CHU GIAI 2022_11
PHẦN XI
NGUYÊN LIỆU DỆT VÀ CÁC SẢN PHẨM DỆT
Chú giải.
1.- Phần này không bao gồm:
(a) Lông cứng hoặc lông động vật dùng làm bàn chải (nhóm
05.02); lông đuôi hoặc lông bờm ngựa hoặc phế liệu từ lông
đuôi hoặc lông bờm ngựa (nhóm 05.11);
(b) (b) Tóc người hoặc các sản phẩm bằng tóc người (nhóm
05.01, 67.03 hoặc 67.04), trừ vải lọc dùng trong công nghệ ép
dầu hoặc tương tự (nhóm 59.11);
(c) Xơ của cây bông hoặc các vật liệu thực vật khác thuộc
Chương 14;
(d) Amiăng (asbestos) thuộc nhóm 25.24 hoặc các sản phẩm từ
amiăng hoặc các sản phẩm khác thuộc nhóm 68.12 hoặc
(e) Các sản phẩm thuộc nhóm 30.05 hoặc 30.06; chỉ sử dụng để
làm sạch các kẽ răng (chỉ tơ nha khoa), đóng gói để bán lẻ,
thuộc nhóm 33.06;
(f) Các loại vải dệt có phủ lớp chất nhạy thuộc các nhóm từ 37.01
đến 37.04;
(g) Sợi monofilament có kích thước mặt cắt ngang bất kỳ trên 1
mm hoặc dải hoặc dạng tương tự (ví dụ, sợi rơm nhân tạo) có
chiều rộng biểu kiến trên 5 mm, bằng plastic (Chương 39),
hoặc các loại dây tết bện hoặc vải hoặc sản phẩm dạng song
mây tre đan khác hoặc liễu gai làm bằng sợi monofilament
hoặc dải đó (Chương 46);
(h) Các loại vải dệt thoi, dệt kim hoặc móc, phớt hoặc sản phẩm
không dệt, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với plastic, hoặc
các sản phẩm làm từ các vật liệu đó, thuộc Chương 39;
(ij) Các loại vải dệt thoi, dệt kim hoặc móc, phớt hoặc sản phẩm
không dệt, đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với cao su, hoặc
các sản phẩm làm từ các vật liệu đó, thuộc Chương 40;
(k) Da sống còn lông (Chương 41 hoặc 43) hoặc sản phẩm da
lông, da lông nhân tạo hoặc các sản phẩm làm bằng các vật
liệu đó, thuộc nhóm 43.03 hoặc 43.04;
(l) Các loại hàng hoá làm bằng vật liệu dệt thuộc nhóm 42.01
hoặc 42.02;
(m) Các sản phẩm hoặc hàng hoá thuộc Chương 48 (ví dụ, mền xơ
(n) Giày, dép hoặc các bộ phận của giày dép, ghệt hoặc ống ôm sát
chân (leggings) hoặc các mặt hàng tương tự thuộc Chương 64;
(o) Lưới bao tóc hoặc các vật đội đầu khác hoặc các bộ phận của
chúng thuộc Chương 65;
(p) Hàng hoá thuộc Chương 67;
(q) Vật liệu dệt đã phủ bột mài (nhóm 68.05) và xơ carbon hoặc
các sản phẩm bằng xơ carbon thuộc nhóm 68.15;
(r) Sợi thuỷ tinh hoặc các sản phẩm bằng sợi thuỷ tinh, trừ hàng
thêu bằng chỉ thuỷ tinh trên vải lộ nền (Chương 70);
(s) Hàng hoá thuộc Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, bộ đồ giường,
đèn (luminaires) và bộ đèn);
(t) Hàng hoá thuộc Chương 95 (ví dụ, đồ chơi, thiết bị trò chơi,
dụng cụ thể thao và lưới);
(u) Hàng hoá thuộc Chương 96 (ví dụ, bàn chải, bộ đồ khâu du
lịch, khoá kéo và ruy băng máy chữ, băng vệ sinh (miếng) và
băng vệ sinh dạng ống (tampon), khăn (bỉm) và tã lót; hoặc
(v) Hàng hoá thuộc Chương 97.
2. (A) Hàng hoá có thể phân loại vào các Chương từ 50 đến 55 hoặc
nhóm 58.09 hoặc 59.02 và được làm từ hỗn hợp của hai hoặc nhiều
loại vật liệu dệt được phân loại như sản phẩm đó làm từ vật liệu
dệt nào chiếm khối lượng trội hơn.
Khi không có một vật liệu dệt nào chiếm khối lượng trội hơn, hàng
hoá sẽ được phân loại xem như nó được làm toàn bộ từ một vật
liệu dệt của nhóm có thứ tự cuối cùng trong số các nhóm tương
đương cùng đưa ra xem xét.
(B) Quy tắc trên được hiểu là:
(a) Sợi quấn từ lông đuôi và bờm ngựa (nhóm 51.10) với sợi trộn
kim loại (nhóm 56.05) được phân loại như một loại vật liệu
dệt đơn có khối lượng bằng tổng khối lượng của các thành
phần của nó; để phân loại vải dệt thoi, sợi kim loại được coi
như là một vật liệu dệt;
(b) Để chọn nhóm thích hợp trước tiên phải lựa chọn Chương phù
hợp và sau đó lựa chọn nhóm thích hợp trong Chương đó, kể
cả trong thành phần hàng hóa có loại vật liệu không thuộc
Chương đó;
(c) Khi cả hai Chương 54 và 55 đều liên quan đến một Chương
khác, thì Chương 54 và 55 được xem như một Chương;
(d) Trường hợp một Chương hoặc một nhóm đề cập đến hàng hoá
làm từ các vật liệu dệt khác nhau, các vật liệu dệt này được
xem như một loại vật liệu đơn.
(C) Các nguyên tắc của phần (A) và (B) trên đây cũng áp dụng cho
các loại sợi nêu trong Chú giải 3, 4, 5 hoặc 6 dưới đây.
3.(A) Theo mục đích của Phần này, và những nội dung loại trừ trong
phần (B) tiếp theo, các loại sợi (đơn, xe (folded) hoặc cáp) của mô
tả dưới đây sẽ được xem như "sợi xe, chão bện (cordage), thừng và
cáp":
(a) Từ tơ tằm hoặc phế liệu tơ tằm, độ mảnh trên 20.000 decitex;
(b) Từ các xơ nhân tạo (kể cả sợi từ 2 hoặc nhiều sợi monofilament
thuộc Chương 54), độ mảnh trên 10.000 decitex;
(c) Từ gai dầu hoặc lanh:
(i) Đã chuốt hoặc làm bóng, độ mảnh từ 1.429 decitex trở lên; hoặc
(ii) Chưa chuốt hoặc chưa làm bóng, độ mảnh trên 20.000
(d) Từ xơ dừa, gồm từ 3 sợi trở lên;
(e) Từ xơ thực vật khác, độ mảnh trên 20.000 decitex; hoặc
(f) Được tăng cường bằng chỉ kim loại.
(B) Loại trừ:
(a) Sợi bằng lông cừu hoặc lông động vật khác và bằng sợi giấy,
trừ sợi được tăng cường bằng sợi kim loại;
(b) Tô (tow) filament nhân tạo thuộc Chương 55 và sợi
multifilament không xoắn hoặc xoắn dưới 5 vòng xoắn trên
mét thuộc Chương 54;
(c) Ruột con tằm thuộc nhóm 50.06, và các sợi monofilament
thuộc Chương 54;
(d) Sợi trộn kim loại thuộc nhóm 56.05; sợi được tăng cường bằng
sợi kim loại đã nêu trong Phần (A) (f) trên; và
(e) Sợi sơnin (chenille), sợi quấn và sợi sùi vòng thuộc nhóm
4. (A) Theo mục đích của các Chương 50, 51, 52, 54 và 55, khái niệm
sợi "đóng gói để bán lẻ" có nghĩa là, lưu ý xem xét cả những loại
trừ trong Phần (B) dưới đây, sợi (đơn, xe (folded) hoặc cáp) đóng
gói ở các dạng:
(a) Trên bìa, guồng gờ, ống tuýp hoặc cuộn có lõi tương tự, với
khối lượng (kể cả lõi) không quá:
(i) 85 g đối với tơ tằm, phế liệu tơ tằm hoặc sợi filament
nhân tạo; hoặc
(ii) 125 g đối với các loại sợi khác;
(b) Dạng hình cầu, con sợi hoặc cuộn sợi với khối lượng không
quá:
(i) 85 g đối với sợi filament nhân tạo độ mảnh dưới 3.000
decitex, tơ tằm hoặc phế liệu tơ tằm;
(ii) 125 g đối với các loại sợi khác có độ mảnh dưới 2.000
decitex; hoặc
(iii) 500 g đối với các loại sợi khác.
(c) Dạng con sợi hoặc cuộn sợi gồm các con sợi hoặc cuộn sợi nhỏ
hơn được phân cách nhau bởi các đường chỉ làm cho
chúng độc lập với nhau, mỗi con sợi hoặc cuộn sợi nhỏ có
khối lượng đồng nhất không quá:
(i) 85 g đối với tơ tằm, phế liệu tơ tằm hoặc sợi filament
nhân tạo; hoặc
(ii) 125 g đối với các loại sợi khác.
(B) Loại trừ:
(a) Sợi đơn bằng nguyên liệu dệt bất kỳ, trừ:
(i) Sợi đơn bằng lông cừu hoặc lông động vật loại mịn, chưa
tẩy trắng; và
(ii) Sợi đơn bằng lông cừu hoặc lông động vật loại mịn, đã
tẩy trắng, nhuộm hoặc đã in, độ mảnh trên 5.000 decitex;
(b) Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp, chưa tẩy trắng:
(i) Bằng tơ tằm hoặc phế liệu tơ tằm, đã đóng gói; hoặc
(ii) Bằng nguyên liệu dệt khác trừ lông cừu hoặc lông động
vật loại mịn, ở dạng con sợi hoặc cuộn sợi;
(c) Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp bằng tơ tằm hoặc phế liệu tơ tằm,
đã tẩy trắng, nhuộm hoặc in, độ mảnh từ 133 decitex trở
xuống; và
(d) Sợi đơn, sợi xe (folded) hoặc sợi cáp bằng nguyên liệu dệt bất
kỳ:
(i) Ở dạng con sợi hoặc cuộn sợi được guồng chéo; hoặc
(ii) Cuộn trên lõi hoặc cuộn cách khác để sử dụng trong công
nghiệp dệt (ví dụ, cuộn trên ống sợi con, ống sợi xe, suốt
ngang, bobin côn hoặc cọc sợi, hoặc cuốn theo dạng kén
tằm dùng cho các máy thêu).
5. Theo mục đích của các nhóm 52.04, 54.01 và 55.08, khái niệm "chỉ
khâu" có nghĩa là loại sợi xe (folded) hoặc sợi cáp:
(a) Cuộn trên lõi (ví dụ, guồng gờ, ống tuýp) khối lượng không
quá 1.000 g (kể cả lõi);
(b) Đã hoàn tất để sử dụng làm chỉ khâu; và
(c) Có xoắn "Z" cuối cùng.
6. Theo mục đích của Phần này, khái niệm "sợi có độ bền cao" có nghĩa
là loại sợi có độ bền tương đối đo bằng cN/tex (xen ti newton một
tex), lớn hơn các tiêu chuẩn sau đây:
Sợi đơn bằng ni lông hoặc các polyamit khác, hoặc bằng
Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp bằng ni lông hoặc các polyamit khác,
hoặc bằng polyeste…...53 cN/tex
Sợi đơn, sợi xe (folded) hoặc sợi cáp bằng viscose rayon…...27
Theo mục đích của Phần này, khái niệm "hoàn thiện" nghĩa là:
(a) Đã cắt thành hình trừ hình vuông hoặc hình chữ nhật;
(b) Được tạo ra trong công đoạn hoàn thiện, sẵn sàng để sử dụng
(hoặc chỉ cần tách ra bằng cách cắt các đường chỉ phân chia)
mà không cần phải khâu, may hoặc gia công khác (ví dụ, khăn
chuyên lau bụi, khăn lau, khăn trải bàn, khăn vuông, mền
chăn);
(c) Cắt theo cỡ và có ít nhất một cạnh được làm kín bằng nhiệt mà
đường viền được nén hoặc vuốt thon nhận ra dễ dàng và các
cạnh khác được xử lý như đã mô tả trong phần khác bất kỳ của
Chú giải này, nhưng trừ các vải có các mép đã được làm cho
khỏi sổ bằng cách cắt nóng hoặc bằng các phương pháp đơn
giản khác;
(d) Đã viền lại hoặc cuộn mép, hoặc thắt nút tại bất kỳ mép nào
nhưng trừ các loại vải có các mép cắt được làm cho khỏi sổ
bằng cách khâu vắt hoặc các cách đơn giản khác;
(e) Cắt theo cỡ và đã trải qua công đoạn gia công rút chỉ;
(f) Đã ghép bằng cách khâu, may, dán dính hoặc cách khác (trừ
loại hàng dệt tấm gồm hai hoặc nhiều tấm trở lên có cùng chất
liệu dệt được ghép nối đuôi nhau và những tấm làm từ hai
hoặc nhiều loại vật liệu dệt trở lên được ghép thành lớp, có
hoặc không có đệm);
(g) Dệt kim hoặc móc thành các hình dạng, hoặc trình bày ở dạng
các chi tiết riêng biệt hoặc ở dạng một số các chi tiết gắn
thành một dải.
Theo mục đích của các Chương từ 50 đến 60:
(a) Các Chương từ 50 đến 55 và Chương 60 và, trừ khi có yêu cầu
khác, các Chương từ 56 đến 59, không áp dụng cho hàng hoá
hoàn thiện đã nêu tại Chú giải 7 trên đây; và
(b) Các Chương từ 50 đến 55 và Chương 60 không áp dụng cho
các hàng hoá của các Chương từ 56 đến 59.
9. Vải dệt thoi thuộc các Chương từ 50 đến 55 kể cả các loại vải có
các lớp sợi dệt song song được đan đặt lên nhau theo góc nhọn
hoặc góc vuông. Những lớp này được gắn tại các giao điểm
của sợi bằng các chất kết dính hoặc liên kết bằng nhiệt.
Sản phẩm có tính đàn hồi bằng những vật liệu dệt kết hợp với sợi
cao su cũng được phân loại trong Phần này.
Theo mục đích của Phần này, khái niệm "đã ngâm tẩm" kể cả "đã
nhúng".
12. Theo mục đích của Phần này, khái niệm "polyamit" kể cả "aramit".
13. Theo mục đích của Phần này và, cũng như một số trường hợp thuộc
Danh mục này, khái niệm “sợi đàn hồi” có nghĩa là sợi filament,
kể cả monofilament, bằng chất liệu dệt tổng hợp, trừ sợi dún,
không bị đứt khi bị kéo dãn ra gấp ba lần độ dài ban đầu và khi
kéo dãn ra gấp hai lần độ dài ban đầu trong thời gian năm phút sẽ
co lại còn độ dài không lớn hơn 1,5 lần độ dài ban đầu.
14. Trừ khi có quy định khác, hàng dệt may sẵn thuộc các nhóm khác
nhau phải được phân loại theo các nhóm phù hợp của từng loại
ngay cả khi sắp xếp theo bộ để bán lẻ. Theo mục đích của Chú giải
này, khái niệm "hàng dệt may sẵn" nghĩa là các hàng hoá của các
nhóm từ 61.01 đến 61.14 và từ 62.01 đến 62.11.
15. Theo Chú giải 1 của Phần XI, hàng dệt, may và các mặt hàng dệt
khác, kết hợp các thành phần hóa học, cơ khí hoặc điện tử để tạo
thêm chức năng, cho dù được kết hợp dưới dạng các thành phần
tích hợp hoặc bên trong sợi hoặc vải, được phân loại theo các
nhóm tương ứng trong Phần XI với điều kiện là chúng vẫn giữ
được đặc tính cơ bản của hàng hóa thuộc Phần này.
Chú giải Phân nhóm.
1. Trong Phần này cũng như những Phần khác của Danh mục, các khái
niệm dưới đây có ý nghĩa là:
(a) Sợi chưa tẩy trắng
Là loại sợi:
(i) có màu tự nhiên của các loại xơ gốc và chưa tẩy trắng, nhuộm
(cả khối hoặc không) hoặc in; hoặc
(ii) có màu không xác định được ("sợi mộc (grey yarn)"), được
sản xuất từ nguyên liệu tái sinh.
Loại sợi này có thể được xử lý bằng cách hồ không màu
hoặc nhuộm không bền màu (mất màu sau khi giặt bình
thường bằng xà phòng) và, nếu là xơ nhân tạo thì có thể
được xử lý cả khối với tác nhân khử bóng (ví dụ, titan
đioxit).
(b) Sợi đã tẩy trắng
Là loại sợi:
(i) đã qua quá trình tẩy trắng, được làm từ các xơ đã tẩy trắng
hoặc, trừ khi có yêu cầu khác, đã được nhuộm tăng trắng
(cả khối hoặc không) hoặc đã xử lý bằng hồ trắng;
(ii) gồm hỗn hợp của xơ đã tẩy trắng và chưa tẩy trắng; hoặc
(iii) sợi xe (folded) hoặc sợi cáp được làm từ sợi đã tẩy trắng và
chưa tẩy trắng.
(c) Sợi màu (đã nhuộm hoặc đã in)
Là loại sợi:
(i) đã nhuộm (cả khối hoặc không) trừ màu trắng hoặc màu
không bền, hoặc đã in, hoặc làm từ các loại xơ đã nhuộm
hoặc đã in;
(ii) gồm hỗn hợp của các xơ đã nhuộm từ màu khác nhau hoặc
hỗn hợp của xơ chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng với các xơ
màu (sợi macnơ hoặc sợi hỗn hợp), hoặc được in một hoặc
nhiều màu cách khoảng tạo thành các chấm đốm;
(iii) làm từ cúi hoặc sợi thô đã in; hoặc
(iv) là sợi xe (folded) hoặc sợi cáp và gồm cả sợi đã tẩy trắng
hoặc chưa tẩy trắng và sợi màu
Những định nghĩa trên đây cũng áp dụng, một cách tương tự,
cho sợi monofilament và dải hoặc dạng tương tự của Chương
(d) Vải dệt thoi chưa tẩy trắng
Vải dệt thoi được làm từ sợi chưa tẩy trắng và vải đó chưa
được tẩy trắng, nhuộm hoặc in. Loại vải này có thể được xử lý
bằng cách hồ không màu hoặc nhuộm không bền màu.
(e) Vải dệt thoi đã tẩy trắng
Loại vải dệt thoi:
(i) đã được tẩy trắng hoặc, trừ khi có yêu cầu khác, nhuộm
tăng trắng, hoặc xử lý bằng loại hồ tăng trắng, ở dạng
mảnh;
(ii) dệt từ sợi đã tẩy trắng; hoặc
(iii) dệt từ sợi đã tẩy trắng và sợi chưa tẩy trắng.
(f) Vải dệt thoi đã nhuộm
Là loại vải dệt thoi:
(i) đã được nhuộm đồng đều một màu trừ màu trắng (trừ một
số trường hợp có yêu cầu khác) hoặc được xử lý bằng sự
hoàn thiện màu trừ màu trắng (trừ một số trường hợp có
yêu cầu khác), ở dạng mảnh; hoặc
(ii) dệt từ sợi được nhuộm đồng đều một màu.
(g) Vải dệt thoi bằng các loại sợi màu khác nhau
Là vải dệt thoi (trừ vải dệt thoi đã in):
(i) bằng các loại sợi có màu khác nhau hoặc các loại sợi cùng
màu có độ đậm nhạt (shades) khác nhau (trừ màu tự
nhiên của các loại xơ hợp thành);
(ii) bằng các loại sợi chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng và sợi
màu; hoặc
(iii) dệt bằng sợi macnơ hoặc sợi hỗn hợp
(Trong mọi trường hợp, các loại sợi dùng làm sợi biên hoặc
sợi đầu tấm không được xem xét).
(h) Vải dệt thoi đã in
Là loại vải dệt thoi đã được in ở dạng mảnh, được dệt hoặc
không dệt từ các sợi có màu khác nhau.
(Các loại sau đây cũng được xem như vải dệt thoi đã in: vải
dệt thoi có các hình được tạo ra bằng cách, ví dụ, dùng bàn
chải hoặc súng phun, dùng giấy chuyển màu, bằng cấy nhung
hoặc bằng quá trình batik.)
Quá trình kiềm bóng không ảnh hưởng đến việc phân loại của
các loại sợi hoặc các loại vải kể trên..
Các định nghĩa tại các phần từ (d) đến (h) nêu trên cũng được áp
dụng tương tự với các loại vải dệt kim hoặc móc.
(ij) Vải dệt vân điểm
Là loại vải có cấu trúc trong đó mỗi sợi ngang tuần tự đan xen ở
trên và ở dưới sợi dọc kế tiếp và mỗi sợi dọc tuần tự đan xen ở
trên và ở dưới sợi ngang kế tiếp.
2. (A) Các sản phẩm thuộc các Chương 56 đến 63 làm từ hai hoặc
nhiều vật liệu dệt được xem như làm từ toàn bộ một loại vật liệu
dệt mà loại vật liệu dệt đó được lựa chọn theo Chú giải 2 Phần này
để phân loại một sản phẩm thuộc các Chương từ 50 đến 55 hoặc
thuộc nhóm 58.09 làm từ các vật liệu dệt giống nhau.
(B) Để áp dụng qui tắc này:
(a) trong trường hợp thích hợp, chỉ có phần quyết định việc phân
loại theo Qui tắc tổng quát 3 mới được đưa ra xem xét;
(b) trường hợp sản phẩm dệt làm từ một lớp vải nền và lớp bề mặt
có tuyết hoặc vòng thì không cần xem xét đến vải nền;
(c) trường hợp hàng thêu thuộc nhóm 58.10 và sản phẩm của nó,
chỉ cần phân loại theo vải nền. Tuy nhiên, đồ thêu không lộ
nền, và cả sản phẩm của nó, được phân loại theo chỉ thêu.
TỔNG QUÁT
Nói chung, Phần XI bao gồm những loại nguyên liệu thô của công nghiệp
dệt (tơ, lông cừu, bông, sợi nhân tạo, v.v.), các bán thành phẩm (Ví dụ như
sợi và vải dệt thoi) và các mặt hàng hoàn chỉnh làm từ các bán thành phẩm
này. Mặc dù vậy, phần XI loại trừ một số nguyên liệu và sản phẩm như đã
đề cập trong Chú giải 1 Phần XI, Chú giải (của) các Chương nhất định hay
theo các Chú giải chi tiết sau ở các nhóm trong phần này. Đặc biệt, những
nhóm sau không được phân loại trong Phần XI :
(a) Tóc người và các mặt hàng làm từ nó (thông thường thuộc nhóm
05.01, 67.03 hoặc 67.04), loại trừ loại vải lọc được sử dụng trong
ép dầu hay loại tương tự (nhóm 59.11).
(b) Sợi amiăng và các mặt hàng (sợi, vải , quần áo, v.v…) từ sợi
amiăng (nhóm 25.24, 68.12 hay 68.13).
(c) Sợi, xơ carbon và các loại sợi khoáng phi kim (Ví dụ : cacbua
silicon, bông len đá) và các sản phẩm từ các loại sợi này
(Chương 68).
(d) Sợi thuỷ tinh, sợi, vải và các mặt hàng làm từ chúng, và các loại
sản phẩm hỗn hợp làm từ sợi thuỷ tinh và sợi dệt có đặc tính như
sản phẩm dệt từ sợi thuỷ tinh (Chương 70), trừ hàng thêu bằng
chỉ thuỷ tinh trên vải lộ nền.
Phần XI được chia làm 14 Chương và có thể phân ra làm 2 phần nhỏ.
Phần thứ nhất (các Chương từ 50 đến 55) được chia theo bản chất của
vật liệu dệt và phần thứ hai (các Chương từ 56 đến 63), trừ các nhóm từ
58.09 và 59.02, bao gồm các sản phẩm không có sự phân biệt, ở cấp độ
nhóm, theo bản chất của vật liệu dệt.
(I) CÁC CHƯƠNG 50 ĐẾN 55
Các Chương từ 50 đến 55, mỗi chương đề cập đến một hay nhiều loại
vật liệu dệt, những vật liệu này ở dạng đơn hoặc hỗn hợp, ở các giai
đoạn sản xuất khác nhau bao gồm cả giai đoạn chuyển hoá thành vải dệt
thoi như đã mô tả trong Phần (I)(C) dưới đây. Trong đa số các trường
hợp, các chương này bao gồm nguyên liệu thô, phế phẩm thu lại (kể cả
nguyên liệu tái chế nhưng không bao gồm vải vụn không rách), xơ đã
được chải thô hay chải kỹ ở dạng cúi chải, sợi thô, v.v...sợi và vải dệt
(A) Phân loại các sản phẩm được tạo thành từ các nguyên liệu dệt
hỗn hợp
(xem Chú giải 2 Phần XI)
Một sản phẩm dệt có thể phân loại vào một nhóm bất kỳ trong các
Chương từ 50 đến 55 (phế liệu, sợi, vải dệt thoi, ..v.v.) hoặc vào nhóm
58.09 hoặc nhóm 59.02 và từ hỗn hợp của hai hoặc nhiều nguyên liệu
dệt khác nhau thì được phân loại theo hàng hóa được làm hoàn toàn từ
nguyên liệu dệt chiếm tỷ trọng trội hơn so với bất kỳ từng nguyên liệu
dệt khác.
Khi không có một loại nguyên liệu dệt nào chiếm tỷ trọng trội hơn thì
hàng hóa trong trường hợp đó sẽ được phân loại theo hàng hóa được làm
hoàn toàn từ một nguyên liệu dệt thuộc nhóm có số thứ tự sau cùng trong
số những nhóm được xem xét ngang nhau:
Nguyên liệu dệt có thể được pha trộn :
- trước hoặc trong quá trình kéo sợi;
- trong quá trình xe sợi;
- trong quá trình dệt.
Trong trường hợp có những sản phẩm (trừ loại ở nhóm 58.11) làm từ hai
hay nhiều hơn các vải dệt có thành phần khác nhau kết hợp thành các lớp
bằng cách khâu, dán vào nhau, v.v...thì việc phân loại để xác định phải
phù hợp với Quy tắc 3. Theo đó, Chú giải 2 Phần XI chỉ áp dụng khi cần
thiết cho việc xác định vật liệu dệt chiếm ưu thế về tỷ trọng vải được
xem xét để phân loại sản phẩm nói chung.
Tương tự như vậy, các điều khoản của Chú giải 2 Phần XI áp dụng cho
những sản phẩm đã được pha trộn (cấu thành) từ các nguyên liệu dệt và
nguyên liệu không dệt chỉ khi, bởi vì các Quy tắc tổng quát giải thích
Danh mục, chúng được phân loại như các sản phẩm dệt.
Để áp dụng Chú giải 2 của Phần này, cần chú ý rằng :
(1) Khi một Chương hay một nhóm đề cập đến các sản phẩm được
làm từ các loại nguyên liệu dệt khác nhau, những nguyên liệu này
được kết hợp lại với nhau vì mục đích phân loại các sản phẩm
tương tự chứa hỗn hợp của nguyên liệu đó với nguyên liệu khác;
việc lựa chọn nhóm phù hợp trước tiên là xác định Chương, sau
đó mới tới nhóm có thể phân loại trong Chương đó, mà không phụ
thuộc vào bất kỳ nguyên liệu nào không được phân loại trong
Chương đó.
Ví dụ:
(a) Vải dệt thoi gồm :
Tỷ trọng xơ staple tổng hợp 40%
Tỷ trọng lông cừu chải kỹ 35%, và
Tỷ trọng lông động vật mịn chải kỹ 25%
thì không được phân loại trong nhóm 55.15 (những mặt hàng dệt
thoi khác từ xơ staple tổng hợp) mà được phân loại trong nhóm
51.12 (vải dệt thoi từ sợi len lông cừu chải kỹ hoặc từ sợi lông
động vật loại mịn chải kỹ) vì trong trường hợp này, tỷ lệ của lông
cừu và lông động vật dạng mịn phải được cộng gộp lại.
(b) Vải dệt thoi có trọng lượng 210g/m2 gồm:
Tỷ trọng bông 40%,
Tỷ trọng xơ staple tái tạo 30%, và
Tỷ trọng xơ staple tổng hợp 30%
thì không được phân loại trong nhóm 52.11 (vải dệt thoi từ sợi
bông, có tỷ trọng bông dưới 85%, pha chủ yếu hay duy nhất
với xơ sợi nhân tạo, có trọng lượng lớn hơn 200g/m2) hay
trong nhóm 55.14 (vải dệt thoi từ xơ staple tổng hợp, có tỷ
trọng loại xơ này dưới 85% pha chủ yếu hay pha duy nhất với
bông có trọng lượng lớn hơn 170g/m2) mà lại đưa vào nhóm
55.16 (vải dệt thoi từ xơ staple tái tạo). Sự phân loại này đạt
được bởi việc xác định trước nhất là Chương thích hợp (trong
trường hợp này là Chương 55, vì tỷ lệ về xơ staple tổng hợp
và xơ staple tái tạo được cộng lại), và sau đó là nhóm có thể
phân loại trong Chương đó mà trong ví dụ này là nhóm 55.16,
nhóm có số thứ tự sau cùng trong số những nhóm được xem
xét (có giá trị) ngang nhau.
