CHU GIAI 2022_12
yên (nhóm 42.01).
(c) Các loại thảm và các loại tấm trải sàn khác từ phớt thuộc Chương 57.
(d) Phớt nổi nhung (tufted felt) thuộc nhóm 58.02.
(e) Phớt đã thêu ở dạng miếng, dải hoặc ở dạng hoa văn (nhóm 58.10).
(f) Các sản phẩm dệt đã chần dạng chiếc, bao gồm một hoặc nhiều lớp
vật liệu dệt ráp với nhau bằng cách khâu hoặc các cách khác với vật
liệu đệm trừ các mặt hàng thêu của nhóm 58.10 (nhóm 58.11).
(g) Tấm trải sàn có lớp tráng hoặc phủ lên trên lớp nền của phớt đã hoặc
chưa bị cắt thành hình dạng (nhóm 59.04).
(h) Phớt đã tráng, phủ hoặc ép lớp bằng cao su, da hoặc vật liệu khác,
loại sử dụng cho băng kim máy, và các loại vải tương tự khác dùng
cho mục đích kỹ thuật khác, của nhóm 59.11.
(ij) Phớt được phủ bằng bột hoặc hạt mài (nhóm 68.05) hoặc bằng mi
ca ép liên kết khối hoặc tái chế (nhóm 68.14).
(k) Tấm ốp dùng trong xây dựng được chế tạo ra từ một số lớp sợi dệt hoàn
toàn được bao bọc trong asphalt hoặc vật liệu tương tự (nhóm 68.07).
(l) Lá kim loại được bồi trên nền phớt, nỉ (Phần XIV hoặc XV).
56.03 - Các sản phẩm không dệt, đã hoặc chưa ngâm tẩm, tráng phủ
hoặc ép lớp.
- Bằng filament nhân tạo:
5603.11 - - Định lượng không quá 25 g/m2
5603.12 - - Định lượng trên 25 g/m2 nhưng không quá 70 g/m2
5603.13 - - Định lượng trên 70 g/m2 nhưng không quá 150 g/m2
5603.14 - - Định lượng trên 150 g/m2
- Loại khác:
5603.91 - - Định lượng không quá 25 g/m2
5603.92 - - Định lượng trên 25 g/m2 nhưng không quá 70 g/m2
5603.93 - - Định lượng trên 70 g/m2 nhưng không quá 150 g/m2
5603.94 - - Định lượng trên 150 g/m2
Sản phẩm không dệt là sản phẩm ở dạng tấm hoặc mạng bằng các sợi
dệt trội được định hướng theo một hướng nhất định hoặc ngẫu nhiên và
liên kết với nhau. Những sợi này có thể có nguồn gốc từ tự nhiên hay
nhân tạo. Chúng có thể là sợi staple (tự nhiên hoặc nhân tạo) hoặc các
sợi filament nhân tạo hoặc tự hình thành.
Các sản phẩm không dệt có thể được sản xuất theo nhiều cách và việc
sản xuất này có thể được chia ra một cách phù hợp thành 3 giai đoạn:
giai đoạn tạo mạng, giai đoạn liên kết và giai đoạn hoàn thiện.
I. Giai đoạn tạo mạng vải dệt
Có 4 phương pháp cơ bản:
(a) Bằng cách chải thô hoặc tạo lớp đệm không khí (airlaying) các
sợi để hình thành một tấm mạng. Các sợi đó có thể song song,
chéo hoặc tạo hướng ngẫu nhiên (quá trình đặt khô-dry laid).
(b) Bằng phương pháp kéo sợi filament được định hướng theo
hướng nhất định, được làm lạnh và được đặt trực tiếp xuống
một tấm mạng hay được làm đông tụ, được giặt và đặt trực tiếp
lên trên mạng ở dạng ẩm trong quy trình (quá trình xe).
(c) Bằng phương pháp lọc và hòa tan các sợi trong nước, kết tủa sệt
tạo thành màng lọc kết sợi và hình thành một tấm mạng bởi việc
loại bỏ nước (quá trình ẩm).
(d) Bằng phương pháp kỹ thuật chuyên ngành khác nhau. Trong đó
việc sản xuất sợi, tạo mạng vải dệt và liên kết luôn xảy ra cùng
một lúc (trong quá trình làm tại chỗ).
II. Giai đoạn liên kết
Sau giai đoạn hình thành, các sợi được ghép qua độ dày và độ rộng
của mạng vải (phương pháp liên tục) hoặc ở những vị trí hoặc ở
những miếng vá (phương pháp dứt đoạn).
Sự liên kết này có thể được chia thành 3 dạng:
(a) Sự liên kết hóa học, trong đó các sợi được ráp nối bằng cách sử
dụng chất liên kết. Cách này có thể được tiến hành bằng việc
thấm tẩm bằng một chất kết dính như cao su, gôm, hồ bột, nhựa
dính hoặc plastic trong dung dịch hoặc nhũ tương, bằng cách xử
lý nhiệt với plastic ở dạng bột, bằng các dung môi... Các sợi
liên kết này cũng có thể sử dụng cho quy trình liên kết hóa học.
(b) Liên kết nhiệt, trong đó các sợi được ghép lại bằng sự ép nhiệt
(hoặc sóng siêu âm), đưa mạng vải dệt qua lò sấy hoặc giữa
những con lăn nung nóng (vùng liên kết) hoặc qua máy cán
nung nóng (liên kết điểm). Các sợi dệt liên kết cũng có thể sử
dụng cho liên kết nhiệt.
(c) Liên kết cơ học, trong đó các tấm vải được gia cố bằng đính vật
lý các sợi cấu thành. Liên kết có thể đạt được bằng các luồng ép
cường độ cao không khí và nước có áp suất cao. Nó cũng có thể
thực hiện được bằng khâu nhưng không phải bằng liên kết đính
buộc. Tuy nhiên, các sản phẩm dệt kim được coi như là sản
phẩm không dệt khi chúng là :
- các loại mạng vải có thành phần cơ bản là sợi filament;
- các loại mạng vải có sợi staple mà khâu là quá trình bổ sung
cho các liên kết khác.
Các quy trình liên kết khác nhau này cũng thường được kết hợp
với nhau
III. Giai đoạn hoàn thiện
Các sản phẩm không dệt có thể được nhuộm, in, ngâm tẩm, tráng, phủ
hoặc ép lớp. Những sản phẩm này được phủ trên một hoặc cả hai mặt
(bằng cách dán, khâu hoặc bằng các cách khác) với vải dệt hoặc những
tấm làm từ vật liệu bất kỳ khác được phân loại trong nhóm này chỉ khi
chúng mang các đặc tính cơ bản của sản phẩm không dệt.
Nhóm này bao gồm: băng dính cấu tạo từ một sản phẩm không dệt được
phủ bằng một chất dính như cao su, plastic hoặc một hỗn hợp các vật
liệu này.
Nhóm này cũng bao gồm một số “phớt tẩm bitum để lợp mái (roofing
felt)” trong đó các sợi dệt được kết dính với nhau bằng hắc ín hoặc bằng
các chất tương tự, và một số sản phẩm có tên “phớt bitum” thu được theo
cùng cách nhưng kết hợp với một lượng nhỏ những mảnh li e.
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm các sản phẩm nằm trong Chương
39 hoặc 40. sau đây:
(a) Các sản phẩm không dệt, hoặc được nhúng hoàn toàn vào plastic
hoặc cao su, hoặc được tráng, hoặc được phủ toàn bộ cả hai mặt với
các vật liệu trên, với điều kiện việc tráng hoặc phủ bọc như vậy có
thể nhìn thấy bằng mắt thường mà không tính đến kết quả thay đổi
màu sắc.
(b) Đĩa, tấm hoặc dải bằng plastic xốp hoặc cao su xốp kết hợp với các
sản phẩm không dệt, tại đó mà các vật liệu dệt chỉ nhằm mục đích
để gia cố (xem Chú giải tổng quát Chương 39, phần có tiêu đề “sự
kết hợp giữa plastic và vật liệu dệt” , và mục (A) của Chú giải chi
tiết nhóm 40.08).
Sản phẩm không dệt khác nhau về độ dày và về đặc tính cơ bản của
chúng (tính linh hoạt, tính đàn hồi, tính chống rách, độ hấp thụ, tính bền
vững...) phù hợp với việc sản xuất hoặc quá trình liên kết, mật độ của
các sợi (fibre) hoặc các sợi filament và số lượng mạng vải (web). Một số
sản phẩm không dệt giống như giấy, bìa giấy hoặc mền xơ xenllulo, da
sơn dương, hoặc mền xơ thuộc nhóm 56.01. Chúng có thể được phân
biệt với giấy, bìa giấy hoặc mền xơ xenlulo vì các loại sợi dệt không bị
tiêu hủy trong quá trình sản xuất.
Cuối cùng, thực tế là các loại sợi dệt hoặc sợi filament được liên kết dọc
theo chiều dày, thường theo chiều rộng của mạng vải (web) hoặc tấm
cũng giúp phân biệt các mặt hàng từ một số loại mền xơ của nhóm 56.01
(xem Chú giải chi tiết nhóm 56.01).
Một số sản phẩm không dệt nhất định có thể được giặt hoặc vắt như các
mặt hàng bằng vải dệt khác.
Trừ trường hợp được đề cập một cách cụ thể hơn ở các nhóm khác trong
Danh mục, nhóm này bao gồm các sản phẩm không dệt ở dạng miếng,
cắt theo chiều dài hoặc đơn giản là được cắt theo hình chữ nhật (bao
gồm cả hình vuông) từ những miếng lớn chưa gia công khác, đã hoặc
chưa được gấp hoặc đóng gói (ví dụ: để bán lẻ). Chúng bao gồm: vải phủ
(khăn trải) dùng vào việc gắn vào trong các tấm plastic làm lớp mặt, các
tấm phủ dùng trong sản xuất khăn (bỉm) dùng một lần hay khăn tắm; vải
để sản xuất quần áo bảo hộ hay lớp lót quần áo, các tấm lọc chất lỏng
hoặc không khí, dùng như các vật liệu nhồi, vật liệu cách âm, dùng trong
việc lọc hoặc tách trong các công trình xây dựng hoặc các công trình kỹ
thuật đô thị khác; là chất nền trong sản xuất vải tẩm bitum; tấm bồi đầu
tiên hoặc thứ hai cho các loại thảm chần nổi nhung... các loại khăn mùi
xoa, vải lanh trải giường, vải lanh trải bàn...
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ (nhóm
(b) Các sản phẩm không dệt, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bọc với các
chất hoặc các chế phẩm (ví dụ: nước hoa hoặc mỹ phẩm (Chương
33), các loại xà phòng hoặc các chất tẩy rửa (nhóm 34.01), chất
đánh bóng, loại kem hoặc các chế phẩm tương tự (nhóm 34.05), các
chất làm mềm vải (nhóm 38.09)) ở đó vật liệu dệt chỉ được coi như
vật mang.
(c) Các loại phớt xuyên kim (nhóm 56.02).
(d) Các loại thảm và các tấm trải sàn khác làm từ các sản phẩm không
dệt của Chương 57.
(e) Các sản phẩm không dệt chần sợi nổi vòng thuộc nhóm 58.02.
(f) Chất keo dính (nhóm 58.06).
(g) Các sản phẩm không dệt đã thêu ở dạng mảnh, dạng dải hoặc dạng
theo mẫu hoa văn (nhóm 58.10).
(h) Các sản phẩm dệt đã được chần ở dạng chiếc, bao gồm một hay
nhiều lớp vật liệu dệt kết hợp với lớp đệm bằng cách khâu hoặc cách
khác với lớp đệm không dệt, trừ hàng thêu thuộc nhóm 58.10 (nhóm
(ij) Các sản phẩm không dệt sử dụng trong kỹ thuật, thuộc nhóm 59.11.
(k) Các sản phẩm không dệt được phủ bằng bột mài hoặc hạt mài
(nhóm 68.05) hoặc bằng mica liên kết thành khối hoặc mi ca tái chế
(nhóm 68.14)
(l) Lá kim bồi trên nền vật liệu không dệt (thường thuộc Phần XIV
hoặc Phần XV).
56.04 - Chỉ cao su và sợi (cord) cao su, được bọc bằng vật liệu dệt;
sợi dệt, và dải và dạng tương tự thuộc nhóm 54.04 hoặc 54.05,
đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bao ngoài bằng cao su hoặc
5604.10 - Chỉ cao su và sợi (cord) cao su, được bọc bằng vật liệu
dệt
5604.90 - Loại khác
(A) CHỈ CAO SU VÀ SỢI CAO SU, ĐƯỢC BỌC BẰNG VẬT
LIỆU DỆT
Với điều kiện chúng được bao bọc bằng vật liệu dệt (ví dụ: bằng việc
dính hoặc bện), nhóm này bao gồm: chỉ cao su (tết đơn) với mặt cắt bất
kỳ và dây bằng cao su (tết đa), được làm bằng các loại chỉ này.
(B) SỢI DỆT, VÀ DẢI VÀ DẠNG TƯƠNG TỰ THUỘC NHÓM
54.04 HOẶC 54.05, ĐÃ NGÂM TẨM, TRÁNG, PHỦ HOẶC BAO
NGOÀI BẰNG CAO SU HOẶC PLASTIC
Nhóm này bao gồm sợi dệt, và dải và các dạng tương tự thuộc nhóm
54.04 hoặc 54.05 đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bao ngoài bằng cao
su hoặc plastic, với điều kiện, trong trường hợp sợi đã được ngâm tẩm,
tráng, phủ hoặc bao ngoài vv... thì việc ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bao
ngoài có thể nhìn thấy bằng mắt thường mà không cần tính đến thay đổi
màu sắc.
Sợi dệt đã ngâm tẩm bao gồm sợi đã nhúng cấu tạo từ các sợi dệt đã xử
lý bề mặt để nâng cao độ kết dính với cao su, trong đó thường được kết
hợp trong quá trình sản xuất sản phẩm như lốp, các loại dây đai hoặc dây
curoa của máy, và các loại ống.
Trong số các sản phẩm nằm trong nhóm này là các loại dây giả catgut
làm bằng các sợi dệt với lớp hồ plastic dày, được sử dụng phù hợp với
các đặc tính khác nhau của chúng trong sản xuất các loại vợt thể thao,
dây câu cá, các loại dây đai, dây tết, vải bọc đệm, chỉ khâu phẫu thuật,
vv... và các lớp lót quần áo gồm sợi dệt được kết hợp với một lớp bảo vệ
bằng plastic.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các loại vải gồm sợi dệt đặt song song được kết tụ với cao su
(nhóm 59.06).
(b) Dây giả catgut có móc kèm theo hoặc các loại khác tạo nên các loại
dây câu cá (nhóm 95.07).
56.05 - Sợi trộn kim loại, có hoặc không quấn bọc, là loại sợi dệt,
hoặc dải hoặc dạng tương tự thuộc nhóm 54.04 hoặc 54.05,
được kết hợp với kim loại ở dạng dây, dải hoặc bột hoặc phủ
bằng kim loại.
Nhóm này bao gồm:
(1) Sợi làm bằng chất liệu dệt bất kỳ (bao gồm cả sợi monofilament,
dải và các dạng tương tự, và sợi giấy) kết hợp với chỉ kim loại
hoặc dải, thu được từ quá trình xoắn, đánh cáp hoặc quấn, bất
kể tỷ lệ kim loại tham gia. Các loại sợi quấn thu được bằng việc bọc
chỉ kim loại hoặc dải xoắn xung quanh lõi dệt mà nó không được
bọc với kim loại. Các kim loại quý hoặc các kim loại được dát khác
thường được sử dụng.
(2) Sợi làm bằng vật liệu dệt bất kỳ (bao gồm: sợi monofilament,
dải và các dạng tương tự, và sợi giấy) được bọc kim loại bởi bất
kỳ một quá trình nào khác. Loại này bao gồm sợi đã được bọc kim
loại bằng phương pháp kết tủa điện phân, hoặc bằng việc tạo cho nó
một lớp bọc bằng chất kết dính (ví dụ: gelatin) và sau đó tiến hành
trộn lẫn với bột kim loại (ví dụ: nhôm hoặc đồng).
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm có cấu tạo bằng một lõi lá kim
loại (thông thường là bằng nhôm) hoặc một lõi bằng màng plastic được
tráng bụi kim loại, được xen vào giữa bằng cách sử dụng một lớp chất
dính giữa 2 lớp màng plastic.
Nhóm này bao gồm sợi xe (folded) hoặc sợi cáp chứa các lớp (ply) sợi
đã chỉ ra ở trên (ví dụ: các loại dây thừng trang trí được sử dụng bởi
những người làm bánh kẹo, thu được bằng việc xoắn hai hay nhiều sợi
kim loại đã miêu tả ở trên). Hơn thế nữa, nó bao gồm một số dạng sợi
khác tạo được cùng cách và được sử dụng cho mục đích tương tự, cấu
tạo bằng 2 hoặc nhiều sợi trộn kim loại song song kết hợp với nhau bằng
liên kết chỉ hoặc dải kim loại, và sợi hoặc búi sợi được quấn với sợi của
nhóm này.
Sợi trộn kim loại cũng có thể được quấn. Nó được sử dụng trong sản
xuất đồ trang sức và các loại vải đăng ten hoặc một số loại vải khác, như
dây trang trí vv...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Sợi cấu tạo từ hỗn hợp vật liệu dệt và sợi kim loại làm cho chúng có
khả năng chống lại sự tĩnh điện (các Chương 50 đến 55, tùy từng
trường hợp).
(b) Sợi được gia cố với chỉ kim loại (nhóm 56.07).
(c) Các loại dây (cord), dải trang sức hoặc các sản phẩm khác có đặc
tính của các loại dải trang trí (nhóm 58.08).
(d) Dây (wire) hoặc dải bằng vàng, bạc, đồng, nhôm hoặc các kim loại
khác (Phần XIV và XV).
56.06 - Sợi cuốn bọc, và dải và dạng tương tự thuộc nhóm 54.04 hoặc
54.05, đã quấn bọc (trừ các loại thuộc nhóm 56.05 và sợi quấn
bọc lông đuôi hoặc bờm ngựa); sợi sơnin (chenille) (kể cả sợi
sơnin xù); sợi sùi vòng.
(A) SỢI QUẤN, BỌC, VÀ SỢI DẠNG DẢI VÀ CÁC DẠNG
TƯƠNG TỰ THUỘC NHÓM 54.04 HOẶC 54.05, ĐÃ QUẤN BỌC
(TRỪ CÁC LOẠI THUỘC NHÓM 56.05 VÀ SỢI QUẤN BỌC
LÔNG BỜM NGỰA)
Các sản phẩm đó được hình thành bởi một lõi, thường làm bằng một
hoặc nhiều các loại sợi dệt, xung quanh nó là các sợi khác hoặc các sợi
được cuộn xoắn ốc. Thường thường có các chỉ bao phủ hoàn toàn lõi
này, nhưng trong một số trường hợp việc xoay theo hình xoắn ốc được
đặt cách nhau. Trong trường hợp sau cùng, các sản phẩm có thể hơi có
hình dạng của một số loại sợi xe (folded), sợi cáp hoặc các loại sợi trang
trí thuộc Chương 50 đến 55, nhưng có thể phân biệt bằng đặc tính của
sợi đã quấn bọc mà lõi chưa được xoắn với các loại chỉ bọc.
Lõi của sợi đã quấn bọc thuộc nhóm này thường bằng bông, các loại sợi
thực vật khác hoặc các loại sợi nhân tạo và các loại chỉ bọc thường là
loại mịn hơn hoặc nhẵn hơn (ví dụ: lụa, bông đã làm bóng hoặc các loại
sợi nhân tạo).
Các loại sợi đã quấn bọc với các loại lõi bằng vật liệu khác là không nhất
thiết bị loại trừ khỏi nhóm với điều kiện sản phẩm này có các đặc tính cơ
bản của một sản phẩm dệt.
Các loại sợi đã quấn bọc được sử dụng như một loại dải trang trí và cũng
được sử dụng rộng rãi cho việc sản xuất các băng dải trang trí. Tuy
nhiên, một số loại cũng phù hợp cho các cách sử dụng khác, ví dụ, dây
khuyết áo, trong việc thêu hoặc cho đóng gói bưu kiện.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Sợi quấn bọc từ lông đuôi hoặc bờm ngựa (nhóm 51.10).
(b) Chỉ cao su đã quấn bọc bằng chất liệu dệt (nhóm 56.04).
(c) Sợi trộn kim loại đã quấn bọc (nhóm 56.05).
(d) Dây milanaise và các loại dây tương tự và các sản phẩm dệt khác đã
quấn bọc thuộc nhóm 58.08.
(e) Dây kim loại đã quấn bọc, ví dụ:
(i) Dây sắt hoặc thép dùng cho sản xuất các loại khung mũ (dây
quai nón) và thân bằng dây sắt hoặc thép cho các loại hoa nhân
tạo hoặc dụng cụ uốn tóc (nhóm 72.17).
(ii) Dây cách điện (nhóm 85.44).
(B) SỢI SƠNIN (CHENILLE) KỂ CẢ SỢI SƠNIN XÙ
Thông thường, sợi sơnin cấu tạo bằng hai hoặc nhiều sợi dệt được xoắn
bện với nhau và giữ những đầu mút ngắn của sợi dệt đứng gần như thẳng
góc. Các sợi đôi khi được duy trì trong vòng hình thành trên một khung
cửi dệt kim. Bởi vậy nó trông như loại sợi đã chần với các chỉ tuyết chạy
theo chiều dài. Thường được sản xuất trực tiếp trên khung dệt đặc biệt
(ví dụ: máy xoắn tròn và máy tết bện Raschel) hoặc bằng việc cắt đi, các
sợi leno đặc biệt; trong giai đoạn cuối cùng, sau khi vải được cắt dọc
theo từng mặt của mỗi một loại sợi dọc, sợi ngang tạo thành dọc (chỉ nền
và chỉ đan nhau) làm nền trong sợi viền, và sợi ngang đã hình thành
thành chồng.
Nhóm này cũng bao gồm sợi sơnin thu được bằng kết ghép xơ vụn dệt
với một lõi bằng sợi dệt. Trong quá trình này sợi lõi nhúng qua một bể
dung dịch keo và sau đó đưa qua một khoang mà ở đó xơ vụn dệt được
phân kết cố định theo cách tỏa tròn xung quanh lõi dưới tác động của
một môi trường tĩnh điện có hiệu điện thế cao.
Sợi sơnin được sử dụng trong sản xuất vải sơnin (nhóm 58.01) hoặc
phần lớn các sản phẩm đồ nội thất, giường, thảm, đồ trang trí, quần áo.
(C) SỢI SÙI VÒNG
Sợi sùi vòng là một loại sợi dạng ống được làm trên một máy dệt kim
chuyển động vòng và có kích thước 1,5 đến 2 mm khi bị ép phẳng. Sợi
này được sử dụng trong chế tạo các viền tua và các phụ liệu dệt khác và
trong chế tạo các loại vải dệt thoi trên các khung dệt ngang và dệt dọc.
56.07 - Dây xe, chão bện (cordage), thừng và cáp, đã hoặc chưa tết
hoặc bện và đã hoặc chưa ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bao
ngoài bằng cao su hoặc plastic. (+).
- Từ xidan (sisal) hoặc từ xơ dệt khác của các cây thuộc
chi cây thùa (Agave):
5607.21 - - Dây xe để buộc hoặc đóng kiện
5607.29 - - Loại khác
- Từ polyetylen hoặc polypropylen:
5607.41- - Dây xe để buộc hoặc đóng kiện
5607.49 - - Loại khác
5607.50 - Từ xơ tổng hợp khác
5607.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm dây xe, chão bện, dây thừng và cáp được sản xuất
bằng việc xoắn, bện hoặc tết.
(1) Dây xe, chão bện (cordage), dây thừng và cáp chưa tết hoặc bện.
Các Phần (I) (B) (1) và (2) (đặc biệt là Bảng) thuộc Chú giải tổng
quát của Phần XI đưa ra các trường hợp trong đó các loại sợi đơn,
sợi xe (folded) hoặc sợi cáp được xem như dây xe, chão bện
(cordage), dây thừng và cáp thuộc nhóm này.
Sợi dệt được gia cố bằng chỉ kim loại luôn được phân loại ở đây và
phân biệt với các sợi trộn kim loại thuộc nhóm 56.05 trong đó tao
dây (strand) kim loại thường dày hơn và có tác dụng chỉ để gia cố
và không dùng cho mục đích trang trí.
Nhóm này cũng bao gồm dây xe, chão bện, dây thừng và cáp thu
được từ việc bóc tách các dải đã gần như được tách hoàn toàn thành
các sợi filament bằng cách xoắn.
(2) Dây xe, chão bện (cordage), dây thừng và cáp đã tết hoặc bện
Các loại này nằm trong các trường hợp được phân loại ở đây không
tính đến trọng lượng trên độ dài của chúng. Chúng thường ở dạng
dải viền hình ống thường được làm bằng vật liệu dệt thô hơn các
loại dải viền của nhóm 58.08. Tuy nhiên, những hàng hóa đã tết bện
thuộc nhóm này ít khác với hàng hóa thuộc nhóm 58.08 bởi bản chất
của sợi được sử dụng hơn là do được tết chặt, với kết cấu vững, tạo
cho chúng khả năng phù hợp để sử dụng như dây xe, chão bện, dây
thừng hoặc cáp. Thêm vào đó, chúng thường không bị nhuộm màu.
