con) được phân loại 
vào nhóm 95.03. Thủy tinh ở dạng hình cầu được mài nhẵn sau khi tạo 
hình, sử dụng làm nút chai sẽ  được xếp vào nhóm 70.10. 
Nhóm này cũng không bao gồm vi cầu thủy tinh (đường kính không quá 
1mm) được sử dụng như để sản xuất các biển báo hiệu giao thông, các biển 
phản quang hoặc các màn hình chiếu bóng hoặc được sử dụng trong việc làm 
sạch động cơ phản lực của máy bay hoặc bề mặt kim loại (nhóm 70.18). 
70.03 - Thuỷ tinh đúc và  thuỷ tinh cán, ở dạng tấm hoặc dạng hình, 
đã hoặc chưa tráng lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không 
phản chiếu, nhưng chưa gia công cách khác. 
- Dạng tấm không có cốt lưới: 
7003.12 - - Thuỷ tinh được phủ màu toàn bộ, mờ, sáng hoặc có 
tráng lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản 
chiếu: 
7003.19 - - Loại khác 
7003.20 - Dạng tấm có cốt lưới 
7003.30 - Dạng hình 
Nhóm này bao gồm tất cả các loại thuỷ tinh đúc và  thuỷ tinh cán ở dạng 
tấm (bất kể độ dầy và đã hoặc chưa cắt thành hình), hoặc dạng hình, đã 
hoặc chưa tráng lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu, 
nhưng chưa gia công cách khác. 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Thuỷ tinh dạng tấm chưa được gia công. Loại này nói chung không 
trong suốt do các bề mặt của nó nổi hạt và thô ráp. Loại này cũng có 
thể được phủ màu nhân tạo toàn bộ bằng các ôxit kim loại hoặc các 
muối khác. Thuỷ tinh dạng tấm đã được mài hoặc mài bóng bề mặt 

không được đưa vào này (nhóm 70.05). 
(B) Thuỷ tinh không trong suốt, mà ít nhiều bị mờ đi và đôi khi hoàn 
toàn mờ đục. Nó thường có hình dạng bên ngoài giống với đá cẩm 
thạch, đồ sứ hoặc thạch cao. Dạng thuỷ tinh này được gia công theo 
các màu trắng, đen và các màu khác,  trơn hoặc có vân, và được sử 
dụng để ốp tường, để làm phần bề mặt bồn rửa, khay đựng xà 
phòng, bề mặt quầy hàng, mặt bàn làm việc, mặt bàn, bàn phẫu 
thuật,.... làm bia mộ, làm bảng quảng cáo, hộp tín hiệu,.. 
Dạng thuỷ tinh này có thể được đánh bóng cơ học trên một hoặc cả 
hai mặt, nhưng khi đã được xử lý như vậy thì nó sẽ bị loại trừ khỏi 
nhóm này (nhóm 70.05). Ở trạng thái chưa gia công dạng thuỷ tinh 
này có dấu vết do tiếp xúc với con lăn hoặc có thể mang các dấu vết 
tạo thành từ quá trình đúc. Bất kỳ loại thuỷ tinh mờ đục nào cũng có 
một bề mặt gân hoặc thô nhằm thuận tiện cho việc cố định (không 
rõ ý từ này). 
(C) Một loại  thuỷ tinh không trong suốt, với  bề mặt không đều thu 
được trong quá trình gia công. Nhóm này bao gồm thuỷ tinh đúc 
thô,  kính nhà thờ,  kính  nhà thờ đã được rèn,...  thuỷ tinh cán có 
một bề mặt được in họa tiết (đường kẻ sọc, các mẫu hình thoi, gờ,...)  
thuỷ tinh được làm gợn sóng và thuỷ tinh đúc được gọi là thuỷ tinh 
cổ (có nghĩa là thuỷ tinh có chứa các bọt khí, hoặc làm rạn trên bề 
mặt, hoặc với những "lỗi sai sót" có chủ ý).  thuỷ tinh thuộc các loại 
này, những loại mà cũng có thể được phủ màu cả khối, được sử 
dụng làm các cửa sổ của các nhà máy, cửa hàng, văn phòng, buồng 
tắm, và nói chung là tất cả các công trình nhà cửa cần đến ánh sáng 
nhưng với mức độ làm tối khác nhau. 
Do tính chất của quá trình mà chúng được gia công, các loại thuỷ 
tinh này không được làm phẳng bề mặt bằng cách xử lý thêm. 
Như đã nêu, nhóm này chỉ bao gồm loại thuỷ tinh đúc và  thuỷ tinh cán. 
Phương pháp đúc (đang được thay thế bằng phương pháp cán, trừ trường 
hợp bề mặt rộng), thuỷ tinh nóng chảy được đổ vào bàn đúc cố định. Có hai 

gờ kim loại dọc theo các cạnh của bàn đúc để xác định độ dày của sản 
phẩm. Thuỷ tinh nóng chảy được đổ ra hết khỏi nồi nấu kim loại đến phía 
trước con lăn bằng kim loại nặng, con lăn này chạy trên các gờ và ép khối 
thuỷ tinh sệt bằng độ dầy của các  gờ. Ngay khi  thuỷ tinh đạt độ đồng nhất 
cần thiết, nó được  đưa từ từ qua hầm ủ hoặc lò ủ thủy tinh, nơi có nhiệt độ 
giảm dần về phía ngoài, tại đây nhiệt độ  khá mát. Trong quá trình đúc, thủy 
tinh dạng hình (ví dụ, hình chữ U) có thể thu được bằng cách uốn cong dải 
thủy tinh theo chiều dọc khi còn ở trạng thái bán nóng chảy. 
Phương pháp cán, thuỷ tinh nóng chảy đổ vào giữa các trục cán cho ra 
thủy tinh dưới dạng dải liên tục hoặc ở dạng tấm hoặc dạng hình. Sau đó 
nó được tự động  chuyển vào lò ủ thủy tinh. 
Phương pháp cán hoặc đúc, bề mặt của thủy tinh hoa văn, thủy tinh rèn, 
v.v,  sẽ được cán hoa văn. Với phương pháp đúc hoặc các bàn đúc hoặc 
trục cán được khắc hoa văn để tạo hoa văn trên thuỷ tinh bán nóng chảy. 
Với phương pháp cán, các hiệu ứng mong muốn thu được nhờ trục cán 
cuối cùng được khắc hoa văn. 
Các loại thủy tinh được mô tả ở trên có thể có những lỗ hổng thu được 
trong quá trình gia công, hoặc có thể có cốt lưới.  Kính tấm, kính hoa 
văn, kính nhà thờ và các loại kính tương tự đôi khi được đặt  cốt lưới ở 
nơi mà cần sự bảo vệ khỏi sự nguy hiểm của các mảnh vỡ do  bị nghiền 
nát hoặc  vỡ vụn, để phù hợp với mục đích xây dựng. Thủy tinh cốt lưới 
thu được bằng cách đưa lưới bằng dây thép vào trong thuỷ tinh mềm 
trong khi nó đang được cán. 
Thủy tinh được phân loại trong nhóm này có thể được  tráng lớp phản 
chiếu, thông thường, trong quá trình gia công thuỷ tinh màu có thể được 
tráng lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu, nhưng chưa 
được gia công thêm. 
Nhóm này loại trừ không chỉ thủy tinh đúc và thủy tinh cán, đã gia công 
thêm phân loại vào các nhóm khác (ví dụ: nhóm 70.05, 70.06, 70.08 
hoặc 70.09), mà còn loại trừ cả kính an toàn đã qua quá trình cán trong 
khi gia công (nhóm 70.07). 