(c) Vải dệt thoi bao gồm
Tỷ trọng lanh 35%
Tỷ trọng đay 25%
Tỷ trọng bông 40%
Hàng dệt này không được phân loại trong nhóm 52.12 (vải dệt
thoi khác từ bông) nhưng lại được phân loại trong nhóm 53.09
(vải dệt thoi từ sợi lanh). Sự phân loại này đạt được bởi việc
xác định trước nhất là Chương thích hợp (trong trường hợp
này là Chương 53 vì tỷ lệ về sợi lanh và sợi đay được cộng lại)
và sau đó là nhóm có thể phân loại trong Chương đó, ở ví dụ
này là nhóm 53.09 vì tỷ lệ lanh trội hơn đay, tỷ lệ bông không
được để ý đến theo Chú giải 2 (B) (b) của Phần này.
(2) Sợi quấn từ lông đuôi và lông bờm ngựa và sợi trộn kim loại hoá
được coi như những nguyên liệu dệt đơn và trọng lượng của chúng
được tính gộp vào trọng lượng các thành phần cấu thành.
(3) Trong quá trình phân loại vải dệt thoi, sợi kim loại được xem như
là nguyên liệu dệt.
(4) Khi cả hai Chương 54 và 55 đều có liên quan đến một Chương
khác, thì Chương 54 và 55 được xem như một Chương.
Ví dụ :
Vải dệt thoi bao gồm:
Tỷ trọng sợi filament tổng hợp 35%,
Tỷ trọng xơ staple tổng hợp 25%, và
Tỷ trọng lông cừu chải kỹ 40%
thì không được phân loại trong nhóm 51.12 (vải dệt thoi từ lông
cừu chải kỹ hoặc từ lông động vật loại mịn chải kỹ) nhưng lại
được phân loại trong nhóm 54.07 (vải dệt thoi từ sợi filament
tổng hợp), vì các tỷ lệ sợi filament tổng hợp và sợi staple tổng hợp,
trong trường hợp này, phải được cộng lại.
(5) Việc định kích cỡ vải hay hồ vải (ví dụ tăng trọng lượng (làm cho
nặng thêm) trong trường hợp đối với tơ tằm) cũng như các chất
dùng để ngâm tẩm, tráng, phủ hay bao bọc, được kết hợp với các
sợi dệt đều không được coi là vật liệu không dệt. Nói một cách
khác, trọng lượng của sợi dệt được tính toán dựa trên cơ sở trọng
lượng của chúng ở trạng thái mà chúng hiện hữu.
Khi quyết định nếu việc pha trộn chủ yếu là từ một vật liệu dệt cụ
thể, cần xem xét tới vật liệu dệt nào (đưa vào) chiếm ưu thế về tỷ
trọng so với các vật liệu khác trong sự pha trộn đó.
Ví dụ:
Vải dệt thoi có trọng lượng không hơn 200g/m2 bao gồm:
Tỷ trọng bông 55%,
Tỷ trọng xơ sợi nhân tạo 22%,
Tỷ trọng lông cừu 21%, và
Tỷ trọng tơ tằm 2%
thì không thuộc nhóm 52.12 (vải dệt thoi khác từ sợi bông) mà ở
trong nhóm 52.10 (các loại vải dệt thoi từ sợi bông, có tỷ trong
bông dưới 85%, pha chủ yếu hay pha duy nhất với xơ sợi nhân tạo,
trọng lượng không vượt quá 200g/m2).
(B) Sợi
(1) Khái quát chung.
Sợi dệt có thể là sợi đơn, sợi xe hay sợi cáp. Tuỳ theo mục đích
của danh mục thì:
(i) Sợi đơn là sợi được tạo thành bằng một trong 2 cách sau:
(a) Những xơ ngắn thường được liên kết với nhau bằng quá
trình xoắn (Sợi từ các xơ cắt ngắn); hay bằng
(b) Một filament (mono filament) của các nhóm 54.02 đến
54.05 hoặc từ 2 hay nhiều filament của nhóm 54.02 hay 54.03
được liên kết với nhau, có hoặc không có xoắn (sợi liên tục).
(ii) Sợi xe nghĩa là sợi có từ hai hay nhiều sợi đơn, kể cả loại được
tạo thành từ những sợi mono filament của nhóm 54.04 hay
54.05 (sợi xe hai, xe ba, xe bốn, v.v...) được xoắn lại với nhau
trong cùng một công đoạn xoắn. Tuy nhiên, những sợi được
hình thành chủ yếu từ các sợi mono filament trong nhóm 54.02
hay 54.03, được liên kết với nhau bằng cách xoắn, thì không
được xem là sợi xe.
Tao sợi của sợi xe là mỗi sợi đơn trong sợi xe tạo thành.
(iii) Sợi cáp là sợi được hình thành từ hai hay nhiều sợi nhưng tối
thiểu phải có ít nhất là một sợi xe, chúng được xoắn với nhau
qua một hay nhiều công đoạn xoắn.
Tao sợi của sợi cáp có nghĩa là mỗi sợi đơn hay sợi xe trong
sợi cáp tạo thành.
Sợi được đề cập ở trên có khi còn được gọi là sợi xoắn phức được
tạo thành bởi việc ghép hai hay nhiều sợi đơn, sợi xe hay sợi cáp.
Những sợi này được thừa nhận như là sợi đơn, sợi phức hay sợi
cáp tuỳ theo loại sợi mà chúng bao hàm.
Sợi đơn, sợi phức hay sợi cáp có thể có những vòng nổi hay những
mẩu sợi xe giữa các điểm cách khoảng. Chúng có thể bao gồm 2
hay nhiều sợi mà một sợi trong nó bị xoắn ngược với nhau tại giữa
các điểm cách khoảng để mang lại hiệu ứng các vòng nổi hay
phồng lên.
Sợi đã đánh bóng hay đã làm bóng là sợi đã được xử lý bằng các
chất tự nhiên (sáp, parafin...) hay bằng các chất tổng hợp (nhựa
acryic). Những sợi này được làm bóng bằng cách dùng trục lăn
làm bóng.
Sợi được ký hiệu tuỳ theo độ mảnh của nó. Có nhiều hệ thống
khác nhau để tính toán hoặc đo độ mảnh vẫn còn được sử dụng.
Tuy nhiên, Danh mục vẫn sử dụng hệ đo phổ thông “ Tex ”, nó là
một đơn vị diễn tả mật độ thẳng, tương đương với trọng lượng tính
bằng gram trên một kilomet sợi, filament, sợi cơ bản hay các tao
at intervals (bouclé or looped, slub or flammé yarn). They may
sợi dệt khác. Một decitex thì bằng 0,1 Tex. Công thức sau đây
được áp dụng cho việc chuyển hoá chi số mét thành chỉ số decitex:
Chi số mét
Sợi có thể ở dạng chưa được tẩy trắng, đã được tẩy, tẩy trắng, đã
nhuộm màu, đã in, bôi macnơ v.v.... Chúng cũng có thể đã được
hơ trên đèn khí (tức là: Làm cháy xém để loại bỏ những xơ nhô ra
bên ngoài bề mặt sợi), ngâm kiềm (tức là: xử lý dưới sức căng với
hydroxit natri), ngâm dầu, v.v...
Mặc dầu vậy các Chương từ 50 đến 55 không bao gồm :
(a) Chỉ cao su, vải đã được bọc và sợi dệt đã ngâm tẩm (kể cả
nhúng), phủ, bao, hay bọc bằng cao su hay plastic của nhóm
(b) Sợi trộn kim loại (nhóm 56.05).
(c) Sợi cuốn bọc, sợi sơnin và sợi sùi vòng (nhóm 56.06).
(d) Sợi dệt bện (nhóm 56.07 hay nhóm 58.08 tuỳ trường hợp).
(e) Sợi dệt được gia cố bằng chỉ kim loại (nhóm 56.07).
(f) Sợi, monofilament hay xơ dệt được ghép song song và liên kết
bằng chất kết dính (nhóm 58.06).
(g) Sợi được ghép song song và được liên kết bằng cao su, nhóm
(2) Sự khác biệt giữa các loại sợi đơn, sợi xe hay sợi cáp của các
Chương từ 50 đến 55, dây xe, chão bện, thừng hoặc cáp của
nhóm 56.07 và dải bện của nhóm 58.08
(Xem Chú giải 3 Phần XI)
Các Chương từ 50 đến 55 không bao gồm tất cả các loại sợi.
Những sợi mà đã được phân loại theo đặc tính của nó (độ mảnh, đã
hay chưa đánh bóng hoặc làm bóng, số tao) trong các nhóm của
Chương từ 50 đến 55 có liên quan tới các loại sợi, dây xe, chão
bện, thừng hoặc cáp ở nhóm 56.07 hay như các dải bện ở nhóm
58.08. Bảng I dưới đây sẽ chỉ ra sự phân loại chính xác trong từng
trường hợp riêng:
BẢNG I:
Sự phân loại sợi, dây xe, chão bện, thừng và cáp của vật liệu dệt
Dạng sợi
Những đặc điểm
riêng cho việc xác
định để phân loại
Nhóm
phân
loại
Được tăng cường với sợi
kim loại
Trong tất cả các
trường hợp
Nhóm 56.07
Sợi đã được trộn kim loại
Trong tất cả các
trường hợp
Nhóm 56.05
Sợi đã được quấn, khác
với sợi thuộc các nhóm
51.10 và 56.05, sợi sơnin
và sợi sùi vòng
Trong tất cả các
trường hợp
Nhóm 56.06
Sợi dệt bện
(1) Đã được bện
chặt với kết cấu
chặt
(2) Loại khác
Nhóm 56.07
Nhóm 58.08
Loại khác :
Làm từ tơ hay phế liệu tơ
(1) Số đo 20.000
decitex hay dưới
(2) Số đo trên
Chương 50
Nhóm 56.07
- Từ lông cừu hay lông Trong tất cả các Chương 51
động vật khác
trường hợp
- Từ xơ lanh hay xơ gai
dầu thực sự
(1) Đã được đánh
bóng
làm
bóng
(a) số đo từ 1.429
decitex trở lên
(b) số đo dưới
Chưa
được
đánh
bóng
làm bóng:
(a) Số đo 20.000
decitex, hay dưới
(b) Số đo trên
Nhóm 56.07
Chương 53
Chương 53
Nhóm 56.07
- Từ xơ dừa
(1) Làm từ 1 hay 2
(2) Làm từ 3 tao
trở lên
Nhóm 53.08
Nhóm 53.07
-Từ giấy
Trong tất cả các
trường hợp
Nhóm 53.08
- Từ bông hay các xơ thực
vật khác
Số
đo
từ
20.000 decitex trở
xuống
(2) Số đo trên
Chương 52 hoặc
Nhóm 56.07
- Từ xơ nhân tạo (bao gồm
cả sợi xe từ 2 hay nhiều
của
CHƯƠNG 54 (**)
Số
đo
từ
10.000 decitex trở
xuống
(2) Số đo trên
Chương 54 hoặc
Nhóm 56.07
Chú thích cuối trang.
(*) Các tham khảo về các nguyên liệu dệt khác nhau cũng được
áp dụng cho các nguyên liệu dệt hỗn hợp được phân loại theo
các điều khoản của Chú giải 2 Phần XI (xem Phần (I) (A) của
Chú giải Tổng quát này).
(**) Tơ từ ruột con tằm của nhóm 50.06, sợi multifilament
không xoắn hay chỉ xoắn dưới năm vòng trên một mét và
monofilament của Chương 54 và sợi tô (tow) filament nhân
tạo của Chương 55 thì trong bất kỳ trường hợp nào cũng
không được phân loại vào nhóm 56.07.
(3) Sợi đã đóng gói để bán lẻ
(xem Chú giải 4 Phần XI)
Các nhóm trong các Chương 50,51,52,54 và 55 được đưa vào các
điều khoản về sợi dệt đóng gói để bán lẻ. Để được xếp trong các
nhóm này, sợi phải thoả mãn được các tiêu chuẩn sẽ được đưa ra ở
Bảng II dưới đây.
Mặc dù vậy các loại sợi dưới đây không bao giờ được đưa vào
phần đóng gói để bán lẻ.
(a) Sợi tơ đơn, phế liệu tơ, sợi bông hay sợi nhân tạo đã đóng gói.
(b) Sợi đơn, xe từ lông cừu hay lông động vật dạng mịn đã tẩy
trắng, nhuộm hay in, có độ mảnh 5.000 decitex trở xuống, đã
đóng gói.
(c) Sợi xe hay sợi cáp được xe từ tơ hay phế liệu tơ, chưa được tẩy
trắng, đã đóng gói.
(d) Sợi xe hay sợi cáp được xe từ bông hay xơ nhân tạo, chưa tẩy
trắng ở dạng con sợi hoặc cuộn sợi.
(e) Sợi xe hay sợi cáp làm từ tơ hay phế liệu tơ, đã tẩy trắng,
nhuộm hay in có số đo từ 133 decitex trở xuống.
(f) Sợi đơn, sợi xe hay sợi cáp làm từ vật liệu dệt bất kỳ, ở dạng
con sợi hoặc cuộn sợi cuốn chéo. (*)
(g) Sợi đơn, sợi xe hay sợi cáp làm từ vật liệu dệt bất kỳ đã cuốn
trong các lõi (ví dụ: các ống sợi con, các ống sợi máy xe, các
suốt sợi ngang, các ống sợi côn hay các cọc sợi) hay ở một vài
dạng khác (ví dụ: ở dạng kén cho các máy thêu, dạng bánh
được tạo ra từ các máy kéo sợi li tâm) đã được chỉ rõ để sử
dụng trong công nghiệp dệt.
Chú thích cuối trang
(*) Cuốn chéo là sợi được cuốn theo đường chéo qua lại con
sợi, tránh cho sợi khỏi bị tụt ra. Cuốn chéo là phương pháp
thường được sử dụng khi nhuộm các con sợi.
“Không cuốn chéo”
“Cuốn chéo”
BẢNG II
Sợi đã đóng gói cho bán lẻ (tuân theo các loại trừ
đã được đề cập ở trên)
Cách đóng gói
Dạng sợi (**)
Những điều kiện mà
sợi được thừa nhận
như là đã đóng gói
cho bán lẻ
Trên
bìa,
trên (1) Sợi tơ, sợi phế liệu tơ Trọng lượng từ 85 g
cuộn, trên ống
hay trên lõi cuốn
tương tự
hay sợi filament nhân tạo
(2) Sợi lông cừu, sợi lông
động vật loại mịn, sợi
bông, hoặc sợi từ xơ
stapen nhân tạo
trở xuống (kể cả lõi)
Trọng lượng từ 125 g
trở xuống (kể cả lõi)
Dạ Dạng hình
cầu, dạng con sợi
hoặc dạng cuộn
sợi
(1) Sợi filament nhân tạo
có độ mảnh dưới 3.000
decitex, sợi tơ hoặc sợi tơ
phế
(2) Các sợi khác có độ
mảnh dưới 2.000 decitex
(3) Các sợi khác
Trọng lượng từ 85 g
trở xuống
Trọng lượng từ 125 g
trở xuống
Trọng lượng từ 500 g
trở xuống
dạng
sợi
hoặc dạng cuộn
sợi bao gồm vài
sợi
hoặc
cuộn sợi nhỏ hơn
được tách giữa
chúng với nhau
bằng sợi phân
tách
để
chúng được riêng
rẽ với nhau
(1) Sợi tơ, sợi tơ phế hoặc
sợi filament nhân tạo
(2) Sợi lông cừu, sợi lông
động vật loại mịn, sợi
bông hoặc sợi từ xơ stapen
nhân tạo
Mỗi một cuộn sợi có
trọng lượng đều nhau
từ 85 g trở xuống
Mỗi một cuộn sợi có
trọng lượng đều nhau
từ 125 g trở xuống
Chú thích cuối trang
(*) Liên quan tới các vật liệu dệt khác nhau cũng được áp dụng
như đối với các nguyên liệu dệt hỗn hợp được phân loại theo
các điều khoản của Chú giải 2 phần XI (xem Phần (I)(A) của
Chú giải Tổng quát này).
(**) Con sợi hay cuộn sợi bao gồm những con sợi hoặc cuộn sợi
nhỏ hơn được tách riêng bằng một hoặc nhiều sợi phân tách
dài liên tục, do vậy những con sợi hoặc những cuộn sợi thành
phần dễ dàng được tách riêng. Người ta còn dùng một hay
nhiều sợi riêng biệt xâu qua giữa các cuộn sợi và giữ cho
chúng riêng biệt với các phần khác. Những con sợi hay cuộn
sợi nhỏ hơn này thường được bọc quanh bằng băng giấy. Con
sợi và cuộn sợi khác có cùng chiều dài liên tục, hoặc loại mà
sợi phân tách không có chức năng chia con hoặc cuộn chính
thành các con hoặc cuộn nhỏ hơn cùng trọng lượng nhưng chủ
yếu là để tránh bị rối trong quá trình xử lý (ví dụ : nhuộm), thì
không được coi là con hoặc cuộn được chia rẽ bởi các sợi
phân tách và không được xem như là đã đóng gói để bán lẻ.
(4) Chỉ khâu.
(Xem Chú giải 5 Phần XI)
Với mục đích của các nhóm 52.04, 54.01 và 55.08 khái niệm ”chỉ
khâu” nghĩa là sợi xe hay sợi cáp:
(a) Được cuốn trên các lõi (ví dụ: Các cuộn, các ống) có trọng lượng
(kể cả lõi) không vượt quá 1.000g;
(b) Đã hoàn tất để sử dụng làm chỉ khâu; và
(c) Với xoắn hình chữ “Z” cuối cùng.
Thuật ngữ “hoàn tất” có nghĩa là quá trình xử lý hoàn thiện. Quá
trình xử lý này được thực hiện để sử dụng sợi dệt được dễ dàng như
là chỉ khâu, ví dụ: tạo cho chỉ có tính chống ma sát hoặc chịu nhiệt,
ngăn ngừa sự tạo thành tĩnh điện hay cải thiện hình dạng bên ngoài
của chỉ. Sự xử lý như vậy có liên quan tới việc sử dụng các chất như
silicôn, tinh bột, sáp, parafin, v.v...
Độ dài của cuộn chỉ thường được chỉ rõ trên lõi cuộn chỉ.
(5) Sợi có độ bền cao.
(Xem Chú giải 6 Phần XI)
Các Chương từ 50 đến 59 có các điều khoản “sợi có độ bền cao” và
vải dệt từ sợi đó
Thuật ngữ “sợi có độ bền cao” là sợi có độ bền được tính bằng
cN/tex (centinewtons một tex), phải lớn hơn :
Sợi đơn làm từ nylon hoặc các polyamid khác hoặc các
Sợi xe hay sợi cáp từ nylon, hay từ các polyamid khác, hay từ
Sợi
đơn,
sợi
sợi
cáp
làm
từ
sợi
viscô
(6) Sợi đàn hồi và sợi dún.
(Xem Chú giải 13 của Phần XI)
Sợi đàn hồi được định nghĩa trong Chú giải 13 của Phần này. Lưu ý
rằng, sợi dún được nêu ở đây được định nghĩa trong Chú giải Chi tiết
phân nhóm của các phân nhóm từ 5402.31 đến 5402.39.
(C) Vải dệt thoi
Vải dệt thoi ở các Chương từ 50 đến 55 là những sản phẩm thu được
bằng cách liên kết các sợi dệt (có cả những loại đã được phân loại trong
các Chương từ 50 đến 55 hay những sản phẩm được xem như là dây xe,
chão bện, v.v... của nhóm 56.07), sợi thô, sợi monofilament hay sợi dải
và sợi tương tự như của Chương 54, sợi sùi vòng, các dải băng hẹp, dây
bện hay vải khổ hẹp (bao gồm toàn sợi dọc mà không có sợi ngang được
liên kết với nhau nhờ chất keo dính v.v...) trên các máy dệt. Mặc dù vậy,
vải dệt thoi vẫn loại trừ một số mặt hàng như:
(a) Thảm và các loại thảm trải sàn khác (Chương 57)
(b) Vải nổi vòng hoặc vải sơnin của nhóm 58.01, vải khăn lông và các
loại vải dệt thoi tạo vòng lông tương tự nhóm 58.02, vải dệt quấn
nhóm 58.03 thảm dệt tay nhóm 58.05 vải dệt thoi khổ hẹp nhóm
58.06 và vải dệt thoi từ sợi kim loại hoặc từ sợi trộn kim loại nhóm
(c) Các loại vải được tráng, ngâm tẩm v.v... của các nhóm 59.01 và
59.03 đến 59.07; vải mành dùng làm lốp của nhóm 59.02 hay các các
vải dệt phục vụ cho mục đích kỹ thuật nhóm 59.11.
(d) Các sản phẩm đã hoàn thiện theo nghĩa của Chú giải 7 Phần XI (xem
đoạn II của Chú giải tổng quát này).
Theo các quy định từ (a) đến (d) ở trên vải dệt thoi từ Chương 50 đến
55, bằng việc áp dụng Chú giải 9 Phần XI, gồm, ví dụ, vải chứa:
- một lớp các sợi “dọc” song song đặt chồng lên một lớp các sợi
“ngang” song song theo các góc nhọn hay vuông.
- hai lớp sợi “dọc” song song ở giữa hai lớp là một lớp sợi “ngang”,
chúng được gài vào nhau tạo thành các góc nhọn hay vuông.
Đặc tính chủ yếu của các loại vải này là các sợi không đan vào nhau như
những vải dệt thoi thông thường mà được liên kết ở các điểm giao nhau
bằng một chất kết dính hay bằng liên kết nhiệt.
Những vải loại này đôi khi được xem như những tấm vải lưới lót, được
sử dụng để gia cố cho các vật liệu khác (plastic, giấy, v.v...). Chúng còn
được sử dụng ví dụ như các tấm che để bảo vệ dùng trong nông nghiệp.
Các loại vải dệt thoi ở các Chương từ 50 đến 55 có thể chưa được tẩy, đã
giặt, đã tẩy, đã nhuộm, dệt từ các sợi có màu khác nhau, đã in, đã phủ
màng, đã kiềm bóng, đã chuốt bóng, đã tạo nhiễu, đã chải tuyết (đã cào
mercerised, glazed, moiré, raised (napped), goffered, fulled, gassed
lông), đã xếp nếp, đã chuội và hồ, đã đốt lông (đốt đầu xơ) v.v... Vải dệt
thoi ở đây còn bao gồm cả loại đã và chưa dệt hoa văn, và vải trang sức
broché trong đó, nó được thiết kế bằng cách gài thêm những sợi dọc
hoặc những sợi ngang theo mẫu trong quá trình dệt. Những vải này
không được coi là những vải thêu.
Các Chương từ 50 đến 55 cũng bao gồm các loại vải mà những sợi
ngang chỉ bị hoà tan tại những vị trí theo mẫu thiết kế, còn tại nơi khác
thì cả sợi dọc lẫn sợi ngang vẫn còn (ví dụ: mặt hàng dệt nào đó có sợi
dọc là sợi viscô rayon và sợi ngang là sợi từ xơ axetat, những sợi ngang
đó một phần sẽ được loại bỏ bằng dung môi).
Chú giải chi tiết phân nhóm.
Các loại vải dệt thoi từ sợi có màu khác nhau
Các loại vải dệt thoi gồm những sợi đã được in màu khác nhau toàn bộ
hay từng phần của sợi, hoặc là sợi đã in cùng một màu đậm nhạt khác
nhau thì được coi như là “vải dệt thoi từ sợi có màu khác nhau” và cũng
không phải là “vải dệt thoi đã nhuộm màu” hay “vải dệt thoi đã in màu”.
(singed), etc. They include unfigured and figured fabrics, and broché
Các kiểu dệt
Kiểu dệt vân điểm đã được định nghĩa trong Chú giải phân nhóm 1 (ij)
Phần XI như “Là loại vải có cấu trúc trong đó mỗi sợi ngang tuần tự đan
xen ở trên và ở dưới sợi dọc kế tiếp và mỗi sợi dọc tuần tự đan xen ở
trên và dưới sợi ngang kế tiếp “.
Kiểu dệt vân điểm được thể hiện ở biểu đồ dưới đây:
Kiểu dệt vân điểm
Dệt vân điểm là kiểu dệt được sử dụng phổ biến nhất và đơn giản
nhất. Cả hai mặt của vải dệt vân điểm giống hệt nhau (vải 2 mặt )
bởi tỷ lệ cân xứng của các sợi ngang và các sợi dọc có thể thấy được
trên mỗi mặt vải.
Trong loại vải dệt vân chéo, sợi dọc đầu tiên (sợi dọc) được đan với sợi
ngang đầu tiên (sợi ngang), sợi dọc thứ hai được đan với sợi ngang thứ
hai, sợi dọc thứ ba được đan với sợi ngang thứ ba và cứ tiếp tục như vậy.
Bước chuyển của kiểu dệt này là một đối với cả sợi dọc lẫn sợi ngang.
Cách dệt cứ lặp đi lặp lại như vậy, nghĩa là: số sợi dọc và số sợi ngang
yêu cầu lặp lại mẫu thì luôn luôn phải lớn hơn hai. Kiểu dệt vân chéo có
cấu trúc chặt chẽ là kiểu dệt mà trong đó mỗi sợi ngang được đan (nổi
qua) trên hai sợi dọc. Đây là dệt vân chéo ba sợi. Trong kiểu dệt vân
chéo bốn sợi thì một sợi ngang được đan qua trên ba sợi dọc.
Trong kiểu dệt vân chéo, các sọc đường chéo được hình thành bởi bước
chuyển của những điểm đan xen nhau, kéo dài từ biên vải bên này cho
đến biên vải bên kia, tạo thành những lằn sọc và cho ta cảm giác vải dệt
là dệt chéo. Những sọc này có thể chạy theo hướng từ phải sang trái hay
từ trái sang phải. Một sự khác biệt được tạo thành giữa kiểu dệt vân chéo
hiệu ứng ngang là trong đó các điểm nổi của sợi ngang nhiều hơn và
kiểu dệt vân chéo có hiệu ứng dọc là trong đó các điểm nổi của sợi dọc
nhiều hơn. Cả hai loại vải dệt vân chéo này đều có sự khác nhau giữa
mặt phải và mặt trái của chúng. Tuy nhiên, có một loại vải dệt chéo gọi
là vải chéo hai mặt hay gọi là vải chéo chữ nhân, vải đó có hai mặt đều
giống nhau.
Vải chéo hai mặt hay vải chéo chữ nhân luôn có lặp lại kiểu dệt bằng
nhau. Điểm nổi ngang hay điểm nổi dọc nổi giống nhau ở cả hai bề mặt
của vải, chỉ có hướng của các sọc chéo là ngược nhau. Kiểu dệt đơn giản
nhất là kiểu dệt chéo chữ nhân bốn sợi: trong đó mỗi sợi dọc được chồng
lên trên hai sợi ngang liên tiếp và bị đè xuống bởi hai sợi tiếp sau .
Cần chú ý rằng trong các nhóm 52.08, 52.09, 52.10, 52.11, 55.13 và
55.14, các phân nhóm liên quan tới “vải vân chéo ba sợi hay bốn sợi, bao
gồm cả vải vân chéo hai mặt hay vải chéo chữ nhân”, bởi vì phần diễn
tả giới hạn của chúng chỉ bao gồm những loại vải chéo được dệt theo
mẫu chỉ ra dưới đây:
Vân chéo 3 sợi
Vân chéo 4 sợi Vân
chéo
mặt hoặc chéo
chữ nhân 4 sợi
Tuy nhiên, vải denim của các phân nhóm 5209.42 và 5211.42 không bao
gồm vải chéo hai mặt 4 sợi hay vải chéo chữ nhân vì những phân nhóm
này chỉ đề cập tới loại vải có hiệu ứng dọc (xem Chú giải phân nhóm 1
Chương 52). Hơn nữa là loại vải chéo 3 sợi có hiệu ứng dọc và vải chéo
4 sợi có hiệu ứng dọc thì những phân nhóm này cũng bao gồm cả vải
vân chéo gẫy 4 sợi có hiệu ứng dọc, kiểu dệt của nó được thể hiện như
hình dưới đây:
Vân chéo gẫy 4 sợi có hiệu ứng dọc
(II) CÁC CHƯƠNG TỪ 56 ĐẾN 63
Các Chương từ 56 đến 63 bao gồm một số loại vải dệt và các mặt hàng
dệt khác ngoài các Chương từ 50 đến 55 (ví dụ: vải có tạo vòng lông; vải
dệt thoi hẹp; sợi sơnin, sợi quấn, dải viền, dải trang sức và trang trí khác
thuộc nhóm 56.06 hoặc 58.08; Các loại vải tuyn và các loại vải lưới
khác; ren; thêu trên vải dệt thoi hoặc các vật liệu dệt khác; dệt kim hoặc
móc). Các chương này cũng bao gồm các sản phẩm dệt hoàn thiện (loại
trừ các sản phẩm nhất định đã phân loại ở một Chương khác ngoài các
Chương trong Phần XI).
Các mặt hàng hoàn thiện.
Theo Chú giải 7 của Phần này, khái niệm “hoàn thiện” trong các Chương
từ 56 đến 63 có nghĩa là :
(1) Chỉ được cắt thành hình, trừ dạng hình vuông hoặc hình chữ
nhật, ví dụ: mẫu hàng may mặc bằng vật liệu dệt, hàng dệt có rìa
viền đã được trang trí (ví dụ: một số loại khăn lau) cũng được coi
như đã hoàn thiện.
