PROJECT

CHU GIAI 2022_12

CHU GIAI 2022_12

yên (nhóm 42.01). 
(c)  Các loại thảm và các loại tấm trải sàn khác từ phớt thuộc Chương 57. 
(d)  Phớt nổi nhung (tufted felt) thuộc nhóm 58.02. 
(e)  Phớt  đã thêu ở dạng miếng, dải hoặc ở dạng hoa văn (nhóm 58.10). 
(f)  Các sản phẩm dệt đã chần dạng chiếc, bao gồm một hoặc nhiều lớp 
vật liệu dệt ráp với nhau bằng cách khâu hoặc các cách khác với vật 
liệu đệm trừ các mặt hàng thêu của nhóm 58.10 (nhóm 58.11). 
(g)  Tấm trải sàn có lớp tráng hoặc phủ lên trên lớp nền của phớt đã hoặc 
chưa bị cắt thành hình dạng (nhóm 59.04). 
(h)  Phớt đã tráng, phủ hoặc ép lớp bằng cao su, da hoặc vật liệu khác, 
loại sử dụng cho băng kim máy, và các loại vải tương tự khác dùng 
cho mục đích kỹ thuật khác, của nhóm 59.11. 
(ij)  Phớt được phủ bằng bột hoặc hạt mài (nhóm 68.05) hoặc bằng mi 
ca ép liên kết khối hoặc tái chế (nhóm 68.14). 
(k)  Tấm ốp dùng trong xây dựng được chế tạo ra từ một số lớp sợi dệt hoàn 
toàn được bao bọc trong asphalt hoặc vật liệu tương tự (nhóm 68.07). 
(l)  Lá kim loại được bồi trên nền phớt, nỉ  (Phần XIV hoặc XV). 

56.03 - Các sản phẩm không dệt, đã hoặc chưa ngâm tẩm, tráng phủ 
hoặc ép lớp.   
- Bằng filament nhân tạo: 
5603.11 - - Định lượng không quá 25 g/m2 
5603.12 - - Định lượng trên 25 g/m2 nhưng không quá 70 g/m2 
5603.13 - - Định lượng trên 70 g/m2 nhưng không quá 150 g/m2 
5603.14 - - Định lượng trên 150 g/m2 
- Loại khác: 
5603.91 - -  Định lượng không quá 25 g/m2 
5603.92 - - Định lượng trên 25 g/m2 nhưng không quá 70 g/m2 
5603.93 - - Định lượng trên 70 g/m2 nhưng không quá 150 g/m2 
5603.94 - - Định lượng trên 150 g/m2 
Sản phẩm không dệt là sản phẩm ở dạng tấm hoặc mạng bằng các sợi 
dệt trội được định hướng theo một hướng nhất định hoặc ngẫu nhiên và 
liên kết với nhau. Những sợi này có thể có nguồn gốc từ tự nhiên hay 
nhân tạo. Chúng có thể là sợi staple (tự nhiên hoặc nhân tạo) hoặc các 
sợi filament nhân tạo hoặc tự hình thành.  
Các sản phẩm không dệt có thể được sản xuất theo nhiều cách và việc 
sản xuất này có thể được chia ra một cách phù hợp thành 3 giai đoạn: 
giai đoạn tạo mạng, giai đoạn liên kết và giai đoạn hoàn thiện. 
I.  Giai đoạn tạo mạng vải dệt 
Có 4 phương pháp cơ bản: 
(a)  Bằng cách chải thô hoặc tạo lớp đệm không khí (airlaying) các 
sợi để hình thành một tấm mạng. Các sợi đó có thể song song,  
chéo hoặc tạo hướng ngẫu nhiên (quá trình đặt khô-dry laid). 

(b)  Bằng phương pháp kéo sợi filament được định hướng theo 
hướng nhất định, được làm lạnh và được đặt trực tiếp xuống 
một tấm mạng hay được làm đông tụ, được giặt và đặt trực tiếp 
lên trên mạng ở dạng ẩm trong quy trình (quá trình xe). 
(c)  Bằng phương pháp lọc và hòa tan các sợi trong nước, kết tủa sệt 
tạo thành màng lọc kết sợi và hình thành một tấm mạng bởi việc 
loại bỏ nước (quá trình ẩm). 
(d)  Bằng phương pháp kỹ thuật chuyên ngành khác nhau. Trong đó 
việc sản xuất sợi, tạo mạng vải dệt và liên kết luôn xảy ra cùng 
một lúc (trong quá trình làm tại chỗ). 
II.  Giai đoạn liên kết 
Sau giai đoạn hình thành, các sợi được ghép qua độ dày và độ rộng 
của mạng vải (phương pháp liên tục) hoặc ở những vị trí hoặc ở 
những miếng vá (phương pháp dứt đoạn). 
Sự liên kết này có thể được chia thành 3 dạng: 
(a)  Sự liên kết hóa học, trong đó các sợi được ráp nối bằng cách sử 
dụng chất liên kết. Cách này có thể được tiến hành bằng việc 
thấm tẩm bằng một chất kết dính như cao su, gôm, hồ bột, nhựa 
dính hoặc plastic trong dung dịch hoặc nhũ tương, bằng cách xử 
lý nhiệt với plastic ở dạng bột, bằng các dung môi... Các sợi 
liên kết này cũng có thể sử dụng cho quy trình liên kết hóa học. 
(b)  Liên kết nhiệt, trong đó các sợi được ghép lại bằng sự ép nhiệt 
(hoặc sóng siêu âm), đưa mạng vải dệt qua lò sấy hoặc giữa 
những con lăn nung nóng (vùng liên kết) hoặc qua máy cán 
nung nóng (liên kết điểm). Các sợi dệt liên kết cũng có thể sử 
dụng cho liên kết nhiệt. 
(c)  Liên kết cơ học, trong đó các tấm vải được gia cố bằng đính vật 
lý các sợi cấu thành. Liên kết có thể đạt được bằng các luồng ép 
cường độ cao không khí và nước có áp suất cao. Nó cũng có thể 
thực hiện được bằng khâu nhưng không phải bằng liên kết đính 
buộc. Tuy nhiên, các sản phẩm dệt kim được coi như là sản 
phẩm không dệt khi chúng là : 

-  các loại mạng vải có thành phần cơ bản là sợi filament; 
-  các loại mạng vải có sợi staple mà khâu là quá trình bổ sung 
cho các liên kết khác. 
Các quy trình liên kết khác nhau này cũng thường được kết hợp 
với nhau 
III.  Giai đoạn hoàn thiện 
Các sản phẩm không dệt có thể được nhuộm, in, ngâm tẩm, tráng, phủ 
hoặc ép lớp. Những sản phẩm này được phủ trên một hoặc cả hai mặt 
(bằng cách dán, khâu hoặc bằng các cách khác) với vải dệt hoặc những 
tấm làm từ vật liệu bất kỳ khác được phân loại trong nhóm này chỉ khi 
chúng mang các đặc tính cơ bản của sản phẩm không dệt. 
Nhóm này bao gồm: băng dính cấu tạo từ một sản phẩm không dệt được 
phủ bằng một chất dính như cao su, plastic hoặc một hỗn hợp các vật 
liệu này. 
Nhóm này cũng bao gồm một số “phớt tẩm bitum  để lợp mái (roofing 
felt)” trong đó các sợi dệt được kết dính với nhau bằng hắc ín hoặc bằng 
các chất tương tự, và một số sản phẩm có tên “phớt bitum” thu được theo 
cùng cách nhưng kết hợp với một lượng nhỏ những mảnh li e. 
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm các sản phẩm nằm trong Chương 
39 hoặc 40. sau đây: 
(a)  Các sản phẩm không dệt, hoặc được nhúng hoàn toàn vào plastic 
hoặc cao su, hoặc được tráng, hoặc được phủ toàn bộ cả hai mặt với 
các vật liệu trên, với điều kiện việc tráng hoặc phủ bọc như vậy có 
thể nhìn thấy bằng mắt thường mà không tính đến kết quả thay đổi 
màu sắc. 
(b)  Đĩa, tấm hoặc dải bằng plastic xốp hoặc cao su xốp kết hợp với các 
sản phẩm không dệt, tại đó mà các vật liệu dệt chỉ nhằm mục đích 
để gia cố (xem Chú giải tổng quát Chương 39, phần có tiêu đề “sự 
kết hợp giữa plastic và vật liệu dệt” , và mục (A) của Chú giải chi 
tiết nhóm 40.08). 

Sản phẩm không dệt khác nhau về độ dày và về đặc tính cơ bản của 
chúng (tính linh hoạt, tính đàn hồi, tính chống rách, độ hấp thụ, tính bền 
vững...) phù hợp với việc sản xuất hoặc quá trình liên kết, mật độ của 
các sợi (fibre) hoặc các sợi filament và số lượng mạng vải (web). Một số 
sản phẩm không dệt giống như giấy, bìa giấy hoặc mền xơ xenllulo, da 
sơn dương, hoặc mền xơ thuộc nhóm 56.01. Chúng có thể được phân 
biệt với giấy, bìa giấy hoặc mền xơ xenlulo vì các loại sợi dệt không bị 
tiêu hủy trong quá trình sản xuất. 
Cuối cùng, thực tế là các loại sợi dệt hoặc sợi filament được liên kết dọc 
theo chiều dày, thường theo chiều rộng của mạng vải (web) hoặc tấm 
cũng giúp phân biệt các mặt hàng từ một số loại mền xơ của nhóm 56.01 
(xem Chú giải chi tiết nhóm 56.01). 
Một số sản phẩm không dệt nhất định có thể được giặt hoặc vắt như các 
mặt hàng bằng vải dệt khác. 
Trừ trường hợp được đề cập một cách cụ thể hơn ở các nhóm khác trong 
Danh mục, nhóm này bao gồm các sản phẩm không dệt ở dạng miếng, 
cắt theo chiều dài hoặc đơn giản là được cắt theo hình chữ nhật (bao 
gồm cả hình vuông) từ những miếng lớn chưa gia công khác, đã hoặc 
chưa được gấp hoặc đóng gói (ví dụ: để bán lẻ). Chúng bao gồm: vải phủ 
(khăn trải) dùng vào việc gắn vào trong các tấm plastic làm lớp mặt, các 
tấm phủ dùng trong sản xuất khăn (bỉm) dùng một lần hay khăn tắm; vải 
để sản xuất quần áo bảo hộ hay lớp lót quần áo, các tấm lọc chất lỏng 
hoặc không khí, dùng như các vật liệu nhồi, vật liệu cách âm, dùng trong 
việc lọc hoặc tách trong các công trình xây dựng hoặc các công trình kỹ 
thuật đô thị khác; là chất nền trong sản xuất vải tẩm bitum; tấm bồi đầu 
tiên hoặc thứ hai cho các loại thảm chần nổi nhung... các loại khăn mùi 
xoa, vải lanh trải giường, vải lanh trải bàn... 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ (nhóm 

(b) Các sản phẩm không dệt, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bọc với các 
chất hoặc các chế phẩm (ví dụ: nước hoa hoặc mỹ phẩm (Chương 
33), các loại xà phòng hoặc các chất tẩy rửa (nhóm 34.01), chất 
đánh bóng, loại kem hoặc các chế phẩm tương tự (nhóm 34.05), các 
chất làm mềm vải (nhóm 38.09)) ở đó vật liệu dệt chỉ được coi như 
vật mang. 
(c)  Các loại phớt xuyên kim (nhóm 56.02). 
(d)  Các loại thảm và các tấm trải sàn khác làm từ các sản phẩm không 
dệt của Chương 57. 
(e)  Các sản phẩm không dệt chần sợi nổi vòng thuộc nhóm 58.02. 
(f)  Chất keo dính (nhóm 58.06). 
(g)  Các sản phẩm không dệt đã thêu ở dạng mảnh, dạng dải hoặc dạng 
theo mẫu hoa văn (nhóm 58.10). 
(h)  Các sản phẩm dệt đã được chần ở dạng chiếc, bao gồm một hay 
nhiều lớp vật liệu dệt kết hợp với lớp đệm bằng cách khâu hoặc cách 
khác với lớp đệm không dệt, trừ hàng thêu thuộc nhóm 58.10 (nhóm 
(ij)  Các sản phẩm không dệt sử dụng trong kỹ thuật, thuộc nhóm 59.11. 
(k)  Các sản phẩm không dệt được phủ bằng bột mài hoặc hạt mài 
(nhóm 68.05) hoặc bằng mica liên kết thành khối hoặc mi ca tái chế 
(nhóm 68.14) 
(l)  Lá kim bồi trên nền vật liệu không dệt (thường thuộc Phần XIV 
hoặc Phần XV). 
56.04 - Chỉ cao su và sợi (cord) cao su, được bọc bằng vật liệu dệt; 
sợi dệt, và dải và dạng tương tự thuộc nhóm 54.04 hoặc 54.05, 
đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bao ngoài bằng cao su hoặc 

5604.10 - Chỉ cao su và sợi (cord) cao su, được bọc bằng vật liệu 
dệt 
5604.90 - Loại khác 
(A) CHỈ  CAO SU VÀ SỢI CAO SU, ĐƯỢC BỌC BẰNG VẬT 
LIỆU DỆT 
Với điều kiện chúng được bao bọc bằng vật liệu dệt (ví dụ: bằng việc 
dính hoặc bện), nhóm này bao gồm: chỉ cao su (tết đơn) với mặt cắt bất 
kỳ và dây bằng cao su (tết đa), được làm bằng các loại chỉ này.  
(B) SỢI DỆT, VÀ DẢI VÀ DẠNG TƯƠNG TỰ THUỘC NHÓM 
54.04 HOẶC 54.05, ĐÃ NGÂM  TẨM, TRÁNG, PHỦ HOẶC BAO 
NGOÀI BẰNG CAO SU HOẶC PLASTIC 
Nhóm này bao gồm sợi dệt, và dải và các dạng tương tự thuộc nhóm 
54.04 hoặc 54.05 đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bao ngoài bằng cao 
su hoặc plastic, với điều kiện, trong trường hợp sợi đã được ngâm tẩm, 
tráng, phủ hoặc bao ngoài vv... thì việc ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bao 
ngoài có thể nhìn thấy bằng mắt thường mà không cần tính đến thay đổi 
màu sắc.  
Sợi dệt đã ngâm tẩm bao gồm sợi đã nhúng cấu tạo từ các sợi dệt đã xử 
lý bề mặt để nâng cao độ kết dính với cao su, trong đó thường được kết 
hợp trong quá trình sản xuất sản phẩm như lốp, các loại dây đai hoặc dây 
curoa của máy, và các loại  ống. 
Trong số các sản phẩm nằm trong nhóm này là các loại dây giả catgut 
làm bằng các sợi dệt với lớp hồ plastic dày, được sử dụng phù hợp với 
các đặc tính khác nhau của chúng trong sản xuất các loại vợt thể thao, 
dây câu cá, các loại dây đai, dây tết, vải bọc đệm, chỉ khâu phẫu thuật, 
vv... và các lớp lót quần áo gồm sợi dệt được kết hợp với một lớp bảo vệ 
bằng plastic. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các loại vải gồm sợi dệt đặt song song được kết tụ với cao su 

(nhóm 59.06). 
(b)  Dây giả catgut có móc kèm theo hoặc các loại khác tạo nên các loại 
dây câu cá (nhóm 95.07). 
56.05 - Sợi trộn kim loại, có hoặc không quấn bọc, là loại sợi dệt, 
hoặc dải hoặc dạng tương tự thuộc nhóm 54.04 hoặc 54.05, 
được kết hợp với kim loại ở dạng dây, dải hoặc bột hoặc phủ 
bằng kim loại. 
Nhóm này bao gồm: 
(1) Sợi làm bằng chất liệu dệt bất kỳ (bao gồm cả sợi monofilament, 
dải và các dạng tương tự, và sợi giấy) kết hợp với chỉ kim loại 
hoặc dải, thu được từ quá trình xoắn, đánh cáp hoặc quấn, bất 
kể tỷ lệ kim loại tham gia. Các loại sợi quấn thu được bằng việc bọc 
chỉ kim loại hoặc dải xoắn xung quanh lõi dệt mà nó không được 
bọc với kim loại. Các kim loại quý hoặc các kim loại được dát khác 
thường được sử dụng. 
(2)  Sợi làm bằng vật liệu dệt bất kỳ (bao gồm: sợi monofilament, 
dải và các dạng tương tự, và sợi giấy) được bọc kim loại bởi bất 
kỳ một quá trình nào khác. Loại này bao gồm sợi đã được bọc kim 
loại bằng phương pháp kết tủa điện phân, hoặc bằng việc tạo cho nó 
một lớp bọc bằng chất kết dính (ví dụ: gelatin) và sau đó tiến hành 
trộn lẫn với bột kim loại (ví dụ: nhôm hoặc đồng). 
Nhóm này cũng bao gồm các sản phẩm có cấu tạo bằng một lõi lá kim 
loại (thông thường là bằng nhôm) hoặc một lõi bằng màng plastic được 
tráng bụi kim loại, được xen vào giữa bằng cách sử dụng một lớp chất 
dính giữa 2 lớp màng plastic. 
Nhóm này bao gồm sợi xe (folded) hoặc sợi cáp chứa các lớp (ply) sợi 
đã chỉ ra ở trên (ví dụ: các loại dây thừng trang trí được sử dụng bởi 
những người làm bánh kẹo, thu được bằng việc xoắn hai hay nhiều sợi 
kim loại đã miêu tả ở trên). Hơn thế nữa, nó bao gồm một số dạng sợi 

khác tạo được cùng cách và được sử dụng cho mục đích tương tự, cấu 
tạo bằng 2 hoặc nhiều sợi trộn kim loại song song kết hợp với nhau bằng 
liên kết chỉ hoặc dải kim loại, và sợi hoặc búi sợi được quấn với sợi của 
nhóm này. 
Sợi trộn kim loại cũng có thể được quấn. Nó được sử dụng trong sản 
xuất đồ trang sức và các loại vải đăng ten hoặc một số loại vải khác, như 
dây trang trí vv... 
 Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Sợi cấu tạo từ hỗn hợp vật liệu dệt và sợi kim loại làm cho chúng có 
khả năng chống lại sự tĩnh điện (các Chương 50 đến 55, tùy từng 
trường hợp). 
(b)  Sợi được gia cố với chỉ kim loại (nhóm 56.07). 
(c)  Các loại dây (cord), dải trang sức hoặc các sản phẩm khác có đặc 
tính của các loại dải trang trí (nhóm 58.08). 
(d)  Dây (wire) hoặc dải bằng vàng, bạc, đồng, nhôm hoặc các kim loại 
khác (Phần XIV và XV). 
56.06 - Sợi cuốn bọc, và dải và dạng tương tự thuộc nhóm 54.04 hoặc 
54.05, đã quấn bọc (trừ các loại thuộc nhóm 56.05 và sợi quấn 
bọc lông đuôi hoặc bờm ngựa); sợi sơnin (chenille) (kể cả sợi 
sơnin xù); sợi sùi vòng. 
(A) SỢI QUẤN, BỌC, VÀ SỢI DẠNG DẢI VÀ CÁC DẠNG 
TƯƠNG TỰ THUỘC NHÓM 54.04 HOẶC 54.05, ĐÃ QUẤN BỌC 
(TRỪ CÁC LOẠI THUỘC NHÓM 56.05 VÀ SỢI QUẤN BỌC 
LÔNG BỜM  NGỰA) 
Các sản phẩm đó được hình thành bởi một lõi, thường làm bằng một 
hoặc nhiều các loại sợi dệt, xung quanh nó là các sợi khác hoặc các sợi 
được cuộn xoắn ốc. Thường thường có các chỉ bao phủ hoàn toàn lõi 
này, nhưng trong một số trường hợp việc xoay theo hình xoắn ốc được 

đặt cách nhau. Trong trường hợp sau cùng, các sản phẩm có thể hơi có 
hình dạng của một số loại sợi xe (folded), sợi cáp hoặc các loại sợi trang 
trí thuộc Chương 50 đến 55, nhưng có thể phân biệt bằng đặc tính của 
sợi đã quấn bọc mà lõi chưa được xoắn với các loại chỉ bọc. 
Lõi của sợi đã quấn bọc thuộc nhóm này thường bằng bông, các loại sợi 
thực vật khác hoặc các loại sợi nhân tạo và các loại chỉ bọc thường là 
loại mịn hơn hoặc nhẵn hơn (ví dụ: lụa, bông đã làm bóng hoặc các loại 
sợi nhân tạo).  
Các loại sợi đã quấn bọc với các loại lõi bằng vật liệu khác là không nhất 
thiết bị loại trừ khỏi nhóm với điều kiện sản phẩm này có các đặc tính cơ 
bản của một sản phẩm dệt.  
Các loại sợi đã quấn bọc được sử dụng như một loại dải trang trí và cũng 
được sử dụng rộng rãi cho việc sản xuất các băng dải trang trí. Tuy 
nhiên, một số loại cũng phù hợp cho  các cách sử dụng khác, ví dụ, dây 
khuyết áo, trong việc thêu hoặc cho đóng gói bưu kiện. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Sợi quấn bọc từ lông đuôi hoặc bờm ngựa (nhóm 51.10). 
(b)  Chỉ cao su đã quấn bọc bằng chất liệu dệt (nhóm 56.04). 
(c)  Sợi trộn kim loại đã quấn bọc (nhóm 56.05). 
(d)  Dây milanaise và các loại dây tương tự và các sản phẩm dệt khác đã 
quấn bọc thuộc nhóm 58.08. 
(e)  Dây kim loại đã quấn bọc, ví dụ: 
(i)  Dây sắt hoặc thép dùng cho sản xuất các loại khung mũ (dây 
quai nón) và thân bằng dây sắt hoặc thép cho các loại hoa nhân 
tạo hoặc dụng cụ uốn tóc (nhóm 72.17). 
(ii)  Dây cách điện (nhóm 85.44). 
(B) SỢI SƠNIN (CHENILLE) KỂ CẢ SỢI SƠNIN XÙ 
Thông thường, sợi sơnin cấu tạo bằng hai hoặc nhiều sợi dệt được xoắn 

bện với nhau và giữ những đầu mút ngắn của sợi dệt đứng gần như thẳng 
góc. Các sợi đôi khi được duy trì trong vòng hình thành trên một khung 
cửi dệt kim. Bởi vậy nó trông như loại sợi đã chần với các chỉ tuyết chạy 
theo chiều dài. Thường được sản xuất trực tiếp trên khung dệt đặc biệt 
(ví dụ: máy xoắn tròn và máy tết bện Raschel) hoặc bằng việc cắt đi, các 
sợi leno đặc biệt; trong giai đoạn cuối cùng, sau khi vải được cắt dọc 
theo từng mặt của mỗi một loại sợi dọc, sợi ngang tạo thành dọc (chỉ nền 
và chỉ đan nhau) làm nền trong sợi viền, và sợi ngang đã hình thành 
thành chồng. 
Nhóm này cũng bao gồm sợi sơnin thu được bằng kết ghép xơ vụn dệt 
với một lõi bằng sợi dệt. Trong quá trình này sợi lõi nhúng qua một bể 
dung dịch keo và sau đó đưa qua một khoang mà ở đó xơ vụn dệt được 
phân kết cố định theo cách tỏa tròn xung quanh lõi dưới tác động của 
một môi trường tĩnh điện có hiệu điện thế cao. 
Sợi sơnin được sử dụng trong sản xuất vải sơnin  (nhóm 58.01) hoặc 
phần lớn các sản phẩm đồ nội thất, giường, thảm, đồ trang trí, quần áo. 
(C) SỢI SÙI VÒNG 
Sợi sùi vòng là một loại sợi dạng ống được làm trên một máy dệt kim 
chuyển động vòng và có kích thước 1,5 đến 2 mm khi bị ép phẳng. Sợi 
này được sử dụng trong chế tạo các viền tua và các phụ liệu dệt khác và 
trong chế tạo các loại vải dệt thoi trên các khung dệt ngang và dệt dọc. 
56.07 - Dây xe, chão bện (cordage), thừng và cáp, đã hoặc chưa tết 
hoặc bện và đã hoặc chưa ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bao 
ngoài bằng cao su hoặc plastic. (+). 
- Từ xidan (sisal) hoặc từ xơ dệt khác của các cây thuộc 
chi cây thùa (Agave): 
5607.21 - - Dây xe để buộc hoặc đóng kiện 
5607.29 - - Loại khác 