Các sợi quan trọng nhất được sử dụng trong sản xuất dây xe, chão bện, dây
thừng, cáp là sợi gai, đay, sợi xixan, sợi bông, và các loại sợi tổng hợp.
Dây xe, chão bện, dây thừng, cáp bằng sợi giấy được phân loại ở đây
nếu chúng được tết hoặc được gia cố bằng chỉ kim loại.
Dây xe, chão bện, dây thừng và cáp được sử dụng như dây xe để buộc dùng
trong bao gói hàng kiện, dây kéo, dây tải hàng... Tiết diện của chúng thường
là hình tròn nhưng một số (ví dụ: một số cáp truyền) có dạng hình vuông,
hình thang hoặc hình tam giác. Thông thường chúng không được tẩy trắng,
nhưng có thể được nhuộm, thấm tẩm tạo cho chúng lớp vỏ chống mục, các
tao dây được nhuộm màu khác nhau, hoặc được thấm tẩm, tráng, bọc, phủ
hoặc được bọc lớp bảo vệ bằng cao su hoặc plastic.
Các sản phẩm này được phân loại ở đây cho dù đã hoặc chưa bị cắt theo
chiều dài.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Dây trang trí được sử dụng bởi người bán bánh kẹo, người bán hoa...
thuộc nhóm 56.05.
(b) Sợi quấn bọc, sợi sơnin và sợi sùi vòng thuộc nhóm 56.06.
(c) Các mặt hàng thuộc nhóm 56.09.
(d) Sợi Milanaise và các loại dây tương tự và các sản phẩm dệt đã quấn
bọc khác thuộc nhóm 58.08.
(e) Các loại dây, dây tết và các loại tương tự, đã hoặc chưa được tráng,
ngâm tẩm hoặc đã được gia cố bằng kim loại, loại được sử dụng
trong ngành công nghiệp như vật liệu đóng gói hoặc vật liệu bôi trơn
(nhóm 59.11).
(f) Các mẩu dây xe, chão bện, dây thừng và cáp thuộc nhóm 63.10.
(g) Dây xe, sợi bện (cord) được tráng vật liệu mài,... (nhóm 68.05).
(h) Các mặt hàng dùng cho thể dục (nhóm 95.06).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 5607.21
Phân nhóm này bao gồm dây xe đơn bằng sợi xizan (sisal) hoặc các loại
sợi dệt khác thuộc giống Agave xoắn hình ”Z” và dây xe chịu lực giật
nhỏ nhất được tính bằng công thức sau:
(R là lực chịu giật của dây xe tính bằng decaneuwtons (daN) và n là độ
dài chịu lực của dây xe tính bằng mét trên kilogram)
Ví dụ : Lực chịu giật của dây xe nhỏ nhất 150 (150 m/kg) là 98 daN, cho
dây xe 200 (20m/kg) là 69 daN và cho dây xe 300 (300m/kg) là 40 daN.
Phân nhóm 5607.41
Phân nhóm này bao gồm dây xe đơn bằng polyetylen hoặc polypropylen,
đã được làm ổn định chống lại sự lão hóa dưới ánh sáng mặt trời, có
xoắn hình ”Z” và:
(a) Lực chịu giật nhỏ nhất được tính bằng công thức sau :
(R là lực chịu giật dây xe tính bằng decanewtons (daN) và n là độ
dài chịu lực của dây xe tính bằng mét trên kg);
(b) Lực chịu giật trung bình tối thiểu được tính bằng công thức sau:
(R’ là lực bứt đứt trung bình tính theo daN).
Ví dụ : Lực chịu giật dây xe nhỏ nhất loại 98 daN và lực bứt đứt trung
bình của 57 daN sẽ áp dụng cho số dây xe 330 (330 m/kg).
56.08 - Tấm lưới được thắt nút bằng sợi xe, chão bện (cordage) hoặc
thừng; lưới đánh cá và các loại lưới khác đã hoàn thiện, từ
vật liệu dệt.
- Từ vật liệu dệt nhân tạo:
5608.11 - - Lưới đánh cá thành phẩm
5608.19 - - Loại khác
5608.90 - Loại khác
(1) Tấm lưới được thắt nút bằng sợi xe, chão bện (cordage) hoặc thừng.
Các sản phẩm này thường là những tấm lưới dài, cụ thể, là vải thắt
nút ở dạng có mắt lưới mở làm bằng tay hoặc bằng máy. Chúng
khác với các loại vải lưới thuộc nhóm 58.04 mà tại đó chúng được
làm bằng dây xe, chão bện hoặc thừng thuộc nhóm 56.07.
(2) Lưới đánh cá và các loại lưới khác đã hoàn thiện, từ vật liệu dệt.
Khác biệt với các sản phẩm được đề cập ở đoạn (1) nói trên, các mặt
hàng hoàn chỉnh của nhóm này có thể được làm bằng sợi và các mắt
lưới mở có thể được tạo ra bằng cách đan hoặc các phương pháp
khác.
Các loại lưới hoàn chỉnh là các loại lưới, đã hoặc chưa sẵn sàng để
sử dụng, được làm trực tiếp thành hình hoặc được ráp từ những
mảnh lưới. Sự xuất hiện của tay cầm, các vòng, chì đáy, và các
phao, các dây hoặc các bộ phận khác không gây ảnh hưởng tới phân
loại các hàng hóa vào nhóm này.
Các loại lưới hoàn chỉnh chưa được chi tiết tại các nhóm khác của
Danh mục thì thuộc nhóm này. Nhóm này bao gồm các loại lưới
đánh cá, các loại lưới ngụy trang, lưới dựng phông biểu diễn, lưới an
toàn, túi lưới đi chợ và các loại lưới tương tự (ví dụ, dành cho chơi
tennis hay đá bóng), võng, các loại khinh khí cầu hoặc lưới của
khinh khí cầu có điều khiển, lưới chống côn trùng,...
Các sản phẩm thuộc nhóm này vẫn được xếp ở đây thậm chí nếu nó
được thấm tẩm (ví dụ: để giúp chúng chống lại thời tiết, nước).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Lưới ở dạng mảnh được sản xuất bằng dệt kim hoặc móc (nhóm
60.02 đến 60.06).
(b) Lưới bao tóc (nhóm 65.05).
(c) Các loại lưới thể thao (ví dụ: lưới gôn và lưới vợt tennis), lưới bắt cá
và các loại lưới khác thuộc Chương 95.
56.09 - Các sản phẩm làm từ sợi, dải hoặc dạng tương tự thuộc
nhóm 54.04 hoặc 54.05, dây xe, chão bện (cordage), thừng
hoặc cáp, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác.
Nhóm này bao gồm các mặt hàng bằng các loại sợi thuộc các Chương từ
50 tới Chương 55, các mặt hàng làm bằng dải hoặc dạng tương tự thuộc
nhóm 54.04 hoặc 54.05 và các sản phẩm làm từ dây xe, chão bện và dây
cáp... thuộc nhóm 56.07 trừ các sản phẩm đã được phân loại vào nhóm
cụ thể hơn trong Danh mục.
Chúng bao gồm các loại sợi, chão bện, dây thừng... đã cắt theo chiều dài
và được thắt nút ở một hoặc hai đầu, hoặc đã ráp khít với lỗ khuyên,
vòng, móc... (ví dụ: dây giầy, các lớp lót quần áo, các loại chão...), dây
bảo vệ tàu, đệm dỡ hàng, thang dây, dây treo chịu tải, “vải” dùng để rửa
đĩa chén làm từ một bó sợi được gập thành 2 và buộc chặt cùng nhau ở
đầu gấp,...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Bộ dây cương, dây cương, dây bọc cổ để kéo ngựa đi, bộ yên
cương... (nhóm 42.01).
(b) Dây cắt theo chiều dài, với các nút, vòng, hoặc các lỗ xâu kim loại
hoặc thủy tinh, loại được sử dụng trên máy dệt Jacquard hoặc máy
khác (nhóm 59.11).
(c) Vải dệt và các mặt hàng làm từ các loại vải dệt như vậy, được phân
loại vào các nhóm thích hợp (ví dụ: dây giầy làm từ dây tết được
phân loại trong nhóm 63.07).
(d) Chão dùng đóng đế cho dép sandal (nhóm 64.06).
(e) Các mặt hàng dùng cho thể dục và các mặt hàng khác thuộc
Chương 95.
Chương 57
Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác
Chú giải.
1.- Theo mục đích của Chương này, thuật ngữ “thảm và các loại hàng
dệt trải sàn khác” có nghĩa là các loại trải sàn trong đó vật liệu dệt
được dùng làm bề mặt ngoài của sản phẩm khi sử dụng và gồm cả
các sản phẩm có các đặc tính của hàng dệt trải sàn nhưng được dự
định dùng cho các mục đích khác
2.- Chương này không bao gồm các loại lớp lót của hàng dệt trải sàn.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác trong đó
các vật liệu dệt dùng như mặt trên của sản phẩm khi sử dụng. Chương
này bao gồm các mặt hàng có đặc tính của các loại trải sàn bằng hàng
dệt (ví dụ: độ dầy, độ cứng, độ bền) nhưng nó cũng được dự định sử
dụng cho các mục đích khác (ví dụ: đồ treo tường hoặc các loại phủ bàn
hoặc cho các mục đích trang trí nội thất khác).
Các sản phẩm trên được phân loại trong Chương này mặc dù đã được làm
hoàn chỉnh (làm thành kích cỡ nhất định, được gấp mép, tạo đường nét, kết
diềm tua, ráp nối vv...) ở dạng thảm vuông, thảm phủ xung quanh giường,
thảm lò sưởi, hoặc ở dạng thảm được dùng trong phòng, phủ hành lang, lối đi
lại hoặc cầu thang, đủ độ dài dùng để cắt và làm hoàn chỉnh.
Chúng có thể được thấm tẩm (ví dụ: với mủ cao su) hoặc được bồi bằng
chất liệu vải dệt thoi hoặc không dệt hoặc bằng cao su xốp, plastic xốp.
Chương này không bao gồm:
(a) Các lớp lót của hàng dệt trải sàn, ví dụ, chất liệu vải thô hoặc tấm
đệm bằng nỉ ngăn cách giữa sàn và thảm (được phân loại theo vật
liệu cấu thành).
(b) Vải sơn lót sàn và các loại trải sàn khác cấu tạo từ một tấm phủ hoặc
tấm bọc được một lớp bồi bằng vật liệu dệt (nhóm 59.04)
57.01 - Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác, thắt nút, đã hoặc
chưa hoàn thiện.
5701.10 - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn
5701.90 - Từ các vật liệu dệt khác.
Thảm thắt nút và sản phẩm trải sàn khác bằng hàng dệt thắt nút có một
sợi dọc kéo căng, có sợi chỉ tạo vòng (chỉ tuyết) được đan thắt nút hoặc
xoắn thành một vòng hoàn chỉnh xung quanh ít nhất một sợi chỉ dọc.
Các sợi chỉ tạo vòng (chỉ tuyết) sẽ được đan bện chặt bằng việc lồng các
sợi chỉ dệt ngang. Việc thắt nút và xoắn này là đặc trưng cơ bản của các
sản phẩm thuộc nhóm này.
Các kiểu thắt nút được sử dụng thông dụng nhất là:
(1) Kiểu Ghiorder hoặc Turkish: chỉ tạo vòng (chỉ tuyết) được đặt
trên hai sợi chỉ dọc sát nhau và hai đầu mút của nó được quay vào
nhau giữa hai sợi chỉ dọc đó làm thành một vòng hoàn chỉnh xung
quanh sợi chỉ dọc (xem Hình 1), hai đầu mút dựng ngược tạo thành
bề mặt thảm.
Hình 1
(2) Kiểu Senna hoặc Persian: chỉ tạo vòng (chỉ tuyết) được xoắn
xung quanh mỗi sợi chỉ dọc và sau đó luồn qua phía dưới sợi chỉ
dọc tiếp sau (xem Hình 2), hai đầu mút dựng ngược tạo thành bề
mặt thảm.
Hình 2
Trong các kiểu Ghiorder và Senna chỉ tạo vòng (chỉ tuyết) cũng có thể
bọc lên bốn sợi chỉ dọc.
(3) Kiểu thắt nút sợi chỉ dọc đơn: mỗi sợi chỉ tạo vòng (chỉ tuyết)
cũng có thể được xoắn hoặc thắt nút trên một sợi dọc; mỗi chỉ tạo
vòng tạo thành một 1,5 vòng xung quanh một sợi chỉ dọc (xem Hình
3), hai đầu mút dựng ngược tạo thành bề mặt thảm.
Hình 3
Do vậy, sẽ có nhiều cách thắt nút, hai nút kề nhau nhưng hoàn toàn độc
lập cho mỗi sợi, phủ qua toàn bộ chiều rộng của thảm, do đó sẽ bao phủ
vải nền.
Nhóm này cũng bao gồm các loại thảm nhất định được làm bằng việc
thắt nút các chỉ tạo vòng lên trên tấm nền dệt thưa.
Phần lớn các loại thảm thắt nút, được làm thủ công có kích cỡ phù hợp
cho sử dụng, với các chỉ tạo vòng được nhuộm mầu khác nhau tạo nên
một mẫu hoa văn. Tuy nhiên, chúng cũng được dệt trên khung dệt máy
và sau đó nhìn chung là sản phẩm dệt tương đối phẳng và mép vải thẳng
hơn so với các trường hợp vải dệt thủ công. Chỉ tạo vòng thường bằng
lông cừu hoặc tơ nhưng đôi khi bằng lông dê Angora hoặc lông dê
Kashmir. Vải nền thường làm bằng sợi bông, lông cừu hoặc lông động
vật trong trường hợp thảm làm bằng thủ công, và bằng bông, lanh, gai
dầu, hoặc đay trong trường hợp thảm làm bằng máy.
Các sản phẩm thuộc nhóm này được sử dụng làm tấm trải sàn nhưng đôi
khi sử dụng theo cách khác trong đồ nội thất (ví dụ: dùng như tấm treo
tường hoặc trải bàn) (xem Chú giải tổng quát Chương này).
Các loại thảm này vẫn được phân loại ở đây nếu chúng được viền bằng
các loại tua diềm (được chế tạo trong quá trình dệt hoặc được đính vào
sau) hoặc nếu chúng được hoàn thiện theo cách khác tùy sử dụng.
Các sản phẩm này chủ yếu có xuất xứ từ phương đông (Iran, Thổ Nhĩ
Kỳ, Turkestan, Apganistan, Pakistan, Trung Quốc, Ấn Độ) hoặc từ Bắc
Phi (Angiêni, Tuynigi, Moroco, Ai cập).
Nhóm này loại trừ các loại thảm mà chỉ tạo vòng chỉ được móc đơn
giản dưới các sợi dọc mà không cần tạo thành vòng xung quanh sợi chỉ
dọc (xem Hình 4 và 5 dưới đây ) (nhóm 57.02).
57.02 - Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác, dệt thoi, không tạo
búi hoặc phủ xơ vụn, đã hoặc chưa hoàn thiện, kể cả thảm
“Kelem”, “Schumacks”, “Karamanie” và các loại thảm dệt
thoi thủ công tương tự.
5702.10 - Thảm “Kelem”, “Schumacks”, “Karamanie” và các
loại thảm dệt thoi thủ công tương tự
5702.20 - Hàng trải sàn từ xơ dừa (coir)
- Loại khác, có cấu tạo nổi vòng, chưa hoàn thiện:
5702.31 - - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn
5702.32 - - Từ các vật liệu dệt nhân tạo
5702.39 - - Từ các loại vật liệu dệt khác
- Loại khác, có cấu tạo nổi vòng, đã hoàn thiện:
5702.41 - - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn
5702.42 - - Từ các vật liệu dệt nhân tạo
5702.49 - - Từ các vật liệu dệt khác
5702.50 - Loại khác, không có cấu tạo nổi vòng, chưa hoàn thiện:
- Loại khác, không có cấu tạo nổi vòng, đã hoàn thiện:
5702.91 - - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn
5702.92 - - Từ các vật liệu dệt nhân tạo
5702.99 - - Từ các vật liệu dệt khác
Các loại thảm và hàng dệt trải sàn khác thuộc nhóm này bao gồm:
(1) Thảm Wilton và các loại thảm tương tự. Chúng có vải nền bền,
nặng được phủ bởi một bề mặt vòng lông (như là, mặt phải được
hình thành bởi các sợi chỉ sát nhau hoặc các túm sợi dựng thẳng
góc), hoặc bởi một bề mặt nổi vòng.
Bề mặt của các loại thảm này được cấu tạo bằng các sợi chỉ dọc bổ
sung dùng để làm thành các vòng trên mặt phải của vải trong quá trình
dệt bằng việc gắn tạm thời các thanh hoặc dây kim loại. Khi các vòng
này được cắt đi thì sẽ tạo nên mặt vòng lông của thảm (như thảm
Wilton, xem hình 4); trong loại thảm này, chỉ tạo vòng được móc đơn
giản dưới sợi chỉ ngang. Ngược lại, nếu các vòng (được để lại trong
tình trạng) không bị cắt thì các thảm làm ra có mặt vòng lông dạng
vòng, như tấm thảm loại Brussel (xem Hình 4 &5)
Hình 4
Hình 5
Các thảm này có thể được để trơn hoặc được trang trí hoa văn. Các
hoa văn này được dệt trên một khung dệt (ví dụ khung dệt Jacquard)
được trang bị đặc biệt để mà có khả năng tạo ra một mẫu hoa văn
thu được bằng cách sử dụng 2 đến 5 loại sợi màu khác nhau.
Thảm Wilton cũng được sản xuất bằng việc dệt hai tấm vải với một
sợi chỉ tạo vòng thông thường mà sợi chỉ này bị cắt sau khi dệt để
tạo thành 2 tấm thảm nổi vòng (thảm mặt đối mặt Wilton).
Sợi tạo vòng thường làm bằng lông cừu hoặc một hỗn hợp lông
cừu/nylon, nhưng nó cũng có thể bằng bông, polyamít, acrylic,
viscose hoặc hỗn hợp các loại sợi đó. Vải nền thường là bông, đay
hoặc popypropylen.
(2) Thảm Axminster: đây là các loại thảm dệt máy mà trong đó các
hàng sợi nhung thảm (dệt) theo chiều ngang liên tiếp được đan ghép
với nhau trong quá trình dệt phù hợp với sự sắp xếp mầu sắc được
xác định trước.
(3) Thảm sơnin. Đặc tính chính của chúng là bề mặt nổi vòng được sản
xuất bằng việc sử dụng các loại sợi sơnin (xem Chú giải chi tiết
nhóm 56.06). Các loại sợi này có thể được dùng như một sản phẩm
dệt ngang bổ sung vào theo cách thông thường; trong một số trường
hợp các đoạn sợi sơnin ngắn được chèn thêm vào như một sợi dọc
phụ không liên tục và được giữ cố định bằng vải nền.
(4) Thảm dệt ngang không có các vòng hoặc nổi vòng nhưng có thể
được phân biệt với vải dệt thuộc các Chương từ Chương 50 đến 55
vì các loại thảm này nặng và bền, được dự kiến sử dụng như các tấm
trải sàn.
Loại thảm này bao gồm thảm Kidderminster hoặc còn gọi là thảm
Bỉ “Belgian” là các loại thảm đúp, mẫu thiết kế được sản xuất bằng
cách thay đổi khoảng cách của hai tấm vải. Ngoài các loại thảm sử
dụng ở nhà tương đối mịn, nhóm này cũng bao gồm các loại thảm
thô hoặc sản phẩm thô để làm thảm (như thảm vải thô) bằng sợi đay,
sơ dừa, lông, sợi giấy... (luôn là kiểu dệt thô, dệt chéo, dệt hình chữ
V), và các loại thảm giẻ (rag carpet) có sợi dọc làm từ sợi đay và sợi
ngang làm từ dải vải phế liệu được buộc hai đầu với nhau.
(5) Thảm chùi chân ở cửa ra vào và các loại thảm tương tự. Chúng
được cấu tạo chủ yếu gồm các búi cứng, thường làm bằng xơ dừa
hoặc sợi xizan, được móc một cách đơn giản bên dưới sợi chỉ dọc
của vải nền; chúng được sản xuất có kích cỡ nhỏ phù hợp với mục
đích sử dụng dự kiến.
(6) Thảm terry hoặc hoặc các loại thảm lót buồng tắm tương tự.
Cần lưu ý rằng một số loại thảm nhất định được làm bằng cùng một
phương pháp tương tự như các sợi nổi vòng hoặc vải sơnin thuộc nhóm
58.01, nhưng được chủ yếu dùng như tấm trải sàn, chúng được phân biệt
bằng độ bền chắc, tính thô mộc của vật liệu sử dụng trong sản xuất hoặc
bằng độ cứng của vải nền, thường có một sợi dọc thêm vào (stuffer).
(7) Thảm “Kelem”, “Schumacks”, “Karamanie” và các thảm được
dệt thủ công tương tự. Kelme (hoặc Khilim) cũng còn gọi là
Karamanie, được sản xuất bằng cùng một phương pháp như thảm
dệt thủ công được mô tả trong Chú giải chi tiết nhóm 58.05, Phần
(A). Bởi vậy, cấu trúc dệt của nó so sánh được với các mặt hàng
thuộc các loại thảm đã nêu ở trên và nhìn chung, những khoảng
trống là như nhau khi nhìn vào giữa các sợi dọc. Tuy nhiên, nếu chỉ
đề cập tới mẫu hoa văn, thảm “Kelem” không có bất cứ trang trí
hình hoa hoặc hình lá nào, mà chỉ là những mẫu trang trí bằng
đường thẳng. Mặc dù mặt trước có thể được phân biệt với mặt sau
bởi các trang trí, nhưng sự khác nhau này chỉ rất ít đến mức mà hai
mặt đều có thể được sử dụng.
Thảm Kelem đôi khi được làm bằng hai dải được khâu lại với nhau,
cách trang trí này được làm như một cách thức để che dấu các
đường khâu. Đó chính là tại sao mà nó chỉ có một đường viền (các
đầu mút của sản phẩm dệt) trên các mép ngắn hoặc thậm chí không
có gì cả. Điều này hiển nhiên không loại trừ các đường viền thêm
vào.
Nói chung, sợi dọc là làm bằng len và sợi ngang là sợi lông cừu
hoặc sợi bông.
Nhóm này cũng bao gồm mặt hàng được sản xuất theo kỹ nghệ
Kelem (ở vùng trung tâm Châu âu nói riêng) mà chúng được trang
trí với hoa văn bằng các mẫu trang trí cùng kiểu như các loại thảm
Kalem phương Đông sáng bóng.
Schumacks được dệt cùng cách như Kelem nhưng lại khác so với
Kelem ở những điểm sau đây:
ngay sau khi một hoặc hai sợi ngang tạo thành hoa văn được
làm hoàn chỉnh thì sợi ngang bổ sung sẽ được chèn vào theo
chiều rộng của tấm vải, điều này sẽ hạn chế bớt những khoảng
trống trong sợi dọc;
khi đề cập đến mẫu hoa văn, hình nền thường được trang trí
bằng 3 đến 5 ngôi sao sặc sỡ trải dài trông giống như huân
chương; đường viền nhìn chung bao gồm một băng chính rộng
và 2 đến 3 băng phụ. Mặt trái có các đầu mút có lông mịn, dài
vài cm theo chiều dài của nó, vẫn được giữ lại sau khi sợi ngang
bị tách nhỏ ra.
Sợi ngang của thảm Schumacks là loại len trong khi đó sợi dọc có
thể là len hoặc sợi bông; hoặc thậm chí là lông dê.
Các loại thảm tương tự thuộc thảm Sileh đặc biệt được sản xuất bằng
cách tương tự với thảm Schumacks. Mẫu hoa văn của thảm Sileh cơ bản
được hoàn thiện bằng các mẫu trang trí rời hình chữ S hoặc ở mặt chính
hoặc từ sau ra trước, và một số mẫu trang trí rời có hình động vật được
điểm xuyết dọc theo toàn bộ bề mặt. Sợi dọc và sợi ngang của thảm
Sileh là len (trong một số ít trường hợp sợi dọc là sợi bông).
Nhóm này loại trừ các loại chiếu và thảm làm từ vật liệu tết bện
(Chương 46).
57.03 - Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác (kể cả thảm cỏ), tạo
búi, đã hoặc chưa hoàn thiện.
5703.10 - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn
- Từ ni lông hoặc từ các polyamit khác:
5703.21 - - Thảm cỏ (turf)
5703.29 - - Loại khác
- Từ các vật liệu dệt nhân tạo khác:
5703.31 - - Thảm cỏ (turf)
5703.39 - - Loại khác
5703. 90 - Từ các vật liệu dệt khác
Nhóm này bao gồm thảm may chần (nổi nhung) và các loại hàng dệt trải
sàn khác may chần, được sản xuất trên máy chần, bằng hệ thống kim và
móc, đưa xen thêm các sợi dệt vào một tấm nền đã được làm sẵn từ
trước (thường là một sản phẩm dệt hoặc không dệt) như vậy tạo ra các
vòng, hoặc nếu các kim và móc được phối hợp với một thiết bị cắt, thì
tạo lớp nhung tuyết (tuft). Các sợi hình thành vòng lông (pile) sau đó
thường được cố định bằng một lớp phủ bằng cao su hoặc plastic. Thường
trước khi tấm phủ được làm khô, nó hoặc được bao phủ bằng một tấm
đệm phụ bằng chất liệu dệt của sản phẩm dệt thưa, ví dụ: đay, hoặc được
phủ bằng cao su bọt.