(2) Sản phẩm ở dạng hoàn thiện, đã sẵn sàng cho sử dụng (hoặc
chỉ cần tách ra một cách đơn giản bằng cách cắt các đường chỉ
phân chia), mà không phải may khâu hay gia công thêm. Hàng hoá
thuộc loại này bao gồm những sản phẩm đan hoặc móc trực tiếp
theo những hình dạng đã được định sẵn và một số khăn lau, khăn
mặt, khăn trải bàn, khăn quàng cổ, chăn, v.v... với những sợi dọc,
sợi ngang ở biên không được dệt mà được cắt để tạo thành diềm.
Những mặt hàng như vậy có thể được dệt riêng biệt trên khung dệt,
hay cũng có thể được cắt một cách đơn giản dọc theo chiều dài
của tấm vải dài mà những tấm vải đó đã có sẵn cạnh biên với
những sợi không được dệt để tạo thành tua ở mép biên (thường là
những sợi dọc) với những khoảng cách đều đặn. Độ dài của các
tấm vải dệt từ những mặt hàng làm sẵn được mô tả ở trên có thể
nhận được bằng cách đơn giản là cắt các sợi phân chia thì cũng
được coi như mặt hàng “hoàn thiện”.
Tuy nhiên, những mặt hàng hình chữ nhật (kể cả hình vuông) được
cắt một cách đơn giản ra từ những tấm lớn hơn mà chưa gia công
tiếp các công đoạn khác hay chưa tạo viền mép bằng cách cắt các
sợi phân chia thì không được coi là “ dạng hoàn thiện” với nghĩa
của Chú giải này. Thực tế cho thấy rằng những mặt hàng này có
thể được sắp xếp hay đưa vào đóng gói (ví dụ: để bán lẻ) thì cũng
không ảnh hưởng tới sự phân loại của nó.
(3) Cắt theo cỡ và có ít nhất một cạnh được làm kín bằng nhiệt mà
đường viền được nén hoặc vuốt thon nhận ra dễ dàng và các cạnh
khác được xử lý như đã mô tả trong phần khác bất kỳ của Chú giải
này, nhưng trừ các vải có các mép đã được làm cho khỏi sổ bằng
cách cắt nóng hoặc bằng các phương pháp đơn giản khác.
(4) Đã viền hoặc cuốn mép hay đính tua thắt nút (có hay không kết
hợp với đường chỉ thêm) ở bất kỳ các cạnh nào (ví dụ: khăn tay
với đường viền hay khăn trải bàn có đính tua thắt nút) nhưng trừ
những loại vải dệt có mép cắt được làm cho khỏi xổ sợi bằng cách
khâu vắt hoặc bằng các cách đơn giản khác.
(5) Cắt theo cỡ và được gia công bằng cách rút chỉ. Về vấn đề này
thì “gia công bằng cách rút chỉ” đơn giản có nghĩa là rút những sợi
ngang hay sợi dọc sau khi dệt mà không làm thêm các công đoạn
nào khác trên vải dệt (ví dụ như thêu). Những tấm vật liệu đã được
xử lý đó thường dùng để sản xuất vải lót.
(6) Được ghép bằng cách khâu may, dán dính hay bằng cách khác.
Những mặt hàng này có nhiều loại, kể cả quần áo. Tuy nhiên, cần
chú ý rằng các loại hàng dệt có thể bao gồm hai hay nhiều đoạn có
chiều dài khác nhau của cùng một loại nguyên liệu giống nhau
được nối với nhau, hoặc từ hai hay nhiều lớp vật liệu dệt được
ghép thành lớp, thì không được coi là đã “hoàn thiện”. Kể cả các
sản phẩm dệt ở dạng tấm có một hoặc nhiều lớp vật liệu dệt nhồi
được ghép lại bằng cách khâu hay bằng cách khác.
Dệt kim hoặc móc thành các hình dạng, ở dạng các sản phẩm
riêng biệt hoặc thể hiện ở dạng tập hợp một số chi tiết sản phẩm
theo độ dài.
Chú giải Phân nhóm.
Các sản phẩm từ Chương 56 đến 63 có bề mặt tuyết nhung hay bề
mặt tạo vòng
Các điều khoản của Chú giải Phân nhóm 2 (B) (b) Phần XI áp dụng cho
vải nền dù có hay không thể quan sát được một phần trên bề mặt có tuyết
nhung hoặc vòng lông.
(III) CÁC SẢN PHẨM DỆT KẾT HỢP VỚI CHỈ CAO SU
Theo Chú giải 10 của Phần này, các sản phẩm có tính đàn hồi bao gồm
vật liệu dệt kết hợp với chỉ cao su đã được phân loại ở Phần XI.
Chỉ cao su và sợi (cord) cao su, được bọc bằng vật liệu dệt nằm trong
nhóm 56.04.
Những sản phẩm dệt khác được kết hợp với chỉ cao su tuỳ theo từng
trường hợp, được phân loại chi tiết trong các Chương từ 50 đến 55, 58
hay 60 đến 63.
(IV) MẶT HÀNG DỆT MAY KẾT HỢP CÁC THÀNH PHẦN HÓA
HỌC, CƠ KHÍ HOẶC ĐIỆN TỬ
Theo mục đích của Chú giải 15 của Phần này, hàng dệt, may và các mặt
hàng dệt khác, kết hợp các thành phần hóa học, cơ khí hoặc điện tử để
tạo thêm chức năng, cho dù được kết hợp dưới dạng các thành phần tích
hợp hoặc bên trong sợi hoặc vải, được phân loại theo các nhóm tương
ứng trong Phần XI, với điều kiện là chúng vẫn giữ được đặc tính cơ bản
của hàng hóa thuộc Phần này. Các mặt hàng dệt may có thể mặc được
hoặc không. Chúng bao gồm, ví dụ:
- Quần áo có tích hợp đèn LED và/hoặc thiết bị âm thanh;
- Quần áo có tích hợp tai nghe có khung chụp qua đầu, kể cả ổ cắm cho
điện thoại di động hoặc vật phẩm tương tự;
- Quần áo có tích hợp thiết bị theo dõi chức năng cơ thể (ví dụ, áo lót thể
thao có chức năng theo dõi nhịp tim và nhiệt độ);
- Thảm có khả năng phát hiện áp lực hoặc chuyển động (phát hiện người
nằm xuống hoặc phát hiện ngã);
- Găng tay hoặc tất giữ nhiệt;
- Lớp phủ tường chống động đất, đôi khi được gọi là 'giấy dán tường
chống động đất', tích hợp các thành phần điện tử, như cảm biến quang
học hoặc sợi quang, và được sử dụng trong xây dựng hoặc cải tạo các tòa
nhà để gia cố và giám sát các công trình được xây dựng; và
- Vải địa kỹ thuật có gắn cảm biến hoặc sợi quang tích hợp hoàn toàn
nhằm mục đích đo mức độ biến dạng và sức căng gây ra bởi, ví dụ, việc
đào đất.
(V) MÔI TRƯỜNG TIÊU CHUẨN ĐỂ ĐIỀU HÒA VÀ THỬ
NGHIỆM VẬT LIỆU DỆT
(A) Phạm vi và lĩnh vực áp dụng:
Các đặc điểm và sự sử dụng của các môi trường tiêu chuẩn cho
việc điều hoà và xác định các tính chất vật lý và cơ học của vật
liệu dệt được đưa ra ở sau đây để hướng dẫn.
(B) Các định nghĩa:
(a) Độ ẩm tương đối: Tỷ lệ giữa áp suất hơi nước thực trong khí
quyển với áp suất hơi bão hoà ở cùng nhiệt độ. Tỷ lệ này
thường được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm.
(b) Môi trường điều hòa tiêu chuẩn: Một môi trường có độ ẩm
tương đối là 65% và nhiệt độ là 20ºC.
(c) Môi trường điều hòa cho thử nghiệm: Một môi trường có độ
ẩm tương đối là 65% và nhiệt độ là 20ºC.
CHÚ Ý -Tính từ “điều hòa” như được sử dụng ở trên được lựa
chọn để giới hạn việc sử dụng trong công nghiệp dệt.
(C) Điều hoà sơ bộ.
Trước khi đưa vật liệu dệt vào điều hoà thì có thể cần phải điều
hoà sơ bộ. Vì vậy, vật liệu dệt sẽ được làm cân bằng trong một môi
trường có độ ẩm tương đối từ 10 đến 25% và nhiệt độ không được
vượt quá 50oC.
Các điều kiện trên cũng có thể đạt được bằng cách đốt nóng không
khí ở độ ẩm tương đối là 65% và nhiệt độ từ 20oC tới 50oC.
(D) Điều hoà.
Trước khi vật liệu dệt được thử nghiệm để xác định tính chất vật
lý và cơ học, mẫu sẽ được điều hoà bằng cách đưa nó vào môi
trường điều hoà tiêu chuẩn để thử nghiệm, bằng cách như vậy, các
dòng không khí được thổi tự do qua mẫu (vật liệu dệt) và giữ nó ở
đó cho tới thời gian yêu cầu để đạt được cân bằng đối với môi
trường.
Trừ khi có cách khác quy định trong phương pháp thử, vật liệu dệt
phải được xem xét trong trạng thái cân bằng khi, cách khoảng 2
giờ, việc cân liên tục mẫu để phơi ra trước luồng không khí di
chuyển cho thấy không có sự thay đổi hơn 0,25% trọng lượng giữa
hai lần cân.
(E) Thử nghiệm.
Trừ các trường hợp đặc biệt (ví dụ: các phép thử ướt) các phép thử
về cơ học và vật lý của vật liệu dệt được tiến hành trong trạng thái
đã được điều hoà trong môi trường điều hòa tiêu chuẩn để thử
nghiệm.
Chương 50
Tơ tằm
TỔNG QUÁT
Khi đọc các Chú giải của Chương này cần phải kết hợp xem xét với
Chú giải Tổng quát của Phần XI.
Theo mục đích của Chương này thuật ngữ “tơ tằm” bao gồm không chỉ
là chất sợi được tiết ra bởi con tằm nuôi bằng lá dâu (Bombyx Mori) mà
còn là những chất được tiết ra từ những con côn trùng tương tự (ví dụ,
Bombyx Textor) được biết tới như là tơ tằm dại. Trong số các loài côn
trùng hoang dại gọi như vậy chỉ vì chỉ có một số rất ít loài được thuần
hoá cho ta sản phẩm tơ, trong đó quan trọng nhất là tơ tussah thu được từ
một loại tơ tằm nuôi bằng lá sồi. Tơ nhện và tơ biển (những loại sợi tơ ở
các loài sò hến thuộc họ Pinna bám trên các mỏm đá) cũng được phân
loại trong Chương này.
Nói chung, Chương này bao gồm tơ, kể cả các vật liệu dệt đã được phân
loại như tơ, ở các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, từ vật liệu
thô cho tới sản phẩm dệt. Chương này cũng bao gồm cả tơ từ ruột con
tằm.
50.01 - Kén tằm phù hợp dùng làm tơ.
Nhóm này chỉ áp dụng cho những loại kén có thể quay tơ cho loại tơ thô
như đã phân loại trong nhóm 50.02, loại trừ kén không quay tơ được
(nhóm 50.03).
Kén tằm thường có màu trắng bạc, vàng tươi hay đôi khi có màu xanh lá.
50.02 - Tơ tằm thô (chưa xe).
Tơ tằm thô này thu được bằng việc kéo sợi từ kén. Trong thực tế, vì
những sợi filament hình thành trên mỗi kén rất mịn, đẹp nên tơ tằm thô
thu được bằng cách kết hợp nhiều sợi tơ đơn (thông thường 4 đến 20)
the raw silk (grège) is obtained by combining several filaments (usually
trong quá trình kéo sợi; những sợi này dính chặt vào nhau sau khi kéo
bởi một lớp gôm (sericin) đã có sẵn bao phủ bên ngoài các sợi đó.
Những sợi tơ tằm thô tự quấn vào nhau trong quá trình kéo sợi cho một
kết cấu phẳng làm thoát phần lớn lượng nước trong sợi và bù đắp sự yếu
kém trong các sợi filament đơn lẻ; quá trình này thường xuyên dẫn tới
các sợi thu đuợc có một độ xoắn nhất định. Mặc dù vậy độ xoắn của sợi
chỉ rất nhẹ và sợi thô ở giai đoạn này không thể lẫn với những sợi xe đơn
của nhóm 50.04.
Tơ thô luôn có màu trắng bạc, vàng tươi hay đôi khi có màu xanh lá.
Nhóm này cũng bao gồm cả tơ đã được tẩy rửa (nghĩa là: rửa bằng nước
xà phòng nóng hay dung dịch alkalis loãng, v.v....) đã nhuộm màu nhưng
chưa xe. Tơ sống này luôn được đóng gói hoặc trong các ống chỉ hình
nón, hoặc cuốn thành cuộn những trọng lượng khác nhau và được bó
thành nút lỏng.
Loại trừ tơ đã xe (nhóm 50.04).
50.03 - Tơ tằm phế phẩm (kể cả kén không thích hợp để quay tơ, xơ
sợi phế liệu và xơ sợi tái chế).
Nhóm này bao gồm phế liệu tơ ở tất cả các dạng, trong dạng thô chưa
gia công hoặc ở các giai đoạn khác nhau của chế biến trước khi chuyển
hoá thành sợi. Bao gồm :
(A) Phế liệu thu được từ nguyên liệu thô nghĩa là:
1) Những kén không thích hợp để quay tơ: Những kén đã bị
thủng hay rách (những hư hại này có thể do sâu bướm hay bởi
các ký sinh trùng hay do các trường hợp nguyên nhân khác) với
sợi bị đứt; những kén quá xấu gây hư hỏng sợi, mặc dù chưa bị
đứt, nhưng nó sẽ bị đứt tại các điểm bị hư trong quá trình kéo sợi;
những kén bị biến màu, hay bị bẩn dù có hay không có nhộng
bên trong ...
2) Blazes: Đây là những lưới tơ, được hình thành bởi những sợi
thưa, rối bao bên ngoài kén tằm để giữ nó trên cành cây ; những
lưới này thường dính cả lá vụn hay các mẩu cành cây khác.
(B) Phế liệu thu được từ quá trình ươm tơ:
1) Frisons (Tơ sồi) thuật ngữ này thường để chỉ những sợi tơ thô
bao quanh bên ngoài kén, đầu tiên nó được loại bỏ bằng cách
chải bằng bàn chải và sau đó được cắt ra khỏi các kén, để lại
phần của kén có thể quay tơ được. Những sợi dạng này được bán
như những cuộn tơ rối hay dùng để buộc sợi.
2) Những kén bị lỗi và bị loại trong quá trình ươm tơ (đôi khi được
biết như là «bassinés»)
3) «Pelettes» hoặc «telettes»: ví dụ : phần sợi không thể quay tơ tạo
thành phía trong kén hay vẫn bám quanh con nhộng và
«Pelades» thu được từ quá trình ngâm « Pelettes » trong nước
ấm, lấy ra khỏi con nhộng và phơi khô.
(C) Sợi xe bị đứt hoặc bị nút hoặc những cụm rối của sợi thô hay sợi
xe thu được từ phế liệu trong quá trình kéo sợi, quay tơ hoặc dệt.
(D) Những sản phẩm làm ra từ những phế liệu tơ ở các quá trình gỡ
và chải (ở một số quốc gia sản phẩm này gọi là “schappe”).
Những sản phẩm này thường ở dạng những tấm khăn trải hay những
tấm nối, nhưng ở giai đoạn cuối của quá trình gia công, chúng sẽ
được chuyển thành những dải hẹp hơn hay dạng dây, hay dạng
những dây thừng (cúi hoặc sợi thô). Những dạng nêu trên mà chưa
được xe thành sợi cũng thuộc nhóm này. Sản phẩm ở đây bao gồm cả
những sợi được kéo rất mảnh có độ dày xấp xỉ 1 sợi đơn và luôn
được xoắn chặt, không thể lẫn với sợi ở nhóm 50.05.
(E) Tơ vụn.
Tơ vụn đuợc lấy ra trong khi chải các phế liệu liên quan tới phần (D)
ở trên. Tơ vụn này có chất lượng kém hơn tơ đã giới thiệu ở phần
(D) những sợi của nó ngắn hơn và không thể chải thêm được, nhưng
có thể đưa nó trở lại các quá trình xe sợi khác. Tơ vụn được gia công
theo cách này vẫn thuộc nhóm này miễn là nó không thể đạt tới giai
đoạn sợi xe.
process (sometimes known as “ bassinés ”).
(F) Chải kỹ:
Đây là những sợi rất ngắn bỏ đi trong quá trình chải sạch tơ vụn.
(G) Tơ tái chế :
Tơ này thu được từ việc xé vải rách, vải vụn hay các phế liệu khác và
mảnh vụn của vải hoặc các sản phẩm của tơ thành các sợi.
Nhóm này không bao gồm :
(a) Mền xơ, bông (nhóm 30.05 hoặc 56.01)
(b) Xơ vụn và bụi xơ và kết xơ từ công nghiệp dệt, bằng tơ (nhóm
(c) Tơ vụn (Chương 63).
50.04 - Sợi tơ tằm (trừ sợi kéo từ phế liệu tơ tằm) chưa đóng gói để
bán lẻ.
Nhóm này áp dụng cho tơ xe, tức là những sợi thu được bởi việc xoắn
hai hay nhiều sợi tơ thô của nhóm 50.02.
Mặc dù vậy chúng bị loại trừ nếu đã được đóng gói để bán lẻ (nhóm
50.06) hay trong phạm vi định nghĩa của sợi xe, chão bện...(nhóm
56.07) xem các mục (I) (B) (2) và (3) của Chú giải tổng quát Phần XI.
Sợi trong nhóm này khác với sợi xe từ phế liệu tơ đã được phân loại
trong nhóm tiếp theo mà trong đó nó ở dạng những sợi liên tục. Có nhiều
loại khác nhau, bao gồm:
(1) Các sợi đơn (đôi khi được biết như là poils) thu được bởi quá trình
xoắn 1 sợi chỉ tơ thô đơn. Những sợi đã được xoắn chặt dạng này
được gọi là sợi nhiễu, mousselines hoặc sợi the xoắn.
(2) Sợi khổ thu được bằng cách xoắn lỏng hai hay nhiều sợi chỉ tơ thô
chưa xe; những sợi này được sử dụng như những sợi dệt ngang.
called crêpe poils, mousselines or chiffon twist.
(3) “Sợi nhiều xoắn” là sợi khổ được xoắn chặt.
(4) “Sợi dọc tơ tằm“ thu được từ hai hay nhiều sợi chỉ tơ thô đã được
xoắn thành 1 sợi bằng cách chập đôi để xoắn ngược lại. Sợi tơ xe đôi
là sợi tơ xe 2 lần được xoắn chặt. Những sợi này phần lớn được sử
dụng như sợi dệt dọc.
Tất cả những sợi này có thể là những sợi được khử màu hoặc hoàn thiện.
Nhóm này loại trừ chỉ giả catgut làm bằng tơ tằm của nhóm 56.04.
(3) “Crêpe twist”, generally a hard-twisted tram.
50.05 - Sợi kéo từ phế liệu tơ tằm, chưa đóng gói để bán lẻ.
Nhóm này bao gồm những sợi đơn được gia công bởi quá trình xe tơ vụn
hay các phế liệu khác của tơ của nhóm 50.03; cũng bao gồm cả sợi xe
được gia công từ những sợi đơn lẻ này.
Tuy nhiên chúng bị loại trừ nếu đã được đóng gói để bán lẻ (nhóm
50.06) hoặc nếu nằm trong định nghĩa của sợi xe, chão bện, v.v... (nhóm
56.07) (xem Phần (I) (B) (2) và (3) của Chú giải tổng quát Phần XI).
(A) Sợi tơ được kéo từ phế liệu tơ cắt ngắn trừ tơ vụn.
Không như những sợi tơ ở nhóm trước, sợi tơ từ phế liệu tơ (trừ tơ
vụn) được hình thành từ những sợi nối. Những sợi thô này có thể
dài tới 20cm nằm song song trong sợi, do vậy những sợi này có bề
mặt nhẵn, mượt như tơ và tương đối bóng; những đặc điểm trên để
phân biệt loại sợi tơ này với sợi xe từ tơ vụn.
(B) Sợi tơ kéo từ tơ vụn.
Sợi tơ vụn có chất lượng thấp hơn nhiều so với sợi phế liệu tơ;
chúng bao gồm các sợi có độ dài khác nhau và thường dưới 5cm; do
vậy những sợi này chỉ được chải thô chứ không chải kỹ, chúng hơi
rối vụn và gây ra những nút thắt nhỏ ở những khoảng nối. Sợi tơ từ
tơ vụn không có độ bền và tính cân đối của sợi tơ kéo từ tơ vụn và
có bề mặt khá đơn điệu.
Nhóm này cũng bao gồm những sợi đã được gia công như mô tả trong
mục (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát Phần XI.
Nhóm này loại trừ chỉ giả catgut bằng tơ tằm của nhóm 56.04.
50.06 - Sợi tơ tằm và sợi kéo từ phế liệu tơ tằm, đã đóng gói để bán
lẻ; ruột con tằm.
(A) Sợi tơ và sợi tơ được kéo từ phế liệu tơ.
Nhóm này bao gồm sợi của các nhóm 50.04 và 50.05 đã đóng gói
cho bán lẻ, tức là ở trong các dạng và phù hợp với điều kiện đã mô
tả trong mục (I) (B) (3) của Chú giải Tổng quát Phần XI.
(B) Tơ từ ruột con tằm.
Tơ từ ruột con tằm thu được bởi việc rút và kéo các tuyến tơ của
con tằm được giết bằng cách ngâm chúng vào dung dịch axit axetic
loãng ở giai đoạn khi mà chúng đã sẵn sàng cho các kén để quay tơ.
Tơ từ ruột con tằm thì ít mềm dẻo và bóng hơn lông ngựa, hiếm khi
có độ dài lớn hơn 50cm.
Nhóm này không bao gồm :
(a) Ruột tằm vô trùng (nhóm 30.06).
(b) Chỉ giả catgut bằng tơ tằm (nhóm 56.04).
(c) Tơ ruột tằm gắn lưỡi câu làm thành dây câu cá (nhóm 95.07).
50.07 - Vải dệt thoi dệt từ tơ tằm hoặc từ phế liệu tơ tằm (+).
5007.10 - Vải dệt thoi từ tơ vụn
5007.20 - Các loại vải dệt thoi khác, có hàm lượng tơ hoặc
phế liệu tơ tằm ngoại trừ tơ vụn chiếm 85% trở
lên tính theo khối lượng:
5007.90 - Vải dệt khác
Nhóm này cũng bao gồm các loại vải dệt (như đã chỉ rõ ở mục (I)
(C) của Chú giải tổng quát Phần XI làm từ sợi tơ hay từ tơ vụn hay
sợi phế liệu tơ.
Bao gồm :
(1) Vải Habutai, Sơn Đông, Tuytso và Viễn Đông khác.
(2) Crếp
(3) Hàng dệt mỏng như muslin, sa, voan.
(4) Hàng dệt dầy như vải Taphota, satanh, lụa phay, moa rê và hàng dệt
Đamat.
Những nhóm này không bao gồm hàng dệt của các Chương 57 đến 59
(vải dùng để rây sàng của nhóm 59.11).
Chú giải phân nhóm
Phân nhóm 5007.20
Phân nhóm 5007.20 chỉ bao gồm các loại vải dệt thoi có tỷ trọng tơ hoặc
phế liệu tơ từ 85% trở lên, ngoại trừ tơ vụn; tơ vụn không được tính
trong phần 85%.
(2) Crêpes.
(4) Tightly-woven fabrics such as taffetas, satins, faille, moiré and
Chương 51
Lông cừu, lông động vật loại mịn hoặc loại thô; sợi từ lông đuôi hoặc
bờm ngựa và vải dệt thoi từ các nguyên liệu trên
Chú giải.
1 - Trong toàn bộ Danh mục :
(a) "Lông cừu" là lông xơ tự nhiên mọc từ con cừu non hoặc con cừu
trưởng thàn
(b) "Lông động vật loại mịn" là lông của dê alpaca, lông lạc đà
không bướu llama, lông lạc đà không bướu vicuna, lông lạc đà
(kể cả lông lạc đà một bướu), lông bò Tây Tạng, lông dê Angora,
lông dê Tibetan, lông dê Ca-sơ-mia hoặc lông của các loại dê
tương tự (trừ loại dê thông thường), lông thỏ (kể cả lông thỏ
Angora), lông thỏ rừng, lông hải ly, lông chuột hải ly hoặc lông
chuột nước;
(c) "Lông động vật loại thô" là lông của các loại động vật không kể ở
trên, trừ lông cứng và lông dùng làm bàn chải (nhóm 05.02) và
lông đuôi hoặc bờm ngựa (nhóm 05.11).
TỔNG QUÁT
Khi đọc các Chú giải của Chương này thì phải kết hợp xem xét cả
Chú giải Tổng quát Phần XI .
Nhìn chung, Chương này bao gồm lông cừu, lông động vật loại mịn hoặc
thô bao gồm những loại vật liệu dệt hỗn hợp trong đó đã được phân loại
như lông cừu hoặc lông động vật, ở các giai đoạn khác nhau từ những vật
liệu thô cho tới khi thành những tấm vải dệt. Chương này cũng bao gồm cả
sợi và vải làm từ lông bờm ngựa hoặc lông đuôi ngựa nhưng loại trừ lông
bờm hoặc lông đuôi ngựa và các phế liệu của nó ở nhóm 05.11. Như đã
trình bày ở Chú giải 4 Chương 5, cụm từ “lông đuôi ngựa, lông bờm ngựa”
nghĩa là lông ở bờm hay ở đuôi của ngựa hay động vật họ trâu bò.
51.01 - Lông cừu, chưa chải thô hoặc chải kỹ.
- Nhờn, kể cả lông cừu đã rửa sạch:
5101.11 - - Lông cừu đã xén
5101.19 - - Loại khác
- Đã tẩy nhờn, chưa được carbon hóa:
5101.21 - - Lông cừu đã xén
5101.29 - - Loại khác
5101.30 - Đã được các bon hoá
Trong toàn bộ Danh mục, “lông cừu” là lông xơ tự nhiên mọc từ con
cừu trưởng thành hoặc con cừu non. Sợi lông cừu về cốt yếu gồm chất
sừng protein và có đặc điểm riêng là có vẩy trên bề mặt. Sợi lông cừu có
độ đàn hồi, có khả năng hút ẩm lớn (hấp thụ hơi ẩm từ không khí) và
thông thường nó có những tính chất giống như nỉ. Lông cừu hầu như là
không dễ cháy nhưng khi đốt cháy thành than, nó có mùi như mùi chất
sừng cháy.
Nhóm này bao gồm lông cừu trưởng thành hay lông cừu non chưa chải
thô hoặc chải kỹ, thu được từ việc xén lông ở trên con vật sống hay từ da
động vật chết hay xén từ những tấm da có lông hay nhổ khỏi tấm da sau
khi đã lên men hay cho xử lý hoá chất phù hợp (ví dụ: lông cừu đã được
nhổ, lông cừu xén hay da cừu còn lông).
Lông cừu chưa chải thô và chưa chải kỹ thường ở dạng:
(A) Nhờn, kể cả lông cừu đã rửa sạch.
Lông cừu còn dính nhờn là lông cừu chưa được rửa hoặc làm sạch
bằng cách khác; do vậy, nó vẫn còn dính chất nhờn và chất béo
ngấm từ bản thân con vật và có thể còn dính cả một số lượng những
chất bẩn khác (tạp chất thực vật, các hạt, đất,...). Lông cừu xén dính
mỡ thường ở dạng “mỡ lông cừu” có nhiều hay ít những viền của
Lông cừu được nhổ khỏi những tấm da cừu bởi quá trình lên men
(“hấp hơi”), trong đó các sợi lông và da chịu một tác động kép về
nhiệt và độ ẩm khi ủ. Lông cũng có thể lấy ra bằng phương pháp
làm rụng lông trong đó người ta cho bề mặt có thịt của da được xử
lý với Natri sulphide hay dung dịch nước vôi. Lông cừu như vậy có
thể nhận ra do vẫn còn chân lông.
Lông cừu đã rửa sạch là lông cừu đã rửa bằng nước lạnh khi vẫn
còn trên con vật hay trước khi nhổ khỏi tấm da. Nó vẫn chưa sạch
hoàn toàn.
Lông cừu còn dính nhờn thường có màu vàng nhạt. Đôi khi có màu
xám, đen, nâu hay nâu đỏ.
(B) Lông cừu đã tẩy nhờn, chưa được carbon hoá.
Loại này bao gồm :
(1) Lông cừu đã rửa bằng nước nóng, loại lông này chỉ được rửa
bằng nước nóng và được loại bỏ phần lớn các chất nhờn và đất.
(2) Lông cừu đã tẩy: Là lông mà lượng chất nhờn bám vào đã
được tẩy hoàn toàn trong quá trình rửa bằng nước nóng hoặc xà
phòng hay bằng các dung dịch tẩy rửa khác hoặc dung dịch
kiềm.
(3) Lông đã được xử lý với các dung môi dễ bay hơi (như là
benzen và carbon tetrachloride) để tẩy nhờn.
(4) Lông đóng băng: Lông cừu được đưa vào nơi có nhiệt độ đủ
thấp để mỡ đóng băng. Lớp nhờn này sau đó ở trạng thái dễ vỡ
và có thể rũ ra khỏi lông cừu cùng với phần lớn những tạp chất
tự nhiên khác bám vào lông cừu bởi lớp mỡ.
Những bộ lông cừu đã được khử nhờn và rửa sạch vẫn còn chứa
một lượng nhỏ mỡ và chất có nguồn gốc thực vật (tạp chất thực
vật, các hạt, v.v...); những chất có nguồn gốc thực vật này sẽ
được loại bỏ cơ học ở giai đoạn sau (xem Chú giải nhóm 51.05)
hay bởi phương pháp carbon hóa.