70.04 -  Kính kéo và  kính thổi, ở dạng tấm, đã hoặc chưa tráng lớp 
hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu, nhưng chưa 
gia công cách khác. 
7004.20 -  Kính, được phủ màu toàn bộ, mờ, sáng, hoặc có tráng 
lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu 
7004.90 -  Loại kính khác 
Nhóm này được giới hạn cho kính kéo và kính thổi, được gia công và ở 
dạng tấm (đã hoặc chưa được cắt thành hình). 
Hiện nay, phương pháp thổi thủ công gần như được loại bỏ hoàn toàn 
(trừ đối với một số dạng thuỷ tinh đặc biệt), đã được thay thế bằng các  
phương pháp cơ khí thiết yếu khác như phương pháp kéo (ví dụ các  các 
phương pháp kéo Fourcault, Libbey-Owens hay Pittsburgh) hoặc 
phương pháp kéo kết hợp với phương pháp thổi. 
 Nhìn chung, kính thuộc nhóm này có thể có các độ dày khác nhau 
nhưng mỏng hơn so với thủy tinh đúc thuộc nhóm 70.03. Loại này có 
thể được phủ màu hoặc làm mờ đục toàn bộ, hoặc được tráng lớp phản 
chiếu với thuỷ tinh có màu khác khi gia công hoặc có thể được tráng lớp 
hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu. 
 Kính kéo và kính thổi thường được dùng ở dạng mà chúng được sản 
xuất ban đầu, không có bất kỳ sự gia công thêm nào. Ngoài công dụng 
chính như   làm kính dùng cho cửa sổ, cửa ra vào, hộp trưng bày, nhà 
kính, đồng hồ, tranh ảnh,... những loại kính này còn được sử dụng như 
các bộ phận của các mặt hàng đồ đạc, cho các tấm chụp ảnh, kính đeo 
mắt thường,... 
Nhóm này không bao gồm loại kính kéo và  kính thổi đã được mài,  mài 
bóng bề mặt hoặc gia công cách khác (xem Chú giải Chi tiết các nhóm 
70.05 -  Kính nổi và kính đã mài hoặc đánh bóng bề mặt, ở dạng 
tấm, đã hoặc chưa tráng lớp hấp thụ, lớp phản  chiếu hoặc 
không phản chiếu, nhưng chưa gia công cách khác. 

 7005.10 -  Kính không có cốt lưới, có tráng lớp hấp thụ, lớp 
phản chiếu hoặc không phản chiếu 
               -  Kính không có cốt lưới khác: 
7005.21 - - Phủ màu toàn bộ, mờ, sáng hoặc chỉ mài bề mặt: 
7005.29 - - Loại khác 
7005.30 -  Kính có cốt lưới 
Nhóm này bao gồm  kính nổi ở dạng tấm. Các  nguyên liệu thô của nó 
được nấu chảy trong lò.  Thủy tinh nóng chảy lấy ra khỏi lò và được  đưa 
vào  bể nổi bằng kim loại nóng chảy. Tại bể nổi này, kính có được độ 
phẳng của bể chất lỏng và kết thúc quá trình này sẽ giữ được độ bóng 
nhẵn của chất lỏng phủ trên bề mặt. Trước khi đến điểm cuối của bể, 
kính được làm  nguội  tới mức nhiệt độ mà tại đó nó đủ  cứng để  được 
chuyển qua các trục lăn mà không bị in dấu hoặc làm biến dạng. Từ bể 
nổi, kính được chuyển qua  lò ủ, tại  phía cuối của  lò ủ, kính được làm  
nguội và có thể được cắt.  Kính này không được mài hay  mài bóng bề 
mặt: nó hoàn toàn phẳng sau quá trình sản xuất. 
Nhóm này cũng bao gồm các loại thủy tinh thuộc các nhóm 70.03 và 
70.04 đã được  mài hoặc  mài bóng bề mặt (hai quá trình này thường 
được kết hợp). 
Trong quá trình mài bề mặt, kính chịu sự tác động của các đĩa bịt sắt quay,  
kết hợp với  dòng nước có chứa các vật liệu mài sẽ làm mòn bề mặt thuỷ tinh 
đến độ nhẵn. Độ trong suốt có được bằng cách  mài bóng trong  máy  có các 
đĩa phủ dạ, nỉ được thấm  ôxit sắt). Quá trình mài bề mặt có thể  liên tục và 
các máy mài kép có khả năng gia công cả hai bề mặt của  kính cùng một lúc. 
Việc mài bóng cuối cùng đôi khi được thực hiện. 
Kính thuộc nhóm này có thể được phủ màu hoặc làm mờ toàn bộ, hoặc 
được tráng phản chiếu với  kính có màu khác trong khi gia công hoặc có 
thể được tráng một lớp hấp thụ, lớp phản chiếu hoặc không phản chiếu. 
Kính thuộc nhóm này thường được sử dụng làm cửa sổ và cửa ra vào, ô tô, 
tàu thuỷ, máy bay,... để sản xuất gương, mặt bàn và bàn làm việc, các kệ, giá, 
các hộp trưng bày,... và trong việc sản xuất kính an toàn thuộc nhóm 70.07. 