Nhóm này cũng bao gồm thảm cỏ (turf), là loại trải sàn làm từ vật liệu
dệt có chần sợi mô phỏng cỏ, không phân biệt màu sắc. Thảm cỏ (turf)
được sử dụng trong nhà hoặc ngoài trời cho các bề mặt chơi thể thao (ví
dụ, bóng đá, bóng chày, khúc côn cầu trên sân, gôn, quần vợt) và các
ứng dụng khác (ví dụ, cảnh quan, sân bay). Nhóm này không bao gồm
các sản phẩm bằng plastic thuộc Chương 39.
Nhóm này cũng bao gồm thảm may chần và các loại hàng dệt trải sàn
khác may chần được làm bằng việc sử dụng súng chần hoặc chần
bằng tay.
Các sản phẩm thuộc nhóm này được phân biệt với các sản phẩm dệt đã
may chần thuộc nhóm 58.02 ví dụ, bởi các tính chất của chúng như: độ
cứng vững, độ dày và độ bền, giúp tạo cho chúng những khả năng phù
hợp trong việc sử dụng như các tấm trải sàn.
57.04 - Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác, từ phớt, không tạo
búi hoặc phủ xơ vụn, đã hoặc chưa hoàn thiện.
5704.10 - Các tấm để ghép, có diện tích bề mặt tối đa 0,3m2
5704.20 - Các tấm để ghép, có diện tích bề mặt tối đa trên 0,3 m2
nhưng không quá 1 m2
5704.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác,
bằng phớt. Về mặt ý nghĩa của thuật ngữ “phớt”, xem Chú giải chi tiết
nhóm 56.02.
Nhóm này bao gồm:
(1) Các tấm lát sàn thường bằng phớt làm từ lông cừu hoặc lông các
loại động vật khác.
(2) Các loại hàng dệt trải sàn bằng phớt dệt kim, nhìn chung đã được
bồi hoặc ngâm tẩm ở mặt dưới bằng cao su hoặc plastic để gia cố
cho các sản phẩm hoặc tạo cho chúng các đặc tính chống trơn trượt.
57.05 - Các loại thảm khác và các loại hàng dệt trải sàn khác, đã
hoặc chưa hoàn thiện.
Nhóm này bao gồm thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác, trừ các sản
phẩm được bao hàm bởi một nhóm cụ thể hơn của Chương này.
Nhóm này bao gồm:
(1) Các loại thảm nổi vòng liên kết, ở đó các bề mặt nổi vòng được liên
kết hoặc với một chất nền hoặc trực tiếp với một chất kết dính mà
chất kết dính này hình thành chất nền. Liên kết này được tạo ra bằng
kết dính hoặc bằng nhiệt hoặc bằng sự kết hợp của cả hai hoặc bằng
hàn siêu âm. Các vòng có thể được liên kết hoặc với một bề mặt nền
đơn hoặc ở giữa hai bề mặt nền, trong trường hợp thứ hai để phân
chia thành hai tấm thảm.
(2) Các loại thảm bằng chất liệu không dệt, bao gồm một lớp sợi dệt đã
chải thô được uốn giữa các cuộn có dạng khe tạo thành các vòng, nó
có thể được đặt ra ở một vị trí nhất định bởi một tấm phủ dày bằng
cao su, plastic,... có tác dụng như một tấm nền, hoặc được liên kết
với một loại vải nền khác bằng chất kết dính tương tự.
(3) Các loại thảm làm bằng “cách nhồi” (“flocking”), ví dụ: bằng việc
ghép các sợi dệt thẳng đứng trên một tấm nền bằng chất liệu dệt,
được phủ bằng cao su, plastic...
(4) Các loại thảm dệt kim. Nhìn chung chúng có dạng bên ngoài như
của vải nhung dày hoặc đôi khi như các loại da thú.
Chương 58
Các loại vải dệt thoi đặc biệt; các loại vải dệt tạo búi; hàng ren;
thảm trang trí; hàng trang trí; hàng thêu
Chú giải.
1.- Chương này không áp dụng cho các loại vải dệt nêu trong Chú giải 1
của Chương 59, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép lớp, hoặc những
mặt hàng khác thuộc Chương 59.
2.- Nhóm 58.01 cũng bao gồm các loại vải dệt thoi có sợi ngang nổi
vòng, chưa được cắt phần nổi, ở trạng thái này chúng không có vòng
lông dựng.
3.- Theo mục đích của nhóm 58.03, vải “dệt quấn” (gauze) là loại vải có
sợi dọc gồm toàn bộ hoặc một phần của sợi dựng hoặc sợi nền và
sợi cuốn cả vòng hoặc nửa vòng đi bắt chéo qua sợi dựng hoặc sợi
nền tạo thành nửa vòng, một vòng hoàn chỉnh hoặc nhiều hơn để tạo
thành các vòng sợi cho sợi ngang đi qua.
4.- Nhóm 58.04 không áp dụng cho vải lưới thắt nút từ dây xe, chão bện
(cordage) hoặc thừng, thuộc nhóm 56.08.
5.- Theo mục đích của nhóm 58.06, khái niệm “vải dệt thoi khổ hẹp” là:
(a) Vải dệt thoi có khổ rộng không quá 30 cm, hoặc được dệt sẵn
như thế hoặc được cắt từ những tấm rộng hơn, với điều kiện đã
tạo biên ở hai mép (dệt thoi, gắn keo hoặc bằng cách khác);
(b) Vải dệt thoi dạng ống có chiều rộng khi trải phẳng không quá 30
cm; và
(c) Vải cắt xiên với các mép gấp, có chiều rộng khi chưa gấp mép
không quá 30 cm.
Vải dệt thoi khổ hẹp có tua viền được phân loại vào nhóm 58.08.
6.- Trong nhóm 58.10, không kể những đề cập khác, khái niệm “hàng
thêu” là hàng thêu bằng chỉ kim loại hoặc chỉ thuỷ tinh trên vải lộ
nền, và hàng được khâu đính trang trí sequin, hạt hoặc các mẫu
trang trí bằng vật liệu dệt hoặc vật liệu khác. Nhóm này không bao
fabric, and sewn appliqué work of sequins, beads or ornamental
gồm loại thảm trang trí thêu tay (nhóm 58.05).
7.- Ngoài các sản phẩm của nhóm 58.09, Chương này cũng bao gồm
các mặt hàng làm từ sợi kim loại và loại làm trang trí như các loại
vải dùng cho nội thất hoặc dùng cho các mục đích tương tự.
TỔNG QUÁT
Trừ nhóm 58.09, Chương này bao gồm nhiều các sản phẩm dệt khác
nhau mà sự phân loại các sản phẩm này không phụ thuộc vào các vật
liệu dệt cấu thành của chúng. Một số trong những sản phẩm này chỉ nằm
trong chương này nếu chúng không được làm hoàn chỉnh theo ý nghĩa
của Phần (II) thuộc Chú giải tổng quát của Phần XI, nhưng những sản
phẩm khác thì được phân loại ở đây dù có được làm hoàn chỉnh hay
không.
Nên chú ý rằng, theo các Chú giải của Chương 59, vải dệt quấn thuộc
nhóm 58.03, vải dệt thoi khổ hẹp thuộc nhóm 58.06 và các dây tết, mảnh
trang trí dạng chiếc thuộc nhóm 58.08, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép
lớp bị loại trừ khỏi Chương 58 (thường ở Chương 39, 40 hoặc 59), trái
lại những sản phẩm khác thuộc Chương này đã được xử lý tương tự vẫn
được phân loại ở đây, với điều kiện là chúng không mang đặc điểm của
các sản phẩm thuộc Chương 39 hoặc 40.
58.01 - Các loại vải dệt nổi vòng và các loại vải sơnin (chenille), trừ
các loại vải thuộc nhóm 58.02 hoặc 58.06 (+).
5801.10 - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn
- Từ bông:
5801.21 - - Vải có sợi ngang nổi vòng không cắt
5801.22 - - Nhung kẻ đã cắt
5801.23 - - Vải có sợi ngang nổi vòng khác
5801.26 - - Các loại vải sơnin (chenille)
5801.27 - - Vải có sợi dọc nổi vòng
- Từ xơ nhân tạo:
5801.31 - - Vải có sợi ngang nổi vòng không cắt
5801.32 - - Nhung kẻ đã cắt
5801.33 - - Vải có sợi ngang nổi vòng khác
5801.36 - - Các loại vải sơnin (chenille)
5801.37 - - Vải có sợi dọc nổi vòng
5801.90 - Từ các vật liệu dệt khác
(A) CÁC LOẠI VẢI DỆT NỔI VÒNG, TRỪ CÁC LOẠI VẢI
THUỘC NHÓM 58.02
Các loại vải dệt nổi vòng được tạo thành từ ít nhất 3 loại sợi: sợi dọc và
ngang kết hợp chặt chẽ tạo thành vải nền và sợi dọc hoặc sợi ngang tạo
thành nổi vòng (pile). Loại nổi vòng này bao gồm hoặc chùm lông (tuft)
hoặc những vòng (loop) trên toàn bộ hoặc từng phần của bề mặt; thông
thường, loại nổi vòng này (pile) chỉ có ở một mặt, nhưng đôi khi nó có
cả hai mặt.
Vải có sợi dọc nổi vòng (vải nhung , vải lông, vải nhung dày dùng để
bọc ghế...) có thể được sản xuất bằng cách cào dựng nổi vòng các sợi
nhung dọc trên các dây đã lồng vào theo chiều của sợi ngang. Vì thế
những vòng (loop) bị cắt trong quá trình dệt hoặc bị cắt sau đó, hoặc
thỉnh thoảng không cắt các loại vải nổi vòng đã được móc lại hoặc các
vải nổi vòng chưa cắt. Các vòng hoặc nhung tuyết đã cắt được cố định
lại ở một chỗ bằng các sợi ngang.
Vải có sợi dọc nổi vòng cũng được sản xuất bằng việc dệt hai thớ vải đối
diện nhau với một sợi dọc vòng chung; sau đó hai thớ vải được tách ra
bằng việc cắt thành hai sản phẩm vải có vòng lông (pile) đã được cắt.
Vải có sợi ngang nổi vòng đã cắt (vải nhung, nhung kẻ...) có một lớp
nhung (pile) thường được sản xuất bằng cách dệt những sợi ngang đan
xen dưới những sợi dọc và sau đó nổi lên trên bề mặt qua hai hoặc nhiều
sợi dọc. Sau khi dệt, những phần nổi lên trên bề mặt được cắt đi, các đầu
cắt dựng đứng lên để tạo thành các thớ nhung (pile). Kết quả tương tự
thu được bằng cách lồng các dây song song với sợi dọc, sợi ngang nổi
vòng bị cắt trong quá trình dệt. Vì thế các búi lông vẫn được cố định bởi
các sợi dọc.
Vải có sợi ngang nổi vòng chưa được cắt phần nổi, ở trạng thái này
chúng không có lông đứng, thì được bao gồm ở nhóm này (xem Chú giải
2 của Chương này).
(B) CÁC LOẠI VẢI SƠNIN (CHENILLE)
Vải sơnin rất giống với loại thảm sơnin thuộc nhóm 57.02; giống như
những loại này, bề mặt nổi vòng của chúng (thường là cả hai mặt) được
sản xuất bằng sợi bằng sợi sơnin. Thông thường, chúng được làm bằng
cách bổ sung thêm một sợi ngang làm từ sợi sơnin hoặc bằng cách lồng
vào sợi sơnin (có độ dài và mầu sắc khác nhau) vào các sợi dọc trong
suốt quá trình dệt nền vải.
Vải nổi vòng (pile) và vải sơnin được làm bằng nhiều chất liệu khác
nhau nhưng tơ, lông cừu, lông động vật loại mịn, bông và sợi nhân tạo
được sử dụng hầu hết để sản xuất vải nổi vòng.
Tất cả các loại vải này có thể trơn, có gân hoặc được in hình hoặc có thể
được in hình nổi sau khi dệt; vải nổi vòng (pile) được in hình bao gồm
những loại vải có một mặt được bao bọc một phần bằng nhung (pile),
hoặc có một mặt với thớ nhung được cắt một phần hoặc thớ nhung được
tạo vòng một phần (ciselé velvets) để tạo ra các hình trang trí rất khác
nhau.Vải dệt có sợi nổi vòng giả da thú (ví dụ: bộ da lông cừu, da lông
cừu caracul, hoặc da báo giả) cũng được phân loại ở đây, nhưng vải giả
da thú được làm bằng cách may hoặc dán bằng keo trên nhung thì bị loại
trừ (nhóm 43.04).
Nên chú ý rằng nhiều loại vải thuộc nhóm này được sản xuất theo cách
giống với cách sản xuất thảm thuộc nhóm 57.02; tuy nhiên, trên thực tế
chúng được phân biệt một cách dễ dàng với các loại thảm, vì được thiết
kế chủ yếu thành các loại vải trang trí hoặc các loại vải dùng cho may
mặc và không phải làm vật liệu phủ nền, chúng được làm bằng các vật
liệu mịn hơn và có vải nền mềm hơn.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Vải thô sần (Bouclé), vải len tuyết xoắn (ratin) và các loại vải khác
pile (ciselé velvets) thus producing very varied designs. Woven pile
(a) Bouclé fabrics, ratines and other fabrics which present an
có hình dạng giống như đối với các loại vải nhung (pile), nhưng
chúng được dệt bằng các loại sợi đặc biệt (ví dụ: sợi thô sần
(bouclé) hoặc được sản xuất bằng phương thức xử lý của các loại
vải dệt thông thường (ví dụ: cạo sạch và chải)) (thường thuộc
Chương 50 đến Chuơng 55)
(b) Vải khăn lông và các loại vải dệt thoi tạo vòng lông tương tự và các
loại vải dệt chần sợi nổi vòng (thuộc nhóm 58.02).
(c) Các loại vải tuyết nhung (pile)..., các loại vải nằm trong định nghĩa
vải dệt thoi khổ hẹp (nhóm 58.06).
(d) Các loại vải dệt kim hoặc hàng khâu đính với một lớp nhung đã cắt
hoặc nổi vòng (nhóm 60.01 hoặc 56.02 tùy từng trường hợp).
(e) Các loại vải nhung (pile),... được hoàn thiện theo phương pháp nêu
tại Phần (II) thuộc phần Chú giải tổng quát của Phần XI.
yarn (e.g., bouclé yarn) or produced by treatment (e.g., scraping or
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 5801.22 và 5801.32
Theo mục đích của phân nhóm 5801.22 và 5801.32, các minh họa dưới
đây về tiết diện của sợi dọc sẽ được dùng để phân biệt nhung kẻ đã cắt
với các vải lông nhung ngang đã cắt khác.
Vải nhung kẻ
Vải nhung
58.02 - Vải khăn lông (terry) và các loại vải dệt thoi tạo vòng lông
tương tự, trừ các loại vải khổ hẹp thuộc nhóm 58.06; các loại
vải dệt tạo búi, trừ các sản phẩm thuộc nhóm 57.03.
5802.10 - Vải khăn lông (terry) và các loại vải dệt thoi tạo vòng
lông tương tự, từ bông
5802.20 - Vải khăn lông (terry) và các loại vải dệt thoi tạo vòng
lông tương tự, từ các vật liệu dệt khác
5802.30 - Các loại vải dệt tạo búi
(A) VẢI KHĂN LÔNG VÀ CÁC LOẠI VẢI DỆT THOI TẠO
VÒNG LÔNG TƯƠNG TỰ
Những loại vải này là loại vải có sợi móc nổi vòng được sử dụng làm
khăn lau, áo choàng tắm, áo choàng tắm biển, áo choàng ngủ, găng tay
vệ sinh vv... Chúng có một thớ vải ngang xít và 2 loại sợi dọc, một loại
xít và một loại lỏng hình thành các vòng trên bề mặt của vải. Tỷ lệ của 2
loại sợi dọc trên tấm vải có thể khác, nhưng thường có sự tương đồng về
số lượng sợi dọc nền và số lượng sợi nổi vòng.
Các móc thường xuất hiện dưới dạng bị xoắn lại và thông thường được
sản xuất trên cả 2 mặt của vải may mặc, nhưng đôi khi chỉ có trên một
mặt; đôi khi có thể bị cắt. Các móc có thể phủ lên toàn bộ bề mặt một
cách đồng nhất hoặc tạo thành các sọc vằn, caro, hình thoi hoặc những
hoa văn phức tạp hơn.
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm các loại vải có vòng lông chỉ trên
1 mặt, tất cả các móc bị cắt (nhóm 58.01).
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Các loại vải khăn lông, dệt kim hoặc móc (nhóm 60.01)
(b) Vải tấm, qua quá trình cắt dọc theo đường xác định làm mất đi các
sợi ngang tạo thành các loại sản phẩm có đính tua riêng rẽ (nhóm
(B) CÁC LOẠI VẢI DỆT CHẦN SỢI NỔI VÒNG
Những loại vải này được làm bằng cách lồng sợi, bằng hệ thống các kim
và móc, vào một nền vải có sẵn (vải dệt thoi, vải dệt kim hoặc móc,
phớt, vải không dệt vv...) để tạo thành các vòng hoặc, nếu các móc được
kết hợp với dụng cụ cắt thì tạo thành các chùm tuyết cắt.
Các sản phẩm của nhóm này được phân biệt với các tấm thảm chần và
các tấm trải sàn được chần nổi vòng thuộc nhóm 57.03 bởi các sản
phẩm này thiếu độ cứng, độ dày và độ bền làm cho chúng không phù
hợp để sử dụng như các loại trải sàn.
Hơn thế nữa, những loại vải này có thể được phân biệt với các loại vải
có sợi nổi vòng thuộc nhóm 60.01, chúng có các hàng chỉ khâu trên mặt
sau của vải dệt, do đặc tính các đường chỉ khâu làm xuất hiện các đường
khâu chạy dọc theo chiều dài phía sau tấm vải.
58.03 - Vải dệt quấn, trừ các loại vải khổ hẹp thuộc nhóm 58.06.
Vải dệt quấn (đôi khi được biết như kiểu dệt leno) được định nghĩa
trong Chú giải 3 của Chương này.
Trong vải dệt quấn trơn, các sợi chéo chạy hoán vị nhau về phía bên phải
và trái của sợi đứng qua sợi ngang, nhưng chạy chéo dưới những sợi
đứng; các sợi dọc đứng luôn luôn ở về một phía của các sợi ngang, các
sợi dọc đứng và các sợi ngang không bị đan vào nhau nhưng chúng
được liên kết với nhau bằng sợi dọc chéo.
Biến thể của vải dệt quấn có thể thu được bằng cách đan chéo các sợi
chéo với nhau (vì thế được gọi là vải dệt quấn đã móc, dệt quấn Marly),
bằng cách lồng 2 hoặc nhiều sợi ngang đồng thời qua các móc được hình
thành từ các sợi đứng và sợi chéo, bằng cách sử dụng hai hoặc nhiều sợi
đứng trên một sợi chéo và ngược lại.
Nhóm này cũng bao gồm:
(1) Vải dệt quấn mỏng (broché) được sản xuất với một sợi phụ (sợi
broché) được dùng trong quá trình dệt để tạo mẫu thiết kế trên một
nền vải quấn.
(2) Các loại vải cấu tạo bằng các phần vải dệt quấn và các phần dệt thoi
bằng các kiểu dệt khác với tỷ lệ bất kỳ của các chất liệu trên. Những
loại vải này thường có kết quả là các sợi kẻ sọc có sợi dọc chạy qua,
kẻ caro hoặc các mẫu thiết kế khác.
Vải dệt quấn thường được dệt thưa và vì vậy nó khá nhẹ, nó được sử
dụng làm màn che là chủ yếu; một số loại vải chủ yếu được sản xuất
thành sợi sơnin bằng cách cắt thành các dải hẹp theo chiều của sợi dọc.
Các loại vải dệt quấn khác có hình thức phong phú, và các mẫu thiết kế
được sản xuất trong suốt quá trình dệt cũng rất đa dạng, và không được
nhầm lẫn loại vải này với vải broché hoặc vải khác thuộc Chương 50
đến Chương 55, dây đăng ten được làm thủ công hoặc bằng máy, đồ
trang trí phụ, vải tuyn hoặc các loại vải lưới khác thuộc Chương này.
Nhóm này không áp dụng cho các loại vải dệt thưa trơn của vải dệt vân
điểm, các loại vải này được dùng cho các băng dùng trong y tế; các vải này
thường được gọi là vải dệt quấn nhưng lại thuộc nhóm 30.05 (nếu đã được
tẩm thuốc hoặc làm thành dạng nhất định hoặc đóng gói để bán lẻ dùng cho y
tế, phẫu thuật, nha khoa hoặc thú y) hoặc từ Chương 50 đến 55.
Nhóm này cũng không bao gồm vải dùng để rây sàng (nhóm 59.11)
(1) Broché gauze, manufactured with an extra thread (broché thread)
should not be confused with the broché or other fabrics of Chapters 50
58.04 - Các loại vải tuyn và các loại vải dệt lưới khác, không bao
gồm vải dệt thoi, dệt kim hoặc móc; hàng ren dạng mảnh,
dạng dải hoặc dạng mẫu hoa văn, trừ các loại vải thuộc các
nhóm từ 60.02 đến 60.06 (+).
5804.10 - Vải tuyn và vải dệt lưới khác
- Ren dệt bằng máy:
5804.21 - - Từ xơ nhân tạo
5804.29 - - Từ các vật liệu dệt khác
5804.30 - Ren làm bằng tay
(I) CÁC LOẠI VẢI TUYN VÀ VẢI DỆT LƯỚI KHÁC
Những sản phẩm này được sử dụng để làm rèm, khăn trải giường hoặc
các loại trang trí trong nhà tương tự, màn, quần áo phụ nữ, sẩn phẩm
thêu... Các loại vải này thông thường làm bằng sợi tơ, các loại sợi nhân
tạo, bông hoặc bằng lanh.
(A) Các loại vải tuyn và vải dệt lưới dệt chỉ ống khác có các sợi dọc
và sợi ngang xoắn quanh mỗi sợi dọc và chạy dọc theo đường chéo
từ đường viền này đến đường viền khác, nửa số sợi ngang được làm
nghiêng theo một hướng và nửa còn lại bị làm nghiêng theo hướng
khác (xem Hình1). Những sợi ngang này tạo thành một mắt lưới mở
cùng với sợi dọc; các mắt lưới có thể hình thành 6 cạnh đều, hình
vuông hoặc dạng thoi (lưới Neville). Loại vải tuyn khác có hình 6
cạnh (lưới Mechlin) có các sợi dọc và một hệ thống các sợi chỉ ống
chạy theo chiều dọc giữa 2 sợi dọc (xem Hình 2).
Hình 1
TUYN A – Sợi dọc
B và C – Sợi ngang
Hình 2
LƯỚI MECHELIN
(B) Vải tuyn Bobinot là một loại vải tuyn đặc biệt được tạo thành từ 3
loại sợi: (1) các sợi dọc thẳng song song như trong vải tuyn thường,
(2) các sợi mẫu (chúng được gọi như vậy bởi vì chúng tạo ra mẫu vẽ
trên vải) chạy thay thế nhau dọc theo các sợi thẳng và tạm thời tách
xa các sợi thẳng này tới các sợi thẳng khác (thường là sợi liền kề), vì
thế tạo ra các mắt lưới hình tam giác, các mắt lưới hình tam giác này
được nằm rải rác trên các khoảng cách hình thang hoặc hình dạng
khác, và (3) các sợi chéo xoắn quanh sợi thẳng và kéo các sợi mẫu
lại với nó (xem Hình 3). Các phần mờ trong trong mẫu thiết kế được
sản xuất bằng cách nhóm một số mắt lưới hình tam giác như trên lại
gần với nhau.
Hình 3
(C) Vải dệt lưới có 3 loại sợi: các sợi dọc song song, sợi có mắt và sợi
kẹp (ví dụ lưới mạng). Mỗi sợi có mắt chạy hoán vị nhau dọc theo
các sợi dọc khác nhau tạo nên các mắt hình vuông khi sợi có mắt
chạy từ một chỗ này đến một chỗ khác. Các sợi kẹp giữ vải lại bằng
cách buộc những sợi có mắt với những sợi dọc ở một số chỗ nhất
định (xem Hình 4).
Hình 4
(D) Vải dệt lưới đã thắt nút có một mắt dạng hình vuông hoặc hình
thoi đồng nhất được thắt lại tại từng điểm góc để các sợi không thể
bị kéo tách ra, có thể được làm thủ công hoặc làm bằng máy.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Vải dệt thưa thuộc các Chương 50 đến 55 và vải dệt quấn
thuộc
nhóm 58.03.
(b) Các loại lưới thuộc nhóm 56.08.
(c) Vải dung để sàng (nhóm 59.11).
(d) Vải dệt kim hoặc móc thuộc Chương 60.
(e) Vải tuyn và các vải dệt lưới khác được tạo thành như đã nêu ở Phần
(II) của Chú giải tổng quát Phần XI.