- Từ polyetylen hoặc polypropylen: 
5607.41- - Dây xe để buộc hoặc đóng kiện 
5607.49 - - Loại khác 
5607.50 - Từ xơ tổng hợp khác 
5607.90 - Loại khác  
Nhóm này bao gồm dây xe, chão bện, dây thừng và cáp được sản xuất 
bằng việc xoắn, bện hoặc tết. 
(1)  Dây xe, chão bện (cordage), dây thừng và cáp chưa tết hoặc bện. 
Các Phần (I) (B) (1) và (2) (đặc biệt là Bảng) thuộc Chú giải tổng 
quát của Phần XI đưa ra các trường hợp trong đó các loại sợi đơn, 
sợi xe (folded) hoặc sợi cáp được xem như dây xe, chão bện 
(cordage), dây thừng và cáp thuộc nhóm này. 
Sợi dệt được gia cố bằng chỉ kim loại luôn được phân loại ở đây và 
phân biệt với các sợi trộn kim loại thuộc nhóm 56.05 trong đó tao 
dây (strand)  kim loại thường dày hơn và có tác dụng chỉ để gia cố 
và không dùng cho mục đích trang trí. 
Nhóm này cũng bao gồm dây xe, chão bện, dây thừng và cáp thu 
được từ việc bóc tách các dải đã gần như được tách hoàn toàn thành 
các sợi filament bằng cách xoắn. 
(2)  Dây xe, chão bện (cordage), dây thừng và cáp đã tết hoặc bện 
Các loại này nằm trong các trường hợp được phân loại ở đây không 
tính đến trọng lượng trên độ dài của chúng. Chúng thường ở dạng 
dải viền hình ống thường được làm bằng vật liệu dệt thô hơn các 
loại dải viền của nhóm 58.08. Tuy nhiên, những hàng hóa đã tết bện 
thuộc nhóm này ít khác với hàng hóa thuộc nhóm 58.08 bởi bản chất 
của sợi được sử dụng hơn là do được tết chặt, với kết cấu vững, tạo 
cho chúng khả năng phù hợp để sử dụng như dây xe, chão bện, dây 
thừng hoặc cáp. Thêm vào đó, chúng thường không bị nhuộm màu. 
Các sợi quan trọng nhất được sử dụng trong sản xuất dây xe, chão bện, dây 

thừng, cáp là sợi gai, đay, sợi xixan, sợi bông, và các loại sợi tổng hợp. 
Dây xe, chão bện, dây thừng, cáp bằng sợi giấy được phân loại ở đây 
nếu chúng được tết hoặc được gia cố bằng chỉ kim loại. 
Dây xe, chão bện, dây thừng và cáp được sử dụng như dây xe để buộc dùng 
trong bao gói hàng kiện, dây kéo, dây tải hàng... Tiết diện của chúng thường 
là hình tròn nhưng một số (ví dụ: một số cáp truyền) có dạng hình vuông, 
hình thang hoặc hình tam giác. Thông thường chúng không được tẩy trắng, 
nhưng có thể được nhuộm, thấm tẩm tạo cho chúng lớp vỏ chống mục, các 
tao dây được nhuộm màu khác nhau, hoặc được thấm tẩm, tráng, bọc, phủ 
hoặc được bọc lớp bảo vệ bằng cao su hoặc plastic. 
Các sản phẩm này được phân loại ở đây cho dù đã hoặc chưa bị cắt theo 
chiều dài. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Dây trang trí được sử dụng bởi người bán bánh kẹo, người bán hoa... 
thuộc nhóm 56.05. 
(b)  Sợi quấn bọc, sợi sơnin và sợi sùi vòng thuộc nhóm 56.06. 
(c)  Các mặt hàng thuộc nhóm 56.09. 
(d)  Sợi Milanaise và các loại dây tương tự và các sản phẩm dệt đã quấn 
bọc khác thuộc nhóm 58.08. 
(e)  Các loại dây, dây tết và các loại tương tự, đã hoặc chưa được tráng, 
ngâm tẩm hoặc đã được gia cố bằng kim loại, loại được sử dụng 
trong ngành công nghiệp như vật liệu đóng gói hoặc vật liệu bôi trơn 
(nhóm 59.11). 
(f)  Các mẩu dây xe, chão bện, dây thừng và cáp thuộc nhóm 63.10. 
(g)  Dây xe, sợi bện (cord) được tráng vật liệu mài,... (nhóm 68.05). 
(h)  Các mặt hàng dùng cho thể dục (nhóm 95.06). 
Chú giải  phân nhóm. 
Phân nhóm 5607.21 
Phân nhóm này bao gồm dây xe đơn bằng sợi xizan (sisal) hoặc các loại 

sợi dệt khác thuộc giống Agave xoắn hình ”Z” và dây xe chịu lực giật 
nhỏ nhất được tính bằng công thức sau:   
(R là lực chịu giật của dây xe tính bằng decaneuwtons (daN) và n là độ 
dài chịu lực của dây xe tính bằng mét trên kilogram) 
Ví dụ : Lực chịu giật của dây xe nhỏ nhất 150 (150 m/kg) là 98 daN, cho 
dây xe 200 (20m/kg) là 69 daN và cho dây xe 300 (300m/kg) là 40 daN.  
Phân nhóm 5607.41 
Phân nhóm này bao gồm dây xe đơn bằng polyetylen hoặc polypropylen, 
đã được làm ổn định chống lại sự lão hóa dưới ánh sáng mặt trời, có 
xoắn hình ”Z” và: 
(a) Lực chịu giật nhỏ nhất được tính bằng công thức sau : 
(R là lực chịu giật dây xe tính bằng decanewtons (daN) và n là độ 
dài chịu lực của dây xe tính bằng mét trên kg); 
(b)  Lực chịu giật trung bình tối thiểu được tính bằng công thức sau: 
(R’ là lực bứt đứt trung bình tính theo daN). 
Ví dụ : Lực chịu giật dây xe nhỏ nhất loại 98 daN và lực bứt đứt trung 
bình của 57 daN sẽ áp dụng cho số dây xe 330 (330 m/kg). 
56.08 - Tấm lưới được thắt nút bằng sợi xe, chão bện (cordage) hoặc 
thừng; lưới đánh cá và các loại lưới khác đã hoàn thiện, từ 
vật liệu dệt. 

- Từ vật liệu dệt nhân tạo: 
5608.11 - - Lưới đánh cá thành phẩm 
5608.19 - - Loại khác 
5608.90 - Loại khác 
(1)  Tấm lưới được thắt nút bằng sợi xe, chão bện (cordage) hoặc thừng. 
Các sản phẩm này thường là những tấm lưới dài, cụ thể, là vải thắt 
nút ở dạng có mắt lưới mở làm bằng tay hoặc bằng máy. Chúng 
khác với các loại vải lưới thuộc nhóm 58.04 mà tại đó chúng được 
làm bằng dây xe, chão bện hoặc thừng thuộc nhóm 56.07. 
(2)  Lưới đánh cá và các loại lưới khác đã hoàn thiện, từ vật liệu dệt. 
Khác biệt với các sản phẩm được đề cập ở đoạn (1) nói trên, các mặt 
hàng hoàn chỉnh của nhóm này có thể được làm bằng sợi và các mắt 
lưới mở có thể được tạo ra bằng cách đan hoặc các phương pháp 
khác. 
Các loại lưới hoàn chỉnh là các loại lưới, đã hoặc chưa sẵn sàng để 
sử dụng, được làm trực tiếp thành hình hoặc được ráp từ những 
mảnh lưới. Sự xuất hiện của tay cầm, các vòng, chì đáy, và các 
phao, các dây hoặc các bộ phận khác không gây ảnh hưởng tới phân 
loại các hàng hóa vào nhóm này. 
Các loại lưới hoàn chỉnh chưa được chi tiết tại các nhóm khác của 
Danh mục thì thuộc nhóm này. Nhóm này bao gồm các loại lưới 
đánh cá, các loại lưới ngụy trang, lưới dựng phông biểu diễn, lưới an 
toàn, túi lưới đi chợ và các loại lưới tương tự (ví dụ, dành cho chơi 
tennis hay đá bóng), võng,  các loại khinh khí cầu hoặc lưới của 
khinh khí cầu có điều khiển, lưới chống côn trùng,... 
Các sản phẩm thuộc nhóm này vẫn được xếp ở đây thậm chí nếu nó 
được thấm tẩm (ví dụ: để giúp chúng chống lại thời tiết, nước).  
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Lưới ở dạng mảnh được sản xuất bằng dệt kim hoặc móc (nhóm 

60.02 đến 60.06). 
(b)  Lưới bao tóc (nhóm 65.05). 
(c)  Các loại lưới thể thao (ví dụ: lưới gôn và lưới vợt tennis), lưới bắt cá 
và các loại lưới khác thuộc Chương 95. 
56.09 - Các sản phẩm làm từ sợi, dải hoặc dạng tương tự thuộc 
nhóm 54.04 hoặc 54.05, dây xe, chão bện (cordage), thừng 
hoặc cáp, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác. 
 Nhóm này bao gồm các mặt hàng bằng các loại sợi thuộc các Chương từ 
50 tới Chương 55, các mặt hàng làm bằng dải hoặc dạng tương tự thuộc 
nhóm 54.04 hoặc 54.05 và các sản phẩm làm từ dây xe, chão bện và dây 
cáp... thuộc nhóm 56.07 trừ các sản phẩm đã được phân loại vào nhóm 
cụ thể hơn trong Danh mục. 
Chúng bao gồm các loại sợi, chão bện, dây thừng... đã cắt theo chiều dài 
và được thắt nút ở một hoặc hai đầu, hoặc đã ráp khít với lỗ khuyên, 
vòng, móc... (ví dụ: dây giầy, các lớp lót quần áo, các loại chão...), dây 
bảo vệ tàu, đệm dỡ hàng, thang dây, dây treo chịu tải, “vải” dùng để rửa 
đĩa chén làm từ một bó sợi được gập thành 2 và buộc chặt cùng nhau ở 
đầu gấp,...  
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Bộ dây cương, dây cương, dây bọc cổ để kéo ngựa đi, bộ yên 
cương... (nhóm 42.01). 
(b)  Dây cắt theo chiều dài, với các nút, vòng, hoặc các lỗ xâu kim loại 
hoặc thủy tinh, loại được sử dụng trên máy dệt Jacquard hoặc máy 
khác (nhóm 59.11). 
(c)  Vải dệt và các mặt hàng làm từ các loại vải dệt như vậy, được phân 
loại vào các nhóm thích hợp (ví dụ: dây giầy làm từ dây tết được 
phân loại trong nhóm 63.07). 
(d)  Chão dùng đóng đế cho dép sandal (nhóm 64.06). 
(e)  Các mặt hàng dùng cho thể dục và các mặt hàng khác thuộc 
Chương 95.  

Chương 57 
Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác 
Chú giải. 
1.-  Theo mục đích của Chương này, thuật ngữ  “thảm và các loại hàng 
dệt trải sàn khác” có nghĩa là các loại trải sàn trong đó vật liệu dệt 
được dùng làm bề mặt ngoài của sản phẩm khi sử dụng và gồm cả 
các sản phẩm có các đặc tính của hàng dệt trải sàn nhưng được dự 
định dùng cho các mục đích khác 
2.-  Chương này không bao gồm các loại lớp lót của hàng dệt trải sàn. 
TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác trong đó 
các vật liệu dệt dùng như mặt trên của sản phẩm khi sử dụng. Chương 
này bao gồm các mặt hàng có đặc tính của các loại trải sàn bằng hàng 
dệt (ví dụ: độ dầy, độ cứng, độ bền) nhưng nó cũng được dự định sử 
dụng cho các mục đích khác (ví dụ: đồ treo tường hoặc các loại phủ bàn 
hoặc cho các mục đích trang trí nội thất khác). 
Các sản phẩm trên được phân loại trong Chương này mặc dù đã được làm 
hoàn chỉnh (làm thành kích cỡ  nhất định, được gấp mép, tạo đường nét, kết 
diềm tua, ráp nối vv...) ở dạng thảm vuông, thảm phủ xung quanh giường, 
thảm lò sưởi, hoặc ở dạng thảm được dùng trong phòng, phủ hành lang, lối đi 
lại hoặc cầu thang, đủ độ dài dùng để cắt và làm hoàn chỉnh. 
Chúng có thể được thấm tẩm (ví dụ: với mủ cao su) hoặc được bồi bằng 
chất liệu vải dệt thoi hoặc không dệt hoặc bằng cao su xốp, plastic xốp. 
Chương này không bao gồm: 
(a)  Các lớp lót của hàng dệt trải sàn, ví dụ, chất liệu vải thô hoặc tấm 
đệm bằng nỉ ngăn cách giữa sàn và thảm (được phân loại theo vật 
liệu cấu thành). 
(b) Vải sơn lót sàn và các loại trải sàn khác cấu tạo từ một tấm phủ hoặc 
tấm bọc được một lớp bồi bằng vật liệu dệt (nhóm 59.04) 

57.01 - Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác, thắt nút, đã hoặc 
chưa hoàn thiện.  
5701.10 - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn 
5701.90 - Từ các vật liệu dệt khác. 
Thảm thắt nút và sản phẩm trải sàn khác bằng hàng dệt thắt nút có một 
sợi dọc kéo căng, có sợi chỉ tạo vòng (chỉ tuyết) được đan thắt nút hoặc 
xoắn thành một vòng hoàn chỉnh xung quanh ít nhất một sợi chỉ dọc. 
Các sợi chỉ tạo vòng (chỉ tuyết) sẽ được đan bện chặt bằng việc lồng các 
sợi chỉ dệt ngang. Việc thắt nút và xoắn này là đặc trưng cơ bản của các 
sản phẩm thuộc nhóm này. 
Các kiểu thắt nút được sử dụng thông dụng nhất là: 
(1)  Kiểu Ghiorder hoặc Turkish: chỉ tạo vòng (chỉ tuyết) được đặt 
trên hai sợi chỉ dọc sát nhau và hai đầu mút của nó được quay vào 
nhau giữa hai sợi chỉ dọc đó làm thành một vòng hoàn chỉnh xung 
quanh sợi chỉ dọc (xem Hình 1), hai đầu mút dựng ngược tạo thành 
bề mặt thảm. 
Hình 1 
(2)  Kiểu Senna hoặc Persian: chỉ tạo vòng (chỉ tuyết) được xoắn 
xung quanh mỗi sợi chỉ dọc và sau đó luồn qua phía dưới sợi chỉ 
dọc tiếp sau (xem Hình 2), hai đầu mút dựng ngược tạo thành bề 
mặt thảm. 

Hình 2 
Trong các kiểu Ghiorder và Senna chỉ tạo vòng (chỉ tuyết) cũng có thể 
bọc lên bốn sợi chỉ dọc. 
(3)  Kiểu thắt nút sợi chỉ dọc đơn: mỗi sợi chỉ tạo vòng (chỉ tuyết)  
cũng có thể được xoắn hoặc thắt nút trên một sợi dọc; mỗi  chỉ tạo 
vòng tạo thành một 1,5 vòng xung quanh một sợi chỉ dọc (xem Hình 
3), hai đầu mút dựng ngược tạo thành bề mặt thảm. 
Hình 3 
Do vậy, sẽ có nhiều cách thắt nút, hai nút kề nhau nhưng hoàn toàn độc 
lập cho mỗi sợi, phủ qua toàn bộ chiều rộng của thảm, do đó sẽ bao phủ 
vải nền. 
Nhóm này cũng bao gồm các loại thảm nhất định được làm bằng việc 
thắt nút các chỉ tạo vòng lên trên tấm nền dệt thưa. 
Phần lớn các loại thảm thắt nút, được làm thủ công có kích cỡ phù hợp 
cho sử dụng, với các chỉ tạo vòng được nhuộm mầu khác nhau tạo nên 
một mẫu hoa văn. Tuy nhiên, chúng cũng được dệt trên khung dệt máy 
và sau đó nhìn chung là sản phẩm dệt tương đối phẳng và mép vải thẳng 

hơn so với các trường hợp vải dệt thủ công. Chỉ tạo vòng thường bằng 
lông cừu hoặc tơ nhưng đôi khi bằng lông dê Angora hoặc lông dê 
Kashmir. Vải nền thường làm bằng sợi bông, lông cừu hoặc lông động 
vật trong trường hợp thảm làm bằng thủ công, và bằng bông, lanh, gai 
dầu, hoặc đay trong trường hợp thảm làm bằng máy. 
Các sản phẩm thuộc nhóm này được sử dụng làm tấm trải sàn nhưng đôi 
khi sử dụng theo cách khác trong đồ nội thất (ví dụ: dùng như tấm treo 
tường hoặc trải bàn) (xem Chú giải tổng quát Chương này). 
Các loại thảm này vẫn được phân loại ở đây nếu chúng được viền bằng 
các loại tua diềm (được chế tạo trong quá trình dệt hoặc được đính vào 
sau) hoặc nếu chúng được hoàn thiện theo cách khác tùy sử dụng. 
Các sản phẩm này chủ yếu có xuất xứ từ phương đông (Iran, Thổ Nhĩ 
Kỳ,  Turkestan, Apganistan, Pakistan, Trung Quốc, Ấn Độ) hoặc từ Bắc 
Phi (Angiêni, Tuynigi, Moroco, Ai cập). 
Nhóm này loại trừ các loại thảm mà chỉ tạo vòng chỉ được móc đơn 
giản dưới các sợi dọc mà không cần tạo thành vòng xung quanh sợi chỉ 
dọc (xem Hình 4 và 5 dưới đây ) (nhóm 57.02). 
57.02 - Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác, dệt thoi, không tạo 
búi hoặc phủ xơ vụn, đã hoặc chưa hoàn thiện, kể cả thảm 
“Kelem”, “Schumacks”, “Karamanie” và các loại thảm dệt 
thoi thủ công tương tự. 
5702.10 - Thảm “Kelem”, “Schumacks”, “Karamanie” và các 
loại thảm dệt thoi thủ công tương tự 
5702.20 - Hàng trải sàn từ xơ dừa (coir) 
- Loại khác, có cấu tạo nổi vòng, chưa hoàn thiện: 
5702.31 - - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn 
5702.32 - - Từ các vật liệu dệt nhân tạo 
5702.39 - - Từ các loại vật liệu dệt khác 
- Loại khác, có cấu tạo nổi vòng, đã hoàn thiện: 
5702.41 - - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn 

5702.42 - - Từ các vật liệu dệt nhân tạo 
5702.49 - - Từ các vật liệu dệt khác 
5702.50 - Loại khác, không có cấu tạo nổi vòng, chưa hoàn thiện: 
- Loại khác, không có cấu tạo nổi vòng, đã hoàn thiện: 
5702.91 - - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn 
5702.92 - - Từ các vật liệu dệt nhân tạo 
5702.99 - - Từ các vật liệu dệt khác  
Các loại thảm và hàng dệt trải sàn khác thuộc nhóm này bao gồm: 
(1)  Thảm Wilton và các loại thảm tương tự. Chúng có vải nền bền, 
nặng được phủ bởi một bề mặt vòng lông (như là, mặt phải được 
hình thành bởi các sợi chỉ sát nhau hoặc các túm sợi dựng thẳng 
góc), hoặc bởi một bề mặt nổi vòng. 
Bề mặt của các loại thảm này được cấu tạo bằng các sợi chỉ dọc bổ 
sung dùng để làm thành các vòng trên mặt phải của vải trong quá trình 
dệt bằng việc gắn tạm thời các thanh hoặc dây kim loại. Khi các vòng 
này được cắt đi thì sẽ tạo nên mặt vòng lông của thảm (như thảm 
Wilton, xem hình 4); trong loại thảm này, chỉ tạo vòng được móc đơn 
giản dưới sợi chỉ ngang. Ngược lại, nếu các vòng (được để lại trong 
tình trạng) không bị cắt thì các thảm làm ra có mặt vòng lông dạng 
vòng, như tấm thảm loại Brussel (xem Hình 4 &5) 
Hình 4 

Hình 5 
Các thảm này có thể được để trơn hoặc được trang trí hoa văn. Các 
hoa văn này được dệt trên một khung dệt (ví dụ khung dệt Jacquard) 
được trang bị đặc biệt để mà có khả năng tạo ra một mẫu hoa văn 
thu được bằng cách sử dụng 2 đến 5 loại sợi màu khác nhau. 
Thảm Wilton cũng được sản xuất bằng việc dệt hai tấm vải với một 
sợi chỉ tạo vòng thông thường mà sợi chỉ này bị cắt sau khi dệt để 
tạo thành 2 tấm thảm nổi vòng (thảm mặt đối mặt Wilton). 
Sợi tạo vòng thường làm bằng lông cừu hoặc một hỗn hợp lông 
cừu/nylon, nhưng nó cũng có thể bằng bông, polyamít, acrylic, 
viscose hoặc hỗn hợp các loại sợi đó. Vải nền thường là bông, đay 
hoặc popypropylen. 
(2)  Thảm Axminster: đây là các loại thảm dệt máy mà trong đó các 
hàng sợi nhung thảm (dệt) theo chiều ngang liên tiếp được đan ghép 
với nhau trong quá trình dệt phù hợp với sự sắp xếp mầu sắc được 
xác định trước. 
(3)  Thảm sơnin. Đặc tính chính của chúng là bề mặt nổi vòng được sản 
xuất bằng việc sử dụng các loại sợi sơnin (xem Chú giải chi tiết 
nhóm 56.06). Các loại sợi này có thể được dùng như một sản phẩm 
dệt ngang bổ sung vào theo cách thông thường; trong một số trường 
hợp các đoạn sợi sơnin ngắn được chèn thêm vào như một sợi dọc 
phụ không liên tục và được giữ cố định bằng vải nền. 
(4)  Thảm dệt ngang không có các vòng hoặc nổi vòng nhưng có thể 
được phân biệt với vải dệt thuộc các Chương từ Chương 50 đến 55 
vì các loại thảm này nặng và bền, được dự kiến sử dụng như các tấm 
trải sàn. 
Loại thảm này bao gồm thảm Kidderminster hoặc còn gọi là thảm 
Bỉ “Belgian” là các loại thảm đúp, mẫu thiết kế được sản xuất bằng 

cách thay đổi khoảng cách của hai tấm vải. Ngoài các loại thảm sử 
dụng ở nhà tương đối mịn, nhóm này cũng bao gồm các loại thảm 
thô hoặc sản phẩm thô để làm thảm (như thảm vải thô) bằng sợi đay, 
sơ dừa, lông, sợi giấy... (luôn là kiểu dệt thô, dệt chéo, dệt hình chữ 
V), và các loại thảm giẻ (rag carpet) có sợi dọc làm từ sợi đay và sợi 
ngang làm từ dải vải phế liệu được buộc hai đầu với nhau. 
(5)  Thảm chùi chân ở cửa ra vào và các loại thảm tương tự. Chúng 
được cấu tạo chủ yếu gồm các búi cứng, thường làm bằng xơ dừa 
hoặc sợi xizan, được móc một cách đơn giản bên dưới sợi chỉ dọc 
của vải nền; chúng được sản xuất có kích cỡ nhỏ phù hợp với mục 
đích sử dụng dự kiến. 
(6)  Thảm terry hoặc hoặc các loại thảm lót buồng tắm tương tự. 
 Cần lưu ý rằng một số loại thảm nhất định được làm bằng cùng một 
phương pháp tương tự như các sợi nổi vòng hoặc vải sơnin thuộc nhóm 
58.01, nhưng được chủ yếu dùng như tấm trải sàn, chúng được phân biệt 
bằng độ bền chắc, tính thô mộc của vật liệu sử dụng trong sản xuất hoặc 
bằng độ cứng của vải nền, thường có một sợi dọc thêm vào (stuffer). 
(7) Thảm “Kelem”, “Schumacks”, “Karamanie” và các thảm được 
dệt thủ công tương tự. Kelme (hoặc Khilim) cũng còn gọi là 
Karamanie, được sản xuất bằng cùng một phương pháp như thảm 
dệt thủ công được mô tả trong Chú giải chi tiết nhóm 58.05, Phần 
(A). Bởi vậy, cấu trúc dệt của nó so sánh được với các mặt hàng 
thuộc các loại thảm đã nêu ở trên và nhìn chung, những khoảng 
trống là như nhau khi nhìn vào giữa các sợi dọc. Tuy nhiên, nếu chỉ 
đề cập tới mẫu hoa văn, thảm “Kelem” không có bất cứ trang trí 
hình hoa hoặc hình lá nào, mà chỉ là những mẫu trang trí bằng 
đường thẳng. Mặc dù mặt trước có thể được phân biệt với mặt sau 
bởi các trang trí, nhưng sự khác nhau này chỉ rất ít đến mức mà hai 
mặt đều có thể được sử dụng. 
Thảm Kelem đôi khi được làm bằng hai dải được khâu lại với nhau, 
cách trang trí này được làm như một cách thức để che dấu các 

đường khâu. Đó chính là tại sao mà nó chỉ có một đường viền (các 
đầu mút của sản phẩm dệt) trên các mép ngắn hoặc thậm chí không 
có gì cả. Điều này hiển nhiên không loại trừ các đường viền thêm 
vào. 
Nói chung, sợi dọc là làm bằng len và sợi ngang là sợi lông cừu 
hoặc sợi bông.  
Nhóm này cũng bao gồm mặt hàng được sản xuất theo kỹ nghệ 
Kelem (ở vùng trung tâm Châu âu nói riêng) mà chúng được trang 
trí với hoa văn bằng các mẫu trang trí cùng kiểu như các loại thảm 
Kalem phương Đông sáng bóng. 
Schumacks được dệt cùng cách như Kelem nhưng lại khác so với 
Kelem ở những điểm sau đây: 
ngay sau khi một hoặc hai sợi ngang tạo thành hoa văn được 
làm hoàn chỉnh thì sợi ngang bổ sung sẽ được chèn vào theo 
chiều rộng của tấm vải, điều này sẽ hạn chế bớt những khoảng 
trống trong sợi dọc; 
khi đề cập đến mẫu hoa văn, hình nền thường  được trang trí 
bằng 3 đến 5 ngôi sao sặc sỡ trải dài trông giống như huân 
chương; đường viền nhìn chung bao gồm một băng chính rộng 
và 2 đến 3 băng phụ. Mặt trái có các đầu mút có lông mịn, dài 
vài cm theo chiều dài của nó, vẫn được giữ lại sau khi sợi ngang 
bị tách nhỏ ra. 
Sợi ngang của thảm Schumacks là loại len trong khi đó sợi dọc có 
thể là len hoặc sợi bông; hoặc thậm chí là lông dê. 
Các loại thảm tương tự thuộc thảm Sileh đặc biệt được sản xuất bằng 
cách tương tự với thảm Schumacks. Mẫu hoa văn của thảm Sileh cơ bản 
được hoàn thiện bằng các mẫu trang trí rời hình chữ S hoặc ở mặt chính 
hoặc từ sau ra trước, và một số mẫu trang trí rời có hình động vật được 
điểm xuyết dọc theo toàn bộ bề mặt. Sợi dọc và sợi ngang của thảm 
Sileh là len (trong một số ít trường hợp sợi dọc là sợi bông). 
Nhóm này loại trừ các loại chiếu và thảm làm từ vật liệu tết bện  
(Chương 46). 