 Kính ở dạng tấm đã trải qua quá trình gia công không được đề cập trong 
nội dung nhóm hoặc trong Chú giải 2 (b)  của chương này, kể cả  kính 
lồi hoặc  lõm, sẽ bị loại trừ (các nhóm 70.06, 70.07, 70.09,...). 
70.06 -  Kính thuộc các nhóm 70.03, 70.04 hoặc 70.05 đã uốn cong, 
gia công cạnh, khắc, khoan, tráng hoặc gia công cách khác, 
nhưng chưa làm  khung hoặc lắp với các vật liệu khác. 
Nhóm này bao gồm  kính thuộc các loại được đề cập trong các nhóm 
70.03 đến 70.05, những loại đã trải qua một hay các quá trình được đề 
cập  dưới đây. Tuy nhiên, nhóm này không bao gồm kính an toàn (nhóm 
70.07), kính hộp nhiều lớp (nhóm 70.08) hoặc gương thủy tinh (nhóm 
Nhóm này bao gồm: 
(A)  Kính lồi hoặc uốn cong như  kính  đặc biệt (ví dụ cho các ô cửa sổ 
trưng bày) thu được bằng cách uốn cong nhiệt hoặc làm cong nhiệt 
các tấm kính phẳng (trong  lò thích hợp và trên các khuôn), tuy 
nhiên loại trừ  kính lồi hoặc uốn cong thuộc nhóm 70.15. 
(B)  Kính với các cạnh được gia công (được mài,  mài bóng, làm tròn,  
xẻ rãnh, vát cạnh, cắt vát, tạo dạng,...) mang đặc tính của các sản 
phẩm như mặt bàn, mặt cân hoặc mặt thiết bị cân khác, mắt của thiết 
quan sát và các loại tương tự, cho bảng hiệu các loại, các tấm gắn ở 
cửa ra vào, kính cho khung ảnh,... ô kính cửa sổ, mặt trước bằng 
kính cho đồ đạc,... 
(C)  Kính được khoan lỗ hoặc tạo rãnh như một thao tác tiếp theo,... 
(D)  Kính đã được gia công bề mặt sau khi sản xuất, ví dụ như  kính đã 
trải qua quá trình làm mờ ( kính phun cát, hoặc  kính được làm cho mờ 
đi bằng cách xử lý với bột mài hoặc axit),  kính mờ,  kính được khắc 
hoặc khắc ăn mòn bởi bất kỳ quá trình nào,  kính tráng men (có nghĩa 
là  kính được trang trí với men hoặc các thuốc màu có thể  tạo thành 
thuỷ tinh),  kính có các hoạ tiết,, các trang trí, các hoạ tiết khác nhau,... 
được gia công bởi bất kỳ quá trình nào (vẽ bằng tay, in, các hình ảnh in 
trên kính trong suốt của cửa sổ,...) và tất cả  các loại kính khác được 
trang trí theo bất kỳ cách khác nào, trừ  kính được vẽ bằng tay để tạo 
thành một bức tranh thuộc nhóm 97.01. 

Nhóm này không chỉ bao gồm kính phẳng  ở dạng bán thành phẩm (ví 
dụ dạng tấm không có bất kỳ mục đích đặc biệt nào), mà còn gồm các 
sản phẩm kính phẳng được thiết kế cho  mục  đích đặc biệt, miễn là 
chúng không được đóng khung,  đệm lót, cũng không được gắn với vật 
liệu nào khác ngoài thuỷ tinh. Vì vậy nhóm này bao gồm cả các tấm 
tránh để lại dấu vân tay (cho cửa ra vào hoặc đệm công tắc) được làm  
hoàn toàn bằng kính đã vát cạnh hoặc đã được đục lỗ và các tấm bảng 
hiệu, thậm chí khi đã được vát cạnh, nhuộm màu hoặc có các  hoạ tiết 
hoặc các trang trí khác. 
Mặt khác, các tấm  kính được gắn vào gỗ hoặc vào kim loại, được dùng  
làm khung tranh ảnh, bức tranh,... được phân loại trong nhóm 44.14 
hoặc 83.06 tương ứng: gương  kính để trang  trí, có hoặc không được 
làm khung, có các hình ảnh được in trên một mặt, được phân loại trong 
nhóm 70.09 hoặc 70.13; khay phục vụ có tấm  kính, có hoặc không 
được phủ màu,  có khung và tay cầm,... được phân loại trong nhóm 
70.13; các biển quảng cáo, bảng hiệu, các bảng địa chỉ, panen, chữ, số và 
các hoạ tiết tương tự được bọc lót bằng giấy, bìa cactông, dạ, nỉ, kim 
loại,... hoặc được đóng khung sẽ  được xếp vào nhóm 70.20 (hoặc trong 
nhóm 94.05, nếu được  minh hoạ). Tương tự, các tấm  kính được đóng 
khung hoặc gắn vào các vật liệu khác, và các bộ phận máy móc hay thiết 
bị hoặc các bộ phận của các mặt hàng đồ đạc được phân loại với những 
máy móc, thiết bị hay các mặt hàng đồ đạc này. 
Các tấm  kính cho các sản phẩm đồ gia dụng , không được đóng khung 
hoặc gắn vào các vật liệu khác, vẫn được  xếp trong nhóm này nếu được 
để riêng lẻ, nhưng sẽ được phân loại cùng với các mặt hàng đồ  gia dụng 
nếu chúng được đi cùng tại thời điểm đó (có hoặc không được lắp ráp) 
và rõ ràng được định dùng để hợp nhất lại sau đó. 
Các tấm  kính ảnh (đã phủ lớp nhạy sáng, được phơi sáng hoặc được 
tráng) thuộc Chương 37. Các tấm kính có mạch điện bao gồm các tấm 
kim loại dẫn điện, và các tấm  kính nung nóng có các dải mạ kim loại 
hoặc các đường nét tạo mẫu trang trí có tác dụng như các điện trở sẽ 
thuộc Chương 85. 

70.07 - Kính an toàn, bao gồm kính tôi hoặc kính dán nhiều lớp 
  - Kính tôi an toàn: 
7007.11 - - Có kích cỡ và hình dạng phù hợp với từng loại xe, 
máy bay, tàu vũ trụ hoặc tàu thuyền 
7007.19 - - Loại khác 
                          -  Kính dán an toàn nhiều lớp: 
7007.21 - - Có kích cỡ và hình dạng phù hợp với từng loại xe, 
máy bay, tàu vũ trụ hoặc tàu thuyền. 
7007.29 - - Loại khác 
Thuật ngữ "kính an toàn" chỉ bao gồm những loại kính được mô tả dưới đây 
và không đề cấp đến kính bảo hộ như kính có cốt lưới thông thường và 
kính tráng lớp hấp thụ chọn lọc (ví dụ: kính chống chói, kính bảo vệ tia X). 
(A) Kính tôi.   
Đó là: 
(1) Kính thu được bằng cách nung nóng lại các  tấm kính cho đến 
khi chúng mềm nhưng không mềm đến mức làm mất đi hình 
dáng của chúng. Kính này sau đó được làm nguội nhanh bằng 
các quá trình thích hợp (kính tôi nhiệt).). 
(2) Kính mà độ bền cứng, tuổi thọ và tính dễ uốn của nó tăng lên 
đáng kể do sự xử lý hoá lý phức hợp (ví dụ sự trao đổi ion), sự 
xử lý này có thể bao gồm cả sự biến đổi kết cấu bề mặt (thường 
được biết đến như là "kính tôi bằng phương pháp hoá học"). 
Loại kính này không thể được gia công sau khi sản xuất vì các ứng suất 
bên trong được tạo nên bởi quá trình gia công và do vậy nó thường 
được sản  xuất theo các hình dạng và kích cỡ yêu cầu trước khi  tôi. 
(B) Kính dán nhiều lớp. 
Kính an toàn thuộc loại này, thường được biết đến như kính dán 
nhiều lớp, kính kiểu bánh sandwich ,... được làm ở dạng nhiều lớp,  