(C) Lông cừu đã được carbon hoá:
Quá trình carbon hoá sẽ loại bỏ những chất (có nguồn gốc thực vật)
vẫn còn bám ở lông cừu như đã đề cập ở phần (B) trên. Lông cừu
thường được ngâm vào chậu có chứa các axit vô cơ hay muối axit,
nó sẽ phân huỷ các chất có nguồn gốc thực vật mà không làm ảnh
hưởng tới các sợi lông.
Tẩy trắng, nhuộm màu hay các quá trình khác trước khi chải sạch hay
chải sóng không ảnh hưởng tới quá trình phân loại lông cừu trong nhóm
này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Da sống đã hay chưa bị tách bao gồm cả những tấm da cừu vẫn
còn lông (nhóm 41.02 hay 43.01).
(b) Phế liệu lông cừu của nhóm 51.03 hay lông cừu tái chế nhóm
(c) Lông cừu chải kỹ dạng từng đoạn (nhóm 51.05).
51.02 - Lông động vật loại thô hoặc mịn, chưa chải thô hoặc chải
kỹ (+).
- Lông động vật loại mịn:
5102.11 - - Của dê Ca-sơ-mia (len ca-sơ-mia)
5102.19 - - Loại khác
5102.20 - Lông động vật loại thô
(1) Trong toàn bộ danh mục, cụm từ “ Lông động vật loại mịn” là lông
của dê alpaca, lông lạc đà không bướu llama, lông lạc đà không
bướu vicuna, lông lạc đà (kể cả lông lạc đà một bướu), lông bò Tây
Tạng, lông dê Angora, lông dê Tibetan, lông dê Ca-sơ-mia hoặc
lông của các loại dê tương tự, lông thỏ (kể cả lông thỏ Angora),
lông thỏ rừng, lông hải ly, lông chuột hải ly hoặc lông chuột nước
(Xem Chú giải 1 (b) của Chương).
Lông động vật loại mịn thường là mềm và ít quăn hơn lông cừu.
Lông của dê alpaca, lông lạc đà không bướu llama, lông lạc đà
không bướu vicuna, lông lạc đà (kể cả lông lạc đà một bướu), lông
bò Tây Tạng, lông dê Angora, lông dê Tibetan, lông dê Ca-sơ-mia
hoặc lông của các loại dê tương tự, lông thỏ Angora nhìn chung có
thể xe thành sợi như xe lông cừu; loại lông này cũng được sử dụng
làm tóc giả, tóc búp bê. Lông động vật loại mịn khác (lông thỏ rừng,
lông thỏ, lông hải ly, lông chuột hải ly hoặc lông chuột nước)
thường không phù hợp để xe sợi nên dùng để sản xuất phớt, đệm,
sản phẩm nhồi, v.v....
(2) Trong toàn bộ danh mục, cụm từ “ Lông động vật loại thô” nghĩa là
lông của tất cả các loài không đề cập trong phần (1) ở trên, ngoại
trừ lông cừu (nhóm 51.01), lông đuôi hay bờm của các loài ngựa
hay động vật họ trâu bò đã phân loại như “ lông bờm, đuôi ngựa”
nhóm 05.11), lông lợn, lông cứng, tóc hoặc lông làm bàn chải khác
(nhóm 05.02) (xem Chú giải 1 (c) của Chương này).
Lông động vật loại thô được phân loại ở đây bao gồm lông phía
sườn của bò, ngựa và các loài dê, chó, khỉ hay rái cá nói chung.
Lông động vật loại thô nói chung được sử dụng làm những sợi thô
hay vải dệt thoi, phớt hay thảm, đệm, làm len hay cho các mục đích
nhồi.
Lông động vật thu được từ việc thu thập lông rụng, lông xén, lông nhổ
từ các tấm phớt, v.v... và bao gồm ở nhóm này chỉ là lông chưa được
chải sạch hay chải sóng và quá trình phân loại không ảnh hưởng bởi đã
được tẩy trắng, nhuộm màu giặt hay làm xoăn nhân tạo (hoạt động cuối
cùng này áp dụng chủ yếu cho lông động vật thô để nhồi).
Nhóm này không bao gồm :
(a) Tóc người (nhóm 05.01)
(b) Da sống và da lông sống (các nhóm từ 41.01 đến 41.03 hay
(c) Phế liệu lông động vật loại mịn hoặc thô (nhóm 51.03).
(d) Lông động vật loại mịn hoặc thô tái chế (nhóm 51.04)
(e) Lông động vật loại mịn hoặc loại thô, đã được chải thô hoặc chải
kỹ (nhóm 51.05)
(f) Lông động vật loại mịn hoặc thô được chế biến để sử dụng làm
tóc giả hay sản phẩm tương tự (nhóm 67.03).
Chú giải Phân nhóm.
Phân nhóm 5102.11
Theo mục đích của phân nhóm 5102.11, khái niệm “của các loại dê
Kashmir (ca-sơ-mia)” có nghĩa là lông mềm mịn của lớp lông tơ của
lông dê có nguồn gốc từ Kashmir nhưng ngày nay được nuôi ở một vài
vùng khác trên thế giới. Theo mục đích của phân nhóm này, những vùng
mà loài động vật được nuôi thì không ảnh hưởng đến việc phân loại.
51.03 - Phế liệu lông cừu hoặc lông động vật loại mịn hoặc loại thô,
kể cả phế liệu sợi nhưng trừ lông tái chế.
5103.10 - Xơ vụn từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn.
5103.20 - Phế liệu khác từ lông cừu hoặc từ lông động vật
loại mịn.
5103.30 - Phế liệu từ lông động vật loại thô.
Nói chung nhóm này bao gồm tất cả các loại phế liệu (trừ lông tái chế)
của lông cừu hay phế liêụ lông động vật loại mịn hay loại thô tức là phế
liệu thu được trong các quá trình gia công liên tiếp biến cải lông cừu,
lông động vật ở dạng thô thành các sản phẩm đã được rửa, chải thô, chải
kỹ, xe sợi, dệt, đan, v.v...
Những phế liệu chủ yếu ở đây bao gồm :
(1) Các phế liệu trong quá trình chải thô, chải kỹ hay các quá trình
chuẩn bị cho xe sợi, như là: những sợi vụn, là phế liệu quan trọng
nhất, gồm những sợi lông ngắn được loại bỏ ra rong quá trình chải
kỹ; tấm nối và sợi ở những mẩu thừa của tấm vải, những mẩu phế
liệu nhỏ của tấm nối đã chải kỹ; phần rìa và hàng phế phẩm đã chải
thô. Những phế liệu thu nhặt trong quá trình chải thô; những sợi thu
nhặt trong quá trình làm sạch con lăn của máy chải và được biết như
những dải vải vụn.
(2) Phế liệu sợi: như những sợi bị đứt, sợi rối, sợi bị thắt nút được thu
nhặt trong quá trình xe sợi, chập sợi, kéo sợi, dệt, đan, v.v...
(3) Các phế liệu như là những phế liệu trong quá trình phân loại, phế
liệu trong quá trình giặt, lấy ra từ đáy bồn hay từ các tấm lưới chắn
của máy giặt.
(4) Phế liệu như là lông cừu của các đệm cũ.
Một số phế liệu bị ngâm dầu mỡ từ máy móc hay bị lẫn các rác rưởi tạp
chất (ví dụ như tạp chất tự nhiên có nguồn gốc thực vật). Những phế liệu
này nếu có kiểu cách và chất lượng phù hợp thì sẽ được sử dụng cho việc
xe sợi, nhồi sợi... Sự phân loại ở đây không bị ảnh hưởng bởi các quá
trình như carbon hóa, tẩy trắng, nhuộm màu, v.v...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Phế liệu lông bờm hay đuôi ngựa (nhóm 05.11)
(b) Mền xơ, bông (nhóm 30.05 hay 56.01)
(c) Phế liệu của lông cừu hay lông động vật chỉ phù hợp sử dụng làm
phân bón (Chương 31)
(d) Lông cừu hoặc lông động vật loại mịn hoặc thô tái chế. (nhóm
(e) Phế liệu lông cừu hoặc lông động vật loại mịn hoặc loại thô, đã
chải thô hoặc chải kỹ. (nhóm 51.05).
(f) Xơ vụn và bụi xơ và kết xơ từ công nghiệp dệt (nhóm 56.01).
51.04 - Lông cừu hoặc lông động vật loại mịn hoặc thô tái chế
Nhóm này bao gồm lông cừu hoặc lông động vật dạng thô hay mịn tái
chế, thu được từ vải vụn tái chế của các mặt hàng dệt, đan, v.v...từ
nguyên liệu hay phế liệu của sợi trong các quá trình xe sợi, dệt, đan,
Lông cừu tái chế (lông cừu tái chế hoặc gia công lại) bao gồm :
(1) Hàng thứ phẩm và hàng len dệt từ len vụn thu được bởi việc tái
chế len hay sợi xấu hay vải vụn.
(2) Lông cừu bòn, thu được từ việc tái chế lông cừu còn lại khi thu nhận
những mẩu vải vụn đã xử lý, thường là với axit để loại bỏ những sợi
thực vật (tức là bông) hay những xơ staple tái tạo.
Lông cừu hay lông động vật dạng thô hoặc mịn tái chế trong nhóm này
thường được dùng ngay chính nó để xe thành sợi hay xe với sợi mới và
dùng để dệt hay đan ra các sản phẩm dệt, nỉ phớt, đệm hay dùng cho các
mục đích khác.
Những nguyên liệu tái chế trên dù đã hoặc chưa tẩy trắng hay nhuộm
màu vẫn được xếp vào nhóm này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Mền xơ, bông (nhóm 30.05 hoặc 56.01).
(b) Nguyên liệu tái chế đã được chải thô hay chải kỹ của lông cừu
hay lông động vật dạng mịn hoặc thô (nhóm 51.05).
(c) Xơ vụn và bụi xơ và kết xơ từ công nghiệp dệt (nhóm 56.01).
(d) Vải vụn cũ hoặc mới, chưa tái chế (nhóm 63.10).
51.05 - Lông cừu và lông động vật loại mịn hoặc loại thô, đã chải thô
hoặc chải kỹ (kể cả lông cừu chải kỹ dạng từng đoạn)(+).
5105.10 - Lông cừu chải thô
- Cúi lông cừu chải kỹ (wool tops) và lông cừu chải
kỹ khác:
5105.21 - - Lông cừu chải kỹ dạng từng đoạn
5105.29 - - Loại khác
- Lông động vật loại mịn, đã chải thô hoặc chải kỹ:
5105.31 - - Của dê Ca-sơ-mia (len ca-sơ-mia)
5105.39 - - Loại khác
5105.40 - Lông động vật loại thô, đã chải thô hoặc chải kỹ
Nhóm này gồm có :
(1) Lông cừu và lông động vật loại mịn hoặc loại thô (kể cả phế liệu và
lông tái chế), đã chải thô chuẩn bị cho quá trình xe sợi len dạ.
(2) Lông cừu và lông động vật loại mịn đã chải kỹ sau quá trình “chuẩn
bị” (gilling) hoặc chải thô.
Mục đích của chải thô (tiến hành trên máy chải đặc biệt) là để gỡ rối
những sợi, sắp đặt sợi ít nhiều song song và loại bỏ ra khỏi sợi toàn bộ
hay hầu hết những tạp chất vẫn còn bám vào (hầu hết là thực vật). Các
sợi sau đó được sắp thành các bó (web).
Tuỳ theo yêu cầu của các sản phẩm làm bằng len (những loại mới chỉ
chải thô) mà các bó sợi sẽ được phân chia theo các chiều dài thích hợp,
sau đó được cuộn hay được tách ra ở dạng sợi thô để tăng độ liên kết của
các sợi và để xe sợi được dễ dàng. Những cuộn sợi (slubbing) đuợc
quấn trên các ống chỉ suốt vẫn có thể sử dụng để xe thành sợi len mà
không cần phải xử lý thêm.
Ngược lại, tuỳ theo mục đích của các sản phẩm đã được chải kỹ mà có
thể lựa chọn 1 trong 2 quá trình sau, hoặc là quá trình mà những bó sợi
đã được chải thô thì sẽ được chải kỹ, hoặc là lựa chọn quá trình mà lông
động vật hay lông cừu chưa được chải thô nhưng trước khi chải kỹ phải
trải qua quá trình “chuẩn bị” trong đó sợi được đưa vào máy lược để xử
lý và các sợi lấy ra sẽ ở dạng thẳng.
Trong quá trình chải kỹ, những sợi ngắn sẽ bị loại ra, chủ yếu ở dạng sợi
vụn, trong khi những sợi còn lại sẽ được xắp song song ở dạng một cúi
sợi (sliver). Các tạp chất xenlulo còn lại sẽ bị kéo ra cùng với các sợi
vụn. Cúi sợi (sliver) đã được chải kỹ sau đó đuợc lấy ra và lược lại để
đảm bảo không bị lẫn các sợi có độ dài khác nhau bởi có thể có sợi bị lỗi
trên cuộn sợi, được biết như là “đầu mẩu”. Các loại nguyên liệu chủ yếu
là lông động vật, chúng không ở dạng cuộn tròn mà thường ở dạng cuộn
nén và được ép chặt giữa 2 bản giấy và được gọi là “Bumped Tops”.
Những sợi sau khi đã chải kỹ được kéo và bện ra những sợi thô (roving).
Những sợi bị lỗi trên các ống suốt sẽ được xe thành những sợi len
Nhóm này bao gồm những sợi thô (slubbing), cúi sợi (sliver) đã chải
thô, đầu mẩu sợi và sợi thô (roving) đã đề cập ở trên và cũng bao gồm
những sợi bị gãy gập, sợi đã tỉa hay những sợi thô bị gãy gập đã được
chải thô mà nó được cắt và sắp xếp ở độ dài đều nhau.
Nhóm này cũng bao gồm cả lông cừu rối đã chải kỹ được biết như
“lông cừu tơi đã chải kỹ”, “Lông cừu đã lược sạch” “cúi sợi”. Lông cừu
này, nói chung đã được tẩy sạch là lông cừu mà đã được bạt ba via bằng
máy (quá trình chải thô hay chải kỹ) bằng máy và được sử dụng để xe
sợi. Sau khi lấy ra khỏi máy chải kỹ, tiếp theo sợi được kéo thẳng cho
hết nếp gấp, làm cho mịn và sau đó được đóng kiện. Sản phẩm sợi có độ
dài ngắn (độ dài trung bình là dưới 45mm) chỉ phù hợp cho hệ thống xe
sợi bông hay len nhưng không thể dùng làm sợi len xe. Bởi vậy cần phải
chải thô lại trước khi xe. Nhìn bề ngoài, sợi này giống như lông cừu mịn
đã tẩy sạch và không còn lẫn các chất thực vật trong đó.
Cần phải lưu ý rằng những sợi thô (roving) có thể có đường kính như là
những sợi xe đơn thuộc nhóm 51.06 đến 51.10 cũng có thể đã được
xoắn nhẹ, nhưng vì chưa từng được xe, chúng không làm thành sợi xe và
do đó vẫn thuộc nhóm này.
Các quá trình như tẩy trắng, nhuộm màu không ảnh hưởng tới sự phân
loại các sản phẩm trong nhóm này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Mền xơ, bông (nhóm 30.05 hoặc 56.01)
(b) Lông cừu được chế biến để dùng làm tóc giả hay tương tự (nhóm
Chú giải Phân nhóm
Phân nhóm 5105.31
Các điều khoản của Chú giải Phân nhóm 5102.11 được sửa đổi phù hợp
để áp dụng tương tự với các mặt hàng của phân nhóm này.
51.06 – Sợi len lông cừu chải thô, chưa đóng gói để bán lẻ.
5106.10 - Có hàm lượng lông cừu chiếm từ 85% trở lên tính
theo khối lượng
5106.20 - Có hàm lượng lông cừu chiếm dưới 85% tính theo
khối lượng
Nhóm này bao gồm những sợi len đơn hay những sợi len chập
từ nhiều sợi đơn, thu được từ việc xe những sợi thô của lông cừu đã
chải thô (nhưng chưa chải kỹ). Nhóm này cũng bao gồm cả những
sợi xe đã chải thô và chải kỹ, thu được từ những sợi riêng lẻ đã chải
thô nhưng qua những quá trình xe như đối với sợi đã chải kỹ. Tất cả
những sợi này thường đuợc quấn trên các cuộn sợi hay những suốt
chỉ hình nón.
Nhóm này cũng gồm cả sợi làm từ lông cừu đã chải thô thu được từ lông
cừu rối đã chải kỹ như đã được mô tả trong Chú giải chi tiết của nhóm
Nhóm này loại trừ những sợi đã được đóng gói để bán lẻ (xem các điều
khoản của Phần (I) (B) (3) của Chú giải tổng quát phần XI).
Nhóm này cũng gồm những sợi ngắn hay hỗn hợp cả sợi ngắn và dài mà
không được sắp song song nhưng được để lẫn và đan với nhau. Nhìn
chung, những sợi này ít đều và độ xoắn lỏng hơn là những sợi len xe.
Những sợi này cũng có thể đã trải qua các quá trình như đã đề cập ở
phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát phần XI.
Những sợi xe từ nhiều sợi đơn trong đó có một số được xe từ lông cừu
đã chải thô và 1 số từ lông cừu đã chải kỹ như đã phân loại trong nhóm
51.06 hoặc 51.07 tuỳ lông cừu đã chải thô hay lông cừu đã chải kỹ trội
hơn về trọng lượng.
51.07 - Sợi len lông cừu chải kỹ, chưa đóng gói để bán lẻ.
5107.10 - Có hàm lượng lông cừu chiếm từ 85% trở lên tính
theo khối lượng
5107.20 - Có hàm lượng lông cừu chiếm dưới 85% tính theo
khối lượng
Nhóm này gồm những sợi len xe ở dạng sợi đơn hay sợi chập từ
nhiều sợi đơn thu được qua quá trình xe những sợi thô (roving) từ
lông cừu đã chải kỹ.
Nhóm này loại trừ những sợi trên nếu đã đóng gói để bán lẻ (xem các
điều khoản của Phần (I) (B) (3) của Chú giải tổng quát thuộc Phần XI).
Sợi len xe (worsted yarn) khác với sợi len thường là nó nhẵn và đều; các
sợi lông trong sợi len xe được sắp song song và những sợi lông vụn hay
rối đã bị loại ra bởi quá trình chải kỹ.
Những sợi này có thể trải qua các quá trình đã được đề cập trong Phần
(I) (B) (1) của Chú giải tổng quát Phần XI).
Nhóm này không bao gồm những sợi từ lông cừu đã chải thô thu được
từ lông cừu đã chải kỹ, ở dạng từng đoạn hoặc sợi đã chải thô và chải kỹ
(nhóm 51.06).
51.08 - Sợi lông động vật loại mịn (chải thô hoặc chải kỹ), chưa đóng
gói để bán lẻ.
5108.10 - Chải thô
5108.20 - Chải kỹ
Nhóm này gồm những sợi đơn hoặc sợi xe từ nhiều sợi đơn thu được bởi
quá trình xe những sợi thô (roving) lấy từ lông động vật loại mịn đã chải
thô hay chải kỹ (xem Chú giải chi tiết nhóm 51.02 phần giải thích về
lông động vật loại mịn là loại gì).
Nhóm này loại trừ loại sợi trên nếu đã đóng gói để bán lẻ (xem các điều
khoản của Phần (I) (B) (3) của Chú giải tổng quát Phần XI).
Sợi ở nhóm này phần lớn được sử dụng để sản xuất các mặt hàng dệt
kim hay dệt thoi để may quần áo loại nhẹ (lông alpaca) và áo khoác
ngoài hoặc chăn (lông lạc đà bao gồm cả lạc đà một bướu), làm đồ
nhung hoặc đồ giả lông thú.
Những sợi này có thể đã trải qua các quá trình đã được đề cập trong
Phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát Phần XI.
51.09 - Sợi len lông cừu hoặc lông động vật loại mịn, đã đóng gói để
bán lẻ.
- Có hàm lượng lông cừu hoặc lông động vật loại
mịn chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng
- Loại khác
Nhóm này gồm cả sợi len xe (worsted yarns) hay sợi len thường hay sợi
làm từ lông động vật loại mịn, khi đóng gói để bán lẻ ở các dạng và là
đối tượng đáp ứng các điều kiện như đã mô tả trong Phần (I) (B) (3) của
Chú giải tổng quát Phần XI).
51.10 - Sợi làm từ lông động vật loại thô hoặc từ lông đuôi hoặc bờm
ngựa (kể cả sợi quấn bọc từ lông đuôi hoặc bờm ngựa), đã
hoặc chưa đóng gói để bán lẻ.
Nhóm này bao gồm:
(1) Sợi, dù là sợi đơn hay sợi xe thu được từ quá trình xe sợi thô (roving)
lấy từ lông động vật loại thô (xem Chú giải chi tiết nhóm 51.02
(mục (2)) về giải thích lông động vật loại thô là gì).
Những sợi này được dùng để sản xuất vải dệt thoi nhất định, các lớp
lót hay những mặt hàng phục vụ kỹ thuật.
(2) Sợi xe từ lông đuôi hoặc bờm ngựa thu được qua quá trình xe sợi,
thường là sử dụng lông đuôi hoặc bờm ngựa ngắn hơn (bờm của các
loài ngựa hay đuôi các loài bò). Các sợi lông đuôi dài hơn của các
động vật thuộc họ ngựa không thể kéo thành sợi. Chúng thường được
nối với nhau thành các sợi dài liên tục được sử dụng làm sợi dọc
trong sản xuất một số loại vải nhất định làm từ lông đuôi ngựa. Theo
mục đích sử dụng, những sợi đã nối dài liên tục được phân loại trong
nhóm này. Tuy nhiên, những lông đuôi hoặc bờm ngựa mà chưa
được nối với nhau thì thuộc nhóm 05.11.
Những sợi lông đuôi hoặc bờm ngựa bao gồm một bó lông đuôi hoặc
bờm ngựa được liên kết hoặc được bọc với chỉ bông hoặc với các
nguyên liệu dệt khác được phân loại trong nhóm này.
Những sợi này cũng có thể đã trải qua các quá trình đã được đề cập trong
Phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát Phần XI.
51.11 - Vải dệt thoi từ sợi len lông cừu chải thô hoặc từ sợi lông động
vật loại mịn chải thô.
- Có hàm lượng lông cừu hoặc lông động vật loại
mịn chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng:
5111.11 - - Định lượng không quá 300 g/m2
5111.19 - - Loại khác
5111.20 - Loại khác, pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với sợi
filament nhân tạo
5111.30 - Loại khác, pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với xơ
staple nhân tạo
5111.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các mặt hàng dệt thoi (như đã định nghĩa trong mục
(I) (C) của Chú giải tổng quát Phần XI) làm bằng các sợi xe từ lông cừu
đã chải thô hay lông động vật dạng mịn đã chải thô.
Những mặt hàng dệt này rất đa dạng và bao gồm vải may complê, vải
flannel, vải mềm (molleton) và các loại khác để may quần áo, chăn, hàng
dệt làm đồ trang trí nội thất...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ
(nhóm 30.05).
(b) Vải dệt thoi phục vụ cho kỹ thuật ở nhóm 59.11.
51.12 - Vải dệt thoi từ sợi len lông cừu chải kỹ hoặc từ sợi lông động
vật loại mịn chải kỹ
- Có hàm lượng lông cừu hoặc lông động vật loại
mịn chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng:
5112.11 - - Định lượng không quá 200 g/m2:
5112.19 - - Loại khác
5112.20 - Loại khác, pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với sợi
filament nhân tạo
5112.30 - Loại khác, pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với xơ
staple nhân tạo
5112.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm những mặt hàng dệt thoi (đã định nghĩa trong mục
(I) (C) của Chú giải Tổng quát Phần XI) làm từ sợi được xe từ lông cừu
đã chải kỹ hay lông động vật dạng mịn đã chải kỹ.
Những mặt hàng dệt này rất đa dạng như các mặt hàng dùng để may com-lê
và các vải khác dùng để may quần áo, hàng dệt làm đồ trang trí nội thất...
Nhóm này không bao gồm :
(a) Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ
(nhóm 30.05).
(b) Vải dệt thoi phục vụ cho kỹ thuật trong nhóm 59.11.
51.13 - Vải dệt thoi từ sợi lông động vật loại thô hoặc sợi lông đuôi
hoặc bờm ngựa.
Nhóm này gồm cả vải dệt thoi (như đã chỉ rõ trong mục (I) (C) của Chú
giải Tổng quát Phần XI) làm từ lông động vật dạng thô trong nhóm
51.02 hay từ lông đuôi hoặc bờm ngựa (nhóm 51.10). Mặc dù vậy, các
mặt hàng dệt thoi từ lông đuôi hoặc bờm ngựa có thể dệt từ những sợi
lông đơn của nhóm 05.11.
Các mặt hàng dệt từ lông động vật loại thô được sử dụng làm lớp bọc
trong các đồ nội thất, đồ đạc trong nhà hay kể cả lớp lót áo khoác...
Những mặt hàng dệt từ những sợi lông ngựa đơn thì đuợc dệt trên các
dụng cụ dệt đặc biệt, nhưng nói chung là dệt tay. Tính theo độ ngắn của
sợi lông (từ 20 tới 70 cm), những sản phẩm dệt ra chỉ là những miếng
vải nhỏ và chủ yếu được sử dụng làm cái rây hay giần sàng.
Loại vải làm từ lông ngựa khác thường được sử dụng làm lớp lót trong
quần áo.
Nhóm này không bao gồm các loại vải dệt thoi sử dụng cho kỹ thuật ở
nhóm 59.11.
Chương 52
Bông
Chú giải phân nhóm.
1. Theo mục đích của các phân nhóm 5209.42 và 5211.42, khái niệm
"denim" là vải dệt từ các sợi có các màu khác nhau, kiểu dệt là vân chéo
3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vân chéo gãy, mặt phải của vải có hiệu
ứng dọc, các sợi dọc được nhuộm cùng một màu và sợi ngang là sợi
không tẩy trắng, đã tẩy trắng, nhuộm màu xám hoặc nhuộm màu nhạt
hơn so với màu sợi dọc.
TỔNG QUÁT
Khi đọc Chú giải chi tiết Chương này cần phải kết hợp xem xét với
Chú giải tổng quát của Phần XI.
Nói chung, Chương này đề cập tới các loại sợi bông ở các giai đoạn khác
nhau của sự chuyển hoá từ nguyên liệu thô thành các loại vải dệt thoi và bao
gồm cả các nguyên liệu dệt hỗn hợp đã được phân loại như bông.
52.01 - Xơ bông, chưa chải thô hoặc chưa chải kỹ.
Những hạt của quả bông (quả có vỏ dạng quả đậu, quả) của cây bông
(Gossypium) được bao phủ bởi những xơ bông. Thành phần cơ bản của
những xơ này là xenlulo, và được bọc ngoài bởi chất sáp. Bề mặt ngoài
của chúng là trơn nhẵn và có màu trắng, vàng nhạt hay thậm chí là nâu
nhạt hoặc hơi đỏ tự nhiên. Xơ bông được thu hoạch khi quả bông đã chín
và hơi nở ra.; những quả bông không được hái mà các xơ bông thường
được lấy ra từ quả bông còn ở trên cây, những xơ bông này cùng với
những hạt bông giống sau đó phải được tách ra bởi máy tỉa hạt bông.
Nhóm này bao gồm những xơ bông chưa được chải thô hoặc chải kỹ,
vừa thu hoạch (bông hạt), hay đơn thuần chỉ là vừa được tỉa (bông vừa
được tỉa vẫn còn sót lại một ít vỏ, lá hay các tạp chất khác); nhóm này
cũng bao gồm cả xơ bông (trừ xơ và phế liệu) đã được làm sạch, tẩy
trắng, nhuộm màu hay làm khô.
Bông nguyên liệu trong buôn bán quốc tế hầu như là bông đã được tỉa
hạt và luôn được nén chặt thành kiện; bông đã được làm sạch qua các
máy tách hoặc máy đập sẽ ở dạng tấm (sheet) thưa, rộng, liên tục.
Xơ của cây bông thì được phân loại trong nhóm 14.04. Những xơ được
phân loại trong nhóm này thường có độ dài từ 1-5 cm và có thể dễ dàng
phân biệt với xơ của cây bông có độ dài dưới 5mm.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Mền xơ, bông (nhóm 30.05 hay 56.01).
(b) Phế liệu bông (nhóm 52.02).
(c) Bông đã được chải thô hay chải kỹ (nhóm 52.03).
52.02 - Phế liệu bông (kể cả phế liệu sợi và bông tái chế).
5202.10 - Phế liệu sợi (kể cả phế liệu chỉ)
- Loại khác:
5202.91 - - Bông tái chế
5202.99 - - Loại khác
Nhìn chung, nhóm này bao gồm bông phế liệu thu được khi chuẩn bị
cho việc kéo sợi hay trong các hoạt động kéo sợi, dệt, đan, v.v... hay
được tái chế từ những mặt hàng làm từ bông.
Do vậy mà nhóm này bao gồm :
Phế liệu thu được từ quá trình chải kỹ, thường là những xơ vụn chải kỹ;
sợi thu từ trục cán của quá trình chải thô hay chải kỹ; những sợi đứt tách
ra từ quá trình kéo sợi; xơ vụn từ con cúi (sliver) hoặc sợi thô (roving);
xơ bay thu từ quá trình chải thô; sợi rối hoặc các sợi phế liệu khác; sợi
và xơ thu được từ quá trình tái chế vải vụn...