57.03 - Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác (kể cả thảm cỏ), tạo 
búi, đã hoặc chưa hoàn thiện. 
5703.10 - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn 
 - Từ ni lông hoặc từ các polyamit khác: 
5703.21 - - Thảm cỏ (turf) 
5703.29 - - Loại khác 
 - Từ các vật liệu dệt nhân tạo khác: 
5703.31 - - Thảm cỏ (turf) 
5703.39 - - Loại khác 
5703. 90 - Từ các vật  liệu dệt khác 
Nhóm này bao gồm thảm may chần (nổi nhung) và các loại hàng dệt trải 
sàn khác may chần, được sản xuất trên máy chần, bằng hệ thống kim và 
móc, đưa xen thêm các sợi dệt vào một tấm nền đã được làm sẵn từ 
trước (thường là một sản phẩm dệt hoặc không dệt) như vậy tạo ra các 
vòng, hoặc nếu các kim và móc được phối hợp với một thiết bị cắt, thì 
tạo lớp nhung tuyết (tuft). Các sợi hình thành vòng lông (pile) sau đó 
thường được cố định bằng một lớp phủ bằng cao su hoặc plastic. Thường 
trước khi tấm phủ được làm khô, nó hoặc được bao phủ bằng một tấm 
đệm phụ bằng chất liệu dệt của sản phẩm dệt thưa, ví dụ: đay, hoặc được 
phủ bằng cao su bọt. 
Nhóm này cũng bao gồm thảm cỏ (turf), là loại trải sàn làm từ vật liệu 
dệt có chần sợi mô phỏng cỏ, không phân biệt màu sắc. Thảm cỏ (turf) 
được sử dụng trong nhà hoặc ngoài trời cho các bề mặt chơi thể thao (ví 
dụ, bóng đá, bóng chày, khúc côn cầu trên sân, gôn, quần vợt) và các 
ứng dụng khác (ví dụ, cảnh quan, sân bay). Nhóm này không bao gồm 
các sản phẩm bằng plastic thuộc Chương 39. 
Nhóm này cũng bao gồm thảm may chần và các loại hàng dệt trải sàn 
khác may chần được làm bằng việc sử dụng súng chần hoặc chần 
bằng tay. 
Các sản phẩm thuộc nhóm này được phân biệt với các sản phẩm dệt đã 

may chần thuộc nhóm 58.02 ví dụ, bởi các tính chất của chúng như: độ 
cứng vững, độ dày và độ bền, giúp tạo cho chúng những khả năng phù 
hợp trong việc sử dụng như các tấm trải sàn. 
57.04 - Thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác, từ phớt, không tạo 
búi hoặc phủ xơ vụn, đã hoặc chưa hoàn thiện.  
5704.10 - Các tấm để ghép, có diện tích bề mặt tối đa 0,3m2 
5704.20 - Các tấm để ghép, có diện tích bề mặt tối đa trên 0,3 m2 
nhưng không quá 1 m2 
5704.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các loại thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác, 
bằng phớt. Về mặt ý nghĩa của thuật ngữ “phớt”, xem Chú giải chi tiết 
nhóm 56.02. 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Các tấm lát sàn thường bằng phớt làm từ lông cừu hoặc lông các 
loại động vật khác.  
(2)  Các loại hàng dệt trải sàn bằng phớt dệt kim, nhìn chung đã được 
bồi hoặc ngâm tẩm ở mặt dưới bằng cao su hoặc plastic để gia cố 
cho các sản phẩm hoặc tạo cho chúng các đặc tính chống trơn trượt. 
57.05 - Các loại thảm khác và các loại hàng dệt trải sàn khác, đã 
hoặc chưa hoàn thiện. 
Nhóm này bao gồm thảm và các loại hàng dệt trải sàn khác, trừ các sản 
phẩm được bao hàm bởi một nhóm cụ thể hơn của Chương này. 
Nhóm này bao gồm: 
(1)  Các loại thảm nổi vòng liên kết, ở đó các bề mặt nổi vòng được liên 
kết hoặc với một chất nền hoặc trực tiếp với một chất kết dính mà 
chất kết dính này hình thành chất nền. Liên kết này được tạo ra bằng 
kết dính hoặc bằng nhiệt hoặc bằng sự kết hợp của cả hai hoặc bằng 
hàn siêu âm. Các vòng có thể được liên kết hoặc với một bề mặt nền 
đơn hoặc ở giữa hai bề mặt nền, trong trường hợp thứ hai để phân 
chia thành hai tấm thảm. 

(2)  Các loại thảm bằng chất liệu không dệt, bao gồm một lớp sợi dệt đã 
chải thô được uốn giữa các cuộn có dạng khe tạo thành các vòng, nó 
có thể được đặt ra ở một vị trí nhất định bởi một tấm phủ dày bằng 
cao su, plastic,... có tác dụng như một tấm nền, hoặc được liên kết 
với một loại vải nền khác bằng chất kết dính tương tự. 
(3)  Các loại thảm làm bằng “cách nhồi” (“flocking”), ví dụ: bằng việc 
ghép các sợi dệt thẳng đứng trên một tấm nền bằng chất liệu dệt, 
được phủ bằng cao su, plastic... 
(4)  Các loại thảm dệt kim. Nhìn chung chúng có dạng bên ngoài như 
của vải nhung dày hoặc đôi khi như các loại da thú. 

Chương 58 
Các loại vải dệt thoi đặc biệt; các loại vải dệt tạo búi; hàng ren; 
thảm trang trí; hàng trang trí; hàng thêu 
Chú giải.  
1.-  Chương này không áp dụng cho các loại vải dệt nêu trong Chú giải 1 
của Chương 59, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép lớp, hoặc những 
mặt hàng khác thuộc Chương 59. 
2.- Nhóm 58.01 cũng bao gồm các loại vải dệt thoi có sợi ngang nổi 
vòng, chưa được cắt phần nổi, ở trạng thái này chúng không có vòng 
lông dựng. 
3.-  Theo mục đích của nhóm 58.03, vải “dệt quấn” (gauze) là loại vải có 
sợi dọc gồm toàn bộ hoặc một phần của sợi dựng hoặc sợi nền và 
sợi cuốn cả vòng hoặc nửa vòng đi bắt chéo qua sợi dựng hoặc sợi 
nền tạo thành nửa vòng, một vòng hoàn chỉnh hoặc nhiều hơn để tạo 
thành các vòng sợi cho sợi ngang đi qua. 
4.-  Nhóm 58.04 không áp dụng cho vải lưới thắt nút từ dây xe, chão bện 
(cordage) hoặc thừng, thuộc nhóm 56.08. 
5.-  Theo mục đích của nhóm 58.06, khái niệm “vải dệt thoi khổ hẹp” là: 
(a) Vải dệt thoi có khổ rộng không quá 30 cm, hoặc được dệt sẵn 
như thế hoặc được cắt từ những tấm rộng hơn, với điều kiện đã 
tạo biên ở hai mép (dệt thoi, gắn keo hoặc bằng cách khác);  
(b) Vải dệt thoi dạng ống có chiều rộng khi trải phẳng không quá 30 
cm; và  
(c) Vải cắt xiên với các mép gấp, có chiều rộng khi chưa gấp mép 
không quá 30 cm. 
Vải dệt thoi khổ hẹp có tua viền được phân loại vào nhóm 58.08. 
6.-  Trong nhóm 58.10, không kể những đề cập khác, khái niệm “hàng 
thêu” là hàng thêu bằng chỉ kim loại hoặc chỉ thuỷ tinh trên vải lộ 
nền, và hàng được khâu đính trang trí sequin, hạt hoặc các mẫu 
trang trí bằng vật liệu dệt hoặc vật liệu khác. Nhóm này không bao 
fabric, and sewn appliqué work of sequins, beads or ornamental 

gồm loại thảm trang trí thêu tay (nhóm 58.05). 
7.-  Ngoài các sản phẩm của nhóm 58.09, Chương này cũng bao gồm 
các mặt hàng làm từ sợi kim loại và loại làm trang trí như các loại 
vải dùng cho nội thất hoặc dùng cho các mục đích tương tự. 
TỔNG QUÁT 
Trừ nhóm 58.09, Chương này bao gồm nhiều các sản phẩm dệt khác 
nhau mà sự phân loại các sản phẩm này không phụ thuộc vào các vật 
liệu dệt cấu thành của chúng. Một số trong những sản phẩm này chỉ nằm 
trong chương này nếu chúng không được làm hoàn chỉnh theo ý nghĩa 
của Phần (II) thuộc Chú giải tổng quát của Phần XI, nhưng những sản 
phẩm khác thì được phân loại ở đây dù có được làm hoàn chỉnh hay 
không. 
Nên chú ý rằng, theo các Chú giải của Chương 59, vải dệt quấn thuộc 
nhóm 58.03, vải dệt thoi khổ hẹp thuộc nhóm 58.06 và các dây tết, mảnh 
trang trí dạng chiếc thuộc nhóm 58.08, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép 
lớp bị loại trừ khỏi Chương 58 (thường ở Chương 39, 40 hoặc 59), trái 
lại những sản phẩm khác thuộc Chương này đã được xử lý tương tự vẫn 
được phân loại ở đây, với điều kiện là chúng không mang đặc điểm của 
các sản phẩm thuộc Chương 39 hoặc 40. 
58.01 - Các loại vải dệt nổi vòng và các loại vải sơnin (chenille), trừ 
các loại vải thuộc nhóm 58.02 hoặc 58.06 (+).  
5801.10 - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn 
- Từ bông: 
5801.21 - - Vải có sợi ngang nổi vòng không cắt 
5801.22 - - Nhung kẻ đã cắt 
5801.23 - - Vải có sợi ngang nổi vòng khác 
5801.26 - - Các loại vải sơnin (chenille) 
5801.27 - -  Vải có sợi dọc nổi vòng 
-  Từ xơ nhân tạo: 

5801.31 - - Vải có sợi ngang nổi vòng không cắt 
5801.32 - - Nhung kẻ  đã cắt 
5801.33 - -  Vải có sợi ngang nổi vòng khác 
5801.36 - - Các loại vải sơnin (chenille) 
5801.37 - - Vải có sợi dọc nổi vòng 
5801.90 - Từ các vật liệu dệt khác 
(A) CÁC LOẠI VẢI DỆT NỔI VÒNG, TRỪ CÁC LOẠI VẢI 
THUỘC NHÓM 58.02 
Các loại vải dệt nổi vòng được tạo thành từ ít nhất 3 loại sợi: sợi dọc và 
ngang kết hợp chặt chẽ tạo thành vải nền và sợi  dọc hoặc sợi  ngang tạo 
thành nổi vòng (pile). Loại nổi vòng này bao gồm hoặc chùm lông (tuft) 
hoặc những vòng (loop) trên toàn bộ hoặc từng phần của bề mặt; thông 
thường, loại nổi vòng này (pile) chỉ có ở một mặt, nhưng đôi khi nó có 
cả hai mặt. 
Vải có sợi dọc nổi vòng (vải nhung , vải lông, vải nhung dày dùng để 
bọc ghế...) có thể được sản xuất bằng cách cào dựng nổi vòng các sợi 
nhung dọc trên các dây đã lồng vào theo chiều của sợi ngang. Vì thế 
những vòng (loop) bị cắt trong quá trình dệt hoặc bị cắt sau đó, hoặc 
thỉnh thoảng không cắt các loại vải nổi vòng đã được móc lại hoặc các 
vải nổi vòng chưa cắt.  Các vòng hoặc nhung tuyết đã cắt được cố định 
lại ở một chỗ bằng các sợi ngang.  
Vải có sợi dọc nổi vòng cũng được sản xuất bằng việc dệt hai thớ vải đối 
diện nhau với một sợi dọc vòng chung; sau đó hai thớ vải được tách ra 
bằng việc cắt thành hai sản phẩm vải có vòng lông (pile) đã được cắt. 
Vải có sợi ngang nổi vòng đã cắt (vải nhung, nhung kẻ...) có một lớp 
nhung (pile) thường được sản xuất bằng cách dệt những sợi ngang đan 
xen dưới những sợi dọc và sau đó nổi lên trên bề mặt qua hai hoặc nhiều 
sợi dọc. Sau khi dệt, những phần nổi lên trên bề mặt được cắt đi, các đầu 
cắt dựng đứng lên để tạo thành các thớ nhung (pile). Kết quả tương tự 
thu được bằng cách lồng các dây song song với sợi dọc, sợi ngang nổi 
vòng bị cắt trong quá trình dệt. Vì thế các búi lông vẫn được cố định bởi 
các sợi dọc. 

Vải có sợi ngang nổi vòng chưa được cắt phần nổi, ở trạng thái này 
chúng không có lông đứng, thì được bao gồm ở nhóm này (xem Chú giải 
2 của Chương này). 
(B) CÁC LOẠI VẢI SƠNIN (CHENILLE) 
Vải sơnin rất giống với loại thảm sơnin thuộc nhóm 57.02; giống như 
những loại này, bề mặt nổi vòng của chúng (thường là cả hai mặt) được 
sản xuất bằng sợi bằng sợi sơnin.  Thông thường, chúng được làm bằng 
cách bổ sung thêm một sợi ngang làm từ sợi  sơnin hoặc bằng cách lồng 
vào sợi  sơnin (có độ dài và mầu sắc khác nhau) vào các sợi dọc trong 
suốt quá trình dệt nền vải. 
Vải nổi vòng (pile) và vải sơnin được làm bằng nhiều chất liệu khác 
nhau nhưng tơ, lông cừu, lông động vật loại mịn, bông và sợi nhân tạo 
được sử dụng hầu hết để sản xuất vải nổi vòng. 
Tất cả các loại vải này có thể trơn, có gân hoặc được in hình hoặc có thể 
được in hình nổi sau khi dệt; vải nổi vòng (pile) được in hình bao gồm 
những loại vải có một mặt được bao bọc một phần bằng nhung (pile), 
hoặc có một mặt với thớ nhung được cắt một phần hoặc thớ nhung được 
tạo vòng một phần (ciselé velvets) để tạo ra các hình trang trí rất khác 
nhau.Vải dệt có sợi nổi vòng giả da thú (ví dụ: bộ da lông cừu, da lông 
cừu caracul, hoặc da báo giả) cũng được phân loại ở đây, nhưng vải  giả 
da thú được làm bằng cách may hoặc dán bằng keo trên nhung thì bị loại 
trừ (nhóm 43.04).  
Nên chú ý rằng nhiều loại vải thuộc nhóm này được sản xuất theo cách 
giống với cách sản xuất thảm thuộc nhóm 57.02; tuy nhiên, trên thực tế 
chúng được phân biệt một cách dễ dàng với các loại thảm, vì được thiết 
kế chủ yếu thành các loại vải trang trí hoặc các loại vải dùng cho may 
mặc và không phải làm vật liệu phủ nền, chúng được làm bằng các vật 
liệu mịn hơn và có vải nền mềm hơn. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Vải thô sần (Bouclé), vải len tuyết xoắn (ratin) và các loại vải khác 
pile (ciselé velvets) thus producing very varied designs. Woven pile 
(a)  Bouclé fabrics, ratines and other fabrics which present an 

có hình dạng giống như đối với các loại vải nhung (pile), nhưng 
chúng được dệt bằng các loại sợi đặc biệt (ví dụ: sợi thô sần 
(bouclé) hoặc được sản xuất bằng phương thức xử lý của các loại 
vải dệt thông thường (ví dụ: cạo sạch và chải)) (thường thuộc 
Chương 50 đến Chuơng 55) 
(b)  Vải khăn lông và các loại vải dệt thoi tạo vòng lông tương tự và các 
loại vải dệt chần sợi nổi vòng (thuộc nhóm 58.02). 
(c)  Các loại vải tuyết nhung (pile)..., các loại vải nằm trong định nghĩa 
vải dệt thoi khổ hẹp (nhóm 58.06). 
(d)  Các loại vải dệt kim hoặc hàng khâu đính với một lớp nhung đã cắt 
hoặc nổi vòng (nhóm 60.01 hoặc 56.02 tùy từng trường hợp). 
(e)  Các loại vải nhung (pile),... được hoàn thiện theo phương pháp nêu 
tại Phần (II) thuộc phần Chú giải  tổng quát của Phần XI. 
yarn (e.g., bouclé yarn) or produced by treatment (e.g., scraping or 
Chú giải phân nhóm. 
Các phân nhóm 5801.22 và 5801.32 
Theo mục đích của phân nhóm 5801.22 và 5801.32, các minh họa dưới 
đây về tiết diện của sợi dọc sẽ được dùng để phân biệt  nhung kẻ đã cắt 
với các vải lông nhung ngang đã cắt khác. 
Vải nhung kẻ  

                         Vải nhung 
58.02 - Vải khăn lông (terry) và các loại vải dệt thoi tạo vòng lông 
tương tự, trừ các loại vải khổ hẹp thuộc nhóm 58.06; các loại 
vải dệt tạo búi, trừ các sản phẩm thuộc nhóm 57.03. 
5802.10 - Vải khăn lông (terry) và các loại vải dệt thoi tạo vòng 
lông tương tự, từ bông 
5802.20 - Vải khăn lông (terry) và các loại vải dệt thoi tạo vòng 
lông tương tự, từ các vật liệu dệt khác 
5802.30 - Các loại vải dệt tạo búi 
(A) VẢI  KHĂN LÔNG VÀ CÁC LOẠI VẢI DỆT THOI TẠO 
VÒNG LÔNG TƯƠNG TỰ 
Những loại vải này là loại vải có sợi móc nổi vòng được sử dụng làm 
khăn lau, áo choàng tắm, áo choàng tắm biển, áo choàng ngủ, găng tay 
vệ sinh vv... Chúng có một thớ vải ngang xít và 2 loại sợi dọc, một loại 
xít và một loại lỏng hình thành các vòng trên bề mặt của vải. Tỷ lệ của 2 
loại sợi dọc trên tấm vải có thể khác, nhưng thường có sự tương đồng về 
số lượng sợi dọc nền và số lượng sợi nổi vòng. 
Các móc thường xuất hiện dưới dạng bị xoắn lại và thông thường được 
sản xuất trên cả 2 mặt của vải may mặc, nhưng đôi khi chỉ có trên một 

mặt; đôi khi có thể bị cắt. Các móc có thể phủ lên toàn bộ bề mặt một 
cách đồng nhất hoặc tạo thành các sọc vằn, caro, hình thoi hoặc những 
hoa văn phức tạp hơn.  
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm các loại vải có vòng lông chỉ trên 
1 mặt, tất cả các móc bị cắt (nhóm 58.01). 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Các loại vải khăn lông, dệt kim hoặc móc (nhóm 60.01) 
(b)  Vải tấm, qua quá trình cắt dọc theo đường xác định làm mất đi các 
sợi ngang tạo thành các loại sản phẩm có đính tua riêng rẽ (nhóm 
(B) CÁC LOẠI VẢI DỆT CHẦN  SỢI NỔI VÒNG 
Những loại vải này được làm bằng cách lồng sợi, bằng hệ thống các kim 
và móc, vào một nền vải có sẵn (vải dệt thoi, vải dệt kim hoặc móc, 
phớt, vải không dệt vv...) để tạo thành các vòng hoặc, nếu các móc được 
kết hợp với dụng cụ cắt thì tạo thành các chùm tuyết cắt. 
Các sản phẩm của nhóm này được phân biệt với các tấm thảm chần và 
các tấm trải sàn  được chần nổi vòng thuộc nhóm 57.03 bởi các sản 
phẩm này thiếu độ cứng, độ dày và độ bền làm cho chúng không phù 
hợp để sử dụng như các loại trải sàn. 
Hơn thế nữa, những loại vải này có thể được phân biệt với các loại vải 
có sợi nổi vòng thuộc nhóm 60.01, chúng có các hàng chỉ khâu trên mặt 
sau của vải dệt, do đặc tính các đường chỉ khâu làm xuất hiện các đường 
khâu chạy dọc theo chiều dài phía sau tấm vải. 
 58.03 -  Vải dệt quấn, trừ các loại vải khổ hẹp thuộc nhóm 58.06. 
 Vải dệt quấn (đôi khi được biết như kiểu dệt leno) được định nghĩa 
trong Chú giải 3 của Chương này. 
Trong vải dệt quấn trơn, các sợi chéo chạy hoán vị nhau về phía bên phải 
và trái của sợi đứng qua sợi ngang, nhưng chạy chéo dưới những sợi 
đứng; các sợi dọc đứng luôn luôn ở về một phía của các sợi ngang, các 
sợi dọc đứng  và các sợi  ngang không bị đan vào nhau nhưng chúng 

được liên kết với nhau bằng sợi dọc chéo. 
Biến thể của vải dệt quấn có thể thu được bằng cách đan chéo các sợi 
chéo với nhau (vì thế được gọi là vải dệt quấn đã móc, dệt quấn Marly), 
bằng cách lồng 2 hoặc nhiều sợi ngang đồng thời qua các móc được hình 
thành từ các sợi đứng và sợi chéo, bằng cách sử dụng hai hoặc nhiều sợi 
đứng trên một sợi chéo và ngược lại. 
Nhóm này cũng bao gồm: 
(1)  Vải dệt quấn mỏng (broché) được sản xuất với một sợi phụ (sợi 
broché) được dùng trong quá trình dệt để tạo mẫu thiết kế trên một 
nền vải quấn. 
(2)  Các loại vải cấu tạo bằng các phần vải dệt quấn và các phần dệt thoi 
bằng các kiểu dệt khác với tỷ lệ bất kỳ của các chất liệu trên. Những 
loại vải này thường có kết quả là các sợi kẻ sọc có sợi dọc chạy qua, 
kẻ caro hoặc các mẫu thiết kế khác. 
Vải dệt quấn thường được dệt thưa và vì vậy nó khá nhẹ, nó được sử 
dụng làm màn che là chủ yếu; một số loại vải chủ yếu được sản xuất 
thành sợi sơnin bằng cách cắt thành các dải hẹp theo chiều của sợi dọc. 
Các loại vải dệt quấn khác có hình thức phong phú, và các mẫu thiết kế 
được sản xuất trong suốt quá trình dệt cũng rất đa dạng, và không được 
nhầm lẫn loại vải này với vải broché hoặc vải khác thuộc Chương 50 
đến Chương 55, dây đăng ten được làm thủ công hoặc bằng máy, đồ 
trang trí phụ, vải tuyn hoặc các loại vải lưới khác thuộc Chương này. 
Nhóm này không áp dụng cho các loại vải dệt thưa trơn của vải dệt vân 
điểm, các loại vải này được dùng cho các băng dùng trong y tế; các vải này 
thường được gọi là vải dệt quấn nhưng lại thuộc nhóm 30.05 (nếu đã được 
tẩm thuốc hoặc làm thành dạng nhất định hoặc đóng gói để bán lẻ dùng cho y 
tế, phẫu thuật, nha khoa hoặc thú y) hoặc từ Chương 50 đến 55. 
Nhóm này cũng không bao gồm vải dùng để rây sàng (nhóm 59.11) 
(1)  Broché gauze, manufactured with an extra thread (broché thread) 
should not be confused with the broché or other fabrics of Chapters 50 
58.04 -  Các loại vải tuyn và các loại vải dệt lưới khác, không bao 
gồm vải dệt thoi, dệt kim hoặc móc; hàng ren dạng mảnh, 

dạng dải hoặc dạng mẫu hoa văn, trừ các loại vải thuộc các 
nhóm từ 60.02 đến 60.06 (+).  
5804.10 - Vải tuyn và vải dệt  lưới khác 
- Ren dệt bằng máy: 
5804.21 - - Từ xơ nhân tạo 
5804.29 - - Từ các vật liệu dệt khác 
5804.30 - Ren làm bằng tay 
(I) CÁC LOẠI VẢI TUYN VÀ VẢI DỆT LƯỚI KHÁC 
Những sản phẩm này được sử dụng để làm rèm, khăn trải giường hoặc 
các loại trang trí trong nhà tương tự, màn, quần áo phụ nữ, sẩn phẩm 
thêu... Các loại vải này thông thường làm bằng sợi tơ, các loại sợi nhân 
tạo, bông hoặc bằng lanh. 
(A) Các loại vải tuyn và vải dệt lưới dệt chỉ ống khác có các sợi dọc 
và sợi ngang xoắn quanh mỗi sợi dọc và chạy dọc theo đường chéo 
từ đường viền này đến đường viền khác, nửa số sợi ngang được làm 
nghiêng theo một hướng và nửa còn lại bị làm nghiêng theo hướng 
khác (xem Hình1). Những sợi ngang này tạo thành một mắt lưới mở 
cùng với sợi dọc; các mắt lưới có thể hình thành 6 cạnh đều, hình 
vuông hoặc dạng thoi (lưới Neville). Loại vải tuyn khác có hình 6 
cạnh (lưới Mechlin) có các sợi dọc và một hệ thống các sợi chỉ ống 
chạy theo chiều dọc giữa 2 sợi dọc (xem Hình 2). 

Hình 1 
TUYN A – Sợi dọc 
B và C – Sợi ngang 
Hình 2 
LƯỚI MECHELIN  
(B) Vải tuyn Bobinot là một loại vải tuyn đặc biệt được tạo thành từ 3 
loại sợi: (1) các sợi dọc thẳng song song như trong vải tuyn thường, 
(2) các sợi mẫu (chúng được gọi như vậy bởi vì chúng tạo ra mẫu vẽ 
trên vải) chạy thay thế nhau dọc theo các sợi thẳng và tạm thời tách 
xa các sợi thẳng này tới các sợi thẳng khác (thường là sợi liền kề), vì 
thế tạo ra các mắt lưới hình tam giác, các mắt lưới hình tam giác này 
được nằm rải rác trên các khoảng cách hình thang hoặc hình dạng 

khác, và (3) các sợi chéo xoắn quanh sợi thẳng và kéo các sợi mẫu 
lại với nó (xem Hình 3). Các phần mờ trong trong mẫu thiết kế được 
sản xuất bằng cách nhóm một số mắt lưới hình tam giác như trên lại 
gần với nhau.  
Hình 3 
(C) Vải dệt lưới có 3 loại sợi: các sợi dọc song song, sợi có mắt và sợi 
kẹp (ví dụ lưới mạng). Mỗi sợi có mắt chạy hoán vị nhau dọc theo 
các sợi dọc khác nhau tạo nên các mắt hình vuông khi sợi có mắt 
chạy từ một chỗ này đến một chỗ khác. Các sợi kẹp giữ vải lại bằng 
cách buộc những sợi có mắt với những sợi dọc ở một số chỗ nhất 
định (xem Hình 4). 

Hình 4 
(D) Vải dệt lưới đã thắt nút có một mắt dạng hình vuông hoặc hình 
thoi đồng nhất được thắt lại tại từng điểm góc để các sợi không thể 
bị kéo tách ra, có thể được làm thủ công hoặc làm bằng máy. 
 Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Vải dệt thưa thuộc các Chương 50 đến 55 và vải dệt quấn  
thuộc 
nhóm 58.03. 
(b)  Các loại lưới thuộc nhóm 56.08. 
(c)  Vải dung để sàng (nhóm 59.11). 
(d)  Vải dệt kim hoặc móc thuộc Chương 60. 
(e)  Vải tuyn và các vải dệt lưới khác được tạo thành như đã nêu ở Phần 
(II) của Chú giải tổng quát Phần XI. 