có một hay nhiều lớp xen kẽ bằng nhựa dẻo ở giữa hai hay nhiều 
tấm kính.  Lõi của các chất dẻo này thường bao gồm các tấm bằng 
xenluloza axetat, các sản phẩm acrylic hoặc vinyl. Sự bám dính 
hoàn toàn thu được bằng cách sử dụng nhiệt và áp lực đáng kể, đôi 
khi sau khi phun vào các mặt bên trong của các tấm  kính một loại 
chất kết dính đặc biệt. Phương pháp khác là tạo ra một màng nhựa 
trực tiếp trên các tấm kính ; các tấm kính sau đó được hàn gắn với 
nhau bằng cách sử dụng nhiệt và áp lực. 
Một đặc tính của kính tôi an toàn  là dưới tác dụng của  lực va đập nó bị 
vỡ thành các mảnh nhỏ không có các cạnh sắc hoặc thậm chí nó tan ra, 
như vậy làm giảm bớt sự nguy hiểm do bị thương từ các mảnh vỡ văng 
ra. Kính dán nhiều lớp an toàn thường rạn nứt mà không có sự đập vỡ, 
nhưng nếu sự va đập đủ lớn để làm  vỡ nó, và các mẩu văng ra thường 
không đủ lớn để gây ra các vết cắt  nghiêm trọng. Vì các mục đích đặc 
biệt này, cốt lưới có thể được đưa vào kính dán nhiều lớp, hoặc các lớp 
xen nhựa có thể được nhuộm màu. 
Do những đặc tính này mà các loại kính này được sử dụng làm kính chắn 
gió ô tô và các cửa sổ,  cửa ra vào, các ô cửa sổ tàu thuỷ, kính bảo hộ 
cho các công nhân công nghiệp hoặc lái xe, và thị kính đối với mặt nạ 
phòng độc hoặc mũ phòng hộ cho thợ lặn. Kính chống đạn là một dạng 
đặc biệt của kính dán nhiều lớp. 
Nhóm này không phân biệt giữa kính chưa được tạo hình và đã tạo hình  
(ví dụ lồi hoặc đã được uốn ). 
Tuy nhiên, kính lồi an toàn  có đặc tính của kính đồng hồ thời gian hoặc 
kính đồng hồ cá nhân hoặc của loại được sử dụng cho kính râm thì sẽ 
được phân loại trong nhóm 70.15. Kính an toàn được lắp vào các sản 
phẩm khác và vì vậy ở dạng các bộ phận của máy móc, thiết bị hoặc xe 
cộ sẽ được phân loại cùng với những máy móc, thiết bị hay xe cộ này, 
tương tự kính bảo hộ có chứa các thấu kính bằng kính an toàn sẽ thuộc 
nhóm 90.04. 
Kính hộp nhiều lớp, ví dụ kính bao gồm một  một hoặc hai tấm  kính  có 
một lớp xen giữa bằng sợi thuỷ tinh, sẽ thuộc nhóm 70.08. 

Các sản phẩm của kính tôi và gốm- thuỷ tinh, trừ những sản phẩm thuộc 
loại được sử dụng cho các mục đích được đề cập ở trên, được phân loại 
tuỳ theo tính chất đặc thù của chúng (ví dụ: các trống quay làm cứng, các 
đĩa nung bằng borosilicat và các tấm bằng gốm thuỷ tinh thuộc nhóm 
Nhựa được sử dụng thay thế cho kính an  toàn sẽ được phân loại tuỳ theo 
vật liệu cấu thành (Chương 39). 
70.08 - Kính hộp nhiều lớp 
Nhóm này bao gồm kính hộp nhiều lớp, dạng thông thường nhất của 
chúng bao gồm hai hay nhiều panen bằng thuỷ tinh (tấm, bản, mảng hay 
thậm chí những dạng như dạng được rèn hay dạng kính nhà thờ lớn) 
được chia tách bởi một lớp khí khô hoặc khí trơ, đôi khi ở bên trong 
được phân chia thành các ngăn. Những tấm này được hàn kín xung 
quanh các cạnh bằng kim loại, plastic hay bằng  các khớp nối khác,  mà 
tạo  thành một bộ phận hoàn toàn kín khí. 
Dạng khác của kính hộp nhiều lớp bao gồm một có hai tấm  kính với 
một lớp xen giữa bằng sợi thuỷ tinh. 
Những  loại kính này, được sử dụng để lắp kính cửa sổ, mái nhà,... sẽ tạo 
một độ cách nhiệt, cách âm và làm giảm sự ngưng tụ. 
70.09 - Gương thuỷ tinh, có hoặc không có khung, kể cả gương chiếu 
hậu 
7009.10 - Gương chiếu hậu dùng cho xe  
  - Loại khác: 
7009.91 - - Chưa có khung 
7009.92 - - Có khung 
Thuật ngữ "gương  kính" áp dụng cho loại kính mà một mặt của nó đã 
được phủ kim loại (thường là bạc, đôi khi là platin hoặc nhôm) để tạo 
một sự phản chiếu rõ ràng và sáng loáng. 
Với phương pháp tráng bạc, dung dịch amôniac loãng của nitrat bạc 