Những phế liệu này có thể còn dính chất nhờn, bụi hay những chất bẩn
khác hay đã được làm sạch, tẩy trắng hoặc nhuộm màu. Chúng có thể
được sử dụng để kéo sợi hay cho các mục đích khác.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Xơ của cây bông (nhóm 14.04).
(b) Mền xơ, bông (nhóm 30.05 hay 56.01).
(c) Phế liệu bông, đã chải thô hay chải kỹ (nhóm 52.03).
(d) Xơ vụn và bụi xơ và kết xơ từ công nghiệp dệt (nhóm 56.01).
(e) Vải vụn cũ hay mới và các mặt hàng dệt vụn khác (nhóm 63.10)
52.03 - Xơ bông, chải thô hoặc chải kỹ.
Nhóm này bao gồm xơ bông (kể cả nguyên liệu bông tái chế hay phế
liệu bông khác) mà đã được chải thô hay chải kỹ, đã được hay chưa được
chuẩn bị cho kéo sợi.
Mục đích chính của quá trình chải thô là để gỡ các xơ bông rối, sắp xếp
chúng ít nhiều song song và loại bỏ toàn bộ hay phần lớn các xơ này
khỏi những chất bên ngoài. Những xơ sau đó ở dạng màng rộng (lớp
bông) thường được kết chặt lại tạo thành cúi chải. Cúi chải này có thể
được chải kỹ hay không được chải kỹ trước khi chuyển sang sợi thô.
Chải kỹ là quá trình chủ yếu cho việc kéo sợi từ bông xơ dài, qua quá
trình này thì những tạp chất lạ của xơ và xơ ngắn sẽ được loại bỏ dưới
dạng phế liệu của quá trình chải kỹ; chỉ có những xơ dài, được xếp song
song được giữ lại.
Cúi được chải kỹ hoặc chưa được chải kỹ sẽ được ghép và kéo dài
trên máy ghép và máy sợi thô để sau cùng tạo ra những sợi thô
(roving). Cần chú ý rằng những sợi thô này, được tạo thành trên máy
kéo sợi thô, có thể có đường kính xấp xỉ như sợi đơn của nhóm 52.05
hay 52.06, và những sợi này được xoắn nhẹ; tuy nhiên, vì những sợi
thô này vẫn chưa được xe, nên chúng chưa tạo thành sợi và được phân
loại thuộc nhóm này.
Cúi nói chung được cuộn vào trong các thùng, trong khi sợi thô được
cuộn trong các ống chỉ. Lớp bông thường được cuộn vào những lõi
bằng gỗ.
Những sản phẩm của nhóm này có thể được tẩy trắng hoặc nhuộm màu.
Bông chải thô ở dạng cúi được thợ cắt tóc sử dụng (đôi khi được gọi là
“barbers’ wadding”) thì được phân loại trong nhóm này, nhưng còn mền
xơ thì được phân loại vào nhóm 56.01 hoặc, nếu đã được tẩm thuốc hay
đóng gói để bán lẻ cho những mục đích y tế hoặc phẫu thuật thì thuộc
nhóm 30.05.
52.04 - Chỉ khâu làm từ bông đã hoặc chưa đóng gói để bán lẻ.
- Chưa đóng gói để bán lẻ:
5204.11 - - Có tỷ trọng bông từ 85% trở lên
5204.19 - - Loại khác
5204.20 - Đã đóng gói để bán lẻ
Nhóm này bao gồm chỉ khâu làm từ bông ở các dạng và phù hợp với
điều kiện đã được mô tả trong Phần (I) (B) (4) của Chú giải Tổng quát
Phần XI .
Tuy nhiên, nếu sợi chỉ nằm trong phạm vi định nghĩa của sợi xe, v.v...
(xem Phần (1) (B) (2) của Chú giải Tổng quát thuộc Phần XI) thì bị loại
khỏi nhóm này (nhóm 56.07).
Chỉ khâu vẫn thuộc nhóm này dù đã được hay chưa được đóng gói để
bán lẻ hay đã được gia công như nêu tại Phần (I) (B) (1) của Chú giải
Tổng quát Phần XI.
52.05 Sợi bông (trừ chỉ khâu), có hàm lượng bông chiếm từ 85%
trở lên tính theo khối lượng, chưa đóng gói để bán lẻ.
- Sợi đơn, làm từ xơ không chải kỹ:
5205.11 - - Sợi có độ mảnh từ 714,29 decitex trở lên (chi số
mét không quá 14)
5205.12 - - Sợi có độ mảnh từ 232,56 decitex đến dưới
714,29 decitex (chi số mét từ trên 14 đến 43)
5205.13 - - Sợi có độ mảnh từ 192,31 decitex đến dưới
232,56 decitex (chi số mét trên 43 đến 52)
5205.14 - - Sợi có độ mảnh từ 125 decitex đến dưới 192,31
decitex (chi số mét trên 52 đến 80)
5205.15 - - Sợi có độ mảnh dưới 125 decitex (chi số mét trên
- Sợi đơn, làm từ xơ chải kỹ:
5205.21 - - Sợi có độ mảnh từ 714,29 decitex trở lên (chi số
mét không quá 14)
5205.22 - - Sợi có độ mảnh từ 232,56 decitex đến dưới
714,29 decitex (chi số mét trên 14 đến 43)
5205.23 - - Sợi có độ mảnh từ 192,31 decitex đến dưới
232,56 decitex (chi số mét trên 43 đến 52)
5205.24 - - Sợi có độ mảnh từ 125 decitex đến dưới 192,31
decitex (chi số mét trên 52 đến 80)
5205.26 - - Sợi có độ mảnh từ 106,38 decitex đến dưới 125
decitex (chi số mét trên 80 đến 94)
5205.27 - - Sợi có độ mảnh từ 88,33 decitex đến dưới 106,38
decitex (chi số mét trên 94 đến 120)
5205.28 - - Sợi có độ mảnh dưới 83,33 decitex (chi số mét
trên 120)
- Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp, làm từ xơ không chải
kỹ:
5205.31 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 714,29 decitex trở
lên (chi số mét sợi đơn không quá 14)
5205.32 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 232,56 decitex đến
dưới 714,29 decitex (chi số mét sợi đơn trên 14 đến
5205.33 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 192,31 decitex đến
dưới 232,56 decitex (chi số mét sợi đơn trên 43 đến
5205.34 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 125 decitex đến
dưới 192,31 decitex (chi số mét sợi đơn trên 52 đến
5205.35 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh dưới 125 decitex (chi
số mét sợi đơn trên 80)
- Sợi xe hoặc sợi cáp, từ xơ chải kỹ:
5205.41 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 714,29 decitex trở
lên (chi số mét sợi đơn không quá 14)
5205.42 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 232,56 decitex đến
dưới 714,29 decitex (chi số mét sợi đơn trên 14 đến
5205.43 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 192,31 decitex đến
dưới 232,56 decitex (chi số mét sợi đơn trên 43 đến
5205.44 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 125 decitex đến
dưới 192,31 decitex (chi số mét sợi đơn trên 52 đến
5205.46 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 106,38 decitex
đến dưới 125 decitex (chi số mét sợi đơn trên 80 đến
5205.47 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 83,33 decitex đến
dưới 106,38 decitex (chi số mét sợi đơn trên 94 đến
5205.48 - -Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh dưới 83,33 decitex
(chi số mét sợi đơn trên 120)
Nhóm này bao gồm sợi bông (trừ chỉ khâu), có thể là sợi đơn hoặc sợi
xe, thu được sau quá trình kéo sợi thô thuộc nhóm 52.03, miễn là có tỷ
trọng bông từ 85% trở lên .
Tuy nhiên, những sợi như vậy không thuộc nhóm này nếu chúng thuộc
phạm vi định nghĩa của dây xe, chão bện, dây thừng, v.v ... (nhóm
56.07) hay đã được đóng gói để bán lẻ (xem mục (I) (B) (2) và (3) của
Chú giải Tổng quát Phần XI).
Sợi vẫn thuộc nhóm này dù đã qua hoặc không qua quá trình xử lý nêu
tại mục (I) (B) (1) của Chú giải Tổng quát Phần XI.
52.06 Sợi bông (trừ chỉ khâu), có hàm lượng bông chiếm dưới 85%
tính theo khối lượng, chưa đóng gói để bán lẻ
- Sợi đơn, làm từ xơ không chải kỹ:
5206.11 - - Sợi có độ mảnh từ 714,29 decitex trở lên (chi số
mét không quá 14
5206.12 - - Sợi có độ mảnh từ 232,56 decitex đến dưới
714,29 decitex (chi số mét trên 14 đến 43)
5206.13 - - Sợi có độ mảnh từ 192,31 decitex đến dưới
232,56 decitex (chi số mét trên 43 đến 52)
5206.14 - - Sợi có độ mảnh từ 125 decitex đến dưới 192,31
decitex (chi số mét trên 52 đến 80)
5206.15 - - Sợi có độ mảnh dưới 125 decitex (chi số mét trên
- Sợi đơn, làm từ xơ đã chải kỹ:
5206.21 - - Sợi có độ mảnh từ 714,29 decitex trở lên (chi số
mét không quá 14)
5206.22 - - Sợi có độ mảnh từ 232,56 decitex đến dưới
714,29 decitex (chi số mét trên 14 đến 43)
5206.23 - - Sợi có độ mảnh từ 192,31 decitex đến dưới
232,56 decitex (chi số mét trên 43 đến 52)
5206.24 - - Sợi có độ mảnh từ 125 decitex đến dưới 192,31
decitex (chi số mét trên 52 đến 80)
5206.25 - - Sợi có độ mảnh dưới 125 decitex (chi số mét trên
- Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp, làm từ xơ không chải
kỹ:
5206.31 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 714,29 decitex trở
lên (chi số mét sợi đơn không quá 14)
5206.32 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 232,56 decitex đến
dưới 714,29 decitex (chi số mét sợi đơn trên 14 đến
5206.33 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 192,31 decitex đến
dưới 232,56 decitex (chi số mét sợi đơn trên 43 đến
5206.34 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 125 decitex đến
dưới 192,31 decitex (chi số mét sợi đơn trên 52 đến
5206.35 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh dưới 125 decitex (chi
số mét sợi đơn trên 80)
- Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp, từ xơ chải kỹ:
5206.41 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 714,29 decitex trở
lên (chi số mét sợi đơn không quá 14)
5206.42 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 232,56 decitex đến dưới
714,29 decitex (chi số mét sợi đơn trên 14 đến 43)
5206.43 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 192,31 decitex đến
dưới 232,56 decitex (chi số mét sợi đơn trên 43 đến
5206.44 - - Từ mỗi sợi đơn có độ mảnh từ 125 decitex đến
dưới 192,31 decitex (chi số mét sợi đơn trên 52 đến
5206.45 - - Từ mỗi sợi đơn có đô mảnh dưới 125 decitex (chi
số mét sợi đơn trên 80)
Chú giải Chi tiết của nhóm 52.05 được áp dụng tương tự với sợi của
nhóm này.
52.07 - Sợi bông (trừ chỉ khâu), đã đóng gói để bán lẻ.
5207.10 - Có hàm lượng bông chiếm từ 85% trở lên tính theo
khối lượng
5207.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm cả sợi bông (trừ chỉ khâu) khi đóng gói để bán lẻ, ở
các dạng và phù hợp với các điều kiện được mô tả trong Phần (I) (B) (3)
của Chú giải Tổng quát Phần XI.
52.08 - Vải dệt thoi từ bông, có hàm lượng bông chiếm từ 85% trở
lên tính theo khối lượng, định lượng không quá 200 g/m2
- Chưa tẩy trắng:
5208.11 - - Vải vân điểm, định lượng không quá 100 g/m2
5208.12 - - Vải vân điểm, định lượng trên 100g/ m2
5208.13 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải
vân chéo dấu nhân
5208.19 - - Vải dệt khác
- Đã tẩy trắng:
5208.21 - - Vải vân điểm, định lượng không quá 100g/ m2
5208.22 - - Vải vân điểm, định lượng trên 100g/ m2
5208.23 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải
vân chéo dấu nhân
5208.29 - - Vải dệt khác
- Đã nhuộm:
5208.31 - - Vải vân điểm, định lượng không quá 100g/ m2
5208.32 - - Vải vân điểm, định lượng trên 100g/ m2
5208.33 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải
vân chéo dấu nhân.
5208.39 - - Vải dệt khác
- Từ các sợi có các màu khác nhau:
5208.41 - - Vải vân điểm, định lượng không quá 100g/ m2
5208.42 - - Vải vân điểm, định lượng trên 100g/ m2
5208.43 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vân
chéo dấu nhân.
5208.49 - - Vải dệt khác
- Đã in:
5208.51 - - Vải vân điểm, định lượng không quá 100g/ m2
5208.52 - - Vải vân điểm, định lượng trên 100g/ m2
5208.59 - - Vải dệt khác
Nhóm này gồm cả những loại vải dệt thoi (như đã chỉ rõ trong Phần (I)
(C) của Chú giải tổng quát Phần XI) mà trọng lượng không vượt quá
200g/m2, có tỷ trọng bông từ 85% trở lên.
Vải dệt bông được sản xuất bằng nhiều phương pháp khác nhau và được
sử dụng phù hợp với đặc tính của nó, như sản xuất để làm quần áo, vải
lanh dùng trong gia đình, khăn trải giường, rèm cửa và các mặt hàng nội
thất khác ...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ
(nhóm 30.05).
(b) Các loại vải dệt của nhóm 58.01.
(c) Vải khăn lông và các loại vải dệt thoi tạo vòng lông tương tự
(nhóm 58.02).
(d) Vải dệt quấn (nhóm 58.03) .
(e) Vải dệt thoi phục vụ cho kỹ thuật của nhóm 59.11.
52.09- Vải dệt thoi từ bông, có hàm lượng bông chiếm từ 85% trở
lên tính theo khối lượng, định lượng trên 200 g/m2.
- Chưa tẩy trắng:
5209.11 - - Vải vân điểm
5209.12 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải vân
chéo dấu nhân
5209.19 - - Vải dệt khác
- Đã tẩy trắng:
5209.21 - - Vải vân điểm
5209.22 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải vân
chéo dấu nhân
5209.29 - - Vải dệt khác
- Đã nhuộm:
5209.31 - - Vải vân điểm
5209.32 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải
vân chéo dấu nhân
5209.39 - - Vải dệt khác
- Từ các sợi có các màu khác nhau:
5209.41 - - Vải vân điểm
5209.42 - - Vải denim
5209.43 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả
vân chéo dấu nhân
5209.49 - - Vải dệt khác
- Đã in:
5209.51 - - Vải vân điểm
5209.52 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi , kể cả
vải vân chéo dấu nhân
5209.59 - - Vải dệt khác
Chú giải chi tiết của nhóm 52.08 được áp dụng tương tự với các mặt
hàng của nhóm này.
52.10 - Vải dệt thoi từ bông, có hàm lượng bông chiếm dưới 85%
tính theo khối lượng, pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với xơ
sợi nhân tạo, có định lượng không quá 200 g/m2.
- Chưa tẩy trắng:
- - Vải vân điểm
- - Vải dệt khác
- Đã tẩy trắng:
- - Vải vân điểm
- - Vải dệt khác
- Đã nhuộm:
- - Vải vân điểm
- - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả
vải vân chéo dấu nhân
- - Vải dệt khác
- Từ các sợi có các màu khác nhau:
- - Vải vân điểm
- - Vải dệt khác
- Đã in:
- - Vải vân điểm
- - Vải dệt khác
Nhóm này bao gồm các loại vải dệt như đã định nghĩa trong Phần (I)
(C) của Chú giải tổng quát Phần XI.
Nhóm này cũng bao gồm các loại vải được phân loại như là vải bông
theo Chú giải 2 Phần XI (xem Phần (I) (A) Chú giải tổng quát Phần XI )
và với điều kiện chúng phải đáp ứng những tiêu chuẩn sau:
(a) Có tỷ trọng bông dưới 85%;
(b) Được pha chủ yếu hay chỉ pha duy nhất với xơ nhân tạo;
(c) Trọng lượng không quá 200g/m2.
Khi tính toán thành phần, phải nhớ rằng tổng trọng lượng của sợi nhân
tạo phải được xem xét, không có sự phân biệt giữa sợi filament và xơ
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ
(nhóm 30.05).
(b) Các loại vải dệt nhóm 58.01.
(c) Vải khăn lông và các loại vải dệt thoi tạo vòng lông tương tự
(nhóm 58.02).
(d) Vải dệt quấn (nhóm 58.03).
(e) Vải dệt thoi phục vụ cho mục đích kỹ thuật, thuộc nhóm 59.11.
52.11 - Vải dệt thoi từ bông, có hàm lượng bông chiếm dưới 85%
tính theo khối lượng, pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với xơ
sợi nhân tạo, có định lượng trên 200 g/m2.
- Chưa tẩy trắng:
5211.11 - - Vải vân điểm
5211.12 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi , kể cả vải
vân chéo dấu nhân
5211.19 - - Vải dệt khác
5211.20 - Đã tẩy trắng
- Đã nhuộm:
5211.31 - - Vải vân điểm
5211.32 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải
vân chéo dấu nhân
5211.39 - - Vải dệt khác
- Từ các sợi có các màu khác nhau:
5211.41 - - Vải vân điểm
5211.42 - - Vải denim
5211.43 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải
vân chéo dấu nhân
5211.49 - - Vải dệt khác
- Đã in:
5211.51 - - Vải vân điểm
5211.52 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải
vân chéo dấu nhân
5211.59 - - Vải dệt khác
Chú giải chi tiết nhóm 52.10 được áp dụng tương tự với các mặt hàng
của nhóm này.
52.12 - Vải dệt thoi khác từ sợi bông.
- Định lượng không quá 200g/m2:
5212.11 - - Chưa tẩy trắng
5212.12 - - Đã tẩy trắng
5212.13 - - Đã nhuộm
5212.14 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5212.15 - - Đã in
- Định lượng trên 200g/m2:
5212.21 - - Chưa tẩy trắng
5212.22 - - Đã tẩy trắng
5212.23 - - Đã nhuộm
5212.24 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5212.25 - - Đã in
Nhóm này bao gồm các loại vải dệt thoi (như đã định nghĩa trong Phần
(I) (C) của Chú giải tổng quát Phần XI ) làm từ sợi bông. Tuy nhiên, cần
chú ý rằng nhóm này chỉ bao gồm các loại vải dệt từ sợi đã được pha,
không bao gồm các vải thuộc nhóm trước của Chương này hoặc được
chỉ rõ hay nằm trong mục thứ hai của Phần XI (thông thường ở Chương
58 hoặc 59).
Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ thì bị loại
khỏi nhóm này (nhóm 30.05).
Chương 53
Xơ dệt gốc thực vật khác ;
sợi giấy và vải dệt thoi từ sợi giấy
TỔNG QUÁT
Khi đọc các Chú giải chi tiết của Chương này cần phải kết hợp xem
xét với Chú giải tổng quát của Phần XI.
Nhìn chung, và một số ngoại lệ đã được đề cập tại Chú giải chi tiết của
nhóm 53.05, Chương này đề cập các nguyên liệu dệt gốc thực vật (trừ
nguyên liệu bông) ở các cấp độ chế biến khác nhau, từ nguyên liệu thô
cho đến khi tạo thành vải dệt thoi.
Chương này cũng bao gồm sợi giấy và vải dệt bằng sợi giấy, và các sản
phẩm có pha nguyên liệu dệt tương tự như các sản phẩm của Chương
này theo quy định của Chú giải 2 Phần XI .
53.01 - Lanh, dạng nguyên liệu thô hoặc đã chế biến nhưng chưa kéo
thành sợi; tô (tow) lanh và phế liệu lanh (kể cả phế liệu sợi và
sợi tái chế) (+).
5301.10 - Lanh, dạng nguyên liệu thô hoặc đã ngâm
- Lanh, đã tách lõi, đã đập, đã chải hoặc gia công bằng
cách khác , nhưng chưa kéo thành sợi:
5301.21 - - Đã tách lõi hoặc đập
5301.29 - - Loại khác
5301.30 - Tô (tow) lanh hoặc phế liệu lanh
Lanh có nhiều loại khác nhau, quen thuộc nhất là loại Linum
usitaissinum. Các xơ lanh có trong cây ở dạng chùm xơ libe rắn chắc
được liên kết với nhau bằng chất pectic. Để dùng trong công nghiệp dệt,
các xơ này phải được phân tách riêng biệt và tách từ phần còn lại của
cây, đặc biệt là từ lớp gỗ bên trong thân cây .
Nhóm này bao gồm lanh thô, lanh đã ngâm, lanh đã đập, lanh đã chải
hoặc gia công bằng cách khác nhưng chưa kéo thành sợi.
(A) Lanh dạng nguyên liệu thô (flax straw).
Là loại lanh đã thu hoạch, đã hoặc chưa chải hoặc làm sạch (lá và
hạt đã được loại bỏ).
(B) Lanh đã ngâm.
Khi ngâm người ta loại ra phần lớn chất pectic bao quanh sợi lanh,
bằng phương pháp làm lên men (bằng hoạt động vi sinh vật hoặc
nấm mốc) hoặc bằng hoá chất. Quá trình này thường tiến hành bằng
một trong các cách sau:
(1) phơi cây ngoài sương hoặc nơi ẩm ướt;
(2) ngâm cây ở nơi suối chẩy nhẹ hoặc sông, hoặc trong hào nước
đọng hoặc trong vũng nước;
(3) ngâm cây trong thùng rộng có nước ấm; hoặc
(4) xử lý cây trong hơi nước hoặc với hoá chất, hoặc men vi sinh.
Lanh đã ngâm sau đó phơi ngoài trời hay bằng phương pháp cơ
học. Các xơ sau đó rã ra từ phần gỗ trong thân cây và từ các
phần khác sẽ được tách bằng cách làm mềm và đập.
(C) Lanh đã đập.
Trước tiên lanh được ép để phá vỡ phần gỗ thành các miếng. Sau đó
lanh được đập, phần gỗ được đập bằng tay hoặc bằng cơ học, đến
khi các xơ lanh tách ra. Một bó xơ ngắn và phế liệu được tạo thành
trong quá trình này.
(D) Lanh đã bông hoá.
Trong quá trình này, đầu tiên lanh nguyên liệu dạng thô được đun
trong dung dịch hydroxide natri và sau đó được ngâm với natri
cácbonat; nó được tiếp tục xử lý với axit loãng, khi thân cây bị phân
huỷ bằng giải phóng khí đioxit cacbon, làm cho những xơ lanh được
tách ra. Lanh được xử lý như trên không cần phải qua công đoạn
ngâm hoặc đập. Lanh đã bông hoá được tẩy trắng thông thường.
(E) Lanh đã chải kỹ.
Công đoạn chải kỹ là tách các chùm xơ libe và đặt các xơ nằm song
song, đồng thời loại bất kỳ các điểm tạp lạ còn lại và xơ ngắn hoặc
xơ bị đứt bất kỳ (machine tow). Lanh thường có dạng chùm xơ tơi
liên tục khi ra khỏi máy chải. Các xơ sau đó được đi qua bộ phận
kéo duỗi và được nhìn thấy như là cúi chải liên tục. Các cúi chải
này được đi qua công đoạn ghép và kéo dài và chuyển thành sợi
thô. Cúi và sợi thô được phân loại trong nhóm này nếu chưa được
kéo thành sợi. Trong giai đoạn cuối cùng, các sợi thô có thể được
kéo dài và có độ dày xấp xỉ như độ dầy của sợi đơn, thông thường
chúng được xoắn nhẹ nhưng vẫn chưa được phân loại ở đây và
không được coi là sợi đơn thuộc nhóm 53.06.
(F) Xơ lanh dạng ngắn và phế liệu lanh (kể cả phế liệu sợi và nguyên
liệu sợi tái chế).
Xơ lanh dạng ngắn thường gồm các loại phế liệu lanh có chất lượng
khác nhau thích hợp cho việc kéo sợi; xơ lanh dạng ngắn chủ yếu
bao gồm các xơ ngắn, xơ gút nối, xơ bị đứt hoặc xơ rối thu được
trong các quá trình gia công khác nhau như đập, chải kỹ và kéo sợi.
Nhóm này cũng bao gồm phế liệu sợi thu được trong quá trình kéo sợi,
guồng hoặc dệt, và xơ phế liệu thu được do xé các mảnh vải phế liệu
hoặc các mặt hàng hoàn thiện thành các xơ hợp phần; những xơ phế liệu
này thường được dùng để kéo lại thành sợi.
Lưu ý, do độ ngắn của các xơ hợp phần, nên xơ lanh dạng ngắn và phế liệu
lanh (mà được dùng để kéo sợi) thường được chải thô và không được chải
kỹ. Cúi và sợi thô thu được sau khi chải thô cũng thuộc nhóm này.
Nhóm này cũng bao gồm các phế liệu lanh không thích hợp cho việc kéo
sợi, chủ yếu thu được trong quá trình chải thô hoặc đập, và được dùng
để nhồi hoặc để đệm, như chất liên kết trong xây dựng hoặc sử dụng như
các nguyên liệu dạng thô trong sản xuất giấy các loại .
Những sản phẩm đề cập trên đây dù đã được hoặc chưa được tẩy hoặc
nhuộm thì vẫn thuộc nhóm này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các mẩu gỗ tạo thành trong quá trình đập (nhóm 44.01).
(b) Các nguyên liệu xơ lanh gốc thực vật đôi khi được biết như là
lanh Ấn Độ (Abroma augusta) (nhóm 53.03) và gai hoặc lanh
New Zealand (Formium tenax) (nhóm 53.05).
Chú giải phân nhóm.
Phân nhóm 5301.21
Phân nhóm này gồm cả lanh đã đập thu được từ sợi lanh thô.
53.02 - Gai dầu (Cannabis sativa L.), dạng nguyên liệu thô hoặc đã
chế biến nhưng chưa kéo thành sợi; tô (tow) và phế liệu gai
dầu (kể cả phế liệu sợi và sợi tái chế).
5302.10 - Gai dầu, dạng nguyên liệu thô hoặc đã ngâm
5302.90 - Loại khác
Nhóm này chỉ bao gồm gai dầu (Cannabis sativa L.), loại cây sống ở
nhiều vùng có chất đất khác nhau và khí hậu đa dạng. Các xơ có trong
lớp vỏ cây và được tách bởi các quá trình tương tự như đối với lanh
(xem Chú giải chi tiết nhóm 53.01).
Nhóm này bao gồm :
(1) Gai thô đã được thu hoạch, đã hoặc chưa ngắt lá và tách hạt .
(2) Gai đã ngâm trong đó các xơ vẫn gắn với phần thân gỗ của cây,
nhưng đã được nới lỏng bằng cách ngâm.
(3) Gai đã đập, bao gồm các xơ đã được tách, đôi khi có chiều dài 2m
hoặc trên 2 m , được tách ra từ cây bằng cách đập .
(4) Gai đã chải kỹ hoặc các dạng xơ gai khác đã chuẩn bị cho kéo sợi,
thông thường ở dạng cúi (sliver) hoặc sợi thô (roving).
(5) Xơ gai thô và phế liệu gai. Loại này bao gồm các phế liệu thu
được trong quá trình đập hoặc chải kỹ, sợi phế liệu thu được trong
quá trình kéo sợi, dệt vải, v.v ... và nguyên liệu tái chế thu được từ
đầu mẩu, đoạn đứt của dây thừng hoặc chão bện, v.v... Xơ gai và
gai phế liệu được phân loại ở nhóm này hoặc thích hợp dùng để kéo
thành sợi (có dạng hoặc không có dạng cúi sợi (sliver) hoặc dạng
sợi thô (roving)), hoặc thích hợp chỉ dùng như nguyên liệu lót, độn,
nhồi nhét, làm giấy...
Việc tinh chế (đôi khi, tương tự như áp dụng với lanh), việc tẩy hoặc
nhuộm không làm ảnh hưởng tới việc phân loại trong nhóm này.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các nguyên liệu sợi thực vật khác đôi khi được biết như các loại
gai, ví dụ:
(1) Gai Tampico (nhóm 14.04 hoặc 53.05)
(2) Gai Gambo hoặc gai Ambari (Hibiscus cannabinus), gai
Rosella (Hibiscus sabdariffa), gai abutilon hoặc đay Trung
quốc (Abutilon avicennae), Ấn Độ, Sunn, Madaras, Calcutta,
Bombay hoặc gai Benares (Crotalaria juncea) và gai
Queensland (Sida) (nhóm 53.03).
(3) Gai Haiti (Agave foetida), gai Manila (chuối abaca), gai
Mauritus (Fucraea gigantea) và gai New Zealand hoặc lanh
(Phormium tenax) (nhóm 53.05).
(b) Phần gỗ cứng của cây đã bị tách trong quá trình đập (nhóm 44.01).
(c) Sợi gai dầu (nhóm 53.08).
(d) Các đầu mẩu, đoạn đứt của dây xe hoặc chão bện (Chương 63).
53.03 - Đay và các loại xơ libe dệt khác (trừ lanh, gai dầu và gai
ramie), dạng nguyên liệu thô hoặc đã chế biến nhưng chưa
kéo thành sợi; tô (tow) và phế liệu của các loại xơ này (kể cả
phế liệu sợi và sợi tái chế).
5303.10 - Đay và các loại xơ libe dệt khác, dạng nguyên liệu thô
hoặc đã ngâm
5303.90 - Loại khác
Nhóm này, bao gồm tất cả các loại sợi dệt lấy từ thân các loại cây có
mầm 2 lá, trừ các loại lanh (nhóm 53.01), gai dầu (nhóm 53.02) và gai
ramie (nhóm 53.05).