(II) HÀNG REN
Hàng ren là một loại vải trang trí có mắt lưới trong đó các yếu tố mẫu
thiết kế (tương đối phức tạp) được tạo thành bằng xoắn các sợi, các sợi
xoắn này được nối hoặc bằng các mắt, thường có kích cỡ và hình dạng
bình thường, tạo thành một tấm vải nền có lỗ thủng nhìn thấy được, hoặc
bằng các mắt liên kết làm trang trí mà chính chúng tạo ra hình mẫu. Các
yếu tố thiết kế mẫu và tấm nền của mắt lưới hoặc các mắt liên kết làm
trang trí thường được sản xuất đồng bộ nhưng đôi khi các yếu tố thiết kế
mẫu được làm một cách riêng rẽ và sau đó được ghép lại.
Một đặc điểm thiết yếu của hàng ren là yếu tố thiết kế mẫu không được
thực hiện trên nền vải đã sẵn có. Theo mục đích của nhóm này, loại hàng
này không áp dụng thêm đối với các sản phẩm có cùng hình dạng bên
ngoài và đôi khi chúng được xem như hàng ren (ví dụ: hàng ren lưới),
được làm bằng cách điền phủ hoặc trang trí các mắt lưới của nền vải đã
có sẵn làm từ tuyn hoặc lưới, hoặc bằng cách ghép trang trí trên mặt nền,
bất kể sau đó có hay không việc mặt nền được gỡ bỏ một phần hoặc gỡ
bỏ toàn bộ. Những sản phẩm như vậy được phân loại như các đồ thêu
nhóm 58.10, vì những sản phẩm này là các dải đăng ten thật, sau đó
chúng được thêu và lớp ren nổi được tạo ra bằng cách trang trí ghép.
Nhóm này cũng loại trừ các sản phẩm có lỗ của bất kỳ loại nào được
sản xuất bằng dệt kim bằng tay hoặc dệt kim bằng máy (Chương 60)
những sản phẩm này có thể được nhận ra bằng các mũi dệt kim điển
hình, đặc biệt là tại các phần không có lỗ.
Không giống như các loại vải tuyn, vải dệt quấn hoặc các loại vải dệt
thoi thưa khác, hàng ren không có các sợi ngang và dọc rõ ràng. Hàng
ren thường được dệt với một sợi đơn và khi nhiều hơn một sợi đơn được
sử dụng thì chúng có cùng một chức năng.
Hàng ren có thể được làm bằng tay hoặc bằng máy.
Các hàng ren chủ yếu được làm bằng tay là:
(A) Hàng ren kim được thực hiện với một chiếc kim trên một tấm giấy
hoặc giấy giả da có sẵn mẫu thiết kế. Hàng ren chạy theo những nét
chính của bản thiết kế mẫu, những sợi cấu thành của nó nằm dọc
appliqué work on a ground, whether or not the ground is subsequently
embroidered, and encrusted lace produced by sewn appliqué work.
trên tờ giấy nhưng không xuyên qua tờ giấy; ví dụ những sợi tạo
khung hình thành sườn khung ban đầu của hàng ren, được gắn
tạm thời vào mẫu thiết kế bằng những mũi khâu để thuận tiện cho
gia công.
Hàng ren kim gồm có: Alencon, Argerentan, Venetian,...
(B) Hàng ren cuộn (hàng ren gối) được làm bằng các sợi quấn trên các
ống chỉ và xoắn lại với nhau trên một “gối” hoặc "cái lót mềm" trên
đó mẫu thiết kế được gắn chặt và trong đó các gim được lồng tạm
thời để thuận tiện cho việc sản xuất hàng ren.
Hàng ren cuộn hay hàng ren gối bao gồm Valencienus, Chantilly,
(C) Hàng ren móc (được biết như là hàng ren móc Ailen) không giống
như các loại khác đã được nêu trên, hàng ren móc không trải trên
mẫu thiết kế hay trên một nền nào đó khi gia công; được sản xuất
bằng tay với một kim móc.
(D) Các loại hàng ren khác và các mặt hàng tương tự, ví dụ:
(1) Hàng ren Teneriffe, được làm theo cách giống như hàng ren
mũi kim.
(2) Kiểu trang trí Lacet, hàng ren kim có những bộ phận nhất
định thu được bằng cách sử dụng dây tết Lacet; được làm trên
một gối (pillow) hoặc làm bằng máy.
(3) Hàng ren thêu, tương tự như hàng ren móc nhưng có mẫu tròn
và thắt nút bằng con thoi.
(4) Hàng ren tết, hàng ren dày được làm bởi việc thắt nút một loạt
các loại sợi được đặt sẵn tại những góc vuông với một sợi dẫn
theo nhiều cách khác.
Ren làm bằng máy có bề ngoài nhìn chung giống bề ngoài hàng ren
làm thủ công bằng tay (trừ trường hợp của hàng ren cuộn) nhưng
phương pháp kết các sợi thì khác nhau và hàng ren được sản xuất
bằng máy thì đều hơn làm bằng tay.
Hàng ren làm bằng tay hoặc làm bằng máy được phân loại ở đây
nếu:
(4) Macramé lace, a heavy lace made by knotting in various ways
(i) Ở dạng mảnh hoặc dạng dải với độ dài bất kỳ.
hoặc (ii) Ở dạng mẫu hoa văn, ví dụ: các mảnh riêng biệt được thiết
kế một cách độc lập được liên kết trong hoặc gắn vào, các
loại sản phẩm khác như các loại quần áo ngủ, áo choàng,
các loại quần áo khác, các loại khăn mùi xoa, các loại vải
trải bàn hoặc các đồ trang trí khác.
Những mặt hàng được phân loại trong nhóm này dù được người
thêu ren làm trực tiếp thành một sản phẩm, hoặc được cắt từ các tấm
lớn hơn hoặc được ghép lại từ nhiều tấm hàng ren rời.
Nhóm này không bao gồm tất cả các loại sản phẩm làm từ hàng
ren; những loại sản phẩm này được phân loại theo đặc điểm của
chúng, nhìn chung ở các Chương 62 hoặc 63 (ví dụ các loại áo
khoác có ren thuộc nhóm 62.14, các loại cổ áo có ren dùng cho các
loại quần áo phụ nữ thuộc nhóm 62.17, và các loại khăn trải bàn có
hàng ren thuộc nhóm 63.04).
Chú giải phân nhóm.
Các phân nhóm 5804.21, 5804.29 và 5804.30
Hàng ren làm bằng máy giả hàng ren làm bằng tay, bề ngoài thì giống
như hàng ren làm bằng tay nhưng chúng có thể phân biệt được nhờ các
yếu tố cơ bản sau:
Hàng ren làm bằng máy thường được sản xuất thành từng mảnh khá rộng
mà được cắt thành các dải trong quá trình hoàn thiện. Trong trường hợp
này, các mép ren của các dải đã cắt gần như luôn luôn vẫn còn các mũi
khâu hoặc một phần các mũi khâu từ vải có lỗ mà được ghép nối một dải
với dải tiếp theo trên máy dệt. Các mũi khâu hoặc một phần các mũi khâu
được nhận biết ở mặt ngoài của hàng ren. Chúng thường lộ ra bên ngoài
trên đường biên tạo thành góc dốc, ví dụ khó phát hiện ngay ra chúng mà
không cùng lúc phá đường biên. Sự có mặt các mũi khâu hoặc một phần các
mũi khâu chứng tỏ loại hàng ren đó là hàng ren làm bằng máy.
Việc phân biệt có thể thực hiện bằng cách kiểm tra các mẫu trang trí của
hàng ren, hướng đi của các sợi nổi (hoặc đường viền) và sợi lót. Trong
hàng ren làm thủ công bằng tay, những sợi này có thể chạy theo nhiều
hướng và có thể được dồn quay lại hướng ban đầu của nó. Đối với loại
hàng ren làm bằng máy, không thể khâu ngược lại như mô tả ở trên;
những sợi này có thể vì thế mà bị dạt sang bên trái hoặc phải, nhưng
chúng phải theo định hướng dệt.
Phương pháp phủ vào các phần mờ của mẫu thiết kế là nhân tố thứ ba
được ghi nhận để phân biệt hàng ren làm bằng máy và hàng ren làm thủ
công. Loại hàng ren làm thủ công chỉ sử dụng các yếu tố sau:
mũi khâu thắt, ví dụ, mũi viền đăng ten hoặc mũi khâu khuyết áo
nếu nó là hàng ren mũi khâu
mũi khâu vải hoặc mũi khâu cửa nếu nó là hàng ren cuộn.
Mũi khâu vải sao chép lại một cách chính xác kiểu dệt vân điểm. Ở mũi
khâu cửa, các sợi hợp với nhau như những sợi dọc và được chia thành 2
lớp, giữa 2 lớp tạo thành một góc xấp xỉ 90 độ, sợi quang xuyên qua bề
mặt này, sợi ngang chạy thay thế nhau trên đỉnh của một sợi thuộc lớp
đầu tiên (phần sợi ở trên) và phần sợi ở dưới những sợi thuộc lớp thứ 2.
Hàng ren làm bằng máy, sử dụng phương pháp thêu đục một cách phổ
biến nhất như sau :
mũi khâu vải với một nét đặc trưng là các loại sợi hình thành sợi
ngang không nhất thiết chạy từ một biên vải này tới một biên vải
khác của mẫu thiết kế. Trong một vài trường hợp, những sợi này chỉ
chạy qua một phần của đường chéo và sợi khác bắt ngay vào lớp sợi
đầu để hoàn tất phần cắt;
một phương pháp lắp ghép tương tự với nó được sử dụng để thu
được toàn bộ các suốt chỉ dệt vải tuyn (các sợi thẳng, các sợi mẫu,
sợi buộc);
lồng qua mạng (lưới), một sợi hình thành với những sợi dọc một
kiểu dệt vân điểm. Trong hai quá trình trên, mạng dệt kết thúc tại
điểm mà mẫu thiết kế bắt đầu thực hiện, nhưng đối với phương pháp
lồng qua mạng lưới này thì không như vậy.
Những nhận xét sau đây có thể giúp ta phân biệt hàng ren làm bằng máy
và hàng ren làm bằng tay. Thực tế, trong một vài trường hợp những nhận
xét như vậy sẽ cung cấp những phương thức duy nhất để có thể nhận biết
, đặc biệt là khi phân biệt giữa các cuộn chỉ hàng ren làm bằng tay và
những cuộn chỉ hàng ren làm bằng máy.
(a) Các lỗi nhỏ của hàng ren làm thủ công bằng tay không thường có
khoảng trống và hiếm khi có bề ngoài tương tự nhau, trái lại ren
làm bằng máy được lặp đi lặp lại một cách thường xuyên, dựa
vào hoạt động của thiết bị máy móc được sử dụng trong việc sản
xuất hàng ren.
(b) Những móc đường rua (picot loops), thường để trang trí cho đường
viền của hàng ren làm bằng tay, và được tạo nên từ các sợi làm
thành lưới, trái lại những móc đường rua này đôi khi được thêm vào
đối với những hàng ren làm bằng máy. Trong những trường hợp
hàng ren làm bằng máy như vậy, các móc đường rua được gắn một
cách ít chắc chắn hơn và có thể bị rút ra mà không tự làm hỏng ren.
Đối với hàng ren làm bằng tay thì không thể làm được điều này.
(c) Phương pháp giao dịch và đóng gói cũng là một cách để phân biệt
giữa hàng ren làm bằng tay và hàng ren làm bằng máy. Hàng ren
làm bằng tay thường không được xuất xưởng với độ dài hơn 20cm,
và mỗi cuộn trong lô thì luôn có kiểu mẫu khác nhau. Hàng ren làm
bằng máy thì luôn luôn dài hơn và có thể dài tới 500m; mỗi lô hàng
thường có nhiều sản phẩm có kiểu mẫu giống nhau.
Thêm vào đó có hàng ren "lẫn", được biết đến như loại ren Lacet, ren
Renaissance, ren Luxeuil và ren nữ hoàng. Việc sản xuất các loại hàng
ren như vậy bắt đầu từ một dải đăng ten (lacet/braid) làm bằng máy, dải
này được trải dài theo một vệt và theo các đường của mẫu thiết kế. Tại
các góc, dải này được gấp lại để theo đường mẫu; những phần chồng lên
nhau được may lại với nhau; những đầu của những dải viền đã được cắt
thì được may lại rất công phu. Sau đó, kim khâu sẽ tạo ra các vòng và
mũi khâu lót.
Bên cạnh dải viền đã được gấp, cắt và may như mô tả ở trên, loại ren
như vậy đôi khi có thể nhận ra bằng những nếp nhăn (chỗ chun) trong
đường viền, các đường biên của mẫu thiết kế.
Loại ren này được coi như là hàng ren làm bằng tay.
58.05 - Thảm trang trí dệt thoi thủ công theo kiểu Gobelins,
Flanders, Aubusson, Beauvais và các kiểu tương tự, và các
loại thảm trang trí thêu tay (ví dụ, thêu mũi nhỏ, thêu chữ
thập), đã hoặc chưa hoàn thiện.
Nhóm này bao gồm các loại thảm được dệt bằng tay hoặc được thêu tay
trên một tấm vải nền (thông thường là vải không thấm nước). Đặc điểm
cơ bản của nó là được làm trên dạng các bức tranh có mẫu thiết kế riêng,
hoàn chỉnh, thường xuyên có một đặc tính tạo hình.
(A) THẢM TRANG TRÍ DỆT THỦ CÔNG
Thảm dệt thủ công được sản xuất bằng cách kéo các sợi dọc trên một
máy dệt và kết các sợi ngang với nhiều màu sắc khác và liên kết đan phủ
các sợi dọc, tạo mẫu hình và đồng thời làm thành vải dệt.
Ngược với quy trình thường sử dụng đối với vải có sợi ngang và dọc,
thông thường các sợi ngang có màu sắc khác nhau không dài hơn mức
cần thiết để tạo mẫu, để sao cho nhìn chung các sợi ngang không xuyên
dọc hết độ rộng của tấm vải; vì thế, dọc theo từng sợi ngang, sợi dọc
được phủ bằng hàng loạt các sợi ngang có mầu khác nhau, những đầu
nới lỏng của sợi ngang xuất hiện trên mặt trái của mẫu thiết kế. Những
khoảng cách không được dệt để lại sợi dọc qua suốt quá trình dệt thường
được củng cố lại bằng cách khâu.
Những loại thảm như vậy bao gồm loại Gobelins, Flanders, Aubusson
hoặc Beauvais.
Những thảm được sản xuất bằng máy (trên một máy Jaccquard hoặc
trên một máy dệt tương tự) làm giả như thảm dệt bằng tay này thường là
những tấm vải có sợi dọc và ngang và trong những tấm vải này, các sợi
ngang mầu sắc chạy từ đường biên này tới đường biên khác và những
loại thảm này được phân loại như vải dệt thoi trong các nhóm tương
ứng hoặc như sản phẩm đã hoàn thiện tùy từng trường hợp.
(B) THẢM TRANG TRÍ THÊU TAY
Thảm trang trí thêu tay (cũng được coi như thảm đính) được phân biệt
bằng việc các loại thảm này được làm với một tấm vải nền (thường là
loại vải không thấm nước có mắt lưới hình vuông), trên đó mẫu thiết kế
như mong muốn được điền đầy bằng việc sử dụng kim cùng với nhiều
loại sợi có nhiều màu sắc khác nhau.
Thảm trang trí thêu tay đôi khi được làm rất công phu bằng các mũi thêu
nhưng vẫn ở trong nhóm này và không được xem như đồ thêu.
Trái với phần lớn các đồ thêu thuộc nhóm 58.10, vải nền (thường là vải
không thấm nước) được bao phủ toàn bộ trừ phần biên. Các mũi thêu đã
sử dụng được đặt tên theo cách khác nhau theo lối mà chúng được thực
hiện: mũi khâu đơn nhỏ, mũi khâu thô, mũi thêu chữ thập, mũi thêu chữ
thập kép, mũi thêu Gobelins,....
Loại thảm này được sử dụng chủ yếu cho các mục đích trang trí, các bức
treo tường hoặc các ghế đệm.. và chúng thường được làm bằng tơ, lông
cừu, các loại sợi nhân tạo hoặc thậm chí bằng sợi trộn kim loại.
Những loại sợi này vẫn thuộc nhóm này thậm chí chúng được viền, ngăn
cách, lót... nhưng nếu chúng đã được làm thành sản phẩm như túi xách
tay, đệm, giầy dép,.... thì bị loại trừ.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Thảm Kenlem, Schumacks, Karamanie và các loại thảm tương tự
(nhóm 57.02).
(b) Các bộ gồm có vải dệt thoi và các loại sợi để tạo nên các tấm thảm
trang trí (nhóm 63.08).
(c) Các loại thảm có tuổi quá 100 năm (Chương 97).
58.06 - Vải dệt thoi khổ hẹp, trừ các loại hàng thuộc nhóm 58.07; vải
khổ hẹp gồm toàn sợi dọc không có sợi ngang liên kết với
nhau bằng chất kết dính (bolducs).
5806.10 - Vải dệt thoi nổi vòng (kể cả vải khăn lông (terry) và
các loại vải dệt nổi vòng tương tự) và vải dệt từ sợi
sơnin (chenille).
5806.20 - Vải dệt thoi khác, có hàm lượng sợi đàn hồi
(elastomeric) hoặc sợi cao su chiếm từ 5% trở lên tính
theo khối lượng:
- Vải dệt thoi khác:
5806.31 - - Từ bông
5806.32 - - Từ xơ nhân tạo
5806.39 - - Từ các vật liệu dệt khác
5806.40 - Các loại vải dệt chỉ có sợi dọc không có sợi ngang liên
kết với nhau bằng chất kết dính (bolducs)
(A) VẢI DỆT KHỔ HẸP
Theo Chú giải 5 thuộc Chương này nhóm này gồm các sản phẩm như
vải dệt khổ hẹp:
(1) Các dải vải có sợi ngang và sợi dọc với chiều rộng không vượt quá
30cm, với điều kiện các đường viền (hình dẹt hoặc hình ống) ở cả
hai đường biên. Những sản phẩm này được sản xuất trên các máy
dệt có cuộn chỉ, đặc biệt, các cuộn chỉ được sản xuất đồng thời;
trong một số trường hợp, các cuộn chỉ được dệt bằng các đường
biên lượn sóng trên một hoặc cả hai mặt.
(2) Các dải có bề rộng không 30cm, cắt từ các cuộn vải rộng hơn có sợi
ngang và sợi dọc (hoặc cắt theo chiều dọc hoặc chéo) và có các
đường viền lệch trên cả 2 đường biên, hoặc một đường viền dệt
thông thường trên một đường biên và một đường viền lệch trên một
đường biên khác. Các đường viền lệch được thiết kế để ngăn sự sổ
chỉ của một tấm vải khi cắt (hoặc rạch), ví dụ có thể gồm có 1 loạt
các mũi khâu quấn (gauze stitch) được dệt thành tấm vải lớn hơn
trước khi cắt (hoặc rạch), thuộc một mép rìa đơn giản, hoặc chúng
có thể được sản xuất bằng cách dán keo lên các đường biên của dải,
hoặc bằng cách kết hợp đường biên của các ruy băng làm từ sợi
nhân tạo. Các đường viền cũng được tạo ra khi một tấm vải được xử
lý trước khi cắt tấm vải thành các dải, bằng cách đó ngăn các đường
biên của những dải này không sổ sợi được. Hiển nhiên trong trường
hợp đó không có sự phân loại giữa vải khổ hẹp và các đường viền
lệch của nó. Các dải được cắt ra từ tấm vải nhưng chưa có một
đường viền thẳng hoặc lệch, trên mỗi đường biên, thì bị loại trừ
khỏi nhóm này và được phân loại với các loại vải dệt thoi thông
thường. (Đối với vải cắt chéo, xem đoạn 4 dưới đây).
(3) Vải có các sợi ngang và dọc có hình ống liền mạch và có bề rộng
khi được làm phẳng không vượt quá 30cm. Tuy nhiên, các tấm vải
có các dải với các biên vải được nối lại với nhau tạo thành một hình
ống (bằng cách may, dán keo hoặc các cách khác) bị loại trừ ra
khỏi nhóm này.
(4) Vải cắt chéo gồm có các dải, với các mép gấp, có chiều rộng khi
chưa gấp không quá 30cm, được cắt viền trên những điểm giao của
vải sợi dọc và sợi ngang. Vì thế, những sản phẩm này được cắt từ
những tấm vải rộng và không được cung cấp bằng một đường viền
xiên hoặc thẳng.
Các sản phẩm nói trên gồm có cả những ruy băng và vải làm đai cũng
như các dải trang sức có đặc điểm của các vải ruy băng dệt thoi .
Ruy băng thường làm từ tơ, lông cừu, bông, hoặc xơ nhân tạo, có hay
không có sợi đàn hồi hoặc sợi cao su, và chúng sử dụng để sản xuất quần
áo lót, quần áo phụ nữ, trong sản xuất mũ và cổ áo có trang trí, cuống
huân chương, chất liệu trong trang trí, đồ trang trí nội thất, vv...
Nhóm này cũng bao gồm vải dệt khổ khổ hẹp được làm từ sợi kim loại
với điều kiện loại vải này dùng cho may mặc, trang trí nội thất hoặc các
mục đích tương tự khác (xem phần Chú giải 7 của Chương này).
Các dải trang sức được phân loại ở đây là các dải ruy-băng hẹp; vải làm
đai thường là vải dệt thoi dày, chắc, hẹp, thường làm từ bông, lanh, đay,
để làm yên cương ngựa, để sản xuất dây đai, thắt lưng, dây bảo hiểm,
Nhóm này cũng bao gồm những loại vải làm rèm, chứa hai dải được nối
liền với nhau tại những khoảng cách vừa phải bằng các đường chỉ nhỏ,
toàn bộ những dải này thu được bởi một quá trình dệt đơn liên tục.
Các mặt hàng được đưa ra trong nhóm này thường là những mặt hàng
được dệt giống như cách dệt các loại vải thuộc Chương 50 đến 55 hoặc
thuộc nhóm 58.01 (các loại vải nhung), và các mặt hàng hoàn chỉnh
khác bằng các loại vải này đã được đề cập đến trong các đoạn (1) đến (4)
trên đây.
Các sản phẩm này vẫn được phân loại ở nhóm này khi đã được tẩm nước
(“ moiré ”), phủ hồ, in , vv...
These products remain classified here when watered (“ moiré ”),
(B) CÁC DÂY BUỘC
Nhóm này cũng gồm có các loại vải dệt khổ hẹp (các dây buộc) có khổ rộng
từ vài mm đến 1 cm, bao gồm sợi dọc (những sợi song song, sợi
monofilament hoặc sợi dệt) không có sợi ngang nhưng được liên kết với nhau
bằng một chất kết dính. Những loại vải này chủ yếu được sử dụng để buộc
những gói đồ, một số được sử dụng để làm đồ phụ kiện cho mũ phụ nữ.
Đôi khi chúng mang tên thương mại của người sử dụng được in với
những khoảng cách đều nhau. Điều này không ảnh hưởng đến việc phân
loại của chúng.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hoặc đã đóng gói hoặc đóng gói
để bán lẻ (nhóm 30.05).
(b) Vải dệt khổ hẹp với các đường viền dệt, các đồ trang trí bằng vải và
các dải tết (nhóm 58.08).
(c) Vải dệt khổ hẹp được đề cập chi tiết hơn ở các nhóm khác, những
loại vải này có đặc điểm :
(1) Các loại nhãn dệt, phù hiệu dệt và các sản phẩm tương tự dạng
dải (nhóm 58.07 hoặc 58.08).
(2) Các loại bấc đèn, lò, bật lửa, nến hoặc các loại tương tự (nhóm
(3) Các loại ống dẫn bằng hàng dệt, hoặc các loại ống tương tự
(nhóm 59.09).
(4) Băng tải hoặc băng truyền hoặc băng đai (nhóm 59.10).
(d) Các loại vải dệt thoi khổ hẹp đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép
thuộc Chương 59, đặc biệt các loại vải dệt khổ hẹp làm từ vải
nhung được ngâm tẩm cao su, để phủ con suốt (trục dệt) (nhóm
(e) Vải dệt thoi khổ hẹp (trừ những loại đã đề cập ở các Phần (A) (2)
trên) được làm theo phương pháp mô tả tại Phần (II) của Chú giải
tổng quát của Phần XI.
(f) Khóa kéo (nhóm 96.07) và các móc, mắt cài khóa hoặc các bấm,
làm từ kim loại thường, đã cố định tại các khoảng trên dải, với điều
kiện các móc và các khóa hoặc các bấm khác làm cho các mặt
hàng có đặc tính riêng (nhóm 83.08 hoặc 96.06 tùy từng trường
hợp cụ thể).
(g) Ruy băng đánh máy chữ (nhóm 96.12).
58.07 - Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng tương tự từ vật liệu
dệt, dạng chiếc, dạng dải hoặc đã cắt thành hình hoặc kích
cỡ, không thêu.
5807.10 - Dệt thoi
5807.90 - Loại khác
Theo các điều kiện được nêu dưới đây, nhóm này bao gồm:
(A) Các loại nhãn mác làm từ nguyên liệu dệt bất kỳ (kể cả hàng dệt
kim). Các loại nhãn này bao gồm những loại nhãn được sử dụng để
gắn lên quần áo, đồ gia dụng bằng lanh, đệm, lều, các loại đồ chơi
mềm của trẻ em, hoặc các loại hàng khác. Chúng là những nhãn
hiệu hữu dụng mang các dòng chữ (câu khắc) hoặc các hoa văn
riêng biệt. Những loại nhãn như vậy gồm có các nhãn hiệu thương
mại có tên thương mại hoặc tên thương mại của các nhà sản xuất
hoặc bản chất của nguyên liệu dệt được sử dụng ("tơ",
"viscorayon"...) và các loại nhãn được dùng cho các cá nhân (phù
hiệu học sinh, lính...) để xác định nhân thân của họ; các loại nhãn cá
nhân đôi khi có tên họ viết tắt, các con số hoặc đôi khi bao gồm một
khoảng trống để lưu in chữ viết tay.