(được trộn với dung dịch khử trên cơ sở tartrat natri kali hoặc đường 
nghịch chuyển) được sử dụng. Những sản phẩm này được đổ lên trên bề 
mặt của kính sau khi nó đã được làm sạch một cách tỉ mỉ. Sự khử muối 
bạc sẽ tạo thành một chất kết tủa bạc kim loại bền vững và sáng loáng. 
Với phương pháp kết tủa platin, hợp chất clorua platin được quét lên trên 
kính, sau đó được gia nhiệt tới điểm hoá mềm. Quá trình này tạo ra một 
lớp phủ chặt kim loại. 
Lớp phủ kim loại (đặc biệt nếu là bạc) được phủ lớp bảo vệ, đôi khi bao 
gồm một hay nhiều lớp phủ bằng vecni hoặc chất kết tủa đồng bằng 
phương pháp điện phân, bản thân chất kết tủa này được bảo vệ bằng một 
lớp phủ vecni. 
Nhóm này bao gồm gương ở dạng tấm, có hoặc không được gia công 
thêm. Nó cũng bao gồm  gương đã được tạo hình  các loại, ví dụ gương 
sử dụng cho đồ đạc, cho trang trí nội thất, cho các toa xe chở khách, ... 
gương nhà vệ sinh (kể cả gương cầm tay hoặc gương treo), gương bỏ túi 
(có hoặc không có vỏ bảo vệ). Nhóm này bao gồm cả gương khuếch đại 
hoặc gương thu nhỏ và gương chiếu hậu (ví dụ sử dụng cho xe cộ). Tất 
cả các loại gương này có thể được đệm lót (bằng cáctông, vải sợi, ...) 
hoặc được đóng khung (bằng kim loại, gỗ, plastic ...,) và bản thân khung  
này có thể được trang trí với các vật liệu khác (vải sợi, vỏ cứng động vật, 
xà cừ, mai rùa, ...). Các gương được thiết kế để đặt trên sàn hoặc trên 
nền (ví dụ: gương đứng, ngả được, hay gương quay thuộc loại sử dụng 
trong phòng  thử đồ của thợ may hoặc trong các cửa hàng giầy dép) cũng 
vẫn thuộc nhóm này theo chú giải 1 (b)  của chương 94. 
Nhóm này cũng bao gồm gương, có hoặc không có khung, có các hình 
vẽ được in trên một mặt, với điều kiện chúng vẫn giữ được đặc tính cần 
thiết của gương. Tuy nhiên, khi việc in ấn vượt quá công dụng  của 
gương, thì những  sản phẩm này được phân loại vào nhóm 70.13 là các 
sản phẩm trang trí bằng thuỷ tinh. 
Tuy nhiên, cần chú ý rằng gương là bộ phận của các mặt hàng đồ nội 
thất thuộc Chương 94 (ví dụ, cửa phòng  thử đồ) được phân loaị cùng 
với những mặt hàng đồ nội thất này. 
Nhóm này còn không bao gồm: 

(a) Gương đã trở thành các sản phẩm khác bằng cách bổ sung thêm một 
vài bộ phận phụ, ví dụ một số loại khay phục vụ có tay cầm (nhóm 
70.13) ; tuy nhiên phần trung tâm mặt bàn (xem lại từ này) bao gồm 
một gương đơn giản vẫn được phân loại trong nhóm này. 
(b) Gương có giá đỡ hoặc khung bằng kim loại quý hoặc kim loại mạ 
kim loại quý, có hoặc không có ngọc trai tự nhiên hay nhân tạo hoặc 
gắn kim cương hay đá quý hay đá bán quý khác (tự nhiên, tổng hợp 
hoặc tái tạo) (trừ những loại với tư cách là đồ trang hoàng) (nhóm 
71.14), hoặc theo cách khác giá đỡ hay khung của chúng có gắn 
ngọc trai tự nhiên hay nhân tạo hoặc đá quý hay đá bán quý (tự 
nhiên, tổng hợp hay tái tạo) (nhóm 71.16). 
(c) Gương  kính được gia công về mặt quang học (Chương 90) (xem các 
chú giải tương ứng). 
(d) Gương kết hợp với các yếu tố khác trở thành đồ chơi, thiết bị trò 
chơi, hoặc dụng cụ săn bắn (ví dụ, gương để bẫy chim chiền chiện – 
xem lại) (Chương 95). 
(e) Gương có tuổi trên 100 năm (nhóm 97.06) 
70.10 - Bình lớn có vỏ bọc ngoài, chai, bình thót cổ, lọ, ống, ống dạng 
phial, ống dạng ampoule và các loại đồ chứa khác, bằng thủy 
tinh, dùng trong vận chuyển hoặc đóng hàng; lọ, bình bảo 
quản bằng thủy tinh; nút chai, nắp đậy và các loại nắp khác, 
bằng thủy tinh 
7010.10 - Ống dạng ampoule 
7010.20 - Nút chai, nắp đậy và các loại nắp khác 
7010.90 - Loại khác  
Nhóm này bao gồm tất cả các đồ chứa bằng thuỷ tinh thuộc loại thường 
dùng cho các mục đích thương mại để vận chuyển hoặc đóng các chất 
lỏng hay các sản phẩm rắn khác (bột, hạt,...). Chúng bao gồm: 
(A) Bình lớn, hũ rượu to cổ nhỏ, chai (kể cả bình sy phông), ống dạng 
phial và các đồ chứa tương tự, với tất cả các hình dạng và kích cỡ, 

được sử dụng làm đồ chứa hóa chất (axit,...), đồ uống, dầu, chất 
chiết xuất từ thịt, các chế phẩm nước hoa, dược phẩm, mực viết, keo 
hồ,... 
Những sản phẩm này, trước đây được sản xuất bằng phương pháp 
thổi, hiện nay hầu như đều được sản xuất bằng máy móc, tự động 
đưa thuỷ tinh nóng chảy vào khuôn và sản phẩm được tạo thành bởi 
tác động của khí nén. Chúng thường được làm từ thuỷ tinh thông 
thường (không màu hoặc có màu) mặc dù một số chai (ví dụ, để 
đựng nước hoa) có thể được làm bằng pha lê chì, và một số các bình 
lớn được làm bằng thạch anh nung chảy hoặc oxit silic nung chảy 
khác. 
Những đồ chứa đề cập ở trên được thiết kế với kiểu nắp nào đó, các 
nút chai này có thể có dạng các nút chai thông thường (bằng lie, 
thuỷ tinh,...) quả cầu thuỷ tinh, nắp kim loại, nắp xoáy (bằng kim 
loại hoặc plastic), hoặc các hình đặc biệt (ví dụ: cho các chai bia, 
các chai đựng nước được sục khí, các sy phông nước uống có ga,...). 
Những đồ chứa vẫn thuộc nhóm này thậm chí nếu chúng được mài, 
cắt, thổi phun cát, khắc hoặc khắc, hoặc được trang trí (điều này đặc 
biệt áp dụng cho một số chai lọ đựng nước hoa hoặc rượu mùi), có 
nẹp, đan cây liễu gai hoặc được trang trí cách khác với các vật liệu 
khác nhau (cây liễu gai, rơm, cây cọ dầu, kim loại,...), chúng cũng 
có thể có các nắp lẫy khoá được gắn vào cổ. Chúng có thể được gắn 
dụng cụ đo giọt hoặc có thể được chia độ, miễn là chúng không 
thuộc loại được sử dụng như các dụng cụ thuỷ tinh phòng thí 
nghiệm. 
(B) Bình, lọ và các đồ chứa tương tự, để vận chuyển hoặc đóng thực 
phẩm (gia vị, nước xốt, quả, chất bảo quản, mật ong,...), mỹ phẩm 
hoặc các chế phẩm vệ sinh (kem bôi mặt, nước thơm cho tóc,...), các 
sản phẩm dược (thuốc mỡ,...), chất đánh bóng, các chế phẩm làm 
sạch,... 
Những sản phẩm này thường được làm bằng thuỷ tinh thông thường 
(không màu hoặc phủ màu) bằng phương pháp thổi khí nén tạo áp 