Các loại xơ libe dệt được phân loại ở đây mềm mại hơn so với hầu hết
các loại xơ thực vật của nhóm 53.05 và cũng mịn hơn.
Xơ của nhóm này bao gồm:
(1) Đay thiên nhiên, gồm hai chủng loại chính là đay Corchorus
capsularis hay đay trắng và đay Corchorus clitorius hay đay đỏ,
cũng được biết như Tossa.
(2) Hibiscus cannabinus, được biết trong thương mại như gai Hibiscus,
gai Gambo, đay Siam, Kenaf, Bimlipatam hay đay Bimli, gai
(3) Hibiscus sabsariffa, được biết trong thương mại như gai Roslle hay
Rosella, đay Siam, đay Kenaf, Java, v.v...
(4) Abutilon avicennae, được biết như gai abutilon, đay China, Tien-
(5) Xơ của cây đậu chổi (Broom), từ vỏ cây đậu chổi Tây Ban Nha
Spanish broom (Spartium junceum) hoặc cây đậu chổi thông thường
(6) Urena lobata và Urena sinuata, là loại được biết với nhiều tên
khác nhau, tuỳ theo có nguồn gốc từ nước nào: đay Côngô, đay
Madagascar hoặc Paka, Malva blanca hoặc Cadillo (Cuba),
Guaxima, Armina hoặc Malva roxa (Brazin), Caesarweed (Florida).
(7) Crotalaria juncea, được biết như gai Ấn Độ, Sunn, Madras,
Calcutta, Bombay hay Benares hoặc đay Julburpur.
(8) Sida, chủ yếu được biết như gai Escobilla, Malvaisco, Queensland
hoặc đay Cuba.
(9) Thespesia, được biết như Polompon (Việt Nam).
(10) Abroma augusta, được biết như bông Devil hoặc lanh Ấn Độ.
(11) Clappertonia ficifolia, được biết như đay Punga (Côngô) hoặc
(12) Triumfetta, được biết như đay Punga (Côngô) hoặc Carapicho
Nhóm này bao gồm :
(I) Các xơ nguyên liệu dạng thô (trong những thân cây, chưa được
ngâm hoặc được bóc); xơ đã ngâm; xơ đã bóc (được bóc bằng
máy), như là các xơ dài từ 2m trở lên, lấy từ thân cây bằng cách
ngâm và bóc; “các phần mẩu” (phần cuối của các xơ được cắt bỏ và
được mua bán riêng lẻ). Tuy nhiên, các nguyên liệu gốc thực vật,
khi ở dạng nguyên liệu thô hoặc ở dạng nằm trong Chương 14 (ví
dụ , thân của cây đậu chổi), được phân loại ở đây chỉ khi chúng đã
qua xử lý theo yêu cầu việc sử dụng để chỉ ra rằng chúng được
dùng như là như các nguyên liệu dệt (ví dụ: khi chúng được ép,
được chải thô hoặc được chải kỹ để chuẩn bị kéo sợi) .
(II) Xơ đã được chải thô hoặc chải kỹ hoặc được gia công cách khác để
kéo sợi, thường ở dạng cúi.
(III) Sợi thô dạng ngắn hoặc phế liệu sợi thu được chủ yếu trong quá
trình chải thô hoặc chải kỹ các sợi libe; các phế liệu sợi libe được
tách trong khi kéo hoặc dệt, v.v... và nguyên liệu sợi tái sinh thu
được từ các đầu mẩu, đoạn đứt của dây thừng hoặc chão bện. Xơ
dạng ngắn và phế liệu được phân loại ở đây có thể dùng kéo thành
sợi (có dạng cúi sợi (sliver) hoặc không) hoặc thích hợp dùng như
các nguyên liệu để bít hoặc nhồi hoặc đệm lót, làm nỉ, hoặc làm
giấy, v.v...
Việc tẩy trắng hoặc nhuộm không ảnh hưởng đến việc phân loại sản
phẩm thuộc nhóm này.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Thân của các loại cây đậu chổi (nhóm 14.04).
(b) Xơ dạng ngắn, đã tẩm thuốc hoặc đóng gói để bán lẻ dùng trong
y tế, giải phẫu (nhóm 30.05).
(c) Sợi đay hoặc sợi từ các sợi xơ libe dệt khác thuộc nhóm này
(nhóm 53.07).
(d) Các đầu mẩu, các đoạn đứt của thừng, cáp, chão bện (Chương
53.05 - Xơ dừa, xơ chuối abaca (Manila hemp hoặc Musa textilis
Nee), xơ gai ramie và xơ dệt gốc thực vật khác, chưa được ghi
hoặc chi tiết ở nơi khác hoặc kể cả, thô hoặc đã chế biến
nhưng chưa kéo thành sợi; tô (tow), xơ vụn và phế liệu của
các loại xơ này (kể cả phế liệu sợi và sợi tái chế).
Nhóm này bao gồm các sợi dệt gốc thực vật thu được từ lá hoặc quả của
một số loại cây có một lá mầm (ví dụ như: cây dừa, cây chuối (abaca)
hoặc cây xi-dan) hoặc, đối với xơ gai ramie, lấy từ thân của các loại cây
2 lá mầm thuộc họ urticaceae, chưa được nêu hay chi tiết ở bất kỳ nhóm
nào khác.
Những sợi này đa số thô và dày hơn các sợi dệt libe thuộc nhóm 53.03.
Thông thường, chúng được phân loại ở đây cho dù ở dạng thô, chuẩn bị
kéo sợi (ví dụ: đã chải thô hoặc chải kỹ thành cúi sợi) hay ở dạng bó xơ
dạng ngắn hay phế liệu sợi (thu được chủ yếu trong lúc chải kỹ), phế
liệu sợi (thu được chủ yếu trong lúc kéo sợi hoặc dệt) hay nguyên liệu
tái chế (thu được từ các đầu mẩu, đoạn đứt của thừng hoặc chão bện...).
Tuy nhiên, các sợi thu được từ nguyên liệu gốc thực vật (là nguyên liệu
thô hoặc ở các dạng khác) thuộc Chương 14 (cụ thể là kapok), được
phân loại ở đây chỉ khi chúng đã qua xử lý theo yêu cầu việc sử dụng
như nguyên liệu dệt... khi chúng đã được ép, chải thô hoặc chải kỹ để
chuẩn bị cho kéo sợi.
Các sợi dệt từ gốc thực vật đã phân loại ở đây bao gồm:
Xơ dừa. Xơ dừa thu được từ vỏ ngoài của quả dừa, chúng thô, cứng và
màu nâu. Các xơ dừa được phân loại ở đây dù ở dạng nắm hoặc bó.
Xơ chuối Abaca: Các xơ chuối Abaca (hoặc xơ gai Malina) thu được từ
lớp vỏ phần cuống của lá một loại cây chuối (gai Musa textilis Nee)
được trồng chủ yếu ở quần đảo Philippins. Các xơ thu được bằng cách
dùng dao hoặc máy bóc tách bỏ các chất không phải xơ và được phân
loại ở đây dù đã hoặc chưa chải kỹ hoặc chuẩn bị cách khác kéo sợi (tức
là, ở dạng cúi sợi hoặc sợi thô).
Các xơ gai Manila chịu đựng rất tốt đối với ảnh hưởng của thời tiết và
nước biển và do đó được sử dụng chủ yếu để làm cáp tàu hoặc lưới đánh
cá. Chúng cũng được kéo thành sợi để dệt những vải thô hoặc làm viền
mũ.
Xơ gai Ramie. Các xơ gai ramie thu được từ sợi libe các loại cây khác
nhau, chủ yếu từ chủng Boehmeria tenacissima (Rhea, xơ gai ramie
xanh) và Boehmeria nivea (cỏ Trung Quốc, gai ramie trắng). Xơ gai
ramie thu được chủ yếu từ vùng Viễn Đông.
Các thân cây được cắt sát gốc. Sau khi được sấy qua, chúng cũng được
tách bằng tay hoặc máy móc để loại phần vỏ cây và phần gỗ bên trong,
xơ gai ramie khi đó thu được có dạng dải dài. Việc tách được thực hiện
bởi một quá trình chế biến (thông thường bằng việc đun trong dung dịch
kiềm) để loại chất dính pectic mà bao quanh liên kết các xơ gai với
nhau. Các xơ cuối cùng được vắt sạch và sấy, và có màu trắng ngọc.
Xơ Alfa hoặc esparto. Các xơ Alfa hoặc esparto thu được từ lá cây. Tuy
nhiên, chúng được phân loại ở đây chỉ khi chúng đã được cuốn, ép, chải
kỹ hoặc chế biến cách khác theo phương thức để sử dụng cho việc dệt.
Các lá chưa được xử lý không nằm trong chương này (Chương 14).
Xơ cây lô hội.
Xơ gai Haiti (Agave foetida).
Xơ cây thùa sợi (Agave fuorcroydes).
Xơ thùa hoặc Ixtle (xơ gai Tampico hoặc xơ gai Mexico). Những loại
xơ này, được tách từ cây thùa funkiana hoặc cây thùa lechugilla, được
sử dụng chủ yếu để làm bàn chải và thường phân loại vào nhóm 14.04,
nhưng chúng được phân loại vào nhóm này khi chúng đã được chế biến
theo phương thức để sử dụng cho việc dệt.
Xơ Maguey hoặc Cantala. Những loại xơ này có nguồn gốc từ cây thùa
cantala (Philippin hoặc Indonesia) hoặc cây thùa tequilana (Mexico).
Xơ gai Mauritius (Furcraea gigantea), cũng được biết đến dưới tên gọi
Xơ gai New Zealand hoặc lanh (Phormium tenax)
Xơ than bùn (đôi khi gọi là than bùn Berandine hoặc Beraudine). Các
loại xơ này thu được từ than gỗ. Chúng chỉ thuộc nhóm này khi chúng
đã qua quá trình xử lý để sử dụng cho ngành dệt; nếu không thì chúng bị
loại trừ (nhóm 27.03).
Xơ dứa. Các loại xơ này cũng được biết đến dưới tên gọi như Curana
(Amazonas), Pina (Mexico) hoặc Silkgrass, thu được từ lá của các cây
dứa thuộc họ Bromeliaceae, chúng cũng bao gồm các loại xơ của Pita
floja hoặc Colombia pita hoặc Arghan, Caroa (Brazil), Karates,v.v...
Xơ Pita (Cây thùa Châu Mỹ).
Xơ cây đuôi hổ, cũng được biết đến dưới tên gọi như xơ gai Bowstring
hoặc xơ gai Ife.
Xơ cây Xidan (Cây thùa sisalana).
Xơ Typha. Xơ thu được từ lá cây Typha hoặc cây cattail. Không nên lẫn
lộn các xơ này với các lông tơ ngắn phủ lên hạt của cây. Loại tơ ngắn
phủ lên hạt của cây này thường được sử dụng như vật liệu để nhồi vào
các loại áo jacket, đồ chơi, v.v…, và bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm
Xơ Yucca
Việc tẩy trắng hoặc nhuộm không ảnh hưởng đến việc phân loại của các
sản phẩm nhóm này.
53.06 - Sợi lanh.
5306.10 - Sợi đơn
5306.20 - Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp
Nhóm này bao gồm các sợi đơn thu được bằng cách kéo các sợi thô
(roving) từ xơ lanh thuộc nhóm 53.01 và sợi xe (folded) hoặc sợi cáp
được sản xuất bằng cách kết hợp các sợi đơn đó.
Tuy nhiên, chúng bị loại khỏi nhóm này nếu các sợi trên thuộc phạm vi
định nghĩa về dây xe, chão bện, v.v… (nhóm 56.07) (xem Phần (I) (B)
(2) của Chú giải tổng quát Phần XI).
Sợi được phân loại trong nhóm này dù được hoặc không được đóng gói
để bán lẻ hoặc chế biến cách khác như được nêu tại Phần (I) (B) (1) của
Chú giải tổng quát Phần XI.
Sợi trộn kim loại, bao gồm sợi lanh kết hợp với sợi kim loại theo tỷ lệ
bất kỳ thì bị loại trừ (nhóm 56.05).
53.07 - Sợi đay hoặc sợi từ các loại xơ libe dệt khác thuộc nhóm
5307.10 - Sợi đơn
5307.20 - Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp
Nhóm này bao gồm các sợi, dù là sợi đơn hay sợi xe (folded) thu được bằng
cách kéo các cúi sợi từ đay hoặc từ xơ libe dệt khác thuộc nhóm 53.03.
Tuy nhiên, nếu các sợi trên thuộc phạm vi định nghĩa về dây xe, chão
bện, dây thừng hoặc sợi cáp (xem Phần (I) (B) (2) của Chú giải tổng
quát Phần XI) thì bị loại trừ khỏi nhóm này (nhóm 56.07).
Sợi vẫn được phân loại trong nhóm này dù được hoặc không được đóng
gói để bán lẻ hoặc được xử lý như nêu tại Phần (I) (B) (1) của Chú giải
tổng quát Phần XI.
53.08 - Sợi từ các loại xơ dệt gốc thực vật khác; sợi giấy.
5308.10 - Sợi dừa
5308.20 - Sợi gai dầu
5308.90 - Loại khác
(A) Sợi từ các loại xơ dệt gốc thực vật khác.
Nhóm này bao gồm các sợi, dù là sợi đơn hay sợi xe, thu được bằng
cách kéo các sợi gai dầu thuộc nhóm 53.02, các sợi xe từ gốc thực
vật thuộc nhóm 53.05 hoặc các sợi gốc thực vật chưa được phân
loại trong Phần XI (cụ thể là Chương 14,..., kapok hoặc istle).
Tuy nhiên, nếu các sợi trên thuộc phạm vi định nghĩa về dây xe,
chão bện, dây thừng hoặc sợi cáp (xem Phần (I) (B) (2) của Chú
giải tổng quát Phần XI) thì được phân loại trong nhóm 56.07.
Các sợi gai dầu xe được dùng làm chỉ khâu (trong sản xuất sản
phẩm giày hoặc da), hoặc dùng để dệt.
Sợi vẫn được phân loại trong nhóm này dù đã hoặc chưa đóng gói
để bán lẻ hoặc được xử lý như đã nêu tại Phần (I) (B) (1) của Chú
giải tổng quát Phần XI.
Sợi trộn kim loại, bao gồm sợi thuộc nhóm này kết hợp chỉ kim loại
theo tỷ lệ bất kỳ bị loại trừ (nhóm 56.05).
(B) Sợi giấy.
Nhóm này bao gồm các sợi, dù là sợi đơn hay sợi xe (folded), được
làm từ giấy. Chúng được phân loại ở đây dù đã hoặc chưa đóng gói
để bán lẻ, và dù ở dạng hoặc không ở dạng dây xe, chão bện, dây
thừng hoặc cáp, nhưng loại trừ thừng, chão và cáp đã được tết bện.
Sợi vẫn được phân loại trong nhóm này dù chúng đã qua hoặc chưa
qua xử lý như nêu tại Phần (I) (B) (1) cuả Chú giải tổng quát Phần
Các sợi đơn thu được bằng cách xoắn hoặc cuộn theo chiều dọc của
dải giấy ẩm (đôi khi được thấm tẩm); các sợi xe thu được bằng cách
ghép đôi hai hay nhiều sợi đơn.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Giấy (sợi giấy) được gấp đơn giản một hay nhiều lần theo chiều
dọc (dài) của giấy (sợi giấy) (Chương 48).
(b) Các sợi giấy được kéo với chỉ kim loại hoặc được bọc sợi kim
loại bằng mọi quy trình chế biến (sợi trộn kim loại) (nhóm
56.05) bằng bất kỳ phương pháp nào.
(c) Sợi giấy xe thông thuờng gia cố đơn giản bằng kim loại và chão
bện, thừng và cáp đã được tết bện làm từ sợi giấy (nhóm 56.07).
53.09 - Vải dệt thoi từ sợi lanh.
- Có hàm lượng lanh chiếm từ 85% trở lên tính theo
khối lượng:
5309.11 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5309.19 - - Loại khác
- Có hàm lượng lanh chiếm dưới 85% tính theo
khối lượng:
5309.21 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5309.29 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các vải dệt thoi (như đã định nghĩa tại Phần (I) (c)
của Chú giải tổng quát Phần XI) được làm từ sợi lanh.
Những loại vải này bao gồm những nguyên liệu tốt làm quần áo lót phụ
nữ và váy áo, các nguyên liệu dùng làm ga trải giường, khăn trải bàn,...
Vải lanh cũng dùng làm bọc đệm, bao tải, vải bạt, buồm,...
Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ (nhóm
30.05) bị loại trừ khỏi nhóm này.
53.10 - Vải dệt thoi từ sợi đay hoặc từ các loại xơ libe dệt khác thuộc
nhóm 53.03.
5310.10 - Chưa tẩy trắng
5310.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các vải dệt thoi (như đã xác định tại Phần (I) (C) của
Chú giải tổng quát Phần XI) làm bằng sợi đay hoặc từ các loại xơ libe
dệt khác thuộc nhóm 53.03
Vải đay được dùng làm bao tải hoặc vỏ bao bì, như là vải nền để sản
xuất vải sơn/dầu (linoleum), làm đồ dùng nội thất bằng sợi lanh...
53.11 - Vải dệt thoi từ các loại sợi dệt gốc thực vật khác; vải dệt thoi
từ sợi giấy.
Nhóm này bao gồm các vải dệt thoi (như đã định nghĩa tại Phần (I) (C)
cuả Chú giải tổng quát Phần XI) làm từ các sợi thuộc nhóm 53.08
Những loại vải này được dùng chủ yếu để làm bao bì, vải căng buồm, để
sản xuất vải bạt, bao tải, vải lót bàn, chiếu thảm, như là vải nền để làm
vải sơn/dầu,...
Nhóm này không bao gồm vải dệt làm bằng cách đan bện các dải giấy
(nhóm 46.01).
Chương 54
Sợi filament nhân tạo; dải và các dạng tương tự từ nguyên liệu dệt
nhân tạo
Chú giải.
1. Trong toàn bộ Danh mục, thuật ngữ “sợi nhân tạo” có nghĩa là những
loại sợi staple và sợi filament bằng polyme hữu cơ được sản xuất từ
một trong hai quá trình sản xuất sau:
(a) Bằng quá trình polyme hoá các monome hữu cơ để sản xuất
polyme như polyamit, polyeste, polyolefin hoặc polyurethan,
hoặc quá trình biến đổi hoá học để sản xuất polyme (ví dụ, poly
(vinyl alcohol) được điều chế bởi quá trình thuỷ phân poly
(axetat vinyl)); hoặc
(b) Bằng quá trình xử lý hoá học hoặc phân huỷ các polyme hữu cơ
tự nhiên (như, xenlulo) để sản xuất polyme như cupram rayon
(cupro) hoặc viscose rayon, hoặc quá trình biến đổi hoá học các
polyme hữu cơ tự nhiên (ví dụ, xenlulo, casein và các protein
khác, hoặc axit alginic), để sản xuất polyme như axetat xenlulo
hoặc alginat..
Các thuật ngữ “tổng hợp” và “tái tạo”, liên quan đến các loại sợi, có
nghĩa: tổng hợp: các loại xơ, sợi như định nghĩa ở (a); tái tạo: các
loại xơ, sợi như định nghĩa ở (b). Dải và các dạng tương tự thuộc
nhóm 54.04 hoặc 54.05 không được coi là xơ nhân tạo.
Các khái niệm “nhân tạo (man-made)”, "tổng hợp (synthetic)" và "tái
tạo (artificial)” sẽ có cùng nghĩa như nhau khi sử dụng trong lĩnh vực
“nguyên liệu dệt”.
2. Các nhóm 54.02 và 54.03 không áp dụng cho sợi tô (tow) filament
tổng hợp hoặc tái tạo của Chương 55.
TỔNG QUÁT
Khi đọc Chú giải chi tiết của Chương này cần phải kết hợp xem xét
với Chú giải tổng quát của Phần XI.
Theo Chú giải 1 của Chương 54, thuật ngữ ”sợi nhân tạo”, khi được sử
dụng tại Chương 54 và 55 hoặc nơi khác trong Danh mục này, nghĩa là
sợi staple và các loại sợi filament từ các polyme hữu cơ được sản xuất
bằng các quá trình sau:
(1) Quá trình polyme hoá các monome hữu cơ hoặc quá trình biến đổi
hóa học các dẫn xuất polyme (xem Chú giải tổng quát của Chương
39) (xơ sợi tổng hợp); hoặc bằng.
(2) Quá trình hòa tan hay xử lý hoá học các polyme hữu cơ tự nhiên,
hoặc quá trình biến đổi hóa học hoặc các polyme hữu cơ tự nhiên (xơ
sợi tái tạo).
(I) SỢI TỔNG HỢP
Các nguyên liệu cơ bản để sản xuất các sợi này nói chung được lấy ra từ
các sản phẩm của quá trình chưng cất than đá hoặc từ chưng cất dầu mỏ
hoặc từ khí tự nhiên. Các chất được sản xuất bằng quá trình polyme hoá
hoặc được làm nóng chảy hoặc được hoà tan trong dung môi phù hợp và
sau đó được ép đùn qua các bộ phun tơ vào không khí hoặc vào bể kết
đông phù hợp, tại đó các chất này trở nên đông lại khi làm nguội hoặc
khi làm bay hơi dung môi, hoặc chúng có thể kết tủa khỏi dung dịch ở
dạng filament.
Tại công đoạn này, các đặc tính của chúng thông thường vẫn còn thiếu
để sử dụng trực tiếp trong các quá trình gia công dệt tiếp theo, và chúng
phải trải qua quá trình kéo duỗi để làm định hướng các phân tử theo
hướng của sợi filament, do vậy mà cải thiện đáng kể các đặc tính kỹ
thuật nhất định (ví dụ độ bền).
Các sợi tổng hợp chính là:
(1) Acrylic: các sợi gồm các đại phân tử mạch thẳng có tỷ trọng đơn vị
arcylonitrilic ít nhất là 85% trong thành phần đại phân tử.
(2) Modacrylic: các sợi gồm các đại phân tử mạch thẳng có tỷ trọng
đơn vị arcylonitrilic ít nhất là 35% nhưng thấp hơn 85% trong thành
phần đại phân tử.
(3) Polypropylene: các sợi gồm các đại phân tử mạch thẳng
hydrocacbon bão hoà không tuần hoàn, có tỷ trọng đơn vị ít nhất là
85% với mọi nguyên tử cacbon khác mang một nhóm methyl bên
cạnh ở vị trí đẳng cấu và không thể thay thế thêm được nữa trong
thành phần đại phân tử.
(4) Nylon hoặc các polyamit khác: Các sợi gồm các đại phân tử mạch
thẳng tổng hợp, trong thành phần đại phân tử, hoặc ít nhất là 85%
các liên kết amit lặp lại được nối với các nhóm không vòng hoặc có
vòng chiếm hoặc ít nhất là 85% các nhóm thơm được nối bởi các
liên kết amit trực tiếp với hai vòng thơm và trong đó các nhóm imit
có thể được thay thế đến 50% các nhóm amit.
Thuật ngữ "nylon hoặc polyamit khác” gồm cả các aramit (xem
Chú giải 12 của Phần) .
(5) Polyeste: các sợi gồm các đại phân tử mạch thẳng có tỷ trọng một
este của một diol và axit terephthalic ít nhất là 85% trong thành
phần đại phân tử.
(6) Polyethylene: các sợi gồm các đại phân tử mạch thẳng có tỷ trọng
đơn vị etylen ít nhất là 85% trong thành phần đại phân tử.
(7) Sợi polyuretan: các sợi là kết quả của quá trình polime hoá các
isoxyanat đa chức với các hợp chất polyhydroxy, như dầu thầu dầu,
butan-1, 4 diol, các polyether polyol, các polyester polyol.
Các sợi tổng hợp khác bao gồm: chlorofibre, fluorofibre, policacbamit,
trivinyl và vinylal.
Khi cấu tử của sợi là một coplyme hoặc một hỗn hợp của
homopolyme, như được hiểu tại chương 39, ví dụ một copolyme của
etylen và propylen dùng để phân loại các sợi, thì phải xem xét tới tỷ lệ
phần trăm tương ứng của mỗi cấu tử. Với ngoại lệ là các polyamit, các
tỷ lệ phần trăm này tham chiếu tới trọng lượng.
(II) SỢI TÁI TẠO
Nguyên liệu cơ bản để sản xuất các sợi này là các polyme hữu cơ được
tách từ các nguyên liệu thô tự nhiên bằng các quá trình có thể liên quan
đến phân hủy hoặc xử lý hóa học, hoặc biến đổi hóa học.
Các sợi tái tạo chính là:
(A) Sợi xenlulô, cụ thể là:
(1) Tơ tái tạo vít-cô (viscose), được sản xuất bằng cách xử lý xenlulô
(thường ở dạng bột gỗ sunphát) với hidroxit natri; sau đó xenlulô
kiềm đã được tạo ra được xử lý với cacbon disunphit và và được
biến đổi thành xantanat xenlulô natri. Đến lượt xantanat xenlulô
natri lại được chuyển thành một dung dịch đặc được biết đến là vít-
cô bằng cách hoà tan trong hidroxit natri loãng.
Sau khi tinh lọc và để chín, vít-cô được ép đùn qua các bộ phun tơ
vào một bồn axit kết đông để tạo nên các filament làm từ xenlulô tái
chế. Tơ tái tạo vít-cô cũng bao gồm cả xơ modal, được sản xuất từ
xenlulô tái chế bằng một quá trình vít-cô cải biến.
(2) Cupram rayon (cupro), thu được bằng cách hoà tan xenlulô (nói
chung ở dạng xơ nhung hoặc bột gỗ hoá học) trong dung dịch đồng
amoni; dung dịch vít-cô tạo ra được ép đùn vào một bể tại đó hình
thành các sợi filament của xenlulô kết tủa.
(3) Axêtat xenlulô (kể cả triaxetat): sợi được sản xuất ra từ axêtat
xenlulô, trong đó có ít nhất 74% các nhóm hydroxyl được axêtat
hoá. Sợi này được sản xuất bằng cách xử lý xenlulô (thường ở dạng
xơ nhung của bông hoặc bột gỗ hoá học) với một hỗn hợp anhyrit
axêtic, axit axêtic và axit sunphuric. Axêtat xenlulô thô được cải
tiến thành dạng hoà tan và được hoà tan trong dung môi dễ bay hơi
như axetôn, sau đó được ép đùn (thường vào không khí ấm); dung
môi sau đó được bay hơi để lại các sợi filament axêtat xenlulô.
(B) Sợi protein từ nguồn gốc động vật hoặc gốc thực vật, gồm:
(1) Các sợi được sản xuất bằng cách hoà tan cazein sữa trong kiềm
(thường là hydroxit natri); sau khi để chín, dung dịch được ép
đùn vào bể kết đông axit. Các filament sau đó được làm cứng
bằng cách xử lý với focmaldehyde, tananh, các muối crom hoặc
các hợp chất hoá học khác.
(2) Các sợi khác được sản xuất bằng cách tương tự từ protein của
lạc, đậu tương, ngô, v.v...
(C) Sợi alginat. Xử lý hoá học nhiều loại tảo biển khác nhau tạo ra một
dung dịch nhớt, thường là alginate natri; dung dịch nhớt này được
ép đùn vào một bể để chuyển thành các sợi alginat kim loại nhất
định. Các alginate này bao gồm:
(1) Sợi alginat crôm canxi; sợi này không cháy.
(2) Sợi alginat canxi. Sợi này dễ dàng hoà tan trong dung dịch
kiềm yếu của xà phòng; điều này làm cho xơ không phù hợp
cho sử dụng để dệt thông thường, và chúng thường được sử
dụng để làm sợi tạm thời trong các công đoạn sản xuất nhất
định.
Chương này bao gồm các loại sợi filament nhân tạo và sợi nhân tạo và
vải dệt thoi từ các loại sợi filament như vậy, kể cả sợi và vải dệt thoi làm
từ xơ dệt hỗn hợp cũng được phân loại như sợi và vải dệt thoi làm từ sợi
filament nhân tạo khi áp dụng Chú giải 2 của Phần XI. Chương này cũng
bao gồm sợi monofilament và các sản phẩm khác của nhóm 54.04 hoặc
54.05 và vải dệt thoi làm từ các sản phẩm đó.
Tô filament, trừ loại được định nghĩa trong Chú giải 1 của Chương 55,
cũng thuộc Chương này. Nói chung, loại sợi (filament) thuộc Chương
này được sử dụng trong sản xuất đầu lọc thuốc lá, trong khi đó tô
filament của Chương 55 được sử dụng để sản xuất sợi staple.
Chương này không bao gồm:
(a) Sợi được sử dụng để làm vệ sinh kẽ chân răng (chỉ tơ nha khoa), ở
dạng từng cuộn riêng để bán lẻ của nhóm 33.06.
(b) Các sản phẩm của Chương 40, đặc biệt là chỉ và dây bện của nhóm
(c) Các sản phẩm của Chương 55, đặc biệt là sợi staple, sợi và vải dệt
thoi từ sợi staple và phế liệu (kể cả xơ vụn, phế liệu sợi và nguyên
liệu tái chế) của sợi filament nhân tạo.
(d) Sợi cacbon và các mặt hàng từ sợi cácbon của nhóm 68.15.
(e) Sợi thuỷ tinh và các mặt hàng từ sợi thuỷ tinh của nhóm 70.19.
54.01 - Chỉ khâu làm từ sợi filament nhân tạo, đã hoặc chưa đóng
gói để bán lẻ.