(B) Phù hiệu và các sản phẩm tương tự làm từ những vật liệu dệt bất
kỳ (kể cả hàng dệt kim). Loại này gồm có các nhãn hiệu, biểu tượng,
"phù hiệu"... thuộc loại thông thường để khâu dán lên phía ngoài các
loại quần áo (phù hiệu thể thao, quân đội, phù hiệu địa phương hoặc
phù hiệu quốc gia,... các loại phù hiệu mang tên của các hội thanh niên,
những phù hiệu của các thủy thủ mang tên của các con tàu...).
Các loại nêu trên chỉ được phân loại trong nhóm này khi chúng có đầy
đủ các điều kiện sau:
(1) Chúng không là hàng thêu. Các dòng chữ (câu khắc) hoặc các hoa
văn trên các loại nhãn, phù hiệu được phân loại ở đây phần lớn được
sản xuất bằng việc dệt (thường là dệt nổi (broché) hoặc in ấn.
(2) Chúng ở dạng chiếc, dạng dải (thông thường là ở dạng dải) hoặc thành
các phần mảng riêng biệt được sản xuất bằng việc cắt thành cỡ hoặc theo
hình dạng nhưng không được chế tạo, sản xuất bằng cách khác.
Nhóm này không có các loại nhãn, phù hiệu và các loại tương tự, đã
được thêu (nhóm 58.10) hoặc sản xuất bằng các phương thức khác ngoài
cách cắt thành cỡ hoặc thành hình dạng (nhóm 61.17, 62.17 hoặc 63.07).
broché work) or by printing.
58.08 - Các dải bện dạng chiếc; dải, mảnh trang trí dạng chiếc,
không thêu, trừ loại dệt kim hoặc móc; tua, ngù và các mặt
hàng tương tự.
5808.10 - Các dải bện dạng chiếc
5808.90 - Loại khác
(A) CÁC DẢI BỆN DẠNG CHIẾC; DẢI, MẢNH TRANG TRÍ
DẠNG CHIẾC, KHÔNG THÊU, TRỪ CÁC LOẠI DỆT KIM
HOẶC MÓC
Ngoài các loại dải bện, phần (A) của nhóm này gồm có nhiều sản phẩm
khác nhau về chiều dài, được thiết kế để trang hoàng hoặc trang trí các
loại quần áo (ví dụ như quần áo phụ nữ, trang phục quân đội, trang phục
lễ hội cho các giáo sĩ, trang phục sân khấu) hoặc các loại trang trí nội
thất (kể cả đồ trang trí tàu thuyền hoặc xe cộ).
Chúng có thể được gắn các móc, khóa, lỗ xâu, dây và các sản phẩm bổ
trợ tương tự, với điều kiện đặc điểm các loại hàng thành phẩm của chúng
không bị ảnh hưởng; chúng được trang trí bằng các đồng Sêquyn, các
chuỗi hạt, và các phụ kiện tương tự, miễn là những loại này không được
gán bằng kỹ thuật gán hình (appliqué work) mà với kỹ thuật này chúng
được phân loại như hàng thêu thuộc nhóm 58.10.
Các sản phẩm được phân loại vào nhóm này gồm có :
(1) Các dải bện hình dẹt hoặc hình ống.
Các dải này thu được bằng cách đan chéo các sợi, hoặc sợi
monofilament, mảnh và các loại tương tự thuộc Chương 54. Đối với
các dải bện hình dẹt, các sợi chỉ chạy chéo từ một mép biên này đến
một mép biên khác theo hình zig-zag hoặc kiểu phức tạp hơn, trái
lại, các dải bện hình ống có các sợi chỉ chạy theo đường xoắn ốc;
trong cả hai trường hợp một nửa số sợi chạy theo một hướng và nửa
còn lại chạy theo hướng khác và kết lại theo một kiểu có sẵn, kiểu
có sẵn này thường rất đơn giản. Trong một số loại dải bện, các sợi
phụ có thể được kết lại với nhau theo chiều dài của tấm vải hoặc giữ
các biên vải, hoặc được đặt ở phần nối tiếp để sản xuất các kiểu
mẫu.
Các loại dải bện được sản xuất bằng một loại máy đặc biệt gọi là
máy tết băng vải hoặc máy có các suốt chỉ.
Sự đa dạng của dải bện kể cả dây buộc (ví dụ dây buộc giầy hoặc
ủng), các dây viền, các dải trang trí, các dây thừng trang trí, các dải
trang sức bện,... Dải bện hình ống có thể có một lõi dệt.
Dải bện được sử dụng để làm đường viền trang trí cho một số loại
quần áo (ví dụ dây viền trang trí) hoặc các đồ trang trí nội thất (dây
buộc rèm), các vỏ bọc ngoài dây điện, một số loại dây buộc giầy
nhất định hoặc các dây buộc áo choàng hay bộ trang phục hoặc các
accessories, provided these are not attached by sewn appliqué work in
dây đai lưng của bô áo choàng (của giáo sư đại học hoạc của quan
tòa)...
Các loại vải bện như vậy khác với các loại sản phẩm được tết hoặc
bện thuộc nhóm 56.07 căn cứ vào các nếp gấp của nó lỏng và cấu
trúc của nó cũng kém chặt chẽ hơn.
Tuy vậy, nói chung nhóm này loại trừ các loại vải bện được nêu cụ
thể hơn ở các nhóm hàng khác và cụ thể:
(a) Dải bện làm từ sợi monofilament có diện tích mặt cắt ngang
trên 1mm hoặc làm từ dải và các dạng tương tự độ rộng trên
5mm bằng plastic hoặc làm từ vật liệu tết bện khác (nhóm
(b) Dây xe, chão bện, dây thừng, dây cáp và chỉ giả catgut được tết
bện thuộc nhóm 56.07.
(c) Các loại bấc dùng cho các loại đèn, các loại lò, các loại bật lửa,
các loại nến hoặc những loại tương tự (nhóm 59.08).
(d) Ống dẫn và các loại ống tương tự (nhóm 59.09).
(e) Băng tải, băng truyền hoặc các loại băng đai thuộc nhóm 59.10.
(f) Các loại sản phẩm dùng trong kỹ thuật thuộc nhóm 59.11 (ví
dụ: các loại dây được sử dụng trong công nghiệp như là vật liệu
bôi trơn hoặc đóng gói).
(g) Khóa kéo (nhóm 96.07), và móc, mắt cài khóa hoặc các bấm
nén, bằng kim loại thường, cố định tại các khoảng trên dải bện,
miễn là các móc và mắt khóa và bấm nén tạo nên đặc điểm cơ
bản cho các sản phẩm (nhóm 83.08 hoặc 96.06 tùy từng trường
hợp).
(2) Dây thừng milan và dây thừng tương tự:
Các loại này là các sản phẩm dải viền giống như sợi được nẹp viền
nhưng có lõi dày hơn gồm có một bó sợi hoặc các sợi dệt thô mà các
sợi dệt thô này được xoắn trong suốt quá trình nẹp viền. Thường thì
chúng được làm thành dải bằng các loại sợi đã được xe chặt. Chúng
được phân loại ở đây theo ciều dài và được sử dụng như các đồ
trang trí có sẵn, để cho việc sản xuất các loại đai trang sức, kéo
mành cửa...
Nhóm này loại trừ các sợi kim loại được phủ bằng các nguyên liệu
dệt, ví dụ:
(a) Dây sắt hoặc thép dùng cho việc sản xuất khung mũ (dây thép
của người làm nón mũ) và cuống bằng dây thép hoặc sắt dùng
làm hoa giả hoặc làm dụng cụ uốn tóc (nhóm 72.17).
(b) Dây điện cách điện (nhóm 85.44)
(3) Vải dệt thoi khổ hẹp với các tua (đã rạch hoặc đã cắt) được dệt
thành mép của chúng.
Những sản phẩm này được sản xuất trên các máy dệt ruy băng, việc
bố trí trên các biên vải được sản xuất bằng các thao tác bằng tay từ
sợi ngang hoặc bằng cách sử dụng các sợi dọc thô lỏng được xem
như roquetins.
Trong trường hợp đầu tiên, sợi ngang không tạo thành một đường
viền với 2 sợi chỉ dọc ngoài nhưng lại trải ra vượt quá 2 sợi dọc để
tạo thành các móc; những cái móc này có được bằng cách đưa các
sợi ngang quay quanh hai hoặc nhiều sợi kim loại trên máy dệt, sợi
này song song đối với sợi dọc và được rút đi một khi tấm vải được
hoàn tất.
Trong trường hợp thứ hai, các sợi thớ nhão được kết hợp chặt chẽ
tạo thành đường viền tại các khoản bằng các sợi ngang nhất định -
trong khi các dây giữ sợi này từ tấm vải tại các khu vực đan xen, vì
thế tạo thành các móc.
Các móc được sản xuất bằng những quá trình này có thể có khoảng
cách rộng hơn hoặc kém rộng hơn và đặt cách nhau với độ rộng đều
nhau hay không đều nhau. Đôi khi chúng bị cắt để tạo thành một
đường biên có tua, đường biên có tua này sau đó có thể được thắt
nút lại hoặc được trang trí với những núm tua, các ngù,...
Những loại vải dệt thoi khổ hẹp này được sử dụng chủ yếu cho việc
trang trí nội thất hoặc các loại quần áo.
Các loại ruy băng hoặc viền và ruy băng răng cưa không được xếp
tại nhóm này (nhóm 58.06).
(4) Các dải trang trí thành phẩm khác ở dạng chiếc. Nhóm này cũng
bao gồm nhiều sản phẩm có bề rộng, hẹp khác nhau có độ dài phù
hợp để sử dụng trang trí quần áo, trang trí nội thất,...
Những loại sản phẩm này thường được sản xuất từ ruy băng hoặc
các loại băng, dải, viền hoặc các sản phẩm khác đã nêu trên. Chúng
có thể được làm bằng việc may hoặc bằng cách khác, hoặc bằng
cách lắp ghép hai hoặc nhiều loại ruy băng và dải với nhau để tạo
trang trí (ví dụ: các ruy băng hoặc các dải có các đồ trang trí hoặc
dải trang trí hoặc các dải trang điểm; các dải ruy băng hoặc các
băng, dải viền cùng với các quả tua hoặc các đồ trang trí khác được
lồng vào tại các khoảng cách dọc theo chiều dài, trừ bằng kỹ thuật
thêu.
Nhóm này không bao gồm các dải trang trí bằng dệt kim hoặc móc
thuộc các nhóm từ 60.02 đến 60.06.
intervals along the length, other than by appliqué embroidery work.
(B) TUA, NGÙ VÀ CÁC MẶT HÀNG TƯƠNG TỰ
Không giống như các sản phẩm của phần (A) trên, các sản phẩm này là các
sản phẩm đơn chiếc độc lập và bao gồm các tua, ngù trang trí đủ các cỡ và
các hình dạng và các đầu trang trí cho các dải trang trí nội thất...ví dụ :
(1) Các lõi (bằng gỗ hoặc các vật liệu khác) được bao bọc bằng các sợi
dệt có các đầu mút đôi khi được treo lơ lửng - nhiều loại được xếp
gọn nhiều loại được trang trí với các dây đăng ten hoặc với nhiều
núm trang trí.
(2) Các bó đơn giản của sợi dệt được gấp hoặc buộc bằng các đầu mút
treo lỏng.
(3) Các lõi có màu ôliu hoặc lõi hình quả (bằng gỗ, bằng giấy,...)
được bọc bằng các chất liệu dệt, đôi khi bằng một lõi mở cho phép
để sử dụng như một vòng trượt.
(4) Ngù gồm các sợi ngắn được đan với nhau một cách chắc chắn ở
giữa và các sợi chĩa ra mọi hướng.
Tất cả những loại này có thể được lắp một cái móc nhằm để gắn; chúng
được dùng chủ yếu để trang trí nội thất nhưng cũng dùng trong may mặc.
Chúng có đặc điểm trang trí nổi trội hơn.
Nhóm này không bao gồm các loại đồ trang trí riêng biệt trừ những loại
đã nêu trên.
Nơ hoa hồng làm bằng các loại dải và dải trang trí thuộc mục này được
phân loại trong nhóm 62.17 hoặc 63.07. Các loại quai đeo lưỡi lê, cầu
vai và các loại dây buộc làm từ dải bện và dải trang trí được phân loại ở
nhóm 62.17 và các dây giày, dây coocxê,... từ các chất liệu này, có các
đầu mút được bện với nhau hoặc được xử lý cách khác để ngăn sổ sợi,
cũng như các thắt nút (swordknot) làm bằng những chất liệu này được
phân loại ở nhóm 63.07.
Rất nhiều vật liệu được sử dụng trong việc sản xuất các loại sản phẩm
thuộc nhóm này. Các vật liệu bao gồm tơ, lông cừu, lông động vật mịn,
bông, sợi lanh, sợi nhân tạo và sợi trộn kim loại.
Bên cạnh các loại trừ nêu trên, nhóm này không bao gồm các dải trang
trí là các dải dệt thoi đơn giản như nêu tại định nghĩa về vải dệt thoi khổ
hẹp (nhóm 58.06).
58.09 - Vải dệt thoi từ sợi kim loại và vải dệt thoi từ sợi trộn kim loại
thuộc nhóm 56.05, sử dụng để trang trí, như các loại vải
trang trí nội thất hoặc cho các mục đích tương tự, chưa được
chi tiết hoặc ghi ở nơi khác.
Nhóm này bao gồm vải dệt thoi (như đã định nghĩa ở Phần (I) (C) của
Chú giải tổng quát Phần XI) làm từ các sợi trộn kim loại thuộc nhóm
56.05, và cả vải dệt thoi bằng sợi kim loại thuộc Phần XIV hoặc Phần
XV, với điều kiện chúng là những loại vải dùng trong may mặc, trang trí
nội thất hoặc các mục đích tương tự, chưa được nêu chi tiết hoặc ghi ở
nơi khác, đặc biệt là thuộc các nhóm trước của Chương này.
Các loại vải gồm có sợi kim loại hoặc sợi trộn kim loại cùng các loại sợi
dệt khác được phân loại ở đây, miễn là sợi kim loại hoặc sợi trộn kim
loại vượt quá khối lượng sợi dệt bất kỳ. Theo mục đích này sợi trộn kim
loại được xem như một vật liệu dệt và khối lượng của nó bằng toàn bộ
khối lượng của sợi dệt và sợi kim loại mà nó chứa (xem Phần (I) (A) của
Chú giải tổng quát Phần XI).
Nhóm này loại trừ vải dệt thoi không dùng trong may mặc, trang trí
hoặc các mục đích tương tự, ví dụ: dải vải sa lượt hoặc quần áo dệt bằng
sắt, đồng, thép, nhôm các kim loại quý,... (các nhóm 71.15, 73.14,
58.10 – Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu hoa văn
5810.10 - Hàng thêu không lộ nền
- Hàng thêu khác:
5810.91 - - Từ bông
5810.92 - - Từ xơ nhân tạo
5810.99 - - Từ vật liệu dệt khác
Hàng thêu được làm bằng các sợi thêu trên nền đã có sẵn làm từ vải
tuyn, lưới, lớp nhung, ruy băng, vải móc hoặc đan, đăng ten hoặc vải dệt
thoi, hoặc làm từ nỉ hoặc sợi không dệt, để tạo mẫu trang trí trên nền đó.
Chỉ thêu thường là đồ dệt, nhưng nhóm này cũng bao gồm cả các loại
vật liệu khác (ví dụ: kim loại, thuỷ tinh, hoặc sợi cọ). Vải nền thường tạo
thành một phần của sản phẩm thêu hoàn thiện nhưng trong một số
trường hợp nhất định nó được tách ra (ví dụ, bằng hóa học hoặc bằng
việc cắt) sau khi được thêu và chỉ có mẫu thiết kế được giữ lại. Một số
sản phẩm thêu nhất định không được làm bằng sợi thêu nhưng bằng các
dải hoặc các loại băng viền.
Chính vì vậy việc sản xuất bắt đầu từ một nền vải đã có sẵn khác với sản
phẩm thêu từ hàng ren, và hàng ren không được nhầm lẫn với hàng thêu
mà vải nền sẽ bị gỡ bỏ sau khi thêu xong. Sản phẩm thêu sẽ không bị lẫn
với các loại vải dệt có các mẫu thiết kế được sản xuất bằng sợi trang trí
trong suốt quá trình dệt (kiểu dệt lông chim và nổi hoa văn khác). Các
đặc điểm để phân biệt sản phẩm thêu với các sản phẩm khác sẽ có trong
phần Chú giải chi tiết này.
Hàng thêu có thể làm thủ công bằng tay hoặc bằng máy. Hàng thêu thủ
công bằng tay có kích thước nhỏ hơn, hàng thêu làm bằng máy thì
thường có độ dài lớn hơn.
bearing designs produced by broché threads during the weaving process
(plumetis and other broché work). Features distinguishing embroidery
Hàng thêu được phân loại vào nhóm này có 3 loại chính :
(I) HÀNG THÊU KHÔNG ĐỂ LỘ NỀN
Đây là loại hàng thêu mà nền vải đã bị loại bỏ (ví dụ bằng một quá trình
hóa học, bằng cắt bỏ). Vì thế vật liệu gồm có toàn bộ các mẫu thiết kế đã
thêu.
Vì nó không có nền, đồ thêu làm bằng máy thuộc loại này có thể bị
nhầm lẫn với hàng ren thuộc nhóm 58.04, tuy nhiên nó có thể được phân
biệt bằng cách căn cứ vào các điểm sau :
(A) Trong khi hàng ren được làm bằng một sợi chỉ đơn liên tục hoặc
bằng cách lồng 2 hoặc nhiều sợi chỉ nối liền với chức năng giống
nhau, và thường thì hàng ren có hai mặt giống nhau, còn hàng thêu
máy thuộc loại này gồm có 2 sợi chỉ với các chức năng khác nhau;
một là sợi thêu, hai là sợi con thoi nằm dưới tấm vải, loại thứ hai
thường mịn hơn loại sợi thứ nhất. Vì thế mặt phải và mặt trái của đồ
thêu hoàn toàn khác nhau, mặt phải biểu hiện hình nổi, mặt trái thì
hình dẹt.
(B) Các đường viền của hàng thêu cắt thường lộ ra các đầu mút nhỏ của
sợi vải nền chưa được loại bỏ hoàn toàn.
(II) HÀNG THÊU CÓ NỀN ĐƯỢC GIỮ LẠI SAU KHI THÊU
Đây là loại sản phẩm thêu mà trong đó sợi thêu thường không bao phủ
toàn bộ tấm vải nền, nhưng sợi thêu lộ ra để tạo thành các mẫu trên bề
mặt hoặc xung quanh các đường biên của tấm vải nền. Các mũi thêu
được sử dụng rất phong phú và bao gồm mũi thêu chạy, mũi khâu
chuyền, mũi khâu sau hoặc mũi khâu thắt, mũi khâu chữ chi, mũi khâu
hạt, mũi khâu vòng, mũi khâu lỗ. Về nguyên tắc toàn bộ mẫu thiết kế chỉ
có thể được thấy trên bề mặt phải của vải. Nhiều sản phẩm thêu khác
nhau có các lỗ nhỏ hoặc khoảng trống tạo ra bởi việc cắt, khoan lỗ trên
tấm vải nền với một con dao nhỏ hoặc bằng cách rút đi các sợi dọc hay
ngang (hoặc cả hai) từ tấm vải nền và sau đó được làm hoàn thiện hoặc
làm đẹp các tấm vải bằng các mũi thêu. Điều này làm cho các sản phẩm
thêu nhẹ nhàng hơn hoặc thậm chí có thể tạo sức hấp dẫn riêng của hàng
thêu; ví dụ kiểu thêu đăng – ten và thêu rút sợi.
Các vật liệu dệt chỉ được gia công bằng quy trình đơn giản là rút bỏ các
sợi chỉ không nằm trong nhóm này.
Với một số loại hàng thêu nhất định, mẫu thêu như mong muốn đầu tiên
được phác họa hoặc nhồi vào một đường chỉ lót để làm cho mẫu nổi hơn.
Một số máy sản xuất hàng thêu khác nhau, đặc biệt là đồ thêu bóng móc
và vải mutsơlin đã thêu, bề ngoài rất giống các loại vải musơlin dùng để
trang trí khác và các loại vải trang trí khác (ví dụ vải thêu nổi) được phân
loại trong các Chương từ 50 đến 55. Tuy nhiên, có thể phân biệt các sản
phẩm này qua các đặc điểm sau do phương pháp sản xuất đưa lại. Ở vải
trang trí nổi (broché), vì mẫu được sản xuất bằng các sợi trang trí nổi
được đưa vào trong suốt quá trình dệt, mỗi phần của các mẫu thiết kế
luôn luôn nằm giữa sợi ngang hoặc sợi dọc của tấm vải nền; trái lại ở các
tấm vải nền thêu, tấm vải nền được dệt trước khi sản xuất các mẫu trên
bề mặt. Để có được các mẫu này, tấm vải nền được căng ra trên máy
thêu vì vậy độ căng và vị trí của vải không thể ăn khớp hoàn toàn với các
mũi kim của máy dệt để lồng toàn bộ các phần tương ứng của đồ thêu
một cách chính xác giữa các sợi dọc và sợi ngang giống nhau thuộc vải
nền. Hơn nữa, các mũi kim xuyên các sợi của tấm vải nền thì không xảy
ra đối với các tấm vải trang trí nổi (broché).
Các đặc điểm phân biệt vải trang trí nổi và vải thêu này có thể được thấy
bằng việc tước các đường biên của mẫu.
embroidery and certain embroidered muslins, appear very similar to broché
muslins and other broché fabrics (e.g., plumetis) classified in Chapters 50
arising from their method of manufacture. In broché fabrics, since the
designs are produced by broché threads introduced during the course of the
in broché fabrics.
These distinguishing features of broché fabrics and embroidered fabrics
(III) THÊU ĐÍNH
Sản phẩm thêu đính gồm có một tấm nền làm từ vải dệt hoặc phớt mà
trên tấm nền này được may bằng các mũi thêu hoặc các mũi khâu thông
thường:
(A) Các hạt trang trí, các đồng xê-quin hoặc các đồ trang trí tương tự;
các đồ trang trí này thường được làm bằng thủy tinh, gelatin, kim
loại hoặc gỗ và chúng được khâu để tạo ra một mẫu trang trí hoặc
một mẫu rải trên tấm vải nền.
(B) Những hoa văn trang trí từ vật liệu dệt hoặc các vật liệu khác. Những
hoa văn này thường là một tấm vải dệt (kể cả đăng ten), làm bằng
kiểu dệt khác với kiểu dệt của tấm vải nền và các hoa văn trang trí
được cắt theo nhiều kiểu khác nhau và chúng được đính vào tấm vải
nền; trong một số trường hợp nhất định, tấm vải nền bị gỡ ra ở vị trí
đã được đính mẫu hoa văn.
(C) Sợi trang trí, sợi viền hoặc các loại trang trí khác vv... tạo mẫu trên
tấm vải nền.
Tất cả các loại hàng thêu khác nhau đã mô tả ở trên vẫn được phân loại
trong nhóm này khi ở các dạng sau:
(1) Dạng chiếc hay dạng dải với độ rộng khác nhau. Dạng chiếc hay
dạng dải này có một loạt các mẫu thêu giống nhau, bất kể có hay
không có ý định cho việc tách rời sau đó để tạo ra các sản phẩm
hoàn thiện (ví dụ, các dải nhãn thêu để làm nhãn các loại quần áo,
hoặc các mảnh đã thêu tại những khoảng cách bình thường đã tính
phải cắt và tạo thành các dải yếm).
(2) Ở dạng có mẫu trang trí hoa văn, ví dụ, các sản phẩm mẫu đã thêu
riêng biệt không có chức năng nào khác ngoài chức năng được kết
hợp hoặc được khâu đính như là những chi tiết của đồ thêu như cho
quần áo lót hoặc các loại quần áo hoặc đồ trang trí nội thất. Những
hoa văn trang trí này có thể được cắt thành hình bất kỳ, được bồi
hoặc được lắp ghép lại. Chúng bao gồm các phù hiệu, hình vẽ tượng
trưng, miếng nhận diện, tên họ viết tắt, các con số, hình ngôi sao,
huy hiệu quốc gia hoặc huy hiệu thể thao vv...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Hàng thêu trên vật liệu không dệt (ví dụ: da, nhựa, liễu gai, bìa
cứng).
(b) Các loại thảm trang trí thêu tay (nhóm 58.05).