lực trong khuôn. Chúng thường có  miệng rộng, cổ ngắn và theo 
nguyên tắc, có  mép hoặc gờ để giữ nắp hoặc nắp đậy. Tuy nhiên, 
một số những đồ chứa này có thể được đóng bởi những nút lie hay 
các nắp xoáy. 
Giống như chai, những sản phẩm này có thể được phun cát, cắt, 
khắc hoặc chạm trổ, trang trí, gắn nẹp ,... 
(C) Ống dạng ampoule, thường thu được từ một ống thuỷ tinh kéo, và có 
mục đích sử dụng (sau khi hàn khí) để làm đồ đựng cho huyết thanh 
hoặc các sản phẩm dược khác, hoặc cho các nhiên liệu lỏng (ví dụ 
các ống đựng xăng cho các  bật lửa hút thuốc lá), hoá chất, ... 
(D) Các đồ chứa hình ống và các đồ chứa tương tự thu được từ phương 
pháp gia công bằng đèn xì hoặc bằng phương pháp thổi các ống thuỷ 
tinh, để vận chuyển hoặc đóng các sản phẩm dược hoặc các công 
dụng tương tự 
Nhóm này cũng bao gồm các bình bảo quản bằng thuỷ tinh. 
Nắp bằng mọi chất liệu, đi kèm với đồ chứa mà chúng được dùng cho, 
vẫn được phân loại trong nhóm này. 
Nắp thủy tinh chịu nhiệt, được sử dụng để bảo vệ thực phẩm chứa trong 
chảo hoặc xoong, v.v. khỏi bụi và sự bay hơi quá mức của hơi ẩm nhưng 
được trình bày riêng biệt mà không có bất kỳ dụng cụ nấu nướng nào 
trong nhà bếp, được phân loại vào nhóm này. 
Nhóm này cũng bao gồm các nút và các nắp đậy khác, bằng thuỷ tinh, 
hoặc được làm bằng thuỷ tinh thông thường, hoặc bằng pha lê chì, và có 
hoặc không được mài, cắt, phun cát, khắc hoặc chạm trổ, hoặc được 
trang trí. Nhóm này cũng bao gồm một số thuỷ tinh dạng hình cầu để 
đậy các chai, loại này được cắt từ các tấm  kính và được gia công cơ khí 
sau khi đã được tạo hình  thành hình cầu. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các chai và bình thót cổ, được bọc hoàn toàn hoặc phần lớn bằng da 
thuộc hoặc da tổng hợp (nhóm 42.05). 
(b) Ruột thủy tinh của phích hoặc các bình chân không khác (nhóm 

(c)  Bình đựng rượu, bộ đồ dùng để uống và các đồ chứa bằng thuỷ tinh 
khác là đồ thuỷ tinh trong gia dụng (nhóm 70.13), nhưng không phải 
những đồ chứa được sử dụng chủ yếu cho việc vận chuyển hoặc 
đóng hàng trong thương mại. 
(d) Bình sữa trẻ em (nhóm 70.13). 
(e) Đồ thuỷ tinh dùng cho phòng thí nghiệm, cho vệ sinh hoặc dược 
(nhóm 70.17). 
(f) Các chai trưng bày chuyên dụng và các bình trưng bày thuộc loại sử 
dụng trong các cửa hàng (nhóm 70.20). 
(g) Các chai, bình thót cổ,... cho các bình xịt dầu thơm (nhóm 70.13), 
bình, lọ xịt nước hoa (nhóm 96.16), và phích chân không và các loại 
bình chân không khác (nhóm 96.17). 
70.11 - Vỏ bóng đèn thủy tinh (kể cả bóng dạng bầu và dạng ống), 
dạng hở, và các bộ phận bằng thủy tinh của vỏ bóng đèn, 
chưa có các bộ phận lắp ghép, dùng cho đèn điện và các 
nguồn sáng, ống đèn tia ca-tốt hoặc các loại tương tự. 
 7111.10 - Dùng cho đèn điện 
 7010.20 - Dùng cho ống đèn tia âm cực 
 7010.90 - Loại khác 
 Nhóm này bao gồm 
(A) Tất cả các vỏ bóng đèn thuỷ tinh dạng hở (kể cả bóng dạng bầu và 
dạng ống) có hình dạng và kích thước bất kỳ, không có các bộ 
phận phụ trợ, dùng để sản xuất đèn điện, đèn điện tử và đèn ống, là 
những loại để chiếu sáng hoặc cho các mục đích khác (đèn làm nóng 
hoặc các đèn phóng điện bằng hơi, ống tia X (ống Rơnghen), đèn 
điện tử rađiô, ống đèn tia catot, đèn chân không hoặc các đèn ống 
điện tử hay đèn điện tử khác, đèn hồng ngoại, ...). Hầu hết những vỏ 
bóng đèn này được sản xuất hàng loạt bằng các máy móc tự động ; 
chúng có thể được làm mờ, phủ màu, làm mờ đục, mạ kim loại, phủ 
vật liệu phát huỳnh quang ... 