(II) HÀNG REN 
Hàng ren là một loại vải trang trí có mắt lưới trong đó các yếu tố mẫu 
thiết kế (tương đối phức tạp) được tạo thành bằng xoắn các sợi, các sợi 
xoắn này được nối hoặc bằng các mắt, thường có kích cỡ và hình dạng 
bình thường, tạo thành một tấm vải nền có lỗ thủng nhìn thấy được, hoặc 
bằng các mắt liên kết làm trang trí mà chính chúng tạo ra hình mẫu. Các 
yếu tố thiết kế mẫu và tấm nền của mắt lưới hoặc các mắt liên kết làm 
trang trí thường được sản xuất đồng bộ nhưng đôi khi các yếu tố thiết kế 
mẫu được làm một cách riêng rẽ và sau đó được ghép lại. 
Một đặc điểm thiết yếu của hàng ren là yếu tố thiết kế mẫu không được 
thực hiện trên nền vải đã sẵn có. Theo mục đích của nhóm này, loại hàng 
này không áp dụng thêm đối với các sản phẩm có cùng hình dạng bên 
ngoài và đôi khi chúng được xem như hàng ren (ví dụ: hàng ren lưới), 
được làm bằng cách điền phủ hoặc trang trí các mắt lưới của nền vải đã 
có sẵn làm từ tuyn hoặc lưới, hoặc bằng cách ghép trang trí trên mặt nền, 
bất kể sau đó có hay không việc mặt nền được gỡ bỏ một phần hoặc gỡ 
bỏ toàn bộ. Những sản phẩm như vậy được phân loại như các đồ thêu 
nhóm 58.10, vì những sản phẩm này là các dải đăng ten thật, sau đó 
chúng được thêu và lớp ren nổi được tạo ra bằng cách trang trí ghép. 
Nhóm này cũng loại trừ các sản phẩm có lỗ của bất kỳ loại nào được 
sản xuất bằng dệt kim bằng tay hoặc dệt kim bằng máy (Chương 60)  
những sản phẩm này có thể được nhận ra bằng các mũi dệt kim điển 
hình, đặc biệt là tại các phần không có lỗ. 
Không giống như các loại vải tuyn, vải dệt quấn hoặc các loại vải dệt 
thoi thưa khác, hàng ren không có các sợi ngang và dọc rõ ràng. Hàng 
ren thường được dệt với một sợi đơn và khi nhiều hơn một sợi đơn được 
sử dụng thì chúng có cùng một chức năng. 
Hàng ren có thể được làm bằng tay hoặc bằng máy. 
Các hàng ren chủ yếu được làm bằng tay là: 
(A) Hàng ren kim được thực hiện với một chiếc kim trên một tấm giấy 
hoặc giấy giả da có sẵn mẫu thiết kế. Hàng ren chạy theo những nét 
chính của bản thiết kế mẫu, những sợi cấu thành của nó nằm dọc 
appliqué work on a ground, whether or not the ground is subsequently 
embroidered, and encrusted lace produced by sewn appliqué work. 

trên tờ giấy nhưng không xuyên qua tờ giấy; ví dụ những sợi tạo 
khung hình thành sườn khung ban đầu của hàng ren, được gắn 
tạm thời vào mẫu thiết kế bằng những mũi khâu để thuận tiện cho 
gia công. 
Hàng ren kim gồm có: Alencon, Argerentan, Venetian,... 
(B) Hàng ren cuộn (hàng ren gối) được làm bằng các sợi quấn trên các 
ống chỉ và xoắn lại với nhau trên một “gối” hoặc "cái lót mềm" trên 
đó mẫu thiết kế được gắn chặt và trong đó các gim được lồng tạm 
thời để thuận tiện cho việc sản xuất hàng ren. 
Hàng ren cuộn hay hàng ren gối bao gồm Valencienus, Chantilly, 
(C) Hàng ren móc (được biết như là hàng ren móc Ailen) không giống 
như các loại khác đã được nêu trên, hàng ren móc không trải trên 
mẫu thiết kế hay trên một nền nào đó khi gia công; được sản xuất 
bằng tay với một kim móc. 
(D) Các loại hàng ren khác và các mặt hàng tương tự, ví dụ: 
(1)  Hàng ren Teneriffe, được làm theo cách giống như hàng ren 
mũi kim. 
(2)  Kiểu trang trí Lacet, hàng ren kim có những bộ phận nhất 
định thu được bằng cách sử dụng dây tết Lacet; được làm trên 
một gối (pillow) hoặc làm bằng máy. 
(3)  Hàng ren thêu, tương tự như hàng ren móc nhưng có mẫu tròn 
và thắt nút bằng con thoi. 
(4)  Hàng ren tết, hàng ren dày được làm bởi việc thắt nút một loạt 
các loại sợi được đặt sẵn tại những góc vuông với một sợi dẫn 
theo nhiều cách khác. 
Ren làm bằng máy có bề ngoài nhìn chung giống bề ngoài hàng ren 
làm thủ công bằng tay (trừ trường hợp của hàng ren cuộn) nhưng 
phương pháp kết các sợi thì khác nhau và hàng ren được sản xuất 
bằng máy thì đều hơn làm bằng tay. 
Hàng ren làm bằng tay hoặc làm bằng máy được phân loại ở đây 
nếu: 
(4)  Macramé lace, a heavy lace made by knotting in various ways 

(i)  Ở dạng mảnh hoặc dạng dải với  độ dài bất kỳ. 
      hoặc (ii) Ở dạng mẫu hoa văn, ví dụ: các mảnh riêng biệt được thiết 
kế một cách độc lập được liên kết trong hoặc gắn vào, các 
loại sản phẩm khác như các loại quần áo ngủ, áo choàng, 
các loại quần áo khác, các loại khăn mùi xoa, các loại vải 
trải bàn hoặc các đồ trang trí khác. 
Những mặt hàng được phân loại trong nhóm này dù được người 
thêu ren làm trực tiếp thành một sản phẩm, hoặc được cắt từ các tấm 
lớn hơn hoặc được ghép lại từ nhiều tấm hàng ren rời. 
Nhóm này không bao gồm tất cả các loại sản phẩm làm từ hàng 
ren; những loại sản phẩm này được phân loại theo đặc điểm của 
chúng, nhìn chung ở các Chương 62 hoặc 63 (ví dụ các loại áo 
khoác có ren thuộc nhóm 62.14, các loại cổ áo có ren dùng cho các 
loại quần áo phụ nữ thuộc nhóm 62.17, và các loại khăn trải bàn có 
hàng ren thuộc nhóm 63.04). 
Chú giải phân nhóm. 
Các phân nhóm 5804.21, 5804.29 và 5804.30 
Hàng ren làm bằng máy giả hàng ren làm bằng tay, bề ngoài thì   giống 
như hàng ren làm bằng tay nhưng chúng có thể phân biệt được nhờ các 
yếu tố cơ bản sau: 
Hàng ren làm bằng máy thường được sản xuất thành từng mảnh khá rộng 
mà được cắt thành các dải trong quá trình hoàn thiện. Trong trường hợp 
này, các mép ren của các dải đã cắt gần như luôn luôn vẫn còn các mũi 
khâu hoặc một phần các mũi khâu từ vải có lỗ mà được ghép nối một dải 
với dải tiếp theo trên máy dệt.  Các mũi khâu hoặc một phần các mũi khâu 
được nhận biết ở mặt ngoài của hàng ren. Chúng thường lộ ra bên ngoài 
trên đường biên tạo thành góc dốc, ví dụ khó phát hiện ngay ra chúng mà 
không cùng lúc phá đường biên. Sự có mặt các mũi khâu hoặc một phần các 

mũi khâu chứng tỏ loại hàng ren đó là hàng ren làm bằng máy. 
Việc phân biệt có thể thực hiện bằng cách kiểm tra các mẫu trang trí  của 
hàng ren, hướng đi của các sợi nổi (hoặc đường viền) và sợi lót. Trong 
hàng ren làm thủ công bằng tay, những sợi này có thể chạy theo nhiều 
hướng và có thể được dồn quay lại hướng ban đầu của nó. Đối với loại 
hàng ren làm bằng máy, không thể khâu ngược lại như mô tả ở trên; 
những sợi này có thể vì thế mà bị dạt sang bên trái hoặc phải, nhưng 
chúng phải theo định hướng dệt. 
Phương pháp phủ vào các phần mờ của mẫu thiết kế là nhân tố thứ ba 
được ghi nhận để phân biệt hàng ren làm bằng máy và hàng ren làm thủ 
công. Loại hàng ren làm thủ công chỉ sử dụng các yếu tố sau: 
mũi khâu thắt, ví dụ, mũi viền đăng ten hoặc mũi khâu khuyết áo 
nếu nó là hàng ren mũi khâu 
mũi khâu vải hoặc mũi khâu cửa nếu nó là hàng ren cuộn. 
Mũi khâu vải sao chép lại một cách chính xác kiểu dệt vân điểm. Ở mũi 
khâu cửa, các sợi hợp với nhau như những sợi dọc và được chia thành 2 
lớp, giữa 2 lớp tạo thành một góc xấp xỉ 90 độ, sợi quang xuyên qua bề 
mặt này, sợi ngang chạy thay thế nhau trên đỉnh của một sợi thuộc lớp 
đầu tiên (phần sợi ở trên) và phần sợi ở dưới những sợi thuộc lớp thứ 2. 
Hàng ren làm bằng máy, sử dụng phương pháp thêu đục một cách phổ 
biến nhất như sau : 
mũi khâu vải với một nét đặc trưng là các loại sợi hình thành sợi 
ngang không nhất thiết chạy từ một biên vải này tới một biên vải 
khác của mẫu thiết kế. Trong một vài trường hợp, những sợi này chỉ 
chạy qua một phần của đường chéo và sợi khác bắt ngay vào lớp sợi 
đầu để hoàn tất phần cắt; 
một phương pháp lắp ghép tương tự với nó được sử dụng để thu 
được toàn bộ các suốt chỉ dệt vải tuyn (các sợi thẳng, các sợi mẫu, 
sợi buộc); 
lồng qua mạng (lưới), một sợi hình thành với những sợi dọc một 
kiểu dệt vân điểm. Trong hai quá trình trên, mạng dệt kết thúc tại 

điểm mà mẫu thiết kế bắt đầu thực hiện, nhưng đối với phương pháp 
lồng qua mạng lưới này thì không như vậy. 
Những nhận xét sau đây có thể giúp ta phân biệt hàng ren làm bằng máy 
và hàng ren làm bằng tay. Thực tế, trong một vài trường hợp những nhận 
xét như vậy sẽ cung cấp những phương thức duy nhất để có thể nhận biết 
, đặc biệt là khi phân biệt giữa các cuộn chỉ hàng ren làm bằng tay và 
những cuộn chỉ hàng ren làm bằng máy. 
(a)  Các lỗi nhỏ của hàng ren làm thủ công bằng tay không thường có 
khoảng trống và hiếm khi có bề ngoài tương tự nhau, trái lại ren 
làm bằng máy được lặp đi lặp lại một cách thường xuyên, dựa 
vào hoạt động của thiết bị máy móc được sử dụng trong việc sản 
xuất hàng ren. 
(b)  Những móc đường rua (picot loops), thường để trang trí cho đường 
viền của hàng ren làm bằng tay, và được tạo nên từ các sợi làm 
thành lưới, trái lại những móc đường rua  này đôi khi được thêm vào 
đối với những hàng ren làm bằng máy. Trong những trường hợp 
hàng ren làm bằng máy như vậy, các móc đường rua được gắn một 
cách ít chắc chắn hơn và có thể bị rút ra mà không tự làm hỏng ren. 
Đối với hàng ren làm bằng tay thì không thể làm được điều này. 
(c)  Phương pháp giao dịch và đóng gói cũng là một cách để phân biệt 
giữa hàng ren làm bằng tay và hàng ren làm bằng máy. Hàng ren 
làm bằng tay thường không được xuất xưởng với độ dài hơn 20cm, 
và mỗi cuộn trong lô thì luôn có kiểu mẫu khác nhau. Hàng ren làm 
bằng máy thì luôn luôn dài hơn và có thể dài tới 500m; mỗi lô hàng 
thường có nhiều sản phẩm có kiểu mẫu giống nhau. 
Thêm vào đó có hàng ren "lẫn", được biết đến như loại ren Lacet, ren 
Renaissance, ren Luxeuil và ren nữ hoàng. Việc sản xuất các loại hàng 
ren như vậy bắt đầu từ một dải đăng ten (lacet/braid) làm bằng máy, dải 
này được trải dài theo một vệt và theo các đường của mẫu thiết kế. Tại 
các góc, dải này được gấp lại để theo đường mẫu; những phần chồng lên 
nhau được may lại với nhau; những đầu của những dải viền đã được cắt 
thì được may lại rất công phu. Sau đó, kim khâu sẽ tạo ra các vòng và 
mũi khâu lót. 

Bên cạnh dải viền đã được gấp, cắt và may như mô tả ở trên, loại ren 
như vậy đôi khi có thể nhận ra bằng những nếp nhăn (chỗ chun) trong 
đường viền, các đường biên của mẫu thiết kế. 
Loại ren này được coi như là hàng ren làm bằng tay. 
58.05 - Thảm trang trí dệt thoi thủ công theo kiểu Gobelins, 
Flanders, Aubusson, Beauvais và các kiểu tương tự, và các 
loại thảm trang trí thêu tay (ví dụ, thêu mũi nhỏ, thêu chữ 
thập), đã hoặc chưa hoàn thiện. 
Nhóm này bao gồm các loại thảm được dệt bằng tay hoặc được thêu tay 
trên một tấm vải nền (thông thường là vải không thấm nước). Đặc điểm 
cơ bản của nó là được làm trên dạng các bức tranh có mẫu thiết kế riêng, 
hoàn chỉnh, thường xuyên có một đặc tính tạo hình. 
(A) THẢM TRANG TRÍ DỆT THỦ CÔNG 
Thảm dệt thủ công được sản xuất bằng cách kéo các sợi dọc trên một 
máy dệt và kết các sợi ngang với nhiều màu sắc khác và liên kết đan phủ 
các sợi dọc, tạo mẫu hình và đồng thời làm thành vải dệt.  
Ngược với quy trình thường sử dụng đối với vải có sợi ngang và dọc, 
thông thường các sợi ngang có màu sắc khác nhau không dài hơn mức 
cần thiết để tạo mẫu, để sao cho nhìn chung các sợi ngang không xuyên 
dọc hết độ rộng của tấm vải; vì thế, dọc theo từng sợi ngang, sợi dọc 
được phủ bằng hàng loạt các sợi ngang có mầu khác nhau, những đầu 
nới lỏng của sợi ngang xuất hiện trên mặt trái của mẫu thiết kế. Những 
khoảng cách không được dệt để lại sợi dọc qua suốt quá trình dệt thường 
được củng cố lại bằng cách khâu. 
Những loại thảm như vậy bao gồm loại Gobelins, Flanders, Aubusson 
hoặc Beauvais.  
Những thảm được sản xuất bằng máy (trên một máy Jaccquard  hoặc 
trên một máy dệt tương tự) làm giả như thảm dệt bằng tay này thường là 

những tấm vải có sợi dọc và ngang và trong những tấm vải này, các sợi 
ngang mầu sắc chạy từ đường biên này tới đường biên khác và những 
loại thảm này được phân loại như vải dệt thoi trong các nhóm tương 
ứng hoặc như sản phẩm đã hoàn thiện tùy từng trường hợp. 
(B) THẢM TRANG TRÍ THÊU TAY 
Thảm trang trí thêu tay (cũng được coi như thảm đính) được phân biệt 
bằng việc các loại thảm này được làm với một tấm vải nền (thường là 
loại vải không thấm nước có mắt lưới hình vuông), trên đó mẫu thiết kế 
như mong muốn được điền đầy bằng việc sử dụng kim cùng với nhiều 
loại sợi có nhiều màu sắc khác nhau. 
Thảm trang trí thêu tay đôi khi được làm rất công phu bằng các mũi thêu 
nhưng vẫn ở trong nhóm này và không được xem như đồ thêu. 
Trái với phần lớn các đồ thêu thuộc nhóm 58.10, vải nền (thường là vải 
không thấm nước) được bao phủ toàn bộ trừ phần biên. Các mũi thêu đã 
sử dụng được đặt tên theo cách khác nhau theo lối mà chúng được thực 
hiện: mũi khâu đơn nhỏ, mũi khâu thô, mũi thêu chữ thập, mũi thêu chữ 
thập kép, mũi thêu Gobelins,.... 
Loại thảm này được sử dụng chủ yếu cho các mục đích trang trí, các bức 
treo tường hoặc các ghế đệm.. và chúng thường được làm bằng tơ, lông 
cừu, các loại sợi nhân tạo hoặc thậm chí bằng sợi trộn kim loại. 
Những loại sợi này vẫn thuộc nhóm này thậm chí chúng được viền, ngăn 
cách, lót... nhưng nếu chúng đã được làm thành sản phẩm như túi xách 
tay, đệm, giầy dép,.... thì bị loại trừ. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a)  Thảm Kenlem, Schumacks, Karamanie và các loại thảm tương tự 
(nhóm 57.02). 
(b)  Các bộ gồm có vải dệt thoi và các loại sợi để tạo nên các tấm thảm 
trang trí (nhóm 63.08). 

(c)  Các loại thảm có tuổi quá 100 năm (Chương 97). 
58.06 - Vải dệt thoi khổ hẹp, trừ các loại hàng thuộc nhóm 58.07; vải 
khổ hẹp gồm toàn sợi dọc không có sợi ngang liên kết với 
nhau bằng chất kết dính (bolducs). 
5806.10 - Vải dệt thoi nổi vòng (kể cả vải khăn lông (terry) và 
các loại vải dệt nổi vòng tương tự) và vải dệt từ sợi 
sơnin (chenille). 
5806.20 - Vải dệt thoi khác, có hàm lượng sợi đàn hồi 
(elastomeric) hoặc sợi cao su chiếm từ 5% trở lên tính 
theo khối lượng:         
 - Vải dệt thoi khác: 
5806.31 - - Từ bông 
5806.32 - - Từ xơ nhân tạo  
5806.39 - -  Từ các vật liệu dệt khác 
5806.40 -  Các loại vải dệt chỉ có sợi dọc không có sợi ngang liên 
kết với nhau bằng chất kết dính (bolducs) 
(A) VẢI DỆT KHỔ HẸP 
Theo Chú giải 5 thuộc Chương này nhóm này gồm các sản phẩm như 
vải dệt khổ hẹp: 
(1)  Các dải vải có sợi ngang và sợi dọc với chiều rộng không vượt quá 
30cm, với điều kiện các đường viền (hình dẹt hoặc hình ống) ở cả 
hai đường biên. Những sản phẩm này được sản xuất trên các máy 
dệt có cuộn chỉ, đặc biệt, các cuộn chỉ được sản xuất đồng thời; 
trong một số trường hợp, các cuộn chỉ được dệt bằng các đường 
biên lượn sóng trên một hoặc cả hai mặt. 
(2)  Các dải có bề rộng không 30cm, cắt từ các cuộn vải rộng hơn có sợi 
ngang và sợi dọc (hoặc cắt theo chiều dọc hoặc chéo) và có các 
đường viền lệch trên cả 2 đường biên, hoặc một đường viền dệt 
thông thường trên một đường biên và một đường viền lệch trên một 

đường biên khác. Các đường viền lệch được thiết kế để ngăn sự sổ 
chỉ của một tấm vải khi cắt (hoặc rạch), ví dụ có thể gồm có 1 loạt 
các mũi khâu quấn (gauze stitch) được dệt thành tấm vải lớn hơn 
trước khi cắt (hoặc rạch), thuộc một mép rìa đơn giản, hoặc chúng 
có thể được sản xuất bằng cách dán keo lên các đường biên của dải, 
hoặc bằng cách kết hợp đường biên của các ruy băng làm từ sợi 
nhân tạo. Các đường viền cũng được tạo ra khi một tấm vải được xử 
lý trước khi cắt tấm vải thành các dải, bằng cách đó ngăn các đường 
biên của những dải này không sổ sợi được. Hiển nhiên trong trường 
hợp đó không có sự phân loại giữa vải khổ hẹp và các đường viền 
lệch của nó. Các dải được cắt ra từ tấm vải nhưng chưa có một 
đường viền thẳng hoặc lệch, trên mỗi đường biên, thì bị loại trừ 
khỏi nhóm này và được phân loại với các loại vải dệt thoi thông 
thường. (Đối với vải cắt chéo, xem đoạn 4 dưới đây). 
(3)  Vải có các sợi ngang và dọc có hình ống liền mạch và có bề rộng 
khi được làm phẳng không vượt quá 30cm. Tuy nhiên, các tấm vải 
có các dải với các biên vải được nối lại với nhau tạo thành một hình 
ống (bằng cách may, dán keo hoặc các cách khác) bị loại trừ ra 
khỏi nhóm này. 
(4)  Vải cắt chéo gồm có các dải, với các mép gấp, có chiều rộng khi 
chưa gấp không quá 30cm, được cắt viền trên những điểm giao của 
vải sợi dọc và sợi ngang. Vì thế, những sản phẩm này được cắt từ 
những tấm vải rộng và không được cung cấp bằng một đường viền 
xiên hoặc thẳng. 
Các sản phẩm nói trên gồm có cả những ruy băng và vải làm đai cũng 
như các dải trang sức có đặc điểm của các vải ruy băng dệt thoi . 
Ruy băng thường làm từ tơ, lông cừu, bông, hoặc xơ nhân tạo, có hay 
không có sợi đàn hồi hoặc sợi cao su, và chúng sử dụng để sản xuất quần 
áo lót, quần áo phụ nữ, trong sản xuất mũ và cổ áo có trang trí, cuống 
huân chương, chất liệu trong trang trí, đồ trang trí nội thất, vv... 
Nhóm này cũng bao gồm vải dệt khổ khổ hẹp được làm từ sợi kim loại 
với điều kiện loại vải này dùng cho may mặc, trang trí nội thất hoặc các 

mục đích tương tự khác (xem phần Chú giải 7 của Chương này). 
Các dải trang sức được phân loại ở đây là các dải ruy-băng hẹp; vải làm 
đai thường là vải dệt thoi dày, chắc, hẹp, thường làm từ bông, lanh, đay, 
để làm yên cương ngựa, để sản xuất dây đai, thắt lưng, dây bảo hiểm, 
Nhóm này cũng bao gồm những loại vải làm rèm, chứa hai dải được nối 
liền với nhau tại những khoảng cách vừa phải bằng các đường chỉ nhỏ, 
toàn bộ những dải này thu được bởi một quá trình dệt đơn liên tục. 
Các mặt hàng được đưa ra trong nhóm này thường là những mặt hàng 
được dệt giống như cách dệt các loại vải thuộc Chương 50 đến 55 hoặc 
thuộc nhóm 58.01 (các loại vải nhung), và các mặt hàng hoàn chỉnh 
khác bằng các loại vải này đã được đề cập đến trong các đoạn (1) đến (4) 
trên đây. 
Các sản phẩm này vẫn được phân loại ở nhóm này khi đã được tẩm nước 
(“ moiré ”), phủ hồ, in , vv... 
These products remain classified here when watered (“ moiré ”), 
(B) CÁC DÂY BUỘC 
Nhóm này cũng gồm có các loại vải dệt khổ hẹp (các dây buộc) có khổ rộng 
từ vài mm đến 1 cm, bao gồm sợi dọc (những sợi song song, sợi 
monofilament hoặc sợi dệt) không có sợi ngang nhưng được liên kết với nhau 
bằng một chất kết dính. Những loại vải này chủ yếu được sử dụng để buộc 
những gói đồ, một số được sử dụng để làm đồ phụ kiện cho mũ phụ nữ. 
Đôi khi chúng mang tên thương mại của người sử dụng được in với 
những khoảng cách đều nhau. Điều này không ảnh hưởng đến việc phân 
loại của chúng. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hoặc đã đóng gói hoặc đóng gói 
để bán lẻ (nhóm 30.05). 
(b)  Vải dệt khổ hẹp với các đường viền dệt, các đồ trang trí bằng vải và 
các dải tết (nhóm 58.08). 
(c)  Vải dệt khổ hẹp được đề cập chi tiết hơn ở các nhóm khác, những 
loại vải này có đặc điểm : 
(1)  Các loại nhãn dệt, phù hiệu dệt và các sản phẩm tương tự dạng 

dải (nhóm 58.07 hoặc 58.08). 
(2) Các loại bấc đèn, lò, bật lửa, nến hoặc các loại tương tự (nhóm 
(3) Các loại ống dẫn bằng hàng dệt, hoặc các loại ống tương tự 
(nhóm 59.09). 
(4) Băng tải hoặc băng truyền hoặc băng đai (nhóm 59.10). 
(d)  Các loại vải dệt thoi khổ hẹp đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép 
thuộc Chương 59, đặc biệt các loại vải dệt khổ hẹp làm từ vải 
nhung được ngâm tẩm cao su, để phủ con suốt (trục dệt) (nhóm 
(e)  Vải dệt thoi khổ hẹp (trừ những loại đã đề cập ở các Phần (A) (2) 
trên) được làm theo phương pháp mô tả tại Phần (II) của Chú giải 
tổng quát của Phần XI. 
(f)  Khóa kéo (nhóm 96.07) và các móc, mắt cài khóa hoặc các bấm, 
làm từ kim loại thường, đã cố định tại các khoảng trên dải, với điều 
kiện các móc và các khóa hoặc các bấm khác làm cho các mặt 
hàng có đặc tính riêng (nhóm 83.08 hoặc 96.06 tùy từng trường 
hợp cụ thể). 
(g)  Ruy băng đánh máy chữ (nhóm 96.12). 
58.07 - Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng tương tự từ vật liệu 
dệt, dạng chiếc, dạng dải hoặc đã cắt thành hình hoặc kích 
cỡ, không thêu. 
5807.10 - Dệt thoi 
5807.90 - Loại khác 
Theo các điều kiện được nêu dưới đây, nhóm này bao gồm: 
(A) Các loại nhãn mác làm từ nguyên liệu dệt bất kỳ (kể cả hàng dệt 
kim). Các loại nhãn này bao gồm những loại nhãn được sử dụng để 
gắn lên quần áo, đồ gia dụng bằng lanh, đệm, lều, các loại đồ chơi 
mềm của trẻ em, hoặc các loại hàng khác. Chúng là những nhãn 
hiệu hữu dụng mang các dòng chữ (câu khắc) hoặc các hoa văn 
riêng biệt. Những loại nhãn như vậy gồm có các nhãn hiệu thương 
mại có tên thương mại hoặc tên thương mại của các nhà sản xuất 

hoặc bản chất của nguyên liệu dệt được sử dụng ("tơ", 
"viscorayon"...) và các loại nhãn được dùng cho các cá nhân (phù 
hiệu học sinh, lính...) để xác định nhân thân của họ; các loại nhãn cá 
nhân đôi khi có tên họ viết tắt, các con số hoặc đôi khi bao gồm một 
khoảng trống để lưu in chữ viết tay. 
(B) Phù hiệu và các sản phẩm tương tự làm từ những vật liệu dệt bất 
kỳ (kể cả hàng dệt kim). Loại này gồm có các nhãn hiệu, biểu tượng, 
"phù hiệu"... thuộc loại thông thường để khâu dán lên phía ngoài các 
loại quần áo (phù hiệu thể thao, quân đội, phù hiệu địa phương hoặc 
phù hiệu quốc gia,... các loại phù hiệu mang tên của các hội thanh niên, 
những phù hiệu của các thủy thủ mang tên của các con tàu...).  
Các loại nêu trên chỉ được phân loại trong nhóm này khi chúng có đầy 
đủ các điều kiện sau: 
(1)  Chúng không là hàng thêu. Các dòng chữ (câu khắc) hoặc các hoa 
văn trên các loại nhãn, phù hiệu được phân loại ở đây phần lớn được 
sản xuất bằng việc dệt (thường là dệt nổi (broché) hoặc in ấn. 
(2)  Chúng ở dạng chiếc, dạng dải (thông thường là ở dạng dải) hoặc thành 
các phần mảng riêng biệt được sản xuất bằng việc cắt thành cỡ hoặc theo 
hình dạng nhưng không được chế tạo, sản xuất bằng cách khác. 
Nhóm này không có các loại nhãn, phù hiệu và các loại tương tự,  đã 
được thêu (nhóm 58.10) hoặc sản xuất bằng các phương thức khác ngoài 
cách cắt thành cỡ hoặc thành hình dạng (nhóm 61.17, 62.17 hoặc 63.07). 
broché work) or by printing. 
58.08 - Các dải bện dạng chiếc; dải, mảnh trang trí dạng chiếc, 
không thêu, trừ loại dệt kim hoặc móc; tua, ngù và các mặt 
hàng tương tự. 
5808.10 - Các dải bện dạng chiếc 
5808.90 - Loại khác 
(A) CÁC DẢI BỆN DẠNG CHIẾC; DẢI, MẢNH TRANG TRÍ 
DẠNG CHIẾC, KHÔNG THÊU, TRỪ CÁC LOẠI DỆT KIM 
HOẶC MÓC 