(c) Các bộ sản phẩm gồm có vải dệt thoi và sợi để tạo thành các loại
khăn trải bàn hoặc khăn đã thêu hoặc các loại tương tự (nhóm
(d) Sản phẩm thêu (trừ các loại hoa văn trang trí) được sản xuất theo
phương pháp nêu tại Phần II thuộc Chú giải tổng quát Phần XI, ở
dạng hay không ở dạng các loại sản phẩm thêu đã hoàn tất để sử
dụng. Các loại đồ thêu cá nhân đã hoàn tất để sử dụng, các sản phẩm
serving no other function than to be incorporated or appliquéd as
này đã được thêu trực tiếp theo mẫu cuối cùng của chúng mà không
cần thêm quá trình sản xuất nào khác nữa. Phần lớn các loại sản
phẩm này được phân loại như là các sản phẩm hoàn chỉnh (Chương
61, 62, 63 hoặc 65) và bao gồm, ví dụ như khăn tay, tạp dề, cổ tay
áo, cổ áo, áo lót, quần áo, khăn trải, các loại khăn dùng để trải, khăn
trải bàn và màn.
(e) Hàng thêu bằng sợi thủy tinh không lộ nền (nhóm 70.19).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 5810.10
Phân nhóm này không bao gồm các loại hàng thêu đăng ten (broderie
58.11 - Các sản phẩm dệt đã chần (quilted) dạng chiếc, bao gồm một
hoặc nhiều lớp vật liệu dệt kết hợp với lớp đệm bằng cách
khâu hoặc cách khác, trừ hàng thêu thuộc nhóm 58.10.
Nhóm này gồm có các sản phẩm dệt dạng chiếc làm từ:
(1) một lớp vải, thường được dệt kim hoặc dệt thoi hoặc không dệt, và
một lớp nguyên liệu lót (ví dụ, từ sợi dệt thường có dạng mạng,
dạng phớt, dạng lót xenlulo, dạng nhựa bọt hoặc cao su bọt), hoặc
(2) hai lớp vải, thường được dệt kim hoặc dệt thoi hoặc không dệt hoặc
kết hợp các cách trên, được tách rời bằng một lớp lót.
Những lớp này được ghép với nhau bằng cách khâu hoặc may (bao gồm
mũi khâu khép) hoặc bằng các mũi khâu thẳng hoặc khâu trên một mẫu
trang trí, miễn là các mũi khâu được sử dụng chủ yếu để chần và không
tạo mẫu thêu mang đặc điểm của hàng thêu. Các lớp này có thể được liên
kết với nhau bằng những dây thắt nút hoặc bằng chất dính, bằng dây
nóng hoặc bằng các biện pháp khác, miễn là các sản phẩm được chần kỹ,
đó là kết quả giống như việc chần bằng cách khâu, các mũi kim hoặc là
hàng loạt các mũi khâu.
Những sản phẩm thuộc nhóm này có thể đã được ngâm tẩm, tráng hoặc
phủ, hay các tấm vải được sử dụng trong việc sản xuất có thể được
ngâm tẩm, tráng hoặc phủ.
Các nguyên liệu này thường được sử dụng để sản xuất hàng may mặc đã
chần, khăn trải giường hoặc bộ đồ dùng cho giường, khăn trải nệm, quần
áo, màn, thảm, khăn trải để cố định mép bàn,...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các tấm nhựa đã chần, bằng cách khâu hoặc được gắn bằng nhiệt,
với 1 lõi đã lót đệm (Chương 39).
(b) Các sản phẩm khâu hoặc các sản phẩm dệt chần trong đó các mũi
khâu tạo thành mẫu có đặc điểm của hàng thêu (nhóm 58.10).
(c) Các sản phẩm hoàn thiện thuộc Phần này (xem Chú giải 7 của
Phần).
(d) Các loại bộ đồ dùng cho giường hoặc đồ trang trí nội thất tương tự
thuộc Chương 94 đã được lót đệm hoặc được lắp đặt.
Chương 59
Các loại vải dệt đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép lớp; các mặt
hàng dệt thích hợp dùng trong công nghiệp
Chú giải.
1. Trừ khi có yêu cầu khác, theo mục đích của Chương này khái niệm
"vải dệt" chỉ áp dụng đối với vải dệt thoi thuộc các Chương từ 50 đến
55 và các nhóm 58.03 và 58.06, dải bện và dải, mảnh trang trí dạng
chiếc thuộc nhóm 58.08 và vải dệt kim hoặc móc thuộc nhóm 60.02
đến 60.06.
2. Nhóm 59.03 áp dụng đối với:
(a) Các loại vải dệt, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với plastic, bất
kể khối lượng tính trên 1m2 và bất kể tính chất của vật liệu plastic
(đặc hoặc xốp), trừ:
(1) Vải trong đó chất ngâm tẩm, tráng hoặc phủ không thể nhìn
được bằng mắt thường (thường ở các Chương từ 50 đến 55, 58
hoặc 60); theo mục đích của phần này, không cần quan tâm đến
sự thay đổi về màu sắc;
(2) Các sản phẩm không thể được quấn bằng tay quanh một trục
tròn có đường kính 7mm, ở nhiệt độ từ 15oC đến 30oC mà
không bị nứt vỡ (thường thuộc Chương 39);
(3) Các sản phẩm trong đó vải dệt hoặc được bọc hoàn toàn bằng
plastic hoặc được tráng hoặc phủ cả hai mặt bằng vật liệu đó,
miễn là việc tráng hoặc phủ có thể nhìn được bằng mắt thường
mà không cần quan tâm đến sự thay đổi về màu sắc (Chương
(4) Vải được tráng hoặc phủ từng phần bằng plastic và có họa tiết
do việc xử lí đó tạo nên (thường gặp ở các Chương từ 50 đến
55, 58 hoặc 60);
(5) Tấm, lá hoặc dải bằng plastic xốp, kết hợp với vải dệt, mà
trong đó vải dệt chỉ đơn thuần nhằm mục đích gia cố (Chương
39); hoặc
(6) Các sản phẩm dệt thuộc nhóm 58.11;
(b) Vải dệt từ sợi, dải hoặc từ các dạng tương tự, đã ngâm tẩm, tráng,
phủ hoặc bao ngoài bằng plastic, thuộc nhóm 56.04.
3. Theo mục đích của nhóm 59.03, khái niệm "vải dệt được ép với
plastic" nghĩa là các sản phẩm được tạo ra bằng cách ghép một hoặc
nhiều lớp vải với một hoặc nhiều tấm hoặc màng plastic và liên kết
các lớp với nhau bằng bất kỳ phương pháp nào, cho dù các tấm hoặc
màng plastic có hoặc không thể nhìn bằng mắt thường ở tiết diện cắt
4. Theo mục đích của nhóm 59.05, khái niệm "các loại hàng dệt phủ
tường" áp dụng đối với các sản phẩm ở dạng cuộn, chiều rộng không
dưới 45 cm, phù hợp để trang trí trần nhà hoặc tường, có bề mặt dệt
được gắn chặt trên lớp bồi hoặc được xử lý mặt sau (ngâm tẩm hoặc
tráng để có thể phết hồ).
Tuy nhiên, nhóm này không áp dụng cho các mặt hàng phủ tường có
xơ vụn hoặc bụi xơ dệt gắn trực tiếp trên lớp bồi giấy (nhóm 48.14)
hoặc trên lớp bồi vật liệu dệt (thường thuộc nhóm 59.07).
5. Theo mục đích của nhóm 59.06, khái niệm "vải dệt đã được cao su
hóa" có nghĩa là
(a) Vải dệt đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với cao su,
(i) Định lượng không quá 1.500 g/m2; hoặc
(ii) Định lượng trên 1.500 g/m2 và có hàm lượng vật liệu dệt
chiếm trên 50% tính theo khối lượng;
(b) Các loại vải làm từ sợi, dải hoặc các dạng tương tự, đã được ngâm
tẩm, tráng, phủ hoặc bao ngoài bằng cao su, thuộc nhóm 56.04; và
(c) Các loại vải gồm sợi dệt đặt song song được liên kết với cao su,
bất kể khối lượng tính trên 1m2 của chúng.
Tuy nhiên, nhóm này không áp dụng cho các tấm, tờ hoặc dải
bằng cao su xốp, kết hợp với vải dệt, mà trong đó vải dệt chỉ đơn
thuần phục vụ cho mục đích gia cố (Chương 40), hoặc các sản
phẩm dệt thuộc nhóm 58.11.
6. Nhóm 59.07 không áp dụng cho:
(a) Các loại vải trong đó việc ngâm tẩm, tráng hoặc phủ không thể
nhìn thấy được bằng mắt thường (thông thường thuộc các Chương
từ 50 đến 55, 58 hoặc 60); theo mục đích của phần này, không tính
đến sự thay đổi về màu sắc;
(b) Vải được vẽ các hoạ tiết (trừ vải canvas đã sơn vẽ để làm phông
cảnh cho rạp hát, phông trường quay hoặc các loại tương tự);
(c) Vải được phủ từng phần bằng xơ vụn, bụi xơ, bột cây bần hoặc
các loại tương tự và mang họa tiết do việc xử lý đó tạo nên; tuy
nhiên, các loại vải giả nổi vòng cũng được phân loại trong nhóm
này;
(d) Vải được hoàn thiện bằng cách hồ thông thường có thành phần cơ
bản là tinh bột hoặc các chất tương tự;
(e) Gỗ lớp mặt trên lớp vải nền (nhóm 44.08);
(f) Hạt mài hoặc bột mài tự nhiên hoặc nhân tạo, trên lớp vải nền
(nhóm 68.05);
(g) Mica liên kết khối hoặc tái chế, trên lớp vải nền (nhóm 68.14);
hoặc
(h) Lá kim loại trên lớp vải nền (thường thuộc Phần XIV hoặc XV).
7. Nhóm 59.10 không áp dụng đối với:
(a) Băng truyền hoặc băng tải, bằng vật liệu dệt, có độ dày dưới 3
mm; hoặc
(b) Băng truyền hoặc băng tải hoặc dây cuaroa bằng vải dệt đã ngâm
tẩm, tráng, phủ hoặc ép với cao su hoặc làm từ sợi dệt hoặc sợi
bện (cord) đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bao ngoài bằng cao su
(nhóm 40.10).
8. Nhóm 59.11 áp dụng đối với các loại hàng hoá dưới đây, những loại
hàng hoá này không xếp vào bất kỳ nhóm nào khác của Phần XI:
(a) Sản phẩm dệt dạng tấm, được cắt thành từng đoạn hoặc đơn giản
là cắt thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông) (trừ các loại sản
phẩm có đặc tính của các sản phẩm thuộc các nhóm từ 59.08 đến
59.10), chỉ có các loại sau:
(i) Vải dệt, phớt và vải dệt thoi lót phớt, đã được tráng, phủ, bọc
hoặc ép với cao su, da thuộc hoặc vật liệu khác, dùng để làm
vải nền kim chải, và các loại vải tương tự sử dụng cho các mục
đích kỹ thuật khác, kể cả vải nhung khổ hẹp được ngâm tẩm
bằng cao su, dùng để bọc các trục dệt (trục cuộn vải dệt);
(ii) Vải dùng để rây sàng;
(iii) Vải lọc dùng trong công nghệ ép dầu hoặc các mục đích
tương tự, làm từ vật liệu dệt hoặc làm từ tóc người;
(iv) Vải dệt thoi dạng tấm với nhiều lớp sợi dọc hoặc sợi ngang,
có hoặc không tạo phớt, ngâm tẩm hoặc tráng, dùng cho máy
móc hoặc cho các mục đích kỹ thuật khác;
(v) Vải dệt được gia cố bằng kim loại, dùng cho các mục đích kỹ
thuật;
(vi) Sợi bện (cord), dây tết hoặc loại tương tự, có hoặc không
ngâm tẩm, tráng hoặc gia cố bằng kim loại, dùng trong công
nghiệp như vật liệu để đóng gói hoặc vật liệu bôi trơn;
(b) Các mặt hàng dệt (trừ các sản phẩm thuộc các nhóm từ 59.08 đến
59.10) loại sử dụng cho các mục đích kỹ thuật (ví dụ, vải dệt và
phớt, được dệt vòng liền hoặc kèm theo cơ cấu nối ráp, dùng trong
máy sản xuất giấy hoặc các máy tương tự (ví dụ, để chế biến bột
giấy hoặc ximăng amiăng), các miếng đệm, gioăng, đĩa đánh bóng
hoặc các chi tiết máy khác).
59.01- Vải dệt được tráng gôm hoặc hồ tinh bột, dùng để bọc ngoài
bìa sách hoặc loại tương tự; vải can; vải canvas đã xử lý để
vẽ; vải hồ cứng và các loại vải dệt đã được làm cứng tương tự
để làm cốt mũ.
5901.10 - Vải dệt được tráng gôm hoặc hồ tinh bột, dùng để bọc
ngoài bìa sách hoặc các loại tương tự
5901.90 - Loại khác
(1) Vải dệt đã được tráng gôm hoặc hồ tinh bột dùng để bọc ngoài
bìa sách hoặc các loại tương tự.
Loại vải này thường là vải dệt vân điểm, thường làm từ bông, lanh
hoặc sợi nhân tạo, đã được tráng nhiều gôm hoặc hồ tinh bột (ví dụ
như: tinh bột), loại được sử dụng trong sản xuất tấm bọc ngoài bìa
của sách, hộp, tranh ảnh hoặc hộp đựng dao kéo, vỏ dao,...
Những sản phẩm này có thể không được tẩy trắng, tẩy trắng, nhuộm,
hoặc in và bề mặt thường được xếp nếp, gấp nếp, bọc da sargin (có
bề mặt thô), chạm nổi hoặc gia công bằng cách khác.
Các loại vải sử dụng cho các mục đích tương tự, được ngâm tẩm,
hoặc tráng bằng plastic (ví dụ: giả da) bị loại trừ khỏi nhóm này
(nhóm 59.03).
(2) Vải can.
Vải can là loại vải được dệt dày và kỹ, thường chúng làm bằng bông
hoặc lanh, đã được xử lý (ví dụ, như được xử lý bằng nhựa cây tự
nhiên) vì thế có bề mặt trơn mịn và hầu như trong suốt vì thế thích
hợp cho việc đồ lại bức vẽ của các kiến trúc sư, những người phác
họa thiết kế, ...
(3) Vải bạt đã được xử lý để vẽ.
Vải bạt đã được xử lý để vẽ, thường làm bằng lanh, sợi gai dầu hoặc
bông, được cắt theo kích thước và sau đó được phủ một mặt với
một hỗn hợp dầu hạt lanh với các chất khác (chẳng hạn như: ôxit
kẽm). Vải bạt được xử lý để vẽ thường ở dạng tấm có kích thước
phù hợp cho việc kéo căng trên khung, nhưng vẫn phải được phân
loại ở nhóm này dù là nó có được gia cố bằng gỗ hoặc bìa cứng.
(4) Vải hồ cứng và các loại vải dệt tương tự đã được làm cứng làm
để làm cốt mũ.
Các loại vải dệt cứng này thường được tạo ra bằng cách ngâm tẩm 1
lớp vải dệt thưa, nhẹ với chất kết dính và các chất làm đầy (chẳng
hạn như: keo hồ hoặc hồ tinh bột trộn với bột cao lanh). Một số loại
vải hồ cứng hoặc các loại vải tương tự được tạo nên bằng cách dán
2 loại vải cứng này với nhau. Loại vải này chủ yếu được sử dụng
cho việc sản xuất cốt mũ thuộc nhóm 65.07.
Vải sử dụng cho các mục đích tương tự, được ngâm tẩm hoặc tráng
plastic thì bị loại trừ (nhóm 59.03)
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm được mô tả ở đoạn (1), (2) và
(4) nói trên khi đã hoàn thiện như đã mô tả trong Phần (II) của Chú giải
tổng quát Phần XI.
59.02 - Vải mành dùng làm lốp từ sợi có độ bền cao từ ni lông hoặc
các polyamit khác, các polyeste hoặc viscose rayon.
5902.10 - Từ ni lông hoặc các polyamit khác
5902.20 - Từ các polyeste
5902.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm vải mành dùng làm lốp, đã được hoặc chưa được
nhúng hoặc ngâm tẩm với cao su hoặc plastic.
Vải loại này được sử dụng trong sản xuất lốp xe và bao gồm sợi dọc từ
các sợi filament song song, được cố định, với những khoảng cách nhất
định, bằng các sợi ngang. Sợi dọc luôn bao gồm các sợi có độ bền cao từ
nylon hoặc polyamit khác, polyeste hoặc tơ nhân tạo visco, trong khi sợi
ngang được xếp ngang với khoảng cách khá xa và mục đích duy nhất là
để giữ cho sợi dọc đứng yên, cũng có thể có thêm các sợi khác. Xem
thêm mô tả về sợi có độ bền cao tại Chú giải 6 Phần XI.
Nhóm này không bao gồm các loại vải dệt thoi khác được sử dụng để
sản xuất lốp xe cũng như các loại vải sợi không thỏa mãn các chi tiết kỹ
thuật của Chú giải 6 Phần XI (Chương 54 hoặc nhóm 59.03 hoặc 59.06,
tùy từng trường hợp).
59.03 - Vải dệt đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với plastic,
trừ các loại thuộc nhóm 59.02.
5903.10 - Với poly (vinyl clorua)
5903.20 - Với polyurethan
5903.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại vải dệt đã được ngâm tẩm, phủ, tráng hoặc
ép với plastic (ví dụ như poly (vinyl chloride )).
Những sản phẩm nói trên được phân loại trong nhóm này không tính đến
trọng lượng của chúng trên m2 và tính chất của thành phần plastic (đặc
hoặc xốp), với điều kiện:
(1) Trong trường hợp vải được ngâm tẩm, phủ, tráng, các chất ngâm tẩm,
phủ hoặc tráng có thể được nhận biết bằng mắt thường không tính
đến sự thay đổi về màu sắc.
Vải dệt được ngâm tẩm, phủ, hoặc tráng, không thể nhận thấy bằng
mắt thường hoặc có thể nhìn thấy được là do sự thay đổi về màu sắc
thì được phân vào các Chương 50 đến 55, 58 hoặc 60. Loại vải này
được thấm tẩm các chất với mục đích duy nhất là làm cho chúng có
thể chống nhăn, gấp, chống mối mọt (cắn quần áo), chống co lại
hoặc chống thấm nước (ví dụ như: vải ga-ba-din và vải pop-pơ-lin
không thấm nước). Vải dệt được phủ hoặc tráng từng phần bằng
plastic và có các họa tiết nhờ việc xử lý nói trên cũng được phân
loại vào các Chương từ 50 đến 55, 58 hoặc Chương 60.
(2) Những sản phẩm này không cứng lắm, chẳng hạn như, chúng có thể
được cuộn (không bị gãy) xung quanh 1 trục có đường kính 7 mm, ở
nhiệt độ trong khoảng 150C và 300C.
(3) Vải dệt chưa được bọc hoàn toàn, hay chưa được phủ hoặc tráng trên
2 mặt, bằng plastic.
Những sản phẩm không thỏa mãn những yêu cầu của phân đoạn (2) hoặc
(3) trên, thì được phân loại vào Chương 39. Tuy nhiên, vải dệt được phủ
hoặc tráng trên 2 mặt bằng plastic mà các chất phủ, tráng không thể
nhận thấy bằng mắt thường, hoặc chỉ có thể nhìn thấy bởi sự thay đổi về
màu sắc, thường được phân loại vào các Chương từ 50 đến 55, 58 hoặc
60. Trừ trường hợp các sản phẩm dệt của nhóm 58.11, vải dệt kết hợp
với tấm, lá hoặc dải bằng plastic xốp, ở đây vải dệt chỉ đóng vai trò gia
cố, và cũng được phân loại vào Chương 39 (Xem Chú giải tổng quát
Chương 39, phần có tên là "sự kết hợp giữa plastic và vật liệu dệt",
đoạn gần cuối).
Nhóm này cũng bao gồm “vải dệt được ép với plastic” như đã định nghĩa
tại Chú giải 3 Chương này.
Các loại vải được ép của nhóm này không được nhầm lẫn với vải đã
được ghép các lớp một cách đơn giản bằng chất dính plastic (thường
được phân loại vào các Chương từ 50 đến 55).
Trong nhiều loại vải dệt được phân loại ở nhóm này, vật liệu plastic
thường được nhuộm màu, tạo thành 1 lớp trên bề mặt, lớp này có thể là
trơn hoặc được chạm nổi để làm giả da sần (vải da).
Nhóm này cũng bao gồm vải đã được nhúng (trừ những sản phẩm thuộc
nhóm 59.02), đã được ngâm tẩm để làm tăng khả năng kết dính của
chúng với cao su và vải dệt được phun bằng cách xịt các hạt có thể nhìn
thấy của nguyên liệu nhựa nhiệt dẻo và có khả năng tạo một lớp liên kết
với các loại vải khác hoặc vật liệu khác khi dùng nhiệt và áp suất cao.
Nhóm này cũng bao gồm vải dệt làm bằng sợi, dải hay các vật liệu tương
tự, đã được ngâm tẩm, phủ, tráng hoặc bao ngoài bằng plastic, thuộc
nhóm 56.04.
Các loại vải thuộc nhóm này được sử dụng cho nhiều mục đích khác
nhau kể cả dùng để làm vật liệu trang trí nội thất và sản xuất túi xách và
các đồ dùng du lịch, áo quần, dép lê, đồ chơi..., dùng để đóng sách, như
băng dính, dùng trong sản xuất các thiết bị điện...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Sản phẩm dệt đã chần thuộc nhóm 58.11.
(b) Vải dệt được phủ hoặc tráng plastic dùng để trải sàn (nhóm 59.04).
(c) Vải dệt được ngâm tẩm, hoặc tráng có những đặc điểm giống vải phủ
tường (nhóm 59.05).
(d) Vải dệt được ngâm tẩm, phủ, tráng hoặc ép với plastic đã hoàn thiện
như đã mô tả chi tiết trong Phần (II) của Chú giải tổng quát
Phần XI.
59.04 - Vải sơn, đã hoặc chưa cắt thành hình; các loại trải sàn có
một lớp tráng hoặc phủ gắn trên lớp bồi là vật liệu dệt, đã
hoặc chưa cắt thành hình.
5904.10 - Vải sơn
5904.90 - Loại khác
(1) Vải sơn.
Vải sơn là loại vải có lớp bồi là vật liệu dệt (thường là vải canvas
làm từ sợi đay nhưng thỉnh thoảng cũng được làm bằng bông...)
được phủ một mặt bằng chất kết dính đặc bao gồm dầu hạt lanh đã
ôxy hóa, nhựa cây và gôm và chất làm đầy (thường là lie (bần) tán
nhỏ đôi lúc là mạt cưa hoặc bột gỗ); trong hầu hết các trường hợp
chất màu cũng được thêm vào chất kết dính nói trên. Có thể là màu
trơn hoặc có hình, hoa văn; trong trường hợp có hình, hoa văn, thì
hình và hoa văn đó có được là do in hoặc, bằng cách dùng chất kết
dính có màu khác nhau đối với vải sơn đã được khâu.
Khi chất kết dính được làm bằng lie (bần) tán nhỏ nhưng không có
chất màu, vật liệu thu được cũng có thể biết đến như thảm lie (bần).
Loại vật liệu này không được nhầm lẫn với loại thảm nền dệt hoặc
các sản phẩm khác làm từ lie (bần) kết dính thuộc nhóm 45.04 -
nhóm mà các sản phẩm không được làm từ hỗn hợp vải sơn được đề
cập ở phần trên và thường thô hơn và kém dẻo hơn.
Vải sơn có độ dày khác nhau và dùng làm tấm trải sàn cũng như phủ
tường, phủ giá kệ,...
Nhóm này cũng bao gồm các loại vải dệt, phần lớn là vải bông dệt
thoi, được phủ bột dẻo vải sơn không có chất màu. Những sản
phẩm này có mặt làm bằng lie (bần) và được dùng để sản xuất phần
lót trong của giầy.
(2) Các loại tấm trải sàn gồm một lớp tráng hoặc phủ gắn trên một
lớp bồi là vật liệu dệt.
Những loại trải sàn này tương đối cứng, làm từ vật liệu khó bị mòn,
sờn gồm một lớp bồi là vật liệu dệt (kể cả phớt) được tráng một mặt
vì thế lớp nền đó bị che khuất hoàn toàn. Hỗn hợp thường có dầu và
bột đá phấn, sau khi quét hỗn hợp này lên lớp bồi thì được phủ bằng
sơn. Những sản phẩm cũng có thể bao gồm 1 lớp plastic dày (ví dụ
như: poly (vinyl chloride) hoặc thậm chí đơn giản chỉ là các lớp sơn
được phủ trực tiếp lên lớp bồi là vật liệu dệt.
Trong nhiều trường hợp những sản phẩm thuộc nhóm này cũng được
phủ lên trên lớp nền để tăng độ bền. Những sản phẩm này vẫn được phân
loại vào nhóm này dù ở dạng cuộn hay được cắt thành hình sẵn sàng để
sử dụng.
Nhóm này không bao gồm phiến và tấm, bằng hỗn hợp vải sơn và các
tấm trải sàn, không có lớp bồi; những sản phẩm này được phân loại theo
vật liệu tạo thành chúng (Chương 39, 40, 45...).
Nhóm này cũng không bao gồm phần lót trong của giày (nhóm 64.06).
59.05 – Các loại vải dệt phủ tường.
Nhóm này bao gồm các loại vải dệt phủ tường thỏa mãn các định nghĩa
trong Chú giải 4 của Chương 59, nghĩa là, các sản phẩm ở dạng cuộn,
chiều rộng không dưới 45 cm, dùng để trang trí trần nhà hoặc tường, có
bề mặt dệt được gắn cố định trên lớp bồi là bất kỳ vật liệu nào (ví dụ,
giấy) hoặc đã được xử lý mặt sau (ngâm tẩm hoặc tráng để có thể dán,
dính).