Các bộ phận bằng thuỷ tinh của vỏ bóng đèn (ví dụ như các tấm mặt 
hay các chi tiết hình ống của đèn ống tia catôt cho các máy thu hình, 
các gương phản xạ của bóng đèn chiếu) vẫn thuộc nhóm này. 
(B) Ống đèn có đầu được làm hẹp lại rõ ràng dùng cho đèn điện và các 
nguồn sáng, hoặc được uốn thành hình dùng cho biển quảng cáo. 
(C) Ống được lót huỳnh quang (ví dụ, silicat kẽm, borat cađimi, 
Nhờ một loạt các thao tác (kể cả việc gắn dây tóc hoặc điện cực, hút 
chân không vỏ bóng đèn, đưa vào một hoặc nhiều khí khan hiếm, thuỷ 
ngân,... việc ghép nối đầu chụp hoặc đầu nối), những vỏ bóng đèn này 
được làm thành các đèn điện và các nguồn sáng, ống đèn tia catot hoặc 
các loại tương tự thuộc Chương 85. 
Tất cả các sản phẩm được đề cập ở trên có thể bằng thuỷ tinh thông 
thường, thuỷ tinh pha lê hoặc thạch anh nung chảy.  
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Ống thuỷ tinh mới chỉ được cắt thành đoạn, các đầu có hoặc không 
được  mài bóng hoặc được làm nhẵn bằng cách khác, hoặc các ống 
có các vật liệu phát huỳnh quang (ví dụ, uranate natri) được vào 
thuỷ tinh ở dạng ống (nhóm 70.02). 
(b) Bóng dạng bầu, dạng ống và vỏ bóng đèn, kín hoặc có các bộ phận 
phụ trợ, và đèn dạng bầu, dạng ống và đèn điện tử đã hoàn thiện  
(xem nhóm 85.39, 85.40, 90.22,...). 
70.13 - Bộ đồ ăn, đồ nhà bếp, đồ vệ sinh, đồ dùng văn phòng, đồ 
trang trí nội thất hoặc đồ dùng cho các mục đích tương tự 
bằng thủy tinh (trừ các sản phẩm thuộc nhóm 70.10 hoặc 
 7013.10 - Bằng gốm thuỷ tinh 
  -  Cốc (ly) có chân, bằng thuỷ tinh có chân, trừ loại 

bằng gốm thuỷ tinh: 
7013.22 - - Bằng pha lê chì 
7013.28 - - Loại khác 
 - Cốc (ly) bằng thủy tinh khác, trừ bằng gốm thuỷ tinh: 
7013.33 - - Bằng pha lê chì 
7013.37 - - Loại khác 
 - Bộ đồ ăn (trừ bộ đồ dùng để uống) hoặc đồ nhà 
bếp bằng thủy tinh, trừ loại bằng gốm thủy tinh: 
7013.41 - - Bằng pha lê chì 
7013.42 - - Bằng thuỷ tinh có hệ số giãn nở tuyến tính không quá 
5 x 10-6  độ Kenvin khi ở nhiệt độ 0oC đến 3000C. 
7013.49 - - Loại khác 
 - Đồ dùng bằng thuỷ tinh khác: 
7013.91 - - Bằng pha lê chì 
7013.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các dạng sản phẩm sau, hầu hết chúng thu được 
bằng phương pháp ép hoặc phương pháp thổi theo khuôn: 
(1) Bộ đồ ăn hoặc bộ đồ nhà bếp bằng thuỷ tinh, ví dụ như bộ đồ dùng 
để uống bằng thuỷ tinh, cốc, ly có chân, cốc vại có tay cầm, bình đựng 
rượu, bình sữa em bé, bình rót, hũ, đĩa, tô đựng xalat, tô đựng đường, 
đồ đựng nước sốt hình thuyền, giá đặt hoa quả, giá đặt bánh ngọt, đĩa 
đựng món đồ nguội khai vị, bát, tô, chén nhỏ đựng trứng luộc, đĩa đựng 
bơ, lọ đựng dầu hoặc dấm, đĩa (để phục vụ bàn, nấu nướng, ...) nồi 
hầm, xoong có tay cầm, khay, lọ đựng muối (để ở bàn ăn), rây đường, 
giá để dao, dụng cụ trộn thực phẩm, chuông nhỏ để bản, ấm (bình) cà 
phê và lọc cà phê, hộp đựng bánh mứt, các đồ dùng nhà bếp được chia 
độ, lò làm ấm bát đĩa, lót bàn ăn, một số bộ phận của thùng đựng sữa 
trong gia đình, tách cho máy xay hạt cà phê, đĩa đựng  pho mát, dụng 
cụ vắt nước chanh, xô đựng đá. 

(2) Các sản phẩm vệ sinh ví dụ như đĩa đựng xà phòng, giỏ đựng bông 
tắm, hộp đựng xà bông dạng lỏng, mắc và sào treo (để treo khăn 
tắm, ...) bát đựng xà phòng bột, lọ nước hoa, các bộ phận của bình 
xịt vệ sinh (trừ các đầu của chúng) và các đồ giữ bàn chải đánh 
răng. 
(3) Đồ dùng văn phòng bằng thuỷ tinh, ví dụ như đồ chặn giấy, giá để 
lọ mực và lọ mực, ke giữ sách, các đồ chứa cho đinh ghim, khay để 
bút và gạt tàn thuốc lá. 
(4) Đồ trang trí nội thất bằng thuỷ tinh và đồ dùng thuỷ tinh khác (kể 
cả những đồ dùng cho nhà thờ các đồ dùng tương tự), ví dụ như 
bình (lọ) hoa, bát đựng trái cây để trang trí, tượng nhỏ, các sản phẩm 
để trang trí (động vật, hoa, cành, lá, quả, ...), tâm bàn (chưa rõ từ 
này) (trừ những loại thuộc nhóm 70.09), bể nuôi cá, lò đốt hương 
trầm, ...., và các đồ lưu niệm có các hình vẽ. 
Những sản phẩm này có thể ví dụ như bằng thuỷ tinh thông thường, pha 
lê chì, thuỷ tinh có hệ số giãn nở thấp (ví dụ thuỷ tinh borosilicat) hoặc 
bằng gốm thuỷ tinh (hai sản phẩm cuối đặc biệt dùng cho bộ đồ nhà 
bếp). Chúng cũng có thể không màu, phủ màu hoặc tráng lớp phản 
chiếu, và có thể được cắt, làm mờ, khắc hay chạm trổ, hoặc được trang 
trí cách khác, hoặc mạ kim loại (ví dụ, một số khay được gắn với tay 
cầm). Tuy nhiên các trung tâm bàn bao gồm một gương đơn giản  sẽ bị 
loại trừ (xem Chú giải Chi tiết nhóm 70.09). 
Mặt khác, nhóm này bao gồm các sản phẩm để trang trí mà ở dạng 
gương, nhưng không thể được sử dụng như gương do sự có mặt của các 
hình vẽ được in, nếu không chúng được phân loại ở nhóm 70.09. 
Các sản phẩm bằng thuỷ tinh kết hợp với các vật liệu khác (kim loại cơ 
bản, gỗ,...), được phân loại trong nhóm này chỉ khi  thuỷ tinh tạo cho 
tổng thể đặc tính của các sản phẩm thuỷ tinh. Kim loại quý hay kim loại 
mạ kim loại quý có thể có mặt chỉ như đồ trang điểm cho gương, các 
sản phẩm mà trong đó những kim loại như vậy tạo thành những đồ vượt 
quá công dụng trang trí sẽ bị loại trừ (nhóm 71.14). 
 Nhóm này không bao gồm: 