Ngoài các loại dải bện, phần (A) của nhóm này gồm có nhiều sản phẩm 
khác nhau về chiều dài, được thiết kế để trang hoàng hoặc trang trí các 
loại quần áo (ví dụ như quần áo phụ nữ, trang phục quân đội, trang phục 
lễ hội cho các giáo sĩ, trang phục sân khấu) hoặc các loại trang trí nội 
thất (kể cả đồ trang trí tàu thuyền hoặc xe cộ). 
Chúng có thể được gắn các móc, khóa, lỗ xâu, dây và các sản phẩm bổ 
trợ tương tự, với điều kiện đặc điểm các loại hàng thành phẩm của chúng 
không bị ảnh hưởng; chúng được trang trí bằng các đồng Sêquyn, các 
chuỗi hạt, và các phụ kiện tương tự, miễn là những loại này không được 
gán bằng kỹ thuật gán hình (appliqué work) mà với kỹ thuật này chúng 
được phân loại như hàng thêu thuộc nhóm 58.10. 
Các sản phẩm được phân loại vào nhóm này gồm có : 
(1)  Các dải bện hình dẹt hoặc hình ống. 
Các dải này thu được bằng cách đan chéo các sợi, hoặc sợi 
monofilament, mảnh và các loại tương tự thuộc Chương 54. Đối với 
các dải bện hình dẹt, các sợi chỉ chạy chéo từ một mép biên này đến 
một mép biên khác theo hình zig-zag hoặc kiểu phức tạp hơn, trái 
lại, các dải bện hình ống có các sợi chỉ chạy theo đường xoắn ốc; 
trong cả hai trường hợp một nửa số sợi chạy theo một hướng và nửa 
còn lại chạy theo hướng khác và kết lại theo một kiểu có sẵn, kiểu 
có sẵn này thường rất đơn giản. Trong một số loại dải bện, các sợi 
phụ có thể được kết lại với nhau theo chiều dài của tấm vải hoặc giữ 
các biên vải, hoặc được đặt ở phần nối tiếp để sản xuất các kiểu 
mẫu. 
Các loại dải bện được sản xuất bằng một loại máy đặc biệt gọi là 
máy tết băng vải hoặc máy có các suốt chỉ. 
Sự đa dạng của dải bện kể cả dây buộc (ví dụ dây buộc giầy hoặc 
ủng), các dây viền, các dải trang trí, các dây thừng trang trí, các dải 
trang sức bện,... Dải bện hình ống có thể có một lõi dệt. 
Dải bện được sử dụng để làm đường viền trang trí cho một số loại 
quần áo (ví dụ dây viền trang trí) hoặc các đồ trang trí nội thất (dây 
buộc rèm), các vỏ bọc ngoài dây điện, một số loại dây buộc giầy 
nhất định hoặc các dây buộc áo choàng hay bộ trang phục hoặc các 
accessories, provided  these are not attached by sewn appliqué work in 

dây đai lưng của bô áo choàng (của giáo sư đại học hoạc của quan 
tòa)...  
Các loại vải bện như vậy khác với các loại sản phẩm được tết hoặc 
bện thuộc nhóm 56.07 căn cứ vào các nếp gấp của nó lỏng và cấu 
trúc của nó cũng kém chặt chẽ hơn. 
Tuy vậy, nói chung nhóm này loại trừ các loại vải bện được nêu cụ 
thể hơn ở các nhóm hàng khác và cụ thể: 
(a)  Dải bện làm từ sợi monofilament có diện tích mặt cắt ngang 
trên 1mm hoặc làm từ dải và các dạng tương tự độ rộng trên 
5mm bằng plastic hoặc làm từ vật liệu tết bện khác (nhóm 
(b)  Dây xe, chão bện, dây thừng, dây cáp và chỉ giả catgut được tết 
bện thuộc nhóm 56.07. 
(c)  Các loại bấc dùng cho các loại đèn, các loại lò, các loại bật lửa, 
các loại nến hoặc những loại tương tự (nhóm 59.08). 
(d)  Ống dẫn và các loại ống tương tự (nhóm 59.09). 
(e)  Băng tải, băng truyền hoặc các loại băng đai thuộc nhóm 59.10. 
(f)  Các loại sản phẩm dùng trong kỹ thuật thuộc nhóm 59.11 (ví 
dụ: các loại dây được sử dụng trong công nghiệp như là vật liệu 
bôi trơn hoặc đóng gói). 
(g)  Khóa kéo (nhóm 96.07), và móc, mắt cài khóa hoặc các bấm 
nén, bằng kim loại thường, cố định tại các khoảng trên dải bện, 
miễn là các móc và mắt khóa và bấm nén tạo nên đặc điểm cơ 
bản cho các sản phẩm (nhóm 83.08 hoặc 96.06 tùy từng trường 
hợp). 
(2)  Dây thừng milan và dây thừng tương tự: 
Các loại này là các sản phẩm dải viền giống như sợi được nẹp viền 
nhưng có lõi dày hơn gồm có một bó sợi hoặc các sợi dệt thô mà các 
sợi dệt thô này được xoắn trong suốt quá trình nẹp viền. Thường thì 
chúng được làm thành dải bằng các loại sợi đã được xe chặt. Chúng 
được phân loại ở đây theo ciều dài và được sử dụng như các đồ 
trang trí có sẵn, để cho việc sản xuất các loại đai trang sức, kéo 
mành cửa... 

Nhóm này loại trừ các sợi kim loại được phủ bằng các nguyên liệu 
dệt, ví dụ: 
(a)  Dây sắt hoặc thép dùng cho việc sản xuất khung mũ (dây thép 
của người làm nón mũ) và cuống bằng dây thép hoặc sắt dùng 
làm hoa giả hoặc làm dụng cụ uốn tóc (nhóm 72.17). 
(b)  Dây điện cách điện (nhóm 85.44) 
(3)  Vải dệt thoi khổ hẹp với các tua (đã rạch hoặc đã cắt) được dệt 
thành mép của chúng. 
Những sản phẩm này được sản xuất trên các máy dệt ruy băng, việc 
bố trí trên các biên vải được sản xuất bằng các thao tác bằng tay từ 
sợi ngang hoặc bằng cách sử dụng các sợi dọc thô lỏng được xem 
như  roquetins. 
Trong trường hợp đầu tiên, sợi ngang không tạo thành một đường 
viền với 2 sợi chỉ dọc ngoài nhưng lại trải ra vượt quá 2 sợi dọc để 
tạo thành các móc; những cái móc này có được bằng cách đưa các 
sợi ngang quay quanh hai hoặc nhiều sợi kim loại trên máy dệt, sợi 
này song song đối với sợi dọc và được rút đi một khi tấm vải được 
hoàn tất. 
Trong trường hợp thứ hai, các sợi thớ nhão được kết hợp chặt chẽ 
tạo thành đường viền tại các khoản bằng các sợi ngang nhất định - 
trong khi các dây giữ sợi này từ tấm vải tại các khu vực đan xen, vì 
thế tạo thành các móc. 
Các móc được sản xuất bằng những quá trình này có thể có khoảng 
cách rộng hơn hoặc kém rộng hơn và đặt cách nhau với độ rộng đều 
nhau hay không đều nhau. Đôi khi chúng bị cắt để tạo thành một 
đường biên có tua, đường biên có tua này sau đó có thể được thắt 
nút lại hoặc được trang trí với những núm tua, các ngù,...  
Những loại vải dệt thoi khổ hẹp này được sử dụng chủ yếu cho việc 
trang trí nội thất hoặc các loại quần áo. 
Các loại ruy băng hoặc viền và ruy băng răng cưa không được xếp 
tại nhóm này (nhóm 58.06). 
(4)  Các dải trang trí thành phẩm khác ở dạng chiếc. Nhóm này cũng 
bao gồm nhiều sản phẩm có bề rộng, hẹp khác nhau có độ dài phù 

hợp để sử dụng trang trí quần áo, trang trí nội thất,... 
Những loại sản phẩm này thường được sản xuất từ ruy băng hoặc 
các loại băng, dải, viền hoặc các sản phẩm khác đã nêu trên. Chúng 
có thể được làm bằng việc may hoặc bằng cách khác, hoặc bằng 
cách lắp ghép hai hoặc nhiều loại ruy băng và dải với nhau để tạo 
trang trí (ví dụ: các ruy băng hoặc các dải có các đồ trang trí hoặc 
dải trang trí hoặc các dải trang điểm; các dải ruy băng hoặc các 
băng, dải viền cùng với các quả tua hoặc các đồ trang trí khác được 
lồng vào tại các khoảng cách dọc theo chiều dài, trừ bằng kỹ thuật 
thêu. 
Nhóm này không bao gồm các dải trang trí bằng dệt kim hoặc móc 
thuộc các nhóm từ 60.02 đến 60.06. 
intervals along the length, other than by appliqué embroidery work. 
(B) TUA, NGÙ VÀ CÁC MẶT HÀNG TƯƠNG TỰ 
Không giống như các sản phẩm của phần (A) trên, các sản phẩm này là các 
sản phẩm đơn chiếc độc lập và bao gồm các tua, ngù trang trí đủ các cỡ và 
các hình dạng và các đầu trang trí cho các dải trang trí nội thất...ví dụ : 
(1)  Các lõi (bằng gỗ hoặc các vật liệu khác) được bao bọc bằng các sợi 
dệt có các đầu mút đôi khi được treo lơ lửng - nhiều loại được xếp 
gọn nhiều loại được trang trí với các dây đăng ten hoặc với nhiều 
núm trang trí. 
(2)  Các bó đơn giản của sợi dệt được gấp hoặc buộc bằng các đầu mút 
treo lỏng. 
(3)  Các lõi có màu ôliu hoặc lõi hình quả (bằng gỗ, bằng giấy,...) 
được bọc bằng các chất liệu dệt, đôi khi bằng một lõi mở cho phép 
để sử dụng như một vòng trượt. 
(4)  Ngù gồm các sợi ngắn được đan với nhau một cách chắc chắn ở 
giữa và các sợi chĩa ra mọi hướng. 
Tất cả những loại này có thể được lắp một cái móc nhằm để gắn; chúng 
được dùng chủ yếu để trang trí nội thất nhưng cũng dùng trong may mặc. 
Chúng có đặc điểm trang trí nổi trội hơn. 
Nhóm này không bao gồm các loại đồ trang trí riêng biệt trừ những loại 

đã nêu trên. 
Nơ hoa hồng làm bằng các loại dải và dải trang trí thuộc mục này được 
phân loại trong nhóm 62.17 hoặc 63.07. Các loại quai đeo lưỡi lê, cầu 
vai và các loại dây buộc làm từ dải bện và dải trang trí được phân loại ở 
nhóm 62.17 và các dây giày, dây coocxê,... từ các chất liệu này, có các 
đầu mút được bện với nhau hoặc được xử lý cách khác để ngăn sổ sợi, 
cũng như các thắt nút (swordknot) làm bằng những chất liệu này được 
phân loại ở nhóm 63.07. 
Rất nhiều vật liệu được sử dụng trong việc sản xuất các loại sản phẩm 
thuộc nhóm này. Các vật liệu bao gồm tơ, lông cừu, lông động vật mịn, 
bông, sợi lanh, sợi nhân tạo và sợi trộn kim loại. 
Bên cạnh các loại trừ nêu trên, nhóm này không bao gồm các dải trang 
trí là các dải dệt thoi đơn giản như nêu tại định nghĩa về vải dệt thoi khổ 
hẹp (nhóm 58.06). 
58.09 - Vải dệt thoi từ sợi kim loại và vải dệt thoi từ sợi trộn kim loại 
thuộc nhóm 56.05, sử dụng để trang trí, như các loại vải 
trang trí nội thất hoặc cho các mục đích tương tự, chưa được 
chi tiết hoặc ghi ở nơi khác. 
Nhóm này bao gồm vải dệt thoi (như đã định nghĩa ở Phần (I) (C) của 
Chú giải tổng quát Phần XI) làm từ các sợi trộn kim loại thuộc nhóm 
56.05, và cả vải dệt thoi bằng sợi kim loại thuộc Phần XIV hoặc Phần 
XV, với điều kiện chúng là những loại vải dùng trong may mặc, trang trí 
nội thất hoặc các mục đích tương tự, chưa được nêu chi tiết hoặc ghi ở 
nơi khác, đặc biệt là thuộc các nhóm trước của Chương này.  
Các loại vải gồm có sợi kim loại hoặc sợi trộn kim loại cùng các loại sợi 
dệt khác được phân loại ở đây, miễn là sợi kim loại hoặc sợi trộn kim 
loại vượt quá khối lượng sợi dệt  bất kỳ. Theo mục đích này sợi trộn kim 
loại được xem như một vật liệu dệt và khối lượng của nó bằng toàn bộ 
khối lượng của sợi dệt và sợi kim loại mà nó chứa (xem Phần (I) (A) của 
Chú giải tổng quát Phần XI). 
Nhóm này loại trừ vải dệt thoi không dùng trong may mặc, trang trí 

hoặc các mục đích tương tự, ví dụ: dải vải sa lượt hoặc quần áo dệt bằng 
sắt, đồng, thép, nhôm các kim loại quý,... (các nhóm 71.15, 73.14, 
58.10 – Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu hoa văn 
5810.10 - Hàng thêu không lộ nền 
- Hàng thêu khác: 
5810.91 - - Từ bông 
5810.92 - - Từ xơ nhân tạo 
5810.99 - - Từ vật liệu dệt khác 
Hàng thêu được làm bằng các sợi thêu trên nền đã có sẵn làm từ vải 
tuyn, lưới, lớp nhung, ruy băng, vải móc hoặc đan, đăng ten hoặc vải dệt 
thoi, hoặc làm từ nỉ hoặc sợi không  dệt, để tạo mẫu trang trí trên nền đó. 
Chỉ thêu thường là đồ dệt, nhưng nhóm này cũng bao gồm cả các loại 
vật liệu khác (ví dụ: kim loại, thuỷ tinh, hoặc sợi cọ). Vải nền thường tạo 
thành một phần của sản phẩm thêu hoàn thiện nhưng trong một số 
trường hợp nhất định nó được tách ra (ví dụ, bằng hóa học hoặc bằng 
việc cắt) sau khi được thêu và chỉ có mẫu thiết kế được giữ lại. Một số 
sản phẩm thêu nhất định không được làm bằng sợi thêu nhưng bằng các 
dải hoặc các loại băng viền. 
Chính vì vậy việc sản xuất bắt đầu từ một nền vải đã có sẵn khác với sản 
phẩm thêu từ hàng ren, và hàng ren không được nhầm lẫn với hàng thêu 
mà vải nền sẽ bị gỡ bỏ sau khi thêu xong. Sản phẩm thêu sẽ không bị lẫn 
với các loại vải dệt có các mẫu thiết kế được sản xuất bằng sợi trang trí 
trong suốt quá trình dệt (kiểu dệt lông chim và nổi hoa văn khác). Các 
đặc điểm để phân biệt sản phẩm thêu với các sản phẩm khác sẽ có trong 
phần Chú giải chi tiết này. 
Hàng thêu có thể làm thủ công bằng tay hoặc bằng máy. Hàng thêu thủ 
công bằng tay có kích thước nhỏ hơn, hàng thêu làm bằng máy thì 
thường có độ dài lớn hơn. 
bearing designs produced by broché threads during the weaving process 
(plumetis and other broché work). Features distinguishing embroidery 

Hàng thêu được phân loại vào nhóm này có 3 loại chính : 
(I) HÀNG THÊU KHÔNG ĐỂ LỘ NỀN  
Đây là loại hàng thêu mà nền vải đã bị loại bỏ (ví dụ bằng một quá trình 
hóa học, bằng cắt bỏ). Vì thế vật liệu gồm có toàn bộ các mẫu thiết kế đã 
thêu.  
Vì nó không có nền, đồ thêu làm bằng máy thuộc loại này có thể bị 
nhầm lẫn với hàng ren thuộc nhóm 58.04, tuy nhiên nó có thể được phân 
biệt bằng cách căn cứ vào các điểm sau : 
(A) Trong khi hàng ren được làm bằng một sợi chỉ đơn liên tục hoặc 
bằng cách lồng 2 hoặc nhiều sợi chỉ nối liền với chức năng giống 
nhau, và thường thì hàng ren có hai mặt giống nhau, còn hàng thêu 
máy thuộc loại này gồm có 2 sợi chỉ với các chức năng khác nhau; 
một là sợi thêu, hai là sợi con thoi nằm dưới tấm vải, loại thứ hai 
thường mịn hơn loại sợi thứ nhất. Vì thế mặt phải và mặt trái của đồ 
thêu hoàn toàn khác nhau, mặt phải biểu hiện hình nổi, mặt trái thì 
hình dẹt. 
(B)  Các đường viền của hàng thêu cắt thường lộ ra các đầu mút nhỏ của 
sợi vải nền chưa được loại bỏ hoàn toàn. 
(II)  HÀNG THÊU CÓ NỀN ĐƯỢC GIỮ LẠI SAU KHI THÊU 
Đây là loại sản phẩm thêu mà trong đó sợi thêu thường không bao phủ 
toàn bộ tấm vải nền, nhưng sợi thêu lộ ra để tạo thành các mẫu trên bề 
mặt hoặc xung quanh các đường biên của tấm vải nền. Các mũi thêu 
được sử dụng rất phong phú và bao gồm mũi thêu chạy, mũi khâu 
chuyền, mũi khâu sau hoặc mũi khâu thắt, mũi khâu chữ chi, mũi khâu 
hạt, mũi khâu vòng, mũi khâu lỗ. Về nguyên tắc toàn bộ mẫu thiết kế chỉ 
có thể được thấy trên bề mặt phải của vải. Nhiều sản phẩm thêu khác 
nhau có các lỗ nhỏ hoặc khoảng trống tạo ra bởi việc cắt, khoan lỗ trên 
tấm vải nền với một con dao nhỏ hoặc bằng cách rút đi các sợi dọc hay 
ngang (hoặc cả hai) từ tấm vải nền và sau đó được làm hoàn thiện hoặc 
làm đẹp các tấm vải bằng các mũi thêu. Điều này làm cho các sản phẩm 
thêu nhẹ nhàng hơn hoặc thậm chí có thể tạo sức hấp dẫn riêng của hàng 

thêu; ví dụ kiểu thêu đăng – ten và thêu rút sợi. 
Các vật liệu dệt chỉ được gia công bằng quy trình đơn giản là rút bỏ các 
sợi chỉ không nằm trong nhóm này. 
Với một số loại hàng thêu nhất định, mẫu thêu như mong muốn đầu tiên 
được phác họa hoặc nhồi vào một đường chỉ lót để làm cho mẫu nổi hơn. 
Một số máy sản xuất hàng thêu khác nhau, đặc biệt là đồ thêu bóng móc 
và vải mutsơlin đã thêu, bề ngoài rất giống các loại vải musơlin dùng để 
trang trí khác và các loại vải trang trí khác (ví dụ vải thêu nổi) được phân 
loại trong các Chương từ 50 đến 55. Tuy nhiên, có thể phân biệt các sản 
phẩm này qua các đặc điểm sau do phương pháp sản xuất đưa lại. Ở vải 
trang trí nổi (broché), vì mẫu được sản xuất bằng các sợi trang trí nổi 
được đưa vào trong suốt quá trình dệt, mỗi phần của các mẫu thiết kế 
luôn luôn nằm giữa sợi ngang hoặc sợi dọc của tấm vải nền; trái lại ở các 
tấm vải nền thêu, tấm vải nền được dệt trước khi sản xuất các mẫu trên 
bề mặt. Để có được các mẫu này, tấm vải nền được căng ra trên máy 
thêu vì vậy độ căng và vị trí của vải không thể ăn khớp hoàn toàn với các 
mũi kim của máy dệt để lồng toàn bộ các phần tương ứng của đồ thêu 
một cách chính xác giữa các sợi dọc và sợi ngang giống nhau thuộc vải 
nền. Hơn nữa, các mũi kim xuyên các sợi của tấm vải nền thì không xảy 
ra đối với các tấm vải trang trí nổi (broché). 
Các đặc điểm phân biệt vải trang trí nổi và vải thêu này có thể được thấy 
bằng việc tước các đường biên của mẫu. 
embroidery and certain embroidered muslins, appear very similar to broché 
muslins and other broché fabrics (e.g., plumetis) classified in Chapters 50 
arising from their method of manufacture. In broché fabrics, since the 
designs are produced by broché threads introduced during the course of the 
in broché fabrics. 
These distinguishing features of broché fabrics and embroidered fabrics 
(III) THÊU ĐÍNH 
Sản phẩm thêu đính gồm có một tấm nền làm từ vải dệt hoặc phớt  mà 
trên tấm nền này được may bằng các mũi thêu hoặc các mũi khâu thông 
thường: 
(A) Các hạt trang trí, các đồng xê-quin hoặc các đồ trang trí tương tự; 
các đồ trang trí này thường được làm bằng thủy tinh, gelatin, kim 
loại hoặc gỗ và chúng được khâu để tạo ra một mẫu trang trí hoặc 
một mẫu rải trên tấm vải nền. 
(B) Những hoa văn trang trí từ vật liệu dệt hoặc các vật liệu khác. Những 

hoa văn này thường là một tấm vải dệt (kể cả đăng ten), làm bằng 
kiểu dệt khác với kiểu dệt của tấm vải nền và các hoa văn trang trí 
được cắt theo nhiều kiểu khác nhau và chúng được đính vào tấm vải 
nền; trong một số trường hợp nhất định, tấm vải nền bị gỡ ra ở vị trí 
đã được đính mẫu hoa văn. 
(C) Sợi trang trí, sợi viền hoặc các loại trang trí khác vv... tạo mẫu trên 
tấm vải nền. 
Tất cả các loại hàng thêu khác nhau đã mô tả ở trên vẫn được phân loại 
trong nhóm này khi ở các dạng sau: 
(1)  Dạng chiếc hay dạng dải với độ rộng khác nhau. Dạng chiếc hay 
dạng dải này có một loạt các mẫu thêu giống nhau, bất kể có hay 
không có ý định cho việc tách rời sau đó để tạo ra các sản phẩm 
hoàn thiện (ví dụ, các dải nhãn thêu để làm nhãn các loại quần áo, 
hoặc các mảnh đã thêu tại những khoảng cách bình thường đã tính 
phải cắt và tạo thành các dải yếm). 
(2)  Ở dạng có mẫu trang trí hoa văn, ví dụ, các sản phẩm mẫu đã thêu 
riêng biệt không có chức năng nào khác ngoài chức năng được kết 
hợp hoặc được khâu đính như là những chi tiết của đồ thêu như cho 
quần áo lót hoặc các loại quần áo hoặc đồ trang trí nội thất. Những 
hoa văn trang trí này có thể được cắt thành hình bất kỳ, được bồi 
hoặc được lắp ghép lại. Chúng bao gồm các phù hiệu, hình vẽ tượng 
trưng, miếng nhận diện, tên họ viết tắt, các con số, hình ngôi sao, 
huy hiệu quốc gia hoặc huy hiệu thể thao vv... 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Hàng thêu trên vật liệu không dệt (ví dụ: da, nhựa, liễu gai, bìa 
cứng). 
(b)  Các loại thảm trang trí thêu tay (nhóm 58.05). 
(c)  Các bộ sản phẩm gồm có vải dệt thoi và sợi để tạo thành các loại 
khăn trải bàn hoặc khăn đã thêu hoặc các loại tương tự (nhóm 
(d)  Sản phẩm thêu (trừ các loại hoa văn trang trí) được sản xuất theo 
phương pháp nêu tại Phần II thuộc Chú giải tổng quát Phần XI, ở 
dạng hay không ở dạng các loại sản phẩm thêu đã hoàn tất để sử 
dụng. Các loại đồ thêu cá nhân đã hoàn tất để sử dụng, các sản phẩm 
serving no other function than to be incorporated or appliquéd as 

này đã được thêu trực tiếp theo mẫu cuối cùng của chúng mà không 
cần thêm quá trình sản xuất nào khác nữa. Phần lớn các loại sản 
phẩm này được phân loại như là các sản phẩm hoàn chỉnh (Chương 
61, 62, 63 hoặc 65) và bao gồm, ví dụ như khăn tay, tạp dề, cổ tay 
áo, cổ áo, áo lót, quần áo, khăn trải, các loại khăn dùng để trải, khăn 
trải bàn và màn. 
(e)  Hàng thêu bằng sợi thủy tinh không lộ nền (nhóm 70.19). 
Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 5810.10  
Phân nhóm này không bao gồm các loại hàng thêu đăng ten (broderie 
58.11 - Các sản phẩm dệt đã chần (quilted) dạng chiếc, bao gồm một 
hoặc nhiều lớp vật liệu dệt kết hợp với lớp đệm bằng cách 
khâu hoặc cách khác, trừ hàng thêu thuộc nhóm 58.10. 
Nhóm này gồm có các sản phẩm dệt dạng chiếc làm từ: 
(1)  một lớp vải, thường được dệt kim hoặc dệt thoi hoặc không dệt, và 
một lớp nguyên liệu lót (ví dụ, từ sợi dệt thường có dạng mạng, 
dạng phớt, dạng lót xenlulo, dạng nhựa bọt hoặc cao su bọt), hoặc 
(2)  hai lớp vải, thường được dệt kim hoặc dệt thoi hoặc không dệt hoặc 
kết hợp các cách trên, được tách rời bằng một lớp lót. 
Những lớp này được ghép với nhau bằng cách khâu hoặc may (bao gồm 
mũi khâu khép) hoặc bằng các mũi khâu thẳng hoặc khâu trên một mẫu 
trang trí, miễn là các mũi khâu được sử dụng chủ yếu để chần và không 
tạo mẫu thêu mang đặc điểm của hàng thêu. Các lớp này có thể được liên 
kết với nhau bằng những dây thắt nút hoặc bằng chất dính, bằng dây 
nóng hoặc bằng các biện pháp khác, miễn là các sản phẩm được chần kỹ, 
đó là kết quả giống như việc chần bằng cách khâu, các mũi kim hoặc là 

hàng loạt các mũi khâu. 
Những sản phẩm thuộc nhóm này có thể đã được ngâm tẩm, tráng hoặc 
phủ, hay các tấm vải được sử dụng trong việc sản xuất có thể được  
ngâm tẩm, tráng hoặc phủ. 
Các nguyên liệu này thường được sử dụng để sản xuất hàng may mặc đã 
chần, khăn trải giường hoặc bộ đồ dùng cho giường, khăn trải nệm, quần 
áo, màn, thảm, khăn trải để cố định mép bàn,... 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Các tấm nhựa đã chần, bằng cách khâu hoặc được gắn bằng nhiệt, 
với 1 lõi đã lót đệm (Chương 39). 
(b)  Các sản phẩm khâu hoặc các sản phẩm dệt chần trong đó các mũi 
khâu tạo thành mẫu có đặc điểm của hàng thêu (nhóm 58.10). 
(c)  Các sản phẩm hoàn thiện thuộc Phần này (xem Chú giải 7 của 
Phần). 
(d)  Các loại bộ đồ dùng cho giường hoặc đồ trang trí nội thất tương tự 
thuộc Chương 94 đã được lót đệm hoặc được lắp đặt.  