5401.10 - Từ sợi filament tổng hợp
5401.20 - Từ sợi filament tái tạo
Nhóm này bao gồm chỉ khâu từ sợi filament nhân tạo ở các dạng và tuân
theo các điều kiện được mô tả trong Phần (I) (B) (4) của Chú giải tổng
quát Phần XI.
Tuy nhiên, nếu các loại chỉ như thuộc phạm vi định nghĩa dây xe v.v...
(xem Phần (I) (B) (2) của Chú giải tổng quát phần XI) thì bị loại trừ khỏi
nhóm này (nhóm 56.07).
Chỉ khâu vẫn thuộc nhóm này dù đã hoặc chưa được đóng gói để bán lẻ
hoặc được gia công như đã nêu tại Phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng
quát Phần XI.
Nhóm này cũng không bao gồm các loại sợi đơn và sợi monofilament,
ngay cả khi được sử dụng như là chỉ khâu (nhóm 54.02, 54.03, 54.04
hoặc 54.05 tùy từng trường hợp).
54.02 - Sợi filament tổng hợp (trừ chỉ khâu), chưa đóng gói để bán
lẻ, kể cả sợi monofilament tổng hợp có độ mảnh dưới 67
- Sợi có độ bền cao làm từ ni lông hoặc các polyamit
khác, đã hoặc chưa làm dún:
5402.11 - - Từ các aramit
5402.19 - - Loại khác
5402.20 - Sợi có độ bền cao làm từ polyeste, đã hoặc chưa làm
dún
- Sợi dún:
5402.31 - - Từ ni lông hoặc các polyamit khác, độ mảnh mỗi sợi
đơn không quá 50 tex
5402.32 - - Từ ni lông hoặc các polyamit khác, độ mảnh mỗi sợi
đơn trên 50 tex
5402.33 - - Từ các polyeste
5402.34 - - Từ polypropylen
5402.39 - - Loại khác
- Sợi khác, đơn, không xoắn hoặc xoắn không quá 50
vòng xoắn trên mét:
5402.44 - - Từ nhựa đàn hồi
5402.45 - - Loại khác, từ ni lông hoặc từ các polyamit khác
5402.46 - - Loại khác, từ các polyeste, được định hướng một
phần
5402.47 - - Loại khác, từ các polyeste
5402.48 - - Loại khác, từ polypropylen
5402.49 - - Loại khác
- Sợi khác, đơn, xoắn trên 50 vòng xoắn trên mét:
5402.51 - - Từ ni lông hoặc các polyamit khác
5402.52 - - Từ polyeste
5402.53 - -Từ polypropylene
5402.59 - - Loại khác
- Sợi khác, sợi xe (folded) hoặc sợi cáp:
5402.61 - - Từ ni lông hoặc các polyamit khác
5402.62 - - Từ polyeste
5402.63 - - Từ polypropylene
5402.69 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm sợi filament tổng hợp (trừ chỉ khâu) gồm :
(1) Sợi monofilament (monophin) có độ mảnh dưới 67 decitex.
(2) Sợi multifilament thu được bằng cách gộp nhiều sợi monofilamnet
lại với nhau (từ hai tới vài trăm sợi filament) thường được tạo ra từ
bộ phun tơ. Các sợi này có thể không được xoắn hoặc được xoắn
(sợi đơn, sợi xe (folded) hoặc cáp). Do đó chúng gồm:
(i) Sợi đơn gồm có các filament quấn song song không xoắn sợi. Tô
filament không được nói đến trong Chương 55 thì thuộc nhóm này.
(ii) Sợi đơn từ các sợi filament xoắn khi chúng được lấy ra từ bộ
phun tơ hoặc ở công đoạn xoắn sau đó.
(iii) Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp được sản xuất bằng cách kết hợp
các sợi đơn đó, kể cả thu được từ các sợi monofilament của
nhóm 54.04 (xem Phần (I) (B) (1) của Chú giải tổng quát của
Phần XI).
Tuy nhiên, các loại sợi nói trên bị loại trừ khỏi nhóm này nếu chúng tạo nên
sợi xe của nhóm 56.07 hoặc sơị đã được đóng gói để bán lẻ thuộc nhóm
54.06 (xem Phần (I) (B) (2) và (3) của Chú giải tổng quát Phần XI).
Ngoài những dạng thông thường mà sợi dệt có thể được đóng gói không
phải để bán lẻ, một số sợi của nhóm này cũng được đóng gói ở nhiều
dạng không có lõi đỡ bên trong (dạng bánh....)
Ngoài những loại trừ đã nêu, nhóm này không bao gồm:
(a) Sợi monofilament tổng hợp và sợi dạng dải và dạng tương tự từ
vật liệu dệt tổng hợp, thuộc nhóm 54.04.
(b) Tô filament tổng hợp có chiều dài trên 2 mét của nhóm 55.01.
(c) Tô filament tổng hợp có chiều dài không quá 2 mét của nhóm
(d) Top ( tô được kéo đứt) của nhóm 55.06.
(e) Sợi trộn kim loại, kể cả sợi của nhóm này được kết hợp với sợi kim
loại với tỷ lệ bất kỳ hoặc được phủ bằng kim loại (nhóm 56.05).
Chú giải phân nhóm
Phân nhóm từ 5402.31 đến 5402.39
Sợi dún là sợi mà đã được làm thay đổi bằng quá trình cơ học hoặc vật lý
(ví dụ xoắn, tháo xoắn, xoắn giả, nén, tạo nếp chun, định hình nhiệt hoặc
kết hợp của vài quá trình này), dẫn đến kết quả là từng sợi được định hình
với các nếp cong, nếp chun, vòng sợi v.v.. Những sự biến dạng này có thể
được kéo thẳng ra một phần hoặc toàn bộ bởi một lực duỗi nhưng tự trở lại
hình dạng như đã định trước khi chúng ra khỏi máy.
Sợi dún có được đặc trưng bởi có độ xốp cao hoặc độ giãn nở rất cao.
Độ đàn hồi cao của cả hai loại này làm chúng đặc biệt phù hợp để sử
dụng sản xuất quần áo co giãn (ví dụ quần áo nịt, bít tất dài, quần lót),
trong khi sợi có độ xốp cao mang lại cho vải cảm giác mềm mại và ấm
khi chạm vào.
Có thể phân biệt sợi dún với sợi filament không dún (sợi phẳng) bằng
các đặc tính xoắn đặc biệt, các vòng sợi nhỏ hoặc sự định hướng song
song bị giảm xuống của filament trong sợi.
Phân nhóm 5402.46
Phân nhóm này bao gồm các sợi mà các phân tử của chúng được định
hướng một phần. Các sợi này thường ở dạng sợi phẳng, không được sử
dụng trực tiếp cho sản xuất vải và trước tiên phải trải qua một quá trình
kéo duỗi hoặc quá trình kéo duỗi- tạo dún. Chúng cũng được biết đến
dưới tên “POY”.
54.03 - Sợi filament tái tạo (trừ chỉ khâu), chưa đóng gói để bán lẻ,
kể cả sợi monofilament tái tạo có độ mảnh dưới 67 decitex.
5403.10 - Sợi có độ bền cao từ viscose rayon
- Sợi khác, đơn:
5403.31 - - Từ viscose rayon, không xoắn hoặc xoắn không
quá 120 vòng xoắn trên mét
5403.32 - - Từ viscose rayon, xoắn trên 120 vòng xoắn trên
mét
5403.33 - - Từ xenlulo axetat
5403.39 - - Loại khác
- Sợi khác, sợi xe (folded) hoặc sợi cáp:
5403.41 - - Từ viscose rayon
5403.42 - -Từ xenlulo axetat
5403.49 - - Loại khác
Chú giải của nhóm 54.02 được áp dụng tương tự với các mặt hàng của
nhóm này.
54.04 - Sợi monofilament tổng hợp có độ mảnh từ 67 decitex trở lên
và kích thước mặt cắt ngang không quá 1 mm; dải và dạng
tương tự (ví dụ, sợi rơm nhân tạo) từ vật liệu dệt tổng hợp có
chiều rộng bề mặt không quá 5 mm.
- Sợi monofilament:
5404.11 - - Từ nhựa đàn hồi
5404.12 - - Loại khác, từ polypropylen
5404.19 - - Loại khác
5404.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm :
(1) Sợi monofilament tổng hợp: đây là những filament được ép đùn
như là filament đơn. Chúng được phân loại ở đây chỉ khi chúng có
độ mảnh từ 67 decitex trở lên và kích thước mặt cắt ngang bất kì
không quá 1mm. Sợi monofilament thuộc nhóm này có thể có hình
dạng mặt cắt bất kỳ và có thể thu được không chỉ bằng cách ép đùn
mà còn bằng cách cán mỏng hoặc ép nóng.
(2) Sợi dạng dải và các dạng tương tự làm từ nguyên liệu dệt tổng
hợp: Các sợi dải thuộc nhóm này dẹt, có bề rộng không quá 5mm,
hoặc được sản xuất bằng cách ép đùn hoặc cắt từ dải rộng hơn hoặc
từ các tấm.
Với điều kiện chiều rộng bề mặt (tức là ở trạng thái gập đôi, ép dẹt, bị
nén hoặc xoắn) không vượt quá 5mm, nhóm này cũng bao gồm :
(i) Sợi dạng dải được gấp đôi dọc theo chiều dài.
(ii) Sợi dạng ống được ép dẹt, đã được hoặc chưa được gập đôi dọc
theo chiều dài.
(iii) Sợi dạng dải, và các mặt hàng được đề cập ở phần (i) và (ii) nêu
trên, đã nén hoặc được xoắn.
Nếu chiều rộng (hoặc chiều rộng bề mặt) không đồng đều, việc
phân nhóm được quyết định bằng cách xem xét bề rộng trung
bình.
Nhóm này cũng bao gồm các loại sợi xe (folded) dạng dải hoặc
sợi cáp dạng dải và các dạng tương tự.
Tất cả sản phẩm này thông thường có chiều dài lớn, nhưng vẫn được
phân loại ở nhóm này thậm chí khi sản phẩm đã được cắt thành các đoạn
ngắn và đã hoặc chưa được đóng gói để bán lẻ. Chúng được sử dụng tuỳ
theo các đặc tính khác nhau trong sản xuất bàn chải, vợt bóng thể thao,
dây câu cá, chỉ phẫu thuật, vải bọc đồ đạc, băng tải, mũ phụ nữ, dây
bện...
Nhóm này không bao gồm :
(a) Sợi monofilament tổng hợp vô trùng (nhóm 30.06)
(b) Sợi monofilament tổng hợp có kích thước mặt cắt ngang bất kì
vượt quá 1mm, hoặc sơi dạng dải và dạng ống được ép dẹt (kể cả
sợi dạng dải và dạng ống đã ép dẹt được gấp đôi dọc theo chiều
dài) đã hoặc chưa được nén hoặc xoắn (thí dụ: sợi giả rơm), với
điều kiện chiều rộng bề mặt (tức là ở trạng thái đã xe, ép dẹt, bị
nén hoặc xoắn) quá 5mm (Chương 39).
(c) Sợi monofilament tổng hợp có độ mảnh dưới 67 decitex thuộc
nhóm 54.02.
(d) ) Sợi dạng dải và các mặt hàng và các mặt hàng tương tự thuộc
Chương 56.
(e) Sợi monofilament tổng hợp kèm lưỡi câu hoặc được làm thành
dây câu cá (nhóm 95.07).
(f) Các thắt nút và búi sợi đã được chuẩn bị sẵn để làm bàn chải (nhóm
54.05 - Sợi monofilament tái tạo có độ mảnh từ 67 decitex trở lên và
kích thước mặt cắt ngang không quá 1 mm; dải và dạng
tương tự (ví dụ, sợi rơm nhân tạo) từ vật liệu dệt tái tạo có
chiều rộng bề mặt không quá 5 mm.
Chú giải chi tiết của nhóm 54.04 được áp dụng tương tự với các mặt
hàng của nhóm này.
54.06 - Sợi filament nhân tạo (trừ chỉ khâu), đã đóng gói để bán lẻ.
Nhóm này bao gồm sợi filament nhân tạo (trừ chỉ khâu), khi được đóng
gói để bán lẻ, tức là ở các dạng và tuân theo các điều kiện được mô tả
trong Phần (I) (B) (3) của Chú giải tổng quát của Phần XI.
54.07 - Vải dệt thoi bằng sợi filament tổng hợp, kể cả vải dệt thoi thu
được từ các nguyên liệu thuộc nhóm 54.04.
5407.10 - Vải dệt thoi từ sợi có độ bền cao bằng ni lông
hoặc các polyamit hoặc các polyeste khác
5407.20 - Vải dệt thoi từ dải hoặc dạng tương tự
5407.30 - Vải dệt thoi đã được nêu ở Chú giải 9 Phần XI
- Vải dệt thoi khác, có hàm lượng sợi filament bằng
ni lông hoặc các polyamit khác chiếm từ 85% trở
lên tính theo khối lượng:
5407.41 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5407.42 - - Đã nhuộm
5407.43 - - Từ các sợi có các mầu khác nhau
5407.44 - - Đã in
- Vải dệt thoi khác, có hàm lượng sợi filament
polyeste dún chiếm từ 85% trở lên tính theo khối
lượng:
5407.51 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5407.52 - - Đã nhuộm
5407.53 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5407.54 - - Đã in
- Vải dệt thoi khác, có hàm lượng sợi filament
polyeste chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng:
5407.61 - - Có hàm lượng sợi filament polyeste không dún
chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng
5407.69 - - Loại khác
- Vải dệt thoi khác, có hàm lượng sợi filament tổng
hợp chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng:
5407.71 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5407.72 - - Đã nhuộm
5407.73 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5407.74 - - Đã in
- Vải dệt thoi khác, có hàm lượng sợi filament tổng
hợp chiếm dưới 85% tính theo khối lượng, được
pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với bông:
5407.81 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5407.82 - - Đã nhuộm
5407.83 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5407.84 - - Đã in
- Vải dệt thoi khác:
5407.91 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5407.92 - - Đã nhuộm
5407.93 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5407.94 - - Đã in
Nhóm này bao gồm các loại vải dệt (như đã mô tả tại phần (1) (C) của
Chú giải tổng quát Phần XI) làm bằng sợi filament tổng hợp hoặc bằng
sợi monofilament hoặc dải thuộc nhóm 54.04; nhóm bao gồm nhiều loại
vải khác nhau, vải may quần áo, vải dùng may lớp lót, vải rèm, vải trang
trí, vải căng bạt, vải dù v.v...
Nhóm này không bao gồm :
(a) Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói bán lẻ
(nhóm 30.05).
(b) Vải dệt thoi bằng sợi monofilament tổng hợp có kích thước mặt
cắt bất kỳ trên 1mm, hoặc loại dải hoặc các loại tương tự có
chiều rộng từ 5mm trở lên bằng các nguyên liệu dệt tổng hợp
(nhóm 46.01).
(c) Vải dệt thoi bằng sợi staple tổng hợp (nhóm 55.12 đến 55.15).
(d) Vải mành dùng làm lốp thuộc nhóm 59.02.
(e) Vải dệt thoi phục vụ cho kỹ thuật thuộc nhóm 59.11.
54.08 - Vải dệt thoi bằng sợi filament tái tạo, kể cả vải dệt thoi thu
được từ các nguyên liệu thuộc nhóm 54.05.
5408.10 - Vải dệt thoi bằng sợi có độ bền cao viscose rayon
- Vải dệt thoi khác, có hàm lượng sợi filament tái tạo
hoặc dải hoặc dạng tương tự chiếm từ 85% trở lên
tính theo khối lượng:
5408.21 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5408.22 - - Đã nhuộm
5408.23 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5408.24 - - Đã in
- Vải dệt thoi khác:
5408.31 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5408.32 - - Đã nhuộm
5408.33 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5408.34 - - Đã in
Nhóm này bao gồm các loại vải dệt thoi (như đã mô tả tại phần (I) (C)
của Chú giải tổng quát Phần XI) làm bằng sợi filament tái tạo hoặc bằng
sợi monofilament hoặc dải thuộc nhóm 54.05; nhóm này bao gồm nhiều
loại vải khác nhau, như là vải may quần áo, vải dùng may lớp lót, vải
rèm, vải căng bạt, vải dù, v.v...
Nhóm này không bao gồm:
(a) Băng dùng trong y tế, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói bán lẻ
(nhóm 30.05).
(b) Vải dệt thoi bằng sợi monofilament tái tạo có kích thước mặt cắt
bất kỳ trên 1mm, hoặc dạng dải hoặc dạng tương tự có chiều
rộng một mặt cắt trên 5mm, bằng các nguyên liệu dệt tái tạo
(nhóm 46.01).
(c) Vải dệt thoi bằng sợi staple tái tạo (nhóm 55.16).
(d) Vải mành dùng làm lốp (nhóm 59.02).
(e) Vải dệt thoi phục vụ cho kỹ thuật thuộc nhóm 59.11.
Chương 55
Xơ sợi staple nhân tạo
Chú giải.
1. - Các nhóm 55.01 và 55.02 chỉ áp dụng với tô filament nhân tạo, bao
gồm các filament song song có cùng chiều dài tương đương chiều
dài của tô (tow), thoả mãn các chỉ tiêu kỹ thuật dưới đây:
(a) Chiều dài của tô (tow) trên 2 m;
(b) Xoắn dưới 5 vòng trên mét;
(c) Độ mảnh mỗi filament dưới 67 decitex;
(d) Nếu là tô (tow) filament tổng hợp: tô (tow) phải được kéo duỗi
nhưng không thể kéo dài hơn 100% chiều dài của nó;
(e) Tổng độ mảnh của tô (tow) trên 20.000 decitex.
Tô (tow) có chiều dài không quá 2 m thì được xếp vào nhóm 55.03
hoặc 55.04.
TỔNG QUÁT
Khi đọc Chú giải Chi tiết của Chương này cần phải kết hợp xem xét
với Chú giải tổng quát của Phần XI.
Chương này bao gồm các xơ nhân tạo được mô tả trong Chú giải tổng
quát của Chương 54 khi ở dạng xơ sợi staple (tức là các xơ sợi không
liên tục) hoặc dưới dạng tô filament nhất định; chương này cũng gồm
các sản phẩm sản xuất ra tại nhiều công đoạn gia công các loại xơ hoặc
tô này, cho tới và bao gồm cả sợi và vải dệt thoi. Chương này bao gồm
thêm các sản phẩm dệt pha được phân loại như là các sản phẩm từ xơ,
sợi staple nhân tạo bằng cách áp dụng Chú giải 2 của Phần XI.
Xơ sợi staple nhân tạo thường được sản xuất bằng cách ép đùn qua các
bộ phun tơ có rất nhiều lỗ (có thể tới vài nghìn); sau đó các filament từ
nhiều bộ phun tơ được gom lại với nhau ở dạng tô. Tô này có thể được
kéo dãn và được cắt thành các đoạn ngắn hoặc ngay lập tức hoặc trải
qua nhiều quá trình gia công (giặt, tẩy trắng, nhuộm ..v.v) trong khi vẫn
ở dạng tô. Chiều dài mà xơ được cắt ngắn ra thường từ 25mm tới
180mm và thay đổi theo xơ nhân tạo có liên quan, theo loại sợi sẽ được
sản xuất và theo bản chất của bất kì xơ dệt khác mà chúng sẽ được pha
trộn với.
Phế liệu (kể cả phế liệu xơ, phế liệu sợi và nguyên liệu tái chế) từ sợi
filament nhân tạo hoặc xơ, sợi staple nhân tạo cũng được phân loại vào
Chương này.
Chương này không bao gồm:
(a) Các loại xơ dệt dài không quá quá 5mm (xơ vụn) của nhóm 56.01.
(b) Amiăng của nhóm 25.24 và các mặt hàng làm từ amiăng và các sản
phẩm khác của nhóm 68.12 hoặc 68.13.
(c) Carbon và các mặt hàng từ carbon của nhóm 68.15.
(d) Sợi thuỷ tinh và các mặt hàng từ sợi thuỷ tinh của nhóm 70.19.
55.01 - Tô (tow) filament tổng hợp
- Từ ni lông hoặc từ các polyamit khác:
5501.11 - - Từ các aramit
5501.19 - - Loại khác
5501.20 - Từ các polyeste
5501.30 - Từ acrylic hoặc modacrylic
5501.40 - Từ polypropylen
5501.90 - Loại khác
Nhóm này gồm tô filament tổng hợp được sản xuất như mô tả trong Chú
giải tổng quát của Chương này, chỉ khi nó đáp ứng các chỉ tiêu kỹ thuật
sau (xem Chú giải 1 đầu Chương):
(A) Chiều dài của tô trên 2m.
(B) Tô phải không xoắn hoặc xoắn dưới 5 vòng xoắn trên 1 mét.
(C) Độ mảnh mỗi filament dưới 67 decitex.
(D) Tô phải được kéo duỗi, tức là không thể kéo dãn quá 100 % chiều
dài của nó.
(E) Tổng độ mảnh của tơ phải trên 20.000 decitex.
Yêu cầu đưa ra trong đoạn (D) để đảm bảo rằng tô ở trạng thái sẵn sàng
để chuyển thành xơ staple. Sau khi ép đùn, các sợi filament tổng hợp
chưa được định hướng đủ và phải được kéo duỗi để làm định hướng các
phân tử của chúng và tạo cho chúng các đặc tính cần thiết. Tô đã kéo
duỗi giữ được độ đàn hồi nhất dịnh nhưng thông thường đứt khi đang
được kéo dãn nhỏ hơn đáng kể so với 100% chiều dài của nó. Mặt khác
tô chưa kéo duỗi có thể được kéo dãn tới 3 đến 4 lần chiều dài của nó
trước khi đứt.
Tô thuộc nhóm này thông thường được sử dụng để sản xuất sợi từ xơ
staple tổng hợp hoặc bằng cách:
(1) Cắt thành xơ staple và sau đó được chuyển thành cúi sợi, sợi thô và
sợi bằng các quá trình gia công tương tự như các quá trình dùng cho
bông hoặc lông cừu; hoặc
(2) Được chuyển thành cúi (top) bằng quá trình “biến tô thành cúi”(tow-to-
top) (xem Chú giải của nhóm 55.06) và sau đó thành sợi.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Các cụm sợi filament tổng hợp thoả mãn các điều kiện của mục
(A), (B) và (C) ở trên có độ mảnh không quá 20.000 decitex hoặc
bất kể tổng độ mảnh là bao nhiêu đối với trường hợp các filament
chưa được kéo duỗi (nhóm 54.02).
(b) Các cụm sợi filament tổng hợp (mỗi filament có độ mảnh từ 67
decitex trở lên), không xoắn hoặc xoắn dưới 5 vòng xoắn trên mét,
đã hoặc chưa được kéo duỗi, và bất kể tổng độ mảnh là bao nhiêu
(nhóm 54.04 nếu không có mặt cắt ngang nào của từng sợi filament
quá 1mm hoặc nếu không thì được xếp vào Chương 39).
(c) Tô filament tổng hợp thoả mãn các điều kiện (B) và (C) ở trên,
nhưng có chiều dài không quá 2m, đã hoặc chưa được kéo duỗi và
bất kể tổng độ mảnh là bao nhiêu (nhóm 55.03).
55.02 - Tô (tow) filament tái tạo.
5502.10 - Từ axetat xenlulo
5502.90 – Loại khác
Ngoại trừ của Chú giải 1 (d) của Chương này, Chú giải nhóm 55.01
được áp dụng, một cách tương tự, với các mặt hàng của nhóm này.
55.03 - Xơ staple tổng hợp, chưa chải thô, chưa chải kỹ hoặc chưa
gia công cách khác để kéo sợi.
- Từ ni lông hoặc từ các polyamit khác:
5503.11 - - Từ các aramit
5503.19 - - Loại khác
5503.20 - Từ các polyeste
5503.30 - Từ acrylic hoặc modacrylic
5503.40 - Từ polypropylen
5503.90 - Loại khác
Các loại xơ của nhóm này được sản xuất như mô tả trong Chú giải tổng
quát của Chương này.
Xơ staple tổng hợp thường được ép-đóng gói thành kiện. Nói chung các
xơ có chiều dài đồng đều, điều này phân biệt chúng với phế liệu của
nhóm 55.05.
Nhóm cũng bao gồm tô filament tổng hợp có chiều dài không quá 2 m
miễn là mỗi filament có độ mảnh dưới 67 decitex. Tô filament tổng hợp
có chiều dài trên 2 m bị loại trừ (nhóm 54.02 hoặc 55.01).
Xơ staple tổng hợp đã được chải thô, chải kỹ hoặc được gia công cách
khác để kéo sợi cũng bị loại trừ (nhóm 55.06).
55.04 - Xơ staple tái tạo, chưa chải thô, chưa chải kỹ hoặc chưa gia
công cách khác để kéo sợi.
5504.10 - Từ viscose rayon
5504.90 - Loại khác
Chú giải chi tiết của nhóm 55.03 được áp dụng, một cách tương tự, với
các mặt hàng của nhóm này.
55.05 - Phế liệu (kể cả phế liệu xơ, phế liệu sợi và nguyên liệu tái
chế) từ xơ nhân tạo.
5505.10 - Từ các xơ tổng hợp
5505.20 - Từ các xơ tái tạo
Nhóm này cũng bao gồm các phế liệu xơ nhân tạo (sợi filament và xơ
staple, xem Chú giải tổng quát của Chương 54) và gồm:
(1) Phế liệu xơ (phế liệu mềm) như xơ tương đối dài thu được dưới
dạng phế liệu trong quá trình hình thành và gia công sợi filament;
xơ ngắn thu được dưới dạng phế liệu từ quá trình chải thô, chải kỹ
và các quá trình gia công khác chuẩn bị cho kéo sợi từ xơ staple (ví
dụ phế liệu xơ, các miếng đứt đoạn nhỏ từ các lớp bông, cúi hoặc
sợi thô...).
(2) Phế liệu sợi (phế liệu cứng) tức là sợi đứt, sợi thắt nút hoặc sợi rối
được gom lại dưới dạng phế liệu trong quá trình kéo sợi, xe sợi,
guồng sợi, dệt thoi, dệt kim v.v.
(3) Nguyên liệu tái chế, tức là xơ có được bằng cách xé các miếng vải
vụn hoặc sợi thành các xơ thành phần.
Phế liệu như vậy được xếp vào nhóm này cho dù đã hoặc chưa được tẩy
trắng hoặc nhuộm, miễn là nó chưa được chải thô, chải kỹ hoặc gia
công cách khác để kéo sợi.
Nhóm này không bao gồm:
(a) Mền xơ, bông (nhóm 30.05 hoặc 56.01).
(b) Xơ phế liệu đã được chải thô, chải kỹ, hoặc gia công cách khác để
kéo sợi (nhóm 55.06 hoặc 55.07).
(c) Xơ vụn và bụi xơ và kết xơ từ công nghiệp dệt (nhóm 56.01).
(d) Vải vụn mới hoặc cũ (Chương 63).
55.06 - Xơ staple tổng hợp, đã chải thô, chải kỹ hoặc gia công cách
khác để kéo sợi.
5506.10 - Từ ni lông hoặc các polyamit khác
5506.20 - Từ các polyeste
5506.30 - Từ acrylic hoặc modacrylic
5506.40 - Từ polypropylen
5506.90 - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại xơ staple tổng hợp (kể cả các phế liệu của
xơ staple tổng hợp hoặc phế liệu sợi filament) đã qua các xử lý như chải
thô, chải kỹ hoặc các xử lý khác để kéo sợi.
Trong quá trình chải thô, xơ staple và xơ phế liệu được đi qua máy làm
cho các xơ ít nhiều được song song và cho ra dưới dạng màng xơ rộng
hoặc lớp bông, các sản phẩm này sau đó thông thường được gom lại
thành cúi (một dải xơ được kết hợp lại lỏng lẻo mà không có xoắn).
Trong quá trình chải kỹ, cúi chải thô được đi qua máy lần nữa làm cho
các xơ gần như hoàn toàn song song và, trong trường hợp phế liệu, thì
loại bỏ các xơ ngắn (xơ vụn (noil)). Cúi chải kỹ luôn luôn được quấn
thành cuộn hoặc cuộn hình cầu, được biết đến là “top”.
Top cũng được làm trực tiếp từ filament bằng qúa trình được biết đến
dưới tên gọi “biến tô thành top” (top to tow).
Tô được đi qua một thiết bị kéo đứt hoặc cắt các filament mà không làm
rối loạn tính liên tục hoặc sự sắp xếp song song của chúng. Thao tác này
có thể thực hiện, ví dụ bằng cách đưa tô đi qua các trục quay với tốc độ
khác nhau, do vậy gây ra một lực kéo làm đứt các filament; hoặc các
trục răng có thể kéo đứt các filament bằng cách ép trực tiếp; hoặc tô có
thể được cắt theo đường chéo bằng cơ cấu dao. Trong khi đi qua máy,
tô sẽ được kéo dãn thành cúi (sliver). Các quá trình này tránh cắt tô
thành các xơ staple và loại bỏ quá trình chải thô hoặc thông thường là
cả chải thô và chải kỹ.
Cúi (sliver) dù được sản xuất bằng quá trình chải thô, chải kỹ hoặc bằng
quá trình “ biến tô thành top” được kéo dài thành sợi thô (roving) - là
dòng các xơ song song mảnh hơn có độ xoắn nhẹ - có thể được kéo
thành sợi trong một công đoạn.
Nhóm này không bao gồm mền xơ, bông (nhóm 30.05 hoặc 56.01).
55.07 – Xơ staple tái tạo, đã chải thô, chải kỹ hoặc gia công cách
khác để kéo sợi
Chú giải chi tiết của nhóm 55.06 được áp dụng, một cách tương tự, với
các mặt hàng của nhóm này.