Nhóm này bao gồm :
(1) Sợi xếp song song, vải dệt thoi, phớt, vải được dệt kim hoặc móc (kể
cả vải khâu đính), được gắn trên 1 lớp bồi làm bằng vật liệu bất kì.
(2) Sợi xếp song song, vải dệt thoi hoặc ren, đăng ten, trên 1 lớp plastic
mỏng được gắn lên 1 lớp bồi làm bằng vật liệu bất kì.
(3) Sợi xếp song song (lớp trên cùng), được gắn bằng đường may vào
một lớp không dệt mỏng (lớp giữa), được bôi keo lên trên 1 lớp bồi
làm bằng vật liệu bất kì.
(4) Mạng sợi dệt (lớp trên cùng) được gắn bằng cách may, với các sợi
chồng lên nhau (lớp giữa), được bôi keo lên 1 lớp bồi làm bằng vật
liệu bất kì.
(5) Sản phẩm không dệt, phủ trên mặt 1 lớp xơ vụn (giả da lộn) và được
phết hoặc bôi keo lên 1 lớp bồi làm bằng vật liệu bất kì .
(6) Vải dệt thoi được trang trí bằng các hình vẽ bằng tay, được gắn cố
định trên 1 lớp bồi làm bằng vật liệu bất kì .
Đối với tấm phủ tường thuộc nhóm này, bề mặt dệt có thể được phủ
màu, in hình hoặc được trang trí bằng cách khác và trong trường hợp có
lớp bồi, thì có thể phủ toàn bộ hay một phần lớp bồi.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Tấm phủ tường làm bằng plastic như đã được định nghiã tại Chú giải
9 của Chương 39 (nhóm 39.18).
(b) Tấm phủ tường bằng giấy hoặc giấy phủ plastic, được trang trí trực
tiếp trên bề mặt bằng xơ vụn và bụi xơ (nhóm 48.14).
(c) Vải dệt phủ xơ vụn, có hoặc không có sẵn một lớp bồi hoặc được
ngâm tẩm hoặc tráng để có thể phết hồ (nhóm 59.07).
(5) Nonwovens, surface-covered with textile flock (imitation suède) and
59.06 - Vải dệt cao su hoá, trừ các loại thuộc nhóm 59.02.
5906.10 - Băng dính có chiều rộng không quá 20 cm
- Loại khác :
5906.91 - - Vải dệt kim hoặc móc
5906.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm:
(A) Vải dệt được ngâm tẩm, phủ, tráng hoặc ép bằng cao su, kể cả vải
được nhúng (trừ những sản phẩm thuộc nhóm 59.02), có trọng
lượng:
(1) Không quá 1.500 g/m2, không tính đến tỷ lệ giữa nguyên liệu dệt
và cao su; hoặc
(2) Nếu quá 1.500 g/m2, thì trọng lượng của vật liệu dệt lớn hơn
Vải phủ cao su này chủ yếu để sản xuất hàng may mặc chống thấm
nước, trang phục đặc biệt chống phóng xạ, sản phẩm bơm hơi, dụng
cụ cắm trại, đồ vệ sinh, vv...
Một số loại vải dùng để bọc nệm, được phủ một lớp mủ cao su
mỏng, không nhất thiết thuộc loại chống thấm nước, vẫn được phân
loại trong nhóm này.
Không nên nhầm lẫn vải loại này với vải được dán lớp bằng chất dính
cao su, như sản phẩm dùng cho thân xe (coachwork) hoặc cho giầy
dép. Mặt cắt ngang của loại vải thứ hai không cho thấy bề dày của cao
su và chúng thường được phân loại vào các Chương từ 50 đến 55.
(B) Vải làm từ sợi, dải hoặc các vật liệu tương tự, được ngâm tẩm, phủ,
tráng hoặc bao ngoài bằng cao su, thuộc nhóm 56.04.
(C) Vải không có sợi ngang hình thành bởi các sợi song song được kết
lại bằng keo dính hoặc cán láng bằng cao su, không xét đến trọng
lượng của chúng tính trên một mét vuông. Những sản phẩm này
dùng để sản xuất lốp xe, ống cao su, băng truyền hoặc băng tải hoặc
băng đai, vv....
(D) Băng dính, kể cả băng dính cách điện, trong đó lớp bồi làm bằng vải
dệt, đã được hoặc chưa đươc phủ cao su trước đó và chất dính bằng
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng dính ngâm tẩm hoặc tráng bằng dược chất hoặc làm thành
dạng nhất định hoặc được đóng gói để bán lẻ phục vụ cho mục đích
y tế, phẫu thuật, nha khoa, hoặc thú y (nhóm 30.05).
(b) Vải phủ cao su làm từ loại được mô tả trong đoạn (A) (2) ở trên
nhưng trọng lượng của nguyên liệu dệt không quá 50% (nhóm
40.05 hoặc 40.08).
(c) Phiến, tấm, hoặc dải làm từ cao su xốp kết hợp với vải dệt, trong đó
vải dệt chỉ đóng vai trò gia cố (nhóm 40.08). Khi đề cập đến các
tiêu chí để phân biệt giữa những sản phẩm này và các sản phẩm
tương tự thuộc nhóm 59.06 thì xem mục (A) của Chú giải chi tiết
của nhóm 40.08.
(d) Băng tải hoặc băng truyền và băng đai, thường bao gồm vải cốt lốp
(carcass) làm từ nhiều lớp vải dệt (được hoặc không được cao su
hóa) được phủ cao su lưu hóa (nhóm 40.10).
(e) Thảm, vải sơn và các tấm trải sàn khác được bồi bằng cao su để làm
tăng tính đàn hồi và kết dính với sàn (Chương 57 hoặc nhóm 59.04
tùy từng trường hợp).
(f) Sản phẩm dệt được chần thuộc nhóm 58.11.
(g) Vải dệt (có hay không có phớt) có nhiều lớp vải được kết lại bằng
cao su và lưu hóa dưới áp suất, loại được dùng trong việc sản xuất
bằng máy kim chải, lớp in lót hoặc các sản phẩm khác tương tự
dùng cho mục đích kỹ thuật, kể cả vải khổ hẹp làm từ nhung được
ngâm tẩm cao su, dùng để bọc các trục dệt (nhóm 59.11).
(h) Vải được cao su hóa đã hoàn thiện như được mô tả tại phần (II) của
Chú giải tổng quát Phần XI (thường là các Chương từ 61 đến 63).
59.07 – Các loại vải dệt được ngâm tẩm, tráng hoặc phủ bằng cách
khác; vải canvas được vẽ làm phông cảnh cho rạp hát, phông
trường quay hoặc loại tương tự.
(I) CÁC LOẠI VẢI DỆT ĐÃ ĐƯỢC NGÂM TẨM, PHỦ
HOẶC TRÁNG BẰNG CÁCH KHÁC
Nhóm này gồm vải dệt (không kể các sản phẩm thuộc nhóm từ 59.01
đến 59.06), đã được ngâm tẩm, phủ hoặc tráng, với điều kiện việc ngâm
tẩm, phủ, tráng có thể nhìn thấy bằng mắt thường; theo mục đích đó,
không cần xem xét đến việc thay đổi về màu sắc do quá trình thấm tẩm,
phủ hoặc tráng tạo ra.
Vải dệt, trong đó việc ngâm tẩm, phủ hoặc tráng không thể nhìn thấy
hoặc có thể nhìn thấy là do có sự thay đổi màu sắc, và vải hoàn thiện
bằng cách hồ thông thường chủ yếu là chất bột hoặc các chất tương tự, bị
loại ra khỏi nhóm này (xem Chú giải 6 của Chương này); những sản
phẩm này thường được phân loại vào các Chương từ 50 đến 55, 58
hoặc 60. Ví dụ về loại vải kiểu này bị loại trừ là loại vải đã được thấm
tẩm với hồ, tinh bột hoặc các chất hồ tương tự (ví dụ như vải phin
(organdies), vải muslin), hoặc với các chất chỉ dùng cho mục đích chống
nhăn, chống mối mọt, chống co hoặc chống thấm nước (ví dụ như vải
ga-ba-din và pô-pơ-lin chống thấm nước).
Vải được kể đến ở đây bao gồm :
(A) Vải được phủ, tráng nhựa đường, bitum hoặc các sản phẩm tương tự,
chúng dùng để làm vải sơn dầu hoặc các loại vải để đóng gói khác.
(B) Vải phủ sáp.
(C) Vải mịn được phủ hoặc ngâm tẩm chế phẩm mà thành phần chính là
nhựa cây tự nhiên và long não hoặc được làm cho không thấm thấu
được bằng cách đem đi ngâm tẩm hoặc phủ dầu (đôi lúc được biết
đến dưới tên sau "Tafftetas cirés")
(D) Vải dệt khác được phủ hoặc ngâm tẩm dầu hoặc các chế phẩm có
thành phần chủ yếu là dầu khô (drying oil).
Nhóm này bao gồm vải dầu là loại vải thường làm từ bông hoặc
lanh, được phủ trên 1 hoặc 2 mặt với các chất dán chủ yếu bao gồm
dầu hạt lanh được ôxy hóa, chất làm đầy vào và chất màu.
Nhóm này cũng bao gồm vải dùng để đóng gói, vải thô bền làm từ
sợi cây gai dầu, sợi đay, bông, lanh hoặc sợi nhân tạo có thể chống
thấm nước bằng cách phủ 1 lớp dày hỗn hợp dầu khô (drying oil) và
bồ hóng.
(E) Vải phủ si-li-cát làm cho chúng có thể chịu lửa (ví dụ tấm chắn chịu
lửa).
(F) Vải được tráng phủ hoàn toàn với lớp màu đồng nhất của sơn hoặc
bột kim loại
(G) Vải, bề mặt được phủ keo dán (keo dán cao su hoặc loại khác), chất
liệu plastic, cao su hoặc các vật liệu khác và được rắc 1 lớp mịn các
vật liệu khác như :
(1) Bột xơ vụn hoặc bụi xơ để sản xuất vải giả da lộn, (Vải được
làm bằng cách tương tự với sợi dệt dài hơn bị loại trừ khỏi
nhóm này nếu chúng có đặc điểm giống da lông nhân tạo thuộc
nhóm 43.04). Vải phủ xơ vụn hoặc bụi xơ để làm giả vải tuyết
nhung (ví dụ như: vải nhung kẻ) vẫn được phân loại trong nhóm
or coating with oil (sometimes known as “ taffetas cirés ”).
(1) Textile flock or dust to produce imitation suèdes. (Fabrics
này.
(2) Lie (bần) ở dạng bột (ví dụ: dùng phủ tường).
(3) Bột hoặc hạt thủy tinh nhỏ (như vi hạt thủy tinh dùng cho màn
hình máy chiếu phim).
(4) Mica ở dạng bột.
(H) Vải đã được ngâm tẩm ma-tít chủ yếu là va-sơ-lin hoặc các loại
matít khác, dùng để dán kính, để làm mái chống thấm nước, sửa
chữa máng nước,...
Nhóm này không bao gồm vải có hoa văn với các hình mẫu có được do
sơn hoặc phủ (ví dụ: với bụi xơ dệt - xem Chú giải 6 của Chương này)
(nhìn chung chúng được phân loại vào các nhóm 59.05 hoặc các
Chương từ 50 đến 55, 58 hoặc 60).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Tơ dầu và các loại vải thấm dầu tương tự đã được làm thành các hình
dạng hoặc đóng gói để bán lẻ dùng cho mục đích y tế, phẫu thuật
hay thú y; đồ băng bó đã tẩm thuốc; băng đã phủ thạch cao dùng cho
bó bột khi gãy, vỡ hoặc rạn nứt xương được làm thành các hình
dạng hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05).
(b) Vải dệt có phủ 1 lớp chất nhạy (các nhóm 37.01 đến 37.04).
(c) Gỗ trang trí trên lớp bồi bằng vải dệt (nhóm 44.08).
(d) Vải đã được ngâm tẩm, phủ, tráng đã hoàn thiện như đã mô tả tại
Phần (II) của Chú giải tổng quát Phần XI.
(e) Vải canvas dùng để vẽ (nhóm 59.1001).
(f) Vải sơn và các sản phẩm khác thuộc nhóm 59.04.
(g) Bột mài hoặc hạt mài tự nhiên hoặc nhân tạo, trên lớp bồi bằng vải
dệt (nhóm 68.05).
(h) Tấm lợp có lớp nền bằng vải dệt được bao xung quanh hoặc phủ cả
hai mặt bằng một lớp asphalt hoặc các vật liệu tương tự (nhóm
(ij) Lá kim loại trên lớp bồi bằng vải dệt (thường thuộc Phần XVI hoặc
(II) VẢI CANVAS ĐƯỢC VẼ LÀM PHÔNG CẢNH CHO RẠP
HÁT, PHÔNG TRƯỜNG QUAY HOẶC LOẠI TƯƠNG TỰ.
Nhóm này bao gồm các tấm vải canvas hoặc vật liệu dệt tương tự đã
được vẽ dùng để trang trí cảnh trong nhà hoặc cảnh ngoài trời hay các
hình vẽ có mô típ khác nhau, dùng để dựng cảnh trên sân khấu hoặc
dùng để vẽ chân dung hoặc dùng trong trường quay phim hay phòng
chụp ảnh vv... Vải loại này có thể được cắt thành hình, ở dạng cuộn hoặc
được gắn vào khung kim loại hoặc vào khung gỗ.
59.08 - Các loại bấc dệt thoi, kết, tết hoặc dệt kim, dùng cho đèn, bếp
dầu, bật lửa, nến hoặc loại tương tự; mạng đèn măng xông và
các loại vải dệt kim hình ống dùng làm mạng đèn măng xông,
đã hoặc chưa ngâm tẩm.
(A) Các loại bấc dệt thoi
Bấc các loại kể đến trong nhóm này là đoạn vải dệt dẹt, tròn hoặc
hình ống, thường làm bằng bông, và được dệt thoi, dệt kim hoặc tết
bện. Các sản phẩm này có nhiều kích cỡ và hình dáng khác nhau
thích hợp dùng làm bấc cho nến cây hoặc bật lửa đến loại to hơn
dùng cho đèn đốt dầu, bếp dầu,...
Những sản phẩm này được phân loại trong nhóm này dù đã được
hay chưa được cắt ra thành các cỡ khác nhau hay được gắn với dây
kim loại hoặc mẩu kim loại để thuần tiện cho việc luồn bấc.
Nhóm này không bao gồm :
(a) Nến sáp (nhóm 34.06).
(b) Dây cháy chậm và ngòi nổ (nhóm 36.03).
(c) Bấc có được là nhờ xoắn đơn giản hoặc xoắn chập đôi sợi dệt,
dây xe, chão bện,... Bấc loại này vẫn được phân vào như sợi
trong các Chương từ 50 đến 55 hoặc như dây xe, chão bện,...
thuộc nhóm 59.07.
(d) Bấc từ sợi thủy tinh (nhóm 70.19).
(B) Các loại vải dệt kim hình ống dùng làm mạng đèn măng sông.
Vải dùng làm mạng đèn măng sông là vải hình ống được dệt kỹ khổ
nhỏ, dày thường là bằng sợi gai, sợi bông hoặc sợi tơ nhân tạo visco
rayon; và được phân loại vào trong nhóm này dù đã được hoặc chưa
được ngâm tẩm chất hóa học (đặc biệt là thorium nitrat và xeri nitrat).
(C) Mạng đèn măng sông.
Mạng đèn măng sông được phân loại vào nhóm có thể ở dạng bán
thành phẩm (ví dụ: gồm 1 trục ngắn hoặc túi vải, đã được hay chưa
được ngâm tẩm hóa chất được nói đến trong đoạn (B) ở trên), hoặc
ở dạng thành phẩm, nghĩa là sau khi đốt để tách vải nền và chuyển
muối nitrát đã thấm tẩm thành oxít, vẫn giữ được hình dáng của vải
ban đầu, mạng đèn măng sông này được ngâm tẩm collodion để bảo
đảm tính ổn định cho đến khi chúng được đem ra sử dụng. Các sản
phẩm này được phân loại ở đây dù có hoặc không có chỉ amiăng
hoặc được gắn với các bộ phận phụ trợ.
59.09 - Các loại ống dẫn dệt mềm và các loại ống dệt tương tự có lót
hoặc không lót, bọc vỏ cứng hoặc có các phụ kiện từ vật liệu
khác.
Nhóm này bao gồm ống mềm, ví dụ ống chữa cháy và các loại ống dẫn
tương tự làm bằng vật liệu dệt để dẫn chất lỏng. Chúng thường được
làm bằng vải dệt thoi dày và khít từ bông, lanh, gai hoặc sợi nhân tạo,
được dệt hoặc may hoặc ở dạng ống, và có thể được hoặc không được
phủ hoặc ngâm tẩm dầu, hắc ín hoặc các chế phẩm hóa học.
Ống dệt cũng được phân loại trong nhóm này, nếu được phủ ở mặt trong
bằng cao su, hoặc plastic hoặc được gia cố bằng kim loại (ví dụ: gia cố
bằng dây kim loại cuốn hình xoắn ốc) hoặc được gắn các bộ phận phụ
trợ không dệt, chẳng hạn như: ống nối dùng để liên kết phần này với
phần khác, vòi,…
Ống, ống dẫn và vòi bằng cao su lưu hoá được gia cố bên trong bằng các
vật liệu dệt hoặc được bọc bên ngoài một lớp vải mỏng thì được phân
loại vào nhóm 40.09.
59.10 - Băng tải hoặc băng truyền hoặc băng đai, bằng vật liệu dệt,
đã hoặc chưa ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép bằng plastic, hoặc gia
cố bằng kim loại hoặc vật liệu khác.
Băng tải hoặc băng truyền hoặc băng đai này dùng để truyền năng lượng
hoặc chuyển hàng hóa. Các sản phẩm này thường được dệt hoặc tết, bện
bằng sợi lông cừu, bông, sợi nhân tạo, vv... Chúng có chiều rộng (khổ)
khác nhau và có thể ở dạng 2 lớp hoặc nhiều lớp bằng các vật liệu nói
trên được dệt hoặc khâu liên kết với nhau; đôi lúc những sản phẩm này
được dệt có bề mặt làm gợn bằng vòng lông ngắn với nhau hoặc rìa
nhung kẻ. Những sản phẩm này có thể được ngâm tẩm dầu hạt lanh, hắc
ín Stockholm vv..., và có thể được phủ vécni, chì đỏ, vv... để chống mài
mòn do điều kiện không khí, khói a xít...gây ra, vv...
Nhóm này cũng bao gồm dây đai và băng đai làm từ sợi dệt tổng hợp,
đặc biệt là polyamit, đã được phủ, tráng hoặc ép bằng plastic.
Các sản phẩm này có thể được gia cố bằng dải hoặc sợi kim loại hoặc da
thuộc.
Theo Chú giải 7 của Chương, băng đai bằng vật liệu dệt có độ dày nhỏ
hơn 3mm bị loại ra khỏi nhóm này; loại băng đai này vẫn được phân loại
vào các Chương từ 50 đến 55, như là vải dệt thoi khổ hẹp (nhóm
58.06), như dải bện (nhóm 58.08), vv... Băng truyền hoặc băng tải (như
là, các đoạn băng tải được cắt theo các kích cỡ khác nhau và các đầu
được nối lại với nhau hoặc các đầu được gắn với các móc để nối các
băng tải này lại với nhau) được phân loại vào nhóm này không tính đến
độ dày vật liệu.
Nhóm này cũng bao gồm băng truyền làm bằng dây thừng dệt hoặc sợi
bện (cord) có thể sử dụng ngay; những sản phẩm này có thể không có
đầu mút hoặc các đầu mút đã được nối lại với nhau.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng tải hoặc băng truyền hoặc băng đai, được trình bày cùng với
máy hoặc thiết bị mà chúng được thiết kế để dùng cho các máy và
thiết bị đó, cho dù thực tế lúc đó chúng đã hoặc chưa được lắp ráp
vào máy (thì được phân loại với thiết bị và máy – cụ thể là Phần
(b) Băng hoặc băng đai làm bằng vải dệt được ngâm tẩm, phủ, tráng
hoặc ép với cao su hoặc được làm từ sợi dệt hoặc sợi bện (cord) đã
ngâm tẩm, phủ, tráng hoặc bọc với cao su (nhóm 40.10, xem Chú
giải 7 (b) của Chương này).
59.11 – Các sản phẩm và mặt hàng dệt, phục vụ cho mục đích kỹ
thuật, đã nêu tại Chú giải 8 của Chương này (+).
5911.10 - Vải dệt, phớt và vải dệt thoi lót phớt đã được tráng,
phủ, hoặc ép bằng cao su, da thuộc hoặc vật liệu khác,
loại sử dụng cho băng kim máy chải, và vải tương tự
phục vụ cho mục đích kỹ thuật khác, kể cả vải khổ hẹp
làm từ nhung được ngâm tẩm cao su, để bọc các lõi,
trục dệt
5911.20 - Vải dùng để rây sàng (bolting cloth), đã hoặc chưa
hoàn thiện
- Vải dệt và phớt, được dệt vòng liền hoặc kèm theo cơ
cấu nối ráp, dùng cho máy sản xuất giấy hoặc các máy
tương tự (ví dụ, để chế biến bột giấy hoặc xi măng
amiăng):
5911.31 - - Định lượng dưới 650 g/m2
5911.32 - - Định lượng từ 650 g/m2 trở lên
5911.40 - Vải lọc dùng trong ép dầu hoặc loại tương tự, kể cả
loại làm từ tóc người
5911.90 - Loại khác
Sản phẩm dệt và các sản phẩm thuộc nhóm này có các đặc trưng qua đó
xác định chúng được dùng trong nhiều loại máy móc, thiết bị , công cụ
hoặc dụng cụ hoặc các bộ phận của dụng cụ.
Nhóm này bao gồm, đặc biệt là các sản phẩm dệt bị loại ra khỏi các
nhóm khác và được chỉ dẫn sang nhóm 59.11 theo qui định riêng của
Danh mục (ví dụ, Chú giải 1 (e) của Phần XVI). Tuy nhiên, cũng nên
lưu ý, các bộ phận và các đồ phụ trợ bằng chất liệu dệt của hàng hóa
thuộc Phần XVII, như là dây đai an toàn, lớp vải lót của thân xe có động
cơ và tấm cách ly (nhóm 87.08) và thảm dùng cho xe có động cơ
(Chương 57), không được xếp vào nhóm này.
(A) VẢI DỆT VÀ CÁC SẢN PHẨM DỆT KHÁC, DÙNG TRONG
KỸ THUẬT, Ở DẠNG TẤM, ĐƯỢC CẮT DỌC HOẶC CẮT ĐƠN
GIẢN THÀNH HÌNH CHỮ NHẬT (KỂ CẢ HÌNH VUÔNG)
Với điều kiện là các sản phẩm này không có đặc trưng của nhóm từ
59.08 đến 59.10 thì chúng được phân loại trong phần này (và không nằm
trong bất cứ nhóm nào khác của Phần XI), dù ở dạng tấm, được cắt dọc
hoặc đơn giản là cắt thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông).
Nhóm này chỉ bao gồm vải dệt và các sản phẩm dệt khác như đã định nghĩa
trong Chú giải 8 (a) của Chương, và liệt kê tại mục từ (1) đến (6) dưới đây.
(1) Vải dệt, phớt và vải dệt thoi lót phớt, được phủ, tráng, bọc hoặc ép
bằng cao su, da hoặc các vật liệu khác (như plastic), loại dùng để
làm vải nền kim chải và các loại vải tương tự dùng trong kỹ thuật
khác, kể cả vải nhung khổ hẹp được ngâm tẩm cao su, dùng để bọc
các trục dệt (weaving beams)
(2) Vải dùng để sàng, rây. Đây là loại vải thủng như dạng tổ ong (ví dụ
như, làm từ kiểu dệt quấn, leno, dệt vân điểm), về mặt hình học có
kích cỡ và hình mắt lưới (thường là hình vuông), không bị biến dạng
khi sử dụng. Các sản phẩm này chủ yếu dùng để dần, sàng, rây
(chẳng hạn như: bột, bột mài, plastic ở dạng bột, thức ăn cho gia
súc), lọc hoặc dùng trong kỹ thuật in lưới (sereen printing). Vải rây,
sàng thường được làm bằng sợi tơ chưa tẩy, được xoắn chặt hoặc sợi
filament tổng hợp.
(3) Vải lọc (ví dụ: vải lọc dệt thoi và vải lọc dệt kim), được hoặc không
được ngâm tẩm, dùng để ép dầu hoặc cho các mục đích lọc tương tự
(ví dụ dùng trong tinh chế đường hoặc bia) và dùng để làm sạch khí
hoặc ứng dụng về mặt kỹ thuật trong hệ thống thu gom bụi công
nghiệp. Nhóm này bao gồm vải dùng để lọc dầu, một số loại vải dày
làm từ lông cừu hoặc lông động vật khác, và vải chưa được tẩy trắng
làm từ sợi tổng hợp (ví dụ như ny lông) mỏng hơn các loại vải nói
trên nhưng được dệt dày và đặc điểm của nó là cứng. Nhóm này
cũng bao gồm các loại vải lọc tương tự làm từ tóc người.
(4) Vải dệt thoi phẳng có nhiều sợi dọc hoặc sợi ngang dệt phẳng, được
hoặc không được bọc nỉ, ngâm tẩm hoặc phủ, dùng cho các loại máy
móc hoặc cho các mục đích kỹ thuật khác.