Chương 59 
Các loại vải dệt đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép lớp; các mặt 
hàng dệt thích hợp dùng trong công nghiệp 
Chú giải. 
1. Trừ khi có yêu cầu khác, theo mục đích của Chương này khái niệm 
"vải dệt" chỉ áp dụng đối với vải dệt thoi thuộc các Chương từ 50 đến 
55 và các nhóm 58.03 và 58.06, dải bện và dải, mảnh trang trí dạng 
chiếc thuộc nhóm 58.08 và vải dệt kim hoặc móc thuộc nhóm 60.02 
đến 60.06. 
2. Nhóm 59.03 áp dụng đối với: 
(a) Các loại vải dệt, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với plastic, bất 
kể khối lượng tính trên 1m2 và bất kể tính chất của vật liệu plastic 
(đặc hoặc xốp), trừ: 
(1) Vải trong đó chất ngâm tẩm, tráng hoặc phủ không thể nhìn 
được bằng mắt thường (thường ở các Chương từ 50 đến 55, 58 
hoặc 60); theo mục đích của phần này, không cần quan tâm đến 
sự thay đổi về màu sắc;  
(2) Các sản phẩm không thể được quấn bằng tay quanh một trục 
tròn có đường kính 7mm, ở nhiệt độ từ 15oC đến 30oC mà 
không bị nứt vỡ (thường thuộc Chương 39);  
(3) Các sản phẩm trong đó vải dệt hoặc được bọc hoàn toàn bằng 
plastic hoặc được tráng hoặc phủ cả hai mặt bằng vật liệu đó, 
miễn là việc tráng hoặc phủ có thể nhìn được bằng mắt thường 
mà không cần quan tâm đến sự thay đổi về màu sắc (Chương 
(4) Vải được tráng hoặc phủ từng phần bằng plastic và có họa tiết 
do việc xử lí đó tạo nên (thường gặp ở các Chương từ 50 đến 
55, 58 hoặc 60);  
(5) Tấm, lá hoặc dải bằng plastic xốp, kết hợp với vải dệt, mà 
trong đó vải dệt chỉ đơn thuần nhằm mục đích gia cố (Chương 
39); hoặc  
(6) Các sản phẩm dệt thuộc nhóm 58.11; 

(b) Vải dệt từ sợi, dải hoặc từ các dạng tương tự, đã ngâm tẩm, tráng, 
phủ hoặc bao ngoài bằng plastic, thuộc nhóm 56.04. 
3. Theo mục đích của nhóm 59.03, khái niệm "vải dệt được ép với 
plastic" nghĩa là các sản phẩm được tạo ra bằng cách ghép một hoặc 
nhiều lớp vải với một hoặc nhiều tấm hoặc màng plastic và liên kết 
các lớp với nhau bằng bất kỳ phương pháp nào, cho dù các tấm hoặc 
màng plastic có hoặc không thể nhìn bằng mắt thường ở tiết diện cắt 
4. Theo mục đích của nhóm 59.05, khái niệm "các loại hàng dệt phủ 
tường" áp dụng đối với các sản phẩm ở dạng cuộn, chiều rộng không 
dưới 45 cm, phù hợp để trang trí trần nhà hoặc tường, có bề mặt dệt 
được gắn chặt trên lớp bồi hoặc được xử lý mặt sau (ngâm tẩm hoặc 
tráng để có thể phết hồ). 
Tuy nhiên, nhóm này không áp dụng cho các mặt hàng phủ tường có 
xơ vụn hoặc bụi xơ dệt gắn trực tiếp trên lớp bồi giấy (nhóm 48.14) 
hoặc trên lớp bồi vật liệu dệt (thường thuộc nhóm 59.07). 
5. Theo mục đích của nhóm 59.06, khái niệm "vải dệt đã được cao su 
hóa" có nghĩa là  
(a) Vải dệt đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với cao su, 
(i) Định lượng không quá 1.500 g/m2; hoặc 
(ii) Định lượng trên 1.500 g/m2 và có hàm lượng vật liệu dệt 
chiếm trên 50% tính theo khối lượng; 
(b) Các loại vải làm từ sợi, dải hoặc các dạng tương tự, đã được ngâm 
tẩm, tráng, phủ hoặc bao ngoài bằng cao su, thuộc nhóm 56.04; và  
(c) Các loại vải gồm sợi dệt đặt song song được liên kết với cao su, 
bất kể khối lượng tính trên 1m2 của chúng. 
Tuy nhiên, nhóm này không áp dụng cho các tấm, tờ hoặc dải 
bằng cao su xốp, kết hợp với vải dệt, mà trong đó vải dệt chỉ đơn 
thuần phục vụ cho mục đích gia cố (Chương 40), hoặc các sản 
phẩm dệt thuộc nhóm 58.11. 
6. Nhóm 59.07 không áp dụng cho: 
(a) Các loại vải trong đó việc ngâm tẩm, tráng hoặc phủ không thể 
nhìn thấy được bằng mắt thường (thông thường thuộc các Chương 

từ 50 đến 55, 58 hoặc 60); theo mục đích của phần này, không tính 
đến sự thay đổi về màu sắc; 
(b) Vải được vẽ các hoạ tiết (trừ vải canvas đã sơn vẽ để làm phông 
cảnh cho rạp hát, phông trường quay hoặc các loại tương tự); 
(c) Vải được phủ từng phần bằng xơ vụn, bụi xơ, bột cây bần hoặc 
các loại tương tự và mang họa tiết do việc xử lý đó tạo nên; tuy 
nhiên, các loại vải giả nổi vòng cũng được phân loại trong nhóm 
này; 
(d) Vải được hoàn thiện bằng cách hồ thông thường có thành phần cơ 
bản là tinh bột hoặc các chất tương tự; 
(e) Gỗ lớp mặt trên lớp vải nền (nhóm 44.08); 
(f) Hạt mài hoặc bột mài tự nhiên hoặc nhân tạo, trên lớp vải nền 
(nhóm 68.05); 
(g) Mica liên kết khối hoặc tái chế, trên lớp vải nền (nhóm 68.14); 
hoặc  
(h) Lá kim loại trên lớp vải nền (thường thuộc Phần XIV hoặc XV). 
7. Nhóm 59.10 không áp dụng đối với: 
(a) Băng truyền hoặc băng tải, bằng vật liệu dệt, có độ dày dưới 3 
mm; hoặc 
(b) Băng truyền hoặc băng tải hoặc dây cuaroa bằng vải dệt đã ngâm 
tẩm, tráng, phủ hoặc ép với cao su hoặc làm từ sợi dệt hoặc sợi 
bện (cord) đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bao ngoài bằng cao su 
(nhóm 40.10). 
8. Nhóm 59.11 áp dụng đối với các loại hàng hoá dưới đây, những loại 
hàng hoá này không xếp vào bất kỳ nhóm nào khác của Phần XI: 
(a) Sản phẩm dệt dạng tấm, được cắt thành từng đoạn  hoặc đơn giản 
là cắt thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông) (trừ các loại sản 
phẩm có đặc tính của các sản phẩm thuộc các nhóm từ 59.08 đến 
59.10), chỉ có các loại sau: 
(i) Vải dệt, phớt và vải dệt thoi lót phớt, đã được tráng, phủ, bọc 
hoặc ép với cao su, da thuộc hoặc vật liệu khác, dùng để làm 

vải nền kim chải, và các loại vải tương tự sử dụng cho các mục 
đích kỹ thuật khác, kể cả vải nhung khổ hẹp được ngâm tẩm 
bằng cao su, dùng để bọc các trục dệt (trục cuộn vải dệt); 
(ii) Vải dùng để rây sàng; 
(iii) Vải lọc dùng trong công nghệ ép dầu hoặc các mục đích 
tương tự, làm từ vật liệu dệt hoặc làm từ tóc người; 
(iv) Vải dệt thoi dạng tấm với nhiều lớp sợi dọc hoặc sợi ngang, 
có hoặc không tạo phớt, ngâm tẩm hoặc tráng, dùng cho máy 
móc hoặc cho các mục đích kỹ thuật khác; 
(v) Vải dệt được gia cố bằng kim loại, dùng cho các mục đích kỹ 
thuật; 
(vi) Sợi bện (cord), dây tết hoặc loại tương tự, có hoặc không 
ngâm tẩm, tráng hoặc gia cố bằng kim loại, dùng trong công 
nghiệp như vật liệu để đóng gói hoặc vật liệu bôi trơn; 
(b) Các mặt hàng dệt (trừ các sản phẩm thuộc các nhóm từ 59.08 đến 
59.10) loại sử dụng cho các mục đích kỹ thuật (ví dụ, vải dệt và 
phớt, được dệt vòng liền hoặc kèm theo cơ cấu nối ráp, dùng trong 
máy sản xuất giấy hoặc các máy tương tự (ví dụ, để chế biến bột 
giấy hoặc ximăng amiăng), các miếng đệm, gioăng, đĩa đánh bóng 
hoặc các chi tiết máy khác). 
59.01- Vải dệt được tráng gôm hoặc hồ tinh bột, dùng để bọc ngoài 
bìa sách hoặc loại tương tự; vải can; vải canvas đã xử lý để 
vẽ; vải hồ cứng và các loại vải dệt đã được làm cứng tương tự 
để làm cốt mũ. 
5901.10 - Vải dệt được tráng gôm hoặc hồ tinh bột, dùng để bọc 
ngoài bìa  sách hoặc các loại tương tự 
5901.90 - Loại khác 
(1) Vải dệt đã được tráng gôm hoặc hồ tinh bột dùng để bọc ngoài 

bìa sách hoặc các loại tương tự. 
Loại vải này thường là vải dệt vân điểm, thường làm từ bông, lanh 
hoặc sợi nhân tạo, đã được tráng nhiều gôm hoặc hồ tinh bột (ví dụ 
như: tinh bột), loại được sử dụng trong sản xuất tấm bọc ngoài bìa 
của sách, hộp, tranh ảnh hoặc hộp đựng dao kéo, vỏ dao,... 
Những sản phẩm này có thể không được tẩy trắng, tẩy trắng, nhuộm, 
hoặc in và bề mặt thường được xếp nếp, gấp nếp, bọc da sargin (có 
bề mặt thô), chạm nổi hoặc gia công bằng cách khác. 
Các loại vải sử dụng cho các mục đích tương tự, được ngâm tẩm, 
hoặc tráng bằng plastic (ví dụ: giả da) bị loại trừ khỏi nhóm này 
(nhóm 59.03). 
(2) Vải can. 
Vải can là loại vải được dệt dày và kỹ, thường chúng làm bằng bông 
hoặc lanh, đã được xử lý (ví dụ, như được xử lý bằng nhựa cây tự 
nhiên) vì thế có bề mặt trơn mịn và hầu như trong suốt vì thế thích 
hợp cho việc đồ lại bức vẽ của các kiến trúc sư, những người phác 
họa thiết kế, ...  
(3) Vải bạt đã được xử lý để vẽ. 
Vải bạt đã được xử lý để vẽ, thường làm bằng lanh, sợi gai dầu hoặc 
bông, được cắt theo kích thước và sau đó được phủ  một mặt với 
một hỗn hợp dầu hạt lanh với các chất khác (chẳng hạn như: ôxit 
kẽm). Vải bạt được xử lý để vẽ thường ở dạng tấm có kích thước 
phù hợp cho việc kéo căng trên khung, nhưng vẫn phải được phân 
loại ở nhóm này dù là nó có được gia cố bằng gỗ hoặc bìa cứng. 
(4) Vải hồ cứng và các loại vải dệt tương tự đã được làm cứng làm 
để làm cốt mũ. 
Các loại vải dệt cứng này thường được tạo ra bằng cách ngâm tẩm 1 
lớp vải dệt thưa, nhẹ với chất kết dính và các chất làm đầy (chẳng 
hạn như: keo hồ hoặc hồ tinh bột trộn với bột cao lanh). Một số loại 
vải hồ cứng  hoặc các loại vải tương tự được tạo nên bằng cách dán 
2 loại vải cứng này với nhau. Loại vải này chủ yếu được sử dụng 
cho việc sản xuất cốt mũ thuộc nhóm 65.07. 
Vải sử dụng cho các mục đích tương tự, được ngâm tẩm hoặc tráng 

plastic thì bị loại trừ (nhóm 59.03) 
Nhóm này không bao gồm các sản phẩm được mô tả ở đoạn (1), (2) và 
(4) nói trên khi đã hoàn thiện như đã mô tả trong Phần (II) của Chú giải 
tổng quát Phần XI. 
59.02 - Vải mành dùng làm lốp từ sợi có độ bền cao từ ni lông hoặc 
các polyamit khác, các polyeste hoặc viscose rayon. 
5902.10 - Từ ni lông hoặc các polyamit khác 
5902.20 - Từ các polyeste 
5902.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm vải mành dùng làm lốp, đã được hoặc chưa được 
nhúng hoặc ngâm tẩm với cao su hoặc plastic. 
Vải loại này được sử dụng trong sản xuất lốp xe và bao gồm sợi dọc từ 
các sợi filament song song, được cố định, với những khoảng cách nhất 
định, bằng các sợi ngang. Sợi dọc luôn bao gồm các sợi có độ bền cao từ 
nylon hoặc polyamit khác, polyeste hoặc tơ nhân tạo visco, trong khi sợi 
ngang được xếp ngang với khoảng cách khá xa và mục đích duy nhất là 
để giữ cho sợi dọc đứng yên, cũng có thể có thêm các sợi khác. Xem 
thêm mô tả về  sợi có độ bền cao tại Chú giải 6 Phần XI. 
Nhóm này không bao gồm các loại vải dệt thoi khác được sử dụng để 
sản xuất lốp xe cũng như các loại vải sợi không thỏa mãn các chi tiết kỹ 
thuật của Chú giải 6 Phần XI (Chương 54 hoặc nhóm 59.03 hoặc 59.06, 
tùy từng trường hợp). 
59.03 - Vải dệt đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với plastic, 
trừ các loại thuộc nhóm 59.02. 
5903.10 - Với poly (vinyl clorua) 
5903.20 - Với polyurethan 
5903.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm các loại vải dệt đã được ngâm tẩm, phủ, tráng hoặc 

ép với plastic (ví dụ như poly (vinyl  chloride )). 
Những sản phẩm nói trên được phân loại trong nhóm này không tính đến 
trọng lượng của chúng trên m2 và tính chất của thành phần plastic (đặc 
hoặc xốp), với điều kiện: 
(1) Trong trường hợp vải được ngâm tẩm, phủ, tráng, các chất ngâm tẩm, 
phủ hoặc tráng có thể được nhận biết bằng mắt thường không tính 
đến sự thay đổi về màu sắc. 
Vải dệt được ngâm tẩm, phủ, hoặc tráng, không thể nhận thấy bằng 
mắt thường hoặc có thể nhìn thấy được là do sự thay đổi về màu sắc 
thì được phân vào các Chương 50 đến 55, 58 hoặc 60. Loại vải này 
được thấm tẩm các chất với mục đích duy nhất là làm cho chúng có 
thể chống nhăn, gấp, chống mối mọt (cắn quần áo), chống co lại 
hoặc chống thấm nước (ví dụ như: vải ga-ba-din và vải pop-pơ-lin 
không thấm nước). Vải dệt được phủ hoặc tráng từng phần bằng 
plastic và có các họa tiết nhờ việc xử lý nói trên cũng được phân 
loại vào các Chương từ 50 đến 55, 58 hoặc Chương 60. 
(2) Những sản phẩm này không cứng lắm, chẳng hạn như, chúng có thể 
được cuộn (không bị gãy) xung quanh 1 trục có đường kính 7 mm, ở 
nhiệt độ trong khoảng 150C và 300C. 
(3) Vải dệt chưa được bọc hoàn toàn, hay chưa được phủ hoặc tráng trên 
2 mặt, bằng plastic. 
Những sản phẩm không thỏa mãn những yêu cầu của phân đoạn (2) hoặc 
(3) trên, thì được phân loại vào Chương 39. Tuy nhiên, vải dệt được phủ 
hoặc tráng trên 2 mặt bằng  plastic mà các chất phủ, tráng không thể 
nhận thấy bằng mắt thường, hoặc chỉ có thể nhìn thấy bởi sự thay đổi về 
màu sắc, thường được phân loại vào các Chương từ 50 đến 55, 58 hoặc 
60. Trừ trường hợp các sản phẩm dệt của nhóm 58.11, vải dệt kết hợp 
với tấm, lá hoặc dải bằng plastic xốp, ở đây vải dệt chỉ đóng vai trò gia 
cố, và cũng được phân loại vào Chương 39 (Xem Chú giải tổng quát 
Chương 39, phần có tên là "sự kết hợp giữa plastic và vật liệu dệt", 
đoạn gần cuối). 
Nhóm này cũng bao gồm “vải dệt được ép với plastic” như đã định nghĩa 

tại Chú giải 3 Chương này. 
Các loại vải được ép của nhóm này không được nhầm lẫn với vải đã 
được ghép các lớp một cách đơn giản bằng chất dính plastic (thường 
được phân loại vào các Chương từ 50 đến 55). 
Trong nhiều loại vải dệt được phân loại ở nhóm này, vật liệu plastic 
thường được nhuộm màu, tạo thành 1 lớp trên bề mặt, lớp này có thể là 
trơn hoặc được chạm nổi để làm giả da sần (vải da). 
Nhóm này cũng bao gồm vải đã được nhúng (trừ những sản phẩm thuộc 
nhóm 59.02), đã được ngâm tẩm để làm tăng khả năng kết dính của 
chúng với cao su và vải dệt được phun bằng cách xịt các hạt có thể nhìn 
thấy của nguyên liệu nhựa nhiệt dẻo và có khả năng tạo một lớp liên kết 
với các loại vải khác hoặc vật liệu khác khi dùng nhiệt và áp suất cao. 
Nhóm này cũng bao gồm vải dệt làm bằng sợi, dải hay các vật liệu tương 
tự, đã được ngâm tẩm, phủ, tráng hoặc bao ngoài bằng plastic, thuộc 
nhóm 56.04. 
Các loại vải thuộc nhóm này được sử dụng cho nhiều mục đích khác 
nhau kể cả dùng để làm vật liệu trang trí nội thất và sản xuất túi xách và 
các đồ dùng du lịch, áo quần, dép lê, đồ chơi..., dùng để đóng sách, như 
băng dính, dùng trong sản xuất các thiết bị điện...  
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Sản phẩm dệt đã chần thuộc nhóm 58.11. 
(b) Vải dệt được phủ hoặc tráng plastic dùng để trải sàn (nhóm 59.04). 
(c) Vải dệt được ngâm tẩm, hoặc tráng có những đặc điểm giống vải phủ 
tường (nhóm 59.05). 
(d) Vải dệt được ngâm tẩm, phủ, tráng hoặc ép với plastic đã hoàn thiện 
như đã mô tả chi tiết trong Phần (II) của Chú giải tổng quát  
Phần XI. 
59.04 - Vải sơn, đã hoặc chưa cắt thành hình; các loại trải sàn có 
một lớp tráng hoặc phủ gắn trên lớp bồi là vật liệu dệt, đã 

hoặc chưa cắt thành hình. 
5904.10 - Vải sơn 
5904.90  -  Loại khác 
(1) Vải sơn. 
Vải sơn là loại vải có lớp bồi là vật liệu dệt (thường là vải canvas 
làm từ sợi đay nhưng thỉnh thoảng cũng được làm bằng bông...) 
được phủ một mặt bằng chất kết dính đặc bao gồm dầu hạt lanh đã 
ôxy hóa, nhựa cây và gôm và chất làm đầy (thường là lie (bần) tán 
nhỏ đôi lúc là mạt cưa hoặc bột gỗ); trong hầu hết các trường hợp 
chất màu cũng được thêm vào chất kết dính nói trên. Có thể là màu 
trơn hoặc có hình, hoa văn; trong trường hợp có hình, hoa văn, thì 
hình và hoa văn đó có được là do in hoặc, bằng cách dùng chất kết 
dính có màu khác nhau đối với vải sơn đã được khâu. 
Khi chất kết dính được làm bằng lie (bần) tán nhỏ nhưng không có 
chất màu, vật liệu thu được cũng có thể biết đến như thảm lie (bần). 
Loại vật liệu này không được nhầm lẫn với loại thảm nền dệt hoặc 
các sản phẩm khác làm từ lie (bần) kết dính thuộc nhóm 45.04 - 
nhóm mà các sản phẩm không được làm từ hỗn hợp vải sơn được đề 
cập ở phần trên và thường thô hơn và kém dẻo hơn. 
Vải sơn có độ dày khác nhau và dùng làm tấm trải sàn cũng như phủ 
tường, phủ giá kệ,... 
Nhóm này cũng bao gồm các loại vải dệt, phần lớn là vải bông dệt 
thoi, được phủ bột dẻo vải sơn  không có chất màu. Những sản 
phẩm này có mặt làm bằng  lie (bần) và được dùng để sản xuất phần 
lót trong của giầy. 
(2) Các loại tấm trải sàn gồm một lớp tráng hoặc phủ gắn trên một 
lớp bồi là vật liệu dệt. 
Những loại trải sàn này tương đối cứng, làm từ vật liệu khó bị mòn, 
sờn gồm một lớp bồi là vật liệu dệt (kể cả phớt) được tráng một mặt 
vì thế lớp nền đó bị che khuất hoàn toàn. Hỗn hợp thường có dầu và 
bột đá phấn, sau khi quét hỗn hợp này lên lớp bồi thì được phủ bằng 

sơn. Những sản phẩm cũng có thể bao gồm 1 lớp plastic dày (ví dụ 
như: poly (vinyl chloride) hoặc thậm chí đơn giản chỉ là các lớp sơn 
được phủ trực tiếp lên lớp bồi là vật liệu dệt. 
Trong nhiều trường hợp những sản phẩm thuộc nhóm này cũng được 
phủ lên trên lớp nền để tăng độ bền. Những sản phẩm này vẫn được phân 
loại vào nhóm này dù ở dạng cuộn hay được cắt thành hình sẵn sàng để 
sử dụng. 
Nhóm này không bao gồm phiến và tấm, bằng hỗn hợp vải sơn và các 
tấm trải sàn, không có lớp bồi; những sản phẩm này được phân loại theo 
vật liệu tạo thành chúng (Chương 39, 40, 45...). 
Nhóm này cũng không bao gồm phần lót trong của giày (nhóm 64.06). 
59.05 – Các loại vải dệt phủ tường. 
Nhóm này bao gồm các loại vải dệt phủ tường thỏa mãn các định nghĩa 
trong Chú giải 4 của Chương 59, nghĩa là, các sản phẩm ở dạng cuộn, 
chiều rộng không dưới 45 cm, dùng để trang trí trần nhà hoặc tường, có 
bề mặt dệt được gắn cố định trên lớp bồi là bất kỳ vật liệu  nào (ví dụ, 
giấy) hoặc đã được xử lý mặt sau (ngâm tẩm hoặc tráng để có thể dán, 
dính).  
Nhóm này bao gồm : 
(1) Sợi xếp song song, vải dệt thoi, phớt, vải được dệt kim hoặc móc (kể 
cả vải khâu đính), được gắn trên 1 lớp bồi làm bằng vật liệu bất kì. 
(2) Sợi xếp song song, vải dệt thoi hoặc ren, đăng ten, trên 1 lớp plastic 
mỏng được gắn lên 1 lớp bồi làm bằng vật liệu bất kì. 
(3) Sợi xếp song song (lớp trên cùng), được gắn bằng đường may vào 
một lớp không dệt mỏng (lớp giữa), được bôi keo lên trên 1 lớp bồi 
làm bằng vật liệu bất kì. 
(4) Mạng sợi dệt (lớp trên cùng) được gắn bằng cách may, với các sợi 
chồng lên nhau (lớp giữa), được bôi keo lên 1 lớp bồi làm bằng vật 
liệu bất kì. 