55.08 - Chỉ khâu làm từ xơ staple nhân tạo, đã hoặc chưa đóng gói
để bán lẻ.
5508.10 - Từ xơ staple tổng hợp
5508.20 - Từ xơ staple tái tạo
Nhóm này bao gồm các chỉ khâu ở các dạng và theo các điều kiện mô tả
trong Phần (I) (B) (4) của Chú giải tổng quát của Phần XI.
Tuy nhiên, nếu chỉ khâu như vậy thuộc phạm vi định nghĩa về dây xe
v.v (xem Phần (I) (B) (2) của Chú giải tổng quát của Phần XI) thì bị loại
trừ khỏi nhóm này (nhóm 56.07).
Chỉ khâu được phân loại trong nhóm này cho dù đã hoặc chưa được
đóng gói để bán lẻ hoặc đã qua các quá trình nêu tại Phần (I) (B) (1) của
Chú giải tổng quát của Phần XI.
55.09 - Sợi (trừ chỉ khâu) từ xơ staple tổng hợp, chưa đóng gói để 55.09 - Yarn (other than sewing thread) of synthetic staple fibres, not
bán lẻ.
- Có hàm lượng xơ staple bằng ni lông hoặc các
polyamit khác chiếm từ 85% trở lên tính theo khối
lượng:
5509.11 - - Sợi đơn
5509.12 - - Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp
- Có hàm lượng xơ staple polyeste chiếm từ 85% trở
lên tính theo khối lượng:
5509.21 - - Sợi đơn
5509.22 - - Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp
- Có hàm lượng xơ staple bằng acrylic hoặc modacrylic
chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng:
5509.31 - - Sợi đơn
5509.32 - - Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp
- Sợi khác, có hàm lượng xơ staple tổng hợp chiếm từ
85% trở lên tính theo khối lượng:
5509.41 - - Sợi đơn
5509.42 - - Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp
- Sợi khác, từ xơ staple polyeste:
5509.51 - - Được pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với xơ staple
tái tạo
5509.52 - - Được pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với lông cừu
hoặc lông động vật loại mịn
5509.53 - - Được pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với bông
5509.59 - - Loại khác
- Sợi khác, từ xơ staple bằng acrylic hoặc modacrylic:
5509.61 - - Được pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với lông cừu
hoặc lông động vật loại mịn
5509.62 - - Được pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với bông
5509.69 - - Loại khác
- Sợi khác:
5509.91 - - Được pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với lông cừu
hoặc lông động vật loại mịn
5509.92 - - Được pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với bông
5509.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm sợi (trừ chỉ khâu), cho dù là sợi đơn hay sợi xe
(folded) thu được từ việc kéo sợi thô làm từ xơ staple tổng hợp thuộc
nhóm 55.06.
Tuy nhiên, sợi từ xơ staple tổng hợp không được xếp trong nhóm này
nếu chúng được đóng gói để bán lẻ (nhóm 55.11) hoặc nếu thuộc phạm
vi định nghĩa về dây xe, chão bện,...(nhóm 56.07) (xem Phần (I) (B) (2)
và (3) của Chú giải tổng quát của Phần XI).
Nhóm này bao gồm sợi đã được xử lý như nêu tại Phần (I) (B) (1) của
Chú giải tổng quát Phần XI.
55.10 - Sợi (trừ chỉ khâu) từ xơ staple tái tạo, chưa đóng gói để
bán lẻ.
- Có hàm lượng xơ staple tái tạo chiếm từ 85% trở lên
tính theo khối lượng:
5510.11 - - Sợi đơn
5510.12 - - Sợi xe (folded) hoặc sợi cáp
5510.20 - Sợi khác, được pha chủ yếu hoặc duy nhất với lông
cừu hoặc lông động vật loại mịn
5510.30 - Sợi khác, được pha chủ yếu hoặc duy nhất với bông
5510.90 - Sợi khác
Chú giải chi tiết của nhóm 55.09 được áp dụng, một cách tương tự, với
các mặt hàng của nhóm này.
55.11 - Sợi (trừ chỉ khâu) từ xơ staple nhân tạo, đã đóng gói để
bán lẻ.
5511.10 - Từ xơ staple tổng hợp, có hàm lượng loại xơ này
chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng
5511.20 - Từ xơ staple tổng hợp, có hàm lượng loại xơ này
chiếm dưới 85% tính theo khối lượng
5511.30 - Từ xơ staple tái tạo
Nhóm này bao gồm các loại sợi (trừ chỉ khâu) làm từ xơ staple nhân tạo,
đã được đóng gói để bán lẻ, tức là, ở các dạng và đáp ứng điều kiện nêu
tại Phần (I) (B) (3) của Chú giải tổng quát Phần XI.
55.12 - Các loại vải dệt thoi từ xơ staple tổng hợp, có hàm lượng loại
xơ này chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng.
- Có hàm lượng xơ staple polyeste chiếm từ 85% trở lên
tính theo khối lượng:
5512.11 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5512.19 - - Loại khác
- Có hàm lượng xơ staple bằng acrylic hoặc modacrylic
chiếm từ 85% trở lên tính theo khối lượng:
5512.21 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5512.29 - - Loại khác
- Loại khác:
5512.91 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5512.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm các loại vải dệt (được định nghĩa trong Phần (I) (C)
của Chú giải tổng quát của Phần XI) có tỷ trọng xơ staple tổng hợp từ
85% trở lên. Loại vải này rất đa dạng, được dùng trong may mặc quần
áo, rèm hoặc vải dệt trang trí và vải trải bàn, chăn, khăn tắm,... v.v.
Băng, đã tẩm thuốc hoặc đã đóng gói để bán lẻ thì bị loại trừ (nhóm
55.13 - Vải dệt thoi bằng xơ staple tổng hợp, có hàm lượng loại xơ
này chiếm dưới 85% tính theo khối lượng, pha chủ yếu hoặc
pha duy nhất với bông, định lượng không quá 170 g/m2.
- Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng:
5513.11 - - Từ xơ staple polyeste, dệt vân điểm
5513.12 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải vân
chéo chữ nhân, từ xơ staple polyeste
5513.13 - - Vải dệt thoi khác từ xơ staple polyeste
5513.19 - - Vải dệt thoi khác
- Đã nhuộm:
5513.21 - - Từ xơ staple polyeste, dệt vân điểm
5513.23 - - Vải dệt thoi khác từ xơ staple polyeste
5513.29 - - Vải dệt thoi khác
- Từ các sợi có các màu khác nhau:
5513.31 - - Từ xơ staple polyeste, dệt vân điểm
5513.39 - - Vải dệt thoi khác
- Đã in:
5513.41 - - Từ xơ staple polyeste, dệt vân điểm
5513.49 - - Vải dệt thoi khác
Nhóm này bao gồm các loại vải dệt thoi được định nghĩa trong Phần (I)
(C) của Chú giải tổng quát Phần XI.
Nhóm này bao gồm các loại vải trên nếu chúng được phân loại như vải
làm từ xơ staple tổng hợp bằng cách áp dụng Chú giải 2 của Phần XI
(xem Phần (I) (A) của Chú giải tổng quát của Phần XI) và nếu chúng
đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật sau:
(a) Có tỷ trọng xơ staple tổng hợp dưới 85%;
(b) Được pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với bông;
(c) Trọng lượng không vượt quá 170g/m2.
Băng, đã tẩm thuốc hoặc đã đóng gói để bán lẻ thì bị loại trừ (nhóm
55.14 - Vải dệt thoi bằng xơ staple tổng hợp, có hàm lượng loại xơ
này chiếm dưới 85% tính theo khối lượng, pha chủ yếu hoặc
pha duy nhất với bông, định lượng trên 170 g/m2.
- Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng:
5514.11 - - Từ xơ staple polyeste, dệt vân điểm
5514.12 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải vân
chéo chữ nhân, từ xơ staple polyeste
5514.19 - - Vải dệt thoi khác
- Đã nhuộm:
5514.21 - - Từ xơ staple polyeste, dệt vân điểm
5514.22 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải vân
chéo chữ nhân, từ xơ staple polyeste
5514.23 - - Vải dệt thoi khác làm từ xơ staple polyeste
5514.29 - - Vải dệt thoi khác
5514.30 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
- Đã in:
5514.41 - - Từ xơ staple polyeste, dệt vân điểm
5514.42 - - Vải vân chéo 3 sợi hoặc vân chéo 4 sợi, kể cả vải vân
chéo chữ nhân, từ xơ staple polyeste
5514.43 - - Vải dệt thoi khác từ xơ staple polyeste
5514.49 - - Vải dệt thoi khác
Chú giải chi tiết của nhóm 55.13 được áp dụng, một cách tương tự, cho
các mặt hàng thuộc nhóm này.
55.15 - Các loại vải dệt thoi khác từ xơ staple tổng hợp.
- Từ xơ staple polyeste:
5515.11 - - Pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với xơ staple viscose
5515.12 - - Pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với sợi filament nhân
tạo
5515.13 - - Pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với lông cừu hoặc
lông động vật loại mịn
5515.19 - - Loại khác
- Từ xơ staple bằng acrylic hoặc modacrylic:
5515.21 - - Pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với sợi filament nhân tạo
5515.22 - - Pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với lông cừu hoặc
lông động vật loại mịn
5515.29 - - Loại khác
- Vải dệt thoi khác:
5515.91 - - Pha chủ yếu hoặc pha duy nhất với sợi filament nhân tạo
5515.99 - - Loại khác
Nhóm này bao gồm vải dệt thoi (được định nghĩa trong Phần (I) (C) của
Chú giải tổng quát Phần XI) được làm bằng sợi từ xơ staple tổng hợp.
Tuy nhiên, cần chú ý rằng nhóm này chỉ bao gồm vải dệt thoi đã được
pha như định nghĩa tại Chú giải 2 của Phần XI, trừ những loại được nêu
trong các nhóm trước của Chương này hoặc được chi tiết trong phần hai
của Phần XI (thường thuộc Chương 58 và Chương 59).
Băng, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ bị loại trừ (nhóm 30.05).
55.16 - Vải dệt thoi từ xơ staple tái tạo.
- Có hàm lượng xơ staple tái tạo chiếm từ 85% trở lên
tính theo khối lượng:
5516.11 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5516.12 - - Đã nhuộm
5516.13 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5516.14 - - Đã in
- Có hàm lượng xơ staple tái tạo chiếm dưới 85% tính
theo khối lượng, được pha chủ yếu hoặc pha duy nhất
với sợi filament nhân tạo:
5516.21 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5516.22 - - Đã nhuộm
5516.23 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5516.24 - - Đã in
- Có hàm lượng xơ staple tái tạo chiếm dưới 85% tính
theo khối lượng, được pha chủ yếu hoặc pha duy nhất
với lông cừu hoặc lông động vật loại mịn:
5516.31 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5516.32 - - Đã nhuộm
5516.33 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5516.34 - - Đã in
- Có hàm lượng xơ staple tái tạo chiếm dưới 85% tính
theo khối lượng, được pha chủ yếu hoặc pha duy nhất
với bông:
5516.41 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5516.42 - - Đã nhuộm
5516.43 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5516.44 - - Đã in
- Loại khác:
5516.91 - - Chưa tẩy trắng hoặc đã tẩy trắng
5516.92 - - Đã nhuộm
5516.93 - - Từ các sợi có các màu khác nhau
5516.94 - - Đã in
Nhóm này bao gồm vải dệt thoi (được định nghĩa trong Phần (I) (C) của
Chú giải tổng quát cho Phần XI) được làm bằng sợi từ xơ staple tái tạo.
Loại vải này rất đa dạng, được dùng trong may mặc quần áo, rèm hoặc
vải dệt trang trí và vải trải bàn, chăn, khăn tắm,... v.v.
Băng, đã tẩm thuốc hay đã đóng gói để bán lẻ thì bị loại trừ (nhóm
Chương 56
Mền xơ, phớt và các sản phẩm không dệt; các loại sợi đặc biệt; sợi
xe, chão bện (cordage), thừng và cáp và các sản phẩm của chúng
Chú giải.
1.- Chương này không bao gồm:
(a) Mền xơ, phớt hoặc các sản phẩm không dệt, đã ngâm tẩm, tráng
hoặc phủ bằng các chất hoặc các chế phẩm (ví dụ, nước hoa
hoặc mỹ phẩm thuộc Chương 33, xà phòng hoặc các chất tẩy
thuộc nhóm 34.01, các chất đánh bóng, kem hoặc các chế phẩm
tương tự thuộc nhóm 34.05, các chất làm mềm vải thuộc nhóm
38.09) ở đó vật liệu dệt chỉ được xem như là vật mang;
(b) Các sản phẩm dệt thuộc nhóm 58.11;
(c) Bột mài hoặc hạt mài tự nhiên hoặc nhân tạo, bồi trên nền phớt
hoặc trên nền sản phẩm không dệt (nhóm 68.05);
(d) Mica đã liên kết khối hoặc tái chế, bồi trên nền phớt hoặc trên
nền vật liệu không dệt (nhóm 68.14);
(e) Lá kim loại bồi trên nền phớt hoặc bồi trên vật liệu không dệt
(thường thuộc Phần XIV hoặc XV); hoặc
(f) Băng vệ sinh (miếng) và băng vệ sinh dạng ống (tampon), khăn
(bỉm) và tã lót và các vật phẩm tương tự thuộc nhóm 96.19.
2.- Thuật ngữ “phớt” kể cả phớt xuyên kim (needleloom) và vải được
cấu tạo từ một màng bằng xơ dệt được liên kết tốt hơn do khâu đính
chính xơ của màng đó.
3.- Các nhóm 56.02 và 56.03 bao gồm phớt và các sản phẩm không dệt,
đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với plastic hoặc cao su bất kể tính
chất của các vật liệu này (đặc hoặc xốp).
Nhóm 56.03 cũng bao gồm cả các sản phẩm không dệt trong đó
plastic hoặc cao su tạo thành chất kết dính.
Tuy nhiên, các nhóm 56.02 và 56.03 không bao gồm:
(a) Phớt đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép với plastic hoặc cao su, có
hàm lượng vật liệu dệt chiếm từ 50% trở xuống tính theo khối
lượng hoặc phớt đã bọc hoàn toàn bằng plastic hoặc cao su
(Chương 39 hoặc 40);
(b) Sản phẩm không dệt, hoặc bọc hoàn toàn bằng plastic hoặc cao
su, hoặc tráng hoặc phủ cả hai mặt bằng vật liệu trên, với điều
kiện là việc tráng hoặc phủ như vậy có thể nhìn thấy được bằng
mắt thường mà không cần quan tâm đến sự biến đổi về màu sắc
(Chương 39 hoặc 40); hoặc
(c) Tấm, bản mỏng hoặc dải bằng plastic xốp hoặc cao su xốp kết
hợp với phớt hoặc vật liệu không dệt, trong đó vật liệu dệt chỉ
đơn thuần là vật liệu để gia cố (Chương 39 hoặc 40).
4.- Nhóm 56.04 không bao gồm sợi dệt, hoặc dải hoặc các dạng
tương tự thuộc nhóm 54.04 hoặc 54.05, trong đó chất ngâm
tẩm, tráng hoặc phủ không thể nhìn được bằng mắt thường
(thường thuộc các Chương từ 50 đến 55); theo mục đích của
phần này, không cần quan tâm đến bất cứ sự thay đổi nào về
màu sắc.
TỔNG QUÁT
Chương này bao gồm nhiều sản phẩm dệt có đặc tính đặc biệt. Ví dụ:
mền xơ, phớt và các sản phẩm không dệt, các loại sợi đặc biệt, chão bện
(cordage) và một số sản phẩm làm từ các vật liệu đó.
56.01 – Mền xơ bằng vật liệu dệt và các sản phẩm của nó; các loại xơ
dệt, chiều dài không quá 5 mm (xơ vụn), bụi xơ và kết xơ (neps).
- Mền xơ từ vật liệu dệt và các sản phẩm của nó:
5601.21 - - Từ bông
5601.22 - - Từ xơ nhân tạo
5601.29 - - Loại khác
5601.30 - Xơ vụn và bụi xơ và kết xơ
(A) MỀN XƠ BẰNG CÁC NGUYÊN LIỆU DỆT VÀ CÁC SẢN
PHẨM CỦA NÓ
Mền xơ được đề cập ở đây được chế tạo bởi phương pháp ghép các lớp
sợi dệt đã chải thô hoặc những sợi dệt air-laid lên trên lớp khác và sau đó
nén chúng lại để tăng khả năng kết dính của sợi. Mền xơ đôi khi được ép
nhẹ để tăng liên kết sợi, và trong một số trường hợp, để cố định lớp mền
xơ lên trên lớp lót làm từ vải dệt thoi hoặc các loại vải dệt khác.
Mền xơ có thể ở các dạng dễ uốn, xốp, tấm rất lớn, hoặc thậm chí rất
dày, các sợi trong các dạng đó là ở dạng dễ bị tách riêng. Thông thường
chúng được làm từ sợi bông (thấm nước hoặc các loại Mền xơ bông
khác) hoặc bằng các sợi staple tái tạo. Mền xơ chất lượng thấp, được làm
từ phế liệu từ quá trình chải thô hoặc tái chế, thường chứa một tỷ lệ phế
liệu kết xơ hoặc phế liệu sợi.
Mền xơ được phân loại ở đây dù đã được hoặc chưa được tẩy trắng,
nhuộm hoặc in. Nhóm này cũng bao gồm mền xơ mà trên đó láng một
lượng nhỏ chất dính bám để tăng cường độ kết dính trên bề mặt của sợi;
ngược lại với các sản phẩm không dệt, các sợi của các lớp bên trong mền
xơ như vậy có thể tách ra một cách dễ dàng.
Tuy nhiên, chú ý rằng mền xơ được láng với chất dính và trong đó chất
này không thấm được vào lớp bên trong thì được phân loại như một sản
phẩm không dệt vào nhóm 56.03, thậm chí nếu các sợi của các lớp bên
trong có thể tách ra dễ dàng.
Mền xơ, được gắn với chất liệu nền làm từ vật liệu dệt bên trong hoặc
bên ngoài bởi đập nhẹ, mền xơ đã được bao phủ một hoặc cả hai mặt
bằng giấy, nguyên liệu dệt hoặc vật liệu khác (bằng cách khâu hoặc dán
dính), cũng vẫn được phân loại ở đây với điều kiện đặc tính cơ bản của
chúng tương tự như của mền xơ và chúng không là các nguyên liệu để
tạo ra sản phẩm của nhóm 58.11.
Mền xơ được sử dụng rộng rãi trong sản xuất đệm (ví dụ: trong sản xuất
các loại miếng lót vai, các lớp lót quần áo, lót hộp trang sức vv... trong
nghề bọc đồ đạc và trong máy giặt ép khô), như vật liệu bao gói, hoặc sử
dụng cho vệ sinh.
Nhóm này cũng bao gồm mền xơ ở dạng miếng hoặc cắt theo chiều dài,
và các sản phẩm của mền xơ trừ các sản phẩm được đề cập một cách
đặc biệt hơn ở các nhóm khác của danh mục (xem các loại trừ bên dưới).
Các sản phẩm làm bằng mền xơ phân loại ở đây bao gồm:
(1) Cửa sổ, cửa ra vào hoặc cửa kéo ngăn cấu tạo bởi các cuộn mền xơ
xoắn ốc được phủ bằng sợi, nhưng trừ các loại được bao phủ hoàn
toàn bằng vải dệt (nhóm 63.07).
(2) Các mặt hàng mền xơ dùng cho trang trí, trừ các sản phẩm có đặc
tính của mặt hàng Chương 95.
Bên cạnh đó, các mặt hàng mền xơ không được phân loại ở đây là:
(a) Mền xơ hoặc các mặt hàng mền xơ, đã được thấm tẩm hoặc tráng
phủ dược chất, hoặc làm thành dạng nhất định hoặc đóng gói để bán
lẻ dùng cho y tế, phẫu thuật, nha khoa hoặc các mục đích thú y
(nhóm 30.05).
(b) Mền xơ, đã thấm tẩm, bọc hoặc phủ các chất hoặc các chế phẩm (ví
dụ: nước hoa hoặc mỹ phẩm (Chương 33), các loại xà phòng hoặc
chất tẩy (nhóm 34.01), thuốc đánh bóng, các loại kem hoặc các chế
phẩm tương tự (nhóm 34.05), các chất làm mềm vải (nhóm 38.09)
ở đó vật liệu dệt chỉ coi như vật mang.
(c) Mền xơ xenlulo và các mặt hàng của nó (Chương 48).
(d) Sợi bông đã chải thô ở dạng cúi (sliver) như loại được sử dụng bởi
thợ cắt tóc (ví dụ: mền xơ của thợ cắt tóc (barbers’ “wadding”)
(nhóm 52.03).
(e) Các sản phẩm dệt đã chần dạng chiếc, gồm một hoặc nhiều lớp vật
liệu dệt được gắn với mền xơ bởi việc khâu hoặc các phương pháp
khác, trừ đồ thêu của nhóm 58.10 (nhóm 58.11).
(f) Lót quần áo (nhóm 61.17 hoặc 62.17).
(g) Hoa, cành, lá hoặc quả nhân tạo và các bộ phận của chúng (nhóm
(h) Tóc giả, râu giả và các mặt hàng khác của nhóm 67.04.
(ij) Đồ dùng trong lễ hội, hội hoá trang hoặt trong các trò chơi giải trí
khác, đồ trang trí cây nôen và mặt hàng khác (ví dụ: bộ tóc của búp
bê) của Chương 95.
(k) Băng (miếng) và nút bông vệ sinh (tampons), khăn và tã lót cho trẻ
sơ sinh và các vật phẩm tương tự thuộc nhóm 96.19.
(B) CÁC LOẠI XƠ DỆT, CHIỀU DÀI KHÔNG QUÁ 5 MM (XƠ
VỤN), BỤI XƠ TỪ CÔNG NGHIỆP DỆT
“Xơ vụn” bao gồm các loại xơ dệt có chiều dài không quá 5 mm (lụa,
lông cừu, bông, sợi nhân tạo...). Chúng thu được như phế liệu trong
nhiều quy trình gia công và đặc biệt từ quy trình cắt vải nhung. Nó cũng
được sản xuất bởi việc cắt các tô hoặc xơ dệt. Bụi xơ thu được ở dạng
phế liệu, hoặc bởi quá trình nghiền các xơ dệt thành bột. Xơ vụn và bụi
xơ được phân loại trong nhóm này thậm chí cả khi đã được tẩy trắng
hoặc nhuộm hoặc thậm chí xơ được uốn nhân tạo.
Các sản phẩm này được sử dụng cho nhiều mục đích (ví dụ: cho việc pha
trộn với các loại xơ khác và xe thành sợi, sản xuất đồ giả Thụy Điển, cho
việc bọc hoặc trang trí bằng giấy dán tường, như phấn bôi mặt hoặc đồ
trang điểm.
Tuy nhiên xơ vụn và bụi xơ đã tẩm huơng bị loại trừ (nhóm 33.07).
Xơ vụn của nhóm này không được nhầm lẫn với những mảnh vụn làm
từ các vải vụn và được sử dụng để nhồi chăn, ga, gối đệm,.... Những
mảnh vụn như vậy được phân loại trong nhóm “phế liệu” tương ứng
thuộc các Chương từ 50 đến 55.
with other fibres and spinning into yarns, for making imitation suèdes,
(C) KẾT XƠ (NEPS)
Chúng ở dạng nhỏ, thường có dạng cầu (đôi khi hơi bị kéo dài), làm
bằng lụa, lông cừu, cotton, xơ staple nhân tạo..., thường được tạo ra bằng
cách cuộn các sợi giữa hai đĩa. Chúng có thể được tẩy trắng hoặc nhuộm
và được sử dụng trong sản xuất các loại sợi trang trí như việc làm giả
dây bện.
56.02 – Phớt, nỉ đã hoặc chưa ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép lớp.
5602.10 - Phớt, nỉ xuyên kim và vải khâu đính
- Phớt, nỉ khác, chưa ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc ép:
5602.21 - - Từ lông cừu hoặc lông động vật loại mịn
5602.29 - - Từ vật liệu dệt khác
5602.90 - Loại khác
Phớt, nỉ luôn thu được bởi quá trình ép chồng nhiều lớp xơ dệt, lớp này
lên lớp khác (thường thường các lớp mềm như được sản xuất bằng việc
chải thô hoặc tạo lớp đệm không khí); Sau đó chúng được làm ẩm
(thường là với hơi nước hoặc nước xà phòng nóng) và được đưa vào ép
mạnh và qua tác động cọ xát hoặc đập. Các quá trình này làm cho các
sợi khớp vào nhau và tạo ra các tấm rất dầy, rắn chắc hơn và khó phân rã
hơn mền xơ và dễ phân biệt với vải dệt thoi đã được ép phớt (thường
thuộc các Chương 50 đến 55).
Phớt, nỉ thường được sản xuất từ lông cừu hoặc lông động vật khác, hoặc
từ các hỗn hợp của các loại xơ đó với các loại xơ tự nhiên khác (ví dụ:
xơ thực vật, lông bờm ngựa hoặc lông đuôi ngựa) hoặc với các loại xơ
nhân tạo.
Phớt, nỉ được sử dụng trong sản xuất quần áo, mũ, giầy dép, đế giầy,
thanh gõ của đàn piano, các mặt hàng nội thất, hàng trang trí vv... để sử
dụng trong kỹ thuật như các vật liệu cách âm hoặc cách nhiệt, vv...
Nhóm này cũng bao gồm phớt, nỉ xuyên kim được làm từ một trong các
cách sau:
(1) dập một mảnh hoặc tấm vải từ xơ dệt staple (tự nhiên hoặc nhân tạo),
không có nền vải dệt, với những chiếc kim đã được cắt nấc; hoặc
(2) xuyên các loại xơ dệt như vậy qua một tấm nền bằng vải dệt hoặc vật
liệu khác và cuối cùng được phủ bởi các sợi dệt.
Kỹ thuật xuyên kim có thể thu đuợc phớt, nỉ từ các xơ thực vật không
phải là phớt, nỉ (ví dụ: xơ đay) hoặc các loại xơ nhân tạo.
Vải dệt kim từ các xơ staple mà trong đó quá trình khâu nhằm để bổ
sung cho các loại hình khâu đính khác và các tấm vải dệt kim từ filament
đều được coi là các vật liệu không dệt (nhóm 56.03).
Nhóm này cũng bao gồm vải khâu đính có đặc điểm cơ bản là chúng
bao gồm một tấm vải làm từ xơ dệt, độ kết dính của chúng được tăng
cường bằng việc lấy các xơ từ chính tấm vải dệt đó, không phải bằng các
sợi dệt. Kim kéo các xơ xuyên qua tấm vải, và tạo thành các đường chỉ
theo hàng trên bề mặt.. Một số loại vải này có thể có bề mặt nổi vòng
(pile) đã hoặc chưa bị cắt và có thể được gia cố bằng nền làm từ vật liệu
dệt hoặc vật liệu khác. Quá trình dệt kim đính được mô tả trong Chú
giải tổng quát Chương 60.
Trừ khi được đề cập một cách cụ thể hơn ở các nhóm khác trong Danh
mục, nhóm này bao gồm phớt, nỉ ở dạng miếng hoặc cắt theo chiều dài
hoặc đơn giản là cắt thành hình chữ nhật (kể cả hình vuông) từ những
miếng lớn chưa qua gia công thêm (ví dụ: một số khăn lau hoặc chăn) đã
hoặc chưa gập hoặc đóng gói (ví dụ: để bán lẻ).
Phớt có thể được nhuộm, in, thấm tẩm, tráng, phủ, bọc, gắn lớp mặt hoặc
được gia cố (ví dụ: với chỉ dệt hoặc dây (wire)). Loại phớt này có thể
được bọc một hoặc cả hai mặt bằng giấy, bìa cứng, các loại vải dệt vv...
(ví dụ: khâu hoặc dán), với điều kiện là đặc tính cơ bản của sản phẩm
giống như của phớt, nỉ.
Tuy nhiên nhóm này không bao gồm các sản phẩm sau nằm trong
Chương 39 hoặc 40:
(a) Phớt đã thấm tẩm, tráng, phủ hoặc ép lớp bằng plastic hoặc cao su,
chứa tỷ trọng vật liệu dệt từ 50% trở xuống, hoặc phớt được bao
toàn bộ bằng plastic hoặc cao su;
(b) Tấm mỏng, tấm hoặc dải làm từ plastic xốp hoặc cao su xốp, kết
hợp với phớt trong đó vật liệu dệt chỉ nhằm mục đích gia cố (xem
Chú giải tổng quát Chương 39, phần có tiêu đề “sự kết hợp giữa
plastic và vật liệu dệt” và Mục (A) của Chú giải chi tiết nhóm
Nhóm này bao gồm phớt tẩm bitum chế tạo bằng việc tạo phớt nỉ thông
thường và sau đó được thấm tẩm bằng hắc ín hoặc các chất tương tự.
Nhóm này cũng không bao gồm:
(a) Phớt đã ngâm tẩm, tráng, phủ hoặc bọc bằng các chất hoặc các chế
phẩm (ví dụ: nước hoa hoặc mỹ phẩm (Chương 33), các loại xà
phòng hoặc các chất tẩy rửa (nhóm 34.01), chất đánh bóng, kem các
loại hoặc các chế phẩm tương tự (nhóm 34.05), chất mềm vải
(nhóm 38.09) ở đó vật liệu dệt được coi như vật mang.
(b) Các loại vải lót yên và đệm