(a) Gương kính, có hoặc không được gắn khung (nhóm 70.09). 
(b) Chai, bình thót cổ, bình và lọ thuộc loại thường được sử dụng thông 
thường cho mục đích chuyên chở hay đóng hàng hoá, các bình bảo 
quản và nắp đậy dụng cụ nấu ăn nhà bếp được trình bày riêng biệt 
với dụng cụ nấu ăn (nhóm 70.10). 
(c) Đèn phủ chì và các loại tương tự (nhóm 70.16). 
(d) Các sản phẩm thuộc nhóm 70.18 phù hợp để trang trí nội thất (ví dụ 
hoa giả và bộ lá bằng hạt thuỷ tinh và các hạt cườm thuỷ tinh trang 
trí được gia công bằng đèn xì). 
(e) Vỏ đồng hồ thời gian (nhóm 91.12). 
(f) Đèn và bộ đèn và bộ phận của chúng thuộc nhóm 94.05. 
(g) Bình, lọ xịt nước hoa và bình, lọ xịt để trang điểm tương tự (nhóm 
(h) Phích chân không và các loại bình chân không khác thuộc nhóm 
70.14 - Dụng cụ tín hiệu bằng thủy tinh và các bộ phận quang học 
bằng thủy tinh (trừ những sản phẩm thuộc nhóm 70.15), 
chưa được gia công về mặt quang học 
Nhóm này bao gồm các sản phẩm sau với điều kiện chúng vẫn chưa 
được gia công về mặt quang học: 
(A) Dụng cụ tín hiệu bằng thuỷ tinh (không màu hoặc phủ màu) nhằm 
mục đích dùng để gắn vào các hộp tín hiệu giao thông phản chiếu 
(ví dụ: gắn vào các panen, bảng hiệu, biển chỉ đường,...), hoặc các 
biển hiệu trưng bày, hoặc như các  thiết bị phản quang đơn giản  cho 
xe đạp, ô tô,... Những sản phẩm này,  thường có dạng lồi, bán cầu 
hoặc phẳng với các rãnh thường chạy song song, có đặc tính phản xạ 
ánh sáng chiếu lên chúng (ví dụ bởi đèn pha ô tô) và như vậy có thể 
nhìn thâý  từ đằng xa trong bóng tối. 
(B) Các bộ phân quang học bằng thuỷ tinh (không màu hoặc nhuộm 

màu). Nhóm này bao gồm các bộ phận được sản xuất bằng cách mà 
chúng tạo ra tác dụng quang học cần thiết nào đó mà không cần 
được gia công về mặt quang học. Những sản phẩm này bao gồm chủ 
yếu các thấu kính và các sản phẩm tương tự dùng cho đèn pha ô tô, 
các đèn báo dừng, đèn chỉ hướng, đèn  hậu xe đạp, đèn tín hiệu giao 
thông, một số phao (chiếu sáng), bóng đèn chiếu, đèn bỏ túi, ngọc 
đuốc điện, đèn cho bảng điều khiển hoặc bảng hiệu, và còn một số 
kính lúp (kính phóng đại) thông thường. 
Nhóm này cũng bao gồm các phôi của các linh kiện quang học và 
những linh kiện quang học mà đòi hỏi quá trình gia công quang học. 
Quá trình gia công quang học bao gồm quá trình mài các bề mặt trước 
tiên với các vật liệu mài thô và sau đó với các vật liệu mài dần dần mịn 
hơn. vì vậy Các thao tác liên tiếp là quá trình gia công thô, chỉnh sửa, 
mài nhẵn và mài bóng. 
Các sản phẩm mà đã qua một hay nhiều quá trình gia công trước khi  
mài bóng vẫn thuộc nhóm này. Nhưng những bộ phận mà đã được đánh 
bóng toàn bộ hay một phần của một hay nhiều bề mặt của chúng để tạo 
ra các đặc tính quang học theo yêu cầu sẽ bị loại trừ (nhóm 90.01 hoặc 
90.02 tuỳ theo việc chúng chưa được lắp ráp hay đã lắp ráp - xem các 
chú giải tương ứng). 
Quá trình mài đơn giản các cạnh của đĩa hay thấu kính, không có sự gia 
công tiếp theo, không được xem như quá trình gia công về mặt quang học. 
Các sản phẩm thuộc nhóm này thường thu được bằng phương pháp đổ 
khuôn đơn giản hoặc phương pháp ép hoặc cắt  từ các tấm, dải, khối, cục 
hoặc phiến. 
Các sản phẩm này vẫn thuộc nhóm này thậm chí khi đã được đóng khung, 
được đặt trong  giá đỡ hay được lót đằng sau  bề mặt phản  quang, nhưng 
những sản phẩm được xem là hoàn thiện (thành phẩm) sẽ bị loại trừ (ví dụ 
nhóm 83.10 trong trường hợp các bảng tín hiệu, các số, chữ cái và các tín 
hiệu khác, bằng kim loại cơ bản, nhóm 85.12 trong trường hợp các loại đèn 
pha, đèn trước hoặc đèn báo dừng của xe đạp hoặc các loại mô tô). 

Nhóm này không bao gồm: 
(a) Các loại kính đeo để hiệu chỉnh hoặc không hiệu chỉnh (chưa được 
gia công về mặt quang học) (xem Chú giải cho nhóm 70.15). 
(b) "Các vi cầu" hình cầu bằng thuỷ tinh được biểu hiện theo đúng nghĩa 
(xem Chú giải cho nhóm 70.18). Mặt khác, nhóm này bao gồm các 
tấm phủ những vi cầu này và dự định dùng để cố định vào hộp tín 
hiệu hoặc bảng hiệu giao thông. 
(c) Các bộ phận quang học bằng thuỷ tinh đã được gia công về mặt 
quang học, và các bộ phận quang học bằng các vật liệu khác trừ 
thuỷ tinh (Chương 90). 
(d) Đèn và bộ đèn và các bộ phận của chúng thuộc nhóm 94.05. 
70.15 - Kính đồng hồ thời gian hoặc kính đồng hồ cá nhân và các 
loại kính tương tự, các loại kính đeo để hiệu chỉnh hoặc 
không hiệu chỉnh, được uốn cong, làm lồi, lõm hoặc tương tự, 
chưa được gia công về mặt quang học; hạt cầu thủy tinh rỗng 
và mảnh của chúng dùng để sản xu