(5) Sản phẩm không dệt, phủ trên mặt 1 lớp xơ vụn (giả da lộn) và được 
phết hoặc bôi keo lên 1 lớp bồi làm bằng vật liệu bất kì . 
(6) Vải dệt thoi được trang trí bằng các hình vẽ bằng tay, được gắn cố 
định trên 1 lớp  bồi làm bằng vật liệu bất kì . 
Đối với tấm phủ tường thuộc nhóm này, bề mặt dệt có thể được phủ 
màu, in hình hoặc được trang trí bằng cách khác và trong trường hợp có 
lớp bồi, thì có thể phủ toàn bộ hay một phần lớp bồi. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Tấm phủ tường làm bằng plastic như đã được định nghiã tại Chú giải 
9 của Chương 39 (nhóm 39.18). 
(b) Tấm phủ tường bằng giấy hoặc giấy phủ plastic, được trang trí trực 
tiếp trên bề mặt bằng xơ vụn và bụi xơ (nhóm 48.14). 
(c) Vải dệt phủ xơ vụn, có hoặc không có sẵn một lớp bồi hoặc được 
ngâm tẩm hoặc tráng để có thể phết hồ (nhóm 59.07). 
(5) Nonwovens, surface-covered with textile flock (imitation suède) and 
59.06 - Vải dệt cao su hoá, trừ các loại thuộc nhóm 59.02. 
5906.10  - Băng dính có chiều rộng không quá 20 cm                     
- Loại khác : 
5906.91 - - Vải dệt kim hoặc móc 
5906.99 - - Loại khác 
Nhóm này bao gồm: 
(A) Vải dệt được ngâm tẩm, phủ, tráng hoặc ép bằng cao su, kể cả vải 
được nhúng (trừ những sản phẩm thuộc nhóm 59.02), có trọng 
lượng: 
(1) Không quá 1.500 g/m2, không tính đến tỷ lệ giữa nguyên liệu dệt 
và cao su; hoặc  
(2) Nếu quá 1.500 g/m2, thì trọng lượng của vật liệu dệt lớn hơn 
Vải phủ cao su này chủ yếu để sản xuất hàng may mặc chống thấm 

nước, trang phục đặc biệt chống phóng xạ, sản phẩm bơm hơi, dụng 
cụ cắm trại, đồ vệ sinh, vv... 
Một số loại vải dùng để bọc nệm, được phủ một lớp mủ cao su 
mỏng, không nhất thiết thuộc loại chống thấm nước, vẫn được phân 
loại trong nhóm này. 
Không nên nhầm lẫn vải loại này với vải được dán lớp bằng chất dính 
cao su, như sản phẩm dùng cho thân xe (coachwork) hoặc cho giầy 
dép. Mặt cắt ngang của loại vải thứ hai không cho thấy bề dày của cao 
su và chúng thường được phân loại vào các Chương từ 50 đến 55. 
(B) Vải làm từ sợi, dải hoặc các vật liệu tương tự, được ngâm tẩm, phủ, 
tráng hoặc bao ngoài bằng cao su, thuộc nhóm 56.04. 
(C) Vải không có sợi ngang hình thành bởi các sợi song song được kết 
lại bằng keo dính hoặc cán láng bằng cao su, không xét đến trọng 
lượng của chúng tính trên một mét vuông. Những sản phẩm này 
dùng để sản xuất lốp xe, ống cao su, băng truyền hoặc băng tải hoặc 
băng đai, vv.... 
(D) Băng dính, kể cả băng dính cách điện, trong đó lớp bồi làm bằng vải 
dệt, đã được hoặc chưa đươc phủ cao su trước đó và chất dính bằng 
Nhóm này không bao gồm: 
(a)  Băng dính ngâm tẩm hoặc tráng bằng dược chất hoặc làm thành 
dạng nhất định hoặc được đóng gói để bán lẻ phục vụ cho mục đích 
y tế, phẫu thuật, nha khoa, hoặc thú y (nhóm 30.05). 
(b) Vải phủ cao su làm từ loại được mô tả trong đoạn (A) (2) ở trên 
nhưng trọng lượng của nguyên liệu dệt không quá 50% (nhóm 
40.05 hoặc 40.08). 
(c)  Phiến, tấm, hoặc dải làm từ cao su xốp kết hợp với vải dệt, trong đó 
vải dệt chỉ đóng vai trò gia cố (nhóm 40.08). Khi đề cập đến các 
tiêu chí để phân biệt giữa những sản phẩm này và các sản phẩm 
tương tự thuộc nhóm 59.06 thì xem mục (A) của Chú giải chi tiết 
của nhóm 40.08. 
(d)  Băng tải hoặc băng truyền và băng đai, thường bao gồm vải cốt lốp 
(carcass) làm từ nhiều lớp vải dệt (được hoặc không được cao su 

hóa) được phủ cao su lưu hóa (nhóm 40.10). 
(e) Thảm, vải sơn và các tấm trải sàn khác được bồi bằng cao su để làm 
tăng tính đàn hồi và kết dính với sàn (Chương 57 hoặc nhóm 59.04 
tùy từng trường hợp). 
(f) Sản phẩm dệt được chần thuộc nhóm 58.11. 
(g) Vải dệt (có hay không có phớt) có nhiều lớp vải được kết lại bằng 
cao su và lưu hóa dưới áp suất, loại được dùng trong việc sản xuất 
bằng máy kim chải, lớp in lót hoặc các sản phẩm khác tương tự 
dùng cho mục đích kỹ thuật, kể cả vải khổ hẹp làm từ nhung được 
ngâm tẩm cao su, dùng để bọc các trục dệt (nhóm 59.11). 
(h) Vải được cao su hóa đã hoàn thiện như được mô tả tại phần (II) của 
Chú giải tổng quát Phần XI (thường là các Chương từ 61 đến 63). 
59.07 – Các loại vải dệt được ngâm tẩm, tráng hoặc phủ bằng cách 
khác; vải canvas được vẽ làm phông cảnh cho rạp hát, phông 
trường quay hoặc loại tương tự. 
(I)  CÁC LOẠI VẢI DỆT ĐÃ ĐƯỢC NGÂM TẨM, PHỦ 
HOẶC TRÁNG BẰNG CÁCH KHÁC 
Nhóm này gồm vải dệt (không kể các sản phẩm thuộc nhóm từ 59.01 
đến 59.06), đã được ngâm tẩm, phủ hoặc tráng, với điều kiện việc ngâm 
tẩm, phủ, tráng có thể nhìn thấy bằng mắt thường; theo mục đích đó, 
không cần xem xét đến việc thay đổi về màu sắc do quá trình thấm tẩm, 
phủ hoặc tráng tạo ra. 
Vải dệt, trong đó việc ngâm tẩm, phủ hoặc tráng không thể nhìn thấy 
hoặc có thể nhìn thấy là do có sự thay đổi màu sắc, và vải hoàn thiện 
bằng cách hồ thông thường chủ yếu là chất bột hoặc các chất tương tự, bị 
loại ra khỏi nhóm này (xem Chú giải 6 của Chương này); những sản 
phẩm này thường được phân loại vào các Chương từ 50 đến 55, 58 
hoặc 60. Ví dụ về loại vải kiểu này bị loại trừ là loại vải đã được thấm 

tẩm với hồ, tinh bột hoặc các chất hồ tương tự (ví dụ như vải phin 
(organdies), vải muslin), hoặc với các chất chỉ dùng cho mục đích chống 
nhăn, chống mối mọt, chống co hoặc chống thấm nước (ví dụ như vải 
ga-ba-din và pô-pơ-lin chống thấm nước). 
Vải được kể đến ở đây bao gồm : 
(A) Vải được phủ, tráng nhựa đường, bitum hoặc các sản phẩm tương tự, 
chúng dùng để làm vải sơn dầu hoặc các loại vải để đóng gói khác. 
(B) Vải phủ sáp.  
(C) Vải mịn được phủ hoặc ngâm tẩm chế phẩm mà thành phần chính là 
nhựa cây tự nhiên và long não hoặc được làm cho không thấm thấu 
được bằng cách đem đi ngâm tẩm hoặc phủ dầu (đôi lúc được biết 
đến dưới tên sau "Tafftetas cirés") 
(D) Vải dệt khác được phủ hoặc ngâm tẩm dầu hoặc các chế phẩm có 
thành phần chủ yếu là dầu khô (drying oil). 
Nhóm này bao gồm vải dầu là loại vải thường làm từ bông hoặc 
lanh, được phủ trên 1 hoặc 2 mặt với các chất dán chủ yếu bao gồm 
dầu hạt lanh được ôxy hóa, chất làm đầy vào và chất màu. 
Nhóm này cũng bao gồm vải dùng để đóng gói, vải thô bền làm từ 
sợi cây gai dầu, sợi đay, bông, lanh hoặc sợi nhân tạo có thể chống 
thấm nước bằng cách phủ 1 lớp dày hỗn hợp dầu khô (drying oil) và 
bồ hóng. 
(E) Vải phủ si-li-cát làm cho chúng có thể chịu lửa (ví dụ tấm chắn chịu 
lửa). 
(F) Vải được tráng phủ hoàn toàn với lớp màu đồng nhất của sơn hoặc 
bột kim loại 
(G) Vải, bề mặt được phủ keo dán (keo dán cao su hoặc loại khác), chất 
liệu plastic, cao su hoặc các vật liệu khác và được rắc 1 lớp mịn các 
vật liệu khác như : 
(1) Bột xơ vụn hoặc bụi xơ để sản xuất vải giả da lộn, (Vải được 
làm bằng cách tương tự với sợi dệt dài hơn bị loại trừ khỏi 
nhóm này nếu chúng có đặc điểm giống da lông nhân tạo thuộc 
nhóm 43.04). Vải phủ xơ vụn hoặc bụi xơ để làm giả vải tuyết 
nhung (ví dụ như: vải nhung kẻ) vẫn được phân loại trong nhóm 
or coating with oil (sometimes known as “ taffetas cirés ”). 
(1) Textile flock or dust to produce imitation suèdes. (Fabrics 

này. 
(2) Lie (bần) ở dạng bột (ví dụ: dùng phủ tường). 
(3) Bột hoặc hạt thủy tinh nhỏ (như vi hạt  thủy tinh dùng cho màn 
hình máy chiếu phim). 
(4) Mica ở dạng bột. 
(H) Vải đã được ngâm tẩm ma-tít chủ yếu là va-sơ-lin hoặc các loại 
matít khác, dùng để dán kính, để làm mái chống thấm nước, sửa 
chữa máng nước,... 
Nhóm này không bao gồm vải có hoa văn với các hình mẫu có được do 
sơn hoặc phủ (ví dụ: với bụi xơ dệt - xem Chú giải 6 của Chương này) 
(nhìn chung chúng được phân loại vào các nhóm 59.05 hoặc các 
Chương từ 50 đến 55, 58 hoặc 60). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Tơ dầu và các loại vải thấm dầu tương tự đã được làm thành các hình 
dạng hoặc đóng gói để bán lẻ dùng cho mục đích y tế, phẫu thuật 
hay thú y; đồ băng bó đã tẩm thuốc; băng đã phủ thạch cao dùng cho 
bó bột khi gãy, vỡ hoặc rạn nứt xương được làm thành các hình 
dạng hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05). 
(b) Vải dệt có phủ 1 lớp chất nhạy (các nhóm 37.01 đến 37.04). 
(c) Gỗ trang trí trên lớp bồi bằng vải dệt (nhóm 44.08). 
(d) Vải đã được ngâm tẩm, phủ, tráng đã hoàn thiện như đã mô tả tại 
Phần (II) của Chú giải tổng quát Phần XI. 
(e) Vải canvas dùng để vẽ (nhóm 59.1001). 
(f) Vải sơn và các sản phẩm khác thuộc nhóm 59.04. 
(g) Bột mài hoặc hạt mài tự nhiên hoặc nhân tạo, trên lớp bồi bằng vải 
dệt (nhóm 68.05). 
(h) Tấm lợp có lớp nền bằng vải dệt được bao xung quanh hoặc phủ cả 
hai mặt bằng một lớp asphalt hoặc các vật liệu tương tự (nhóm 
(ij) Lá kim loại trên lớp bồi bằng vải dệt (thường thuộc Phần XVI hoặc 

(II) VẢI CANVAS ĐƯỢC VẼ LÀM PHÔNG CẢNH CHO RẠP 
HÁT, PHÔNG TRƯỜNG QUAY HOẶC LOẠI TƯƠNG TỰ. 
Nhóm này bao gồm các tấm vải canvas hoặc vật liệu dệt tương tự đã 
được vẽ dùng để trang trí cảnh trong nhà hoặc cảnh ngoài trời hay các 
hình vẽ có mô típ khác nhau, dùng để dựng cảnh trên sân khấu hoặc 
dùng để vẽ chân dung hoặc dùng trong trường quay phim hay phòng 
chụp ảnh vv... Vải loại này có thể được cắt thành hình, ở dạng cuộn hoặc 
được gắn vào khung kim loại hoặc vào khung gỗ. 
59.08 - Các loại bấc dệt thoi, kết, tết hoặc dệt kim, dùng cho đèn, bếp 
dầu, bật lửa, nến hoặc loại tương tự; mạng đèn măng xông và 
các loại vải dệt kim hình ống dùng làm mạng đèn măng xông, 
đã hoặc chưa ngâm tẩm. 
(A) Các loại bấc dệt thoi 
Bấc các loại kể đến trong nhóm này là đoạn vải dệt dẹt, tròn hoặc 
hình ống, thường làm bằng bông, và được dệt thoi, dệt kim hoặc tết 
bện. Các sản phẩm này có nhiều kích cỡ và hình dáng khác nhau 
thích hợp dùng làm bấc cho nến cây hoặc bật lửa đến loại to hơn 
dùng cho đèn đốt dầu, bếp dầu,... 
Những sản phẩm này được phân loại trong nhóm này dù đã được 
hay chưa được cắt ra thành các cỡ khác nhau hay được gắn với dây 
kim loại hoặc mẩu kim loại để thuần tiện cho việc luồn bấc.  
Nhóm này không bao gồm : 
(a) Nến sáp (nhóm 34.06). 
(b) Dây cháy chậm và ngòi nổ (nhóm 36.03). 
(c) Bấc có được là nhờ xoắn đơn giản hoặc xoắn chập đôi sợi dệt, 
dây xe, chão bện,... Bấc loại này vẫn được phân vào như sợi 
trong các Chương từ 50 đến 55 hoặc như dây xe, chão bện,... 
thuộc nhóm 59.07. 
(d) Bấc từ sợi thủy tinh (nhóm 70.19). 

(B) Các loại vải dệt kim hình ống dùng làm mạng đèn măng sông. 
Vải dùng làm mạng đèn măng sông là vải hình ống được dệt kỹ khổ 
nhỏ, dày thường là bằng sợi gai, sợi bông hoặc sợi tơ nhân tạo visco  
rayon; và được phân loại vào trong nhóm này dù đã được hoặc chưa 
được ngâm tẩm chất hóa học (đặc biệt là thorium nitrat và xeri nitrat).  
(C) Mạng đèn măng sông. 
Mạng đèn măng sông được phân loại vào nhóm có thể ở dạng bán 
thành phẩm (ví dụ: gồm 1 trục ngắn hoặc túi vải, đã được hay chưa 
được ngâm tẩm hóa chất được nói đến trong đoạn (B) ở trên), hoặc 
ở dạng thành phẩm, nghĩa là sau khi đốt để tách vải nền và chuyển 
muối nitrát đã thấm tẩm thành oxít, vẫn giữ được hình dáng của vải 
ban đầu, mạng đèn măng sông này được ngâm tẩm  collodion để bảo 
đảm tính ổn định cho đến khi chúng được đem ra sử dụng. Các sản 
phẩm này được phân loại ở đây dù có hoặc không có chỉ amiăng 
hoặc được gắn với các bộ phận phụ trợ. 
59.09 - Các loại ống dẫn dệt mềm và các loại ống dệt tương tự có lót 
hoặc không lót, bọc vỏ cứng hoặc có các phụ kiện từ vật liệu 
khác. 
Nhóm này bao gồm ống mềm, ví dụ ống chữa cháy và các loại ống dẫn 
tương tự làm bằng vật liệu dệt để  dẫn chất lỏng. Chúng thường được 
làm bằng vải dệt thoi dày và khít từ bông, lanh, gai hoặc sợi nhân tạo, 
được dệt hoặc may hoặc ở dạng ống, và có thể được hoặc không được 
phủ hoặc ngâm tẩm dầu, hắc ín hoặc các chế phẩm hóa học. 
Ống dệt cũng được phân loại trong nhóm này, nếu được phủ ở mặt trong 
bằng cao su, hoặc plastic hoặc được gia cố bằng kim loại (ví dụ: gia cố 
bằng dây kim loại cuốn hình xoắn ốc) hoặc được gắn các bộ phận phụ 
trợ không dệt, chẳng hạn như: ống nối dùng để liên kết phần này với 
phần khác, vòi,… 
Ống, ống dẫn và vòi bằng cao su lưu hoá được gia cố bên trong bằng các 
vật liệu dệt hoặc được bọc bên ngoài một lớp vải mỏng thì được phân 
loại vào nhóm 40.09. 

 59.10 - Băng tải hoặc băng truyền hoặc băng đai, bằng vật liệu dệt, 
đã hoặc chưa ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép bằng plastic, hoặc gia 
cố bằng kim loại hoặc vật liệu khác. 
Băng tải hoặc băng truyền hoặc băng đai này dùng để truyền năng lượng 
hoặc chuyển hàng hóa. Các sản phẩm này thường được dệt hoặc tết, bện 
bằng sợi lông cừu, bông, sợi nhân tạo, vv... Chúng có chiều rộng (khổ) 
khác nhau và có thể ở dạng 2 lớp hoặc nhiều lớp bằng các vật liệu nói 
trên được dệt hoặc khâu liên kết với nhau; đôi lúc những sản phẩm này 
được dệt có bề mặt làm gợn bằng vòng lông ngắn với nhau hoặc rìa 
nhung kẻ. Những sản phẩm này có thể được ngâm tẩm dầu hạt lanh, hắc 
ín Stockholm vv..., và có thể được phủ vécni, chì đỏ, vv... để chống mài 
mòn do điều kiện không khí, khói a xít...gây ra, vv... 
Nhóm này cũng bao gồm dây đai và băng đai làm từ sợi dệt tổng hợp, 
đặc biệt là polyamit, đã được phủ, tráng hoặc ép bằng plastic. 
Các sản phẩm này có thể được gia cố bằng dải hoặc sợi kim loại hoặc da 
thuộc. 
Theo Chú giải 7 của Chương, băng đai bằng vật liệu dệt có độ dày nhỏ 
hơn 3mm bị loại ra khỏi nhóm này; loại băng đai này vẫn được phân loại 
vào các Chương từ 50 đến 55, như là vải dệt thoi khổ hẹp (nhóm 
58.06), như dải bện (nhóm 58.08), vv... Băng truyền hoặc băng tải (như 
là, các đoạn băng tải được cắt theo các kích cỡ khác nhau và các đầu 
được nối lại với nhau hoặc các đầu được gắn với các móc để nối các 
băng tải này lại với nhau) được phân loại vào nhóm này không tính đến 
độ dày vật liệu. 
Nhóm này cũng bao gồm băng truyền làm bằng dây thừng dệt hoặc sợi 
bện (cord) có thể sử dụng ngay; những sản phẩm này có thể không có 
đầu mút hoặc các đầu mút đã được nối lại với nhau. 
 Nhóm này không bao gồm: 
(a) Băng tải hoặc băng truyền hoặc băng đai, được  trình bày cùng với 
máy hoặc thiết bị mà chúng được thiết kế để dùng cho các máy và 
thiết bị đó, cho dù thực tế lúc đó chúng đã hoặc chưa được lắp ráp 

vào máy (thì được phân loại với thiết bị và máy – cụ thể là Phần 
(b) Băng hoặc băng đai làm bằng vải dệt được ngâm tẩm, phủ, tráng 
hoặc ép với cao su hoặc được làm từ sợi dệt hoặc sợi bện (cord) đã 
ngâm tẩm, phủ, tráng hoặc bọc với cao su (nhóm 40.10, xem Chú 
giải 7 (b) của Chương này). 
59.11 – Các sản phẩm và mặt hàng dệt, phục vụ cho mục đích kỹ 
thuật, đã nêu tại Chú giải 8 của Chương này (+). 
5911.10 - Vải dệt, phớt và vải dệt thoi lót phớt đã được tráng, 
phủ, hoặc ép bằng cao su, da thuộc hoặc vật liệu khác, 
loại sử dụng cho băng kim máy chải, và vải tương tự 
phục vụ cho mục đích kỹ thuật khác, kể cả vải khổ hẹp 
làm từ nhung được ngâm tẩm cao su, để bọc các lõi, 
trục dệt 
5911.20 - Vải dùng để rây sàng (bolting cloth), đã hoặc chưa 
hoàn thiện 
 -  Vải dệt và phớt, được dệt vòng liền hoặc kèm theo cơ 
cấu nối ráp, dùng cho máy sản xuất giấy hoặc các máy 
tương tự (ví dụ, để chế biến bột giấy hoặc xi măng 
amiăng): 
5911.31 - - Định lượng dưới 650 g/m2 
5911.32 - - Định lượng từ 650 g/m2 trở lên 
5911.40 - Vải lọc dùng trong ép dầu hoặc loại tương tự, kể cả 
loại làm từ tóc người 
5911.90 - Loại khác 
Sản phẩm dệt và các sản phẩm thuộc nhóm này có các đặc trưng qua đó 
xác định chúng được dùng trong nhiều loại máy móc, thiết bị , công cụ 
hoặc dụng cụ hoặc các bộ phận của dụng cụ. 
Nhóm này bao gồm, đặc biệt là các sản phẩm dệt bị loại ra khỏi  các 

nhóm khác và được chỉ dẫn sang nhóm 59.11 theo qui định riêng của 
Danh mục (ví dụ, Chú giải 1 (e) của Phần XVI). Tuy nhiên, cũng nên 
lưu ý, các bộ phận và các đồ phụ trợ bằng chất liệu dệt của hàng hóa 
thuộc Phần XVII, như là dây đai an toàn, lớp vải lót của thân xe có động 
cơ và tấm cách ly (nhóm 87.08) và thảm dùng cho xe có động cơ 
(Chương 57), không được xếp vào nhóm này. 
(A) VẢI DỆT VÀ CÁC SẢN PHẨM DỆT KHÁC, DÙNG TRONG 
KỸ THUẬT, Ở DẠNG TẤM, ĐƯỢC CẮT DỌC HOẶC CẮT ĐƠN 
GIẢN THÀNH HÌNH CHỮ NHẬT (KỂ CẢ HÌNH VUÔNG) 
Với điều kiện là các sản phẩm này không có đặc trưng của nhóm từ 
59.08 đến 59.10 thì chúng được phân loại trong phần này (và không nằm 
trong bất cứ nhóm nào khác của Phần XI), dù ở dạng tấm, được cắt dọc 
hoặc đơn giản là cắt thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông). 
Nhóm này chỉ bao gồm vải dệt và các sản phẩm dệt khác như đã định nghĩa 
trong Chú giải 8 (a) của Chương,  và liệt kê tại mục từ (1) đến (6) dưới đây. 
(1) Vải dệt, phớt và vải dệt thoi lót phớt, được phủ, tráng, bọc hoặc ép 
bằng cao su, da hoặc các vật liệu khác (như plastic), loại dùng để 
làm vải nền kim chải và các loại vải tương tự dùng trong kỹ thuật 
khác, kể cả vải nhung khổ hẹp được ngâm tẩm cao su, dùng để bọc 
các trục dệt (weaving beams)  
(2) Vải dùng để sàng, rây. Đây là loại vải thủng như dạng tổ ong (ví dụ 
như, làm từ kiểu dệt quấn, leno, dệt vân điểm), về mặt hình học có 
kích cỡ và hình mắt lưới (thường là hình vuông), không bị biến dạng 
khi sử dụng. Các sản phẩm này chủ yếu dùng để dần, sàng, rây 
(chẳng hạn như: bột, bột mài, plastic ở dạng bột, thức ăn cho gia 
súc), lọc hoặc dùng trong kỹ thuật in lưới (sereen printing). Vải rây, 
sàng thường được làm bằng sợi tơ chưa tẩy, được xoắn chặt hoặc sợi 
filament tổng hợp. 
(3) Vải lọc (ví dụ: vải lọc dệt thoi  và vải lọc dệt kim), được hoặc không 
được ngâm tẩm, dùng để ép dầu hoặc cho các mục đích lọc tương tự 

(ví dụ dùng trong tinh chế đường hoặc bia) và dùng để làm sạch khí 
hoặc ứng dụng về mặt kỹ thuật trong hệ thống thu gom bụi công 
nghiệp. Nhóm này bao gồm vải dùng để lọc dầu, một số loại vải dày 
làm từ lông cừu hoặc lông động vật khác, và vải chưa được tẩy trắng 
làm từ sợi tổng hợp (ví dụ như ny lông) mỏng hơn các loại vải nói 
trên nhưng được dệt dày và đặc điểm của nó là cứng. Nhóm này 
cũng bao gồm các loại vải lọc tương tự làm từ tóc người. 
(4) Vải dệt thoi phẳng có nhiều sợi dọc hoặc sợi ngang dệt phẳng, được 
hoặc không được bọc nỉ, ngâm tẩm hoặc phủ, dùng cho các loại máy 
móc hoặc cho các mục đích kỹ thuật khác. 
(5) Vải dệt, đã được gia cố kim loại, dùng cho các mục đích kỹ thuật; sợi 
kim loại (kim loại không được cách điện, dây kim loại đã được xoắn 
hoặc quấn với sợi dệt,...) có thể được đưa vào trong quá trình dệt 
(đặc biệt là sợi dọc) hoặc được đưa vào giữa 2 lớp vật liệu. 
Tuy nhiên, phớt được gia cố kim loại bị loại trừ khỏi nhóm này 
(nhóm 56.02). 
(6) Sợi bện (cord), dải bện và các loại tương tự dùng trong công nghiệp 
như là vật liệu đóng gói hoặc bôi trơn; các sản phẩm này thường có 
tiết diện vuông, đã được phủ hoặc ngâm tẩm dầu mỡ nhờn, than chì, 
bột đá tan,... và đôi lúc chúng được gia cố bằng kim loại. Sợi 
bện,...không được phủ hoặc ngâm tẩm, vẫn được phân loại trong 
nhóm này miễn là sản phẩm này có thể nhận biết một cách dễ dàng 
là những sản phẩm dùng trong công nghiệp như là vật liệu đóng gói 
hoặc bôi trơn. 
(B) CÁC SẢN PHẨM DỆT DÙNG CHO CÁC  
MỤC ĐÍCH KỸ THUẬT 
Tất cả các sản phẩm dệt dùng cho các mục đích kỹ thuật (trừ các sản 
phẩm thuộc các nhóm từ 59.08 đến 59.10) được phân loại trong nhóm 
này và không được phân loại ở nơi nào khác trong Phần XI (xem Chú 

giải 8 (b) của Chương này); ví dụ như: 
(1) Vải bất kỳ thuộc đoạn (A) nói trên đã được hoàn thiện (được cắt 
hình, được ghép lại bằng cách may,...), ví dụ: vải lọc dùng trong 
công nghệ ép dầu được làm bằng cách chồng nhiều mảnh vải lên 
nhau; vải dùng để rây, sàng được cắt thành hình và được trang trí 
với những dải hoặc được gắn thêm các khuy (lỗ xâu) kim loại hoặc 
vải được gắn vào một khung dùng trong kỹ thuật in lưới. 
(2) Vải dệt và nỉ, không có đầu mút, hoặc được lắp thiết bị kết nối, của 
loại sử dụng trong máy sản xuất giấy hoặc các loại máy tương tự (ví 
dụ cho bột giấy hoặc xi măng - amiăng) (không kể đai máy thuộc 
nhóm 59.10). 
(3) Các sản phẩm dệt tạo thành bởi các sợi monofilament xoắn ốc liên 
kết lại với nhau và có các công dụng tương tự như vải dệt và nỉ dùng 
cho máy sản xuất giấy hoặc các loại máy tương tự đã được đề cập 
đến trong đoạn (2) nói trên. 
(4) Miếng đệm, màng chắn dùng cho bơm, động cơ,... và máy giặt 
(không kể loại thuộc nhóm 84.84). 
(5) Đĩa, khớp nối và tấm dùng cho đánh bóng giầy và các loại máy khác. 
(6) Túi dệt dùng trong kỹ thuật ép dầu. 
(7) Sợi bện (cord) được cắt theo chiều dọc, có thắt nút, thắt vòng, hoặc 
có khuy, lỗ bằng kim loại hoặc thủy tinh, dùng cho khung dệt  
Jacquard hoặc khung dệt khác. 
(8) Bộ gom (picker) khung dệt. 
(9) Túi cho máy hút bụi chân không, túi lọc của thiết bị lọc không khí, 
túi lọc của các lọc dầu cho động cơ... 
Các sản phẩm dệt của nhóm này có thể có đi kèm với các bộ phận phụ 
trợ làm bằng vật liệu khác miễn là chúng vẫn mang đặc tính cơ bản các 
sản phẩm dệt. 