(5) Vải dệt, đã được gia cố kim loại, dùng cho các mục đích kỹ thuật; sợi
kim loại (kim loại không được cách điện, dây kim loại đã được xoắn
hoặc quấn với sợi dệt,...) có thể được đưa vào trong quá trình dệt
(đặc biệt là sợi dọc) hoặc được đưa vào giữa 2 lớp vật liệu.
Tuy nhiên, phớt được gia cố kim loại bị loại trừ khỏi nhóm này
(nhóm 56.02).
(6) Sợi bện (cord), dải bện và các loại tương tự dùng trong công nghiệp
như là vật liệu đóng gói hoặc bôi trơn; các sản phẩm này thường có
tiết diện vuông, đã được phủ hoặc ngâm tẩm dầu mỡ nhờn, than chì,
bột đá tan,... và đôi lúc chúng được gia cố bằng kim loại. Sợi
bện,...không được phủ hoặc ngâm tẩm, vẫn được phân loại trong
nhóm này miễn là sản phẩm này có thể nhận biết một cách dễ dàng
là những sản phẩm dùng trong công nghiệp như là vật liệu đóng gói
hoặc bôi trơn.
(B) CÁC SẢN PHẨM DỆT DÙNG CHO CÁC
MỤC ĐÍCH KỸ THUẬT
Tất cả các sản phẩm dệt dùng cho các mục đích kỹ thuật (trừ các sản
phẩm thuộc các nhóm từ 59.08 đến 59.10) được phân loại trong nhóm
này và không được phân loại ở nơi nào khác trong Phần XI (xem Chú
giải 8 (b) của Chương này); ví dụ như:
(1) Vải bất kỳ thuộc đoạn (A) nói trên đã được hoàn thiện (được cắt
hình, được ghép lại bằng cách may,...), ví dụ: vải lọc dùng trong
công nghệ ép dầu được làm bằng cách chồng nhiều mảnh vải lên
nhau; vải dùng để rây, sàng được cắt thành hình và được trang trí
với những dải hoặc được gắn thêm các khuy (lỗ xâu) kim loại hoặc
vải được gắn vào một khung dùng trong kỹ thuật in lưới.
(2) Vải dệt và nỉ, không có đầu mút, hoặc được lắp thiết bị kết nối, của
loại sử dụng trong máy sản xuất giấy hoặc các loại máy tương tự (ví
dụ cho bột giấy hoặc xi măng - amiăng) (không kể đai máy thuộc
nhóm 59.10).
(3) Các sản phẩm dệt tạo thành bởi các sợi monofilament xoắn ốc liên
kết lại với nhau và có các công dụng tương tự như vải dệt và nỉ dùng
cho máy sản xuất giấy hoặc các loại máy tương tự đã được đề cập
đến trong đoạn (2) nói trên.
(4) Miếng đệm, màng chắn dùng cho bơm, động cơ,... và máy giặt
(không kể loại thuộc nhóm 84.84).
(5) Đĩa, khớp nối và tấm dùng cho đánh bóng giầy và các loại máy khác.
(6) Túi dệt dùng trong kỹ thuật ép dầu.
(7) Sợi bện (cord) được cắt theo chiều dọc, có thắt nút, thắt vòng, hoặc
có khuy, lỗ bằng kim loại hoặc thủy tinh, dùng cho khung dệt
Jacquard hoặc khung dệt khác.
(8) Bộ gom (picker) khung dệt.
(9) Túi cho máy hút bụi chân không, túi lọc của thiết bị lọc không khí,
túi lọc của các lọc dầu cho động cơ...
Các sản phẩm dệt của nhóm này có thể có đi kèm với các bộ phận phụ
trợ làm bằng vật liệu khác miễn là chúng vẫn mang đặc tính cơ bản các
sản phẩm dệt.
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 5911.90
Các sản phẩm tạo thành từ các sợi monofilament xoắn ốc liên kết lại với
nhau và có các công dụng tương tự vải dệt và nỉ dùng trong máy sản
xuất giấy hoặc các loại máy tương tự nằm trong phân nhóm này và
không nằm trong phân nhóm 5911.31 hoặc 5911.32.
Chương 60
Các loại hàng dệt kim hoặc móc
Chú giải.
1. Chương này không bao gồm:
(a) Hàng ren, móc thuộc nhóm 58.04;
(b) Các loại nhãn, phù hiệu hoặc các sản phẩm tương tự, dệt kim
hoặc móc, thuộc nhóm 58.07; hoặc
(c) Vải dệt kim hoặc móc, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép lớp, thuộc
Chương 59. Tuy nhiên, các loại vải nổi vòng dệt kim hoặc móc, được
ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép lớp, vẫn được phân loại vào nhóm
2. Chương này cũng kể cả các loại vải làm từ sợi kim loại và được sử
dụng trong trong trang trí, như vải trang trí nội thất hoặc dùng cho
các mục đích tương tự.
3. Trong toàn bộ Danh mục, bất kỳ sự liên quan nào đến hàng "dệt
kim" kể cả hàng khâu đính trong đó các mũi khâu móc xích đều được
tạo thành bằng sợi dệt.
Chú giải Phân nhóm.
1 - Phân nhóm 6005.35 bao gồm vải từ monofilament polyetylen hoặc từ
multifilament polyeste, có định lượng từ 30g/m2 đến 55g/m2, có kích cỡ
lưới từ 20 lỗ/cm2 đến 100 lỗ/cm2, và được tẩm hoặc phủ alpha-
lambda-cyhalothrin (ISO), permethrin (ISO) hoặc pirimiphos-
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm các loại vải dệt được sản xuất bằng cách tạo ra
hàng loạt các vòng khâu nối với nhau, không giống vải dệt thoi được
sản xuất bằng cách đan xen kẽ sợi ngang và sợi dọc. Nói chung, các sản
phẩm này bao gồm:
(A) Vải dệt kim (dệt kim sợi ngang và dệt kim sợi dọc)
(I) Dệt kim sợi ngang bao gồm 1 sợi dệt quấn liên tục, tạo thành các
hàng vòng nằm cùng hướng ngang qua tấm vải, các vòng trong
các hàng kề sát nhau cài vào nhau tạo thành mắt lưới. Có kẽ hở
giữa các đường khâu (mũi khâu) của tấm vải, điều này cho phép
tấm vải có thể duỗi ra một cách dễ dàng theo mọi hướng; khi 1 sợi
trong số các sợi đó bị dứt thì tấm vải sẽ bị “rã ra”.
(II) Dệt kim sợi dọc có nhiều sợi chạy theo cùng hướng của sợi dọc
(nghĩa là, theo chiều dọc của tấm vải) mỗi sợi tạo thành các vòng
lần lượt cài xen kẽ với các vòng ở hàng bên trái và hàng bên phải.
Các vòng trong dệt kim sợi dọc trông giống như là chạy chéo theo
khổ vải. Đối với một số loại vải dệt kim sợi dọc, sợi dọc có 2
chuỗi chạy chéo theo các hướng ngược nhau ngang qua tấm vải.
Vải loại này không "rã ra". Nếu 1 ô vuông nhỏ bị cắt ra khỏi tấm
vải dệt kim sợi dọc, thì sợi không dễ bị kéo ra từ bất kỳ cạnh nào
của ô vuông đó; khi các sợi có thể được kéo từ ô vuông trên, thì
chúng sẽ bung ra theo hướng sợi dọc (tại các góc phải của hàng
vòng ngoài)...
Dệt kim sợi dọc cũng bao gồm thêm:
(1) Các sản phẩm khâu đính, miễn là các sản phẩm này có đường
khâu được tạo thành bởi sợi dệt.
Quá trình khâu đính sử dụng một loại máy tương tự như máy
dệt kim sợi dọc, máy này hoạt động bằng kim có móc mở, nhọn
(kim trượt) và dây go. Những chiếc kim này cho phép tạo ra
các mạng bằng sợi dệt để sản xuất vải từ một mảng xơ dệt hoặc
1 hay nhiều lớp sợi dệt, hoặc từ 1 nền, ví dụ như một tấm vải
dệt thoi hoặc một tấm plastic. Trong một vài trường hợp, các
mũi khâu có thể tạo thành hoặc cố định một vòng lông (cho dù
đã được cắt hoặc chưa cắt). Các sản phẩm được may chần được
ghép lại bằng cách khâu đính bị loại ra khỏi nhóm này (nhóm
(2) Vải được sản xuất ra bởi máy dệt kim sợi dọc vì thế các sợi
dọc bao gồm một chuỗi các vòng móc giữ các sợi ngang đúng
vị trí, thỉnh thoảng tạo hoa văn.
Tất cả các loại vải trong đoạn (I) và (II) trên có thể được khâu
đơn giản hoặc phức tạp; trong một vài trường hợp chúng tạo ra
các lỗ hở, khe hở tương tự như đăng ten, nhưng tuy nhiên,
chúng vẫn được phân loại trong nhóm này. Nhìn chung các sản
phẩm này có thể phân biệt với đăng ten, ren các loại bởi đường
dệt kim đặc trưng của chúng (đặc biệt ở các phần dày khít).
(B) Vải móc, được tạo thành bởi các sợi liên tục được gia công bằng tay
dùng kim móc để tạo ra hàng loạt các vòng, vòng này xâu qua các
vòng khác và tạo thành, theo cách tập hợp các vòng lại, kể cả vải trơn
hay vải trang trí có hình mẫu sít hoặc hở. Một số loại vải có lỗ hở bao
gồm 1 loạt các vòng tạo thành hình vuông, hình lục giác hoặc các
hình mẫu hoặc hoa văn trang trí khác.
Các sản phẩm thuộc Chương này có thể được làm bằng tay với hai hay
nhiều kim đan hoặc với một kim móc. Các sản phẩm này cũng có thể tạo
ra bởi máy đan thẳng hoặc tròn có lắp kim móc hình nhỏ dáng đặc biệt
(kim có ngạnh hoặc kim cong, kim chốt dệt kim và kim ống).
Các nhóm của Chương này bao gồm vải dệt kim hoặc móc, cho dù các
vải dệt kim hoặc móc thuộc Phần XI được sử dụng để sản xuất ra sản
phẩm và chúng có hoặc không đi kèm sợi đàn hồi hoặc sợi cao su.
Chương này cũng bao gồm vải dệt kim hoặc móc làm từ sợi kim loại
nguyên chất miễn là các loại vải này rõ ràng để làm khăn phủ, đồ trang
trí hoặc các mục đích tương tự.
Chương này bao gồm vải dệt kim hoặc móc ở dạng mảnh (kể cả mảnh
hình ống) hoặc chỉ cắt đơn giản thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông).
Các mảnh vải này bao gồm vải trơn và có gân/sọc và vải đúp được ghép
bằng việc khâu hoặc dán dính.
Tất cả các loại vải này có thể được nhuộm, in hoặc được làm từ các sợi
màu khác nhau. Các loại vải thuộc các nhóm từ 60.02 đến 60.06 đôi lúc
được chải mượt mặt vải đến mức trạng thái tự nhiên của vải được che đi.
Chương này không bao gồm:
(a) Vải khâu đính thu được bằng cách lấy các xơ dệt từ tấm xơ đó (nhóm
(b) Vải lưới và lưới (nhóm 56.08).
(c) Các loại thảm dệt kim và thảm (nhóm 57.05).
(d) Vải lưới và hàng ren móc (nhóm 58.04).
(e) Những miếng vải được cắt thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông) đã
được gia công thêm (ví dụ: viền), các mặt hàng được sản xuất ở dạng
hoàn chỉnh sẵn sàng cho sử dụng (ví dụ: khăn choàng) và các loại vải
dệt kim hoặc móc thành các hình dạng, cho dù được để riêng lẻ hay
để ở dạng nối với nhau thành đoạn dài (cụ thể, các sản phẩm hoàn
thiện của Chương 61, 62 và 63).
Chú giải Phân nhóm.
Các Phân nhóm từ 6005.21 đến 6005.44 và 6006.21 đến 6006.44
Vải dệt kim hoặc móc, chưa tẩy trắng, đã tẩy trắng, đã nhuộm, bằng
các sợi màu khác nhau, hoặc đã in
Các điều khoản của Chú giải Phân nhóm 1 Phần XI, (d) đến (h), áp dụng,
một cách tương tự, hợp đối với vải dệt kim hoặc móc, chưa tẩy trắng, đã tẩy
trắng, đã nhuộm, bằng các sợi màu khác nhau, hoặc đã được in.
Vải bao gồm một phần hoặc toàn bộ các sợi đã in màu sắc khác nhau
hoặc những sợi đã được in với những sắc thái khác nhau của cùng một
mầu được coi như những vải làm từ những sợi màu khác nhau và
không được coi như vải đã in hoặc đã nhuộm màu.
60.01 - Vải nổi vòng (pile), kể cả các loại vải "vòng lông dài" (long
pile) và khăn lông (terry), dệt kim hoặc móc.
6001.10 - Vải "vòng lông dài" (long pile)
- Vải tạo vòng lông (looped pile):
6001.21 - - Từ bông
6001.22 - - Từ xơ nhân tạo
6001.29 - - Từ các loại vật liệu dệt khác
- Loại khác:
6001.91 - - Từ bông
6001.92 - - Từ xơ nhân tạo
6001.99 - - Từ các vật liệu dệt khác
Không giống như vải dệt thoi thuộc nhóm 58.01, các sản phẩm của
nhóm này thu được bằng dệt kim. Các phương pháp sản xuất sau đây
được sử dụng chủ yếu:
(1) một máy dệt kim đan tròn sản xuất ra vải dệt kim, trong đó, vòng nhô
ra được tạo bằng sợi đưa thêm vào; sau đấy các vòng này được cắt
tạo thành lông tuyết (pile) và vì thế có bề mặt giống như nhung;
(2) một máy dệt kim sợi dọc chuyên biệt đan 2 mảnh vải đối diện nhau
bằng sợi vòng lông chung; sau đó 2 mảnh vải này được tách ra bằng
cách cắt để làm thành 2 tấm vải với vòng lông cắt;
(3) sợi dệt từ 1 cúi sợi đã chải thô được lồng vào các vòng của 1 tấm vải
nền đã được dệt kim theo như cách tấm nền đó được hình thành (vải
"vòng lông dài" (long pile));
(4) sợi dệt để tạo thành các vòng (“vải bông xù giả” (imitation terry
fabric)) (xem phần Chú giải Tổng quát). Các vải như vậy có các
đường mũi khâu trên mặt sau của vải và chúng khác với vải dệt nổi
vòng thuộc nhóm 58.02, với đặc điểm là có các hàng mũi khâu chạy
dọc theo chiều dài của mặt sau tấm vải.
Vải dệt kim hoặc móc nổi vòng, được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc dát
mỏng, vẫn được phân loại trong nhóm này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Da lông nhân tạo thuộc nhóm 43.04.
(b) Vải dệt nổi vòng (nhóm 58.01).
(c) Vải dệt kim hoặc móc, may chần sợi nổi vòng (nhóm 58.02).
60.02 - Vải dệt kim hoặc móc có khổ rộng không quá 30 cm, có hàm
lượng sợi đàn hồi hoặc sợi cao su chiếm từ 5% trở lên tính
theo khối lượng, trừ loại thuộc nhóm 60.01.
6002.40 - Có hàm lượng sợi đàn hồi chiếm từ 5% trở lên tính
theo khối lượng nhưng không có sợi cao su
6002.90 - Loại khác
Loại trừ vải có tạo vòng lông nhóm 60.01, nhóm này bao gồm vải dệt
kim hoặc móc có khổ rộng không quá 30 cm, có tỷ trọng sợi đàn hồi
hoặc sợi cao su từ 5% trở lên.
Sợi đàn hồi được định nghĩa tại Chú giải 13 Phần XI. Sợi dún được nói
đến trong Chú giải đó được định nghĩa trong Chú giải phân nhóm ở phần
cuối Chú giải chi tiết nhóm 54.02.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Băng, đã tẩm thuốc hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05).
(b) Sợi sùi vòng (nhóm 56.06).
(c) Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng tương tự, dệt kim hoặc móc
thuộc nhóm 58.07.
(d) Vải thêu thuộc nhóm 58.10.
(e) Vải thuộc Chương 59 (ví dụ: vải đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc
ép thuộc nhóm 59.03 hoặc 59.07, và vải cao su hóa thuộc nhóm
(f) Các mặt hàng hoàn thiện theo nghĩa của Chú giải 7 Phần XI (xem cả
Phần (II) Chú giải tổng quát của Phần).
60.03 - Vải dệt kim hoặc móc có khổ rộng không quá 30 cm, trừ
loại thuộc nhóm 60.01 hoặc 60.02.
6003.10 - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn
6003.20 - Từ bông
6003.30 - Từ các xơ tổng hợp
6003.40 - Từ các xơ tái tạo
6003.90 - Loại khác
Loại trừ vải tạo vòng lông nhóm 60.01, nhóm này bao gồm vải dệt kim
hoặc móc có khổ rộng không quá 30 cm, không chứa sợi đàn hồi hoặc
sợi cao su hoặc có tỷ trọng sợi đàn hồi hoặc sợi cao su không quá 5%.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Băng, đã tẩm thuốc hoặc đã đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05).
(b) Sợi sùi vòng (nhóm 56.06).
(c) Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng tương tự, dệt kim hoặc móc,
thuộc nhóm 58.07.
(d) Vải thêu thuộc nhóm 58.10.
(e) Vải thuộc Chương 59 (Ví dụ: Vải đã được ngâm tẩm, tráng, phủ
hoặc ép thuộc nhóm 59.03 hoặc 59.07, vải cao su hóa nhóm 59.06,
và bấc hoặc vải dùng làm mạng đèn măng xông thuộc nhóm 59.08).
(f) Các mặt hàng hoàn thiện theo nghĩa của Chú giải 7 Phần XI (xem cả
Phần (II) Chú giải tổng quát của Phần).
60.04 - Vải dệt kim hoặc móc có khổ rộng hơn 30 cm, có hàm lượng
sợi đàn hồi hoặc sợi cao su chiếm từ 5% trở lên tính theo
khối lượng, trừ các loại thuộc nhóm 60.01.
6004.10 - Có hàm lượng sợi đàn hồi chiếm từ 5% trở lên tính
theo khối lượng nhưng không bao gồm sợi cao su
6004.90 - Loại khác
Loại trừ vải có tạo vòng lông thuộc nhóm 60.01, nhóm này bao gồm
vải dệt kim hoặc móc có khổ rộng không quá 30 cm, có tỷ trọng sợi đàn
hồi hoặc sợi cao su từ 5% trở lên.
Sợi đàn hồi được định nghĩa tại Chú giải 13 Phần XI. Sợi dún được nói
đến trong Chú giải đó được định nghĩa trong Chú giải phân nhóm ở phần
cuối Chú giải chi tiết nhóm 54.02.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Băng, đã tẩm thuốc hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05).
(b) Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng tương tự, dệt kim hoặc móc
thuộc nhóm 58.07.
(c) Vải thêu thuộc nhóm 58.10.
(d) Vải thuộc Chương 59 (Ví dụ: Vải đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc
ép thuộc nhóm 59.03 hoặc 59.07, vải cao su hóa thuộc nhóm 59.06).
(e) Các mặt hàng hoàn thiện theo nghĩa của Chú giải 7 Phần XI (xem cả
Phần (II) Chú giải tổng quát của Phần).
60.05 - Vải dệt kim đan dọc (kể cả các loại làm trên máy dệt kim dệt
dải trang trí), trừ loại thuộc các nhóm 60.01 đến 60.04.
- Từ bông:
6005.21 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
6005.22 - - Đã nhuộm
6005.23 - - Từ các sợi có màu khác nhau
6005.24 - - Đã in
- Từ xơ tổng hợp:
6005.35 - - Các loại vải được chi tiết trong Chú giải phân nhóm
1 Chương này
6005.36 - - Loại khác, chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
6005.37 - - Loại khác, đã nhuộm
6005.38 - - Loại khác, từ các sợi có màu khác nhau
6005.39 - - Loại khác, đã in
- Từ xơ tái tạo:
6005.41 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
6005.42 - - Đã nhuộm
6005.43 - - Từ các sợi có màu khác nhau
6005.44 - - Đã in
6005.90 - Loại khác
Loại trừ vải có tạo vòng lông nhóm 60.01, nhóm này bao gồm vải dệt
kim sợi dọc có khổ rộng trên 30 cm, không chứa sợi đàn hồi
(elastomeric) hoặc sợi cao su hoặc có tỷ trọng sợi đàn hồi (elastomeric)
hoặc sợi cao su dưới 5%. Nó cũng bao gồm vải từ chất liệu sợi đơn
polyethylene hoặc sợi đa polyester, có trọng lượng từ 30g/m2 đến
55g/m2, có kích cỡ lưới từ 20 lỗ/cm2 đến 100 lỗ/cm2, và được tẩm hoặc
phủ alpha-cypermethrin (ISO), chlorfenapyr (ISO), deltamethrin
(INN, ISO), lambda-cyhalothrin (ISO), permethrin (ISO) hoặc
pirimiphos-methyl (ISO). (Xem Chú giải Phân nhóm 1 của Chương
này). Các chi tiết liên quan tới việc sản xuất vải dệt kim sợi dọc (bao
gồm các loại vải được làm trên máy dệt kim dệt dải trang trí) được diễn
giải ở Chú giải tổng quát Chương 60, Phần (A) (II).
Vải dệt kim sợi dọc có nhiều dạng. Ngoài các loại vải truyền thống
không thưa sợi như các loại vải được sử dụng cho may quần áo, loại vải
này bao gồm cả vải dệt thủng lỗ. Những loại vải này, được làm trên máy
dệt sợi dọc (đặc biệt là máy Raschel), thường tương tự với vải lưới hoặc
ren (nhưng không nên nhầm lẫn đối với loại vải ren: xem Chú giải chi
tiết nhóm 58.04) và thường được dùng để làm rèm, màn. Giống ren làm
trên máy, loại vải dệt kim hoặc móc giả ren này thường được làm thành
các mảnh khá lớn và các mảnh này được cắt thành các dải trong quá
trình hoàn thiện. Các dải đó, có chiều dài không xác định, được phân loại
vào nhóm này miễn là các mép dải thẳng và song song và khổ rộng trên
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng, đã tẩm thuốc hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05).
(b) Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng tương tự, dệt kim hoặc móc
thuộc nhóm 58.07.
(c) Vải thêu thuộc nhóm 58.10.
(d) Vải thuộc Chương 59 (Ví dụ: vải đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc
ép thuộc nhóm 59.03 hoặc 59.07, vải cao su hóa thuộc nhóm 59.06,
và bấc hoặc vải dùng làm mạng đèn măng sông nhóm 59.08).
(e) Các mặt hàng hoàn thiện theo nghĩa của Chú giải 7 Phần XI (xem cả
Phần (II) Chú giải tổng quát của Phần).
60.06 - Vải dệt kim hoặc móc khác.
6006.10 - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn
- Từ bông:
6006.21 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
6006.22 - - Đã nhuộm
6006.23 - - Từ các sợi có màu khác nhau
6006.24 - - Đã in
- Từ xơ sợi tổng hợp:
6006.31 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
6006.32 - - Đã nhuộm
6006.33 - - Từ các sợi có màu khác nhau
6006.34 - - Đã in
- Từ xơ tái tạo:
6006.41 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
6006.42 - - Đã nhuộm
6006.43 - - Từ các sợi có màu khác nhau
6006.44 - - Đã in
6006.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm vải dệt kim và móc loại trừ vải thuộc các nhóm
trước của Chương này.
Nhóm này bao gồm, ví dụ như vải dệt kim sợi ngang và vải móc có khổ
rộng hơn 30 cm, không chứa sợi đàn hồi hoặc sợi cao su hoặc có tỷ
trọng sợi đàn hồi hoặc sợi cao su dưới 5%. Chú giải chi tiết của Chương
này giải thích nghĩa của cụm từ “dệt kim sợi ngang” và “vải móc” (xem
Khái quát chung, các Phần (A) (I) và (B) tương ứng).
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng, đã tẩm thuốc hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05).
(b) Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng tương tự, dệt kim hoặc móc
thuộc nhóm 58.07.
(c) Vải thêu thuộc nhóm 58.10.
(d) Vải thuộc Chương 59 (Ví dụ: vải đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc
ép thuộc nhóm 59.03 hoặc 59.07, vải cao su hóa thuộc nhóm 59.06
và bấc hoặc vải dùng làm mạng đèn măng sông thuộc nhóm 59.08).
(e) Các mặt hàng hoàn thiện theo nghĩa của Chú giải 7 Phần XI (xem cả
Phần (II) Chú giải tổng quát của Phần).
Chương 61
Quần áo và hàng may mặc phụ trợ, dệt kim hoặc móc
Chú giải.
1. Chương này chỉ áp dụng với mặt hàng may mặc sẵn được dệt kim
hoặc móc.
2. Chương này không bao gồm:
(a) Những mặt hàng thuộc nhóm 62.12;
(b) Quần áo hoặc các sản phẩm may mặc đã qua sử dụng khác thuộc
nhóm 63.09; hoặc
(c) Dụng cụ chỉnh hình, đai thắt phẫu thuật, băng giữ hoặc loại tương
tự (nhóm 90.21).
3. Theo mục đích của các nhóm 61.03 và 61.04:
(a) Khái niệm