Chú giải phân nhóm. 
Phân nhóm 5911.90 
Các sản phẩm tạo thành từ các sợi monofilament xoắn ốc liên kết lại với 
nhau và có các công dụng tương tự vải dệt và nỉ dùng trong máy sản 
xuất giấy hoặc các loại máy tương tự nằm trong phân nhóm này và 
không nằm trong phân nhóm 5911.31 hoặc 5911.32. 

Chương 60 
Các loại hàng dệt kim hoặc móc 
Chú giải. 
1.  Chương này không bao gồm: 
(a)  Hàng ren, móc thuộc nhóm 58.04; 
(b)  Các loại nhãn, phù hiệu hoặc các sản phẩm tương tự, dệt kim 
hoặc móc, thuộc nhóm 58.07; hoặc  
(c)  Vải dệt kim hoặc móc, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép lớp, thuộc 
Chương 59. Tuy nhiên, các loại vải nổi vòng dệt kim hoặc móc, được 
ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép lớp, vẫn được phân loại vào nhóm 
2.  Chương này cũng kể cả các loại vải làm từ sợi kim loại và được sử 
dụng trong  trong trang trí, như vải trang trí nội thất hoặc dùng cho 
các mục đích tương tự. 
3.  Trong toàn bộ Danh mục, bất kỳ sự liên quan nào đến hàng "dệt 
kim" kể cả hàng khâu đính trong đó các mũi khâu móc xích đều được 
tạo thành bằng sợi dệt. 
Chú giải Phân nhóm. 
1 - Phân nhóm 6005.35 bao gồm vải từ monofilament polyetylen hoặc từ 
multifilament polyeste, có định lượng từ 30g/m2 đến 55g/m2, có kích cỡ 
lưới từ 20 lỗ/cm2 đến 100 lỗ/cm2, và được tẩm hoặc phủ  alpha-
lambda-cyhalothrin   (ISO),   permethrin   (ISO)   hoặc  pirimiphos-

TỔNG QUÁT 
Chương này bao gồm các loại vải dệt được sản xuất bằng cách tạo ra 
hàng loạt các vòng  khâu nối với nhau, không giống vải dệt thoi được 
sản xuất bằng cách đan xen kẽ sợi ngang và sợi dọc. Nói chung, các sản 
phẩm này bao gồm: 
(A) Vải dệt kim (dệt kim sợi ngang và dệt kim sợi dọc) 
(I) Dệt kim sợi ngang bao gồm 1 sợi dệt quấn liên tục, tạo thành các 
hàng vòng nằm cùng hướng ngang qua tấm vải, các vòng trong 
các hàng kề sát nhau cài vào nhau tạo thành mắt lưới. Có kẽ hở 
giữa các đường khâu (mũi khâu) của tấm vải, điều này cho phép 
tấm vải có thể duỗi ra một cách dễ dàng theo mọi hướng; khi 1 sợi 
trong số các sợi đó bị dứt thì tấm vải sẽ bị “rã ra”. 
(II) Dệt kim sợi dọc có nhiều sợi chạy theo cùng hướng của sợi dọc  
(nghĩa là, theo chiều dọc của tấm vải) mỗi sợi tạo thành các vòng 
lần lượt cài xen kẽ với các vòng ở hàng bên trái và hàng bên phải. 
Các vòng trong dệt kim sợi dọc trông giống như là chạy chéo theo 
khổ vải. Đối với một số loại vải dệt kim sợi dọc, sợi dọc có 2 
chuỗi chạy chéo theo các hướng ngược nhau ngang qua tấm vải. 
Vải loại này không "rã ra". Nếu 1 ô vuông nhỏ bị cắt ra khỏi tấm 
vải dệt kim sợi dọc, thì sợi không dễ bị kéo ra từ bất kỳ cạnh nào 
của ô vuông đó; khi các sợi có thể được kéo từ ô vuông trên, thì 
chúng sẽ bung ra theo hướng sợi dọc (tại các góc phải của hàng 
vòng ngoài)... 
Dệt kim sợi dọc cũng bao gồm thêm: 
(1) Các sản phẩm khâu đính, miễn là các sản phẩm này có đường 
khâu được tạo thành bởi sợi dệt. 
Quá trình khâu đính sử dụng một loại máy tương tự như máy 
dệt kim sợi dọc, máy này hoạt động bằng kim có móc mở, nhọn 
(kim trượt) và dây go. Những chiếc kim này cho phép tạo ra 
các mạng bằng sợi dệt để sản xuất vải từ một mảng xơ dệt hoặc 
1 hay nhiều lớp sợi dệt, hoặc từ 1 nền, ví dụ như một tấm vải 
dệt thoi hoặc một tấm plastic. Trong một vài trường hợp, các 

mũi khâu có thể tạo thành hoặc cố định một vòng lông (cho dù 
đã được cắt hoặc chưa cắt). Các sản phẩm được may chần được 
ghép lại bằng cách khâu đính bị loại ra khỏi nhóm này (nhóm 
(2) Vải được sản xuất ra bởi máy dệt kim sợi dọc vì thế các sợi 
dọc bao gồm một chuỗi các vòng móc giữ các sợi ngang đúng 
vị trí, thỉnh thoảng tạo hoa văn. 
Tất cả các loại vải trong đoạn (I) và (II) trên có thể được khâu 
đơn giản hoặc phức tạp; trong một vài trường hợp chúng tạo ra 
các lỗ hở, khe hở tương tự như đăng ten, nhưng tuy nhiên, 
chúng vẫn được phân loại trong nhóm này. Nhìn chung các sản 
phẩm này có thể phân biệt với đăng ten, ren các loại bởi đường 
dệt kim đặc trưng của chúng (đặc biệt ở các phần dày khít). 
(B) Vải móc, được tạo thành bởi các sợi liên tục được gia công bằng tay 
dùng kim móc để tạo ra hàng loạt các vòng, vòng này xâu qua các 
vòng khác và tạo thành, theo cách tập hợp các vòng lại, kể cả vải trơn 
hay vải trang trí có hình mẫu sít hoặc hở. Một số loại vải có lỗ hở bao 
gồm 1 loạt các vòng tạo thành hình vuông, hình lục giác hoặc các 
hình mẫu hoặc hoa văn trang trí khác. 
Các sản phẩm thuộc Chương này có thể được làm bằng tay với hai hay 
nhiều kim đan hoặc với một kim móc. Các sản phẩm này cũng có thể tạo 
ra bởi máy đan thẳng hoặc tròn có lắp kim móc hình nhỏ dáng đặc biệt 
(kim có ngạnh hoặc kim cong, kim chốt dệt kim và kim ống). 
Các nhóm của Chương này bao gồm vải dệt kim hoặc móc, cho dù các 
vải dệt kim hoặc móc thuộc Phần XI được sử dụng để sản xuất ra sản 
phẩm và chúng có hoặc không đi kèm sợi đàn hồi hoặc sợi cao su. 
Chương này cũng bao gồm vải dệt kim hoặc móc làm từ sợi kim loại 
nguyên chất miễn là các loại vải này rõ ràng để làm khăn phủ, đồ trang 
trí hoặc các mục đích tương tự. 

Chương này bao gồm vải dệt kim hoặc móc ở dạng mảnh (kể cả mảnh 
hình ống) hoặc chỉ cắt đơn giản thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông). 
Các mảnh vải này bao gồm vải trơn và có gân/sọc và vải đúp được ghép 
bằng việc khâu hoặc dán dính.  
Tất cả các loại vải này có thể được nhuộm, in hoặc được làm từ các sợi 
màu khác nhau. Các loại vải thuộc các nhóm từ 60.02 đến 60.06 đôi lúc 
được chải mượt mặt vải đến mức trạng thái tự nhiên của vải được che đi. 
Chương này không bao gồm: 
(a) Vải khâu đính thu được bằng cách lấy các xơ dệt từ tấm xơ đó (nhóm 
(b) Vải lưới và lưới (nhóm 56.08). 
(c) Các loại thảm dệt kim và thảm (nhóm 57.05). 
(d) Vải lưới và hàng ren móc (nhóm 58.04). 
(e) Những miếng vải được cắt thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông) đã 
được gia công thêm (ví dụ: viền), các mặt hàng được sản xuất ở dạng 
hoàn chỉnh sẵn sàng cho sử dụng (ví dụ: khăn choàng) và các loại vải 
dệt kim hoặc móc thành các hình dạng, cho dù được để riêng lẻ hay 
để ở dạng nối với nhau thành đoạn dài (cụ thể, các sản phẩm hoàn 
thiện của Chương 61, 62 và 63). 
Chú giải Phân nhóm. 
Các Phân nhóm từ 6005.21 đến 6005.44 và 6006.21  đến 6006.44 
Vải dệt kim hoặc móc, chưa tẩy trắng, đã tẩy trắng, đã nhuộm, bằng 
các sợi màu khác nhau, hoặc đã in 
Các điều khoản của Chú giải Phân nhóm 1 Phần XI, (d) đến (h), áp dụng, 
một cách tương tự, hợp đối với vải dệt kim hoặc móc, chưa tẩy trắng, đã tẩy 
trắng, đã nhuộm, bằng các sợi màu khác nhau, hoặc đã được in. 
Vải bao gồm một phần hoặc toàn bộ các sợi đã in màu sắc khác nhau 
hoặc những sợi đã được in với những sắc thái khác nhau của cùng một 
mầu được coi như những vải làm từ những sợi màu khác nhau và 

không được coi như vải đã in hoặc đã nhuộm màu. 
60.01 - Vải nổi vòng (pile), kể cả các loại vải "vòng lông dài" (long 
pile) và khăn lông (terry), dệt kim hoặc móc.  
6001.10   - Vải "vòng lông dài" (long pile) 
   - Vải tạo vòng lông (looped pile): 
6001.21  - - Từ bông 
6001.22  - - Từ xơ nhân tạo 
6001.29  - - Từ các loại vật liệu dệt khác 
  - Loại khác: 
6001.91 - - Từ bông 
6001.92 - - Từ xơ nhân tạo 
6001.99 - - Từ các vật liệu dệt khác 
Không giống như vải dệt thoi thuộc nhóm 58.01, các sản phẩm của 
nhóm này thu được bằng dệt kim. Các phương pháp sản xuất sau đây 
được sử dụng chủ yếu: 
(1) một máy dệt kim đan tròn sản xuất ra vải dệt kim, trong đó, vòng nhô 
ra được tạo bằng sợi đưa thêm vào; sau đấy các vòng này được cắt 
tạo thành lông tuyết (pile) và vì thế có bề mặt giống như nhung; 
(2) một máy dệt kim sợi dọc chuyên biệt đan 2 mảnh vải đối diện nhau 
bằng sợi vòng lông chung; sau đó 2 mảnh vải này được tách ra bằng 
cách cắt để làm thành 2 tấm vải với vòng lông cắt; 
(3)  sợi dệt từ 1 cúi sợi đã chải thô được lồng vào các vòng của  1 tấm vải 
nền đã được dệt kim theo như cách tấm nền đó được hình thành (vải 
"vòng lông dài" (long pile)); 
(4) sợi dệt để tạo thành các vòng (“vải bông xù giả” (imitation terry 
fabric)) (xem phần Chú giải Tổng quát). Các vải như vậy có các 
đường mũi khâu trên mặt sau của vải và chúng khác với vải dệt nổi 
vòng thuộc nhóm 58.02,  với đặc điểm là có các hàng mũi khâu chạy 
dọc theo chiều dài của mặt sau tấm vải. 
Vải dệt kim hoặc móc nổi vòng, được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc dát 

mỏng, vẫn được phân loại trong nhóm này. 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Da lông nhân tạo thuộc nhóm 43.04. 
(b) Vải dệt nổi vòng (nhóm 58.01). 
(c) Vải dệt kim hoặc móc, may chần sợi nổi vòng (nhóm 58.02). 
60.02 - Vải dệt kim hoặc móc có khổ rộng không quá 30 cm, có hàm 
lượng sợi đàn hồi hoặc sợi cao su chiếm từ 5% trở lên tính 
theo khối lượng, trừ loại thuộc nhóm 60.01. 
6002.40   - Có hàm lượng sợi đàn hồi chiếm từ 5% trở lên tính 
theo khối lượng nhưng không có sợi cao su  
6002.90   -  Loại khác 
Loại trừ vải có tạo vòng lông nhóm 60.01, nhóm này bao gồm vải dệt 
kim hoặc móc có khổ rộng không quá 30 cm, có tỷ trọng sợi đàn hồi 
hoặc sợi cao su từ 5% trở lên.  
Sợi đàn hồi được định nghĩa tại Chú giải 13 Phần XI. Sợi dún được nói 
đến trong Chú giải đó được định nghĩa trong Chú giải phân nhóm ở phần 
cuối Chú giải chi tiết nhóm 54.02. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Băng, đã tẩm thuốc hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05).  
(b) Sợi sùi vòng (nhóm 56.06). 
(c) Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng tương tự, dệt kim hoặc móc 
thuộc nhóm 58.07. 
(d) Vải thêu thuộc nhóm 58.10. 
(e) Vải thuộc Chương 59 (ví dụ: vải đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc 
ép thuộc nhóm 59.03 hoặc 59.07, và vải cao su hóa thuộc nhóm 
(f) Các mặt hàng hoàn thiện theo nghĩa của Chú giải 7 Phần XI (xem cả 
Phần (II) Chú giải tổng quát của Phần). 
60.03 - Vải dệt kim hoặc móc có khổ rộng không quá 30 cm, trừ 

loại thuộc nhóm 60.01 hoặc 60.02. 
6003.10   -  Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn 
6003.20   -  Từ bông 
6003.30   -  Từ các xơ tổng hợp 
6003.40   -  Từ các xơ tái tạo 
6003.90   -  Loại khác 
Loại trừ vải tạo vòng lông nhóm 60.01, nhóm này bao gồm vải dệt kim 
hoặc móc có khổ rộng không quá 30 cm, không chứa sợi đàn hồi hoặc 
sợi cao su hoặc có tỷ trọng  sợi đàn hồi hoặc sợi cao su không quá 5%. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Băng, đã tẩm thuốc hoặc đã đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05).  
(b) Sợi sùi vòng (nhóm 56.06). 
(c) Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng tương tự, dệt kim hoặc móc, 
thuộc nhóm 58.07. 
(d) Vải thêu thuộc nhóm 58.10. 
(e) Vải thuộc Chương 59 (Ví dụ: Vải đã được ngâm tẩm, tráng, phủ 
hoặc ép thuộc nhóm 59.03 hoặc 59.07, vải cao su hóa nhóm 59.06, 
và bấc hoặc vải dùng làm mạng đèn măng xông thuộc nhóm 59.08). 
(f) Các mặt hàng hoàn thiện theo nghĩa của Chú giải 7 Phần XI (xem cả 
Phần (II) Chú giải tổng quát của Phần). 
60.04 - Vải dệt kim hoặc móc có khổ rộng hơn 30 cm, có hàm lượng 
sợi đàn hồi hoặc sợi cao su chiếm từ 5% trở lên tính theo 
khối lượng, trừ các loại thuộc nhóm 60.01. 
6004.10   - Có hàm lượng sợi đàn hồi chiếm từ 5% trở lên tính 
theo khối lượng nhưng không bao gồm sợi cao su 
6004.90   -  Loại khác 
Loại trừ vải có tạo vòng lông thuộc nhóm 60.01, nhóm này bao gồm 
vải dệt kim hoặc móc có khổ rộng không quá 30 cm, có tỷ trọng sợi đàn 

hồi hoặc sợi cao su từ 5% trở lên.  
Sợi đàn hồi được định nghĩa tại Chú giải 13 Phần XI. Sợi dún được nói 
đến trong Chú giải đó được định nghĩa trong Chú giải phân nhóm ở phần 
cuối Chú giải chi tiết nhóm 54.02. 
Nhóm này cũng không bao gồm: 
(a) Băng, đã tẩm thuốc hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05).  
(b) Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng tương tự, dệt kim hoặc móc 
thuộc nhóm 58.07. 
(c) Vải thêu thuộc nhóm 58.10. 
(d) Vải thuộc Chương 59 (Ví dụ: Vải đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc 
ép thuộc nhóm 59.03 hoặc 59.07, vải cao su hóa thuộc nhóm 59.06). 
(e) Các mặt hàng hoàn thiện theo nghĩa của Chú giải 7 Phần XI (xem cả 
Phần (II) Chú giải tổng quát của Phần). 
60.05  - Vải dệt kim đan dọc (kể cả các loại làm trên máy dệt kim dệt 
dải trang trí), trừ loại thuộc các nhóm 60.01 đến 60.04. 
  -  Từ bông: 
6005.21  - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng 
6005.22  - -  Đã nhuộm 
6005.23  - - Từ các sợi có màu khác nhau 
6005.24  - -  Đã in             
  -  Từ xơ tổng hợp: 
6005.35  - - Các loại vải được chi tiết trong Chú giải phân nhóm 
1 Chương này 
6005.36 - - Loại khác, chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng 
6005.37 - - Loại khác, đã nhuộm 
6005.38 - - Loại khác, từ các sợi có màu khác nhau 
6005.39 - - Loại khác, đã in 
 -  Từ xơ tái tạo: 

6005.41  - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng 
6005.42  - -  Đã nhuộm 
6005.43   - -  Từ các sợi có màu khác nhau 
6005.44   - -  Đã in 
            6005.90   -  Loại khác 
Loại trừ vải có tạo vòng lông nhóm 60.01, nhóm này bao gồm vải dệt 
kim sợi dọc có khổ rộng trên 30 cm, không chứa sợi đàn hồi 
(elastomeric) hoặc sợi cao su hoặc có tỷ trọng sợi đàn hồi (elastomeric) 
hoặc sợi cao su dưới 5%.  Nó cũng bao gồm vải từ chất liệu sợi đơn 
polyethylene hoặc sợi đa polyester, có trọng lượng từ 30g/m2 đến 
55g/m2, có kích cỡ lưới từ 20 lỗ/cm2 đến 100 lỗ/cm2, và được tẩm hoặc 
phủ  alpha-cypermethrin   (ISO),   chlorfenapyr   (ISO), deltamethrin  
(INN,   ISO),   lambda-cyhalothrin   (ISO),   permethrin   (ISO)   hoặc  
pirimiphos-methyl (ISO). (Xem Chú giải Phân nhóm 1 của Chương 
này). Các chi tiết liên quan tới việc sản xuất vải dệt kim sợi dọc (bao 
gồm các loại vải được làm trên máy dệt kim dệt dải trang trí) được diễn 
giải ở Chú giải tổng quát Chương 60, Phần (A) (II). 
Vải dệt kim sợi dọc có nhiều dạng. Ngoài các loại vải truyền thống 
không thưa sợi như các loại vải được sử dụng cho may quần áo, loại vải 
này bao gồm cả vải dệt thủng lỗ. Những loại vải này, được làm trên máy 
dệt sợi dọc (đặc biệt là máy Raschel), thường tương tự với vải lưới hoặc 
ren (nhưng không nên nhầm lẫn đối với loại vải ren: xem Chú giải chi 
tiết nhóm 58.04) và thường được dùng để làm rèm, màn. Giống ren làm 
trên máy, loại vải dệt kim hoặc móc giả ren này thường được làm thành 
các mảnh khá lớn và các mảnh này được cắt thành các dải trong quá 
trình hoàn thiện. Các dải đó, có chiều dài không xác định, được phân loại 
vào nhóm này miễn là các mép dải thẳng và song song và khổ rộng trên 
Nhóm này không bao gồm:  
(a) Băng, đã tẩm thuốc hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05).  
(b) Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng tương tự, dệt kim hoặc móc 

thuộc nhóm 58.07. 
(c) Vải thêu thuộc nhóm 58.10. 
(d) Vải thuộc Chương 59 (Ví dụ: vải đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc 
ép thuộc nhóm 59.03 hoặc 59.07, vải cao su hóa thuộc nhóm 59.06, 
và bấc hoặc vải dùng làm mạng đèn măng sông nhóm 59.08). 
(e) Các mặt hàng hoàn thiện theo nghĩa của Chú giải 7 Phần XI (xem cả 
Phần (II) Chú giải tổng quát của Phần). 
60.06 - Vải dệt kim hoặc móc khác. 
6006.10   -  Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn 
 -  Từ bông: 
6006.21   - -  Chưa  tẩy trắng  hoặc đã tẩy trắng 
6006.22   - -  Đã nhuộm 
6006.23   - -  Từ các sợi có màu khác nhau 
6006.24   - -  Đã in 
-  Từ xơ sợi tổng hợp: 
6006.31   - -  Chưa  tẩy trắng  hoặc đã tẩy trắng 
6006.32   - -  Đã nhuộm 
6006.33   - -  Từ các sợi có màu khác nhau 
6006.34   - -  Đã in 
-  Từ xơ tái tạo: 
6006.41   - -   Chưa tẩy trắng hoặc đã  tẩy trắng 
6006.42   - -  Đã nhuộm 
6006.43   - -  Từ các sợi có màu khác nhau 
6006.44   - -  Đã in 
            6006.90 - Loại khác 
Nhóm này bao gồm vải dệt kim và móc loại trừ vải thuộc các nhóm 
trước của Chương này. 
Nhóm này bao gồm, ví dụ như vải dệt kim sợi ngang và vải móc có khổ 

rộng hơn 30 cm, không chứa sợi đàn hồi  hoặc sợi cao su hoặc có tỷ 
trọng sợi đàn hồi hoặc sợi cao su dưới 5%. Chú giải chi tiết của Chương 
này giải thích nghĩa của cụm từ “dệt kim sợi ngang” và “vải móc” (xem 
Khái quát chung, các Phần (A) (I) và (B) tương ứng). 
Nhóm này không bao gồm: 
(a) Băng, đã tẩm thuốc hoặc đóng gói để bán lẻ (nhóm 30.05). 
(b) Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng tương tự, dệt kim hoặc móc 
thuộc nhóm 58.07. 
(c) Vải thêu thuộc nhóm 58.10. 
(d) Vải thuộc Chương 59 (Ví dụ: vải đã được ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc 
ép thuộc nhóm 59.03 hoặc 59.07, vải cao su hóa thuộc nhóm 59.06 
và bấc hoặc vải dùng làm mạng đèn măng sông thuộc nhóm 59.08). 
(e) Các mặt hàng hoàn thiện theo nghĩa của Chú giải 7 Phần XI (xem cả 
Phần (II) Chú giải tổng quát của Phần). 

Chương 61 
Quần áo và hàng may mặc phụ trợ, dệt kim hoặc móc 
Chú giải. 
1. Chương này chỉ áp dụng với mặt hàng may mặc sẵn được dệt kim 
hoặc móc. 
2. Chương này không bao gồm: 
(a) Những mặt hàng thuộc nhóm 62.12; 
(b) Quần áo hoặc các sản phẩm may mặc đã qua sử dụng khác thuộc 
nhóm 63.09; hoặc 
(c) Dụng cụ chỉnh hình, đai thắt phẫu thuật, băng giữ hoặc loại tương 
tự (nhóm 90.21). 
3. Theo mục đích của các nhóm 61.03 và 61.04: 
(a) Khái niệm